Chào ngày mới 16 tháng 1


 Augustus

CNM365 Chào ngày mới 16 tháng 1: Wikipedia Ngày này năm xưa  Năm 27 TCN, Augustus người thừa kế của Caesar được Viện nguyên lão ban tước Gaius Julius Caesar Octavianus , đánh dấu sự khởi đầu của Đế quốc La Mã. Năm 1959 – ngày mất Phan Khôi, “nắng được thì cứ nắng“, “ngự sử văn đàn Việt“, nhà báo, tác gia nổi tiếng người Việt Nam (sinh năm 1887). Năm 1605Đôn Kihôtê, nhà hiệp sĩ quý tộc tài ba xứ Mancha của Miguel de Cervantes ấn bản đầu tiên của tiểu thuyết được phát hành tại Madrid, Tây Ban Nha.

16 tháng 1

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày 16 tháng 1 là ngày thứ 16 trong lịch Gregory. Còn 349 ngày trong năm (350 ngày trong năm nhuận).

« Tháng 1 năm 2016 »
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31

Mục lục

Sự kiện

Sinh

Mất

Những ngày lễ và kỷ niệm

Tháng 1 | Tháng 2 | Tháng 3 | Tháng 4 | Tháng 5 | Tháng 6 | Tháng 7 | Tháng 8 | Tháng 9 | Tháng 10 | Tháng 11 | Tháng 12

Tham khảo

Augustus

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Augustus
Hoàng đế đầu tiên của Đế quốc La Mã
Statue-Augustus.jpg

Tượng của Caesar Augustus.
Tại vị 16 tháng 1 năm 27 TCN19 tháng 8 năm 14
Tiền nhiệm không (Đế quốc được thành lập)
Kế nhiệm Tiberius Vua hoặc hoàng đế
Thông tin chung
Phối ngẫu
Hậu duệ
Tên đầy đủ Gaius Julius Caesar Octavianus
Hoàng tộc Julia-Claudia
Thân phụ Gaius Octavius;
được Julius Caesar nhận làm còn nuôi
Thân mẫu Atia Balba Caesonia
Sinh 23 tháng 9, 63 TCN
Roma, Cộng hòa La Mã
Mất 19 tháng 8, 14 (ở tuổi 77)
Roma, Đế quốc La Mã
An táng Lăng Augustus

Augustus (phát /ɔːˈɡʌstəs/;[1] tiếng Latinh: Imperator Gaius Julius Caesar Augustus;[2] 23 tháng 9 năm 63 TCN19 tháng 8 năm 14, tên lúc khai sinh là Gaius Octavius và được biết đến với cái tên Gaius Julius Caesar Octavianus (tiếng Latinh cổ: GAIVS•IVLIVS•CAESAR•OCTAVIANVS) giai đoạn sau năm 27, là Hoàng đế đầu tiên của Đế quốc La Mã, trị vì La Mã từ 27 TCN đến khi qua đời năm 14. Octavian được người ông cậu của mình, Julius Caesar nhận làm con nuôi và thừa hưởng mọi di sản của Caesar sau khi ông bị ám sát năm 44 TCN. Những năm tiếp theo, Octavian tham gia Liên minh tam hùng lần thứ 2 cùng với Marcus AntoniusMarcus Aemilius Lepidus. Như là một thành viên của Tam đầu chế, Octavius cai trị La Mã và hầu như toàn bộ các vùng thuộc địa Châu Âu của nó một cách chuyên quyền, chiếm giữ cả quyền chấp chính tối cao sau khi hai chấp chính Aulus HirtiusGaius Vibius Pansa Caetronianus qua đời và đảm bảo khả năng tái cử bất biến của mình. Tam đầu chế tan rã sau khi hoàn thành mục tiêu của những kẻ lập ra nó: Lepidus bị buộc lưu vong và Antonius buộc phải tự sát sau khi bại trận tại Actium trước Octavian năm 31 TCN.

Sau khi Tam đầu chế thứ Hai tan rã, Octavius vẻ bên ngoài là khôi phục lại Cộng hoà La Mã, với quyền lực tối cao là của Viện nguyên lão nhưng thực chất là vẫn nằm trong tay ông. Phải mất sáu hay bảy năm để tìm ra được một khuôn mẫu chính xác để một nước chính thức vẫn theo thể chế Cộng hòa nhưng bây giờ được lãnh đạo bởi một lãnh tụ duy nhất; kết quả là thể chế được biết đến như là Đế quốc La Mã. Chức vụ hoàng đế không bao giờ giống như độc tài La Mã mà Caesar và Sulla đã từng nắm giữ trước đó; thật vậy, ông đã khước từ khi đại đa số dân La Mã muốn “đưa ông lên chức vụ độc tài” [3] Theo pháp luật, Augustus có một tập hợp các quyền lực ông có suốt đời do Viện nguyên lão giao cho ông, bao gồm cả quyền lên diễn đàn để diễn thuyết, quyền kiểm duyệt, và quyền lãnh đạo, mà không cần phải được bầu vào những cơ quan tương ứng với các chức vụ đó, gồm quan bảo dân, quan giám sát, và chấp chính tối cao. Quyền lực áp đảo của ông có được từ những thành công về tài chính và những nguồn lợi thu được từ các cuộc chinh phạt, sự xây dựng các mối quan hệ bảo trợ trong suốt toàn lãnh thổ Đế quốc, sự trung thành của binh sĩ và những cựu chiến binh, quyền lực từ những vinh dự được phong cho bởi Viện Nguyên lão[4], và sự kính trọng, ỵêu mến của dân chúng. Sự nắm giữ đa số các sư đoàn lê dương có thể tạo thành mối đe dọa quân sự đối với Viện Nguyên lão, cho phép ông áp đặt các quyết định mà không cần thông qua ý kiến của Viện Nguyên lão. Với khả năng loại bỏ những Nguyên lão đối lập với biện pháp quân sự, Viện Nguyên lão trở nên ngoan ngoãn dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của ông.

Triều đại của Augustus đã mở ra một thời đại tương đối hòa bình được biết đến như là Pax Augusta, hay là hòa bình của Augustus. Mặc dù các cuộc chiến tranh liên tục nổ ra ở biên giới, và một năm nội chiến về việc nối ngôi Hoàng đế, vùng Địa Trung Hải là hòa bình trong hơn hai thế kỉ. Augustus mở rộng lãnh thổ của Đế quốc La Mã, bảo vệ được biên giới của Đế quốc với nhiều nước chư hầu, và thiết lập hòa bình với Parthia thông qua các biện pháp ngoại giao. Ông đã cải cách lại hệ thống thuế của La Mã, phát triển một mạng lưới đường sá với hệ thống liên lạc chính thức, thiết lập quân đội thường trực (và một lực lượng hải quân nhỏ), thiết lập lực lượng Cận vệ Praetorian, và tạo ra hệ thống bảo an và lính cứu hỏa cho thành Roma. Nhiều thành phố được xây dựng lại dưới thời của Augustus; và ông viết lại những thành tựu mà chính ông đã làm được, được biết đến như là Res Gestae Divi Augusti, tồn tại tới nay. Khi ông chết vào năm 14, Augustus được phong là một vị thần bởi Viện Nguyên lão, được thờ phụng bởi dân La Mã. Tên của ông Augustus và của Caesar được lấy làm đế hiệu của các hoàng đế sau này, và tháng Tám (August) được chính thức đặt tên theo tên ông. Sau khi ông mất, con rể ông là Tiberius nối ngôi.

Tuổi trẻ

Các Triều đại Đế quốc La Mã
Triều đại Julia-Claudia
Augustus
(27 TCN – 14 CN)
Con cái
   Con ruột – Julia lớn
   Con nuôi – Gaius Caesar, Lucius Caesar, Agrippa Postumus, Tiberius
Tiberius
(14 CN – 37 CN)
Con cái
   Con ruột – Julius Caesar Drusus
   Con nuôi – Germanicus
Caligula
(37 CN – 41 CN)
Con cái
   Con ruột – Julia Drusilla
   Con nuôi – Tiberius Gemellus
Claudius
(41 CN – 55 CN)
Con cái
   Con ruột – Claudia Antonia, Claudia Octavia, Britannicus
   Con nuôi – Nero
Nero
(55 CN – 68 CN)
Con cái
   Con ruột – Claudia Augusta
Bài chi tiết: Tuổi trẻ Augustus

Mặc dù quê nội của mình sống ở Velletri, một thị trấn nhỏ nằm cách Roma 40 kilômét (25 mi) nhưng Augustus lại được sinh ra tại Roma vào ngày 23 tháng 9 năm 63 TCN. Mẹ ông sinh ra ông tại Ox Head, một mảnh đất nhỏ trên đồi Palentinus thuộc quyền sở hữu của gia đình, nằm rất gần với Khu chợ La Mã. Ông được đặt tên là Gaius Octavius Thurinus, tên họ của ông có thể là nhằm kỷ niệm chiến thắng của cha ông trước một đội quân nô lệ khởi nghĩa trên núi Thurii.[5][6]

Do sự chật chội của thành Roma vào thời điểm đó, ông được đưa về quê nội Velletri và lớn lên tại đây. Octavius chỉ đề cập đến một thời gian ngắn trong khoảng thời gian sinh sống tại quê cha. Ông cụ nội của ông là một quan bảo dân thời Chiến tranh Punic lần thứ hai. Ông nội của ông cũng đã giữ vài chức vụ địa phương. Cha của ông, cũng có tên là Gaius Octavius đã từng là Thống đốc của Macedonia.[7][8]. Mẹ ông, Atia, là cháu gái của Julius Caesar.[9]

Năm 59 trước Công nguyên, khi ông lên bốn tuổi, cha ông qua đời. Mẹ của ông sau đó tái hôn với cựu thống đốc của Syria, Lucius Marcius Philippus[10].Bản thân Philippus thì lại tuyên bố ông ta là hậu duệ của Alexandros Đại đế, và được bầu làm chấp chính quan trong năm 56 trước Công nguyên. Philippus cũng chưa bao giờ có nhiều quan tâm đối với Octavius khi còn nhỏ. Bởi vì điều này, Octavius đã ​​được nuôi dưỡng bởi bà ngoại của mình (và là chị gái của Julius Caesar), Julia Caesaris.

Năm 52 hay 51 trước Công nguyên, Octavius đã đọc điếu văn tại đám tang của bà ngoại. Từ thời điểm này, mẹ và cha dượng của ông đã đóng một vai trò tích cực hơn trong việc nuôi dạy ông. Ông đủ tuổi mặc áo choàng La Mã bốn năm sau đó,[11] thời điểm mà ông được bầu vào Giáo đoàn Pontificum năm 47 trước Công nguyên.[12][13] Năm tiếp theo ông đảm đương trọng trách về Đại hội Thể Thao Hy Lạp cổ nhằm tôn vinh Đền thờ Venus Genetrix, ngôi đền mà Julius Caesar xây dựng. Theo Nicolaus Damascus, Octavius muốn được theo đoàn tùy tùng của Caesar trong chiến dịch ở Phi Châu nhưng bị mẹ ông phản đối[14]. Năm 46 trước CN, bà tán thành cho ông tới chỗ Caesar ở Hispania, nơi ông ta dự định tiến đánh tàn quân của Pompeius, kẻ thù cũ của Caesar, nhưng Octavius bị bệnh và không thể đi được.

Sau khi bình phục, ông đi đường biển đến với nơi Caesar đang ở, nhưng bị đắm tàu; sau khi cập bờ với một số tùy tùng, ông vượt qua lãnh thổ thù địch để đến nơi Caesar đóng quân, và gây một ấn tượng mạnh mẽ cho người bác[11]. Velleius Paterculus về sau cho biết Caesar sau đó đã cho phép Octavius cùng dùng chung xe ngựa với mình. Khi trở về Roma, Caesar gửi gắm ý định với Các Trinh nữ Vestal, rằng Octavius là người kế thừa thứ nhất[15].

Vươn lên nắm quyền lực

Người thừa kế của Caesar

Cái chết của Caesar, bởi Jean-Léon Gérôme (1867). Vào 15 tháng 3 44 TCN, cha nuôi của Octavius là Julius Caesar bị ám sát bởi một âm mưu đứng đầu bởi Marcus Junius BrutusGaius Cassius Longinus.

Khi Caesar bị mưu sát vào ngày 15 tháng 3 năm 44 TCN, Octavian đang học và trải qua huấn luyện quân sự tại Apollonia, Illyria. Từ chối lời khuyên của một vài sỹ quan quân đội là ở lại dưới sự bảo vệ của quân đội ở Macedonia, ông đi đường biển về Italia để thử xem liệu là mình còn có tương lai chính trị hay đảm bảo về an ninh nào không.[16] Sau khi đến Lupiae gần Brundisium, ông biết được nội dung của di chúc của Caesar, và chỉ lúc đó ông mới quyết định trở thành người thừa kế về mặt chính trị của Caesar, cũng như là người thừa kế toàn bộ di sản khác mà Caesar để lại[13][16][17].

Do không còn người con hợp pháp nào còn sống (con gái của ông Julia đã qua đời năm 54 TCN), Caesar đã nhận người cháu của mình, chính là Octavian, làm con trai và người thừa kế thứ nhất[18]. Nhờ vào việc được Caesar nhận làm con nuôi, Octavian đã đổi tên thành Gaius Julius Caesar. Dã sử La Mã nói rằng ông còn thêm vào họ của mình Octavianus (Octavian) để chỉ đến gia đình mình; tuy vậy, chẳng có chứng cớ nào cho hay ông đã sử dụng cái tên này (nó sẽ chỉ đến gia đình gốc của ông quá rõ ràng, điều này sẽ không có lợi cho ông khi mà ông đã là Con trai của Gaius Julius Caesar trong mắt người La Mã lúc bấy giờ)[19][20]. Marcus Antonius về sau nói rằng Octavian được nhận làm con nuôi vì mối quan hệ đồng tính của mình với Caesar, theo Tiểu sử 12 hoàng đế của Suetonius Antonius đã vu cáo Octavian vì mục đích chính trị[21].

Muốn tham gia chính trị ở La Mã, Octavian không thể dựa vào số ngân sách hạn chế của mình[22]. Sau khi được binh lính của Caesar chào đón nồng nhiệt tại Brundisium[23], Octavian yêu cầu một phần trong số ngân quỹ mà Caesar đã định dùng để tiến hành chiến tranh với Parthia ở Trung Đông[22]. Số ngân quỹ này gồm khoảng chừng bảy trăm triệu sestertius (tiền La Mã thời bấy giờ) hiện đang được cất giữ tại Brundisium, vốn là trạm chỉ huy những chiến dịch quân sự tại phương Đông của La Mã[24]. Về sau, Viện Nguyên lão cũng mở cuộc điều tra về sự “biến mất” của số ngân quỹ này, nhưng không làm gì được Octavian, vì Octavian sử dụng chính số tiền này để chiêu mộ một lực lượng chống lại chính kẻ thù của Viện, Marcus Antonius[23]. Octavian còn thực hiện một bước đi táo bạo trong năm 44 TCN khi chiếm đoạt các cống phẩm hàng năm được gửi từ tỉnh Cận Đông thuộc La Mã đến Ý mà chưa nhận được sự cho phép chính thức nào cả[20][25].

Octavian bắt đầu tạo dựng đạo quân riêng của mình từ các cựu lính lê dương và đội quân mà Caesar vốn dĩ định dùng để đánh nhau với Parthia; và nhằm tạo sự ủng hộ, Octavian nhấn mạnh vào địa vị người thừa kế Caesar của mình[16][26]. Trên đường về Roma, Octavian và ngân quỹ của ông đã thu hút rất nhiều những cựu binh từng tham gia quân đội của Caesar và đang đóng tại Campania[20]. Tới tháng 6, ông đã tuyển được 3.000 cựu binh trung thành với mình, mức lương ông trả cho mỗi người là 500 denarius[27][28][29].

Tranh vẽ Augustus váo thế kỷ 20, từ bức tượng Augustus của Prima Porta.

Tới Roma vào ngày 6 tháng 5 năm 44 TCN[20], Octavian thấy rằng quan chấp chính Marcus Antonius, đồng sự trước đây của Caesar, đang ở trong tình thế thỏa hiệp khó xử với những kẻ ám sát nhà độc tài; họ đã được đại ân xá vào 17 tháng 3, thế nhưng Antonius đã thành công trong việc đuổi họ ra khỏi thành Roma[20]. Việc này là do điếu văn “đầy xúc động” được đọc tại lễ tang của Caesar, đã làm công chúng chống lại những kẻ ám sát[20].

Mặc dù Marcus Antonius đang tập trung được sự ủng hộ về chính trị, Octavian vẫn có cơ hội tranh đấu với ông ta như là thành viên đứng đầu trong nhóm ủng hộ Caesar. Marcus Antonius đã mất sự ủng hộ từ nhiều công dân La Mã và những người ủng hộ Caesar khi ông ta là người đầu tiên chống lại việc tôn Caesar lên địa vị thần thánh[30]. Octavian đã không thành công trong việc thuyết phục Antonius trao lại số tiền của Caesar cho mình, nhưng đã có được sự ủng hộ từ những người ủng hộ Caesar vào mùa hè năm đó[31]. Vào tháng 9, nhà hùng biện phe Optimates Marcus Tullius Cicero bắt đầu tấn công Antonius trong một chuỗi các bài diễn thuyết, miêu tả rằng Antonius chính là mối nguy lớn nhất đối với trật tự của Viện nguyên lão[32][33]. Với việc dư luận của Roma quay lưng trở lại chống mình và năm chấp chính bản thân ông ta đã gần chấm dứt, Antonius đã cố gắng để thông qua những đạo luật nhằm giúp cho ông ta có thể nắm quyền xứ Cisalpine Gaul, đã được giao lại như là một phần của tỉnh của ông ta, từ tay Decimus Junius Brutus Albinus, một trong những kẻ ám sát Caesar[34][35]. Trong khi đó Octavian xây dựng một lực lượng quân đội riêng ở Ý bằng cách tuyển chọn những cựu binh của Caesar, và vào 28 tháng 11 đã lôi kéo được hai quân đoàn của Antonius bằng cách mua chuộc họ[36][37][38]. Với lực lượng lớn mạnh và được trang bị đầy đủ của Octavian, Antonius thấy rằng ở lại Roma là nguy hiểm, và viện nguyên lão đã thở phào khi ông ta bỏ chạy về Cisalpine Gaul, xứ đó được trao cho ông ta vào 1 tháng 1[38].

Chiến tranh lần thứ nhất với Antonius

Sau khi Decimus Brutus từ chối trao trả Cisalpine Gaul, Antonius bao vây ông ta tại Mutina.[39] Những nghị quyết được Viện Nguyên lão thông quan nhằm để chấm dứt bạo lực đã bị Antonius bác bỏ, bởi vì Viện Nguyên lão không có quân đội riêng để đối phó với ông ta; điều này đã đem lại một cơ hội cho Octavian, vốn được biết là đang nắm giữ một lực lượng vũ trang.[37] Cicero cũng bảo vệ Octavian khỏi lời chế nhạo của Antonius về việc Octavian thiếu dòng dõi cao quý; ông ta nói rằng “chúng ta không còn có ví dụ sáng chói nào về lòng trung thành với đất nước giữa thế hệ trẻ của chúng ta.”[40]

Điều này là một phần trong sự bác bỏ quan điểm của Antonius đối với Octavian, khi Cicero dẫn lời Antonius và nói với Octavian, “Cậu có tất cả mọi thứ từ cái tên của cậu”.[41][42] Dưới sự dàn xếp của Cicero, Viện Nguyên lão đã phong chức nguyên lão cho Octavian vào 1 tháng 1, 43 TCN, không những thế ông còn được phép bỏ phiếu cùng với các cựu chấp chính quan.[37][38] Thêm vào đó, Octavian được ban cho tước hiệu imperium (quyền tư lệnh), khiến cho việc chỉ huy quân đội của ông trở thành hợp pháp, và ông sau đó được lệnh phá vòng vây cùng với HirtiusPansa (các quan chấp chính của năm 43 TCN).[37][43] Vào tháng 4 năm 43 TCN, lực lượng của Antonius bị đánh bại tại Trận đánh Forum GallorumMutina, buộc Antonius phải lui quân về Transalpine Gaul. Tuy vậy, cả hai quan chấp chính đều tử trận, khiến cho Octavian trở thành viên chỉ huy duy nhất của đạo quân.[44][45]

Sau khi ban tặng rất nhiều tặng thưởng cho Decimus Brutus thay vì Octavian cho việc đánh bại Antonius, Viện Nguyên lão có ý định trao các binh đoàn lính lê dương của quan chấp chính cho Decimus Brutus, thế nhưng Octavian quyết định không hợp tác.[46] Thay vào đó, Octavian ở lại trong thung lũng Po và từ chối bất cứ trợ giúp nào cho các cuộc tấn công sau đó chống lại Antonius.[47] Vào tháng 7, một sứ giả của các centurion đã được Octavian phái đến thành Roma và yêu cầu rằng ông phải được nhận chức quan chấp chính đã bị bỏ trống của Hirtius và Pansa.[48]

Octavian cũng yêu cầu sắc lệnh mà tuyên bố rằng Antonius là kẻ thù của công chúng phải được bãi bỏ.[47] Khi điều này bị từ chối, ông tiến quân vào thành phố với tám quân đoàn.[47] Ông không gặp lại chống cự quân sự nào ở Roma, và vào 19 tháng 8 năm 43 CN,ông được bầu là quan chấp chính cùng với người họ hàng là Quintus Pedius.[49][50] Trong khi đó, Antonius đã thành lập một liên minh mới với Marcus Aemilius Lepidus, một nhà lãnh đạo khác thuộc phe ủng hộ Caesar.[51]

Đệ nhị Tam đầu chế

Cách mạng La Mã

Đồng aureus La Mã có hình chân dung của Marcus Antonius (trái) và Octavian (phải), được ban hành vào năm 41 TCN để chào mừng việc thành lập Liên minh tam hùng lần thứ 2 của Octavian, Antonius và Marcus Aemilius Lepidus vào năm 43 TCN. Cả hai mặt đều in dòng chữ “III VIR R P C”.[52]

Trong một cuộc gặp gỡ gần Bologna vào tháng 10 năm 43 TCN, Octavian, Antonius, và Lepidus đã thành lập một liên minh quân sự gọi là Liên minh tam hùng lần thứ 2.[53] Liên minh quyền lực đặc biệt ngang ngược này kéo dài trong 5 năm và sau đó được ủng hộ bởi luật thông qua bởi những người bình dân La Mã, không giống như Liên minh tam hùng lần thứ nhất không chính thức được thành lập bởi Gnaeus Pompeius Magnus, Julius CaesarMarcus Licinius Crassus.[53][54] Tam đầu chế sau đó bắt đầu khởi động việc đặt ra ngoài vòng pháp luật (proscription) 300 nguyên lão và 2.000 kỵ sỹ được cho là tội phạm và bị tịch thu tài sản, và những người không chạy thoát được sẽ bị mất mạng.[55]

Sắc lệnh ban ra bởi bộ ba tam đầu chế này bắt nguồn một phần từ nhu cầu huy động tiền bạc để trả lương cho binh lính trong các trận đánh sắp diễn ra với những người đã ám sát Caesar, Marcus Junius BrutusGaius Cassius Longinus.[56] Phần thưởng được đưa ra để làm động lực cho lính La Mã bắt những kẻ đã bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, trong khi tài sản và đất đai những kẻ đó bị tịch thu bởi tam đầu chế.[55] Việc làm này của tam đầu chế đã vượt xa một cuộc thanh trừng đơn giản đối với những kẻ liên minh với những người ám sát Ceasar. Octavian ban đầu phản đối việc thi hành đặt ngoài vòng pháp luật số người này bởi vì ông muốn cứu sống Marcus Tullius Cicero (người có tên trong danh sách bị đặt ngoài vòng pháp luật).[55] Tuy nhiên, sự căm ghét của Antony đối với Cicero không khoan nhượng, và Cicero trở thành nạn nhân trong vụ này.[55] Cái chết của quá nhiều nguyên lão cộng hòa đã cho phép tam đầu chế đặt vào các vị trí trống những người ủng hộ họ. Sự kiện này được gọi là “Cách mạng La Mã” bởi các sử gia của thế kỉ 20; đã tạo ra hiệu quả sâu rộng trong việc quét sạch trật tự cũ và thiết lập một nền tảng chính trị vững chắc cho sự lãnh đạo của Augustus trong tương lai.[57]

Trận Philipii và sự phân chia lãnh thổ

Vào 1 tháng 1 năm 42 TCN, Viện nguyên lão công nhận Caesar như là một vị thần của nước La Mã, “Divus Iulius”. Octavian lại có thể đạt tiếp đến mục tiêu đế vương bằng cách nhấn mạnh rằng ông là Divi filius, “Con của Thần linh”.[58] Antonius và Octavian sau đó đưa 28 quân đoàn theo đường biển để đối đầu với quân đội của Brutus và Cassius, vốn đã xây dựng căn cứ ở Hy Lạp.[57] Sau hai trận đánh ở PhilippiMacedonia vào tháng 10 năm 42 TCN, quân đội phe ủng hộ Caesar đại thắng khiến cho BrutusCassius phải tự sát. Marcus Antonius sau này sử dụng các trận đánh này làm ví dụ nhằm hạ bệ uy tín của Octavian, bởi vì cả hai trận đều được thắng quyết định bởi lực lượng của Antony.[59] Thêm vào việc giành công lao của hai chiến thắng đó, Antonius cũng còn gọi Octavian là một kẻ hèn nhát vì đã giao quyền chỉ huy trực tiếp quân đội của mình cho Marcus Vipsanius Agrippa.[59]

Sau trận Philippi, một thỏa thuận mới về lãnh thổ được xếp đặt giữa các thành viên của Đệ nhị Tam đầu chế. Trong khi Antonius phải giao lại Gaul, các tỉnh của Hispania, và Italia vào tay Octavian, Antonius di chuyển về phía đông tới Ai Cập và liên minh với Nữ hoàng Cleopatra VII, người tình trước đây của Julius Caesar và là thân mẫu của người con trai giữa bà với Caesar, Caesarion. Lepidus chỉ còn lại tỉnh Africa, bị đặt vào thế khó xử bởi Antony đã nhường Hispania cho Octavian thay vì ông ta.[60]

Octavian đã được trao quyền phải quyết định xem nơi nào ở Italia để dành cho cho hàng vạn cựu quân nhân của chiến dịch Macedonia định cư, họ vốn đã được tam đầu chế hứa cho giải ngũ. Và cùng với đo là hàng vạn quân khác đã chiến đấu cho nền cộng hòa sát cánh cùng Brutus và Cassius, lực lượng này sẽ dễ dàng liên minh chính trị với bất cứ phe nào chống lại Octavian nếu không được xoa dịu, cũng cần đất định cư.[60] Không còn vùng đất nào của nhà nước mà có thể được dùng như là đất định cư cho quân lính, do vậy Octavian phải chọn một trong hai cách: khiến cho nhiều công dân La Mã xa lánh mình bằng cách tịch thu đất của họ, hay là làm mất lòng nhiều binh sỹ La Mã có thể dễ dàng tập trung nổi dậy chống lại ông ngay giữa trung tâm La Mã; Octavian đã chọn cách thứ nhất.[61] Có khoảng 18 thành phố La Mã đã bị ảnh hưởng bởi chính sách định cư mới này, với toàn bộ dân số bị đuổi đi hoặc ít nhất là bị trục xuất một phần.[62]

Bạo loạn và quan hệ hôn nhân

Tượng Octavian, năm 30 CN

Sự bất mãn đối với Octavian lan rộng trong binh lính, nhiều người vì thế đã bỏ sang hàng ngũ của Lucius Antonius, em trai của Marcus Antonius và là người được số đông Nguyên lão ủng hộ.[62] Khi này, Octavian đề nghị ly dị với Clodia Pulchra, con gái của Fulvia và người chồng đầu tiên Publius Clodius Pulcher. Octavian tuyên bố cuộc hôn nhân của mình với Clodia chưa bao giờ trọn vẹn, rồi ông gửi Clodia về với mẹ mình là Fulvia, vợ của Marcus Antonius. Fulvia đã quyết định hành động. Cùng với Lucius Antonius, bà ta tuyển mộ quân đội ở Ý để giao chiến với Octavian trên danh nghĩa của Marcus Antonius. Tuy vậy, việc chống lại Octavian của Lucius và Fulvia thực sự là một cuộc phiêu lưu quân sự và chính trị vì các lực lượng quân đội của La Mã vẫn phải phụ thuộc nhiều vào Tam Đầu chế vì vấn đề tiền lương.[62] Lucius và đồng minh của mình rốt cục bị bao vây tại Perugia và bị Octavian buộc phải đầu hàng đầu năm 40 TCN.[62] Lucius và binh lính của ông ta được tha thứ vì mối quan hệ của Lucius với Antonius, khi này vẫn đang là một thế lực rất mạnh ở phương Đông, còn Fulvia thì bị buộc phải sống lưu vong ở Sicyon.[63] Tuy vậy, Octavian không nhân nhượng với những đồng minh ủng hộ Lucius, và ngày 15 tháng 3, nhân kỷ niệm ngày Caesar bị mưu sát, Octavian xử chết 300 nguyên lão và kỵ sỹ La Mã vì mối quan hệ đồng minh của họ với Lucius.[64] Perusia thì bị cướp bóc rồi đốt phá như là một cảnh báo đến các nơi khác.[63] Sự kiện đẫm máu này đã bôi bẩn đôi chút sự nghiệp của Octavian và bị nhiều người chỉ trích, như là nhà thơ thời Octavian cai trị Sextus Propertius.[64]

Sextus Pompeius, con trai của một trong ba vị tam hùng thứ nhất, Pompey và vẫn là một vị tướng phản bội sau chiến thắng của Julius Caesar trước cha mình, đã được giao cho Sicilia và Sardegna như là một phần của thỏa thuận đạt được với chế độ tam hùng lần thứ hai trong năm 39 TCN [65]. Cả Antonius và Octavian đã ganh đua nhằm thiết lập một liên minh với Pompeius, mỉa mai thay ông ta là một thành viên của phe cộng hòa, chứ không phải là phe Caesar[64]. Octavian đã thành công với việc thiết lập một liên minh tạm thời trong năm 40 trước Công nguyên, ông kết hôn với Scribonia, con gái của Lucius Scribonius Libo, một người ủng hộ của Pompeius cũng là cha vợ ông ta[64]. Scribonia đã sinh cho Octavian một người con duy nhất, Julia, người đã sinh ra vào cùng ngày mà ông đã ly dị Scribonia để kết hôn với Livia Drusilla, chỉ chưa đầy một năm sau cuộc hôn nhân của mình.[64]

Trong khi ở Ai Cập, Antonius đã dính vào một cuộc tình với Cleopatra và đã là cha của ba đứa con với bà.[66] Nhận thức được mối quan hệ xấu đi của ông với Octavian, Antonius rời khỏi Cleopatra, ông vượt biển về Ý trong năm 40 TCN với một đạo quân lớn nhằm phản đối Octavian, và bao vây Brundisium. Tuy nhiên, cuộc xung đột này không có cơ sở chứng minh gì mới cho cả Octavian và Antonius. Các đội trưởng của họ, những người đã trở thành nhân vật quan trọng về mặt chính trị, từ chối chiến đấu vì họ đều là những người ủng hộ Caesar, trong khi các quân đoàn dưới sự chỉ huy của họ làm theo.[67][68] Trong khi đó tại Sicyon, vợ của Antonius, Fulvia, qua đời vì một căn bệnh đột ngột trong khi Antonius đang trên đường đến gặp bà. Cái chết của Fulvia và cuộc binh biến của các đội trưởng của họ cho phép cả hai thành viên tam hùng một cơ hội để thực sự hòa giải.[67][68] Mùa thu năm 40TCN, Octavian và Antonius phê duyệt Hiệp ước Brundisium, theo đó Lepidus sẽ vẫn ở châu Phi, Antonius ở phương Đông, Octavian ở phương Tây. Bán đảo Ý để mở cho tất cả dùng cho việc tuyển dụng binh sĩ, nhưng trong thực tế, điều khoản này là vô ích cho Antonius ở phía Đông. Để tiếp tục xây dựng liên minh với Marcus Antonius, Octavian đã cho chị gái mình, Octavia Nhỏ, kết hôn với Antonius vào cuối năm 40 TCN. Trong suốt cuộc hôn nhân của họ.[67] Octavia đã sinh ra hai con gái (được gọi là Antonia LớnAntonia Nhỏ).

Chiến tranh với Pompeius

Một đồng denarius của Sextus Pompeius, đưoợc đúc nhằm ca ngợi chiến thắng của Pompeius trước hạm đội của Octavius. Bên mặt phải là Pharus của Messina, người chiến thắng Octavian. Bên mặt trái là quái vật Scylla.

Sextus Pompeius đã đe dọa Octavian tại Ý bằng cách ngăn cản sự chuyên chở lương thực vượt qua Địa Trung Hải tới bán đảo nhằm. Con trai của Pompey còn dùng Hải quân để tiến hành các cuộc đột kích nhằm gây ra nạn đói tại Ý.[68] Sự kiểm soát của Pompeius trên biển khiến ông ta được mệnh danh là Neptuni filius, “con trai của thần Biển”.[69] Một thỏa thuận hòa bình tạm thời đạt được trong 39 TCN với hiệp ước Misenum; sự phong tỏa được chấm dứt khi Octavius nhượng lại cho Pompeius Sardegna, Corse, Sicilia, Peloponnese, và một vị trí đảm bảo trong tương lai là chấp chính quan năm 35 TCN.[68][69] Thỏa thuận lãnh thổ của tam hùng với Pompeius bắt đầu tan vỡ một lần nữa khi Octavius li dị Scribonia và kết hôn với Livia ngày 17 Tháng 1 năm 38 TCN.[70] Một trong những tướng lĩnh hải quân của Pompeius phản bội ông ta và dâng Corse và Sardegna cho Octavius, nhưng Octavius vẫn cần sự trợ giúp của Antony để tấn công Pompeius. Do đó, một thỏa thuận về việc kéo dài nhiệm kì của Tam Hùng thêm 5 năm nữa đã được thông qua và bắt đầu từ năm 37 TCN.[71][72] Antony hỗ trợ cho Octavian với mong muốn sẽ được nhận lại sự trợ giúp trong chiến dịch của ông chống lại người Parthia để trả thù cho thất bại của quân đội La Mã tại Trận Carrhae năm 53 TCN..[72] Trong một thoả thuận tại Tarentum, Antony giao cho Octavian 120 tàu chiến để sử dụng chống lại Pompeius, trong khi Octavius giao 20000 lính lê dương cho Antony để chống lại người Parthia.[73] Tuy nhiên, Octavian chỉ gửi một phần mười con số của những người đã hứa, mà đã được Antony coi là hành động khiêu khích có chủ ý.[73]

Cả Octavian và Lepidus đều tham gia chống lại Pompeius tại Sicilia năm 36 TCN.[74] Mặc dù thất bại cho Octavian nhưng hạm đội hải quân của Sextus Pompeius đã gần như hoàn toàn bị phá hủy ngày 03 tháng 9 bởi tướng quân Agrippa trong trận hải chiến Naulochus.[75] Sextus chạy trốn với lực lượng còn lại của ông về phía Đông, nơi ông bị bắt và bị hành quyết ở Miletus bởi một trong các tướng lĩnh của Antony năm sau đó.[75] Cả Octavian và Lepidus đều ra sức thu nhận tàn quân của Pompeius về phía mình nhưng Lepidus cảm thấy chưa đủ sức để chiếm lấy Sicilia cho chính mình, đuổi Octavian rút đi.[75] Tuy nhiên, binh lính của Lepidus đã từ bỏ ông ta và theo phe Octavian vì họ đã mệt mỏi vì các cuộc chiến và nghe được những lời hứa về tiền bạc hấp dẫn của Octavius..[75] Lepidus đã đầu hàng Octavian và được giữ lại trong chính quyền với chức vụ là chủ tế tối cao (pontifex maximus), nhưng đã bị loại bỏ khỏi chế độ tam hùng, sự nghiệp chính trị của Lepidus kết thúc ở đây, và bị bố trí đến một biệt thự ở Cape Circei của Ý.[75][76] Các lãnh địa La Mã đã được phân chia giữa Octavian bây giờ ở phương Tây và Antonius ở phía Đông. Để duy trì hòa bình ổn định phần của đế chế của mình, Octavian bảo đảm cho công dân Roma về quyền lợi của mình. Thời gian này, ông đã định cư cho những binh sĩ đã giải ngũ của mình ở bên ngoài Ý và trả lại 30000 nô lệ cho cựu chủ nô La Mã, mà trước đó đã chạy trốn đến chỗ Pompeius để gia nhập quân đội và hải quân của ông ta.[77]

Chiến tranh với Antonius

Antony và Cleopatra, được vẽ bởi Lawrence Alma-Tadema

Trong khi đó, Antonius bị quân Parthia đánh bại, nên mất dần vai trò lãnh đạo La Mã; dù Octavian đã gửi hơn 2.000 lính lê dương cho Antonius, đội quân này gần như không đủ để bổ sung lực lượng của ông ta.[78] Mặt khác, Cleopatra có thể tái thiết Quân đội của Marcus Antonius, và kể từ khi Antonius rơi vào chuyện tình lãng mạn với bà, Antonius quyết định đưa Octavia trở lại kinh thành Roma.[79] Octavian sử dụng điều này để tuyên truyền ngụ ý rằng Antonius đã trở không còn chút tư cách La Mã nào vì ông ta từ chối một người vợ La Mã hợp pháp và thay vào đó là một “tình nhân phương Đông”.[80] Trong năm 36 TCN, Octavian sử dụng là một thủ đoạn chính trị để làm cho mình bớt độc đoán và Marcus Antonius trở thành nhân vật phản diện bằng cách tuyên bố rằng các cuộc nội chiến đã sắp kết thúc, và rằng ông sẽ rời khỏi địa vị tam hùng nếu như Antonius làm tương tự; Antonius từ chối.[81]

Sau khi Quân đội La Mã chiếm được Armenia trong năm 34 TCN, Antonius đưa con trai của ông ta là Alexander Helios lên làm vua của Armenia, ông cũng tặng danh hiệu “Nữ hoàng của các vị vua” cho Cleopatra, hành vi đó được Octavian sử dụng để thuyết phục viện nguyên lão La Mã rằng Antonius có thái độ phản quốc.[80]

Những người đào ngũ, Munatius PlancusMarcus Titius, mang đến cho Octavian những thông tin ông cần phải xác nhận với viện nguyên lão rằng tất cả các cáo buộc ông đã chống lại Antony. Bằng việc tấn công nơi thờ cúng của các Trinh nữ Vestal, Octavian đã buộc nữ tu tối cao của họ giao cho ông bí mật của Antonius, là sẽ giao những vùng lãnh thổ La Mã đã chinh phục cho vương quốc của con trai của ông để cai trị, cùng với kế hoạch xây dựng một ngôi mộ ở Alexandria cho ông và nữ hoàng của mình sau khi họ qua đời.[82][83] Cuối năm 32 trước Công nguyên, viện nguyên lão chính thức thu hồi quyền hạn của Antonius như là chấp chính quan và tuyên chiến với triều đình Nữ hoàng Cleopatra ở Vương quốc Ai Cập.[84][85]

Trận Actium của Lorenzo Castro, vẽ năm 1672, Bảo tàng Hàng hải Quốc gia, London

Vào đầu năm 31 trước Công nguyên, trong khi Antonius và Cleopatra đã tạm thời đóng quân ở Hy Lạp, Octavian đã đạt được một chiến thắng sơ bộ khi các lực lượng hải quân dưới sự chỉ huy của Agrippa thành công khi mang quân vượt qua biển Adriatic.[86] Trong khi Agrippa chia cắt Antony và lực lượng chính của Cleopatra khỏi các tuyến đường cung cấp trên biển của họ.[86] Octavian đổ bộ trên vùng đất đối diện với hòn đảo Corcyra (hiện nay là Corfu) và hành quân về phía nam [86] bị bao vây cả trên đất liền và trên biển, lính đào ngũ từ quân đội của Antonius chạy trốn về phía Octavian mỗi ngày trong khi lực lượng Octavian đủ thoải mái để chuẩn bị.[86] Trong một cố gắng tuyệt vọng để phá vỡ sự phong tỏa trên biển, hạm đội của Antonius tiến qua vịnh Actium ở bờ biển phía Nam Hy Lạp. Chắc chắn rằng hạm đội của Antonius đã phải đối mặt với một hạm đội lớn hơn và tàu nhỏ hơn, nhưng linh hoạt nhiều hơn dưới sự chỉ huy của AgrippaGaius Sosius trong trận Actium vào ngày 02 Tháng 9 năm 31 TCN [87] Antonius và lực lượng còn lại của ông đã không giao chiến đến cùng bởi hạm đội của Cleopatra đang chờ đợi gần đó[88] Octavian truy đuổi họ, và sau một thất bại ở Alexandria vào ngày 1 tháng Tám 30 trước Công nguyên, Antonius và Cleopatra đã buộc phải tự tử;. Antonius đã ngã vào thanh kiếm của riêng mình và trong vòng tay của Cleopatra, trong khi bà cho một con rắn độc cắn mình[89]. Để bảo vệ vị trí của mình là người thừa kế của Caesar và để tiếp tục sự nghiệp chính trị của mình, Octavian nhận thức được sự nguy hiểm trong việc cho phép người khác cũng làm như vậy và đã đáp rằng “hai Caesars cho một là quá nhiều”, ông ra lệnh giết Caesarion – con trai của Julius Caesar và Cleopatra, trong khi tha mạng cho con cái của Cleopatra với Antonius, ngoại trừ con trai cả của Antonius[90][91]

Octavian trước đó đã ít thể hiện lòng thương xót đối với binh lính tham chiến và hành động theo những cách đã được chứng minh là không được lòng dân La Mã, nhưng ông được công nhận là đã tha thứ cho nhiều đối thủ của ông sau trận Actium.[92]

Lên ngôi

Aureus mang hình Octavian, khoảng 30 TCN, Bảo tàng Anh

Sau trận Actium và thất bại của Antonius và Cleopatra, Octavian đã ở trong một vị thế có thể cai trị toàn bộ nhà nước Cộng hoà dưới một chức danh Nguyên Thủ không chính thức,[93] nhưng để đạt được điều này thông qua việc tăng cường thêm quyền lực, tranh thủ sự ủng hộ của viện nguyên lão và nhân dân, trong khi vẫn duy trì nền cộng hòa truyền thống của Roma, để biểu lộ rằng ông không có tham vọng đối với chế độ độc tài hay quân chủ.[94][95] Tiến quân về thành Roma, Octavian và Marcus Agrippa đã được bầu làm đồng chấp chính quan bời viện nguyên lão.[96]

Những năm nội chiến đã để lại cho Roma một nhà nước trong tình trạng gần như vô luật lệ, nhưng mà nền Cộng hòa cũng đã không được chuẩn bị để chấp nhận sự kiểm soát của Octavianus như là một vị vua chuyên chế. Đồng thời, Octavianus có thể không chỉ đơn giản là từ bỏ quyền lực của mình mà không có rủi ro tiếp tục cuộc chiến tranh dân sự giữa các tướng La Mã, và ngay cả khi ông mong muốn không có vị trí của cơ quan nào, vị trí của mình bắt ông phải coi trọng đến phúc lợi của nhân dân thành phố Roma và các tỉnh khác của La Mã. Mục tiêu của Octavianus từ thời điểm này là phải luôn luôn về phía trước để quay trở lại Roma, đến một nơi có một nhà nước ổn định, có truyền thống hợp pháp, văn minh bằng cách nâng cao áp lực chính trị công khai trên quần thần và đảm bảo các cuộc bầu cử tự do ít nhất có chút danh nghĩa.[97]

Những giải quyết đầu tiên

Augustus như một quan tòa. Đầu tượng bằng cẩm thạch được làm vào khoảng 30–20 TCN, thân hình được làm trong thế kỷ 2 SCN (Louvre, Paris).

Năm 27 TCN, Octavianus đã thực hiện một động thái giả tạo là trả lại toàn bộ quyền hành cho Viện nguyên lão và từ bỏ sự kiểm soát của mình với các tỉnh La Mã cũng như quân đội của họ.[96] Dưới quyền Tổng tài của ông, trên thực tế, viện Nguyên lão nắm rất ít quyền bắt đầu lập pháp qua việc đưa ra các dự luật để tranh luận ở nghị viện.[96] Mặc dù Octavianus không còn kiểm soát trực tiếp các tỉnh, cũng như quân đội nhưng ông vẫn duy trì được lòng trung của những người lính tại ngũ lẫn các cựu binh.[96] Sự nghiệp của nhiều môn khách hay môn đồ của ông đều phụ thuộc vào sự bảo trợ của ông,[96] vì trên thực tế, sự giàu có của Augustus tại Cộng hòa La Mã là không có đối thủ. Về điều này, sử gia Werner Eck đã phát biểu:

Tổng thể quyền lực của ông [Augustus] có được đầu tiên là từ nhiều quyền của các chức vụ ông được Viện nguyên lão và nhân dân ủy thác, thứ hai là từ gia tài cá nhân cực kỳ to lớn và thứ ba là từ nhiều mối quan hệ bảo trợ ông tạo dựng với các cá nhân và nhóm người trên khắp Đế chế. Tất cả những thứ này tập hợp lại tạo nên nền tảng quyền lực của Augustus, cái mà chính ông đã nhấn mạnh là cơ sở cho các hành động chính trị của mình

Augustus đã nhận thấy được rằng với những công trình công cộng trên một phạm vị rộng lớn cần có sẵn nguồn lực tài chính dồi dào Augustus chỉ huy. Khi ông thất bại trong việc vận động đủ số nguyên lão nhằm tài trợ cho việc xây dựng và duy trì mạng lưới đường giao thông ở Ý, ông đã nhận trách nhiệm trực tiếp thay cho họ trong năm 20 trước Công nguyên.[99] Điều này đã được công bố công khai trên các đồng tiền La Mã ban hành trong năm 16 trước Công nguyên, sau khi ông đã tặng một lượng lớn tiền cho aerarium Saturni, công quỹ La Mã.[99]

Viện nguyên lão cũng đã đề xuất với Octavian, người chiến thắng trong các cuộc nội chiến của Roma, rằng ông nên một lần nữa đảm đương quyền cai quản các tỉnh. Lời đề xuất của Viện nguyên lão là một sự phê chuẩn đối với quyền lực ngoài hiến pháp của Octavian. Giả vờ miễn cưỡng, ông chấp nhận gánh vác trách nhiệm giám sát các tỉnh được coi là hỗn loạn trong mười năm. [111] [100][101]

Các tỉnh được nhượng lại cho Octavian, mà ông đã hứa hẹn là có thể bình định chúng trong khoảng thời gian mười năm, bao gồm phần lớn thế giới bị La Mã chinh phục, bao gồm toàn bộ HispaniaGaul, Syria, Cilicia, Síp, và Ai Cập.[100][102] Hơn nữa, với việc nắm quyền chỉ huy của các tỉnh này giúp cho Octavian kiểm soát phần lớn các quân đoàn La Mã.[102][103]

Trong khi Octavian giữ vai trò là chấp chính quan tại Roma, ông đã sai phái các nguyên lão tới những tỉnh nằm dưới sự chỉ huy của mình như là người đại diện của ông để quản lý công việc ở tỉnh và đảm bảo mệnh lệnh của ông được thực hiện.[103] Mặt khác, những tỉnh không nằm dưới sự kiểm soát của Octavian đã được giám sát bởi các thống đốc được lựa chọn bởi viện nguyên lão La Mã.[103] Octavian đã trở thành nhân vật chính trị quyền lực nhất trong thành Roma và ở hầu hết các tỉnh của nó, nhưng lại không nắm giữ quyền lực chính trị và quân sự một cách đơn độc.[104]

Viện nguyên lão vẫn còn kiểm soát Bắc Phi, một vùng đất sản xuát ngũ cốc quan trọng, cũng như IllyriaMacedonia, hai khu vực có tầm chiến lược về mặt quân sự với một số quân đoàn.[104] Tuy nhiên, với việc chỉ kiểm soát chỉ năm hay sáu quân đoàn được phân bổ giữa ba thống đốc tỉnh thuộc hàng nguyên lão, so với hai mươi quân đoàn dưới sự kiểm soát của Augustus, sự kiểm soát các vùng đất này của viện nguyên lão chung quy lại cũng không phải là thách thức chính trị hoặc quân sự đối với Octavian.[94][105]

Sự kiểm soát của Viện nguyên lão đối với một số tỉnh La Mã giúp duy trì lớp vỏ bọc Cộng hòa cho chế độ Nguyên thủ.[94] Ngoài ra, sự kiểm soát toàn diện các tỉnh của Octavian cũng đảm bảo hòa bình và tạo ra sự ổn định tiếp nối những tiền lệ của thời kì Cộng hòa, trong đó những người La Mã nổi tiếng như Pompeius đã được cung cấp sức mạnh quân sự tương tự trong thời gian khủng hoảng và bất ổn.

Tượng bán thân Augustus đội Vương miện Công dân, Glyptothek, München.

Chiến tranh và sự mở rộng

Sự mở rộng của Đế quốc La Mã dưới thời Augustus. Phần màu vàng thể hiện sự mở rộng của Cộng hòa La Mã vào thời điểm năm 31 TCN, phần màu xanh thể hiện các vùng đất chinh phục được dưới thời Augustus , và phần màu hồng thể hiện các quốc gia vệ tinh; tuy nhiên, những khu vực chịu sự kiểm soát của người La Mã như trong bản đồ luôn thay đổi, đặc biệt tại Germania.

Vào cuối triều đại của ông, quân đội của Augustus đã chinh phục miền bắc Hispania (hiện nay là Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha),[106] các vùng đất thuộc dãy Anpơ như RaetiaNoricum (hiện nay là Thụy Sĩ, Bavaria, Áo, Slovenia),[106] IllyricumPannonia (hiện nay là Albania, Croatia, Hungary, Serbia, v.v…),[106] và mở rộng biên giới của tỉnh Africa về phía đông và phía nam.[106]

Tượng Tiberius, một chỉ huy quân sự thành công dưới thời Augustus, sau được Augustus chỉ định làm người kế vị của ông.

Sau khi triều đại của vị vua chư hầu Herod Đại đế (73-4 TCN) kết thúc, Judea đã được thêm vào tỉnh Syria khi Augustus phế truất Herod Archelaus, vị vua kế vị ông ta.[106]

Một lần nữa, đã không cần thiết phải sử dụng các biện pháp quân sự vào 25 trước Công nguyên khi xứ Galatia (Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) được chuyển đổi sang thành một tỉnh La Mã ngay sau khi Amyntas của Galatia đã bị giết bởi một góa phụ để trả thù của một hoàng tử bị sát hại từ Homonada [106]. Khi các bộ tộc nổi loạn của xứ Cantabria ở Tây Ban Nha ngày nay cuối cùng đã bị dẹp yên trong năm 19 trước Công nguyên, vùng đất này đã được xáp nhập vào tỉnh HispaniaLusitania.[107]

Mặc dù Parthia luôn là một mối đe dọa đối với La Mã từ phía đông, trận tuyến thực sự của La Mã nằm dọc theo sông Rhinesông Donau.[108] Trước cuộc chiến cuối cùng với Antonius, những chiến dịch của Octavianus chống lại các bộ lạc ở Dalmatia là bước đầu trong việc mở rộng cương thổ của La Mã tới sông Donau.[109] Chiến thắng trong một trận đánh thường không phải là một thắng lợi tuyệt đối, do các lãnh thổ mới chinh phạt được thường xuyên bị các kẻ thù của La Mã ở Germania giành lại.[108]

Một thất bại quân sự điển hình của người La Mã là trận rừng Teutoburg vào năm 9, khi toàn bộ ba binh đoàn do Publius Quinctilius Varus chỉ huy bị Arminius, thủ lĩnh người Cherusci, một đồng minh thực sự của La Mã tiêu diệt hoàn toàn, với chỉ một số người sống sót.[110]

Di sản

Augustus theo mô tả của người Hy Lạp trong hang đá vùng Kalabsha Temple, Nubia.

Bức tượng nổi tiếng Augustus của Prima Porta.

Triều đại của Augustus đã đặt những nền tảng cho một chế độ kéo dài hàng trăm năm cho đến những ngày cuối cùng của sự suy tàn của Đế quốc La Mã. Cả họ mượn của ông, Caesar, và tên hiệu của ông Augustus đã trở thành những danh hiệu vĩnh viễn của các hoàng đế của Đế quốc La Mã trong 14 thế kỉ sau khi ông mất, được sử dụng ở cả Roma cũRoma mới. Trong nhiều ngôn ngữ, caesar trở thành danh từ để chỉ hoàng đế, như là trong tiếng Đức Kaiser và trong tiếng Nga Tsar. Tôn giáo Divus Augustus tiếp tục cho đến khi quốc giáo của Đế quốc được chuyển sang Kitô giáo vào thế kỉ thứ 4 theo sau Sắc lệnh Milan. Do đó, có rất nhiều tượng rất trung thực của vị hoàng đế đầu tiên. Ông đã viết lại những điều mà ông đã đạt được, với tựa là Res Gestae Divi Augusti, được khắc vào bản đồng trước lăng mộ của ông.[111] Nhiều bản sao của văn bản này được khắc khắp Đế quốc sau khi ông chết.[112]

Rất nhiều người cho rằng Augustus là hoàng đế vĩ đại nhất của La Mã; những chính sách của ông chắn chắn đã kéo dài thêm tuổi thọ của Đế quốc và khởi đầu thời kì Pax Romana hay Pax Augusta được nhiều người ca ngợi.

Cải cách về thu nhập

Đồng tiền của Augustus tìm thấy tại kho Pudukottai, đông Ấn Độ. Bảo tàng Anh.

Đồng tiền Ấn Độ thế kỷ 1. Bảo tàng Anh.

Đồng tiền của vua Himyarite, biển miền nam bán đảo Ả Rập. Đây cũng là đồng tiền mang hình Augustus, thế kỷ 1.

Những cải cách về hệ thống thu nhập công của Augustus đã có một ảnh hưởng lớn đến những thành công sau này của Đế quốc. Augustus đã thiết lập một hệ thống luật thuế thống nhất trực tiếp từ Roma trên phần lớn của lãnh thổ của Đế quốc, thay vì các cách thức cống nạp thay đổi, không liên tục, đôi khi tùy tiện từ các tỉnh địa phương như dưới thời những người tiền nhiệm của Augustus.[113] Cải cách này đã làm tăng thu nhập đáng kể của Roma từ các vùng lãnh thổ chiếm được, làm ổn định nguồn thu nhập, và điều độ quan hệ tài chính giữa Roma và các tỉnh, thay vì kích động những chống đối mới với các cách cống nạp mới tùy tiện.[113] Cách đo mức thuế dưới thời Augustus được định bởi thống kê dân số, với những hạn ngạch định trước cho từng tỉnh.[114] Công dân của Roma và Ý trả thuế gián tiếp, trong khi thuế trực tiếp được lấy từ các tỉnh.[114] Thuế gián tiếp bao gồm 4% thuế trên giá của nô lệ, 1% thuế trên hàng hóa bán tại đấu giá, và 5% thuế trên thừa kế các bất động sản có giá trị trên 100.000 sesterces bởi những người không phải là thân thuộc.[114]

Một cải cách khác không kém phần quan trọng là sự bãi bỏ của thuế nông nghiệp tư nhân, được thay thế bởi các nhân viên thu thuế được trả lương của nhà nước. Những nhà thầu tư nhân tự ý nâng thuế đã là chuyện bình thường trong thời Cộng hòa, và một số đã trở nên quyền thế đến nỗi gây ảnh hưởng lên số phiếu bầu của các chính trị gia ở Roma.[113] Những nhà thầu tự ý thu thuế đã nổi tiếng với những vụ tham ô lãng phí, cũng như những tài sản riêng kếch xù, nhờ vào việc chiếm quyền đánh thuế một vùng nào đó.[113] Thu nhập của Roma là những khoản tiền từ những vụ đấu giá thành công, và lợi nhuận của những người thu thuế tư nhân bao gồm bất kì khoản thu thêm nào mà họ có thể bòn rút được từ dân thành Roma. Thiếu sự kiểm soát hiệu quả, cùng với lòng tham làm tối la lợi nhuận của những người thu thuế tư nhân, đã tạo ra một hệ thống thuế tùy tiện độc ác đối với người nộp thuế, được công nhận rộng rãi là một bất công xã hội, và rất bất lợi cho kinh tế.

Tháng Tám (August)

Tháng tám August (Latin: Augustus) được đặt theo tên của Augustus; cho đến thời của ông nó được gọi là Sextilis (được đặt tên như vậy bởi vì nó là tháng thứ sáu của lịch La Mã và từ Latin chỉ thứ sáu là sex). Chuyện thường được kể là August có 31 ngày bởi vì Augustus muốn tháng của ông phải cùng độ dài với tháng 7 của Julius Caesar, nhưng đó chỉ là ý kiến của vị học giả vào thế kỉ 13 tên là Johannes de Sacrobosco. Sextilis thực ra có 31 ngày trước khi được đổi tên, và nó cũng không phải được chọn vì số ngày trong tháng (xem lịch Julius). Theo một senatus consultum trích dẫn bởi Macrobius, Sextilis được đặt tên lại để vinh danh Augustus bởi vì những sự kiện quan trọng nhất đưa ông ta lên vị trí nắm quyền lực, kết hợp lại sau khi Alexandria sụp đổ, rơi vào tháng đó.[115]

Các công trình xây dựng

Xem thêm thông tin:

Close up on the sculpted detail of the Ara Pacis (Altar of Peace), 13 TCN to 9 TCN.

Lúc hấp hối, Augustus tuyên bố “Ta tìm thấy Roma làm bằng đất; ta để lại nó cho các ngươi bằng đá cẩm thạch;” mặc dù có một vài sự thật trong nghĩa đen của câu nói đó, Cassius Dio khẳng định đó chỉ là một lối nói hình tượng về sức mạnh của Đế quốc.[116] Đá cẩm thạch có thể tìm thấy ở các công trình xây dựng ở Roma trước thời Augustus, nhưng chúng không được sử dụng rộng rãi như là một vật liệu xây dựng cho tới triều đại của Augustus.

Ông cũng đã xây dựng Đền thờ Caesar, Nhà tắm Agrippa, và Quảng trường Augustus với Đền thờ Mars Ultor. Các công trình khác hoặc là được khuyến khích bởi ông, như là Nhà hát của Balbus, và việc xây dựng Pantheon của Agrippa, hoặc là được tài trợ bởi ông dưới tên của những người khác, thường là bà con (ví dụ Portico của Octavia, Nhà hát của Marcellus). Ngay cả Lăng Augustus cũng được xây trước khi ông chết để mai táng những thành viên trong gia đình ông.[117]

Chú thích

  1. ^ Wells, John C. (1990). Longman pronunciation dictionary. Harlow, England: Longman. ISBN 0582053838. entry “Augustus”
  2. ^ Trong tiếng Latinh cổ điển, đế hiệu đầy đủ của Augustus là IMPERATOR GAIVS IVLIVS CAESAR AVGVSTVS.
  3. ^ CCAA, Erich S. Gruen, Augustus and the Making of the Principate, 35.
  4. ^ Eck, 3.
  5. ^ Suetonius, Augustus 7
  6. ^ 5–6 on-line text.
  7. ^ Suetonius, Augustus 1–4.
  8. ^ Rowell, 14.
  9. ^ Mobile Reference, Encyclopedia of Roman Empire, tr. 62
  10. ^ Suetonius, Augustus 4–8; Nicolaus thành Damascus, Augustus 3.
  11. ^ a ă Suetonius, Augustus 8.1
  12. ^ Nicolaus of Damascus, Augustus 4.
  13. ^ a ă Rowell, 16.
  14. ^ Nicolaus of Damascus, Augustus 6.
  15. ^ Suetonius, Julius 83.
  16. ^ a ă â Eck, 9.
  17. ^ Appian, Civil Wars 3.9–11.
  18. ^ Rowell, 15.
  19. ^ Mackay, 160.
  20. ^ a ă â b c d Eck, 10.
  21. ^ Suetonius, Augustus 68, 71.
  22. ^ a ă Eck, 9–10.
  23. ^ a ă Rowell, 19.
  24. ^ Rowell, 18.
  25. ^ CCAA, Walter Eder, Augustus and the Power of Tradition, 18.
  26. ^ Appianus, Civil Wars 3.11–12.
  27. ^ Chisholm, 24.
  28. ^ Chisholm, 27.
  29. ^ Rowell, 20.
  30. ^ Eck, 11.
  31. ^ Syme, 114–120.
  32. ^ Chisholm, 26.
  33. ^ Rowell, 30.
  34. ^ Eck, 11–12.
  35. ^ Rowell, 21.
  36. ^ Syme, 123–126.
  37. ^ a ă â b Eck, 12.
  38. ^ a ă â Rowell, 23.
  39. ^ Rowell, 24.
  40. ^ Chisholm, 29.
  41. ^ Chisholm, 30.
  42. ^ Rowell, 19–20.
  43. ^ Syme, 167.
  44. ^ Syme, 173–174
  45. ^ Scullard, 157.
  46. ^ Rowell, 26–27.
  47. ^ a ă â Rowell, 27.
  48. ^ Chisholm, 32–33.
  49. ^ Eck, 14.
  50. ^ Rowell, 28.
  51. ^ Syme, 176–186.
  52. ^ Sear, David R. “Common Legend Abbreviations On Roman Coins”. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2007.
  53. ^ a ă Eck, 15.
  54. ^ Scullard, 163.
  55. ^ a ă â b Eck, 16.
  56. ^ Scullard, 164.
  57. ^ a ă Eck, 17.
  58. ^ Syme, 202.
  59. ^ a ă Eck, 17–18.
  60. ^ a ă Eck, 18.
  61. ^ Eck, 18–19.
  62. ^ a ă â b Eck, 19.
  63. ^ a ă Rowell, 32.
  64. ^ a ă â b c Eck, 20.
  65. ^ Scullard (1982), 162
  66. ^ Ba đứa con của Antonius với Cleopatra là Alexander Helios, Cleopatra Selene IIPtolemy Philadelphus
  67. ^ a ă â Eck (2003) 21.
  68. ^ a ă â b Eder (2005), 19.
  69. ^ a ă Eck (2003), 22.
  70. ^ Eck (2003), 23.
  71. ^ Scullard (1982), 163
  72. ^ a ă Eck (2003), 24.
  73. ^ a ă Eck (2003), 25.
  74. ^ Eck (2003), 25–26.
  75. ^ a ă â b c Eck (2003), 26.
  76. ^ Scullard (1982), 164
  77. ^ Eck (2003), 26–27.
  78. ^ Eck (2003), 29.
  79. ^ Eck (2003), 29–30.
  80. ^ a ă Eck (2003), 30.
  81. ^ Eder (2005), 20.
  82. ^ Eck (2003), 34–35
  83. ^ Eder (2005), 21–22.
  84. ^ Eck (2003), 35.
  85. ^ Eder (2005), 22.
  86. ^ a ă â b Eck (2003), 37.
  87. ^ Eck (2003), 38.
  88. ^ Eck (2003), 38–39.
  89. ^ Eck (2003), 39.
  90. ^ Green (1990), 697.
  91. ^ Scullard (1982), 171.
  92. ^ Eck (2003), 49.
  93. ^ Gruen (2005), 34–35.
  94. ^ a ă â CCAA, 24–25.
  95. ^ CCAA, 38–39.
  96. ^ a ă â b c Eck (2003), 45.
  97. ^ Eck (2003), 44–45.
  98. ^ Eck (2003), 113.
  99. ^ a ă Eck (2003), 80.
  100. ^ a ă Eck (2003), 46.
  101. ^ Scullard (1982), 210.
  102. ^ a ă Gruen (2005), 34.
  103. ^ a ă â Eck (2003), 47.
  104. ^ a ă CCAA, 24.
  105. ^ Scullard (1982), 211.
  106. ^ a ă â b c d Eck (2003), 94.
  107. ^ Eck (2003), 97.
  108. ^ a ă Eck (2003), 97.
  109. ^ Rowell (1962), 13.
  110. ^ Eck (2003), 101–102.
  111. ^ Suetonius, Augustus 101.4.
  112. ^ Eck, 1–2
  113. ^ a ă â b Eck, 83–84.
  114. ^ a ă â Bunson, 404.
  115. ^ Macrobius, Saturnalia 1.12.35.
  116. ^ Dio 56.30.3
  117. ^ Eck, 118–121

Tài liệu tham khảo

  • Bourne, Ella. “Augustus as a Letter-Writer,” Transactions and Proceedings of the American Philological Association (Volume 49, 1918): 53–66.
  • Bowersock, G. W. (1990). “The Pontificate of Augustus”. Trong Kurt A. Raaflaub and Mark Toher (eds.). Between Republic and Empire: Interpretations of Augustus and his Principate. Berkeley: University of California Press. tr. 380–394. ISBN 0-520-08447-0.
  • Bunson, Matthew (1994). Encyclopedia of the Roman Empire. New York: Facts on File Inc. ISBN 0-8160-3182-7
  • Chisholm, Kitty and John Ferguson. (1981). Rome: The Augustan Age; A Source Book. Oxford: Oxford University Press, in association with the Open University Press. ISBN 0-19-872108-0.
  • Dio Cassius, The Roman History: The Reign of Augustus, London, Penguin Books, 1987, ISBN 0-14-044448-3.
  • Eck, Werner; translated by Deborah Lucas Schneider; new material by Sarolta A. Takács. (2003) The Age of Augustus. Oxford: Blackwell Publishing (hardcover, ISBN 0-631-22957-4; paperback, ISBN 0-631-22958-2).
  • Eder, Walter. (2005). “Augustus and the Power of Tradition,” in The Cambridge Companion to the Age of Augustus (Cambridge Companions to the Ancient World), ed. Karl Galinsky, 13-32. Cambridge, MA; New York: Cambridge University Press (hardcover, ISBN 0-521-80796-4; paperback, ISBN 0-521-00393-8).
  • Everitt, Anthony (2006) Augustus: The Life of Rome’s First Emperor. Random House Books. ISBN 1400061288.
  • Green, Peter (1990). Alexander to Actium: The Historical Evolution of the Hellenistic Age. Hellenistic Culture and Society. Berkeley, CA; Los Angeles; London: University of California Press. ISBN 0-520-05611-6 (hbk.); ISBN 0-520-08349-0 (pbk.).
  • Gruen, Erich S. (2005). “Augustus and the Making of the Principate,” in The Cambridge Companion to the Age of Augustus (Cambridge Companions to the Ancient World), ed. Karl Galinsky, 33-51. Cambridge, MA; New York: Cambridge University Press (hardcover, ISBN 0-521-80796-4; paperback, ISBN 0-521-00393-8).
  • Kelsall, Malcolm. “Augustus and Pope,” The Huntington Library Quarterly (Volume 39, Number 2, 1976): 117–131.
  • Mackay, Christopher S. (2004). Ancient Rome: A Military and Political History. Cambridge University Press. ISBN 0521809185.
  • Scullard, H. H. (1982) [1959]. From the Gracchi to Nero: A History of Rome from 133 TCN to A.D. 68 (ấn bản 5). London; New York: Routledge. ISBN 0-415-02527-3 (pbk.).
  • Shaw-Smith, R. “A Letter from Augustus to Tiberius,” Greece & Rome (Volume 18, Number 2, 1971): 213–214.
  • Shotter, D.C.A. “Tiberius and the Spirit of Augustus,” Greece & Rome (Volume 13, Number 2, 1966): 207–212.
  • Starr, Chester G., Jr. “The Perfect Democracy of the Roman Empire,” The American Historical Review (Volume 58, Number 1, 1952): 1–16.
  • Syme, Ronald (1939). The Roman Revolution. Oxford: Oxford University Press. ISBN 0-19-280320-4 (pbk.). The classic revisionist study of Augustus
  • Roebuck, C, The World of Ancient Times, New York, Charles Scribner’s Sons, 1966
  • Rowell, Henry Thompson. (1962). The Centers of Civilization Series: Volume 5; Rome in the Augustan Age. Norman: University of Oklahoma Press. ISBN 0-8061-0956-4

Đọc thêm

  • Everitt, Anthony. Augustus: The Life of Rome’s First Emperor. New York: Random House, 2006 (hardcover, ISBN 1-4000-6128-8). As The First Emperor: Caesar Augustus and the Triumph of Rome. London: John Murray, 2006 (hardcover, ISBN 0719554942).
  • Galinsky, Karl. Augustan Culture. Princeton, NJ: Princeton University Press, 1998 (paperback, ISBN 0-691-05890-3).
  • Lewis, P. R. and G. D. B. Jones, Roman gold-mining in north-west Spain, Journal of Roman Studies 60 (1970): 169-85
  • Jones, R. F. J. and Bird, D. G., Roman gold-mining in north-west Spain, II: Workings on the Rio Duerna, Journal of Roman Studies 62 (1972): 59-74.
  • Jones, A.H.M. “The Imperium of Augustus”, The Journal of Roman Studies, Vol. 41, Parts 1 and 2. (1951), pp. 112–119.
  • Jones, A.H.M. Augustus. London: Chatto & Windus, 1970 (paperback, ISBN 0-7011-1626-9).
  • Osgood, Josiah. Caesar’s Legacy: Civil War and the Emergence of the Roman Empire. New York: Cambridge University Press (USA), 2006 (hardback, ISBN 0-521-85582-9; paperback, ISBN 0-521-67177-9).
  • Raaflaub, Kurt A. & Toher, Mark (eds.). Between Republic and Empire: Interpretations of Augustus and His Principate. Berkeley; Los Angeles: University of California Press, 1993 (paperback, ISBN 0-520-08447-0).
  • Reinhold, Meyer. The Golden Age of Augustus (Aspects of Antiquity). Toronto, ON: Univ of Toronto Press, 1978 (hardcover, ISBN 0-89522-007-5; paperback, ISBN 0-89522-008-3).
  • Southern, Pat. Augustus (Roman Imperial Biographies). New York: Routledge, 1998 (hardcover, ISBN 0-415-16631-4); 2001 (paperback, ISBN 0-415-25855-3).
  • Zanker, Paul. The Power of Images in the Age of Augustus (Thomas Spencer Jerome Lectures). Ann Arbor, MI: University of Michigan Press, 1989 (hardcover, ISBN 0-472-10101-3); 1990 (paperback, ISBN 0-472-08124-1).

Liên kết ngoài

Tham khảo chính

Nguồn thứ hai

Tiểu sử 12 hoàng đế, hoặc De vita Caesarum của Suetonius
Julius Caesar  •  Augustus  •  Tiberius  •  Caligula  •  Claudius  •  Nero  •  Galba •  Otho •  Vitellius  •  Vespasian  •  Titus  •  Domitian

Đế quốc La Mã

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Senatus PopulusQue Romanus
“Viện Nguyên lão và nhân dân La Mã”[Gc 1]

Đế quốc La Mã
27 TCN–476

Quốc huy của Đế quốc La Mã

Quốc huy

Khẩu hiệu
Senatus Populusque Romanus
Viện Nguyên lão và nhân dân La Mã
Vị trí của Đế quốc La Mã

Đế quốc La Mã đạt đến tột đỉnh vinh quang của nó dưới thời hoàng đế Traianus, c. 117. SCN

Thủ đô Roma
Constantinopolis thuộc đế quốc Đông La Mã)[1]
Ngôn ngữ Latin, Hy Lạp phổ thông, các nhóm ngôn ngữ thiểu số
Tôn giáo đa thần giáo La Mã
(đến năm 380)

Cơ đốc giáo
(từ năm 380)
Chính thể Chế độc độc đoán
Hoàng đế
 – 27 TCN–14 SCN Augustus
 – 378–395 Theodosius I
 – 475–476 Romulus Augustus
 – 1449–1453 Constantine XI
Lập pháp Viện nguyên lão
Thời đại lịch sử Classical antiquity
 – Trận Actium 2 tháng chín, 31 TCN
 – Octavianus trở thành Nguyên thủ, lấy hiệu là Augustus 27 TCN
 – Cái chết của Hoàng đế Đế quốc Tây La Mã Romulus Augustus
Sự thất thủ của Constantinopolis *
476
Diện tích
 – 25 BC[2][3] 2.750.000 km²; (1.061.781 mi²)
 – 50[2] 4.200.000 km²; (1.621.629 mi²)
 – 117[2] 6.500.000 km²; (2.509.664 mi²)
 – 390 [2] 4.400.000 km²; (1.698.849 mi²)
Dân số
 – 25 BC[2][3] ước tính 56.800.000
     Mật độ 20,7 /km²  (53,5 /mi²)
 – 117[2] ước tính 88.000.000
     Mật độ 13,5 /km²  (35,1 /mi²)
Tiền tệ Solidus, Aureus, Denarius, Sestertius, As
Hiện nay là một phần của
* Những sự kiện này đánh dấu sự kết thúc của Đế quốc Tây La Mã (286-476)[4] và của Đế quốc Đông La Mã (330–1453).

Đế quốc La Mã, hay còn gọi là Đế quốc Roma (tiếng Latinh: IMPERIVM ROMANVM) là thời kỳ hậu Cộng hòa của nền văn minh La Mã cổ đại. La Mã từng là một đế quốc rộng lớn tồn tại từ khoảng thế kỷ thứ 1 TCN cho đến khoảng thế kỷ thứ 5 hay thế kỷ thứ 6, gồm phần đất những nước vây quanh Địa Trung Hải ngày nay. Đế quốc La Mã là sự tiếp nối của Cộng hòa La Mã và nằm trong giai đoạn cuối cùng của thời cổ điển.[5]. Nó được tính từ khi Augustus bắt đầu trị vì từ năm 27 TCN và có nhiều mốc kết thúc khác nhau.

Nền Cộng hòa La Mã 500 năm tuổi, tiền thân của Đế quốc La Mã, đã bị suy yếu qua nhiều cuộc nội chiến.[Gc 2] Đã có nhiều sự kiện xảy ra đánh dấu bước chuyển mình từ nền Cộng hòa sang Đế quốc, bao gồm việc Julius Caesar được bổ nhiệm làm nhà độc tài suốt đời (44 TCN), trận Actium (31 TCN), và sự kiện Viện nguyên lão trao cho Octavianus danh hiệu cao quý Augustus (27 TCN).[Gc 3]

Hai thế kỷ đầu của đế quốc ghi dấu với nền Thái bình La Mã (Pax Romana), một giai đoạn hòa bình thịnh trị chưa từng thấy.[6] Sự mở rộng cương thổ của La Mã đã bắt đầu từ thời Cộng hòa, nhưng đạt tới cực đỉnh vào thời hoàng đế Traianus. Ở đỉnh cao, Đế quốc La Mã kiểm soát gần 6.5 triệu km2, tuy rằng những người kế tục đã từ bỏ phần lớn đất đai mà ông chiếm được[7]. Vì sự rộng lớn và bền vững dài lâu của mình, những thể chế và văn hóa của Đế quốc La Mã có những ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài đến sự phát triển của ngôn ngữ, tôn giáo, kiến trúc, triết học, luật pháp trong những vùng mà nó cai trị, đặc biệt là châu Âu, và nhờ vào chủ nghĩa bành trướng của châu Âu, sau này chúng lan ra toàn thế giới hiện đại.

Lịch sử

Roma đã bắt đầu sáp nhập các tỉnh mới của nó từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, và quá trình này kéo dài suốt bốn thế kỷ trước khi lãnh thổ của nó đạt đến mức cực đỉnh, và theo chiều hướng là một “đế chế” trong khi vẫn cai trị như là một nhà nước cộng hòa.[8] Các tỉnh Cộng hòa thì được cai quản bởi các viên cựu chấp chinh quan và cựu pháp quan, vốn được bầu hàng năm và nắm giữ quyền lực tuyệt đối [9]. Với việc tập trung quá nhiều của cải cũng như sức mạnh quân đội trong tay của một vài người thông qua quyền cai trị các tỉnh, nó đã trở thành nhân tố chính trong quá trình chuyển từ nhà nnước cộng hòa sang chế độ quân chủ chuyên chế.[10]

Augustus của Prima Porta (đầu thế kỷ 1 CN)

Vì là vị hoàng đế đầu tiên, Augustus đã đảm nhận điạ vị chính thức này nhờ vào việc ông đã phục hồi nền Cộng hòa, và điều chỉnh quyền hạn của mình một cách cẩn thận trong khuôn khổ các nguyên tắc của hiến pháp cộng hòa. Ông từ chối danh hiệu mà người La Mã kết hợp với chế độ quân chủ, và thay vào đó tự gọi mình là Princeps, “Đệ nhất công dân”. Các chấp chính quan tiếp tục được bầu, quan bảo dân của người bình dân thì tiếp tục có quyền ban hành những điều luật, và các nguyên lão vẫn được tranh luận trong Curia. Tuy nhiên, Augustus cũng còn là người tạo ra tiền lệ đó là các vị hoàng đế là người quyết định cuối cùng, với sự ủng hộ của quân đội.

Triều đại của Augustus đã kéo dài hơn 40 năm, và nó đã được mô tả trong các tác phẩm văn học thời kì này như là một “Thời Đại Hoàng Kim”. Augustus đã tạo nên một nền tảng tư tưởng lâu dài cho ba thế kỷ tiếp theo của đế quốc và được gọi là thời kì “Nguyên Thủ” (27 TCN-284 CN), 200 năm đầu tiên trong số đó theo truyền thống được coi là thời kì Thái bình La Mã (“Pax Romana“). Trong thời gian này, sự gắn kết bên trong đế quốc được đẩy mạnh nhờ việc góp phần vào đời sống người dân, các quan hệ kinh tế, và sự chia sẻ chuẩn mực văn hóa, luật pháp và tôn giáo. Các cuộc khởi nghĩa ở các tỉnh thì không thường xuyên nổ ra, nhưng chúng lại bị dập tắt một cách “không thương tiếc và nhanh chóng” khi xảy ra,[11] giống như ở Britain và Gaul. Các cuộc chiến tranh Do Thái-La Mã nổ ra liên tục trong suốt 60 năm là một ngoại lệ về cả mặt thời gian và sự ác liệt của chúng.[12]

Triều đại Julio-Claudius sau đó còn có thêm bốn vị hoàng đế-Tiberius, Caligula, Claudius, và Nero trước khi nó kết thúc vào năm 69 CN. Tiếp theo đó là những cuộc nội chiến trong suốt “Năm tứ đế“, và từ đó Vespasianus nổi lên với tư cách là người chiến thắng.

Vespasianus đã trở thành người sáng lập của triều đại Flavius chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, trước khi nó được kế tục bởi triều đại Nerva-Antoninus mà tạo nên cái gọi là “Ngũ Hiền Đế“: Nerva, Traianus, Hadrianus, Antoninus Pius và vị hoàng đế triết gia Marcus Aurelius. Theo quan điểm của sử gia Hy Lạp, Dio Cassius, một người đương thời, với việc hoàng đế Commodus lên kế vị trong 180 CN đã đánh dấu sự suy yếu “từ một vương quốc của vàng trở thành một vương quốc của gỉ sắt” [13]-bình luận nổi tiếng trên đã khiến một số nhà sử học, đặc biệt là Edward Gibbon coi triều đại của Commodus đã bắt đầu sự suy tàn của Đế chế La Mã.

Năm 212, dưới thời trị vì của Caracalla, quyền công dân La Mã đã được ban cho tất cả các cư dân tự do của Đế quốc. Tuy nhiên, bất chấp điều này, triều đại Severus lại là một triều đại hỗn loạn-và các vị hoàng đế của triều đại này thường xuyên bị sát hại hoặc bị hành quyết-và tiếp sau sự sụp đổ của nó, Đế quốc La Mã đã bị nhấn chìm bởi cuộc khủng hoảng của thế kỷ thứ ba, một thời kì của cuộc xâm lược, nội chiến, suy thoái kinh tế, và bệnh dịch [14]. Trong việc định rõ các thời kỳ lịch sử, cuộc khủng hoảng này đôi khi được xem như là đã đánh dấu sự chuyển đổi từ thời kì cổ đại tới thời kì Hậu cổ đại. Ảo tưởng vốn tàn lụi về nền Cộng hòa cũ đã phải hy sinh cho mục ích thiết lập lại trật tự: Diocletianus (trị vì từ năm 284-305) đã đưa Đế quốc thoát khỏi bờ vực của sự sụp đôt, nhưng lại từ chối đóng vai trò của một Nguyên Thủ và thay vào đó đã trở thành vị hoàng đế đầu tiên được đề cập thường xuyên như là Dominus, “chủ nhân” hay ” Chúa Tể”[15].

Hoàng đế Diocletianus sau đó đã ổn định tình hình đế quốc và thiết lập hệ thống phân chia quyền lực giữa bốn vị đồng Hoàng đế (gọi là Tứ đầu chế).[16] Sau thời ông tình hình đế quốc lại trở nên bất ổn, nhưng trật tự sau đó lại được Constantinus I – vị Hoàng đế đầu tiên theo Ki-tô giáo và là người thành lập tân đô của đế quốc ở phía Đông là Constantinopolis – lập lại. Trong các thập kỷ sau đế quốc thường được phân chia theo một trục Đông-Tây (Constantinopolis/Roma). Theodosius I là hoàng đế cuối cùng trị vì cả đông lẫn tây, và mất năm 395 sau khi đưa Ki-tô giáo lên làm quốc giáo của đế quốc.[17]

Kể từ cuối thế kỷ 4, đế quốc bắt đầu tan rã do các man tộc từ phương Bắc lấn át chính quyền La Mã. Vốn đã vỡ vụn, Đế quốc Tây La Mã cáo chung vào năm 476 khi Romulus Augustus bị viên chỉ huy người GermanOdoacer hạ bệ.[18] Đế quốc Đông La Mã (người nay gọi là Đế quốc Byzantine nhưng người đương thời chỉ gọi là “Đế quốc La Mã”) tiếp tục tồn tại dưới nhiều hình thức cho đến năm 1453 với cái chết của Kōnstantinos XIsự xâm chiếm Constantinopolis của Sultan Mehmed II của Đế quốc Ottoman.[19]

Địa lý

Đế quốc La Mã là một trong những đế quốc lớn nhất trong lịch sử.[20] Thành ngữ Latinh imperium sine fine (“đế quốc mà không có điểm kết thúc” [21]) nhằm nêu lên sự mơ tưởng rằng đế quốc không bị giới hạn về cả thời gian hay không gian. Trong bộ sử thi Aeneid của Vergil, sự vô hạn của đế quốc được nói là do vị thần Jupiter ban cho những người La Mã.[22] Tuyên bố về sự thống trị thế giới này đã được tiếp tục nhắc đến và tồn tại cho đến khi Đế quốc nằm dưới sự thống trị của Kitô giáo vào thế kỷ thứ 4.[23]

Trong thực tế, công cuộc bành trướng của người La Mã đã được thực hiện chủ yếu dưới thời Cộng hoà, mặc dù các vùng ở khu vực bắc Âu đã được chinh phục vào thế kỷ 1, khi mà người La Mã đã củng cố quyền lực của họ ở châu Âu, châu Phi và châu Á. Trong suốt triều đại của Augustus, một “bản đồ toàn cầu của thế giới được biết đến” đã được trưng bày lần đầu tiên trước công chúng tại Rome, trùng thời điểm với tác phẩm toàn diện nhất về địa lý chính trị tồn tại từ thời cổ đại, Geography của nhà văn người Pontos gốc Hy Lạp Strabo [24] Khi Augustus qua đời, tác phẩm nhằm ca ngợi về những thành tựu của ông (Res Gestae) đã mô tả những nét đặc trưng nổi bật theo danh mục về địa lý của các dân tộc và những nơi bên trong đế quốc.[25] Địa lý, điều tra dân số, và những văn thư ghi lại được lưu giữ một cách kĩ càng là những mối quan tâm chủ yếu của chính quyền đế quốc[26].

Một đoạn tàn tích của Trường thành Hadrian

Đế quốc đạt tới ngưỡng mở rộng lớn nhất của nó dưới thời Trajanus (trị vì từ năm 98-117),[27] trên một diện tích lên tới 5.000.000 km vuông vào năm 2009 và được chia thành bốn mươi quốc gia khác nhau hiện nay..[28] Dân số của nó theo ước tính truyền thống lên tới 55-60.000.000 cư dân [29] chiếm khoảng từ một phần sáu tới một phần tư dân số của thế giới [30] và khiến cho nó trở thành quốc gia có dân cư lớn nhất hơn bất cứ thực thể chính trị thống nhất nào ở phương Tây cho đến giữa thế kỷ 19[31] Những nghiên cứu nhân khẩu học gần đây đã minh chứng rằng vào lúc đỉnh điểm, đế quốc có từ 70 triệu đến hơn 100 triệu thần dân.[32] Bất cứ thành phố nào trong ba thành phố lớn nhất của Đế quốc-Rôma, Alexandria, và Antioch– gần như đều có kích thước gấp đôi bất kỳ thành phố châu Âu vào đầu thế kỷ 17.[33]

Vị hoàng đế kế vị Trajanus, Hadrianus đã thông qua một chính sách duy trì thay vì mở rộng đế quốc. Biên giới (fines) đã được đánh dấu, còn các phòng tuyến biên giới (limes) thì được tuần tra.[34] Những khu vực biên giới được củng cố vững chắc nhất là nơi ổn định nhất.[35] Trường thành Hadrian vốn ngăn cách thế giới La Mã khỏi những gì đã được coi là một mối đe dọa man rợ luôn hiện diện, là công trình chính còn sót lại của nỗ lực này.[36]

Ngôn ngữ

Ngôn ngữ của người La Mã là tiếng Latin, nó đã được Vergil nhấn mạnh như một nguồn gốc của sự thống nhất và truyền thống của người La Mã.[37] Cho đến tận thời của Alexander Severus (trị vì từ năm 222-235), Giấy khai sinh và chúc thư của công dân La Mã đều phải được viết bằng tiếng Latin.[38] Tiếng Latin cũng còn là ngôn ngữ của các tòa án ở phía Tây và của quân đội trên khắp Đế quốc[39], nhưng lại không được áp dụng chính thức đối với những cư dân nằm dưới sự cai trị của người La Mã.[40] Thánh Augustinô nhận xét rằng người La Mã ưa thích tiếng Latinh đến mức đã chấp nhận và thực hiện per societatis pacem, thông qua một hiệp ước xã hội.[41] Chính sách này tương phản với của Alexandros Đại đế, vốn mong muốn nhằm biến tiếng Hy Lạp trở thành ngôn ngữ chính thức trên khắp đế chế của mình.[42] Như là một hệ quả từ các cuộc chinh phục của Alexandros, ngôn ngữ Koine Hy Lạp đã trở thành ngôn ngữ chung ở khu vực quanh phía đông Địa Trung Hải và ở Tiểu Á [43] “Biên giới ngôn ngữ họ” này đã phân chia đế quốc thành hai nửa với tiếng Latin ở Phía Tây và tiếng Hy Lạp ở Phía Đông thông qua bán đảo Balkan, tạo ra một hệ ngôn ngữ song song bên trong đế quốc La Mã.[44]

Những người La Mã mà được nhận một nền giáo dục ưu tú, thì lại học tiếng Hy Lạp như là một ngôn ngữ thơ ca, và hầu hết những người thuộc chính quyền đều có thể nói tiếng Hy Lạp.[45] Các vị hoàng đế của triều đại Julio-Claudius đã khuyến khích những tiêu chuẩn cao đối với tiếng Latin chuẩn (Latinitas), một trào lưu ngôn ngữ được đồng nhất theo những thuật ngữ hiện đại như là tiếng La tinh cổ điển, và ủng hộ việc sử dụng chính thức tiếng Latin trong các hoạt động kinh doanh.[46] Hoàng đế Claudius đã cố gắng để hạn chế việc sử dụng tiếng Hy Lạp, và nhân dịp này ông đã cho thu hồi quyền công dân của những người ít sử dụng tiếng Latin, nhưng ngay cả trong Viện nguyên lão, ông chỉ cần sử dụng đến song ngữ riêng của mình trong những dịp phải tiếp kiến với những sứ thần biết nói tiếng Hy lạp.[46] Suetonius trích dẫn lời nói của ông mà đã đề cập đến “hai ngôn ngữ của chúng ta,” [47] và hoàng đế đã sử dụng hai viên thư ký hoàng gia, một dùng tiếng Hy Lạp và một là tiếng Latinh, để đề ngày tháng cho triều đại của ông.[48]

Tờ giấy papyrus thế kỉ thứ 5 cho thấy một đoạn trích từ một bài diễn văn của Cicero sử dụng song song cả tiếng Latinh và Hy Lạp[49]

Ở phía Đông của đế chế, pháp luật và các văn bản chính thức thường xuyên được dịch sang tiếng Hy Lạp từ tiếng La tinh.[50] Sự giao thoa hàng ngày của hai ngôn ngữ được thể hiện trong những câu văn viết bằng song ngữ, mà thậm chí đôi khi có sự chuyển đổi qua lại giữa tiếng Hy Lạp và Latinh. Ví dụ như Văn bia của một người lính nói tiếng Hy lạp, có thể chủ yếu được viết bằng tiếng Hy Lạp, với cấp bậc và đơn vị của ông ta trong quân đội La Mã thể hiện bằng tiếng Latinh.[51] Sau khi tất cả các cư dân tự do của đế quốc được ban cho quyền công dân La Mã vào năm 212 CN, một số lượng lớn các công dân La Mã sẽ phải biết chút ít tiếng Latinh.

Một trong những cải cách của hoàng đế Diocletianus (trị vì từ năm 284-305) đó là đã tìm cách khôi phục lại uy quyền của tiếng Latinh với những từ ngữ tiếng Hy Lạp ἡ κρατοῦσα διάλεκτος (hẽ kratousa dialektos) là minh chứng cho việc duy trì địa vị của tiếng Latin là “ngôn ngữ của quyền lực”.[52] Học giả Libanius (thế kỷ thứ 4) coi tiếng Latinh như là nguyên nhân gây ra một sự suy giảm trong chất lượng của thuật hùng biện Hy Lạp[53] Trong những năm đầu của thế kỷ thứ 6, hoàng đế Justinianus đã tiến hành một nỗ lực viển vông nhằm tái khẳng định địa vị của tiếng Latin như là ngôn ngữ của pháp luật. mặc dù vào thời của ông ta, tiếng Latin không còn giữ được sự thịnh hành như là một sinh ngữ ở phía Đông.[54]

Những ngôn ngữ địa phương

Chữ khắc bằng song ngữ Latinh-Punic tại một nhà hát ở Leptis Magna, Tỉnh châu Phi của La Mã (present-day Libya)

Những luật gia La Mã cũng cho thấy một mối quan tâm đối với các ngôn ngữ địa phương như tiếng Punic, Gaul, và tiếng Aramaic trong việc đảm bảo sự hiểu biết chính xác cùng với việc áp dụng pháp luật và tuyên thệ.[55]hành tỉnh châu Phi, Tiếng Punic đã được sử dụng cho những chữ khắc trên các đồng tiền xu dưới triều đại Tiberius (thế kỷ thứ 1 sau công nguyên), và các chữ khắc bằng tiếng Punic lần xuất hiện trên các tòa nhà công cộng vào thế kỷ thứ 2, một số song song cùng với tiếng Latinh.[56]

Ở phía Tây, tiếng Latinh có vai trò cực kì quan trọng trong việc vươn tới bộ máy chính quyền và đều này gây ra sự biến mất nhanh chóng của những bản khắc đã được sử dụng để diễn tả ngôn ngữ địa phương trên bán đảo Iberia (Tây Ban Nha thời La Mã) và ở Gaul. Một trong những số các khía cạnh khác biệt của nền văn hóa Gallo-La Mã đó là việc tạo ra các bản văn Gallo-Latin,[57] và ngay tại khu vực Gallia Narbonensis, cả ba ngôn ngữ (tiếng Hy Lạp, tiếng Latinh, Gaul) đã được sử dụng vào giữa thế kỷ 1 trước CN.[58] Ở Ý, việc sử dụng các văn bản bằng tiếng Latin đã thay thế tiếng EtruscanOscan vào cuối thế kỷ 1 sau CN [59] Sự thống trị của tiếng Latinh ở giữa tầng lớp có học thức có thể đã dần làm phai mờ tính liên tục của các ngôn ngữ nói, và còn vì tất cả các nền văn hóa trong đế chế La Mã chủ yếu đều truyền miệng.[60]

Di sản ngôn ngữ

Ở đế quốc Tây La Mã, tiếng Latin dần dần thay thế tiếng Celtictiếng Italic vốn có liên quan đến nó bằng cách chia sẻ chung nguồn gốc Ấn-Âu. Tương đồng trong cú pháp và từ vựng đã tạo thuận lợi cho việc chấp nhận và sử dụng tiếng Latinh.[61] Tiếng Basque thì lại vốn không phải là một ngôn ngữ Ấn-Âu và nó đã tiếp tục tồn tại trong khu vực dãy núi Pyrenee.[61] Sau giai đoạn phân chia quyền lực chính trị vào thời kì hậu cổ đại, tiếng Latin đã phát triển thành các nhánh khác nhau với tính chất cục bộ mà cuối cùng đã trở thành nhóm ngôn ngữ Rôman, chẳng hạn như tiếng Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, Ý và Romania. Vì là một ngôn ngữ quốc tế của tri thức và văn học, bản thân tiếng Latin vẫn tiếp tục là một phương tiện dùng trong các hoạt động ngoại giao và cho sự phát triển trí thức được đồng nhất với chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng cho đến tận thế kỷ 17, và đối với pháp luật và Giáo Hội Công Giáo La Mã cho đến ngày nay[62].

Mặc dù tiếng Hy Lạp tiếp tục là ngôn ngữ của Đế quốc Byzantine, sự phân bố ngôn ngữ ở phía Đông lại phức tạp hơn. Đa số những người nói tiếng Hy lạp sống ở bán đảo và các quần đảo của Hy Lạp, miền tây Tiểu Á, các thành phố lớn, và một số vùng ven biển.[63] Giống như tiếng Hy Lạp và Latinh, tiếng Thracia có nguồn gốc từ hệ ngôn ngữ Ấn-Âu, và cũng như một số ngôn ngữ đã biến mất khác ở Anatolia như tiếng Galatia, Phrygia, Pisidian, và Cappadocia, chúng chỉ được chứng thực từ những chữ khắc vào thời kì đế quốc.[64] Có nhiều ngôn ngữ Phi Á-chủ yếu là tiếng Copt ở Ai Cập, và tiếng Aramit ở Syria và Lưỡng Hà-không bao giờ bị tiếng Hy Lạp thay thế. Những người lính Palmyra thậm chí sử dụng phương ngữ Aramaic của họ trên các chữ khắc, đây là một ngoại lệ đáng chú ý bởi vì tiếng Latinh là ngôn ngữ được dùng cho quân đội.[65]

Xã hội

Một bữa tiệc nhiều thế hệ được miêu tả trên một bức tranh tường ở Pompeii (thế kỷ thứ 1 sau công nguyên)

Đế quốc La Mã đã khá đa dạng về văn hóa, cùng với “khả năng gắn kết hơn đáng kinh ngạc” để tạo ra một bản sắc chung trong khi lại chứa đựng rất nhiều các dân tộc khác nhau nằm bên trong hệ thống chính trị của nó suốt một khoảng thời gian dài.[66] Người La Mã đã quan tâm đến việc tạo ra các công trình và không gian công cộng dành cho tất cả mọi người dân như là các khu chợ,đấu trường đài vòng, trường đua ngựa và các nhà tắm.

Xã hội La Mã cũng có nhiều hệ thống phân cấp xã hội chồng chéo mà những khái niệm hiện đại về “giai cấp” trong tiếng Anh có thể không đại diện một cách chính xác cho nó.[67] Hai thập kỷ của những cuộc nội chiến mà từ đó đã giúp cho Augustus nổi lên và trở thành nhà cai trị duy nhất đã để khiến cho xã hội truyền thống ở Roma rơi vào tình trạng hỗn loạn và biến động,[68] nhưng nó lại không ảnh hưởng một cách trực tiếp tới sự phân bố giàu nghèo và quyền lực xã hội. Những mối quan hệ cá nhân như sự bảo trợ, tình bạn (Amicitia), gia đình, hôn nhân đã tiếp tục ảnh hưởng đến các hoạt động chính trị và chính quyền như dưới thời Cộng hòa.[69] Tuy nhiên, vào triều đại của Nero, việc tìm thấy một cựu nô lệ lại giàu có hơn một công dân tự do, hoặc một kị sĩ có nhiều quyền lực hơn một nguyên lão lại không phải là một điều bất thường.[70]

Địa vị pháp lý

Theo luật gia Gaius, sự khác biệt quan trọng trong “Dân luật” của người La Mã đó là tất cả mọi người hoặc là những người tự do(Liberi) hoặc là nô lệ (servi).[71] Tư cách pháp lý của người tự do xa hơn nữa có thể được xác định bằng quyền công dân của họ. Vào đầu thời kì đế quốc, chỉ có một số lượng nam giới tương đối hạn chế có được đầy đủ các quyền công dân La Mã mà cho phép họ có quyền bỏ phiếu, tranh cử, và gia nhập vào hàng ngũ thầy tế. Hầu hết người dân đều giữ những quyền hạn chế (chẳng hạn như ius Latinum,”quyền của người Latin”), nhưng đã được pháp luật bảo vệ và những đặc quyền mà người thiếu quyền công dân không được hưởng. Người tự do không được coi là công dân, nhưng sinh sống bên trong thế giới La Mã, đã giữ địa vị là peregrini, không phải người La Mã.[72] Năm 212 CN, bằng sắc lệnh được biết đến như là Constitutio Antoniniana, hoàng đế Caracalla đã mở rộng quyền công dân cho tất cả các cư dân tự do của đế quốc. Chủ nghĩa quân bình hợp pháp này đòi hỏi một sự sửa đổi sâu rộng đối với những pháp luật hiện hành vốn đã phân chia giữa công dân và những người không phải công dân.[73]

Phụ nữ

Những người phụ nữ La Mã tự do được coi là công dân từ thời nhà nước Cộng hoà cho tới thời Đế quốc, nhưng họ không có quyền bỏ phiếu hay nắm giữ chức vụ chính trị, hoặc phục vụ trong quân đội. Đứa trẻ sinh ra từ người mẹ có quyền công dân thì cũng sẽ có được điều này, thể hiện bằng cách nói ex duobus civibus Romanis natos (“trẻ em sinh ra bởi hai công dân La Mã”).[74] Một người phụ nữ La Mã giữ tên họ của gia đình mình (nomen)trong suốt cuộc đời. Con cái thường lấy theo tên của người cha, nhưng vào thời kì đế quốc, đôi khi lại sử dụng một phần tên của người mẹ cho tên của họ, hoặc thậm chí sử dụng nó để thay thế.[75]

Tượng nhỏ bằng đồng (thế kỷ 1 CN) mô tả một nữ giới đang đọc sách

Hình thái hôn nhân cổ xưa manus trong đó người phụ nữ phải lệ thuộc vào uy quyền của người chồng đã được bãi bỏ một cách rộng khắp vào thời kì đế quốc, và một người phụ nữ đã lập gia đình có quyền giữ lại quyền sở hữu với bất kỳ của hồi môn nào mà họ sở hữu. Về mặt pháp lý, họ vẫn nằm dưới thẩm quyền pháp lý của người cha, bất kể là họ đã đi lấy chồng đi chăng nữa và chỉ khi nào người cha qua đời, họ mới được tự do về mặt pháp lý.[76]

Người con gái có quyền thừa kế bình đẳng với người con trai nếu người cha của họ qua đời mà không để lại một di chúc[77] Một người mẹ La Mã của quyền sở hữu tài sản và nhường lại nó khi thấy phù hợp, bao gồm thiết lập các điều khoản trong di chúc của mình, điều này khiến họ có ảnh hưởng rất lớn với những người con trai của họ hơn ngay cả khi những người con trai của họ đã trưởng thành.[78]

Nộ lệ và pháp luật

Dưới triều đaị của Augustus, có đến 35 phần trăm người dân ở Ý là nô lệ,[79] điều này khiến cho Roma trở thành một trong năm “xã hội nô lệ” trong lịch sử, trong đó những người nô lệ chiếm ít nhất một phần năm dân số và đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế.[80] Trong môi trường đô thị, nô lệ có thể là các chuyên gia như thầy giáo, thầy thuốc, đầu bếp, người giữ sổ sách, ngoài ra thì phần lớn các nô lệ đã qua huấn luyện hoặc không có kỹ năng thì lao động ở trong các hộ gia đình hoặc các công xưởng. Các ngành nông nghiệp và công nghiệp, chẳng hạn như xay xát và khai thác mỏ, đều dựa trên việc khai thác sức lao động của nô lệ. Bên ngoài đất Ý, nô lệ chiếm trung bình khoảng từ 10 đến 20 phần trăm dân số, ở tỉnh Ai Cập thuộc La Mã thì lại thưa thớt nhưng tập trung nhiều hơn ở một số vùng của Hy Lạp. Việc mở rộng quyền sở hữu đất canh tác và các ngành công nghiệp của người La Mã sẽ bị ảnh hưởng từ thực tiễn của chế độ nô lệ ở các tỉnh..[81]

Pháp luật liên quan đến chế độ nô lệ là “cực kỳ phức tạp”.[82] Theo luật La Mã, nô lệ được coi là tài sản và không có địa vị pháp lý. Họ có thể phải chịu các hình thức nhục hình vốn không thường được áp dụng đối với công dân, bóc lột tình dục, tra tấn, và hành quyết nô lệ mà không cần xét xử. Một nô lệ bị cưỡng bức thì không phải là một vấn đề quan trọng trong pháp luật bởi lẽ tội hiếp dâm chỉ có thể bị tống giam nếu đó là người tự do; Người chủ nô có quyền khởi tố người cưỡng bức nô lệ của mình vì đã làm thiệt hại tài sản theo Luật Aquilia[83] Nô lệ có hình thức hôn nhân không được pháp luật công nhận được gọi là conubium, nhưng đôi khi hôn nhân của họ được công nhận, và nếu cả hai được trả tự do thì họ có thể kết hôn.[84] Sau những cuộc chiến tranh nô lệ dưới thời Cộng hòa, pháp luật dưới triều đại của Augustus và những người kế vị ông đã cho thấy một chiều hướng quan tâm đến việc kiểm soát các mối đe dọa từ các cuộc khởi nghĩa thông qua việc hạn chế kích thước của các nhóm lao động, và việc săn lùng nô lệ bỏ trốn.[85]

Về mặt pháp luật, một nô lệ không thể sở hữu tài sản,[86] nhưng nếu một nô lệ quản lý việc kinh doanh, người này có thể được trao cho một tài khoản cá nhân hoặc quỹ (peculium) mà có thể sử dụng như thể nó là của riêng mình. Các điều khoản của tài khoản này khác nhau tùy thuộc vào mức độ tin tưởng và hợp tác giữa người chủ nô với nô lệ: một nô lệ với năng khiếu kinh doanh có thể được cho phép dành nhiều thời gian cho việc tạo ra lợi nhuận, và có thể được phép thừa kế peculium, người này còn quản lý các nô lệ khác trong gia đình của chủ nô.[87] Trong một hộ gia đình hoặc nơi làm việc, một hệ thống cấp bậc giữa các nô lệ có thể tồn tại, với một nô lệ có đóng vai trò là ông chủ của nô lệ khác.[88]

Theo thời gian, nô lệ đã dần nhận được sự bảo vệ của pháp luật, trong đó họ có quyền nộp đơn khiếu nại chống lại người chủ của họ. Một dự luật buôn bán có thể chứa một điều khoản quy định rằng các nô lệ không được phép sử dụng cho nạn mại dâm, tuy rằng gái mại dâm ở La Mã cổ đại thường là nô lệ.[89] Với việc bùng phát buôn bán nô lệ thái giám trong những năm cuối thế kỷ 1 CN đã thúc đẩy đạo luật trong đó cấm thiến một nô lệ trái với ý muốn của họ “vì ham muốn hoặc lợi ích.”[90]

Trong giai đoạn bành trướng dưới thời Cộng hòa khi chế độ nô lệ đã trở nên phổ biến, tù nhân chiến tranh là một nguồn cung cấp nô lệ chính và cuộc chinh phục Hy Lạp đã đem về Rome thêm một số nô lệ có tay nghề cao và cả nô lệ có học thức. Nô lệ cũng được buôn bán trong các khu chợ, và đôi khi được bán bởi những tên cướp biển. Trẻ sơ sinh bị bỏ rơi và việc tự bán mình làm nô lệ của những người nghèo là những nguồn khác.[91]

Những nô lệ có tay nghề cao hoặc học thức có thể tích lũy được một peculium đủ lớn để mua lại sự tự do của họ, hoặc được chủ nô giải phóng. Việc giải phóng nô lệ đã trở nên đủ thường xuyên tới mức vào năm 2 trước Công nguyên một đạo luật (Lex Fufia Caninia) đã được ban hành trong đó giới hạn số lượng nô lệ mà một chủ nô được cho phép giải phóng trong di chúc của mình.[92]

Nô lệ được giải phóng

Bình đựng di cốt hỏa táng của nô lệ được giải phóng Tiberius Claudius Chryseros và hai nữ giới, có thể là vợ và con gái của ông ta.

Roma khác với các thành bang Hy Lạp ở chỗ cho phép những người nô lệ được giải phóng trở thành công dân. Sau khi được giải phóng, một nô lệ đã từng thuộc về một công dân La Mã không chỉ được hưởng sự tự do thụ động từ quyền sở hữu, mà còn cả quyền tự do chính trị thực sự (Libertas), trong đó có cả quyền biểu quyết.[93] Một nô lệ mà đã đạt được Libertas, thì cũng còn là một libertus (“người được giải phóng”, Liberta nữ) nhờ mối quan hệ với chủ cũ của mình, và sau đó đã trở thành người bảo trợ của ông ta (Patronus): hai bên tiếp tục có những nghĩa vụ thông thường và hợp pháp với nhau. Những người nô lệ được giải phóng còn được xếp vào một tầng lớp xã hội, nói chung gọi là libertini, mặc dù các nhà văn sau đó sử dụng thuật ngữ libertuslibertinus.[94]

Một libertinus không có quyền nắm giữ chức vụ công hoặc giáo sĩ tối cao của nhà nước, nhưng người này có thể đóng một vai trò của một giáo sĩ trong tôn giáo thờ cúng hoàng đế. Ông ta cũng không thể kết hôn với một người phụ nữ từ một gia đình thuộc tầng lớp nguyên lão, cũng như bản thân ông ta không được phép đứng vào hàng ngũ nguyên lão, nhưng vào thời kì đầu của đế quốc, những nô lệ được giải phóng đã giữ vị trí chủ chốt trong bộ máy quan liêu của chính phủ nhiều tới mức Hadrianus đã phải hạn chế sự tham gia của họ bằng pháp luật.[95] Bất kỳ đứa trẻ nào được một nô lệ được giải phóng sinh ra thì đều là người tự do, với đầy đủ các quyền công dân.

Hệ thống đẳng cấp

Từ La tinh Ordo (số nhiều ordines) đề cập đến một sự phân biệt xã hội được dịch sang tiếng Anh với nhiều cách khác nhau như là “giai cấp, tầng lớp, đẳng cấp”, nhưng không có cái nào trong số đó là chính xác. Một mục đích của việc điều tra dân số La Mã là xác định một cá nhân thuộc về Ordo nào. Hai ordines cao nhất ở Roma là tầng lớp nguyên lão và kị sĩ. Bên ngoài Roma, decurion, hay còn được gọi là curiales (tiếng Hy Lạp:bouleutai), là Ordo thống trị cao nhất của một thành phố riêng lẻ.

Mảnh vỡ của một quách mô tả Gordian III và các nghị sĩ (thế kỷ 3)

“Nguyên lão”, bản thân nó thì không phải là một chức vụ được bầu ở La Mã cổ đại, một cá nhân được nhận vào Viện nguyên lão sau khi ông ta đã được bầu và giữ chức vụ là một thẩm phám hành pháp ít nhất một nhiệm kì. Một nguyên lão cũng phải đáp ứng một yêu cầu về tài sản tối thiểu là 1 triệu sestertii, vốn được xác định bởi những cuộc điều tra dân số.[96] Nero đã ban tặng nhiều tiền bạc cho một số nguyên lão từ các dòng họ lâu đời nhưng nay họ đã trở nên quá nghèo khổ để có thể đủ điều kiện. Không phải tất cả những người có đủ điều kiện Ordo senatorius đều được lựa chọn vào một vị trí trong Viện nguyên lão, mà trong đó yêu cầu có nơi cư trú hợp pháp tại Roma. Hoàng đế thường bổ sung những vị trí còn khuyết trong hội đồng 600 thành viên bằng cách bổ nhiệm.[97] Con trai của một nguyên lão thuộc Ordo senatorius cũng phải hội đủ điều kiện riêng của mình thì cũng mới được chấp nhận vào Viện Nguyên Lão. Một nguyên lão có thể bị mất ghế nếu ông ta vi phạm tiêu chuẩn đạo đức: ví dụ như ông ta bị cấm kết hôn với một phụ nữ được trả tự do hoặc chiến đấu trong đấu trường[98].

Dưới triều đại của Nero, các nguyên lão chủ yếu vẫn từ Roma và các vùng đất khác của Ý cùng với một số đến từ bán đảo Iberia và miền nam nước Pháp;. Những người đến từ các tỉnh nói tiếng Hy lạp ở phương Đông bắt đầu được thêm vào dưới thời Vespasianus [99] Vị nguyên lão đầu tiên tới từ tỉnh Cappadocia phía đông đã được thừa nhận dưới triều đại Marcus Aurelius.[100]

Các nguyên lão đã có một vầng hào quang uy tín và là tầng lớp thống trị truyền thống của những người nổi lên thông qua honorum cursus, con đường của sự nghiệp chính trị, nhưng tầng lớp kị sĩ của đế quốc lại thường nắm giữ sự giàu có và nhiều quyền lực chính trị hơn. Thành viên của tầng lớp kị sĩ được căn cứ vào tài sản, vào những ngày đầu của Roma, equites hay kị sĩ đã được phân biệt bởi việc họ có khả năng tham gia lực lượng kị binh trong quân đội (những “kị binh của nhân dân”), nhưng vào thời đế quốc, việc tham gia kị binh đã được tách riêng[101] Một người được coi là một Kị sĩ nếu như ông ta có giá trị tài sản là 400.000 sesterces và ba thế hệ trong gia đình sinh ra là người tự do thì mới đủ điều kiện.[102] Cuộc điều tra dân số vào năm 28 trước Công nguyên đã khám phá ra một số lượng lớn những người đủ điều kiện, và trong năm 14 CN, một ngàn kị sĩ đã được ghi nhận chỉ riêng tại CadizPadua.[103] Tầng lớp kị sĩ còn nổi lên thông qua con đường binh nghiệp(tres militiae) để nắm giữ các chức vụ quan trọng như Thái thúKiểm sát trưởng trong chính quyền đế quốc.[104]

Sự nổi lên của các nguyên lão và kị sĩ đến từ các tỉnh là một khía cạnh của biến động xã hội trong ba thế kỷ đầu của đế quốc.[105] Tầng lớp quý tộc La Mã được dựa trên sự cạnh tranh, và không giống tầng lớp quý tộc châu Âu sau này, một gia đình La Mã không thể duy trì vị thế của nó chỉ đơn thuần thông qua thừa kế hoặc có được quyền sở hữu đất đai.[106] Được đứng vào những ordines cao hơn mang đến sự ưu đãi và đặc quyền, nhưng cũng có một số trách nhiệm. Vào thời cổ đại, mỗi một thành phố đều phải trông đợi vào sự tài trợ từ các công dân có thế lực của nó cho những công trình công cộng, các sự kiện, và các buổi lễ (munera), chứ không phải là thu nhập từ thuế, trong đó chủ yếu là hỗ trợ cho quân đội. Để duy trì địa vị thì đòi hỏi mỗi người đều phải có những khoản chi tiêu cá nhân lớn.[107] Những Decurion đã trở nên quan trọng đối với hoạt động của các thành phố tới mức vào giai đoạn cuối của đế quốc, khi mà những thành viên của Hội đồng thành phố ngày càng trở nên ít dần, những người đã đứng vào Viện nguyên lão lại được chính quyền trung ương khuyến khích từ bỏ vị trí của mình và trở về quê hương, trong một nỗ lực để duy trì các hoạt động dân sự.[108]

Sự bất bình đẳng

Một con báo tấn công một người bị kết án tại trường đấu (đồ khảm thế kỷ 3 từ Tunisia)

Khi mà nguyên tắc về sự bình đẳng của các công dân trước pháp luật thời cộng hòa bị lu mờ dần, các đặc quyền mang tính biểu tượng và xã hội của tầng lớp thượng lưu dẫn sự phân cấp một cách không chính thức ở bên trong xã hội La Mã thành hai tầng lớp đó là những người nắm giữ quyền cao chức trọng (honestiores) và những người thuộc tầng lớp thấp kém(humiliores). Nói chung, honestiores là những thành viên của ba “giai cấp” trên, cùng với một số sĩ quan quân đội.[109] Việc cấp quyền công dân cho tất cả cư dân vào năm 212 dường như đã thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các tầng lớp thượng lưu vốn có địa vị cao hơn hẳn các công dân được xác nhân khác, đặc biệt là trong hệ thống tư pháp [110]

Chính quyền và quân đội

Ba trụ cột quan trọng của chính quyền đế quốc La Mã đó là chính quyền trung ương, quân đội, và chính quyền địa phương.[111] Quân đội thiết lập sự kiểm soát đối với các vùng đất thông qua chiến tranh, nhưng sau khi một thành phố hoặc một dân tộc đã chịu khuất phục, thì quân đội lại đảm nhiệm nhiệm vụ giữ gìn trật tự: bảo vệ các công dân La Mã (sau năm 212 SCN, là với tất cả cư dân tự do của Đế quốc), các vùng đất nông nghiệp mà nuôi sống họ, và địa điểm tôn giáo [112] Việc hợp tác với tầng lớp quý tộc đầy quyền lực ở các địa phương là điều cần thiết để duy trì trật tự, thu thập thông tin, và tăng thêm nguồn thu cho ngân khố. Người La Mã thường tiến hành lợi dụng tình trạng chia rẽ chính trị nội bộ bằng cách ủng hộ một trong hai phe:theo như quan điểm của Plutarch, “đó là sự bất hòa giữa các phe phái trong các thành phố mà dẫn đến việc mất quyền tự cai quản” “.[113]

Cộng với việc chứng minh lòng trung thành với Roma đã giúp họ giữ lại được những luật lệ riêng, và đồng thời có thể thu thuế tại địa phương của họ, và trong trường hợp đặc biệt sẽ được miễn thuế La Mã. Đặc quyền pháp lý và sự độc lập một cách tương đối là một động lực để tiếp tục giữ được vị thế tốt đối với Roma.[114] Sự cai quản của La Mã như vậy đã bị hạn chế, nhưng điều này lại tỏ ra hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực có sẵn cho nó.[115]

Chính quyền trung ương

Quyền hạn của một vị hoàng đế (quyền lực tuyệt đối của ông) tồn tại ít nhất là trong lý thuyết, gồm có “quyền quan bảo dân” (potestas tribunicia) và “quyền quan trấn thủ của Hoàng đế” (Imperium proconsulare).[116] Trên lý thuyết, quyền hạn của quan bảo dân (tương tự như Quan bảo dân của người bình dân của nền cộng hòa cũ) khiến cho bản thân hoàng đế và chức vụ của ông trở thành bất khả xâm phạm, và đem lại cho hoàng đế quyền lực đối với chính quyền dân sự của Roma, bao gồm cả quyền lực để chủ trì và kiểm soát viện nguyên lão[117].

Quyền hạn của quan trấn thủ (tương tự như của các thống đốc quân sự, hoặc quan trấn thủ, dưới thời nền Cộng hòa cũ) đã đem lại cho ông quyền lực đối với toàn bộ quân đội La Mã. Ông cũng đã được giao những quyền hạn, mà dưới thời Cộng hòa, đã được dành cho viện nguyên lão và các hội đồng, bao gồm cả quyền tuyên bố chiến tranh, phê chuẩn các hiệp ước quốc tế, và đàm phán với các nhà lãnh đạo ngoại quốc[118].

Antoninus Pius (cai trị từ năm 138–161), mặc một chiếc toga (Hermitage Museum)

Hoàng đế cũng có thẩm quyền để thực hiện một loạt các công việc đã được thực hiện bởi các kiểm duyệt viên, bao gồm cả quyền hạn kiểm soát các thành viên của viện nguyên lão[119] Ngoài ra, hoàng đế còn kiểm soát cả tôn giáo, vì từ khi là hoàng đế, ông cũng luôn luôn đảm nhiệm chức Pontifex Maximus (Đại Tư tế) và là thành viên của mỗi nhóm trong bốn nhóm thầy tế lớn.[118]. Trong khi những tước hiệu này đã được định rõ vào thời kì đầu của giai đoạn đế quốc, cuối cùng chúng cũng bị mất đi, và quyền lực của hoàng đế dần ít tính lập hiến và mang nhiều tính quân chủ hơn.[120]

Trên thực tế, quyền hạn của một vị hoàng đế và quyền lực của ông được dựa trên sự ủng hộ chính đến từ quân đội. Được trả lương bởi ngân khố hoàng gia, những lính lê dương này cũng đã thề một lời thề quân sự thường niên để tỏ lòng trung thành đối với ông, được gọi là Sacramentum.[121]

Sau khi một vị hoàng đế qua đời, trên lý thuyết, viện nguyên lão được quyền lựa chọn vị hoàng đế mới, nhưng hầu hết các hoàng đế đều đã chọn người kế vị riêng của họ, thường là một thành viên trong gia đình. Vị Hoàng đế mới phải nhanh chóng tìm kiếm một sự thừa nhận cho địa vị mới của ông ta và để ổn định bối cảnh chính trị. Không có vị hoàng đế có thể hy vọng sống sót, ít ra là trị vì, mà không có lòng trung nghĩa của đội Cận vệ của Hoàng đế La Mã và các quân đoàn. Để bảo đảm lòng trung thành của họ, hoàng đế thường ban cho họ donativum, một khoản tiền thưởng.

Quân đội

Đế quốc La Mã dưới thời Hadrian (cai trị từ năm 117–138) cho thấy vị trí của các quân đoàn La Mã được bố trí vào năm 125SCN

Các binh sĩ của quân đội đế quốc La Mã đều là những quân nhân chuyên nghiệp và họ tình nguyện tham gia phục vụ 25 năm trong quân ngũ. Nhiệm vụ chính của quân đội La Mã vào đầu thời kì đế quốc đầu đó là bảo vệ nền Thái bình La Mã (Pax Romana).[122] Ba bộ phận chính của quân đội đó là:

  • Các đơn vị đồn trú tại Rome, trong đó bao gồm cả lực lượng vệ binh hoàng giavigile, những người có vai trò như là cảnh sát và nhân viên cứu hỏa;
  • Quân đội ở các tỉnh, bao gồm cả các quân đoàn La Mã và các đạo quân trợ chiến được cung cấp bởi các tỉnh (auxilia);
  • Hải quân.

Trong và sau cuộc nội chiến, Octavianus giảm số lượng to lớn của các Binh đoàn Lê dương La Mã (gồm hơn 60 Binh đoàn)[123] xuống còn 28 Binh đoàn – một con số dễ chấp nhận và kiểm soát hơn nhiều.[123] Một số Binh đoàn bị ngờ vực về sự trung thành chỉ đơn giản là bị sa thải. Các Binh đoàn khác được hợp nhất – sự thật này được gợi nên qua biệt hiệu Gemina (Anh em song sinh).[123]

Năm 9, các bộ tộc German tận diệt ba Binh đoàn La Mã trong trận rừng Teutoburg. Thảm họa này giảm số lượng các Binh đoàn xuống còn 25. Sau này, tổng số các Binh đoàn sẽ lại được tăng lên và trong vòng 300 năm sau, La Mã luôn luôn có chừng trên dưới 30 Binh đoàn.[124]

Augustus cũng thành lập đội Cận vệ của Hoàng đế La Mã (Praetoriani): chín cohorts có vẻ là để gìn giữ nền hòa bình chung và đóng quân tại Ý. Được trả lương hậu hĩnh hơn các Binh đoàn, các Cận vệ cũng phục vụ ngắn hạn hơn; thay vì phục vụ theo thời gian tiêu chuẩn của các Binh đoàn là 25 năm, họ về phép sau 16 năm tại nhiệm.[125]

Tuy quân trợ chiến (tiếng Latinh: auxilia = những hỗ trợ) không nổi danh các Binh đoàn, họ có tầm quan trọng không nhỏ. Khác với các Binh đoàn, quân trợ chiến được tuyển mộ từ người không có quyền công dân. Được tổ chức trong các đơn vị nhỏ hơn gồm toàn là lính cohort, họ được trả thù lao ít hơn các Binh đoàn, và sau 25 năm phục vụ trong quân đội, họ cùng các con mình được trao quyền công dân La Mã. Theo Tacitus[126] quân trợ chiến cũng có số lượng xấp xỉ bằng các Binh đoàn. Từ thời điểm đó La Mã có 25 Binh đoàn với khoảng 5.000 lính, ta suy ra quân trợ chiến cũng có chừng khoảng 125.000 binh sĩ, vậy là có xấp xỉ 250 trung đoàn trợ chiến.[127]

Lực lượng Hải quân La Mã (tiếng Latinh: Classis, dịch sát nghĩa. “hạm đội”) không chỉ hỗ trợ trong việc tiếp tế và vận tải của các Binh đoàn, nhưng cũng góp phần bảo vệ biên thùy ở các dòng sông RhineDonau. Một trách nhiệm của họ là bảo vệ những con đường buôn bán rất quan trọng trên biển chống lại mối đe dọa của cướp biển. Do đó, họ tuần tra khắp biển Địa Trung Hải, một phần của Bắc Đại Tây Dương (các bờ biển của Hispania, Gallia, và Britannia), và cũng hiện diện trên Biển Đen. Song, người La Mã vẫn coi Lục quân là một nhánh cao cấp và vinh hiển hơn.[128]

Chính quyền tỉnh

Bài chi tiết: Tỉnh của La Mã

Pula Arena tại Croatia là một trong các kỹ trường tranh đua hình tròn La Mã lớn nhất và còn nguyên vẹn nhất.

Quá trình để một vùng lãnh thổ bị sáp nhập trở thành một tỉnh đều phải trải qua ba bước: làm một sổ ghi danh sách các thành phố, tiến hành một cuộc tổng điều tra dân số, và vẽ bản đồ[129] Hơn nữa những hồ sơ lưu trữ của chính quyền còn bao gồm ngày sinh và qua đời, giao dịch bất động sản, thuế và những biên bản pháp lý[130] Trong thế kỷ 1 và 2, chính quyền trung ương đã phái khoảng 160 quan chức mỗi năm để cai trị các vùng đất bên ngoài Ý [131] Trong số các quan chức có các “thống đốc La Mã“, theo cách gọi bằng tiếng Anh: hoặc thẩm phán được bầu tại Rome, những người có tên trong viện nguyên lão và nhân dân La Mã, cai trị các tỉnh trực thuộc viện nguyên lão;. hoặc thống đốc, thường thuộc tầng lớp kị sĩ, những người nắm giữ quyền tuyệt đối của họ thay mặt cho hoàng đế ở những tỉnh không nằm dưới sự kiểm soát của viện nguyên lão, đặc biệt là tỉnh Ai Cập thuộc La Mã[132] Một thống đốc phải khiến cho bản thân ông ta trở nên gần gũi với người dân mà ông ta cai quản. Tuy nhiên, bộ máy giúp việc của ông ta lại rất nhỏ: những cấp dưới chính thức của ông ta (apparitores), bao gồm các vệ sĩ, sứ truyền lệnh, sứ giả, những người chép bản thảo, và cận vệ; Các Legate, cả dân sự và quân sự, thường là những người thuộc tầng lớp kị sĩ và bạn bè, đang trong độ tuổi và có kinh nghiệm, hộ tống ông ta nhưng không chính thức[133].

Các quan chức khác được bổ nhiệm đó là các giám sát tài chính của chính quyền.[131] Việc tách riêng trách nhiệm tài chính khỏi luật pháp và chính quyền là một cải cách ở thời kì đế quốc. Những kiểm sát trưởng thuộc tầng lớp kị sĩ mà ban đầu có quyền lực “ngoài vòng pháp luật và ngoài hiến pháp,” đã quản lý cả tài sản của nhà nước và một lượng lớn tài sản cá nhân của hoàng đế (res Privata).[133]

Luật La Mã

Bài chi tiết: Luật La Mã

Tòa án La Mã nắm giữ quyền xét xử đầu tiên đối với các trường hợp liên quan đến công dân La Mã khắp đế quốc, nhưng lại có quá ít các công chức tư pháp để có thể áp đặt luật La Mã thống nhất ở các tỉnh. Hầu hết các vùng của miền đông của đế quốc đã có các bộ luật và những thủ tục pháp lý chính thức.[134] Nói chung, chính sách của La Mã là tôn trọng mos regionis (“truyền thống vùng” hay “luật pháp của địa phương”) và coi luật pháp địa phương như là một nguồn tiền lệ pháp lý và ổn định xã hội [135] Sự phù hợp giữa luật La Mã và luật địa phương được cho là phản ánh một ius gentium cơ bản, “luật của các quốc gia” hay luật quốc tế được coi là phổ biến và nhất quán giữa tất cả các cộng đồng con người[136]. Nếu một bộ luật tỉnh riêng biệt mâu thuẫn với luật La Mã hoặc luật pháp theo tục lệ, các quan tòa La Mã sẽ nghe kháng cáo, và hoàng đế nắm giữ thẩm quyền cuối cùng để đưa ra quyết định.[137]

Ở phía Tây, pháp luật đã được thi hành dựa trên cơ sở địa phương hóa cao độ hay nền tảng bộ lạc, và quyền sở hữu tư nhân có thể là một sự mới lạ của thời đại La Mã, đặc biệt là trong số các bộ tộc người Celt. Luật La Mã tạo điều kiện cho việc cho một tầng lớp thân La Mã có thể đạt được sự giàu có một cách thuận lợi thông qua việc có được đặc quyền mới của mình là công dân.[138] Sự mở rộng quyền công dân cho tất cả các cư dân tự do của đế quốc vào năm 212 đã được áp dụng thống nhất trong pháp luật La Mã, thay thế các bộ luật địa phương vốn áp dụng cho những người không phải là công dân. Những nỗ lực của Diocletianus nhằm để ổn định đế quốc sau khi kết thúc cuộc khủng hoảng của thế kỷ thứ ba bao gồm việc biên soạn hai bộ luật quan trọng trong vòng bốn năm đó là Codex GregorianusCodex Hermogenianus, để hướng dẫn việc cai quản các tỉnh theo những tiêu chuẩn pháp lý phù hợp.[139]

Thuế

Việc thu thuế vào thời đế quốc lên tới khoảng 5 phần trăm tổng sản lượng.[28] Tỷ lệ thuế điển hình đối với mỗi cá nhân dao động trong khoảng từ 2-5 phần trăm [140] Những luật lệ về thuế lại tạo ra sự “lúng túng” trong hệ thống phức tạp của các loại thuế trực tiếp và gián tiếp, một số được thu bằng tiền mặt và một số bằng hiện vật. Các loại thuế có thể được cụ thể cho một tỉnh, hoặc đối với các loại tài sản như: thủy sản, ruộng muối;. chúng có thể có kết quả trong một thời gian hạn chế [141] Việc thu thuế đã được chứng minh là điều cần thiết để có thể duy trì quân đội,[142] và người nộp thuế đôi khi có thể nhận được một khoản hoàn lại nếu quân đội cướp được một lượng chiến lợi phẩm dư thừa.[143] Thuế bằng hiện vật đã được chấp nhận từ các khu vực ít lưu hành tiền tệ, đặc biệt là đối với những người có thể cung cấp lương thực, hàng hoá đến các doanh trại quân đội.[144]

Hiện thân của Nile và những người con, trong Đền thờSerapeum Serapis và Isis tại Roma (thế kỷ 1 CN)

Các nguồn thu chính của việc thuế trực tiếp là các cá nhân, những người nộp thuế khoán và một khoản thuế đối với đất đai của họ, có thể hiểu như là một khoản thuế đối với sản lượng của nó hoặc năng lực sản xuất [140] Những khoản bổ sung có thể được nộp bởi những người hội đủ điều kiện miễn trừ nhất định;. Ví dụ, nông dân Ai Cập có thể ghi vào sổ các cánh đồng mà bỏ hoang và được miễn thuế tùy thuộc vào mức độ ngập lụt của sông Nile.[145] Nghĩa vụ nộp thuế được xác định căn cứ theo các cuộc điều tra dân số.

Một nguồn thu quan trọng của thuế gián thu là portoria, thuế quan và thuế cầu đường đối với việc nhập khẩu và xuất khẩu, bao gồm cả giữa các tỉnh.[140] Những khoản thuế đặc biệt còn được áp dụng đối với việc buôn bán nô lệ. Vào cuối triều đại của mình, Augustus tiến hành đánh thuế 4 phần trăm đối với việc bán nô lệ,[146] và sau này Nero chuyển từ thu thuế người mua sang thu thuế của người bán, những người phản ứng bằng cách tăng giá bán của họ.[147] Một chủ nô nếu giải phóng một nô lệ thì cũng phải trả “thuế tự do”, tính theo 5 phần trăm giá trị.[148]

Thuế thấp đã giúp cho tầng lớp quý tộc La Mã gia tăng sự giàu có của họ, mà bằng hoặc hơn cả nguồn thu của chính quyền trung ương. Một vị hoàng đế đôi khi bổ sung ngân khố của mình bằng cách tịch thu điền sản của những người “siêu giàu”, nhưng vào thời kì sau này, sự chống đối của những người giàu có vốn phải đóng thuế là một trong những yếu tố góp phần vào sự sụp đổ của đế quốc.[30]

Kinh tế

Moses Finley là người đề xướng chính cho quan điểm quan điểm rằng nền kinh tế La Mã là “kém phát triển và chưa hoàn thiện”, và nó mang đặc trưng của nền sản xuất nông nghiệp, với các trung tâm đô thị tiêu thụ nhiều hơn so với khả năng sản xuất của chúng trong điều kiện về thương mại và công nghiệp; các nghệ nhân có địa vị thấp, công nghệ chậm phát triển; và “thiếu hợp lý về kinh tế.” [149] Những quan điểm hiện tại thì lại phức tạp hơn. Những cuộc chinh phục lãnh thổ đã cho phép tiến hành một quá trình tái tổ chức quy mô lớn việc sử dụng đất mà tạo ra thặng dư nông nghiệp và sự chuyên môn hóa, đặc biệt là ở phía bắc châu Phi.[150] Một số thành phố được biết đến với các ngành công nghiệp cụ thể hoặc hoạt động thương mại, và quy mô xây dựng trong các khu vực đô thị đã cho thấy ngàng công nghiệp xây dựng đã đóng một vai trò quan trọng [150] Những cuộc giấy cói đã bảo tồn các phương pháp kế toán phức tạp cho thấy các yếu tố của chủ nghĩa duy lý kinh tế,[151] và cũng đã có sự lưu hành tiền tệ ở mức độ cao trong đế quốc[152] Mặc dù các phương tiện thông tin liên lạc và giao thông bị hạn chế vào thời cổ đại, việc vận chuyển hàng hóa vào thế kỷ 1 và 2 đã trải dài một cách rộng khắp, và các tuyến đường thương mại kết nối các nền kinh tế trong khu vực.[153] Những hợp đồng tiếp tế cho quân đội, mà vốn đóng quân ở tất cả các nơi trong đế quốc, đã thu hút các thương nhân địa phương ở gần các căn cứ (Castrum), trên địa bàn tỉnh, và giữa các tỉnh.[154] Đế quốc có lẽ được đánh giá tốt nhất ở việc có một mạng lưới các nền kinh tế khu vực, dựa trên một hình thức của “chủ nghĩa tư bản chính trị” trong đó nhà nước giám sát và quy định các hoạt động thương mại để đảm bảo nguồn thu của nó[155] Tăng trưởng kinh tế của đế quốc mặc dù không thể so sánh với các nền kinh tế hiện đại, nhưng nó đã lớn hơn so với hầu hết các xã hội khác trước khi tiến hành công nghiệp hóa.[151]

Tiền tệ và ngân hàng

Thời kì đầu đế quốc đã có sự lưu hành tiền tệ đạt đến một mức độ gần như phổ quát, với ý nghĩa của việc sử dụng tiền như một cách để thể hiện giá cả và các khoản nợ.[156] Đồng sestertius (số nhiều sestertii, tiếng Anh “sesterces”, ký hiệu là HS) là đơn vị cơ bản về mặt giá trị thanh toán vào thế kỷ thứ 4,[157] mặc dù đồng denarius bạc, trị giá bốn sesterces, cũng đã được sử dụng trong việc thanh toán vào triều đại Severus.[158] Đồng tiền có giá trị nhỏ nhất thường được lưu hành là đồng as (số nhiều asses), bằng một phần tư đồng sestertius.[159] Vàng nén và thỏi dường như không được tính là pecunia, “tiền”, và chỉ được sử dụng trên các vùng biên giới để giao dịch kinh doanh hoặc mua bất động sản. Người La Mã vào thế kỷ 1 và 2 tính số lượng tiền, chứ không phải cân chúng -một dấu hiệu cho thấy đồng tiền được định giá ngay trên mặt của nó và không phải dựa vào hàm lượng kim loại của đồng tiền. Khuynh hướng đối với tiền định danh này cuối cùng dẫn đến làm giảm giá trị của tiền xu La Mã, với những hậu quả để lại vào thời kì cuối của đế quốc.[160] Sự tiêu chuẩn hóa đối với tiền trong toàn đế quốc đã thúc đẩy thương mại và hội nhập thị trường [161] Với số lượng lớn tiền xu kim loại trong lưu thông đã làm tăng nguồn cung tiền cho các giao dịch hoặc tiết kiệm.[162]

Roma không có ngân hàng trung ương, và các quy định của hệ thống ngân hàng là tối thiểu. Ngân hàng vào thời cổ đại thường tiến hành dự trữ với số lượng nhỏ. Một ngân hàng điển hình thường có số vốn hạn chế, và thường chỉ có một người chủ, mặc dù một ngân hàng có thể có nhiều từ 6 tới 15 người chủ. Seneca thừa nhận rằng bất cứ ai có liên quan đến thương mại đều cần phải tiếp cận nguồn tín dụng.[163]

Một người chủ ngân hàng gửi tiền chuyên nghiệp (argentarius, coactor argentarius, hoặc sau này là nummularius) nhận và giữ những khoản tiền gửi trong một thời hạn nhất định hoặc không thời hạn và cho bên thứ ba vay tiền.[164] Tầng lớp nguyên lão đã tham gia rất nhiều vào việc cho tư nhân vay, cả các chủ nợ và khách hàng vay, cho vay từ tài sản cá nhân của họ trên cơ sở các mối quan hệ xã hội.[165] Chủ sở hữu của một món nợ có thể sử dụng nó như một phương tiện thanh toán bằng cách chuyển nó cho một bên khác, không dùng tiền mặt trao tay. Mặc dù đôi khi người ta cho rằng La Mã cổ đại thiếu “giấy” hoặc giao dịch tài liệu, các hệ thống của các ngân hàng trên khắp đế quốc cũng cho phép trao đổi một khoản tiền rất lớn mà không có sự vận chuyển tiền tự nhiên, một phần vì những rủi ro của việc di chuyển số lượng lớn tiền mặt, đặc biệt là bằng đường biển. Chỉ có một vụ thiếu tín dụng nghiêm trọng được biết đến và đã xảy ra vào đầu thời đế quốc, một cuộc khủng hoảng tín dụng vào năm 33 SCN mà khiến cho một số nguyên lão gặp phải rủi ro, chính quyền trung ương đã giải cứu thị trường thông qua một khoản vay 100 triệu HS được hoàng đế Tiberius thực hiện vào ngành ngân hàng (Mensae).[166] Nói chung, số vốn khả dụng vượt quá số lượng cần thiết cho khách hàng vay.[167] Bản thân chính quyền trung ương không vay tiền, và cũng không có nợ công để cần bù đắp cho thâm hụt ngân sách từ dự trữ tiền mặt.[168]

Các vị hoàng đế của triều đại Antoninus và Severus về mặt tổng thể đều đã làm mất giá trị đồng tiền, đặc biệt là đồng denarius, dưới áp lực của việc biên chế quân đội.[169] Lạm phát đột ngột dưới triều đại Commodus đã gây tổn hại đối với thị trường tín dụng.[167] Vào giữa những năm 200, nguồn cung tiền đồng giảm mạnh [170] Tình cảnh của cuộc khủng hoảng của thế kỷ thứ ba– chẳng hạn như việc giảm sút thương mại đường dài, hoạt động khai thác mỏ bị gián đoạn, và việc vận chuyển tiền đúc vàng ra bên ngoài đế quốc bởi những kẻ thù xâm lược- đã làm suy giảm mạnh nguồn cung tiền và ngành ngân hàng cho đến năm 300[171] Mặc dù tiền xu La Mã từ lâu đã là tiền định danh hoặc tiền tệ tín dụng, những lo ngại kinh tế chung đã lên đến đỉnh điểm dưới triều đại Aurelianus, và giới ngân hàng mất niềm tin vào đồng tiền hợp pháp của chính quyền trung ương. Mặc dù Diocletianus sau này giới thiệu đồng solidus vàng và những cải cách tiền tệ, thị trường tín dụng của đế quốc sẽ không bao giờ phục hồi mạnh mẽ lại như nó trước đây.[167]

Khai mỏ và luyện kim

Cảnh quan là kết quả của kỹ thuật khai mỏ ruina montium tại Las Médulas, Hispania, một trong các mỏ vàng quan trọng nhất tại Đế quốc La Mã.

Các khu vực khai thác khoáng sản chính của đế quốc là Tây Ban Nha (vàng, bạc, đồng, thiếc, chì); Gaul (vàng, bạc, sắt), Anh (chủ yếu là sắt, chì, thiếc), các tỉnh Danube (vàng, sắt); Macedonia và Thrace (vàng, bạc) và Tiểu Á (vàng, bạc, sắt, thiếc). Việc tập trung khai mỏ trên quy mô lớn – trong lòng đất và bằng các phương tiện khai thác lộ thiên và dưới lòng đất – đã diễn ra từ dưới triều đại của Augustus cho đến đầu thế kỷ thứ 3, khi sự bất ổn của đế quốc đã gián đoạn quá trình khai thác. Ví dụ như các mỏ vàng của Dacia đã có thể không còn được người La Mã khai thác sau khi tỉnh này bị từ bỏ vào năm 271. Khai thác mỏ dường như đã khôi phục lại được một phần trong suốt thế kỷ thứ 4.[172]

Khai thác thủy lực, mà được Pliny gọi là Ruina montium (“hủy hoại những ngọn núi”), đã cho phép khai thác các kim loại thường và kim loại quý trên quy mô công nghiệp nguyên thủy.[173] Tổng sản lượng sắt hàng năm ước tính khoảng 82.500 tấn[174] sản lượng đồng được sản xuất với tốc độ hàng năm là 15.000 tấn,[175] và chì là 80.000 tấn,[175] những cấp độ sản xuất chưa từng có cho đến cuộc cách mạng công nghiệp;[176] Chỉ riêng Tây Ban Nha đã chiếm 40 phần trăm sản lượng chì thế giới[177] Sản lượng chì cao là do nó là một sản phẩm phụ của quá trình khai thác bạc quy mô lớn đạt 200 tấn mỗi năm.[178] Vào giai đoạn cao điểm vào khoảng giữa thế kỷ thứ 2, kho bạc La Mã được ước tính có khoảng 10.000 tấn, lớn hơn từ 5 tới 10 lần hơn toàn bộ lượng bạc của châu Âu thời trung cổ và các Caliphate vào khoảng 800 SCN.[179] Như một dấu hiệu cho quy mô sản xuất kim loại của người La Mã, ô nhiễm chì trong các tảng băng ở Greenland tăng gấp bốn lần so với mức tiền sử của nó trong thời kỳ đế quốc, và sau đó tiếp tục giảm.[180]

Giao thông và vận chuyển

Phù điêu Gaul-La Mã mô tả một chiếc thuyền sông vận chuyển các thùng rượu, một phát minh của người Gaul được sử dụng rộng rãi trong thế kỷ thứ 2; ở trên, rượu được trữ trong các vò hai quai truyền thống, một số được bảo vệ trong đồ đan bằng liễu gai[181]

Đế quốc La Mã hoàn toàn bao quanh Địa Trung Hải, và họ gọi nó là “biển của chúng tôi” (Mare Nostrum).[182] Tàu thuyền của người La Mã đã đi lại khắp Địa Trung Hải cũng như các con sông chính của Đế quốc, trong đó có sông Guadalquivir, Ebro, Rhône, Rhine, sông Tibersông Nile.[183] Việc vận chuyển bằng đường biển thường được chọn nếu có thể, và vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ là rất khó khăn.[184] Phương tiện đi lại, bánh xe, và tàu thuyền cho thấy sự tồn tại của một số lượng lớn các thợ mộc lành nghề.[185]

Vận tải bằng đường bộ thì sử dụng hệ thống các con đường La Mã tiên tiến. Các loại thuế bằng hiện vật được các cộng đồng đóng bao gồm việc cung cấp lương thực cho các nhân viên, động vật, hoặc phương tiện cho các cursus publicus, hệ thống bưu điện nhà nước và dịch vụ vận tải đã được Augustus thành lập[144] Các trạm ngựa nằm dọc theo những con đường mỗi 7-12 dặm La Mã, và có xu hướng phát triển thành một làng hoặc trạm buôn bán.[186] Một mansio (số nhiều mansiones) là một trạm dịch vụ tư nhân đặc quyền của triều đình đế quốc dành cho cursus publicus. Các nhân viên hỗ trợ tại một cơ sở như vậy bao gồm người dắt la, thư ký, thợ rèn, xe ngựa, một thầy thuốc thú y, một vài quân cảnh và người đưa thư. Khoảng cách giữa mansiones được xác định bằng quãng đường một chiếc xe ngựa có thể đi di chuyển trong một ngày.[186] La là loài động vật thường được sử dụng cho xe kéo, và nó có thể đi được khoảng 4 dặm mỗi giờ.[187] Như một ví dụ về tốc độ thông tin liên lạc, một người đưa tin ít nhất phải mất chín ngày để đi đến Rome từ Mainz thuộc tỉnh Thượng Germania, ngay cả khi đang có một vấn đề cấp bách[188] Ngoài các mansiones, một số quán rượu cũng cung cấp chỗ ở cũng như ăn uống, một nhãn được ghi lại trong một lần lưu lại cho thấy chi phí cho rượu vang, bánh mì, thức ăn cho con la, và chi phí của một gái mại dâm.[189]

Thương mại và hàng hóa

Các tỉnh La Mã buôn bán giữa chúng với nhau, nhưng thương mại còn mở rộng ra bên ngoài biên giới tới các khu vực xa xôi như Trung Quốc và Ấn Độ.[190] Các mặt hàng chính là ngũ cốc.[191] Ngoài ra còn buôn bán mặt hàng khác như dầu ô liu, các loại thực phẩm, garum (nước mắm), nô lệ, quặng và đồ vật kim loại, sợi và dệt may, gỗ, gốm, đồ thủy tinh, đá cẩm thạch, giấy cói, gia vị và dược liệu, ngà voi, ngọc trai và đá quý.[192]

Lao động và việc làm

Người làm công trong một cửa hàng sản xuất vải, một bức họa trong fullonica của Veranius Hypsaeus tại Pompeii

Những dòng chữ khắc ghi lại 268 ngành nghề khác nhau trong thành phố Rome, và 85 ở Pompeii.[193] Hiệp hội nghề nghiệp hoặc các Hội thương gia (collegia) được chứng thực cho một loạt các ngành nghề, trong đó có ngư dân (piscatores), người buôn muối (salinatores), người buôn bán dầu ô liu (olivarii), người làm trò mua vui (scaenici), người buôn bán gia súc (pecuarii), thợ kim hoàn (aurifices), người đánh xe (asinarii hoặc muliones), và thợ đá (lapidarii) [194] Đôi khi có những nghề khá đặc biệt: một collegium tại Rome bị hạn chế nghiêm ngặt đối với thợ thủ công làm việc với ngà voi và gỗ cam quýt.[195]

Các công việc được thực hiện bởi những người nô lệ rơi vào năm loại chung: nội trợ, trên các văn bia ghi lại ít nhất 55 công việc khác nhau trong gia đình, phục vụ hoàng gia hoặc công cộng; hàng thủ công đô thị và dịch vụ, nông nghiệp và khai thác khoáng sản[196] Tù nhân cung cấp phần lớn lao động trong các mỏ hoặc mỏ đá, nơi mà điều kiện làm việc nổi tiếng là tàn bạo.[197] Trong thực tế, có rất ít sự phân công lao động giữa nô lệ và người tự do. Một số lượng lớn những người lao động thông thường được sử dụng trong nông nghiệp: trong hệ thống canh tác công nghiệp của Ý (latifundia), có thể chủ yếu là nô lệ, nhưng trên khắp đế quốc, nô lệ lao động trong nông nghiệp có lẽ là ít quan trọng hơn so với các hình thức lao động phụ thuộc vào những người về cơ bản không phải là nô lệ.[198]

Dệt may và sản xuất trang phục là một nguồn việc làm chính. Vải và cả áo quần đã hoàn thành được giao dịch giữa các dân tộc của đế quốc mà có sản phẩm thường được đặt tên theo tên gọi của họ hay một thị trấn đặc biệt, giống như một “nhãn hiệu” thời trang.[199]

GDP

Các sử gia kinh tế có tính toán khác nhau về sản phẩm quốc nội của nền kinh tế La Mã.[200] Trong những năm 14, 100, và 150 SCN, ước tính GDP bình quân đầu người khoảng từ 166 tới 380 HS. GDP bình quân đầu người của Ý được ước tính là cao hơn từ 40 [201] đến 66 phần trăm [202] so với phần còn lại của đế quốc, do thuyên chuyển thuế từ các tỉnh và sự tập trung thu nhập của tầng lớp có địa vị ở trung tâm của đế quốc.

Kiến trúc và kĩ thuật xây dựng

Việc xây dựng Đấu trường La Mã bắt đầu trong thời gian trị vì của Vespasianus

Những đóng góp chính của người La Mã đối với kiến trúc là cung vòmmái vòm. Ngay cả sau khi trải qua hơn 2.000 năm một số cấu trúc La Mã vẫn còn đứng vững, một phần do những phương pháp chế tạo xi măng và bê tông tinh vi [203][204] Các con đường La Mã được coi là những con đường tiên tiến nhất xây dựng cho đến đầu thế kỷ 19. Hệ thống đường xá tạo điều kiện cho việc duy trì trật tự của quân đội, giao thông và thương mại. Những con đường có thể chịu được lũ lụt và các mối đe dọa môi trường khác. Ngay cả sau khi chính quyền trung ương sụp đổ, một số tuyến đường vẫn có thể sử dụng trong hơn một ngàn năm.

Các cây cầu La Mã là một trong những cây cầu lớn và bền vững đầu tiên, chúng được xây dựng từ đá cùng với kiểu kiến ​​trúc cung vòm như cấu trúc cơ bản. Vật liệu được sử dụng nhiều nhất bê tông. Cây cầu La Mã lớn nhất là cây cầu Trajan bắc qua hạ lưu sông Danube, nó được xây dựng bởi Apollodorus của Damascus và vẫn là cây dài nhất đã được xây dựng cả về chiều dài tổng thể và chiều dài trong hơn một thiên niên kỷ.[205]

Người La Mã đã xây dựng nhiều đập để trữ nước, chẳng hạn như các đập Subiaco, hai trong số đó cấp nước cho Anio Novus, một trong những hệ thống cầu máng lớn nhất của Roma.[206] Họ đã xây dựng 72 đập chỉ riêng trên bán đảo Iberia, và một số lượng nhiều hơn thế nữa được biết đến trên khắp Đế quốc, và một số vẫn còn được sử dụng. Một số đập bằng đấtnước Anh từ thời La Mã cũng đã được biết đến, trong đó có một ví dụ đã được bảo quản tốt là ở Longovicium (Lanchester).

Cầu máng Pont du Gard bắc qua sông Gardon ở miền nam nước Pháp, nằm trong danh sách Di sản thế giới của UNESCO

Người La Mã đã xây dựng nhiều cầu máng. Một luận án còn sót lại tới ngày nay của Frontinus, người từng giữ chức vụ curator aquarum (ủy viên về nước) dưới thời Nerva, đã phản ánh vai trò hành chính quan trọng đối với việc bảo đảm cung cấp nước. Sau khi nước đi qua cầu máng, nó được tập trung vào các bể chứa nước và theo các đường ống để tới các đài phun nước công cộng, phòng tắm, nhà vệ sinh, hoặc các khu công nghiệp.[207] Các hệ thống cống dẫn nước chính trong thành phố Roma là Aqua ClaudiaAqua Marcia.[208] Một hệ thống phức tạp còn được xây dựng để cung cấp nước cho Constantinoplis từ nơi cách nó hơn 120 km dọc theo một tuyến đường quanh co dài hơn 336 km.[209] Người La Mã cũng đã sử dụng cống dẫn nước trong hoạt động khai thác khoáng sản phong phú của họ trên toàn đế quốc, tại các địa điểm như Las MédulasDolaucothi ở miền Nam xứ Wales.[210]

Lịch sử quân sự

Thời kì Nguyên thủ (27 TCN-235 CN)

Giữa các triều đại của hoàng đế AugustusTraianus, Đế quốc La Mã đã giành được những vùng lãnh thổ rộng lớn ở cả phía Đông và phía Tây. Ở phía Tây, sau một vài chiến thắng trong năm 16 TCN,,[211] quân đội La Mã đã mở rộng biên giới đế quốc về phía bắc và phía đông của Gaul, chinh phục rất nhiều đất đai xứ Germania. Mặc dù vậy, La Mã đã bị mất một đạo quân lớn cùng với hầu hết binh lính của nó với thảm bại của Varus trong trận rừng Teutoburg vào năm 9 CN.[212][213][214] Được xem là thất bại quân sự lớn nhất của Đế quốc La Mã, thảm họa này đã chấm dứt quá trình bành trướng của họ về mạn Đông sông Rhine.[215][216]

La Mã sau đó đã hồi phục và tiếp tục bành trướng và vượt ra ngoài biên giới của thế giới được biết đến. Dưới thời Tiberius, tướng Germanicus lại tổ chức các chiến dịch tấn công Germania trong các năm 1517, nhưng không mấy thành công và chịu nhiều thiệt hại[217]. Mặc dù vậy, để tuyên dương những trận thắng của Germanicus trước quân German trong các chiến dịch của mình, ông được Hoàng đế tổ chức lễ diễu binh khải hoàn vào năm 17.[218] Người La Mã xâm chiếm đảo Anh vào năm 43,[219] chiếm đóng khu vực nội địa,,[220] và xây dựng hai căn cứ quân sự để bảo vệ vùng đất này chống lại các cuộc khởi nghĩa và những cuộc tấn công từ phía bắc.

Hoàng đế Claudius đã ra lệnh tạm dừng các cuộc tấn công hơn nữa trên khắp sông Rhine,[221] và thiết lập nên giới hạn cố định cho sự mở rộng của đế quốc theo hướng này.[222]. Xa hơn về phía đông, Traianus chuyển sự chú ý của ông tới Dacia.[223][224][225] Sau một số lượng không chắc chắn các trận chiến xảy ra, Trajan tiến vào Dacia,,[226] bao vây kinh đô của người Dacia và san bằng nó[227] Cùng với việc dẹp yên Dacia, Trajan sau đó xâm chiếm đế quốc Parthia ở phía đông, những cuộc chinh phục của ông đã khiến cho Đế quốc La Mã mở rộng đến đỉnh điểm.

Vào năm 69, Marcus Salvius Otho đã sát hại hoàng đế Galba [228][229] và tự mình xưng đế,[230][231] Tuy nhiên, Vitellius cũng tấn phong mình làm Hoàng đế.[232][233] Otho sau đó đã rời Roma, và giao chiến với Vitellius trong trận Bedriacum lần thứ nhất,[234] nhưng quân đội của phe Otho lại thua trận và buộc phải rút về trại của họ,[235] và ngày hôm sau họ đầu hàng lực lượng của phe Vitellius.[236] Trong khi đó, các lực lượng quân đội đang đóng quân tại các tỉnh Trung Đông như Judaea và Syria đã tôn Vespasianus lên làm hoàng đế.[234] Quân đội của Vespasianus và Vitellius sau đó đã giao tranh trong trận Bedriacum lần thứ hai,[234][237] kết quả là quân đội của phe Vitellius bị đánh tan tác.[238] Vespasianus, sau khi thành công trong việc kết thúc cuộc nội chiến, đã được tuyên bố làm hoàng đế.

Cuộc chiến tranh Do Thái-La Mã lần thứ nhất, đôi khi được gọi là Cuộc đại khởi nghĩa, là cuộc khởi nghĩa đầu tiên trong ba cuộc khởi nghĩa lớn của người Do Thái ở tỉnh Judaea chống lại Đế quốc La Mã.[239] Những thành công ban đầu của người Do Thái khi chống lại La Mã chỉ càng thu hút thêm sự chú ý lớn hơn từ Hoàng đế Nero, ông ta đã giao cho tướng Vespasianus nhiệm vụ đè bẹp cuộc khởi nghĩa. Đến năm 68, sự kháng cự của người Do Thái ở khu vực phía Bắc, vùng Galile, đã bị nghiền nát [240][241] và trong năm 70 năm, Jerusalem đã bị chiếm cùng với đó Đền thờ thứ hai đã bị phá hủy. Năm 115, một cuộc khởi nghĩa lại tiếp tục nổ ra trong tỉnh, dẫn đến cuộc chiến tranh Do Thái-La Mã lần thứ hai mà còn được gọi là Chiến tranh Kitos, và một lần nữa là vào năm 132, lần này được gọi là cuộc khởi nghĩa của Bar Kokhba. Cả hai cuộc khởi nghĩa này đều bị đàn áp dã man.

Do đã triển khai lực lượng kỵ binh nặng hùng mạnh và lực lượng kị cung cơ động, Đế chế Parthia là kẻ thù ghê gớm nhất của Đế quốc La Mã ở phía đông. Trajan đã tiến hành chiến dịch chống lại người Parthia và ông đã chiếm được kinh đô của họ trong một thời gian ngắn, đặt một vị vua bù nhìn lên ngai vàng, nhưng các vùng lãnh thổ này sau đó đã bị từ bỏ. Một Đế quốc Parthia phục hưng lại tấn công La Mã năm 161, và đánh bại hai đạo quân La Mã. Tướng Gaius Avidius Cassius được lệnh phản kích Parthia đang hồi sinh vào năm 162. Thành Seleucia trên sông Tigris của Parthia bị phá hủy, và người Parthia giảng hòa nhưng bị buộc phải nhượng vùng Tây Lưỡng Hà cho La Mã.[242]

Năm 197, Hoàng đế Septimius Severus phát động một cuộc chiến ngắn gọn chống Đế quốc Parthia, trong đó La Mã giành thắng lợi và cướp phá đế đô của Parthia, một nửa vùng Lưỡng Hà được giao trả cho La Mã. Hoàng đế Caracalla xuất binh đến Parthia vào năm 217 từ Edessa để khơi mào một cuộc chiến chống lại họ, nhưng ông bị ám sát khi đang ra quân.[243] Năm 224, Đế quốc Parthia bị tiêu diệt không phải là do người La Mã mà là do cuộc khởi nghĩa của vua chư hầu Ba Tư là Ardashir, dẫn đến sự thành lập nhà Sassanid của Đế quốc Ba Tư, thay thế Parthia làm kình địch của La Mã ở phía Đông.

Các vị hoàng đế trại binh và gốc Illyria (235–284) cùng với chế độ chuyên quyền (284-395)

Mặc dù lịch sử chưa xác minh rõ ràng, một vài nhóm dân German, Celt, và những sắc dân pha trộn Celt-German đã định cư trên lãnh thổ Germania từ thế kỷ 1 trở đi. Vấn đề quan trọng của các nhóm bộ tộc lớn trên biên giới hầu như là giống hết tình hình mà La Mã phải đối mặt trong những thế kỷ trước, và thế kỷ thứ 3 đã chứng kiến một sự gia tăng đáng kể những mối đe dọa lớn này.[244][245]

Các nhóm chiến binh người Alamanni liên tục vượt qua biên giới, tấn công Thượng Germania nhiều tới mức mà họ gần như liên tục lâm chiến với Đế quốc La Mã. Tuy nhiên, cuộc tấn công quy mô lớn của họ vào sâu trong lãnh thổ La Mã đã không xảy ra cho đến năm 268. Trong năm đó người La Mã đã bị buộc phải lấy đi rất nhiều binh lực ở biên cương Germaniađ để đáp trả cuộc xâm lược ồ ạt của một liên minh các bộ lạc Đức khác, người Goth, từ phía đông.

Người Alamanni nhanh chóng nắm lấy cơ hội tiến hành một cuộc xâm lược lớn nhằm vào Gaul và miền Bắc Italia. Tuy nhiên, người Visigoth đã bị đánh bại trong trận chiến vào mùa hè năm đó và sau đó họ lại tiếp tục thua chạy tan tác trong trận Naissus [246]

Người Alamanni mặt khác lại tiếp tục cuộc tấn công của họ nhằm vào Italia gần như ngay lập tức. Mặc dù họ đã đánh bại Aurelianus trong trận Placentia vào năm 271 nhưng họ đã bị đánh lui chỉ một thời gian ngắn sau đó, và họ chỉ tái nổi lên sau năm mươi năm nữa. Trong năm 378, người Goth đã đánh tan tác quân đội của đế quốc Đông La Mã tại trận Hadrianopolis.[247][248]

Đồng thời, người Frank đã tiến hành cướp bóc suốt khu vực Biển Bắceo biển Anh,[249] Người Vandal thì hối hả vượt qua sông Rhine, người Iuthungi tiến đánh khu vực sông Danube, người Iazyge, Carpi và người Taifali quấy rối Dacia, và người Gepids gia nhập với người Goth và người Heruli trong các cuộc tấn công quanh Biển Đen [250] Vào đầu thế kỷ thứ 5, áp lực nhằm vào biên giới phía tây của La Mã đã gia tăng mãnh liệt.

Văn hóa

Người La Mã mặc áo dài (toga).

Cuộc sống ở Đế chế La Mã thường xoay quanh thành phố Roma, và bảy ngọn đồi nổi tiếng của nó. Thành phố cũng đã có một số nhà hát,[251] gymnasia, các quán rượu, phòng tắm và nhà thổ. Trên khắp các vùng đất nằm dưới sự kiểm soát của Rome, trình độ kiến trúc các căn nhà ở đều rất khiêm tốn tới cả những biệt thự thôn quê, và ngay trong kinh đô Rome, các căn nhà ở trên đồi Palatine thanh lịch, mà từ đó từ “cung điện” được hình thành. Phần lớn dân số sống ở trung tâm thành phố, gói gọn trong các khu nhà chung cư.

Hầu hết các thị trấn và thành phố La Mã đều đã có một khu chợ và các đền thờ, cũng như chính bản thân thành phố Roma. Hệ thống cống dẫn nước được xây dựng để đưa nước đến các trung tâm đô thị[252] và được sử dụng như một con đường để nhập khẩu rượu vang và dầu từ nước ngoài. Địa chủ thường cư trú ở các thành phố và việc chăm sóc điền trang của họ được giao lại cho những người quản lý trang trại. Để kích thích năng suất lao động cao hơn nhiều, nhiều địa chủ đã giải phóng một số lượng lớn nô lệ. Vào triều đại của Augustus, các nô lệ Hy Lạp có học thức trong nhà đã dạy học cho các trẻ em nam La Mã (đôi khi ngay cả các cô gái). Các tác phẩm điêu khắc Hy Lạp được dùng để trang trí cảnh quan cho khu vườn mang phong cách Hy Lạp trên đồi Palatine hoặc trong các biệt thự.

Nhiều khía cạnh của văn hóa La Mã đã được tiếp thu từ người Etruscanngười Hy Lạp.[253] Trong kiến ​​trúc và điêu khắc, sự khác biệt giữa các hình mẫu Hy Lạp và những bức họa La Mã là rõ ràng. Đóng góp chính của người La Mã cho nghệ thuật kiến trúc là khung vòm và mái vòm.

Nhà tắm công cộng La Mã (ThermaeBath, Nước Anh(Aquae Sulis thuộc tỉnh Britannia của La Mã).

Chế độ nô lệ và nô lệ là một phần của trật tự xã hội. Có rất nhiều chợ nô lệ, ở nơi đó họ có thể bị mua và bán. Nhiều nô lệ có thể được giải phóng bởi những người chủ của họ, một số nô lệ có thể tiết kiệm được tiền để mua lại sự tự do của mình. Người ta ước tính rằng hơn 25% dân số La Mã đã làm nô lệ.[254][255]

Giao thông

Địa Trung Hải tấp nập thuyền đi lại, đặc biệt trong khoảng tháng 3 đến tháng 11 là thời gian có gió thuận lợi. Ngoài ra còn có hệ thống đường xá hoàn chỉnh trong khắp đế quốc, nhờ đó việc chuyển quân và chuyển thư dễ dàng, nhanh chóng.

Dân cư

Thời đầu Công Nguyên khoảng 50 triệu người. Quân đội ít nhưng tinh nhuệ. Có ba thành phố lớn: La Mã là trung tâm đầu não của đế quốc, dân số khoảng 1 triệu, nhiều người thuộc giới lãnh đạo. Alexandria ở Ai Cập, phía nam Địa Trung hải, là trung tâm văn hóa, có thư viện nổi tiếng thời đó, kiều dân Do Thái chiếm 1/3 số dân ở đây. Antiokhia (Antioch), từng là thủ đô xứ Syria cổ (nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ), nơi Kitô giáo phát triển rất sớm.

Tôn giáo

Sự mở rộng của đế quốc đồng nghĩa với việc cư dân La Mã bao gồm người đến từ nhiều nền văn hóa khác nhau, sự cúng bái những vị thần với số lượng ngày một gia tăng được khoan dung và chấp nhận. Chính quyền Đế quốc nói riêng và người La Mã nói chung, đều có xu hướng rất khoan dung cho phần lớn tôn giáo và tín ngưỡng, sao cho họ không gây bất an. Điều đó dễ dàng được các đức tin khác đồng thuận do các nghi thức tế thần và lễ hội La Mã thường được thêm bớt cho phù hợp với văn hóa và bản sắc địa phương. Do người La Mã theo Đa Thần giáo, họ cũng dễ dàng đồng hòa thần linh của các tộc người mà họ chinh phạt.[256] Một cá nhân có thể cúng tế cả chư thần La Mã để thể hiện bản sắc La Mã của anh ta và tôn giáo cá nhân, vốn được xem là một phần của đặc điểm cá nhân của anh em. Cũng có những giai đoạn chính quyền tổ chức các cuộc bách hại, nhất là với Kitô giáo.

Sự thờ cúng Hoàng đế

Trong một nỗ lực nhằm để tăng cường lòng trung thành, các cư dân của đế quốc đã được kêu gọi tham gia thờ cúng hoàng đế để tỏ lòng tôn kính đối với những vị hoàng đế (thường là đã qua đời) như là các á thần [257] Một vài hoàng đế tự mình tuyên bố là vị thần trong khi đang còn sống với hoàng đế, đó là các trường hợp ngoại lệ và những vị hoàng đế này vào thời điểm đó bị coi là mất trí một cách rộng rãi (chẳng hạn như Caligula). Làm như vậy trong giai đoạn đầu thời đế quốc sẽ mạo hiểm tiết lộ một cách nông cạn những gì mà Hoàng đế Augustus gọi là “khôi phục nhà nước Cộng hòa”. Kể từ đó, công cụ này chủ yếu là cách mà mỗi một vị Hoàng đế sử dụng để kiềm chế thần dân của mình.

Tham khảo

Ghi chú
  1. ^ Các tên khác là Res publica Romania. Res publica dùng để chỉ toàn bộ lãnh thổ đế quốc như một cộng đồng thịnh vượng chung, cụm từ này có thể dùng cho cả thời kì Cộng hòa và thời kì Đế quốc. Imperium Romanum dùng để chỉ phần lãnh thổ được mở rộng của La Mã. Romania xuất hiện trong các văn tự Hy Lạp và Latinh từ thế kỉ thứ 4. (Xem Wolff, R.L. Romania: The Latin Empire of Constantinople. In: Speculum, 23 (1948), tr. 1-34 (tr. 2-3).)
  2. ^ Trong cuộc đấu tranh của cuối cùng của nền Cộng hòa, hàng trăm Nghị viên đã bị sát hại, và Nghị viện La Mã đã bị thay đổi bởi những người ủng hộ Bộ ba trụ cột đầu tiên và những người theo phe Bộ ba trụ cột thứ hai.
  3. ^ Octavianus/Augustus chính thức tuyên bố cứu vớt nước Cộng hòa La Mã và cẩn thận ngụy trang quyền lực của mình dưới kiểu hình thức cộng hòa, các Tổng tài tiếp tục được bầu, và Nghị viên vẫn còn nhóm họp trong Viện nguyên lão La Mã. Tuy nhiên, Octavian sau khi lên ngôi hoàng đế, đã đặt ảnh hưởng của mình đến tất cả mọi thứ và kiểm soát các quyết định cuối cùng, đã có những quân đoàn Lê dương ủng hộ ông, nếu nó trở nên cần thiết.
Trích dẫn
  1. ^ Constantine I (306–337 AD) by Hans A. Pohlsander. De Imperatoribus Romanis. Written 2004-1-8. Retrieved 2007-3-20.
  2. ^ a ă â b Taagepera, Rein (1979). “Size and Duration of Empires: Growth-Decline Curves, 600 B.C. to 600 A.D.”. Social Science History (Duke University Press) 3 (3/4): 125. doi:10.2307/1170959. JSTOR 10.2307/1170959.
  3. ^ John D. Durand, Historical Estimates of World Population: An Evaluation, 1977, pp. 253–296.
  4. ^ “Roman Empire – Britannica Online Encyclopedia”. http://www.britannica.com. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2008.
  5. ^ “Roman Empire”, Microsoft Encarta Online Encyclopedia 2008
  6. ^ “Pax Romana”. Britannica Online Encyclopedia.
  7. ^ Parker, Philip, “The Empire Stops Here”. tr.2.
  8. ^ Christopher Kelly, The Roman Empire: A Very Short Introduction (Oxford University Press, 2006), p. 4ff.; Claude Nicolet, Space, Geography, and Politics in the Early Roman Empire (University of Michigan Press, 1991, originally published in French 1988), pp. 1, 15; T. Corey Brennan, The Praetorship in the Roman Republic (Oxford University Press, 2000), p. 605 et passim; Clifford Ando, “From Republic to Empire,” in The Oxford Handbook of Social Relations in the Roman World (Oxford University Press, pp. 39–40.
  9. ^ Clifford Ando, “The Administration of the Provinces,” in A Companion to the Roman Empire (Blackwell, 2010), p. 179.
  10. ^ Nicolet, Space, Geography, and Politics in the Early Roman Empire, pp. 1, 15; Olivier Hekster and Ted Kaizer, preface to Frontiers in the Roman World. Proceedings of the Ninth Workshop of the International Network Impact of Empire (Durham, 16–19 April 2009) (Brill, 2011), p. viii; Andrew Lintott, The Constitution of the Roman Republic (Oxford University Press, 1999), p. 114; W. Eder, “The Augustan Principate as Binding Link,” in Between Republic and Empire (University of California Press, 1993), p. 98.
  11. ^ Mary T. Boatwright, Hadrian and the Cities of the Roman Empire (Princeton University Press, 2000), p. 4.
  12. ^ Yaron Z. Eliav, “Jews and Judaism 70–429 CE,” in A Companion to the Roman Empire (Blackwell, 2010), p. 571.
  13. ^ Dio Cassius 72.36.4, Loeb edition translated E. Cary
  14. ^ Brown, P., The World of Late Antiquity, London 1971, p. 22.
  15. ^ Adrian Goldsworth, How Rome Fell: Death of a Superpower (Yale University Press, 2009), pp. 405–415.
  16. ^ Potter, David. The Roman Empire at Bay. 296–98.
  17. ^ Chester G. Starr, A History of the Ancient World, Second Edition. Oxford University Press, 1974. pp. 670–678.
  18. ^ Isaac Asimov. Asimov’s Chronology of the World. Harper Collins, 1989. p. 110.
  19. ^ Asimov, p. 198.
  20. ^ Kelly, The Roman Empire, p. 3.
  21. ^ Nicolet, Space, Geography, and Politics in the Early Roman Empire, p. 29; translated as “power without end” in Pat Southern, The Roman Empire from Severus to Constantine (Routledge, 2001), p. 16.
  22. ^ Vergil, Aeneid 1.278; Nicolet, Space, Geography, and Politics, p. 29; David J. Mattingly, Imperialism, Power, and Identity: Experiencing the Roman Empire (Princeton University Press, 2011), p. 15; G. Moretti, “The Other World and the ‘Antipodes’: The Myth of Unknown Countries between Antiquity and the Renaissance,” in The Classical Tradition and the Americas: European Images of the Americas (Walter de Gruyter, 1993), p. 257; Southern, The Roman Empire from Severus to Constantine, p. 16.
  23. ^ Prudentius (348–413) in particular Christianizes the theme in his poetry, as noted by Marc Mastrangelo, The Roman Self in Late Antiquity: Prudentius and the Poetics of the Soul (Johns Hopkins University Press, 2008), pp. 73, 203. St. Augustine, however, distinguished between the secular and eternal “Rome” in The City of God. See also J. Rufus Fears, “The Cult of Jupiter and Roman Imperial Ideology,” Aufstieg und Niedergang der römischen Welt II.17.1 (1981), p. 136 et passim, on how Classical Roman ideology influenced Christian Imperial doctrine; Peter Fibiger Bang, “The King of Kings: Universal Hegemony, Imperial Power, and a New Comparative History of Rome,” in The Roman Empire in Context: Historical and Comparative Perspectives (John Wiley & Sons, 2011); and the Greek concept of globalism (oikouménē).
  24. ^ Nicolet, Space, Geography, and Politics, pp. 7–8.
  25. ^ Nicolet, Space, Geography, and Politics, pp. 9, 16.
  26. ^ Nicolet, Space, Geography, and Politics, pp. 10–11.
  27. ^ Southern, The Roman Empire from Severus to Constantine, p. 14.
  28. ^ a ă Keith Hopkins, “The Political Economy of the Roman Empire,” in The Dynamics of Ancient Empires: State Power from Assyria to Byzantium (Oxford University Press, 2009), p. 183.
  29. ^ Kelly, The Roman Empire, p. 1.
  30. ^ a ă Hopkins, “The Political Economy of the Roman Empire,” p. 184.
  31. ^ Raymond W. Goldsmith,”An Estimate of the Size and Structure of the National Product of the Early Roman Empire”, Review of Income and Wealth, 30.3 (1984), pp. 263–288, especially p. 263.
  32. ^ Walter Scheidel: Population and demography, Princeton/Stanford Working Papers in Classics, Version 1.0, April 2006, p. 9
  33. ^ W.V. Harris, “Trade,” in The Cambridge Ancient History: The High Empire A.D. 70–192 (Cambridge University Press, 2000), vol. 11, p. 721.
  34. ^ Southern, The Roman Empire from Severus to Constantine, pp. 14–16.
  35. ^ Olivier Hekster and Ted Kaizer, preface to Frontiers in the Roman World. Proceedings of the Ninth Workshop of the International Network Impact of Empire (Durhan, 16–19 April 2009) (Brill, 2011), p. viii.
  36. ^ Greg Woolf, editor, Cambridge Illustrated History of the Roman World (Cambridge: Ivy Press, 2003), p. 340; Thorsten Opper, Hadrian: Empire and Conflict (Harvard University Press, 2008), p. 64; Nic Fields, Hadrian’s Wall AD 122–410, which was, of course, at the bottom of Hadrian’s garden. (Osprey Publishing, 2003), p. 35.
  37. ^ Vergil, Aeneid 12.834 and 837: “they will keep the speech (sermo) and mores of their fathers … and I will make them all Latins with one mode of expression (uno ore, literally “with one mouth”), in a speech attributed to Rome’s supreme deity Jupiter; Bruno Rochette, “Language Policies in the Roman Republic and Empire,” translated by James Clackson, in A Companion to the Latin Language (Blackwell, 2011), pp. 549, 563; J.N. Adams, “Romanitas and the Latin Language,” Classical Quarterly 53.1 (2003), p. 184.
  38. ^ Adams, “Romanitas and the Latin Language,” pp. 186–187.
  39. ^ Rochette, “Language Policies in the Roman Republic and Empire,” pp. 554, 556.
  40. ^ Rochette, “Language Policies in the Roman Republic and Empire,” p. 549; Charles Freeman, The Greek Achievement: The Foundation of the Western World (New York: Penguin, 1999), pp. 389–433.
  41. ^ Augustine of Hippo, De Civitate Dei 19.7.18, as cited by Rochette, “Language Policies in the Roman Republic and Empire,” p. 549.
  42. ^ Rochette, “Language Policies in the Roman Republic and Empire,” p. 549, citing Plutarch, Life of Alexander 47.6.
  43. ^ Fergus Millar, A Greek Roman Empire: Power and Belief under Theodosius II (408–450) (University of California Press, 2006), p. 279; Warren Treadgold, “A History of the Byzantine State and Society” (Stanford University Press, 1997), p. 5.
  44. ^ Rochette, “Language Policies in the Roman Republic and Empire,” p. 553.
  45. ^ Rochette, “Language Policies in the Roman Republic and Empire,” pp. 550–552.
  46. ^ a ă Rochette, “Language Policies in the Roman Republic and Empire,” p. 552.
  47. ^ Suetonius, Life of Claudius 42.
  48. ^ Rochette, “Language Policies in the Roman Republic and Empire,” p. 553; Lee I. Levine, Jerusalem: Portrait of the City in the Second Temple Period (538 B.C.E. – 70 C.E.) (Jewish Publication Society, 2002), p. 154.
  49. ^ Cicero, In Catilinam 2.15, P.Ryl. I 61 “recto“.
  50. ^ Rochette, “Language Policies in the Roman Republic and Empire,” pp. 553–554.
  51. ^ Rochette, “Language Policies in the Roman Republic and Empire,” p. 556; Adams, “Romanitas and the Latin Language,” p. 200.
  52. ^ Rochette, “Language Policies in the Roman Republic and Empire,” p. 560.
  53. ^ Rochette, “Language Policies in the Roman Republic and Empire,” p. 560; A.H.M. Jones, The Decline of the Ancient World (Longmanns, 1966), p. 346.
  54. ^ Rochette, “Language Policies in the Roman Republic and Empire,” pp. 562–563.
  55. ^ Rochette, “Language Policies in the Roman Republic and Empire,” pp. 558–559.
  56. ^ Richard Miles, “Communicating Culture, Identity, and Power,” in Experiencing Power: Culture, Identity and Power in the Roman Empire (Routledge, 200), pp. 58–59.
  57. ^ Miles, “Communicating Culture, Identity, and Power,”pp. 58–59.
  58. ^ Varro as quoted by Isidore of Seville, Origines 15.1.63, trilingues quod et graece loquantur et latine et gallice; Edgar C. Polomé, “The Linguistic Situation in the Western Provinces of the Roman Empire,” Aufstieg und Niedergang der römischen Welt II (De Gruyter, 1983), p. 527; Philip Freeman, Ireland and the Classical World (Austin: University of Texas Press, 2001), p. 15.
  59. ^ Miles, “Communicating Culture, Identity, and Power,” p. 58.
  60. ^ Miles, “Communicating Culture, Identity, and Power,” pp. 59–60.
  61. ^ a ă Rochette, “Language Policies in the Roman Republic and Empire,” p. 550; Stefan Zimmer, “Indo-European,” in Celtic Culture: A Historical Encyclopedia (ABC-Clio, 2006), p. 961; Leonard A. Curchin, “Literacy in the Roman Provinces: Qualitative and Quantitative Data from Central Spain,” American Journal of Philology 116.3 (1995), p. 464.
  62. ^ Françoise Waquet, Latin, Or, The Empire of the Sign: From the Sixteenth to the Twentieth Century (Verso, 2001; originally published 1998 in French), pp. 1–2; Kristian Jensen, “The Humanist Reform of Latin and Latin Teaching,” in The Cambridge Companion to Renaissance Humanism (Cambridge University Press, 1996, 2003), pp. 63–64.
  63. ^ Treadgold, A History of the Byzantine State and Society, p. 5.
  64. ^ Miles, “Communicating Culture, Identity, and Power,” p. 58; Treadwell, A History of the Byzantine State and Society, pp. 5–7.
  65. ^ Adams, “Romanitas and the Latin Language,” p. 199.
  66. ^ Michael Peachin, introduction to The Oxford Handbook of Social Relations in the Roman World (Oxford University Press, 2011) p. 12.
  67. ^ Peachin, introduction to The Oxford Handbook of Social Relations in the Roman World, p. 9, citing particularly Géza Alföldy, Römische Sozialgeschichte (first published 1975) on “the innate, potent, and widely institutionalized hierarchic character of Roman society,” and pp. 21–22 (note 45 on the problems of “class” as a term).
  68. ^ Peter Garnsey and Richard Saller, The Roman Empire: Economy, Society and Culture (University of California Press, 1987), p. 107.
  69. ^ Peachin, introduction to The Oxford Handbook of Social Relations in the Roman World, pp. 4–5.
  70. ^ Aloys Winterling, Politics and Society in Imperial Rome (John Wiley & Sons, 2009, originally published 1988 in German), pp. 11, 21.
  71. ^ Bruce W. Frier and Thomas A.J. McGinn, A Casebook on Roman Family Law (Oxford University Press: American Philological Association, 2004), p. 14; Gaius, Institutiones 1.9 = Digest 1.5.3.
  72. ^ Frier and McGinn, A Casebook of Family Law, pp. 31–32.
  73. ^ Ando, “The Administration of the Provinces,” p. 177.
  74. ^ The civis (“citizen”) stands in explicit contrast to a peregrina, a foreign or non-Roman woman: A.N. Sherwin-White, Roman Citizenship (Oxford University Press, 1979), pp. 211 and 268; Frier and McGinn, A Casebook on Roman Family Law, pp. 31–32, 457, et passim. In the form of legal marriage called conubium, the father’s legal status determined the child’s, but conubium required that both spouses be free citizens. A soldier, for instance, was banned from marrying while in service, but if he formed a long-term union with a local woman while stationed in the provinces, he could marry her legally after he was discharged, and any children they had would be considered the offspring of citizens—in effect granting the woman retroactive citizenship. The ban was in place from the time of Augustus until it was rescinded by Septimius Severus in 197 AD. See Sara Elise Phang, The Marriage of Roman Soldiers (13 B.C.–A.D. 235): Law and Family in the Imperial Army (Brill, 2001), p. 2, and Pat Southern, The Roman Army: A Social and Institutional History (Oxford University Press, 2006), p. 144.
  75. ^ Beryl Rawson, “The Roman Family,” in The Family in Ancient Rome: New Perspectives (Cornell University Press, 1986), p. 18.
  76. ^ Frier and McGinn, A Casebook on Roman Family Law, pp. 19–20.
  77. ^ David Johnston, Roman Law in Context (Cambridge University Press, 1999), chapter 3.3; Frier and McGinn, A Casebook on Roman Family Law, Chapter IV; Yan Thomas, “The Division of the Sexes in Roman Law,” in A History of Women from Ancient Goddesses to Christian Saints (Harvard University Press, 1991), p. 134.
  78. ^ Beth Severy, Augustus and the Family at the Birth of the Empire (Routledge, 2002; Taylor & Francis, 2004), p. 12.
  79. ^ Keith Bradley, Slavery and Society at Rome (Cambridge University Press, 1994), p. 12.
  80. ^ The others are ancient Athens, and in the modern era Brazil, the Caribbean, and the United States; Bradley, Slavery and Society at Rome, p. 12.
  81. ^ W.V. Harris, “Demography, Geography and the Sources of Roman Slaves,” Journal of Roman Studies 89 (1999) 62–75, especially p. 65 on Roman Egypt. For background on pre-Roman slavery in some areas brought under provincial rule, see Timothy Taylor, “Believing the Ancients: Quantitative and Qualitative Dimensions of Slavery and the Slave Trade in Later Prehistoric Eurasia,” World Archaeology 33.1 (2001) 27–43.
  82. ^ Frier and McGinn, A Casebook of Family Law, p. 7.
  83. ^ Thomas A.J. McGinn, Prostitution, Sexuality and the Law in Ancient Rome (Oxford University Press, 1998), p. 314; Jane F. Gardner, Women in Roman Law and Society (Đại học Indiana Press, 1991), p. 119.
  84. ^ Frier and McGinn, A Casebook on Roman Law, pp. 31, 33.
  85. ^ Christopher J. Fuhrmann, Policing the Roman Empire: Soldiers, Administration, and Public Order (Oxford University Press, 2012), pp. 21–41.
  86. ^ Frier and McGinn, A Casebook on Roman Family Law, p. 21.
  87. ^ Richard Gamauf, “Slaves Doing Business: The Role of Roman Law in the Economy of a Roman Household,” in European Review of History 16.3 (2009) 331–346.
  88. ^ Bradley, Slavery and Society at Rome, pp. 2–3.
  89. ^ McGinn, Prostitution, Sexuality, and the Law, p. 288ff.
  90. ^ Ra’anan Abusch, “CIrcumcision and Castration under Roman Law in the Early Empire,” in The Covenant of Circumcision: New Perspectives on an Ancient Jewish Rite (Brandeis University Press, 2003), pp. 77–78; Peter Schäfer, The History of the Jews in the Greco-Roman World (Routledge, 1983, 2003), p. 150.
  91. ^ Harris, “Demography, Geography and the Sources of Roman Slaves,” p. 62 et passim.
  92. ^ Bradley, Slavery and Society at Rome, p. 10.
  93. ^ Fergus Millar, The Crowd in Rome in the Late Republic (University of Michigan, 1998, 2002), pp. 23, 209.
  94. ^ Henrik Mouritsen, The Freedman in the Roman World (Cambridge University Press, 2011), p. 36; Adolf Berger, entry on libertus, Encyclopedic Dictionary of Roman Law (American Philological Society, 1953, 1991), p. 564.
  95. ^ Berger, entry on libertinus, Encyclopedic Dictionary of Roman Law, p. 564.
  96. ^ Walter Eck, “Emperor, Senate and Magistrates,” in Cambridge Ancient History: The High Empire A.D. 70–192 (Cambridge University Press, 2000), vol. 11, pp. 217–218; Ronald Syme, Provincial At Rome: and Rome and the Balkans 80 BC-AD 14 (University of Exeter Press, 1999), pp. 12–13.
  97. ^ Eck, “Emperor, Senate and Magistrates,” pp. 215, 221–222; Millar, “Empire and City,” p. 88. The standard complement of 600 was flexible; twenty quaestors, for instance, held office each year and were thus admitted to the Senate regardless of whether there were “open” seats.
  98. ^ Millar, “Empire and City,” p. 88.
  99. ^ Eck, “Emperor, Senate and Magistrates,” pp. 218–219.
  100. ^ His name was Tiberius Claudius Gordianus; Eck, “Emperor, Senate and Magistrates,” p. 219.
  101. ^ The relation of the equestrian order to the “public horse” and Roman cavalry parades and demonstrations (such as the Lusus Troiae) is complex, but those who participated in the latter seem, for instance, to have been the equites who were accorded the high-status (and quite limited) seating at the theatre by the Lex Roscia theatralis. Senators could not possess the “public horse.” See T.P. Wiseman, “The Definition of Eques Romanus,” Historia 19.1 (1970) 67–83, especially pp. 78–79.
  102. ^ Wiseman, “The Definition of Eques Romanus,” pp. 71–72, 76.
  103. ^ Ancient Gades, in Roman Spain, and Patavium, in the Celtic north of Italy, were atypically wealthy cities, and having 500 equestrians in one city was unusual. Strabo 3.169, 5.213; Wiseman, “The Definition of Eques Romanus,” pp. 75–76, 78.
  104. ^ Andrew Fear, “War and Society,” in The Cambridge History of Greek and Roman Warfare: Rome from the Late Repblic to the Late Empire (Cambridge University Press, 2007), vol. 2, pp. 214–215; Julian Bennett, Trajan: Optimus Princeps (Đại học Indiana Press, 1997, 2001, 2nd ed.), p. 5.
  105. ^ Millar, “Empire and City,” pp. 87–88.
  106. ^ Hopkins, The Political Economy of the Roman Empire, p. 188; Millar, “Empire and City,” pp. 87–88.
  107. ^ Millar, “Empire and City,” p. 96.
  108. ^ Wolfgang Liebeschuetz, “The End of the Ancient City,” in The City in Late Antiquity (Taylor & Francis, 2001), pp. 26–27.
  109. ^ Koenraad Verboven, “The Associative Order: Status and Ethos among Roman Businessmen in Late Republic and Early Empire,” Athenaeum 95 (2007), p. 870–72; Dennis P. Kehoe, “Law and Social Formation in the Roman Empire,” in The Oxford Handbook of Social Relations in the Roman World, p. 153.
  110. ^ Kehoe, “Law and Social Formation in the Roman Empire,” p. 153;.Judith Perkins, “Early Christian and Judicial Bodies,” in (Walter de Gruyter, 2009), pp. 245–246 (particularly on the effect of the Constitutio Antoniniana); Garrett G. Fagan, “Violence in Roman Social Relations,” in The Oxford Handbook of Social Relations, p. 475.
  111. ^ Yann Le Bohec, The Imperial Roman Army, translated by Raphael Bate (Routledge, 2000, originally published 1989 in French), p. 8.
  112. ^ Le Bohec, The Imperial Roman Army, pp. 14–15.
  113. ^ Plutarch, Moralia Moralia 813c and 814c; Clifford Ando, “The Administration of the Provinces,” in A Companion to the Roman Empire (Blackwell, 2010), pp. 181–182; Edward N. Luttwak, The Grand Strategy of the Roman Empire: From the First Century A.D. to the Third (Johns Hopkins University Press, 1976, 1979), p. 30.
  114. ^ Ando, “The Administration of the Provinces,” p. 184.
  115. ^ Ando, “The Administration of the Provinces,” p. 181.
  116. ^ Abbott, 342
  117. ^ Abbott, 357
  118. ^ a ă Abbott, 345
  119. ^ Abbott, 354
  120. ^ Abbott, 341
  121. ^ Goldsworthy, Adrian (2003). “The Life of a Roman Soldier”. The Complete Roman Army. London: Thames & Hudson. tr. 80. ISBN 0-500-05124-0.
  122. ^ Olivier J. Hekster, “Fighting for Rome: The Emperor as a Military Leader,” in Impact of the Roman Army (200 BC–AD 476) (Brill, 2007), p. 96.
  123. ^ a ă â The complete Roman army by Adrian Goldsworthy, 2003 chapter The Army of the Principate, p.50; ISBN 0-500-05124-0
  124. ^ The complete Roman army by Adrian Goldsworthy, 2005 chapter The Army of the Principate, p.183; ISBN 0-500-05124-0
  125. ^ Rome and her enemies published by Osprey, 2005 part 3 Early Empire 27BC — AD 235, chapter 9 The Romans, section Remuneration, p.183; ISBN 978-1-84603-336-0
  126. ^ Tacitus Annales IV.5
  127. ^ Goldsworthy (2003) 51
  128. ^ The complete Roman army by Adrian Goldsworthy 2003, chapter After Service, p.114; ISBN 0-500-05124-0
  129. ^ Ando, “The Administration of the Provinces,” p. 183.
  130. ^ Ando, “The Administration of the Provinces,” pp. 177–179. Most government records that are preserved come from Roman Egypt, where the climate preserved the papyri.
  131. ^ a ă Ando, “The Administration of the Provinces,” p. 179.
  132. ^ Ando, “The Administration of the Provinces,” p. 179. The exclusion of Egypt from the senatorial provinces dates to the rise of Octavian before he became Augustus: Egypt had been the stronghold of his last opposition, Mark Antony and his ally Cleopatra.
  133. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Ando_p._180
  134. ^ Peter Garnsey and Richard Saller, The Roman Empire: Economy, Society and Culture (University of California Press, 1987), p. 110.
  135. ^ Garnsey and Saller, The Roman Empire: Economy, Society and Culture, p. 110; Clifford Ando, “The Administration of the Provinces,” in A Companion to the Roman Empire (Blackwell, 2010), pp. 184–185.
  136. ^ Adda B. Bozeman, Politics and Culture in International History from the Ancient Near East to the Opening of the Modern Age (Transaction Publishers, 2010, 2nd ed., originally published 1960 by Princeton University Press), pp. 208–20
  137. ^ Garnsey and Saller, The Roman Empire: Economy, Society and Culture, p. 110; Ando, “The Administration of the Provinces,” pp. 184–185. This practice was established in the Republic; see for instance the case of Contrebian water rights heard by G. Valerius Flaccus as governor of Hispania in the 90s–80s BC.
  138. ^ Garnsey and Saller, The Roman Empire, pp. 110–111.
  139. ^ Elizabeth DePalma Digeser, The Making of a Christian Empire: Lactantius and Rome (Cornell University Press, 2000), p. 53.
  140. ^ a ă â Ando, “The Administration of the Provinces,” p. 187.
  141. ^ Ando, “The Administration of the Provinces,” pp. 185–187.
  142. ^ Ando, “The Administration of the Provinces,” p. 185; Hopkins, “The Political Economy of the Roman Empire,” p. 184.
  143. ^ Ando, “The Administration of the Provinces,” p. 185.
  144. ^ a ă Ando, “The Administration of the Provinces,” p. 188.
  145. ^ Ando, “The Administration of the Provinces,” p. 186.
  146. ^ Cassius Dio 55.31.4.
  147. ^ Tacitus, Annales 13.31.2.
  148. ^ This was the vicesima libertatis, “the twentieth for freedom”; Ando, “The Administration of the Provinces,” p. 187.
  149. ^ David Mattingly, “The Imperial Economy,” in A Companion to the Roman Empire (Blackwell, 2010), p. 283.
  150. ^ a ă Mattingly, “The Imperial Economy,” p. 285.
  151. ^ a ă Mattingly, “The Imperial Economy,” p. 286.
  152. ^ Mattingly, “The Imperial Economy,” p. 292.
  153. ^ Mattingly, “The Imperial Economy,” pp. 285–286, p. 296f.
  154. ^ Mattingly, “The Imperial Economy,” p. 296.
  155. ^ Mattingly, “The Imperial Economy,” pp. 286, 295.
  156. ^ David Kessler and Peter Temin, “Money and Prices in the Early Roman Empire,” in The Monetary Systems of the Greeks and Romans, in The Monetary Systems of the Greeks and Romans (Oxford University Press, 2008), n.p.
  157. ^ Kenneth W. Hart, Coinage in the Roman Economy, 300 B.C. to A.D. 700 (Johns Hopkins University Press, 1996), p. 135.
  158. ^ Mireille Corbier, “Coinage and Taxation: The State’s Point of View, A.D. 193–337,” in Cambridge Ancient History: The Crisis of Empire, A.D. 193–197 (Cambridge University Press, 2005), vol. 12, p. 333.
  159. ^ Colin Wells, The Roman Empire (Harvard University Press, 1984, 1992), p. 8.
  160. ^ W.V. Harris, “The Nature of Roman Money,” in The Monetary Systems of the Greeks and Romans, n.p.
  161. ^ Kessler and Temin, “Money and Prices in the Early Roman Empire,” n.p.
  162. ^ Walter Scheidel, “The Monetary Systems of the Han and Roman Empires”, in: Scheidel, Walter, ed. (2009): Rome and China. Comparative Perspectives on Ancient World Empires (Oxford University Press, 2009), New York, ISBN 978-0-19-533690-0, pp. 137–207, especially p. 205.
  163. ^ Harris, “The Nature of Roman Money,” n.p.
  164. ^ Jean Andreau, Banking and Business in the Roman World (Cambridge University Press, 1999), p. 2.
  165. ^ Andreau, Banking and Business in the Roman World, p. 2; Harris, “The Nature of Roman Money,” n.p.
  166. ^ Tacitus, Annales 6.17.3.
  167. ^ a ă â Harris, “The Nature of Roman Money,” in The Monetary Systems of the Greeks and Romans, n.p.
  168. ^ Richard Duncan-Jones, Money and Government in the Roman Empire (Cambridge University Press, 1994), pp. 3–4.
  169. ^ Hart, Coinage in the Roman Economy, 300 B.C. to A.D. 700, p. 125–136.
  170. ^ Hart, Coinage in the Roman Economy, 300 B.C. to A.D. 700, pp. 128–129.
  171. ^ Harris, “The Nature of Roman Money,” in The Monetary Systems of the Greeks and Romans, n.p.; Hart, Coinage in the Roman Economy, 300 B.C. to A.D. 700, pp. 128–129.
  172. ^ “Mining,” in Late Antiquity: A Guide to the Postclassical World p. 579.
  173. ^ Wilson, Andrew (2002): “Machines, Power and the Ancient Economy”, The Journal of Roman Studies, Vol. 92, pp. 1–32 (17–21, 25, 32)
  174. ^ Craddock, Paul T. (2008): “Mining and Metallurgy”, in: Oleson, John Peter (ed.): The Oxford Handbook of Engineering and Technology in the Classical World, Oxford University Press, ISBN 978-0-19-518731-1, p. 108; Sim, David; Ridge, Isabel (2002): Iron for the Eagles. The Iron Industry of Roman Britain, Tempus, Stroud, Gloucestershire, ISBN 0-7524-1900-5, p. 23; Healy, John F. (1978): Mining and Metallurgy in the Greek and Roman World, Thames and Hudson, London, ISBN 0-500-40035-0, p. 196. Assumes a productive capacity of c. 1.5 kg per capita.Healy, John F. (1978): Mining and Metallurgy in the Greek and Roman World, Thames and Hudson, London, ISBN 0-500-40035-0, p. 196
  175. ^ a ă Hong, Sungmin; Candelone, Jean-Pierre; Patterson, Clair C.; Boutron, Claude F. (1996): “History of Ancient Copper Smelting Pollution During Roman and Medieval Times Recorded in Greenland Ice”, Science, Vol. 272, No. 5259, pp. 246–249 (366–369); cf. also Wilson, Andrew (2002): “Machines, Power and the Ancient Economy”, The Journal of Roman Studies, Vol. 92, pp. 1–32 (25–29)
  176. ^ Callataÿ, François de (2005): “The Graeco-Roman Economy in the Super Long-Run: Lead, Copper, and Shipwrecks”, Journal of Roman Archaeology, Vol. 18, pp. 361–372 (361–369); Hong, Sungmin; Candelone, Jean-Pierre; Patterson, Clair C.; Boutron, Claude F. (1996): “History of Ancient Copper Smelting Pollution During Roman and Medieval Times Recorded in Greenland Ice”, Science, Vol. 272, No. 5259, pp. 246–249 (247, fig. 1 and 2; 248, table 1); Hong, Sungmin; Candelone, Jean-Pierre; Patterson, Clair C.; Boutron, Claude F. (1994): “Greenland Ice Evidence of Hemispheric Lead Pollution Two Millennia Ago by Greek and Roman Civilizations”, Science, Vol. 265, No. 5180, pp. 1841–1843; Settle, Dorothy M.; Patterson, Clair C. (1980): “Lead in Albacore: Guide to Lead Pollution in Americans”, Science, Vol. 207, No. 4436, pp. 1167–1176 (1170f.)
  177. ^ Hong, Sungmin; Candelone, Jean-Pierre; Patterson, Clair C.; Boutron, Claude F. (1994). “Greenland Ice Evidence of Hemispheric Lead Pollution Two Millennia Ago by Greek and Roman Civilizations”. Science 265 (5180): 1841–1843. doi:10.1126/science.265.5180.1841. PMID 17797222.
  178. ^ Patterson, C. C. (1972): “Silver Stocks and Losses in Ancient and Medieval Times”, The Economic History Review, Vol. 25, No. 2, pp. 205–235 (228, table 6); Callataÿ, François de (2005): “The Graeco-Roman Economy in the Super Long-Run: Lead, Copper, and Shipwrecks”, Journal of Roman Archaeology, Vol. 18, pp. 361–372 (365f.)
  179. ^ Patterson, C. C. (1972): “Silver Stocks and Losses in Ancient and Medieval Times”, The Economic History Review, Vol. 25, No. 2, pp. 205–235 (216, table 2); Callataÿ, François de (2005): “The Graeco-Roman Economy in the Super Long-Run: Lead, Copper, and Shipwrecks”, Journal of Roman Archaeology, Vol. 18, pp. 361–372 (365f.)
  180. ^ Hopkins, The Political Economy of the Roman Empire, p. 197.
  181. ^ Élise Marlière, “Le tonneua en Gaule romaine,” Gallia 58 (2001) 181–210, especially p. 184; Corbier, “Coinage, Society, and Economy,” in CAH 12, p. 404.
  182. ^ Kevin Greene, The Archaeology of the Roman Economy p. 17.
  183. ^ W.V. Harris, “Trade,” in The Cambridge Ancient History: The High Empire A.D. 70–192 (Cambridge University Press, 2000), vol. 11, p. 713.
  184. ^ Harris, “Trade,” in CAH 11, p. 714.
  185. ^ Roger Bradley Ulrich, Roman Woodworking (Yale University Press, pp. 1–2.
  186. ^ a ă Stambaugh, The Ancient Roman City, p. 253.
  187. ^ Ray Laurence, “Land Transport in Roman Italy: Costs, Practice and the Economy,” in Trade, Traders and the Ancient City (Routledge, 1998), p. 129.
  188. ^ Keith Hopkins, “The Political Economy of the Roman Empire,” in The Dynamics of Ancient Empires: State Power from Assyria to Byzantium (Oxford University Press, 2009), p. 187.
  189. ^ Holleran, Shopping in Ancient Rome, p. 142.
  190. ^ Harris, “Trade,” in CAH 11, p. 713.
  191. ^ Harris, “Trade,” in CAH 11, p. 710.
  192. ^ Harris, “Trade,” in CAH 11, pp. 717–729.
  193. ^ Hopkins, “The Political Economy of the Roman Empire,” p. 196.
  194. ^ Verboven, “The Associative Order: Status and Ethos among Roman Businessmen,” preprint pp. 18, 23.
  195. ^ Eborarii and citriarii: Verboven, “The Associative Order: Status and Ethos among Roman Businessmen,” preprint p. 21.
  196. ^ “Slavery in Rome,” in The Oxford Encyclopedia of Ancient Greece and Rome (Oxford University Press, 2010), p. 323.
  197. ^ “Slavery in Rome,” in The Oxford Encyclopedia of Ancient Greece and Rome, p. 323.
  198. ^ Garnsey and Saller, The Roman Empire: Economy, Society and Culture, p. 111.
  199. ^ A.H.M. Jones, “The Cloth Industry under the Roman Empire,” Economic History Review 13.2 (1960), pp. 184–185.
  200. ^ Scheidel, Walter; Morris, Ian; Saller, Richard, eds. (2007): The Cambridge Economic History of the Greco-Roman World, Cambridge University Press, ISBN 978-0-521-78053-7
  201. ^ Lo Cascio, Elio; Malanima, Paolo (Dec. 2009): “GDP in Pre-Modern Agrarian Economies (1–1820 AD). A Revision of the Estimates”, Rivista di storia economica, Vol. 25, No. 3, pp. 391–420 (391–401)
  202. ^ Maddison 2007, pp. 47–51
  203. ^ W. L. MacDonald, The Architecture of the Roman Empire, rev. ed. Yale University Press, New Haven, 1982, fig. 131B; Lechtman and Hobbs “Roman Concrete and the Roman Architectural Revolution”
  204. ^ Vitruvius, De Arch. Book 1, preface. section 2
  205. ^ Encyclopaedia Britannica, Apollodorus of Damascus, “Greek engineer and architect who worked primarily for the Roman emperor Trajan.
    George Sarton (1936), “The Unity and Diversity of the Mediterranean World”, Osiris 2: 406-463 [430]
    Giuliana Calcani, Maamoun Abdulkarim (2003). Apollodorus of Damascus and Trajan’s Column: From Tradition to Project. L’Erma di Bretschneider. tr. 11. ISBN 88-8265-233-5. “…focusing on the brilliant architect Apollodorus of Damascus. This famous Syrian personage represents…
    Hong-Sen Yan, Marco Ceccarelli (2009). International Symposium on History of Machines and Mechanisms: Proceedings of HMM 2008. Springer. tr. 86. ISBN 1-4020-9484-1. “He had Syrian origins coming from Damascus
  206. ^ Smith 1970, tr. 60f.; Smith 1971, tr. 26; Schnitter 1978, tr. 28
  207. ^ Chandler, Fiona “The Usborne Internet Linked Encyclopedia of the Roman World”, page 80. Usborne Publishing 2001
  208. ^ Forman, Joan “The Romans”, page 34. Macdonald Educational Ltd. 1975
  209. ^ J. Crow 2007 “Earth, walls and water in Late Antique Constantinople” in Technology in Transition AD 300–650 in ed. L.Lavan, E.Zanini & A. Sarantis Brill, Leiden
  210. ^ Jones, R. F. J. and Bird, D. G., Roman gold-mining in north-west Spain, II: Workings on the Rio Duerna, Journal of Roman Studies 62 (1972): 59-74.
  211. ^ Goldsworthy, In the Name of Rome, p. 244
  212. ^ Goldsworthy, In the Name of Rome, p. 245
  213. ^ Matyszak, The Enemies of Rome, p. 159
  214. ^ Clunn, In Quest of the Lost Legions, p. xv
  215. ^ Nic Fields, The Roman Army of the Principate 27 BC-AD 117, trang 72
  216. ^ Andrew Roberts, The Art of War: Great Commanders of the Ancient and Medieval Worlds 1600 BC – AD 1600, trang 172
  217. ^ Annette Panhorst, Looting of Bones In the Teutoburg Forest, các trang 90-91.
  218. ^ Nic Fields, The Roman Army of the Principate 27 BC-AD 117, trang 47
  219. ^ Churchill, A History of the English Speaking Peoples, p. 4
  220. ^ Churchill, A History of the English-Speaking Peoples, p. 5
  221. ^ Goldsworthy, In the Name of Rome, p. 269
  222. ^ Luttwak, The Grand Strategy of the Roman Empire, p. 38
  223. ^ Goldsworthy, In the Name of Rome, p. 322
  224. ^ Matyszak, The Enemies of Rome, p. 213
  225. ^ Matyszak, The Enemies of Rome, p. 215
  226. ^ Matyszak, The Enemies of Rome, p. 222
  227. ^ Matyszak, The Enemies of Rome, p. 223
  228. ^ Tacitus, The Histories, Book 1, ch. 41
  229. ^ Plutarch, Lives, Galba
  230. ^ Luttwak, The Grand Strategy of the Roman Empire, p. 51
  231. ^ Lane Fox, The Classical World, p. 542
  232. ^ Tacitus, The Histories, Book 1, ch. 57
  233. ^ Plutarch, Lives, Otho
  234. ^ a ă â Luttwak, The Grand Strategy of the Roman Empire, p. 52
  235. ^ Tacitus, The Histories, Book 1, ch. 44
  236. ^ Tacitus, The Histories, Book 1, ch. 49
  237. ^ Tactitus, The Histories, Book 3, ch. 18
  238. ^ Tactitus, The Histories, Book 3, ch. 25
  239. ^ Goldsworthy, In the Name of Rome, p. 294
  240. ^ Santosuosso, Storming the Heavens, p. 146
  241. ^ Luttwak, The Grand Strategy of the Roman Empire, p. 3
  242. ^ Grant, The History of Rome, p. 273
  243. ^ Grant, The History of Rome, p. 279
  244. ^ Luttwak, The Grand Strategy of the Roman Empire, p. 146
  245. ^ Grant, The History of Rome, p. 282
  246. ^ Grant, The History of Rome, p. 285
  247. ^ Ammianus Marcellinus, Historiae, book 31.
  248. ^ Jordanes, The Origins and Deeds of the Goths, 138.
  249. ^ Grant, The History of Rome, p. 284
  250. ^ Luttwak, The Grand Strategy of the Roman Empire, p. 149
  251. ^ Jones, Mark Wilson Principles of Roman Architecture. New Haven: Yale University Press, 2000.
  252. ^ Kevin Greene, “Technological Innovation and Economic Progress in the Ancient World: M.I. Finley Re-Considered”, The Economic History Review, New Series, Vol. 53, No. 1. (Feb., 2000), pp. 29–59 (39)
  253. ^ Scott, 404
  254. ^ “Resisting Slavery in Ancient Rome”. BBC. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2008.
  255. ^ “Slavery in Ancient Rome”. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2008. Đã bỏ qua tham số không rõ |'''publisher= (trợ giúp)
  256. ^ Farber, Allen. “Early Christian Art: An Introduction”. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2012.
  257. ^ See also Harland, P. A., “Honours and Worship: Emperors, Imperial Cults and Associations at Ephesus (First to Third Centuries C.E.)”, Studies in Religion/Sciences religieuses 25 (1996) 319–334.

Đọc thêm

Liên kết ngoài

 

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây  cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s