Chào ngày mới 15 tháng 8


CNM365. Chào ngày mới 15 tháng 8. Taj Mahal, Uttar Pradesh một trong số 37 Di sản thế giới ở Ấn Độ theo danh sách Ủy ban Di sản thế giới UNESCO.  Ngày độc lập Ấn Độ. Ngày 15 tháng 8 năm 1947,  Ấn Độ giành lại độc lập từ Đế quốc Anh. Ngày 15 tháng 8 hàng năm là ngày Lễ Đức Mẹ Lên Trời,  ngày nghỉ lễ chính thức tại các nước Áo, Bỉ, Pháp, Hy Lạp, Ý, Malta, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Croatia, Litva, Luxembourg, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ (một phần), Chile, Ecuador, Liban, Sénégal, Ngày 15 tháng 8 năm 1914 kênh đào Panama là kênh đào chính cho tàu thuyền đi qua, cắt ngang eo đất Panama tại Trung Mỹ, bắt đầu cho phép tàu thuyền qua lại, rút ngắn hải trình giữa Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Xem tiếp … https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-15-thang-8; Bài chọn lọc: Địa chỉ xanh Ấn Độ; Di sản Walter Scott bút hơn gươm; Nhớ Sơn Nam ông già Nam BộÂn tình; Nhớ Sơn Nam thương Trần Mạnh HảoNhớ châu Phi; Kuala Lumpur MARD và những người bạn; Lên Thái Sơn hướng Phật; Thái Sơn ngọn núi thiêng nhất Trung Quốc; Trò chuyện Trung Quốc với Lão Khoa; Giống khoai lang Hoàng Long Việt Nam; Chớm thuTagore đại thi hào Ấn Độ24 tiết khí lịch nhà nông; Nhớ Viên Minh; Trần Đăng Khoa trong tôi; Du lịch sinh thái Nông nghiệp Việt NamDonald Trump hôm qua và ngày nayQuả táo Apple Steve JobsSắn Việt Nam kết nối châu PhiNgười Thầy với việc Dạy và Học; Khổng Tử dạy và học; Nhớ Người; Đêm Yên Tử;

ĐỊA CHỈ XANH ẤN ĐỘ
Hoàng Kim

Cám ơn những người bạn quý Ấn Độ cùng với Mark Zuckerberg và Facebook là suối nguồn hạnh phúc đã luôn giúp tôi bảo tồn kỷ niệm và bổ sung hoàn thiện chùm bài viết với nhiều ảnh đẹp về “Địa chỉ xanh Ấn Độ” “Ấn Độ nôi Phật Giáo” “Di sản thế giới ở Ấn Độ”, “Tagor đại thi hào Ấn Độ”, “Học để làm ở Ấn Độ“,  “Đậu phộng HL25 Ấn Độ Việt Nam”, “Nông nghiệp Ấn Độ ngày nay” . Ghi chép này tôn vinh tình bạn quý chúng ta với câu chuyện tuyệt vời. https://hoangkimlong.wordpress.com/cate…/dia-chi-xanh-an-do/.

Advertisements

Chào ngày mới 14 tháng 8



CNM365. Chào ngày mới 14 tháng 8. Ngày Độc lập tại Pakistan từ năm 1947.  Di sản Walter Scott bút hơn gươm.  Ngày 14 tháng 8 năm 1771 là ngày sinh Walter Scott, nhà thơ trữ tình nổi tiếng người Scotland (mất năm 1832) với kiệt tác “Cánh đồng Waterloo’ (The Field of Waterloo) lan truyền rộng khắp thế giới, chinh phục lòng người qua nhiều thế hệ. Ngày 14 tháng 8 năm1848 , Quốc hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật thành lập chính quyền Lãnh thổ Oregon. Ngày 14 tháng 8 năm 1900, Liên quân tám nước tổng công kích kinh đô Bắc Kinh của triều Thanh nhằm dập tắt phong trào Nghĩa Hòa Đoàn, Hoàng đế Quang Tự, người chủ trương thực hiện chính pháp Mậu Tuất (1898) phải chạy trốn. Xem tiếp … https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-14-thang-8; Bài chọn lọc: Di sản Walter Scott bút hơn gươm; Nhớ Sơn Nam ông già Nam BộÂn tình; Nhớ Sơn Nam thương Trần Mạnh HảoNhớ châu Phi; Kuala Lumpur MARD và những người bạn; Lên Thái Sơn hướng Phật; Thái Sơn ngọn núi thiêng nhất Trung Quốc; Trò chuyện Trung Quốc với Lão Khoa; Giống khoai lang Hoàng Long Việt Nam; Chớm thuTagore đại thi hào Ấn Độ24 tiết khí lịch nhà nông; Nhớ Viên Minh; Trần Đăng Khoa trong tôi; Du lịch sinh thái Nông nghiệp Việt NamDonald Trump hôm qua và ngày nayQuả táo Apple Steve JobsSắn Việt Nam kết nối châu PhiNgười Thầy với việc Dạy và Học; Khổng Tử dạy và học; Nhớ Người; Đêm Yên Tử;

Walter Scott
DI SẢN WALTER SCOTT BÚT HƠN GƯƠM
Hoàng Kim

Qua Waterloo nhớ Walter Scott
Bút thần của hiền tài
Lưu non sông muôn thuở
Bền mạnh sắc hơn gươm.

Walter Scott là nhà thơ văn trữ tình lỗi lạc nhất của Scotland với nhiều tác phẩm của ông được coi là đại diện cho nền văn học cổ điển Anh. Ông sinh ngày 14 tháng 8 năm 1771 tại Edinburgh, mất ngày 21 tháng 9 năm 1832 tại  Abbotsford House, Di sản của Walter Scott  lưu dấu sâu đậm nhất ở Scotland tại Thư viện Trường Đại học Edinburgh (Edinburgh University Library) với Abbotsford House, Edinburgh. Đó là ba nơi mà bạn có thể đắm mình vào các tác phẩm nổi tiếng của Walter Scott.

Walter Scott rất nổi tiếng ở châu Âu, Bắc Mỹ, châu Á và Úc nhưng ở Việt Nam, bạn đọc chưa có nhiều chuyên khảo hoặc dịch thuật thơ văn ông. Tác phẩm đặc biệt nổi tiếng  Cánh đồng Waterloo (The Field of Waterloo) là một trong những bài thơ đặc biệt nổi tiếng của Walter Scott trong kiệt tác Sir Walter Scott Poems. Bài thơ này được viết và xuất bản vào năm 1815, ngay sau khi quân liên minh chiến thắng quân đội Napoléon Bonaparte tại trận Waterloo vào ngày 18 tháng 6 năm 1815, Scott đã đến Bỉ vào tháng Tám, và ông là một trong các thường dân nước Anh đầu tiên đến thăm chiến trường. 

Trận Waterloo đặc biệt nổi tiếng trên thế giới và toàn châu Âu. Trận Waterloo diễn ra vào ngày chủ nhật 18 tháng 6 năm 1815 tại một địa điểm gần Waterloo, thuộc Bỉ ngày nay. Đây là một trong những trận đánh nổi tiểng nhất và cũng là dấu chấm hết cho cuộc chiến tranh Napoléon. Quân đội Đế chế Pháp (La Grande Armée) dưới sự chỉ huy của Napoléon Bonaparte đã bị đánh bại bởi liên quân của Liên minh thứ bảy, bao gồm quân Anh và đồng minh do Arthur Wellesley, Công tước thứ nhất của Wellington chỉ huy và quân Phổ do Thống chế Gebhard von Blücher chỉ huy. Đây là trận đánh kết thúc chiến dịch Waterloo và cũng là trận đánh cuối cùng của Napoléon. Thất bại ở trận đánh này đã đặt dấu chấm hết cho ngôi vị Hoàng đế Pháp của Napoléon và Vương triều Một trăm ngày của ông.

Trận Waterloo thay đổi cục diện toàn châu Âu thời Napoléon Bonaparte cũng tương tự như Trận Xích Bích  làm thay đổi cục diện Trung Quốc dưới thời thời Tam Quốc (Trận Xích Bích diễn ra vào mùa Đông  năm 208 giữa liên  quân Tôn Quyền–Lưu Bị với quân đội của Tào Tháo lấy danh nghĩa triều đình. Trận Xích Bích kết thúc với chiến thắng quyết định của phe Tôn-Lưu, tạo cơ sở hình thành thế chân vạc thời Tam Quốc của ba nước Tào Ngụy – Thục Hán – Đông Ngô.

Bài thơ ‘Cánh đồng Waterloo’  (The Field of Waterloo) của Walter Scott bi tráng và nổi tiếng khắp thế giới trong mọi thời đại, tương tự như bài Tiền Xích Bích phú và Hậu Xích Bích phú của đại thi hào Tô Đông Pha. Nó thể hiện tính nhân văn của kiếm bút tài tình có sức mạnh hơn cả lưỡi gươm chinh phạt của những danh tướng lừng danh nhất thế giới. Theo cách nói của Ban zắc, đại văn hào Pháp, tính nhân văn của kiếm bút chạm thấu những phần mà kiếm sắc của Napoleon không bao giờ và không thể với tới được. Bài thơ ‘Cánh đồng Waterloo’(The Field of Waterloo) của Walter Scott hướng tới những người nghèo, những số phận kém may mắn trong chiến tranh. Lợi nhuận từ bài thơ của Walter Scott về cuộc chiến được đi vào quỹ cho góa phụ và trẻ mồ côi của người lính. Những câu thơ đặc biệt xúc động, đơn giản nhưng rất khó dịch:

“On Waterloo’s ensanguined plain /
Lie tens of thousands of the slain; /
But none, by sabre or by shot, /
Fell half so flat as Walter Scott.” [3]

(Trên cánh đồng của Waterloo vấy đầy máu /
Nói dối là (chỉ) chục ngàn người bị giết;. /
Nhưng không (phải thế đâu), bởi (số người) bị đâm hay bị bắn, /
Đã giảm bằng nửa mức như vậy theo Walter Scott”

(Vì những người góa bụa và trẻ mồ côi còn lớn hơn nhiều!)

Bài thơ ‘Cánh đồng Waterloo’ (The Field of Waterloo) truyền tải tình yêu cuộc sống và góc nhìn thánh thiện cho biết bao thế hệ người châu Âu, đã lan tỏa nhanh và rộng khắp toàn cầu bởi giá trị nhân văn, lời thơ giản dị xúc động ám ảnh đi thẳng vào lòng người.  Giá trị của bài thơ này tương tự như bài Tiền Xích Bích phú và Hậu Xích Bích phú của đại thi hào Tô Đông Pha, cũng tương tự như bài thơ ‘Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi đã làm lay động biết bao nhiêu khối óc, con tim của người Trung Quốc, Việt Nam và người dân các nước châu Á ở nhiều thế hệ. Đó là những dòng sông thi ca rộng lớn chảy không ngưng nghỉ giữa mạch chính của kiến thức văn hóa nhân loại.

Ông José António Amorim Dias (phải) và Hoàng Kim đi qua cánh đồng Waterloo trên chuyến tàu tốc hành từ Brussels đến Paris

Đại sứ UNESCO, ông José António Amorim Dias (phải) và Hoàng Kim đi qua cánh đồng Waterloo trên chuyến tàu tốc hành từ Brussels đến Paris

Tôi may mắn được đồng hành cùng ông José António Amorim Dias , Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước Cộng hòa Dân chủ Timor-Leste tại UNESCO và Liên minh châu Âu đi qua cánh đồng Waterloo trên chuyến tàu tốc hành từ Brussels (Bỉ) đến Paris (Pháp). Chúng tôi chung khoang tàu và đã trò chuyện và chia sẻ rất nhiều điều về  “The Field of Waterloo” của Nam tước Walter Scott  cùng với những triết lý nhân sinh và văn hóa giáo dục. Tôi đã kể chuyện này trong bài “Đêm trắng và bình minh“.

Tôi chép nguyên văn bài thơ tiếng Anh “The Field of Waterloo” dưới đây để ước mong các bậc thức giả yêu thích thi ca và thạo tiếng Anh giúp chuyển ngữ bài thơ nổi tiếng này thành tiếng Việt, ngõ hầu góp phần vào việc giao lưu thi ca và văn hóa, góp phần trong công cuộc dạy và học, chấn hưng giáo dục và nâng cao dân trí Việt bằng sự đóng góp  tận tụy, chuyển tải thông tin về danh nhân văn hóa Walter Scott đến bạn đọc Việt.

Thật mong lắm thay. Trân trọng cám ơn sự quan tâm của quý bạn.

Hoàng Kim

Nguyên tác bài thơ: Cánh đồng Waterloo

THE FIELD OF WATERLOO
Poem by Sir Walter Scott

I.

Fair Brussels, thou art far behind,
Though, lingering on the morning wind,
We yet may hear the hour
Pealed over orchard and canal,
With voice prolonged and measured fall,
From proud St. Michael’s tower;
Thy wood, dark Soignies, holds us now,
Where the tall beeches’ glossy bough
For many a league around,
With birch and darksome oak between,
Spreads deep and far a pathless screen,
Of tangled forest ground.
Stems planted close by stems defy
The adventurous foot-the curious eye
For access seeks in vain;
And the brown tapestry of leaves,
Strewed on the blighted ground, receives
Nor sun, nor air, nor rain.
No opening glade dawns on our way,
No streamlet, glancing to the ray,
Our woodland path has crossed;
And the straight causeway which we tread
Prolongs a line of dull arcade,
Unvarying through the unvaried shade
Until in distance lost.

II.
A brighter, livelier scene succeeds;
In groups the scattering wood recedes,
Hedge-rows, and huts, and sunny meads,
And corn-fields glance between;
The peasant, at his labour blithe,
Plies the hooked staff and shortened scythe:-
But when these ears were green,
Placed close within destruction’s scope,
Full little was that rustic’s hope
Their ripening to have seen!
And, lo, a hamlet and its fane:-
Let not the gazer with disdain
Their architecture view;
For yonder rude ungraceful shrine,
And disproportioned spire, are thine,
Immortal WATERLOO!

III.
Fear not the heat, though full and high
The sun has scorched the autumn sky,
And scarce a forest straggler now
To shade us spreads a greenwood bough;
These fields have seen a hotter day
Than e’er was fired by sunny ray,
Yet one mile on-yon shattered hedge
Crests the soft hill whose long smooth ridge
Looks on the field below,
And sinks so gently on the dale
That not the folds of Beauty’s veil
In easier curves can flow.
Brief space from thence, the ground again
Ascending slowly from the plain
Forms an opposing screen,
Which, with its crest of upland ground,
Shuts the horizon all around.
The softened vale between
Slopes smooth and fair for courser’s tread;
Not the most timid maid need dread
To give her snow-white palfrey head
On that wide stubble-ground;
Nor wood, nor tree, nor bush are there,
Her course to intercept or scare,
Nor fosse nor fence are found,
Save where, from out her shattered bowers,
Rise Hougomont’s dismantled towers.

IV.
Now, see’st thou aught in this lone scene
Can tell of that which late hath been? –
A stranger might reply,
‘The bare extent of stubble-plain
Seems lately lightened of its grain;
And yonder sable tracks remain
Marks of the peasant’s ponderous wain,
When harvest-home was nigh.
On these broad spots of trampled ground,
Perchance the rustics danced such round
As Teniers loved to draw;
And where the earth seems scorched by flame,
To dress the homely feast they came,
And toiled the kerchiefed village dame
Around her fire of straw.’

V.
So deem’st thou-so each mortal deems,
Of that which is from that which seems:-
But other harvest here
Than that which peasant’s scythe demands,
Was gathered in by sterner hands,
With bayonet, blade, and spear.
No vulgar crop was theirs to reap,
No stinted harvest thin and cheap!
Heroes before each fatal sweep
Fell thick as ripened grain;
And ere the darkening of the day,
Piled high as autumn shocks, there lay
The ghastly harvest of the fray,
The corpses of the slain.

VI.
Ay, look again-that line, so black
And trampled, marks the bivouac,
Yon deep-graved ruts the artillery’s track,
So often lost and won;
And close beside, the hardened mud
Still shows where, fetlock-deep in blood,
The fierce dragoon, through battle’s flood,
Dashed the hot war-horse on.
These spots of excavation tell
The ravage of the bursting shell –
And feel’st thou not the tainted steam,
That reeks against the sultry beam,
From yonder trenched mound?
The pestilential fumes declare
That Carnage has replenished there
Her garner-house profound.

VII.
Far other harvest-home and feast,
Than claims the boor from scythe released,
On these scorched fields were known!
Death hovered o’er the maddening rout,
And, in the thrilling battle-shout,
Sent for the bloody banquet out
A summons of his own.
Through rolling smoke the Demon’s eye
Could well each destined guest espy,
Well could his ear in ecstasy
Distinguish every tone
That filled the chorus of the fray –
From cannon-roar and trumpet-bray,
From charging squadrons’ wild hurra,
From the wild clang that marked their way, –
Down to the dying groan,
And the last sob of life’s decay,
When breath was all but flown.

VIII.
Feast on, stern foe of mortal life,
Feast on!-but think not that a strife,
With such promiscuous carnage rife,
Protracted space may last;
The deadly tug of war at length
Must limits find in human strength,
And cease when these are past.
Vain hope!-that morn’s o’erclouded sun
Heard the wild shout of fight begun
Ere he attained his height,
And through the war-smoke, volumed high,
Still peals that unremitted cry,
Though now he stoops to night.
For ten long hours of doubt and dread,
Fresh succours from the extended head
Of either hill the contest fed;
Still down the slope they drew,
The charge of columns paused not,
Nor ceased the storm of shell and shot;
For all that war could do
Of skill and force was proved that day,
And turned not yet the doubtful fray
On bloody Waterloo.

IX.
Pale Brussels! then what thoughts were thine,
When ceaseless from the distant line
Continued thunders came!
Each burgher held his breath, to hear
These forerunners of havoc near,
Of rapine and of flame.
What ghastly sights were thine to meet,
When rolling through thy stately street,
The wounded showed their mangled plight
In token of the unfinished fight,
And from each anguish-laden wain
The blood-drops laid thy dust like rain!
How often in the distant drum
Heard’st thou the fell Invader come,
While Ruin, shouting to his band,
Shook high her torch and gory brand! –
Cheer thee, fair City! From yon stand,
Impatient, still his outstretched hand
Points to his prey in vain,
While maddening in his eager mood,
And all unwont to be withstood,
He fires the fight again.

X.
‘On! On!’ was still his stern exclaim;
‘Confront the battery’s jaws of flame!
Rush on the levelled gun!
My steel-clad cuirassiers, advance!
Each Hulan forward with his lance,
My Guard-my Chosen-charge for France,
France and Napoleon!’
Loud answered their acclaiming shout,
Greeting the mandate which sent out
Their bravest and their best to dare
The fate their leader shunned to share.
But HE, his country’s sword and shield,
Still in the battle-front revealed,
Where danger fiercest swept the field,
Came like a beam of light,
In action prompt, in sentence brief –
‘Soldiers, stand firm!’ exclaimed the Chief,
‘England shall tell the fight!’

XI.
On came the whirlwind-like the last
But fiercest sweep of tempest-blast –
On came the whirlwind-steel-gleams broke
Like lightning through the rolling smoke;
The war was waked anew,
Three hundred cannon-mouths roared loud,
And from their throats, with flash and cloud,
Their showers of iron threw.
Beneath their fire, in full career,
Rushed on the ponderous cuirassier,
The lancer couched his ruthless spear,
And hurrying as to havoc near,
The cohorts’ eagles flew.
In one dark torrent, broad and strong,
The advancing onset rolled along,
Forth harbingered by fierce acclaim,
That, from the shroud of smoke and flame,
Pealed wildly the imperial name.

XII.
But on the British heart were lost
The terrors of the charging host;
For not an eye the storm that viewed
Changed its proud glance of fortitude,
Nor was one forward footstep stayed,
As dropped the dying and the dead.
Fast as their ranks the thunders tear,
Fast they renewed each serried square;
And on the wounded and the slain
Closed their diminished files again,
Till from their line scarce spears’-lengths three,
Emerging from the smoke they see
Helmet, and plume, and panoply, –
Then waked their fire at once!
Each musketeer’s revolving knell,
As fast, as regularly fell,
As when they practise to display
Their discipline on festal day.
Then down went helm and lance,
Down were the eagle banners sent,
Down reeling steeds and riders went,
Corslets were pierced, and pennons rent;
And, to augment the fray,
Wheeled full against their staggering flanks,
The English horsemen’s foaming ranks
Forced their resistless way.
Then to the musket-knell succeeds
The clash of swords-the neigh of steeds –
As plies the smith his clanging trade,
Against the cuirass rang the blade;
And while amid their close array
The well-served cannon rent their way,
And while amid their scattered band
Raged the fierce rider’s bloody brand,
Recoiled in common rout and fear,
Lancer and guard and cuirassier,
Horsemen and foot,-a mingled host
Their leaders fall’n, their standards lost.

XIII.
Then, WELLINGTON! thy piercing eye
This crisis caught of destiny –
The British host had stood
That morn ‘gainst charge of sword and lance
As their own ocean-rocks hold stance,
But when thy voice had said, ‘Advance!’
They were their ocean’s flood. –
O Thou, whose inauspicious aim
Hath wrought thy host this hour of shame,
Think’st thou thy broken bands will bide
The terrors of yon rushing tide?
Or will thy chosen brook to feel
The British shock of levelled steel,
Or dost thou turn thine eye
Where coming squadrons gleam afar,
And fresher thunders wake the war,
And other standards fly? –
Think not that in yon columns, file
Thy conquering troops from distant Dyle –
Is Blucher yet unknown?
Or dwells not in thy memory still
(Heard frequent in thine hour of ill),
What notes of hate and vengeance thrill
In Prussia’s trumpet-tone? –
What yet remains?-shall it be thine
To head the relics of thy line
In one dread effort more? –
The Roman lore thy leisure loved,
And than canst tell what fortune proved
That Chieftain, who, of yore,
Ambition’s dizzy paths essayed
And with the gladiators’ aid
For empire enterprised –
He stood the cast his rashness played,
Left not the victims he had made,
Dug his red grave with his own blade,
And on the field he lost was laid,
Abhorred-but not despised.

XIV.
But if revolves thy fainter thought
On safety-howsoever bought, –
Then turn thy fearful rein and ride,
Though twice ten thousand men have died
On this eventful day
To gild the military fame
Which thou, for life, in traffic tame
Wilt barter thus away.
Shall future ages tell this tale
Of inconsistence faint and frail?
And art thou He of Lodi’s bridge,
Marengo’s field, and Wagram’s ridge!
Or is thy soul like mountain-tide,
That, swelled by winter storm and shower,
Rolls down in turbulence of power,
A torrent fierce and wide;
Reft of these aids, a rill obscure,
Shrinking unnoticed, mean and poor,
Whose channel shows displayed
The wrecks of its impetuous course,
But not one symptom of the force
By which these wrecks were made!

XV.
Spur on thy way!-since now thine ear
Has brooked thy veterans’ wish to hear,
Who, as thy flight they eyed
Exclaimed,-while tears of anguish came,
Wrung forth by pride, and rage, and shame,
‘O that he had but died!’
But yet, to sum this hour of ill,
Look, ere thou leav’st the fatal hill,
Back on yon broken ranks –
Upon whose wild confusion gleams
The moon, as on the troubled streams
When rivers break their banks,
And, to the ruined peasant’s eye,
Objects half seen roll swiftly by,
Down the dread current hurled –
So mingle banner, wain, and gun,
Where the tumultuous flight rolls on
Of warriors, who, when morn begun,
Defied a banded world.

XVI.
List-frequent to the hurrying rout,
The stern pursuers’ vengeful shout
Tells, that upon their broken rear
Rages the Prussian’s bloody spear.
So fell a shriek was none,
When Beresina’s icy flood
Reddened and thawed with flame and blood,
And, pressing on thy desperate way,
Raised oft and long their wild hurra,
The children of the Don.
Thine ear no yell of horror cleft
So ominous, when, all bereft
Of aid, the valiant Polack left –
Ay, left by thee-found soldiers grave
In Leipsic’s corpse-encumbered wave.
Fate, in those various perils past,
Reserved thee still some future cast;
On the dread die thou now hast thrown
Hangs not a single field alone,
Nor one campaign-thy martial fame,
Thy empire, dynasty, and name
Have felt the final stroke;
And now, o’er thy devoted head
The last stern vial’s wrath is shed,
The last dread seal is broke.

XVII.
Since live thou wilt-refuse not now
Before these demagogues to bow,
Late objects of thy scorn and hate,
Who shall thy once imperial fate
Make wordy theme of vain debate. –
Or shall we say, thou stoop’st less low
In seeking refuge from the foe,
Against whose heart, in prosperous life,
Thine hand hath ever held the knife?
Such homage hath been paid
By Roman and by Grecian voice,
And there were honour in the choice,
If it were freely made.
Then safely come-in one so low, –
So lost,-we cannot own a foe;
Though dear experience bid us end,
In thee we ne’er can hail a friend. –
Come, howsoe’er-but do not hide
Close in thy heart that germ of pride,
Erewhile, by gifted bard espied,
That ‘yet imperial hope;’
Think not that for a fresh rebound,
To raise ambition from the ground,
We yield thee means or scope.
In safety come-but ne’er again
Hold type of independent reign;
No islet calls thee lord,
We leave thee no confederate band,
No symbol of thy lost command,
To be a dagger in the hand
From which we wrenched the sword.

XVIII.
Yet, even in yon sequestered spot,
May worthier conquest be thy lot
Than yet thy life has known;
Conquest, unbought by blood or harm,
That needs nor foreign aid nor arm,
A triumph all thine own.
Such waits thee when thou shalt control
Those passions wild, that stubborn soul,
That marred thy prosperous scene:-
Hear this-from no unmoved heart,
Which sighs, comparing what THOU ART
With what thou MIGHT’ST HAVE BEEN!

XIX.
Thou, too, whose deeds of fame renewed
Bankrupt a nation’s gratitude,
To thine own noble heart must owe
More than the meed she can bestow.
For not a people’s just acclaim,
Not the full hail of Europe’s fame,
Thy Prince’s smiles, the State’s decree,
The ducal rank, the gartered knee,
Not these such pure delight afford
As that, when hanging up thy sword,
Well may’st thou think, ‘This honest steel
Was ever drawn for public weal;
And, such was rightful Heaven’s decree,
Ne’er sheathed unless with victory!’

XX.
Look forth, once more, with softened heart,
Ere from the field of fame we part;
Triumph and Sorrow border near,
And joy oft melts into a tear.
Alas! what links of love that morn
Has War’s rude hand asunder torn!
For ne’er was field so sternly fought,
And ne’er was conquest dearer bought,
Here piled in common slaughter sleep
Those whom affection long shall weep
Here rests the sire, that ne’er shall strain
His orphans to his heart again;
The son, whom, on his native shore,
The parent’s voice shall bless no more;
The bridegroom, who has hardly pressed
His blushing consort to his breast;
The husband, whom through many a year
Long love and mutual faith endear.
Thou canst not name one tender tie,
But here dissolved its relics lie!
Oh! when thou see’st some mourner’s veil
Shroud her thin form and visage pale,
Or mark’st the Matron’s bursting tears
Stream when the stricken drum she hears;
Or see’st how manlier grief, suppressed,
Is labouring in a father’s breast, –
With no inquiry vain pursue
The cause, but think on Waterloo!

XXI.
Period of honour as of woes,
What bright careers ’twas thine to close! –
Marked on thy roll of blood what names
To Britain’s memory, and to Fame’s,
Laid there their last immortal claims!
Thou saw’st in seas of gore expire
Redoubted PICTON’S soul of fire –
Saw’st in the mingled carnage lie
All that of PONSONBY could die –
DE LANCEY change Love’s bridal-wreath
For laurels from the hand of Death –
Saw’st gallant MILLER’S failing eye
Still bent where Albion’s banners fly,
And CAMERON, in the shock of steel,
Die like the offspring of Lochiel;
And generous GORDON, ‘mid the strife,
Fall while he watched his leader’s life. –
Ah! though her guardian angel’s shield
Fenced Britain’s hero through the field.
Fate not the less her power made known,
Through his friends’ hearts to pierce his own!

XXII.
Forgive, brave Dead, the imperfect lay!
Who may your names, your numbers, say?
What high-strung harp, what lofty line,
To each the dear-earned praise assign,
From high-born chiefs of martial fame
To the poor soldier’s lowlier name?
Lightly ye rose that dawning day,
From your cold couch of swamp and clay,
To fill, before the sun was low,
The bed that morning cannot know. –
Oft may the tear the green sod steep,
And sacred be the heroes’ sleep,
Till time shall cease to run;
And ne’er beside their noble grave,
May Briton pass and fail to crave
A blessing on the fallen brave
Who fought with Wellington!

XXIII.
Farewell, sad Field! whose blighted face
Wears desolation’s withering trace;
Long shall my memory retain
Thy shattered huts and trampled grain,
With every mark of martial wrong,
That scathe thy towers, fair Hougomont!
Yet though thy garden’s green arcade
The marksman’s fatal post was made,
Though on thy shattered beeches fell
The blended rage of shot and shell,
Though from thy blackened portals torn,
Their fall thy blighted fruit-trees mourn,
Has not such havoc bought a name
Immortal in the rolls of fame?
Yes-Agincourt may be forgot,
And Cressy be an unknown spot,
And Blenheim’s name be new;
But still in story and in song,
For many an age remembered long,
Shall live the towers of Hougomont
And Field of Waterloo!

Conclusion

Stern tide of human Time! that know’st not rest,
But, sweeping from the cradle to the tomb,
Bear’st ever downward on thy dusky breast
Successive generations to their doom;
While thy capacious stream has equal room
For the gay bark where Pleasure’s steamers sport,
And for the prison-ship of guilt and gloom,
The fisher-skiff, and barge that bears a court,
Still wafting onward all to one dark silent port;-

Stern tide of Time! through what mysterious change
Of hope and fear have our frail barks been driven!
For ne’er, before, vicissitude so strange
Was to one race of Adam’s offspring given.
And sure such varied change of sea and heaven,
Such unexpected bursts of joy and woe,
Such fearful strife as that where we have striven,
Succeeding ages ne’er again shall know,
Until the awful term when Thou shalt cease to flow.

Well hast thou stood, my Country!-the brave fight
Hast well maintained through good report and ill;
In thy just cause and in thy native might,
And in Heaven’s grace and justice constant still;
Whether the banded prowess, strength, and skill
Of half the world against thee stood arrayed,
Or when, with better views and freer will,
Beside thee Europe’s noblest drew the blade,
Each emulous in arms the Ocean Queen to aid.

Well art thou now repaid-though slowly rose,
And struggled long with mists thy blaze of fame,
While like the dawn that in the orient glows
On the broad wave its earlier lustre came;
Then eastern Egypt saw the growing flame,
And Maida’s myrtles gleamed beneath its ray,
Where first the soldier, stung with generous shame,
Rivalled the heroes of the watery way,
And washed in foemen’s gore unjust reproach away.

Now, Island Empress, wave thy crest on high,
And bid the banner of thy Patron flow,
Gallant Saint George, the flower of Chivalry,
For thou halt faced, like him, a dragon foe,
And rescued innocence from overthrow,
And trampled down, like him, tyrannic might,
And to the gazing world may’st proudly show
The chosen emblem of thy sainted Knight,
Who quelled devouring pride and vindicated right.

Yet ‘mid the confidence of just renown,
Renown dear-bought, but dearest thus acquired,
Write, Britain, write the moral lesson down:
‘Tis not alone the heart with valour fired,
The discipline so dreaded and admired,
In many a field of bloody conquest known,
-Such may by fame be lured, by gold be hired:
‘Tis constancy in the good cause alone
Best justifies the meed thy valiant sons have won.

 

       
Xem chi tiết tại:

Walter Scott (1771 - 1832)
Sir Walter Scott
Raeburn‘s portrait of Sir Walter Scott in 1822.

Welcome to the Walter Scott Digital Archive

The Walter Scott Digital Archive

The Walter Scott Digital Archive is an Edinburgh University Library online resource created in the Centre for Research Collections. It is designed around our extensive Corson Collection of Walter Scott material. We hope that in time this website will become the main source of information on the life and work of Sir Walter Scott on the web.

Corson Collection
A page on the life and work of James C. Corson, librarian, scholar, and Scott enthusiast and a description of the immense collection of Scott material that he left to Edinburgh University Library.
Pages devoted to each of Scott’s novels, narrative poems, and major prose works, providing a synopsis, compositional and publishing history, and account of its original reception by public and critics.
Pages discussing Scott’s family and educational background, literary and professional careers, homes, haunts, and associates.
A database illustrating the visual materials and realia contained in the Corson Collection, including portraits, art inspired by Scott’s novels and poems, pictures of places associated with Scott, and a wide range of memorabilia.
A list of forthcoming conferences, papers, lectures, talks, and other events relating to all aspects of Scott’s life and work, together with an archive of recent events.
An annotated bibliography of Scott-related books published since January 2000, covering significant new editions of Scott’s work, criticism, biography, translations, and musical scores.
Images of some of the most significant items of Scott correspondence held in Edinburgh University Library’s Laing Collection.
Illustrated pages on the major portraits of Sir Walter Scott, on the original artists, and on the engravers and copyists who did so much to stamp the image of Scott on the nineteenth-century mind.
E-texts including The Letters of Sir Walter Scott and Tales of a Grandfather, with links to over 300 freely available e-texts from external sites.
Links to over 150 websites or pages devoted to aspects of the life and work of Sir Walter Scott.
Contact UsPublished by Paul Barnaby
Web site designed by Amandine Croison
all material © Edinburgh University Library

The Field of Waterloo

First Edition, First Impression:

The Field of Waterloo; A Poem. By Walter Scott, Esq. Edinburgh; Printed by James Ballantyne and Co. For Archibald Constable and Co. Edinburgh; And Longman, Hurst, Rees, Orme, and Brown, and John Murray, London, 1815.

Composition | Reception | Links

Composition

Field of Waterloo, engraved by Henry Chawner Shenton after Abraham Cooper, 1834 (Corson A.5.ILL./2)On hearing the news of the Allied victory at Waterloo (June 18, 1815), Scott burned to see the scene of Napoleon’s final defeat and to visit newly conquered Paris. Continental Europe had been closed to British visitors for more than a decade, and Scott had never before travelled abroad. In August, he set sail for Belgium, hoping to recuperate his expenses by writing a series of imaginary letters describing his travels. These were to be published as Paul’s Letters to His Kinsfolk (1816). Scott was amongst the first British civilians to view the battlefield at Waterloo, accompanied by General Adam’s aide-de-camp, Captain Campbell, and Major Pryse Gordon. Mixing personal observation with information gained from his escorts and from other participants in the battle, he began work on a poem, profits from which would go to a fund set up for widows and orphans of soldiers. Proceeding to Paris, Scott obtained further details from Allied officers and spoke with the Duke of Wellington himself, whose lack of conceit and pretension greatly impressed him.

The poem was sent to James Ballantyne before the end of August and went to press in October. Pre-empting the cool reaction of many subsequent readers, Ballantyne made numerous objections and queries, taking a particular dislike to the opening line (‘Fair Brussels, thou art far behind’). For the most part, Scott stood by his original text but reluctantly followed Ballantyne’s advice in toning down reminiscences of his own The Lord of the Isles and The Lady of the Lake

Reception

An initial run of 6,000 copies appeared on October 23, 1815. The poem sold well and went into a third edition by the end of year. The critics, however, were unimpressed. For the Critical Review, it was ‘absolutely the poorest, dullest, least interesting composition that has hitherto issued from the author of Rokeby‘. The poem’s worthy purpose prevented other journals from being quite so harsh, but there was widespread censure of clumsy phrasing and other signs of authorial haste. Although The Field of Waterloo counted Byron amongst its few admirers, it is now best remembered through an anonymous squib:

On Waterloo’s ensanguined plain
Full many a gallant man was slain,
But none, by sabre or by shot,
Fell half so flat as Walter Scott.

Links

Chào ngày mới 13 tháng 8



CNM365. Chào ngày mới 13 tháng 8
. Ngày Độc lập tại Cộng hòa Trung Phi (hình) năm 1960. Ngày 12 tháng 8 năm 100 trước CN, ngày sinh Julius Ceasar nhà lãnh đạo quân sự và chính khách người Ý (mất năm 44 trước CN). Ngày 12 tháng 8 năm1937, Chiến tranh Trung-Nhật: Quân đội Nhật Bản bắt đầu tấn công Thượng Hải, chiếm được thành phố sau đó vài tháng. Trận Thượng Hải  là một trong những trận đánh lớn nhất và đẫm máu nhất trong Chiến tranh Trung-Nhật. Hai bên đã huy động tới 90 vạn quân tham chiến và số thương vong của cả hai bên lên đến 32 vạn người. Xem tiếp … https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-13-thang-8; Bài chọn lọc:  Nhớ Sơn Nam ông già Nam Bộ; Ân tình; Nhớ Sơn Nam thương Trần Mạnh HảoTrận Vũ Hán bài học lịch sử; Trận Vũ Hán thiếu nữ đánh cờ vây; Nhớ châu Phi; Kuala Lumpur MARD và những người bạn; Lên Thái Sơn hướng Phật; Thái Sơn ngọn núi thiêng nhất Trung Quốc; Trò chuyện Trung Quốc với Lão Khoa; Giống khoai lang Hoàng Long Việt Nam; Chớm thuTagore đại thi hào Ấn Độ24 tiết khí lịch nhà nông; Nhớ Viên Minh; Trần Đăng Khoa trong tôi; Du lịch sinh thái Nông nghiệp Việt NamDonald Trump hôm qua và ngày nayQuả táo Apple Steve JobsSắn Việt Nam kết nối châu PhiNgười Thầy với việc Dạy và Học; Khổng Tử dạy và học; Nhớ Người; Đêm Yên Tử;

Nho Son Nam ong gia Nam Bo

NHỚ SƠN NAM ÔNG GIÀ NAM BỘ
Hoàng Kim

Cụ Sơn Nam lưu lại trong tôi nhiều câu văn thật cảm động: “Cố gắng viết ngắn, câu nào cũng có thông tin”. “Khuyến nông tức là cách giữ đạo làm nông, thì dân mới giàu mạnh được”. “Người tứ xứ về tứ giác sinh cơ lập nghiệp, thì cần giữ cái đạo làm người, thì kinh tế thị trường ở đây mới nên bộ mặt nông thôn mới”.“Đến với văn chương để mong nổi danh thì đừng có hòng. Nền văn học của ta hơn nửa thế kỷ qua, nhìn lại ở một góc độ nào đó, coi như lấy rổ múc nước”. “Vì vậy mà phải viết cho đàng hoàng, phải có lương tâm nghề nghiệp thì các báo, các nhà xuất bản họ mới mua của mình, độc giả họ mới đọc của mình”. “Cái cốt cách người Việt Nam mình là nhân nghĩa” “”Với tôi, Tổ quốc là một nơi kiếm sống được bằng một việc lương thiện nào đó, không bị ai làm khó dễ, có vài người bạn chơi được, không ba trợn” “Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê. Cụ Sơn Nam là nhà văn, nhà báo, nhà khảo cứu Nam Bộ, “ông già Nam Bộ”, “ông già Ba Tri”, “ông già đi bộ’, “pho từ điển sống về miền Nam”, “nhà Nam Bộ học”.

Cụ Sơn Nam đã giã từ cõi nhân sinh ngày 13 tháng 8 năm 2008 và kịp để lại cho đời một sự nghiệp trước tác đồ sộ trên 8000 trang sách của hơn 44 đầu sách đã in và trên 10.000 trang sách chưa in. Bài thơ “Thay lời tựa” của Cụ Sơn Nam trong “Hương rừng Cà Mau” hay ám ảnh: “Trong khói sóng mênh mông/ Có bóng người vô danh/ Từ bên này sông Tiền/ Qua bên kia sông Hậu/ Mang theo chiếc độc huyền/ Điệu thơ Lục Vân Tiên/ Với câu chữ:/ Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả/ Tới Cà Mau – Rạch Giá/ Cất chòi đốt lửa giữa rừng thiêng/ Muỗi vắt nhiều hơn cỏ/ Chướng khí mù như sương/ Thân không là lính thú/ Sao chưa về cố hương?…”. Lời điếu của cụ Sơn Nam khóc cụ Bùi Giáng sao mà chân tình, văn hóa, tri âm, tri kỹ đến vậy: “Anh Giáng ơi! Sinh thời anh ăn mặc xốc xếch, áo trong dài hơn áo ngoài,…nhưng văn thơ của anh ngay ngắn đường hoàng. Anh có nề gì cháo chợ cơm hàng, cả cơm thừa canh cặn, nhưng câu chữ anh xài sạch sẽ, ý tứ sáng trong. Cả đời anh lang thang khi chùa khi chợ có cố định đâu đâu, mà bữa nay đưa anh đi có quân canh lính gác, có vòng hoa của Thành ủy – Ủy Ban, có Hội Nhà văn, dậy là anh có hộ khẩu Sài Gòn rồi đó nghe anh Giáng!.” Cụ Sơn Nam cũng chân thành ngợi ca cụ Trương Vĩnh Ký đã dành thời gian cuối đời để viết chuyện hay cho con nít đọc.“Viết chuyện hay con nít tìm đọc là khó lắm đó nghe” chứ không chỉ là những công trình bác học đồ sộ. Nhớ Sơn Nam ông già Nam Bộ, chúng ta nhớ những trang văn, những chuyện đời thấm đẫm tính nhân văn của ông.

Viết về Sơn Nam, tôi thích hơn cả là của Đoàn Nam Sinh, Huỳnh Kim, Võ Đắc Danh, Trần Thị Hồng Hạnh, Lê Văn Thảo, Lam Điền, Trần Mạnh Hảo và chùm Sơn Nam video nhạc tuyển. Hãy học thái độ của nước mà đi như dòng sông! Tôi từ trước đã tâm đắc điều này, và ngộ ra những người hiền thường thung dung, an nhiên với đời thường. Những người hiền phương Nam như Sơn Nam, Bùi Giáng, Võ Hồng, Trang Thế Hy… đều thật là hiền hòa, chất phác.

NHỚ SƠN NAM

Đoàn Nam Sinh

Hồi còn nhỏ, thập kỷ sáu mươi về trước, trong làng ấp xa xăm, tôi đã được đọc những bài viết của chú trên tờ Hương Quê, giấy báo trắng láng với màu mè, hình vẽ minh họa rất đẹp. Mẫu chuyện mà tôi nhớ đời là bà con xứ Nam kỳ đã lập thế nhử vịt câu sấu như thế nào, với giọng văn giản dị, tưng tửng. Ba tôi, người cũng từng dầu dãi sông nước giải thích chuyện trẻ nhỏ nghịch ý với cha mẹ thì thường bị quở là “đem câu sấu cho rồi”, tụi nhỏ tôi sợ lắm.

Ông cậu vợ tôi sau này, ngày còn nhỏ nhà ngoại khá giả cho đi học trên Nam Vang, chắc có Pri-me rồi về Rạch Giá đi dạy học. Đổi vùng khắp chốn đến sau khởi nghĩa mới biết là đi theo cộng sản từ thời ông Giàu gây dựng đâu bên Xiêm bên Lèo. Cậu làm chủ tịch một xã ở Gò Quao, mà cái bằng “đẹp trai” không giấu được. Ở đâu chị em cũng bu theo. Cậu có lần kể “tao đi công tác với hai cô, mùa nước nổi chun nóp ngủ trên chòi gò, lần quần rồi tao quất cả hai”. Không biết có phải vì đào hoa, lăng nhăng hay sao đó cậu ở lại, không tập kết. Rồi tù tội liên miên. Có lần cậu nói “thằng cha này là Minh Tài, nó viết văn hay lắm, ham đi xuống thực tế, rồi ham viết, chẳng kể gì giờ giấc, chưng dọn. Người hổng biết nói chả ở dơ, lúc 9 năm chả hay về đây, tiếng Tây chỉ có mấy người biết, đủ để nói thầm, chả thân cậu lắm!”. Sau này tôi kể lại với chú cậu Trần Kỳ Ứng dưới Gò Quao hỏi thăm, chú nói chuyện “hồi đó ai cũng yêu nước, đánh Tây đặng giành độc lập. Có mấy người biết chữ đâu. Lớp đó là người theo đạo Thiên chúa cũng vào Đảng, làm lãnh đạo Việt Minh. Khi định biên lại khoảng năm 53, làm theo kiểu mấy anh Tàu nên nhiều người chán nãn…”.

Lớn lên trong thời chiến, lại lo chuyện học hành, chuyện kiếm hiệp/võ hiệp kỳ tình tràn lan rồi phong trào hip-pi, phản chiến đến triết lý hiện sinh hiện tồn,…Mỹ đã đổ quân vào Đà Nẵng, đảo chính, tăng quân, leo thang đánh phá,…Làng quê ứng phó bằng tích trữ khô muối, dầu đèn, trảng-sê hầm hào trước bom sai đạn lạc; phố chợ lung lay trước bao cuộc biểu tình, đình công bãi thị, học sinh bãi khóa, chống đàn áp Phật giáo rồi chống hiến chương Vũng Tàu, đả đảo Nguyễn Khánh bán nước, đả đảo Thiệu-Kỳ-Có,…khiến tụi nhỏ tôi chẳng còn thời gian và lòng dạ nào dòm đến văn học miền Nam nữa.

Sau 68, anh em tan tác người một ngã. Ngọn lửa tàn độc tràn qua thôn ấp ngày một hung tợn, ác liệt. Làn sóng tỵ nạn chiến tranh lan ra, người dân tản cư chạy vào khu dồn, lớp trẻ chúng tôi về Sài Gòn. Mấy năm sau tôi thấy chú trong phong trào chống chế độ kiểm duyệt báo chí của Sở Phối hợp Nghệ thuật, tổ chức biểu tình với khẩu hiệu “Ký giả đi ăn mày”, nhưng mỗi người một việc.

Bẵng đi có chục năm liền, cũng vì mưu sinh chen chúc, tuy không xa nhưng khó dịp hàn huyên. Có lần gặp nhau tôi hỏi nghe chuyện vợ con chú sao đó, chú Sơn Nam buồn buồn ̶ “mình viết văn mà không hay thì ai đọc, làm sao sống? Mà lo chuyện viết lách thì bỏ bê, vợ con mấy người thông cảm”…Tới 97, đợt 300 năm Sài Gòn chú nhờ tôi tiếp mấy chuyện vặt. Lúc này chú thuê nhà ở Phan Văn Trị, một cái buồng dài và hẹp, bốn bề nước đái khai um. Cũng chỉ cái máy Olivetti gõ cọc cạch và bộn bề sách vở xếp chung quanh lan cả lên chiếc giường tám tấc. Gần đến ngày trả tiền nhà chú lúng túng, xốn xang cùng nổi lo trễ nãi bà chủ phiền.

Chú Sơn Nam lúc này đã thấy già, nói chuyện vẫn bông lơn nhưng có phần cam chịu. Có bữa được ít tiền nhuận bút, “chú em chở dùm qua đi gửi cho thằng con, nó khổ lắm”. Lần khác thì “thằng con dưới Mỹ Tho hẹn lên xin mấy trăm về lo chuyện nhà”.

Mấy lần chú xuất hiện trên phim, và khi đi ra quê Bắc tế cụ Nguyễn Hữu Cảnh, với bộ nam phục lụa màu xanh thấy ngồ ngộ, khác xa với “ông già đi bộ” thường ngày, lưng chú đã hơi còng rồi.

Vài năm sau nữa, tôi nhớ bữa đưa tang Bùi Giáng ở Gò Dưa, sau bài ai điếu của Cung Văn là điếu văn của Hội Nhà Văn thành phố. Chú moi ra bài viết sẵn trên túi áo vét xanh nhầu nhỉ, sửa lại đôi kính cũng rầu rĩ như ông chủ và chú run run nói: “Anh Giáng ơi! Sáng nay anh NQS nói với tui anh là lớp trước, lại ở trong này, cũng ít dịp gần gũi. Anh đại diện cho Hội đọc dùm điếu văn này. Dậy đây là phần của Hội nghe anh Giáng…Tui đọc dậy là xong rồi, còn đây là của tui. Anh Giáng ơi! Sinh thời anh ăn mặc xốc xếch, áo trong dài hơn áo ngoài,…nhưng văn thơ của anh ngay ngắn đường hoàng. Anh có nề gì cháo chợ cơm hàng, cả cơm thừa canh cặn, nhưng câu chữ anh xài sạch sẽ, ý tứ sáng trong. Cả đời anh lang thang khi chùa khi chợ có cố định đâu đâu, mà bữa nay đưa anh đi có quân canh lính gác, có vòng hoa của Thành ủy – Ủy Ban, có Hội Nhà văn, dậy là anh có hộ khẩu Sài Gòn rồi đó nghe anh Giáng!…”.

Có lần hội thảo khoa học về cụ Trương Vĩnh Ký, như những lần hội thảo danh nhân Nam bộ khác, chú đã đọc tham luận. Không phải về những công trình bác học, đồ sộ hoặc luận về công/tội, chú nói đến chuyện sau cùng cụ TVK đã dành thời gian viết chuyện cho con nít đọc, “mà viết chuyện hay con nít tìm đọc là khó lắm đó nghe”.

Lúc Bé Tư mới ra cuốn Cánh đồng bất tận, một ông lão nghe chuyện hỏi tôi NQS ủng hộ lắm hả, cháu có không? Tui nghe chú Sơn Nam có bản photo. Mà lúc này ổng về ở dưới Lăng Ông rồi. Chở chú lại thăm giả chút. Hai người lớn nói chuyện văn chương, tôi mãi mê đọc báo. Chỉ nghe thoáng khúc cuối chú Sơn Nam nói “nó muốn đặt tên cho đứa nhỏ là Hiền, Lành gì đó chứ không Thù, Hận,…nghĩ lại không biết tụi mình là con hoang của vụ hiếp dâm nào?” Tôi xin phép hai ông chú ra về trước.

Tự nhiên mấy năm gần cuối đời hai dái tai của chú dày ra, rộng hơn phát đỏ hồng, anh em mừng. Thì cũng có chuyện hợp đồng bán được tác quyền, sách được in lại đẹp đẽ, chú cũng mừng. Nhưng thường bữa, trừ đợt bịnh nặng, chú vẫn đến thư viện Gò Vấp cạnh cầu Hang tìm sách đọc, viết và nhờ mấy cháu đánh máy lại. Rủng rỉnh thì mời mấy cô bé đi ăn trưa, cơm dĩa. Sáng sáng lại ngồi cà phê đen xéo phía kia đường.

Khúc cuối cùng cuộc đời, do có chuyện bình chọn để lãnh giải thưởng gì đó ngoài trung ương mới có chuyện “…Sơn Nam không được, vì nhờ biết tiếng Tây, đọc các bài viết cũ rồi viết lại chứ không có công trình gì…”. Từ hồi chữ quốc ngữ thịnh lên tới giờ, có biết bao nhà văn đọc rồi phóng tác; có bao người đọc để biết mà tránh viết giống người trước? Tôi thì biết rõ là chú Sơn Nam không đạo văn như cái án oan kiểu gây dư luận đó.

Lại rủi cho chú khi đi đường bị xe của bọn trẻ chạy vong mạng làm gãy chân, chú chỉ nói buồn “tụi nhỏ chúc thọ ông già kiểu này ngặt quá!”.

Mới đó mà chú đã đi xa một năm rồi, ngày đưa tang chú tôi từ Gia Lai về, mệt quá ngủ quên, khi anh em nhắc thì đã xong mọi việc. Tiếc và buồn! Thôi, đêm nay tôi nhớ chú, ngồi viết gọn mấy dòng dâu bể.

Bình Dương, 10/08/09
Nguồn : http://www.viet-studies.info/DoanNamSinh_NhoSonNam.htm

BÀI THƠ “HƯƠNG RỪNG CÀ MAU”
Huỳnh Kim

Bài “Thay lời tựa” tập truyện ngắn nổi tiếng “Hương Rừng Cà Mau” của nhà văn Sơn Nam là một bài thơ hay. Bài thơ dài 28 câu viết về cái thuở tiền nhân xưa từ miền Trung tha hương vào khai hoang mở cõi phương Nam. Đó là một bài thơ độc đáo hiếm thấy của nhà văn Sơn Nam mà nhiều người đã thuộc lòng vì cái điệu buồn chất chứa trong từng âm điệu, câu chữ.

Nhưng có lẽ ít ai biết bài thơ đó nhà văn viết khi nào và ở đâu. Một hôm, cuối năm 2000, gần Tết, tôi nhớ vào ngày 15-1-2001, ông ghé thăm báo Cần Thơ và nhắn tôi qua chơi. Tôi chở ông về nhà mình, giở cuốn “Hương rừng Cà Mau” do nhà xuất bản Trẻ tái bản năm 1986, có chữ ký tặng bằng mực đỏ của ông ngày nào, rồi hỏi:

– Bài thơ này chú Tám làm hồi nào vậy? 

Ông nheo nheo mắt, nói:

– Viết từ năm 1961, trong nhà tù Phú Lợi. Hồi đó chánh quyền Sài Gòn bỏ tù cái tội mình vẫn theo kháng chiến.

Rồi ông ngồi chép lại cả bài thơ trên mặt sau một tờ lịch lớn. Nét chữ của một ông già 75 tuổi mà bay bướm quá chừng. Cuối bài thơ, ông ghi: “Viết thơ này từ năm 1961, nay chép lại tặng Huỳnh Kim, bờ sông Hậu”. Tôi đã nhờ thợ phủ la-mi-na và ép tờ lịch ấy lên một tấm gỗ để lưu giữ được lâu dài bút tích của nhà văn Sơn Nam.

Tôi treo kỉ vật này trên tường kế bên kệ sách và gắn kề bên nét chữ của ông, một chiếc lá cây khô hoang dã đã lìa cành tự khi nào. Chiếc lá ấy, nét chữ ấy, mỗi lần nhìn lên, như nghe có tiếng người xưa vọng lại:

Trong khói sóng mênh mông
Có bóng người vô danh
Từ bên này sông Tiền
Qua bên kia sông Hậu
Mang theo chiếc độc huyền
Điệu thơ Lục Vân Tiên
Với câu chữ:
Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả
Tới Cà Mau – Rạch Giá
Cất chòi đốt lửa giữa rừng thiêng
Muỗi vắt nhiều hơn cỏ
Chướng khí mù như sương
Thân không là lính thú
Sao chưa về cố hương?

Chiều chiều nghe vượn hú
Hoa lá rụng buồn buồn
Tiễn đưa về cửa biển
Những giọt nước lìa nguồn
Đôi tâm hồn cô tịch
Nghe lắng sầu cô thôn
Dưới trời mây heo hút
Hơi vọng cổ nương bờ tre bay vút
Điệu hò… ơ theo nước chảy chan hòa

Năm tháng đã trôi qua
Ray rứt mãi đời ta
Nắng mưa miền cố thổ
Phong sương mấy độ qua đường phố
Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê…

 Huỳnh Kim bài đăng báo Tuổi Trẻ cuối tuần (tháng 8-2018)
(click vào hình để có bản chính trên blog Huỳnh Kim)

GẶP LẠI NHÀ VĂN SƠN NAM
Huỳnh Kim

Nhà văn Sơn Nam đã về với đất, nhẹ như câu thơ của ông “Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê”. Sáng nay, lục tìm trong ký ức và trong Thời báo Kinh tế Sài Gòn (TBKTSG), như gặp lại ông…

1.

Năm bảy năm trước, khi còn khỏe, nhà văn Sơn Nam có viết lai rai cho TBKTSG, thường là vào dịp Tết. Có một bài mà bây giờ đọc lại, thấy như ông nói chuyện đang xảy ra. Đó là bài “Làm tiền và xài tiền”. Mở đầu bài báo, ông viết: “Tuy không rành về kinh tế tài chính nhưng tôi dám phát biểu rằng không phải có nhiều vàng trong tay là mặc nhiên được đứng vào hàng ngũ tư sản Việt Nam trong giai đoạn mở cửa này”. Rồi ông nhận xét: “Mấy năm gần đây, phát sinh một hiện tượng ăn xài hoang phí trong một bộ phận dân cư ở Sài Gòn và các tỉnh, đến mức mà chính những nhà kinh doanh nước ngoài phải ngạc nhiên, thậm chí coi khinh. Trúng mối vài dịch vụ sang nhượng nhà đất, buôn lậu, tráo trở chứng từ, dành dụm được năm, mười cây vàng, hoặc hơn, làm tiền không đổ mồ hôi thì dĩ nhiên cần tiêu xài vô lý, dịp may hiếm có. Tiền sẽ vào túi, dễ dàng, cóc nằm há mồm là sung rụng ngay vào miệng, muốn khạc ra cũng không được. Đó là chưa kể một số cán bộ tiêu cực có bài bản, ăn chơi một buổi bằng một năm lương bổng của người làm công. Xài ô-tô hạng sang, quần áo thứ tốt, nhà cửa trang trí toàn đồ ngoại”.

Một chỗ khác, ông mô tả rành rọt: “Rượu mạnh với nhãn hiệu đắt tiền, nốc vài chai đã là tốn bạc triệu. Gọi thức ăn đủ món, nhưng món nào cũng gắp thử một vài đũa, hoặc không gắp rồi chờ đem món khác! Ăn để phá của, vì của cải ấy làm ra không đổ mồ hôi, lắm khi không tiêu xài thì không phải lẽ, vì đó là tiền thù lao tập thể cho phép cả nhóm kết nghĩa! Tiêu xài để cho người đồng lõa thấy mình là người hào hiệp, thừa tiềm năng và thừa bản lãnh. Đến mức những người phục vụ cửa hàng tuy cười tươi ra mặt nhưng khi vào nhà bếp, họ cũng lắc đầu, khinh bỉ cái phong cách điên khùng của “thời đại”. Chưa hết! Ăn uống bừa bãi, nửa ăn nửa bỏ, nôn mửa, lắm khi để xóa mặc cảm tội lỗi, họ lại cởi áo, dùng những lời lẽ phàm tục, nhờ điện thoại cầm tay để nói láo với bạn bè, với vợ con hoặc trêu chọc cô gái nào đó để ra vẻ mình… có máu văn nghệ. Chưa kể trường hợp say quá mức, họ lại đùa giỡn bằng cách chế diễu các cơ quan nhà nước và tự chế diễu mình”.

Ông quan sát thấu đáo cả những kiểu sống như thế này: “Có tiền nhiều, nhưng không tin nơi ngày mai, hoặc quá tin vào tử vi, tuổi con rồng, gặp tháng con chuột. Họ cầu mong làm giàu thêm, không bỏ những dịp may có thể thoáng qua rồi mất. Con cái của họ cần được nổi danh trong khu phố, với bạn bè cùng trang lứa. Nào khiêu vũ, nào ăn điểm tâm ở khách sạn sang trọng nhất, xài đô-la chớ không xài tiền Việt, trong khăn mù-soa nhung nhúc những khoen lớn khoen nhỏ. Mất chiếc xe gắn máy đắt tiền này, lập tức cho con số tiền to để sắm trở lại chiếc khác, lắm khi còn đắt tiền và hợp thời trang hơn”.Gần cuối bài đó, nhà văn nhắc nhẹ: “Ở Việt Nam, xưa kia đã từng có xuất hiện vài nhà tư sản xứng đáng cho đời sau ghi nhớ. Thí dụ như ông Trương Văn Bền. Khi rảnh rang, ông tranh thủ đọc sách, nghiên cứu cách tiếp thị, phân phối sản phẩm theo đường dây hợp lý. Mỗi sáng, ông không quên tập thể dục”.

2.

Nhà văn Sơn Nam viết báo kinh tế như vậy đó. Còn các nhà báo kinh tế và doanh nhân thì lại hay trích văn của ông. Trong mấy chục bài của họ đã đăng trên TBKTSG, dễ gặp lại hình ảnh “ông già Nam bộ” Sơn Nam.

Tỉ như trong bài “Như ngày xưa tiền nhân đi mở cõi”, ông Trần Kim Chung – Tổng giám đốc Công ty cổ phần Quốc tế C&T – đại diện Tập đoàn Mỹ phẩm Amore – Pacific Hàn Quốc, tâm sự: “Có một bài thơ của nhà văn Sơn Nam luôn làm tôi liên tưởng rằng, chuyện khởi nghiệp kinh doanh ngày nay cũng tựa như chuyện tiền nhân ta ngày xưa đi mở cõi. Đó là đoạn đầu trong bài thay lời tựa tập truyện ngắn “Hương rừng Cà Mau” của nhà văn: Trong khói sóng mênh mông / Có bóng người vô danh / Từ bên này sông Tiền / Qua bên kia sông Hậu / Mang theo chiếc độc huyền / Điệu thơ Lục Vân Tiên / Với câu chữ: “Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả” / Tới Cà Mau, Rạch Giá / Cất chòi đốt lửa giữa rừng thiêng…”.

Hoặc trong bài “Quán Sơn Nam”, nhà báo Võ Đắc Danh kể: “Sáng thứ bảy, tôi tìm đến địa chỉ liên lạc thường nhật của ông, tức cái quán cà phê trong khuôn viên nhà truyền thống quận Gò Vấp. Khác với lệ thường, hôm nay sau khi uống xong ly sữa tươi và ly cà phê đen, nhà văn Sơn Nam ăn thêm một gói bắp nấu, rắc lên một ít đường cát và dừa nạo. Bắp nấu là món ăn sáng của người nghèo, hồi trước bắp nấu được gói bằng lá chuối, múc ăn bằng một miếng sóng lá dừa. Bây giờ là cây muỗng nhựa, bắp nấu gói trong bọc ny lông, bên ngoài gói thêm lớp giấy báo.

Thấy ông ăn một cách ngon lành, tôi hỏi: “Tía tìm đâu ra món này, đã lâu rồi tôi không thấy?”. Ông nói ở gần nhà ông còn một người bán, nhưng phải dậy sớm mua mới có.

Ông vừa ăn xong thì một thanh niên tìm tới, nói là ở tạp chí Điện ảnh đến nhận bài báo Tết theo đơn đặt hàng. Ông vừa lấy bản thảo trong túi ra, vừa cười nói: “Lấy tiền trước của họ, xài hết rồi mới viết”. Ông cho tôi xem trước khi giao nó cho khách hàng. Năm Giáp Thân, ông viết về khỉ. Thì ra, ông là một trong những cư dân Sài Gòn trực tiếp chứng kiến các chuyên gia người Pháp mang hai con khỉ đầu tiên đến Thảo cầm viên. Ông nói ông rất khoái câu nói của Gamzatov, đại ý: con khỉ muốn thành người phải trải qua quá trình tiến hóa hàng triệu năm, nhưng con người muốn trở lại thành khỉ thì chỉ cần một chai rượu”.

Hay trong bài “Thế kỷ XXI nhìn về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản”, nhà báo Hưng Văn viết: “Nhà văn Sơn Nam đề nghị: Trong chương trình sử học cho học sinh, nên có một bài nói về ông Phan Thanh Giản; đủ tình đủ lý; gọi là tình huống đặc biệt của Nam bộ khi phải hội nhập với vùng Đông Nam Á và phương Tây quá sớm so với các vùng khác trong cả nước. Ông để lại cho đời sau chút gì khó quên, khó xóa nhòa, gọi là tâm linh, phóng khoáng, mơ mộng”.

Tấm ảnh đăng kèm bài này là hình nhà văn Sơn Nam lật xem cuốn “Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư” trên giường bệnh vào chiều ngày 19-6-2005. Một giọt nước mắt ứa ra nơi khóe mắt ông già 80 tuổi. Dạo đó, ông phải nằm viện cả tháng trời sau một tai nạn giao thông. Cùng nhiều bạn đọc khác, tôi từ Cần Thơ về Sài Gòn thăm ông, gởi biếu ông quà của công nhân Công ty In Vườn Lài ở Quận 10 và của giáo sư Trần Hữu Dũng ở Mỹ nhờ chuyển. Tôi cũng tặng ông cuốn sách của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư ở Cà Mau, do Nhà xuất bản Trẻ và TBKTSG mới ấn hành. Ông lặng lẽ giở vài trang sách, không nói một lời. Nhưng nhìn ánh mắt ông, tôi hiểu tình cảm của ông dành cho nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, năm đó Tư 29 tuổi. Trước đó mấy tháng, tôi gặp ông chỗ cái quán cà phê mà anh Võ Đắc Danh kể ở trên. Nhắc tới cô Tư, ông nói: “Viết hay hơn Sơn Nam à nghen!”. Sau đó tôi gọi điện thoại cho Tư rồi đưa máy cho hai chú cháu nói chuyện. Nhớ giọng ông hào hứng: “Chịu khó viết mỗi ngày. Báo hổng đăng thì để đó, rồi sẽ có ngày báo đăng”. Bữa đó, truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư chưa đăng báo.

VÀI KỈ NIỆM VỚI NHÀ VĂN SƠN NAM
Huỳng Kim (Vũ Châu ghi)

Ấn tượng nhứt của anh với nhà văn Sơn Nam là gì?

– Lần nào gặp, tôi cũng thấy ổng giản dị, lạc quan và hầu như nói chuyện gì với ổng tôi cũng học được nhiều thông tin bổ ích. Sơn Nam là một nhà văn nổi tiếng nhưng rất dễ tiếp xúc và chuyện trò. Ở nhà, trong quán cà phê, giữa cuộc họp… hay bất cứ đâu, hễ rảnh rang là ổng sẵn sàng la cà với mọi người, nhất là với giới bình dân. Có lần tôi về Sài Gòn ghé thăm khi ổng đang nằm trên giường bệnh. Ổng gầy lắm, da bọc xương, nhưng nói chuyện thì tỉnh táo, ánh mắt vui. Ổng khuyên tôi nên coi bộ phim “Mê-kông ký sự” mà theo ổng thì còn gặp được những hình ảnh văn hóa gốc của nhiều dân tộc thiểu số chưa bị “con người hiện đại” can thiệp. Ổng nói rất lạc quan: “Nếu còn sống được tới 85 tuổi, tôi sẽ viết tiếp câu chuyện này, ở hai bên bờ sông Tiền, sông Hậu của đồng bằng sông Cửu Long”.

Nghe nói nhà văn Sơn Nam có dạy anh viết báo?

– Không dạy trên giảng đường, ổng chỉ dạy tôi trong cuộc sống. Từ năm 1975, nhà tôi ở chung con hẻm nhỏ với nhà văn trên đường Lạc Long Quân, quận Tân Bình, TPHCM. Tôi vào bộ đội rồi chuyển sang nghề báo. Phóng sự đầu tiên tôi nhờ ổng đọc, viết về đảo Phú Quốc gởi báo Quân đội nhân dân. Cho tới giờ, tôi vẫn thực hành lời dạy viết báo của nhà văn Sơn Nam từ dạo đó: “Cố gắng viết ngắn, câu nào cũng có thông tin”.

Một lần khác, vào năm 1993, tôi theo nhà văn vào xã Tây Phú thuộc huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Trong khi chúng tôi cứ loay hoay với mấy cái báo cáo tổng kết về chuyện đi khai hoang vùng tứ giác, thì nhà văn Sơn Nam đã lội lòng vòng quanh chợ xã. Quay về, ông chỉ hỏi anh bí thơ xã mấy câu mà nghe xong thấy… quá nể: “Có gái giang hồ vào tứ giác tìm tình yêu hay không?”; “Có người nông dân bất mãn? Có anh cán bộ cường hào?”; “Điện thoại bàn đã gọi ra quốc tế nhưng sách báo về xã sao thấy còn ít quá?”… Khi nghe anh bí thơ xã kể chuyện bà con nông dân lập miếu Thần Nông, 17 tháng 3 âm lịch hằng năm họ cúng tạ ơn trời đất, tổ tiên và cây lúa, nhà văn Sơn Nam nói: “Đó là đạo. Làm ruộng là đạo, giữ đất là đạo. Khuyến nông tức là cách giữ đạo làm nông, thì dân mới giàu mạnh được. Tôi lội chợ Tây Phú, thấy có đánh bi-da, có tiệm vàng, có cái kéo rèn từ Phú Tân đưa qua, có bộ xa-lông tre lấy mẫu từ Mộc Hóa, có cô bán quán quê Đồng Tháp, có thầy giáo quê Thanh Hóa… Người tứ xứ về tứ giác sinh cơ lập nghiệp, thì cần giữ cái đạo làm người, thì kinh tế thị trường ở đây mới nên bộ mặt nông thôn mới”. Khi ghé thăm chùa, thăm khu di chỉ văn hóa Óc-Eo, cánh nhà báo chúng tôi lăng xăng hỏi nhà chùa đủ chuyện thì nhà văn Sơn Nam lặng lẽ thắp nhang trước bàn thờ Phật, cúng dường nhà chùa và bố thí cho người nghèo chung quanh chùa.

Đó là những bài học làm báo và làm người nhớ đời của tôi.

Anh có giữ kỷ vật gì của nhà văn Sơn Nam không?

– Tôi đang giữ tập truyện “Hương Rừng Cà Mau” do Nhà xuất bản Trẻ tái bản lần đầu tiên sau ngày giải phóng, tháng 11-1986, in giấy vàng khè, giá 25 đồng, có chữ ký tặng bằng bút bi màu đỏ của nhà văn Sơn Nam. Tôi cũng đang treo bên kệ sách, bút tích của nhà văn Sơn Nam chép bài thơ thay lời tựa tập truyện “Hương Rừng Cà Mau”. Lần đó, tôi nhớ vào ngày 15-1-2001, sau khi ghé thăm báo Cần Thơ, nhà văn về nhà tôi chơi. Sau đó, ổng chép lại bài thơ vào mặt sau một tờ lịch lớn và ký tặng vì biết tôi rất thích bài thơ đó. Tôi tò mò hỏi chú viết bài thơ trong hoàn cảnh nào, ổng nói: “Viết từ năm 1961, trong nhà tù Phú Lợi; hồi đó chính quyền Sài Gòn bỏ tù cái tội mình vẫn theo kháng chiến”.

“CỐT CÁCH NGƯỜI VIỆT NAM MÌNH LÀ NHÂN NGHĨA”
Huỳnh Kim

Trung tuần tháng 3-1990, nhà văn Sơn Nam về Cần Thơ để chuẩn bị cho một công trình nghiên cứu về chùa Nam Nhã. Lúc này ông đã 64 tuổi, thường xuyên đi về miền Tây. Biết tôi đã chuyển qua làm ở báo Quân khu 9 và cộng tác với mấy tờ báo ở Sài Gòn, Hà Nội, ông nhắn tôi đi uống cà phê đêm rồi về nhà tôi chơi. Lâu ngày gặp nhau, không hiểu sao tôi vẫn muốn nghe ông nói chuyện về miền Tây, về đồng bằng sông nước mà khi đó dù đã cưới vợ quê gốc Cần Thơ, lúc nào tôi cũng thấy mình thiếu cái… cốt cách miền Tây. Tôi còn nhớ đã hỏi ông như thế này:

– Cái cốt cách người đồng bằng mình, theo chú Tám, là sao?

Ông trả lời:

– Cái cốt cách người Việt Nam mình là nhân nghĩa. Ông vua mà không nhân nghĩa thì sẽ bị cái nhân nghĩa của nhân dân “cách cái mạng”. Hàng xóm có đám ma, mình góp tiền lo đám, dù người đó lúc còn sống mình không ưa. Không phải chỉ ông vua chết, mình mới cúng. Người ăn mày chết, mình cũng cúng. Đứa trẻ chết, mình cúng. Người ăn cắp, người đói chết, mình cúng. Xưa, công chúa Thuận Thiên than lạnh với cha, vua Lý Thánh Tông họp quần thần bảo: Trẫm thương dân như thương công chúa. Công chúa mặc hai lớp áo cung đình còn than lạnh, huống hồ là muôn dân của trẫm bị cầm tù vì nghèo vì dốt. Nay trẫm lệnh phải phát đủ quần áo để muôn dân được ấm. Đó không phải là mị dân, cái gốc của nó là nhân nghĩa Việt Nam.

Ông còn nói thêm về cái hiện trạng sống thiếu nhân nghĩa xung quanh ta. Tôi giật mình nghĩ lại mình. Lúc đó là đã mười bốn năm kể từ ngày ba tôi mất. Lúc đó, đời lính đã tạm yên, không còn ra mặt trận 979 nữa, nhưng vợ chồng tôi chưa bao giờ nghĩ tới chuyện thờ phượng ba tôi, tất cả để một mình mẹ già của tôi ở Sài Gòn lo nhang khói. Mà hai vợ chồng tôi lúc đó là đảng viên, lúc nào cũng nghĩ mình sống có ích, có nghĩa với dân với nước! Có ngờ đâu, có những lúc thấy tâm hồn trống vắng cô đơn kì lạ mà không làm sao hiểu nổi. Như là đêm hôm đó, tôi lập cập tiễn ông già 64 tuổi ra khỏi căn nhà “gia binh” già nua của mình, gió đêm lạnh ngắt.

HK

HẠT BỤI NGHIÊNG MÌNH NHỚ ĐẤT QUÊ
Võ Đắc Danh

Biết thế nào rồi cũng có cuộc chia ly, hôm ấy, cách nay hơn ba năm, khi ông còn tá túc ở thư viện Gò Vấp, tôi mua một tờ giấy cứng với cây bút lông mang lên, nói: “Tía chép giùm con bài thơ để con giữ bút tích của tía làm kỷ niệm”. Ông nói: “Ừ, để đó đi, vài hôm nữa đã, tôi có chết sớm đâu mà lo, giờ có rảnh hôn, chở tôi đi vòng vòng Sài Gòn chơi”. Không ngờ đó là lần cuối cùng tôi chở ông đi dạo, và rồi bài thơ ông cũng không kịp chép cho tôi. Hôm ấy được tin ông bị tai nạn giao thông, tôi chạy sang thì ông đã nằm liệt giường, thậm chí không còn nhận ra tôi là ai nữa. Bây giờ thì ông đã ra đi!

Nhớ hôm ấy, ngồi sau lưng tôi, ông kể chuyện huyên thuyên, rồi bất chợt khi ngồi ở một quán cà phê vỉa hè, ông nói: “Tôi còn mấy chuyện hay lắm, nhưng về già tôi mới viết”. Tôi giật mình nhìn ông và tự hỏi, về già là bao lâu nữa, hơn 80 rồi, ông lẩm cẩm rồi chăng? Rồi ông lại nói: “Có gặp thằng Nguyễn Trọng Tín, nói tôi nhắn với nó chuyển sang viết văn xuôi đi, thời buổi này mà làm thơ là húp nước mắm”. Tôi nói ông Tín bây giờ viết báo rồi, ông cười: “Vậy là càng tốt, viết báo dễ kiếm tiền hơn”. Trầm ngâm một chút, ông nói: “Nè, tôi dặn ông cái này nghen, ông viết báo thì cứ lo viết báo, đừng bày đặt góp ý với thằng chủ báo phải làm thế này thế nọ, trào máu có ngày! Ngoài mặt nó giả bộ gật đầu nhưng trong bụng nó ghét cay ghét đắng”.

Từ chiến khu về thành ông được phân công ở lại sau tập kết, một phòng trọ, một bộ bà ba vải ú trắng, một đôi guốc vông, lang thang đi bộ khắp Sài Gòn. Ông nói sự nghiệp của ông có ảnh hưởng khá nhiều từ lời khuyên của Bình Nguyên Lộc.

Những ngày đầu tiên ở Sài Gòn, ông lang thang đi tìm Bình Nguyên Lộc, hôm ấy gặp nhau trong một căn gác xép, hai người trao đổi với nhau xem nên viết cái gì để vừa kiếm tiền nuôi sống, vừa có lợi cho dân. Bình Nguyên Lộc trầm ngâm khá lâu rồi nói: “Tôi thấy Sài Gòn bây giờ khá đông dân nhập cư từ miền Tây, hay là ông viết những chuyện xứ ông, chắc sẽ có nhiều người đọc”. Quả nhiên, những câu chuyện của Sơn Nam về rừng U Minh đã thu hút đông đảo độc giả Sài Gòn, không chỉ dân miền Tây mà cả những người đến từ mọi miền đất nước.

Ông nói: “Đến với văn chương để mong nổi danh thì đừng có hòng. Nền văn học của ta hơn nửa thế kỷ qua, nhìn lại ở một góc độ nào đó, coi như lấy rổ múc nước”. Tôi cũng không hỏi vì sao, bởi biết tánh ông thỉnh thoảng hay “phán” ra một câu rồi bỏ ngỏ, không giải thích, ai muốn hiểu sao thì tự hiểu. Với riêng ông, ông tự xem viết văn là một cái nghề, cái nghiệp để mưu sinh, “vì vậy mà phải viết cho đàng hoàng, phải có lương tâm nghề nghiệp thì các báo, các nhà xuất bản họ mới mua của mình, độc giả họ mới đọc của mình”.

Dường như với Sơn Nam, mọi thứ đều rất thực tế và rất đơn giản. Trong câu chuyện Âm dương cách trở của ông cách nay gần 20 năm, tôi vẫn bị ám ảnh một chi tiết: “Ông già hớt tóc vỉa hè bị công an khu vực xét hộ khẩu, ông nói: “Tôi sống ở đây gần trọn một đời người, chỉ biết mình là công dân của Tổ quốc Việt Nam thôi”. Anh công an hỏi: “Vậy theo ông thế nào là Tổ quốc?”. Ông già nói: “Với tôi, Tổ quốc là một nơi kiếm sống được bằng một việc lương thiện nào đó, không bị ai làm khó dễ, có vài người bạn chơi được, không ba trợn”. Ông già hớt tóc sau đó qua đời, được một người bạn thầy tu cho hỏa táng và mang hũ hài cốt về quê ở U Minh”.

Cho đến bây giờ, khát vọng đơn giản của ông già kia vẫn đang là khát vọng của hàng triệu con người. Càng nghĩ càng thấy “đáng sợ” một Sơn Nam.

SƠN NAM CÂY TRÀM CỔ THỤ RỪNG U MINH
Trần Thị Hồng Hạnh
(* giải nhất Văn học tuổi 20 lần 3-2005)

Con bé rụt rè, tự ti ngày ấy chỉ có sách vở làm bạn. Con bé chưa từng ra khỏi thị xã bé như lòng bàn tay đã bay bổng với một không gian đặc biệt, với những con người khác thường độc đáo trong Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam. Vụt chốc, những dị nhân buổi giao thời như ông già Năm xay lúa, ông mù Vân Tiên cùng vô số những nhân vật khác trong sáng tác của Sơn Nam đã đưa con bé – tôi – đến khung trời của sự hào sảng Nam bộ, của những chí khí chọc trời khuấy nước dưới vẻ bề ngoài bình thường.

Trong một lần trả lời phỏng vấn, ông nói mình viết những Mùa len trâu, Hương rừng Cà Mau từ “ký ức quê nhà mãi mãi không bao giờ phai nhạt”. Quê nhà của ông, nơi có cây tràm. “Trời sinh ra cây tràm thật là kỳ diệu, nó bám chặt rễ trong sình, chìm ngập trong nước mà vẫn mạnh khỏe, vẫn sinh sôi nảy nở để giữ vững mảnh đất bồi cho quê hương và giữ người cho đất”.

Tôi cũng nghĩ như vậy về ông. Ông đã góp nhặt tất cả những điều bình thường nhất, đã viết lại để giữ lại những nét đẹp đẽ của quê hương mình. Ông như cây tràm cần mẫn ra hoa, kéo ong bướm đến làm mật. Ông như hương tràm dìu dịu mà làm say mê bao kẻ trót một lần đến với rừng. Bây giờ, khi rừng đã bị phá rất nhiều, khi những con sông không chở nặng phù sa mà héo úa vì ô nhiễm, khi cá tôm không còn là của trời ưu đãi vùng đất phương Nam; những trang văn của ông bỗng trở thành vùng cổ tích, thành bảo tàng tâm tưởng cho những người con đồng bằng tự hào trong hoài vọng, nuối tiếc về những gì mà thiên nhiên đã ban tặng cho xứ sở của mình.

Lần cuối cùng được gặp ông cách đây hơn sáu tháng, vẫn thấy ông miệt mài với những con chữ, vẫn đau đáu với những trang văn. Cuộc trò chuyện ngắn ngủi thường bị ngắt quãng vì ai đó cần ông chỉ cho một điều gì đó về vùng đất Nam bộ. Vì đơn giản là họ biết, cứ hỏi “từ điển Nam bộ sống” này thì sẽ có câu trả lời.

Từ hôm nay, và nhiều năm sau nữa, nhiều độc giả sẽ tìm đến với những trang văn đẫm vị phù sa sông nước Nam bộ để hầu mong thấu được cái hồn cốt của đất và người nơi này. Rồi từ những con chữ lung linh ký ức đẹp về đất, về người; người đọc sẽ thấy thấp thoáng một dáng gầy, nhỏ, đang cắm cúi trên từng trang sách. Một trang đời đã khép lại. Vĩnh biệt một cây tràm cổ thụ của rừng U Minh!

SƠN NAM NHỮNG TRANG VĂN SẼ SỐNG MÃI
Lê Văn Thảo
* Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn TP.HCM

Đối với tôi, Sơn Nam là nhà văn số một của vùng đồng bằng Nam bộ. Tôi đọc ông từ tuổi ấu thơ, thời gian nghiệt ngã giờ đây biến tôi và ông thành hai người già như nhau, nhưng với nhà văn tôi vẫn là người em nhỏ, rất nhỏ. Tôi yêu sông nước Cà Mau, viết nhiều về Cà Mau, con người vùng đất đó đã cuốn hút tôi, đôi khi nghĩ lại hay chính là do những tác phẩm của Sơn Nam tôi đọc được từ hồi nhỏ, chính con người vùng đất trong tác phẩm đó đã đi vào cuộc sống của tôi? Nhà văn đã mất đúng giữa trưa, trời miền Nam mây mù dông bão.

Tôi đau xót, và cũng thấy tự hào là người cầm bút của vùng miền có nhà văn Sơn Nam, nơi con sông cánh đồng rừng đước rừng mắm lấp lánh trang văn của ông. Đó là những trang văn sẽ sống mãi, như viên ngọc quý càng lâu càng sáng.

SƠN NAM TRÊN 10.000 TRANG SÁCH CHƯA IN
Lam Điền

Niềm an ủi cuối đời – như có lần ông tâm sự – là các sách của ông đã xuất bản tập trung, nhờ hợp đồng tác quyền ký kết với NXB Trẻ từ tháng 12-2002. Đến nay đã có 19 tựa sách của nhà văn Sơn Nam ra mắt bạn đọc trong chương trình sách này, đó là các tác phẩm:

– Bốn truyện vừa; Bà Chúa Hòn; Biển cỏ miền Tây – Hình bóng cũ; Dạo chơi tuổi già; Đất Gia Định; Bến Nghé xưa & người Sài Gòn; ĐBSCL: nét sinh hoạt xưa – Văn minh miệt vườn; Đình miếu & lễ hội dân gian miền Nam; Hương rừng Cà Mau; Lịch sử khẩn hoang miền Nam; Nói về miền Nam – Cá tính miền Nam; Phong trào Duy Tân ở Bắc Trung Nam; Theo chân người tình – Một mảnh tình riêng; Tìm hiểu đất Hậu Giang – Lịch sử đất An Giang; Hồi ký Sơn Nam; Vạch một chân trời – Chim quyên xuống đất; Xóm Bàu Láng; Gốc cây, cục đá, ngôi sao – Danh thắng miền Nam; Chuyện xưa tích cũ; Hương quê – Tây đầu đỏ và một số truyện ngắn khác.

Đây là tổng cộng 8.000 trang in, tập hợp từ 44 đầu sách của nhà văn Sơn Nam đã xuất bản từ trước đến nay. Thế nhưng, đến khi nhắm mắt xuôi tay, nhà văn Sơn Nam vẫn còn hơn 10.000 trang sách chưa in, đang được NXB Trẻ tập hợp, trong đó phần lớn là các bài báo và những bài khảo cứu của ông.

SƠN NAM VẠT LỤC BÌNH NAM BỘ
Trần Mạnh Hảo

… “Không hiểu sao, mỗi lần nhớ đến nhà văn Sơn Nam, tôi lại hình dung đến những vạt hoa lục bình trên các kênh rạch, sông ngòi của miền Nam. Lục bình, loài hoa “vừa đi vừa nở”, như một bài thơ tôi viết thuở nào, là một thứ hoa quá bình thường, thậm chí quá tầm thường, do trời trồng, cứ phiêu dạt, cứ lang bạt kỳ hồ như mây bay gió thổi, như số phận và tâm hồn của người nghệ sĩ. Lục bình vừa đi vừa sống, vừa đi vừa nở hoa, vừa đi vừa sinh sôi và tan rã. Nương trên sông nước, có lúc loài hoa xê dịch này chạy như bay về phía chân trời, chạy như đang bị nghìn thượng nguồn lũ lụt đuổi bắt, chạy như đang trôi tuột về phía hư vô, về phía không còn gì, để bấu víu và tồn tại…

Quả thực, Sơn Nam là loài lục bình chuyên đi bộ, trôi bộ trên những vỉa hè của Sài thành. Ông cứ tưng tửng như thế mà đi vào lòng người, mà đi vào văn học. Học theo phép trôi nổi, vô bờ bến của hoa lục bình, chừng như Sơn Nam cứ tưng tửng suốt hơn bảy mươi năm mà đi bộ trên những vỉa hè bụi bậm quanh co của con người. Đốm lục bình trên cạn này có cảm giác như trôi không nghỉ, vừa đi vừa ngậm cái sâu kèn bốc khói, thảng hoặc cười ruồi một cái rất bí hiểm, hoặc gật đầu chào một bóng mây, quờ tay lên khoảng không như tính vịn vào sự hụt hẫng của bước chân phận số. Trên dòng đời trôi dạt, cuộn xoáy về vô định ấy, trong hoang sơ im lặng chợt trổ ra bông lục bình, đột ngột như tiếng khóc oa oa sơ sinh của mang mang thiên cổ, có lúc lại đầy đặn, ấm áp tươi vui như tiếng cười của trời đất. Nhìn lên trời, đám mây tưng tửng kia chợt như một dề lục bình của cao xanh, trôi đi muôn đời bí hiểm mà sao chưa học được phép nở hoa của bông lục bình hoang dã.

(…) Dòng sông đuổi bắt chân trời, chẳng có gì trên đời có gan bám theo dòng sông về vô tận ngoài chấm lục bình kia. Lục bình như một biểu tượng sâu xa của kiếp người, vẫn trổ hoa trong mưa gió. Như một đóa lục bình văn học, tâm hồn Sơn Nam đang trôi trên những trang văn về phía chân trời của cuộc sống.”

SƠN NAM
(nhà văn)
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Sơn Nam (1926 – 2008) là một nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam nổi tiếng. Tiểu sử Ông tên thật là Phạm Minh Tài sinh ngày 11 tháng 12 năm 1926, tại làng Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Rạch Giá (nay thuộc xã Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang). Do sự nhầm lẫn của nhân viên hộ tịch, tên khai sinh của ông bị viết sai thành Phạm Minh Tày.

Thuở nhỏ ông học tiểu học tại quê nhà, rồi học trung học tại Cần Thơ. Năm 1945, ông tham gia Thanh niên Tiền phong, giành chính quyền tại địa phương, rồi lần lượt tham gia công tác ở Hội Văn hóa Cứu quốc tỉnh, phòng Chính trị Quân khu, phòng Văn nghệ Ban Tuyên huấn Xứ ủy Nam Bộ. Bút danh Sơn Nam ra đời trong thời gian này, để tưởng nhớ người phụ nữ Khmer đã cho ông bú mớm thời thơ ấu (Sơn là một họ lớn của người Khmer, Nam là để nhắc nhớ mình là người phương Nam)[1]. Sau Hiệp định Genève 1954, ông về lại Rạch Giá.

Năm 1955, ông lên Sài Gòn cộng tác với các báo: Nhân loại, Công Lý, Ánh sáng, Tiếng chuông, Lẽ sống…

Năm 1960-1961, bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa bắt giam ở nhà lao Phú Lợi (Thủ Dầu Một, Bình Dương)[2]. Ra tù, ông tiếp tục làm báo, viết văn và khảo cứu về Nam Bộ. Sau 1975, ông tiếp tục hoạt động trên lĩnh vực văn hóa văn nghệ. Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

Nhà văn Sơn Nam đã viết nên nhiều tác phẩm dấu ấn, ông được nhiều người gọi yêu là “ông già Nam Bộ”, “ông già Ba Tri”, “ông già đi bộ’, “pho từ điển sống về miền Nam” hay là “nhà Nam Bộ học”. Toàn bộ các sáng tác của ông được Nhà xuất bản Trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh mua bản quyền. Ông qua đời ngày 13 tháng 08 năm 2008 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Tác phẩm

Chuyện xưa tình cũ (1958)
Tìm hiểu đất Hậu Giang (1959)
Hương rừng Cà Mau (1962)
Chim quyên xuống đất (1963)
Hình bóng cũ (1964)
Truyện ngắn của truyện ngắn (1967)
Vạch một chân trời (1968)
Người Việt có dân tộc tính không? (1969)
Gốc cây – Cục đá & Ngôi sao (1969)
Thiên địa hội và cuộc Minh Tân (1971)
Phong trào duy tân ở Bắc Trung Nam (1975)
Đồng bằng Sông Cữu Long, nét sinh hoạt xưa (1985)
Vạch một chân trời (1988)
Bà chúa Hòn (1989)
Lịch sử An Giang (1989)
Chuyện tình một người thường dân (1990)
Theo chân người tình (1991)
Văn minh miệt vườn (1992)
Ngôi nhà mặt tiền (1992)
Âm dương cách trở (1993)
Đình miếu & lễ hội dân gian miền Nam (1994)
Lăng ông bà Chiểu và lễ hội văn hóa dân gian (1994)
Dạo chơi (1994)
Giới thiệu Sà Gòn xưa (1995)
Hương rừng Cà Mau tập 1 (1997)
Người Sài Gòn (1997)
Bến Nghé xưa (1997)
Lịch sử khẩn hoang miền Nam (1997)
Đất Gia Định xưa (1997)
Nghi thức lễ bái của người Việt Nam (1997)
Tuổi già (1997)
Danh thắng miền Nam (1998)
Ấn tượng 300 năm (1998)
Biển cỏ miền Tây ( 2000)
Một mảnh tình riêng (2000)
Tiếp cận Đồng bằng Sông Cửu Long (2000)
Cá tính miền Nam (2000)
Chim quyên xuống đất (2001)
Hồi ký Sơn Nam tập 1 (2001)
Hương rừng Cà Mau tập 2 (2001)
Hương rừng Cà Mau tập 3 (2001)
Dạo chơi tuổi già (2002)
Chuyện xưa tích cũ (2002)
Hồi ký Sơn Nam tập 2 (2002)
Từ U Minh đến Cần Thơ –
Ở chiến khu 9 –
20 năm giữa lòng đô thị –
Bình An
Tìm hiểu đất Hậu Giang & lịch sử đất An Giang X
óm Bàu Láng …

Ghi nhận công lao

Sơn Nam là một tâm hồn lạc lõng trong thế giới buyn-đinh và Mercedes, trong thế giới triết hiện sinh, tranh trừu tượng và nhạc tuýt. Nhưng đó là một tâm hồn đẹp không biết bao nhiêu, đẹp cái vẻ đẹp của lọ sứ Cảnh Đức Trấn ở Giang Tây (có khác lọ hoa Ý Đại Lợi ngày nay), và ít được người đời thưởng thức hơn là họ đã thưởng thức một tiểu thuyết gia chuyên viết về chuyện tình chẳng hạn. Nhưng phải nhìn nhận rằng, cái đẹp Sơn Nam bất hủ… ”

“ Không chỉ cống hiến trong văn chương, ông (Sơn Nam) còn được xem là người có công khai phá, khảo cứu và sưu tầm văn hóa mảnh đất Nam Bộ. Vì vậy, không phải hiển nhiên mà người ta trân trọng gọi ông là “nhà Nam Bộ học” hay ông già Ba Tri… ”
“ Sơn Nam là một trong số những nhà văn từng sống ở đô thị miền Nam nhưng tác phẩm vẫn được in liền mạch sau giải phóng, điều đó không phải dễ. Trước hết, tác phẩm của Sơn Nam không thuộc dạng a dua. Sống dưới chế độ ấy mà tránh được lối viết ấy quả là rất cao tay. Có lần người viết bài này hỏi vậy, Sơn Nam cười nhẹ, cũng chẳng giỏi giang gì đâu mà tôi chủ yếu viết về phong tục, về lịch sử khai khẩn đất đai Nam Bộ, và nếu là truyện thì đi vào tầng lớp nông dân, dân nghèo thành thị.

“Hơn nửa thế kỷ gắn bó với nghiệp sáng tác, những trang viết của ông không đơn thuần là sự giải trí cho độc giả mà còn là những khảo cứu, khám phá về mảnh đất phương Nam. Là người Nam Bộ chính gốc nên nhà văn Sơn Nam là người am hiểu quá trình hình thành dải đất này. Những sáng tác của ông mang hơi thở của thiên nhiên, của văn hóa và con người Nam Bộ được thể hiện qua giọng văn giản dị, mộc mạc…”

Tham khảo

^ “Ông già đi bộ” Sơn Nam không còn nữa Hà Đình Nguyên, Thanh Niên
^ Theo Hỏi đáp về Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ, 2006, tr. 63.
^ Tạp văn Gốc cây, Cục đá & Ngôi sao. Nhà văn Sơn Nam qua đời, VnExpress.
^ Vĩnh biệt nhà văn Sơn Nam , Lê Phương, Dân Trí.
^ Sơn Nam – Người của nhiều thời, Vannghesongcuulong.org.vn.

Liên kết ngoài

^ Sơn Nam người của nhiều thời N.A.Đ, trên web Sông Cữu Long theo báo Tiền Phong
^ Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê Võ Đắc Danh, Tuổi Trẻ.
^ Nhớ Sơn Nam ông già Nam Bộ Hoàng Kim, Dạy và học
^ Dấu ấn Sơn Nam Vietvan.vn

Nhớ Sơn Nam video nhạc tuyển
SON NAM “Ông già Nam Bộ” – Clip 1
SON NAM “Ông già Nam Bộ” – Clip 2
SON NAM – “Nhà Nam Bộ Học” – Clip 3
SON NAM – Nỗi buồn gác trọ – clip 4


SƠN NAM- Cát bụi – Clip 05


SƠN NAM- Đất phương Nam- Clip 06


SƠN NAM- Dạ cổ hoài lang- Clip 07

Chào ngày mới 12 tháng 8


CNM365. Chào ngày mới 12 tháng 8. Trụ sở Liên Hiệp Quốc ở New York. Ngày 12 tháng 8 là ngày Quốc tế Thanh Thiếu niên (International Youth Day) của Liên Hiệp Quốc. Ngày 12 tháng 8 năm 30 TCN, là ngày mất của Nữ Hoàng Ai Cập Cleopatra VII Philopator, vị vua cuối cùng của triều đại Ptolemaios đã tự tử bằng cách để rắn độc cắn. Ngày 12 tháng 8 năm 1877, Asaph Hall nhà thiên văn học người Mỹ đã khám phá được vệ tinh Deimos của Sao Hỏa; Xem tiếp … https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-12-thang-8; Bài chọn lọc: Ân tình; Nhớ Sơn Nam thương Trần Mạnh Hảo;  Nhớ châu Phi; Kuala Lumpur MARD và những người bạn; Lên Thái Sơn hướng Phật; Thái Sơn ngọn núi thiêng nhất Trung Quốc; Trò chuyện Trung Quốc với Lão Khoa; Giống khoai lang Hoàng Long Việt Nam; Chớm thuTagore đại thi hào Ấn Độ24 tiết khí lịch nhà nông; Nhớ Viên Minh; Trần Đăng Khoa trong tôi; Du lịch sinh thái Nông nghiệp Việt NamDonald Trump hôm qua và ngày nayQuả táo Apple Steve JobsSắn Việt Nam kết nối châu PhiNgười Thầy với việc Dạy và Học; Khổng Tử dạy và học; Nhớ Người; Đêm Yên Tử;

ÂN TÌNH

Hoàng Kim

Thương nước biết ơn bao người ngọc (*)
Vì dân qua bến nhẹ tênh lòng
Nhớ bao tài đức đời phiêu dạt
Ân tình lưu mãi những dòng sông.

(*) An Tư, Huyền Trân, Ngọc Hoa, Ngọc Vạn, …
(**) Chút Huế cho em (thơ Hoàng Kim)

NHỚ SƠN NAM THƯƠNG TRẦN MẠNH HẢO
Hoàng Kim
nhớ cụ Sơn Nam giỗ ngày 13 tháng 8. Tôi yêu mến Cụ nên đưa các bài Cụ viết và những bài tuyển chọn viết về Cụ ra đọc lại. Viết về cụ Sơn Nam tôi THÍCH NHẤT là các bài viết của Nam Sinh Đoàn, Huỳnh Kim, Võ Đắc Danh và Trần Mạnh Hảo. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-son-nam-ong-gia-nam-bo/.

Cụ Sơn Nam có lẽ cũng bằng lòng với sự chọn lựa và đánh giá này bởi sinh thời cụ không nệ và từng viết về cụ Bùi Giáng: “Anh Giáng ơi! Sinh thời anh ăn mặc xốc xếch, áo trong dài hơn áo ngoài,…nhưng văn thơ của anh ngay ngắn đường hoàng. Anh có nề gì cháo chợ cơm hàng, cả cơm thừa canh cặn, nhưng câu chữ anh xài sạch sẽ, ý tứ sáng trong. Cả đời anh lang thang khi chùa khi chợ có cố định đâu đâu, mà bữa nay đưa anh đi có quân canh lính gác, có vòng hoa của Thành ủy – Ủy Ban, có Hội Nhà văn, dậy là anh có hộ khẩu Sài Gòn rồi đó nghe anh Giáng!…”. Nửa đêm 12 tháng 8 của ba năm trước, tôi thắp đèn để chép bài “Sơn Nam vạt lục bình Nam Bộ”. Năm trước, tối này tôi sang thăm anh Trần Mạnh Hảo để cảm ơn anh. Năm nay, ngày 13 tháng 8 tôi lại đưa những trang văn, trang đời thấm thía của cụ Sơn Nam và người soi viết về cụ Sơn Nam ra đọc lại. Tôi tự nghĩ chạm thấu điều sâu sắc mà cụ Sơn Nam tâm huyết và tâm đắc gửi lại là một tấm lòng và xứng là người bạn tôi yêu. Nhớ Sơn Nam thương Trần Mạnh Hảo thích “Sơn Nam vạt lục bình Nam Bộ” Tôi nhớ nhất ba bài thơ của Trần Mạnh Hảo đều viết ngày 12 tháng 8 chạm thấu những điều sâu sắc mà thơ có thể nói hộ lòng người.

Tôi biết ơn tứ thơ Huyền Trân của anh để tôi viết ‘ ÂN TÌNH Thương nước biết ơn bao người ngọc. Vì dân qua bến nhẹ tênh lòng Biết bao tài đức đời phiêu dạt Ân tình lưu mãi những dòng sông ‘. Xin phép anh Hảo cho tôi được đưa chùm ba bài thơ này của anh ‘Chạm thấu điều sâu sắc Trang thơ soi trang đời’ vào CNM365 Chào ngày mới 12 tháng 8. https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-12-thang-8/

TÔI LÀ KẺ KHÁC
Thơ Trần Mạnh Hảo

Sao tôi cứ mãi phải là tôi
Cứ mãi là sương mỏng cuối đồi
Cứ mãi thì thầm đêm tiếng dế
Cứ mãi là chớp giật thiên lôi ?

Sao không là khói pha lời dế
Là mây mang sét ở trong hồn
Chao ôi làm mãi mình chán thế
Tôi là thu nhỏ cả càn khôn.

Tôi là trộn lẫn bao người khác
Ông bà cha mẹ hóa thân tôi ?
Hồn này em bắt lìa thân xác
Tôi biến thành ra kẻ khác rồi…

Sài Gòn 12-8-2018

VĨNH BIỆT TÌNH ANH – YÊU MỘT LẦN RỒI CHẾT !
Thơ Trần Mạnh Hảo.

(Lời Huyền Trân Công chúa ( 1287-1340) vĩnh biệt người tình Trần Khắc Chung (…- 1330) đi Chiêm Thành lấy vua Chế Mân theo hôn ước Chiêm – Việt để đổi vật sính lễ là dải đất từ Bắc Quảng Nam đến Nam Quảng Bình. Trần Khắc Chung vốn họ Đỗ, vì có công, được vua ban đổi quốc tính sang họ Trần.)

Đêm mở hàm cá sấu
Nuốt dần em vào chỗ không anh
Châu Ô ơi châu Lý
Hơi thở là gió bấc chạy vòng quanh

Chẳng lẽ em không còn thấy
Gương mặt anh chạm khắc nét Hồ Tây
Cái dáng vóc như Sông Hồng vụt chảy
Đôi mắt Việt to hơn mọi thứ trên đời

Em đi
Những giận hờn ở lại tắm sương đêm tháng mười
Những hẹn hò bơ vơ ngoài đường vắng

Rạ rơm còn có mắt
Thương người yêu mất đôi
Đất đâu nỡ ăn lời thề thốt
Xứ Hời xa
Xứ Hời xa hơn chết
Làm sao về lại người ơi ?

Những con đường ngày nào ta gặp
Giờ cuốn vào ruột em
Cái nhện nào đêm nay giăng tơ
Đừng bắt người yêu mắc lưới

Đêm quê hương
Trái tim em như quả sấu non rụng bên đường
Xin anh đừng nhặt
Cứ để tim em vật vờ ngoài gió ngoài sương

Phải em đã đi qua thời con gái
Qua thời đàn bà
Qua thời xanh cỏ
Người ơi người chớ xót xa

Em yêu anh như yêu nước Việt
Chưa bao giờ người đẹp như đêm nay
Người là Sông Hồng đứng dậy
Cầm gươm tiễn kẻ lưu đầy

Gà ơi sao vội gáy
Em xin đêm dài thêm một gang tay
Thuyền vua Chiêm tù và đã rúc
Đêm hãy dài thêm bằng sợi tóc
Cho em được nối với anh lần cuối cùng

Nhưng sợi tóc buộc đôi ta đã đứt

Nước Việt ơi
Em yêu người đến sợ hãi
Nước Việt đứng như bờ tre vẫy
Em đi rồi, tre phủ lá vào anh

Kìa bóng anh ngoài cổng thành như xoáy lốc
Đừng nhìn, đừng vĩnh biệt em
Sợ em rơi xuống vực
Tia mắt người dài hơn dây cột chân

Phải nước Việt là anh cầm đuốc
Đứng muôn đời thương nhớ đợi Huyền Trân ?

Sài Gòn 1984

MÙA THU TÔI ĐI HỌC.
Thơ Trần Mạnh Hảo.

Tuổi thơ tôi chớm heo may như tóc
Phất phơ trời trên vầng trán mùa thu
Con vạc gọi vì sao mai đi học
Hoa bìm ơi viên mực tím sương mù

Mùa hè trốn đi đâu tôi chẳng thấy
Mẹ vội may áo mới sợ tôi hờn
Gánh mùng tơi mẹ đổi thành thếp giấy
Hoa cúc vàng từ độ ấy vàng hơn

Mẹ khổ sở vì tôi mơ bút máy
Đêm nhìn lên trời cũng đổ mồ hôi
Một cặp sách mười năm không sắm nổi
Tuổi thơ tôi chân đất đến trường đời

Ôi bè bạn toàn cào cào châu chấu
Qủa bưởi nào rơi xuống nhảy choi choi
Miếng áo vá của một thời yêu dấu
Tôi học cùng trường với củ sắn củ khoai

Mùa thu đánh kẻng trời ngân tiếng vạc
Tâm hồn tôi đi học với mọi người
Hỡi ngòi bút lá tre bay trên bàn xào xạc
Có nghe lòng mực tím quả mùng tơi?

Sài Gòn 12-8-1991


NHỚ CHÂU PHI
Hoàng Kim
Ở Ai Cập, tôi có hai người bạn tại Viện Nghiên cứu Cây trồng (Field Crops Research Institute FCRI) là Mahfouz Nenr Abd- Nour  và Yousef El Sayed Ahmed Ars  làm giám đốc của hai trạm nghiên cứu là  Sids Agricultural Research Station,  Beba Beni – SUEF EGYPT và Sakha Agricultural Research Station, Sakha, KAFR, EL SHEAKLI  EGYPT. Câu chuyện tôi kể sẽ tóm tắt Ai Cập một thoáng nhìn, Cairo thủ đô Ai Cập thánh địa Hồi giáo, Nông nghiệp Ai Cập và bạn tôi, Ngọc lục bảo Paulo Coelho. Chuyện này tiếp nối trong chùm bài NHỚ CHÂU PHI  https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-chau-phi/

Ai Cập một thoáng nhìn

Ai Cập có tên chính thức là nước Cộng hòa Ả Rập Ai Cập, là một quốc gia liên lục địa có phần lớn lãnh thổ nằm tại Bắc Phi, cùng với bán đảo Sinai thuộc Tây Á. Ai Cập phía đông bắc giáp Địa Trung Hải, có biên giới với Dải Gaza và Israel, phía đông giáp vịnh Aqaba, phía đông nam giáp biển Đỏ, phía nam giáp Sudan, phía tây giáp Libya. Ai Cập có biên giới hàng hải với Jordan và Ả Rập Xê Út qua vịnh Aqaba và biển Đỏ. Ai Cập là một trong số ít nước trên thế giới có lịch sử  lâu đời nhất vào khoảng thế kỷ 10 trước công nguyên.  Ai Cập cổ đại được nhận định là một trong những nôi văn minh đầu tiên của nhân loại phát triển sớm nhất về chữ viết, nông nghiệp, đô thị hoá, tôn giáo có tổ chức và chính phủ trung ương. Ai Cập có một di sản văn hoá đặc biệt phong phú, giao thoa nhiều nền văn hóa cổ Hy Lạp, Ba Tư, La Mã, Ả Rập, Ottoman,  châu Âu. Ai Cập từng là . một trong các trung tâm ban đầu của Cơ Đốc giáo, trải qua Hồi giáo hoá trong thế kỷ thứ 7 và ngày nay là nước trung tâm Hồi giáo với gần 90% dân số. Ai Cập có diện tích 1.010.407,87 km² (gấp trên ba lần diện tích Việt Nam) dân số 95, 73 triệu dân (năm 2017, tương đương dân số Việt Nam), là quốc gia đông dân nhất Bắc Phi, đông dân thứ ba tại châu Phi và thứ 15 trên thế giới. Đại đa số cư dân sống gần bờ sông Nin, tại các trung tâm dân cư đông đúc là Đại Cairo, Alexandria và các thành phố lớn khác của  đồng bằng châu thổ sông Nin, là nơi duy nhất có đất canh tác. Ai Cập, phần lớn diện tích đất của khu vực rộng lớn thuộc sa mạc Sahara có cư dân thưa thớt. Ai Cập có nền kinh tế, văn hoá, chính trị và quân sự vào hạng lớn nhất, đa dạng nhất,  có thực lực và ảnh hưởng đáng kể tại  Bắc Phi, Trung Đông và Thế giới Hồi giáo. Ai Cập là một thành viên của Liên Hiệp Quốc, Phong trào không liên kết, Liên đoàn Ả Rập, Liên minh châu Phi, và Tổ chức Hợp tác Hồi giáo.

Cairo thủ đô Ai Cập thánh địa Hồi giáo.
Cairo là vùng đô thị đông dân nhất châu Phi, ở bên sông Nile, với dân số trên 15,2 triệu người. Quảng trường Tahrir và Bảo tàng Ai Cập rộng lớn, tọa lạc tại trung tâm thành phố Cairo, nơi có các bộ sưu tập cổ xác ướp hoàng gia và đồ tạo tác mạ vàng của vua Tutankhamun. Điểm nổi bật của khu vực trung tâm Cairo là Pháo đài Babylon thời kỳ La Mã, Nhà thờ Treo và Bảo tàng Coptic, trưng bày các cổ vật của Ai Cập Cơ đốc giáo. Trên đỉnh đồi giữa thành phố là pháo đài Citadel thời trung cổ, nơi có nhà thờ Hồi giáo Muhammad Ali, một địa danh mang phong cách Ottoman. Tháp Cairo cao 187m tại quận Zamalek đảo Gezira,cung cấp tầm nhìn toàn cảnh thành phố. Bảo tàng Cổ vật Ai Cập, thường được biết đến như Bảo tàng Ai Cập hay bảo tàng Cairo, tại Cairo, Ai Cập, là quê hương của một bộ sưu tập rộng của cổ vật Ai Cập cổ đại.


Cao nguyên Giza gần Cairo là địa điểm của các kim tự tháp mang tính biểu tượng đất nước Ai Cập và châu Phi từ thời cổ xưa thuở bình minh nhân loại. Khu lăng mộ Giza là một trong bảy kỳ quan thế giới cổ đại có niên đại sớm nhất và kỳ quan duy nhất còn tồn tại, ở cao nguyên Giza gần sông Nin, cách trung tâm thành phố Cairo thủ đô Ai Cập khoảng 20 km về phía tây nam. Ngày 23 tháng 7 là ngày Quốc khánh Ai Cập ngày cách mạng năm 1952, thường có nhiều người hành hương về nơi này. Khu phức hợp kim tự tháp Giza là nơi có ba kim tự tháp vĩ đại (Khufu, Khafre and Menkaure), và ít nhất sáu kim tự tháp khác với một số cấu trúc nổi bật khác như Nhân sư vĩ đại và Đền Valley chứa đựng bao điều bí ẩn kho báu lạ lùng của lịch sử chưa thể thấu hiểu đầy đủ. ancient-wisdom.com

Nông nghiệp Ai Cập và bạn tôi

Theo tiến sĩ Dr. Amr Shams, trưởng phòng thông tin và hợp tác quốc tế Viện Nghiên cứu Cây trồng (FCRI). Ai Cập được công nhận là một đất nước nông nghiệp lớn. Các cây trồng chính gồm ngũ cốc (lúa mì, lúa mạch, lúa miến và ngô), các loại đậu (đậu faba, cỏ cà ri, đậu lupin, đậu chickpea và đậu cowpea), cây có dầu (cây rum và mè), lanh, cỏ ba lá và hành tây đã được trồng từ hàng ngàn năm. Vào đầu thế kỷ 20, sự gia tăng dân số theo cấp số nhân và nhu cầu lương thực leo thang đã thu hút sự chú ý của các nhà hoạch định chính sách, nơi những nỗ lực đã được thực hiện để cải thiện hệ thống sản xuất và canh tác cây trồng.

Hoạt động nghiên cứu nông học ban đầu từ Giống cây trồng (1903- 1910),  Bộ Nông nghiệp (1910-1958), đến Viện nghiên cứu các cây trồng  (1958-1972) Viện Nghiên cứu Cây trồng (FCRI) và sau đó là Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp (ARC) từ năm 1973 cho đến ngày nay. Trong thập niên 1980, Viện Nghiên cứu Cây trồng (FCRI) nỗ lực hướng về tăng cường nghiên cứu khuyến nông, dần  chuyển dịch theo hướng tư nhân hóa, hợp tác chặt chẽ với các cộng đồng nông nghiệp quốc tế, và một số cơ quan phát triển nói riêng. USAID (Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ United States Agency for International Development) đồng tài trợ hai dự án lớn là EMCIP NARP.

Trong lịch sử của Viện, hơn năm trăm giống cây trồng khác nhau đã được giới thiệu đưa vào nông nghiệp Ai Cập. Các mục tiêu chính của Viện là: Tăng năng suất các loại cây trồng lĩnh vực chủ yếu thông qua phát triển giống cây trồng cho năng suất cao; Sản xuất giống gốc của các loại giống đã được cải thiện; Khắc phục những hạn chế của các yếu tố kỹ thuật canh tác trong sản xuất lớn; Cung cấp khuyến nghị sản xuất phù hợp, thực hiện các hoạt động khuyến nông kết nối trong nước và tăng cường hợp tác với các trung tâm nghiên cứu, phát triển quốc gia và quốc tế khác nhau.

Hiện nay, FCRI có 15 phòng nghiên cứu. Viện tuyển dụng hơn 1.500 nhân viên trong các hoạt động nghiên cứu, khuyến nông, quản lý và đào tạo. Trụ sở của FCRI được đặt tại Giza, cùng với một số cơ sở thí nghiệm hiện trường, các hoạt động chọn giống liên hợp và nông học. Các cơ sở bổ sung được cung cấp tại hơn 23 trạm nghiên cứu nông nghiệp quốc gia. Các thí nghiệm đồng ruộng và sản xuất thử nghiệm được tiến hành trên các cánh đồng của nông dân trên toàn quốc.

Ngọc lục bảo Paulo Coelho 

Ngày xưa có một người thợ đá thử 999.999 viên đá, đến viên đá cuối cùng đã tìm được một viên ngọc lục bảo quý giá vô ngần. Paulo Coelho là một nhà thơ trữ tình và tiểu thuyết gia người Brazil, là ngọc lục bảo của đất nước Brazil. Ông được biết đến với cuốn tiểu thuyết của ông “O Alquimista” tiếng Bồ Đào Nha kể về bí mật ngôi mộ cổ gần kim tự tháp Ai Cập mà một chàng trai Brazil đã đi tìm kho báu chính mình tại đó và đã thành công. “O Alquimista” là kiệt tác của tâm hồn. Cuốn sách này tựa đề tiếng Anh là “The Alchemist” do Alan R. Clarke chuyển ngữ, và bản tiếng Việt  có tựa đề là “Nhà giả kim” do Lê Chu Cầu dịch, Công ty Văn hóa Truyền thông Nhã Nam và Nhà Xuất bản Văn hóa in và phát hành.Tiểu thuyết này đã được dịch ra 56 thứ tiếng, bán chạy chỉ sau kinh Thánh, đến năm 2008 đã bán được hơn 65 triệu bản trên toàn thế giới.  Ông Paulo Coelho sinh ngày gày 24 tháng 8 năm 1947 (70 tuổi), tại Rio de Janeiro, Braxin là một người sử dụng phương tiện truyền thông điện tử, vào năm 2014, ông đã tải lên các giấy tờ cá nhân của mình trực tuyến để tạo một Quỹ Paulo Coelho ảo. Paulo Coelho nhà văn Brazil này đã tìm thấy ngọc trong đá của chính mình.

Paulo Coelho thật khéo kể chuyện. Lối dẫn truyện của ông hay ám ảnh. Paulo Coelho thấu hiểu và hoạt dụng những bí nhiệm của cuộc Đại Hóa. Đề từ“Nhà giả kim”, Paulo Coelho viết: Kính tặng J, người đã thấu hiểu và hoạt dụng những bí nhiệm của cuộc Đại Hóa. “Chúa Jesu và các môn đệ tiếp tục đi, đến một làng nọ. Một cô gái tên Marta rước người vào nhà. Em gái cô là Maria ngồi dưới chân Người nghe giảng dạy, còn Marta thì bận rộn lo tiếp đãi Người. Rồi cô phàn nàn rằng: “Chúa không thấy em con để một mình con làm hết mọi việc sao? Xin Chúa hãy bảo nó phụ con với!”. Chúa mới bảo cô: “Marta ơi, Marta. Con bận rộn, lo lắng nhiều việc quá. Nhưng chỉ có một việc thật cần thiết thôi và Maria đã chọn phần việc ấy thì không ai truất phần của em con được. Thánh Kinh Tân Ước, Lukas 10:38-42

Vào truyện Sự tích hoa Thủy tiên ở đầu sách và Chuyện Thánh nữ và Chúa Hài Đồng ở cuối sách cũng là sự huyền diệu của kiệt tác. Các bạn sinh viên đừng bao giờ coi thường PHẦN ĐẦU và  PHỤ LỤC cuối luận văn. Những phần này dễ lơ đểnh bỏ qua nhưng thường là phần tinh tế của một kiệt tác. Một số nhà khoa học và nhà văn không thành công là khi sản phẩm khoa học và tác phẩm chưa đến được tận tay đông đảo người tiêu dùng.

Tôi đang tìm về kho báu chính mình phúc hậu an nhiên.

Hoàng Kim

xem tiếp: Nhớ Châu Phi (chùm bài viết từ bài 1 đến bài 12)  https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-chau-phi/


Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Chào ngày mới 11 tháng 8


2017-02-01-kualalumpurCNM365. Chào ngày mới 11 tháng 8. Kuala Lumpur trở thành thủ đô liên bang và là điểm dân cư đầu tiên của Malaysia được trao địa vị này ngày 1 tháng 2 năm 1972 sau khi độc lập theo chiếu chỉ Quốc vương Yang di-Pertuan Agong của Malaysia Ngày Độc lập tại Tchad (1960). Ngày 11 tháng 8 năm 1786, thuyền trưởng Francis Light thành lập thuộc địa Penang của Đế quốc Anh, khởi đầu hơn một thế kỷ người Anh can dự vào Malaysia. Ngày 11 tháng 8 năm 1947,  Muhammad Ali Jinnah đọc một diễn văn trước Hội đồng Lập pháp Pakistan, trình bày viễn kiến của Jinnah về tương lai của Nhà nước Pakistan; Xem tiếp … https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-11-thang-8; Bài chọn lọc: Kuala Lumpur MARD và những người bạn. Lên Thái Sơn hướng Phật, Thái Sơn ngọn núi thiêng nhất Trung Quốc. Trò chuyện Trung Quốc với Lão Khoa; Giống khoai lang Hoàng Long Việt Nam: Chớm thu; Tagore đại thi hào Ấn Độ24 tiết khí lịch nhà nông; Nhớ Viên Minh; Trần Đăng Khoa trong tôi; Du lịch sinh thái Nông nghiệp Việt NamDonald Trump hôm qua và ngày nayQuả táo Apple Steve JobsSắn Việt Nam kết nối châu PhiNgười Thầy với việc Dạy và Học, Khổng Tử dạy và học; Nhớ Người, Sớm thu; Đêm Yên Tử;  Lúa sắn Việt Nam tới châu Phi.

KUALA LUMPUR MARDI VÀ NHỮNG NGƯỜI BẠN

Hoàng Kim

Kuala Lumpur trở thành thủ đô liên bang và là điểm dân cư đầu tiên của Malaysia được trao địa vị này ngày 1 tháng 2 năm 1972 sau khi độc lập theo chiếu chỉ Quốc vương Yang di-Pertuan Agong của Malaysia. Kuala Lumpur đến ngày 1 tháng 2 năm 1974, trở thành lãnh thổ liên bang và thành phố đông dân nhất ở Malaysia. Kuala Lumpur từ năm 1978 thôi làm thủ đô của Selangor sau khi thành phố Shah Alam được tuyên bố là thủ đô mới của bang. Ngày 1 tháng 2 năm 2001, Putrajaya được tuyên bố là một lãnh thổ liên bang, cũng như là nơi đặt trụ sở chính phủ liên bang và các chức năng hành pháp tư pháp của chính phủ chuyển từ Kuala Lumpur đến Putrajaya. Kuala Lumpur hiện vẫn giữ lại chức năng lập pháp, và là nơi có cung điện của Quốc vương.

Kuala Lumpur cũng là nơi có tòa Tháp đôi Petronas nổi tiếng thế giới do kiến trúc sư  César Pelli thiết kế. Tòa tháp này động thổ ngày 1 tháng 1 năm 1992, khởi công ngày 1 tháng 3 năm 1992, hoàn thành ngày 1 tháng 3 năm 1996, khánh thành ngày 1 tháng 8 năm 1996, gồm 88 tầng, cao 375 m đến sàn cao nhất, 403 m đến mái, 452 m đến angten, từng là tòa nhà cao nhất thế giới trước năm 2003.

MARDI là Viện Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Malaysia (Malaysian Agricultural Research and Development Institute), trụ sở chính tại Persiaran MARDI-UPM, 43400 Serdang Selangor, Kuala Lumpur.

2017-02-01_nhungnguoiban

Tiến sĩ Tan Swee Lian, người đứng giữa của ảnh Những bạn tốt của nông dân trồng sắn châu Á trên đây, là chuyên gia nông nghiệp rất nổi tiếng của Viện Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Malaysia (MARDI) Bà nghiên cứu phát triển sắn, khoai lang, ngô, nghề làm vườn và nông học ở Malaysia và cũng là thành viên chính của Mạng lưới Cây Có Củ châu Á và Toàn cầu trên một phần tư thế kỷ. Bà là tác giả của  266 bài báo khoa học, trong đó có 115 bài báo trình bày ở các hội thảo quốc tế, 68 bài đăng trên các tạp chí khoa học và kỹ thuật nông nghiệp, 60 bài báo thông dụng và 23 sách chuyên khảo.

MARDI30

Tôi có được vài lần sang dự họp ở đấy, có báo cáo được chọn đăng trên trang báo địa  phương. Các báo cáo khoa học nông nghiệp Quốc tế của nhóm bạn MARDI trong nghiên cứu, phát triển cây có củ (mời xem dưới đây) luôn tạo cho người nghe nhiều điều để trao đổi, học hỏi. 

Tôi kể bạn nghe câu chuyện về Malaysia Kuala Lumpur MARDI và những bạn tôi ở nơi ấy. Đó là những bạn tốt của nông dân trồng khoai sắn châu Á. Trước hết mời bạn xem một số hình ảnh kỷ niệm một thời.

MARDI25

MARDI26

MARDI27

MARDI28

MARDI29

Bạn có tin chuyện phiêu lưu và kho báu không? Tôi thì tin ‘Nhà Giả Kim’ là có thật.Ông Paulo Coelho, tác giả người Brazil, với tác phẩm ‘Nhà giả kim’ (O Alquimista  tiếng Bồ Đào Nha đã đoạt giải năm 2007. Bà J.K. Rowling, tác giả người Scotland, với tác phẩm ‘Harry Potter’ đã đoạt giải năm 2010. Bà  Isabel Allende, nhà văn Chile, tư cách công dân Mỹ, với 2 tác phẩm  Ngôi nhà của các linh hồn (La casa de los espíritus) 1982 và Thành phố của những tên ác quỷ (La ciudad de las bestias) 2002 tiếng Tây Ban Nha, đã đoạt giải năm 2012). Rio thành phố giữa núi và biển ở Brazil ẩn tàng 500 năm nông nghiệp Brazil, Ngọc lục bảo Paulo Coelho. Ở Malaysia ẩn tàng nhiều câu chuyện cổ về  những kẻ cướp biển với kho báu và những cẩm nang quý của nông nghiệp châu Á.

Malaysia, Kuala Lumpur, MARDI, đất nước và con người là câu chuyện thú vị không chỉ kể một lần. Tôi neo đậu một thư mục và sẽ quay lại để kể sâu hơn.

Tôi đang tìm kho báu của chính mình phúc hậu, an nhiên.

Mời bạn đọc phần một của câu chuyện tại đây

Hoàng Kim

Video yêu thích
Hãy đi về phía mặt trời
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Chào ngày mới 10 tháng 8



CNM365. Chào ngày mới 10 tháng 8
. Quốc khánh nước Cộng hoà Ecuador Ngày 10 tháng 8 năm 1809 tuyên bố độc lập từ Tây Ban Nha; ngày 16 tháng 2 năm 1830 được công nhận từ Đại Colombia.  Việt Nam kỷ niệm ngày vì nạn nhân chất độc màu da cam (ngày 10 tháng 8 năm 1961, Chiến tranh Việt Nam: Quân đội Hoa Kỳ bắt đầu sử dụng Chất độc da cam tại Việt Nam); Ngày Diesel sinh học Quốc tế  để kỷ niệm ngày 10 tháng 8 năm 1893, chiếc động cơ Diesel do Rudolf Diesel phát triển tại Ausburg tự chạy lần đầu tiên). Ngày 10 tháng 8 năm 1675, Đài thiên văn Hoàng gia Greenwich được vua Charles II của Anh cho xây dựng. Kinh tuyến số 0 được chọn là đường kinh tuyến đi qua Đài thiên văn này (hình); Xem tiếp … https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-10-thang-8; Bài chọn lọc: Lên Thái Sơn hướng Phật, Thái Sơn ngọn núi thiêng nhất Trung Quốc. Trò chuyện Trung Quốc với Lão Khoa; Giống khoai lang Hoàng Long Việt Nam: Chớm thu; Tagore đại thi hào Ấn Độ24 tiết khí lịch nhà nông; Nhớ Viên Minh; Trần Đăng Khoa trong tôi; Du lịch sinh thái Nông nghiệp Việt NamDonald Trump hôm qua và ngày nayQuả táo Apple Steve JobsSắn Việt Nam kết nối châu PhiNgười Thầy với việc Dạy và Học, Khổng Tử dạy và học; Nhớ Người, Sớm thu; Đêm Yên Tử;  Lúa sắn Việt Nam tới châu Phi.

Thái Sơn nhớ bạn thương lời nhắn

NÚI THÁI MỪNG AI BIẾT TRỞ VỀ
Hoàng Kim

Mời bạn ghé thăm hình ảnh mới
Bắc Trung Nam xuân suốt bốn mùa
Phúc hậu hiền lành là khắc thịnh
Mười năm kiếm cổ nhớ người xưa.

Ngược gió suốt đời đi không nản
Rừng thông mai núi tuyết phủ dày
Ngọa Long cương Đào Công đâu nhỉ
Đầy trời Trung Việt gió mưa bay.

Thái Sơn nhớ bạn thương lời nhắn
‘Lúa siêu xanh và khoai Hoàng Long’
Ngắm ảnh yêu thương ngày tháng cũ
Núi Thái mừng ai biết trở về.

LÊN THÁI SƠN HƯỚNG PHẬT
Hoàng Kim

Ai viết cho ai những câu thơ thăm thẳm
Đường trần ai đằng đẳng tháng năm dài
“Thập tải luân giao cầu cổ kiếm
Nhất sinh đê thủ bái hoa mai”.

Mười năm xuôi ngược tìm gươm báu

Một đời chỉ cúi trước hoa mai.
“Nghêu ngao vui thú yên hà
Mai là bạn cũ, hạc là người quen”.

“Núi cao ta trông
Đường rộng ta đi
Tuy đích chưa tới
Nhưng lòng hướng về” …

Thật vui thích biết bao
với những chuyến đi xa
tới Trường Giang, Hoàng Hà
Lên Thái Sơn hướng Phật

Sơn Đông thăm Khổng Tử
Tây Hồ Tô Đông Pha
Giang Tô Hán Cao Tổ
Nam Kinh Chu Nguyên Chương

Lên Vạn Lý Trường Thành
Thấm bài học Tần Vương
Qua cửa Thiên An Môn
Hiểu hai bài học lớn.

Ngẫm núi Xanh Bắc Kinh
Nhớ Trạng Trình, Nội Tán
Bạch Ngọc dụng câu Kiều
thon thả một khúc ngâm …

 

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Việt Nam tổ quốc tôi|Đất nước con người, nghiên cứu dịch thuật Việt Trung, Hoàng Tố Nguyên  Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống Food Crops Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter

Chào ngày mới 9 tháng 8



CNM365. Chào ngày mới 9 tháng 8
. Danh tướng Julius Caesar (hình). Ngày 9 tháng 8 năm 1965, Ngày Quốc khánh Singapore. Malaysia trục xuất Singapore khỏi liên bang do xung đột ý thức hệ giữa hai đảng cầm quyền tại bang và liên bang. Ngày 9 tháng 8 năm 48 TCN, Julius Caesar giành chiến thắng quyết định trước Pompey trong trận Pharsalus tại Farsala, Pompey chạy đến Ai Cập. Ngày 9 tháng 8 năm 1942,  Mahatma Gandhi nhà lãnh đạo người Ấn Độ bị quân Anh bắt giữ tại Bombay, khởi đầu phong trào bất phục tùng dân sự “Rời khỏi Ấn Độ”. Ngày 9 tháng 8 năm 1997 ngày mất Trần Đại Nghĩa, Thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ, nhà khoa học quân giới nổi tiếng Việt Nam (sinh năm 1913) ; Xem tiếp … https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-9-thang-8; Bài chọn lọc: Lên Thái Sơn hướng Phật, Thái Sơn ngọn núi thiêng nhất Trung Quốc. Trò chuyện Trung Quốc với Lão Khoa; Giống khoai lang Hoàng Long Việt Nam: Chớm thu; Tagore đại thi hào Ấn Độ24 tiết khí lịch nhà nông; Nhớ Viên Minh; Trần Đăng Khoa trong tôi; Du lịch sinh thái Nông nghiệp Việt NamDonald Trump hôm qua và ngày nayQuả táo Apple Steve JobsSắn Việt Nam kết nối châu PhiNgười Thầy với việc Dạy và Học, Khổng Tử dạy và học; Nhớ Người, Sớm thu; Đêm Yên Tử;  Lúa sắn Việt Nam tới châu Phi.

LÚA SẮN VIỆT NAM TỚI CHÂU PHI
Hoàng Kim
Việt Nam Châu Phi hợp tác Nam Nam; Sắn Việt Nam kết nối châu PhiSắn Việt Nam hôm nay và ngày mai;  Cách mạng sắn ở Việt Nam… Đó là câu chuyện dài về nông dân nông nghiệp nông thôn Việt Nam nhìn ra thế giới, một trãi nghiệm quý giá bài học thực tiễn từ người Thầy liên quan nhiều các vấn đề nông nghiệp Việt và quốc tế nóng hổi với sự trăn trở về tầm nhìn. xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/lua-san-viet-nam-toi-chau-phi/

GIỐNG KHOAI LANG HOÀNG LONG VIỆT NAM
Hoàng Kim
Giống khoai làng Hoàng Long là giống khoai lang phổ biến nhất Việt Nam suốt trên 35 năm qua. Nguồn gốc giống tại Thái An, Sơn Đông, Trung Quốc được đoàn chuyên gia nông nghiệp Trung Quốc và Việt Nam có ông Quách Ngọc Ân nhập nội vào  trồng  tại Cẩm Lương, Cẩm Thủy, Thanh Hóa, Việt Nam năm 1968. Giống do Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh tuyển chọn và giới thiệu (Hoàng Kim, Nguyễn Thị Thủy, 1981). Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống năm 1981. Thời gian sinh trưởng 85-95 ngày. Năng suất củ tươi 15 – 27 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-30%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu hồng sẫm, thịt củ màu vàng cam, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím phủ luống gọn, mức độ nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình; Giống khoai lang Hoàng Long chọn lọc được tuyển theo hướng phẩm chất thơm ngon hơn giống gốc năng suất cao ban đầu. “Thơ cho con” và tên của người con đã được đặt tên theo giống khoai ngon Hoàng Long để luôn nhớ về vùng quê nghèo khó “Quảng Bình khoai khoai toàn khoai”. Lên Thái sơn hướng Phật là nhìn lại khoai lang Trung Quốc ngày nay đã có bao bì đẹp, giá bán cao, bán cho khách hành hương du lịch (ảnh) và so sánh với hiện trang giống khoai lang ở Việt Nam. xem chi tiết tại Giống khoai lang ở Việt Nam https://cnm365.wordpress.com/2015/11/02/giong-khoai-lang-o-viet-nam/

Thơ cho con” và ‘Đến Thái Sơn nhớ Đào Duy Từ” (Nhớ Người) được lấy cảm hứng từ giống khoai lang Hoàng Long và Thái Sơn, Sơn Đông nơi phát sinh giống khoai này.


THƠ CHO CON
Hoàng Kim

Thương yêu tặng hai con
Tố Nguyên Hoàng Long

Con!
Thân thương một tiếng gọi
Hạnh phúc bật nên lời
Lòng Cha bồi hồi
Sung sướng gọi:
Con!

Cha đi công tác xa
Mong đợi Con, từng ngày chờ thư Mẹ
Thư đến!
Con ra đời!
Cha run lên vì mừng
Thao thức suốt đêm
Không ngủ

Bạn bè vây quanh Cha
Trân trọng niềm vui thiêng liêng
Nâng cốc chúc Cha
Hạnh phúc!

Tiếng Con ngọt ngào môi Cha
Dào dạt lòng Cha vỗ mãi
Có Con
Nối cuộc đời Cha
Gấp đôi
Có Con
Đan giữa cuộc đời
Hạnh phúc

Con là sợi dây máu thịt
Yêu thương gắn Mẹ và Cha
Có Con
Cha thấy cuộc đời ý nghĩa hơn
Cuộc sống – Tình yêu – Sự nghiệp
Hai Con là hai con mắt
Cửa sổ tâm hồn Cha
Dẫu đời Cha nhiều chông gai
Trái chín cuộc đời vẫn ngọt
Con là giấc mơ trong trẻo
Là ban mai tươi vui
Là viên ngọc trao đời
Là hương hoa hạnh phúc

Ước vọng cuộc đời Cha
Có Con đi nối con đường sự nghiệp
Con đứng trên vai Cha
Vươn tới những chân trời mơ ước

Hai Con
Hai viên ngọc
Chị con và Con
Mẹ con dịu hiền hơn
Mẹ con đảm đang hơn
Cha bớt vụng về mỗi việc làm nho nhỏ
Con trở thành ngọn lửa
Sưởi ấm lòng Mẹ Cha
Khi mỗi ngày khó khăn
Trong trẻo tiếng Con
Mẹ Cha hết mệt
Con là niềm vui lớn nhất
“Con hơn Cha nhà có phúc”
Cha mong dồn cho Con.

Lớn lên
Con sẽ hỏi Cha
Sao Cha đặt tên Con là Hoàng Long?
Con ơi!
Tên Con là khúc hát yêu thương
Của lòng Cha Mẹ
Cha Mẹ thương nhau
Vì qúy trọng những điều ân nghĩa
Sự nghiệp và tình yêu
Những ngày gian khổ
Cùng nghiên cứu củ sắn, củ khoai
Con là giống khoai Hoàng Long
Tỏa rộng nhiều vùng đất nước
Dẫu không là trái thơm qủa ngọt
Nhưng là niềm vui người nghèo
Để Cha nhớ về quê hương
Khoai sắn bốn mùa vất vã
Để Cha nhớ những ngày gian khổ
Năm năm
Cơm ngày một bữa
Khoai sắn không phụ lòng
Để Cha nhớ về
Lon khoai nghĩa tình
Nắm khoai bè bạn
Gom góp giúp Cha ăn học
Khi vào đời
Cha gặp Mẹ con
Cho nên:
Cha muốn Con
Trước khi làm những điều lớn lao
Hãy biết làm củ khoai, củ sắn
Hãy hướng tới những người lao động
Nhớ quê nghèo cắt rốn, chôn rau

Lớn lên
Con sẽ hỏi cha
Sao Cha đặt tên con Hoàng Long?
Long là rồng
Con là đậu rồng
Là công trình thứ hai Mẹ Cha nghiên cứu
Mẹ con chọn hạt
Cha gieo nên con
Vất vả gian nan
Hứa hẹn một mùa gặt hái
Con là tháng ngày mong đợi
Là niềm vui đóng góp cho đời
Từ hạt đậu củ khoai
Cha Mẹ trao Con sự nghiệp
Cha nhớ câu đối trăm năm
Về một gia đình hạnh phúc
“Sáng khoai, trưa khoai, tối khoai
ngày khoai ba bữa
Cha đỗ, mẹ đỗ, con đỗ
đều đỗ cả nhà”
Chị con và Con
Là mong ước
Của Mẹ và Cha

Lớn lên
Con sẽ hỏi Cha
Sao Cha đặt tên con Hoàng Long?
Long là rồng
Nghĩa mẹ tạo nền
Công cha xây móng
Trước mắt con là sông dài, biển rộng
Ước mong con bay lên
Con hãy đi đến cùng
Mục đích của con
Làm được những điều cao cả
Hãy cố gắng không ngừng
Kiên gan
Bền chí
Ước mơ và hiện thực
Hôm nay và mai sau
Nghị lực là thước đo cuộc đời
Hai chữ đầu tiên Con học làm người
Phải học hai điều NHÂN NGHĨA

Cha mong Con lớn lên
Ít nếm trãi khó khăn, vất vả
Nhưng đừng bao giờ quên
Những ngày đói khổ
Thời thơ ấu của Cha
Mồng Ba tháng Giêng ngày mất của Bà
Hai mươi tháng Mười ngày ông Mỹ giết
Ngày mà cửa nhà tan nát
Đói nghèo Bác dắt dìu Cha
Tuổi thơ thì bắt ốc, mò cua
Lớn một chút trồng khoai, dạy học
Qua danh lợi hiểu vinh, hiểu nhục
Trãi đói nghèo biết nghĩa, biết ân
Phan Thiết là nơi Mẹ đã sinh Con
Ông Bà ngoại nuôi cho Con khôn lớn
Tuổi thơ của Con lớn trong yên ấm
Tao nôi êm ả, thanh bình
Ru cho Con “uống nước nhớ nguồn”
Khi con lớn đừng quên điều HIẾU THẢO

Cha say viết về Con
Kể về Con
Thơ cho Con
Cô bác vây quanh Cha
Gật gù
Thông cảm

Thơ chắp mối
Từng vần,
Từng mảng
Câu thơ chưa chỉnh lời
Nhưng tứ thơ
Dồn dập
Bối hồi
Hạnh phúc lớn
Trong lòng Cha
Ngân mãi

Praha, 17.2.1986
(Hoàng Long sinh đêm Giáng sinh 24 tháng 12 năm 1985 nhưng Thư đến Praha ngày 17.2.1986)


ĐẾN THÁI SƠN NHỚ ĐÀO DUY TỪ
(NHỚ NGƯỜI)
Hoàng Kim

Ngược gió đi không nản
Rừng thông tuyết phủ dày
Ngọa Long Cương đâu nhỉ
Đầy trời hoa tuyết bay.

Khoai Việt từ giống tốt đến thương hiệu, đó là một câu chuyện dài. Khoai lang Việt Nam hiện đã có những giống khoai lang tốt chất lượng ngon, năng suất cao, được nông dân thích trồng và thị trường ưa chuộng như giống khoai HL518 (Nhật đỏ), HL491 (Nhật tím), Hoàng Long,  Kokey 14 (Nhật vàng), Bí Đà Lạt… Giống khoai lang Hoàng Long là giống khoai lang tốt, thích nghi rộng, từ lúc công nhận giống cho đến nay đã hơn 35 năm nhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao trong diện tích khoai lang trồng ở các tỉnh phía Bắc.

Chúng ta cũng đã có Kỳ tích từ cây lúa, củ khoai ở Hòn Ðất tỉnh Kiên Giang với doanh nghiệp của ông Đỗ Quý Hạo. trồng khoai lang rất thành công tạo dựng thương hiệu khoai lang Ba Hạo (Hạo Đỗ Quý ) vang bóng một thời. Anh Đỗ Quý Hạo đã được Nhà nước Việt Nam vinh danh trong Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc năm 2010 và nay anh đang thành chuyên gia khoai lang giúp nhiều tỉnh “xây dựng mô hình khoai lang Nhật”. Thế nhưng, khoai lang Việt từ giống tốt đến thương hiệu vẫn còn là một câu chuyện dài…

Khoai lang Việt Nam 40 năm (1975- 2015) nhìn lại. Trước năm 1975, giống khoai lang ở Việt Nam chủ yếu được tiêu thụ tươi và làm thức ăn gia súc. Giống khoai lang phổ biến ở miền Nam là Trùi Sa, Trà Đõa, Dương Ngọc lá tròn, Dương ngọc lá tím, Tàu Nghẹn, Bí Đế, Đặc Lý, Bí mật Đà Lạt và Okinawa 100. Đề tài : “Chọn tạo giống sắn khoai lang thích hợp với các vùng sinh thái nông nghiệp miền Nam” là đề tài do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam chủ trì thực hiện, thuộc chương trình cấp Bộ 1981-1990, sau đó tiếp tục 1991-2006, và kết nối hợp tác Quốc tế với CIAT, VEDAN (sắn), CIP (khoai lang), Việt Tiệp (sắn xen đậu rồng), IRRI (hệ thống cây trồng cây có củ trên nền lúa)… với nhiều tổ chức quốc tế khác. Mục tiêu: nhập nội, thu thập, lai tạo, bảo tồn, tuyển chọn và phát triển các giống sắn và khoai lang có năng suất cao, chất lượng tốt, thích hợp với các vùng sinh thái nông nghiệp miền Nam. Kết quả (riêng về khoai lang) “Tiến bộ mới trong chọn tạo giống khoai lang ở các tỉnh phía Nam” (1981- 2006) đã tuyển chọn được bảy giống khoai lang tốt được Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn công nhận giống ở các tỉnh phía Nam (Kỷ yếu 90 năm Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam 1925-2015, trang 51) bao gồm: Hoàng Long, Chiêm Dâu, Bí Đà Lạt, Khoai Gạo (Bộ Nông nghiệp Công nghiệp Thực phẩm công nhận giống năm 1981), HL4 (Bộ Nông nghiệp Công nghiệp Thực phẩm công nhận giống năm 1987), HL518 và HL491 (Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn công nhận giống năm 1997). Đây là những giống khoai lang chủ lực trong sản xuất tại thời điểm. HL518 (Nhật đỏ) và HL491 (Nhật tím) đột phá về chất lượng khoai ngon. Những tỉnh trồng hai giống khoai lang này nhiều là Vĩnh Long, Kiên Giang, Đà Lạt, Đăk Nông, Gia Lai, Đồng Nai và Sóc Trăng. Điển hình tỉnh Vĩnh Long sản lượng khoai lang năm 2000 là 46,2 ngàn tấn, diện tích khoai lang 2,5 ngàn ha, năng suất bình quân 18,4 tấn/ ha, năm 2011 sản lượng khoai lang đạt 248,7 ngàn tấn, diện tích khoai lang 8,5 ngàn ha, năng suất bình quân 29,2 tấn/ ha (Tổng cục Thống kê 2014) do trồng thâm canh Nhật tím HL491 và Nhật đỏ HL518.

Tại các tỉnh phía Bắc, bốn giống khoai lang trồng phổ biến hiện có là Hoàng Long, KB1, K51, Tự Nhiên. Đây là những giống thích nghi rộng hơn trong số 15 giống khoai lang tốt đã được Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn công nhận trong hơn 40 qua (1975- 2015). 15 giống khoai lang này được tuyển chọn  theo ba hướng chính: 1) Nhóm giống khoai lang năng suất củ tươi cao, ngắn ngày, chịu lạnh thích hợp vụ đông gồm K1, K2, K3, K4, K7, K8, VX37-1, Cực nhanh là những giống khoai lang chủ yếu tuyển chọn để tăng vụ khoai lang đông từ nguồn gen nhập nội từ CIP,  Trung Quốc, Nga, Philippines trong giai đoạn 1980-1986. 2) Nhóm giống khoai lang năng suất củ cao, nhiều dây lá thích hợp chăn nuôi, gồm K51, KL1, KL5 là các giống khoai lang phục vụ chăn nuôi hợp tác với CIP, Úc giai đoạn 1986-2000. 3) Nhóm giống khoai lang năng suất củ cao, phẩm chất ngon, bao gồm việc phục tráng và chọn lọc giống khoai lang Hoàng Long, Chiêm Dâu (Vũ Tuyên Hoàng, Mai Thạch Hoành 1986, 1992), Tự Nhiên (Trương Văn Hộ và ctv, 1999); tuyển chọn và phát triển giống khoai lang KB1 (Nguyễn Thế Yên, 2003) và phục tráng chọn lọc giống khoai lang Hoàng Long gần đây của Viện Di truền Nông nghiệp.

Ba bài viết “Giống khoai lang ở Việt Nam” “Khoai lang Hoàng Long trên Yên Tử” “Khoai lang Việt Nam từ giống tốt đến thương hiệu” cung cấp góc nhìn toàn cảnh liên quan sự nghiên cứu phát triển giống khoai lang ở Việt Nam.

Hai giống khoai lang HL518 (Nhật đỏ) và HL491 (Nhật tím) đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống năm 1997 (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim và ctv. 1997) hiện đã được trồng khá phổ biến và mang lại sự thay đổi căn bản về năng suất cao và chất lượng ngon cho sự canh tác khoai lang tại nhiều tỉnh của Việt Nam. Giống khoai lang Hoàng Long nửa thế kỷ nhập nội từ Trung Quốc (1968-2018) và được tuyển chọn theo hướng năng suất cao, phẩm chất ngon, vỏ hồng đỏ, ruột củ vàng ươm hoặc vàng cam, hiện tại các tỉnh Thanh Hóa, Hải Dương, Nghệ An, Ninh Bình… vẫn được ưa chuộng và quan tâm  khoai Hoàng Long hiện vẫn được phục tráng  chỉ tiếc ít cơ hội.

Khó khăn chính trong sản xuất khoai lang hiện nay là: Giống khoai lang lẫn tạp và thoái hóa; Kỹ thuật canh tác khoai lang chưa thật phù hợp (từ thời vụ trồng, chọn đất, chọn hom giống tốt, kỹ thuật làm đất, bón phân NPK và hữu cơ vi sinh, kỹ thuật trồng, mật độ trồng, phòng trừ sùng khoai lang, sâu đục dây và bệnh hại, đến các biện pháp làm cỏ, nhấc dây, tổ chức sản xuất kinh doanh và tiêu thụ khép kín…); Chưa kiểm soát tốt sùng hà gây hại; Ít đầu tư thâm canh; Chưa tổ chức sản xuất kinh doanh tiêu thụ khép kín.

Một số hình ảnh chọn giống khoai lang

LÊN THÁI SƠN HƯỚNG PHẬT
(còn nữa …)

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Việt Nam tổ quốc tôi|Đất nước con người, nghiên cứu dịch thuật Việt Trung, Hoàng Tố Nguyên  Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống Food Crops Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter