Bảy bài học cuộc sống


HỌC MỖI NGÀY. Bảy bài học cuộc sống. Học cách mặt trời tỏa sáng.  Nước chảy đá mòn.Tôn trọng người khác.Tận nhân lực tri thiên mệnh. Đừng lo lắng vô ích. Đừng sợ hãi hãy tiến tới. Phúc hậu an nhiên kho báu chính mình. Hoàng Kim tuyển chọn tinh hoa cổ ngữ phương Đông xem tiếp  Bài học cuộc sống; Đối thoại với Thiền sư.

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về đầu trang

Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

CIMMYT tươi rói một kỷ niệm


CIMMYT TƯƠI RÓI MỘT KỸ NIỆM

Hoàng Kim

Thấm thoắt đã nhiều năm trôi qua, tôi vẫn nhớ như in những kỹ niệm thân thương về các thầy bạn ở bên kia bờ đại dương. Những giống ngô lai, sách, tạp chí, trang web, video CIMMYT luôn kết nối bền bỉ với những nhà khoa học xanh Việt Nam để chúng tôi có được những dâng hiến thầm lặng nhưng hiệu quả trong nghiên cứu khoa học và giảng dạy. Tôi nhớ thầy Norman Boulaug, nhớ nhiều thầy bạn ở nơi đó, nhớ đất nhớ người. Bài thơ “Sóng yêu thương vỗ mãi đến vô cùng“, “Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương“, “Lời Thầy dặn“, “Đối thoại giữa các nền văn hóa“, …  là những kỷ niệm tươi rói sâu sắc một thời.

SÓNG YÊU THƯƠNG VỖ MÃI ĐẾN VÔ CÙNG

Anh yêu biển tự khi nào chẳng rõ
Bởi lớn lên đã có biển quanh rồi
Gió biển thổi nồng nàn hương biển gọi
Để xa rồi thương nhớ chẳng hề nguôi

Nơi quê mẹ mặt trời lên từ biển
Mỗi sớm mai gió biển nhẹ lay màn
Ráng biển đỏ hồng lên như chuỗi ngọc
Nghiêng bóng dừa soi biếc những dòng sông

Qua đất lạ ngóng xa vời Tổ Quốc
Lại dịu hiền gặp biển ở kề bên
Khi mỗi tối điện bừng bờ biển sáng
Bỗng nhớ nhà những lúc mặt trăng lên

Theo ngọn sóng trông mù xa tít tắp
Nơi mặt trời sà xuống biển mênh mông
Ở nơi đó là bến bờ Tổ Quốc
Sóng yêu thương vỗ mãi đến vô cùng …

ĐI KHẮP QUÊ NGƯỜI ĐỂ HIỂU ĐẤT QUÊ HƯƠNG

Tạm biệt Oregon !
Tạm biệt Obregon California !
Cánh bay đưa ta về CIMMYT

Bầu trời xanh bát ngát
Lững lờ mây trắng bay
Những ngọn núi cao nhấp nhô
Những dòng sông dài uốn khúc
Hồ lớn Ciudad Obregon ba tỷ khối nước

Nở xòe như chùm pháo bông
Những cánh đồng mênh mông
Thành trăm hình thù dưới làn mây bạc
Con đường dài đưa ta đi
Suốt dọc từ Nam chí Bắc
Thành sợi chỉ màu chạy mút tầm xa…

Ơi vòm trời xanh bao la
Gọi lòng ta nhớ về Tổ Quốc

Ôi Việt Nam Việt Nam
Một vùng nhớ trong lòng ta tỉnh thức
Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương.

LỜI THẦY DẶN

Việc chính đời người chỉ ít thôi.
Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi.
Phúc hậu suốt đời làm việc thiện.
Di sản muôn năm mãi sáng ngời

Thầy Norman Borlaug sống nhân đạo, làm nhà khoa học xanh và nêu gương tốt. Thầy là nhà nhân đạo, nhà nông học Mỹ cha đẻ của cuộc cách mạng xanh được tặng giải Nobel và Tổng thống Mỹ trao tặng huân chương cao quý nhất của nước Mỹ, thế giới tôn vinh là nhà bác học số một của nhân loại trong  cuộc chiến chống nghèo đói. Thầy đã suốt đời nghiên cứu giảng dạy về chọn tạo và phát triển cây lương thực, góp phần cải thiện đời sống và nâng cao thu nhập cho hàng trăm triệu nông dân nghèo ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Thầy là người sáng lập Giải thưởng Lương thực Thế giới và tổ chức nhiều hoạt động thiết thực thắp sáng niềm tin yêu cuộc sống.

Tôi được Thầy ghé thăm gần trọn buổi chiều tại phòng riêng ở CIMMYT, Mexico ngày 29.8.1988. Thầy đã một mình ghé thăm người trò nhỏ duy nhất của châu Á trong lớp học “Quản lý Trung tâm/ Trạm trại Nông nghiệp”. Khi Thầy đến, tôi đang thắp nến trên giá sách trong phòng đề tưởng nhớ ngày cha mất. Biết cha tôi bị bom Mỹ giết hại tại làng nhỏ ở Quảng Bình của buổi chiều này hai mươi năm trước (1968) lúc tôi còn là học sinh trung học của Trường cấp Ba Bắc Quảng Trạch, Thầy bối rối xin lỗi và thật bất ngờ tôi đã có được một buổi chiều vô giá riêng tư bên Thầy.

Lời Thầy dặn thật thấm thía: “ Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”.

Trích “Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời” – Hoàng Kim

Những kỹ niệm không quên

KimCIMMYT2

 KimCIMMYT4

KimCIMMYT1

KimCIMMYT

KimCIMMYT5 KimCIMMYT6 KimCIMMYT7 KimCIMMYT8 KimCIMMYT9 KimCIMMYT10

This is CIMMYT

ĐỐI THOẠI GIỮA CÁC NỀN VĂN HÓA

Hoàng Kim

Bài học cuộc sống quý giá là sự thấu hiểu và đối thọại giữa các nền văn hóa. Văn hóa là những gì lắng đọng khi ta đã quên đi tất cả. Tôi kể về một lớp học đã theo tôi suốt bao năm. Lớp học đa sắc tộc. Triết luận Goethe, Jefferson, Borlaug và Hemingway lắng đọng thật sâu sắc trong lòng tôi. Sử thi “Faust” kiệt tác văn chương thế giới của Goeth lưu dấu di sản khoa học nhân văn ở nhiều nơi trên thế giới. Thomas Jefferson, tác giả của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ, của Đạo Luật Virginia về Tự Do Tôn Giáo và Người Cha của Đại Học Virginia’ đủ đọng mật cho một thế giới biến chuyển. Norman Borlaug nhà khoa học xanh ‘cứu sống nhiều người hơn bất cứ ai khác trong lịch sử’. Hemingway “Ông già và biển cả” là bài học tự do niềm vui sáng tạo giúp ta trở về với Ngày xuân đọc Trạng Trình, Nguyễn Du 250 năm nhìn lạiTô Đông Pha vầng trăng cổ tích;  Trúc Lâm thăm thẳm một góc nhìn.

“Đối thoại giữa các nền văn hóa’ là phần ba, tiếp theo phần một “Con đường di sản Lewis và Clark“; phần hai “Đất nước Mexico ấn tượng lắng đọng” của bài viết “Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương”.  Mời đọc  https://hoangkimlong.wordpress.com/category/di-khap-que-nguoi-de-hieu-dat-que-huong/

Tiến sĩ Hannibal Multar, người Do Thái quê gốc Jerusalem, nay định cư ở Mỹ, Trưởng Chương trình Đào tạo của CIMMYT, thầy giáo chủ nhiệm lớp chúng tôi, trong bữa cơm chiêu đãi đầu tiên tại thủ đô Mexico thành phố di sản thế giới 1987, ngay câu đầu tiên sau khi giới thiệu về mình, đã quay sang hỏi tôi:  Kim ‘bạn tôi”. Lớp mình đủ năm châu. Bạn là người Việt Nam duy nhất của châu Á tại đây. Làm ơn hãy cho tôi biết, bạn muốn học gì ? Tôi bình tĩnh và lém lĩnh trả lời: “Chào thầy và các bạn.Tôi muốn ‘học ăn, học nói, học gói, học mở’ như câu tục ngữ Việt Nam quê tôi. Trước hết, tôi muốn thân thiết học và hành với thầy bạn để thấu hiểu và đối thoại giữa các nền văn hóa. Thứ hai, tôi muốn trau dồi tiếng Anh vì đây là cơ hội tuyệt vời cho tôi để nghe, đọc, viết và nói tiếng Anh hàng ngày. Thứ ba, tôi muốn học cách quản lý Trung tâm Trạm trại Nông nghiệp chuyên cây trồng như CIMMYT, học cách chọn giống ngô và kỹ thuật thâm canh ngô thích hợp bền vững, cách làm cho người dân Việt Nam trồng ngô đạt năng suất cao,  thu nhập và đời sống tốt hơn”. Thầy bạn cùng cười: “Nói hay lắm!”.

Doithoaigiuacacnenvanhoa3

Sau này khi về Việt Nam, tôi có giữ lưu bút thầy bạn trong đó có thư này của thầy Hannibal Multar. Nội dung bức thư như sau: “Kim “bạn của tôi”. Tôi chỉ muốn nói một vài từ để bày tỏ sự đánh giá chân thành và niềm vui của tôi khi gặp bạn. Tôi cũng tự hào khi biết bạn trong vòng năm, sáu tháng này. Gia đình bạn đang nhớ bạn nhưng chúng tôi đã được rất nhiều bởi sự hiện diện của bạn với chúng tôi ở đây. Bạn gọi tôi là giáo sư bởi vì tôi đã dạy bạn về cách quản lý trạm trại nông nghiệp, nhưng thực ra tôi đã học được từ bạn rất nhiều. Tôi thấy bạn nổ lực và kiên trì học ngôn ngữ. Tôi đã nhìn thấy tác phẩm nghệ thuật đẹp và thơ của bạn. Sự thành thạo chuyên môn mà bạn phải đối mặt với nhiệm vụ của mình ở đây là một thành viên trong đội ngũ tuyệt vời. Tôi sẽ luôn nhớ bạn, bạn của tôi. Hãy giữ liên lạc và cho tôi biết nếu tôi có thể giúp đỡ bằng bất kỳ cách nào. Gửi lời chào thân thiết của tôi  đến gia đình tốt của bạn. Bạn thân. Hannibal Multar.

(To Kim “my friend”. I just want to say a few word to express to my sincere appreciation and joy for having met you. I am also proud to have known you over these five-  six months. Your family have missed you but we gained a lot by your presence with us here. You call me professor because I taught  you about station management, but rest assured that I have learned a lot from you. I saw you struggle and persevere in language. I have seen your beautiful art work and also your poetry. The professional adtitude you faced your duties here in being such a gracious team member. I shall alway remember you, my friend. Please keep in touch  and let me know if I can be of help in any ways. My best personal regards to your good family. Your friend. Hannibal Multar).

Doithoaigiuacacnenvanhoa21
GIẤC MƠ THIÊNG DẠO CHƠI CÙNG GOETHE

Tượng Goethe có trong vườn danh nhân ở Đại học Tự trị Quốc gia México (Universidad Nacional Autónoma de México, tên viết tắt UNAM) là di sản thế giới năm 2007, trường đại học lớn nhất ở khu vực Mỹ Latinh nằm tại thành phố thủ đô México.  Tiến sĩ Hannibal Multar thầy giáo chuyên gia huấn luyện quản lý trung tâm, trạm trại thí nghiệm nông nghiệp CIMMYT hướng dẫn tôi tham quan nơi này cũng như nhiều di sản thế giới khác mà tôi đã kể câu chuyện Mexico ấn tượng lắng đọng

Goethe
Goethe trong lòng tôi là nhà khoa học xanh sinh học và nhà thơ kể chuyện sử thi hay nhất thế gian. Tôi thuở nhỏ đã ngưỡng mộ Người qua câu thơ do Xuân Diệu dịch: “Mọi lý thuyế đều là màu xám, chỉ có cây đời mãi mãi tươi xanh”.

Lần trước, khi tôi đến Praha,  tôi đã gặp Goethe hóa thân thành “nhà phù thủy” là kiệt tác sử thi giữa quảng trường Old Town Square tại lâu đài cổ thành Hradčanské “Praha vàng”, quảng trường Con Ngưa, quảng trường Con Gà (theo cách gọi của sinh viên Việt Tiệp). Lâu đài Praha là lâu đài cổ lớn nhất thế giới theo sách Kỷ lục Guinness, với quảng trường Old Town Square, trung tâm trục lịch sử suốt nghìn năm, những tòa nhà cổ đầy màu sắc, với các nhà thờ Gothic đồng hồ thiên văn thời trung cổ. Tôi cũng được gặp Goethe trên tượng đá danh nhân trên cầu đi bộ Karl (Tiếng Tiệp gọi là Karlův, người Việt gọi là cầu Tình) nối hai đầu Quảng trường Museum và Můstek  bắc trên con sông Vltava đến khu lâu đài cổ.  Và sau cùng trong đêm thánh vô cùng tại rừng thiêng cổ tích Kalovi Vary, tôi đã may mắn có giấc mơ thiêng dạo chơi cùng Goethe. Câu chuyện dài này tôi đã kể trong Praha Goethe và lâu đài cổ

Lần này, khi tôi đến Mexico,  số phận lại cho tôi được gặp Goethe hóa thân trong tượng đá “vườn danh nhân” cùng kiệt tác sử thi Teotihuacan thành phố thời tiền Colombo, di sản thế giới 1987 ở México và Monte Alban kim tự tháp cổ trung tâm của nền văn minh Zapotec,  di sản thế giới năm 1987 ở tiểu bang Oaxaca  phía nam Mexico thì Trường Đại học Tự trị Quốc gia México (Universidad Nacional Autónoma de México,  UNAM) cũng là di sản thế giới năm 2007. UNAM được thành lập vào ngày 22 tháng 9 năm 1910 bởi Justo Sierra như là một thay thế cho Hoàng gia và Đại học Giáo hoàng México (thành lập vào ngày 21 tháng 9 năm 1551 bởi sắc lệnh hoàng gia của Karl V của đế quốc La Mã Thần thánh . Goethe giữa những chứng tích của nền văn minh Aztec và Maya “người tiền sử bản địa da đỏ” hóa đá sử thi 8.000 – 10.000 năm tuổi thì tư duy trí tuệ của nhà thông thái thiên tài, nhà thơ văn, nhà khoa học, triết gia, viết kịch và họa sỹ người Đức vẫn lưu dấu niềm tự hào của đất nước ông ở Mexico và nhiều nước ở châu Mỹ xa xôi.

Goethe tuy sinh ra và lớn lên ở Frankfurt am Main, thành phố lớn thứ năm của Đức, và ông đã sống ở Leipzig (thuộc Đức) Strasbourg (thuộc Pháp), và nơi tưởng niệm Goethe tại Tiệp Khắc có ở rất nhiều vùng . Danh tiếng của ông vang dội toàn châu Âu và Thế Giới. Viện Goethe hiện có phân viện tại 13 thành phố ở Đức và 128 thành phố ở nước ngoài, trong đó có nhiều nước châu Mỹ. Đó là một hiện tượng lan tỏa văn hóa hiếm thấy.

Faust

Faust hoặc George Faust là một nhân vật có thật, đặc biệt nổi tiếng ở  Đức – Tiệp,  sống vào khoảng năm  1480 – 1541, là một thầy thuốc, nhà chiêm tinh và “phù thủy” ảo thuật gia xuất chúng người Đức, nhà khoa học tài năng có khả năng biến đá thành vàng. Faust là người  khát khao kiến thức, hiểu biết, người yêu tự do, không thích bị câu thúc. Faust đã kết bạn với quỷ để thỏa mãn ước mơ khám phá hiểu biết của mình. Kết cục cái giá của tự do khám phá những bí mật của trời đất, thiêng liêng của thần thánh phải trả bằng tính mạng của mình. Goethe tìm thấy từ hình tượng trong dân gian, một khát vọng vô biên về sức mạnh sáng tạo và chinh phục của con người để tìm ra một triết lý nhân văn soi thấu sự đam mê tự do là cái giá ĐƯỢC MẤT cao hơn mạng sống:  “Chỉ những ai biết hăng say lao động, biết nổ lực chinh phục những đỉnh cao chí thiện thì mới xứng đáng được hưởng tự do và tình yêu cuộc sống.

Đối thoại giữa các nền văn hóa, tôi chiêm nghiệm  Giấc mơ thiêng dạo chơi cùng Goethe.

Goethe at Rome

Mọi lý thuyết đều là màu xám,
chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi
Goethe trao tặng ta
minh triết của Người.

Ba lần tôi có giấc mơ thiêng
dạo chơi cùng Goethe

Người hóa thân
thành nữ thần Tình Yêu
Thơ Người đi cùng năm tháng

Tôi gặp Goethe  lần đầu
Kalovi Vary, Czechoslovakia
trong rừng thiêng cổ tích.
Người kể chuyện sử thi
Tiệp Khắc kỷ niệm một thời
Praha và lâu đài cổ
Những khát khao mơ ước của Faust,
Nỗi đau của chàng Werther

Tôi gặp Goethe
trên cầu đi bộ Charles
trong 30 tượng thánh trầm tư
Tôi ngắm hình tượng Faust
cũng là Đế Quốc La Mã Thần Thánh
trên quảng trường Old Town Square Praha
Goethe dạy tôi học Faust
hiến mạng sống lấy Tự Do
Học minh triết hiểu tận cùng được mất
Người nhắc tôi đừng quên dân tộc
Giỏi làm người kể chuyện sử thi
Cho dù dạy gì, học gì, làm gì
Cũng từ thực tiễn chính mình
Tích tụ năng lượng tự thân
Khai mở tự do trí tuệ !

Tôi gặp Goethe ở Mexico lần thứ hai
tại UNAM CIMMYT phía cuối trời Tây
GoetheNorman Borlaug dạy cho tôi
Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương

Người hóa thân
trong thanh thản
vòm cây xanh
Người đàm đạo
với Norman Borlaug
và cậu học trò nghèo
Về ý tưởng xanh
Con đường xanh
Hành trình xanh
Sự nghiệp xanh
Nhà khoa học xanh
giấc mơ hạnh phúc

Goethe là vòm cây xanh
Goethe cũng là lão nông
ngồi cùng chúng ta
chuyện trò
trên cánh đồng xanh
hạnh phúc.

Goethe Norman Borlaug
là những trí tuệ bậc Thầy.
Họ không màng hư vình
mà hướng tới đỉnh cao hòa bình
sự an lành tiến bộ .

Tôi cũng lại gặp Người
Oregon Miền Tây Nước Mỹ.
Tôi gặp Người ở hồ lớn
Ciudad Obregon
Ba tỷ khối nước
Cây xanh đất nước giao hòa

Ta gặp Người lần thứ ba
ở FAO Roma, Italia
trong nhà ở Frankfurt,
ngoài công viên Leipzig, Strasbourg

với bao nhiêu điểm đến …

Trời xanh tuyệt vời !
Trời nhân loại mênh mông !

xem tiếp…
Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương


 

Thơ Thiền Tuệ Trung Thượng Sĩ



THƠ THIỀN TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ

chuyên đề của Hoàng Kim (1).

Vua Trần Nhân Tông hỏi Tuệ Trung Thượng Sĩ về tôn chỉ, Thượng sĩ đáp: “Hãy quay về tự thân chứ không tìm ở đâu khác”. Trần Nhân Tông bừng tỉnh ngộ, bèn xốc áo, thờ làm Thầy. Thơ Thiền Tuệ Trung Thượng Sĩ sâu sắc, thông tuệ. Đó là những viên ngọc di sản văn hóa đặc biệt quý giá.

TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ LÀ AI?

Tuệ Trung Thượng Sĩ là Hưng Ninh Vương Trần Tung, danh tướng và thiền sư nổi tiếng đời Trần. Ông sinh năm 1230 mất năm 1291, là con thứ nhất (đệ nhất tử) của Khâm Minh Từ Thiện Vương (Trần Liễu), anh ruột của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (2) và Hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm húy Thiều, vợ vua Trần Thánh Tông.

Ông có công lớn trong ba lần kháng chiến chống Nguyên Mông năm 1258, 1285 và 1288. Sau kháng chiến thành công, ông được phong chức Tiết độ sứ cai quản phủ Thái Bình. Nhưng không lâu sau ông lại lui về ấp Tịnh Bang (nay ở huyện Vĩnh Bảo, ngoại thành Hải Phòng) lập Dưỡng Chân trang để theo đuổi nghiệp Thiền.

Vua Trần Nhân Tông hỏi Tuệ Trung Thượng Sĩ về tôn chỉ, Thượng sĩ đáp: “Hãy quay về tự thân chứ không tìm ở đâu khác”. Trần Nhân Tông bừng tỉnh ngộ, bèn xốc áo, thờ làm Thầy. Đức Nhân Tông có bài tán về Tuệ Trung: “Vọng chí di cao, Toàn chi di kiên. Hốt nhiên tại hậu, Chiêm chi tại tiền. Phu thị chi vị, Thượng sĩ chi Thiền. Nghĩa là: Nhìn lên càng thấy cao,/ Khoan vào càng thấy cứng./ Bỗng nhiên ở phía sau,/ Nhìn lại thấy phía trước./ Cái đó gọi là:/ Đạo Thiền của Thượng sĩ.”

Quyển ‘Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục’ nằm trong bộ “Trần Triều Dật Tồn Phật Điển Lục”, là bộ Phật điển còn sót của đời nhà Trần. Tập sách này rất quan yếu trong nhà Thiền, nhất là Thiền tông Việt Nam.“ Sách này do Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông khảo đính, thiền sư Pháp Loa biên tập, thiền sư Huệ Nguyên khắc in lại năm 1763. Chứng tích ở Kỳ Lân thiền viện (Hoàng Kim trích dẫn theo Thích Thanh Từ DL 1996 – PL 2540, Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục giảng giải )

Hành trạng Thượng Sĩ (Trần Tung: 1230 – 1291)

Thượng Sĩ là con đầu của Khâm Minh Từ Thiện Thái Vương (Trần Liễu), là anh cả của Hoàng thái hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm. Khi Đại vương mất, Hoàng đế Thái Tông cảm nghĩa phong cho Thượng Sĩ tước Hưng Ninh Vương.

Lúc nhỏ, Thượng Sĩ nổi tiếng bẩm chất cao sáng thuần hậu. Được cử trấn giữ quân dân đất Hồng Lộ, hai phen giặc Bắc xâm lăng, Ngài chống ngăn có công với nước, lần lượt thăng chức Tiết độ sứ giữ cửa biển Thái Bình. Thượng Sĩ là người khí lượng uyên thâm, phong thần nhàn nhã. Tuổi còn để chỏm, Ngài đã mến mộ cửa Không. Sau Ngài đến tham vấn Thiền sư Tiêu Dao ở Tinh xá Phước Đường. Ngài lãnh hội được yếu chỉ, dốc lòng thờ làm thầy. Hằng ngày, Ngài lấy Thiền duyệt làm vui, không lấy công danh làm sở thích. Ngài lui về ở phong ấp Tịnh Bang, đổi tên là làng Vạn Niên. Hòa ánh sáng lẫn với thế tục (hòa quang đồng trần), Ngài cùng mọi người chưa từng chống trái, nên hay làm hưng thạnh hạt giống chánh pháp, dạy dỗ được hàng sơ cơ, người đến hỏi han, Ngài đều chỉ dạy cương yếu, khiến họ trụ tâm, tánh Ngài tùy phương tiện khi hiện khi ẩn, trọn không có danh thật.

Vua Thánh Tông nghe danh Ngài đã lâu, bèn sai sứ mời vào cửa khuyết. Ngài đối đáp với Vua đều là những lời siêu thoát thế tục. Nhân đó, vua Thánh Tông tôn Ngài làm Sư huynh, tặng hiệu là Tuệ Trung Thượng Sĩ. Ngài vào cung thăm, Thái hậu mở tiệc thịnh soạn tiếp đãi. Dự tiệc, Ngài gặp thịt cứ ăn. Thái hậu lấy làm lạ hỏi: “Anh tu thiền mà ăn thịt, đâu được thành Phật?”

Thượng Sĩ cười đáp: “Phật là Phật, anh là anh. Anh chẳng cần làm Phật, Phật chẳng cần làm anh, không nghe Cổ đức nói: ‘Văn-thù là Văn-thù, Giải Thoát là Giải Thoát’ đó sao?”

Thái hậu qua đời, nhà Vua làm lễ trai tăng ở cung cấm. Nhân lễ khai đường, Vua thỉnh những vị danh đức các nơi, theo thứ lớp mỗi vị thuật bài kệ ngắn để trình kiến giải. Kết quả thảy đều quến sình ủng nước, chưa có chỗ tỏ ngộ. Nhà Vua lấy quyển tập đưa Thượng Sĩ. Thượng Sĩ cầm viết xóa một mạch, rồi làm bài tụng tự thuật rằng:

(1)

Kiến giải trình kiến giải
Tợ ấn mắt làm quái
Ấn mắt làm quái rồi
Rõ ràng thường tự tại.

Nhà Vua đọc xong, liền phê tiếp theo sau:

Rõ ràng thường tự tại
Cũng ấn mắt làm quái
Thấy quái chẳng thấy quái
Quái ấy ắt tự hoại.

Thượng Sĩ đọc, thầm nhận đó.

Sau Vua kém vui, Thượng Sĩ viết thơ hỏi thăm bệnh. Vua đọc thơ, trả lời bằng bài kệ:

Hơi nóng hừng hực toát mồ hôi
Chiếc khố mẹ sanh chưa thấm ướt.

Thượng Sĩ đọc kệ than thở giây lâu. Đến khi Vua bệnh nặng, Thượng Sĩ khập khễnh về kinh thăm, nhưng đến nơi Vua đã qui tiên rồi.

Riêng tôi (Sơ tổ Trúc Lâm) nay cũng nhờ ơn Thượng Sĩ dạy dỗ. Lúc tôi chưa xuất gia, gặp tuần tang của Nguyên Thánh mẫu hậu, nhân thỉnh Thượng Sĩ. Thượng Sĩ trao cho tôi hai quyển lục Tuyết Đậu và Dã Hiên. Tôi thấy Ngài thế tục quá sanh nghi ngờ, bèn khởi tâm trẻ con trộm hỏi rằng:

  • Chúng sanh do nghiệp uống rượu ăn thịt, làm sao thoát khỏi tội báo?

Thượng Sĩ bảo cho biết rõ ràng:

  • Giả sử có người đứng xây lưng lại, chợt có Vua đi qua sau lưng, người kia thình lình hoặc cầm vật gì ném trúng Vua, người ấy có sợ không? Vua có giận chăng? Như thế nên biết, hai việc này không liên hệ gì nhau.

Thượng Sĩ liền đọc hai bài kệ để dạy:

(13)

Vô thường các pháp hạnh
Tâm nghi tội liền sanh
Xưa nay không một vật
Chẳng giống cũng chẳng mầm.

(14)

Ngày ngày khi đối cảnh
Cảnh cảnh từ tâm sanh.
Tâm cảnh xưa nay không
Chốn chốn ba-la-mật.

Tôi lãnh hội ý chỉ hai bài tụng, giây lâu hỏi: “Tuy nhiên như thế, vấn đề tội phước đâu dè đã rõ ràng.”

Thượng Sĩ lại dùng kệ để giải rõ:

(15)

Ăn rau cùng ăn thịt
Chúng sanh mỗi sở thuộc.
Xuân về trăm cỏ sanh
Chỗ nào thấy tội phước?

Tôi thưa: “Chỉ như gìn giữ giới hạnh trong sạch, không chút xao lãng lại thế nào?”

Thượng Sĩ cười không đáp. Tôi lại thỉnh cầu. Ngài lại nói hai bài kệ (16 và 17) để ấn định đó:

(16)
Giữ giới cùng nhẫn nhục
Chuốc tội chẳng chuốc phước.
Muốn biết không tội phước
Chẳng giữ giới nhẫn nhục.

(17)

Như khi người leo cây
Trong an tự cầu nguy.
Như người không leo cây
Trăng gió có làm gì?

Ngài lại dặn nhỏ tôi: “Chớ bảo cho người không ra gì biết.” Tôi biết môn phong của Thượng Sĩ cao vót. Một hôm tôi xin hỏi Ngài về “bổn phận tông chỉ”, Thượng Sĩ đáp: “Soi sáng lại chính mình là phận sự gốc, chẳng từ nơi khác mà được.” (Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc.) Nghe xong, tôi thông suốt được đường vào, bèn vén áo thờ Ngài làm thầy.

Ôi! Tinh thần sắc vận của Thượng Sĩ thật trang nghiêm, cử chỉ thẳng thắn uy đức, lời bàn huyền nói diệu, dường gió mát trăng thanh, những hàng thạc đức đương thời đều bảo Thượng Sĩ tin sâu hiểu rõ, thuận hạnh nghịch hạnh thật khó lường được.

Sau Ngài bệnh ở Dưỡng Chân Trang, chẳng ở trong phòng thất. Kê một chiếc giường gỗ ở giữa nhà trống, Ngài nằm theo thế kiết tường, nhắm mắt mà tịch. Các người hầu và thê thiếp trong nhà khóc rống lên. Thượng Sĩ mở mắt ngồi dậy, đòi nước súc miệng rửa tay, rồi quở nhẹ rằng: “Sống chết là lẽ thường, đâu nên buồn thảm luyến tiếc, làm nhiễu động Chân tánh ta.” Nói xong, Ngài an nhiên thị tịch, thọ sáu mươi hai tuổi. Bấy giờ là ngày mùng một tháng tư năm Tân Mẹo, nhằm niên hiệu Trùng Hưng thứ 7 (1291) đời vua Trần Nhân Tông.

Tôi đích thân đến dinh của Ngài, có làm bài tụng “Thắp Hương Đền Ơn”, không chép lại đây.

Sau khi tôi được truyền nối pháp, mỗi khi khai đường thuyết pháp, tự nhớ đến tứ trọng ân, nhất là ân pháp nhũ khó đền. Tôi sai họa sĩ vẽ chân dung của Ngài, để được cúng dường, tự thuật bài tụng để tán thán. Đề rằng:

Lão cổ chùy này
Người khó diễn tả
Thủ xích Lương Hoàng
Cây dùi Tần Đế.
Hay vuông hay tròn
Hay dày hay mỏng
Biển pháp một mắt
Rừng thiền ba góc.

Các hàng môn đệ tán tụng:

  • Đệ tử nối pháp Trúc Lâm Đại Đầu-đà tán:

Trông đó càng cao
Dùi đó càng cứng.
Bỗng dưng ở sau
Nhìn đó ở trước.
Đây mới gọi là
Thiền của Thượng Sĩ.

  • Trúc Lâm đàn cháu nối pháp đệ tử Pháp Loa cúi đầu kính cẩn tán:

Á!
Gang ròng nhồi lại
Sắt sống đúc thành.
Thước trời tấc đất
Gió mát trăng thanh.
Chao!

  • Trúc Lâm đàn cháu nối pháp đệ tử Bảo Phác cúi đầu kính cẩn tán:

Linh Sơn chính tai nghe
Nhai tủy lão Hồ trọc
No rồi mớm cháu con
Chồn cáo hóa sư tử.
Gặp trường nói nín nhàn
Trăng tẩm nước sông thu
Muốn biết toàn vị mặn
Trả con chuột kia đi.

  • Đệ tử Tông Cảnh cúi đầu kính cẩn tán:

Thiền thầy ta con quì một chân
Bờ dốc buông tay tâm như như.
Trên đầu cột phướn nấu quả chùy
Bỗng nhiên cỡi ngược lừa ba cẳng.
Năm trước tặng ta trâu đất rống
Ngày nay ngựa gỗ hí trả Ngài.
Trâu sắt đầu nhỏ sừng co quắp
Đêm về húc vỡ núi Tu-di.
Thảnh thơi nhảy thẳng hang rồng dữ
Cướp được san-hô quí một cành
Thần biển nâng lên sáng trời đất
Na-tra nổi giận uy đức mờ.
Ha! Ha! Ha! Cũng rất kỳ
Dương Xuân Bạch Tuyết hòa rất ít
Một mức sau cùng hội thế nào?
Án tố rô, tố rô, tất rị, tất rị.

  • Đệ tử cư sĩ hiệu Thiên Nhiên, Vương Như Pháp cúi đầu kính cẩn tán:

Thật kỳ đặc! Thật kỳ đặc!
Trâu đất rống trăng không kẹt mắc
Viết ra sáu bảy trí tuệ môn
Chớ nói núi bút cùng rừng mực.

  • Trúc Lâm Thị giả đệ tử Pháp Cổ cúi đầu kính cẩn tán:

Xưa Quốc sư, nay Thượng Sĩ
Cùng một trượng phu chia đây kia.
Tác giả Tỳ-da đứng dưới gió
Lão ngốc Bàng công một trái cà.
Giáo giáp ba huyền phá lao quan
Trên chớp lông mày thôi nghĩ suy.
Màn mắt che mất núi Tu-di
Trong miệng nuốt ngang nước biển cả.
Dưới hàm rồng dữ đục ly châu
Phóng sợi tơ sen cột cọp lớn.
Pháp vương vương pháp mặc tung hoành
Nắm tay chung đường quên mi tớ.
Rảnh rang đùa gẩy đàn không dây
Làng múa thôn ca câu: La lý!
Lý la la! La lý lý!
Chẳng thuộc cung thương giác vũ rành
Thầy tôi nối tiếng ông Như Điệu
Phong thái khác thường lại đẹp thêm.
Tử Kỳ mất rồi tri âm ít
Bao điều cao rộng ở nơi nao?
Người sau tiếp vang nối lời rỗng
Nhận được như xưa lại chẳng phải
Ôi!

  • Trúc Lâm Thị giả Tuệ Nghiêm kính cẩn tán:

Lò hồng điểm tuyết
Tháng chạp hoa sen.
Chẳng bút khá viết
Chẳng lời khá phô.
Chọi đá nháng lửa
Điện xẹt chớp sáng.
Chẳng tìm khá tìm
Chẳng chốn khá chốn.
Đó là Thượng Sĩ
Khó lường cơ Ngài
Hòa cùng ánh sáng
Đồng với tục tăng.
Tỳ-da nắm tay
Hoành Dương kết mày
Vòng vàng lùm gai
Nuốt đó thấu đó.
Con trâu con khỉ
Đánh vào rừng Thiền
Vo tròn cọp dữ
Quỉ thần vườn pháp
Miệng trống rao truyền
Xuân vào cành vàng
Cổ chùy! Cổ chùy!

HAI BÀI THƠ THIỀN THƯỢNG SĨ

Cây tùng ở đáy khe (2)

Thương cội tùng xanh tuổi bấy niên,
Đừng than thế mọc lệch cùng xiên;
Cột rường chưa dụng người thôi lạ,
Cỏ dại hoa hèn trước mắt chen.

澗底松
最 愛 青 松 種 幾 年
休 嗟 地 勢 所 居 偏
棟 樑 未 用 人 休 怪
野 草 閑 花 滿 目 前

Giản để tùng

Tối ái thanh tùng chủng kỉ niên,
Hưu ta địa thế sở cư thiên;
Đống lương vị dụng nhân hưu quái,
Dã thảo nhàn hoa mãn mục tiền.

Nuôi dưỡng chân tính (3)

Thân xác hao gầy há đáng than,
Phải đâu hạc cả lánh gà đàn;
Nghìn xanh muôn thuý mờ non nước,
Góc biển lưng trời: nơi dưỡng chân.

養真養真
衰 颯 形 骸 豈 足 云
非 關 老 鶴 避 雞 群
千 青 萬 翠 迷 鄉 國
海 角 天 頭 是 養 真

Dưỡng chân

Suy táp hình hài khởi túc vân,
Phi quan lão hạc tị kê quần;
Thiên thanh vạn thuý mê hương quốc,
Hải giác thiên đầu thị dưỡng chân.

SƯU TẦM THƠ THIỀN THƯỢNG SĨ

Hành trạng Thượng Sĩ Trần Tung 1230 – 1291 cùng lời khai ngộ Nhân Tông đặc biệt nổi tiếng của Thượng Sĩ đã bền vững với thời gian do chính đức Nhân Tông xác nhận, khảo đính, thiền sư Pháp Loa biên tập, thiền sư Huệ Nguyên khắc in lại năm 1763 với tám bài thơ thiền của Thượng Sĩ (với số thứ tự 1, 2, 3, 13, 14, 15, 16, 17 mà tôi gượng chép thêm để bạn tiện đọc).

Thơ Thiền Thượng Sĩ có chín bài dưới đây (số thứ tự từ 4 đến 12) mời mọi người cùng thưởng lãm, chia sẻ. Đây là những áng thơ thiền cực kỳ sâu sắc và thông tuệ. Kính mong thức giả gần xa bổ túc nguyên bản, dị bản, bình giảng, góp ý để giúp hiệu đính và hoàn thiện .

(4)

Tử sinh đừng hỏi, kẻo phí lời.
Thời tiết “nhân duyên” vốn tại trời.
Mây núi nào không bay cạnh núi,
Sóng nào chẳng ở chốn xa khơi.
Hoa nở tháng Ba, luôn vẫn vậy.
Gà gáy canh năm đánh thức người.
Cái đạo, cái tâm ai thấu hiểu,
Mới biết phù du sống ở đời.

(5)

Chẳng kém Tứ Minh về cái ngông,
Không cầu Trời Phật thưởng khen công.
Giác ngộ nhiều khi chưa mà đã,
Sự đời lắm lúc có mà không.
Tiểu nhân tìm thuốc mong bất tử,
Người giỏi ung dung chẳng bận lòng.
Đi câu mà chẳng mang câu, lưới,
Thậm chí chẳng thèm ngó xuống sông.

(6)

Thế gian ưa dối, không ưa thật.
Nhưng thật dối gì, đều bụi đất.
Muốn sang tới được bờ bên kia,
Hãy hỏi trẻ con chơi trước mặt.

(7)

Xuân hết đến hè, năm tháng qua.
Rất nhanh, người trẻ hoá thành già.
Sầu muộn luôn theo cùng tuổi tác.
Sang giàu rút cục chỉ phù hoa.
Bể “khổ” là đời, thường vẫn vậy,
Sông “yêu” mang lại lắm phiền hà.
Cứ mãi buông mình theo dục vọng,
Có ngày tai hoạ đến tìm ta.

(8)

Phật ở trong lòng mỗi chúng ta.
Bốn phương thân pháp chỉ bao la.
Trong veo bể Phật, đêm thu lắng.
Trời đêm đơn độc mảnh trăng tà.

(9)

Ở đời, phúc họa đến song song.
Nơi này thanh tịch sống thong dong.
Sáng ngắm chim bay trên sóng biển.
Chiều xem mây khói phủ kín đồng.
Thẹn đời điên loạn, thân nhơ bẩn.
Mừng nước chưa suy, sạch tấm lòng.
Đêm đêm mơ thấy quan âm Phật.
Sóng thu vừa cạn lại vừa trong.

(10)

Cái tâm không tướng, chẳng hình hài.
Thấy nó mắt thường dễ mấy ai?
Muốn biết cái tâm cho thật rõ,
Từ chiều cứ ngủ đến canh hai.

(11)

Thanh thản ngồi yên chính giữa nhà,
Nhìn Côn Luân khói gợn xa xa.
Lúc mệt, thảnh thơi, tâm tự tắt,
Không thiền, không Phật, chỉ mình ta.

(12)

Giữa không và có chẳng bao xa.
Xưa nay sống chết – một thôi mà.
Hoa nở năm nay – hoa năm ngoái.
Trăng sáng bây giờ – trăng tối qua.
Thấm thoắt Ba Sinh như gió thoảng.
Tuần hoàn Chín Cõi kiếp phù hoa.
Vậy sống thế nào là tốt nhất?
Ma ha bát nhã, tát – bà – ha?

Hiệu đính bổ sung

(1) Thơ Thiền Tuệ Trung Thượng Sĩ chuyên đề của Hoàng Kim đăng ngày 21 tháng 7 năm 2013 trên trang DẠY VÀ HỌC http://dayvahoc.blogspot.com/2013/07/tho-thien-tue-trung-thuong-si.html ; Hiệu đính bổ sung đăng lại ngày 4 tháng 6 năm 2017

(2) Tuệ Trung Thượng Sĩ là anh ruột Trần Quốc Tuấn?. Mục từ Tuệ Trung Thượng Sĩ Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia tiếng Việt dẫn giải: Theo Trần triều thế phả hành trạng thì Thiên Đạo Quốc mẫu Trần Thị Nguyệt là người đã sinh ra Trần Quốc Tuấn. Bà liệu có phải cũng là người sinh ra Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Tung? Theo ông Lê Mạnh Thát thì: “Tên của Hưng Ninh Vương Trần Tung cũng như Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cùng các con của Trần Quốc Tuấn là Quốc Nghiễn và Quốc Hiệu (Hiện) đều dùng bộ sơn. Cách đặt dùng bộ như thế thường xảy ra trong những gia đình có học ngày xưa[4]. Trần Tung nếu là anh em sinh đôi với Trần Quốc Tuấn thì chắc chắn trong sách Thượng sĩ hành trạng vua Trần Nhân Tông đã ghi điều này. Sách Thượng sĩ hành trạng chỉ viết: “Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Tung là con thứ nhất (đệ nhất tử) của Khâm Minh Từ Thiện Vương (Trần Liễu)“, chứ không ghi là con trưởng của vị Đại vương này. Điều này cho thấy Trần Tung và Trần Quốc Tuấn rất có khả năng đều là do bà Trần Thị Nguyệt sinh ra vì Trần Liễu lấy bà Trần Thị Nguyệt trước, sau đó mới lấy công chúa Thuận Thiên; nhưng vì công chúa Thuận Thiên là con vua nên dù con vua có là thiếp hoặc vợ hai thì cũng được đưa lên hàng chính thất (vợ cả) theo luật lệ của triều đình xưa. Vì thế, nếu Trần Tung do công chúa Thuận Thiên sinh ra thì ông phải được gọi là trưởng tử (con trưởng – trưởng nam) mới đúng, chứ không phải chỉ ghi là “con thứ nhất (đệ nhất tử) của Khâm Minh Từ Thiện Vương (Trần Liễu) như trong Tuệ Trung Thượng Sĩ hành trạng đã viết.


(3) Kiệt tác thơ thiền Tuệ Trung Thượng Sĩ: ‘CÂY TÙNG Ở ĐÁY KHE. Thương cội tùng xanh tuổi bấy niên, Đừng than thế mọc lệch cùng xiên; Cột rường chưa dụng người thôi lạ, Cỏ dại hoa hèn trước mắt chen‘. Sau này, giáo sư Tôn Thất Trình trích dẫn hình ảnh trong blog The Gift và Hoàng Kim kể lại trong bàiChiếc bàn của thầy Tôn Thất Trình”. Kẻ sĩ trong thiên hạ đời nào cũng có. Họ biết DƯỠNG CHÂN, ‘Nuôi dưỡng chân tính: Thân xác hao gầy há đáng than, Phải đâu hạc cả lánh gà đàn; Nghìn xanh muôn thuý mờ non nước, Góc biển lưng trời: nơi dưỡng chân‘. Người đời sau có bài họa vần diễn đạt ý ấy là bài ‘Hồi sinh’ thơ Trần Minh Khải Trở Về với đất với bùn, Với cây với lá với trùn với phân. Lặng nghe tiếng hát thì thầm, Trong niềm cô tịch có mầm Hồi Sinh “.


Xem thêm
Trang thơ Tuệ Trung thượng sĩ – 慧中上士, Trần Tung (50 bài thơ)

Tài liệu tham khảo chính:
(*) Số thứ tự bài (1)-(17)Tuệ Trung Thượng Sĩ là do Hoàng Kim tự thêm vào để giúp sự tra cứu.
Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục
Những dòng thơ đời của Tuệ Trung Thượng sĩ
Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 1, chương XI: Tuệ Trung Thượng Sĩ (Nguyễn Lang)
Lên Yên Tử sưu tầm thơ đức Nhân Tông (Hoàng Kim)
Thơ Thiền góp nhặt (by truonghatsts)

 

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Lê Quý Đôn danh sĩ tinh hoa


LÊ QUÝ ĐÔN DANH SĨ TINH HOA

Hoàng Kim

“Dẫu có bạc vàng trăm vạn lượng. Không bằng kinh sử một vài pho”. Lê Quý Đôn là danh sĩ tinh hoa, quan đại thần thời Lê trung hưng, nhà bác học lớn, nhà thơ của Việt Nam. Lê Quý Đôn qua bài thơ ‘Gia Cát Lượng’ đã thể hiên tâm sự và chí hướng: “Long cương nằm khểnh hát nghêu ngao, Vì cảm ơn sâu biết tính sao! Hai biểu ra quân lòng đã tỏ, Tám đồ bày trận giá càng cao. Tam phân gặp buổi đương tranh vạc, Ngũ trượng ngờ đâu bỗng tối sao. Miếu cũ ngày nay qua tới đó, Tấc lòng khởi kính biết là bao! ” (Nguồn: Văn đàn bảo giám, NXB Văn học, 2004). Bài viết Lê Quý Đôn danh sĩ tinh hoa cùng với bài viết ‘Lê Quý Đôn nhà bác học lớn’ và ‘Lê Quý Đôn Quế Đường Thi Tập’ là những tìm tòi về con người và sự nghiệp của Lê Quý Đôn cùng những bài học lịch sử.

Các nhà sử học, nhà văn học Việt Nam thường đồng tình với sự đánh giá của nhà sử học Phan Huy Chú lừng lẫy bách khoa thư : “Ông (Lê Quý Đôn) có tư chất khác đời, thông minh hơn người mà (vẫn) giữ tính nết thuần hậu, lại chăm học không biết mỏi. Tuy đỗ đạt vinh hiển, tay vẫn không rời quyển sách. Bình sinh (ông) làm sách rất nhiều. Bàn về kinh sử thì sâu sắc, rộng rãi, mà nói về điển cố thì đầy đủ rõ ràng. Cái sở trường của ông vượt hơn cả, nổi tiếng trên đời. Văn thơ ông làm ra gọi là Quế đường tập có mấy quyển” (trong “Nhân vật chí”) [34]. “Ông là người học vấn rộng khắp, đặt bút thành văn. Cốt cách thơ trong sáng. Lời văn hồn nhiên…, không cần suy nghĩ mà trôi chảy dồi dào như sông dài biển cả, không chỗ nào không đạt tới, thật là phong cách đại gia”.  Nhiều nhà nghiên cứu đều tâm đắc nhận định ” (Lê Quý Đôn là ) nhà bác học ham đọc, ham biết và ham viết” , “một nhà bác học có kiến thức hết sức uyên bác và đa dạng”.

Lê Quý Đôn không chỉ là nhà bác học lớn nhà thơ lớn mà trước hết trên hết ông còn là một danh sĩ tinh hoa, một đại quan rất được triều đình Lê Trịnh và người đương thời kính trọng. Lê Quý Đôn con người và sự nghiệp ấy không chỉ là trước tác mà còn là triều đại. Ông cho tới lúc mất còn được truy tặng hàm Công bộ Thượng thư tước Dĩnh Quận công.

Lê Quý Đôn kính trọng Gia Các Lượng xưa cúc cung tận tuy cho triều đại thời mình. Việc Lê Quý Đôn sau khi đi sứ về nhất định từ quan lui về viết sách đã thể hiện tầm nhìn và ngôn chí của ông. Bài  viết ‘Gia Cát Lượng’ soi thấu nhiều điều sâu sắc của một danh sĩ tinh hoa.

Giáo sư Văn Tân ở Viện Sử học đánh giá thật xác đáng: “Lê Quý Đôn không chỉ là nhà bác học và nhà thơ tài danh, ông còn là một nhà trí thức muốn có những cải cách trong xã hội Việt Nam; một nhà chính trị quan tâm đến nhân dân, gần gũi nhân dân, và hiểu những mong muốn của nhân dân; một danh sĩ tinh hoa cấp tiến có tư tưởng tự tôn và tự hào dân tộc Việt Nam“.

Chuyên luận ‘Lê Quý Đôn với Phật Giáo‘ của Thích Nhuận Thịnh cho thấy “Qua nghiên cứu thiên Thiền dật của Lê Quý Đôn, điều chúng ta có thể khẳng định ngay rằng, ông là một Nho sĩ có thiện cảm với Phật giáo“.

Thời thế và cuộc đời Lê Quý Đôn sáng tỏ góc khuất trong sự nghiệp của ông.

còn nữa…

Mời bạn xem Chào ngày mới 2 tháng 6, Ngày này năm xưa …Năm  1784, ngày mất  Lê Quý Đôn, nhà bác học của Việt Nam đời hậu Lê, thọ 58 tuổi  Xem tiếp …

Lich Vạn Niên ngày 2 tháng 6 năm 2017

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích

Welcome to Vietnam
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Hồ Xuân Hương kiệt tác thơ Hán Nôm


HỒ XUÂN HƯƠNG KIỆT TÁC THƠ HÁN NÔM
Hoàng Kim
Đĩa cổ Hoa Mai của Nguyễn Du lưu lạc trong nhân gian gợi mở chủ đề Hồ Xuân Hương kiệt tác thơ Hán Nôm. ” Ai viết cho ai những câu thơ lưu lạc. Giữa trần gian thầm lặng tháng năm dài? “Thập tải luân giao cầu cổ kiếm. Nhất sinh đê thủ bái hoa mai”. Tập thơ LƯU HƯƠNG KÝ của Hồ Xuân Hương xuất hiện vào năm 1814, là văn bản cổ nhất và đáng tin nhất liên quan đến thơ Hồ Xuân Hương. Tập thơ này mới được phát hiện vào năm 1963 gồm Bài Tựa của Tốn Phong, người Nghệ An viết năm 1814 và 52 bài thơ của Hồ Xuân Hương với 24 bài chữ Hán và 28 bài chữ Nôm. Trong bài tựa, Tốn Phong tự nhận mình là bạn của Hồ Xuân Hương, tự Cổ Nguyệt Đường, con cháu họ Hồ ở Quỳnh Lưu, Nghệ An. Chính Hồ Xuân Hương đã nhờ ông viết lời tựa ấy: “Đây là tất cả thơ văn trong đời tôi từ trước đến nay, nhờ anh làm cho bài tựa.” (Chữ in đậm là Hoàng Kim nhấn mạnh).

Trang thơ Hồ Xuân Hương 154 bài trên Thi Viện có nhiều bài rất hay:“Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ” là kiệt tác thơ tình yêu của Hồ  Xuân Hương “Độ Hoa Phong” là cảm tác Hạ Long tuyệt bút. Bài thơ “Miếu Sầm thái thú” cao vọi tầm tư tưởng nhân hậu và khí phách đảm lược của một kỳ tài, thơ tôn vinh phụ nữ và giải phóng con người, “Cảm cựu kiêm trình Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu” tri âm tri kỹ nghĩa tình bền vững, “thơ Nôm truyền tụng” thanh tục đời thường, như có như không.

Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ”  là bài thơ ‘Tỏ ý’ của Hồ Xuân Hương đối với Nguyễn Du . Bài thơ tình xuân thiết tha, lời thơ là lời hát nói có nhạc bên trong nên câu thơ hay hiếm thấy. Bài thơ “Tỏ ý” này rút trong tập thơ “Lưu Hương Ký” thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương. Con người tác giả và tác phẩm này là nguyên mẫu người và thơ để Nguyễn Du đưa nhân vật, sự kiện và thời thế vào trong kiệt tác Truyện Kiều. Hồ Xuân Hương với kiệt tác thơ chữ Hán “Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ” là cây hồ cầm tuyệt diệu hát nói ca trù Kiều gẩy đàn cho Kim Trọng nghe “Trong như tiếng hạc bay qua. Đục như nước suối vừa sa nửa vời. Tiếng khoan như gió thoảng ngoài. Tiếu mau sầm sập như trời đổ mưa. Ngọn đèn khi tỏ khi mờ. Khiến người ngồi đấy cũng ngơ ngẫn sầu. Khi tựa gối khi cúi đầu. Khi vò chín khúc , khi chau đôi mày” (Kiều).

Truyện Thúy Kiều soi thấu những góc khuất của Lưu Hương Ký và ngược lại. “Chút riêng chọn đá thử vàng. Biết đâu mà gửi can tràng vào đâu? Còn như vào trước ra sau. Ai cho kén chọn vàng thau tại mình? Từ rằng: Lời nói hữu tình. Khiến người lại nhớ câu Bình Nguyên Quân. Lại đây xem lại cho gần. Phỏng tin được một vài phần hay không? Thưa rằng: Lượng cả bao dong. Tấn Dương được thấy mây rồng có phen …”.

Những câu thơ lưu lạc  của Mai Sơn Phủ Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc viết cho Hồ Phi Mai Hồ Xuân Hươn“Thập tải luân giao cầu cổ kiếm. Nhất sinh đê thủ bái hoa mai”. Mười năm lưu lạc tìm gươm báu  Đời ta chỉ cúi lạy hoa mai. “Nghêu ngao vui thú yên hà. Mai là bạn cũ, hạc là người quen”  giúp ta thấu hiểu.

Nguyễn Du với Hồ Xuân Hương là tri âm tri kỷ, là tiếng nói yêu thương khát vọng của con người. Tôi tập dịch bài thơ của Hồ Xuân Hương gửi Mai Sơn Phủ mà thấm thía sâu sắc câu chuyện tình cảm động bền vững với thời gian.

TỎ Ý

Hồ Xuân Hương
tặng  Mai Sơn Phủ (Nguyễn Du)

(Bản dịch của Hoàng Kim)

Hoa rung rinh,
Cây rung rinh,
Giấc mộng cô đơn nhớ hương tình,
Đêm xuân bao cảm khái.

Hươu nơi nao
Nhạn nơi nao
Mình ước trong nhau ban mai nào
Lòng em thương nhớ ai thấu sao!

Sông mênh mông
Nước dạt dào
Lòng hai chúng mình đều ao ước
Nước mắt thầm rơi mặn chát.

Thơ thương thương,
Lòng vương vương,
Ấm lạnh lòng ai thấu tỏ tường,
Bút người tả xiết chăng?

Mây lang thang
Trăng mênh mang
Trăng gió xui ai luống đoạn tràng
Đâu là gác Đằng Vương ?
Mây vương vương
Nước sương sương
Mây nước chung nhau chỉ một đường
Dặm trường cách trở  thương càng thương.

Ngày thênh thênh,
Đêm thênh thênh,
Đêm ngày khắc khoải nhớ thương anh,
Người ơi đừng lỡ hẹn sai tình.

Gió bay bay
Mưa bay bay
Mưa gió giục em viết thơ này
Bút xuân gửi đến người thương nhớ

Anh đồng lòng
Em đồng lòng
Mộng hồn tương luyến liễu hoa âm (*)
Thơ cùng ngâm
Rượu và trăng
Thăm thẳm buồn ly biệt
Vầng trăng chia hai nữa
Cung đàn ly khúc oán tri âm (**),
Thôi đành bặt tiếng hồ cầm
Núi cao biển sâu đằng đẳng
Xin chớ tủi buồn mà than cổ kim.

Chàng hẹn gì
Ta hẹn gì
Hai ta đều muộn, nói năng chi
Trà mà chi
Bút mà chi
Lời và chữ còn đó
Ai là kẻ tình si
Hiểu nhau trong dạ khó khăn gì
Hãy nên trao gửi mối duyên đi
Lòng son ai nỡ phụ.


Kiều – Nguyễn Du
Ca trù hát nói Việt Nam

Non xanh xanh

Nước xanh xanh
Sớm tình tình sớm, trưa tình tình trưa
Áy ai tháng đợi năm chờ
Mà người ngày ấy bây giờ là đây…

Hồng Hồng Tuyết Tuyết ca trù hát nói tinh hoa cổ văn chương Việt) NS Quách Thị Hồ

THƯƠNG KIỀU NGUYỄN DU

Ôi
tâm phúc tương tri
Bốn biển không nhà
Kiều Nguyễn biệt ly
Bởi Nguyễn thương Kiều
Sợ theo thêm bận.
Thương Kiều Nguyễn Du
Sao chẳng đi cùng
Để việc trăm năm
Nghìn năm di hận?
Truyện Kiều Nguyễn Du
Bài học muôn đời.

Hoàng Kim

Nguyên tác:




鹿








































Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ

Hoa phiêu phiêu,
Mộc tiêu tiêu,
Ngã mộng hương tình các tịch liêu,
Khả cảm thị xuân tiêu.

Lộc ao ao,
Nhạn ngao ngao,
Hoan thảo tương kỳ tại nhất triêu,
Bất tận ngã tâm miêu.

Giang bát bát,
Thủy hoạt hoạt,
Ngã tứ quân hoài tương khế khoát,
Lệ ngân chiêm hạ cát.

Thi tiết tiết,
Tâm thiết thiết,
Nồng đạm thốn tình tu lưỡng đạt,
Dã bằng quân bút phát.

Phong ngang ngang,
Nguyệt mang mang,
Phong nguyệt linh không khách đoạn tràng,
Hà xứ thị Đằng Vương?
Vân thương thương,
Thuỷ ương ương,
Vân thuỷ na kham vọng nhất trường,
Nhất trường dao vọng xúc hoài mang.

Nhật kỳ kỳ,
Dạ trì trì,
Nhật dạ thiên hoài lữ tứ bi,
Tứ bi ưng mạc ngộ giai kỳ.

Phong phi phi,
Vũ phi phi,
Phong vũ tần thôi thái bút huy,
Bút huy đô thị phó tình nhi.

Quân hữu tâm,
Ngã hữu tâm,
Mộng hồn tương luyến liễu hoa âm.
Thi đồng ngâm,
Nguyệt đồng châm.
Nhất tự sầu phân ly,
Hà nhân noãn bán khâm.
Mạc đàn ly khúc oán tri âm,
Trực tu khí trí thử dao cầm.
Cao sơn lưu thuỷ vãn tương tầm,
Ưng bất hận ngâm thán cổ câm.

Quân hà kì,
Ngã hà kì,
Lữ đình lai đắc lưỡng thê trì.
Dánh tần phi,
Bút tần huy,
Nhất trường đô bút thiệt,
Hà xứ thị tình nhi?
Hảo tư tâm thượng các tương tri,
Dã ưng giao thác thử duyên đề,
Phương tâm thệ bất phụ giai kỳ.

Bài từ theo điệu Ức Giang Nam.

Kể ý mình và trình bạn là Mai Sơn Phủ

Hoa xiêu xiêu
Cây xiêu xiêu
Giấc mộng tình quê thảy tịch liêu
Đêm xuân cảm khái nhiều.

Hươu ao ao
Nhạn ngao ngao
Vui sướng hẹn nhau một sớm nào
Tả hết được tình sao!

Sông bát ngát
Nước ào ạt
Ý thiếp lòng chàng cũng vu khoát
Lệ rơi thêm mặn chát.

Thơ da diết
Lòng thê thiết
Đậm nhạt tấc lòng ai thấu hết
Liệu bút chàng tả xiết?

Mây lang thang
Trăng mênh mang
Trăng gió xui ai luống đoạn tràng
Đâu là gác Đằng Vương?
Mây tơ vương
Nước như sương
Mây nước trôi đâu chỉ một đường
Một đường xa khuất rộn lòng thương

Ngày chậm rì
Đêm chậm rì
Sáng tối chạnh buồn lữ khách si
Nhớ thương đừng lỡ hẹn, sai kì.

Mưa trôi đi
Gió trôi đi
Mưa gió giục hoài cất bút thi (thơ)
Viết thi gửi tới khách “tình si”

Chàng có tâm
Thiếp có tâm
Mồng hồn lưu luyến bóng hoa râm
Thơ cùng ngâm
Rượu cùng trăng
Tự lúc buồn chia biệt
Ai người ấm nửa chăng?
Chớ đàn li khúc oán tri âm,
Đành xem như hết tiếng dao cầm
Hẹn nhau nơi non nước muộn mằn!
Chớ buồn mà than thở cổ câm (kim).

Chàng hẹn gì
Ta hẹn gì
Hai ta đều muộn, nói mà chi
Trà mà chi
Bút mà chi
Cũng là thiên lí cả
Ai là kẻ tình nhi
Hiểu nhau trong dạ khó khăn gì
Hãy nên trao gửi mối duyên đi
Lòng son ai nỡ phụ giai kì.

(Bản dịch của Đào Thái Tôn)

Tham khảo: Bản sao từ bản chép tay của Nguyễn Văn Hoàn, do Nguyễn Xuân Diện cung cấp

Bài thơ Vịnh Hà Long của Hồ Xuân Hương là một tuyệt phẩm. Di sản văn hóa thế giới Hạ Long cho đến nay có lẽ chưa có tác phẩm văn chương nào viết về vịnh Hạ Long của Việt Nam và thế giới ngời sáng hơn bài thơ này:

VỊNH HẠ LONG

Hồ Xuân Hương

Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong.
Đá dựng bờ son mọc giữa dòng.
Dòng nước lần theo chân núi chuyển,
Mình lèn nghiêng để lối duyềnh thông.
Cá rồng lẩn nấp hơi thu nhạt,
Âu lộ cùng bay bóng xế hồng.
Băm sáu phòng mây cùng động ngọc,
Đâu nào là cái Thuỷ Tinh cung?(Bản dịch thơ của Hoàng Xuân Hãn)








Độ Hoa Phong

Phiến phàm vô cấp độ Hoa Phong,
Tiễu bích đan nhai xuất thủy trung.
Thủy thế mỗi tùy sơn diện chuyển,
Sơn hình tà kháo thủy môn thông.
Ngư long tạp xử thu yên bạc,
Âu lộ tề phi nhật chiếu hồng.
Ngọc động vân phòng tam bách lục
Bất tri thùy thị Thủy Tinh cung.

Dịch nghĩa

Lá buồm không vội vượt qua vũng Hoa Phong,
Vách đá đứng, sườn núi đỏ, giữa nước chỏi dựng lên.
Thế nước tuỳ chỗ theo mặt núi mà biến chuyển.
Hình núi nghiêng mình, nép tựa cửa lạch để nước thông qua.
Cá rồng lẫn lộn, tăm khuất dưới từng hơi nước mỏng mùa thu.
Âu cò cùng ban trong ánh đỏ mặt trời chiều.
Cõi Tiên có ba trăm sáu động ngọc và phòng mây,
Đây không biết chốn nào là cung Thủy Tinh.

Bài thơ Miếu Sầm Thái Thú  ở bản khắc 1922 chữ “lên” khác với chữ “ngang” ở các bản khắc sau cũng là một câu chuyện sử thi thú vị.

MIẾU SẦM THÁI THÚ

Ghé mắt trông lên thấy bảng treo
Kìa đền thái thú đứng cheo leo
Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu.

(Bản khắc 1922) chữ “lên” khác với chữ “ngang” ở các bản khắc sau.

Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

Đặc trưng nổi bật nhất trong thơ Hán Nôm của Hồ Xuân Hương là nghệ thuật thơ Hán Nôm đặc biệt điêu luyện, sánh ngang những kiệt tác thơ Trung Hoa thời Thịnh Đường. Thơ Hán Nôm của Hồ Xuân Hương hàm súc sâu sắc hiếm thấy, trong thơ có nhạc, chuyển tải sử thi văn hóa giáo dục tài tình và khiêm nhu hiền lành rất mực.

Hồ Xuân Hương kiệt tác thơ Hán Nôm ba bài tuyển chọn yêu thích nhất, đọc lại và suy ngẫm.

Xem tiếp …

 

Thái Lan nhiều bạn tôi ở đấy


THÁI LAN NHIỀU BẠN TÔI Ở ĐẤY

Hoàng Kim

Ngày 11 tháng 5Ngày của Mẹ tại nhiều quốc gia, cũng là ngày năm 1949 nước Xiêm chính thức đổi quốc hiệu sang Thái Lan lần thứ hai và sử dụng tên quốc hiệu này liên tục cho đến ngày nay. Ngày 11 tháng 5 năm 330 cũng là ngày Constantinus Đại đế quyết định dời đô về thành phố thánh địa và đổi Byzantium thành Constantinople còn gọi là Nova Roma, nay là thủ đô Istanbul thành phố lớn nhất, đông dân nhất của Thổ  Nhĩ Kỳ. Câu chuyện du lịch Thái Lan trong bài này, tôi chỉ kể chuyện Công viên lịch sử Phnom Rung.

Tôi đã có trên mười lần qua Thái Lan. Đất nước con người Thái Lan thật thú vị nhưng tôi ấn tượng nhất là: 1) Bangkok Phanom Rung con đường di sản. 2) Sắn Thái Lan hòa Sắn Việt Nam, và  3) Thái Lan nhiều bạn tôi ở đấy.

Bangkok – Phanom Rung con đường di sản

Bangkok là một điểm đến đặc biệt thú vị của du lịch châu Á. Bạn muốn hiểu rõ Bangkok trước hếp phải tìm hiểu khái quát về Thái Lan đất nước lịch sử văn hóa và con người. Du lịch công viên lịch sử Phnom Rung là một bổ khuyết tuyệt vời cho bạn của sự tìm tòi ấy.

Danh sách di sản thế giới tại Thái Lan có địa chỉ: 1) Thành phố lịch sử Ayutthaya (1991) 2) Thị trấn lịch sử Sukhothai và các thị trấn lịch sử lân cận (1991); 3) Khu bảo tồn cuộc sống hoang dã ThungyaiHuai Kha Khaeng (1991); 4) Di chỉ khảo cổ Ban Chiang (1992); 5) Khu quần thể rừng Dong Phaya YenKhao Yai (2005).

Công viên lịch sử Phanom Rung là một sự khai mở đặc biệt ấn tượng và yêu thích nhất mà tôi được trãi nghiệm trong lịch sử nhiều điểm đến tại Thái Lan.

Thứ nhất, nó là ngôi đền cổ tuyệt đẹp và thật huyền bí tại tỉnh Buriram vùng Isan của Thái LanPhanom Rung (tiếng Thái là พนม รุ้ง), có tên đầy đủ là Prasat Hin Phanom Rung, là một tổ hợp lâu đài bằng đá của cụm đền Khmer nằm trên rặng núi lửa đã tắt ở độ cao 402 mét. Lâu đài đá Phanom Rung là viên ngọc di sản quý biểu tượng của Núi Kailash  Thiên Đường, được xây bằng đá sa thạch và laterit trong thế kỷ 10 đến thế kỷ 13, để thờ thần Shiva thuộc đạo Hindu. Đền này ý nghĩa tương tự đền Angkor mà tôi đã kể trong bài Lúa sắn Angkor).

Thứ hai đó là nơi Cục Mỹ thuật Thái Lan đã mất ròng rã 17 năm ròng (1971- 1988) để trùng tu quần thể này cho tử tế và đúng chuẩn và đã được chính thức mở cửa vào ngày 21 tháng 5 năm 1988 bởi hoàng tử Maha Chakri Sirindhorn. Chính phủ Thái năm 2005 cũng chính thức đệ trình UNESCO công nhận là di sản Thế giới. Câu chuyện này sôi động nhiều năm sau.

Thứ ba, Công viên lịch sử Phanom Rung nằm trên con đường di sản nối Băng kok với cụm lâu đài cổ nổi tiếng thế giới ở PhimaiAngkor, cùng với nhiều điểm đến khác của Thái Lan, Campuchia,  Lào và Việt Nam. Tôi tin chắc rằng Phanom Rung là điểm nhấn của cụm công trình lâu đài cổ tinh tế nhất, nguyên vẹn nhất và lớn nhất còn sót lại của Thái Lan. Câu chuyện lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ, khảo cổ học và tâm linh nơi Công viên lịch sử Phanom Rung là thật hay và rất đáng tìm hiểu.

Mời bạn xem ảnh tuyển chọn và hãy đọc  Chào ngày mới 11 tháng 5  

Còn nữa…

Bài viết mới
Video yêu thích
KimYouTube

Chuyện làng Hoành


CHUYỆN LÀNG HOÀNH. Hoàng Kim lưu lại ít thông tin chọn lọc. Bài này tiếp nối bài Nhân dân và an dân; Hai bài đọc lại và làng Hoành. VGP News Đối thoại với dân, Chủ tịch Hà Nội giải tỏa ‘điểm nóng’ Đồng Tâm; VOV Chùm ảnh: Cuộc sống bình yên trở lại với xã Đồng Tâm. VOV Cận cảnh: Đồng Tâm vỡ òa vui sướng khi đối thoại thành công. Nguyên Hùng Hơi chậm nhưng là chậm chắc. Trương Huy San Nhân dân tha nhớ về với nhân dân. Các báo có đưa trung thực ý kiến của bà con làng Hoành không? Trích phát biểu của cụ Kỷ, 63 tuổi tại phiên đối thoại sáng 22/4 giữa dân làng Hoành với Chủ tịch Nguyễn Đức Chung:

“Chúng tôi rất đau lòng vì những việc vừa qua. Ông Nguyễn Đức Chung nguyên giám đốc công an chắc phải hiểu rõ không ai có tội trừ khi bị kết tội. Để giải quyết vấn đề phải tìm ra nguyên nhân gốc rễ như vậy mới thấu tình đạt lý. Những gì đã xảy là sự việc đáng tiếc. Ở chừng mực nào đó nếu người dân chúng tôi không hiểu thì phải tuyên truyền cho chúng tôi…

Quê hương Đồng Tâm là xã anh hùng trong kháng chiến, để xảy ra chuyện này không ai không đau lòng, nhất là chuyện ông Kình là cán bộ lão thành 82 tuổi đời, 66 năm tuổi Đảng bị bắt. Chúng tôi hiểu luật pháp cho phép bắt một người trong trường hợp khẩn cấp không cần lệnh. Nhưng thử hỏi ông Kình gây nguy hiểm cho ai mà bắt như thế. Đá như quả bóng, quăng lên ô tô. Tôi nói xin lỗi là quăng như quăng một con lợn. Chúng tôi chứng kiến mà rơi nước mắt.

Phản ứng mà người dân tạm giữ một số cán bộ công an là phản ứng nhất thời vì quá bức xúc. Theo pháp luật giữ người như thế là sai nhưng cái sai của chúng tôi xuất phát từ 2 cái sai của cán bộ:

Cái sai thứ nhất là khu vực đất 59 hecta đất đồng Sênh của chúng tôi không liên quan đến đất sân bay, mà lãnh đạo xã khẳng định là đất quốc phòng. Loa phát thanh nói ra rả nhưng càng nói thì làm người dân căm phẫn hơn. Cái sai là không làm rõ đất thuộc quyền của dân Đồng Tâm không thuộc đất quốc phòng. Nếu đất quốc phòng phải có quyết định của Thủ tướng, để thu hồi 59 hecta phải thông qua Quốc hội là dự án có khả thi không. Phê chuẩn xong Thủ tướng mới ra quyết định thu hồi. Nhưng đến giờ không có bất kỳ quyết định nào của các cấp có thẩm quyền cả.

Cái sai thứ hai là bắt người trong trường hợp khẩn cấp, nhưng thực tế là lừa. Các đồng chí bảo nhân dân lên dẫn chỉ mốc giới để giải quyết đâu là phần đất nông nghiệp đâu là quốc phòng. Những người dân chúng tôi trong đó có ông Kình tin tưởng đi theo, nhưng chỉ mới đến cột mốc thứ 2 đã bắt người một cách dã man. Mọi người không chứng kiến không thể hiểu nổi sự đau lòng…”

(Chinhphu.vn) – Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Nguyễn Đức Chung cam kết sẽ giải quyết công tâm, công minh sự việc tại xã Đồng Tâm trên tinh thần khách quan và chính xác nhất để người dân trở về cuộc sống yên bình.

CHUYỆN ÔNG DƯƠNG TRUNG QUỐC ĐẾN THÔN HOÀNH

Lê Kiên

Lại thấy có những rác rưởi muốn ném vào ông Quốc, và tôi phải viết stt này để bảo vệ ông.

Chúng viết rằng, ĐBQH Dương Trung Quốc chọn thời điểm đến thôn Hoành, Đồng Tâm đúng ngày ông Nguyễn Đức Chung đối thoại, là nhằm đánh bóng hình ảnh của mình. Chúng viết rằng, ông Quốc không đến thôn Hoành vào những ngày trước đó là hèn, là không có trách nhiệm với cử tri, mặc dù ông Quốc đã nhận đơn của cụ Kình. Chúng viết rằng, ông Quốc và ông Nhưỡng đi theo đoàn ông Chung, để “múa phụ hoạ”.

Stt này, tôi sẽ kể chi tiết câu chuyện, và cần đến khoảng 1500 chữ, để bạn đọc fb tỏ tường.

Đó là ngày sinh nhật Lê Nin, 22-4, tôi nhớ rõ ngày này, bởi Lê Nin sinh sau một ngày tôi kỷ niệm ngày tỏ tình với bạn gái.

6g sáng, ĐBQH Lưu Bình Nhưỡng gọi cho tôi: “bây giờ anh vào Đồng Tâm, chú đi với anh không?”. Tôi ngần ngừ giây lát, bởi lịch của tôi hôm đó vẫn họp UBTVQH cả ngày. “Em đi, thôi bỏ họp, cũng muốn xuống tận nơi xem thực tế ra sao”. Anh Nhưỡng hỏi có nên mời thêm ĐBQH nào đi cùng, thêm người thì sẽ tốt hơn. “Chú Quốc” – tôi đáp ngay. “Nhưng anh chưa có số bác Quốc”. “Để em nhắn”.

Tại sao tôi lại đề nghị ông Nhưỡng mời ông Quốc đi cùng. Bởi ông Quốc là ĐBQH đầu tiên gọi cho Chủ tịch Nguyễn Đức Chung ngay sau khi vụ việc xảy ra, khuyên ông Chung đối thoại, lấy kinh nghiệm từ vụ ông Phạm Thế Duyệt về Thái Bình 20 năm trước. Ông Quốc cũng trả lời báo chí từ ngày đầu, nhận “tôi thấy mình có phần lỗi, vì mấy hôm trước cũng nhận được đơn của cụ Kình”.

Ông Nhưỡng gọi điện thoại khi ông Quốc mới từ Đà Nẵng bay ra, chuẩn bị lên xe đi Yên Tử. Nhưng ông cũng huỷ lịch trong ngày để đến thôn Hoành. ĐBQH Lưu Bình Nhưỡng không ngồi xe biển xanh, ông tự lái xe gia đình đến đón tôi, qua đón ông Quốc. Ông đem theo hộp bánh để trên xe, sợ tôi và ông Quốc chưa kịp ăn sang.

Hỏi thăm mấy bận, xe chúng tôi cũng đến được đường rẽ vào đầu thôn, một cảnh sát giao thông ra chặn lại, đi cùng là một cán bộ an ninh. Ông Nhưỡng rút thẻ ĐBQH ra, vị cán bộ an ninh cũng kịp nhận ra ông Quốc. Cho xe qua. Khi đến đầu làng, lúc đó gần 8g sáng. Đám thanh niên ra chặn lại, ông Quốc bước xuống. “Á, a, à, bác Quốc, bác Quốc…” – tiếng của người dân. Tôi giơ điện thoại chụp ảnh. “Tắt ngay. Xóa ngay. Đ.M, nhà báo không được chụp” – mấy người dân chỉ thẳng vào mặt tôi. “Tôi đi cùng bác Quốc” – tôi nói. Mấy thanh niên hướng dẫn cho xe anh Nhưỡng đỗ vào làng.

Cánh cổng thôn Hoành lúc đó vẫn đóng, bằng những đống đất, đá, chướng ngại vật. “Không khí” thôn Hoành đặc quánh, nóng hừng hực. Các nhà báo cũng không được vào, ngoại trừ con em tôi, Duy Hoàng, là đứa con của thôn Hoành, nó đã ăn nằm suốt từ hôm nọ.

Ông Quốc, ông Nhưỡng được dân mời vào nhà ông Sinh, cụm trưởng cụm 1 (thôn Hoành có 8 cụm). Những người dân bắt đầu kể, người này chưa xong người kia đã kế tiếp, nghẹn ngào, đau xót, khóc than… Chuyện trò được khoảng gần một tiếng, thì một chị phụ nữ chạy vào, chị là thân thích của cụ Kình và là người nắm “đường dây nóng” của ông Chung với dân thôn Hoành mấy bữa nay.

“Các cụ ơi, anh Chung bảo là sắp về. Anh ấy bảo với cháu nói lại với các cụ, nếu đồng ý các điểm sau thì anh ấy sẽ vào tận thôn đối thoại. Anh Chung nói một là phải đảm bảo an toàn, hai là phải dọn dẹp gạch đá chướng ngại vật, ba là phải cam kết 19 người bị giữ từ hôm nọ là không có chuyện đánh đập, được đối xử tốt, bốn là sau khi anh chung vào đối thoại xong thì sẽ đón các anh kia về luôn, năm là anh Chung hứa sẽ giải quyết dứt điểm vụ việc này, sáu là anh Chung cho một tỷ để xã Đồng Tâm làm công trình phúc lợi. Đấy, anh Chung nói sao cháu thuật lại y như vậy” – chị nói, giọng gấp gáp.

Nghe xong, ông Quốc quay sang hội ý với ông Nhưỡng: “anh Chung về đối thoại rồi thì có lẽ là mình nên rút, để anh ấy làm việc”. Ông Quốc động viên người dân là phải rất bình tĩnh, tạo điều kiện cho Chủ tịch Chung đối thoại, cùng nhau tháo gỡ. Ông đưa số điện thoại cho em trai cụ Kình và dặn: “nếu có việc gì cần, các cụ cứ gọi tôi, như tôi đã nói là tôi thấy có phần trách nhiệm bởi tôi đã nhận đơn mà không có ý kiến kịp thời”.

Ông Nhưỡng thì nghĩ khác: “Em nghĩ mình chưa nên rút, mình là ĐBQH chủ động về đây, thực hiện chức năng giám sát. Ông Chung về thì cứ làm nhiệm vụ của ông ấy. Em nghĩ mình nên ở lại xem sự việc diễn biến thế nào, cũng là để ở bên cạnh người dân, nếu có thể thì góp vào để cuộc đối thoại có kết quả tốt đẹp hơn” – ông Nhưỡng nói.

Đa số người dân có mặt ủng hộ ý kiến ông Nhưỡng, họ mời hai vị ĐBQH ra trụ sở xã. Vừa đứng dậy thì ông Quốc nhận được điện thoại của ông Chung, Chủ tịch HN cho biết ông đang trên đường vào và có ý muốn ông Quốc “lánh đi, cứ để em xuống làm việc với bà con”. Ông Quốc đang do dự về ý kiến của ông Chung thì mấy cụ già đã nhanh miệng “mời bác lên xe đến trụ sở xã, có Bí thư xã đang ở đó”. Vài phút sau ông Chung gọi điện lại, ông thay đổi suy nghĩ và mời ông Quốc ở lại tham dự cuộc đối thoại. “Anh yên tâm, anh cứ vào làm việc của mình, tôi sẽ hỗ trợ anh nếu có thể, tôi tin anh và anh cũng phải tin tôi” – ông Quốc nói với ông Chung.

Cho đến trước thời điểm bắt đầu đối thoại, ông Chung còn gọi cho ông Quốc thêm một cuộc nữa, có lẽ là để nắm tình hình thực tế. Ông Quốc còn động viên: “em cứ vào đi, anh nghĩ là mọi chuyện sẽ tốt nếu em vào”.

Cuộc đối thoại và mọi chuyện diễn ra sau đó, như tôi đã kể ở các stt trước rồi.

Có người đặt ra câu hỏi. Vậy các vị ứng cử tại địa bàn Đồng Tâm, Mỹ Đức mất hút ở đâu trong những ngày nóng bỏng ấy? Tôi xin thông tin thêm: ĐBQH Nguyễn Chiến là người ứng cử tại đây, ông ấy đã sớm có mặt ở thôn Hoành trước khi chúng tôi đến khoảng 3 ngày, và ông ấy lặng lẽ thu thập thông tin và xử lý vụ việc theo cách của riêng mình.

Như tôi đã viết, cánh cửa thôn Hoành đã mở ra và người tra chìa khóa vào là ông NGuyễn Đức Chung. Nhưng góp phần giải quyết vụ việc có công lao không nhỏ của các vị ĐBQH, đặc biệt là các ông Lưu Bình Nhưỡng, Dương Trung Quốc, Lê Thanh Vân.

Đọc đến chỗ này, nếu có ai đó còn nghi ngờ về mục đích của các vị ĐBQH đã đặt chân đến thôn Hoành, thì đó là những tư duy cặn bã.

Bài viết mới
Video yêu thích
KimYouTube