Chào ngày mới 1 tháng 3



CNM365. Chào ngày mới 1 tháng 3. Wikipedia Ngày này năm xưa. Năm 1076Ung Châu thất thủ trong Chiến dịch đánh Tống, 1075-1076 của quân Đại Việt. Năm 1872Vườn quốc gia Yellowstone được thành lập tại miền Tây Hoa Kỳ, đây là vườn quốc gia đầu tiên trên thế giới. Năm 1943 -ngày mất của  Alexandre Yersin, thầy thuốc Thụy Sĩ , bác học Pháp, sống và chết ở Việt Nam (ông sinh năm 1863)

1 tháng 3

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày 1 tháng 3 là ngày thứ 60 (61 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 305 ngày trong năm.

« Tháng 3 năm 2015 »
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30 31

Mục lục

Sự kiện

Sinh

Mất

Những ngày lễ và kỷ niệm

Tháng 1 | Tháng 2 | Tháng 3 | Tháng 4 | Tháng 5 | Tháng 6 | Tháng 7 | Tháng 8 | Tháng 9 | Tháng 10 | Tháng 11 | Tháng 12

Tham khảo

Chiến dịch đánh Tống, 1075-1076

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Chiến dịch đánh Tống 1075-1076
Một phần của Chiến tranh Tống – Việt, 1075-1077
Thời gian 27 tháng 10 năm 10751 tháng 3 năm 1076
Địa điểm Khâm Châu, Liêm Châu, Ung Châu thuộc Trung Quốc
Kết quả Đại Việt chiến thắng
Tham chiến
Nhà Lý Đại Việt Nhà Tống Trung Quốc
Chỉ huy
Lý Thường Kiệt
Lưu Kỷ
Nùng Tông Đản
Hoàng Kim Mãn
Vi Thủ An
Thân Cảnh Phúc
Lưu Di
Tô Giám  
Trương Thủ Tiết  
Trần Vĩnh Thái  
Thẩm Tông Cổ  
Phan Nhược Cốc  
Cổ Cấn Lặc
Lực lượng
8[1]-10 vạn[2][3] 2.800 quân chính quy (thành Ung Châu)[1]
5.000 quân (toàn Ung Châu)[4]
Khâm Châu: 500 quân[5]
Liêm Châu: ít nhất 8.000 thổ binh[5]
Không rõ số lượng[4] quân Quế Châu, Tân Châu, Bạch Châu, Dung Châu và các nơi khác
Tổn thất
Hơn 20.000 quân 70.000 [6]-100.000 quân và dân thiệt mạng[7]
.

Chiến dịch đánh Tống 1075-1076 là tên gọi chiến dịch do tướng nhà LýLý Thường Kiệt phát động nhằm tấn công quân Tống ở 3 châu dọc theo biên giới Tống – Việt năm 10751076.

Mục lục

Hoàn cảnh lịch sử

Năm 1010, Lý Công Uẩn lập ra nhà Lý. Để củng cố khu vực biên giới phía bắc, nhà Lý dùng chính sách gả công chúa cho các thủ lĩnh miền núi để gắn chặt mối quan hệ với họ. Trải qua 3 triều vua Lý Thái Tổ, Lý Thái TôngLý Thánh Tông, nước Đại Việt phát triển ổn định, khá vững mạnh.

Ở phương bắc, nhà Tống từ khi thành lập (năm 960) đã phải khắc phục những hậu quả do thời chia cắt Ngũ đại Thập quốc để lại. Ngoài việc đánh dẹp các nước cát cứ, nhà Tống phải đối phó với nước Liêu của người Khiết Đan lớn mạnh ở phương bắc – quốc gia được vua nhà Hậu Tấn cắt cho 16 châu Yên Vân ở phía bắc từ năm 936 nên lãnh thổ bành trướng nhiều về phía Trung Quốc và thường nhân đó can thiệp vào trung nguyên. Đến thời Tống Thái Tông, dù dẹp hết các nước trong Thập quốc nhưng nguy cơ uy hiếp từ phía nhà Liêu vẫn luôn tiềm ẩn với nhà Tống.

Sang thời Tống Nhân Tông, nhà Tống lại bị thêm sự uy hiếp của nước Tây Hạ của người Đảng Hạng phía tây bắc mới nổi. Nhà Tống phải cống nộp nhiều của cải và bị mất nhiều phần lãnh thổ cho Liêu và Tây Hạ. Trong nước, triều Tống bị rối loạn bởi những cải cách của Vương An Thạch.

Chủ trương tiến đánh các nước phía nam Trung Quốc để giải tỏa các căng thẳng trở thành một chiến lược của nhà Tống.

Ý định nam tiến của Tống

Từ thời Lý Thái Tông, nhà Lý đã nhân cuộc đánh phá biên giới nhà Tống của thủ lĩnh người TàyNùng Trí Cao mà bành trướng ngầm lãnh thổ của mình bằng cách xúi biên dân người Việt lấn đất và sinh sự trong một thời gian khá dài[8].

Từ năm 1070, Vương An Thạch chú ý đến phương nam và muốn lập công ở ngoài biên, tâu lên vua Tống rằng:

“Giao Chỉ vừa đánh Chiêm Thành bị thất bại, quân không còn nổi một vạn, có thể lấy quân Ung Châu sang chiếm Giao Chỉ.”[9].

Năm 1073, vua Tống Thần Tông phái Thẩm Khởi làm Quảng Tây kinh lược sứ lo việc xuất quân. Thẩm Khởi đặt các doanh trại, sửa đường tiếp tế, phủ dụ 52 động thuộc Ung Châu sung công các thuyền chở muối để tập thủy chiến.

Thẩm Khởi sau đó làm trái ý vua Tống, bị điều đi nơi khác và Lưu Di thay chức. Lưu Di được lệnh tăng cường binh lực, tiếp tục điểm dân, tích lương, đóng chiến thuyền, luyện tập thủy binh và cấm người Đại Việt sang đất Tống buôn bán vì sợ bị do thám.

Đặc biệt, nhà Tống đã biến Ung Châu thành một căn cứ xuất phát để đánh Đại Việt và giao cho Tô Giám, một viên tướng dày dặn kinh nghiệm trong cuộc chiến chống Nùng Trí Cao trước đây chỉ huy căn cứ này.

Đại Việt ra tay trước

Năm 1072 vua Lý Thánh Tông qua đời, thái tử Càn Đức mới 7 tuổi lên thay, tức là vua Lý Nhân Tông. Thái phi Ỷ Lan làm nhiếp chính, được sự phò tá của các đại thần Lý Thường Kiệt, Lý Đạo Thành nên tình hình quốc gia vẫn khá ổn định.

Tuy Tống cố gắng giữ bí mật, nhưng tình báo của Đại Việt vẫn nắm được ý đồ của quân Tống. Đặc biệt, năm 1073, một tiến sỹ nhà Tống là Từ Bá Tường vì không được trọng dụng nên đã thông báo với nhà Lý. Bởi thế Đại Việt đã nắm được khá đầy đủ tình hình chuẩn bị chiến tranh của nhà Tống.

Lúc này số quân Tống đang tập hợp ở các căn cứ Ung, Khâm, Liêm khoảng 10 vạn đang luyện tập, song chưa thể đánh ngay được vì số quân này là quân Hoa Nam vừa mới tuyển. Nhà Tống sẽ rút 45 ngàn cấm binh thiện chiến ở phương bắc để lập đạo quân chủ lực, thì việc đó làm chưa xong.[10][11].

Trước tình hình đó, thái úy Đại Việt là Lý Thường Kiệt cho rằng:

Ngồi yên đợi giặc sao bằng đánh trước để bẻ gãy mũi nhọn của nó

Chủ trương thực hiện một chiến lược đánh đòn phủ đầu, Tiên phát chế nhân. Ông quyết định mở trận tiến công quy mô sang đất Tống[12][13].

Trận châu Khâm-châu Liêm

Vị trí Khâm Châu tại Quảng Tây

Vị trí Ung Châu (ngày nay là Nam Ninh) tại Quảng Tây

Đại Việt đã huy động 10 vạn quân sang đánh phá căn cứ châu Ung của Tống, bao gồm cả lực lượng chính quy của triều đình lẫn quân của các thủ lĩnh dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc.

Đạo quân của triều đình ở phía Đông do đích thân Lý Thường Kiệt chỉ huy, gồm cả thủy lục quân xuất phát từ vùng Móng Cái ngày nay tiến vào đất Tống nhằm tới châu Khâm.

Còn đạo quân của các thủ lĩnh dân tộc thiểu số ở phía Tây đặt dưới sự chỉ huy của Tông Đản chia làm 4 mũi tiến vào đất Tống: Lưu Kỷ từ Quảng Nguyên (Cao Bằng), Hoàng Kim Mãn từ Môn Châu (Đông Khê – Cao Bằng), Thân Cảnh Phúc từ Quang Lang (Lạng Sơn) và Vi Thủ An từ Tô Mậu (Quảng Ninh) và nhắm tới châu Ung[14]. Đạo quân phía Tây sẽ “dương Tây” để đạo quân phía Đông bất ngờ “kích Đông”.

Phòng ngự châu Ung gồm hai phần, tổng số có 5.000 quân[4]. Giữ biên thuỳ Đại Việt và đóng quân trong thành: 2.000 quân đóng ở thành Ung, 3.000 chia đóng ở 5 trại tiếp giáp biên giới Đại Việt: Hoành Sơn, Thái Bình, Vĩnh Bình, Cổ Vạn, Thiên Long[4]. Khâm Châu và Liêm Châu sát biển tiếp giáp Quảng Ninh và Lạng Sơn ngày nay, đặt viên Phòng biên tuần sứ cai quản đoàn quân Đằng Hải để hợp với quân của hai viên tuần kiểm, không quá 500 người, đóng ở hai trại: Như Tích giáp biên thuỳ châu Vĩnh Anh và Để Trạo ở cửa sông Khâm Châu.[5]

Ngày 27 tháng 10 năm 1075, Vi Thủ An dẫn 700 quân từ Tô Mậu vào đánh Cổ Vạn, chiếm được trại Cổ Vạn. Tin tức đến tận ngày 21 tháng 12 mới tới được triều đình nhà Tống. Tiếp theo, các mũi quân phía Tây lần lượt đánh chiếm trại Vĩnh Bình, Thái Bình, các châu Tây Bình, châu Lộc, trại Hoành Sơn[15][16].

Quân Tống bị thu hút vào phía Tây, nên lơ là phía Đông. Đã có người Khâm châu phát hiện và báo cho tướng giữ thành là Trần Vĩnh Thái nhưng Thái không tin. Khi có tin đạo quân phía Đông của Đại Việt đến tập kích, Thái vẫn thản nhiên bày tiệc uống rượu. Quân Tống đã không chống đỡ nổi. Ngày 30 tháng 12 năm 1075, châu Khâm bị chiếm, Trần Vĩnh Thái và các thủ hạ Văn Lương, Ngô Phúc, Tưởng Cẩn, Tống Đạo đều bị bắt và bị giết. Quân Lý không phải giao phong một trận nào, lấy hết của cải mang đi[15]. Người dân địa phương của Bắc Tống dù sau này thương Thái bị giết mà lập đền thờ nhưng vẫn chê cười Thái là người ngu muội; hễ thấy ai không thông tuệ thì gọi là Trần Thừa Chỉ (Thừa chỉ là hàm chức của Vĩnh Thái)[17].

Nghe tin Khâm châu thất thủ, quân Tống ở Liêm châu cố phòng bị nhưng không chống nổi. Ngày 2 tháng 1 năm 1076, châu Liêm thất thủ[15][16] Chúa các trại Như Tích và Để Trạo đều tử trận. Phía Tống bị bắt tới 8.000 tù binh dùng để đưa đồ vật cướp được xuống thuyền sau cũng đem giết hết. Quan trấn thủ châu Khâm là Lỗ Khánh Tôn và các thủ hạ Lương Sở, Chu Tông Thích, Ngô Tông Lập đều bị giết.

Sau đó, Lý Thường Kiệt dẫn quân đến châu Ung cùng đạo quân phía Tây quyết tâm hạ thành châu Ung.

Phát “Phạt Tống lộ bố văn”

Lý Thường Kiệt kéo quân tiến sâu vào nội địa. Phía Tống không còn quân cản đường quân Lý kéo đến thành Ung châu[18]. Nhưng Lý Thường Kiệt vẫn lo ngại dân Tống sẽ cản đường về của quân Lý, do đó nhằm phô trương danh nghĩa cuộc bắc phạt, Lý Thường Kiệt viết Phạt Tống lộ bố văn và sai yết ở dọc đường để kể tội nhà Tống.

Dân Tống thấy lời tuyên cáo đều vui mừng đồng tình, mang rượu thịt ra khao quân Lý. Từ đó mỗi khi dân Tống thấy cờ hiệu Lý Thường Kiệt từ xa đều nói đó là quân của cha họ Lý người nước Nam và cùng nhau bày án bái phục trên đường. Do đó uy danh quân Lý lan rất xa[18].

Trận Ung Châu

Quân Lý vây thành

Ngày 10 tháng 12, Tông Đản kéo đến Ung Châu. Cánh quân chiếm được Khâm Châu tiến lên Ung Châu. Cánh chiếm được Liêm Châu tiến sang miền Đông Bắc chiếm châu Bạch[19].

Nửa tháng sau Ty kinh lược Quảng Tây mới hay tin về cuộc tấn công này để thông báo về triều. Vua tôi nhà Tống hết sức bối rối. Rồi nhiều nơi khác bị mất lại được cáo cấp về, nhà Tống càng hoang mang, sau đó có lệnh của Tống Thần Tông cho Quảng Châu, Quảng Tây phải cố thủ ở các nơi hiểm yếu nhất, vận chuyển tiền, vải, lương thực để khỏi lọt vào tay quân Lý, cách chức Lưu Di, cử Thạch Giám thay coi Quế Châu và đưa viện binh tới các thị trấn đang bị uy hiếp.

Ngày 18 tháng 1 năm 1076, đạo quan của Lý Thường Kiệt cũng tới thành Ung. Mấy vạn quân của Lý Thường Kiệt, Lưu Kỷ và các tù trưởng khác vây thành Ung vài vòng kín như bưng. Tướng giữ thành là Tô Giám thấy thế quân Đại Việt mạnh nên đã áp dụng triệt để chính sách cố thủ để chờ viện quân, tính chỉ hai tuần lễ có thể đến nơi. Tô Giám ban đầu tin rằng Ung Châu cách Quế Châu chỉ có 14 ngày đường, nên viện binh thế nào cũng sẽ đến kịp cho nên đóng cửa thành cố thủ. Kiểm điểm binh lương, trong thành Ung lúc ấy chỉ có 2.800 quân. Dân thành Ung tất cả được gần 6 vạn người bấy giờ sợ hãi đạp nhau mà chạy. Ông đem hết công nhu (tiền công) phát hết cho dân khích lệ mọi người vững lòng, kiên trí. Kẻ nào bỏ trốn phải tội theo quân lệnh (Địch Tích là một bộ hạ dưới trướng của Tô Giám bị chém trong trường hợp này). Ông còn phao tin viện binh không còn xa thành là bao nhiêu.

Trước đó con Tô Giám là Tử Nguyên làm quan ở Quế Châu đem gia đình đến thăm cha, lúc sắp trở về thì thành Ung bị vây, Tô Giám lại bắt Tử Nguyên để vợ con ở lại chỉ được về Quế Châu một mình, vì sợ nếu để người nhà đi đông thì nhân dân cũng bỏ trốn hết.

Viện binh Quế Châu

Lúc này Lưu Di giữ Quế Châu nghe tin thành Ung bị nguy liền phái Trương Thủ Tiết đem quân đi cứu. Thủ Tiết nghe tin quân Lý đông và mạnh, không dám tiến thẳng đến Ung châu, đi vòng theo đường Quý Châu tới Tân Châu rồi hạ trại ở Khang Hòa nghe ngóng.

Ung Châu bị vây gấp quá, Tô Giám cho người mang lạp thư – thư viết vào giấy rồi bọc trong nến – mà ngậm vào miệng phá vòng vây ra báo cho Tống Cầu ở Quế Châu. Tống Cầu giục Trương Thủ Tiết đi gấp. Tiết bất đắc dĩ kéo quân đi, đến núi Hỏa Giáp[20] rồi ra giữ ải Côn Lôn giữa châu Tân và châu Ung, cách Ung 40 km.

Lý Thường Kiệt biết tin viện binh Tống đến, bèn cho quân đón đánh. Ngày 4 tháng Giêng âm lịch, tức ngày 11 tháng 2 năm 1076, quân Lý kéo thẳng đến ải Côn Lôn, quân Tống hốt hoảng bỏ chạy. Trương Thủ Tiết, Nguyên Dụ, Trương Biện, Hứa Dự, Vương Trấn là các chỉ huy của lực lượng viện binh nhà Tống đều bị giết tại trận. Nhiều quân sĩ Tống đầu hàng quân Lý[17].

Quân Lý hạ thành

Thành Ung châu vững chắc, chính Vương An Thạch tin rằng quân Lý sẽ không phá nổi.

Để công phá Ung Châu, mấy vạn quân Lý bắc thang mây để leo thành. Quân Tống dùng đuốc mà đốt nên không thể bắc gần được. Lý Thường Kiệt lại dùng tên độc mà bắn, người ngựa trên thành chết nằm gối lên nhau. Quân Tống dùng thần tư (một loại nỏ) ra bắn. Thành cao và chắc, quân Lý đánh phá hơn 40 ngày không hạ được. Có tù bình bên Tống hiến kế với Lý Thường Kiệt dùng phép thổ công, tức là chèo qua bao đất vào thành. Quân Đại Việt liền lấy túi cho đất vào, cứ thế đắp vào chân thành. Khi các bao đất cao lên, quân Lý theo đó mà leo lên mặt thành. Lý Thường Kiệt theo đó mà tiến đánh.

Ngày 1 tháng 3 năm 1076, sau 42 ngày kiên cường kháng cự[21], thành Ung thất thủ. Tô Giám cố gắng đốc thúc cùng bọn tàn quân chiến đấu đến phút cuối cùng. Khi đã kiệt sức ông cho 36 thân nhân tự sát rồi tự thiêu mà chết. Không tìm thấy Tô Giám, quân Đại Việt giết hết dân trong thành, tổng cộng hơn 50.000 người[21]. Trận này quân Lý bị thiệt hại 15.000 quân, cùng một số voi chiến[22].

Đại Việt rút quân

Lấy xong Ung châu, Lý Thường Kiệt kéo quân lên phía bắc, tỏ ý muốn đánh tiếp Tân châu. Tướng giữ Tân châu nhà Tống là Cổ Cắn Lặc nghe tin, sợ hãi bỏ thành chạy.

Lý Thường Kiệt ra lệnh tiêu hủy thành lũy, phá kho tàng dự trữ trong vùng Tả Giang và lấy đá lấp sông chặn đường cứu viện của quân Tống[23].

Liệu chừng đại quân Tống từ phương bắc sắp kéo xuống, nếu tiến gấp có thể qua vùng khê động đánh vào châu Quảng Nguyên của Đại Việt, mà quân Lý công phá thành Ung châu hơn 1 tháng đã mệt mỏi, Lý Thường Kiệt quyết định thu quân trở về Đại Việt để lo bố phòng.

Tháng 3 năm 1076, quân Lý rút khỏi Ung châu.

Kết quả và ý nghĩa

Nhà Tống chủ trương tập trung căn cứ hậu cần tại các cứ điểm phía nam để chuẩn bị đánh Đại Việt. Nhà Lý đánh phá các châu Liêm, Khâm và Ung, đốt hết các trại Vĩnh Bình, Thái Bình, Thiên Long, Cổ Vạn đã đạt được mục tiêu ra quân chặn thế mạnh của Tống.

Sau thất bại này, cả Tống Thần Tông và Vương An Thạch đều quy lỗi cho các tướng dưới quyền. Thẩm Khởi và Lưu Di bị truy xét tội trạng. Vương An Thạch viết trong Tư kỷ:

Vua sai Khởi kinh chế kín việc Giao Chỉ, các đại thần không hay. Phàm Khởi tâu xin gì, vua cũng nghe.

Nhưng Tống Thần Tông từ chối việc từng sai Thẩm Khởi chuẩn bị đánh Đại Việt, tự tay viết chiếu nói:

Trước Thẩm Khởi ở Quảng Tây nói dối là nhận được mật chỉ của triều đình bảo soạn đánh Giao Chỉ[24]

Cả Tống Thần TôngVương An Thạch đều hối tiếc vì không đánh Đại Việt sớm, ngay khi Lý Nhân Tông mới lên ngôi. Sau khi Ung châu thất thủ, phía nhà Tống thừa nhận không còn cơ hội “đánh úp Giao Chỉ” nhưng vẫn chuẩn bị kế hoạch phục thù.

Nhà nghiên cứu Hoàng Xuân Hãn cho rằng:

Tống tiếc rẻ không đánh Đại Việt trước, nhưng không biết rằng sở dĩ Tống bị đánh trước vì dự định đánh Đại Việt. Trong cuộc chiến này, phía Đại Việt nhờ có Lý Thường Kiệt chủ động đi bước trước nên đã giành thắng lợi hoàn toàn và tránh khỏi được thất bại về sau (trong toàn cuộc chiến với Tống)[25].

Xem thêm

Tham khảo

  • Đại Việt sử lược
  • Đại Việt sử ký toàn thư
  • Hoàng Xuân Hãn (1996), Lý Thường Kiệt, lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý, NXB Hà Nội
  • Phạm Văn Sơn, Việt Sử Toàn Thư – bản điện tử
  • Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2003), Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 3, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
  • Tống Sử
  • Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược – bản điện tử

 

Vườn quốc gia Yellowstone

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Vườn quốc gia Yellowstone

IUCN II (Vườn quốc gia)
Hẻm núi lớn của Yellowstone

Hẻm núi lớn của Yellowstone

Vị trí Vườn quốc gia Yellowstone

Vị trí Vườn quốc gia Yellowstone

Vị trí vườn quốc gia Yellowstone

Vị trí Wyoming, MontanaIdaho, USA
Tọa độ 44°36′0″B 110°30′0″TTọa độ: 44°36′0″B 110°30′0″T
Diện tích 2.219.799 mẫu Anh (8.983 km²)[1]
Thành lập 1 tháng 3 năm 1872
Lượng khách 2.835.649[2] (năm 2005)
Cơ quan quản lý Cục Công viên Quốc gia Hoa Kỳ

Vườn quốc gia Yellowstone là một vườn quốc gia Hoa Kỳ nằm ở các bang phía tây Wyoming, MontanaIdaho của Hoa Kỳ được thành lập ngày 01 tháng 3 năm 1872,[3][4]. Yellowstone là vườn quốc gia đầu tiên và xưa nhất thế giới, phần lớn ở góc phía đông của Wyoming. Yellowstone nổi tiếng với các loài động vật hoang dãcác điểm địa nhiệt, đặc biệt là mạch nước phun Old Faithful.[1] Ở đây có một số kiểu hệ sinh thái, như kiểu rừng cận núi cao là chủ yếu.

Người Mỹ bản địa đã sống ở vùng Yellowstone ít nhất là 11,000 năm. Khu vực này nằm trên đường đi trong cuộc thám hiểm của Lewis và Clark vào đầu thập niên 1800. Bên cạnh việc tham quan của mountain men trong nửa đầu thập niên 1800, các cuộc thám hiểm có tổ chức chỉ bắt đầu từ cuối thập niên 1860. Quân đội Hoa Kỳ đã được ủy nhiệm để giám sát khu này sau khi nó được thành lập. Năm 1917, quyền quản lý vườn quốc gia được giao cho National Park Service, một cơ quan được thành lập vài năm trước đó. Hàng trăm công trình đã được xây dựng và được bảo vệ về các yếu tố lịch sử và kiến trúc, và các nhà nghiên cứu đã kiểm tra, đánh giá hơn 1.000 điểm khảo cổ.

Vường quốc gia Yellowstone có diện tích 8.980 km², bao gồm các hồ, vực, sông và các dãi núi.[1] Hồ Yellowstone là một trong những hồ nằm ở độ cao lớn nhất Bắc Mỹ và năm ở trung tâm của lòng chảo Yellowstone, một siêu núi lửa lớn nhất trên lục địa. Lòng chảo là một núi lửa đang hoạt động; nó đã phun nhiều lần với sức mạnh rất lớn trong 2 triệu năm gần đây. Phân nửa các điểm địa nhiệt trên thế giới là nằm ở Yellowstone.[5] Các dòng dung nham và đá núi lửa phủ hầu hết các vùng đất của Yellowstone. Vườn quốc gia là vùng lõi của hệ sinh thái Greater Yellowstone, hệ sinh thái hầu như còn nguyên vẹn lớn nhất thuộc vùng ôn đới bắc Bán cầu.[6]

Hàng trăm loài động vật có vú, chim, cá và rùa đã được ghi nhận bao gồm một số loài có nguy cơ tuyệt chủng hoặc bị đe dọa tuyệt chủng.[1] Các mảng rừng và đồng cỏ lớn cũng có chỉ bao gồm các loài thực vật duy nhất. Có các loài gấu, sói xám, và các bầy bò rừng bizonnai sừng tấm sống khu vườn này. Các trận cháy rừng xảy ra trong công viên mỗi năm; trong trận cháy rừng năm 1988, gần một phần ba công viên bị đốt cháy. Yellowstone có nhiều điểm vui chơi giải trí như đi bộ đường dài, cắm trại, chèo thuyền, câu cá và ngắm cảnh. Các đường bê tông được xây dựng đến các khu vực địa nhiệt chính cũng như các hồ và thác. Vào mùa đông, du khách thường đến công viên theo các tour du lịch có người hướng dẫn sử dụng các xe trượt tuyết.

Mục lục

Địa lý

Hồ Yellowstone trong buổi sáng mùa xuân

Bản đồ Wyoming chỉ ra vườn quốc gia Yellowstone

Khoảng 96% diện tích đất dai của vườn quốc gia Yellowstone nằm trong tiểu bang Wyoming. Khoảng 3% thuộc lãnh thổ bang Montana và khoảng 1% còn lại thuộc bang Idaho. Vườn quốc gia này dài khoảng 102 km (63 dặm Anh) theo chiều bắc-nam và 87 km (54 dặm Anh) theo chiều đông-tây. Với diện tích 898.317 ha (2.219.789 mẫu Anh), Yellowstone lớn hơn cả cả hai bang là đảo RhodeDelaware cộng lại. Sông và hồ chiếm 5% diện tích đất, với khu vực chứa nước lớn nhất là hồ Yellowstone có diện tích 35.220 ha (87.040 mẫu Anh). Hồ Yellowstone sâu tới 122 m (400 ft) và có 177 km (110 dặm Anh) đường bờ hồ. Nằm ở cao độ 2.357 m (7.733 ft) trên mực nước biển, hồ Yellowstone là hồ nằm ở độ cao lớn nhất tại Bắc Mỹ. Rừng chiếm 80% diện tích đất đai của vườn, phần lớn diện tích còn lại là đồng cỏ[1]

Đường phân chia lục địa của Bắc Mỹ chạy chéo qua phần tây nam của vườn. Đường phân chia này là một đặc trưng địa hình chia tách các lưu vực chia nước của Thái Bình DươngĐại Tây Dương. Khoảng một phần ba vườn nằm ở phía tây của đường phân chia này. Nơi phát sinh của các sông Yellowstone và sông Snake là gần nhau nhưng trên hai mặt đối diện nhau của đường phân chia này. Kết quả là nước của sông Snake chảy tới Thái Bình Dương trong khi nước của sông Yellowstone lại chảy tới Đại Tây Dương thông qua vịnh Mexico.

Grand Canyon của Yellowstone. Lưu ý tới màu vàng của đá, mà từ đó có tên gọi của vườn quốc gia này

Vườn nằm trên cao nguyên Yellowstone, với độ cao trung bình là 2.400 m (8.000 ft) trên mực nước biển. Cao nguyên này có ranh giới ở gần như mọi mặt là các dãy núi của dãy núi Trung Rocky, với độ cao từ 2.743 tới 3.352 m (9.000-11.000 ft). Điểm cao nhất trong vườn là đỉnh Eagle cao 3.462 m (11.358 ft) và điểm thấp nhất là dọc theo lạch Reese (1.610 m hay 5.282 ft)[1]. Các dãy núi cận kề như dãy núi Gallatin ở phía tây bắc, dãy núi Beartooth ở phía bắc, dãy núi Absaroka ở phía đông và dãy núi Teton cùng dãy núi Madison ở phía tây nam và tây. Đỉnh núi nổi bật nhất trên cao nguyên Yellowstone là đỉnh Washburn cao 3.122 m (10.243 ft).

Vườn quốc gia Yellowstone có một trong những rừng hóa đá lớn nhất trên thế giới, với các cây gỗ bị vùi lấp từ rất lâu bơit tro bụi và đất, bị chuyển hóa từ gỗ thành các vật liệu khoáng hóa. Tại đây có 290 thác nước cao ít nhất 4,5 m (15 ft), với thác nước cao nhất là thác hạ lưu sông Yellowstone cao 94 m (308 ft)[1].

Hai hẻm núi sâu nằm trong vườn quốc gia, cắt ngang qua đá túp núi lửa của cao nguyên Yellowstone bằng các con sông ít nhất là trên 640.000 năm. Sông Lewis chảy qua hẻm núi Lewis ở phía nam còn sông Yellowstone chảy qua Grand Canyon của Yellowstone trong hành trình của nó ở phía bắc.

Địa chất

Bazan cột gần thác Tower; các trận ngập lụt lớn của bazan và các kiểu dung nham khác diễn ra trước sự phun trào khổng lồ của tro và đá bọt siêu nóng

Yellowstone là nơi kết thúc phía đông bắc của bình nguyên sông Snake, một vòng cung lớn hình chữ U qua các dãy núi trải rộng từ Boise, Idaho khoảng 640 km (400 dặm Anh) về phía tây. Đặc trưng này đi theo hành trình của mảng Bắc Mỹ trong suốt 17 triệu năm gần đây do nó bị chuyển vận bởi kiến tạo địa tầng ngang qua điểm nóng lớp phủ tĩnh. Cảnh quan của Vườn quốc gia Yellowstone ngày nay là biểu lộ gần đây nhất của điểm nóng này phía dưới lớp vỏ Trái Đất[7].

Các thềm cao của suối nước nóng Mammoth

Hõm chảo Yellowstone là hệ thống núi lửa lớn nhất tại Bắc Mỹ. Nó được gọi là “siêu núi lửa” do hõm chảo được hình thành từ các vụ phun trào nổ cực lớn. Hõm chảo hiện tại được tạo ra từ vụ phun trào biến cố địa chất diễn ra khoảng 640.000 năm trước, trong đó giải phóng 1.000 km³ (240 dặm khối Anh) tro, đá và các vật liệu đá mảnh nhiệt. Vụ phun trào này mãnh liệt hơn phun trào núi St. Helens 1980 tới 1.000 lần[8]. Nó tạo ra một miệng núi lửa sâu tới 1 km (0,62 dặm Anh) và kích thước 85 x 45 km (52 x 28 dặm Anh) và ngưng đọng thành Lava Creek Tuff, một thành hệ địa chất đá túp cố kết. Vụ phun trào mãnh liệt nhất đã biết, diễn ra khoảng 2,1 triệu năm trước, phun ra 2.450 km³ (588 dặm khối Anh) vật liệu tro núi lửa và tạo thành thành hệ đá gọi là Huckleberry Ridge Tuff và tạo ra hõm chảo Island Park[9]. Vụ phun trào nhỏ hơn phóng ra 280 km³ (67 dặm khối Anh) vật liệu khoảng 1,2 triệu năm trước, tạo thành hõm chảo Fork Henry và ngưng đọng thành Mesa Falls Tuff[8].

Đường đi bộ bằng gỗ cho phép du khách tới gần suối nước nóng Grand Prismatic.

Cả ba vụ phun trào cao đỉnh này đã giải phóng một lượng lớn tro và che phủ phần lớn miền trung Bắc Mỹ, với tro bụi rơi xuống cách xa đó hàng trăm dặm. Lượng tro bụi và khí giải phóng vào khí quyển có lẽ đã gây ra những tác động đáng kể tới các kiểu mẫu thời tiết thế giới và dẫn tới sự tuyệt chủng của nhiều loài, chủ yếu tại Bắc Mỹ[10].

Vụ phun trào cao đỉnh nhỏ hơn sau đó diễn ra khoảng 160.000 năm trước. Nó tạo thành một hõm chảo tương đối nhỏ, chứa West Thumb của hồ Yellowstone. Muộn hơn, hai chu kỳ phun trào nhỏ hơn, với vụ cuối cùng diễn ra khoảng 70.000 năm trước đã vùi lấp phần lớn hõm chảo dưới lớp dung nham dày[9].

Mỗi vụ phun trào trên thực tế là một phần của chu kỳ phun trào có cao đỉnh với sự sụp đổ của mái của khoang macma bị rút cạn một phần. Nó tạo ra miệng núi lửa, gọi là hõm chảo và giải phóng một lượng rất lớn vật liệu núi lửa, thường là thông qua những khe nứt bao quanh hõm chảo. THời gian giữa ba vụ phun trào biến cố địa chất gần đây nhất trong khu vực Yellowstone dao động trong khoảng 600.000 tới 900.000 năm, nhưng số lượng nhỏ như vậy của các vụ phun trào cao đỉnh không thể sử dụng để dự đoán các sự kiện núi lửa trong tương lai[11].

Các tia nắng hoàng hôn trong hơi nước tại Tổ hợp suối nước nóng Mammoth

Khoảng 630.000 tới 700.000 năm trước, hõm chảo Yellowstone đã gần như được nhồi đầy với các vụ phun trào có chu kỳ của các dung nham rhyolit như có thể thấy tại Obsidian Cliff, và các dung nham bazan như có thể thấy tại Sheepeater Cliff. Các địa tầng dung nham dễ dàng nhìn thấy nhất tại hẻm núi lớn (Grand Canyon) của Yellowstone, nơi sông Yellowstone vẫn đang tiếp tục đục vào trong các lớp dung nham cổ đại. Hẻm núi này là thung lũng chữ V kinh điển, chỉ ra rằng ở đây có sự xói mòn kiểu sông chứ không phải sự xói mòn kiểu sông băng.

Mạch nước phun nổi tiếng nhẩt trong vườn, và có lẽ của thế giới, là mạch nước phun Old Faithful, nằm tại Bồn địa Upper Geyser. Mạch nước phun Castle, mạch nước phun Lionmạch nước phun Beehive nằm trong cùng một bồn địa. Vườn quốc gia chứa mạch nước phun hoạt động lớn nhất thế giới—Mạch nước phun Steamboat tại bồn địa Norris Geyser. Có khoảng 300 mạch nước phun tại Yellowstone và tổng cộng ít nhất 10.000 điểm đặc trưng địa nhiệt. Một nửa điểm đặc trưng địa nhiệt và hai phần ba mạch nước phun của thế giới tập trung tại Yellowstone[12].

Tháng 5 năm 2001, Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ, Vườn quốc gia Yellowstone và Đại học Utah đã lập ra Đài quan sát núi lửa Yellowstone (YVO), một cơ quan để giám sát dài hạn các tiến trình địa chất của dải núi lửa trên cao nguyên Yellowstone, để phổ biến các thông tin liên quan tới các nguy hiểm rủi ro tiềm năng của khu vực có hoạt động địa chất mạnh này[13].

Mạch nước phun Old Faithful phun trào nước nóng khoảng sau mỗi 91 phút.

Năm 2003, các thay đổi trong bồn địa Norris Geyser đã làm người ta phải tạm thời đóng cửa một vài đường đi trong bồn địa. Các lỗ phun khí mới được ghi nhận và một vài mạch nước phun thể hiện sự gia tăng trong hoạt động với nhiệt độ nước tăng cao. Một vài mạch nước phun trở nên quá nóng đến mức chúng chuyển thành dạng chỉ phun hơi nước nóng do nước bị quá nhiệt và chúng không thể phun trào bình thường được nữa[14]. Điều này trùng khớp với báo cáo của dự án nghiên cứu lâu năm của Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ, trong đó người ta lập bản đồ đáy hồ Yellowstone và nhận dạng mái vòm cấu trúc đã bị đội lên trong quá khứ. Nghiên cứu chỉ ra rằng những phần đội lên này không gây ra mối đe dọa ngay lập tức về phun trào núi lửa, do chúng có thể đã phát triển rất lâu từ trước đó và không thấy có sự gia tăng nhiệt độ gần với các chỗ đội lên[15]. Ngày 10-3-2004, một nhà sinh học phát hiện 5 con bò rừng bizon bị chết dường như do bị hít phải khí địa nhiệt độc hại bị sót lại trong bồn địa Norris Geyser bởi sự đảo ngược khí quyển theo mùa. Nó gần trùng khớp với sự bột phát hoạt động địa chấn trong tháng 4 năm 2004[16]. Năm 2006, người ta thông báo rằng các khu vực mái vòm hồ Mallard và mái vòm lạch Sour— những khu vực người ta đã biết từ lâu là có các thay đổi đáng kể trong chuyển động trong lòng đất của chúng— đã trồi lên với tốc độ khoảng 4 tới 6 cm (1,5 tới 2,4 inch) mỗi năm từ giữa năm 2004 cho tới năm 2006[17]. Vào cuối năm 2007, sự trồi lên này vẫn tiếp tục với tốc độ đã giảm[18]. Các sự kiện này đã gây sự chú ý lớn từ các phương tiện thông tin đại chúng cũng như những đồn đoán về tương lai địa chất của khu vực. Các chuyên gia đã bác bỏ những đồn đoán bằng cách thông báo rằng không có rủi ro tăng cao về phun trào núi lửa trong tương lai gần[19].

Phun trào của mạch nước phun Castle

Phun trào của mạch nước phun Castle năm 1874

Yellowstone trải qua hàng nghìn trận động đất nhỏ mỗi năm, dường như tất cả đều khó ghi nhận đối với con người. Tại đây có ít nhất 6 trận động đất với cường độ lớn hơn 6 hay lớn hơn trong quá khứ, bao gồm cả trận động đất cường độ 7,3-7,5 diễn ra với chấn tâm ngay bên ngoài ranh giới phía tây bắc vườn quốc gia vào ngày 17 tháng 8 năm 1959. Trận động đất này đã gây ra một trận lở đất lớn, gây ra sự sập đổ ngăn chặn một phần hồ Hebgen ngay phía dưới dòng chảy của đập Hebgen, trầm tích từ vụ lở đất đã chặn sông Madison và tạo ra một hồ mới phía trên đập, gọi là hồ Earthquake. Hai mưới tám người đã chết và các tổn thất về tài sản trong khu vực cận kề là rất lớn. Trận động đất đã làm cho một số mạch nước phun ở phía tây bắc vườn quốc gia phải phun trào, các vết nứt lớn trong lòng đất được hình thành và thoát hơi nước nóng, còn một số suối nước nóng thông thường có nước trong đã trở thành vẩn đục[20]. Một trận động đất cường độ 6,1 đã xảy ra trong vườn quốc gia vào ngày 3 tháng 6 năm 1975, nhưng tổn thất là không đáng kể. Trong ba tháng của năm 1985, khoảng 3.000 trận động đất nhỏ đã được máy móc ghi nhận tại phía tây bắc vườn quốc gia, làm hõm chảo Yellowstone lún xuống một chút[8]. Bắt đầu từ ngày 30 tháng 4 năm 2007, khoảng 16 trận động đất nhỏ có cường độ lên tới 2,7 đã diễn ra tại hõm chảo Yellowstone trong vài ngày. Những tập hợp nhiều trận động đất như vậy là phổ biến và từng có 70 tập hợp động đất như thế trong giai đoạn từ năm 1983 tới năm 2008[21]. Tháng 12 năm 2008, trên 250 trận động đất được ghi nhận trong vòng 4 ngày phía dưới hồ Yellowstone, trận mạnh nhất có cường độ 3,9[22]. Hoạt động địa chấn trong vườn quốc gia Yellowstone là liên tục và được Chương trình nguy hiểm động đất của Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ ghi nhận, báo cáo mỗi giờ[23].

Sinh học và sinh thái

Linh dương sừng tỏa là động vật sinh sống phổ biến trong các đồng cỏ của vườn quốc gia.

Vườn quốc gia Yellowstone là trung tâm của 8.093.712 ha đất đai thuộc Hệ sinh thái Đại Yellowstone, một khu vực bao gồm cả Vườn quốc gia Grand Teton, rừng quốc gia Hoa Kỳ cận kề và các khu vực hoang vu rộng lớn trong các khu rừng này. Hệ sinh thái này là dải kéo dài liên tcj còn sót lại lớn nhất của vùng đất cổ xưa chưa phát triển tại Hoa Kỳ ngoài Alaska và được coi là hệ sinh thái còn nguyên vẹn lớn nhất thế giới tại khu vực ôn đới Bắc bán cầu[6] (mặc dù khu vực này chủ yếu không phải là ôn đới mà là cận núi cao và toàn bộ vùng đất thuộc rừng quốc gia Hoa Kỳ bao quanh vườn quốc gia này không còn nguyên vẹn). Với sự thành công của chương trình tái du nhập chó sói bắt đầu từ thập niên 1990, dường như mọi loài động vật từng sinh sống trong khu vực này khi người da trắng lần đầu tiên đặt chân tới đây đều có thể lại được tìm thấy.

Quần thực vật

1.700 loài cây gỗ và các dạng thực vật có mạch khác là bản địa của vườn quốc gia. Khoảng 170 loài khác là loài xâm lấn không bản địa. Trong số 8 loài cây lá kim đã lập hồ sơ, các rừng thông Lodgepole che phủ 80% tổng số diện tích rừng[1]. Các loài cây lá kim khác, như linh sam cận núi cao, vân sam Engelmann, linh sam Douglas núi Rockythông vỏ trắng, được tìm thấy như là các lùm cay thưa thớt trong suốt cả vườn quốc gia. Vào năm 2007, thông vỏ trắng bị nấm gỉ sắt thông vỏ trắng đe dọa; tuy nhiên, nó chủ yếu diễn ra tại các khu rừng phía bắc và tây. Tại Yellowstone, khoảng 7% thông vỏ trắng bị nấm này gây hại, trong khi tại tây bắc Montana thì gần như toàn bộ thông vỏ trắng đều bị nấm gây hại[24]. Dương rungliễu là các loài cây lá sớm rụng phổ biến nhất tại đây. Các rừng dương rung đã suy giảm đáng kể từ đầu thế kỷ 20, nhưng các nhà khoa học tại Đại học bang Oregon đã góp phần vào việc phục hồi dương rung bằng cách đưa chó sói trở lại đây để làm thay đổi thói quen gặm lá của nai sừng tấm bản địa[25].

Tại đây có vài chục loài thực vật có hoa đã được nhận dạng, phần lớn ra hoa trong khoảng tháng 5 tới tháng 9[26]. Cỏ roi ngựa cát Yellowstone là loài hiếm chỉ tìm thấy tại Yellowstone. Nó có quan hệ họ hàng gần với các loài sinh sống trong khu vực có khí hậu nóng hơn, làm cho nó trở thành kỳ dị tại đây. Khoảng 8.000 cụm loài hoa hiếm này sống tren các vùng đất cát ven bờ hồ Yellowstone, ngay phía trên mực nước[27].

Quần động vật

Bò rừng bizon gặm cỏ gần suối nước nóng

Tại Yellowstone có khoảng 60 loài động vật có vú, bao gồm cả loài nguy cấpsói xám, các loài bị đe dọa như linh miêugấu xám Bắc Mỹ[1]. Các loài thú lớn khác còn có bò rừng bizon, gấu đen, nai sừng tấm, nai anxet, hươu đuôi đen, dê núi, linh dương sừng tỏa, cừu sừng tobáo sư tử.

Bắt đầu từ năm 1914, trong cố gắng nhằm bảo vệ quần thể nai sừng tấm, Quốc hội Hoa Kỳ đã cho lập quỹ để sử dụng vào mục đích “tiêu diệt chó sói, chó đồng cỏ và các động vật khác gây tổn hại cho nông nghiệp và gia súc” trên các vùng đất công. Các thợ săn của Vườn quốc gia đã thực hiện nhiệm vụ này và vào năm 1926 họ đã bắn giết 136 chó sói và dường như chó sói đã biến mất khỏi Yellowstone[28]. Sự tiêu diệt còn tiếp diễn tới năm 1935 khi Cục Vườn quốc gia chấm dứt hoạt động này. Với sự thông qua của Luật về loài nguy cấp năm 1973 thì chó sói là một trong số những loài động vật có vú được liệt kê đầu tiên[28]. Sau khi chó sói bị tiêu diệt khỏi Yellowstone thì chó sói đồng cỏ trở thành động vật ăn thịt hàng đầu. Tuy nhiên, do nó không thể hạ được những con thú lớn nên quần thú lớn trở nên què quặt và bệnh hoạn.

Sói xám du nhập tại Vườn quốc gia Yellowstone

Vào thập niên 1990, Chính phủ liên bang đã thay đổi quan điểm về sói. Trong một quyết định gây mâu thuẫn của Cục Cá và Động vật hoang dã Hoa Kỳ, 66 con sói thung lũng Mackenzie, được nhập khẩu từ Canada, đã được du nhập vào vườn quốc gia này. Các cố gắng tái du nhập đã thành công với quần thể tương đối ổn định. Một khảo sát tiến hành năm 2005 thông báo họ phát hiện 13 bầy sói, tổng cộng 118 con tại Yellowstone và 326 trong toàn bộ hệ sinh thái.

Một vấn đề nhức nhối khác là có rất nhiều du khách đi tham quan trong vườn quốc gia Yellowstone đã bị gấu xám Bắc Mỹ tấn công. Nạn nhân bị gấu tấn công thường là khách đi bộ đường dài và gặp phải chúng trên đường. Đã có rất nhiều người bị gấu tấn công đến tử vong. Do gấu xám ở đây rất hung dữ nên vì thế vườn quốc gia phải nghiêm cấm du khách không được tiếp cận gấu, không được cho gấu ăn, khi đi bộ đường dài không được đi một mình, khi gặp gấu không được bỏ chạy và phải mang bình xịt gấu khi đi bộ trong rừng.

Ghi chú

  1. ^ a ă â b c d đ e ê “Yellowstone Fact Sheet”. National Park Service. 10 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2007.
  2. ^ “Historical Annual Visitation Statistics”. Yellowstone National Park. U.S. Department of the Interior. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2006.
  3. ^ “Yellowstone, the First National Park”. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2010.
  4. ^ U.S. Statutes at Large, Vol. 17, Chap. 24, tr. 32-33. “An Act to set apart a certain Tract of Land lying near the Head-waters of the Yellowstone River as a public Park.” From The Evolution of the Conservation Movement, 1850-1920 collection. Library of Congress
  5. ^ “Geothermal Features and How They Work”. National Park Service. 17 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2007.
  6. ^ a ă Schullery, Paul. “The Greater Yellowstone Ecosystem”. Our Living Resources. U.S. Geological Survey. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2007.
  7. ^ “The Snake River Plain”. Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ. 12 tháng 3 năm 2001. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2007. Đã bỏ qua tham số không rõ |abbr= (trợ giúp)
  8. ^ a ă â “Tracking Changes in Yellowstone’s Restless Volcanic System”. Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ. 19 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2007.
  9. ^ a ă “Volcanic History of the Yellowstone Plateau Volcanic Field”. Đài quan sát núi lửa Yellowstone. Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ. 2 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2007.
  10. ^ Bindeman, Ilya N. (tháng 6 năm 2006). “The Secrets of Supervolcanoes”. Scientific American. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2007.
  11. ^ “Questions About Future Volcanic Activity”. Đài quan sát núi lửa Yellowstone. Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ. 2 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2007.
  12. ^ “Yellowstone National Park”. World Heritage Sites. Trung tâm Di sản thế giới của UNESCO. 23 tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2007.
  13. ^ “Information about the Yellowstone Volcano Observatory”. Đài quan sát núi lửa Yellowstone. Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ. 2 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2007.
  14. ^ “Notable Changes in Thermal Activity at Norris Geyser Basin Provide Opportunity to Study Hydrothermal System”. Đài quan sát núi lửa Yellowstone. Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ. 16 tháng 3 năm 2005. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2007.
  15. ^ “Frequently asked questions about recent findings at Yellowstone Lake”. Đài quan sát núi lửa Yellowstone. Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2007.
  16. ^ “Archive of Stories About the Yellowstone Volcanic System”. Đài quan sát núi lửa Yellowstone. Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ. 2 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2007.
  17. ^ Stark, Mike (15 tháng 12 năm 2006). “Yellowstone domes rising at ‘really pronounced’ pace”. Billings Gazette. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2007.
  18. ^ Smith, Robert B.; Wu-Lung Chang, Lee Siegel (8 tháng 11 năm 2007). “Yellowstone rising: Volcano inflating with molten rock at record rate”. Thông cáo báo chí, Ban quan hệ công chúng của Đại học Utah (EurekAlert! (American Association for the Advancement of Science)). Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2007.
  19. ^ Lowenstern, Jake (tháng 6 năm 2005). “Truth, fiction and everything in between at Yellowstone”. Geotimes (Viện Địa chất Hoa Kỳ). Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2007.
  20. ^ “Largest Earthquake in Montana”. Historic Earthquakes. Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ. 24 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2007.
  21. ^ “More Than A Dozen Earthquakes Shake Yellowstone”. KUTV News. 6 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2007.
  22. ^ “Archive of Yellowstone Updates for 2008”. Đài quan sát núi lửa Yellostone. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2008.
  23. ^ USGS: Latest Earthquakes – US Yellowstone Region
  24. ^ Kendall, Katherine. “Whitebark Pine”. Our Living Resources. Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2007.
  25. ^ “Presence Of Wolves Allows Aspen Recovery In Yellowstone”. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2007.
  26. ^ “Where Are the Bloomin’ Wildflowers?” (PDF). Cục Vườn quốc gia Hoa Kỳ. Tháng 2 năm 2004. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2007.
  27. ^ “Yellowstone Sand Verbena”. Nature and Science. Cục Vườn quốc gia Hoa Kỳ. 20 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2007.
  28. ^ a ă “Defenders of Wildlife”. A Yellowstone Chronology. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2007.
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s