Chào ngày mới 4 tháng 1


BurjKhalifatai Dubai

CNM365. Chào ngày mới 04 tháng 1. Wikipedia Ngày này năm xưa. Sự kiện nổi bật: Ngày Độc lập tại Myanmar (1948); Năm 2010 – Khánh thành toà nhà chọc trời Burj Khalifa (hình) cao 828 m, tại Dubai, Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất. Năm 1960 – Hiệp ước thành lập Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu được ký kết tại Stockholm, Thụy Điển. Ngày Tử đạo tại Cộng hòa Dân chủ Congo; Năm 1912Hội Hướng đạo được hợp nhất trên khắp Đế quốc Anh dựa theo ban đặc quyền hoàng gia. Năm 1947 – Bản in đầu tiên của tạp chí tin tức hàng tuần Der Spiegel được phát hành tại Hanover, Đức. Năm 1643 – ngày sinh Isaac Newton, nhà toán học, nhà vật lý học người Anh (mất năm 1727). Năm 1943 –ngày mất  Hàm Nghi, hoàng đế của triều Nguyễn Việt Nam (sinh năm 1871).

4 tháng 1

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày 4 tháng 1 là ngày thứ 4 trong lịch Gregory. Còn 361 ngày trong năm (362 ngày trong năm nhuận).

« Tháng 1 năm 2016 »
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31

Mục lục

Sự kiện

Sinh

Mất

Ngày lễ và kỷ niệm

Quốc khánh

Tháng 1 | Tháng 2 | Tháng 3 | Tháng 4 | Tháng 5 | Tháng 6 | Tháng 7 | Tháng 8 | Tháng 9 | Tháng 10 | Tháng 11 | Tháng 12

Tham khảo

Myanmar

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cộng hòa Liên bang Myanma
Flag of Myanmar.svg State seal of Myanmar.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Myanma
Quốc ca
Kaba Ma Kyei
Hành chính
Chính phủ Dân sự
 • Tổng thống Thein Sein
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Myanma
Thủ đô Naypyidaw
19°17′B, 96°20′Đ
Thành phố lớn nhất Yangon
Địa lý
Diện tích 676.577 km² (hạng 39)
Diện tích nước 3,06% %
Múi giờ UTC+6.5
Lịch sử
Độc lập
Ngày thành lập Từ Anh
1 tháng 1, 1948
Dân cư
Dân số ước lượng (2012) 54.584.650[1] người (hạng 24)
Mật độ 73,9 người/km²
Kinh tế
GDP (PPP) (2009) Tổng số: 71,772 tỉ Mỹ kim
HDI (2010) 0,451 thấp (hạng 132)
Đơn vị tiền tệ Kyat (MMK)
Thông tin khác
Tên miền Internet .mm (trước là .bu)

Myanmar (phiên âm: Mi-an-ma, Hán Việt: Miến Điện), tên chính thức: Cộng hòa Liên bang Myanmar (tiếng Myanma: ပြည်ထောင်စု သမ္မတ မြန်မာနိုင်ငံတော် Pyidaunzu Thanmăda Myăma Nainngandaw) là một quốc gia ở Đông Nam Á, tây bắc bán đảo Trung-Ấn. Có 5.876 km đường biên giới với Trung Quốc (2.185 km), Thái Lan (1.800 km), Ấn Độ (1.463 km), Lào (235 km) và Bangladesh (193 km). Đường bờ biển dài 1.930 km. Diện tích 676.577 km².

Sự đa dạng chủng tộc dân cư ở Myanmar đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định chính trị, lịch sử và nhân khẩu học của quốc gia này thời hiện đại. Hệ thống chính trị của nước này vẫn nằm dưới quyền kiểm soát chặt chẽ của Hội đồng Hòa bình và Phát triển Liên bang, chính phủ quân sự do Thống tướng Than Shwe lãnh đạo từ năm 1992. Từng là một nước thuộc địa bên trong Đế quốc Anh cho tới tận năm 1948, Myanmar tiếp tục đấu tranh cải thiện những căng thẳng sắc tộc, và vượt qua những cuộc đảo chính. Nền văn hóa nước này bị ảnh hưởng nhiều từ các nước xung quanh, dựa trên một hình thức Phật giáo duy nhất có hòa trộn các yếu tố địa phương.

Ngày 22 tháng 10 năm 2010, Myanma tuyên bố đổi quốc hiệu thành Cộng hòa Liên bang Myanmar, thay đổi quốc kỳ và quốc ca. Sự kiện này diễn ra chỉ trước 17 ngày diễn ra cuộc bầu cử sau 20 năm kể từ lần bầu cử gần nhất trước đây vào năm 1990.

Tên gọi

“Miến Điện” (Hán văn: 緬甸) là tên gọi người Trung Quốc đặt cho Myanmar. “Miến” có nghĩa là xa tắp, xa vời, xa tít tắp. “Điện” là chỉ vùng đất nằm bên ngoài “giao”. Theo cách gọi của người Trung Quốc thì tường trong của thành gọi là “thành”, tường ngoài gọi là “quách”. Vùng ngoại vi của quách gọi là “giao”. Vùng đất bên ngoài giao gọi là “điện”, cách thành khoảng từ một trăm dặm trở lên. “Miến Điện” ý là vùng ngoại thành xa xôi.

Myanma là tên gọi bắt nguồn từ tên địa phương Myanma Naingngandaw. Nó được sử dụng vào đầu thế kỷ 12 nhưng nguồn gốc của nó vẫn còn chưa được sáng tỏ. Một gốc của tên gọi này là từ Brahmadesh trong tiếng Phạn có nghĩa là “mảnh đất của Brahma“, vị thần Hindu của mọi sinh vật.

Năm 1989, hội đồng quân sự đổi tên tiếng Anh từ Burma thành Myanmar, cùng với nhiều thay đổi trong tên gọi tiếng Anh của nhiều vùng trong đất nước, chẳng hạn tên gọi trước kia của thủ đô đổi từ Rangoon thành Yangon. Tuy vậy, tên chính thức của đất nước trong tiếng MyanmaMyanma vẫn không đổi. Trong tiếng Myanma, Myanma là tên quốc gia, trong khi Bama (Burma lấy nguồn gốc từ đây) là tên gọi thông tục.

Sự thay đổi trong tên gọi là biểu hiện của một cuộc tranh cãi chính trị. Nhiều nhóm người Myanma tiếp tục sử dụng tên “Burma” vì họ không chấp nhận tính hợp pháp của chính quyền quân sự cũng như sự đổi tên đất nước. Một vài chính phủ phương tây, chẳng hạn Hoa Kỳ, Úc, Ireland và Anh tiếp tục sử dụng tên “Burma”, trong khi Liên minh châu Âu sử dụng cả hai. Liên Hợp Quốc sử dụng tên “Myanmar”.

Việc sử dụng tên “Burma” vẫn còn phổ biến ở Hoa Kỳ và Anh. Trong tiếng Anh, người ta vẫn dùng từ “Burmese” như một tính từ.

Sau khi giành được độc lập từ Đế quốc Anh, Myanma đã sử dụng các quốc hiệu sau:

  • Liên bang Myanma: 1948-1974
  • Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Liên bang Myanma: 1974-1988
  • Liên bang Myanma: 1988-2010 (từ năm 1989 thì quốc hiệu tiếng Anh dùng Myanmar thay cho Burma)
  • Cộng hòa Liên bang Myanma: 2010-nay

Lịch sử

Bài chi tiết: Lịch sử Myanmar

Các chùa và đền tại Bagan ngày nay, nơi từng là thủ đô của Vương quốc Pagan

Người Môn được cho là nhóm người đầu tiên di cư tới vùng hạ lưu châu thổ sông Ayeyarwady (ở phía nam Myanma) và tới khoảng giữa thập niên 900 trước Công nguyên họ đã giành quyền kiểm soát khu vực này[2].

Sau đó, vào thế kỷ 1 trước Công nguyên, người Pyu di cư tới đây và tiến tới xây dựng các thành bang có quan hệ thương mại với Ấn ĐộTrung Quốc. Trong đó, mạnh nhất là vương quốc Sri Ksetra, nhưng nó bị từ bỏ năm 656. Sau đó, một quá trình tái lập quốc diễn ra, nhưng đến giữa thập niên 800 thì bị người Nam Chiếu xâm lược.

Vào khoảng trước những năm 800, người Bamar (người Miến Điện) bắt đầu di cư tới châu thổ Ayeyarwady từ Tây Tạng hiện nay. Tới năm 849, vương quốc họ đã thành lập xung quanh trung tâm Pagan trở nên hùng mạnh. Trong giai đoạn Anawratha trị vì (1044-1077), người Miến Điện đã mở rộng ảnh hưởng ra khắp Myanma hiện nay. Tới thập niên 1100, nhiều vùng lớn thuộc lục địa Đông Nam Á đã thuộc quyền kiểm soát của vương quốc Pagan, thường được gọi là Đế chế Miến Điện thứ nhất với kinh đô tại Mandalay. Tới cuối thập niên 1200, Hốt Tất Liệt đã thống lĩnh quân Mông Cổ xâm lược Vương quốc Pagan, nhưng tới năm 1364 người Miến Điện đã tái lập vương quốc của họ tại Ava, nơi văn hóa Miến Điện bắt đầu bước vào giai đoạn phát triển rực rỡ. Tuy nhiên, vào năm 1527 người Shan cướp phá Ava. Trong lúc ấy người Mon thiết lập địa điểm mới của họ tại Pegu, nơi này đã trở thành một trung tâm tôn giáo và văn hóa lớn.

Những người Miến Điện đã phải chạy trốn khỏi Ava thành lập Vương quốc Toungoo năm 1531 tại Toungoo, dưới quyền Tabinshwehti, người đã tái thống nhất Miến Điện và lập ra Đế chế Miến Điện thứ hai. Vì sự ảnh hưởng ngày càng tăng từ Châu Âu ở Đông Nam Á, Vương quốc Toungoo trở thành một trung tâm thương mại lớn. Bayinnaung đã mở rộng đế chế bằng cách chinh phục các lãnh thổ Manipur, Chiang Mai, Ayutthaya, Shan, Nagaland, Tripura, Mizoram, Assam, Sikkim, Bhutan, Chittagong, Dhaka, Rajshahi, Rangpur và một số vùng đất thuộc tỉnh Vân Nam của Trung Quốc gồm Đức Hoành, Nộ Giang, Bảo SơnPhổ Nhĩ. Những cuộc nổi loạn bên trong cũng như sự thiếu hụt các nguồn tài nguyên cần thiết để kiểm soát các vùng mới giành được dẫn tới sự sụp đổ của Vương quốc Toungoo. Anaukpetlun, người đã đẩy lùi cuộc xâm lăng của Bồ Đào Nha, đã lập nên một vương triều mới tại Ava năm 1613. Cuộc nổi dậy trong nước của người Mon, với sự trợ giúp của Pháp, khiến vương quốc sụp đổ năm 1752.

Một bản in thạch năm 1825 của Anh về ngôi chùa Shwedagon cho thấy buổi đầu xâm nhập của người Anh tại Miến Điện trong giai đoạn Chiến tranh Anh-Miến lần thứ nhất

Alaungpaya thành lập nên Triều đại KonbaungĐế chế Miến Điện thứ ba vào khoảng thập niên 1700[3]. Năm 1767, Vua Hsinbyushin chinh phục AyutthayaCeylon dẫn tới việc văn hóa Thái Lanvăn hóa Ceylon có ảnh hưởng lớn tới văn hóa Miến Điện. Nhà Thanh (Trung Quốc) lo ngại sự lớn mạnh của Miến Điện, đã bốn lần xâm lược nước này trong khoảng thời gian từ 1766 đến 1769 nhưng không lần nào thành công. Các triều đại sau này mất quyền kiểm soát Ayutthaya, nhưng chiếm thêm được Arakan và Tenasserim. Dưới thời cai trị của Vua Bagyidaw, năm 1824, Mahabandoola chiếm Assam, sát lãnh thổ Anh ở Ấn Độ, gây nên một cuộc chiến tranh. Trong các cuộc chiến tranh Anh-Miến (1823-26, 1852-53 và 1885-87), Miến Điện mất một số lãnh thổ vào tay người Anh và trở thành một tỉnh của Ấn Độ thuộc Anh. Ngày 1 tháng 4 năm 1937, Miến Điện trở thành một thuộc địa hành chính riêng biệt, độc lập khỏi quyền hành chính Ấn Độ. Trong thập niên 1940, Ba mươi chiến hữu, do Aung San lãnh đạo đã lập nên Quân đội Miến Điện độc lập[4]. Ba mươi chiến hữu được huấn luyện quân sự tại Nhật Bản[4].

Trong Thế chiến thứ hai Miến Điện trở thành một mặt trận chính tại Mặt trận Đông Nam Á. Sau những thắng lợi ban đầu của Nhật Bản tại Mặt trận Miến Điện, trong đó người Anh bị đẩy lùi khỏi đa phần Miến Điện, Đồng Minh đã phản công. Tới tháng 7 năm 1945 họ đã chiếm lại toàn bộ nước này. Người Miến Điện chiến đấu cho cả hai phía trong cuộc chiến. Họ chiến đấu trong Đội quân Miến Điện Anh năm 1941-1942. Năm 1943, Chin Levies và Kachin Levies đã được thành lập ở các quận biên giới Miến Điện và vẫn thuộc quyền kiểm soát của người Anh. Đội quân Miến Điện chiến đấu trong thành phần Chindit dưới quyền Tướng Orde Wingate từ 1943-1945. Ở giai đoạn sau của cuộc chiến, người Mỹ đã lập ra Đội biệt kích Kachin-Hoa Kỳ cũng chiến đấu cho quân Đồng Minh. Nhiều người Miến Điện khác chiến đấu trong lực lượng SOE của Anh. Quân đội Miến Điện độc lập dưới quyền chỉ huy của Aung San và Quân đội quốc gia Arakan đã chiến đấu với Nhật Bản từ 1942-1944, nhưng đã nổi lên chống lại người Nhật năm 1945.

Năm 1947, Aung San trở thành Phó chủ tịch Uỷ ban hành pháp Miến Điện, một chính phủ chuyển tiếp. Tuy nhiên, trong tháng 7 năm 1947, các đối thủ chính trị đã ám sát Aung San và nhiều thành viên chính phủ khác[4]. Ngày 4 tháng 1 năm 1948, quốc gia này trở thành một nước cộng hòa độc lập, với cái tên Liên bang Myanma, với Sao Shwe Thaiktổng thống đầu tiên và U Nuthủ tướng. Không giống như đa số các thuộc địa của Anh, nước này không trở thành một thành viên của Khối thịnh vượng chung Anh bởi vì họ đã giành lại độc lập trước khi Khối thịnh vượng chung cho phép các nước cộng hòa trở thành một thành viên của nó. Một hệ thống chính trị lưỡng viện được thành lập gồm Viện đại biểuViện quốc gia[5]. Vùng địa lý hiện nay của Myanma có thể suy ngược từ Thoả ước Panglong, là toàn bộ Miến Điện gồm Hạ MiếnThượng MiếnCác vùng biên giới, đã từng được quản lý hành chính độc lập bởi Anh Quốc[6].

Lá cờ của Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ được thể hiện bởi một chú ‘gà chọi’, một biểu tượng của tự do[7]

Năm 1961 U Thant, khi ấy là Đại biểu thường trực của Miến Điện tại Liên hiệp quốc và cựu Thư ký Thủ tướng, được bầu làm Tổng thư ký Liên hiệp quốc; ông là người đầu tiên không xuất thân từ phương Tây lãnh đạo một tổ chức quốc tế nào cho tới lúc ấy và đã đảm nhiệm chức vụ này trong vòng mười năm[8]. Trong số những người Miến Điện làm việc tại Liên hiệp quốc khi ông đang giữ chức Tổng thư ký có cô gái trẻ Aung San Suu Kyi.

Giai đoạn dân chủ kết thúc năm 1962 với một cuộc đảo chính quân sự do Tướng Ne Win lãnh đạo. Ông này cầm quyền trong 26 năm và theo đuổi chính sách xã hội chủ nghĩa. Năm 1974, Myanma lấy quốc hiệu mới là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Liên bang Myanma. Cùng năm này, đám tang của U Thant dẫn tới một cuộc biểu tình chống chính phủ đẫm máu.

Năm 1988, Cuộc nổi dậy 8888 đẩy đất nước tới bờ vực cách mạng. Để đối phó, Tướng Saw Maung tiến hành một cuộc đảo chính. Ông thành lập Hội đồng Khôi phục Trật tự và Luật pháp Liên bang (SLORC). Myanma quay trở lại quốc hiệu Liên bang Myanma. Năm sau, quốc hiệu bằng tiếng Anh đổi từ Union of Burma thành Union of Myanmar. Năm 1989, thiết quân luật được ban bố sau những cuộc biểu tình rộng lớn. Các kế hoạch bầu cử Quốc hội đã hoàn thành ngày 31 tháng 5 năm 1989[9]. Năm 1990, lần đầu tiên các cuộc bầu cử tự do được tổ chức trong vòng 30 năm. Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ, đảng của bà Aung San Suu Kyi, thắng 392 trong tổng số 485 ghế, nhưng các kết quả của cuộc bầu cử đã bị SLORC huỷ bỏ và họ từ chối giao lại quyền lực[10]. SLORC đổi tên Miến Điện (Burma) thành Myanma năm 1989. Dưới sự lãnh đạo của Than Shwe, từ năm 1992 chính quyền quân sự đã tiến hành các thoả thuận ngừng bắn với các nhóm du kích thiểu số. Năm 1992, SLORC tiết lộ các kế hoạch thành lập một hiến pháp mới thông qua Hội nghị Quốc gia, bắt đầu ngày 9 tháng 1 năm 1993[11]. Năm 1997, Hội đồng Khôi phục Trật tự và Luật pháp Liên bang được đổi tên thành Hội đồng Hòa bình và Phát triển Liên bang (SPDC). Ngày 23 tháng 6 năm 1997, Myanma được chấp nhận gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á. Hội nghị Quốc gia tiếp tục được triệu tập và hoãn lại. Nhiều đảng chính trị lớn, đặc biệt Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ, đã bị trục xuất và có ít tiến bộ đã được hoàn thành[11]. Ngày 27 tháng 3 năm 2006, hội đồng quân sự đã di chuyển thủ đô đất nước từ Yangon tới một địa điểm gần Pyinmana, đặt tên chính thức cho nó là Naypyidaw, có nghĩa “vùng đất của những ông vua”[12][13]. Năm 2010, quốc hiệu của Myanma đổi thành Cộng hòa Liên bang Myanma (tiếng Myanma: ပြည်ထောင်စု သမ္မတ မြန်မာနိုင်ငံတော်, tiếng Anh: Republic of the Union of Myanmar).

Chính trị

Bài chính về chính trị và chính quyền của Myanma có thể tìm đọc tại Loạt bài về chính trị và chính quyền của Myanma.

Các đại biểu được bầu ra trong cuộc bầu cử Quốc hội nhân dân năm 1990 hình thành nên Liên minh Chính phủ Quốc gia Liên bang Miến Điện (NCGUB), một chính phủ hải ngoại vào tháng 12 năm 1990, với trách nhiệm vãn hồi nền dân chủ tại Myanma[14]. Sein Win, người anh họ của Aung San Suu Kyi, là thủ tướng hiện thời của NCGUB. Tuy nhiên, NCGUB có rất ít quyền lực và đã bị đặt ra ngoài vòng pháp luật tại Myanma. Lãnh đạo Nhà nước hiện nay là Thống tướng Than Shwe, người giữ chức vụ “Chủ tịch Hội đồng Hòa Bình và Phát triển Quốc gia“. Ông nắm mọi quyền lực quan trọng, gồm quyền bãi nhiệm các bộ trưởng và các thành viên chính phủ, đưa ra các quyết định quan trọng trong vấn đề chính trị đối ngoại[15]. Khin Nyunt từng là thủ tướng cho tới ngày 19 tháng 10 năm 2004, và đã bị thay thế bởi Tướng Soe Win, người có quan hệ mật thiết với Than Shwe. Đa số các bộ và các vị trí chính phủ đều do các sĩ quan quân đội nắm giữ, ngoại trừ Bộ y tế, Bộ giáo dục, Bộ lao động và Bộ kinh tế và kế hoạch quốc gia, do các viên chức dân sự quản lý[16].

Các đảng chính trị lớn ở Myanma gồm Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủLiên đoàn Dân tộc Shan vì Dân chủ, dù các hoạt động của họ bị chế độ quản lý chặt chẽ. Nhiều đàng khác, thường đại diện cho lợi ích của các dân tộc thiểu số thực sự có tồn tại. Tại Myanma ít có khoan dung chính trị cho phe đối lập và nhiều đảng đã bị đặt ngoài vòng pháp luật. Đảng Thống nhất Quốc gia đại diện cho quân đội, và được sự ủng hộ của một tổ chức to lớn tên gọi Hiệp hội Liên đoàn Đoàn kết và Phát triển[17]. Theo nhiều tổ chức, gồm cả Human Rights WatchAmnesty International, chính quyền này có bản thành tích nhân quyền kém cỏi[18]. Không có tòa án độc lập tại Myanma và đối lập chính trị với chính phủ quân sự không hề được khoan dung. Truy cập Internet tại Myanma bị hạn chế chặt chẽ thông qua các phần mềm lọc các trang web có thể truy cập đối với công dân, hạn chế đa số các trang đối lập chính trị và ủng hộ dân chủ[19][20]. Lao động cưỡng bức, buôn ngườilao động trẻ em là điều thông thường, và bất đồng chính trị không được khoan dung[21].

Năm 1988, quân đội Myanma đã dùng vũ lực đàn áp các cuộc biểu tình phản đối sự quản lý kinh tế yếu kém và sự áp bức chính trị. Ngày 8 tháng 8 năm 1988, quân đội nổ súng vào những người biểu tình trong vụ việc được gọi là cuộc Nổi dậy 8888. Tuy nhiên, cuộc biểu tình năm 1988 đã dọn đường cho cuộc bầu cử Quốc hội Nhân dân năm 1990. Kết quả của cuộc bẩu cử sau đó đã bị chính quyền bác bỏ. Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ, do Aung San Suu Kyi lãnh đạo, thắng hơn 60% số phiếu và 80% ghế trong quốc hội trong cuộc bầu cử 1990, cuộc bầu cử đầu tiên được tổ chức trong 30 năm. Aung San Suu Kyi được quốc tế công nhận là một nhà hoạt động vì dân chủ tại Myanma, đoạt Giải Nobel Hòa bình năm 1991. Bà đã nhiều lần bị quản thúc tại gia. Dù có lời kêu gọi trực tiếp từ Kofi Annan tới Than Shwe và áp lực của ASEAN, hội đồng quân sự Myanma vẫn kéo dài thời hạn quản thúc tại gia đối với Aung San Suu Kyi thêm một năm ngày 27 tháng 5 năm 2006 theo Luật Bảo vệ Quốc gia năm 1975, trao cho chính phủ quyền cầm giữ hợp pháp bất kỳ người nào[22][23]. Hội đồng quân sự ngày phải đối mặt với sự cô lập quốc tế. Vào tháng 12 năm 2005, lần đầu tiên tình trạng của Myanma đã được thảo luận không chính thức tại Liên hiệp quốc. ASEAN cũng đã bày tỏ sự thất vọng của mình với chính phủ Myanma. Tổ chức này đã thành lập Cuộc họp kín liên nghị viện ASEAN đề bàn bạc về sự thiếu dân chủ tại Myanma[24]. Sự thay đổi chính trị lớn ở nước này hiện vẫn khó xảy ra, vì sự ủng hộ từ các cường quốc trong vùng, đặc biệt là Trung Quốc[25][26].

Quan hệ đối ngoại và Quân đội

Quan hệ nước ngoài của Myanma, đặc biệt với các nước phương Tây, đã rơi vào tình trạng căng thẳng. Hoa Kỳ đã áp đặt các biện pháp trừng phạt rộng lớn với Myanma vì sự đàn áp quân sự năm 1988 và vì sự từ chối thừa nhận các kết quả cuộc bầu cử Quốc hội Nhân dân năm 1990 của chế độ quân sự. Tương tự, Liên minh châu Âu đã áp đặt lệnh cấm vận lên Myanma, gồm cả cấm vận vũ khí, ngừng ưu tiên thương mại và hoãn toàn bộ viện trợ ngoại trừ viện trợ nhân đạo[27]. Những biện pháp cấm vận của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu chống lại chính phủ quân sự, cộng với sự tẩy chay và những sức ép trực tiếp khác từ người dân ở các nước phương Tây ủng hộ phong trào dân chủ Myanma, khiến đa số các công ty Hoa Kỳ và châu Âu phải rời khỏi nước này. Tuy nhiên, nhiều công ty khác vẫn còn ở lại nhờ các kẽ hở của biện pháp cấm vận. Nói chung các tập đoàn ở châu Á vẫn muốn đầu tư vào Myanma và tiến hành thực hiện các dự án đầu tư mới, đặc biệt trong lĩnh vực khai thác tài nguyên thiên nhiên. Công ty dầu mỏ Pháp Total S.A. hiện đang điều hành đường ống dẫn khí Yadana từ Myanma tới Thái Lan dù có lệnh cấm vận của Liên minh châu Âu. Total hiện là bị đơn của nhiều vụ khiếu kiện tại Pháp liên quan tới cái gọi là mối quan hệ với những vụ vi phạm nhân quyền liên quan tới đường ống dẫn khí họ đang đồng sở hữu với các công ty Hoa Kỳ ChevronTatmadaw. Trước khi bị Chevron thâu tóm, Unocal đã giải quyết một vụ kiện tụng liên quan tới nhân quyền với phí tổn được thông báo lên tới nhiều triệu dollar[28]. Vẫn còn những cuộc tranh cãi sôi nổi về việc liệu các biện pháp trừng phạt của Hoa Kỳ có mang lại kết quả trái ngược trên cuộc sống của người dân chứ không phải với những nhà cầm quyền quân sự[29][30].

Chính sách đối ngoại của Myanmar là quan hệ hữu nghị với tất cả các nước trên thế giới đặc biệt với các nước láng giềng, khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm lược nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi. Myanmar là thành viên của Tổ chức ASEAN, Phong trào không liên kếtLiên Hợp Quốc.

Từ khi Myanmar được kết nạp vào ASEAN (tháng 7 năm 1997), quan hệ Myanmar với các nước ASEAN ngày càng được tăng cường và cải thiện. Myanmar tích cực tham gia các hoạt động của ASEAN, kiên trì bảo vệ nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ và đồng thuận của ASEAN để bảo vệ lợi ích của mình.

Hiện nay, Mỹ và EU điều chỉnh chính sách với Myanmar theo hướng mềm mỏng hơn, triển khai cả hai biện pháp là trừng phạt và tiếp cận nhằm đạt được cùng mục tiêu; Mỹ sẽ từng bước dỡ bỏ cấm vận và cải thiện quan hệ nếu Myanmar đáp ứng yêu cầu của Mỹ, có những tiến bộ thực chất.

Tuy bị sức ép mạnh của chính quyền Mỹ và các nước phương Tây, nhưng quan hệ của Myanmar với các tổ chức phi chính phủ hoặc có tính nhân dân của các nước phương Tây, kể cả Mỹ, Anh vẫn được duy trì. Các nước này vẫn tiếp tục giúp đỡ Myanmar các dự án xây dựng trường học, giúp đào tạo y tế, dân sinh…

Các lực lượng vũ trang Myanma được gọi là Tatmadaw, với số lượng 488.000 người[31]. Tatmadaw gồm các lực lượng vũ trang, hải quân và không quân. Myanma được xếp hạng thứ 10 trên thế giới theo số lượng binh lính của mình[31]. Quân đội có nhiều ảnh hưởng trong nước, các vị trí chủ chốt trong chính phủ và trong quân đội đều do các sĩ quan quân sự nắm giữ. Dù những con số chính thức về chi tiêu quân sự của Myanma không được công bố, Viện nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm, trong bảng xếp hạng hàng năm của mình đã đặt Myanma trong số 15 nước chi tiêu quân sự nhiều nhất thế giới[32].

Đầu tháng 2/2011,Quốc Hội Myanma đã bầu Thủ tướng mãn nhiệm trước đây là tướng lãnh, ông Thein Sein làm tổng thống dân sự đầu tiên sau gần 50 năm cầm quyền của quân đội.

Hành chính

Bài chi tiết: Hành chính Myanmar

14 bang và vùng hành chính tại Myanma

Myanmar được chia thành 7 bang và 7 vùng hành chính[33]. Vùng lớn nhất là Bamar (Tain.png). Các bang (Pyinè.png), thực chất, là các vùng sinh sống của một số sắc tộc đặc biệt. Các vùng hành chính được chia nhỏ tiếp thành các thành phố, khu vực và các làng. Các thành phố lớn được chia thành các quận.

Tên Thủ phủ
Vùng hành chính
Vùng Ayeyarwady Pathein
Vùng Bago Bago
Vùng Magway Magwe
Vùng Mandalay Mandalay
Vùng Sagaing Sagaing
Vùng Tanintharyi Dawei
Vùng Yangon Yangon
Bang
Bang Chin Hakha
Bang Kachin Myitkyina
Bang Kayin Pa-an
Bang Kayah Loikaw
Bang Mon Mawlamyaing
Bang Rakhine Sittwe
Bang Shan Taunggyi

Các vùng và bang của Myanmar lại được chia thành các huyện (kayaing). Bang Shan là bang có nhiều (11) huyện nhất. Các bang Chin, bang Monbang Kayah chỉ có hai huyện mỗi bang.

Địa lý

Bài chi tiết: Địa lý Myanma

Myanma có tổng diện tích 678.500 kilômét vuông (261.970 dặm vuông), là nước lớn nhất trong lục địa Đông Nam Á, và là nước lớn thứ 40 trên thế giới (sau Zambia). Nước này hơi nhỏ hơn bang Texas Hoa Kỳ và hơi lớn hơn Afghanistan.

Myanma nằm giữa Khu Chittagong của BangladeshAssam, NagalandManipur của Ấn Độ ở phía tây bắc. Nó có đường biên giới dài nhất với Tây TạngVân Nam của Trung Quốc ở phía đông bắc với tổng chiều dài 2.185 km (1.358 dặm)[31]. Myanma giáp biên giới với LàoThái Lan ở phía đông nam. Myanma có đường bờ biển dài 1.930 km (1.199 dặm) dọc theo Vịnh BengalBiển Andaman ở phía tây nam và phía nam, chiếm một phần ba tổng chiều dài biên giới[31].

Đồng bằng Ayeyarwady, diện tích gần 50.400 km², phần lớn canh tác lúa gạo[34]]] Ở phía bắc, núi Hengduan Shan tạo nên biên giới với Trung Quốc. Hkakabo Razi, nằm tại Bang Kachin, ở độ cao 5.881 m (19.295 feet), là điểm cao nhất Myanma[35]. Các dãy núi Rakhine Yoma, Bago Yoma và Cao nguyên Shan nằm bên trong Myanma, cả ba đều chạy theo hướng bắc-nam từ dãy Himalaya[36]. Các dãy núi phân chia ba hệ thống sông của Myanma, là Ayeyarwady, ThanlwinSittang[34]. Sông Ayeyarwady, con sông dài nhất Myanma, gần 2.170 km (1.348 dặm), chảy vào Vịnh Martaban. Các đồng bằng màu mỡ nằm ở các thung lũng giữa các dãy núi[36]. Đa số dân cư Myanma sống trong thung lũng Ayeyarwady, nằm giữa Rakhine Yoma và Cao nguyên Shan.

Đa phần diện tích Myanma nằm giữa Hạ chí tuyếnXích đạo. Myanma nằm trong vùng gió mùa Châu Á, các vùng bờ biển của nó nhận lượng mưa trung bình 5.000 mm (197 in) hàng năm. Lượng mưa hàng năm tại vùng đồng bằng gần 2.500 mm (98 in), trong khi lượng mưa trung bình hàng năm tại Vùng Khô, nằm ở trung tâm Myanma, chưa tới 1.000 mm (39 in). Các vùng phía bắc đất nước có khí hậu lạnh nhất, nhiệt độ trung bình 21 °C (70 °F). Các vùng duyên hải và đồng bằng có nhiệt độ trung bình 32 °C (90 °F)[34].

Tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm của Myanma góp phần giữ gìn môi trường và các hệ sinh thái. Rừng, gồm rừng nhiệt đới với loại gỗ tếch có giá trị kinh tế cao ở vùng hạ Myanma, bao phủ 49% diện tích đất nước[37]. Các loại cây khác mọc ở vùng này gồm cao su, cây keo, tre, lim, đước, dừa, cọ. Trên những cao nguyên phía bắc, sồi, thông, và nhiều giống đỗ quyên khác bao phủ đa phần diện tích[37]. Những vùng đất dọc bờ biển có nhiều cây ăn trái nhiệt đới. Tại Vùng Khô, thực vật thưa thớt và còi cọc hơn.

Các loại động vật rừng rậm tiêu biểu, đặc biệt hổbáo có nhiều tại Myanma. Ở vùng Thượng Myanma, có tê giác, trâu rừng, lợn lòi, hươu, linh dươngvoi nhà, sử dụng nhiều nhất trong công nghiệp khai thác gỗ. Các loài có vú nhỏ hơn cũng rất nhiều từ vượn, khỉ tới cáo bayheo vòi. Đáng chú ý là sự đa dạng các loài chim với hơn 800 loài gồm vẹt, peafowl, gà lôi, quạ, diệcgõ kiến (paddybird). Trong số các loài bò sátcá sấu, tắc kè, rắn mang bành, trănrùa. Hàng trăm loài nước ngọt, rất phong phú và là nguồn thực phẩm quan trọng[38].

Năm 1994, đất canh tác 15,3% (2% có tưới), đồng cỏ 0,5%, rừng và cây bụi 49,3%, các đất khác 34,9%. Khoáng sản chính: dầu khí, thiếc, kẽm, antimon, đồng, vonfram, chì, than, đá quý.

Kinh tế

Bài chi tiết: Kinh tế Myanmar

Myanmar là một trong những nước nghèo nhất thế giới với hàng thập kỷ ở trong tình trạng trì trệ, quản lý kém và bị cô lập. Sau khi một chính phủ nghị viện được thành lập năm 1948, Thủ tướng U Nu đã nỗ lực biến Miến Điện trở thành một quốc gia thịnh vượng. Chính quyền của ông đã thông qua Kế hoạch kinh tế hai năm nhưng tiếc thay đây là một kế hoạch sai lầm[39]. Vụ đảo chính năm 1962 tiếp sau là một kế hoạch phát triển kinh tế được gọi là Con đường Miến Điện tiến tới Chủ nghĩa xã hội, một kế hoạch nhằm quốc hữu hóa mọi ngành công nghiệp, ngoại trừ nông nghiệp. Năm 1989, chính phủ Myanma bắt đầu bãi bỏ kiểm soát tập trung hóa nền kinh tế và tự do hóa một số lĩnh vực kinh tế[40]. Các ngành công nghiệp mang lại lợi nhuận như ngọc, dầu khí và lâm nghiệp vẫn bị kiểm soát chặt chẽ. Gần đây những ngành này đã được một số tập đoàn nước ngoài liên doanh cùng chính phủ tham gia khai thác.

Myanmar bị liệt vào hạng nước kém phát triển nhất năm 1987[41]. Từ năm 1992, khi Than Shwe lên lãnh đạo quốc gia, chính phủ đã khuyến khích du lịch. Tuy nhiên, chưa tới 750.000 du khách tới nước này hàng năm[42]. Các doanh nghiệp tư nhân thường là đồng sở hữu hay thuộc sở hữu trực tiếp của Tatmadaw. Trong những năm gần đây, cả Trung QuốcẤn Độ đều nỗ lực phát triển quan hệ với chính phủ nước này vì mục tiêu lợi ích kinh tế. Nhiều quốc gia khác, trong đó gồm cả Hoa Kỳ, CanadaLiên minh châu Âu, đã áp đặt các lệnh cấm vận thương mại và đầu tư đối với Myanma. Đầu tư nước ngoài chủ yếu từ Trung Quốc, Singapore, Hàn Quốc, Ấn ĐộThái Lan[43].

Ở thời thuộc địa Anh, Miến Điện là một trong những nước giàu có nhất vùng Đông Nam Á. Đây là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới và là nước cung cấp dầu khí thông qua Công ty Dầu khí Miến Điện. Miến Điện cũng có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và nhân lực dồi dào. Họ sản xuất 75% lượng gỗ tếch của thế giới, và dân cư có tỷ lệ biết đọc biết viết cao. Nước này từng được tin tưởng sẽ có tương lai phát triển nhanh chóng.

Ngày nay, Myanma thiếu cơ sở hạ tầng cần thiết. Trao đổi hàng hóa chủ yếu qua biên giới với Thái Lan, và đó cũng là đầu mối xuất khẩu ma tuý lớn nhất, và dọc theo Sông Ayeyarwady. Đường sắt cũ kỹ và mới ở mức kỹ thuật sơ khai, hiếm khi được sửa chữa từ khi được xây dựng trong thập niên 1800[44]. Đường giao thông thường không được trải nhựa, trừ tại các thành phố lớn[44]. Thiếu hụt năng lượng là điều thường thấy trong nước, kể cả tại Yangon. Myanma cũng là nước sản xuất thuốc phiện lớn thứ hai thế giới, chiếm 8% tổng lượng sản xuất toàn cầu và là nguôn cung cấp các tiền chất ma tuý lớn gồm cả amphetamines[45]. Các ngành công nghiệp khác gồm sản phẩm nông nghiệp, dệt may, sản phẩm gỗ, vật liệu xây dựng, kim cương, kim loại, dầu mỏ và khí ga. Việc thiếu hụt nguồn nhân công trình độ cao cũng là một vấn đề ngày càng tăng đối với kinh tế Myanma[46].

Nông nghiệp chiếm 59,5% GDP và 65,9% lao động. Công nghiệp chế biến chiếm 7,1% GDP và 9,1% lao động; khai khoáng 0,5% GDP và 0,7% lao động; xây dựng 2,4% GDP và 2,2% lao động; thương mại 23,2% GDP và 9,7% lao động; tài chính, dịch vụ và công chính 1,5% GDP và 8,1% lao động. GDP/đầu người: 2.399 USD (1995); GNP/đầu người: 2610 USD (1996). Sản phẩm nông nghiệp chính (1999): lúa 17 triệu tấn, mía 5,4 triệu tấn, đậu 1,9 triệu tấn, lạc 562 nghìn tấn, ngô 303 nghìn tấn, vừng 210 nghìn tấn, bông 158 nghìn tấn. Chăn nuôi: 10,7 triệu, lợn 3,7 triệu, trâu 2,4 triệu, cừu 1,7 triệu, vịt 6,1 triệu, 39 triệu. Gỗ tròn 22,4 triệu m³ (1998). Đánh bắt cá 917,7 nghìn tấn (1997). Sản phẩm công nghiệp chính: khai khoáng (đồng 14,6 nghìn tấn, thạch cao 40,6 nghìn tấn, chì 1,6 nghìn tấn, thiếc 154 tấn); chế biến (xi măng 513 nghìn tấn, phân hóa học 66 nghìn, đường 43 nghìn; 1996). Năng lượng (1996): điện 4,3 tỉ kW.h, than 72 nghìn tấn, dầu thô 2,8 triệu thùng, khí đốt 1,6 tỉ m³. Giao thông: đường sắt 3955 km (1999-2000), đường bộ 28,2 nghìn km (1996, rải nhựa 12%).

Xuất khẩu (1997-98) 5,4 tỉ kyat (nông sản 26,9%, gỗ và cao su 15,7%). Bạn hàng chính: Singapore 13,2%; Thái Lan 11,9%; Ấn Độ 22,6%; Trung Quốc 10,6%; Hồng Kông 5,8%.

Nhập khẩu (1997-98) 12,7 tỉ kyat (máy móc và thiết bị vận tải 28,6%, tư liệu sản xuất 48%, hàng tiêu dùng 4,3%). Bạn hàng chính: Singapore 31,1%, Thái Lan 9,8%, Trung Quốc 9,4%, Malaysia 7%.

Đơn vị tiền tệ: kyat Myanma. Tỉ giá hối đoái: 1USD = 983 kyat (11/2013)

Nhân khẩu

Bài chi tiết: Nhân khẩu Myanma

Một tòa nhà chung cư tại khu kinh doanh Yangon, đối diện Chợ Bogyoke. Đa số dân đô thị Yangon sống trong những khu chung cư đông đúc

Myanma có dân số khoảng 40 tới 55 triệu người[47]. Con số dân cư hiện tại chỉ là ước tính bởi vì cuộc tổng điều tra dân số toàn quốc cuối cùng, do Bộ Nội và các Vấn đề Tôn giáo tiến hành, đã xảy ra từ năm 1983[48]. Có hơn 600.000 công nhân nhập cư Myanma có đăng ký tại Thái Lan, và hàng triệu người lao động bất hợp pháp khác. Những công nhân nhập cư Myanma chiếm 80% số lao động nhập cư tại Thái Lan[49]. Mật độ dân số bình quân của Myanma là 75 người trên km², một trong những mức thấp nhất vùng Đông Nam Á. Các trại tị nạn tồn tại dọc theo biên giới Ấn Độ-Myanma, Bangladesh-Myanma và Myanma-Thái Lan và hàng ngàn người khác sống tại Malaysia. Những ước tính thận trọng cho rằng hơn 295.800 người tị nạn từ Myanma, đa số là người Rohingya, KayinKarenni[50].

Một em bé thuộc cộng đồng thiểu số Padaung, một trong nhiều dân tộc thiểu số tạo nên dân số Myanma

Myanma rất đa dạng về chủng tộc dân cư. Dù chính phủ công nhận 135 dân tộc khác nhau, con số thực thấp hơn nhiều[51]. Người Bamar chiếm khoảng 68% dân số, 10% là người Shan. Người Kayin chiếm 7% dân số, người Rakhine chiếm 4%. Người Hoa chiếm gần 3% dân số[52]. Người Mon, chiếm 2% dân số, là nhóm người có quan hệ dân tộc và ngôn ngữ với người Khmer. Người Ấn chiếm 2%. Số còn lại là người Kachin, Chin và các nhóm thiểu số khác.

Myanma có bốn ngữ hệ chính: Hán-Tạng, Nam Á, Tai-KadaiẤn-Âu[53]. Các ngôn ngữ thuộc hệ Hán-Tạng được sử dụng nhiều nhất. Chúng gồm tiếng Myanma, tiếng Karen, Kachin, tiếng Chintiếng Hoa. Ngôn ngữ Tai-Kadai chính là tiếng Shan. Tiếng Mon là ngôn ngữ Nam Á chính được sử dụng ở Myanma. Hai ngôn ngữ Ấn-Âu chính là tiếng Pali, ngôn ngữ dùng trong nghi thức của Phật giáo Tiểu thừatiếng Anh[54].

Theo Viện Thống kê UNESCO, tỷ lệ biết đọc biết viết chính thức của Myanma năm 2000 là 89,9%[55]. Về mặt lịch sử, Myanma có tỷ lệ biết chữ cao. Nhằm đạt mức đánh giá tình trạng quốc gia kém phát triển của Liên hiệp quốc để được cho vay vốn, Myanma đã hạ thấp mức biết chữ của nước mình từ 78,6% xuống còn 18,7% năm 1987[56]. Tuy nhiên, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ước tính số người biết chữ thực là 30%.

Phật giáo tại Myanma chủ yếu là phái Tiểu thừa hòa trộn với những đức tin bản địa. 89% dân số nước này theo Phật giáo Tiểu thừa, gồm người Bamar, Rakhine, Shan, Mon và Hoa. 4% dân số là tín đồ Cơ Đốc giáo, chủ yếu là những cư dân vùng cao như Kachin, Chin và Kayin, và Âu Á bởi vì các nhà truyền giáo thường tới các vùng này. Đa số tín đồ Cơ Đốc giáo là Tin Lành, đặc biệt là phái Baptist của Giáo đoàn Baptist Myanmar. 4% dân số theo Hồi giáo, chủ yếu là dòng Sunni[57]. Hồi giáo thường phát triển trong các cộng đồng dân cư Ấn Độ, Ấn Miến, Ba Tư, Ả Rập, PanthayRohingya. Những người dân theo Hồi giáo và Cơ Đốc giáo không có vị trí quan trọng trong xã hội và thường sống cô lập[57][58]. Một số nhỏ dân cư theo Hindu giáo.

Văn hóa

Bài chi tiết: Văn hóa Myanmar

Dù có nhiều nền văn hóa bản xứ tồn tại ở Myanmar, nền văn hóa chiếm vị trí trọng yếu là Phật giáo và Bamar. Văn hóa Bamar từng bị ảnh hưởng từ các nền văn hóa các nước xung quanh. Nó được biểu hiện qua ngôn ngữ, ẩm thực, âm nhạc, nhảy múa và sân khấu. Nghệ thuật, đặc biệt là văn học, trong lịch sử từng bị ảnh hưởng bởi phong cách Phật giáo tiểu thừa Miến Điện. Nếu coi thiên sử thi quốc gia của Myanma, Yama Zatdaw, là một sự phóng tác theo Ramayana, thì nó đã mang nhiều nét ảnh hưởng lớn từ các văn bản Thái, Mon và Ấn Độ của vở kịch này[59]. Phật giáo cùng sự thờ phụng nat liên quan tới những nghi lễ phức tạp hay đơn giản từ một đền bách thần gồm 37 nat[60][61].

 Những người đi tu được kính trọng trên khắp Myanma, đây là một trong những quốc gia có đa số Phật giáo tiểu thừa trên thế giới

Trong các làng Myanmar truyền thống, chùa chiền là trung tâm của đời sống văn hóa. Các nhà sư được sùng kính và người dân luôn quỳ trước mặt để tỏ lòng tôn trọng họ. Lễ nhập tu được gọi là shinbyu là lễ đánh dấu sự trưởng thành quan trọng nhất của một chú bé khi vào chùa tu trong một khoảng thời gian ngắn[62]. Các cô bé cũng có lễ xuyên lỗ tai (Nathwin.gif) khi đến tuổi trưởng thành[62]. Văn hóa Myanma được thể hiện rõ rệt nhất tại những ngôi làng nơi các lễ hội địa phương được tổ chức trong suốt năm, lễ hội quan trọng nhất là lễ chùa[63][64]. Nhiều làng xã ở Myanma có quy ước, các phong tục mê tín và những điều cấm kị riêng.

Thời kỳ cai trị thuộc địa của Anh cũng đã để lại một số ảnh hưởng phương Tây trong văn hóa Myanma. Hệ thống giáo dục Myanma theo khuôn mẫu hệ thống giáo dục Anh Quốc. Những ảnh hưởng kiến trúc thuộc địa là điều dễ nhận thấy nhất tại các thành phố lớn như Yangon[65]. Nhiều dân tộc thiểu số, đặc biệt là người Karen ở phía đông nam và người Kachin, người Chin sống ở phía bắc và tây bắc, theo Thiên chúa giáo nhờ công của các nhà truyền giáo[66].

Ngôn ngữ

Bài chi tiết: Tiếng Myanma

Tiếng Myanma, tiếng mẹ đẻ của người Bamar và là ngôn ngữ chính thức của Myanma, về mặt ngôn ngữ học có liên quan tới tiếng Tây Tạngtiếng Trung Quốc[54]. Nó được viết bằng ký tự gồm các chữ hình tròn và nửa hình tròn, có nguồn gốc từ ký tự Mon. Bảng chữ cái này được phỏng theo ký tự Mon, ký tự Mon được phát triển từ ký tự nam Ấn Độ trong thập niên 700. Những văn bản sớm nhất sử dụng ký tự được biết tới từ thập niên 1000. Ký tự này cũng được sử dụng để viết chữ Pali, ngôn ngữ thiêng liêng của Phật giáo Tiểu thừa. Ký tự Miến Điện cũng được dùng để viết nhiều ngôn ngữ thiểu số khác, gồm Shan, nhiều thổ ngữ Karen và Kayah (Karenni); ngoài ra mỗi ngôn ngữ còn có thêm nhiều ký tự và dấu phụ đặc biệt khác[67]. Tiếng Mayanma sử dụng nhiều từ thể hiện sự kính trọng và phân biệt tuổi tác[63]. Xã hội Myanma truyền thống rất nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục. Bên trong các ngôi làng, giáo dục do các giáo sĩ truyền dạy thường diễn ra trong các ngôi chùa. Giáo dục trung học và giáo dục cao đẳng/đại học thuộc các trường của chính phủ.

Ẩm thực

Bài chi tiết: Ẩm thực Myanma

Ẩm thực Myanma bị ảnh hưởng nhiều từ ẩm thực Ấn Độ, Trung Quốc, Thái, và các nền văn hóa ẩm thực của các dân tộc thiểu số khác[68]. Món chủ yếu trong ẩm thực Myanma là gạo. Mỳbánh mì cũng là các món thường thấy. Ẩm thực Myanma thường sử dụng tôm, , patê cá lên men, thịt lợnthịt cừu[68]. Thịt bò, bị coi là món cấm kỵ, rất hiếm được sử dụng. Các món cà ri, như masalaớt khô cũng được dùng. Mohinga, thường được coi là món quốc hồn Myanma, gồm nước luộc cá trê có gia vị cà ri và hoa đậu xanh, miếnnước mắm[69]. Các loại quả nhiệt đới thường dùng làm đồ tráng miệng. Các thành phố lớn có nhiều phong cách ẩm thực gồm cả Shan, Trung Quốc và Ấn Độ.

Âm nhạc

Bài chi tiết: Âm nhạc Myanma

Âm nhạc truyền thống Miến Điện du dương nhưng không hài hòa. Các nhạc cụ gồm một bộ trống được gọi là pat waing, một bộ cồng gọi là kyi waing, một đàn tre gọi là pattala, chũm chọe, nhạc cụ bộ hơi như hnè hay oboesáo, bamboo clappers, và nhạc cụ bộ dây, thường được kết hợp thành một giàn giao hưởng gọi là saing waing[62][64] Saung gauk, một nhạc cụ bộ dây hình chiếc thuyền gồm các dây tơthủy tinh trang trí dọc theo thân từ lâu đã đi liền với văn hóa Myanma[70]. Từ thập niên 1950, các nhạc cụ phương Tây đã trở nên phổ biến, đặc biệt tại các thành phố lớn[71].

Tôn giáo

Myanma có nhiều tôn giáo khác nhau, trong đó đạo Phật chiếm 89,3% số dân; Thiên Chúa giáo 5,6%; đạo Hồi 3,8%; đạo Hindu 0,5%; các tôn giáo khác như Do Thái giáo, Đa Thần giáo, Vật linh giáo, v.v. Chiếm khoảng 0,8% số dân. Mọi công dân Myanma được tự do tín ngưỡng, tuy theo tôn giáo khác nhau nhưng dân chúng vẫn sống hòa bình, bằng chứng là những kiến trúc của tôn giáo khác nhau cùng được xây dựng và ton trọng tại những thành phố lớn.

Phật giáo

Người dân Myanma sùng đạo Phật, tại bất kỳ thành phố, thị xã nào đều có ít nhất một ngôi chùa và một tu viện Phật giáo. Đạo Phật có ảnh hưởng rất lớn ở Myanma, cuộc sống của người dân không tách rời các nghi lễ Phật giáo. Mùa chay Phật giáo cũng được ghi trên lịch của Myanma là ba tháng mùa mưa, tương đương với thời gian từ tháng 7 đến tháng 10 dương lịch. Trong thời gian đó có các hoạt động ăn chay, cưới xin, chuyển nhà thường được hoãn lại.

Trong các tín đồ Phật giáo ở Myanma có 99% là người Miến, người Shanngười Karen. Cả nước Myanma có khoảng 500.000 tăng ni. Đạo Phật ở Myanma theo dòng Theravada, là Phật giáo Nguyên thủy – tức dòng Phật giáo Tiểu thừa, giáo phái Nam Tông. Sự tu hành của các sư cũng giống như Phật giáo tại Thái Lan, Lào, Sri Lanka, Campuchia: các sư không ở chùa mà ở thiền viện, buổi sáng hằng ngày đi khất thực, không ăn chay và chỉ được ăn từ khi mặt trời mọc đến trước 12h trưa, sau 12h trưa đến sáng hôm sau tuyệt đối không được ăn.

Dưới thời thủ tướng Ne Win, Phật giáo tại Mianma từng được đưa vào Hiến pháp là quốc đạo, nhưng các chính quyền quân sự Myanma tiếp theo đã xóa bỏ điều khoản này để đảm bảo công bằng về tôn giáo.

Cả nước Myanma có hàng vạn đền, chùa, tháp, nằm rải rác trên khắp đất nước. Vì vậy, cũng như Campuchia, Myanma còn được gọi là đất nước Chùa tháp.

Chùa thấp tập trung nhiều nhất ở thành phố Bagan, gồm khoảng hơn 4000 đền, chùa, tháp lớn nhỏ trên diện tích khoảng 40km2.Nhiều chùa, tháp được xây dựng từ đầu thế kỷ nguyên Bagan (thế kỷ 11).

Nhiều chùa tháp của Myanma thường được xây trên các đỉnh núi cao hơn mặt nước biển hàng nghìn mét để cất gi, bảo quản xá lợi Phật và các Phật tích khác. Các ngọn tháp cất giữ xá lợi Phật là những cấu trúc liền khối hình nón với một căn phòng chứa báu vật ở bên dưới. Khu nền bao quanh ngọn tháp là nơi dành cho hành khách hương cầu nguyện, thiền định, tụng kinh hay dâng hương. Những kiến trúc Phật giáo khác gồm có: tượng Phật – được dựng ngoài trời hay dưới một mái che, Phật đường – là nơi tổ chức thuyết pháp và các buổi lễ.

Ở lối vào những ngôi đền, chùa lớn thường có nhiều quầy bán hoa tươi, cành lá, nến, vàng thếp, những chiếc dù, quạt nhỏ bằng giấy màu để dâng lên Đức Phật. Giày dép của khách thập phương phải bỏ bên ngoài mỗi khi bước chân vào đền, chùa.

Myanma cũng có rất nhiều thiền viện – là nơi ở của các nhà sư. Các Phật tử trong và ngoài nước thường tới thiền viện để tỏ lòng kính trọng và dâng đồ bố thí, cúng dường như thức ăn, tiền bạc, áo cà sa và vật dụng cho các sư. Phật tử có thể lưu lại cả tuần, cả tháng, cả năm trong thiền viện để học thiền, nghe thuyết pháp hay nghiên cứu Phật pháp. Nhiều nghi lễ tôn giáo, trong đó có lễ thụ giới và lễ dâng cà sa,… được tổ chức rất trang trọng tại các thiền viện. Một số khu vực trong thiền viện cấm phụ nữ không được lui tới. Vào các kỳ nghỉ hè hằng năm, học sinh từ 6 đến 16 tuổi cũng tạp trung ở đây làm ễ xuống tóc, đổi áo và dự một khóa tu khoảng 1 tháng để học các giới luật, nghe thuyết pháp và tu thiền.

Chùa Shwedagon (chùa vàng) ở Yangon là chùa tháp lớn nhất và đẹp nhất Myanma, được hình thành từ 2500 năm trước và được các triều đạo phong kiến Miến Điện tu bổ, mở rộng dần. Chùa Shewdagon tọa lạc trên một quả đồi cao, rộng, trên đỉnh tháp gắn nhiều kim cương, hồng ngọc, bích ngọc và các loại đá quý, chùa được dát vàng nên lấp lánh dưới ánh mặt trời vào ban ngày và ánh điện về ban đêm. Ỏ Yangoon còn có chùa Phật nằm, chùa Phật ngọc, chùa tóc Phật, chùa răng Phật, v.v.. rất độc đáo.

Chùa Kyaikhtyobang Mon là kỳ quan có một không hai trên thế giới. Chùa được xây trên tảng đá lớn màu vàng chênh vênh trên vách núi cao trông rất ngoạn mục.

Myanma có nhiều học viện Phật giáo ở các thành phố lớn, nơi đã và đang đào tạo các sư có trình độ cao về Phật học. Myanma còn có trường đại học Phật giáo quốc tế tại Yangoon, dành cho sinh viên từ nhiều nước như Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc, Xri Lanca, Nepan, Thái Lan, Campuchia, Lào,.. đến học miễn phí từ bậc đại học đến tiến sĩ.

Thiên Chúa giáo

Thiên chúa giáo lần đầu tiên gia nhập Myanma khoảng đầu thế kỷ 17, hiện chiếm khoảng 5,6% số dân Myanma. Phần lớn tín đồ thiên chúa giáo là người Keren, Chin, Kachin, và người Miến theo Thiên chúa giáo dòng Baptis. Những thừa sai Thiên chúa giáo hoạt động rất tích cực từ thời thuộc địa cho đến giữa những năm 1960, họ thành lập các trường học, bệnh viện và các trung tâm cứu trợ xã hội. Sau năm 1962, những cơ sở này bị chính quyền Myanma quốc hữu hóa.

Hồi giáo

Đạo Hồi tại Myanma chiếm 3,8% số dân và chủ yếu tập trung ở bang Rakhine, phía tây Myanma. Người hồi giáo dòng Rohingya sống chủ yếu ở các quận Maungdau, ButhidaungRathedaung – bang Rakhine. Từ nhiều năm nay, những khu vực này vẫn thường xảy ra xung đột quyết liệt giữa các giáo phái với nhau, đặc biệt là tín đồ Hồi giáo dòng Rohingya với tín đồ Thiên chúa giáo và Phật giáo.

Các tôn giáo khác gồm Do thái giáo, Đa thần giáo, Linh vật giáo,..chiếm khoảng 0,8% số dân Mianma.

Xem thêm

Ảnh

Ghi chú

  1. ^ Dân số các Quốc Gia trên Thế Giới, CIA World Factbook ước tính
  2. ^ George Aaron Broadwell; Dept. of Anthropology; University at Albany, Albany, NY; truy cập 11 tháng 7, 2006
  3. ^ An Account of An Embassy to the Kingdom of Ava by Michael Symes,1795.
  4. ^ a ă â Houtman, Gustaaf (1999). Mental Culture in Burmese Crisis Politics: Aung San Suu Kyi and the National League for Democracy. ISBN 4-87297-748-3.
  5. ^ “The Constitution of the Union of Burma”. DVB. 1947. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2006.
  6. ^ Smith, Martin (1991). Burma -Insurgency and the Politics of Ethnicity. London and New Jersey: Zed Books. tr. 42–43.
  7. ^ “Honoring those who fought for freedom “Golden Anniversary””. Mainichi Daily News. National Coalition Government of Union of Burma. 12 tháng 1 năm 1998. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2006.
  8. ^ Aung Zaw. “Can Another Asian Fill U Thant’s Shoes?”. The Irrawaddy tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2006.
  9. ^ “PYITHU HLUTTAW ELECTION LAW”. State Law and Order Restoration Council. iBiblio.org. 31 tháng 5 năm 1989. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2006.
  10. ^ Khin Kyaw Han (1 tháng 2 năm 2003). “1990 MULTI-PARTY DEMOCRACY GENERAL ELECTIONS”. National League for Democracy. iBiblio.org. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2006.
  11. ^ a ă “The National Convention”. The Irrawaddy. 31 tháng 3 năm 2004. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2006.
  12. ^ “Chính quyền Myanma chuyển sang thủ đô mới”. VietNamNet. 7 tháng 11, 2005. Truy cập 27 tháng 3, 2007.
  13. ^ “Myanma lần đầu giới thiệu thủ đô mới với thế giới”. VietNamNet. 27 tháng 3, 2007. Truy cập 27 tháng 3, 2007.
  14. ^ “The Birth Of The NCGUB”. National Coalition Government of the Union of Burma. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2006.
  15. ^ Aung Zaw. “Than Shwe—Man in the Iron Mask”. The Irrawaddy. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2006.
  16. ^ “Chiefs of State and Cabinet Members of Foreign Governments: Burma”. Central Intelligence Agency. 2 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2006.
  17. ^ McCain, John (11 tháng 5 năm 2003). “Crisis in Rangoon”. National Review Online. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2006.
  18. ^ Brad Adams. “Statement to the EU Development Committee”. Human Rights Watch. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2006.
  19. ^ “Internet Filtering in Burma in 2005: A Country Study”. OpenNet Initiative.
  20. ^ “Burma bans Google and gmail”. BurmaNet News. 27 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2006.
  21. ^ “Myanmar: 10th anniversary of military repression”. Amnesty International. 7 tháng 8 năm 1998. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2006.
  22. ^ The Irrawaddy (2006-05-27). “Suu Kyi’s Detention Extended, Supporters likely to Protest”. The Irrawaddy. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2006.
  23. ^ The Irrawaddy (2006-05-27). “Opposition Condemns Extension of Suu Kyi’s Detention”. The Irrawaddy. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2006.
  24. ^ “About Us”. ASEAN Inter-Parliamentary Myanmar Caucus. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  25. ^ Poon, Khim Shee (2002). “The Political Economy of China-Myanmar Relations: Strategic and Economic Dimensions” (PDF). Ritsumeikan University. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2006.
  26. ^ Selth, Andrew (Spring 2002). “Burma and Superpower Rivalries in the Asia-Pacific”. Naval War College Review. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2006.
  27. ^ “The EU’s relations with Burma / Myanmar”. European Union. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2006.
  28. ^ “Dilemma of dealing with Burma”. BBC News. 2004-10-20. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2004. Đã bỏ qua tham số không rõ |firstname= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |lastname= (trợ giúp)
  29. ^ “How Best to Rid the World of Monsters”. Washington Post. 2003-06-23. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2006. Đã bỏ qua tham số không rõ |firstname= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |lastname= (trợ giúp)
  30. ^ “Reuters Belgian group seeks Total boycott over Myanmar”. Ibiblio (Reuters). 1999-05-10. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2006.
  31. ^ a ă â b CIA Factbook
  32. ^ Starck, Peter (7 tháng 6 năm 2005). “World Military Spending Topped $1 Trillion in 2004”. Reuters. Common Dreams NewsCenter. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2006.
  33. ^ “Administrative divisions”. The World Factbook. Central Intelligence Agency. 29 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  34. ^ a ă â Thein, Myat (2005). Economic Development of Myanmar. ISBN 981-230-211-5.
  35. ^ Dr. Patrick Hesp et al. biên tập (2000). Geographica’s World Reference. Random House Australia. tr. 738, 741.
  36. ^ a ă Than, Mya (2005). Myanmar in ASEAN: Regional Co-operation Experience. ISBN 981-230-210-7.
  37. ^ a ă Myanmar’s Forest Law and Rules BurmaLibrary.org Truy cập 15 tháng 7, 2006
  38. ^ “Flora and Fauna” at Myanmars.net
  39. ^ Watkins, Thayer. “Political and Economic History of Myanmar (Burma) Economics”. San José State University. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2006.
  40. ^ Stephen Codrington (2005). Planet geography. Solid Star Press. tr. 559. ISBN 0-9579819-3-7.
  41. ^ “List of Least Developed Countries”. UN-OHRLLS. 2005.
  42. ^ Henderson, Joan C. “The Politics of Tourism in Myanmar”. Nanyang Technological University. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2006.
  43. ^ Fullbrook, David (4 tháng 11 năm 2004). “So long US, hello China, India”. Asia Times. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2006.
  44. ^ a ă “Challenges to Democratization in Burma” (PDF). International IDEA. November năm 2001. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2006.
  45. ^ “Myanmar Country Profile” (PDF). Office on Drugs and Crime. United Nations. December năm 2005. tr. 5–6. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  46. ^ Brown, Ian (2005). A Colonial Economy In Crisis. Routledge. ISBN 0-415-30580-2.
  47. ^ “POPULATION AND SOCIAL INTEGRATION SECTION (PSIS)”. UN Economic and Social Commission for Asia and the Pacific.
  48. ^ “Conflict and Displacement in Karenni: The Need for Considered Responses”. PDF. Burma Ethnic Research Group. May năm 2000. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2006.
  49. ^ “Thailand: The Plight of Burmese Migrant Workers”. Amnesty International. 8 tháng 6 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 3 năm 2006. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2006.
  50. ^ “Myanmar Refugees in South East Asia”. PDF. UNHCR. April năm 2006. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2006.
  51. ^ Gamanii. “135: Counting Races in Burma”. The New Era Journal. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2006.
  52. ^ Mya Than (1997). Trong Leo Suryadinata. Ethnic Chinese As Southeast Asians. ISBN 0-312-17576-0.
  53. ^ Gordon, Raymond G., Jr. (2005). “Languages of Myanmar”. SIL International. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2006.
  54. ^ a ă Gordon, Raymond G., Jr. (2005). “Language Family Trees: Sino-Tibetan”. Ethnologue: Languages of the World, Fifteenth edition. SIL International. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  55. ^ “Adult (15+) Literacy Rates and Illiterate Population by Region and Gender for 2000-2004” (XLS). UNESCO Institute of Statistics. April năm 2006. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2006.
  56. ^ Robert I Rotberg biên tập (1998). Burma: Prospects for a Democratic Future.
  57. ^ a ă Priestly, Harry (tháng 1 năm 2006). “The Outsiders”. The Irrawaddy. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2006.
  58. ^ Samuel Ngun Ling (2003). “The Encounter of Missionary Christianity and Resurgent Buddhism in Post-colonial Myanmar” (PDF). Payap University. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2006.
  59. ^ “Ramayana in Myanmar’s heart”. Goldenland Pages. 13 tháng 9 năm 2003. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2006.
  60. ^ Temple, R.C. (1906). The Thirty-seven Nats-A Phase of Spirit-Worship prevailing in Burma.
  61. ^ “The Worshipping of Nats – The Special Festival of Mount Popa”.
  62. ^ a ă â Khin Myo Chit (1980). Flowers and Festivals Round the Burmese Year.
  63. ^ a ă Tsaya (1886). Myam-ma, the home of the Burman. Calcutta: Thacker, Spink and Co. tr. 36–37.
  64. ^ a ă Shway Yoe (1882). The Burman – His Life and Notions. New York: Norton Library 1963. tr. 211–216,317–319.
  65. ^ Martin, Steven (30 tháng 3 năm 2004). “Burma maintains bygone buildings”. BBC News. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  66. ^ Scott O’Connor, V. C. (1904). The Silken East – A Record of Life and Travel in Burma. Scotland 1993: Kiscadale. tr. 32.
  67. ^ “Proposal for encoding characters for Myanmar minority languages in the UCS” (PDF). International Organization for Standardization. 2 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  68. ^ a ă Kong, Foong Ling (2002). Food of Asia. Tuttle Publishing. ISBN 0-7946-0146-4.
  69. ^ “Get a taste of Myanmar’s national dish”. Indo-Asian News Service (PlanetGuru).
  70. ^ “Postcard of Saung Gauk (arched harp)”. National Music Museum. University of South Dakota. 18 tháng 10 năm 2004. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2006.
  71. ^ “Myanmar worries as rappers upstage traditional xylophones”. Agence France Presse (BurmaNet News). 28 tháng 9 năm 2005. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2006.

Liên kết ngoài

Các bài nghiên cứu:

Burj Khalifa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Burj Khalifa
8/1/2010
Thông tin chung
Tình trạng Hoàn thành
Xây dựng
Động thổ 21 tháng 9 2004
Hoàn thành 30 tháng 12 2008[1]
Khánh thành 4 tháng 1 2010[2]
Khánh thành 4 tháng 1 2010[2]
Chi phí xây dựng 1,5 tỷ USD
Số tầng 160 tầng có thể ở được
46 cấp bảo trì trong các chóp
2 tầng hầm
Diện tích sàn 344.000
Chiều cao
Tính đến mái 643,3m
Tính đến sàn cao nhất 624,1 m (ước tính)
Thiết kế
Kiến trúc sư Skidmore, Owings and Merrill

Burj Khalifa (tiếng Ả Rập: برج خليفة “Tháp Khalifa”), trước kia tên là Burj Dubai, là một nhà chọc trời siêu cao ở “Trung tâm Mới” của Dubai, Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất. Nó hiện là công trình cao nhất thế giới. Tòa nhà được đưa vào sử dụng ngày 4 tháng 1 năm 2010[2][3]. Đây là một phần của một tổ hợp phát triển lớn mang tên Downtown Burj KhalifaGiao lộ Thứ nhất dọc theo Đường Sheikh Zayed, vốn là khu trung tâm tài chính của Dubai. Công tác thiết kế và thi công được thực hiện bởi công ty Skidmore, Owings and Merrill LLP (SOM) từ Chicago. Adrian Smithkiến trúc sư trưởng và Bill Bakertrưởng công trình sư của tháp Khalifa. Công tác xem xét của bên thứ ba (Third Party Peer Review) được thực hiện bởi CBM Engineers Inc.

Chiều cao

Chiều cao hiện tại

Đến ngày 21 tháng 7 năm 2007, những nhà phát triển tòa tháp cho biết chiều cao của tòa tháp là 512,1 m, với 141 tầng hoàn thành,[4] vượt qua tháp Taipei 101 (509,2 m (1.671 ft)) để trở thành tòa nhà cao nhất thế giới.[5]

Vào tháng 2 năm 2007, tháp Burj Khalifa đã vượt qua tháp Sears Towertòa nhà có nhiều tầng nhất trên thế giới.

Ngày 20 tháng 7 năm 2007, chủ tịch Hội đồng Nhà cao tầng và Chỗ ở đô thị (CTBUH), Antony Wood, đã xác nhận tòa tháp này “đã vượt qua chiều cao tháp Taipei 101 về mặt cấu trúc (bê tông).” [6] Tuy nhiên, ông cũng nói thêm “Chúng tôi sẽ không xếp loại nó là một tòa nhà cho đến khi nó hoàn thành, che phủ và ít nhất mở cửa một phần để kinh doanh để tránh những thứ như dự án Ryungyong. Tháp Taipei 101 do đó vẫn là tòa nhà cao nhất thế giới cho đến khi những gì tôi nói ở trên xảy ra.” Tháp CN, ở Toronto, Canada, cho đến nay vẫn là cấu trúc đứng tự do cao nhất thế giới với chiều cao 553 m, một chiều cao mà tháp Burj Dubai sẽ vượt qua một thời gian nữa trong năm nay.[5]

Tính đến ngày 12 tháng 5 năm 2008, tháp đã đạt độ cao 636m với 160 tầng.[7]

Đầu năm 2009, ngày 17 tháng 1, tòa tháp Dubai đã đạt độ cao 818 m (2.684 ft)[8]

Ngày 4 tháng 1 năm 2010, công trình này đã được khánh thành với chiều cao 828m, bao gồm 164 tầng.

Các kỷ lục hiện tại (Burj Khalifa)

  • Tòa nhà với nhiều tầng nhất: 164 (trước đây là Sears Tower – 110)
  • Tòa nhà chọc trời cao nhất tính đến mái: 512 m (trước đây là tháp Taipei 101 – 449,2 m)
  • Tòa nhà chọc trời cao nhất đến đỉnh: 512,1 m (kỷ lục trước đó là Taipei 101 – 509,2 m (1.670,6 ft))
  • Bơm bê tông thẳng đứng (cho một tòa nhà): 512,1 m (trước đây Taipei 101 – 439,2 m)
  • Ban công quan sát cao nhất thế giới
  • Thang máy chạy nhanh nhất thế giới: 64 km/h

Chiều cao theo dự án

Chiều cao chính thức theo dự án của tháp Burj Khalifa về mặt chính thức được giữ bí mật do cạnh tranh; tuy nhiên, các số liệu do một nhà thầu đưa ra về dự án thì cho rằng chiều cao của tháp này khoảng 810 m.[9] Căn cứ trên chiều cao này, số lượng tầng lầu có thể ở được dự kiến là 162 tầng. Tuy nhiên, khi bị ép cấp một con số chính xác, viên giám đốc dự án này chỉ lặp lại rằng ông chỉ có thể đảm bảo xác nhận rằng, chiều cao cuối cùng của tòa tháp có thể cao hơn 700 m, và nó sẽ là cấu trúc đứng tự do cao nhất thế giới khi hoàn thành.[cần dẫn nguồn]

Lịch sử tăng chiều cao

Dù không được xác nhận, người ta đã đồn đại rằng tháp Burj Khalifa đã trải qua nhiều lần tăng chiều cao kể từ khi bắt đầu. Theo đề xuất ban đầu đây là một bản sao mô phỏng Tháp Grollo được đề xuất cho Melbourne, tháp này đã nhanh chóng được thiết kế lại với một bản thiết kế ban đầu của Skidmore Owings and Merrill (SOM) nhìn thấy ở trên và được thảo luận dưới đây. Theo thiết kế này thì tòa tháp có chiều cao khoảng 705 m. Các thông tin trái ngược nhau nhan nhản về chiều cao chính thức của tòa tháp, which is to be expected considering the building seeks to acquire the designation as the world’s tallest structure upon completion in 2009. Một website[10] đã cho rằng chiều cao cuối cùng theo tin đồn là 916 m được đăng tải vào ngày 28 tháng 9 năm 2006 nhưng thông tin này trái ngược với một tin ngày 20 tháng 9 về chiếu cao 940 m của tòa tháp.[11]

Cựu kiến trúc sư của SOM, Adrian Smith, cảm thấy rằng phần đỉnh của tòa nhà lên đến tột đỉnh một cách thanh nhã và ông đã thỉnh cầu và đã nhận được chấp thuận tăng chiều cao của nó đến độ cao theo kế hoạch hiện nay. Đã có tuyên bố dứt khoát rằng sự thay đổi này đã không bao gồm các tầng bổ sung,[12], phù hợp vớ các cố gắng của Smith để làm cho nóc tháp mảnh khảnh hơn. Tuy nhiên, đoạn trên của tháp từ tầng 156 lên phía trên hay từ 585,7 m lên đến nóc sẽ là kết cấu thép, không giống như phần dưới là bê tông cốt thép. Công ty triển khai dự án này, Emaar, đã cho rằng phần kết cấu thép này có thể được nới dài thêm để đánh bại bất kỳ tháp nào về danh hiệu cao nhất; tuy nhiên khi đã hoàn thành, chiều cao tháp Khalifa này không thể thay đổi được.

Khánh thành

Panoramic of Dubai - Nov 2009.JPG

Nhìn từ Burj Khalifa ra ngoài

Ngày 4 tháng 1 năm 2010, tiểu vương quốc Dubai khánh thành tòa nhà Burj Khalifa. Những đợt pháo bông màu sắc rực rỡ vọt lên bầu trời và rơi xuống kiến trúc khổng lồ sau khi tòa nhà được chính thức khánh thành bởi lãnh tụ Dubai, Sheikh Mohammad bin Rashed al-Maktoum. Những tay nhảy dù mang các màu đỏ, xanh lá cây, đen và trắng của tiểu vương quốc sau đó chạm đất giữa lúc một chức chân dung khổng lồ của Sheikh Khalifa được dựng trên một bức tường bên ngoài của kiến trúc mà việc xây dựng tốn kém tới 20. tỉ đô la. Dubai hy vọng việc khai trương Burj Khalifa – kiến trúc mới nhất trong một loạt các dự án khổng lồ – sẽ đánh bóng một hình ảnh bị hoen ố vì nợ nần.

Ngọn tháp nhọn, được nhà xây dựng nó mô tả như một “thành phố thẳng đứng” khi nó làm lu mờ các tòa nhà chọc trời hiện hữu, nâng cao các giới hạn mới về thiết kế và xây dựng. Một thiết kế hình chữ Y xoắn ốc được sử dụng để chống đỡ lõi của ngọn tháp, hẹp dần khi nó vươn lên cao. Lên cao nữa nó trở thành một kiến trúc bằng thép mà trên cùng là một hình chóp khổng lồ. Lễ khánh thành ngọn tháp diễn ra giữa lúc Dubai chống chọi với một cuộc khủng hoảng nợ nần nghiêm trọng, gây ra bởi việc vay mượn khổng lồ của một số các công ty nhà nước để tài trợ các dự án bất động sản hùng vĩ.

Dubai thoát trong gang tấc thảm họa tài chánh vào tháng 12 năm 2009 khi nước giàu có láng giềng Abu Dhabi tung ra chiếc phao cứu sinh 10 tỉ đô la vào phút chót để trả nợ tới hạn trả của Dubai World. Nhóm này khởi sự những cuộc thương lượng với các chủ nợ với hy vọng đạt được một thỏa thuận về tái xây dựng một món nợ tích lũy khoảng 22 tỉ đô la mà những chi nhánh gặp rắc rối của nó gây ra. Nợ nần tổng cộng của Dubai, phần lớn là nợ của các công ty do nhà nước làm chủ, lên tới 100 tỉ đô la.

Xây dựng

Toà tháp được xây dựng bởi Samsung Engineering & Construction , tập đoàn cũng xây dựng the Petronas Twin Towers và Taipei 101.[83] Samsung Engineering & Construction xây dựng tòa tháp liên doanh với Besixtừ Bỉand Arabtec từ UAE. Turner là quản lý dự án chính của công trình.[84]

Kết cấu chủ yếu của công trình là bê tông cốt thép. Putzmeistertạo ra một máy bơm bê tông mới, áp suất cực cao, the BSA 14000 SHP-D, cho dự án.[19] Trên 45,000 m3 (58,900 cu yd) bê tông, nặng hơn 110,000 tấn được dùng để đổ móng bê tông cốt thép, dùng cho 192 cọc; mỗi cọc kích thước 1.5 m bán kínhx 43 m dài, chôn sâu hơn 50 m (164 ft).[20] Xây dựng tháp Bủrj Khalifa dùng khoảng 330,000 m3 (431,600 cu yd) bê tông và 55,000 tấn thép, xây dựng tốn khoáng 22 triệu giờ công.[10] Bê tông mật độ cao và tính thấm thấp được sử dụng cho móng của Burj Khalifa. Hệ thống bảo vệ Ca tốt dưới đệm được sử dụng để tối thiểu thiệt hại ăn mòn hóa học trong nước ngầm.[44] Tháng 5 năm 2008, Putzmeister bơm bê tông đạt kỷ lục thế giới mới 606 m (1,988 ft),[19] tầngt thứ 156. Ba cẩu thấp được sử dụng trong suốt quá trình , có khả năng nâng 25 tẩn tải.[85] Phần còn lại phía trên được xây dựng bằng thép nhẹ.

Burj Khalifa is highly compartmentalised. Tầng trú ẩn với áp suất và điều hòa không khí được đặt mỗi 35 tầng là nơi trú ấn trong trường hợp cháy khẩn cấp.

Hỗn hợp bê tông đặc biệt đựoc làm để chịu áp lực cực cao từ khối lượng khổng lồ của tòa nhà . CTLGroup, working for SOM, tiến hành thử nghiệm từ biến và nứt quan trọng cho phân tích kết cấu công trình.[87]

Hình ảnh

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ “Burj Dubai Skyscraper (Photos)”. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2007.
  2. ^ a ă “Official Opening of Iconic Burj Dubai Announced”. Gulfnews. 4 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2009.
  3. ^ “World’s tallest building opens in Dubai”. BBC News. 4 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2010.
  4. ^ “Dubai boasts world’s tallest building”. ABC News. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2007.
  5. ^ a ă “Dubai skyscraper world’s tallest” (bằng tiếng Anh). BBC News. 2007-07-22. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2007.
  6. ^ “Burj Dubai Height Overtakes Taipei 101”. skyscrapernews.com. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2007.
  7. ^ “Burj Dubai sets new global record in glass panel installation”. Emaar. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2008.
  8. ^ “Burj Dubai all set for 09/09/09 soft opening”. Emirates Business24/7. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2009.
  9. ^ Project information, doka- The Formwork Experts, truy cập 2006-05-04
  10. ^ burjdubaiskyscraper.com
  11. ^ “Builder: Dubai High-Rise World’s Tallest”. AP News. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2007.
  12. ^ Cityscape Daily News, Cityscape, 2005-09-18, truy cập 2006-05-05

Liên kết ngoài

Tham khảo


Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính 
hoangkim vietnam, hoangkim, hoangkimvietnam, Hoàng Kim, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, foodcrops.vnCassava in Vietnam, Cassava News, VietnamAfricaCassavaRice, Khát khao xanh, DayvahocHọc mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, Câu chuyện ảnh, 5 phút thư giản, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con 

Advertisements

3 thoughts on “Chào ngày mới 4 tháng 1

  1. Pingback: CNM365 Chào ngày mới | Hoàng Kim

  2. Pingback: Chào ngày mới 13 tháng 2 | Chào ngày mới

  3. Pingback: Chào ngày mới 4 tháng 1 | Tình yêu cuộc sống

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s