Chào ngày mới 22 tháng 1



CNM365. Chào ngày mới 22 tháng 1. Chúc mừng Năm mới vui khỏe hạnh phúc. Ngày này năm xưa. Ngày 22 tháng 1 năm 1984, Apple Inc. giới thiệu máy tính Macintosh đầu tiên thông qua phim quảng cáo trên truyền hình. Ngày 22 tháng 1 năm 1909, ngày sinh U Thant, nhà ngoại giao người Miến Điện, Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc (mất năm 1974). Ngày 22 tháng 1 năm 1170, ngày mất Vương Trùng Dương, người sáng lập Toàn Chân giáo Bắc Tông Đạo giáo Trung Quốc thời Tống. Ông là nguyên mẫu Trung thần thông được tiểu thuyết hóa bởi Kim Dung;  xem tiếp…

22 tháng 1

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

22 tháng 1 là ngày thứ 22 của năm theo lịch Gregory. Sau ngày này còn 343 ngày trong năm thường hoặc 344 ngày trong năm nhuận.

« Tháng 1 năm 2018 »
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31

Mục lục

Sự kiện

Sinh

Mất

Những ngày lễ

Tháng một | Tháng hai | Tháng ba | Tháng tư | Tháng năm | Tháng sáu | Tháng bảy | Tháng tám | Tháng chín | Tháng mười | Tháng mười một | Tháng mười hai

Tham khảo

Apple Inc.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Apple Inc.
Loại hình
Công ty công nghệ
Mã niêm yết NASDAQAAPL, LSE:0HDZ, FWB: APC
Ngành nghề Phần cứng máy tính · Phần mềm máy tính, phụ kiện, thiết bị di động
Thành lập 1 tháng 4, 1976 (Cupertino, California, Mỹ)
Người sáng lập Steve Jobs, Steve Wozniak, Ronald Wayne[1]
Trụ sở chính Cupertino, California, Mỹ
Số lượng trụ sở
437[2][3] (2014)
Khu vực hoạt động Toàn thế giới
Nhân viên chủ chốt
Tim Cook (CEO)
Sản phẩm
Dịch vụ
Doanh thu tăng US$ 182,795 tỉ (2014)[4]
tăng US$ 52,503 tỉ (2014)[4]
Lợi nhuận ròng tăng US$ 39,510 tỉ (2014)[4]
Tổng tài sản tăng US$ 231,839 tỉ (2014)[4]
Tổng vốn chủ sở hữu giảm US$ 111,547 tỉ (2014)[4]
Số nhân viên
98.000 (2014)[5]
Công ty con FileMaker Inc., Anobit, Braeburn Capital, Beats Electronics
Website www.apple.com

Apple Inc. là một tập đoàn công nghệ máy tính của Mỹ có trụ sở chính đặt tại Silicon Valley (Thung Lũng Si-li-côn)San Francisco, tiểu bang California. Apple được thành lập ngày 1 tháng 4 năm 1976 dưới tên Apple Computer, Inc., và đổi tên thành Apple Inc. vào đầu năm 2007. Với lượng sản phẩm bán ra toàn cầu hàng năm là 13,9 tỷ đô la Mỹ (2005), 74 triệu thiết bị iPhone được bán ra chỉ trong một quý 4 năm 2014 và có hơn 98.000 nhân viên ở nhiều quốc gia, sản phẩm là máy tính cá nhân, phần mềm, phần cứng, thiết bị nghe nhạc và nhiều thiết bị đa phương tiện khác. Sản phẩm nổi tiếng nhất là máy tính Apple Macintosh, máy nghe nhạc iPod (2001), chương trình nghe nhạc iTunes, điện thoại iPhone (2007), máy tính bảng iPad (2010) và đồng hồ thông minh Apple Watch (2014-2015) hoạt động trên nhiều quốc gia trên thế giới.

Theo bảng xếp hạng do hãng nghiên cứu thị trường toàn cầu Millward Brown thực hiện vào năm 2014, Apple đã bị Google soán ngôi thương hiệu đắt giá nhất thế giới sau 3 năm liên tiếp giữ ngôi quán quân. Theo bảng xếp hạng này Google xếp vị trí đầu bảng, Apple đứng vị trí thứ hai, tiếp theo lần lượt là IBM, Microsoft, McDonald’s, Coca Cola, Visa…[6]

Mục lục

Sáng lập

Steve Jobs

Ba nhà sáng lập ra Apple là Steve Wozniak, Steve JobsRonald Wayne. Trước khi trở thành đồng sáng lập công ty Apple Computer Inc., Steve Wozniak đã từng là một kỹ sư điện tử và năm 1975 ông bắt đầu tham dự vào Homebrew Computer Club.

Vào thời điểm đó tổng quát chỉ có hai hãng sản xuất microcomputer-CPU là Intels 8080 giá 179$ và Motorola 6800 giá 170$. Wozniak ưa chuộng phiên bản 6800, nhưng mà không có ý tưởng cho những sản phẩm của họ. Vì vậy ông tự thỏa mãn bằng cách xem xét, học hỏi và thiết kế máy vi tính trên giấy, đến khi ông được lời khuyên cho một cái CPU. Đó là một ý tưởng xuất sắc nhất xảy ra cho thị trường máy tính.

Khi MOS Technologies cho ra sản phẩm nổi tiếng 6502 giá 25$ năm 1976, Wozniak đồng thời bắt đầu phát triển một ấn hành BASIC cho con chip này. Khi ông hoàn thành xong, ông bắt đầu thiết kế một chiếc máy vi tính, cho BASIC có thể chạy được. Phiên bản 6502 đã được thiết kế bởi nhiều người, họ cũng là người thiết kế phiên bản 6800, khi rất nhiều người ở Silicon Valley rời khỏi chỗ làm việc để được độc lập. Wozniaks trước bản vẽ máy vi tính yêu cầu chỉ một chút thay đổi mới có thể chạy được con chip mới này.

Ông hoàn thành xong bộ máy và đem nó theo hội nghị Homebrew Computer Club để trình bày hệ thống của mình. Ở đó ông gặp người bạn cũ là Steve Jobs, người rất thích thú về cơ hội buôn bán trong tương lai của những chiếc máy nhỏ này.

Thời kỳ đầu: 1976–1980

The Apple I, Apple’s first product. Sold as an assembled circuit board, it lacked basic features such as a keyboard, monitor, and case. The owner of this unit added a keyboard and a wooden case.

Apple đã được thành lập vào ngày 1 tháng 4 năm 1976 bởi Steve Jobs, Steve Wozniak, và Ronald Wayne,[1] để bán bộ sản phẩm máy vi tính cá nhân Apple I. Sản phẩm này được xây dựng bởi Wozniak[7][8] và lần đầu tiên được công bố tại Homebrew Computer Club.[9] Apple I được bán bao gồm bo mạch chủ (với CPU, RAM, và chip xử lý đồ họa cơ bản) ít hơn những gì mà chúng ta xem là một sản phẩm máy tính cá nhân hoàn thiện ngày nay.[10] Apple I bắt đầu bán vào tháng 7 năm 1976 với giá thị trường là $666,66 (thời giá 1976, đã điều chỉnh lạm phát).[11][12][13][14][15]

Apple đã hợp nhất vào ngày 3 tháng 1 năm 1977[16] mà không có Wayne, ông ta đã bán lại toàn bộ số cổ phần của mình cho Jobs và Wozniak với số tiền là $800. Một nhà triệu phú Mike Markkula đã giúp đỡ bằng những kinh nghiệm kinh doanh thiết yếu và một khoản đầu tư trị giá $250.000 trong suốt giai đoạn non trẻ của Apple.[17][18]

Những năm tiếp theo

Sau khi trải qua cuộc tranh đấu chức vị giám đốc điều hành với John Sculley giữa năm 1980, Jobs rời khỏi Apple và sáng lập NeXT Computer. Tiếp theo, trong cuộc thử nghiệm để cứu vãn hoạt động của hãng, Apple mua lại NeXT, và lúc này Jobs trở lại vị trí lãnh đạo Apple. Công việc đầu tiên của ông là phát triển iMac, đã cứu sống Apple khỏi cảnh phá sản.

Một dòng máy tính xách tay Macintosh, PowerBook được sản xuất bắt đầu vào năm 1990. Những sản phẩm khác của Apple là ProDOS, Mac OS og A/UX, kết nối sản phẩm AppleTalk và chương trình nghe nhạc QuickTime. Những sản phẩm không được trình bày nữa chẳng hạn như Apple Power Mac G4 CubeApple Newton.

Những sản phẩm mới kết hợp những cái khác Apple AirPort, sử dụng kết nối các loại máy tình khác nhau mà không sử dụng cổng cable. Ngoài ra iBookG5. Năm 1998 Apple thay đổi thiết kế iMac và phát triển đồng thời sản phẩm Mac OS X.

Apple Computer và sản phẩm PowerBook và sau này là iBook và iMac có thể xem phim và TV. Vào thời điểm đó Apple giới thiệu đoạn phim quảng cáo PowerBook, đoạn phim được lấy từ Mission Impossible. Các sản phẩm của Apple còn có các chương trình TV 24 Timer.

Tháng 10 năm 2001, Apple giới thiệu sản phẩm máy nghe nhạc iPod cầm tay. Phiên bản đầu tiên có ổ đĩa 5 GB, và chứa khoảng 1000 bài hát nhưng khá cồng kềnh và không được mọi người chú ý. Jonathan Ive là người thiết kế, và ông đã nâng cấp các thế hệ iPod nhiều lần. Năm 2002 Apple thỏa thuận với các hãng ghi âm về việc bán nhạc trên iTunes Music Store. Với gian hàng này mọi người có thể sử dụng để mà ghi đĩa CD, phân chia và chơi nhạc trên ba máy vi tính và tất nhiên chuyển bài hát lên máy nghe nhạc iPod.

Hơn hai triệu bài hát đầu tiên đã được bán trên iTunes Music Store trong vòng 16 ngày; mọi người mua qua máy Macintosh. Chương trình iTunes cũng hoạt động trên Windows.

Vào ngày 9 tháng 1 năm 2007, Apple chính thức giới thiệu chiếc iPhone đầu tiên của hãng với thiết kế đột phá bằng nhôm và có màn hình cảm ứng điện dung 3.5 inch và hệ điều hành (được gọi là iPhone chạy OS X) mượt mà dễ dùng cùng con chip lõi đơn nhưng chưa chạy được trên băng tần mạng 3G.

Ngày 9 tháng 6 năm 2008, Apple trình làng iPhone 3G, và đúng như cái tên, smartphone này chạy trên băng tần 3G.

Năm 2009, Apple ra mắt iPhone 3GS, chiếc smartphone được nâng cấp đáng kể về phần cứng lẫn phần mềm, nâng cấp camera lên đến 3MP, quay phim 480p và cùng với phần mềm iPhone OS 3 tích hợp chức năng Copy, Paste, chỉnh sửa văn bản dạng kính lúp thông minh, tích hợp La bàn số, Voice Control.

Tháng 1 năm 2010, Apple đã cho ra mắt dòng sản phẩm đột phá mới với những tính năng phục vụ như cầu giải trí: iPad. iPad có thể nói là “mô hình phóng lớn” của iPhone với những tính năng xem phim, nghe nhạc, đọc e-book, sao lưu hình ảnh được sử dụng với công nghệ cảm ứng siêu đặc biệt. iPad được cải tiến với hơn 150.000 ứng dụng cùng với các tính năng lướt web, dò đường, quản lý tài liệu cá nhân,…

Tháng 6 năm 2010, Apple cho ra mắt chiếc iPhone 4, chiếc smartphone thiết kế cao cấp với hai mặt kính và khung kim loại, màn hình độ phân giải cao nhất với độ phân giải 960×640 pixel được gọi là màn hình Retina, cùng với vi xử lý Apple A4 (ARM Cortex A8) mạnh mẽ và bộ nhớ Ram 512 MB và camera nâng cấp lớn lên đến 5 MP quay phim 720p với 30 khung hình 1 giây và có đèn Led ở đằng sau, đây cũng là chiếc smartphone được trang bị camera trước với độ phân giải VGA và tính năng gọi video call lần đầu tiên có tên là Facetime độc quyền của Apple.

Ngày 4 tháng 10 năm 2011, Apple đã làm một sự kiện để cho ra mắt dòng iPhone 4S với chip lõi kép A5 và camera 8MP và tính năng trợ lý ảo Siri thông minh.

Năm 2012, chiếc iPhone 5 được ra đời, là chiếc iPhone có màn hình 4 inch đầu tiên chạy vi xử lý A6 và có 1GB RAM. iPad sản xuất series iPad Mini, màn hình XGA và vi xử lý Apple A5.

Năm 2013, iPhone 5S ra đời, là chiếc iPhone đầu tiên có vi xử lý Apple A7 cấu trúc 64-bit và công nghệ bảo mật cảm biến vân tay có tên là Touch ID cùng khả năng quay video 120 khung hình 1 giây. Đồng thời iPhone 5C đa màu sắc ra đời thay thế cho thế hệ iPhone 5 với chip A6, nhưng vỏ nhựa. Nên trên phương diện nào đó thì iPhone 5C chưa thành công.

Tháng 9 năm 2014, bộ đôi iPhone 6/6 Plus ra đời với màn hình 4,7 và 5,5 inch với tên gọi màn hình là Retina HD, chip A8 và Camera có khả năng quay video Slowmotion 240 khung hình 1 giây, quay Video 1080p với 60 khung hình 1 giây và dịch vụ thanh toán Apple Pay kèm theo đó Apple ra mắt Apple Watch, một trong những chiếc đồng hồ chạy Watch OS thông minh của Apple, tháng 10 iPad Air 2 cũng được ra mắt. iPad Air 2 cũng là sản phẩm sử dụng vi xử lý A8X 64-bit đầu tiên có lõi ba, RAM 2GB.

Năm 2015, bộ đôi iPhone 6S/6S Plus ra đời với kích thước màn hình giống với iPhone 6/6 Plus, cùng với chip A9 đang là con chip trên smartphone mạnh nhất hiện nay cùng với tốc độ đọc ghi dữ liệu nhanh hơn cả bộ nhớ UFs 2.0, camera được nâng lên 12MP với khả năng quay video 4K và chế độ Live Photos kèm tính năng Retina Flash khi chụp hình bằng camera Facetime 5MP về đêm, lần đầu tiên iPhone 6S/6S Plus được trang bị cảm ứng lực mang tên 3D Touch và có thêm màu Vàng Hồng cùng với các màu còn lại như màu Vàng, màu Bạc và màu Xám Không Gian, và iPad Pro 12.9 inch cũng là sản phẩm vô cùng mạnh mẽ với vi xử lý A9X 64-bit cùng bộ nhớ RAM 4 GB với kỳ vọng thay thế laptop = tablet.

Tháng 3 Năm 2016, Apple ra mắt chiếc iPhone SE có màn hình 4 inch với thiết kế như iPhone 5S nhưng cấu hình lại giống hệt như iPhone 6S nhưng không được trang bị màn hình cảm ứng lực 3D Touch, iPhone SE được thêm màu Vàng Hồng, iPad Pro 9.7 inch được ra mắt và nâng cấp về Camera lên 12MP có tính năng Live Photos như trên iPhone 6S và khả năng quay video 4K và có đèn Flash ở đằng sau, cùng với camera Facetime 5MP với tính năng Retina Flash, iPad Pro 9.7 inch ra mắt nhằm vào những người không thích Tablet màn hình to như iPad Pro 12.9 inch và được thêm màu Vàng Hồng.

Ngày 7 tháng 9 năm 2016, Apple trình làng iPhone 7 và iPhone 7 Plus cùng thay đổi cải tiến như bổ sung màu Jet Black và loại bỏ màu Space Gray và thay thế bằng màu Black, chống nước chống bụi IP 67, vi xử lí A10 Fusion mạnh mẽ hơn, iPhone 7 vẫn là camera đơn nhưng Mô đun camera to hơn và có ổn định hình ảnh quang học OIS, còn iPhone 7 Plus được tích hợp hai camera, chức năng của hai camera của iPhone 7 Plus là zoom quang học 2x và chụp xoá phông ở chế độ Chân dung trong máy ảnh, cả hai đều có khẩu độ f 1.8 để chụp thiếu sáng tốt hơn và trang bị 4 đèn flash led True Tone, phím Home vật lí bị loại bỏ và thay thế bằng nút Home cảm ứng lực được giả lập tác lực các nấc ấn của người dùng bằng Tapic Engine, đồng thời máy bị loại bỏ cổng tai nghe 3.5mm, iPhone 7 và 7 Plus lần lượt các màu sắc như Jet Black, Black, Sliver, Gold, Rose Gold và kèm theo Apple Watch Series 2 ra mắt với vi xử lí S2 mạnh hơn, chống nước tận 50 mét và có GPS

Gần cuối tháng 3 năm 2017, Apple cho ra mắt iPhone 7 và 7 Plus màu đỏ để gây quỹ ủng hộ cho người nhiễm HIV AIDS, máy bán ra bắt đầu phiên bản 128 GB trở lên, cùng với đó Apple ra mắt iPad 2017 nhằm thay thế iPad Air 2 với cấu hình vi xử lí A9, iPad 2017 dày lên 7.5 mm.

Sản phẩm được Apple sản xuất

Windows Vista Debian NeXT Microsoft Windows IBM PC TRS-80 Altair 8800 iWork iLife iTunes Final Cut FileMaker Pro ClarisWorks AppleShare MacPaint MacWrite AppleWorks Time Capsule (Apple) AirPort#AirPort Extreme (802.11n) iSight Camera AirPort GeoPort Apple USB Modem LocalTalk Apple USB Modem Apple displays#LCD displays Apple displays#LCD displays Trinitron Apple displays Apple displays Apple displays Apple Magic Mouse Apple Mighty Mouse Apple Wireless Mouse Apple Mouse#Apple USB Mouse (M4848) Apple Adjustable Keyboard Apple Desktop Bus Apple Mouse Apple Keyboard Color LaserWriter 12/600 PS StyleWriter LaserWriter Bản mẫu:Apple printers Superdrive SuperDrive#Floppy disk drive AppleCD Hard Disk 20SC Macintosh External Disk Drive Apple ProFile Disk II Apple TV Bandai Pippin Apple Interactive Television Box Apple QuickTake PowerCD#AppleDesign Powered Speakers Apple iPod Touch Apple iPod PowerCD Apple iPhone Apple iPad Apple Newton Mac Pro Apple Intel transition Power Macintosh G5 OS X Power Macintosh G4 iMac Power Macintosh G3 Power Macintosh PowerBook Macintosh LC Macintosh II Compact Macintosh iMac Apple Network Server Macintosh XL Apple Lisa XServe MacBook family Apple IIe Card Apple IIe#The Platinum IIe Apple IIc Plus GS/OS Apple IIc Apple IIGS Apple IIe III Plus Apple II Plus Apple III Apple II Apple I

Chú thích

  1. ^ a ă Linzmayer, Ronald W. (1999). Apple Confidential: The Real Story of Apple Computer, Inc. No Starch Press. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “AppleConf” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  2. ^ “Apple Store—Store List”. Apple Inc. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2008.
  3. ^ http://seekingalpha.com/article/115797-apple-inc-f1q09-qtr-end-12-27-08-earnings-call-transcript?source=front_page_transcripts&page=-1
  4. ^ a ă â b c “Apple FY14 Results” (XBRL). United States Securities and Exchange Commission. Ngày 20 tháng 10 năm 2014.
  5. ^ “Apple – Diversity – Inclusion inspires innovation.”. Apple.com. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2014.
  6. ^ “Top 10 thương hiệu đắt giá nhất thế giới năm 2014”. [[Dân trí (báo)|]]. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2014.
  7. ^ “IOL Technology – Co-founder tells his side of Apple story”.
  8. ^ “NPR: A Chat with Computing Pioneer Steve Wozniak”.
  9. ^ Wozniak, Stephen. Homebrew and How the Apple Came to Be, Digital Deli. Truy cập 2 tháng 3 năm 2007.
  10. ^ Kahney, Leander. Rebuilding an Apple From the Past, Wired, 19 tháng 11 năm 2002.
  11. ^ “BBC News: History of Technology”. 15 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2008.
  12. ^ “Computer History Museum (ComputerHistory.org)”. Truy cập January 19 năm 2008. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  13. ^ Game Makers (TV Show): Apple II. Originally aired 6 tháng 1 năm 2005.
  14. ^ “Picture of original ad featuring US666.66 price”.
  15. ^ Wozniak, Steven: “iWoz“, trang 180. W. W. Norton, 2006. ISBN 978-0-393-06143-7
  16. ^ Apple Investor Relations FAQ, và trở thành Apple Inc – tên chính thức vào thời điểm 2 tháng 3 năm 2007.
  17. ^ “Apple Chronology”. Fortune (CNN). 6 tháng 1 năm 1998. Truy cập 11 tháng 9 năm 2008.
  18. ^ Apple Inc.[liên kết hỏng]MSN Encarta. Truy cập 2 tháng 3 năm 2007. Lưu trữ 31 tháng 10 năm 2009.

Liên kết ngoài

U Thant

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Trong tên người Miến Điện này, U là một kính ngữ.
Thant
သန့်
Chân dung chính thức của U Thant trên nền hiệu kỳ Liên Hiệp Quốc.

U Thant in 1963
Thông tin cá nhân
Sinh 22 tháng 1, 1909
Pantanaw, Miến Điện, Ấn Độ thuộc Anh
Mất 25 tháng 11, 1974 (65 tuổi)
New York, Hoa Kỳ
Nơi an nghỉ Mộ phía nam chùa Shwedagon, Yangon, Myanmar
Quốc tịch Miến Điện
Vợ, chồng Daw Thein Tin
Quan hệ
  • Po Hnit (cha)
  • Nan Thaung (mẹ)
  • Khant (em trai)
  • Thaung (em trai)
  • Tin Maung (em trai)
  • Thant Myint-U (cháu nội)
Con cái
  • Maung Bo
  • Tin Maung Thant
  • Aye Aye Thant
Cha mẹ
  • Po Hnit
  • Nan Thaung
Tôn giáo Phật giáo Thượng tọa bộ
Chữ ký

Thant ( /θɑːnt/; tiếng Miến Điện: သန့်; MLCTS: san.; Phát âm tiếng Myanma: [θa̰ɴ]; 22 tháng 1 năm 1909 – 25 tháng 11 năm 1974), gọi kính trọng là U Thant ( /ˌ ˈθɑːnt/) là một nhà ngoại giao người Miến Điện và là Tổng Thư ký thứ ba của Liên Hiệp Quốc từ năm 1961 đến năm 1971; là người ngoài châu Âu đầu tiên giữ chức vụ này. Thant có quê tại Pantanaw, ông theo học tại Trường trung học Quốc gia và tại Đại học Rangoon. Trong thời gian tình hình chính trị tại Miến Điện trở nên căng thẳng, ông giữ quan điểm ôn hòa và đặt bản thân giữa dân tộc chủ nghĩa nhiệt thành và trung thành với Anh. Ông là một người bạn thân của thủ tướng đầu tiên của Miến Điện là U Nu, và giữ một số chức vụ trong nội các của Nu từ năm 1948 đến năm 1961. Thant có thái độ bình tĩnh và khiêm tốn, giúp ông được đồng sự kính trọng.[1]

Ông được bổ nhiệm làm Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc vào năm 1961 sau khi người tiền nhiệm là Dag Hammarskjöld thiệt mạng trong một vụ rơi máy bay. Trong nhiệm kỳ đầu của mình, Thant tạo thuận lợi cho đàm phán giữa Tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Nikita Khrushchev trong Khủng hoảng tên lửa Cuba. Tháng 12 năm 1962, Thant ra lệnh tiến hành Chiến dịch Grand Slam, kết thúc nổi loạn ly khai tại Congo. Ông được tái bổ nhiệm làm Tổng thư ký vào ngày 2 tháng 12 năm 1966. Trong nhiệm kỳ thứ hai của mình, Thant nổi tiếng vì công khai chỉ trích hành vi của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam. Ông giám sát quá trình gia nhập Liên Hiệp Quốc của một số quốc gia mới độc lập tại châu Phi và châu Á. Thant từ chối phục vụ nhiệm kỳ thứ ba và nghỉ hưu vào năm 1971. Thant qua đời do ung thư phổi vào năm 1974. Là một tín đồ Phật giáo nhiệt thành và là nhà ngoại giao Miến Điện đầu tiên phục vụ trên trường quốc tế, Thant được dân cư Miến Điện ngưỡng mộ rộng khắp và hết sức kính trọng. Khi chính phủ quân sự từ chối vinh danh ông, bạo loạn bùng phát tại Rangoon. Tuy nhiên, chính phủ tiến hành trấn áp mãnh liệt khiến hàng chục người tử vong.

Mục lục

Sinh hoạt ban đầu

U Thant khi còn là sinh viên Đại học Rangoon năm 1927.

Thant là con cả trong bốn anh em, ông sinh tại Pantanaw, Miến Điện thuộc Anh trong một gia đình địa chủ và buôn gạo tương đối giàu có. Cha của ông là Po Hnit từng theo học tại Calcutta, Po Hnit là người duy nhất trong thị trấn có thể giao thiệp tốt bằng tiếng Anh.[2] Po Hnit là thành viên sáng lập của Hội Nghiên cứu Miến Điện, và giúp thành lập báo The Sun (Thuriya) tại Rangoon. [2][3] Mặc dù các thành viên trong gia đình ông thuộc dân tộc Miến và tôn sùng Phật giáo, song cha của Thant theo lời Thant Myint-U (cháu ngoại của U Thant) có tổ tiên xa là “những người đến từ cả Ấn Độ và Trung Quốc, tín đồ Phật giáo và Hồi giáo, cũng như người Shanngười Mon“.[4] Po Hnit hy vọng rằng cả bốn người con trai của mình đều có bằng đại học.[5] Những người con trai khác là Khant, Thaung, và Tin Maung trở thành các chính trị gia và học giả.[3]

Po Hnit thu thập được một thư viện cá nhân gồm nhiều sách của Mỹ và Anh, và tạo thói quen đọc sách cho các con. Do đó, Thant trở thành một người mê đọc sách và bạn cùng trường gán biệt danh cho ông là “nhà triết học”.[6] Ngoài đọc sách, ông còn tham gia nhiều môn thể thao như đi bộ đường dài, bơi, và chơi Chinlone.[7] Ông theo học tại Trường trung học Quốc gia tại Pantanaw. Năm 11 tuổi, Thant tham gia bãi khóa chống Đạo luật Đại học 1920. Ông có ước muốn trở thành một ký giả và khiến gia đình ngạc nhiên khi viết một bài cho tạp chí Union of Burma Boy Scouts (Liên hiệp nam hướng đạo sinh Miến Điện). Năm ông 14 tuổi, cha ông qua đời và một loạt tranh chấp thừa kế khiến cho mẹ của Thant là Nan Thaung cùng bốn người con lâm vào thời kỳ khó khăn về tài chính.[8]

Sau khi cha qua đời, Thant tin rằng bản thân không thể lấy bằng cử nhân bốn năm và thay vào đó ông theo học hai năm lấy chứng chỉ sư phạm tại Đại học Rangoon vào năm 1926. Do là con cả, ông phải hoàn thành các nghĩa vụ làm con của mình và chịu trách nhiệm với gia đình. Tại đại học, Thant cùng với thủ tướng tương lai là Nu theo học lịch sử do D. G. E. Hall giảng dạy. Nu được một người họ hàng xa của cả hai nhờ chăm sóc cho Thant, và hai người sớm trở thành bạn thân.[9] Thant được bầu làm đồng thư ký của Hiệp hội triết học tại đại học và thư ký của Hội Văn chương và Tranh luận.[10] Tại Rangoon, Thant gặp J.S. Furnivall, người thành lập Câu lạc bộ Sách Miến Điện và tạp chí The World of Books– nơi Thant thường xuyên đóng góp. Furnivall thuyết phục Thant hoàn thành khóa đại học bốn năm và tham gia phục vụ công vụ song Thant từ chối.[11] Sau khi có chứng chỉ, ông trở lại Pantanaw để giảng dạy tại Trường trung học Quốc gia với thân phận giáo viên cấp cao vào năm 1928. Ông thường xuyên tiếp xúc với Furnivall và Nu, viết bài và tham gia các cuộc thi dịch thuật của The World of Books.[12]

Năm 1931, Thant giành giải nhất kỳ Khảo thí giáo viên toàn Miến Điện và trở thành hiệu trưởng ở tuổi 25.[13][14] Thant thường xuyên đóng góp cho một số báo chí dưới bút danh “Thilawa” và dịch một số sách, trong đó có một cuốn về Hội Quốc Liên.[15] Những người có ảnh hưởng lớn đến ông là chính trị gia Công đảng Anh Stafford Cripps, Tôn Trung SơnMahatma Gandhi.[6] Trong thời gian căng thẳng chính trị tại Miến Điện, Thant giữ quan điểm ôn hòa giữa dân tộc chủ nghĩa nhiệt thành và trung thành với Anh.[14]

Công chức

Thant cùng Nu năm 1955 khi tản bộ lúc sáng sớm

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản chiếm đóng Miến Điện từ năm 1942 đến 1945. Người Nhật đưa Thant đến Rangoon để lãnh đạo Ủy ban Tái tổ chức Giáo dục. Tuy nhiên, Thant không có bất kỳ thực quyền nào và trở lại Pantanaw. Khi người Nhật ra lệnh cưỡng bách học tiếng Nhật trong các trường trung học tại Pantanaw, Thant bất chấp lệnh và hợp tác với phong trào kháng Nhật đang phát triển.[16]

Năm 1948, Miến Điện giành độc lập từ Anh. Nu trở thành thủ tướng của Miến Điện độc lập, người này bổ nhiệm Thant làm giám đốc truyền thông vào năm 1948. Đến lúc này, nội chiến bùng phát tại Miến Điện, người Karen bắt đầu khởi nghĩa và Thant liều mạng đến các trại của người Karen nhằm đàm phán về hòa bình. Đàm phán đổ vỡ, và đến năm 1949 phiến quân đốt cháy quê ông, trong đó có cả nhà ông. Phiến quân từng đẩy tiền tuyến đến nơi chỉ cách thủ đô Rangoon bốn dặm Anh (~6,4 km) song bị đánh lui. Sang năm sau, Thant được bổ nhiệm làm thư ký của chính phủ Miến Điện trong Bộ Thông tin. Từ năm 1951 đến năm 1957, Thant là thư ký của thủ tướng, viết các bài phát biểu cho U Nu, dàn xếp các chuyến đi ngoại quốc của ông ta, và gặp các khách ngoại quốc. Trong toàn thời kỳ này, ông là bạn tâm giao và cố vấn thân cận nhất của U Nu.[16]

Ông cũng tham gia một số hội nghị quốc tế và là thư ký của Hội nghị thượng định Á-Phi lần thứ nhất vào năm 1955 tại Bandung, Indonesia, là sự kiện khai sinh Phong trào Không liên kết. Từ năm 1957 đến năm 1961, ông là đại biểu thường trực của Miến Điện tại Liên Hiệp Quốc và trở nên tích cực tham gia trong các cuộc đàm phán về Ageria độc lập. Năm 1961, Thant được bổ nhiệm làm chủ tịch của Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Congo. Chính phủ Miến Điện trao cho ông huân chương Maha Thray Sithu.[17]

Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc

Tháng 9 năm 1961, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Dag Hammarskjöld thiệt mạng trong một tai nạn máy bay trên đường đến Congo. Hội đồng Bảo an gấp rút tìm kiếm một tổng thư ký mới, song lâm vào bế tắc trong vòng vài tuần sau đó, nguyên nhân là Hoa Kỳ và Liên Xô không thể đồng thuận về bất kỳ ứng cử viên nào do các thành viên khác đề xuất. Các siêu cường không còn phản đối khi các đại biểu từ các quốc gia nhỏ và Phong trào Không liên kết đề cử Thant tiếp tục nhiệm kỳ còn lại của Hammarskjöld.[14] Ngày 3 tháng 11 năm 1961, Thant được Đại hội đồng nhất trí bầu làm quyền tổng thư ký, theo tiến cử của Hội đồng Bảo an trong Nghị quyết 168. Ngày 30 tháng 11 năm 1962, Đại hội đồng nhất chí bổ nhiệm ông làm tổng thư ký trong một nhiệm kỳ sẽ kết thúc vào ngày 3 tháng 11 năm 1966. Trong nhiệm kỳ đầu tiên, ông giành được uy tín rộng rãi do vai trò của mình trong tháo ngòi nổ Khủng hoảng tên lửa Cuba và kết thúc Nội chiến Congo. Ông cũng phát biểu rằng mình muốn làm dịu căng thẳng giữa các đại cường trong khi phục vụ tại Liên Hiệp Quốc.[18]

Nhiệm kỳ thứ nhất

Trong một thời khắc nguy cấp—khi các cường quốc hạt nhân dường như khởi đầu một cuộc chay đua xung đột-sự can thiệp của Tổng thư ký làm chuyển hướng các tàu của Liên Xô hướng đến Cuba và bị Hải quân ta chặn. Đây là bước đầu tiên không thể thiếu trong giải pháp hòa bình khủng hoảng Cuba.

Adlai Stevenson, Ủy ban Ngoại giao Thượng viện Hoa Kỳ khóa 88, 13 tháng 3 năm 1963[19]

Thant bắt tay John F. Kennedy khi ông ta đến thăm Trụ sở Liên Hiệp Quốc.

Chưa đầy một năm trên cương vị Tổng thư ký, Thant phải đối diện với một thách thức nguy cấp là tháo ngòi nổ Khủng hoảng tên lửa Cuba, thời khắc thế giới tiến gần nhất đến chiến tranh hạt nhân. Ngày 20 tháng 10 năm 1962, hai ngày trước khi tuyên bố công khai, Tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy trưng cho Thant các ảnh trinh sát trên không của máy bay U-2 về các căn cứ tên lửa của Liên Xô tại Cuba. Tổng thống Hoa Kỳ sau đó ra lệnh “cách ly” hải quân nhằm loại bỏ toàn bộ vũ khí tấn công từ các tàu của Liên Xô đi hướng về Cuba. Trong khi đó, các tàu của Liên Xô tiếp cận khu vực cách ly. Để tránh đối đầu hải quân, Thant đề xuất rằng Hoa Kỳ sẽ đảm bảo không xâm chiếm Cuba để đổi lấy việc Liên Xô rút tên lửa. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Khrushchev hoan nghênh đề xuất, nó tạo cơ sở cho các đàm phán tiếp theo.[20] Khrushchev còn chấp thuận đình chỉ vận chuyển tên lửa trong khi đang diễn ra đàm phán.[21] Tuy nhiên, ngày 27 tháng 10 năm 1962, một máy bay U-2 bị bắn hạ trên không phận Cuba, khiến khủng hoảng thêm sâu sắc. Kennedy chịu áp lực mãnh liệt từ Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân và Ủy ban Hành pháp là phải xâm chiếm Cuba, song ông ta hy vọng Thant đóng vai trò trung gian và sau đó đáp lại hai cơ quan này, “Mặt khác chúng ta có U Thant, và chúng ta không muốn đánh đắm một chiếc tàu…ngay giữa khi U Thant được cho là đang thu xếp để người Nga ở ngoài.”[22]

Các cuộc đàm phán tiếp tục, Hoa Kỳ chấp thuận tháo dỡ các tên lửa tại Thổ Nhĩ Kỳ và đảm bảo không bao giờ xâm chiếm Cuba để đổi lấy việc loại bỏ các tên lửa Liên Xô tại Cuba. Thant đi máy bay đến Cuba và thảo luận cùng Fidel Castro để cho phép các thanh sát viên tên lửa Liên Hiệp Quốc giám sát và trao trả thi thể phi công U-2 bị bắn hạ. Fidel Castro tức giận trước việc Liên Xô chấp thuận loại bỏ tên lửa mà không cho ông biết, do vậy thẳng thừng bác bỏ bất kỳ thanh sát viên Liên Hiệp Quốc nào, song trao trả thi thể phi công, Hoạt động thanh sát được phi cơ và chiến hạm Hoa Kỳ thực hiện trên biển. Khủng hoảng được giải quyết và một cuộc chiến giữa các siêu cường bị ngăn chặn.[14][23]

Mặc dù thể hiện là một người theo chủ nghĩa hòa bình và một tín đồ Phật giáo sùng đạo, ông không lưỡng lự sử dụng vũ lực khi cần thiết. Trong Nội chiến Congo năm 1962, quân ly khai dưới quyền Moise Tshombe liên tục tấn công lực lượng của Liên Hiệp Quốc tại Congo. Trong tháng 12 năm 1962, sau khi lực lượng Liên Hiệp Quốc phải chịu một cuộc tấn công liên tục kéo dài bốn ngày tại Katanga, Thant ra lệnh tiến hành “Chiến dịch Grand Slam” nhằm mục tiêu để lực lượng Liên Hiệp Quốc hoạt động hoàn toàn tự do trên toàn Katanga. Chiến dịch tỏ ra kiên quyết và kết thúc nổi loạn ly khai. Đến tháng 1 năm 1963, thủ đô của quân ly khai là Elizabethville rơi vào tay lực lượng Liên Hiệp Quốc.[24]

Do vai trò của ông trong việc tháo ngòi nổ khủng hoảng Cuba và các nỗ lực duy trì hòa bình khác, đại biểu thường trực của Na Uy tại Liên hiệp Quốc truyền tin cho Thant rằng ông sẽ được trao giải Nobel Hòa bình 1965. Ông khiêm tốn đáp lại “Chẳng phải Tổng thư ký chỉ làm công việc của mình khi hành động vì hòa bình sao?”[1] Trên phương diện khác, Chủ tịch Gunnar Jahn của ủy ban giải Nobel Hòa bình vận động mãnh liệt chống lại việc trao giải cho Thant, và cuối cùng giải được trao cho UNICEF. Bất đồng kéo dài trong ba năm và không có giải Nobel hòa bình nào được trao vào năm 1966 và 1967, khi Gunnar Jahn phủ quyết hữu hiệu việc trao giải cho Thant.[25] Một thuộc cấp của Thant, và cũng từng được trao giải Nobel là Ralph Bunche phê bình quyết định của Gunnar Jahn là “bất công thô bạo đối với U Thant.”[1]

Đêm trước Giáng Sinh năm 1963, xung đột liên cộng đồng bùng phát tại Síp. Người Síp gốc Thổ Nhĩ Kỳ rút vào các khu tách biệt của họ, khiến chính phủ trung ương hoàn toàn nằm dưới quyền kiểm soát của người Síp gốc Hy Lạp. Một “lực lượng kiến tạo hòa bình” được lập ra dưới quyền chỉ huy của Anh song không thể kết thúc chiến đấu, và một hội nghị về Síp được tổ chức tại Luân Đôn trong tháng 1 năm 1964 kết thúc trong bất đồng. Ngày 4 tháng 3 năm 1964, giữa nguy cơ thù địch gia tăng về quy mô, Hội đồng Bảo an nhất trì cấp quyền cho Thant lập một lực lượng duy trì hòa bình tại Síp, với ủy thác giới hạn trong ba tháng nhằm ngăn chặn tái diễn giao tranh và khôi phục trật tự. Hội đồng còn yêu cầu tổng thư ký bổ nhiệm một nhà trung gian nhằm tìm kiếm một giải pháp hòa bình cho vấn dề Síp. Thant bổ nhiệm Galo Plaza Lasso làm trung gian song người này từ chức khi báo cáo của ông ta bị Thổ Nhĩ Kỳ bác bỏ trong tháng 3 năm 1965, và trách nhiệm người dàn xếp hết hiệu lực.[26]

Tháng 4 năm 1964, Thant chấp thuận để Tòa Thánh làm quan sát viên thường trực. Dường như không có sự tham gia của Hội đồng Bảo an hay Đại hội đồng trong quyết định này.[27]

Nhiệm kỳ thứ hai

Thant được Đại hội đồng tái bổ nhiệm làm Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc vào ngày 2 tháng 12 năm 1966, theo tiến cử nhất trí của Hội đồng Bảo an. Nhiệm kỳ của ông tiếp tục đến khi ông nghỉ hưu vào ngày 31 tháng 12 năm 1971. Trong nhiệm kỳ này, ông giám sát quá trình hàng chục quốc gia mới tại châu Á và châu Phi gia nhập Liên Hiệp Quốc và là một đối thủ kiên quyết của apartheid tại Nam phi. Ông cũng cho lập nhiều cơ quan, quỹ và chương trình phát triển và môi trường của Liên Hiệp Quốc, như Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP), Đại học Liên Hiệp Quốc, Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển, Viện Liên Hiệp Quốc về Đào tạo và Nghiên cứu (UNITAR), và Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc. Chiến tranh Sáu Ngày giữa các quốc gia Ả Rập và Israel, Mùa xuân Praha và sau đó là Liên Xô xâm chiếm Tiệp Khắc, và Chiến tranh Ấn Độ–Pakistan 1971 kéo theo khai sinh Bangladesh đều diễn ra trong nhiệm kỳ thứ hai của ông trong vai trò tổng thư ký.[14]

U Thant họp cùng Tổng thống Hoa Kỳ Lyndon B. Johnson tại Nhà Trắng, ngày 21 tháng 2 năm 1968.

Ông bị chỉ trích tại Hoa Kỳ và Israel vì chấp thuận rút lực lượng Liên Hiệp Quốc khỏi Sinai vào năm 1967 theo yêu cầu từ Tổng thống Ai Cập Nasser.[28] Đại biểu thường trực của Ai Cập thông báo cho Thant rằng chính phủ Ai Cập quyết định kết thúc sự hiện diện của lực lượng Liên Hiệp Quốc tại Sinai và Dải Gaza, và yêu cầu các bước rút quân càng sớm càng tốt. Thant không có lựa chọn nào khác ngoài chấp thuận. Liên Hiệp Quốc sau đó phát biểu “Do Israel từ chối chấp thuận UNEF trên lãnh thổ của họ, lực lượng chỉ được triển khai bên phía Ai Cập của biên giới, và do đó nhiệm vụ của họ hoàn toàn tùy thuộc sự thỏa thuận của Ai Cập với tư cách quốc gia chủ nhà. Một khi sự thỏa thuận là triệt thoái, hoạt động của họ không còn được duy trì.”[29]

Khủng hoảng Síp lại nổi lên vào tháng 11 năm 1967, song đe dọa can thiệp quân sự của Thổ Nhĩ Kỳ được ngăn chặn, phần lớn là do Hoa Kỳ phản đối. Các cuộc đàm phán được tiến hành giữa Cyrus Vance đại diện cho hoa Kỳ và José Rolz-Bennett nhân danh tổng thư ký nhằm tìm một giải pháp. Thương thảo liên cộng đồng bắt đầu trong tháng 6 năm 1968, thông qua các quan chức của tổng thư ký, nằm trong quá trình tìm giải pháp. Thương thảo bế tắc, song Thant đề xuất một công thức để tái kích hoạt chúng dưới bảo trợ của đại diện đặc biệt của ông là B.F. Osorio-Tafall, và chúng khôi phục vào năm 1972, sau khi Thant rời chức vụ.[26]

Mối quan hệ từng hữu hảo với chính phủ Hoa Kỳ của ông nhanh chóng xấu đi khi ông công khai chỉ trích hành vi của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam.[30] Các nỗ lực của ông về đàm phán hòa bình trực tiếp giữa Hoa Kỳ và miền Bắc Việt Nam cuối cùng bị chính phủ Johnson bác bỏ.

Nghỉ hưu

Ngày 23 tháng 1 năm 1971, Thant dứt khoát tuyên bố rằng dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào ông cũng không sẵn sàng cho một nhiệm kỳ tổng thư kỳ thứ ba. Trong nhiều tuần lễ, Hội đồng Bảo an bế tắc trong tìm kiếm một người kế nhiệm trước quyết định cuối cùng là để Kurt Waldheim kế nhiệm Thant làm tổng thư ký vào ngày 21 tháng 12 năm 1971, chỉ mười ngày trước khi nhiệm kỳ thứ hai của Thant kết thúc. Không giống như hai người tiền nhiệm, Thant nghỉ hưu sau mười năm giao thiệp với toàn bộ các đại cường quốc. Năm 1961, khi ông lần đầu được bổ nhiệm, Liên Xô nỗ lực kiên quyết về công thức nhóm ba tổng thư ký, mỗi người đại diện cho mỗi khối trong Chiến tranh Lạnh, nhằm duy trì tính bình đẳng trong Liên Hiệp Quốc giữa các siêu cường. Đến năm 1966, khi Thant được tái bổ nhiệm, toàn bộ các đại cường quốc, trong cuộc bỏ phiếu nhất trí của Hội đồng Bảo an, xác nhận tầm quan trọng của chức vụ tổng thư ký cùng các chức vụ dưới quyền, một đóng góp hiển nhiên của Thant.[14]

Trong diễn văn tạm biệt trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, Tổng thư ký Thant phát biểu rằng ông cảm thấy rất nhẹ nhõm khi thoát khỏi gánh nặng của chức vụ.[31] Trong một bài xã luận xuất bản khoảng ngày 27 tháng 12 năm 1971, tán dương Thant, The New York Times viết rằng “những lời khuyên khôn ngoan của người đàn ông tận tụy cho hòa mình này sẽ vẫn cần thiết sau khi ông nghỉ hưu”. Bài xã luận có tiêu đề “The Liberation of U Thant” (Sự giải phóng của U Thant.

Sau khi nghỉ hưu, Thant được bổ nhiệm làm một thành viên cấp cao trong Học viện Adlai Stevenson về sự vụ quốc tế. Ông dành những năm cuối đời để viết sách và và ủng hộ sự phát triển của một cộng đồng toàn cầu thực sự và các chủ đề chung khác mà ông từng nỗ lực xúc tiến trong thời gian giữ chức tổng thư ký.[14] Trong thời gian tại nhiệm tổng thư ký, Thant sống tại Riverdale, Bronx, trong một bất động sản rộng 4,75 mẫu Anh (1,92 ha) gần 232nd Street, giữa các đại lộ Palisade và Douglas.[32]

Qua đời và di sản

Mộ của Thant, đường chùa Shwedagon, Rangoon.

Thant qua đời do ung thư phổi tại New York vào ngày 25 tháng 11 năm 1974. Đương thời, Miến Điện do chính phủ quân sự cai trị, họ từ chối vinh danh ông. Tổng thống Miến Điện đương thời là Ne Win đố kỵ với tầm vóc quốc tế của Thant và sự kính trọng của dân chúng Miến Điện dành cho ông. Ne Win cũng oán giận liên hệ thân thiết của Thant với chính phủ dân chủ của U Nu, tức chính quyền mà Ne Win lật đổ trong một cuộc đảo chính quân sự vào ngày 2 tháng 3 năm 1962. Ne Win ra lệnh không công chức nào được tham dự hay kỷ niệm an táng Thant. Từ trụ sở Liên Hiệp Quốc tại New York, thi thể của Thant được đưa về Rangoon, song không có đội quân danh dự hay các quan chức cấp cao hiện diện tại sân bay khi quan tài đến ngoại trừ Thứ trưởng giáo dục U Aung Tun, nhân vật này sau đó bị cách chức.[33] Ngày an táng Thant 5 tháng 12 năm 1974, hàng chục nghìn người xếp hàng trên đường phố Rangoon để biểu thị lòng kính trọng của họ. Quan tài của Thant được đặt tại trường đua Kyaikasan tại Rangoon trong vài giờ trước khi được an táng theo kế hoạch. Quan tài của Thant sau đó bị một nhóm sinh viên lấy đi ngay trước khi được đưa đi an táng theo kế hoạch trong một nghĩa trang bình thường tại Rangoon. Các sinh viên an táng Thant trong khuôn viên cũ của Hiệp hội sinh viên Đại học Rangoon (RUSU), là nơi Ne Win cho phá hủy vào ngày 8 tháng 7 năm 1962.[34]

Trong thời gian từ 5-11 tháng 12, các sinh viên cũng xây dựng một bảo tàng tạm thời về Thant trên khuôn viên của RUSU và có các diễn văn chống chính phủ. Trong những giờ đầu buổi sáng ngày 11 tháng 12 năm 1974, binh sĩ chính phủ xông vào trường, giết một số sinh viên đang bảo vệ bảo tàng tạm thời, đem quan tài Thant đi an táng tại chân chùa Shwedagon.[35] Hay tin binh sĩ đột kích Đại học Rangoon và dời quan tài của Thant, nhiều người làm loạn trên các đường phố tại Rangoon. Thiết quân luật được công bố tại Rangoon và khu vực xung quanh. Các sự kiện được gọi là khủng hoảng U Thant—các cuộc biểu tình do sinh viên lãnh đạo trước cách đối xử tệ của chính phủ với Thant song bị trấn áp.[35]

Sinh hoạt cá nhân

Thant cùng gia đình, trong đó có các em trai Khant, Thaung và Tin Maung, mẹ Nan Thaung, cùng con gái Aye Aye Thant và con rể Tyn Myint-U, năm 1964.

Thant có ba em trai là Khant, Thaung, và Tin Maung.[36] Ông kết hôn với Daw Thein Tin. Thant có hai con trai song đều mất sớm; Maung Bo mất khi còn sơ sinh, còn Tin Maung Thant ngã từ xe buýt khi thăm Yangon. Đám tang của Tin Maung Thant có sự tham gia của những quan chức cấp cao, và lớn hơn quốc tang của Phó Đề đốc Than Pe, một thành viên trong Hội đồng Cách mạng gồm 17 người và là bộ trưởng y tế và giáo dục. Thant còn lại một con gái, một con trai nuôi, năm cháu ruột, và năm chắt ruột. Cháu trai ruột duy nhất của ông là Thant Myint-U trở thành một sử gia và là cựu quan chức cấp cao của Cơ quan Liên Hiệp Quốc về chính vụ và là tác giả của The River of Lost Footsteps, một phần tiểu sử của Thant.

Trong nhiệm kỳ tổng thư ký của mình, Thant theo đuổi các báo cáo về UFO với một số quan tâm; năm 1967, ông sắp xếp cho nhà vật lý khí quyển người Mỹ James E. McDonald phát biểu trước Nhóm sự vụ ngoại không gian của Liên Hiệp Quốc về đề tài UFO.[37]

Giải thưởng, vinh dự

Thant thường miễn cưỡng nhận các giải thưởng và danh dự do bản tính khiên tốn cũng như liên hệ công khai với chúng. Ông từ chối vinh dự cao thứ nhì của Miến Điện mà chính phủ U Nu trao cho ông vào năm 1961. Khi ông được thông báo rằng giải Nobel Hòa bình 1965 sẽ được trao cho UNICEF do Chủ tịch Gunnar Jahn phủ quyết, theo lời Walter Dorn thì Thant cảm thấy vui lòng.[1] Tuy nhiên, ông nhận giải Jawaharlal Nehru về Thông cảm quốc tế vào năm 1965,[38] giải Hòa bình Gandhi vào năm 1972, và hàng chục bằng danh dự khác.

Thant nhận bằng luật danh dự (LL.D) của Đại học Carleton, Học viện Williams, Đại học Princeton, Học viện Mount Holyoke, Đại học Harvard, Học viện Dartmouth, Đại học California tại Berkeley, Đại học Denver, Học viện Swarthmore, Đại học New York, Đại học Moskva, Đại học Queen’s, Học viện Colby, Đại học Yale, Đại học Windsor, Học viện Hamilton, Đại học Fordham, Học viện Manhattan, Đại học Michigan, Đại học Delhi, Đại học Leeds, Đại học Louvain, Đại học Alberta, Đại học Boston, Đại học Rutgers, Đại học Dublin (trường Ba Ngôi), Đại học Laval, Đại học Columbia, Đại học Philippines, và Đại học Syracuse. Ông cũng nhận bằng tiến sĩ thần học danh dự từ Giáo hội First Universal; tiến sĩ luật quốc tế từ Đại học Quốc tế Florida; tiến sĩ luật từ Đại học Hartford; tiến sĩ luật dân sự danh dự từ Đại học Colgate; tiến sĩ nhân văn từ Đại học Duke.[39]

Giải thưởng hòa bình U Thant do Nhóm Trầm tư Liên Hiệp Quốc lập ra để công nhận và vinh danh các cá nhân hoặc tổ chức có thành tựu xuất sắc hướng đến hòa bình thế giới. Nhóm này cũng đặt tên một đảo nhỏ tại East River đối diện trụ sở Liên Hiệp Quốc là đảo U Thant.[40] Jalan U-Thant (đường U-Thant) và thị trấn Taman U-Thant tại Kuala Lumpur, Malaysia cũng được đặt tên nhằm vinh danh ông.[41]

Tháng 12 năm 2013, nhờ nỗ lực của con gái Aye Aye Thant và cháu trai Thant Myint-U, nhà của Thant tại Yangon được chuyển thành một bảo tàng với các ảnh, tác phẩm và đồ dùng cá nhân của ông.[42]

Tham khảo

  1. ^ a ă â b Dorn 2007, tr. 147.
  2. ^ a ă Bingham 1966, tr. 29.
  3. ^ a ă Robert H. Taylor biên tập (2008). Dr. Maung Maung: Gentleman, Scholar, Patriot. Institute of Southeast Asian Studies. tr. 211–212. ISBN 978-981-230-409-4.
  4. ^ Thant Myint-U (2011). Where China Meets India: Burma and the New Crossroad of Asia. New York: Farrar, Straus and Giroux. tr. 76. ISBN 978-0-374-98408-3.
  5. ^ Bingham 1966, tr. 32.
  6. ^ a ă Dorn 2007, tr. 144.
  7. ^ Bingham 1966, tr. 33.
  8. ^ Franda, Marcus F. (2006). The United Nations in the 21st century: management and reform processes in a troubled organization. Rowman & Littlefield. p. 53. ISBN 978-0-7425-5334-7.
  9. ^ Bingham 1966, tr. 88.
  10. ^ Bingham 1966, tr. 89.
  11. ^ Bingham 1966, tr. 93.
  12. ^ Bingham 1966, tr. 94.
  13. ^ Bingham 1966, tr. 97.
  14. ^ a ă â b c d đ Lewis 2012.
  15. ^ Naing, Saw Yan (January 22, 2009). Remembering U Thant and His Achievements. The Irrawaddy.
  16. ^ a ă Dorn 2007, tr. 145.
  17. ^ H.W. Wilson Company (1962). Current biography, Volume 23. H. W. Wilson Co.
  18. ^ “1962 In Review. United Press International.
  19. ^ Dorn & Pauk 2009, tr. 265.
  20. ^ Dorn & Pauk 2012, tr. 80.
  21. ^ “Kennedy Agrees to Talks on Thant Plan, Khrushchev Accepts It; Blockade Goes On; Russian Tanker Intercepted and Cleared”. New York Times. 26 tháng 10 năm 1962. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2014.
  22. ^ Dorn & Pauk 2009, tr. 273.
  23. ^ Dorn & Pauk 2009, tr. 292.
  24. ^ Dorn 2007, tr. 161.
  25. ^ Geir Lundestad (2001). “The Nobel Peace Prize, 1901–2000”. Nobel Prize. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2014.
  26. ^ a ă “The Secretary-General – Developments under U Thant, 1961–1971”. National Encyclopedia. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2014.
  27. ^ Permanent Observer Mission of the Holy See to the United Nations, Interventions
  28. ^ Rikhye, Indar Jit (1980). The Sinai blunder: withdrawal of the United Nations Emergency Force leading to the Six-Day War of June 1967. Routledge. ISBN 978-0-7146-3136-3.
  29. ^ “Middle East UNEF: Background”. United Nations. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2014.
  30. ^ Dennen, Leon (August 12, 1968). U Thant Speaks No Evil on Czech Crisis. Daily News.
  31. ^ Whitman, Alden (November 26, 1974). “U Thant Is Dead of Cancer at 65; U Thant Is Dead of Cancer; United Nations Mourns” The New York Times.
  32. ^ Dunlap, David W. “Bronx Residents Fighting Plans Of a Developer”, The New York Times, November 16, 1987. Accessed 2008-05-04. “A battle has broken out in the Bronx over the future of the peaceful acreage where U Thant lived when he headed the United Nations. A group of neighbors from Riverdale and Spuyten Duyvil has demanded that the city acquire as a public park the 4,75 mẫu Anh (19.200 m2)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ] parcel known as the Douglas-U Thant estate, north of 232d Street, between Palisade and Douglas Avenues.”
  33. ^ Asian almanac, Volume 13. (1975). s.n. p. 6809.
  34. ^ Smith, Martin (6 tháng 12 năm 2002). “General Ne Win”. The Guardian (London).
  35. ^ a ă Soe-win, Henry (June 17, 2008). Peace Eludes U Thant. Asian Tribune.
  36. ^ Bingham, June (1966). U Thant: The Search For Peace. Victor Gollancz. tr. 43.
  37. ^ Letter to U Thant / James E. McDonald. – Tucson, Ariz.: J.E. McDonald, 1967. – 2 s;Druffel, Ann; Firestorm: Dr. James E. McDonald’s Fight for UFO Science; 2003, Wild Flower Press; ISBN 0-926524-58-5
  38. ^ “List of the recipients of the Jawaharlal Nehru Award”. ICCR India. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2014.
  39. ^ “U Thant (Myanmar): Third United Nations Secretary-General”. United Nations. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2014.
  40. ^ Schneider, Daniel B. (6 tháng 10 năm 1996). “F.Y.I.”. The New York Times.
  41. ^ List of roads in Kuala Lumpur
  42. ^ Kyaw Phyo Tha (23 tháng 12 năm 2013). “At U Thant’s Rangoon Home, an Exhibit to Inspire”. The Irrawaddy. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2014.

Nguồn chủ yếu

Đọc thêm

  • Bernard J. Firestone (2001). The United Nations under U Thant, 1961–1971. Metuchen, N.J: Scarecrow Press. ISBN 0-8108-3700-5.
  • Ramses Nassif (1988). U Thant in New York, 1961–1971: A Portrait of the Third UN Secretary-General. New York: St. Martin’s Press. ISBN 0-312-02117-8.
  • U Thant (1978). View from the UN. Garden City, N.Y: Doubleday. ISBN 0-385-11541-5.

Liên kết ngoài

Vương Trùng Dương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Vương Trùng Dương
WangChongYang.jpg

Vương Trùng Dương
(Vương Trung Phu)
Changchun-Temple-Master-and-disciples-painting-0316.jpg
Vương Trùng Dương và Toàn Chân thất tử, tranh vẽ trên tường am Trường Xuân tại Vũ Hán
Sinh Vương Tiêu Thu
Hàm Dương,
Thiểm Tây,
Trung Quốc
Mất Tung Sơn,
huyện cấp thị Đăng Phong,
địa cấp thị Trịnh Châu,
tỉnh Hà Nam, Trung Quốc
Quốc tịch Trung Hoa
Nghề nghiệp đạo sĩ
Tổ chức Toàn Chân đạo
Chức vị Trung Thần Thông
Phối ngẫu Độc thân hết đời

Vương Trùng Dương (1113 – 1170) là đạo sỹ thời nhà Tống, người sáng lập Toàn Chân giáo Bắc Tông Đạo giáo Trung Quốc.

Vương Trùng Dương tên thật là Vương Trung Phu (trong tiểu thuyết dựa Kim Dung “Thần điêu hiệp lữ“, tên của ông trước khi xuất gia là Vương Triết), tên tự là Duẫn Khanh, sinh ra tại Hàm Dương trong một gia đình giàu có. Thuở nhỏ ông chăm chỉ, tinh thông cả văn lẫn võ, lớn lên nhờ vậy mà nổi tiếng gần xa. Khi người Kim xâm lấn, ông tụ họp nhân dân nổi dậy chống lại nhưng không thành công.

Theo truyền thuyết [cần dẫn nguồn], năm 1159, ông được gặp Lã Động TânHán Chung Ly, hai vị tiên trong nhóm tám vị tiên sống ở Bồng Lai tiên đảo của Trung Quốc, được truyền thụ khẩu quyết luyện đan là Toàn Chân. Ý nói bảo toàn tam bảo (toàn tinh, toàn khí, toàn thần) hội tụ trung cung, kim đan thành tựu.

Từ đó ông chuyên tâm nghiên cứu Đạo giáo, đổi tên là Triết, tự là Tri Minh, thành lập ra Toàn Chân giáo. Tôn chỉ của Toàn Chân giáo là cứu giúp chúng sinh nên nhân dân rất kính trọng. Học trò tìm đến ông rất đông, nhưng ông dạy dỗ nghiêm khắc, thường đánh đập để thử thách nên cuối cùng chỉ còn lại bảy người. Đó chính là Toàn Chân thất tử.

Mục lục

Tiểu thuyết hoá

Vương Trùng Dương
Nhân vật trong Anh hùng xạ điêu
Thần điêu hiệp lữ
Sáng tạo bởi Kim Dung
Thông tin
Giới tính Đàn ông
Nét đặc biệt Toàn Chân thất tử
Danh hiệu Trung Thần Thông
(中神通)
Nơi ở núi Chung Nam
Tín ngưỡng Toàn Chân đạo
(tổ sư sáng lập)
Quốc tịch Trung Quốc

Vương Trùng Dương được Kim Dung tiểu thuyết hoá trở thành một nhân vật vắng mặt trong Xạ Điêu Tam Bộ Khúc.

Trong tác phẩm dựa Kim Dung “Võ Lâm Ngũ Bá”, tên “Trùng Dương” do sư phụ Thanh Hư chân nhân đặt, lấy ý ông đã chết rồi còn được cứu sống lại.

Trong truyện, Vương Trùng Dương mất trước khi thời đại Xạ Điêu bắt đầu. Những câu chuyện về ông thường được kể thông qua sư đệ Chu Bá Thông và các học trò của ông.

Theo đó, Vương Trùng Dương vốn khởi nghĩa chống quân Kim nhưng không thành. Ông quay về núi Chung Nam lập ra phái Toàn Chân. Ông lại có tình cảm với nữ hiệp Lâm Triều Anh nhưng không kết hôn, khiến nàng giận dỗi, chiếm lấy Hoạt tử nhân mộ của ông ở trên núi Chung Nam, từ đó hai người không nhìn mặt nhau.

Tại Hoa Sơn luận kiếm lần thứ nhất, Vương Trùng Dương được bầu là người võ công cao nhất, hiệu là Trung Thần Thông, được giữ bộ Cửu Âm chân kinh. 4 người còn lại là Đông Tà Hoàng Dược Sư, Tây Độc Âu Dương Phong, Nam Đế Đoàn Trí Hưng và Bắc Cái Hồng Thất Công.

Khi bệnh nặng, sắp mất, lo Âu Dương Phong tìm đến lấy chân kinh, ông liền giả chết. Âu Dương Phong tìm đến không phòng bị, bị ông đánh trọng thương bỏ chạy. Lúc đó Vương Trùng Dương mới mất hẳn.

Võ công

Võ công của Vương Trùng Dương là vô địch khi còn sống, nhưng Kim Dung lại không nói đến xuất xứ võ công của ông, chỉ nói ông từng một lãnh tụ chống nhà Kim, sau đó thất chí nên xuất gia làm đạo sĩ, tu tập các phép dưỡng sinh của Đạo gia. Từ đó ta có thể tạm suy luận rằng võ công của ông được sáng tạo bằng cách tổng kết các phép cận chiến từ chiến trận và phép khí công của Đạo gia. Sau đây là một số võ công của Vương Trùng Dương nói riêng và của Toàn Chân giáo nói chung:

  • Tiên Thiên công: môn nội công thượng thặng của Vương Trùng Dương, có tác dụng đả thông kỳ kinh bát mạch, tu luyện đến mức tận cùng cũng không thua kém gì Cửu Âm chân kinh vì theo lời Vương Trùng Dương, có luyện thêm nữa cũng chỉ là thiên hạ đệ nhất mà thôi. Theo lời Chu Bá Thông đây cùng với Nhất Dương Chỉ của Đại Lý Đoàn Nam Đế là 1 trong 2 môn nội công mang tính khắc Cáp Mô Công, chuyên dùng để đối phó với Tây Độc. Khi sắp mất, Vương Trùng Dương biết Âu Dương Phong không bỏ ý định cướp kinh nên đến Đại Lý trao đổi môn võ này với Nam Đế đổi lấy Nhất Dương Chỉ. Vì ông sợ khi ông mất thì không ai áp chế được Âu Dương Phong nữa nên mới truyền thụ môn võ này cho Nam Đế để Âu Dương Phong phải kiêng dè vì hiện tại Nam Đế học được cả hai môn võ có thể khắc chế được y. Tuy nhiên, có thể hiểu được môn nội công này rất khó luyện, muốn tu luyện thì điều kiện rất khắc nghiệt, vì trong truyện ngay cả Chu Bá Thông, Toàn Chân thất tử và các đệ tử của họ cũng không có ai được truyền thụ. Theo sự suy vi của phái Toàn Chân và sự diệt vong của Đại Lý, môn võ công này cũng thất truyền.
  • Toàn Chân tâm pháp: theo lời Quách Tĩnh đây là tâm pháp Đạo gia huyền môn chính tông, được diễn hóa từ Tiên Thiên Công nhưng không khắc nghiệt, trái lại rất dễ tu luyện, có tác dụng dưỡng sinh. Tu luyện lúc đầu thì chậm chạp, nhưng càng về sau thì càng cao cường, vì là huyền môn chính tông nên không sợ tẩu hỏa nhập ma. Cách tu luyện theo lời Mã Ngọc chỉ các phép thổ nạp (hô hấp) kết hợp với các động tác đi, đứng, nằm, ngồi kết hợp với khẩu quyết độc môn của phái Toàn Chân để tạo ra nội công lưu chuyển trong cơ thể. Người tu luyện càng loại bỏ tạp niệm thì tiến bộ càng nhanh, những người chân chất như Quách Tĩnh không có tạp niệm nên tiến bộ thấy rõ. Triệu Chí Kính truyền thụ cho Dương Quá chỉ nói khẩu quyết nhưng không chỉ cách hô hấp và các động tác nên Dương Quá không học được môn nội công này.
  • Tam Hoa Tụ Đỉnh chưởng
  • Kim Nhạn công: khinh công độc môn của Toàn Chân giáo. Mã Ngọc lúc đầu dạy cho Quách Tĩnh bằng cách buộc Quách Tĩnh vào sợi dây, truyền thụ khẩu quyết và yêu cầu Quách Tĩnh leo lên vách đá. Khi Quách Tĩnh thành thạo rồi thì tự mình dùng Kim Nhạn công để leo lên vách đá mà không cần dùng dây buộc. Lúc giao đấu với Kim Luân Pháp Vương trên tường thành Tương Dương, Quách Tĩnh lúc rơi xuống đã dùng Kim Nhạn Công đạp lên tường thành mà chạy thẳng lên nhảy vào trong thành.
  • Toàn Chân kiếm pháp: kiếm pháp độc môn của Toàn Chân giáo. Theo lời kể của các nhân vật trong truyện, trong lần Hoa Sơn luận kiếm, Vương Trùng Dương dựa vào bộ kiếm pháp này mà đánh bại quần hùng. Chiêu mạnh nhất của bộ kiếm pháp là “Nhất khí hóa Tam Thanh“.
  • Nhất Dương Chỉ: Vương Trùng Dương dùng Tiên Thiên công đổi môn võ này với Đoàn Nam Đế. Khi Âu Dương Phong đến cướp kinh, Vương Trùng Dương nhảy ra từ trong quan tài, dùng Nhất Dương Chỉ đánh vào my tâm (giữa 2 mắt) của Âu Dương Phong, phá Cáp Mô Công của y và buộc y phải chạy về Tây Vực.
  • Thiên Cương Bắc Đẩu trận: trận pháp được Vương Trùng Dương sáng tạo dựa trên chòm sao Bắc Đẩu, cần có bảy người để lập trận. Trận pháp này Vương Trùng Dương lưu lại để đối phó với những cao thủ như Ngũ Tuyệt còn lại vì không có đồ tử đồ tôn nào có võ công cao bằng ông. Trận pháp này khi thiết lập thì ngay cả Đông Tà Hoàng Dược Sư cũng rất khó phá giải. Trận pháp này nguyên chỉ cần 7 người, nhưng khi đối đầu đại địch có thể huy động 7*7=49 người để lập thành Thiên Cương Bắc Đẩu Đại trận. Sau này khi Toàn Chân thất tử còn lại 5 người (Mã Ngọc và Đàm Xứ Đoan đã chết), đã cùng sáng tạo ra 1 chiêu “Thất Tinh tụ hội” dựa trên Thiên Cương Bắc Đẩu trận để thoát khỏi sự lệ thuộc vào trận pháp.
  • Cửu Âm chân kinh: tuy không tu luyện, nhưng Vương Trùng Dương đã xem qua kinh thư. Khi bị Lâm Triêu Anh phá hết võ công độc môn của mình, Vương Trùng Dương đã khắc một số võ công của Cửu Âm chân kinh lên tường đá ở Cổ Mộ, chuyên dùng để phá giải võ công của Lâm Triêu Anh cùng với câu nói: “Trùng Dương cả đời, không thua kém ai!”.
  • Ngoài ra còn một số môn võ công yêu cầu thân đồng tử mới luyện thành. Chu Bá Thông nói rằng nếu không phải mất thân đồng tử thì đã tu luyện mấy môn võ công này để đánh bại Hoàng Dược Sư.

Phim ảnh

Vương Trùng Dương (中神通王重陽) cũng là tên của một bộ phim võ hiệp TVB năm 1992 xây dựng từ hình ảnh trong tiểu thuyết của Kim Dung, do Trịnh Y Kiện Ekin Cheng thủ vai Vương, Châu Huệ Mẫn thủ vai Trình Nhược Thi, mẹ Vương Trùng Dương, Lương Bội Linh (Fiona Leung梁藝齡) vai Lâm Triều Anh.

Xem thêm

Tham khảo

Liên kết ngoài



TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube
Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Advertisements

36 thoughts on “Chào ngày mới 22 tháng 1

  1. Pingback: Những bạn tốt của nông dân trồng sắn châu Á | Tình yêu cuộc sống

  2. Pingback: Chào ngày mới 23 tháng 1 | Tình yêu cuộc sống

  3. Pingback: CNM365 Tình yêu cuộc sống | Tình yêu cuộc sống

  4. Pingback: Chào ngày mới 24 tháng 1 | Tình yêu cuộc sống

  5. Pingback: Quả táo Apple Steven Jobs | Tình yêu cuộc sống

  6. Pingback: Chào ngày mới 25 tháng 1 | Tình yêu cuộc sống

  7. Pingback: Chuyện về Jobs | Khát khao xanh

  8. Pingback: Bên lề chính sử | Tình yêu cuộc sống

  9. Pingback: Chào ngày mới 26 tháng 1 | Tình yêu cuộc sống

  10. Pingback: Đến Neva nhớ Pie Đại Đế | Khát khao xanh

  11. Pingback: Đến với bài thơ hay | Tình yêu cuộc sống

  12. Pingback: Chào ngày mới 27 tháng 1 | Tình yêu cuộc sống

  13. Pingback: Từ Mekong nhớ Neva | Tình yêu cuộc sống

  14. Pingback: Chào ngày mới 28 tháng 1 | Tình yêu cuộc sống

  15. Pingback: Sông Srepok với Tây Nguyên | Khát khao xanh

  16. Pingback: Bên lề chính sử | Tình yêu cuộc sống

  17. Pingback: Chào ngày mới 29 tháng 1 | Tình yêu cuộc sống

  18. Pingback: Chào ngày mới 30 tháng 1 | Tình yêu cuộc sống

  19. Pingback: Nguyễn Du kiệt tác thơ chữ Hán | Tình yêu cuộc sống

  20. Pingback: Nguyễn Du kiệt tác thơ chữ Hán | Khát khao xanh

  21. Pingback: Chào ngày mới 31 tháng 1 | Tình yêu cuộc sống

  22. Pingback: Chào ngày mới 1 tháng 2 | Tình yêu cuộc sống

  23. Pingback: Ấn tượng Kuala Lumpur MARDI | Khát khao xanh

  24. Pingback: Chào ngày mới 2 tháng 2 | Tình yêu cuộc sống

  25. Pingback: Đến với bài thơ hay | Khát khao xanh

  26. Pingback: Chào ngày mới 3 tháng 2 | Tình yêu cuộc sống

  27. Pingback: Đỗ Tất Lợi danh y Việt Nam | Tình yêu cuộc sống

  28. Pingback: Chào ngày mới 4 tháng 2 | Tình yêu cuộc sống

  29. Pingback: Mark Zuckerberg và Facebook | Tình yêu cuộc sống

  30. Pingback: Huyền Trang và Tháp Đại Nhạn | Tình yêu cuộc sống

  31. Pingback: Huyền Trang và tháp Đại Nhạn | Khát khao xanh

  32. Pingback: Chào ngày mới 5 tháng 2 | Tình yêu cuộc sống

  33. Pingback: Chào ngày mới 6 tháng 2 | Tình yêu cuộc sống

  34. Pingback: Một trời thương nhớ | Tình yêu cuộc sống

  35. Pingback: Chào ngày mới 7 tháng 2 | Tình yêu cuộc sống

  36. Pingback: CNM365 Chào ngày mới 365 | Tình yêu cuộc sống

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s