Đọc lại và suy ngẫm


Vietsach

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Bài viết “Sách giáo khoa ngày xưa” của Vũ Đức Sao Biển đăng trên báo Thanh Niên thật đáng đọc lại và suy ngẫm.

Tôi giới thiệu tài liệu này đến quý Thầy Cô đồng nghiệp, các bạn học viên và những người quan tâm vì nhớ tới câu chuyện ngày hôm qua tham dự Hội nghị Đào tạo Sau Đại học 2015 Khoa Nông học Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh trong chuỗi hoạt động chào mừng kỷ niệm  60 năm ngày thành lập Trường (1955-2015). Bốn vấn đề chính được thảo luận tại hội nghị này gồm: 1) Sự phù hợp của khung chương trình; 2) Phương pháp giảng dạy và đánh giá (môn học, nội dung và số lượng chuyên đề nghiên cứu sinh, luận văn/ luận án); 3) Sự phù hợp của luận văn/ luận án (thời gian thực hiện, khối lượng); 4) Định hướng phát triển và một số giải pháp thực hiện.

Trong các ý kiến thảo luận, có một số trao đổi về môn triết học (philosophy) là phần kiến thức chung “khoa học của các khoa học”, thời lượng học 3- 4 tín chỉ, tùy chuyên ngành đào tạo, tuy nhiên khi học thì những nội dung trùng lặp với chương trình đại học chiếm khoảng 40%, học viên không được sử dụng bảng điểm liên thông của các chương trình đào tạo khác (như lý luận chính trị cao cấp, và các khối ngành liên quan). Điều này là chưa hợp lý cần cải tiến (theo kết quả trả lời của 74 phiếu khảo sát trực tuyến học viên cao học, tiến sĩ đã bảo vệ do TS. Nguyễn Đức Xuân Chương 2015 thực hiện).

Triết học và nhân sinh quan là vấn đề rất lớn để giúp nhân loại và mỗi cá nhân vượt qua giai đoạn khó khăn trong việc phát triển tâm thức và tầm nhìn hiện tại, trước một thế giới đầy biến động. Bài viết  “Sách giáo khoa ngày xưa” của tác giả Vũ Đức Sao Biển gợi mở một góc nhìn tham chiếu.

Hoàng Kim

SÁCH GIÁO KHOA NGÀY XƯA

Vũ Đức Sao Biển

‘Ngày xưa’ ở đây có nghĩa là thời tôi còn dạy trung học, cách đây đã gần nửa thế kỷ. Tôi viết chỉ nhằm giới thiệu một cách làm sách giáo khoa ở bậc trung học của một môn: môn triết học lớp đệ nhất.

Mục đích của bài này chỉ là để các nhà làm giáo dục, các nhà giáo, các em học sinh và phụ huynh tham khảo một cách làm và sử dụng sách giáo khoa mà thôi.

Phân phối chương trình trung học ngày xưa mô phỏng chương trình giáo dục của người Pháp. Người ta nghĩ rằng học sinh ở Pháp học thế nào thì học sinh VN cùng lứa tuổi và cùng cấp học cũng nên học như vậy. Vì vậy, học sinh VN sau 11 năm học đã thi đậu tấm bằng tú tài 1 (baccalauréat 1) thì bắt buộc phải chốt lại toàn bộ kiến thức về các khoa học đã được học trước đó để dọn mình lên lớp đệ nhất, học thi tú tài 2 (baccalauréat 2). Lớp đệ nhất (tương đương lớp 12 ngày nay) không học môn văn nữa mà phải học môn triết. Triết học được định nghĩa là khoa học của các khoa học (La philosophie est science des sciences).

Giáo trình triết học lớp đệ nhất gồm 3 hoặc 4 môn tùy theo phân ban. Môn tâm lý học học về thế giới tâm lý, nội quan, ngoại quan, ý thức, vô thức, tâm phân học, cảm xúc, đam mê, liên tưởng, tập quán, tưởng tượng… nhằm giúp cho học sinh “vệ sinh tinh thần” tâm hồn mình. Môn đạo đức học học về hành vi đạo đức, ý thức đạo đức, công bằng, bác ái, bổn phận, trách nhiệm… nhằm giúp học sinh biết thương yêu, biết chịu trách nhiệm về những hành vi của mình. Môn luận lý học học về các nguyên tắc căn bản của lý trí, các phương pháp tổng hợp, phân tích, diễn dịch, triết lý toán học, triết lý khoa học tự nhiên… Nó nhằm giúp cho học sinh đắc thủ phương pháp lý luận thuần lý. Ba môn này dạy ở các ban A (vạn vật, lý, hóa), B (toán, lý, hóa), C (triết học, Anh, Pháp) và D (triết học, ngoại ngữ, cổ ngữ Latin). Riêng hai ban C và D học thêm 12 tiết siêu hình học; nội dung gồm thuyết tiến hóa, vấn đề linh hồn, tôn giáo, đa thần giáo… Bất cứ vấn đề nào của bốn môn trên, học sinh cũng phải học cách lý luận đi từ chính đề (thèse), qua phản đề (antithèse) rồi đi tới hợp đề (synthèse).

Bộ Giáo dục chế độ cũ không in sách giáo khoa. Mỗi nhà giáo ra trường phải biết mình dạy môn gì, cấp lớp nào, môn ấy gồm những nội dung nào, phương pháp soạn bài ra sao. Phần viết sách giáo khoa được giao cho các nhà giáo đang thực sự dạy trung học, chỉ yêu cầu sách giáo khoa phải có tính phổ quát, bám sát các nội dung cần giảng dạy. Thí dụ sách giáo khoa triết lớp đệ nhất phải bám sát các nội dung mà chúng tôi vừa giới thiệu và câu định nghĩa “Triết học là khoa học của các khoa học”. Tác giả nào viết sách giáo khoa không hay, khó hiểu, dài dòng thì tự bị thị trường đào thải. Sách giáo khoa nào xem ra có vẻ đắt tiền mà kiến thức không có gì mới (so với sách khác) thì thị trường cũng tự nhiên đào thải. Chính cái tinh thần tự do sáng tạo ấy đã khuyến khích công việc viết sách giáo khoa phát triển.

Bản thảo những quyển sách giáo khoa sẽ được nộp lên cho Nha Tu thư duyệt, xem có phù hợp với lứa tuổi, cấp học, đầy đủ nội dung theo yêu cầu không. Nếu không có vấn đề gì, họ đồng ý cho nhà xuất bản hoặc tác giả in và in bao nhiêu bản cũng được. Tất cả sách giáo khoa chỉ được phép bán cho học sinh theo hệ thống thị trường; nghiêm cấm tình trạng gửi sách của mình qua trường khác, tỉnh khác nhờ bạn đồng nghiệp bán giúp. Đó là nguyên tắc “ai mua sách cứ ra hiệu sách”. Ngày ấy, không có tình trạng lu bu đưa sách vào trường bán; mua sách của người này, không mua sách của người kia. Nhà giáo viết sách giáo khoa chỉ có một cạnh tranh duy nhất là cạnh tranh về chất lượng.

Học sinh nào thông minh, chăm chỉ có quyền không mua sách giáo khoa, chỉ học theo bài thầy giảng trên lớp. Sách tham khảo cho học sinh chỉ tập trung trong ba môn toán, lý và hóa; chủ yếu nhắm vào các lớp thi. Đó là những đề toán, lý, hóa ra trong các kỳ thi tú tài 2 ở Pháp và các nước thuộc khối Pháp ngữ.

Ngày ấy, giáo sư triết (tên gọi của nền giáo dục cũ) rất hiếm và thiếu. Từ năm 1970, các trường đại học sư phạm không đào tạo giáo sư triết nữa. Đại khái, những thành phố lớn như Sài Gòn, Cần Thơ, Đà Nẵng, Huế… có hai, ba hoặc bốn vị. Mỗi tỉnh còn lại chỉ có một người. Người ấy phải tốt nghiệp chuyên ngành triết; có nhiệm vụ dạy môn triết chính ở trường công lập (ăn lương); ngoài ra còn có nghĩa vụ phải đi thỉnh giảng ở các trường tư thục, Bồ Đề, bán công trong tỉnh (hưởng tiền thỉnh giảng). Ai không làm tròn nhiệm vụ dạy chính và nghĩa vụ thỉnh giảng phải chịu kỷ luật. Thí dụ tỉnh Bạc Liêu chỉ có một mình tôi, dạy ở trung học công lập 6 lớp (24 giờ); thỉnh giảng trường bán công 2 lớp (8 giờ), trường Bồ Đề 2 lớp (8 giờ). Cộng lại, mỗi tuần tôi dạy 40 giờ, “quần thảo” cả sáng, chiều và tối.

Nhà giáo nào không có nhã hứng viết sách giáo khoa triết, có thể bảo học sinh ra hiệu sách chọn mua sách của các tác giả khác về học. Từ năm 1970, các nhà giáo viết sách giáo khoa triết cho bậc trung học có thể kể đến: linh mục Cao Văn Luận (Huế), ông Trần Văn Hiến Minh (Huế), ông Nguyên Sa (nhà thơ Trần Bích Lan – Văn Hiến, Sài Gòn), ông Vĩnh Đễ (Gia Long – Sài Gòn), tôi – Vũ Đức Sao Biển (Trung học Bạc Liêu)… Học sinh có toàn quyền chọn mua sách giáo khoa triết của bất cứ ai; miễn là phải học, phải hiểu và… thi đậu. Nhà giáo không được đứng ra bán sách của mình và không được buộc học sinh phải mua sách của mình.

Bộ sách giáo khoa của tôi viết năm 1972 tại Bạc Liêu có tên là Triết học toàn thư, gồm 3 quyển tâm lý học, đạo đức học và luận lý học. Học sinh tỉnh Bạc Liêu và vài tỉnh lân cận cũng thường dùng quyển sách này. 39 năm sau (2011), Nhà xuất bản Trẻ đã cho dọn lại bộ sách này ngắn gọn hơn, dễ hiểu hơn và in ra với cái tựa đề mới Hướng đến chân thiện mỹ – triết lý dành cho tuổi thanh niên. Quyển sách được các bạn thanh niên mua đọc và thích bởi nội dung của nó rất mềm mại, chẳng có gì là “cứng” như sách giáo khoa cả. Có thể gọi quyển sách giáo khoa này là quyển sách đầu tay của đời tôi.
Bạn hỏi, một quyển sách giáo khoa hình thành từ những cơ sở nào? Thứ nhất, nó là một sự hiện thực hóa những cái “toa căn bản” mà người sinh viên sư phạm đã được học trong trường đại học sư phạm. Thứ hai, nó là một sự phong phú hóa những nội dung cứng mà Nha Tu thư yêu cầu nhà giáo phải giảng dạy trong từng cấp lớp, từng lứa tuổi. Thứ ba – mà điều này rất quan trọng – nó phải tích lũy được những kinh nghiệm của nhà giáo khi lập thang điểm và chấm thi bộ môn cấp quốc gia của nhà giáo. Ngày ấy, toàn bộ bài thi của văn bằng tú tài 1 và tú tài 2 từ Quảng Trị tới Cà Mau phải tập trung về Sài Gòn chấm. Tất cả bài thi đều cắt phách; nhà giáo không biết mình chấm bài của thí sinh trường nào, tỉnh nào.

Nhà giáo dạy môn nào thì chấm thi môn ấy. Trong quá trình lập thang điểm và chấm thi, các nhà giáo cùng bộ môn trao đổi, học hỏi lẫn nhau về kinh nghiệm để điều chỉnh cách dạy và cách viết sách giáo khoa của mình. Ai dạy hay dở ra sao; ai viết sách giáo khoa hay dở ra sao đều có thể tự đo lại năng lực của mình khi ráp phách lên mâm điểm cho thí sinh. Chuyện điều chỉnh là tự nhà giáo lo. Ngành giáo dục không tập trung nhà giáo bộ môn lại để tập huấn hay học chuyên môn gì cả.

Đối với học sinh, động cơ mục đích học rất rõ ràng. Họ phải học và thi đậu bằng tú tài 2 mới mong vào đại học, tiếp tục con đường học tập. Em nào có hoàn cảnh ngặt nghèo, đậu tú tài 2 có thể xin việc làm, kể cả làm nhà giáo dạy từ lớp đệ tứ trở xuống ở các trường tư thục. Nữ sinh rớt tú tài 2 cũng chưa sao nhưng nam sinh rớt thì thật khốn đốn bởi sẽ bị bắt lính ngay. Đậu tú tài 1 có thể đi Thủ Đức ra chuẩn úy nhưng rớt thì phải đi trung sĩ! Có thơ làm chứng như vầy “Rớt tú tài, anh đi trung sĩ/Em về nhà lấy Mỹ nuôi con/Khi nào yên chuyện nước non/Anh về, anh có Mỹ con anh bồng”. Người thanh niên nào không muốn… bồng nhầm Mỹ con thì phải ra sức học.

Chuyện học triết, dạy triết và viết sách giáo khoa triết trở thành một vốn liếng quý giá đối với riêng tôi. Tôi thẩm thấu được nhiều thứ khoa học trên đời. Tôi tự rèn luyện những kỹ năng lý luận thuần lý. Tôi đã dùng các thứ đắc thủ được để sau này làm một nhà báo. Chưa được học một giờ nào về nghiệp vụ báo chí, tôi chỉ nhờ có “nội công” đa dạng và “chiêu thức” khinh linh để viết báo mà thôi.

VĐSB

Tin liên quan
Không hài lòng về hình thức trình bày SGK
Nghịch lý khổng lồ của việc dạy và học môn văn ở nhà trườngNghi ngờ sách giáo khoa giả

VuDucSaoBien

Vũ Đức Sao Biển

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Vũ Đức Sao Biển
Sinh 12 tháng 2, 1948 (67 tuổi)
Quảng Nam
Công việc Nhà thơ, nhà văn, nhà báo, nhạc sĩ

Vũ Đức Sao Biển (sinh năm 1948) là một nhạc sĩ, nhà vănnhà báo Việt Nam. Ngoài bút danh Vũ Đức Sao Biển, ông còn dùng bút danh: Đồ Bì, Đinh Ba, Mạc Đại khi viết phiếm luận.

Mục lục

Tiểu sử sơ lược

Ông tên thật là Vũ Hợi, sinh ngày 12 tháng 2 năm 1948, tại Tam Kỳ, Quảng Nam. Nguyên quán ông tại Duy Vinh, Duy Xuyên, Quảng Nam.

Năm 18 tuổi, ông vào Sài Gòn học Đại học Sư phạm ban Việt – Hán và học Đại học Văn khoa, ban Triết học phương Đông[1].

Năm 1970, ông tốt nghiệp và đến Bạc Liêu dạy học các môn Văn và Triết học bậc trung học tại trường Công lập Bạc Liêu cho đến năm 1975 thì ông rời khỏi nơi này. Mười năm sau ông trở lại Bạc Liêu và cho ra đời các ca khúc về Bạc Liêu và miền đất phương Nam.

Sau 1975, ông về Thành phố Hồ Chí Minh dạy học, rồi làm báo. Ông có một thời gian làm tại phòng Giáo dục huyện Nhà Bè. Ông đã và đang công tác ở các báo: Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Thanh Niên, Kiến Thức Ngày Nay, báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh, Tuổi Trẻ Cười

Ngoài tài viết: báo, tiểu thuyết, nghiên cứu (về Kim Dung), ông còn có tài sáng tác nhạc. Những bài như: Thu hát cho người, Đêm Gành Hào nghe điệu hoài lang, Đau xót lý chim quyên, Điệu buồn phương Nam,…đều là những tác phẩm được nhiều người yêu mến. Vì những thành tựu này, ông đã được kết nạp vào Hội Nhạc sĩ Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam.

Vũ Đức Sao Biển hiện đang được các đài truyền hình trung ương và địa phương mời thực hiện các phim tư liệu về tác giả và tác phẩm trên lĩnh vực âm nhạc.

Tác phẩm

Nhạc phẩm

  • Ảo ảnh sương khói
  • Ẩn ngữ trong hoa hồng
  • Bài ca dựng đất
  • Bài thơ hoa cúc
  • Bài thơ quê lụa
  • Bên cầu thương nhớ
  • Bolero qua Bắc Cần Thơ
  • Cảm xúc Đà Nẵng
  • Chào Cửu Long giang
  • Chiều mơ
  • Chị và em
  • Chiều trên đồi
  • Cỏ hoa hồn du mục
  • Cõi tiêu dao
  • Đàn và dây
  • Đau xót lý chim quyên
  • Đêm Gành Hào nghe điệu hoài lang
  • Điệu buồn phương Nam
  • Đôi mắt
  • Đường về
  • Mẹ Cửu Long
  • Một mình phiêu lãng
  • Người xưa
  • Hoa trang vườn cũ
  • Hoài niệm Trường Giang
  • Huyền thoại Ngũ Hành Sơn
  • Hương rừng
  • Khúc Nam xuân
  • Lứa đôi
  • Lý vọng phu
  • Ngàn năm Mỹ Sơn
  • Nghiêng cả sang tôi
  • Nhớ Quảng Nam
  • Qua một chiếc cầu nhìn một dòng sông
  • Rung lên Lục lạc vàng
  • Rượu Hồng Đào
  • Sáu tỷ và một
  • Sông Thu ngày ấy
  • Thoáng mơ trên đồi
  • Thu hát cho người
  • Thu Sài Gòn
  • Thương về Cà Mau
  • Tiếng quốc đêm trăng
  • Tình ca phương Nam
  • Tình ca sông Hàn
  • Tơ vàng
  • Trả yếm cho anh
  • Trên sóng Cửu Long
  • Trở lại Bạc Liêu
  • Phố Hoài
  • Mẹ ơi
  • Tango trước biển
  • Phượng nhớ hoàng
  • Suy tưởng bên hồ
  • Tam Kỳ tươi đẹp
  • O ka lơ mi
  • Về nhánh sông xưa

Tuyển tập nhạc

  • Một ngày cho tình yêu (1971, cùng Ngô Thụy Miên, Nguyễn Đức Quang, Trần Tú, Vũ Thành An), Nhà xuất bản Khai Hóa, Sài Gòn 1971
  • Thu hát cho người (Nhà xuất bản Trẻ 1998)
  • Điệu buồn phương Nam (Nhà xuất bản Trẻ 2002)
  • Vũ Đức Sao Biển- Năm mươi ca khúc tiêu biểu (Nhà xuất bản Thiên Vương 2008)
  • Thu hát cho người (80 ca khúc Nhà xuất bản Đồng Nai)

Ba CD

  • Thu hát cho người (Công ty HSD 2000)
  • Hoài niệm Trường Giang (Công ty VAFACO 2003)
  • Khúc tình ca phương Nam (Công ty HSD 2002)

Tiểu thuyết

  • Hoa hồng trên cát (Nhà xuất bản Đồng Nai 1989)
  • Ảo ảnh sương khói Nhà xuất bản Long An 1991)
  • Kiếm hoàng hoa (Nhà xuất bản Long An 1995)

Tiểu phẩm trào phúng (bút danh Đồ Bì)

  • Bản báo cáo biết bay (Nhà xuất bản Trẻ 1983)
  • Vạn tuế đàn ông (Nhà xuất bản Trẻ 1989)
  • Thỏ thẻ cùng hoa hậu (Nhà xuất bản Trẻ 1998)
  • Ba đời ham vui (Nhà xuất bản Trẻ 1999)
  • Vĩnh biệt thốt nốt (Nhà xuất bản Trẻ 1996)
  • Tuyển tập tiểu phẩm trào phúng Chuyện dây cà kéo ra dây bí (Nhà xuất bản Trẻ 2010)

Phóng sự

  • Người mang số Q1 2629 (Nhà xuất bản Trẻ 1999)
  • Đi tìm sự thật (Nhà xuất bản Trẻ 2000)
  • Đối thoại với bản án tử hình (Nhà xuất bản Trẻ 2001)

Biên khảo

  • Kim Dung giữa đời tôi- gồm các tập
    • Quyển thượng: Kiều Phong – Khát vọng của tự do (1996)
    • Quyển trung: Thiên hạ đệ nhất mỹ nhân (1997)
    • Quyển hạ: Từ AQ đến Vi Tiểu Bảo (1999)
    • Quyển kết: Thanh kiếm và cây đàn (2000)
  • Nhân vật Kim Dung nhìn qua lăng kính pháp luật (Nhà xuất bản Trẻ 2002)
  • Những vụ án kinh điển trong tiểu thuyết Kim Dung

Dịch

Hồi ký, bút ký

  • Ngôn ngữ từ những phiến cẩm thạch (Nhà xuất bản Trẻ 1998), bút ký văn học
  • 35 năm chuyện trò cùng chữ nghĩa (Nhà xuất bản Trẻ 2003)
  • Úi chao, 60 năm (Nhà xuất bản Trẻ 2007)

Tham khảo

  1. ^ Nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển nặng tình với đất Bạc Liêu, trên báo Tiền Phong số ra ngày 21 tháng 11 năm 2007.

Liên kết ngoài

 

Advertisements

40 thoughts on “Đọc lại và suy ngẫm

  1. Pingback: Tình Mẹ và đức Nhẫn | Tình yêu cuộc sống

  2. Pingback: Đêm thu | Khát khao xanh

  3. Pingback: Giống khoai lang ở Việt Nam | Tình yêu cuộc sống

  4. Pingback: Đọc lại và suy ngẫm | Tình yêu cuộc sống

  5. Pingback: Biển Đông vạn dặm | Tình yêu cuộc sống

  6. Pingback: Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh | Tình yêu cuộc sống

  7. Pingback: Lên Yên Tử sưu tầm thơ đức Nhân Tông | Tình yêu cuộc sống

  8. Pingback: Sớm thu trên đồng rộng | Khát khao xanh

  9. Pingback: Angkor nụ cười suy ngẫm | Tình yêu cuộc sống

  10. Pingback: Chuyện vỉa hè | Tình yêu cuộc sống

  11. Pingback: Im lặng mà bão giông | Tình yêu cuộc sống

  12. Pingback: Myanmar đọc lại và suy ngẫm | Tình yêu cuộc sống

  13. Pingback: Ký ức CIMMYT ở Mexico | Tình yêu cuộc sống

  14. Pingback: Gowda địa chỉ xanh ICRISAT Ấn Độ | Tình yêu cuộc sống

  15. Pingback: Trường tôi và tình yêu ở lại | Tình yêu cuộc sống

  16. Pingback: 60 năm Đại học Nông Lâm TP. HCM | Tình yêu cuộc sống

  17. Pingback: Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời | Tình yêu cuộc sống

  18. Pingback: Ngày mới yêu thương | Khát khao xanh

  19. Pingback: Ơn Thầy | Tình yêu cuộc sống

  20. Pingback: Lời của Thầy theo mãi bước em đi | Tình yêu cuộc sống

  21. Pingback: CNM365 Tình yêu cuộc sống | Tình yêu cuộc sống

  22. Pingback: Công việc này trao lại cho em | Tình yêu cuộc sống

  23. Pingback: Kênh ông Kiệt giữa lòng dân | Tình yêu cuộc sống

  24. Pingback: 24 tiết khí lịch nhà nông | Tình yêu cuộc sống

  25. Pingback: Sao Kim kỳ thú | Tình yêu cuộc sống

  26. Pingback: Chu Văn Tiếp ở Đồng Xuân | Tình yêu cuộc sống

  27. Pingback: Bàn cờ thế sự | Tình yêu cuộc sống

  28. Pingback: Mark Twain là Lincoln văn học Mỹ | Tình yêu cuộc sống

  29. Pingback: CNM365 Chào ngày mới 365 | Tình yêu cuộc sống

  30. Pingback: Chào ngày mới 14 tháng 1 | Tình yêu cuộc sống

  31. Pingback: Tổng thống Obama lời nhắn sau cùng | Khát khao xanh

  32. Pingback: Nguyễn Du hiền tài lỗi lạc | Tình yêu cuộc sống

  33. Pingback: Tổng thống Obama lời nhắn sau cùng | Tình yêu cuộc sống

  34. Pingback: Chào ngày mới 15 tháng 1 | Tình yêu cuộc sống

  35. Pingback: Chào ngày mới 16 tháng 1 | Tình yêu cuộc sống

  36. Pingback: Phan Khôi nắng được thì cứ nắng | Tình yêu cuộc sống

  37. Pingback: Đọc “Tây Nguyên của tôi” Văn Công Hùng | Khát khao xanh

  38. Pingback: Đầu xuân đọc lại Văn Công Hùng | Khát khao xanh

  39. Pingback: Ấn tượng Obama | Tình yêu cuộc sống

  40. Pingback: Học sử: Đọc lại và suy ngẫm | Tình yêu cuộc sống

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s