Trò chuyện với anh Đoàn Nam Sinh


DoanNamSinhlanguoithenao

ĐOÀN NAM SINH LÀ NGƯỜI THẾ NÀO?  hãy đọc NÔNG SẢN VIỆT NAM thì rõ. Ông là người tử tế và có góc nhìn khác. Nam Sinh Đoàn hơi giống Sơn Nam ông già Nam Bộ của miền Tây, nhưng ông này có pha một chút của Huỳnh Kim và Hoàng Kim (Đồng Tháp) lại có lẫn một chút của Trần Mạnh Hảo. ” Thế giới đã phải chịu tổn thất rất lớn không phải vì sự tàn ác của những người xấu mà vì sự im lặng của những người tốt ” Napoleon đã nói vậy và Nam Sinh Đoàn là người dám nói lên sự thật dẫu là một góc nhìn khác. https://www.facebook.com/doannamsinh/posts/482057221893742 .

Đoàn Nam Sinh là ai?Anh Nam Đoàn Sinh trong bài “NÔNG SẢN VIỆT NAM” đã tự giới thiệu:  “Tôi là con một nông dân. Từ bé đã vọc đất, nghịch nước, đã phụ kéo dây tưới rau, thu hoạch hoa lợi đưa vào chợ. Lớn lên, tôi nghe lời cha học canh nông. Và suốt từ bấy đến giờ, tôi vẫn đùa như thiệt mình là người Việt gốc Sú/ chou, bắp cải.Toàn bộ công việc của đời tôi là làm gì cho nhà nông khấm khá hơn. Bước đầu là cơ giới hóa  canh tác, tự động hóa việc tưới. Sau này về trường còn chú ý đến chế biến, bao bì, vận xuất,… Cũng đã qua một thời xuất khẩu rau hoa, cà phê, cây cảnh đến một số thị trường, XHCN cũng từng, TB giẫy chết cũng biết … Hai mươi lăm năm gần đây, tôi cùng đồng nghiệp chuyên tâm đưa tiến bộ về công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp, trước nhất là giống và kỹ thuật nhân giống. Sau đó là dinh dưỡng, phòng trừ sâu, bệnh, cỏ dại theo hướng sinh học hữu cơ, thân thiện với môi trường. Nhìn chung, góc nào cũng từng lăn, từng trãi với nhà nông từ rau hoa hàng niên, lúa bắp đậu mè, cho đến đa niên như Tiêu trà cà phê, cả cây rừng,… Nên việc dấn lên sự thật này, có thể tự làm khó cho mình, song phải gióng lên để chia sẻ với cộng đồng xã hội và bà con chân lấm tay bùn“.

Đoàn Nam Sinh là con nông dân, lớn lên từ nghề nông, học nghề nông, từng trãi với nhà nông. Như vậy là rõ. Mục đích loạt bài này của anh là gì? Anh viết: “Nên việc dấn lên sự thật này, có thể tự làm khó cho mình, song (Đoàn Nam Sinh) phải gióng lên để chia sẻ với cộng đồng xã hội và bà con chân lấm tay bùn“. Như vậy cũng là thật rõ.

Nông sản Việt Nam 70 năm nhìn lại

Thăm ngôi nhà cũ của Darwin, tôi ước ao học được từ đôi mắt Darwin soi thấu nguồn gốc các loài, tìm đến tư duy mạch lạc của một trí tuệ lớn và tập hợp lắng nghe kinh nghệm tầm nhìn của những người trong cuộc đương thời để vận dụng soi tỏ “Niên biểu lịch sử Việt Nam“, ” 500 năm Nông nghiệp Việt Nam”, “90 năm Nông nghiệp miền Nam” nhằm tìm thấy trong sự rối loạn và góc khuất lịch sử dòng chủ lưu tiến hóa, chấn hưng văn hóa, giáo dục và nông nghiệp Việt.

Đối thoại với anh Đoàn Nam Sinh, anh nhận định tổng quát về  “Nông sản Việt Nam 70 năm nhìn lại“:

Nếu những năm ’60 miền Nam mới nhập DDT, Endrine, Mercaptan,…trừ sâu thì miền Bắc cũng bắt đầu “hóa học hóa” nông nghiệp. Nhà nông trong Nam làm quen với Urê, sulfate amonne -SA thì miền Bắc tiếp cận “Đạm một lá”, ‘đạm hai lá’. Khi cách mạng xanh ở Ấn Độ thành công, thì miền Bắc mới bắt đầu với Trân châu lùn, các giống lúa mang gien lùn. Miền Nam tiếp cận với IRRI qua các giống Thần Nông IR8, IR 20,… Nhưng tốc độ tiếp cận công nghệ và sản phẩm công nghệ cao ở phía  bắc phụ thuộc vào Liên Xô, Trung Quốc nên đã chậm dần đều.

Sau ngày thống nhất, hầu hết kỹ sư nông nghiệp từ miền Bắc không đọc được tên thuốc, tên phân hay các chếphẩm chăn nuôi. Kiến thức ở các trường Đại học cũng chậm lại chừng 20 năm do đủ thứ trì trệ. Do vậy, đến nay, từ chỗ ta đi trước các nước lân cận thì tụt hậu so với họ không dưới 50 năm. (Chú ý rằng chỉ 50 năm sau cùng của thế kỷ 20, loài người đã đi được đoạn đường bằng 5000 năm trước đã đi. Và trong vũ trụ thông tin, chỉ 13 năm qua thôi, ta đã chậm hơn các nước như Mã Lai, In đô, Thái Lan, Đài Loan,… bình quân chừng 50 năm phát triển kinh tếnông nghiệp).

Trách nhiệm này, trước hết thuộc về sự kiên trì “ngu lâu” nhằm chính trị hóa khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật, kinh tế xã hội,…của giới chóp bu và sự kiên quyết lãnh đạo toàn dân toàn diện toàn thể…để giành quyền kiểm soátt và thao túng tài nguyên của đảng cầm quyền.

Từ khi ‘cởi trói’, ‘đổi mới’ để nhà nông tự lo, thì có gạo dư để bán, thịt đủ để ăn, vài ngành như cà phê, tiêu cũng có vẻ khởi sắc. Nhưng hãy nhìn đi, giá trị xuất khẩu của tất cả nông sản nước ta trong mấy mươi năm góp lại thì có nhân với trăm năm nữa cũng không huề vốn được với diện tích 7 triệu hec ta rừng đã và đang mất đi, đất và nước dùng trong nghề nông đang từng ngày suy kiệt.

Các đồng bằng Nam Bộ đã vắt kiệt khả năng tạo ra năng suất của đất, phân hóa học được dùng ngày càng nhiều. Sâu bệnh cỏ dại kháng thuốc tích lũy ngày càng đông, càng mạnh khiến nhà nông phải đổi thuốc tăng liều liên tục để giữ lấy mùa màng. Trên Tây nguyên, ngoài Tây Bắc và cả vùng Bắc và  Trung Bộ cũng không khác tý nào.

Việc cải thiện giống ra sao ? Miền Bắc dựa vào lúa lai của TQ, miền Trung có nhiều vùng cũng vậy. Trong Nam còn dựa được vào các giống lúa Thái như Khao Đak Mali, Ấn Độ như Jasmine 85 để xuất khẩu. Một số giống chọn lọc được như ST 5 đến ST 20, hay vài giống của Viện Ô Môn còn rất hẹp đường tiến thủ. Trong lúc các giống cơm cứng rẻ tiền vẫn chiếm phần lớn diện tích. Giống Ngô thì nhập từ Mỹ là chính, vài giống từ Thái, từ Đài Loan và Viện Ngô cải tiến rất leo heo trên các cánh đồng.  Các giống cây trồng khác từ cây ăn quả đến rau hoa đều di nhập vào hàng năm cả tỉ đô la. Con giống trong chăn nuôi cũng thế, nhất là sau khi để Trung Quốc ôm hết từ con giống đến thức ăn thì ngành chăn nuôi, chủ lực của Nông nghiệp Việt Nam teo dần.

Phân bón và thuốc men phần lớn đều nhập. Đạm Phú Mỹ chỉ được một phần nhỏ, còn lại toàn bộ nguyên liệu là nhập. Các nhà máy thuốc thú y cũng nhập cảng nguyên liệu, sang chai đóng gói, thế thôi.

Nhà nông chúng ta ngày nay bị một lúc nhiều vòi bạch tuộc nhắm vào. Các Công ty bán giống, bán vật tư nói chung là giàu lên, thiên đường của thuốc trừ sâu, trừ cỏ mà. Thứ đến là các đại lý, cùng một trust với chính quyền, cán bộ kỹ thuật ngành nông nghiệp- từ thanh tra cho đến bảo vệ thực vật, khuyến nông, khuyến đủ thứ…hè nhau vét của nông dân từ cái đáy khố rách. Thế mà khi nông sản tới mùa, đám thu mua từ các công ty còn đỗ ra đồng. Nào cân điêu, trừ thủy phần, tạp nhiễm, mua nợ,… cho đến các công ty nhà nước cũng điêu. Chúng chỉ ở xa, điều hành bằng chính sách giá cả.

Cũng tội nghiệp cho nông sản xứ ta, lúa mua về đủ cỡ hạt, độ ẩm,… Sấy xong xay ra nát tấm nhiều, chỉ bán cho khách nghèo, ăn đỡ đói. Chứ yêu cầu phẩm chất đồng đều cho dễ chế biến vận xuất thì đào đâu ra. Khách ăn gạo yêu cầu cao và khác xa cách làm của Việt Nam, nhưng chẳng ai định hướng cho sản xuất.

Đến chuyện xuất cảng, các hiệp hội nhà nước trá hình như VFA (gạo), Vicofa (cà phê) toàn quyền giao dịch, định giá, xây dựng cổng sau, sân sau,…miển trích nộp ngon lành cho “Chính phủ”, còn bọn nhà nông thì mặc mẹ chúng nó, và cấm chúng mày thành lập hiệp hội ngành nghề.

Hai năm trước, tôi nhận lời súp-pọt cho Đại học Kinh tế, thuộc dự án Brownee- thúc đẩy sản xuất kinh doanh cà phê. Tại sự kiện cà phê, có cả Nam của Vicofa, Vũ của Trung Nguyên,… tôi đã nói rõ (trích…) chỉ cần nhìn qua “lăng kính” cà phê: Hiệp hội là bọn hoạt đầu chính trị; Kinh doanh thì triết lý tởm lợm, tiền gom vào nhà; Chính quyền các cấp dây dưa với mafia; thử hỏi nông dân sẽ được gì? Cà phê lung tung giống, chất lượng rất ba vạ vì có quy trình nào chuẩn tắc đâu, ngứa đâu gãi đấy. Chẳng cần bồi bổ cho đất đai (của toàn dân -của đảng), chỉ chạy theo năng suất, mà người mua lại đòi chất lượng thì giết dân chứ còn gì.

Từ các Viện, Trường chỉ nghiên cứu vớ vẫn. Chứ chuyện làm ra một giống, xây dựng một quy trình chuẩn tại một vùng cụ thể để đáp ứng yêu cầu chất lượng ABC…thì cũng cần mươi năm đến vài mươi năm, chẳng ai làm. Doanh nghiệp như thằng cu Vũ cu Văn chả dại đầu tư, nên có gì xơi nấy, chẳng trách được.

Vấn đề vẫn là quyền tư hữu đất đai, quyền tự do lập hội còn xa với nhà nông, nên ngày nào còn tồn tại thể chế cũ rích và thối nát này thì nông dân còn khốn  đốn. Nói nhanh cho vuông.”

Những lời này anh Nam Sinh Đoàn đã chia sẽ với Song Pham, Chinh Pham, Xinh Pham, Nguyễn Thông, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Hồng Kiên, Phan Chi, Phan Tùng Giang, Hồng Chương Phan, Trung Quan Do, Quang Ham Ho, Quoc Trung, Nguyen Quoc, Tuan Nguyen Quoc, Võ Lão Nông, Võ Quốc Hội, Danh Vo Dinh

90 năm nông nghiệp Việt Nam những  điều trăn trở

Chúng ta muốn đánh giá sâu ở khoảng thời gian 90 năm Viện KHKTNN miền Nam khi Viện Hàn lâm Khoa học Pháp thiết lập đầu tiên Viện Khảo cứu Nông nghiệp Đông Dương năm 1925 mà nay là Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam vừa kỷ niệm 90 năm ngày thành lập, sau đó là nhìn rộng ra từ 60 năm Đại học Nông Lâm TP. HCM  kể từ năm 1955 cho đến nay vừa qua 60 năm.

Lịch sử Nam tiến của dân tộc Việt bắt đầu từ thế kỷ 15 cũng là mốc thời gian mà Colombo khám phá ra châu Mỹ năm 1492. Trong chuỗi lịch sữ trên 4000 năm của dân tộc Việt quá trình Nam Tiến này là “sự nghiệp gian nan tiến thủ của tổ tiên để mở rộng hy vọng tương lai dân tộc”(Đào Duy Anh trích dẫn tại Dạo chơi non nước Việt). Và, chúng ta nhìn rộng ra một chút  500 năm nông nghiệp Brazil , Angkor nụ cười suy ngẫm để luận bàn về 90 năm nông nghiệp Việt Nam những  điều trăn trở và đường sống của dân tộc, tư duy mới nông nghiệp nên làm gì để người dân khá hơn?

Giáo sư Võ Tòng Xuân trong “Tâm thư”  gửi tân Bộ trưởng Bộ NN&PTNT đã viết: “Việt Nam muốn được cộng đồng thế giới đối xử như một quốc gia có nền kinh tế thị trường thật sự thì nên bỏ mức hạn điền và công nhận đất tư nhân, để người dân có toàn tâm đầu tư vào mảnh đất của mình sản xuất hiệu quả nhất”. “Vấn đề sơ hữu đất đai này là cốt lõi, chìa khóa cần giải quyết hàng đầu trước khi xử lý các vấn đề khác.” Vấn đề này giải pháp thế nào là tốt nhất?

Trong thông tin Việt Nam Châu Phi hợp tác Nam Nam  có nhấn mạnh: “Định hướng quan trọng hơn tốc độ” (Direction is somuch more important than speed).  “Tương lai của châu Phi nằm trong nông nghiệp” (Source: Africa’s future lies in agriculture – African leaders insist ). Đánh giá một đất nước, một dân tộc, một chính sách kinh tế xã hội cần nhìn thấu chất lượng cuộc sống của những người nghèo nhất xã hội là nông dân. Nếu họ chưa thay đổi được số phận thì đất nước đó, chính sách đầu tư đổi mới đó vẫn chưa đạt được hiệu quả đích thực. Nông nghiệp là giá đỡ của nền kinh tế ở châu Phi và Việt Nam, cần khai mở được tiềm lực nông nghiêp để chấn hưng kinh tế văn hóa xã hội. Châu Phi phải có một cách tiếp cận tốt hơn để chấm dứt nạn đói và nghèo đói ở đó. Hợp tác Nam Nam do FAO và Chính phủ Việt Nam khởi xướng đầu thế kỷ 21 có ý nghĩa chính trị kinh tế văn hóa xã hội to lớn. Thành tựu và bài học đạt được là tốt, có thể chia sẻ bảo tồn phát triển bền vững. Tương lai của châu Phi nằm trong nông nghiệp đã tái khẳng định tầm nhìn và ước muốn của bạn trong thay đổi phát triển. Sự cần thiết phải nắm lấy cơ hội, điều chỉnh mới và tăng tốc, đừng để cơ hội vuột đi. Việt Nam – châu Phi, nên đẩy mạnh hợp tác tư nhân, khai thác nhiều kênh hợp tác đầu tư hiệu quả, mà không chỉ trông chờ vào hợp tác song phương chính thức giữa hai chính phủ cho bảo tồn và phát triển. Con người (Man power) Vật liệu (Materials), Quản lý (Management) Cách làm (Method) Tiền (Money) cần hợp tác khai thông hiệu quả”. Những vấn đề phát huy nguồn lực và tăng cường hợp tác lĩnh vực nông nghiệp cần định hướng thế nào là tốt nhất

“Phụng sự xã hội” là chùm bài mới đây của ông Đoàn Nam Sinh  đắng quá và thật khác với ý của Phó Thủ tướng: Thu nhập bình quân hộ nông dân đã đạt 97 triệu đồng trên báo Dân Trí ngày 25/8/2016 và gợi lại ý kiến của ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng, hiện là lúc kinh tế Việt Nam đang cho thấy có những chuyển dịch các nguồn lực “Không qua 2 vấn đề khó khăn, Việt Nam sẽ thành nền kinh tế thất bại“.

Xin được tiếp tục nghe kiến giải của tác giả và  lắng nghe các ý kiến của thầy bạn nghề nông. Tôi nói với anh Đoàn Nam Sinh: “Tui Hoàng Kim (Nong Lam University in Ho Chi Minh city) đang lắng nghe anh, nhưng thưa anh Nam Sinh Đoàn, thuốc anh đắng quá !”

Hoàng Kim

 

Từ Mao Trạch Đông đến Tập Cận Bình tư liệu mới


TapCanBinh_anhnguonTÐQ
CNM365. Ông Vương Nghị bị quở trách vì ngoại giao thất sách? Trang tin Trần Đại Quang  thứ ba, 23/08/2016 tin và ảnh, dẫn nguồn Giáo dục Việt Nam mục Thế giới, cho hay: Văn phòng ông Tập Cận Bình ở Trung Nam Hải vang lên những cơn thịnh nộ, mà kẻ chịu trận không ai khác là Ngoại trưởng Vương Nghị. Lời bình luận có các chi tiết đáng chú ý: “Trước mắt, mục tiêu của Trung Nam Hải là tổ chức tốt G-20, muốn giải quyết bài toán kinh tế chuyển hướng mô hình tăng trưởng (từ chữ V) sang chữ L thì Bắc Kinh cần duy trì môi trường hòa bình và ổn định ở châu Á. Vì vậy chính sách đối ngoại của Trung Quốc tới đây cũng phải hết sức thận trọng, tỉnh táo, đầu tiên là kiểm soát xu hướng chủ nghĩa dân tộc (cực đoan), những tiếng nói chỉ trích sẽ ít đi, ngay cả Thời báo Hoàn Cầu cũng không được quá đà, quá trớn. Chính sách đối ngoại hiện hành của Trung Quốc thất bại vì đứng trên pháp luật. Có chuyện Ngoại trưởng Vương Nghị bị ông Tập Cận Bình quở trách hay không, Trung Nam Hải có nhận thấy những thất bại trong chính sách ngoại giao của mình gần đây hay không, người viết không thể kiểm chứng.”

Tuần san Tài Tấn, Đài Loan số 509 đăng bài bình luận của tác giả Cao Đạt Mỹ về những thất bại trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc gần đây. Cao Đạt Mỹ nhận định: “Bắc từ Hàn Quốc, Nam đến Việt Nam, một chuỗi đảo mới vây Trung Quốc đang dần xuất hiện, mà kẻ đứng sau đạo diễn là Hoa Kỳ. Chiến lược đối ngoại của Tập Cận Bình ra quân thất bại, đối nội thì càng gỡ càng rối, nếu không nghĩ cách giải vây thì “CEO”  thất bại sẽ bị buộc phải từ chức.”

Thất bại của ngoại giao Trung Quốc

Cao Đạt Mỹ liệt kê một số sự kiện được tác giả nhận định là thất bại của ngoại giao Trung Quốc dưới thời ông Tập Cận Bình.

Thứ nhất là vụ Mỹ – Hàn tuyên bố hôm 8/7 rằng sẽ lắp đặt hệ thống phòng thủ tên lửa THAAD tại Hàn Quốc. Bán kính quan trắc hệ thống ra đa của THAAD khoảng 1500 km, bao trùm toàn bộ Đông Bắc Trung Quốc.Nói cách khác là các hoạt động quân sự của Bắc Kinh ở khu vực Đông Bắc nằm trong tầm ngắm của ra đa Mỹ – Hàn.

Trong khi đó chỉ mới đây thôi, ngày 3/9 năm ngoái, Tổng thống Hàn Quốc Park Geun-hye là nhà lãnh đạo “duy nhất từ các nước phát triển” sang Thiên An Môn dự cuộc duyệt binh hoành tráng, làm ông Tập Cận Bình được “nở mày nở mặt”.

Tiếp đến, ngày 12/7 vừa qua Hội đồng Trọng tài thành lập theo Phụ lục VII, UNCLOS 1982 ra phán quyết vụ kiện Biển Đông giữa Philippines và Trung Quốc, hủy bỏ đường lưỡi bò cũng như hiệu lực pháp lý của các đảo nhân tạo Trung Quốc bồi lấp (bất hợp pháp) ở Trường Sa (Khánh Hòa, Việt Nam).

Trước đó tại Đài Loan, Tiến sĩ Thái Anh Văn lên nắm quyền và theo đuổi đường lối thân Mỹ – Nhật, giữ khoảng cách với Bắc Kinh. Còn chính quyền Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe sửa đổi Hiến pháp hòa bình để đối phó với mối uy hiếp từ Trung Quốc.

Ngoại giao thất sách, Vương Nghị bị quở trách

Tác giả Cao Đạt Mỹ nhận định, sau khi lên nắm quyền, ông Tập Cận Bình ra sức thúc đẩy chính sách “ngoại giao nước lớn”, nhưng không ngờ lại sớm thất bại.

Tạp chí Foreign Policy, Hoa Kỳ cho rằng, sự thất bại của Trung Quốc trong vụ kiện trọng tài Biển Đông là một đòn thất bại tiếp theo giáng vào chính sách đối ngoại của Trung Quốc, tạo cơ hội để Mỹ quay trở lại châu Á.

Một vị giáo sư về quan hệ quốc tế thuộc Đại học Nhân Dân Trung Quốc giấu tên cho biết, những thất bại liên tiếp là do Bắc Kinh liên tục mắc sai lầm khi nhận định tình hình.

Ngành ngoại giao Trung Quốc đầu năm nay còn trình lên Tập Cận Bình báo cáo nhận định như đinh đóng cột, quan hệ đối tác chiến lược Trung – Hàn đang ở đỉnh cao, Park Geun-hye không thể chỉ một đêm lại ngả theo Mỹ.

Chỉ nửa năm sau, tình báo Hoa Nam nắm được thông tin Mỹ – Hàn chuẩn bị bố trí THAAD tại Hàn Quốc. Văn phòng ông Tập Cận Bình ở Trung Nam Hải vang lên những cơn thịnh nộ, mà kẻ chịu trận không ai khác là Ngoại trưởng Vương Nghị.

Ông Nghị là người thứ 2 bị Tập Cận Bình quở trách, sau Trương Chí Quân – Chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề Đài Loan do dự đoán tình hình eo biển không chuẩn xác.

Còn trong vụ kiện Biển Đông, ông Tập Cận Bình hoàn toàn tin tưởng, yên tâm vào báo cáo của cấp dưới về việc, năm 1996 khi phê chuẩn UNCLOS 1982 Trung Quốc đã bảo lưu quyền miễn trừ giải quyết tranh chấp lãnh thổ và phân định biển thông qua cơ chế tài phán, nên ông chẳng thèm quan tâm tới vụ kiện của Philippines.

Ai ngờ Manila thuê được đội ngũ luật sư “trong mơ” về UNCLOS 1982, tìm ra khe hẹp kiện Trung Quốc về áp dụng, giải thích UNCLOS 1982 mà không liên quan gì đến tranh chấp lãnh thổ hay phân định biển.

Tháng 11 năm ngoái (thực tế là 25/10/2015), Hội đồng Trọng tài ra phán quyết có đủ thẩm quyền xem xét, thụ lý vụ kiện của Philippines (7/15 nội dung, 8 nội dung còn lại sẽ xem xét trong quá trình xét xử), giới học giả pháp lý quốc tế và các cơ quan ngoại vụ Trung Quốc đã kiến nghị với ông Tập Cận Bình rằng, Trung Quốc nên tham gia vụ kiện.

Tuy nhiên ông Tập Cận Bình quyết theo đuổi chính sách “3 Không”: Không tham gia, không chấp nhận, không thừa nhận vụ kiện.

Sự vắng mặt của Trung Quốc đã trao quyền cho Chủ tịch Tòa án Quốc tế về Luật Biển Shunji Yanai người Nhật quyền bổ nhiệm 4 thành viên còn lại của Hội đồng Trọng tài 5 thành viên xét xử vụ kiện, đó là nguyên nhân dẫn đến thất bại.

Trung Nam Hải quay sang lôi kéo Tokyo, Trung Quốc cần hòa bình nếu muốn phát triển kinh tế

Cao Đạt Mỹ dẫn lời một vị giáo sư từ Đại học Bắc Kinh cho biết: giai đoạn trước và sau phán quyết trọng tài, các chuyến bay từ Trung Quốc qua Mỹ thường xuyên có các quan chức và học giả Trung Quốc sang tìm cách thỏa hiệp với Washington về biện pháp kiểm soát rủi ro trên Biển Đông.

Cho dù về mặt ngoại giao, Bắc Kinh vẫn răn đe Nhật Bản không được can thiệp vào Biển Đông, nhưng bên lề hội nghị thượng đỉnh Á – Âu tại Mông Cổ, Lý Khắc Cường vẫn gặp Shinzo Abe.

Thông tin mới nhất cho biết, bên lề hội nghị thượng đỉnh G-20 đầu tháng Chín này tại Hàng Châu, Tập Cận Bình có khả năng cũng sẽ hội đàm với Shinzo Abe để đổi lấy sự hạ nhiệt của Tokyo trong vấn đề Biển Đông.

Trong thời gian diễn ra hội nghị Bắc Đới Hà, tại Bắc Kinh xuất hiện tin đồn, ông Tập Cận Bình đã rút lại ý định thăm dò khả năng bãi bỏ chế độ Thường vụ Bộ chính trị, mà đợi đến Đại hội 19 sang năm.

Trước mắt, mục tiêu của Trung Nam Hải là tổ chức tốt G-20, muốn giải quyết bài toán kinh tế chuyển hướng mô hình tăng trưởng (từ chữ V) sang chữ L thì Bắc Kinh cần duy trì môi trường hòa bình và ổn định ở châu Á.

Vì vậy chính sách đối ngoại của Trung Quốc tới đây cũng phải hết sức thận trọng, tỉnh táo, đầu tiên là kiểm soát xu hướng chủ nghĩa dân tộc (cực đoan), những tiếng nói chỉ trích sẽ ít đi, ngay cả Thời báo Hoàn Cầu cũng không được quá đà, quá trớn.

Chính sách đối ngoại hiện hành của Trung Quốc thất bại vì đứng trên pháp luật

Có chuyện Ngoại trưởng Vương Nghị bị ông Tập Cận Bình quở trách hay không, Trung Nam Hải có nhận thấy những thất bại trong chính sách ngoại giao của mình gần đây hay không, người viết không thể kiểm chứng.

Bài viết của tác giả Cao Đạt Mỹ có ý phê phán chính sách đối ngoại của Trung Quốc, nhưng lại dùng nhãn quan, lăng kính chính trị của Bắc Kinh để mổ xẻ vấn đề, nên khó tránh khỏi việc lập luận thiếu tính thuyết phục.

Người viết không bình luận về nhận xét của nhà nghiên cứu Cao Đạt Mỹ rằng, chính sách đối ngoại hiện hành của Trung Quốc đã thất bại, bởi lẽ mục đích của Trung Nam Hải trong các hoạt động đối ngoại, trong các sự kiện này là gì còn chưa được làm rõ.

Nhưng có một thực tế rất rõ là các hành xử của Trung Quốc trên Biển Đông đang làm xấu đi hình ảnh của nước này.

Một số nhận xét của tác giả Cao Đạt Mỹ còn mang tính chất tìm cách biện bạch cho cái tác giả gọi là sự thất bại của Trung Quốc. Nguyên nhân tác giả chỉ ra không thuyết phục được người viết. Xin chia sẻ cụ thể:

Thứ nhất, việc Mỹ – Hàn tuyên bố sẽ đàm phán việc lắp đặt hệ thống phòng thủ tên lửa THAAD tại Hàn Quốc không phải Seoul “phản bội” Bắc Kinh, mà chính là hiệu ứng gậy ông đập lưng ông do chính sách của Trung Quốc luôn dùng Triều Tiên như con bài chính trị.

Thiện chí và nhu cầu phát triển quan hệ Trung – Hàn từ Seoul là có thật, không chỉ bởi thị trường 1,3 tỉ dân cũng như nguồn dự trữ ngoại tệ dồi dào của Trung Quốc, mà còn bởi ảnh hưởng của Bắc Kinh đến các hành vi của Bình Nhưỡng.

Chính quyền Tổng thống Park Geun-hye đã rất kỳ vọng vào ông chủ mới của Trung Nam Hải có thể kiểm soát các hành vi đe dọa từ Bình Nhưỡng, nhưng càng về sau Bắc Kinh càng làm Seoul thất vọng.

Để đảm bảo an ninh, Seoul phải quay về với đồng minh truyền thống – Hoa Kỳ.

Thứ hai, Trung Quốc leo thang quân sự hóa Biển Đông, kéo tên lửa phòng không HQ-9, tên lửa chống hạm YJ-63 và chiến đấu cơ JH-7, J-11 ra bố trí bất hợp pháp ở Hoàng Sa (Đà Nẵng, Việt Nam), trực tiếp đe dọa an ninh các nước ven Biển Đông trong khi lại chỉ trích, phản đối Mỹ – Hàn lắp THAAD trên lãnh thổ Hàn Quốc.

Đó là kiểu hành xử tiêu chuẩn kép, cái gì có lợi cho mình thì vơ vào mà không quan tâm đến lợi ích hợp pháp hay nhu cầu chính đáng của các nước láng giềng.

Gốc rễ các vấn đề đối ngoại mà Trung Quốc đang gặp phải hiện nay đến từ tư duy Đại Hán, muốn xưng hùng xưng bá trong thiên hạ thay vì trỗi dậy hòa bình như đã tuyên bố.

Thay vì thượng tôn pháp luật, Trung Quốc lại đang thể hiện mình là quốc gia đứng trên pháp luật, ngoài vòng pháp luật.

Chỉ khi nào nhận thức này thay đổi và được thể hiện bằng hành động có trách nhiệm với việc bảo vệ hòa bình, ổn định trong khu vực, hợp tác cùng có lợi trên cơ sở luật pháp quốc tế, Trung Quốc mới có thể có chỗ đứng trong lòng người.

(Theo Giáo Dục Việt Nam)

Các bài viết cùng chuyên mục
Từ Mao Trạch Đông đến Tập Cận Bình tư liệu mới
Từ Mao Trạch Đông đến Tập Cận Bình

Đọc bài viết đầy đủ tại đâyhttps://hoangkimlong.wordpress.com/2015/06/19/tu-mao-trach-dong-den-tap-can-binh/

Hoàng Kim

Những bài viết có liên quan
Biển Đông vạn dặm
Qua Trường Giang nhớ Mekong
Bí mật kho báu trên đỉnh Tuyết Sơn
Trận Vũ Hán bài học lịch sử
Ngày xuân đọc Trạng Trình
Minh triết sống thung dung phúc hậu

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook


Ong và Hoa


OngvaHoa

Hoàng Kim

viết nhân ngày Lập Thu, họa thơ lão Khoa, ông Hoàng và anh Trịnh

Chào ngày mới ong vàng say làm mật
Mãi mê ôm nhụy nõn, chớm thu  về
Hoa nở thắm đón mừng ong cần mẫn
Đợi giao mùa kết trái để sinh sôi

Xin chào chú chim sâu mùa hạ
Lo mà chi dù bão chớp rất gần
Chim vẫn hót và bướm vàng vẫn lượn
Thung dung đời và mãi khát khao xanh

CHỚM THU

Trần Đăng Khoa

Sân trăng nghe đã dần phai
Lưa thưa vài hạt mưa ngoài hàng cây
Nghe trời trở gió heo may
Sáng ra vại nước rụng đầy hoa cau…

1967
Nguồn: Trần Đăng Khoa, Góc sân và khoảng trời, Nxb Văn hóa Dân tộc, 1999

CHỚM THU

Hoàng Gia Cương

Ban mai rười rượi – thu vừa chớm
Gió lạc vườn ai bỡn trái hồng
Khóm trúc dáng chừng đang độ lớn
Ngỡ ngàng lối ngõ đẫm hơi sương!

Mây bông lặng vén rèm che mỏng
Để nắng non nghiêng liếc trộm vườn
Hàng cúc xốn xang gờn gợn sóng …
Hình như trời đất biếc xanh hơn!

Qua bao giông bão bao mưa lũ
Đất lại hồi sinh lại mượt mà
Chấp chới cánh diều loang loáng đỏ
Cố giữ tầm cao, níu khoảng xa!

Nguồn: http://www.hoanggiacuong.info/2013/08/chom-thu.html

GIÃ BIỆT CHIM SÂU

Trịnh Tuyên

Thôi giã biệt chú chim sâu cần mẫn
Mùa thu lá rơi đã đến nơi rồi
Những con sâu cuối mùa béo nục
Sẽ chui vào tổ kén ngủ im hơi

Thôi đừng trách mùa thu chi nữa
Rụng hết lá xanh sâu cũng chẵng còn
Lá để nuôi sâu , sâu nuôi loài có mỏ
Có mò nuôi loài miệng lưỡi há to hơn

Ta nuôi những câu thơ gầy gò như xác ướp
Thơ là cây mùa thu trút lá trước cuộc đời
Những ý tứ trơ cành xương gộc
Mà cơn bão lòng cứ gào mãi không thôi

Thôi giã biệt chú chim sâu mùa hạ
Trú đông thôi gió lạnh thổi lên rồi
Những con sâu mùa này khôn lắm
Chui kén vàng dệt sẵn đợi sinh sôi …

HoavaOng

CNM365. 24 TIẾT KHÍ LỊCH NHÀ NÔNGLập Thu  (chớm thu) thường rơi vào ngày 7 hoặc ngày 8 tháng 8 dương lịch hàng năm. Tiết Lập Thu năm 2016 sớm hơn đêm rằm tháng Bảy âm lịch (lễ Vu Lan) khoảng 10 ngày, đây một trong 24 tiết khí lịch nhà nông. Những năm nay Việt Nam nhiễu loạn thời tiết rất rõ rệt.

Hoàng Kim

Mong em đừng quên “nhất thì nhì thục
Kinh nghiệm ông cha dạy mãi không cùng
Em học để làm 24 tiết khí
Mộc mạc hát vần bài học đầu tiên.

https://cnm365.wordpress.com/category/24-tiet-khi-lich-nha-nong/

CNM365
https://cnm365.wordpress.com

Video nhạc tuyển
Ban Mai
MAR AKRAM – Dancing with the wind♥
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook

Thầy Xuân lúa và hệ canh tác


BaihocthuctientunguoiThay

Giáo sư Võ Tòng Xuân tại Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh (người thứ tư từ trái, ảnh Đặng Hải), thầy là chuyên gia lúa và hệ canh tác, anh hùng lao động, người con của quê hương Nam Bộ.  Bài học thực tiễn từ người Thầy, lúa sắn Việt Nam tới châu Phi, Việt Nam Châu Phi hợp tác Nam Namthông tin của GMX Consulting về Thầy đã cho thấy một phần những việc mới nhất của thầy lúa độ tuổi 80 vẫn đang trên con đường giáo dục nông nghiệp.

Những chân dung phác thảo “Con đường lúa gạo Việt Nam”, thầy Xuân lúa và hệ canh tác, thầy Lương Định Của con đường lúa gạo, Những người Việt lỗi lạc ở FAO, Bùi Huy Đáp lúa xuân Việt Nam, thầy Quyền nghề nông của chúng tôi, Phạm Trung Nghĩa nhà khoa học xanh; Nguyễn Thị Trâm người Thầy lúa lai;  Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng; Ông Hồ Sáu làm kinh tế giỏi;   Ông Bảy Nhị cổ tích người lớn; …

Con đường lúa gạo Việt Nam” là một khảo cứu nhằm thuật lại việc làm và các dâng hiến lặng lẽ của một số nhà nông học, nhà giáo nghề nông, những nông dân, sinh viên và những nhà quản lý kinh doanh nông nghiệp. Họ gắn bó cuộc đời với nông dân, nông nghiệp, nông thôn, làm bạn nhà nông để làm ra những hạt gạo ngon hơn, tốt hơn cho bát cơm của người dân. Nhiều câu chuyện và con người đời thường sẽ được ghi chép tiếp nối. Tôi ao ước chép lại như một chuyên khảo, một phần máu thịt, một phụ lục của bài giảng Cây Lương thực Việt Nam vốn trực tiếp và chuyên sâu trọng tâm và rất ngắn, nên cần bổ túc thêm phần này. Học để làm (Learing by Doing) không chỉ là tri thức khoa học, là phương pháp, mà còn là tâm huyết, là nghệ thuật và kỹ năng thực tiễn. Đây là bài học một đời. Mỗi người có thế mạnh riêng. Tôi thích câu nói của nhà văn Nguyên Ngọc viết cho nhà văn Nguyễn Khải: “Rồi thế nào tôi cũng còn phải viết về nhau nữa, bạn ạ. Mỗi chúng ta chỉ nhỏ nhoi thôi trong lịch sử rộng lớn. Nhưng, tôi tin vậy, những người sống trung thực, bao giờ cũng là một phần dù nhỏ nhưng không thể thiếu trong bức tranh toàn cảnh của cả một thời”. Những bài viết này tôi nhất định sẽ quay lại.

Giáo sư Võ Tòng Xuân là một bài học lớn.

Hoàng Kim

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Trần Mạnh Hảo một góc nhìn


VatlucbinhNamBoVạt lục bình Nam Bộ. Dòng sông đuổi bắt chân trời, chẳng có gì trên đời có gan bám theo dòng sông về vô tận ngoài chấm lục bình kia. Lục bình như một biểu tượng sâu xa của kiếp người, vẫn trổ hoa trong mưa gió. . Như một đóa lục bình văn học,… Sau này, sẽ đến lúc tôi thêm một chữ “Nhớ” nữa: “Nhớ Trần Mạnh Hảo một góc nhìn”. Người đương thời ít người dám, muốn gần, nói và viết về anh, nhưng số lượng người âm thầm đọc, lẳng lặng đọc văn thơ anh thì nhiều, và khá lớn. Văn chương Trần Mạnh Hảo là văn chương thân phận con người. Mà con người thì gần với tình yêu cuộc sống.

Trần Đăng Khoa trao đổi về Cuộc cách mạng thi ca hôm nay, trong Chân dung và đối thoại, Nhà Xuất bản Thanh niên Hà Nội, trang 194-196, đã viết: “…Tranh luận với Trần Mạnh Hảo không nên cải nhau trên mấy lý lẽ vặt“, mà “… Tốt nhất hãy làm ngược lại những gì Trần Mạnh Hảo đã làm”.

Tôi đồng tình với Trần Đăng Khoa và cho việc khen chê là bình thường. Thưởng thức nghệ thuật là thưởng thức tài năng sáng tạo văn chương của các cá nhân nhà văn thơ. Văn thơ hay thì khen, dở thì chê. Thơ hay hạng nhất là thơ muôn đời. Thơ hay hạng hai là thơ của một thời. “Mùa thu tôi đi học” thơ Trần Mạnh Hảo là thơ của nhiều thời.

Hai bài văn khác “Sơn Nam vạt lục bình Nam Bộ” và “Hemingway-ông già râu trên biển cả chữ nghĩa” văn Trần Mạnh Hảo, đăng trong Nhớ Sơn Nam ông già Nam Bộ cùng với hai nhân vật kỳ dị của nước Mỹ Borlaug và Hemingway. Đó là những tản văn hay ám ảnh, và chuẩn xác đến kỳ lạ về số phận, thân phận con người !. Tôi đọc và cứ bâng khuâng nghĩ nếu như cuộc đời ít bất cập hơn và giá như Trần Mạnh Hảo dành trọn đời cho những áng thơ văn dạng này để giữ lại “viên ngọc ngậm cho đời” thì hay biết bao !

Tôi không đồng tình với anh nhiều việc và chẳng liên quan việc anh, nhưng bài thơ văn hay thì khen ! “Hoa bìm ơi viên mực tím sương mù” . Trần Mạnh Hảo lục bình Nam Bộ.

Hoàng Kim

 

Tài liệu dẫn

TranManhHaotrongTMH

MÙA THU TÔI ĐI HỌC.

Thơ Trần Mạnh Hảo.

Tuổi thơ tôi chớm heo may như tóc
Phất phơ trời trên vầng trán mùa thu
Con vạc gọi vì sao mai đi học
Hoa bìm ơi viên mực tím sương mù

*

Mùa hè trốn đi đâu tôi chẳng thấy
Mẹ vội may áo mới sợ tôi hờn
Gánh mùng tơi mẹ đổi thành thếp giấy
Hoa cúc vàng từ độ ấy vàng hơn

*

Mẹ khổ sở vì tôi mơ bút máy
Đêm nhìn lên trời cũng đổ mồ hôi
Một cặp sách mười năm không sắm nổi
Tuổi thơ tôi chân đất đến trường đời

*

Ôi bè bạn toàn cào cào châu chấu
Qủa bưởi nào rơi xuống nhảy choi choi
Miếng áo vá của một thời yêu dấu
Tôi học cùng trường với củ sắn củ khoai

*

Mùa thu đánh kẻng trời ngân tiếng vạc
Tâm hồn tôi đi học với mọi người
Hỡi ngòi bút lá tre bay trên bàn xào xạc
Có nghe lòng mực tím quả mùng tơi?

Sài Gòn 12-8-1991

SonNamtrongTMH

SƠN NAM VẠT LỤC BÌNH NAM BỘ

Trần Mạnh Hảo

Không hiểu sao, mỗi lần nhớ đến nhà văn Sơn Nam, tôi lại hình dung đến những vạt hoa lục bình trên các kênh rạch, sông ngòi của miền Nam. Lục bình, loài hoa “vừa đi vừa nở”, như một bài thơ tôi viết thuở nào, là một thứ hoa quá bình thường, thậm chí quá tầm thường, do trời trồng, cứ phiêu dạt, cứ lang bạt kỳ hồ như mây bay gió thổi, như số phận và tâm hồn của người nghệ sĩ. Lục bình vừa đi vừa sống, vừa đi vừa nở hoa, vừa đi vừa sinh sôi và tan rã. Nương trên sông nước, có lúc loài hoa xê dịch này chạy như bay về phía chân trời, chạy như đang bị nghìn thượng nguồn lũ lụt đuổi bắt, chạy như đang trôi tuột về phía hư vô, về phía không còn gì, để bấu víu và tồn tại…

Quả thực, Sơn Nam là loài lục bình chuyên đi bộ, trôi bộ trên những vỉa hè của Sài thành. Ông cứ tưng tửng như thế mà đi vào lòng người, mà đi vào văn học. Học theo phép trôi nổi, vô bờ bến của hoa lục bình, chừng như Sơn Nam cứ tưng tửng suốt hơn bảy mươi năm mà đi bộ trên những vỉa hè bụi bậm quanh co của con người. Đốm lục bình trên cạn này có cảm giác như trôi không nghỉ, vừa đi vừa ngậm cái sâu kèn bốc khói, thảng hoặc cười ruồi một cái rất bí hiểm, hoặc gật đầu chào một bóng mây, quờ tay lên khoảng không như tính vịn vào sự hụt hẫng của bước chân phận số. Trên dòng đời trôi dạt, cuộn xoáy về vô định ấy, trong hoang sơ im lặng chợt trổ ra bông lục bình, đột ngột như tiếng khóc oa oa sơ sinh của mang mang thiên cổ, có lúc lại đầy đặn, ấm áp tươi vui như tiếng cười của trời đất. Nhìn lên trời, đám mây tưng tửng kia chợt như một dề lục bình của cao xanh, trôi đi muôn đời bí hiểm mà sao chưa học được phép nở hoa của bông lục bình hoang dã.

Gió kia thổi tưng tửng lên miệt vườn và Sơn Nam cứ thế mà đi tưng tửng đến mọi người. Ông có cái dáng cổ quái như người đã ở miệt vườn từ mấy trăm năm, từ độ ông bà mình đầu tiên mở đất Nam Bộ. Ông giống như một tùy phái của Thoại Ngọc Hầu vừa thu nạp dân binh đi mở kinh Vinh Tế về, lội bộ qua vài ba trăm năm đến với chúng ta như lội qua vài ba công ruộng. Sơn Nam đã ở đô thành gần này hơn nửa thế kỷ mà cái dáng của ông vẫn như là dáng của dân miệt vườn chay. Ông chưa hề bị nhiễm chất thị thành, hệt như ông già Nam Bộ này vừa theo mùa nước nổi bắt được mấy xâu chuột, kêu bạn bè kiếm vài chùm bông điên điển về nướng chuột nhậu chơi. Ông có cái dáng dân chài lưới của U Minh thượng, U Minh hạ hơn là cái dáng của dân làm văn, viết sử.

Sơn Nam là nhà văn của nông thôn, mà là nông thôn Nam Bộ, một nông thôn thuần phác mà dữ dằn, chịu chơi mà nghĩa khí, nhân hậu mà ngang tàng. Cái miệt vườn trong văn chương của Sơn Nam là một miệt vườn xưa, nơi con người và cá sấu còn tranh giành nhau từng tấc đất, nơi cọp ngồi lù lù giữa buổi chợ chiều, nơi mũi lao thường biết cách dẫn đường con người bằng cách phóng đi như tên bắn về phía hoang vu, tăm tối và nỗi sợ trước một thiên nhiên được cấu tạo bằng nỗi niềm của người xa xứ.

Ông chính hiệu là nhà văn của buổi đầu mở đất, của những người bị phát vãng, bị lưu đầy từ miền Trung, miền Bắc vào, của dân trốn nợ, của kẻ thất tình quá mà bỏ xứ, của những anh hùng Lương Sơn Bạc, muốn tìm tự do nơi xứ cọp hơn là phải sống tù túng, sợ hãi trong sự áp bức của cõi người toàn quan ôn, chúa ác. Sơn Nam là một nhà Nam Bộ học, một cuốn từ điển của thời đầu mở đất Đồng Nai. Ông tiếp tục truyền thống văn chương của những Nguyễn Đình Chiểu, Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Hồ Biểu Chánh, Đông Hồ… Văn ông giản dị chừng nào, mộc mạc chừng nào lại sâu sắc mà hàm súc chừng ấy. Đọc ông, tôi cứ nhớ đến Tuốchghênhiép, một nhà văn phong tục của Nga ở thế kỷ mười chín với “bút ký người đi săn” nổi tiếng trên thế giới. Tuốchghênhiép là một biên niên sử của nông thôn Nga thời Sa hoàng, với những trang trại và những cỗ xe tam mã, những mệnh phụ phu nhân và những mối tình phù phiếm gió bay, những nông nô và số phận tẩm toàn nước mắt, những cánh rừng tai ga hư thực và những hươu nai chỉ lấy sự chạy làm vũ khí. Cũng như Tuốcghênhiép, Sơn Nam là một nhà văn phong tục của miền Nam, của những huyền thoại thời kỳ khai điền lập ấp.

Văn của Sơn Nam không ào ào như gió chướng, lại không trong veo như nước cất trong phòng thí nghiệm, mà nó là thứ chất lỏng hồng hào có tên là phù sa, chỉ cần vốc lên đã thấy mỡ màu cả bàn tay. Dưới ngòi bút của ông, những mảnh vụn bình thường nhất của thiên nhiên, những góc khuất nhất của hồn người chợt như được khoác lên một thứ ánh sáng mới, được bước ra sân khấu của ngôn từ với vẻ mặt trang trọng và cảm động. Những cảnh, những đời, những tâm sự của ông dù với tính cách hảo hớn, hào hùng nhất, sảng khoái và chịu chơi nhất bao giờ cũng pha một giọng kể trầm buồn, u hoài, xa vắng. Nói cho cùng, Sơn Nam là nhà văn của nỗi buồn con người. Hình như nỗi buồn đau mới có khả năng tạo ra cái đẹp của nghệ thuật? Thế giới nguy hiểm hơn, dễ đổ vỡ hơn nếu chỉ tồn tại bằng tiếng cười, bằng sự hoan lạc. Những câu chuyện mà Sơn Nam kể cho chúng ta thường pha chất dân gian, pha chút tiếu lâm nguyên thủy miệt vườn, đôi khi cái cười đi qua còn lưu lại nước mắt. Làm cho người đọc cảm động, còn tác giả tuồng như vẫn tỉnh queo, vẫn lầm lũi đi tìm những mảnh đời khác, những câu chuyện khác, gom nhặt chất liệu như đi mót lúa.

Sơn Nam dáng dấp nhỏ con như núi của phương Nam nhưng rắn rỏi, gân guốc. Gương mặt ông khắc khổ, hun hút như được chạm khắc bởi nỗi niềm tù túng của lịch sử có nét hao hao gương mặt của tượng đá Phù Nam. Đôi mắt ông nhìn tôi vừa xuyên suốt, vừa u u minh minh, vừa sáng quắc vừa lờ đờ, hệt như là đôi mắt của quá khứ. Ông cười lành như cái cười của nghé, của bê. Đôi lúc đang ngồi cười nói, ông chợt im lặng như quên mất tiếng nói, thậm chí như thể ông đã để quên hai lỗ tai ở nhà. Và chợt thấy ông cười ruồi như cười với người trong mơ. Đôi khi ông thất thường như mưa nắng, song ông vẫn là người bình dị, chưa một lần tỏ ra kênh kiệu ta đây. Ông có khả năng chơi thượng vàng hạ cám. Lớp trẻ quý mến ông ở tấm lòng thành thật, cởi mở và chịu chơi, thậm chí lẹt xẹt, hề hề.

Thỉnh thoảng gặp ông, tôi lại thấy nhà văn Sơn Nam của chúng ta già đi một tí. Duy giọng nói ông còn hào sảng, tiếng cười hì hì của ông sao mà trẻ thơ dường vậy. Con người càng già đi, tâm hồn càng trở về thời thơ ấu. Với những tập truyện ngắn bút ký xuất sắc, với những tập biên khảo uyên thâm, với những phát hiện mới mẻ về chân dung tinh thần của người Nam Bộ, Sơn Nam quả rất xứng đáng với ý nghĩa của tên tuổi mình.

Dòng sông đuổi bắt chân trời, chẳng có gì trên đời có gan bám theo dòng sông về vô tận ngoài chấm lục bình kia. Lục bình như một biểu tượng sâu xa của kiếp người, vẫn trổ hoa trong mưa gió. Như một đóa lục bình văn học, tâm hồn Sơn Nam đang trôi trên những trang văn về phía chân trời của cuộc sống.”

Trần Mạnh Hảo
Nguồn: Nhớ Sơn Nam ông già Nam Bộ

HemingwaytrongTMH

HEMINGWAY- ÔNG GIÀ RÂU TRÊN BIỂN CẢ CHỮ NGHĨA

Trần Mạnh Hảo

Ernest Hemingway (ảnh năm 1954)  Nobel Văn Học 1954 : tác phẩm ” Ngư ông và biển cả”. Ngày 21-7 kỷ niệm 117 năm ngày sinh của đại văn hào Mỹ Ernest Hemingway ( 1899-2016).

Hemingway lao vào cuộc đời như một võ sĩ đấm box lao ra trường đấu. Mà quả thực, có lúc, ông nhà văn kỳ lạ này thuở đầu đời đang trên tàu biển sang châu Âu cùng người vợ thứ nhất Hadley, đã tổ chức một trận đấu quyền anh, tự mình lao ra làm đấu sĩ để lấy ít francs giúp đỡ một cô gái bị bỏ rơi. Lúc đã thành danh, có khi ông thỉnh thoảng nổi máu yêng hùng, còn nhảy phóc ra từ bàn nhậu, phanh áo khoe bộ ngực lông lá đầy nam tính rồi thách đấu một tên chó chết nào đó, hoặc đấm những cú trời giáng vào khoảng không cảnh cáo thế gian, hoặc ghi vào mặt thằng cha nào đám xúc phạm ông một vài vết bầm tím gọi là… nhớ đời.

Hemingway cuồn cuộn và ào ạt như sông Mississippi hồng hộc sóng gió, hồng hộc thở ra biển tất cả nguồn cơn vừa phô bày, vừa bí ẩn của nước Mỹ. Có khi ông dàn trải đời mình thành mênh mông như thảo nguyên Chicago ngựa chạy gãy chân không thấu. Có khi ông đùn đẩy đời mình lên thành gò đống, chót vót như đỉnh núi Kilimanjaro, mượn linh hồn con báo mà chết muôn đời trên đỉnh tuyết mây trời vọng tưởng.

Cái gì của Hemingway cũng tột cùng. Hemingway tán gái. Hemingway đấm bốc. Hemingway túy ông. Hemingway mê cuồng với đấu trường bò tót. Hemingway săn tê giác và sư tử Phi châu. Hemingway lao sùng sục ra biển Cuba câu cá kiếm. Hemingway viết văn. Hemingway vong thân. Hemingway dấn thân. Hemingway lôn luôn coi Fidel Castro là thần tượng và là bạn thân thiết của nhà cách mạng Cuba này. Hemingway mê mẩn nước Mỹ và ngán nước Mỹ tới tận cổ. Hemingway lẩn thẩn với hư vô…

Một cuộc đời 62 tuổi như ông, dù có chia ra hàng chục cuộc đời khác cũng đều mãnh liệt và cùng tận hết mình. Có thể nói, Hemingway – một nhà văn rất Mỹ, từ cuộc đời đến tác phẩm chính là hình ảnh của nước Mỹ thu nhỏ, của một nước Mỹ đam mê và rồ dại, kiêu hùng và bi lụy, tự do và trầm cảm, chếnh choáng và hư vô…

Cùng với Chúa Trời, bò tót, sư tử, cá kiếm, năm người đàn bà có tên và không tên khác đã nhào nặn nên thể xác và tâm hồn Hemingway.

Đầu tiên là Grace Hall – mẹ ông, một người đàn bà Anh mắt xanh xinh đẹp, cao lớn, tươi tắn và nồng nàn như bình nguyên nước Mỹ, một giáo viên dạy nhạc tại North Oak Park đã truyền vào ông cả tâm hồn nghệ sĩ đầy mơ mộng, lúc nào cũng bàng bạc như sương và véo von như chim chóc. Cha ông – Ed Hemingway, một bác sĩ y khoa cao lớn, đẹp trai, một tay chơi mê câu cá, mê săn bắn đã “câu” được người phụ nữ âm nhạc này ngay trong trường trung học.

Khi Ernest vừa sinh ra, mẹ ông đã viết vào nhật ký những dòng như lời tiên tri về về đứa con trai ngỗ ngược và thiên tài sau này như sau: “Các con chim cổ đỏ hót những bài ca ngọt ngào nhất để chào mừng người viễn khách tí hon đến với thế giới xinh đẹp này”. Quả thật, Ernest suốt đời là viễn khách trên quê hương mình, là viễn khách của thế giới, viễn khách của những người đàn bà chết mê chết mệt vì ông, viễn khách trong chính bản thân mình, viễn khách của cái chết và hư vô. Cũng quả thật, cái nhìn của người mẹ đã xuyên suốt cuộc đời ái tình sôi nổi như bão giông sấm chớp của người con trai khi tiên đoán về “Các con chim cổ đỏ” châu tuần quanh người đàn ông cao lớn tới gần hai thước, ngực rộng, vai to, râu hùm hàm én, đẹp trai và chịu chơi vào loại nhất nước Mỹ này.

Một con chim cổ đỏ, mỏ đỏ đầu tiên mà Ernest vồ được khi chàng nằm điều dưỡng do bị thương ở chân tại Milan (Italy) năm 1918, lúc mới 19 tuổi là nàng điều dưỡng viên Agnes Hannah Von Kurowsky – hơn chàng gần 10 tuổi. Trong 18 cô điều dưỡng viên đến từ Mỹ xinh như mộng, Ernest đã chọn nàng Agnes Hannah lớn tuổi nhất đám, một nàng xinh tươi, tóc nâu sẫm, có mắc liếc đa tình và khóe cười lúng liếng có thể làm nghiêng lệch cả cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất. Chàng Ernest lao vào mối tình đầu như con sư tử Phi châu lao vào con sơn dương. Anh chị yêu nhau tưởng có thể sập bệnh xá Croce Rossa Americana đóng tại Milan vẫn còn nằm trong tầm đại bác của quân Áo. Hemingway trong đêm tối chiến tranh nóng nực, dám dũng cảm một mình lao lên cõng một thương binh đang hấp hối người Italy giữa trận tiền và đã hưởng trọn một tràng súng máy của quân Áo vào cẳng chân, khiến cả hai cùng gục xuống trong vũng máu. Chuyện dám hy sinh cứu đồng đội này đã đưa chàng trai trẻ Mỹ từ địa ngục chiến tranh đến với thiên đường có tên là Agnes Hannah tóc nâu sẫm kiều diễm như quà tặng mỹ miều của số phận.

Tình yêu trong chiến tranh phải chia lìa vội vã. Chàng phải về Mỹ vì bị thương đi cà nhắc. Còn nàng ở lại Milan tiếp tục băng bó vết thương thể xác và tâm hồn cho những chiến binh thoát chết khác, những Ernest khác. Về Mỹ ngày nào Ernest cũng viết một lá thư cho người tình Hannah nhưng chẳng có hồi âm. Hóa ra, Agnes Hannah đã quên chàng Ernest bé bỏng miệng còn thơm mùi sữa để đú đởn với một tên sĩ quan người Italy đa tình chết tiệt nào đấy. Ernest thất tình như rồ dại. Chàng nguyền rủa nàng – vị nữ thánh của mối tình đầu chính ra chàng phải tôn thờ mãi mãi thì lại đi hận nàng hơn hận quân Áo tí nữa đã xơi tái một cẳng chân mình. Lần đầu tiên yêu và lần đầu tiên bị phản bội, Ernest đã nếm chén đắng của sự thất tình.

Ernest đã thề giết chết Agnes Hannah trong tâm hồn mình để rồi làm cho nàng thành bất tử trong một cái tên khác là Catherine Barkley – nhân vật nữ chính trong cuốn tiểu thuyết đã đưa ông lên hàng những văn hào lớn nhất nước Mỹ và thế giới: “Giã từ vũ khí” xuất bản năm 1929. Hemingway hóa thân vào nhân vật Federic Henry để làm sống dậy cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, mối tình thứ nhất, nước Italy thứ nhất, sự rồ dại và đam mê thứ nhất của đời ông và của nhân loại. Tình yêu đẹp tới mức phi lý của Henry và cô y tá Catherine hiện lên lồng lộng như là sự phản đề của cuộc chém giết tàn khốc có tên là chiến tranh. Catherine cuối cùng đã không chết ở chiến hào mà chết bởi tạc đạn tình yêu: chết trong cuộc sinh nở.

Thế mà năm 1932, Hemingway điên tiết lên, đã toan tìm đấm vỡ mõm gã đạo diễn để cho Catherine không chết trong phim “Giã từ vũ khí”, trái với cái chết của nàng trong tiểu thuyết. Catherine đã chết bởi tình yêu. Nhưng tình yêu này bởi chiến tranh mà sinh ra. Chúng ta có thể “Giã từ được vũ khí” nhưng không thể nào giã từ được tình yêu và nỗi chết. Suốt cuộc đời cuồng nhiệt sống và cuồng nhiệt viết của mình, Hemingway đã bị tình yêu và cái chết, bị những người đàn bà và sư tử Phi châu giằng xé về hai phía thiên đường và địa ngục.

Cuốn tiểu thuyết “Mặt trời vẫn mọc” ra mắt năm 1926 của ông là tiếng thở dài của nước Mỹ, là mùi xú uế của cả một thế hệ bị chiến tranh bài tiết ra thành những hòn sống, những cục sống đi lang thang khắp châu Âu và Bắc Mỹ như những hồn ma.

Sau thời kỳ vong thân, sau cú thất thần mất hết hồn vía của thế chiến thứ nhất, trước hiểm họa phát xít xuất hiện đe dọa nhân loại, Hemingway tỉnh thức, chợt như nhảy bổ ra từ chai rượu, nhảy bổ ra từ các cuộc câu cá, đi săn để sang Tây Ban Nha tham gia binh đoàn quốc tế bảo vệ nền Cộng hòa non trẻ, chống lại nhà độc tài Franco. Tiểu thuyết “Chuông nguyện hồn ai” xuất bản năm 1940 là bài ca bi thương nơi cuộc dấn thân của một nhân loại mới ngây thơ và tốt lành, một nhân loại dám xé ngực mình, lấy trái tim làm vũ khí tiêu diệt cái ác.

Hemingway đã khoác một y phục khác, một cái tên khác là chàng Robert Jordan, một chiến sĩ tình nguyện người Mỹ đã đến Tây Ban Nha để chiến đấu bảo vệ nền Cộng hòa.

Trong tận cùng chết chóc, nước Tây Ban Nha hiện lên qua hình ảnh nàng du kích Maria, một thánh nữ đồng trinh của chiến tranh. Tình yêu của Jordan với Maria là tình yêu của một dấn thân này với một bơ vơ khác, là nghẹn ngào tỏ tình cùng nức nở. Tình yêu nào của văn chương Hemingway chừng như cũng là tình yêu của vết thương, tình yêu soi mình trong chiều sâu hút của một cái giếng trong suốt là nỗi chết. “Chết trong chiều nắng tà”, cuốn tiểu thuyết ra mắt năm 1932 của Hemingway đã đưa nước Tây Ban Nha trưng ra với thế giới ở một gương mặt khác với nghi lễ thiêng liêng của thuật đấu bò. Đây là một tiểu thuyết bên ngoài tưởng sục sôi, tưởng gào thét điên dại vì việc đấu bò tót; nhưng thực ra đây là tiểu thuyết luận đề, Hemingway bàn về cái chết, một cái chết có vẻ ma thuật và kỳ bí như chính Tây Ban Nha mà suốt đời ngoảnh lại, nhà văn còn thảng thốt đến ngẩn ngơ.

Hemingway bị ba con vật: bò tót, sư tử, cá kiếm rình ông từ ba góc của một tam giác quỷ – đời sống; hệt như năm người đàn bà ông yêu từ Agnes Hannah đến bốn bà vợ của bốn thời kỳ kéo ông ra thành sợi dây thun của hoan lạc và đầy ải. Bốn “triều đại” nữ hoàng trị vì trên tâm hồn và chiếc giường của ông từ “triều” hoàng kim Hadley, qua Pauline, tới Martha rồi Mary Welsh và dừng lại “ở triều” thứ năm – triều đại của hư vô và chấm hết là khẩu súng săn shotgun.

May mà trước khi đi tìm con báo trên đỉnh núi tuyết, Hemingway đã kịp ném linh hồn xuống biển Cuba để sinh ra kiệt tác “Ngư ông và biển cả”. Cuốn truyện vừa này lần đầu được in trọn trên tờ Life và bán được 5 triệu bản trong vòng 48 tiếng đồng hồ để đạt được giải thưởng Pulitzer và giải Nobel năm 1954.

Qua kiệt tác này, mới biết người khổng lồ của văn học phương Tây, một nhà văn Mỹ nhất lại mang một tâm hồn phương Đông, rất Phật và rất Lão Trang vậy. Ông già Santiago này chính là một tên gọi khác của Hemingway đã một mình lênh đênh trên chiếc thuyền câu đơn độc, suốt ba ngày đêm bị con cá kiếm vĩ đại mà ông vừa câu được lôi đi vào muôn trùng biển cả, đến nỗi tưởng như chính con cá kiếm kia đã câu được ông già. Cuộc vật lộn trong ba ngày chết đi sống lại kia của lão Santiago chính là cuộc vật lộn của ông già râu Hemingway suốt một đời lênh đênh và cô đơn tới cùng tận trên biển cả chữ nghĩa.

Con cá kiếm nặng tới sáu, bảy tấn, dài và lớn hơn chính chiếc thuyền câu, một sinh vật mạnh và đẹp đến mê cuồng của biển cả khiến chợt nhìn thấy nó, lão Santiago đã rợn da gà vì choáng ngợp. Qua nhân vật Santiago, khi con cá kiếm ngoài hành tinh đến cắn câu, chừng như ông già râu Hemingway đã ngó thấy hư vô, hay chính từ phút đó, hư vô đã câu được ông già và lôi đi tới đầu mút của thế giới văn học? Đằng sau con cá kiếm – linh hồn biển cả kia, ông lão kép Santiago – Hemingway này chừng như nhìn thấy tất cả đàn bà trên thế giới hợp lại và lôi ông đi vào siêu hình tình yêu, siêu hình sự chết.

Không, cuộc chiến đấu vĩ đại giữa một nhân loại cô đơn, bé nhỏ, yếu ớt và một thiên nhiên gầm thét, hung tợn tới vô cùng qua bàn tay rách nát và thân thể rớm máu vì cuộc giằng co sống chết của lão Santiago với con cá kiếm, Hemingway, nhà nhân đạo chủ nghĩa đã mang tới một thông điệp: “Con người không được sinh ra để chịu thất bại. Một con người có thể bị hủy diệt nhưng không bị đánh bại”.

Khi chỉ còn cách cái chết một gang tay, nhờ sức mạnh “không bị đánh bại” ấy, trong rốn thẳm tuyệt vọng, lão Santiago đã phóng ngọn lao cuối cùng của thế giới và giết được hung thần cá kiếm.

Chính là dòng suối máu của con khủng long này phun ra biển cả đã mời gọi hàng đàn cá mập kéo tới. Chỉ trong nháy mắt, bọn Pônpốt-Iêngxari này của biển cả đã chén sạch sành sanh thành quả sống chết của ngư ông. Cuối cùng, lão Santiago kéo lên bờ một bộ xương cá kiếm vĩ đại nhất thế giới – một bộ xương của siêu hình tôn giáo.

Vâng, chính là đàn cá mập nada (hư vô – tiếng Tây Ban Nha Hemingway hay dùng) được biển cả phái tới Ketchum, sáng chủ nhật ngày 2/7/1961 đã “vồ” được đại văn hào bằng khẩu súng săn hai nòng shotgun. Chính từ khẩu súng này, Hemingway từng săn được voi, sư tử, tê giác, báo và thú rừng Phi châu. Lần cuối cùng, ông đã săn được chính bản thân mình bằng một phát đạn tự bắn vào đầu.

Không có gì giết nổi con người này kể cả chiến tranh, cả bệnh viêm gan vì rượu, cả hai lần rớt máy bay và nhiều lần bị tai nạn xe hơi – trừ chính bản thân ông. Một lần nữa, Hemingway lại lên đường đi câu con cá kiếm của Chúa Trời ở bên kia thế giới. Ông đã bị hư vô vồ mất và lôi đi trên biển cả chữ nghĩa tới muôn đời. Trước đó, Hemingway đã vồ được vĩnh cửu; hệt như con báo Phi châu đã vồ được đỉnh núi tuyết Kilimanjaro, tìm được “Một nơi sạch sẽ và sáng sủa” nhất thế gian để chết và để cứu rỗi sự vĩnh hằng của cái đẹp đang bị thế giới trần tục này săn đuổi…

Trần Mạnh Hảo

 

Bài viết mới

DoanNamSinhlanguoithenao

ĐOÀN NAM SINH LÀ NGƯỜI THẾ NÀO?

Đoàn Nam Sinh là người thế nào? hãy đọc NÔNG SẢN VIỆT NAM thì rõ. Ông là người tử tế và có góc nhìn khác. Nam Sinh Đoàn hơi giống Sơn Nam ông già Nam Bộ của miền Tây, nhưng ông này có pha một chút của Huỳnh Kim và Hoàng Kim (Đồng Tháp) lại có lẫn một chút của Trần Mạnh Hảo. ” Thế giới đã phải chịu tổn thất rất lớn không phải vì sự tàn ác của những người xấu mà vì sự im lặng của những người tốt ” Napoleon đã nói vậy và Nam Sinh Đoàn là người dám nói lên. https://www.facebook.com/doannamsinh/posts/482057221893742 .

Đoàn Nam Sinh là ai?

Anh Nam Đoàn Sinh trong bài “NÔNG SẢN VIỆT NAM” đã tự giới thiệu:  “Tôi là con một nông dân. Từ bé đã vọc đất, nghịch nước, đã phụ kéo dây tưới rau, thu hoạch hoa lợi đưa vào chợ. Lớn lên, tôi nghe lời cha học canh nông. Và suốt từ bấy đến giờ, tôi vẫn đùa như thiệt mình là người Việt gốc Sú/ chou, bắp cải.Toàn bộ công việc của đời tôi là làm gì cho nhà nông khấm khá hơn. Bước đầu là cơ giới hóa  canh tác, tự động hóa việc tưới. Sau này về trường còn chú ý đến chế biến, bao bì, vận xuất,… Cũng đã qua một thời xuất khẩu rau hoa, cà phê, cây cảnh đến một số thị trường, XHCN cũng từng, TB giẫy chết cũng biết … Hai mươi lăm năm gần đây, tôi cùng đồng nghiệp chuyên tâm đưa tiến bộ về công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp, trước nhất là giống và kỹ thuật nhân giống. Sau đó là dinh dưỡng, phòng trừ sâu, bệnh, cỏ dại theo hướng sinh học hữu cơ, thân thiện với môi trường. Nhìn chung, góc nào cũng từng lăn, từng trãi với nhà nông từ rau hoa hàng niên, lúa bắp đậu mè, cho đến đa niên như Tiêu trà cà phê, cả cây rừng,… Nên việc dấn lên sự thật này, có thể tự làm khó cho mình, song phải gióng lên để chia sẻ với cộng đồng xã hội và bà con chân lấm tay bùn“.

Đoàn Nam Sinh là con nông dân, lớn lên từ nghề nông, học nghề nông, từng trãi với nhà nông. Như vậy là rõ. Mục đích loạt bài này của anh là gì? Anh viết: “Nên việc dấn lên sự thật này, có thể tự làm khó cho mình, song (Đoàn Nam Sinh) phải gióng lên để chia sẻ với cộng đồng xã hội và bà con chân lấm tay bùn“. Như vậy cũng là thật rõ.

Nông sản Việt Nam 70 năm nhìn lại

Thăm ngôi nhà cũ của Darwin, tôi ước ao học được từ đôi mắt Darwin soi thấu nguồn gốc các loài, tìm đến tư duy mạch lạc của một trí tuệ lớn và tập hợp lắng nghe kinh nghệm tầm nhìn của những người trong cuộc đương thời để vận dụng soi tỏ “Niên biểu lịch sử Việt Nam“, ” 500 năm Nông nghiệp Việt Nam”, “90 năm Nông nghiệp miền Nam” nhằm tìm thấy trong sự rối loạn và góc khuất lịch sử dòng chủ lưu tiến hóa, chấn hưng văn hóa, giáo dục và nông nghiệp Việt.

Đối thoại với anh Đoàn Nam Sinh, anh nhận định tổng quát về  “Nông sản Việt Nam 70 năm nhìn lại“:

Nếu những năm ’60 miền Nam mới nhập DDT, Endrine, Mercaptan,…trừ sâu thì miền Bắc cũng bắt đầu “hóa học hóa” nông nghiệp. Nhà nông trong Nam làm quen với Urê, sulfate amonne -SA thì miền Bắc tiếp cận “Đạm một lá”, ‘đạm hai lá’. Khi cách mạng xanh ở Ấn Độ thành công, thì miền Bắc mới bắt đầu với Trân châu lùn, các giống lúa mang gien lùn. Miền Nam tiếp cận với IRRI qua các giống Thần Nông IR8, IR 20,… Nhưng tốc độ tiếp cận công nghệ và sản phẩm công nghệ cao ở phía  bắc phụ thuộc vào Liên Xô, Trung Quốc nên đã chậm dần đều.

Sau ngày thống nhất, hầu hết kỹ sư nông nghiệp từ miền Bắc không đọc được tên thuốc, tên phân hay các chếphẩm chăn nuôi. Kiến thức ở các trường Đại học cũng chậm lại chừng 20 năm do đủ thứ trì trệ. Do vậy, đến nay, từ chỗ ta đi trước các nước lân cận thì tụt hậu so với họ không dưới 50 năm. (Chú ý rằng chỉ 50 năm sau cùng của thế kỷ 20, loài người đã đi được đoạn đường bằng 5000 năm trước đã đi. Và trong vũ trụ thông tin, chỉ 13 năm qua thôi, ta đã chậm hơn các nước như Mã Lai, In đô, Thái Lan, Đài Loan,… bình quân chừng 50 năm phát triển kinh tếnông nghiệp).

Trách nhiệm này, trước hết thuộc về sự kiên trì “ngu lâu” nhằm chính trị hóa khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật, kinh tế xã hội,…của giới chóp bu và sự kiên quyết lãnh đạo toàn dân toàn diện toàn thể…để giành quyền kiểm soátt và thao túng tài nguyên của đảng cầm quyền.

Từ khi ‘cởi trói’, ‘đổi mới’ để nhà nông tự lo, thì có gạo dư để bán, thịt đủ để ăn, vài ngành như cà phê, tiêu cũng có vẻ khởi sắc. Nhưng hãy nhìn đi, giá trị xuất khẩu của tất cả nông sản nước ta trong mấy mươi năm góp lại thì có nhân với trăm năm nữa cũng không huề vốn được với diện tích 7 triệu hec ta rừng đã và đang mất đi, đất và nước dùng trong nghề nông đang từng ngày suy kiệt.

Các đồng bằng Nam Bộ đã vắt kiệt khả năng tạo ra năng suất của đất, phân hóa học được dùng ngày càng nhiều. Sâu bệnh cỏ dại kháng thuốc tích lũy ngày càng đông, càng mạnh khiến nhà nông phải đổi thuốc tăng liều liên tục để giữ lấy mùa màng. Trên Tây nguyên, ngoài Tây Bắc và cả vùng Bắc và  Trung Bộ cũng không khác tý nào.

Việc cải thiện giống ra sao ? Miền Bắc dựa vào lúa lai của TQ, miền Trung có nhiều vùng cũng vậy. Trong Nam còn dựa được vào các giống lúa Thái như Khao Đak Mali, Ấn Độ như Jasmine 85 để xuất khẩu. Một số giống chọn lọc được như ST 5 đến ST 20, hay vài giống của Viện Ô Môn còn rất hẹp đường tiến thủ. Trong lúc các giống cơm cứng rẻ tiền vẫn chiếm phần lớn diện tích. Giống Ngô thì nhập từ Mỹ là chính, vài giống từ Thái, từ Đài Loan và Viện Ngô cải tiến rất leo heo trên các cánh đồng.  Các giống cây trồng khác từ cây ăn quả đến rau hoa đều di nhập vào hàng năm cả tỉ đô la. Con giống trong chăn nuôi cũng thế, nhất là sau khi để Trung Quốc ôm hết từ con giống đến thức ăn thì ngành chăn nuôi, chủ lực của Nông nghiệp Việt Nam teo dần.

Phân bón và thuốc men phần lớn đều nhập. Đạm Phú Mỹ chỉ được một phần nhỏ, còn lại toàn bộ nguyên liệu là nhập. Các nhà máy thuốc thú y cũng nhập cảng nguyên liệu, sang chai đóng gói, thế thôi.

Nhà nông chúng ta ngày nay bị một lúc nhiều vòi bạch tuộc nhắm vào. Các Công ty bán giống, bán vật tư nói chung là giàu lên, thiên đường của thuốc trừ sâu, trừ cỏ mà. Thứ đến là các đại lý, cùng một trust với chính quyền, cán bộ kỹ thuật ngành nông nghiệp- từ thanh tra cho đến bảo vệ thực vật, khuyến nông, khuyến đủ thứ…hè nhau vét của nông dân từ cái đáy khố rách. Thế mà khi nông sản tới mùa, đám thu mua từ các công ty còn đỗ ra đồng. Nào cân điêu, trừ thủy phần, tạp nhiễm, mua nợ,… cho đến các công ty nhà nước cũng điêu. Chúng chỉ ở xa, điều hành bằng chính sách giá cả.

Cũng tội nghiệp cho nông sản xứ ta, lúa mua về đủ cỡ hạt, độ ẩm,… Sấy xong xay ra nát tấm nhiều, chỉ bán cho khách nghèo, ăn đỡ đói. Chứ yêu cầu phẩm chất đồng đều cho dễ chế biến vận xuất thì đào đâu ra. Khách ăn gạo yêu cầu cao và khác xa cách làm của Việt Nam, nhưng chẳng ai định hướng cho sản xuất.

Đến chuyện xuất cảng, các hiệp hội nhà nước trá hình như VFA (gạo), Vicofa (cà phê) toàn quyền giao dịch, định giá, xây dựng cổng sau, sân sau,…miển trích nộp ngon lành cho “Chính phủ”, còn bọn nhà nông thì mặc mẹ chúng nó, và cấm chúng mày thành lập hiệp hội ngành nghề.

Hai năm trước, tôi nhận lời súp-pọt cho Đại học Kinh tế, thuộc dự án Brownee- thúc đẩy sản xuất kinh doanh cà phê. Tại sự kiện cà phê, có cả Nam của Vicofa, Vũ của Trung Nguyên,… tôi đã nói rõ (trích…) chỉ cần nhìn qua “lăng kính” cà phê: Hiệp hội là bọn hoạt đầu chính trị; Kinh doanh thì triết lý tởm lợm, tiền gom vào nhà; Chính quyền các cấp dây dưa với mafia; thử hỏi nông dân sẽ được gì? Cà phê lung tung giống, chất lượng rất ba vạ vì có quy trình nào chuẩn tắc đâu, ngứa đâu gãi đấy. Chẳng cần bồi bổ cho đất đai (của toàn dân -của đảng), chỉ chạy theo năng suất, mà người mua lại đòi chất lượng thì giết dân chứ còn gì.

Từ các Viện, Trường chỉ nghiên cứu vớ vẫn. Chứ chuyện làm ra một giống, xây dựng một quy trình chuẩn tại một vùng cụ thể để đáp ứng yêu cầu chất lượng ABC…thì cũng cần mươi năm đến vài mươi năm, chẳng ai làm. Doanh nghiệp như thằng cu Vũ cu Văn chả dại đầu tư, nên có gì xơi nấy, chẳng trách được.

Vấn đề vẫn là quyền tư hữu đất đai, quyền tự do lập hội còn xa với nhà nông, nên ngày nào còn tồn tại thể chế cũ rích và thối nát này thì nông dân còn khốn  đốn. Nói nhanh cho vuông.”

Những lời này anh Nam Sinh Đoàn đã chia sẽ với Song Pham, Chinh Pham, Xinh Pham, Nguyễn Thông, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Hồng Kiên, Phan Chi, Phan Tùng Giang, Hồng Chương Phan, Trung Quan Do, Quang Ham Ho, Quoc Trung, Nguyen Quoc, Tuan Nguyen Quoc, Võ Lão Nông, Võ Quốc Hội, Danh Vo Dinh

90 năm nông nghiệp Việt Nam những  điều trăn trở
Tôi muốn đánh giá sâu ở khoảng thời gian 90 năm Viện KHKTNN miền Nam khi Viện Hàn lâm Khoa học Pháp thiết lập đầutiên Viện Khảo cứu Đông Dương mà nay là Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam , sau đó là 60 năm Đại học Nông Lâm TP. HCM và nìn rộng ra một chút Angkor nụ cười suy ngẫm500 năm nông nghiệp Brazil để luận bàn về 90 năm nông nghiệp Việt Nam những  điều trăn trở.

“Phụng sự xã hội” là chùm bài mới đây của ông Đoàn Nam Sinh  đắng quá và thật khác với ý của Phó Thủ tướng: Thu nhập bình quân hộ nông dân đã đạt 97 triệu đồng trên báo Dân Trí ngày 25/8/2016 và gợi lại ý kiến của ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng, hiện là lúc kinh tế Việt Nam đang cho thấy có những chuyển dịch các nguồn lực “Không qua 2 vấn đề khó khăn, Việt Nam sẽ thành nền kinh tế thất bại”.

Xin được tiếp tục nghe kiến giải của tác giả và  lắng nghe các ý kiến của thầy bạn nghề nông. Tôi nói với anh Đoàn Nam Sinh: “Tui Hoàng Kim (Nong Lam University in Ho Chi Minh city) đang lắng nghe anh, nhưng thưa anh Nam Sinh Đoàn, thuốc anh đắng quá !”

Hoàng Kim

Ám khí: Đọc lại và suy ngẫm


AmkhiDoclaivaSuyngam

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. “Vay tiền của Trung Quốc bây giờ đành phải chịu, không làm gì được”! (Ảnh: laodong.com.vn). Ám khí “Sinh tử phù” – luận cổ suy kim là bài viết của thạc sĩ Trương Khắc Trà đăng trên Báo Giáo dục Việt Nam ngày 14 tháng 8 năm 2016. Bài báo viết: “Sinh tử phù”  có nghĩa là “bùa sinh tử”, một “ám khí” võ học được mô tả trong tác phẩm “Thiên Long Bát Bộ” của tiểu thuyết gia Kim Dung do nhân vật có tên Thiên Sơn Đồng Lão sử dụng. Quái chiêu này thường được dùng để cài cắm vào thân thể đối phương, phế dần võ công và nội lực khiến cho đối phương phải chịu sự sai bảo, khống chế của người sử dụng, nếu bất tuân có thể mất mạng hoặc thân bại danh liệt… Trong “Thiên Long Bát Bộ”, Kim Dung đã xây dựng nên nhân vật có tên Hư Trúc, một hòa thượng chân chính ngay thẳng – là người duy nhất trong “thiên hạ” có thể hóa giải “Sinh tử phù”. Tuy nhiên, đó là chuyện phim ảnh, hư cấu, với người Việt “Sinh tử phù” và Hư Trúc có thật hay không không quan trọng mà quan trọng là những cái na ná như “Sinh tử phù” lại hiện diện ngay trên lãnh thổ Việt Nam.”. Tôi từ trước vốn đã đọc kỹ Kim Dung, từng suy ngẫm những hình tượng của triết học cổ điển Trung Hoa đến biểu tượng AQ và “Nhật ký người điên” của đại văn hào Lỗ Tấn đến biểu tượng Hồ Phỉ trong Tuyết Sơn phi hồ và  biểu tượng  Vi Tiểu Bảo trong Lộc Đỉnh Ký của đại văn hào Kim Dung. Đó là những cảnh báo đặc biệt sâu sắc không dễ thấy ! Tôi thật tâm đắc với góc nhìn về  Ám khí “Sinh tử phù” – luận cổ suy kim của thạc sĩ Trương Khắc Trà. Kim Dung, Vương Mông, Mạc Ngôn bạn thích ai?

KimDungKim Dung không chỉ là nhà văn ảnh hưởng nhất đến văn học Trung Quốc đương đại mà còn ảnh hưỡng sâu rộng đến tâm thức nhiều người Việt và các nước, ông cảnh báo nhiều bài học sâu sắc, gợi mật ngữ không dễ thấy….Tôi thích đọc sách Kim Dung.

Những bài viết của Hoàng Kim cùng chủ đề:
Đêm Yên Tử
Sách Nhàn đọc dấu câu có câu không
Trần Hưng Đạo và chùa Thắng Nghiêm
Phật giáo Khoa học và Việt Nam
Thơ Thiền Thượng Sĩ
Thơ thiền Thích Nhất Hạnh
Đối thoại triết học
Đồng dao cho em

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Từ Mao Trạch Đông đến Tập Cận Bình tư liệu mới


TapCanBinhvaMaoTrachDong
Từ Mao Trạch Động đến Tập Cận Bình, là nghiên cứu lịch sử của Hoàng Kim, góp phần tìm hiểu bình sinh Mao Trạch Đông và bình sinh Tập Cận Bình. Bài viết được cập nhật tư liệu mới.

… Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông khởi xướng chính sách được phổ biến năm 1954 trong cuốn “Lịch sử Tân Trung Quốc” có kèm theo bản đồ, nhắc lại lời Mao: “Tất cả các lãnh thổ và hải đảo thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc đã từng bị phe đế quốc Tây phương và Nhật Bản chiếm đoạt từ giữa thế kỷ 19 đến sau thế chiến lần thứ nhất, như Ngoại Mông, Triều Tiên, An Nam, Mã Lai, Thái Lan, Miến Điện, Bhutan, Nepal, Ladakh, Hồng Kông, Macao, cùng những hải đảo Thái Bình Dương như Đài Loan, Bành Hồ, Ryukyu, Sakhalin, phải được giao hoàn cho Trung Quốc.”

… Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vạch chiến lược “3 mũi nhọn” thâu tóm châu Á và đã tuyên bố tại Thượng Hải “chính người Châu Á phải điều hành công việc của Châu Á, giải quyết các vấn đề của khu vực Châu Á và duy trì an ninh của Châu Á”. Ông ráo riết thực hiện chiến lược “không đánh mà thắng” với một loạt kế sách liên hoàn trên biển Đông thông qua sức mạnh kinh tế và tiến bộ công nghệ (trong đó cho chiến tranh mạng. HK) … Ông thực hiện mưu lược ”dương đông kích tây” lợi dụng mâu thuẫn Mỹ – Nga và cuộc bầu cử tổng thống Mỹ để hướng dư luận ra bên ngoài, rãnh tay dẹp yên trong, trực tiếp nắm lại quân đội. Hôm 25/7, Tòa án quân sự Trung Quốc đã tuyên phạt cựu Phó chủ tịch Quân ủy Quách Bá Hùng tù chung thân, tước quyền chính trị suốt đời, tước quân hàm Thượng tướng và tịch thu toàn bộ tài sản. Nga – Trung chuẩn bị tập trận trên Biển Đông vào tháng 9 tới. Ông cũng thực hành mưu lược “an dân” nhằm tháo ngòi nổ phẩn uất trong lòng của một lực lượng đông đảo nạn nhân, đối lập và bất bình đã làm chia rẽ xã hội Trung Quốc.Theo tạp chí chính trị Zhengming ở Hồng Kông.  Nhà tưởng niệm Mao sẽ biến mất khỏi Bắc Kinh. Quyết định bí mật này đã được giới lãnh đạo Trung Quốc đưa ra.  Xác ướp của Mao sẽ được chuyển đến thành phố quê hương của ông ta. Cấp dưới của cựu phụ tá lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc bị thất sủng tiếp tục ngã ngựa.  Lệnh Kế Hoạch, 59 tuổi, từng là Chánh văn phòng Trung ương Đảng và phụ tá cho cựu lãnh đạo Đảng Hồ Cẩm Đào. Ông ta bị bắt vào ngày 20 tháng 7 năm 2015, và bị buộc tội tham nhũng và lĩnh án tù chung thân vào 4 tháng 7 năm 2016. Gần đây, hai cấp phó của Lệnh là Triệu Thắng Hiên và Hà Dũng cũng đã bị âm thầm đưa ra khỏi vị trí lãnh đạo. Hà Dũng là người  đã bị Tổ chức Thế giới Điều tra Cuộc đàn áp Pháp Luân Công (WOIPFG) nhận dạng đóng vai trò tích cực trong việc bức hại Pháp Luân Công, do cựu lãnh đạo Đảng Giang Trạch Dân phát động ngày 20 tháng 7 năm 1999 lúc Pháp Luân Công có trên 70 triệu người Trung Quốc tập luyện.

Đọc bài viết đầy đủ tại đâyhttps://hoangkimlong.wordpress.com/2015/06/19/tu-mao-trach-dong-den-tap-can-binh/

Hoàng Kim

Những bài viết có liên quan
Biển Đông vạn dặm
Qua Trường Giang nhớ Mekong
Bí mật kho báu trên đỉnh Tuyết Sơn
Trận Vũ Hán bài học lịch sử
Ngày xuân đọc Trạng Trình
Minh triết sống thung dung phúc hậu

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook