Chào ngày mới 26 tháng 1


Sankt Petersburg Auferstehungskirche 2005 a.jpg

CNM365. Chào ngày mới 26 tháng 1. Wikipedia Ngày này năm xưa. Năm 1924 – Năm ngày sau khi Lenin qua đời, Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô quyết định đổi tên thành phố Petrograd thành Leningrad, nay là Sankt-Peterburg thành phố lớn thứ nhì của Nga. Năm 1790 – Vở Opera Così fan tutte của Wolfgang Mozart được trình diễn lần đầu tiên tại kịch viện Burg tại Wien, Áo. Năm 1905Viên kim cương thô lớn nhất thế giới cho đến nay được tìm thấy gần thành phố Pretoria tại Nam Phi.

26 tháng 1

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày 26 tháng 1 là thứ 39 vào năm nào theo lịch Gregory. Còn 339 ngày lại (40 ngày trong năm nhuận).

« Tháng 1 năm 2015 »
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30 31

Mục lục

Sự kiện

Sinh

Mất

Tháng 1 | Tháng 2 | Tháng 3 | Tháng 4 | Tháng 5 | Tháng 6 | Tháng 7 | Tháng 8 | Tháng 9 | Tháng 10 | Tháng 11 | Tháng 12

Tham khảo

Sankt-Peterburg

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Leningrad)
Sankt-Peterburg
Санкт-Петербург (tiếng Nga)
—  Thành phố liên bang  —

Chiều kim đồng hồ từ phía trên bên trái: Nhà thờ Saint Isaac, Peter và Pháo đài Paul trên đảo Zayachy, Quảng trường Cung điện với cột trụ Alexander, Cung điện Mùa đông, Cung điện Petergof và Nevsky Prospekt.


Cờ

Phù hiệu
Tọa độ: 59°57′B 30°18′ĐTọa độ: 59°57′B 30°18′Đ
Địa vị chính trị
Quốc gia Liên bang Nga
Vùng liên bang Tây bắc[1]
Vùng kinh tế Tây Bắc[2]
Thành lập 27 tháng 5, 1703[3]
Thành phố liên bang Ngày lễ 27 tháng 5[4]
Chính quyền (tại thời điểm tháng 3 năm 2010)
 – Thống đốc Georgy Poltavchenko
 – Cơ quan lập pháp Cơ quan lập pháp
Thống kê
Diện tích [5]
 – Tổng cộng 1.439 km2 (555,6 sq mi)
Thứ tự toàn Nga 82nd
Dân số (điều tra 2010)
 – Tổng cộng 4.879.566
 – Hạng 4th
 – Mật độ[6] 3.390,94 /km2 (8.782,5 /sq mi)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
 – Đô thị 100%
 – Nông thôn 0%
Dân số (2013 est.) 5.028.000 người[7]
Múi giờ
ISO 3166-2 RU-SPE
Biển số xe 78, 98, 178
Ngôn ngữ chính thức tiếng Nga[8]

Sankt-Peterburg (tiếng Nga: Санкт-Петербург; đọc là Xanh Pê-téc-bua, tức là “Thành phố Thánh Phêrô“) là một thành phố liên bang của Nga. Đây là thành phố lớn thứ nhì ở Nga và cũng là cố đô của Đế quốc Nga. Sankt-Peterburg nằm trên một loạt đảo nhỏ trong châu thổ sông Neva; con sông này thông với Vịnh Phần Lan, tạo vị thế hải cảng cho Sankt-Peterburg.

Trong khoảng thời gian từ năm 1924 đến 1991 dưới chính thể Liên Xô, Sankt-Peterburg mang tên Leningrad (tiếng Nga: Ленинград).

Với diện tích trên 670 km², Sankt-Peterburg có dân số 4,7 triệu người (thống kê 2005). Nếu tính cả vùng phụ cận bao gồm 1.439 km² thì Sankt-Peterburg có 5 triệu 550 ngàn dân.

Trải qua nhiều thế kỷ địa danh Sankt-Peterburg đã đổi tên nhiều lần. Nguyên thủy là Sankt-Peterburg. Khi Đệ nhất thế chiến nổ ra vào năm 1914 và Nga bị Đế quốc Đức xâm lăng thì thành phố cải danh là Petrograd để tránh nguyên danh gốc tiếng Đức. Mười năm sau thì chính quyền mới lại loại bỏ tên Petrograd mà đặt là Leningrad, tưởng niệm cố lãnh tụ Liên Xô, Vladimir Ilyich Lenin. Sau khi Liên Xô sụp đổ, địa danh ban đầu Sankt-Peterburg được dùng lại sau cuộc trưng cầu dân ý.

Đối với người Việt vào đầu thế kỷ 20 thì Sankt-Peterburg được phiên âm là Thành Bỉ Đắc như trong bài “Á Tế Á ca” của Phan Bội Châu.

Mục lục

Lịch sử thành phố

Vấn đề danh dự của Sa hoàng Nga từ các triều đại Romanov là phải tạo đường thủy liên kết với Biển Baltic. Trong vòng hơn 100 năm liên tiếp mà tất cả các đời Sa hoàng đều không đạt được mục tiêu như ý muốn. Phải đến thời Pyotr Đại Đế (Pyotr I) người Nga mới tới được biển Baltic. Nhờ có cuộc chiến tranh phương Bắc, chống lại Thụy Điển trong những năm 17011721 và nhờ chiến thắng trong trận Poltava vào năm 1710, cũng như những thỏa ước hòa bình có lợi tại Nystad, Sa hoàng Pyotr I đã có thể khai thác các miền ven biển.

Giấc mơ lớn nhất của Sa hoàng là xây dựng một thành phố thật qui củ để qua đó chứng tỏ sự hùng hậu của nước Nga. Dự án của công trình này được bắt đầu ngay từ năm 1703 trên Hòn đảo con thỏ giành được từ tay người Thụy Điển (người Viking). Công trình được xây dựng đầu tiên trên đảo là pháo đài SanktPiterburh, ngày nay gọi là Pháo đài Petro-Pavlov, thực hiện theo lệnh của Sa hoàng ngày 16 tháng 5, năm 1703 (là ngày 27 tháng 5 tính theo lịch Gregory). Ngày này được công nhận là “ngày khai sinh” của thành phố. Trên phiến đá kỉ niệm dịp này người ta đã khắc dòng chữ như sau: “Ngày 16 tháng 5, năm 1703, thành phố Sankt-Peterburg đã được Sa hoàng và Hoàng tử Aleksei Petrovich xếp đặt”.

Vào năm 1917, thành phố được đổi tên thành Petrograd. Lúc này, triều đại Sa hoàng cuối cùng, Nikolai II, là triều đại rối ren. Chiến tranh với Nhật Bản không được ủng hộ. Chính sự thất bại đã châm ngòi cho những cuộc biểu tình phản đối trên đất nước. Ngày chủ nhật 22/1/1905, quân đội đã nã súng vào đoàn người biểu tình trước Cung điện Mùa đông ở Sankt Peterburg. Khoảng 1000 người biểu tình đã thiệt mạng. Trong đó có cả phụ nữ và trẻ em đã chết. Sự kiện Ngày Chủ nhật đẫm máu đã bị nhân dân toàn thế giới lên án. Các cuộc nổi dậy của nông dân, bãi công, biểu tình, ám sát và binh biến diễn ra liên tiếp, cho đến khi Sa hoàng Nikolai miễn cưỡng chấp nhận yêu sách của những người phản đối. Tháng 10 năm 1905, Sa hoàng Nikolai đã ký một văn kiện hứa đảm bảo quyền tự do ngôn luận và thành lập một hạ viện thông qua bầu cử – viện Duma.

Tình hình vẫn không giảm sau năm 1916, giá thức ăn tăng gấp 4 lần. Đoàn người chờ bánh mì trước Cung điện Mùa đông bắt đầu gây náo loạn. Trong khi đó, quân lính không theo lệnh vua, đứng ra lãnh đạo đoàn người biểu tình. Dân chúng luôn yêu cầu Sa hoàng phải thoái vị. Sau sự kiện Ngày Chủ nhật đẫm máu, không một quốc gia châu Âu nào đồng ý tiếp nhận vị Sa hoàng bị trục xuất này.

Cách mạng tháng Hai đã lật đổ Sa hoàng và chế độ phong kiến, lập nên thể chế dân chủ (tư sản), Chính phủ lâm thời thành lập do Kerensky đứng đầu. Nhưng những người Bolshevik đứng đầu là Vladimir Ilyich Lenin và Lev Trotsky tiếp tục đấu tranh, tổ chức những cuộc nổi dậy lan rộng trên đất nước. Đến ngày 7/11/1917 (theo lịch Julius là tháng 10), cuộc Cách mạng tháng Mười Nga đã thành công, lật đổ Chính phủ Lâm thời và lập ra nhà nước công nông đầu tiên.

Tháng 9 năm 1941, quân Đức bao vây Leningrad (Sankt Peterburg ngày nay). Cuộc chiến kéo dài 872 ngày. Gần một triệu người đã chết vì bom đạn, đói khát và bệnh tật. Khi quân Đức tiến vào thành phố, nhiều người đã trốn thoát. Tuy nhiên gần ba triệu người đã bị bắt.

Không có chất đốt để sưởi ấm và nước để uống, thức ăn không đủ. Trong tình trạng thiếu thốn đó, thịt của động vật nuôi, chuột và chim được sử dụng để nuôi con người. Chỉ tính riêng trong tháng Giêng và tháng Hai, đã có tới 200 nghìn người phải bỏ mạng. Cuối cùng, cuộc phong toả chấm dứt vào ngày 27/1/1944.

Trải qua các thời kỳ Lenin, Stalin, cuối cùng, Liên Xô tan rã thành 15 nước khác nhau. Tên thành phố từ Leningrad đổi thành cái tên ban đầu, là Sankt Peterburg. Nền kinh tế bắt đầu khôi phục lại. Tự do ngôn luận đã tạo một môi trường sôi động cho đời sống xã hội. Các hoạt động tôn giáo và nghệ thuật được phát triển. Du lịch trở thành nền kinh tế chính của thành phố. Các điểm đến du lịch hấp dẫn, như Cung điện mùa đông, Cung điện mùa hè…đẹp tuyệt vời sáng chói giữa phương Bắc lạnh giá của Nga khiến cho thành phố này như một Venice của phương Bắc.

Địa lý

Trung tâm thành phố Saint Petersburg có diện tích 605,8 kilômét vuông (233,9 sq mi). Nếu tính là chủ thể liên bang thì diện tich của thành phố là 1.439 kilômét vuông (556 sq mi), bao gồm trung tâm Saint Petersburg, 9 thị trấn (Kolpino, Krasnoye Selo, Kronstadt, Lomonosov, Pavlovsk, Petergof, Pushkin, Sestroretsk, Zelenogorsk) – và 21 đô thị khác.

Petersburg nằm trên vùng đất thấp taiga dọc theo bờ biển của vịnh Neva thuộc Vịnh Phần Lan, và các đảo của đồng bằng châu thổ. Đảo Vasilyevsky là đảo lớn nhất (bên cạnh các đảo nhân tạo giữa kênh đào Obvodny và Fontanka, và Kotlin trong vịnh Neva), Petrogradsky, Dekabristov và Krestovsky. Krestovsky cùng với Yelaginđảo Kamenny hầu hết được chuyển thành các công viên. Karelian Isthmus, ở phía bắc thành phố, là khu nghỉ dưỡng đông đúc. Ở phóa nam Saint Petersburg băng qua Baltic-Ladoga Klint và đến cao nguyên Izhora.

Cao độ của Saint Petersburg từ mực nước biển đến điểm cao nhất là 175,9 mét (577 ft) trên đồi Orekhovaya thuộc Duderhof Heights ở phía nam. Phần đất ở phía tây của Liteyny Prospekt không cao hơn 4 mét (13 ft) so với mực nước biển, và thường xuyên bị ngập. Ngập lụt ở Saint Petersburg chủ yếu từ sóng dài của biển Baltic, do chịu sự ảnh hưởng của các điều kiện khí tượng, gió và độ nông của vịnh Neva. Bốn trận lụt lịch sử diễn ra vào năm 1824 (cao 421 xentimét hoặc 166 inch, trong đợt lụt này hơn 300 nhà bị phá hủy[9]), 1924 380 xentimét hoặc 150 inch, 1777 321 xentimét hoặc 126 inch, 1955 293 xentimét hoặc 115 inch, và 1975 281 xentimét hoặc 111 inch. Người ta xây đập Saint Petersburg để ngăn lụt.[10]

Từ thế kỷ 18 địa hình của thành phố được nâng lên do các yếu tố nhân tạo, ở những nơi có độ cao trên 4 mét (13 ft), làm sáp nhập một số đảo, và thay đổi chế độ thủy văn của thành phố. Bên cạnh sông Neva và các phụ lưu của nó, các sông quan trọng khác gồm Sestra, OkhtaIzhora. Hồ lớn nhất là Sestroretsky Razliv nằm ở phía bắc, theo sau là Lakhtinsky Razliv, Suzdal và các hồ nhỏ khác.

Do nằm ở vĩ độ khoảng 60°Bắc, nên độ dài ban ngày ở Petersburg thay đổi theo mùa, từ 5:53 đến 18:50. Trong khoảng thời gian từ giữa tháng 5 đến giữa tháng 7, hoàng hôn có thể kéo dài cả đêm nên được gọi là “đêm trắng”.

Khí hậu

Theo phân loại khí hậu của Köppen, Saint Petersburg được xếp vào nhóm khí hậu lục địa ẩm. Chịu sự ảnh hưởng vừa phải của các xoáy từ biển Baltic nên thành phố có khí hậu ấm, ẩm và mùa hè ngắn, mùa đông ẩm ướt, kéo dài.

NHiệt độ trung bình lớn nhất vào tháng 7 là 23 °C (73 °F); nhiệt độ cực điểm là 37,1 °C (98,8 °F) xuất hiện vào mùa hè năm 2010. Nhiệt độ thấp nhất vào mùa đông là −35,9 °C (−32,6 °F) được ghi nhận vào năm 1883. Nhiệt độ trung bình năm là 5,8 °C (42,4 °F). Sông Neva chảy qua thành phố thường bị đóng băng vào tháng 11-12 và tan băng vào tháng 4. Từ tháng 12 đến tháng 3, trung bình có 118 ngày bị phủ tuyết, với bề dày trung bình đạt 19 cm (7,5 in) vào tháng 2.[11] Thời gian không đóng băng trong thành phố kéo dài trung bình 135 ngày. Trung tâm thành phố hơi ấm hơn vùng ngoại ô. Các điều kiện khí hậu khá thay đổi trong cả năm.[12][13]

Lượng giáng thủy trung bình thay đổi tùy nơi trong thành phố, trung bình 660 milimét (26 in)/năm và cao nhất vào cuối hè. Độ âm đất hầu như luôn cao vì độ bốc hơi thấp của khí hậu mát. Độ ẩm tương đối của không khí trung bình 78%, và trung bình có 165 ngày có nhiều mây.

Dân số

Biểu đồ dân số của St. Peterburg

Năm 1976, thành phố bùng nổ với số dân là trên 5 triệu. Năm 2004, St. Peterburg có số dân là khoảng 4 triệu người, giảm đi một triệu. Đa số là người Nga. Dự kiến sẽ giảm trong các năm tới.

Saint Petersburg là thành phố lớn thứ 2 ở Nga. Theo thống kê năm 2010, dân số toàn thành phố là 4.879.566 chiếm 3,4% dân số Nga;[15] với thông kê năm 2002 là 4.661.219 (3,2%)[16] và giảm so với thời kỳ Liên Xô ghi nhận 5.023.506 năm 1989.[17]

Thống kê năm 2010 về thành phần dân cư gồm:[15] người Nga 80,1%, Ukraina 1,3%, Belarus 0,8%, Tatar 0,6%, Armeni 0,6%, Do Thái 0,5%, Uzbek 0,4%, Tajik 0,3%, Azeri 0,3%, Cruzia 0,2%, Moldova 0,2%, Finns 0,1%, nhóm khác – 1,3%. Nhóm chiếm 13,4% còn lại không xác định được.

Kinh tế

Saint Petersburg là trung tâm thương mại, tài chính và công nghiệp của Nga, đặc biệt là thương mại dầu khí, cơ sở đóng tàu, công nghệ vũ trụ, radio và điện tử, phần mềm và máy tính; chế tạo máy, máy móc hạng nặng và giao thông, bao gồm xe tăng và khí tài quân sự, khai thác mỏ, chế tạo thiết bị, luyện kim (sản xuất các hợp kim nhôm), hóa chất, dược phẩm, trang thiết bị y tế, in ấn và xuất bản, thực phẩm, dệt và may mặc, và nhiều ngành thương mại khác. Thành phố cũng là trụ sở chính của Lessner, một trong hai nhà chết tạo ô tô tiên phong của Nga (cùng với Russo-Baltic).[18]

10% tuốc bin điện trên thế giới được sản xuất ở LMZ, nhà máy này sản xuất hơn 2000 tuốc bin cho các nhà máy điện trên khắp thế giới. Các cơ sở công nghiệp lớn gồm Admiralty Shipyard, Baltic Shipyard, LOMO, Kirov Plant, Elektrosila, Izhorskiye Zavody; có trụ sở đặt tại Saint Petersburg là Sovkomflot, Petersburg Fuel CompanySIBUR trong số những công ty lớn khác của Nga và công ty quốc tế khác.

Saint Petersburg có 3 cảng hàng hóa lớn vùng Baltic: cảng Bolshoi-Saint Petersburg, Kronstadt, và Lomonosov. Các công ty tàu-phà quốc tế phục vụ hành khách ở Morskoy Vokzal phía tây nam của đảo Vasilyevsky.

Thành phố có rất nhiều nhà máu chưng cất rượu, sản xuất các loại rượu vodka. Nhà máy lâu đời nhất là LIVIZ (được thành lập năm 1897). Trong số các nhà máy trẻ nhất là Russian Standard Vodka được thành lập ở Moscow năm 1998, và ở St. Petersburg năm 2006 với vốn đầu tư $60 million (trên diện tích 30.000 m2, sản xuất 22.500 chai/giờ). Năm 2007 loại rượu này đã xuất khẩu sang hơn 70 quốc gia.[19]

Năm 2006, ngân sách thành phố là 179,9 tỉ rubles (tương đương 6,651 tỉ UDS tỷ giá năm 2006).[20] Tổng sản phẩm khu vực của chủ thể liên bang năm 2005 là 667,905 tỷ ruble (khoảng 23,611 tỷ USD theo tỷ giá 2005), xếp hạng thứ 4 ở Nga sau Moscow, Tyumen, và tỉnh Moscow,[21] hay 145.503,3 ruble/người (khoảng 5.143,6 USD theo tỉ giá 2005), xếp hạng thứ 12 trong các chủ thể liên bang của Nga,[22] chủ yếu thu từ các nguồn buôn bán, bán lẻ và dịch vụ sửa chữa (24,7%) cũng như công nghiệp chế biến (20,9%) và giao thông, thông tin truyền thông (15,1%).[23]

Thu ngân sách của thành phố năm 2009 là 294,3 tỉ ruble (khoảng 10,044 tỉ USD theo tỉ giá 2009), chi – 336,3 tỉ ruble (khoảng 11,477 tỉ USD theo tỉ giá 2009). Thâm hụt ngân sách lên đến 42 tỉ ruble.[24] (khoảng 1,433 tỉ USD năm 2009)

Giáo dục

Tính đến năm 2006/2007, thành phố có 1024 nhà trẻ, 716 trường công và 80 trường nghề.[25] Trường đại học lớn nhất là Đại học Saint Petersburg, số sinh viên bậc đại học khoảng 32.000; và cơ sở đào tạo đại học tư lớn nhất là Viện quan hệ quốc tế, Kinh tế và Luật St. Petersburg. Các trường đại học nổi tiếng khác gồm Đại học Bách khoa Saint Petersburg, Đại học HerzenĐại học Công nghệ quân sự Saint Petersburg. Tuy nhiên, các trường đại học công lập đều trực thuộc chính thể liên bang chứ không phải của thành phố.

Chính quyền

Saint Petersburg là một chính thể liên bang của Nga.[26] Chính trị của Saint Petersburg được quy định tại Charter of Saint Petersburg đã được cơ quan lập pháp của thành phố thông qua năm 1998.[27] Cơ quan điều hành cao là Saint Petersburg City Administration, đứng đầu là thống đốc thành phố (trước năm 1996 là thị trưởng). Saint Petersburg có một cơ quan lập pháp single-chamber, quốc hội lập pháp Saint Petersburg, Quốc hội khu vực.

Hành chính

Thành phố Sankt-Peterburg hiện (2012) được phân chia thành 18 quận (район):

Phân chia hành chính Sankt-Peterburg
  1. Admiralteysky
  2. Frunzensky
  3. Kalininsky
  4. Kirovsky
  5. Kolpinsky
  6. Krasnogvardeysky
  7. Krasnoselsky
  8. Kronshtadtsky
  9. Kurortny
  10. Moskovsky
  11. Nevsky
  12. Petrodvortsovy
  13. Petrogradsky
  14. Primorsky
  15. Pushkinsky
  16. Tsentralny
  17. Vasileostrovsky
  18. Vyborgsky

Du lịch

Trung tâm lịch sử của thành phố Sankt-Peterburg
Welterbe.svg Di sản thế giới UNESCO
Sankt Petersburg Auferstehungskirche 2005 a.jpg
Quốc gia Flag of Russia.svg Nga
Kiểu Văn hóa
Hạng mục i, ii, iv, vi
Tham khảo 540
Vùng UNESCO Europe and North America
Lịch sử công nhận
Công nhận 1990 (kì thứ 14)

Sankt-Peterburg là một trung tâm lớn thứ nhì sau Moskva về kinh tế, văn hóa và khoa học của Nga, nhưng nếu nói về phương diện tham quan du lịch thì nó còn hơn cả Moskva cổ kính. Thành phố còn được gọi là thủ đô phía Bắc của Nga, đã được tổ chức UNESCO thừa nhận là thành phố du lịch hấp dẫn thứ 8 của thế giới. Vào năm 2004 Sankt-Peterburg đã đón nhận 3,4 triệu du khách từ khắp thế giới. Số du khách đến thăm thành phố trong những năm gần đây tăng liên tục. Do thành phố có một hệ thống kênh đào chằng chịt với vô số những chiếc cầu cổ kính ở bên trên nên nó cũng được mệnh danh là Venice của phương Bắc.

Nhờ có vị trí địa lí thuận lợi (59,93 độ vĩ bắc và 30,32 độ kinh đông), thành phố có các ngành công nghiệp phát triển như: đóng tàu (với xưởng đóng tàu nổi tiếng mang tên Baltic); cơ khí (với các xưởng Electrosila, xưởng Kirov); điện kĩ thuật và điện tử; luyện kim và kim loại màu; hóa chất, và nhất là cao su; dệt vải, may mặc; giày da; in ấn; gỗ, giấy; vật liệu xây dựng và thực phẩm.

Pháo đài Petro-Pavlov. Ở giữa là tháp mạ vàng của Tu viện Petro-Pavlov

Sông Neva được gọi là “phố chính” của Sankt-Peterburg.

Sankt-Peterburg còn là một đầu mối giao thông lớn về đường sắt và đường bộ và là một trong những cảng biển lớn nhất của Nga. Đây cũng là căn cứ chính của hải quân Nga (Hạm đội Baltic). Cảng sông được các tuyến đường thủy nối liền với các biển Bạch Hải, biển Azov, biển Caspibiển Đen. Thành phố cũng có một phi trường quốc tế: Sân bay Pulkovo

Do thành phố này nằm ở vị trí rất xa về phương Bắc nên nó còn nổi tiếng với hiện tượng các đêm trắng, là các đêm sáng như trăng rằm mà không hề có trăng. Do sự khúc xạ ánh sáng Mặt Trời từ phía bên kia Địa cầu đang là “ban ngày”, vượt qua miền Cực Bắc để tỏa sáng xuống thành phố. Đôi khi cũng có thể trông thấy hiện tượng cực quang.

Thành phố có 41 trường đại học, trong đó có trường tổng hợp, trên 170 viện nghiên cứu khoa học, trên 2.000 thư viện (trong đó có Thư viện mang tên Mikhain Jevgraphovic Saltikov-Shchedrin), đài quan sát thiên văn Pulkovo, Nhà hát Maria, trong những năm 19201992 là Nhà hát Nhạc kịch Opera và Ballet mang tên Sergey Kirov. Ở đây cũng có phòng hòa nhạc vốn nổi tiếng trên thế giới, được thành lập từ năm 1862. Sankt-Petersburg cũng là một trong những trung tâm bảo tàng trọng yếu của châu Âu, tài nguyên này thuộc về Bảo tàng Ermitage và Bảo tàng Nga. Kề liền với thành phố có những địa danh du lịch – tĩnh dưỡng như khu Pushkin, Petrostation, Pavlovsk, Zielonogorsk, Siestrorieck hoặc là Gatchina.

Giao thông

Saint Petersburg là một trung tâm giao thông chính. Tuyến đường sắt đầu tiên của Nga được xây dựng ở đây vào năm 1837, và kể từ đó cơ sở hạ tầng giao thông của thành phố đã tiếp tục phát triển và bắt kịp với sự phát triển của thành phố. Petersburg có một hệ thống rộng lớn của các đường địa phương và các dịch vụ đường sắt, duy trì hệ thống giao thông công cộng lớn bao gồm các đường xe điện ở Saint PetersburgSaint Petersburg Metro, và là nơi có một số dịch vụ ven sông chuyển tải hành khách xung quanh thành phố một cách hiệu quả và tương đối thoải mái.

Thành phố được kết nối với phần còn lại của Nga và thế giới bởi một số đường cao tốc liên bang và tuyến đường sắt quốc gia và quốc tế. Sân bay Pulkovo phục vụ phần lớn các hành khách hàng không khởi hành từ hoặc tới thành phố.

Hình ảnh

Chú thích

  1. ^ Президент Российской Федерации. Указ №849 от 13 мая 2000 г. «О полномочном представителе Президента Российской Федерации в федеральном округе». Вступил в силу 13 мая 2000 г. Опубликован: “Собрание законодательства РФ”, №20, ст. 2112, 15 мая 2000 г. (President of the Russian Federation. Sắc lệnh #849 of 13-5-2000 Về đại diện toàn quyền của Tổng thống Liên bang Nga tại Vùng liên bang. Có hiệu lực từ  13-5-2000.).
  2. ^ Госстандарт Российской Федерации. №ОК 024-95 27 декабря 1995 г. «Общероссийский классификатор экономических регионов. 2. Экономические районы», в ред. Изменения №5/2001 ОКЭР. (Gosstandart của Liên bang Nga. #OK 024-95 27-12-1995 Phân loại toàn Nga về các vùng kinh tế. 2. Các vùng kinh tế, as amended by the Sửa đổi #5/2001 OKER. ).
  3. ^ Official website of St. Petersburg. St. Petersburg in Figures
  4. ^ Законодательное Собрание Санкт-Петербурга. Закон №555-75 от 26 октября 2005 г. «О праздниках и памятных датах в Санкт-Петербурге», в ред. Закона №541-112 от 6 ноября 2008 г. (Legislative Assembly of Saint Petersburg. Law #555-75 of ngày 26 tháng 10 năm 2005 On Holidays and Memorial Dates in Saint Petersburg. ).
  5. ^ Official website of St. Petersburg. Петербург в цифрах (St. Petersburg in Figures) (tiếng Nga)
  6. ^ Giá trị mật độ được tính bằng cách chia dân số theo điều tra năm 2010 cho diện tích chỉ ra trong mục “Diện tích”. Lưu ý rằng giá trị này có thể không chính xác do diện tích ghi tại đây không nhất thiết phải được diều tra cùng một năm với điều tra dân số.
  7. ^ Rosstat. Оценка численности постоянного населения на 1 января 2013 г. (tiếng Nga)
  8. ^ Ngôn ngữ chính thức trên toàn lãnh thổ Nga theo Điều 68.1 Hiến pháp Nga.
  9. ^ The level of flooding is measured near Saint Petersburg Mining Institute, which is normally 11 xentimét (4,3 in) a.s.l.
  10. ^ Нежиховский Р. А. Река Нева и Невская губа, Leningrad: Гидрометеоиздат, 1981.
  11. ^ a ă “Pogoda.ru.net” (bằng Tiếng Nga). Weather and Climate (Погода и климат). Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2013.
  12. ^ “Climate St. Peterburg – Historical weather records”. Tutiempo.net. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2012.
  13. ^ “Архив погоды в Санкт-Петербурге, Санкт-Петербург”. Rp5.ru. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2012.
  14. ^ “Leningard/Pulkovo Climate Normals 1961–1990”. National Oceanic and Atmospheric Administration. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2014.
  15. ^ a ă Федеральная служба государственной статистики (Cục Thống kê quốc gia Liên bang Nga) (2011). Предварительные итоги Всероссийской переписи населения 2010 года (Kết quả sơ bộ Điều tra dân số toàn Nga năm 2010)”. Всероссийская перепись населения 2010 года (Điều tra dân số toàn Nga năm 2010) (bằng tiếng Nga). Cục Thống kê quốc gia Liên bang Nga. Truy cập 250-042011.
  16. ^ Федеральная служба государственной статистики (Cục Thống kê quốc gia Liên bang Nga) (21 tháng 5 năm 2004). Численность населения России, субъектов Российской Федерации в составе федеральных округов, районов, городских поселений, сельских населённых пунктов – районных центров и сельских населённых пунктов с населением 3 тысячи и более человек (Dân số Nga, các chủ thể Liên bang Nga trong thành phần các vùng liên bang, các huyện, các điểm dân cư đô thị, các điểm dân cư nông thôn—các trung tâm huyện và các điểm dân cư nông thôn với dân số từ 3 nghìn người trở lên)”. Всероссийская перепись населения 2002 года (Điều tra dân số toàn Nga năm 2002) (bằng tiếng Nga). Cục Thống kê quốc gia Liên bang Nga. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2010.
  17. ^ Всесоюзная перепись населения 1989 г. Численность наличного населения союзных и автономных республик, автономных областей и округов, краёв, областей, районов, городских поселений и сёл-райцентров. (Điều tra dân số toàn liên bang năm 1989. Dân số hiện tại của liên bang và các cộng hòa tự trị, tỉnh và vùng tự trị, krai, tỉnh, huyện, các điểm dân cư đô thị, và các làng trung tâm huyện.)”. Всесоюзная перепись населения 1989 года (Điều tra dân số toàn liên bang năm 1989) (bằng tiếng Nga). Demoscope Weekly (website của Viện Nhân khẩu học Đại học Quốc gia—Trường Kinh tế. 1989. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2010.
  18. ^ G.N. Georgano Cars: Early and Vintage, 1886–1930. (London: Grange-Universal, 1985)
  19. ^ Russian Standard Vodka Ranked 4th Fastest Growing Premium Spirits Brand Worldwide Impact, 2007.
  20. ^ “Budget of Saint Petersburg (Russian document)”. City of Saint Petersburg.
  21. ^ “Валовой региональный продукт по субъектам Российской Федерации в 1998–2005гг. (в текущих основных ценах; млн.рублей)”. Gks.ru. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2009.
  22. ^ “Валовой региональный продукт на душу населения (в текущих основных ценах; рублей)”. Gks.ru. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2009.
  23. ^ “Отраслевая структура ВРП по видам экономической деятельности (по ОКВЭД) за 2005 год”. Gks.ru. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2009.
  24. ^ Data of the Government of Saint-Petersburg
  25. ^ “ОТЧЕТ за 2006/2007 учебный год”. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2009.
  26. ^ “The Constitution of the Russian federation”. Constitution.ru. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2009.
  27. ^ “Russian source: Charter of Saint Petersburg City”. Gov.spb.ru. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2009.

Đọc thêm

Liên kết ngoài

Wolfgang Amadeus Mozart

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Mozart
Wolfgang-amadeus-mozart 1.jpg

W. A. Mozart, chân dung vào năm 1819 do Barbara Krafft vẽ
Tên khai sinh Wolfgang Amadeus Mozart
Sinh 27 tháng 1, 1756
Nguyên quán Salzburg
Mất 5 tháng 12, 1791 (35 tuổi)
Nhạc cụ Dương cầm
Wolfgang Amadeus Mozart Signature.svg

Wolfgang Amadeus Mozart (phiên âm: Vôn-găng A-ma-đêu Mô-da, Tiếng Đức: [ˈvɔlfɡaŋ amaˈdeus ˈmoːtsart], tên đầy đủ Johannes Chrysostomus Wolfgangus Theophilus Mozart[1] (27 tháng 1, 1756 – 5 tháng 12, 1791) là một trong những nhà soạn nhạc nổi tiếng, quan trọng, và có nhiều ảnh hưởng nhất trong thể loại nhạc cổ điển châu Âu. Các tác phẩm của ông được xem là đỉnh cao trong các lĩnh vực nhạc piano, nhạc thính phòng, nhạc giao hưởng, nhạc tôn giáoopera. Tuy đặc điểm nhạc của ông bị một số người chê trong thời đó, ông đã được nhiều nhà soạn nhạc sau này ngưỡng mộ và các tác phẩm của ông đã trở thành một phần quan trọng trong nhiều cuộc hoà nhạc. Joseph Haydn đã viết rằng “hậu thế sẽ không nhìn thấy một tài năng như vậy một lần nữa trong 100 năm.”[2]

Mục lục

Tiểu sử

Thời thơ ấu

W. A. Mozart thời thơ ấu

Wolfgang Amadeus Mozart sinh ngày 27 tháng giêng, 1756, tại Salzburg, Thánh chế La Mã (nước Áo hiện nay). Leopold Mozart, một nhạc sĩ violin và cũng là một giáo viên, đã đích thân giáo dục con trai của ông. Wolfgang không phải cắp sách đến trường; thay vào đó cậu được học tại nhà với cha và chị gái của cậu. Âm nhạc là môn học chính. Tuy nhiên, cậu bé Mozart vẫn được học toán, môn học cậu rất thích, và các môn khác như La tinh, tiếng Pháp, tiếng Ý và một ít tiếng Anh. Cậu cũng đọc rất nhiều văn học kịch nghệ, đó là chất liệu mà cậu sẽ dùng để viết opera sau này.

Wolfgang không thích chơi những trò chơi trẻ con bình thường, trừ phi có liên quan tới âm nhạc. Nhờ sự chăm lo dạy dỗ của người cha, vốn là một nhạc sĩ nổi tiếng của thành Viên, đến năm 3 tuổi đã nghe hiểu được âm nhạc, 4 tuổi đánh được đàn dương cầm cổ và organ. Cậu bắt đầu soạn nhạc cho đàn phím từ lúc năm tuổi, viết những bản nhạc hòa tấu khi cậu lên sáu. Những bản sonata cho violin được xuất bản khi cậu lên tám. Thật ra có thể nói rằng Mozart đã khởi đầu sự nghiệp âm nhạc trước thời gian cậu lên năm và theo đuổi cho đến ngày qua đời, ngót ba mươi năm âm nhạc.

Johann Christian Bach, tranh của Thomas Gainsborough, 1776 (Museo Civico, Bologna)

Học vấn của Mozart phát triển cùng những chuyến du lịch, được xem như những cột mốc trong cuộc đời cậu. Khi cậu lên sáu, Wolfgang và người chị Maria Anna Mozart, lớn hơn cậu năm tuổi và cũng là một thần đồng âm nhạc, cùng đi với cha của họ đến München. Cuối năm đó họ chơi nhạc cho Hoàng hậu của Viên. Năm lên 7, cậu đã tổ chức những buổi diễn nhạc ở Paris, và được một nhà xuất bản ở đây xuất bản một tập nhạc, gồm 4 bản violinorgan[cần dẫn nguồn]. Sau đó, cha cậu lại dẫn cậu đi khắp các nước Ý, Anh Quốc…, gia đình Mozart nổi danh khắp những nơi cậu đến, và Wolfgang, với tài năng sớm phát triển của cậu, đã chinh phục mọi người. Quan trọng hơn, Mozart có cơ hội thưởng thức âm nhạc thịnh hành trong các thành phố này. Mozart đã gặp những nhạc sĩ khác và bắt đầu thành hình quan điểm về sự nghiệp của họ.

Mozart có ký ức chi tiết âm nhạc phi thường, ông có thể hợp nhất tinh hoa âm nhạc khác nhau của quốc gia này với quốc gia khác vào trong tác phẩm của mình. Tại Luân Đôn, Mozart gặp nhà soạn nhạc Johann Christian Bach, con trai của nhạc sĩ vĩ đại Johann Sebastian Bach. Christian trở thành người dẫn dắt nhạc sĩ Mozart trẻ và quan tâm theo dõi sự nghiệp của cậu. Trở về nước, Mozart nghiên cứu tổng phổ âm nhạc của J. C. Bach, và ảnh hưởng của Bach được thể hiện trong tác phẩm của Mozart vào thời gian ấy.

Sự nghiệp

W. A. Mozart

Khoảng cuối năm 1769, năng khiếu âm nhạc sớm phát triển của Mozart đã bắt đầu nở rộ, tuy mới chỉ lên mười ba, cậu bắt đầu sự nghiệp sáng tác một cách nghiêm túc. Đức Tổng Giám mục tại Salzburg đã chấp nhận Mozart như một nhạc trưởng, bằng cách cấp một khoản thu nhập cho cậu. Hai cha con Mozart đã thực hiện ba chuyến viễn du sang Ý để công diễn, họ đã được công nhận và gây được sự chú ý đến sự nghiệp của cậu trong giới quý tộc ở đó. Tại Milano Mozart được ủy nhiệm viết opera, vở Mitridate. Vở này sau đó, do chính Mozart chỉ huy, đã được tán thưởng nồng nhiệt. Trở về Salzburg, Mozart biên soạn một loạt symphony và nhạc phụng sự cho Giáo hội.

Việc trở về Salzburg của Wolfgang vào 1773 là một trong những cột mốc, lúc ấy có một sự bùng nổ sáng tác khác thường, và một sự chuyển tiếp ra khỏi ảnh hưởng âm nhạc Ý để thiên về phong cách âm nhạc Đức, được đại diện bởi Joseph Haydn.

Vị Tổng Giám mục mới, Ngài Hieronymus, Bá tước Colloredo, không mấy hài lòng với tần suất yêu cầu của Mozart. Về phần Mozart, khi thấy mức sống của Salzburg đã tăng lên nhiều, nhưng sự yêu chuộng nghệ thuật thì xuống dốc đáng đau buồn, lúc ấy, mối quan hệ của Mozart với Bá tước Colloredo ngày càng trở nên gay gắt.

Cuối cùng, vào tháng 8 năm 1777, ở tuổi hai mươi mốt, Wolfgang xin từ nhiệm, và Bá tước Colloredo đã đồng ý. Thời gian này, Leopold quyết định rằng ông phải còn ở lại phục vụ nhà thờ. Cho nên Wolfgang cùng mẹ đã chuyển đi München, rồi đến Mannheim.

Trong những thành phố này, Mozart có cơ hội để trình diễn với một số những nhạc sĩ tinh tế nhất Châu Âu, nhưng không có việc làm lâu dài nào.

Tuy vậy, Mozart đã lưu lại Mannheim một ít lâu. Anh đã phải lòng một ca sĩ mười sáu tuổi vừa tài năng vừa xinh đẹp, tiểu thư Aloysia Weber. Wolfgang đã làm kinh hoảng người cha, khiến ông ấy phải ra sức thuyết phục con trai chuyển tới Paris.

Tại Paris, Mozart biên soạn giáo trình âm nhạc, tiếp xúc các nhà xuất bản, viết bất cứ cái gì anh có thể bán hoặc trình diễn – những bản sônat cho đàn violin và đàn phím, một concero cho sáothụ cầm, những bản biến tấu đàn phím, và symphony Paris của anh. Nhưng thành phố này tỏ ra là sự chán nản khác. Mozart tiếp tục đánh vật với khoản tài chính eo hẹp và lại bị đè nặng thêm bằng cái chết của người mẹ. Buồn bã và miễn cưỡng, anh trở về Salzburg quê cha, mang theo nợ nần, nhưng tin tưởng rằng viễn cảnh của mình sẽ sáng sủa hơn. Người yêu của anh, tiểu thư Aloysia, trong thời gian ấy đã chuyển đi với gia đình tới thành Viên, nơi mà người ta muốn cô ấy kết hôn với một diễn viên kiêm họa sĩ tài tử, Joseph Lange.

Khi nhận nhiệm vụ nhạc trưởng và đệm đại phong cầm cho nhà thờ lớn, Mozart cảm thấy những nhiệm vụ đó quá tẻ nhạt. Vào 1781 anh tới München để diễn opera, vở Idomeneo, một thành công rực rỡ. Sau đó, được tòa Tổng Giám mục triệu hồi về thành Viên, Mozart đã tìm thấy một công việc có uy tín. Nhưng mối quan hệ căng thẳng giữa vị giáo sĩ và nhạc sĩ đã khiến Mozart cuối cùng đã tự rút lui vào tháng 6 năm đó.

Có lẽ trong những tháng kế tiếp Mozart đã gặp Haydn lần thứ nhất, người nhạc sĩ này đang viếng thăm thành Viên. Tình bằng hữu phát triển đã mang lại ảnh hưởng cho tốt công việc của cả hai nhạc sĩ về sau. Mozart, trong thời gian ấy, đã cư ngụ với gia đình Weber, và rồi, vào năm 1782, kết hôn với tiểu thư Constanze, em gái của Aloysia, mặc dù gặp sự phản đối mạnh mẽ của cha ruột. Từ đó, có một sự lãnh đạm giữa Wolfgang và cha của anh mà không bao giờ hàn gắn được. Trong những vấn đề tài chánh, cả Wolfgang lẫn Constanze đều không thận trọng. Họ đã sớm rơi vào tình trạng khó khăn.

Không có khả năng để giữ một sự chỉ định lâu dài, Mozart lại soạn giáo trình và viết nhạc để kiếm tiền. Vì muốn được nêu danh như một người chơi piano, ông viết nhiều những concerto piano tuyệt vời cho chính mình.

Một thời gian sau, ông đạt được kết quả đáng kể. Thành công vang dội sau vở opera Le nozze di Figaro (Đám cưới Figaro), Mozart du lịch tới Praha, nơi ông được ủy nhiệm viết một opera mới. Hợp tác với văn hào Lorenzo da Ponte, trong năm 1787, Mozart hoàn thành vở Don Giovanni. Đa số mọi người khen ngợi, nhưng có nhiều ý kiến cho rằng âm nhạc của ông ngày càng khó tiếp cận hơn. Phong thái âm nhạc nhẹ nhàng trước đây của ông đang biến mất dần; nhạc công và thính giả có nhiều lời than phiền là ngày càng khó cảm thụ hơn.

Mười năm cuối đời của Mozart là một thời kỳ dài của cả sự đau khổ do tài chính kiệt quệ, lẫn sức mạnh sáng tạo khác thường. Ba bản symphony cuối cùng, được viết trong vòng sáu tuần lễ vào năm 1788 đã không bao giờ được trình tấu lúc sinh thời của ông. Tổng cộng, những năm này ông đã sáng tác những hơn hai trăm tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau.

Wolfgang Amadeus Mozart trên con tem của Đức

Năm 1791 Mozart gặp khó khăn trong việc soạn nhạc cho vở opera Die Zauberfloete (Cây sáo thần), khi hợp tác với văn hào Emanuel Schikaneder.

Công việc bị gián đoạn trong tháng 7 vì một chuyến viếng thăm của nhân vật lạ mặt huyền bí đã đưa ra đề nghị hậu hĩnh cho tác phẩm Requiem. Tâm hồn bị chấn động với đề tài này vì cảm nghiệm sự suy tàn do sức khoẻ cạn kiệt, Mozart trở nên bị ám ảnh với nhạc đề lễ mồ dành cho sự ra đi của chính mình. Có nhiều giả thuyết cố lý giải rằng ai có thể đã ủy nhiệm một công việc như vậy. Một nhà sáng tác nào đó muốn sử dụng tác phẩm với tên của họ? Một người bạn già cố gắng bí mật giúp đỡ Mozart về mặt tài chính?

Tháng 9, tác phẩm Die Zauberfloete được hoàn thành và trình diễn. Mozart viết tiếp Requiem, nhưng không thể hoàn thành nó. Ông mất ngày 4 tháng 12 năm 1791. Hôm sau, bạn bè đến tham dự tang lễ ngoài trời; Constanze không đủ sức để có mặt. Sau đó, giữa một cơn bão tuyết dữ dội, thi hài được chuyên chở không có người đưa tiễn tới một đất thánh bên ngoài cổng thành phố. Gia đình Mozart vì khó khăn đã đưa thi hài chôn trong một nghĩa trang công cộng của người nghèo để Mozart yên giấc ngàn thu. Ở đó, mộ chôn chi chít và cho đến ngày nay người ta vẫn chưa xác định được mộ ông chôn ở chỗ nào.

Biên niên sử

Năm Tuổi Sự kiện trong đời Sự kiện trong sự nghiệp Sự kiện lịch sử
1756 0 Sinh tại Salzburg, 27 tháng 1. Cuộc Chiến tranh Bảy năm bùng nổ.
1758 2 Domenico ScarlattiJohann Stamitz qua đời.
1759 3 Bắt đầu chơi clavier. George Frederick Handel qua đời.
1760 4 Bắt đầu những bài học với cha, ông Leopold. George III lên ngôi vua tại Anh Quốc.
1761 5 Biên soạn những khúc nhạc đầu tiên.
1762 6 Bắt đầu những chuyến viễn du, du lịch tới MünchenViên và xuất hiện đầu tiên như một thần đồng. Viết những khúc nhạc cho đàn phím đầu tiên, bốn minuet và một allegro, K.1-5 (Xem: Chỉ số K). Ekaterina II Đại Đế lên ngôi Nữ hoàng Nga.
1763 7 Viết cho những buổi hòa nhạc ở Đức, PhápHà Lan. Biên soạn những khúc nhạc đầu tiên cho vĩ cầm, K.6-8. Cuộc Chiến tranh Bảy năm chấm dứt
1764 8 Tiếp tục du lịch sang Luân Đôn. Gặp Johann Christian Bach và chơi nhạc cho vua George III. Biên soạn những bản nhạc hòa tấu đầu tiên, K.16 và 19.
1765 9 Lưu lại Luân Đôn cho đến mùa thu. Trở về lại lục địa, bị nhiễm bệnh sốt phát ban.
1766 10 Sau những buổi hòa nhạc tại Versailles, Genève và München, quay về Salzburg. Cuộc hành trình đầu tiên đã kéo dài gần ba năm rưỡi.
1767 11 Tĩnh dưỡng một năm tại Salzburg sau cơn bệnh đậu mùa. Biên soạn loạt đầu tiên những concerto cho dương cầm, K.37, 39 và 41. George Philipp Telemann qua đời.
1768 12 Chơi nhạc cho Nữ hoàng Áo Maria Theresia tại kinh đô Viên. Viết nhạc cho các vở opera La finta sempliceBastien and Bastienne.
1769 13 Du lịch tới Ý với cha. Thành công rực rỡ tại Verona. Biên soạn những bộ lễ đầu tiên và một số giao hưởng. Napoléon Bonaparte ra đời.
1770 14 Trọn năm này lưu diễn trong những thành phố lớn của Ý. Viết tứ tấu đàn dây đầu tiên, K.80, và opera Mitridate trình diễn được 21 lần. Ludwig van Beethoven ra đời.
1771 15 Trở về Salzburg một thời gian ngắn và lần nữa du lịch tới Ý. Viết opera Ascanio in Alba.
1772 16 Hieronymus von Colloredo làm Tổng Giám mục Salzburg. Viết opera Lucio Silla. Cuộc chia cắt Ba Lan lần thứ nhất
1773 17 Không thành công khi nhận sự chỉ định nhiệm vụ ở giáo đường Maria Theresia. Tiếp tục viết tứ tấu đàn dây và divertimenti. Tác phẩm Faust của đại thi hào Goethe xuất bản.
1774 18 Hầu hết năm ở tại Salzburg. Vào tháng 12, du lịch tới München. Soạn bộ lễ cung Fa, K.192.
1775 19 Trọn năm ở tại Salzburg. Viết năm concerto cho vĩ cầm.
1776 20 Ở tại Salzburg. Mối quan hệ với Đức Tổng Giám mục Colloredo xấu đi. Viết serenade Haffner, K.250 và concerto cho ba dương cầm, K.242. Hoa Kỳ tuyên bố độc lập.
1777 21 Cùng mẹ chuyển đến Paris. Dừng chân tại Mannheim, gặp và yêu Aloysia Weber. Viết concerto cho dương cầm cung Eb, K.271.
1778 22 Chia tay Aloysia ở Mannheim và lên đến Paris. Mẹ của Mozart ngã bệnh và qua đời. Quay về Salzburg, đến thăm Aloysia tại München, nhưng nàng khước từ chàng. Viết giao hưởng Paris, số 31 cung D, K.297. Các nhà hiền triết VoltaireJean-Jacques Rousseau qua đời.
Cuộc Chiến tranh Kế vị Bayern bùng nổ
1779 23 Trở thành nhạc sĩ đại phong cầm cho Tổng Giám mục Colloredo tại Salzburg. Viết Sinfonia Concertante for Violin and Viola, K.364. Cuộc Chiến tranh Kế vị Bayern chấm dứt.
1780 24 Ở Salzburg cho đến hết năm khi du lịch tới München. Aloysia Weber kết hôn với Joseph Lange. Viết opera Idomeneo và bộ lễ cung C, K.317. Nữ hoàng Maria Theresia mất, Hoàng đế Joseph II lên kế vị.
1781 25 Ngưng phục vụ Tổng Giám mục Colloredo và chuyển đến thành Viên. Hứa hôn với em gái của Aloysia, tiểu thư Constanze. Gặp Joseph Haydn. Bắt đầu viết vở opera Die Entfuehrung aus dem Serail. Quyển Phê phán lý tính thuần tuý của Emmanuel Kant xuất bản.
1782 26 Viết cho những buổi hòa nhạc của thành Viên. Kết hôn với Constanze. Viết giao hưởng Haffner, K.385; và các concerto cho dương cầm, K. 413, K.415; tứ tấu đàn dây số 14, K.387, Tuyển tập dành cho Haydn đầu tiên. Johann Christian Bach qua đời.
1783 27 Cái chết của đứa con trai đầu lòng. Đưa Constanze về Salzburg để cho nàng làm quen với cha và chị gái, nhưng Leopold không cảm thông. Viết dang dở bộ lễ cung Cm, K.427; hoàn thành giao hưởng Linz, số 36, K.425, và tứ tấu đàn dây khác dành cho Haydn, K.428.
1784 28 Sinh con trai, Karl Thomas. Biên soạn một loạt concerto cho dương cầm, K.440, K.450, K.451, K.453, K.459.
1785 29 Bắt đầu hợp tác với da Ponte viết vở opera Đám cưới Figaro. Hoàn thành bộ tứ tấu đàn dây và concerto cho dương cầm cho Haydn, K.466, K.467, K.482. Vua Phổ Friedrich II Đại Đế thiết lập “Liên minh các Vương hầu” chống Áo.
1786 30 Con trai thứ ba sinh và chết. Viết concerto cho dương cầm cung C, K.503. Vua Friedrich II Đại đế qua đời.
1787 31 Trong chuyến viếng thăm Praha được mời viết một vở opera. Được Beethoven 17 tuổi viếng thăm khi đến thành Viên. Ông Leopold qua đời. Sinh con gái nhưng chết lúc sáu tháng tuổi. Viết opera Don GiovanniEine kleine Nachtmusik. Cuộc Chiến tranh Áo-Thổ Nhĩ Kỳ (1787–1791) bùng nổ
1788 32 Vở Don Giovanni thành công vang dội ở chốn kinh kỳ Viên. Ba giao hưởng cuối cùng: số 39 cung Eb, K.543; số 40 Cung Gm, K.550; Jupiter, số 41 cung C, K.551.
1789 33 Du lịch tới thành Berlin. Chơi các tác phẩm organ của Bach. Đứa con gái khác được sinh ra và chết. Bắt đầu viết vở opera Cosi fan tutte. Cách mạng Pháp bùng nổ với việc phá ngục Bastille.
1790 34 Nợ nần lút đầu, chuyển đi Mainz, Mannheim, München và Frankfurt am Main, nhưng chuyến đi bất lợi. Sức khỏe suy sụp.
1791 35 Người lạ mặt ủy nhiệm viết Requiem (Cầu hồn). Praha mời viết một opera cho lễ đăng quang của Hoàng đế Leopold II. Người bạn, Schikaneder, hỏi về hoàn thành của tác phẩm “Die Zauberfloete”. Qua đời ngày 5 tháng 12. Những vở opera được hoàn thành và trình diễn: La clemenza di Tito (6 tháng 9) và Die Zauberfloete (30 tháng 9). Bộ lễ Requiem không hoàn thành. Cuộc Chiến tranh Áo-Thổ Nhĩ Kỳ chấm dứt

Tác phẩm

Dưới đây là một số tác phẩm của Mozart theo một vài thể loại. “K.” hoặc “KV” là viết tắt của “Köchel Verzeichnis”, nghĩa là niên đại (theo ngày sáng tác) các tác phẩm của Mozart theo Ludwig von Köchel. Chú ý rằng danh mục này được cải thiện nhiều lần, dẫn đến một vài sự nhập nhằng ở một vài số KV.

Hành khúc

Sonata dành cho dương cầm

Concerto dành cho dương cầm

Khiêu vũ

  • 6 Menuets, K. 61h
  • 7 Menuets, K. 65a/61b
  • 4 Contredanses, K. 101/250a
  • 20 Menuets, K. 103
  • 6 Menuets, K. 104/61e
  • 6 Menuets, K. 105/61f
  • Menuet in E-flat, K. 122
  • Contredanse in B-flat, K. 123
  • 6 Menuets, K. 164
  • 16 Menuets, K. 176
  • 4 Contredanses, K. 267/271c
  • Gavotte in B-flat, K. 300
  • 3 Menuets, K. 363
  • 5 Menuets, K. 461
  • 6 Contredanses, K. 462/448b
  • 2 Quadrilles, K. 463/448c
  • 6 German Dances, K. 509
  • Contredanse in D, “Das Donnerwetter”, K. 534
  • Contredanse in C, “La Bataille”, K. 535
  • 6 German Dances, K. 536
  • 6 German Dances, K. 567
  • 12 Menuets, K. 568
  • 6 German Dances, K. 571
  • 12 Menuets, K. 585
  • 12 German Dances, K. 586
  • Contredanse in C, “Der Sieg vom Helden Koburg”, K. 587
  • 6 Menuets, K. 599
  • 6 German Dances, K. 600
  • 4 Menuets, K. 601
  • 4 German Dances, K. 602
  • 2 Contredanses, K. 603
  • 2 Menuets, K. 604
  • 3 German Dances, K. 605
  • 6 German Dances, K. 606
  • 5 German Dances, K. 609
  • Contredanse in G, K. 610

Xônat nhà thờ

  • Church Sonata No. 1 K. 41h (1772)
  • Church Sonata No. 2 K. 68 (1772)
  • Church Sonata No. 3 K. 69 (1772)
  • Church Sonata No. 4 in D, K. 144 (1772)
  • Church Sonata No. 5 in F, K. 145 (1772)
  • Church Sonata No. 6 in B, K. 212 (1775)
  • Church Sonata No. 7 in F, K. 241a (1776)
  • Church Sonata No. 8 in A, K. 241b (1776)
  • Church Sonata No. 9 in G, K. 241 (1776)
  • Church Sonata No. 10 in F, K. 244 (1776)
  • Church Sonata No. 11 in D, K. 245 (1776)
  • Church Sonata No. 12 in C, K. 263 (1776)
  • Church Sonata No. 13 in G, K. 274 (1777)
  • Church Sonata No. 14 in C, K. 278 (1777)
  • Church Sonata No. 15 in C, K. 328 (1779)
  • Church Sonata No. 16 in C, K. 329 (1779)
  • Church Sonata No. 17 in C, K. 336 (1780)

Organ

  • Fugue in E-flat major, K. 153 (375f)
  • Fugue in G minor, K. 154 (385k)
  • Ouverture in C major, K. 399 (385i)
  • Fugue in G minor, K. 401 (375e)
  • Eine kleine Gigue, K. 574
  • Adagio and Allegro in F minor for a Mechanical Organ, K. 594 (1790)
  • Fantasia in F minor for a Mechanical Organ, K. 608 (1791)
  • Andante in F for a Small Mechanical Organ, K. 616 (1791)

Opera

Âm thanh

  • K331
    Trình đơn
    0:00
    Piano Sonata No. 11 in A major (last movement)
    K545
    Trình đơn
    0:00
    Piano Sonata in C major, 1st movement
    K545
    Trình đơn
    0:00
    Piano Sonata in C major, 2nd movement
    K545
    Trình đơn
    0:00
    Piano Sonata in C major, 3rd movement
    K321, 1st movement
    Trình đơn
    0:00
    Vesperae de dominica – dixit dominus
    K321, 2nd movement
    Trình đơn
    0:00
    Vesperae de dominica – confitebor
    K321, 3rd movement
    Trình đơn
    0:00
    Vesperae de dominica – beatus vir
    K321, 4th movement
    Trình đơn
    0:00
    Vesperae de dominica – laudate pueri
    K321, 5th movement
    Trình đơn
    0:00
    Vesperae de dominica – laudate dominum
    K321, 6th movement
    Trình đơn
    0:00
    Vesperae de dominica – magnificat
    K378
    Trình đơn
    0:00
    Violin Sonata No. 26, K. 378, arranged for flute and piano
    The Marriage of Figaro overture
    Trình đơn
    0:00
    Overture to the Marriage of Figaro
    K314
    Trình đơn
    0:00
    Concerto in D for Flute
    K622
    Trình đơn
    0:00
    Concerto in A major, 1st movement
    K622
    Trình đơn
    0:00
    Concerto in A major, 2nd movement
    K622
    Trình đơn
    0:00
    Concerto in A major, 3rd movement
    K503
    Trình đơn
    0:00
    Piano Concerto No.25 In C Major
    K364
    Trình đơn
    0:00
    Sinfonia Concertante in E flat
    K550
    Trình đơn
    0:00
    Giao hưởng số 40 của Mozart, chương 1
    K550
    Trình đơn
    0:00
    Giao hưởng số 40 của Mozart, chương 2
    K550
    Trình đơn
    0:00
    Giao hưởng số 40 của Mozart, chương 3
    K550
    Trình đơn
    0:00
    Giao hưởng số 40 của Mozart, chương 4
  • Trục trặc khi nghe? Xem hướng dẫn.

Tham khảo

  1. ^ Tên chính xác của Mozart liên quan đến nhiều điều phức tạp; xem chi tiết trong bài Tên của Mozart.
  2. ^ Landon, Howard Chandler Robbins (1976). Haydn: Chronicle and Works, Volume 2. Indiana University Press. tr. 118. ISBN 9780253370037.

Sách

Đọc thêm

Liên kết ngoài

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s