Bên lề chính sử


DCSVNDH12
ĐH12 ĐCSVNKết quả bầu Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ủy ban Kiểm tra Trung ương và Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XII
* Đồng chí Nguyễn Phú Trọng tái cử Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng khóa XII
DCSVN DH12
chinhphu.vn. Danh sách Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XII. Sáng 28/1, thay mặt Đoàn Chủ tịch Đại hội, đồng chí Đinh Thế Huynh đã báo cáo kết quả Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, bầu Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ủy ban Kiểm tra Trung ương và Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XII.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã thực hiện quy trình bầu cử theo đúng quy định của Điều lệ Đảng và Quy chế bầu cử tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, thảo luận dân chủ, thống nhất cao số lượng ủy viên Bộ Chính trị khóa XII gồm 19 đồng chí, tiến hành bầu Bộ Chính trị một lần đủ số lượng 19 đồng chí:

  1. Đồng chí Nguyễn Phú Trọng
  2. Đồng chí Trần Đại Quang
  3. Đồng chí Nguyễn Thị Kim Ngân
  4. Đồng chí Ngô Xuân Lịch
  5. Đồng chí Tô Lâm
  6. Đồng chí Nguyễn Xuân Phúc
  7. Đồng chí Nguyễn Thiện Nhân
  8. Đồng chí Đinh Thế Huynh
  9. Đồng chí Phạm Minh Chính
  10. Đồng chí Tòng Thị Phóng
  11. Đồng chí Vương Đình Huệ
  12. Đồng chí Trần Quốc Vượng
  13. Đồng chí Phạm Bình Minh
  14. Đồng chí Trương Thị Mai
  15. Đồng chí Trương Hòa Bình
  16. Đồng chí Nguyễn Văn Bình
  17. Đồng chí Võ Văn Thưởng
  18. Đồng chí Đinh La Thăng
  19. Đồng chí Hoàng Trung Hải.

Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất rất cao bầu đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tái cử Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII.

Đồng chí Nguyễn Phú Trọng.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng giao Bộ Chính trị phân công một số đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị tham gia Ban Bí thư. Tại Hội nghị này, Ban Chấp hành Trung ương đã bầu 3 đồng chí vào Ban Bí thư gồm:

  1. Đồng chí Lương Cường
  2. Đồng chí Nguyễn Văn Nên
  3. Đồng chí Nguyễn Hòa Bình

Ban Chấp hành Trung ương đã bầu Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XII gồm 21 đồng chí:

  1. Đồng chí Trần Quốc Vượng
  2. Đồng chí Mai Trực
  3. Đồng chí Nguyễn Đức Hải
  4. Đồng chí Sa Như Hòa
  5. Đồng chí Bùi Thị Minh Hoài
  6. Đồng chí Nguyễn Thanh Sơn
  7. Đồng chí Nguyễn Văn Nhân
    8. Đồng chí Tô Quang Thu
    9. Đồng chí Trần Cẩm Tú
    10. Đồng chí Nguyễn Công Học
    11. Đồng chí Võ Minh Khương
    12. Đồng chí Nguyễn Văn Doanh
    13. Đồng chí Nguyễn Thị Bích Ngà
    14. Đồng chí Hà Quốc Trị
    15. Đồng chí Cao Văn Thống
    16. Đồng chí Võ Khắc Hùng
    17. Đồng chí Nghiêm Phú Cường
    18. Đồng chí Nguyễn Thế Toàn
    19. Đồng chí Nguyễn Quốc Hiệp
    20. Đồng chí Huỳnh Thị Xuân Lan
    21. Đồng chí Trần Tiến Hưng

Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã bầu đồng chí Trần Quốc Vượng, Ủy viên Bộ Chính trị, làm Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

VTV1 Không gian nhân văn Hồ Chí Minh (phim tài liệu)

Vùng trời nhân văn

HoaYenTu

Gương trời lồng lộng ban mai
Thung dung ta đến vùng trời nhân văn
Thịnh suy thế nước ngàn năm
Anh hùng là kẻ vì dân vì đời.

Bên lề chính sử dạo chơi
Rùa ơi thương Cụ biết nơi chọn về.
Kỳ Lân mộ, Tháp Rùa bia
Bia đời, bia miệng khắc ghi lòng người.

Tìm nơi tỉnh lặng ta ngồi
Tình yêu cuộc sống là nơi thư nhàn.

Hoàng Kim

(Nguồn: FB Hoàng Kim)

Rua oi
RÙA ƠI

Hoàng Gia Cương

Rùa ơi quá nặng phải không
Cõng bia Tiến sĩ lưng còng vậy ư?
Mấy trăm năm gội nắng mưa
Dẫu cho mòn đá cũng chưa xao lòng!

Hoa đời như sắc phù dung
Đổi thay sớm tối, khôn lường thịnh suy
Ngàn năm còn mất những gì?
Mà hàng bia vẫn rạng ghi tên người!

Biết ơn rùa lắm, rùa ơi
Giữ cho ta một khoảng trời nhân văn
Để tôn vinh bậc trí nhân
Để nền văn hiến ngàn năm không nhoà!

Rùa ơi, ta chẳng là ta
Nếu như đạo học lìa xa đất này!

Nguồn: FB Hoàng Gia Cương
(Nhà xuất bản Giáo dục, 2005)

xem tiếp…

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG


Chúc mừng Năm mới 2016 vui khỏe hạnh phúc

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube
Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Advertisements

29 thoughts on “Bên lề chính sử

  1. Bộ chính trị khoá 12 có gì mới?
    Nguyễn Văn Tuấn
    http://tuanvannguyen.blogspot.com/2016/01/bo-chinh-tri-khoa-12-co-gi-moi.html

    28-1-2106

    Tôi lại sắp làm phiền một số bạn khi trả lời câu hỏi trên, vì sẽ có một câu trả lời … nhạy cảm. Thật tình, dù không muốn bị tẩy não, nhưng vẫn khó mà tránh được những bàn luận chung quanh những kết cục của đại hội XII của đảng CSVN. Một trong những kết cục đó là thành phần trong Bộ chính trị. Khi so sánh với BCT XI, tôi thấy BCT XII có hai cái mới liên quan đến phân bố vùng miền và trình độ học vấn.

    BCT Khoá XII có 19 người, tăng 3 người so với BCT Khoá XI. Nhưng điểm đáng chú ý là nhìn vào danh sách thấy rất nhiều người miền Bắc. Thật vậy, trong số 19 người thì có đến 14 người (tức gần 3/4) là từ miền ngoài. Trong khi đó, BCT XI, có 9/16 (hay 56%) là người miền Bắc. Nói cách khác, tỉ lệ uỷ viên BCT XII từ miền Bắc tăng 31% so với BCT XI. Thật ra, sự phân bố trên cũng khá phù hợp với thực tế là 70% đảng viên là người miền Bắc (1).

    Một dữ liệu khác cũng thú vị không kém là trình độ học vấn. Năm nay, BCT XII có đến 10 người (tức hơn phân nửa) có bằng tiến sĩ. Nhưng BCT XI chỉ có 7/16 là tiến sĩ. Như vậy, tỉ lệ uỷ viên tiến sĩ tăng 20%. Sẽ rất thú vị nếu có được con số uỷ viên TƯ đảng có bằng tiến sĩ, nhưng chưa biết con số này sẽ lấy từ đâu.

    Càng ngạc nhiên hơn khi biết rằng ngay cả BCT bên Tàu, nơi mà VN bắt chước, cũng có ít tiến sĩ hơn VN. Trong số 25 người trong BCT Tàu, chỉ có 5 người có bằng tiến sĩ (2).

    Chẳng những số tiến sĩ áp đảo, mà con số giáo sư và phó giáo sư trong BCT XII cũng rất đáng nể. Có đến 6 người mang hàm GS/PGS: Trần Đại Quang, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Thiện Nhân, Phạm Minh Chính, Vương Đình Huệ, và Tô Lâm. Chưa thấy nơi nào mà giới cầm quyền tối cao lại có nhiều người mang hàm giáo sư như ở VN.

    Nếu người nước ngoài nhìn vào danh sách uỷ viên BCT và biết được trình độ học vấn của họ thì sẽ rất nể phục VN. Nếu nghĩ rằng trình độ học vấn có tương quan với phát triển kinh tế, thì có thể họ sẽ suy luận rằng VN là nước rất phát triển. Nhưng trong thực tế, VN là một nước nghèo và hay “ăn xin”. Ăn xin nhiều đến nỗi giới ngoại giao nước ngoài hỏi chừng nào VN hết ăn xin (3). Thật ra, (nói vui một chút), ở VN có một sự tương quan cao giữa số quan chức có bằng tiến sĩ và vay/xin ODA: theo thời gian, con số tiến sĩ càng nhiều thì số tiền vay/xin ODA càng cao!

    Nói tóm lại, BCT XII năm nay có đến 3/4 là người miền Bắc; và hơn phân nửa có bằng tiến sĩ, và trong số đó có 6 người mang hàm giáo sư. Tôi nghĩ dù muốn hay không thì cũng phải đặt vấn đề phân bố vùng miền ở nước ta, vì chính người cao nhất trong đảng từng nói một câu mang tính phân biệt vùng miền. Chúng ta phải tìm hiểu tại sao ông ấy nói như thế. Không nên giấu giếm khi vấn đề đó nó tồn tại và có ảnh hưởng đến suy nghĩ của người dân. Người dân hỏi tại sao một cộng đồng đóng góp quá nhiều cho nền kinh tế quốc dân, nhưng cộng đồng đó lại thiếu sự đại diện tương ứng trong đảng và trong các cơ quan công quyền.

    ____

    (1) Việt Nam vẫn còn chia cách: vết thương chậm hồi phục, ít có triển vọng cho con cái của đồng minh Mỹ (Bloomberg/ BS).

    (2) Bằng cấp của các bộ trưởng Việt Nam, China, Mĩ, và Úc (Nguyễn Văn Tuấn).

    (3) Theo ông Lê Đăng Doanh thuật lại trong một buổi báo cáo cho trung ương đảng với cách nói thẳng và không màu mè: “[…] Tôi xin báo cáo rất chân thành với các anh là ra đấy chỉ khổ tâm thôi. Nhiều thằng nó nói với tôi là chúng mày định ngửa tay đi ăn xin đến bao giờ nữa? Chúng mày là người thông minh, có học, về mặt nào đấy chúng mày không kém gì chúng tao cả… Tại sao chúng mày cứ ăn xin miết thế. Chúng mày giỏi thế mà chúng mày nghèo lâu đến như thế là thế nào? Chúng mày cứ đề ra cái mục tiêu là đến bao giờ chúng mày đừng có đi ăn xin nữa được không? Nó nói với tôi trắng trợn và thẳng lắm chứ, y nguyên như tôi nói với các anh chị.”

    (xem thêm 1 ) Việt Nam vẫn còn chia cách: vết thương chậm hồi phục, ít có triển vọng cho con cái của đồng minh Mỹ .

    Bloomberg

    Tác giả: John Boudreau và K Oanh Ha

    Người dịch: Trần Văn Minh

    23-12-2015

    Những gia đình từng là đồng minh Mỹ, bị ngăn cản, không được gia nhập Đảng Cộng sản

    H1Vũ Tiến, một sinh viên đại học tại thành phố Hồ Chí Minh, giữ hình ảnh của cha, người đã phục vụ trong quân đội VNCH đã từng cầm quyền miền nam từ năm 1954 đến 1975. Nguồn: Bloomberg

    Là một sinh viên tốt nghiệp từ một trong những trường có uy tín nhất ở Việt Nam, Cao, 22 tuổi, dường như có một tương lai tươi sáng phía trước – nếu gạt bỏ vấn đề lý lịch sang một bên. Anh tìm thấy triển vọng về sự nghiệp của mình bị vây hãm bởi những di sản còn sót lại của một cuộc chiến đã kết thúc gần hai thập niên trước khi anh được sinh ra.

    Hai người bác của anh đã phục vụ trong quân đội bị thua trận của miền Nam Việt Nam, là đồng minh của Hoa Kỳ trong suốt những gì được biết ở Việt Nam là “cuộc chiến chống Mỹ”. Sau khi đất nước thống nhất dưới sự cai trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, mẹ của anh đã bị từ chối, không được vào học đại học vì sự liên hệ của người anh với chính quyền miền Nam. Ngay cả khi Việt Nam nới lỏng các quy định cũ trừng phạt những người có liên quan tới Việt Nam Cộng Hòa trước đây, nhiều người ở miền Nam tin rằng hệ thống vẫn ưu đãi những người có mối quan hệ với cộng sản.

    H2Cha của Vũ Tiến, bên phải, đứng cùng với các đồng đội trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Nguồn: Vũ Tiến

    Cao thậm chí không màng xin việc tại các công ty do nhà nước kiểm soát ở Việt Nam, là các công ty cung cấp việc làm bền vững, các khoản tiền thưởng và gia tăng cơ hội việc làm cho các thành viên gia đình. “Để có thể kiếm được việc làm trong hệ thống nhà nước, một người phải có bố mẹ hoặc người thân làm việc ở đó, vì vậy những người dân bình thường như chúng tôi không thể tới gần những công ty đó được“. Cao, một sinh viên tốt nghiệp trường Đại học Ngoại thương Thành phố Hồ Chí Minh, cho biết.

    Thảo luận về mối quan hệ của một người với chính quyền Sài Gòn cũ là một chủ đề nhạy cảm và Cao yêu cầu chỉ sử dụng tên họ của mình. Cuối cùng, anh tìm được việc làm tại một công ty bất động sản tư nhân. “Nếu công ty nhà nước quan tâm đến lý lịch gia đình của tôi, chắc chắn tôi sẽ thất bại”, anh nói.

    H3 Quân đội Cộng sản tấn công dinh tổng thống ở Sài Gòn, đánh dấu sự kết thúc chiến tranh vào ngày 30-4-1975. Ảnh: Jean-Claude Labbe/Gamma-Rapho via Getty Images

    Cuộc chiến bên trong

    Kinh nghiệm của anh phản ánh một thực tế kinh tế đối với người dân miền Nam 40 năm sau khi quân đội cộng sản thống nhất đất nước – một sự mỉa mai vô cùng tận. Ngay cả khi mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã cải thiện đáng kể từ khi quan hệ ngoại giao đầy đủ được khôi phục vào năm 1995, các vết thương xã hội bên trong chưa hoàn toàn bình phục từ cuộc chiến huynh đệ tương tàn, đã giết chết khoảng 3 triệu người Việt.

    Việt Nam vẫn là một quốc gia phân biệt giai cấp, trong đó truyền thống phân biệt đối xử đối với các cựu đồng minh của Mỹ đang kềm hãm nền kinh tế, bằng cách loại trừ một số người giỏi và thông minh nhất nước, ra khỏi những vị trí hàng đầu tại các công ty nhà nước và chức vụ chính quyền. Mối căng thẳng chiến tranh chưa giải tỏa tại quốc nội cũng xua đuổi đầu tư tiềm năng và chuyên môn cần thiết của nhiều người Việt Nam ở nước ngoài.

    Cộng đồng người Mỹ gốc Việt, với con số đông 1,8 triệu người, là nhóm cộng đồng hải ngoại lớn nhất bên ngoài quê hương, bị chia rẽ trong mối liên hệ với chế độ cộng sản. Nhiều người không muốn đầu tư tiền và khả năng chuyên môn về quê hương vì chính quyền vẫn nhìn họ dưới con mắt ngờ vực, ông Nguyễn Thịnh cho biết, là người đã bỏ sự nghiệp ở Silicon Valley để thành lập một công ty phần mềm tại thành phố Hồ Chí Minh.

    Ông nói: “Trừ khi các cộng đồng ở nước ngoài thấy một vài nỗ lực hòa giải, Việt Nam sẽ không hấp dẫn được những thành phần tinh túy nhất ở nước ngoài. Rất nhiều lần, người Việt nước ngoài không được đối xử công bằng, chứ đừng nói đến được hoan nghênh ở đây“.

    Một trở ngại lớn cho phát triển kinh tế của Việt Nam là sự thiếu hụt kỹ năng bởi vì hệ thống đại học của Việt Nam không đáp ứng được nhu cầu của một nền kinh tế hiện đại, Trinh Nguyễn, nhà kinh tế kỳ cựu về Á Châu đang trỗi dậy, làm cho Công ty Natixis SA có trụ sở ở Hồng Kông, nói: “Một trong những cách dễ nhất để Việt Nam lấp đầy khoảng cách này là ban hành những chính sách thu hút và giữ chân những người Việt ở nước ngoài có kỹ năng cao“.

    Lập trường của Hà Nội rằng cuộc xung đột không phải là một cuộc nội chiến, mà là cuộc cách mạng chống lại Mỹ và chính quyền bù nhìn Sài Gòn, là “trở ngại lớn nhất đối với hòa giải”. Huy Đức, một cư dân đến từ Hà Nội và là tác giả sách “Bên Thắng Cuộc”, một quyển sách về Việt Nam sau khi thống nhất đất nước, nói.

    Ông Đức nói: “Chế độ hiện tại này chưa từng suy nghĩ một cách nghiêm túc về vấn đề hòa giải thực sự. Họ luôn luôn khẳng định mình là kẻ thắng cuộc chiến và là bậc thầy của dân tộc“.

    H4 Quốc kỳ và biểu ngữ chào mừng Đảng Cộng sản được trang trí trên đường phố Hà Nội, Việt Nam. Nguồn: Justin Mott/Bloomberg

    Sau chiến tranh, các đảng viên được tin cậy của Đảng Cộng sản và gia đình của họ được tưởng thưởng với những chức vụ hàng đầu, trong khi những người Việt Nam là đồng minh của Mỹ thì bị trừng phạt và con cái của họ bị từ chối các cơ hội. Nhiều người miền Bắc đã được gửi đến miền Nam bị chinh phục. Ngày nay, chính sách đó đã góp phần vào hệ thống vững chắc, vẫn mang vẻ nghiêng về phía người Bắc và Đảng viên Cộng sản:

    22 trong số 25 doanh nghiệp nhà nước lớn nhất của Việt Nam có trụ sở tại Hà Nội, thủ đô của đất nước.
    ĐảngCộng sản không chấp nhận là đảng viênnếu cha mẹ của một người (hoặc cha mẹ của người phối ngẫu) từng làm việctrong chính quyền [cũ] hoặc”quân đội của kẻ thù”.
    Haiphần ba trong khoảng 3triệu đảngviên Cộng sảncủaViệt Namcư ngụ ở các tỉnhphía Bắccủa đất nước,từ QuảngTrịtrở ra,tính đến năm 2010, theoCarlyleThayer, giáo sư danh dựvàchuyên giavề Việt NamtạiHọc việnQuốc phòngÚcởCanberra. Miền Bắcchiếm 46%, trong số 87triệu dâncủa đất nước.
    Khoảng 70% nội cácchính phủ hiện nay là người miền Bắc, so với 30% từ các tỉnh miền Namvà miền Trung.

    Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ Ngoại giao và Bộ Công an đã không trả lời các câu hỏi về hòa giải trước khi bài viết này được đăng tải.

    Trong một bài diễn văn nhân ngày 30 tháng 4 tại thành phố Hồ Chí Minh, đánh dấu kỷ niệm 40 năm thống nhất đất nước, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kêu gọi người Việt tại quê hương và hải ngoại “nêu cao chủ nghĩa dân tộc, lòng yêu nước, truyền thống nhân đạo, khoan dung, không phân biệt quá khứ, vượt lên trên những khác biệt, để thật tâm hòa giải dân tộc”.

    Trả thù sau chiến tranh

    Sau khi bị cộng sản tiến chiếm, Sài Gòn được đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh và hơn 1 triệu người, gồm những người đã chiến đấu bên cạnh quân đội Mỹ hoặc phục vụ trong chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cũ, đã bị đưa đến các trại cải tạo, theo báo cáo của Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc.

    Toàn bộ các gia đình, thường kéo dài đến ba thế hệ, được coi là có “lý lịch gia đình xấu” bởi vì mối liên quan của họ với chính phủ đã bị sụp đổ. Hệ thống kiểm tra lý lịch đó, vẫn còn tồn tại đến ngày nay, đã ngăn cản nhiều người không xin được việc làm hay bước vào các trường đại học. Sự đối xử khắc nghiệt góp phần vào luồng di cư của hơn 1 triệu người Việt Nam tỵ nạn.

    H5

    “Đó là sự phân biệt đối xử khi có quy định ngăn cấm gia nhập đảng đối với những người có cha mẹ hoặc cha mẹ bên vợ, bên chồng làm việc cho chế độ cũ“, ông Vũ Tiến, người học đại học tại thành phố Hồ Chí Minh và yêu cầu không sử dụng tên đầy đủ của mình, cho biết. Cha anh phục vụ trong quân đội miền Nam, Việt Nam, và ông quyết định di cư đến một nước phương Tây vì anh thấy triển vọng kinh tế tốt hơn cho bản thân ở nước ngoài. “Đó là một chính sách bất công và vô nghĩa, từ khi chiến tranh kết thúc 40 năm trước đây“.

    Bằng nhiều cách, hận thù đã dịu lại qua nhiều thập niên giữa những kẻ thù cay nghiệt một thời, và thái độ của khu vực cũng góp phần vào sự mất cân bằng chính trị và kinh tế. Con gái của ông Dũng, một người miền Nam, từng bị thương khi là một y tá Việt Cộng trong cuộc chiến, đã kết hôn với Henry Nguyễn, người Mỹ gốc Việt, người có cha từng làm việc cho chính phủ miền Nam Việt Nam. Người Việt có quan hệ với chế độ cũ hiện nay, có thể đạt được một số vị trí trong chính phủ và các doanh nghiệp nhà nước, mặc dù họ không thể giữ các chức vụ hàng đầu, ông Đức và các nhà nghiên cứu khác cho biết.

    Sự phân chia giữa đảng viên miền Bắc và miền Nam gắn liền với di sản của cuộc chiến – đa số các nhà cách mạng cộng sản đến từ miền Bắc – và sự thờ ơ của người miền Nam đối với đảng, ông Thayer nói. “Điều này là khá rõ rệt. Gia nhập đảng không cần thiết đối với nghề nghiệp của họ. ‘Tôi không thể làm một công an, thì sao nào?’ Miền Bắc thắng được cuộc chiến và miền Nam thắng được kinh tế“. Ông Thayer cho biết.

    H6

    Nhiều sinh viên tốt nghiệp trẻ, đặc biệt là những người ở miền Nam, thích làm việc cho các công ty nước ngoài như Intel Corp và Samsung Electronics Co. Nền kinh tế phồn thịnh của Việt Nam – mà chính quyền dự báo sẽ phát triển 6,7% trong năm tới, tốc độ nhanh nhất trong 9 năm – cung cấp nhiều cơ hội nghề nghiệp ngoài khu vực nhà nước. Nhiều chuyên gia trẻ ở miền Nam cũng cho biết, họ không có ý muốn gia nhập Đảng Cộng sản.

    Thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm tài chính của Việt Nam và quê hương của những người Việt có quan hệ với chính quyền miền Nam cũ, đã làm nên gần ¼ tổng sản lượng quốc nội (GDP) của đất nước. Hà Nội, ngược lại, đóng góp 10% cho GDP.

    Dù sao những thuận lợi cho kẻ chiến thắng tiếp tục làm thay đổi hình thái kinh tế, từ việc tuyển dụng các chức vụ quan chức chính phủ quan trọng, giúp định hình chính sách tài khóa, cho tới sự ưu đãi đối với các công ty nhà nước có trụ sở ở miền Bắc, là các công ty có được sự tiếp cận ưu tiên nguồn vốn từ các ngân hàng do Chính phủ bảo trợ. Các công ty nhà nước sử dụng khoảng 50% đầu tư công của Việt Nam và hút 60% các khoản vay ngân hàng của đất nước, trong khi chỉ đóng góp 1/3 cho GDP, theo số liệu của chính quyền.

    H7Những con gà chạy nhảy ngang qua một nghĩa trang đổ nát của hàng ngàn binh lính miền Nam, Việt Nam gần thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Nguồn ảnh: John Boudreau/Bloomberg

    “Chế độ hiện tại này chưa bao giờ suy nghĩ nghiêm túc về vấn đề hòa giải thực sự”.

    H8Quân đội cộng sản vui cười, ngồi trên nóc xe tải và xe bọc thép ở Sài Gòn khi chiến tranh kết thúc vào tháng 4-1975. Nguồn: AFP/Getty Images

    Vấn đề trung thành

    Thuật ngữ sau chiến tranh dùng để ngăn cản sự tiếp cận vẫn là một phần của tâm lý và tiếng địa phương của Việt Nam ngày nay: các mẫu đơn chính thức về lịch sử gia đình được yêu cầu đối với các trường học và công việc, đòi hỏi người nộp đơn phải liệt kê những gì các thành viên gia đình đã làm “trước và sau ngày 30 tháng 4 năm 1975”. Cho đến hôm nay, thuật ngữ “ngụy” dùng cho “chế độ bù nhìn” vẫn còn được sử dụng thường xuyên.

    Người Việt viết cho các hãng tin trực tuyến và luật sư trên mạng để hỏi xem họ có thể gia nhập Đảng Cộng sản nếu họ có người trong gia đình phục vụ chế độ “ngụy“. Một công ty luật trả lời một câu hỏi trực tuyến vào tháng 10, liệu kết hôn với một viên công an sẽ được phép, khi người phối ngẫu có quan hệ với chế độ cũ. (Luật sư trả lời rằng sẽ không được Bộ Công an cho phép). Một người yêu cầu hỗ trợ pháp lý sau khi ông bị các quan chức tỉnh từ chối việc làm, với lý do bố vợ của ông là một nhân viên kế toán trong chính quyền Sài Gòn.

    “Hệ thống chính trị Việt Nam đánh giá cao sự trung thành”, ông Nguyễn Xuân Thành, một thành viên thâm niên của Đại học Hành chánh Kennedy của Harvard tại Việt Nam, có trụ sở ở Thành phố Hồ Chí Minh, cho biết. “Hiện vẫn còn mối quan tâm thực sự về những gì họ gọi là diễn biến hòa bình – giới cao cấp trong hệ thống chính quyền từ từ trở nên chống đảng và mất niềm tin vào chủ nghĩa xã hội”.

    Trong khi đó, các cựu chiến binh và những người “có công với cách mạng” khác – một sự chỉ định tính anh hùng vẫn được sử dụng ngày nay – và gia đình của họ nhận được trợ cấp theo luật hàng tháng, bảo hiểm y tế và sự đối xử ưu đãi trong việc gia nhập trường học và công ăn việc làm. Cựu chiến binh cộng sản được ưu tiên khi xếp hàng lên máy bay.

    Các lợi ích kinh tế

    Tình cảm phổ biến về phía những kẻ chiến bại được minh họa bằng một nghĩa trang đổ nát của hàng ngàn binh lính Nam Việt Nam, gần thành phố Hồ Chí Minh. Một số ngôi mộ không còn gì hơn một đống đất và những mộ khác thiếu bia đá. Nhân viên bảo vệ sử dụng nghĩa trang để nuôi gà. Bên kia đường cao tốc gần đó, những ngôi mộ của các cựu chiến binh chiến đấu bên phía những người Cộng sản thì được chăm sóc cẩn thận và được bao quanh với những luống hoa trong “nghĩa trang liệt sĩ”.

    Việc hoà giải những vết thương cũ sẽ mang lại cho nền kinh tế sức mạnh hơn nữa, ông Tương Lai nói. Ông là một giáo sư xã hội học và là đảng viên Đảng Cộng sản, là người đã từng cố vấn cho cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Cựu Thủ tướng trông coi việc cải cách kinh tế vào thập niên 1990, nối lại quan hệ ngoại giao với Mỹ và kêu gọi hòa giải dân tộc trong một cuộc phỏng vấn của báo chí năm 2005.

    Ông Tương Lai nói: “Để hội nhập với thế giới, chính quyền Việt Nam đầu tiên cần phải hòa giải và làm bạn với những người dân mà họ coi là kẻ thù. Nếu chúng ta không có một sự hòa giải thực sự trong nước, làm sao chúng ta có thể làm điều đó với thế giới?“

  2. Nguyễn Phú Trọng: “Chiến lược xa quá”!
    Nguyễn Văn Tuấn

    28-1-2016

    Kí giả của hãng thông tấn Pháp AFP hỏi bác tổng Trọng: “Dưới sự lãnh đạo của ông, ông có nghĩ Việt Nam sẽ trở thành nước dân chủ giàu mạnh hơn?” Ngài tổng bí thư kính mến trả lời mà như không trả lời: “Câu hỏi của bạn tính chiến lược xa quá”!

    Ngài tổng bí thư kính mến nói tiếp: “Tôi cho rằng nguyên tắc tập thể lãnh đạo nhưng phải nêu cao trách nhiệm cá nhân, để tránh làm tốt thì vơ vào còn làm dở thì không ai chịu trách nhiệm cả.

    Tôi chẳng tiện nói một số nước nhưng cứ nhân danh dân chủ nhưng cá nhân quyết định tất thì dân chủ sao được. Khẩu hiệu của Việt Nam là xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đây là mục tiêu lâu dài còn trước mắt thì xây dựng một nước Việt Nam phát triển, văn minh hiện đại” (1).

    Thiệt chẳng biết nói gì! Hình như bác này hiểu khái niệm “dân chủ” khác với cách hiểu của kí giả và phần đông chúng ta. Cái mục tiêu trước mắt của ông thì hoàn toàn chẳng có ý nghĩa gì cả. Còn cái câu chỉ trích “không ai chịu trách nhiệm” thì chỉ chứng tỏ ông KHÔNG biết gì về các nước theo thể chế dân chủ. Thật là tội nghiệp!

    Một nhà lãnh đạo thực sự phải là một kẻ có viễn kiến – vision, nhưng qua câu trả lời của ngài tổng bí thư kính mến, tôi sợ là ông chẳng có một viễn kiến gì cả. (Nếu là người có viễn kiến, ông đã có một câu trả lời hay, chứ không quá ngây thơ đến nổi nói cái mục tiêu dân chủ giàu mạnh là xa). Có lẽ ông chỉ là một người đứng đầu đảng (party head), chứ chưa phải là một “leader”, và còn rất rất xa để thành một “statesman”.

    ____

    PS: Đọc nguyên bài (chắc là tường thuật chưa đầy đủ) thấy các kí giả VN hỏi những câu quá thấp và tầm thường, chứng tỏ họ quan tâm đến mấy cái tủn mủn. Chỉ có anh kí giả AFP hỏi một câu nghe tạm được.

    (1) Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Xây dựng VN phát triển, văn minh, hiện đại” (TT).
    TTO – 9g10 phút Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng vào phòng họp báo, cùng vào còn có ông Đinh Thế Huynh, Ủy viên Bộ Chính trị khóa XII và nhiều thành viên Ban chấp hành trung ương khóa XII
    Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trả lời báo chí trong nước và quốc tế – Ảnh: Reuters

    Tổng bí thư gửi lời cảm ơn đến báo chí, ông nói cũng đã từng làm báo nên hiểu tác nghiệp khó khăn như thế nào.

    Ông cho rằng các nhà báo với đôi mắt tinh tường, đôi tai rất thính chắc chắn sẽ có đánh giá sâu sắc về đại hội, thậm chí đánh giá sâu sắc hơn cả ông.

    Tổng Bí thư cho rằng đại hội nào cũng quan trọng nhưng đại hội XII còn đặc biệt quan trong trong bối cảnh tình hình quốc tế có những biến chuyển và đất nước đứng trước nhiều vận hội mới. Tổng Bí thư nói ông sẽ dành 30 phút để trả lời báo chí.

    Theo Tổng bí thư, trong nhiệm kỳ vừa qua có nhiều cái mới. Thứ nhất là nghị quyết trung ương 4 khóa XI, thứ hai là lấy phiếu tín nhiệm, lần đầu tiên trong lịch sử đảng ta. Đây là một cách để kiểm nghiệm xem tín nhiệm của các đồng chí lãnh đạo đến đâu, và để chấn chỉnh.

    Đây là thuận lợi cho công tác nhân sự đại hội XII diễn ra tốt đẹp. Đây là lần đầu tiên ban chấp hành trung ương bầu một lần đủ 19 người vào Bộ Chính trị, phiếu rất tập trung cho các chức danh.

    Tại đại hội cũng bầu một lần được 180 ủy viên chính thức và 20 ủy viên dự khuyết. Người thấp nhất trúng cử cũng được 62% số phiếu.

    VTV: Cảm nghĩ của Tổng Bí thư ra sao khi được bầu là người lãnh đạo cao nhất của Đảng?

    – Tổng bí thư: Hơi bất ngờ với tôi, khó trả lời. Tôi cũng không ngờ được Đại hội tín nhiệm giới thiệu, được BCH trung ương bầu làm Tổng bí thư gần như 100% tuyệt đối.

    Bất ngờ vì tuổi cao, sức khoẻ có hạn, trình độ có hạn, tôi đã xin nghỉ rồi. Trách nhiệm Đảng giao thì tôi với tư cách đảng viên thì phải chấp hành.

    Tôi chân thành cảm ơn đồng bào đã có những nhắn gửi, giao trách nhiệm cho chúng tôi. Tôi bất ngờ, xúc động và có lo lắng vì trách nhiệm sắp tới còn nặng nề lắm, trước tình hình diễn biến trong nước và quốc tế.

    Thời cơ có nhưng thách thức cũng rất nhiều. Còn rất nhiều việc phải làm.

    * Báo Dân Trí: Kết quả bầu Ban bí thư Bộ Chính trị có đúng phương án không?

    – Tổng bí thư: Câu hỏi này đi sâu vào công tác nhân sự, kết quả bầu cử vừa rồi bảo đảm 100% là hoàn toàn đúng với công tác nhân sự. Phương hướng rộng lắm, tiêu chí cơ cấu… đều đảm bảo.

    Còn chọn ai nhân sự nào thì Ban chấp hành trung ương giới thiệu rồi đại hội giới thiệu thêm. Rồi người đề cử cũng xin rút, đều có báo cáo cả.

    Theo quy chế thì đoàn chủ tịch sẽ xem xét có cho rút hay không, rồi quyết định là do đại hội. Lần này Đại hội cho bỏ phiếu xin rút, chứ không biểu quyết kiểu giơ tay ào ào. Khi quyết định lấy số dư 30% thì cũng lấy ý kiến bằng phiếu kín, lấy từ trên xuống.

    Như vậy là vừa lấy ý kiến từ giới thiệu Ban chấp hành trung ương khóa trước, rồi lấy ý kiến của đại hội… Dân chủ đến thế là cùng – nhiều đại biểu tâm sự như thế. Đại hội lần này là đại hội biểu hiện dân chủ đoàn kết kỷ cương trí tuệ.

    * AFP: Dưới sự lãnh đạo của ông, ông có nghĩ Việt Nam sẽ trở thành nước dân chủ giàu mạnh hơn?

    – Tổng bí thư: Câu hỏi của bạn tính chiến lược xa quá. Tôi cho rằng nguyên tắc tập thể lãnh đạo nhưng phải nêu cao trách nhiệm cá nhân, để tránh làm tốt thì vơ vào còn làm dở thì không ai chịu trách nhiệm cả.

    Tôi chẳng tiện nói một số nước nhưng cứ nhân danh dân chủ nhưng cá nhân quyết định tất thì dân chủ sao được. Khẩu hiệu của Việt Nam là xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

    Đây là mục tiêu lâu dài còn trước mắt thì xây dựng một nước Việt Nam phát triển, văn minh hiện đại.

    Cuộc họp báo đã kết thúc lúc 9g40 phút.

  3. Pingback: Chào ngày mới 30 tháng 1 | Tình yêu cuộc sống

  4. Pingback: Nguyễn Du kiệt tác thơ chữ Hán | Tình yêu cuộc sống

  5. Pingback: Nguyễn Du kiệt tác thơ chữ Hán | Khát khao xanh

  6. Pingback: Chào ngày mới 31 tháng 1 | Tình yêu cuộc sống

  7. Pingback: Chào ngày mới 1 tháng 2 | Tình yêu cuộc sống

  8. Pingback: Ấn tượng Kuala Lumpur MARDI | Khát khao xanh

  9. Cho điểm ‘Tứ trụ mới’ – tại sao không?
    BBC http://www.bbc.com/vietnamese/forum/2016/01/160131_vucaophan_chodiem_bochinhtri

    TS. Vũ Cao Phan

    Nhà nghiên cứu, Đại học Bình Dương

    31-1-2016
    Tác giả đánh giá và cho điểm dàn lãnh đạo được cho là ‘Tứ trụ’ mới của Bộ Chính trị ĐCSVN tại Đại hội 12 và xem xét ‘cơ hội’ tự làm mới của TBT Nguyễn Phú Trọng. Ảnh: EPA

    Tác giả đánh giá và cho điểm dàn lãnh đạo được cho là ‘Tứ trụ’ mới của Bộ Chính trị ĐCSVN tại Đại hội 12 và xem xét ‘cơ hội’ tự làm mới của TBT Nguyễn Phú Trọng. Ảnh: EPA

    Đại hội lần thứ 12 của Đảng Cộng sản Việt Nam, một Đại hội rất được trông đợi và diễn ra trong giông bão dư luận đã đi vào lịch sử sau hơn một tuần làm việc. Tôi đã theo dõi nhiều kỳ Đại hội nhưng chưa chứng kiến một Đại hội nào lại ở trong hoàn cảnh như vậy.

    Có một nguyên nhân: kỷ nguyên Internet với sự hoành hành cả đáng yêu lẫn đáng ghét của báo mạng đến nỗi các nhà chức trách, các nhà quản lý cũng không thể làm gì. Thậm chí họ vừa tham gia trò chơi thông tin ngầm vừa la làng, dọa nạt. Rất vui.

    Nếu nói rằng người dân thờ ơ với Đại hội là không đúng sự thật. Các báo ngày hết veo từ rất sớm khi đăng tải kết quả nhân sự.

    Phải thừa nhận là cuối cùng Đại hội đã thành công trong con mắt những người tổ chức và cả trong dư luận.

    Cũng không thể không thừa nhận, Đại hội đã sử dụng các biện pháp dân chủ và thực tế đã được thực hiện trong một tiến trình dân chủ có thể chấp nhận được. Một chuyện cũ cần kể lại.

    Tại một kỳ Đại hội không xa lắm, người ta bầu bán, hoàn thành tất tật công việc nhân sự trong các phiên trù bị. Khi Đại hội chính thức khai mạc, một ông Ủy viên Bộ Chính trị (vừa mới được bầu “ngầm” nhưng chưa được công bố) bất ngờ trúng gió “hy sinh”. Đảng loay hoay không biết nên “cáo phó” ông này (GS. Nguyễn Đình Tứ, ĐH8 – BBC) dưới chức danh nào, cuối cùng rồi vẫn phải hứng chịu sự buồn cười.

    Lịch sử các Đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam hầu như chưa xảy ra cuộc đấu tranh quyết liệt về mặt đường lối nhưng trong một số Đại hội – Đại hội 6, Đại hội 9 – đã có sự tranh chấp không khoan nhượng về vấn đề nhân sự và vì điều này, dân chủ đã bị hạn chế hoặc bị tước đoạt.

    Như trong Đại hội 6, người ta đưa hầu hết các phiên họp toàn thể về “thảo luận tổ” để chia cắt thông tin, hạn chế tiếng nói chung, đến nỗi công thần quốc gia Võ Nguyên Giáp vừa mới Đại hội trước (Đại hội 5) còn ngồi trên ghế Đoàn Chủ tịch thì lúc đó từ hàng ghế đáy đứng lên chất vấn: “Chúng ta tổ chức đại hội hay tiểu hội?” thì cũng bị át đi và phải bất lực ngồi xuống.
    Hiện tượng nhân vật Y?

    Đại hội 12 minh bạch hơn hẳn. Đại hội này cũng có vấn đề nhân sự, thậm chí thu hút rất đông sự quan tâm của dư luận trong và ngoài Đảng cùng những nghi ngại về sự cản trở dân chủ nhưng cuối cùng, tất cả đã được vượt qua tương đối êm thắm.

    Cũng không có cả đấu tranh quyền lực như được chờ đợi. Khá ngạc nhiên đối với nhiều người. Những dích dắc của nó không thể ngày một ngày hai được bày ra trước công luận, nhưng cũng chẳng ảnh hưởng gì.

    Có một hiện tượng có vẻ như khó phân tích là, tại sao ở Đại hội này một nhân vật(xin tạm gọi là Y) được dư luận chỉ ra có dính líu đến tham nhũng nhưng vẫn được nhiều đại biểu và nhất là quần chúng ủng hộ ngồi lên chiếc ghế cao nhất?

    Có hai tầng nhận thức. Tầng nổi (mang tính hình thức) là người ta ủng hộ một con người cụ thể. Tầng chìm (mang tính bản chất) người ta muốn ủng hộ một quan điểm, một đường lối. Đường lối nào? Đường lối cải cách.

    Đây là phân tích của tôi. Một, mong muốn triệt để của dư luận quần chúng là xây dựng một xã hội công bằng. Việt Nam đang phấn đấu cho điều đó, trong khi tham nhũng hoành hành càng ngày càng nặng.

    Người ta không trị được, nói đúng hơn người ta đã không trị đươc bằng cơ chế, thể chế này (xin chưa trả lời câu hỏi tại sao). Vậy thì phải cải cách, phải đổi mới nó để có một thể chế đủ minh bạch, đàn áp được tham nhũng.

    Hai, anh bảo ông Y tham nhũng nhưng anh không công khai được bằng chứng, anh không xử lý được trước pháp luật, vậy thì ông ấy vô can. Thông điệp cần phải cải cách mà tôi từng đề cập chính là từ những nguyên nhân đó.

    Nếu ông Nguyễn Phú Trọng từng được dư luận đánh giá không cao thì cũng phải thừa nhận ông đã “lớn” lên nhiều sau Đại hội 12, một Đại hội mang dấu ấn Nguyễn Phú Trọng.

    Chưa rõ ông sẽ ở lại bao lâu trong nhiệm kỳ này nhưng rõ ràng bằng việc được tái cử ông đã có một cơ hội tốt để làm mới mình. Xin hãy bắt tay vào đổi mới chính trị, cải cách mạnh mẽ hơn nữa. Được như vậy, đất nước này ở bên ông.
    Đánh giá và cho điểm

    Với sự dè dặt, tôi cũng đánh giá tương đối tích cực những người được dự kiến sẽ sát cánh với ông Trọng trong một nhiệm vụ khó khăn nhưng khả thi.

    Tôi chấm bà Kim Ngân điểm 6 trên thang 10. Bà có được tiếng tốt khi làm việc ở Bộ Thương mại, và đặc biệt là trong thử thách trên cương vị Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương. Dân ở đấy vẫn nói những lời quý mến về bà.

    Tôi chấm ông Trần Đại Quang điểm 5 cộng (5+). Chắc chắn, kiệm lời nhưng có vẻ nhìn được xa. Những người từng làm công tác tình báo thường nắm được bản chất của thời đại, bản chất của thế giới, như Putin chẳng hạn.

    Ông Nguyễn Xuân Phúc có thể 4 cộng (4+) được không? Ấy là ông từng dũng cảm phát biểu “30% sáng vác ô đi tối vác ô về”, ngoài ra thì chưa thấy được gì dù nói hơi nhiều. Tạm thế đã.

    Cuối cùng, trong tình hình quốc tế hiện nay, bất kỳ một nước lớn nào, nếu có điều kiên đều muốn tác động vào tiến trình phát triển của một quốc gia có tầm quan trọng như Việt Nam theo hướng có lợi cho họ.

    Nhưng nếu cho rằng Trung Quốc vừa qua lại đưa giàn khoan HD981 vào gần vị trí họ từng hạ đặt năm 2014, là nhằm gây áp lực để Đảng Cộng sản Việt Nam phải bầu ra một Ban lãnh đạo thân Trung Quốc (và đã làm được) thì có lẽ hơi đánh giá thấp họ.

    Trung Quốc thừa hiểu rằng, họ không thể đạt được điều mong muốn bằng cách ấy. Đã không thể đạt được thì tội gì chuốc thêm căm phẫn từ nước láng giềng?

    Nhưng tại sao Trung Quốc đưa đến giàn khoan cũng như đã công bố sớm việc ông Tập Cận Bình cử Đặc phái viên sang Việt Nam ngay khi Đại hội 12 còn đang tiến hành (Việc các Đảng Cộng sản cử Đặc phái viên đi chúc tụng nhau sau mỗi kỳ Đại hội đã trở thành thông lệ, không có gì lạ).

    Đơn giản, cả hai việc cùng một mục đích: đó là cuộc biểu diễn, là sự khẳng định với thế giới (cách mà Trung Quốc thích làm) rằng Trung Quốc có một vai trò ở đây, trong sự kiện này.

    Vậy thôi. Nhiều người Việt vướng phải hội chứng nhãn khoa: mắt ngược lên bắc mỗi khi cảm thấy bất an. Tự chúng ta gán cho họ nhiều quyền quá. Đừng làm thế.

    (Bài viết thể hiện văn phong và phản ánh quan điểm riêng của tác giả, một nhà phân tích chính trị Việt Nam từ Đại học Bình Dương, nguyên Bí thư Đảng ủy Liên hiệp Các tổ chức Hữu nghị Việt Nam. Bài viết gửi cho chuyên mục ‘ Viết về Đại hội 12 ĐCSVN‘ của BBC Việt ngữ.)

  10. Câu chuyện nước Lào

    Người Việt http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=221792&zoneid=97

    Lê Phan

    30-1-2016

    Trong khi thế giới chỉ chú mục vào đại hội của Đảng Cộng Sản Việt Nam, cách ngày Đảng Cộng Sản Việt Nam kết thúc đại hội chưa đầy một tuần, Đảng Cộng Sản Lào đã có một quyết định làm Bắc Kinh choáng váng khi họ lật đổ toàn bộ hàng lãnh tụ thân Bắc Kinh và đưa một nhân vật vốn lâu nay bị gạt sang một bên chờ về hưu lên cầm quyền.

    Đảng Cộng Sản Lào đã bầu lên một vị phó chủ tịch nước nước đã 78 tuổi, có liên hệ mật thiết với Việt Nam như là tân lãnh tụ hôm Thứ Sáu 23 tháng 1 vừa qua, trong một chỉ dấu là quốc gia này muốn có một liên hệ mạnh mẽ hơn với Hà Nội thay vì trông cậy quá nhiều vào Trung Cộng.

    Ông Bounnhang Vorachith sẽ thay thế Tướng Choummaly Sayasone, 79 tuổi, làm tổng bí thư, trong cuộc bỏ phiếu vào ngày cuối của Đại Hội Thứ 10 của Đảng Nhân Dân Cách Mạng Lào. Ông Choummaly đã cầm quyền từ 10 năm nay.

    Ông Bounnhang bắt đầu gia nhập Pathet Lao, Đảng Tiền Thân của đảng Nhân Dân Cách Mạng Lào hiện nay, vào năm 1952, và đã là người được Hà Nội đưa về để thành lập nên nước Lào hiện nay sau năm 1975. Theo Thông Tấn Xã Nikkei, ông có liên hệ mật thiết với Hà Nội, đã được huấn luyện quân sự ở Việt Nam và sau cuộc nội chiến ở Lào, đã theo học các khóa huấn luyện tư tưởng ở Hà Nội. Cũng như nhiều lãnh tụ Lào, ông thông thạo tiếng Việt.

    Nikkei cũng cho biết là thay đổi lãnh đạo lần này bao gồm cả sự ra đi của ông Somsavat Lengsavad, một phó thủ tướng đứng hàng thứ tám trong hàng kế vị ở Lào và được nổi tiếng thân Trung Cộng. Nói tiếng Hoa giỏi, ông Somsavat đã tham gia nội các trong vai trò ngoại trưởng năm 1993, và được cho là đã đưa đầu tư của doanh nghiệp Trung Cộng vào Lào. Trong những năm gần đây, ông đã giúp thực hiện một loạt các dự án do Trung Cộng tài trợ, kể cả việc phóng lên vệ tinh đầu tiên của Lào, sự khởi đầu của một chương trình hỏa xa nằm trong chương trình Con Đường Lụa Trên Đất Liền của Bắc Kinh.

    Dẫn thống kê của Văn Phòng Vientiane của Tổ Chức Mậu Dịch Ngoại Quốc của Nhật Bản, Nikkei cho biết là đầu tư của doanh nghiệp Trung Cộng vào Lào đã tăng vọt nhờ sự cố gắng của ông Somsavat. Năm 2014, đầu tư của Trung Cộng chiếm đến gần 30% tổng số đầu tư ở Lào, vượt Việt Nam để chiếm vị trí đứng đầu trong số đầu tư ngoại quốc ở Lào.

    Cùng ra đi với ông Choummaly là Thủ Tướng Thongsing Thammavong. Ông Thongsing, tuy mới làm thủ tướng được năm năm, đã bị nhiều tố cáo tham nhũng, quản trị kinh tế sai và chỉ trích là ông quá thân Trung Cộng. Với chính phủ của ông bị ảnh hưởng bởi một loạt những ồn ào quốc tế liên quan đến vụ mất tích của ông Sombath Somphone, một nhà tranh đấu cho nông dân, ông Thongsing có lẽ được nghĩ là không nên chủ trì đất nước khi mà năm nay Lào sẽ là chủ tịch luân phiên của Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á (Asean). Hà Nội hẳn sẽ hài lòng vì ông Thongsing, theo Tạp Chí The Diplomat, chính là người đã có kế hoạch xây dựng những đập thủy điện khổng lồ trên sông Mekong và các phụ lưu vốn đang ảnh hưởng lớn đến đời sống và nền kinh tế của các quốc gia hạ lưu như Việt Nam.

    Ông Thongsing đã làm nhiều người không bằng lòng với những dự án hạ tầng cơ sở khổng lồ, kể cả một hệ thống hỏa xa chạy ngang dọc khắp nước mà ông ta dự định tài trợ với tiền vay từ Bắc Kinh, mặc dầu quốc gia nhỏ bé của ông không có bao nhiêu nhu cầu và chỉ có một nền kinh tế với GDP vỏn vẹn có 12 tỷ đô la.

    Trong khi đó, Đài Á Châu Tự Do (RFA) loan tin là cựu Bộ Trưởng Tài Chánh Phouphet Khamphounvong và Thống Đốc Ngân Hàng Trung Ương Somphao Sayasith đã bị bắt về tội tham nhũng. Như vậy bản tin của RFA kết luận, “Toán lãnh đạo mới của quốc gia độc đảng bí ẩn này được coi như là thân Hà Nội trong khi những người hiện đang nắm quyền đã là đồng minh với Bắc Kinh.”

    Sự việc Lào có vẻ như đột ngột thay đổi không những hàng lãnh đạo chóp bu mà còn thay đổi luôn cả lập trường đối với nước láng giềng khổng lồ phương Bắc, có thể nói bắt nguồn từ vị trí địa lý của Lào cũng như từ lịch sử của đảng Cộng Sản Lào.

    Lào là một quốc gia hoàn toàn nằm trong lục địa, ráp ranh với năm quốc gia láng giềng, quốc gia nào cũng lớn hơn họ. Lào có một liên hệ sắc tộc và lịch sử với Thái Lan. Hai dân tộc này là một, cho đến nay họ còn hiểu nhau, nhất là người Thái miền Bắc. Nhưng ngoài liên hệ đặc biệt đó với Thái Lan, Lào còn có một liên hệ mật thiết nhưng nhiều khi khó khăn với hai nước láng giềng Cộng Sản anh em.

    Ảnh hưởng của Hà Nội đối với Lào bắt đầu từ thập niên 1950 và từ lúc khởi thủy của phong trào Cộng Sản Lào. Đảng Pathet Lào được thành lập ở Việt Nam. Cho đến năm 1975, với sự giúp đỡ của Hà Nội, Pathet Lào chiến thắng, lật đổ được chính phủ hoàng gia. Sau năm 1975, Lào tiếp tục “lệ thuộc” vào Hà Nội. Lào còn cho phép Hà Nội duy trì một lực lượng quân sự ở trên đất họ. Trên giấy tờ thì lực lượng của Hà Nội đã được rút đi từ năm 1989 nhưng quân đội Lào và quân đội Hà Nội vẫn tiếp tục có liên hệ khá thân thiện. Nhưng từ khi Trung Cộng bắt đầu phục hồi kinh tế sau công cuộc đổi mới của ông Đặng Tiểu Bình, sự hiện diện của Trung Cộng ngày càng gia tăng.

    Từ thập niên 1990 trở đi, sự canh tranh giữa Bắc Kinh và Hà Nội ngày càng gay go. Đó là giai đoạn mà khi Hà Nội xây nhà Hữu Nghị Lào Việt ở một bên đường thì ngay bên kia, Trung Cộng phải xây một tòa nhà Hữu Nghị Trung Lào cao hơn, lớn hơn và “hoành tráng” hơn.

    Mặc dầu không giúp đỡ gì cho Pathet Lao trong giai đoạn dành quyền, cho đến khi Liên Xô sụp đổ, nền kinh tế của Hà Nội sụp đổ theo, Bắc Kinh có vẻ không chú ý bao nhiêu đến nước láng giềng nhỏ bé này. Nhưng sự việc này thay đổi sau khi Bắc Kinh thấy Lào có thể cho họ con đường đi xuống Đông Nam Á dễ dàng hơn mà không phải qua Việt Nam. Tham vọng của Trung Cộng trong việc thiết lập đường xe lửa Côn Minh-Singapore nối liền tỉnh Vân Nam với thị quốc và cũng là hải cảng quan trọng của Đông Nam Á này, phải có sự đồng thuận của Lào. Dự trù chỉ mất 10 tiếng đồng hồ một khi hoàn tất, Con Đường Lụa Đông Nam Á đó, ngay cả nếu không hoàn tất được đoạn cuối qua Malaysia, cũng giúp Trung Cộng có đường ra biển Andaman và Vịnh Bengal cùng Ấn Độ Dương qua Eo Biển Kra.

    Nhưng cũng chính con đường xe lửa này đã là khởi điểm của những lo ngại cho Lào về đàn anh Trung Cộng. Được dự định là một dự án liên doanh giữa chính phủ Lào và Tập Đoàn Hỏa xa Trung Quốc và đáng lẽ khởi công từ tháng 4 năm 2011 nhưng năm đó là năm Bộ trưởng Hỏa Xa Lưu Chí Quân bị cách chức vì vụ tàu cao tốc đụng nhau nên dự án này nằm ụ trong nhiều năm.

    Trong khi đó vào tháng 10 năm 2011, một vụ sát hại xảy ra trên hai con tàu chở hàng của Trung Cộng trên sông Mekong đã cho các chính phủ trong vùng thấy rõ bộ mặt thật của Bắc Kinh.

    Số là vào sáng sớm ngày 5 tháng 10 năm 2011, hai tàu chở hàng của Trung Cộng mang tên là Hua Ping và Yu Xing 8 bị tấn công ở vùng Tam Giác Vàng của sông Mekong, ráp ranh giữa Miến Điện, Thái Lan và Lào. Theo các nhân chứng, có khoảng 8 tay súng đã xông lên hai con tàu này trong vùng giang phận của Miến Điện. Tất cả 13 thủy thủ đoàn của hai con tàu bị giết và ném xác xuống sông. Đây là cuộc sát hại tệ hại nhất cho công dân Trung Cộng ở thời hiện đại. Cuối ngày hôm đó, cảnh sát tuần giang của Thái ở tỉnh Chiang Rai đụng độ với những tên cướp và sau một vụ chạm súng lấy lại được hai con tàu. Họ nói họ tìm thấy 900,000 viên amphetamine trị giá 3 triệu đô la. Sau đó thi thể của những người Hoa được vớt lên. Cảnh sát Thái nghi thủ phạm là một tướng cướp người Shan, một sắc tộc của Miến Điện, vốn được coi là phụ tá của Trùm Khun Sa. Tên tướng cướp này, tên là Nor Kham (hay Naw Kham) có khoảng 100 đàn em và hoành hành trên sông Mekong.

    Trước áp lực của Trung Cộng, vốn gửi lực lượng xuống đóng cửa sông Mekong ở đoạn này, Nor Kham sau cùng bị bắt ở Lào. Những nguồn tin địa phương nói là Bắc Kinh đã gửi lực lượng xuống bắt Nor Kham và chở hắn về Trung Cộng, không cho Lào biết chuyện gì xảy ra cả. Nor Kham và đồng bọn sau bị đem ra xử ở Côn Minh và Nor Kham cùng ba phụ tá bị kết án tử hình.

    Và từ đó, Trung Cộng, mượn tiếng thành lập một lực lượng đa quốc tuần phòng trên sông Mekong, đã gửi lực lượng xuống canh phòng. Có lúc có hơn 200 cảnh sát biên phòng của tỉnh Vân Nam đi tuần trên sông nói là tham gia lực lượng đa quốc nhưng thật ra hoạt động độc lập.

    Cái vốn được gọi là vụ thảm sát trên sông Mekong này đã trở thành một mốc cho sự thay đổi thái độ không những của Lào mà còn của Miến Điện nữa trong liên hệ với Trung Cộng. Thái độ coi thường chủ quyền của các quốc gia liên hệ đã làm cho các ông tướng Miến Điện chuyển hướng, cho phép đối lập hoạt động, để có thể chuyển sang phía Hoa Kỳ và các đồng minh Tây Phương của Hoa Kỳ.

    Nó cũng khởi đầu một sự thức tỉnh ở Lào. Cũng vào khoảng những năm này, Trung Cộng, trong đoàn đi thực hiện điều tra về dự án hỏa xa, đã chiếm một vùng đất của Lào và biến nó thành một thành phố kiểu Vegas ngay trên đất Lào nhưng chỉ dành cho người Hoa sang ăn chơi và đánh bạc.

    Cộng với tham vọng và sự tham lam của những người theo Trung Cộng trong hàng lãnh đạo, vốn đã làm ngơ cho Trung Cộng lấn chiếm đất đai, hoành hành trên đất nước mình, một số trong hàng lãnh đạo đảng Cộng Sản Lào bắt đầu tính chuyện đổi hướng trở lại với Việt Nam và qua Việt Nam, bắt tay với Hoa Kỳ. Và nhân cơ hội năm nay Lào trở thành chủ tịch luân phiên Asean, họ đã ra tay.

  11. Từ Tư bản thân hữu đến Cộng sản thân hữu (bài 1 và bài 2)

    Mai Thái Lĩnh

    29-1 2016 và 1-2-2016
    https://anhbasam.wordpress.com/2016/01/30/6819-tu-tu-ban-than-huu-den-cong-san-than-huu/

    Bài 1: Từ Tư bản thân hữu đến Cộng sản thân hữu
    Vài lời phi lộ: Mặc dù chủ đề “xã hội dân sự và chế độ dân chủ” vẫn còn nhiều điều cần bàn tiếp, tôi xin tạm dừng lại để trình bày về “Tư bản thân hữu và Cộng sản thân hữu” – một chủ đề nóng bỏng liên quan đến cuộc đấu tranh giữa hai phái chính trị trong Đảng Cộng sản Việt Nam suốt nhiệm kỳ XI vừa qua, và trong thời gian sắp tới có lẽ vẫn còn tiếp tục nằm ở hàng đầu chương trình nghị sự của Bộ Chính trị mới …

    Bài viết của ông Vũ Ngọc Hoàng (Phó ban Thường trực Ban Tuyên giáo khóa XI) nhan đề “Lợi ích nhóm và chủ nghĩa tư bản thân hữu – cảnh báo nguy cơ” được đăng trên Tạp chí Cộng sản số 872 (tháng 6 năm 2015), trong mục “Hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”. Nhìn vào tiêu đề, độc giả có thể thấy hai cụm từ khác nhau: “lợi ích nhóm” và “chủ nghĩa tư bản thân hữu”. Như tôi đã trình bày trong bài “Nhóm lợi ích là gì?”[1], “lợi ích nhóm” thật ra là một khái niệm hoàn toàn khác đã bị giới lý luận cộng sản và các trí thức cung đình gọi nhầm tên. Bây giờ chúng ta chuyển sang tìm hiểu cụm từ thứ hai: chủ nghĩa tư bản thân hữu.

    Từ tình thân hữu thông thường đến Chủ nghĩa Thân hữu (Cronyism) trong chính trị:

    Trước hết, cần phải khẳng định: tình thân hữu vốn là điều tốt đẹp. Đó là mối quan hệ đáng trân trọng giữa người và người – nhất là trong lĩnh vực xã hội dân sự. Thế nhưng một khi “tình thân hữu” được áp dụng vào lĩnh vực chính trị – nhất là công quyền, thì nó có thể trở thành một căn bệnh, một tệ nạn có khi làm băng hoại cả một chế độ.

    Trong tiếng Anh, crony có nghĩa là “bạn bè thân tín”, “cộng sự lâu năm”, nói theo ngôn ngữ dân gian là “bạn bè chí cốt”, “cánh hẩu”[2]. Nhưng cronyism (chủ nghĩa thân hữu) trong lĩnh vực chính trị lại là một thói xấu, một tập quán không lành mạnh. Đó là thói quen “trọng dụng người thân quen”, là tập quán của những người nắm quyền lực thích bổ nhiệm bạn bè, người quen biết của mình vào các chức vụ công quyền, không quan tâm gì đến phẩm chất, năng lực của người được cất nhắc. Thói xấu chính trị này hoàn toàn đi ngược lại với chế độ trọng dụng nhân tài (meritocracy). Chủ nghĩa thân hữu thu hẹp hơn một chút thì biến thành chủ nghĩa thân tộc (nepotism) – ở nước ta thường được gọi là thói gia đình trị, nghĩa là chỉ cất nhắc, trọng dụng những người bà con, thân thích trong gia đình, dòng họ.

    Sở dĩ phải nói đến Chủ nghĩa thân hữu trong chính trị vì đây là một nguồn gốc của nạn tham nhũng và có liên hệ chặt chẽ với Chủ nghĩa Tư bản thân hữu mà chúng ta sắp bàn đến. Ở các quốc gia dân chủ, để phòng ngừa căn bệnh này, người ta thường đặt ra những nguyên tắc, những quy định rất chặt chẽ trong việc bổ nhiệm các chức vụ công quyền. Nhưng ở các nước độc tài – nhất là các nước cộng sản phương Đông, căn bệnh này thường có đất tốt để phát triển. Thường thì ở các quốc gia cộng sản phương Đông, để bảo đảm lòng trung thành của các đảng viên, người ta đặt nặng chủ nghĩa lý lịch – nhất là lý lịch gia đình, có khi đến ba đời. Vì vậy, mỗi khi một người được thông qua lý lịch để kết nạp vào đảng cầm quyền thì những người khác trong gia đình, thậm chí trong dòng họ, cũng được hưởng chút “hương thơm lý lịch”, nghĩa là dễ dàng được đưa vào diện “trung kiên”, “đối tượng đảng” và dễ dàng được kết nạp vào đảng. Vì thế, cũng tương tự như ngày xưa (một người làm quan cả họ được nhờ) ngày nay “một người vào đảng cả họ cũng được nhờ”. Do kế thừa di sản từ truyền thống làng xã (thời phong kiến và nhất là thời quân chủ tập quyền), có khi cả một xã chỉ nằm trong tay một hay vài ba họ – từ các chức vụ đảng đến các chức vụ trong chính quyền. Ở bất cứ địa phương nào, việc người thân trong gia đình phụ trách cả cơ quan thi hành quyền lực lẫn cơ quan kiểm soát quyền lực, hay chuyện chồng cấp trên vợ cấp dưới trong cùng một ngành chẳng hề là chuyện lạ ở nước “cộng hòa của các đồng chí” này. “Tình thân hữu” phát triển trong tầng lớp “ưu tú” của chế độ cộng sản mạnh đến mức ở bất cứ cấp lãnh đạo nào, chúng ta cũng thấy xuất hiện các danh xưng thân mật như Anh Hai, Chị Ba, Anh Tư, chị Năm, v.v… thể hiện “tính chất gia đình” ở mỗi đảng bộ hay mỗi cấp ủy.

    Cho nên tôi hơi ngạc nhiên khi thấy gần đây các cán bộ cao cấp của Đảng và báo chí bỗng nhiên la toáng lên về chuyện lãnh đạo đưa bà con thân thích vào chức vụ này chức vụ kia, làm như chuyện này xưa nay chưa hề có trên đất nước Việt Nam “xã hội chủ nghĩa”. Có thể vì ngày nay chủ nghĩa thân hữu hay chủ nghĩa thân tộc đã trở nên quá trắng trợn, hay là vì sự phát triển của Internet và mạng xã hội khiến người ta khó lòng giấu giếm, che đậy nên mới có những tiếng kêu hốt hoảng. Nhưng làm sao có thể dẹp bỏ được thói quen sử dụng thân hữu trong chính trị hay tệ nạn gia đình trị một khi lý lịch gia đình, dòng họ vẫn được đưa lên hàng đầu? Chúng ta có thể tin rằng một khi chủ nghĩa lý lịch bị vứt vào sọt rác, và nhất là khi độc quyền lãnh đạo của một đảng chính trị mất đi, thì chủ nghĩa thân hữu và chủ nghĩa thân tộc sẽ có cơ hội chào từ giã nền văn hóa chính trị của đất nước ta.

    Bản chất của nhà tư bản thân hữu:

    Từ ý nghĩa ban đầu của crony (bạn bè thân tín, cộng sự lâu năm), đã phát sinh thêm một ý nghĩa mới khi crony được dùng để chỉ một nhà “tư bản thân hữu”, nghĩa là một nhà tư bản “thông đồng”, “móc ngoặt” với một quan chức trong chính quyền để tìm kiếm lợi ích cho riêng mình, bất chấp lợi ích chung của toàn xã hội. Trong tiếng Anh, không có từ nào dùng để chỉ một “nhóm tư bản thân hữu”, mà chỉ có từ cronies (số nhiều) dùng để chỉ nhiều nhà tư bản thân hữu. Hiện tượng “tư bản thân hữu” trong tiếng Anh có tên là crony capitalism (chủ nghĩa tư bản thân hữu), người Pháp dịch thành capitalisme de connivence (chủ nghĩa tư bản thông đồng).

    Sự khác nhau căn bản giữa các nhà tư bản thông thường và các nhà tư bản thân hữu là ở chỗ: trong khi nhà tư bản thông thường là người tìm kiếm lợi nhuận (profit-seeking) thì nhà tư bản thân hữu là người tìm kiếm đặc lợi (rent-seeking). Lợi nhuận (profit) là đồng tiền kiếm được bằng cách sản xuất, kinh doanh thật sự: nhà tư bản làm ăn chân chính tìm lợi nhuận bằng cách làm cho của cải tăng lên hoặc làm cho dịch vụ có phẩm chất cao hơn. Còn các nhà tư bản thân hữu thì không làm như thế (không làm cho của cải tăng lên, cũng không làm cho dịch vụ tốt hơn) mà trái lại, dựa vào mối quan hệ “thân hữu”, “nồng ấm” với các quan chức trong chính quyền để tìm kiếm “đặc lợi” – tức là cái mà hiện nay báo chí thường gọi là “siêu lợi nhuận”.

    Theo David R. Henderson, từ “rent” do nhà kinh tế học David Ricardo (1772 – 1823) đưa vào kinh tế học, dùng để chỉ “khoản tiền phải trả cho một yếu tố của sản xuất nhiều hơn so với yêu cầu nhằm giữ cho yếu tố đó được sử dụng trong hiện tại”. Thuật ngữ này thường được dùng để chỉ tiền thuê đất (“land rent” hay “ground rent”, địa tô), về sau được dùng rộng hơn cho cả tiền thuê bất động sản. Nhưng ngày nay, “rent-seeking” không có nghĩa là là tìm kiếm một thứ tiền thuê. Các nhà kinh tế học thời nay sử dụng thuật ngữ này để mô tả việc các nhà tư bản thân hữu thông đồng với các quan chức trong chính phủ để tìm kiếm những “đặc lợi” như: miễn giảm thuế, vay vốn ưu đãi, nhận tài trợ của chính phủ hay các hình thức ưu đãi, khuyến khích khác, … Như vậy, nghĩa hiện đại của “rent-seeking” là “tìm kiếm đặc lợi”, “tìm kiếm đặc ân” (privilege seeking).[3] Và lẽ dĩ nhiên, muốn làm được điều đó, nhà tư bản thân hữu phải tìm đến người có “đặc quyền”. Đó chính là nguồn gốc của nạn tham nhũng.

    Nói một cách dễ hiểu, thực chất của tìm kiếm đặc lợi là “tự cắt cho mình một lát bánh lớn hơn thay vì làm cho cái bánh lớn hơn” hoặc “tìm mọi cách để có nhiều tiền hơn mà không sản xuất nhiều hơn cho khách hàng.” Cho dù là hợp pháp hay bất hợp pháp, các hoạt động tìm kiếm đặc lợi có thể đem lại những tổn thất lớn cho một nền kinh tế bởi vì chúng không tạo ra bất kỳ giá trị nào mà ngược lại, các hoạt động đó gây thiệt hại cho người tiêu dùng và cho toàn xã hội, chỉ có lợi cho một nhóm nhỏ những nhà tư bản thân hữu và những quan chức chính quyền tiếp tay cho họ.

    Tóm lại, tư bản thân hữu không phải là một tư tưởng hay một học thuyết, cũng không phải là một hình thái kinh tế-xã hội, mà là một hiện tượng tiêu cực, một căn bệnh xảy ra trong nền kinh tế thị trường có liên quan đến tệ nạn tham nhũng, hối lộ. Hiện tượng tư bản thân hữu có thể xảy ra ở bất cứ quốc gia nào, kể cả những quốc gia có chế độ dân chủ thành thục, bền vững. Nhưng tư bản thân hữu chỉ được gọi tên là chủ nghĩa tư bản thân hữu (crony capitalism) một khi nó trở thành một tệ nạn quốc gia – nghĩa là chi phối cả một nền kinh tế hay ít nhất là chi phối một số ngành kinh tế trọng điểm.

    Một trong những người đấu tranh quyết liệt chống lại chủ nghĩa tư bản thân hữu là nhà kinh tế học người Mỹ gốc Ý tên là Luigi Zingales – hiện là giáo sư tại Trường Kinh doanh Chicago Booth (Chicago Booth School of Business) thuộc Đại học Chicago. Di dân sang Hoa Kỳ từ năm 1988, ông đã từng chứng kiến quê hương ông (nước Ý) trở thành nạn nhân của chủ nghĩa tư bản thân hữu, dẫn đến tình trạng đình đốn kinh tế và nạn tham nhũng trầm trọng – đặc biệt là dưới thời trị vì của cựu Thủ tướng Silvio Berlusconi. Lo ngại Hoa Kỳ sẽ dẫm vào bước chân của nước Ý, ông đã công bố hai tác phẩm quan trọng: Saving Capitalism from the Capitalists (Cứu chủ nghĩa tư bản từ tay các nhà tư bản, 2003) và A Capitalism for People: Recapturing the Lost Genius of American Prosperity (Một chủ nghĩa tư bản vì nhân dân: Phục hồi thiên tài đã mất của sự thịnh vượng Mỹ, 2012).

    Về lý do đấu tranh chống lại chủ nghĩa tư bản thân hữu, Zingales nói: “Chủ nghĩa thân hữu (cronyism) đã cướp đoạt của quê hương tôi phần lớn tiềm năng để tăng trưởng kinh tế. Tôi không muốn nó lại ăn cướp của Hoa Kỳ.” Nhưng không phải chỉ vì lý do kinh tế. Ông nói tiếp : “Còn tệ hơn mất tiền, là việc mất tự do: bởi vì chủ nghĩa thân hữu đàn áp tự do ngôn luận, loại bỏ động cơ nghiên cứu và gây nguy hiểm cho các cơ hội về nghề nghiệp.”[4] (Trong các câu nói này, Zingales dùng thuật ngữ “chủ nghĩa thân hữu” với ý nghĩa tương tự như “chủ nghĩa tư bản thân hữu”)

    Mặc dù hiện tượng “tư bản thân hữu” có thể hình thành ở bất cứ quốc gia nào, nhưng tại các nước đã phát triển (developed countries) – nghĩa là các nước tiên tiến (advanced countries), nó ít có cơ hội để trở thành một thứ tệ nạn quốc gia, vì các thiết chế dân chủ có khả năng kiềm chế các hoạt động của các nhà tư bản thân hữu, đồng thời ngăn ngừa nạn tham nhũng. Nhưng tại các nước thường được gọi là “đang phát triển” (developing countries) – và đặc biệt là tại các nước kém phát triển, tư bản thân hữu có nhiều cơ hội để trở thành một căn bệnh nan y khó chữa trị, nhờ dựa vào sự yếu kém trong quản lý nhà nước hay các tệ nạn như : lạm dụng quyền lực, tham nhũng, hối lộ, v.v… Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản thân hữu có thể dẫn đến chế độ đạo tặc (kleptocracy) – nghĩa là một chế độ trong đó các nhà lãnh đạo thường coi ngân khố quốc gia như một nguồn làm giàu cho bản thân và gia đình, chi tiêu ngân quỹ một cách vô tội vạ để mua các hàng hóa xa xỉ và phục vụ các sở thích ngông cuồng của cá nhân và gia đình. Các nhà lãnh đạo kiểu đạo tặc này thường bí mật chuyển lậu các quỹ ăn cắp vào các tài khoản ngân hàng ở ngoại quốc – nhất là tại các “cảng trú ẩn thuế” (tax haven)[5] để phòng khi bị mất chức vẫn duy trì được tài sản cho cá nhân và gia đình.

    Tại Đông Nam Á, hai ví dụ tiêu biểu của chế độ đạo tặc có nguồn gốc từ chủ nghĩa tư bản thân hữu là Ferdinand Marcos (tổng thống của Philippines trong thời gian từ 1965 đến 1986) và Mohamed Suharto (tổng thống của Indonesia từ 1967 đến 1998). Vào tháng 3 năm 2004, tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International) đã công bố bản báo cáo về nạn tham nhũng trên toàn cầu, qua đó đánh giá Mohamed Suharto đã ăn cắp của công từ 15 đến 35 tỷ đô-la Mỹ, còn Ferdinand Marcos đã ẵm của công quỹ từ 5 đến 10 tỷ đô-la Mỹ.[6] Không những thế, hai nhà lãnh đạo kiểu đạo tặc này đã để lại cho đất nước của họ những món nợ khổng lồ. Hơn hai thập niên lãnh đạo của Marcos đã làm cho nợ quốc gia của Philippines tăng từ 7 tỷ (năm 1965) lên đến 27 tỷ đô-la Mỹ (năm 1986).[7] Còn tại Indonesia, vào giữa năm 1997, tổng số nợ phải trả cho các ngân hàng thương mại ngoại quốc lên đến 59 tỷ đô-la.[8]

    Vận dụng khái niệm “tư bản thân hữu” vào chế độ cộng sản:

    Mặc dù ông Vũ Ngọc Hoàng đã mạnh dạn sử dụng thuật ngữ “chủ nghĩa tư bản thân hữu” để nói về nguồn gốc của nạn tham nhũng ở Việt Nam, nhưng trong thực tế khái niệm này thật ra chỉ phù hợp với các nước “tư bản” hay các nước đang phát triển không thuộc hệ thống cộng sản, chứ không thể áp dụng nguyên xi vào các nước cộng sản – dù đã chuyển sang con đường kinh tế thị trường như Trung Quốc và Việt Nam.

    Một ví dụ điển hình là sự kiện tờ Economist ở Anh cố gắng thiết lập “Chỉ số chủ nghĩa tư bản thân hữu” (Crony-Capitalism Index) để đo lường ảnh hưởng của hiện tượng “tư bản thân hữu” đối với một số nền kinh tế. Vào tháng 3 năm 2014, tờ báo này công bố bảng đánh giá xếp loại 23 quốc gia và vùng lãnh thổ. Một trong những điều nghịch lý nổi bật là trường hợp của Trung Quốc: trong bảng xếp loại này, Trung Hoa lục địa được xếp thứ 19 về chỉ số tư bản thân hữu, cao hơn so với Hoa Kỳ (xếp thứ 17) và nước Anh (xếp thứ 15).[9] Điều đó có nghĩa là Trung Quốc ít bị ảnh hưởng của chủ nghĩa tư bản thân hữu so với hơn Hoa Kỳ và Anh!

    Thực là một điều nghịch lý, vì nếu dựa theo bảng xếp loại về “Chỉ số nhận thức tham nhũng (Corruption Perception Index) của tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency Internationale) thì vào năm 2014 Trung Quốc ghi điểm rất kém (36/100 điểm, xếp thứ 100/175 nước), trong khi Anh đạt 78 điểm (xếp hạng 14/100) và Hoa Kỳ đạt 74 điểm (xếp hạng 17/100). Làm thế nào mà hai nước ít tham nhũng (Hoa Kỳ và Anh) lại bị ảnh hưởng của chủ nghĩa tư bản thân hữu nhiều hơn so với một nước tham nhũng nặng nề như Trung Quốc?

    Chỉ có thể lý giải nghịch lý nói trên bằng một số lý do sau đây:

    – Mặc dù Trung Quốc đã từ bỏ con đường kinh tế tập trung chỉ huy và tiến khá xa trên con đường kinh tế thị trường, nhiều ngành công nghiệp đem lại nhiều “đặc lợi” vẫn còn bị khống chế bởi các doanh nghiệp thuộc sở hữu của Nhà nước. Các doanh nghiệp đó vẫn nhận được nhiều “ân huệ”, được ưu đãi tương đương hoặc cao hơn so với các doanh nghiệp tư nhân, nhưng các chuyên gia của Economist đã không tính (hoặc không thể đo lường) yếu tố này. Chính khu vực kinh tế “quốc doanh” còn sót lại – luôn được sự bảo trợ, ưu ái của nhà nước, cũng là một nơi phát sinh nạn “tìm kiếm đặc lợi” và đẻ ra nạn tham nhũng.

    – Tài sản của các nhà “tư bản đỏ” và các quan chức ở Trung Quốc thường bị che giấu hoặc phân tán cho nhiều thành viên trong gia đình. Chính tờ Economist trong bài báo đã dẫn cũng thừa nhận rằng Trung Quốc là “nơi mà các bài báo phanh phui gần đây cho thấy nhiều chính trị gia có thế lực đã ngụy trang tài sản của họ bằng cách thuyết phục các bạn bè và gia đình giữ tài sản nhân danh họ” và “các ghi chép tài sản không đáng tin cậy cũng giúp che giấu ai sở hữu cái gì”.

    Theo điều tra của ICIJ (The International Consortium of Investigative Journalists) – một mạng lưới quốc tế với hơn 190 nhà báo điều tra của hơn 65 nước, các quan chức và các nhà tư bản đỏ ở Trung Quốc thường tìm cách ngụy trang tài sản của họ bằng cách mở các công ty bí mật ở các “cảng trú ẩn thuế” (tax haven) như Quần đảo Virgin thuộc Anh, quần đảo Cook hay Samoa. Trong số những nhân vật che giấu tài sản, có cả con trai của cựu Thủ tướng Ôn Gia Bảo và Deng Jiagui (鄧家貴 Đặng Gia Quý) – anh rể của đương kim Chủ tịch Nước kiêm Tổng bí thư Tập Cận Bình. Ngoài ra, còn có bà con họ hàng của các quan chức cao cấp như cựu Chủ tịch nước kiêm Tổng bí thư Hồ Cẩm Đào, cựu Thủ tướng Lý Bằng, và cố lãnh tụ tối cao Đặng Tiểu Bình, v.v…[10]

    Như vậy, khi áp dụng khái niệm “tư bản thân hữu” vào trường hợp của Trung Quốc, cần phải xét đến những đặc điểm riêng biệt của nền kinh tế của nước này – một nền kinh tế chưa hoàn toàn thị trường hóa, còn chịu sự điều chỉnh nặng nề của nhà nước. Mặt khác, cần phải xem xét cả hệ thống chính trị tại đây, một chế độ chính trị chưa hoàn toàn thoát ra khỏi khuôn khổ của một chế độ độc tài-hậu toàn trị (post-totalitarian regime).

    Mặc dù có những điểm khác biệt, kể từ đầu thập niên 1990 đến nay, mô hình kinh tế-chính trị của Việt Nam ngày càng giống với mô hình của Trung Hoa lục địa. Vì vậy, để có thể hiểu được trường hợp của Việt Nam, thiết tưởng không có gì tốt hơn là tìm hiểu trường hợp của Trung Quốc. Đó là điều chúng ta sẽ đề cập trong bài sau.

    Đà Lạt 28-1-2016

    MAI THÁI LĨNH

    [1] Mai Thái Lĩnh, Nhóm lợi ích là gì? Bauxite Vietnam 7-1-2016: http://www.boxitvn.net/bai/40235

    [2] Từ “crony” đầu tiên xuất hiện vào thế kỷ 18 ở London. Theo Từ điển Oxford, nó xuất phát từ tiếng Hy Lạp chronios (χρόνιος) – có nghĩa là “lâu năm”.

    [3] David Henderson, “Rent seeking”, The Concise Encyclopedia of Economics:

    http://www.econlib.org/library/Enc/RentSeeking.html

    [4] Margareta Pagano, “Luigi Zingales: A crusader against crony capitalism”, The Independent, 21 June 2012: http://www.independent.co.uk/news/business/analysis-and-features/luigi-zingales-a-crusader-against-crony-capitalism-7869975.html

    [5] Cảng trú ẩn thuế (tax haven) trong tiếng Pháp được gọi là thiên đường tài chính (paradis fiscal), là các quốc gia hay thành phố đánh thuế thu nhập rất thấp, thậm chí bằng không (zero).

    [6] Transparency International, Global Corruption Report 2004, p. 13: http://www.transparency.org/whatwedo/publication/global_corruption_report_2004_political_corruption
    [7] Manuel F. Amario, “The Philippine’s debt hole”, Inquirer November 3rd, 2013: http://opinion.inquirer.net/64639/the-philippines-debt-hole

    [8] Steven Radelet, Indonesia: Long Road to Recovery, Harvard Institute for International Development, March 1999: http://www.cid.harvard.edu/archive/hiid/papers/indonesia.pdf

    [9]“Our crony-capitalism index: Planet Plutocrat”, The Economist, Mar 15th 2014: http://www.economist.com/news/international/21599041-countries-where-politically-connected-businessmen-are-most-likely-prosper-planet

    [10] Dexter Roberts, “China’s Elite Wealth in Offshore Tax Havens, Leaked Files Show”, Bloomberg Businessweek‘s January 22, 2014 :

    http://www.bloomberg.com/bw/articles/2014-01-22/chinas-elite-wealth-in-offshore-tax-havens-show-leaked-files

    Bài 2: Về Chủ nghĩa cộng sản thân hữu

    Từ đầu thế kỷ 21 đến nay, nhiều học giả phương Tây đã quan tâm nghiên cứu hiện tượng “tư bản thân hữu” tại Trung Quốc. Tuy nhiên, khi vận dụng khái niệm “tư bản thân hữu” vào hoàn cảnh của quốc gia cộng sản hậu-toàn trị này, các nhà nghiên cứu đã nhanh chóng nhận ra một số đặc điểm riêng biệt. Vì vậy, trong khi một số học giả sử dụng thuật ngữ “Chủ nghĩa Tư bản Thân hữu với đặc điểm Trung Quốc” (Crony Capitalism with Chinese Characteristics), một số học giả khác (như Bruce Dickson, Minxin Pei, …) đã mạnh dạn sử dụng khái niệm “Chủ nghĩa Cộng sản Thân hữu” (Crony Communism) để nhấn mạnh tính chất đặc thù, riêng biệt đó.

    Tư bản đỏ và Chủ nghĩa cộng sản thân hữu:

    Một trong những nét đặc thù của hiện tượng “tư bản thân hữu” tại Trung Quốc là bên cạnh các nhà “tư bản-thân hữu” thông thường (nghĩa là những nhà tư bản có quan hệ “thân thiết” với các quan chức trong bộ máy cầm quyền), còn có các nhà tư bản đỏ (red capitalists) – tức là các nhà tư bản đồng thời là đảng viên cộng sản.

    Bruce J. Dickson – giáo sư khoa chính trị học và quan hệ quốc tế tại Đại học George Washington (Hoa Kỳ), là một trong những học giả chú ý đến chủ đề này. Trong cuốn Red Capitalists (xuất bản năm 2003) và cuốn Allies of the State. China’s Private Entrepreneurs and Democratic Change (viết chung với Jie Chen, xuất bản năm 2010), ông đã phân tích tỉ mỉ những đặc điểm của loại hình “tư bản đỏ” tại Trung Quốc để tìm cách lý giải tại sao sự phát triển của giai cấp tư sản thành thị (urban bourgeoisie) tại quốc gia đông dân nhất thế giới này lại không dẫn đến những thay đổi có lợi cho tự do, dân chủ. Trong một tiểu luận công bố năm 2008,[1] Bruce Dickson đã nêu bật một số đặc điểm đáng chú ý của chủ nghĩa cộng sản thân hữu tại Trung Quốc như sau:

    1) Chịu sự chi phối của đảng cộng sản cầm quyền: Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) – tác nhân trung tâm của chế độ chính trị tại Trung Quốc, đồng thời cũng là trung tâm của chủ nghĩa cộng sản thân hữu. Do yếu tố then chốt này, tầng lớp được hưởng lợi từ chủ nghĩa cộng sản thân hữu là các đảng viên cộng sản và gia đình của họ. Ông nhận xét: “Trong khi con cái của các nhà lãnh đạo thuộc các thế hệ thứ nhất và thứ hai thường theo gương cha để vào đảng, chính quyền và quân đội, thì con cái của các nhà lãnh đạo thuộc thế hệ thứ ba và thứ tư đều đi vào lĩnh vực kinh doanh (hoặc trong trường hợp của con gái Hồ Cẩm Đào và con gái Ôn Gia Bảo – đã cưới các nhà kinh doanh nổi bật nhất). Một báo cáo nội bộ (được cho là xuất phát từ Trường Đảng) đã chỉ rõ rằng 90% những người siêu-giàu của Trung Quốc (tức là những người có tài sản trên 100 triệu yuan) là con cái của các quan chức cao cấp. Đây là một ví dụ cực đoan, nhưng hiểu theo một nghĩa rộng hơn, sự tập trung tài sản vào tay những người có quan hệ tốt về chính trị là bản chất của chủ nghĩa cộng sản thân hữu.”

    Tầng lớp “tư bản đỏ” (red capitalists) này bao gồm hai loại: (1) các đảng viên “hạ hải”[2] (xia hai 下海), nghĩa là những đảng viên “dấn thân” vào con đường kinh doanh làm giàu và (2) các nhà kinh doanh thành đạt được kết nạp vào đảng cộng sản.

    2) Phi tập trung, khuếch tán và có xu hướng bành trướng: Khác với tư bản thân hữu ở các nước khác (vd: các nước Đông Nam Á), chủ nghĩa cộng sản thân hữu của Trung Quốc không chịu sự chi phối bởi một gia đình, một dòng họ hoặc các nhà lãnh đạo ở trung ương, mà lôi cuốn các quan chức ở tất cả các cấp của bậc thang chính trị. Khác với nước Nga hậu-cộng sản – nơi mà của cải tập trung vào tay của một số ít cá nhân có quan hệ tốt về chính trị (các nhà tư bản đầu sỏ, tycoons), công cuộc tư nhân hóa ở Trung Quốc không dẫn đến một sự tập trung về của cải. Thay vào đó, khu vực tư nhân ở đây có đặc điểm là sự vượt trội của các xí nghiệp nhỏ và vừa.

    Do chủ trương của ĐCSTQ, chủ nghĩa cộng sản thân hữu đã phát triển mạnh mẽ theo chiều rộng. Theo thống kê của Dickson, vào năm 1993, chỉ có khoảng 13% các nhà kinh doanh tư nhân là đảng viên; khoảng 2007, con số đó tăng gần gấp ba, lên đến 38%.

    3) Có tính chất gia trưởng (paternalistic) và cộng sinh (symbiotic): các quan chức của đảng và chính quyền ở các cấp đóng vai trò bảo trợ, hướng dẫn công việc làm ăn của giới tư bản. Từ tháng 4 năm 2000, dưới thời của Giang Trạch Dân, các trường đảng đã mở cửa để đón nhận các nhà kinh doanh tư nhân. Tính đến năm 2006, đã có trên 10 ngàn nhà kinh doanh từ khắp đất nước theo học các lớp tại Trường Đảng Trung ương. Đó là chưa kể đến các lớp được mở tại các trường đảng tại địa phương. Mặc dù việc kết nạp các nhà tư bản đã bị cấm chỉ kể từ sau sự kiện Thiên An Môn (tháng 6 năm 1989), từ năm 2001, sau khi Giang đọc bài diễn văn nổi tiếng về học thuyết “Ba đại diện”, đảng cầm quyền đã mở cửa lại để đón nhận các nhà tư bản làm ăn giỏi.

    Sở dĩ lãnh đạo đảng ở mọi cấp đều đóng vai trò bảo trợ, giúp đỡ, hướng dẫn giới kinh doanh tư nhân là vì họ có chung một mục tiêu: đẩy mạnh “tăng trưởng kinh tế” (economic growth). Đảng cộng sản cầm quyền vừa muốn thúc đẩy sự phát triển kinh tế, lại vừa muốn kiểm soát giới kinh doanh, ngăn ngừa khả năng các nhà tư bản hỗ trợ cho các hoạt động dân chủ. Do đó hình thành một mối quan hệ “ấm cúng”, “thoải mái” giữa một bên là đảng-nhà nước và bên kia là khu vực tư nhân. Cả hai bên đều hưởng lợi từ sự phát triển kinh tế và chủ trương tư nhân hóa. Sự thỏa hiệp chính trị, mối quan hệ cộng sinh này đã dẫn đến tình trạng bất ổn ngày càng tăng trong xã hội. Các cuộc đấu tranh phản kháng tại các địa phương đã tăng từ 32 ngàn vụ (năm 1999) đến 87 ngàn vụ (năm 2005). Nguyên nhân của các cuộc đấu tranh này rất đa dạng: nông dân mất đất do bị chiếm đoạt bất hợp pháp và do tham nhũng, công nhân không được trả lương đầy đủ hay bị buộc làm việc trong những điều kiện không an toàn, công nhân bị cho thôi việc hay về hưu không nhận được trợ cấp hoặc tiền bảo hiểm như đã hứa, cư dân đô thị bị dời đi để “quy hoạch” nhằm tạo không gian xây dựng cho các công trình mới, v.v…

    Mối quan hệ cộng sinh này đã khiến cho giới cầm quyền và giới kinh doanh cộng tác với nhau trong việc giữ gìn ổn định, trật tự xã hội. Trái với luận điểm của nhiều nhà chính trị học phương Tây cho rằng kinh tế thị trường phát triển sẽ dẫn đến sự ra đời của một giai cấp tư sản thành thị ủng hộ dân chủ, theo nhận xét của Dickson, các nhà tư sản ủng hộ dân chủ tại Trung Quốc chỉ chiếm một thiểu số rất nhỏ và không có ảnh hưởng đáng kể, trong khi đại bộ phận các nhà tư bản (mà nòng cốt là tầng lớp tư bản đỏ) đã cộng tác với đảng cộng sản cầm quyền để cùng tồn tại và cùng hưởng lợi.

    Nói tóm lại, chủ nghĩa cộng sản thân hữu tại Trung Quốc không phải chỉ là sự câu kết, thông đồng giữa các nhà tư bản và những quan chức trong bộ máy nhà nước, mà là sự hợp nhất, tích hợp (integration) giữa quyền và tiền, trở thành một thể thống nhất. Điển hình là các nhà tư bản đỏ (red capitalists) – vừa có tài sản, lại vừa có thế đứng về chính trị. Nói cách khác, các nhà tư bản đỏ là cái gạch nối giữa giai cấp tư sản nói chung với đảng cộng sản cầm quyền. Quyền và tiền quyện chặt với nhau, trở thành nguồn gốc của nạn tham nhũng ngày càng trầm trọng tại Trung Hoa lục địa.

    Giai cấp tư sản tại Trung Quốc phát triển rất nhanh chóng. Theo danh sách các tỷ phú do tạp chí Forbes công bố hàng năm, vào năm 2015 (2-3-2015), Trung Quốc có 213 tỷ phú (tính theo đô-la Mỹ), đứng hàng thứ hai trên thế giới – chỉ sau Hoa Kỳ (536 người). Nhưng danh sách của Forbes thường không tính đến các “thái tử đảng” (princelings)[3], là những người luôn tìm cách che giấu tài sản của mình. Theo một danh sách khác do nhà sưu tập người Anh Rupert Hoogewerf công bố – thường gọi là Báo cáo Hồ Nhuận (Hurun Report), vào thời điểm 3-2-2015, Trung Quốc có 430 nhà tỷ phú, chỉ sau Hoa Kỳ (537 người). Nhưng đến 15 -10-2015, báo cáo Hồ Nhuận cho biết Trung Quốc có đến 596 nhà tỷ phú, lần đầu tiên vượt Hoa Kỳ (537 người) về số lượng các nhà tỷ phú, mặc dù nếu tính về tài sản thì vẫn chưa sánh bằng.[4] Điều có ý nghĩa biểu tượng là trong cả hai danh sách của Forbes và Hồ Nhuận, Wang Jianlin (王健林 Vương Kiện Lâm) được coi là người giàu nhất Trung Hoa lục địa, là một đảng viên cộng sản và đã từng phục vụ trong quân đội 16 năm.

    Các danh sách này không cho biết có bao nhiêu nhà tỷ phú tại Trung Quốc là “tư bản đỏ”. Nhưng tầm quan trọng của các nhà tư bản đỏ thật ra không nằm ở chỗ “chiếm tỷ lệ bao nhiêu” hoặc “có tài sản lớn bao nhiêu”? Tầm quan trọng là ở chỗ các nhà tư bản đỏ tạo ra chiếc cầu nối giữa đảng-nhà nước với giới kinh doanh, và là xương sống của chủ nghĩa cộng sản thân hữu. Điều đó khiến cho nạn tham nhũng tại Trung Quốc trở thành một tệ nạn rất khó cứu chữa vì các mối liên hệ giữa quyền và tiền có được tính chính danh (legitimity) mà ở các nước dân chủ, các nhà tư bản thân hữu không bao giờ đạt được.

    Hiệu quả của chiến dịch “đả hổ diệt ruồi”:

    Những người còn tin tưởng vào tính ưu việt của chế độ chính trị kiểu Trung Quốc thường cho rằng Tập Cận Bình là người có “quyết tâm làm trong sạch Đảng” và rất kiên định trong việc trừng trị những cán bộ tham nhũng. Nhưng thực chất của công cuộc “đả hổ diệt ruồi” là gì? Đó là một nỗ lực chống tham nhũng thật sự hay chỉ là một màn trình diễn ngoạn mục để mị dân, một cuộc đấu đá hạ bệ một phe phái khác nhằm củng cố quyền lực cho tập đoàn lãnh đạo mới?

    Hồi đầu tháng 6 năm 2015, trong một bài báo mà bản dịch tiếng Anh được đăng trên tờ New York Times,[5] nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng Bào Đồng (nguyên là cố vấn lâu năm của cố Tổng bí thư Triệu Tử Dương) đã nhận xét rằng nguồn gốc của nạn tham nhũng hiện nay đang hoành hành trên đất nước Trung Hoa chính là đường lối của Đặng Tiểu Bình. Trong chuyến tuần du Hoa Nam vào năm 1992, Đặng đã tuyên bố một câu nổi tiếng: “Nếu không thay đổi, chúng ta sẽ đi vào ngõ cụt! Ai không tán thành cải cách, hãy từ chức đi! Một số người sẽ làm giàu trước!” Nhưng trong một đất nước mà quyền bính đều nằm trong tay đảng cộng sản, ai có khả năng làm giàu trước tiên? Theo Bào Đồng, những người làm giàu trước tiên chính là “các đảng viên và gia đình, cùng các cộng sự gần gũi của họ”. Ông viết tiếp: “Thành quả cuối cùng trong cuộc cách mạng của Đặng là ai có quyền lực lớn sẽ giàu to, ai có quyền lực nhỏ sẽ giàu ít, và những người không có quyền lực sẽ vẫn sống trong nghèo đói.”

    So sánh sự nghiệp của hai nhà lãnh đạo tối cao của ĐCSTQ, Bào Đồng viết: “Mao Trạch Đông quốc hữu hoá tài sản cá nhân. Đặng Tiểu Bình chuyển giao tài sản quốc gia, với cái giá rất hời, chủ yếu mang tính tượng trưng, vào tay giới tinh hoa của đảng. Kết quả là hiện nay, các “thái tử đảng” – hậu duệ của thế hệ cách mạng sáng lập đảng, kiểm soát phần lớn của cải ở Trung Quốc.” Vì thế, ông không tin cuộc đấu tranh chống tham nhũng của Tập Cận Bình sẽ thành công.

    Nhà bất đồng chính kiến đã từng ngồi tù 7 năm nhấn mạnh : “… chừng nào Trung Quốc còn tiếp tục đi theo con đường mà Đặng Tiểu Bình đã vạch ra, nó sẽ không giải quyết triệt để được nạn tham nhũng. “Đả hổ diệt ruồi” không phải là phương thuốc cứu chữa từ gốc đến ngọn; thậm chí còn không giảm nhẹ được những triệu chứng nặng nhất. Hổ còn ngao du khắp chốn, và ruồi còn che kín mặt trời: có thể tấn công cả trăm, hoặc cả ngàn trong số chúng, nhưng điều đó sẽ không thay đổi được bản chất của con đường tham nhũng.”

    Việt Nam và mô hình Trung Quốc:

    Từ đầu thập niên 1990, nghĩa là từ khi lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) bắt tay hóa giải hận thù với “người đồng chí Trung Quốc” nhằm giữ vững độc quyền chính trị trong nước, chủ nghĩa cộng sản thân hữu tại Việt Nam đã phát triển theo cùng một hướng với Trung Quốc, tuy có phần chậm hơn và với quy mô nhỏ hơn:

    Trung Quốc bắt đầu đổi mới kinh tế vào năm 1978 (ngay khi Đặng Tiểu Bình trở lại nắm quyền bính) trong khi tại Việt Nam, mãi đến năm 1986 Đảng CSVN mới quyết định đổi mới kinh tế sau khi đã trải qua một cuộc đấu tranh gay gắt giữa hai phái cải cách và bảo thủ. Việc chính thức công nhận tư bản tư nhân là một thành phần kinh tế căn bản cũng chậm hơn so với Trung Quốc. Mãi đến 2001, nghĩa là 15 năm sau khi tiến hành đổi mới, Đại hội Đảng lần thứ IX mới chính thức thừa nhận kinh tế tư nhân là “bộ phận quan trọng cấu thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

    Hai thập niên sau khi tiến hành đổi mới kinh tế, tại Đại hội lần thứ X (năm 2006), ĐCSVN đã thực hiện một bước ngoặt lịch sử khi chính thức khẳng định “kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế”, đồng thời cho phép đảng viên được làm kinh tế tư nhân. Ngày 29-8-2006, Hội nghị lần thứ ba của Ban chấp hành Trung ương ĐCSVN đã thông qua quy định về việc đảng viên làm kinh tế tư nhân. Có thể coi đây là một bước ngoặt, đánh dấu sự chính thức chuyển đổi đảng cộng sản – một đảng được thành lập nhân danh “nhân dân lao động” (công nhân và nhất là nông dân) nhằm đánh đổ các giai cấp bóc lột (địa chủ và tư sản), trở thành một đảng của “quyền và tiền”. Từ đây, đảng viên đảng cộng sản có thể làm giàu và trở thành nhà tư sản mà không mang tiếng là “bóc lột”, “áp bức”, chỉ cần tuyệt đối trung thành với đảng. Thay cho cái tên “nhà tư bản” hay “giai cấp tư sản” thường gợi nhớ đến thời kỳ đấu tranh giai cấp đầy sắt máu, các nhà tư bản trong nền kinh tế “theo định hướng xã hội chủ nghĩa” được gọi là “doanh nhân” (businessman, entrepreneur). Các hội doanh nhân mọc lên như nấm: ngoài các hội doanh nhân thông thường còn có các hội nữ doanh nhân, hội doanh nhân trẻ, và thậm chí có cả “hội doanh nhân cựu chiến binh”, v.v…

    Điều đáng tiếc là cho đến nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách nghiêm túc, khách quan về tầng lớp tư bản đỏ tại Việt Nam, cho nên chúng ta chưa thể biết chính xác quy mô và vai trò của tầng lớp đó đối với toàn bộ nền kinh tế. Tuy nhiên nhìn vào thực tế của môi trường kinh doanh hiện nay, ai cũng có thể nhìn thấy sự hiện diện một cách chính danh của các nhà “tư bản đỏ” bên cạnh các nhà “tư bản thân hữu”, ít nhất là từ năm 2006. Có một sự thật tại Việt Nam mà giới lý luận chính thống thường muốn che đậy, đó là: muốn làm giàu nhanh, một doanh nhân (nghĩa là một nhà tư bản) luôn cần đến sự bảo trợ của một hay nhiều quan chức trong bộ máy cầm quyền. Trong hoàn cảnh đó, mỗi nhà tư bản-đảng viên (tức là nhà tư bản đỏ) đều có thể trở thành một chiếc cầu nối, một mối dây liên lạc giữa các nhân vật có quyền trong bộ máy đảng-nhà nước với giới kinh doanh bên ngoài. Đó là chưa kể đến sức mạnh tiềm tàng ngay trong bản thân họ, bởi vì mỗi nhà tư bản đỏ đều có khả năng tìm kiếm “đặc lợi”, lại vừa có khả năng tìm kiếm “đặc quyền”.

    Trong thực tế, tham nhũng và hối lộ đã nhanh chóng trở thành chất dầu bôi trơn cơ chế vận hành nền kinh tế thị trường “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Ngay cả những người nghiêm túc, cứng cỏi nhất cũng phải chấp nhận quy luật này, bởi vì không ai dại dột tự triệt tiêu con đường làm ăn của mình bằng cách làm đơn kiện “chống trời”!

    Cũng có một số đặc điểm riêng biệt của Việt Nam so với Trung Quốc, như chủ trương “quân đội làm kinh tế” chẳng hạn. Tại Trung Quốc, quân đội đã tham gia kinh doanh từ năm 1982 do chủ trương của Đặng Tiểu Bình. Vào năm 1998, người ta ước tính có từ 10 đến 15 ngàn cơ sở kinh doanh thuộc sở hữu của quân đội. Mặc dù đạt hiệu quả kinh tế cao, việc quân đội tham gia kinh doanh đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt là làm cho quân đội xao lãng nhiệm vụ chính và gây ra nạn tham nhũng. Vì thế, vào tháng 7 năm 1998, Giang Trạch Dân đã ra lệnh cho quân đội và PAP (Lực lượng cảnh sát vũ trang) chấm dứt các hoạt động thương mại.[6] Lệnh cấm của Giang Trạch Dân đã làm suy giảm đáng kể hoạt động kinh doanh của quân đội, nhưng vẫn không chấm dứt được tình trạng quân đội lén lút “làm ăn” bằng nhiều cách khác. Mới đây, vào cuối tháng 11 năm 2015 (nghĩa là 17 năm sau lệnh cấm của Giang Trạch Dân), Tập Cận Bình lại phải ra lệnh quân đội chấm dứt các hoạt động nhằm kiếm lợi nhuận như : múa hát thuê cho các sự kiện, chữa bệnh cho người ngoài quân đội để thu viện phí, mở lớp học cho dân thường để thu học phí, cho thuê các kho bãi để làm cơ sở thương mại, nhận thầu các công trình xây dựng, v.v…[7]

    Có một điều nghịch lý đập vào mắt người dân nước ta: trong khi quân đội Trung Quốc – một quân đội có nhiệm vụ bành trướng lãnh thổ và lấn chiếm Biển Đông, luôn tìm cách chỉnh đốn hàng ngũ của mình thì quân đội Việt Nam – một quân đội có nhiệm vụ bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải chống âm mưu lấn chiếm của nước ngoài, lại suốt ngày say sưa làm ăn để tìm kiếm lợi nhuận. Chẳng những thế, người ta còn đề cao, khen thưởng các vị tướng, tá “kinh doanh giỏi”.[8] Vậy mà, trên diễn đàn của Quốc hội, các ông bà “đại biểu nhân dân” – kể cả những người được ngợi ca là “dũng cảm”, là “yêu nước” nhất, dường như vẫn bình chân như vại, chưa thấy ai ”tâm tư”, áy náy về điều này!

    Tóm lại, ngoài các nhà tư bản thân hữu, các nhà tư bản đỏ (tức nhà tư bản-đảng viên) còn có những tập thể tư bản đỏ mang bảng hiệu một “cơ quan” của chính quyền hay của Đảng lao vào lĩnh vực kinh doanh. Có thể nói ở Việt Nam đã hình thành nên một mạng lưới của chủ nghĩa cộng sản thân hữu rộng khắp, với hàng ngàn, hàng vạn “cửa ngõ” thông thương giữa bộ máy đảng-nhà nước và lĩnh vực kinh doanh. Có thể vì lẽ đó mà công cuộc chống tham nhũng trở nên khó khăn đến mức ông Chủ tịch nước sắp từ giã chính trường có lần đã ví những quan chức tham nhũng là “bầy sâu”.

    Vấn đề đặt ra là : có bao nhiêu bầy sâu và tại sao lại sinh ra các bầy sâu? Nếu chỉ có một hay vài bầy sâu và mỗi bầy sâu được sinh ra từ một con sâu chúa, người ta có thể diệt trừ bằng cách “vừa diệt sâu chúa, vừa diệt sâu con” dựa theo cách “đả hổ diệt ruồi” của Trung Quốc. Nhưng nếu các bầy sâu lại được sinh ra từ một môi trường thuận lợi cho sự sinh sôi nảy nở của loài sâu thì tình hình sẽ ra sao? Chúng ta có thể hình dung một môi trường ô nhiễm “thuận lợi cho sâu” trong đó hàng ngày hàng giờ đẻ ra hàng ngàn, hàng vạn con sâu con; mặt khác do “thời cơ”, bất cứ con sâu con nào cũng có thể trở thành một con sâu lớn – thậm chí trở thành sâu chúa, thì vấn đề diệt hết các “bầy sâu” sẽ trở thành “nhiệm vụ bất khả thi”.

    Hiện nay, vẫn còn một số người – kể cả trí thức được coi là “cấp tiến” lẫn một số nhà đấu tranh cho dân chủ, tin rằng sau Đại hội XII, Bộ Chính trị mới “gồm những người trong sạch hơn” sẽ thanh lọc được hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam và tìm cách “thoát Trung”. Nhưng nếu bình tâm suy xét, chúng ta sẽ thấy ước vọng đó có thể chỉ là “mơ ước viển vông” và rất dễ biến thành “ảo vọng”. Với nguyên tắc “đánh chuột nhưng tránh làm vỡ bình”, có thể sắp tới sẽ có nhiều vụ án được xử công khai, nhiều trận đánh tham nhũng được tiến hành để làm yên lòng dân, nâng cao lòng tin của cán bộ, đảng viên. Nhưng suy cho cùng, cho dù đạt mức cao nhất, các màn trình diễn đó khó có thể hấp dẫn hơn, nhiều kịch tính hơn những màn trình diễn ngoạn mục vừa qua của ông Tập Cận Bình. Vậy mà ở “nước bạn”, tương lai của công cuộc chống tham nhũng sẽ ra sao? Ý kiến của các nhà chính trị học và của ông Bào Đồng đủ để giúp chúng ta thấy tương lai của công cuộc chống tham nhũng tại Trung Quốc.

    Vào tháng 3 năm 2013, bốn tháng rưỡi sau ngày Tập Cận Bình trở thành nhà lãnh đạo cao nhất của Trung Hoa lục địa, nhà chính trị học Minxin Pei (Bùi Mẫn Hân) có viết trên tờ The Diplomat một bài báo nhan đề “Một nhà lãnh đạo xô-viết mà Trung Hoa có thể bắt chước… và đó không phải là Gorbachev”,[9] trong đó ông đã tiên đoán một cách chính xác rằng Tập Cận Bình sẽ chọn đường lối của Yuri Andropov chứ không chọn đường lối của Gorbachev.

    Yuri Vladimirovich Andropov (1914 – 1984) là Tổng bí thư đầu tiên và duy nhất của Đảng Cộng sản Liên Xô thăng tiến từ chức vụ Giám đốc KGB – cơ quan công an khét tiếng toàn thế giới. Có thể tóm tắt mô hình của Andropov bằng nguyên tắc “làm trong sạch đảng cầm quyền từ bên trong” (cleansing the ruling party from within). Điều lý thú là ở cuối bài báo, Minxin Pei nhận định rằng mô hình đó một “con đường không dẫn đến đâu” (a road to nowhere). Ông còn nhận xét: chính Gorbachev ngay lúc đầu cũng không phải là một nhà cải cách triệt để. Trong hai năm đầu của nhiệm kỳ, Gorbachev đã theo đuổi đường lối của Andropov cho đến khi nhận thức được rằng đường lối đó không có hiệu quả và thay thế bằng con đường glanost (công khai).

    Dường như ĐCSVN hiện nay cũng đang ở vào hoàn cảnh tương tự. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Bộ Chính trị mới sẽ chọn con đường nào: chống tham nhũng bằng cách làm trong sạch Đảng từ bên trong với nguyên tắc “đánh chuột nhưng tránh làm vỡ bình” hay chống tham nhũng bằng cách mở cửa cho toàn dân tham gia?

    Đành rằng đi theo con đường thứ hai có thể làm “vỡ bình”, nhưng” vỡ bình” không đồng nghĩa với “đại họa”, nhất là khi người ta nhận thức được rằng một “đảng chính trị” không thể quan trọng bằng “quốc gia” và “dân tộc”. Còn đi theo con đường thứ nhất (như Tập Cận Bình đã làm) thì số phận thế nào, chúng ta cũng có thể đoán trước: đó là một con đường “không dẫn đến đâu”. Và vì con đường đó “không dẫn đến đâu”, đến một lúc nào đó nhân dân sẽ tự tìm ra được con đường thích hợp. Đến lúc đó thì cho dù chiếc bình vẫn còn, nó có thể trở nên vô dụng hoặc nếu may mắn hơn, chỉ có thể được dùng để trưng bày trong kho đồ cổ hoặc viện bảo tàng để “làm kỷ niệm”!

    Đà Lạt 31-1-2016

    MAI THÁI LĨNH

    [1] Bruce J. Dickson, “Who Consents to the Beijing Consensus: Crony Communism in China,” presented at the “Washington Consensus versus Beijing Consensus “ conference, University of Denver, May 29-June 1, 2008. In S. Philip Hsu, Yu-Shan Wu, Suisheng Zhao (editors), In Search of China’s Development Model: Beyond the Beijing Consensus, Routledge – Taylor & Francis Group, London and New York, 2011, pp. 189-203.

    [2] Hạ hải (xia hai) có nghĩa là “xuống biển” (lĩnh vực kinh doanh được ví như biển cả).

    [3] Thái tử đảng 太子党 (Princelings, hay Crown Prince Party) là một thuật ngữ thường được dùng theo nghĩa xấu nhằm để chỉ con cháu của các quan chức cộng sản cao cấp tại Trung Hoa lục địa, nhất là những người hưởng lợi từ chủ nghĩa thân hữu (cronyism) và chủ nghĩa thân tộc (nepotism), tương tự như các thái tử trong các chế độ quân chủ thừa kế.

    [4] Jonathan Chew, “China now has more billionaires than the U.S”, Fortune, October 15, 2015

    [5] Bao Tong, “How Deng Xiaoping Helped Create a Corrupt China”, New York Times June 3, 2015

    [6] Shirley A. Kan, China’s Military-Owned Businesses, Report 98-197, Congressional Research Service, January 17, 2001.

    [7] Minnie Chan and Zhen Liu, “China’s President Xi Jinping wants ‘PLA Inc’ to stop its song and dance, plans end for profit-making activities”, South China Morning Post, 28 November 2015:

    [8] “Tướng quân đội đi làm kinh tế”, Đời sống và Pháp luật, 08-01-2015:

    [9] Minxin Pei, “One Soviet Leader China Could Emulate…and It’s Not Gorbachev”, The Diplomat April 04, 2013.

  12. Chính sách kinh tế qua nghị quyết đại hội XII

    Viet-studies

    Tôn Thất Thông
    Cộng Hoà Liên Bang Đức

    1-2-2016

    Đại hội lần thứ XII đảng CSVN vừa chấm dứt không lâu. Trước đó người ta chờ đợi một biến chuyển nào đấy dù lớn hay nhỏ về mặt chính sách, nhất là chính sách kinh tế. Đọc kỹ nghị quyết thì chúng ta thấy trong văn kiện cực kỳ quan trọng này, nhiều câu chữ được lập lại nhiều lần suốt nhiều đại hội trong quá khứ. Người đọc không có cảm giác hân hoan chờ đón một thời kỳ mới với những chính sách cụ thể, và nhất là qua câu chữ chúng ta không tìm thấy một nội dung cụ thể khả dĩ giúp cho cán bộ các cấp định hướng công việc của họ.

    Về mặt kinh tế, nghị quyết ghi: “Tiếp tục thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lược (hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ)[1]. Như vậy là đường lối cơ bản về kinh tế vẫn không có gì thay đổi. Ở đây chúng ta chưa bàn đến tính chất hài hòa hay mâu thuẩn đối chọi giữa hai vế của cụm từ ở trên: một bên là kinh tế thị trường và bên kia là định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều dễ thấy là, cốt lõi của các hoạt động kinh tế do nghị quyết đưa ra vẫn không thay đổi: tiến đến nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, dù rằng mọi người, kể cả những vị lãnh đạo cao nhất đều nhận thức được tính ưu việt của nền kinh tế thị trường. Có người trong giới lãnh đạo còn gọi “kinh tế thị trường là tinh hoa của kiến thức nhân loại”. Vậy chúng ta thử bàn thêm về hai vế của cụm từ ở trên, may ra tìm được một hướng đi nào có ích chăng?

    Kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa (XHCN)

    “Cụm từ hai vế” ấy xuất hiện lần đầu năm 2001 trong đại hội IX đảng CSVN, tức là cách đây 15 năm. Đấy là vấn đề ngôn từ, nhưng nếu xét về nội dung chính sách thì nó có nguyên ủy sâu xa hơn: đi từ chính sách ghi trong nghị quyết khóa VI năm 1986 “Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước”, trở thành “Phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN” ở khóa VII[2].

    Như vậy là đã 30 năm. Và sau 30 năm, nhiều nhược điểm của chính sách nói trên đã bộc lộ, nền kinh tế quốc dân thay vì được vươn lên cho kịp các nước bạn trong khu vực, thì khoảng cách giữa họ và Việt Nam ngày càng lớn. Trong buổi họp tổng kết thành quả 30 năm đổi mới ngày 19.11.2015 tại Hà Nội, nguyên phó Thủ tướng Vũ Khoan phát biểu: “Người Việt Nam chúng ta thích tranh luận nhưng chỉ luẩn quẩn trong mấy chữ mà mất hai ba chục năm nay. Ví dụ, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cãi nhau 30 năm chưa kết thúc; rồi doanh nghiệp nhà nước là chủ đạo cũng cãi nhau 30 năm rồi không kết thúc. Những chuyện này còn tranh luận dài dài, không biết đến bao giờ kết thúc được[3]”. Và còn nhiều phê phán tương tự của những chuyên gia hàng đầu của Việt Nam như ông Lưu Bích Hồ, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược, Bộ Kế hoạch và Đầu tư: “những khái niệm như kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, kinh tế nhà nước là chủ đạo,… như ‘vòng kim cô’ ghì chặt sự phát triển của đất nước[4]”.

    Kinh tế Việt Nam vẫn trì trệ, rõ ràng vì không ai xác định được một nội dung cụ thể cho chính sách chủ đạo cho nên mỗi cán bộ hiểu mỗi cách khác nhau, lúc đưa ra quyết định thực hiện lại càng khác nhau xa. Có phải không ai gán được nội dung cụ thể vì nhận thức kém, hay thực chất không thể gán được nội dung vì tự bản chất chính sách đã mang sẵn mầm mống mâu thuẫn? Để trả lời câu hỏi đó, chúng ta hãy trở lại lý thuyết gốc của hai hệ thống: kinh tế thị trường và kinh tế XHCN. Mỗi hệ thống có những tính chất nền tảng khác nhau và có những công cụ quản lý khác nhau. Kinh tế thị trường lấy tư hữu tư liệu sản xuất làm nền tảng, trong lúc CNXH xem công hữu tư liệu sản xuất là mục đích hàng đầu cần đạt tới. Kinh tế thị trường dùng chế độ cạnh tranh làm công cụ phát triển, trong lúc CNXH xem kế hoạch trung ương là công cụ chủ đạo. Nói cho cùng thì thì công cụ quản lý là hệ quả tất yếu khi đứng trên những tính chất nền tảng khác nhau. Vậy chúng ta chỉ cần bàn đến những tính chất nền tảng, và có lẽ cũng chỉ cần bàn đến tính chất quan trọng nhất của nền kinh tế để tìm một nội dung đích thực cho “cụm từ hai vế” ở trên: Tính chất đó là “sở hữu tư liệu sản xuất”.

    Vai trò của sở hữu tư liệu sản xuất

    Câu hỏi về sở hữu tư liệu sản xuất (TLSX) là câu hỏi có ý nghĩa trung tâm về mọi chính sách kinh tế. TLSX ở đây cần hiểu một cách toàn diện. Nó không chỉ giới hạn trong máy móc phục vụ sản xuất mà còn bao gồm những phương tiện khác liên quan đến sản xuất, thí dụ đất đai để làm kho bãi, nhà cửa để làm văn phòng hoặc cho thuê mướn, cả trí tuệ cũng được xem là phương tiện sản xuất. Nói cách khác, khái niệm TLSX bao gồm tất cả các loại phương tiện để phục vụ cho hoạt động kinh tế, những hoạt động sinh ra lợi nhuận.

    Ở đây chúng ta phân biệt giữa sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể và sở hữu nhà nước.

    Sở hữu tập thể TLSX và sở hữu nhà nước là công cụ sắc bén của một guồng máy sản xuất nhất định, có khả năng tạo ra phương tiện cực kỳ hiệu quả để thành phần lãnh đạo kinh tế có thể kiểm soát toàn bộ guồng máy sản xuất và từ đó chế ngự cả những thành viên trong guồng máy đó, mở rộng quyền lực chính trị lên mọi thành phần khác trong xã hội. Điều đáng chú ý hơn nữa của hai hình thái sở hữu này là, để guồng máy có thể hoạt động hữu hiệu, nó đòi hỏi một sự điều khiển từ trung ương lên quá trình hoạt động kinh tế cũng như lên kế hoạch sản xuất của từng đơn vị riêng lẻ, dù ở đó sự điều khiển có thể xuất hiện ở một mức độ thấp hơn[5].

    Ngược lại, trong chế độ tư hữu TLSX, người sở hữu chỉ có thể chế ngự đơn vị hoạt động của mình, chứ không thể tác động lên kế hoạch sản xuất các đơn vị khác, và càng không thể điều khiển quá trình hoạt động kinh tế của toàn bộ guồng máy sản xuất trong xã hội. Anh ta chỉ là một thành viên bình đẳng như mọi thành viên khác, và nhờ thế tính cạnh tranh lành mạnh trên thị trường được bảo đảm, không ai chèn ép được ai.

    Như vậy, để kiến tạo một trật tự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường, việc thừa nhận tư hữu TLSX là điều bắt buộc, và trong toàn bộ nền kinh tế, khi tỉ lệ tư hữu TLSX càng cao thì khả năng tạo dựng trật tự cạnh tranh lành mạnh càng lớn. Nói cách khác, tư hữu TLSX là một trong những điều kiện tiên quyết của trật tự cạnh tranh trên thị trường[6] hay nói một cách chính xác hơn thì nó là một thuộc tính không thể thiếu được của kinh tế thị trường, lại là một thuộc tính cực kỳ quan trọng.

    Tất nhiên là nhà nước cũng có quyền làm chủ một số đơn vị kinh tế thậm chí một số ngành như một tư nhân nào khác, thí dụ hệ thống cung cấp điện nước, giao thông vận tải, ngân hàng v.v… Điều này sẽ không làm rối loạn trật tự thị trường, nếu những đơn vị kinh tế đó cũng ép mình vào trật tự cạnh tranh chung. Khi các đơn vị kinh tế thuộc sở hữu nhà nước không sử dụng chế độ trợ cấp hoặc những ưu đãi khác để nâng cao thế cạnh tranh nhất là trong việc định giá để cạnh tranh trên thị trường, thì việc tồn tại các đơn vị kinh tế nhà nước là điều chấp nhận được[7] và thị trường cũng không vì thế mà bị rối loạn. Tuy nhiên cần lưu ý là, khi tỉ lệ công hữu trong nền kinh tế càng cao, thì hiệu quả sự điều tiết tính cạnh tranh thị trường càng giảm. Điều này tất yếu sẽ dẫn đến những bất hợp lý về giá cả, tình trạng độc quyền sẽ xuất hiện, và nếu kéo dài quá lâu thì đấy là mầm mống của trì trệ kinh tế.

    Để làm rõ tác động của tư hữu TLSX lên cơ chế tự điều tiết của thị trường, chúng ta hãy lấy thí dụ về một xí nghiệp sản xuất thực phẩm. Nếu xí nghiệp này thuộc tư nhân thì người chủ hãng – thường là giám đốc – phải xem xét hàng ngày mức tiêu thụ món hàng mình sản xuất trên thị trường toàn ngành. Nếu mức tiêu thụ giảm sút, anh ta phải nhanh chóng tinh giảm số lượng sản xuất, nếu không thì sản phẩm sẽ tồn kho lâu, thực phẩm ung thối, xí nghiệp thua lỗ và trong nhiều trường hợp sẽ còn ảnh hưởng làm sụt giá thị trường, vòng xoáy rối loạn bắt đầu chuyển động và có thể dẫn đến phá sản cho hãng nào không kịp thời thay đổi. Đặc biệt trong những ngành sản xuất tương tự, sự tinh tế về mức tiêu thụ hàng ngày trên thị trường kết hợp với sự nhạy bén về quyết định kịp thời trong sản xuất là yếu tố cực kỳ quan trọng để xí nghiệp hoạt động thành công.

    Cũng trong thí dụ ở trên, chuyện gì xảy ra khi xí nghiệp thuộc công hữu và giám đốc là công nhân viên nhà nước? Cho dù phát hiện mức tiêu thụ giảm, người giám đốc cũng không có quyết định nào khác hơn là tiếp tục sản xuất theo kế hoạch và chỉ tiêu đã được cấp trên giao xuống. Hàng làm ra có bán được hay không anh ta không quan tâm vì đấy là nhiệm vụ của xí nghiệp khác phụ trách việc phân phối. Hoặc cho dù người giám đốc có muốn tinh giảm sản xuất để cứu vãn thị trường, đề nghị của anh ta phải thuyết phục được cấp trên từ ban, đến ngành, đến bộ v.v… và nhận quyết định ngược lại từ trên xuống dưới. Con đường hành chánh rườm rà và tốn thì giờ này sẽ mất tính thời gian để kịp thời cứu vãn được điều gì. Như thế, với chế độ công hữu TLSX, thị trường chỉ có thể ổn định khi mọi dự đoán cung cầu rất chính xác và kế hoạch cấp trên từ trung ương đưa ra thật hoàn hảo. Nói một cách khác, chúng ta chỉ mong có được “một nhà độc tài cực kỳ sáng suốt” không bao giờ sai lầm. Trong trường hợp có sự cố bất thường[8] thì công hữu TLSX là yếu tố kìm hãm sự điều tiết giữa cung và cầu, thúc đẩy rối loạn thị trường, làm kinh tế đình trệ.

    Cũng cần nói thêm rằng, biến động giá cả thị trường là những tín hiệu an-ten khẩn cấp để những ai quan tâm kịp thời phản ứng. Tín hiệu này tất nhiên sẽ được những người đi tiếp thị phát hiện trước hết. Quan tâm hàng đầu của một xí nghiệp tư nhân là tiếp thị bán hàng. Sản xuất chỉ là phương tiện để phục vụ nhu cầu đó, cho nên sản xuất luôn luôn được tối ưu hóa theo nhu cầu thị trường. Đấy là cơ chế tự điều chỉnh giữa sản xuất và phân phối bán hàng. Chế độ công hữu TLSX thì khác. Xí nghiệp phân phối không có nghiệm vụ báo cáo tình trạng thị trường cho xí nghiệp sản xuất, và ngược lại xí nghiệp sản xuất cũng không được phép thay đổi kế hoạch nếu không có lệnh từ cấp trên. Đường phản hồi từ thị trường về nơi sản xuất không tồn tại thì cơ chế tự điều chỉnh cũng không hoạt động được, hoặc nó cũng có thể được vận hành nhưng với một độ trì hoãn nhất định.

    Thí dụ trên cắt nghĩa được tại sao các nước hoặc các ngành có tỉ lệ công hữu TLSX cao không phát triển nhanh bằng các nước hoặc các ngành có cùng điều kiện, nếu nơi đó chế độ tư hữu TLSX chiếm đa số. Nếu chúng ta quan sát vài ngành trong đó có nhiều loại sở hữu khác nhau, chúng ta đều thấy là tỉ lệ lợi nhuận các xí nghiệp tư nhân thường cao hơn so với các xí nghiệp quốc doanh có cùng điều kiện kinh doanh. Chúng ta hãy quan sát thêm các tập đoàn quốc doanh đang làm ăn thua lỗ. Khi nhà nước quyết định cổ phần hóa cho tư nhân thì tập đoàn đó thường vươn dậy trở lại sau một thời gian ngắn. Điều này chúng ta thấy rõ trong những ngành quen thuộc như ngân hàng, giao thông vận tải, sản xuất xe hơi v.v… ở khắp nơi trên thế giới.

    Nói tóm lại, khi chấp nhận hoạt động trong nền kinh tế thị trường, tư hữu TLSX là nhân tố quan trọng hàng đầu để cơ chế hoạt động hữu hiệu.

    Thừa nhận tư hữu TLSX ở mức độ lớn và rải đều cho nhiều người không những mang lại lợi ích cho những tư nhân đó, mà còn có lợi cho toàn xã hội và bảo đảm cơ chế cạnh tranh thị trường hoạt đông hữu hiệu. Nó bảo đảm rằng, đứng trước một nhu cầu tiêu thụ trong thị trường, tất yếu sẽ có nhiều xí nghiệp khác nhau độc lập quyết định sản xuất và nếu cần họ sẽ đầu tư thêm tư bản và cơ sở vật chất để tìm cách cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ mà xã hội đang cần với mức giá hợp lý[9]. Khi có nhiều xí nghiệp khác nhau hoạt động độc lập trong đó mọi thành viên đều bình đẳng như nhau và tôn trọng luật chơi đã thỏa thuận, thế quân bình về quyền lực kinh tế sẽ dễ dàng được xác lập, thị trường mở dần dần thành hình và nền kinh tế có xu hướng ổn định lâu dài.

    Sự ích lợi cho toàn xã hội không chỉ hạn chế trong lượng hàng phong phú và giá cả tối ưu. Bản thân sự kiện có nhiều xí nghiệp cùng quyết định song song nhưng độc lập với nhau đã là một yếu tố kích thích sáng tạo và tiến bộ. Người chủ xí nghiệp thường trực đặt cho mình nhiệm vụ là phải luôn luôn quyết định đúng, chọn qui trình sản xuất phù hợp, giảm phế phẩm, khuyến khích công nhân, tổ chức sản xuất tối ưu hợp lý v.v… để cung cấp sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao và giá cả phù hợp với chờ đợi của giới tiêu thụ. Mỗi lần làm một quyết định sai lầm là họ phải trả giá bằng tài sản của chính mình. Không ngừng tiến bộ để tồn tại, đấy là tâm niệm của mọi người chủ xí nghiệp tư nhân. Những tính chất ấy chúng ta khó tìm thấy trong những xí nghiệp quốc doanh, nơi mà người giám đốc chỉ là công nhân viên nhà nước.

    Thừa nhận quyền tư hữu TLSX còn có tác dụng thúc đẩy đầu tư cơ sở vật chất, tức là một dạng làm giàu cho xã hội. Thật khó hình dung một tập đoàn nào đó có thể bỏ ra hàng tỉ đô la để xây dựng cơ sở sản xuất trên một vùng đất mà họ không chắc rằng các TLSX đó sẽ vĩnh viễn thuộc quyền sở hữu của họ. Nếu quyền này được thừa nhận bởi luật pháp, quyết định của họ sẽ dễ dàng hơn. Ở mức độ đầu tư thấp hơn như máy móc hoặc các phương tiện bình thường khác, hiệu ứng cũng tương tự như thế.

    Ở các nước phát triển quyền tư hữu TLSX được thừa nhận không hạn chế, thường được ghi trong hiến pháp và được qui định cụ thể trong các đạo luật kinh tế. Người sở hữu có quyền sử dụng, thay đổi, cho thuê bán hoặc thậm chí phá hủy TLSX của mình, miễn sao những hoạt động đó không vi phạm qui định của luật pháp. Quyền sở hữu không hạn chế TLSX sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể tự ý quyết định và lập kế hoạch kinh doanh. Nếu quyền này bị một hạn chế nào đó, một số người sẽ ngần ngại và không sẵn sàng chấp nhận rủi ro trong quá trình hoạt động kinh tế của họ, từ đó các đầu tư quan trọng sẽ bị đẩy lùi về sau. Mọi hoạt động đều có tính chất ngắn hạn, ăn xổi ở thì.

    Bây giờ chúng ta thử đặt câu hỏi: Liệu quyền tư hữu TLSX là một nhân tố luôn luôn bảo đảm cho trật tự cạnh tranh lành mạnh hay không? Rõ ràng là không luôn luôn. Hãy lấy một thí dụ: Khi một xí nghiệp tư nhân to lớn được xây dựng trong một thành phố nơi đó toàn bộ lao động không đủ để cung ứng cho nhu cầu nhân sự, xí nghiệp này sẽ trở thành kẻ độc quyền tiêu thụ trong thị trường lao động. Chúng ta khó mà tin cậy vào lòng tốt của những người đang nắm quyền lực kinh tế ghê gớm đó. Thế cạnh tranh lành mạnh sẽ mất, đi kèm với những hệ lụy xã hội tất yếu của nó mà kẻ gánh chịu là người lao động. Một thí dụ thứ hai: Tập đoàn xe buýt A với một đội xe vĩ đại được phép hoạt động trong tỉnh B, nơi các xí nghiệp xe buýt nhỏ chỉ chiếm một phần không đáng kể so với A. Tập đoàn này sẽ nhanh chóng làm cho các xí nghiệp nhỏ phá sản và trở thành độc quyền cung cấp dịch vụ xe buýt. Chế độ cạnh tranh thị trường không còn, giá cả có thể tăng vọt, giờ giấc tùy tiện v.v… và kẻ hứng chịu mọi hệ lụy chính là người dân trong tỉnh B đang cần sử dụng dịch vụ này.

    Cả hai hình thức độc quyền ở trên – độc quyền cung cấp và độc quyền tiêu thụ – đều dẫn đến quyền lực kinh tế vào trong tay một thiểu số rất nhỏ có khả năng thao túng thị trường mà kẻ thiệt thòi là đại đa số người lao động yếu thế.

    Các nghiên cứu kinh tế đã chỉ ra rằng, tư hữu TLSX trong thế độc quyền trên thị trường sẽ sinh ra những thiệt hại trầm trọng cho xã hội. Các tập đoàn tư nhân sẽ sử dụng quyền lực kinh tế của mình để triệt hạ xí nghiệp cạnh tranh, áp đặt giá cả lên giới tiêu thụ và thẳng tay bóc lột nhân viên của họ. Khi quyền lực kinh tế này trở thành áp đảo thì nhà nước cũng bó tay khi tìm cách hạn chế thiệt hại[10]. Đấy là tình trạng các nước công nghiệp trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, khi mà nền kinh tế tư bản chủ nghĩa sơ khai còn trong giai đoạn được thả lỏng (laissez-faire). Đời sống công nhân rất cùng cực, mất nhân phẩm và nếu chủ nghĩa tư bản cứ kéo dài như thế thì nó không xứng đáng được tồn tại và quyền tư hữu TLSX không đáng được bảo vệ.

    Cuộc thay đổi bắt đầu từ đầu thế kỷ 20 và được tiến hành triệt để trễ nhất là sau cuộc đại khủng hoảng 1930. Kể từ đây các nước phát triển, từ những nước cực lớn như Mỹ đến các nước tí hon như Luxemburg, đều nhận thức được rằng đã đến lúc chủ nghĩa tư bản mà họ theo đuổi hàng nhiều thế kỷ cần phải được thay đổi sâu sắc. Họ đã nhận thức được chỗ yếu của chính sách thả lỏng laissez-faire, đã thấm thía đâu là nguy cơ của quyền lực kinh tế. Chỉ vài thập niên sau, nước nào cũng có những cải tổ cơ cấu kinh tế mà quan trọng nhất là cải tổ hệ thống luật pháp để ngăn chận liên minh độc quyền trong hoạt động kinh tế cũng như nhiều đạo luật khác để xác lập cơ chế cạnh tranh lành mạnh trên thị trường. Một số nước khác thì đi xa hơn trong những chính sách xã hội có khả năng tạo dựng cho mỗi người một cuộc sống phồn vinh và bình đẳng như mọi người khác. Những cải cách các nước Bắc Âu rất đáng để tham khảo.

    Vì vậy khi bàn về tư hữu TLSX để rút ra kết luận hòng đưa ra chính sách kinh tế phù hợp thì chúng ta phải bàn về quyền tư hữu trong giai đoạn từ giữa thế kỷ 20, khi mà trật tự thị trường đã thay đổi sâu sắc, chế độ cạnh tranh và mức độ liên minh độc quyền được giám sát một cách chặt chẽ bởi luật pháp và những cơ quan trung lập. Bàn tay quyền lực của nhà nước đã bị giới hạn, cũng như bàn tay thô bạo của những tư nhân trong lợi thế độc quyền không còn sức mạnh tuyệt đối. Trong bối cảnh đó, quyền tư hữu TLSX vừa là thuộc tính của kinh tế thị trường, vừa là công cụ hữu hiệu để điều tiết thị trường đạt ổn định một cách bền vững. Và cũng chỉ trong bối cảnh đó chúng ta mới có thể quả quyết rằng, quyền tư hữu TLSX sẽ là động cơ thúc đẩy sáng tạo, tiến bộ, nâng cao đầu tư dài hạn, mang lại lợi ích cho xã hội mà kẻ hưởng lợi là thành phần lao động đông đảo.

    Làm gì với chính sách mới?

    Như vậy dưới góc nhìn của quyền sở hữu TLSX, kinh tế thị trường và định hướng XHCN là hai chính sách đối lập nhau như nước và lửa, dựa vào những nguyên lý khác nhau như ngày và đêm. Thúc đẩy nền kinh tế thị trường một cách thành công là tự nó sẽ thủ tiêu kinh tế XHCN, và ngược lại, tiến đến thành công nền kinh tế XHCN thì kinh tế thị trường sẽ không còn hoạt động được. Giữa hai vế của cụm từ nói trên khó có một sự hài hòa khả dĩ được đứng chung với nhau. Thế mà cụm từ này vẫn tồn tại 30 năm trên đất nước Việt Nam. Tại sao?

    Chúng ta có thể đặt ra hai giả thuyết: thứ nhất, vì một mối u hoài với giấc mơ XHCN mà các nhà làm chính sách gán thêm vế định hướng XHCN vào chính sách kinh tế thị trường, nhưng thâm tâm họ cũng không mấy tin. Hoặc thú hai, kinh tế thị trường chỉ là chiến thuật trước mắt để nâng cao đời sống và khi tình hình cho phép thì nhà nước sẽ triệt hạ nó và tiến thẳng lên CNXH (có triệt hạ được hay không lại là chuyện khác).

    Có lẽ giả thuyết thứ nhất có cơ sở hơn. Vậy để làm cho dân giàu nước mạnh, chuyên viên kinh tế các cấp cứ tạm thời quên cái vế “định hướng XHCN” khi đưa ra các chính sách trong mọi ngành hoạt động, tại mỗi địa phương, trong mọi thời kỳ. Cũng không phải chỉ có lĩnh vực kinh tế, mà cả trong nhiều lĩnh vực khác, mà quan trọng nhất là luật pháp cũng cần quên cái “định hướng” ấy. Chỉ như thế, Việt Nam mới hy vọng vươn ra khỏi bế tắc triền miên hiện nay để hòa đồng vào cộng đồng kinh tế thế giới.

    Tôn Thất Thông
    Cuối tháng giêng 2016

    Tài liệu tham khảo

    Eucken, Walter XE „Eucken, Walter”
    Những luận đề cơ bản về chính sách kinh tế
    Grundsätze der Wirtschaftspolitik
    ISBN 31-6345-548-4
    Höfer, Heinrich
    Quyền sở hữu – Nền Kinh tế Thị trường Xã hội
    Eigentum – Soziale Marktwirtschaft
    Trang mạng http://www.kas.de của Konrad Adenauer Stiftung
    Huỳnh Thế Du
    Luận giải về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
    Tạp chí Thời Đại Mới số 29/2013
    Tham khảo: http://www.tapchithoidai.org
    Nghị quyết
    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
    Tham khảo http://www.baochinhphu.vn ngày 29.1.2016
    Peters, Hans-Rudolf
    Chính sách kinh tế
    Wirtschaftspolitik
    ISBN 3-486-23120-0
    Tư Giang
    Việt Nam đã thực sự tụt hậu do phát triển „lạc điệu“
    Tường thuật „Diễn đàn tổng kết 30 năm Đổi mới giai đoạn 1986 – 2015“
    được tổ chức ngày 19-11 tại Hà Nội.
    Kinh Tế Saigon Online http://www.TheSaigontimes.vn ngày 19.11.2015

    _____

    Ghi chú

    [1] Xem tài liệu [ REF _Ref442005430 \r \h 4] trang 6, Nghị quyết đại hội

    [2] Xem tài liệu [ REF _Ref442006954 \r \h 3] trang 4, Huỳnh Thế Du

    [3] Xem tài liệu [ REF _Ref442007784 \r \h 6], Tư Giang

    [4] Xem tài liệu [ REF _Ref442007784 \r \h 6], Tư Giang

    [5] Xem tài liệu [1] trang 270, W. Eucken

    [6] Xem tài liệu [1] trang 271, W. Eucken

    [7] Xem tài liệu [5] trang 199, H-R Peters

    [8] Có thị trường nào mà không có sự cố bất thường? Lý thuyết kinh tế chỉ cho chúng ta rằng, cung và cầu luôn luôn thay đổi theo thời gian, cho nên việc điều tiết sản xuất (cung cấp) để đạt một quan hệ tối ưu với thị trường (tiêu thụ) là yếu tố then chốt của thành công.

    [9] Xem tài liệu [2] H. Höfer

    [10] Xem tài liệu [1] trang 272-273, W. Eucken

    Tác giả gửi cho viet-studies ngày 31-1-16

  13. Đại hội XII dưới góc nhìn của Giáo sư Chu Hảo

    Mặc Lâm, phóng viên RFA
    https://anhbasam.wordpress.com/2016/02/01/6854-ve-bai-tra-loi-phong-van-cua-giao-su-chu-hao/

    29-1-2016

    Đại hội XII xem như đã kết thúc sau một tuần làm việc với những diễn biến bất ngờ đầy kịch tính. Đây là lần bầu bán có sức ép lớn nhất xảy ra trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam. Mặc Lâm phỏng vấn GS Chu Hảo, Giáo sư- Tiến sĩ vật lý hiện đang là Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri Thức, nguyên thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ để biết thêm nhận định của ông về Đại hội lần này.

    Mặc Lâm: Thưa GS Đại hội XII đã kết thúc và diễn tiến của nó như ông đã thấy rất kịch tính. Dư luận trong và ngoài nước bị cuốn hút theo từng ngày với từng kết quả của cuộc bầu bán. Nhìn chung Đại Hội XII lần này GS thấy có gì đặc biệt hơn so với những đại hội trước đây?

    GS Chu Hảo: Tôi thấy nó có nét đặc biệt, tức là Ban tổ chức Đại hội đã tổ chức công tác nhân sự rất chặt chẽ, bài bản. Nói là dân chủ thì tôi cũng không đồng tình lắm bởi vì cách bầu cử từ xưa tới nay tuy bỏ phiếu nhiều lần nhưng không khí cũng chưa hẳn dân chủ trong bầu cử. Không những trong Đàng đâu mà ở ngoài cũng thế. Tuy nhiên việc bầu cử lần này thì phải nói là lần đầu tiên toàn dân được theo dõi khá đầy đủ qua những thông tin có vẻ minh bạch hơn đấy là điều đáng mừng. Thứ hai nữa là những gì mà Ban tổ chức họ dàn dựng và định hướng thì đều đạt được mục đích cả chứng tỏ rằng công tác chuẩn bị họ làm hết sức bài bản, chu đáo.

    Trong quá trình diễn ra rất nhiều thông tin ngoài luồng, chính thống thì cũng có, những dự báo này khác. Tuy nhiên tôi vẫn cho rằng là tính minh bạch và giải trình thông tin tương đối đầy đủ. Trong suốt quá trình họp nó không thật là đầy đủ để mà mọi người có thể phán đoán suy luận vì vậy rất nhiều phán đoán và suy luận đều trật lất hết! Chứng tỏ lòng mong muốn của nhiều người trong cũng như ngoài nước đều quan tâm. Chứ còn dựa trên những thông tin không chính thức mà phán đoán hay kết luận thì nhiều khi nó cũng không đúng.

    Cho đến bây giờ thì những gì mà Ban Tổ chức Đại hội dự kiến thì đều đạt được cả, duy còn động tác cuối cùng nữa tức là ngày mai Ban Chấp hành Trung ương mới bầu ông Nguyễn Phú Trọng làm Tổng Bí Thư thì coi như hoàn chỉnh kế hoạch của Ban tổ chức đề ra.

    Mặc Lâm: Thưa GS trong những ngày qua dư luận trong nước cũng như báo chí thế giới đưa tin một cách dày đặc về cuộc đấu giữa hai ông Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Phú Trọng với cảm tình dành cho ông Dũng chiếm ưu thế hơn thấy rõ. Thế nhưng ông Nguyễn Tấn Dũng chọn con đường rút lui êm thấm làm cho người ta đặt câu hỏi phải chăng nghị quyết 244 đã buộc ông Dũng phải tự chon giải pháp về hưu, hay là phía sau còn có sức ép nào khác nữa thưa GS?

    GS Chu Hảo: Riêng tôi thì tôi có cảm nhận rằng đấy là do sức ép của 244 mà đến bây giờ thì tôi vẫn giữ cái quan điểm rằng cái 244 đó thể hiện một tinh thần chưa thật dân chủ. Nó vi phạm những nguyên tắc tối thiểu điều lệ của chính Đảng Cộng sản mà tôi đã từng biết. 244 bao trùm lên tất cả còn về sau này có một số những động thái chứng tỏ có vẻ như là có dân chủ thế nhưng cái dân chủ đấy chỉ để bảo vệ điều xem ra không được dân chủ lắm là 244.

    Mặc Lâm: Hầu hết trong kỳ Đại hội lần này mọi người chú tâm vào Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng vì cho rằng ông ấy quá thân cận với Trung Quốc và vì vậy không ít người cho là nếu ông Trọng tiếp tục nắm chức TBT một lần nữa thì nguy cơ lệ thuộc vào Trung Quốc càng nặng nề hơn. GS nghĩ sao về những quan điểm như vậy?

    GS Chu Hảo: Điều này đúng là dư luận của dân chúng và xã hội là như vậy, nó ở hai khía cạnh. Khía cạnh thứ nhất ông Nguyễn Phú Trọng là một nhà lãnh đạo điển hình bảo vệ quan điểm phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa theo mô hình xô viết cũ và theo mô hình Mác Lênin. Ông Trọng từng nhiều lần tuyên bố Việt Nam với Trung Quốc có đồng ý thức hệ Cộng sản. Điều đó đã gây ra sự quan ngại rất lớn đối với những người quan tâm đến sự phát triển của đất nước.

    Bởi vì nhìn đại thể mà nói tuy còn có Đảng Cộng sản ở nhiều nước vẫn đang tồn tại. Tuy rằng cái ý thức hệ Cộng sản cũng như cái quan điển về chủ nghĩa xã hội cũng còn có nhiều nước còn níu kéo, tuy nhiên thực tế lịch sử đã phát triển đều thấy rằng cái chủ nghĩa Mác Lênin đã rất lỗi thời và lịch sử đã bỏ qua thế mà Tổng bí thư luôn luôn trung thành với cái đó, Qua đó để thấy rằng những mối giao lưu và quan hệ với Trung Quốc đều dựa trên những cơ sở đó thành ra rất nhiều tầng lớp nhân dân cũng như nhân sĩ trí thức lúc nào cũng lo lắng, không an tâm về điều đó.

    Mặc Lâm: Xin cám ơn Giáo Sư.

  14. Pingback: Chào ngày mới 2 tháng 2 | Tình yêu cuộc sống

  15. Pingback: Đến với bài thơ hay | Tình yêu cuộc sống

  16. Pingback: Đến với bài thơ hay | Khát khao xanh

  17. Pingback: Chào ngày mới 3 tháng 2 | Tình yêu cuộc sống

  18. Pingback: Đỗ Tất Lợi danh y Việt Nam | Tình yêu cuộc sống

  19. Pingback: Chào ngày mới 4 tháng 2 | Tình yêu cuộc sống

  20. Pingback: Mark Zuckerberg và Facebook | Tình yêu cuộc sống

  21. Pingback: Huyền Trang và Tháp Đại Nhạn | Tình yêu cuộc sống

  22. Pingback: Huyền Trang và tháp Đại Nhạn | Khát khao xanh

  23. Pingback: Chào ngày mới 5 tháng 2 | Tình yêu cuộc sống

  24. Pingback: Chào ngày mới 6 tháng 2 | Tình yêu cuộc sống

  25. Pingback: Một trời thương nhớ | Tình yêu cuộc sống

  26. Pingback: Bên lề chính sử | Tình yêu cuộc sống

  27. Pingback: Chào ngày mới 7 tháng 2 | Tình yêu cuộc sống

  28. Pingback: CNM365 Chào ngày mới 365 | Tình yêu cuộc sống

  29. Pingback: CNM365 Tình yêu cuộc sống | Tình yêu cuộc sống

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s