Chào ngày mới 3 tháng 2


Communist Party of Vietnam flag.svg
CNM365. Chào ngày mới 3 tháng 2. Wikipedia Ngày này năm xưa. Năm 1930Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập tại Cửu Long, Hương Cảng thuộc Anh. Năm 1820 – ngày mất Gia Long, quân chủ triều Nguyễn (sinh năm 1762), là Hoàng đế đã thành lập nhà Nguyễn, vương triều phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Năm  2008 – ngày mất  Đỗ Tất Lợi, nhà nghiên cứu dược học nổi tiếng, “cây đại thụ” của nền y học cổ truyền Việt Nam (sinh năm 1919). xem tiếp…

NguyenDu9
NGUYỄN DU 250 NĂM NHÌN LẠI

Hoàng Kim

CNM365. Nguyễn Du 250 năm nhìn lại. Năm nay là kỷ niệm 250 năm của năm sinh Nguyễn Du. Năm mất của Nguyễn Du (1820) cũng là năm mất của Hoàng đế Gia Long Nguyễn Ánh (sinh năm 1762), người thành lập triều Nguyễn vương triều phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Du, Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh sẽ hiểu thấu nhiều uẩn khúc lịch sử và thời thế . Nguyễn Du không chỉ là nhà thơ lớn, danh nhân văn hóa thế giới mà còn là bậc hiền tài lỗi lạc, danh sĩ tinh hoa, đã vượt lên vinh nhục bản thân giữa thời nhiễu loạn, vàng lầm trong cát để trao ngọc cho đời.

Nguyễn Du tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, biệt hiệu Hồng Sơn Liệp Hộ, lại có hiệu Nam Hải Điếu Đồ (kẻ đi câu ở biển Nam). Ông sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu (ngày 3 tháng 1 năm 1766) tại phường Bích Câu ở Thăng Long (Hà Nội), mất ngày 10 tháng tám năm Canh Thìn (ngày 16 tháng 9 năm 1820) tại kinh đô Huế, hưởng thọ 55 tuổi.

Nguyễn Du, quê hương và dòng họ

Nguyễn Du họ Nguyễn Tiên Điền, nguyên quán ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, quê hương Nghệ Tĩnh, nhưng ông sống nhiều nơi “Hồng Lam vô gia, huynh đệ tán”, mẹ họ Trần đất Kinh Bắc, tổ tiên Sơn Nam, khởi nghiệp Thái Nguyên, nhiều năm lưu lạc giang hồ ở châu thổ sông Hồng, vùng núi phía Bắc, Nam Trung Quốc, Nghệ Tĩnh, nhiều năm làm quan ở Quảng Bình và kinh đô Huế. Nguyễn Du là danh sĩ tinh hoa, tính tình khoan hòa điềm tĩnh, đi nhiều, học rộng, là nhà thơ nổi tiếng thời Lê mạt, Nguyễn sơ ở Việt Nam.

Cha của Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm (1708 – 1775), sinh ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh, tên tự Hy Di, hiệu Nghi Hiên, có biệt hiệu là Hồng Ngự cư sĩ, đậu Nhị giáp tiến sĩ, làm quan đến chức Đại tư đồ (Tể tướng) kiêm Trung thư giám, Tổng tài Quốc sử giám, tước Thượng thư bộ Hộ, Xuân Quận công triều Lê. Mẹ là bà Trần Thị Tần, sinh ngày 24 tháng 8 năm 1740, mất ngày 27 tháng 8 năm 1778, con gái một người thuộc hạ của Nguyễn Nhiễm làm chức Câu kê lo việc kế toán, quản gia cho cụ Nguyễn Nghiễm. Quê mẹ Nguyễn Du ở làng Hoa Thiều, xã Minh Đạo, huyện Tiên Du (Đông Ngàn), xứ Kinh Bắc, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh. Bà Trần Thị Tần là vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm, bà kém chồng 32 tuổi, sinh được năm con, bốn trai và một gái. Nguyễn Nghiễm có tám vợ và 21 người con. Vợ chánh thất là bà Đặng Thị Dương, sinh mẫu của Nguyễn Khản (1734-1786); bà hai là Đặng Thị Thuyết, sinh mẫu của Nguyễn Điều (1740-1786), bà là em ruột của bà chánh thất Đặng Thị Dương; bà ba là Trần Thị Tần, sinh mẫu của Nguyễn Trụ (1757-1775, con trai thứ 3), Nguyễn Nễ (1761-1805, con trai thứ 6), Nguyễn Thị Diên, Nguyễn Du (1765- 1820, con trai thứ 7, nên tục gọi là cậu Chiêu Bảy), Nguyễn Ức (1867-1823, con trai thứ 8); bà tư là Nguyễn Thị Xuyên, quê ở xã Hoàng Mai, Yên Dũng, Kinh Bắc, sinh mẫu của Nguyễn Quýnh (1759- 1791, con trai thứ 4), bà năm là Nguyễn Thị Xuân, quê xã Tiêu Sơn, huyện Yên Phong, xứ Kinh Bắc, sinh mẫu của Nguyễn Trừ (1760 -1809, con trai thứ 5) và Nguyễn Nghi (1773- 1845, con trai thứ 10); bà sáu là Phạm Thị Diễm, quê xã Hải Lộ, huyện Nam Chân, xứ Sơn Nam, sinh mẫu của Nguyễn Lạng (1768- 1817), con trai thứ 9), bà bảy là Hồ Thị Ngạn, người xã Hoa Viên, huyện Nghi Xuân, sinh mẫu của Nguyễn Nhưng (1763-1824), con trai thứ 11; bà tám là Hoàng Thị Thược, người xã Đan Hải, Nghi Xuân, sinh mẫu của Nguyễn Tốn (1767- 1812), con trai thứ 12 (Trích theo đúng gia phả, bản dịch của cụ Giải nguyên Lê Thước dịch từ năm 1962). Đền thờ Nguyễn Nghiễm ở thôn Bảo Kê, xã Tiên Điền. Đền có 3 tấm biển lớn, một khắc 4 chữ “Phúc lý vĩnh tuy” (Phúc ấm lâu dài) do tự tay chúa Trịnh viết. Một tấm khắc 4 chữ: “Dịch tế thư hương” (dòng thư hương đời nối đời) do Đức Bảo sứ thần nhà Thanh đề tặng. Một biển khắc 4 chữ “Quang tiền du hậu” (Rạng rỡ thế hệ trước, phúc ấm ở đời sau) do Tô Kính người Viễn Đông đề tặng. Đền còn có đôi câu đối: Lưỡng triều danh Tể Tướng. Nhất thế đại nho sư (Nho sư cả nước vang danh hiệu. Tể tướng hai triều rạng tiếng tăm). Danh sĩ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, người được Nguyễn Huệ tôn làm thầy, là học trò của Nguyễn Nhiễm, đã viết bài tán “Phú Đức” nói về thầy học của mình. Nguyễn Nhiễm khi còn sống đặt ruộng cúng và xây sẵn đền thờ ở mặt sông. Sau khi ông mất, triều đình phong “Thượng Đẳng Tôn Thần”, Huân Du Đô Hiến Đại Vương, hàng năm Quốc gia làm tế lễ. Lại giao cho 4 xã chăm sóc hương khói. Ngày sinh, ngày giỗ của ông có cả xã Uy Viễn cùng tế lễ.

Tổ tiên của Nguyễn Du gốc ở làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay thuộc Hà Nội), sau di cư vào Hà Tĩnh, có truyền thống khoa bảng nổi danh ở làng Tiên Điền thời Lê mạt. Trước ông bảy thế hệ, viễn tổ họ Nguyễn Tiên Điền là Nam Dương hầu Nguyễn Nhiệm, con trai Nguyễn Miễn và là cháu Nguyễn Quyện, gọi Nguyễn Quyện bằng bác ruột, thời Lê Trung hưng có dự mưu phục lại nhà Mạc, bị thua trận chạy về phương Nam, giấu tung tích, đến sinh cơ lập nghiệp ở Tiền Điền Nghi Xuân. (Nguyễn Miễn là con của Trạng nguyên Nguyễn Thiến, hậu duệ người em của Nguyễn Phi Khanh). Nguyễn Trãi và Nguyễn Du cùng thuộc một dòng họ và chung một ông tổ.

Ông nội của Nguyễn Du là Nguyễn Quỳnh. Ông có 5 vợ và 9 con (6 trai, 3 gái). Trong số 6 người con trai thì có 3 người con đậu đại khoa và làm quan to là Nguyễn Huệ , Nguyễn Nghiễm và Nguyễn Trọng. Ông Nguyễn Quỳnh là người hay đọc sách, tinh thông lý số, giỏi kinh dịch, … Ông chuyên tâm dạy con cái học hành, có soạn ba bộ sách bàn về Kinh Dịch với những việc chiêm nghiệm được trong đời. Ông có trồng ba cây cổ thụ, một cây Muỗm (Xoài), một cây Bồ Lỗ (Cây Nóng), một cây Rói, để sau này con cái thành đạt về thăm cha có chỗ buộc ngựa. Những cây cổ thụ đó, nay vẫn còn, trừ cây Rói bị bão đổ năm 1976. Nguyễn Quỳnh giỏi y thuật từ khi còn trẻ nghe nói có gặp một người Trung Quốc là Ngô Cảnh Phượng (dòng dõi Ngô Cảnh Loan- một nhà địa lý nổi tiếng đời Tống) am hiểu địa lý, gặp nạn, ông đưa về nuôi. Ngô Cảnh Phượng cảm phục ân đức đã truyền cho bí quyết về phong thủy. Họ Nguyễn Tiên Điền thịnh đức, nếp nhà di huấn nối đời làm thuốc và dạy học, nếu có làm quan biết giữ tiết tháo, đức độ, thanh thận cần.

Vợ chính thất của Nguyễn Du họ Đoàn là con thứ sáu của Đoàn Công, Hoàng giáp Phó Đô ngự sử Quỳnh Châu bá người Quỳnh Côi, Hải An (xưa thuộc Sơn Nam, nay thuộc Thái Bình). Theo gia phả của họ Nguyễn Tiên Điền thì ông bà sinh con trai tên Nguyễn Tứ tự là Hạo Như có văn học, Nguyễn Ngũ giỏi võ, Nguyễn Thuyến giỏi văn nhưng không tham gia chính sự. Năm Quý Dậu (1813), bà theo ông đi sứ phương Bắc, về nước được vài năm bị bệnh mất. Bà sinh được một gái gả cho Tú tài Ngô Cảnh Trân, người ở Trảo Nha, Thạch Hà.

Một trong những người yêu thương nhất của Nguyễn Du là Hồ Xuân Hương (Hồ Phi Mai) bà chúa thơ nôm, tác giả của Lưu Hương ký, quê ở Quỳnh Đôi, có quan hệ mật thiết với họ Hồ nhà Tây Sơn. Hồ Xuân Hương cũng là tác giả của những tác phẩm thơ nổi tiếng: Bánh trôi nước, Kẽm Trống, Nhớ người cũ, viết gửi Cần Chánh Học Sĩ Nguyễn Hầu, Khóc ông phủ Vĩnh Tường, Khóc Tổng Cóc, Làm lẽ, Tự tình, Mời trầu, Đề đền Sầm Nghi Đống, Đèo Ba Dội, Hang Cắc Cớ, Cái quạt, Đánh đu, Thiếu nữ ngủ ngày, Không chồng mà chửa, Chùa Quán Sứ,  Sư hổ mang, Sư bị ong châm, Quan thị, Mắng học trò dốt … bài nào cũng thực thông minh, hóm hỉnh, vừa sâu sắc vừa cận nhân tình. Hồ Xuân Hương là một phụ nữ đặc biệt tài hoa nhưng bất hạnh. Bà có tới ba đời chồng là Tổng Cóc, Tri phủ Vĩnh Tường và Tham hiệp trấn Yên Quảng Trần Phúc Hiển, người  bị kết án năm 1816 và bị xử tử năm 1818.

Gia tộc Nguyễn Du có nhiều người giỏi và giữ những vị trí trọng yếu của thời cuộc: cha là Nguyễn Nhiễm làm Tể tướng hai triều Lê; anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản làm Tể tướng, Tham tụng, Thượng thư bộ Lại kiêm trấn thủ Thái Nguyên, Hưng Hóa triều Lê; cha nuôi là quan trấn thủ Thái Nguyên Quản Vũ Hầu Nguyễn Đăng Tiến, tướng tâm phúc của Nguyễn Nhiễm; cha vợ là Hoàng giáp Phó Đô ngự sử Quỳnh Châu bá Đoàn Nguyễn Thục; anh cùng mẹ là Nguyễn Nễ đứng đầu ngoại giao của cả ba triều Lê, Tây Sơn, Nguyễn (Nguyễn Nễ từng trãi Cai đội quân Nhất Phấn giữ phủ chúa Trịnh, Hiệp tán quân vụ nhà Lê, Tả Phụng nghi bộ Binh, Hiệp tán quân vụ trấn Quy Nhơn, Chánh sứ, Tả đồng nghị trung thư sảnh trấn Nghệ An nhà Tây Sơn, phụ tá Tổng trấn Bắc thành nhà Nguyễn); anh ruột là Nguyễn Điều làm trấn thủ Sơn Tây của triều Lê; anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn làm Thị Lang bộ Lại nhà Tây Sơn; anh rể là tiến sĩ Vũ Trinh làm Hữu Tham tri bộ Hình, thầy dạy Nguyễn Văn Thuyên, con của Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành.

Điểm đáng lưu ý là Nguyễn Du cũng là chú vợ của vua Gia Long Nguyễn Phúc Ánh. Cuốn gia phả cung cấp về cụ Nguyễn Trừ, anh trai thứ năm của Nguyễn Du: “Ông tên húy là Trừ, …, con bà trắc thất Nguyễn Thị Xuân, người xã Tiêu Sơn, huyện Yên Phong, Bắc Ninh và vẫn lưu ở quê mẹ. Năm Giáp Tý (1804) đổi làm Tri phủ Nam Sách. Ngày 8 tháng Giêng năm Gia Long thứ 8 (22 tháng 2 năm 1809) ông mang bệnh và mất ở đây, thọ 50 tuổi, đem về táng ở Tiêu Sơn (quê mẹ). Vợ kế thất là Tống Thị Thiếu sinh được 4 con trai Đại, Trù (làm tri phủ Vĩnh Tường), Hồng, Hiệp, có con gái là Thị Uyên được tuyển làm cung tần của vua Gia Long”. Vậy Nguyễn Trù là bố vợ và Nguyễn Du là chú vợ của vua Gia Long.

Nguyễn Du rất được quý trọng của nhiều danh sĩ đương thời. Văn chương của ông đặc biệt lưu truyền sâu rộng trong lòng dân. Ông giao thiệp rộng với nhiều tướng văn võ của triều Lê như Hoàng Ngũ Phúc, Nguyễn Hữu Chỉnh, với danh thần nhà Tây Sơn như La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, Ngô Thì Nhậm, Trần Văn Kỷ, Phan Huy Ích, Ngô Văn Sở, Thận Quận công, với danh thần nhà Nguyễn như Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh, Phạm Văn Hưng, Nguyễn Công Trứ, Trương Đăng Quế, Nguyễn Văn Giai…

Nguyễn Du mất ở Kinh Đô Huế ngày 10 tháng tám năm Canh Thìn (ngày 16 tháng 9 năm 1820), an táng tại cánh đồng Bào Đá, xã An Ninh, huyện Phong Điền. Năm Giáp Thân (1824), hài cốt của cụ được cải táng đưa về quê nhà ở Đồng Ngang thuộc giáp cũ của bản xã (có bút phê) ở thôn Thuận Mỹ, làng Tiên Điền, Hà Tĩnh. Những năm sau đó dời đến táng cạnh đền thờ Nguyễn Trọng và lại cải táng đến xứ Đồng Cùng, giữa một vùng cát rộng. Tới nay, mộ cụ Nguyễn Du qua nhiều trùng tu, đã tôn nghiêm hơn.

Tóm tắt gia thế Nguyễn Du như trên để hiểu câu Kiều: “Triều đình riêng một góc trời/ Gồm hai văn võ rạch đôi sơn hà.” Họ Nguyễn Tiên Điền có thế lực mạnh đến mức nhà Lê, họ Trịnh, nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn, đặc biệt là những nhân vật lỗi lạc đương thời là Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh đều tìm cách liên kết, lôi kéo, mua chuộc, khống chế hoặc ra tay tàn độc để trấn phản.

Nguyễn Du không phải mười năm gió bụi mà thực sự mười lăm năm lưu lạc khớp đúng truyện Kiều và cũng khớp đúng mười lăm năm “bảy nổi ba chìm với nước non” của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.

Nguyễn Du, cuộc đời và thời thế

Hoài Thanh tại bài viết “Thời đại Nguyễn Du và thân thế Nguyễn Du” sách “200 năm nghiên cứu bàn luận truyện Kiều” của soạn giả Lê Xuân Lít, trang 15-21 đã khái quát: “Nguyễn Du sinh năm 1765. Kể từ khi Lê Lợi đánh quân Minh dựng nước đến bấy giờ đã có hơn ba trăm năm. Sau ba trăm năm ấy chế độ phong kiến nước ta đã suy vi đến cực độ. Nguy ngoại xâm hầu như không có. Chính quyền phong kiến tập trung mất lý do để tồn tại. Những cuộc biến liên tiếp xảy ra. Mạc đoạt quyền Lê, Lê Mạc phân tranh, Nguyễn cát cứ Thuận Hóa, Trịnh đoạt quyền Lê, Trịnh Nguyễn phân tranh. Vô số cuộc khởi nghĩa nổ ra mà đỉnh cao là phong trào Tây Sơn.” Nguyễn Du là “người trong cuộc” danh sĩ tinh hoa của thời đại đó. Tìm hiểu niên biểu Nguyễn Du cuộc đời và thời thế sẽ giúp soi thấu những uẩn khúc lịch sử, tầm vóc danh nhân, và những biến cố lịch sử đã bị che khuất bởi thời gian.

Niên biểu Nguyễn Du, tuổi thơ (1765-1780)

Năm Ất Dậu (1765), Nguyễn Du sinh ngày 23 tháng 11 (nhằm ngày 3 tháng 1 năm 1766) lúc Nguyễn Nghiễm 58 tuổi, bà Trần Thị Tần 26 tuổi. Nguyễn Du được gọi là cậu Chiêu Bảy. Năm ấy cũng là năm Vũ Vương mất, Trương Phúc Loan chuyên quyền. Trước đó, từ ông Nguyễn Hoàng trở đi, họ Nguyễn làm chúa trong Nam, phía bắc chống nhau với họ Trịnh, phía nam đánh lấy đất Chiêm Thành và đất Chân Lạp, truyền đến đời Vũ Vương thì định triều nghi, lập cung điện ở đất Phú Xuân, phong cho Nguyễn Phúc Hiệu người con thứ 9 làm thế tử. Bây giờ thế tử đã mất rồi, con thế tử là Nguyễn Phúc Dương hãy còn nhỏ mà con trưởng của Vũ Vương cũng mất rồi. Vũ Vương lập di chiếu cho người con thứ hai là hoàng tử Cốn lên nối ngôi nhưng quyền thần Trương Phúc Loan đổi di chiếu lập người con thứ 16 của Vũ Vương, mới có 12 tuổi tên là Nguyễn Phúc Thuần lên làm chúa, gọi là Định Vương. Nguyễn Phúc Ánh là con của hoàng tử Cốn. Nguyễn Phúc Ánh sinh ngày Kỷ Dậu tháng Giêng năm Nhâm Ngọ (1762) lớn hơn Nguyễn Du ba tuổi. Trương Phúc Loan là người tham lam, làm nhiều điều tàn ác nên trong nước ai ai cũng oán giận, bởi thế phía nam nhà Tây Sơn dấy binh ở Quy Nhơn, phía bắc quân Trịnh vào lấy Phú Xuân, làm cho cơ nghiệp họ Nguyễn xiêu đổ.

Năm Đinh Hợi (1767), Nguyễn Du hai tuổi, Nguyễn Nghiễm được thăng Thái tử Thái bảo, hàm tòng nhất phẩm, tước Xuân Quận công. Lúc này Trịnh Doanh mất, con là Trịnh Sâm lên làm chúa. Lê Duy Mật đem quân về đánh Hương Sơn và Thanh Chương rồi rút về Trấn Ninh. Trịnh Sâm cho người đưa thư sang vỗ về không được, mới quyết ý dùng binh để dứt mối loạn. Cũng năm ấy (1767) nước Miến Điện sang đánh Xiêm La (Thái Lan ngày nay) bắt vua nước ấy và các con vua mang về Miến Điện. Hai người con khác của vua Xiêm La một người chạy sang Chân Lạp, một người chạy sang Hà Tiên. Trịnh Quốc Anh (Taksin) một tướng Thái gốc Hoa người Triều Châu tỉnh Quảng Đông khởi binh chống quân Miến Điện giành lại độc lập, tự lập làm vua Xiêm La và dời đô về Thonburi, bên bờ sông Chao Phraya, đối diện với Bangkok. (Nguyên nước Xiêm La vốn là một vương quốc Phật giáo tên là Xích Thổ (Sukhothai) ở miền Bắc Thái Lan, dần thay thế vai trò của Đế chế Khmer (Chân Lạp) đang tàn lụi vào thế kỷ 13 – thế kỷ 15. Năm 1283 người Thái có chữ viết. Sau đó người Thái mở rộng lãnh thổ xuống phía nam, và năm 1350 chuyển kinh đô xuống Ayuthaya, phía bắc Bangkok 70 km. Năm 1431, quân Xiêm cướp phá Angkor của Chân Lạp. Nhiều bảo vật và trang phục của văn hóa Hindu đã được họ đem về Ayutthaya, lễ nghi và cách ăn mặc của người Khmer được dung nhập vào thượng tầng văn hóa Xiêm. Trong khoảng 400 năm, từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 18, giữa người Thái và người Miến Điện láng giềng luôn xảy ra các cuộc chiến tranh và kinh đô Ayuthaya bị huỷ diệt ở thế kỷ 18. Người Hoa sau biến cố Minh Thanh cũng ngày một nhiều ở Xiêm La).

Năm Kỷ Sửu (1769), Nguyễn Du bốn tuổi, được phong ấm Hoằng Tín đại trung thành môn vệ úy xuất thân thu Nhạc công. Ông dung mạo khôi ngô, Việp Quận công (Hoàng Ngũ Phúc) trông thấy lấy làm lạ ban cho bảo kiếm. Năm đó, Trịnh Sâm sai Bùi Thế Đạt, Nguyễn Phan, Hoàng Đình Thể đem ba đạo quân của Nghệ An, Thanh Hóa, Hưng Hóa tiến đánh Trấn Ninh. Lê Duy Mật thua mà chết.

Năm Tân Mão (1771), Nguyễn Du sáu tuổi. Tây Sơn dấy binh. Nguyễn Nhạc lập đồn trại ở đất Tây Sơn, chiêu nạp quân sĩ, người về theo rất đông. Nguyễn Nhạc nguyên tổ bốn đời là họ Hồ cùng một tổ với Hồ Quý Ly, người gốc ở huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, gặp lúc chúa Trịnh chúa Nguyễn đánh nhau, bị bắt đem vào ở ấp Tây Sơn thuộc phủ Hoài Nhân, đất Quy Nhơn. Đến đời của Nguyễn Phi Phúc dời nhà sang ấp Kiên Thành, sinh được Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ (Hồ Thơm). Lúc khởi binh nhà Tây Sơn lấy họ mẹ là Nguyễn để khởi sự cho dễ thu phục nhân tâm vì đất miền Nam vốn đất chúa Nguyễn. Năm 1771, Nguyễn Huệ mười tám tuổi, đã sớm tỏ ra là một bậc anh tài quân sự, định kế và cầm quân cùng anh. Cũng năm ấy, vua Xiêm La là Trịnh Quốc Anh (Taksin) khởi binh đánh vua Chân Lạp là Nặc Tôn nhưng không thắng bèn quay sang đem binh thuyền sang vây đánh con vua cũ là Chiêu Thúy ở Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ là con Mạc Cửu và bà phi họ Nguyễn, tướng giữ thành Hà Tiên của nhà Nguyễn giữ không nổi phải bỏ thành chạy. Vua Xiêm La Trịnh Quốc Anh sai tướng giữ Hà Tiên và tiến đánh Chân Lạp. Quốc vương Chân Lạp là Nặc Tôn phải bỏ thành chạy. Vua Xiêm La chiếm Nam Vang (Phnom Penh ngày nay).

Năm Nhâm Thìn (1772), Nguyễn Du bảy tuổi. Tháng sáu năm 1772, chúa Nguyễn sai quan Tổng suất là Nguyễn Cửu Đàm đem quân đánh Xiêm La. Quân của Nguyễn Cửu Đàm tiến đến Nam Vang, quân Xiêm La bỏ chạy về Hà Tiên. Nặc Non cũng chạy về Cầu Bột. Nặc Tôn lại về làm vua Chân Lạp. Vua Xiêm La Trịnh Quốc Anh đưa thư sang gọi Mạc Thiên Tứ về để giảng hòa. Mạc Thiên Tứ không chịu. Vua Xiêm La Trịnh Quốc Anh bèn cử tướng giữ Hà Tiên, rồi bắt con gái Mạc Thiên Tứ và Chiêu Thúy đem về nước. Năm sau, Mạc Thiên Tứ thấy việc không xong bèn giảng hòa. Vua Xiêm La trả lại con gái cho Mạc Thiên Tứ và giết Chiêu Thúy. Mạc Thiên Tứ trở về giữ đất Hà Tiên. Nước Chân Lạp vốn là nền văn minh Khmer đã phát triển rực rỡ từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 13, và lụi tàn vào thế kỷ 13 – thế kỷ 15. Trước đó thời Tùy Đường có nước Phù Nam bao gồm Campuchia, nam Việt Nam, nam Thái Lan ngày nay. Từ thế kỷ 5 một tộc người Môn – Khmer hình thành một thuộc quốc Chân Lạp (Chenla) ở khu vực Bắc Campuchia và Nam Lào. Đến thế kỷ 7, Chân Lạp chiếm toàn bộ lãnh thổ Phù Nam. Một phần của Phù Nam ở phía tây Chân Lạp là nước Xích Thổ (Sukhothai). Nước này sau chia làm hai vào khoảng thế kỷ XI, XII thời Tống Kim và nhập làm một thời Minh, khi cầu phong Minh Thái Tổ gọi là nước Xiêm La. Thời các chúa Nguyễn mở đất Chiêm Thành thì Xiêm La cũng luôn tìm cách lấn chiếm Chân Lạp.

Năm Quý Tỵ (1773), Nguyễn Du tám tuổi. Nhà Tây Sơn xây dựng lực lượng và củng cố căn cứ ở vùng An Khê, khôn khéo khai thác sự chia rẽ triều đình chúa Nguyễn bằng tuyên bố lật đổ Trương Phúc Loan, khôi phục ông hoàng hợp pháp, lấy lòng người bằng cách cướp của người giàu chia người nghèo. Tây Sơn thu phục được công chúa Chăm, hương chức Nguyễn Thung, Huyền Khê, hai nhà buôn người Hoa là Lý Tài và Tập Đình cũng gia nhập. Nguyễn Nhạc dùng mưu kế tự nhốt mình vào củi, lừa chiếm được thành Quy Nhơn, đánh bại quân tiếp viện Phú Xuân, cuối năm ấy Tây Sơn đã toàn thắng, chiếm từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận.

Năm Giáp Ngọ (1774), Nguyễn Du chín tuổi. Nguyễn Nhiễm sung chức tả tướng, cùng Hoàng Ngũ Phúc đi đánh chúa Nguyễn ở Đàng Trong với danh nghĩa đuổi quyền thần Trương Phúc Loan và đánh dẹp quân nổi loạn. Quân Trịnh vượt sông Gianh chiếm Đồng Hới mà không cần giao tranh. Quân Nguyễn hầu như không có kháng cự nào vì binh lực đang phải tập trung đối phó với nhà Tây Sơn lúc ấy đã chiếm Quảng Ngãi và đánh bại quân cứu viện năm dinh phía nam của chúa Nguyễn. Phía Bắc, chúa Trịnh Sâm lại thừa cơ dẫn đại quân vào Nghệ An trợ chiến tăng thanh thế. Lòng người đằng trong vốn oán ghét Trương Thúc Loan nên làm nội ứng giúp quân Trịnh. Trấn Quảng Nam lại có nạn đói trầm trọng. Triều đình chúa Nguyễn nộp Trương Phúc Loan nhưng quân Trịnh vẫn tiến quân và chiếm kinh đô Phú Xuân đầu năm 1775.

Năm Ất Mùi (1775), Nguyễn Du mười tuổi: Anh trai cùng mẹ của Nguyễn Du là Nguyễn Trụ (sinh 1757) qua đời. Năm ấy, chúa Nguyễn chạy vào Quảng Nam lập cháu là Nguyễn Phúc Dương làm Đông Cung để lo việc chống trả. Quân Tây Sơn ở Quy Nhơn kéo ra đánh chiếm Quảng Nam. Chúa Nguyễn Định Vương liệu không chống cự nổi nên cùng cháu là Nguyễn Ánh chạy vào Gia Định, chỉ để Đông Cung ở lại Quảng Nam chống giữ. Nguyễn Nhạc biết Đông Cung yếu thế và muốn mượn tiếng nên sai người rước Đông Cung về Hội An. Họ Trịnh vượt đèo Hải Vân, đẩy lui quân Tây Sơn do Tập Đình làm tiên phong, Lý Tài làm tướng trung quân. Nguyễn Nhạc xét tội Tập Đình thua trận định giết. Tập Đình vội trốn về Quảng Đông và bị giết. Nguyễn Nhạc đưa Đông Cung về Quy Nhơn. Tống Phước Hiệp ở phía nam nhân lúc Nguyễn Nhạc thua trận đã tiến quân chiếm lại Phú Yên. Tống Phước Hiệp cho Bạch Doãn Triều và cai đội Thạc đến đòi Nguyễn Nhạc trả Đông Cung cho nhà Nguyễn. Nguyễn Nhạc theo kế Nguyễn Huệ giả vờ ưng thuận, một mặt mượn lệnh Đông Cung phủ dụ Tống Phước Hiệp và Chu Văn Tiếp đem tướng sĩ năm dinh về theo phò Đông Cung, mặt khác lại cho người mang vàng bạc châu báu đến dâng Hoàng Ngũ Phúc xin nộp ba phủ Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Phú Yên để xin cho Nguyễn Nhạc được làm tướng tiên phong đánh Gia Định. Hoàng Ngũ Phúc viết khải văn dâng lên chúa Trịnh Sâm phong tướng hiệu cho Nguyễn Nhạc. Trịnh Sâm sai Nguyễn Hữu Chỉnh mang sắc chỉ, cờ, ấn kiếm của vua Lê đến ban cho Nguyễn Nhạc. Tống Phước Hiệp do mắc lừa không đề phòng nên bị Nguyễn Huệ đánh bại. Lý Tài được nhà Tây Sơn cử làm tướng trấn thủ Phú Yên. Hoàng Ngũ Phúc nghe tin thắng của Nguyễn Huệ đã lập tức tung quân đánh chiếm Quảng Ngãi và trình lên chúa Trịnh Sâm sắc phong cho Nguyễn Huệ làm tướng tiên phong. Tuy vậy, quân Trịnh bị hao tổn nặng bởi trận dịch khủng khiếp nên phải quay lại Phú Xuân. Hoàng Ngũ Phúc ốm chết ngay trên dọc đường khi chưa tới Phú Xuân. Nguyễn Nhạc lợi dụng sự rút quân Trịnh để chiếm lại Quảng Nam. Nhà Tây Sơn tạm yên mặt bắc đã tập trung tấn công nhằm dứt điểm hiểm họa từ nhà Nguyễn đang trốn tránh ở phía Nam.

Năm Bính Thân (1776) Nguyễn Du mười một tuổi, cha là Nguyễn Nhiễm đánh trận về bị lâm bệnh qua đời. Năm đó, Nguyễn Nhạc sai em là Nguyễn Lữ đem thủy quân vào đánh Gia Định, lấy được thành Sài Gòn. Chúa Nguyễn phải chạy về Trấn Biên (Biên Hòa). Nguyễn Huệ cho đắp sửa thành Quy Nhơn rồi đặt long án, tôn Nguyễn Nhạc làm Tây Sơn Vương. Nguyễn Lữ được phong Thiếu phó, Nguyễn Huệ làm Phục chính. Nguyễn Nhạc đón Đông Cung ở Yên Thái về, dựng nhà bên sông Bông Giang, gả con gái là Thọ Hương cho Đông Cung, lấy huyện Bình Sơn làm của hồi môn, mưu lập Đông Cung làm vương để mê hoặc dân chúng. Đông Cung không chịu nghe theo nên Nguyễn Nhạc an trí Đông Cung ở chùa Di Đà xứ Thập Tháp. Đông Cung cùng Tống Phước Đạm lén trốn xuống thuyền, dọc đường được thuyền của Tôn Thất Xuân đón cùng chạy về Gia Định. Chu Văn Tiếp (Doãn Ngạch) dấy binh ở huyện Đồng Xuân (Phú Yên). Nguyễn Nhạc sai người đến gặp Chu Văn Tiếp hẹn cùng tôn lập Đông Cung. Khi Chu Văn Tiếp ra đến Quy Nhơn biết rõ chuyện trên bèn liên kết với Tống Phước Hiệp truyền hịch vạch tội nhà Tây Sơn. Người khách Lý Tài tướng Tây Sơn trấn thủ Phú Yên cũng theo mật ước với Tôn Thất Chí bỏ Nguyễn Nhạc về hàng Tống Phước Hiệp giúp chúa Nguyễn. Định Vương thế cô ở Đồng Nam gọi Tống Phước Hiệp đưa quân về hợp viện. Đỗ Thành Nhơn, Nguyễn Huỳnh Đức tụ nghĩa ở Ba Giồng (Định Tường). Nhơn theo lệnh Định Vương thảo hịch chiêu mộ nghĩa binh và lợi dụng địa thế hiểm yếu đánh thắng quân Nguyễn Lữ mấy trận. Nguyễn Lữ lấy thóc kho chở hơn hai trăm thuyền chạy về Quy Nhơn. Đỗ Thành Nhơn chiếm Gia Định đón Định Vương về Bến Nghé. Tống Phước Hiệp mang Lý Tài về hội quân ở Gia Định. Tống Phước Hiệp ốm chết ở Long Hồ. Định Vương muốn thu dụng Lý Tài nhưng Đỗ Thành Nhơn can không nên dùng mà nên giết đi vì Lý Tài hung hãn, phản trắc, khó chế ngự. Lý Tài từ đó kết oán với Đỗ Thành Nhơn. Lý Tài sợ Đỗ Thành Nhơn làm hại mình nên đưa quân về đóng ở núi Chiêu Thái.

Năm Đinh Dậu (1777) Nguyễn Du mười hai tuổi. Năm đó, Lý Tài nghe Đông Cung trốn vào Gia Định, lại đem binh rước về Sài Gòn lên làm Tân Chính Vương, tôn Định Vương lên làm Thái Thượng Vương để cùng lo sự khôi phục. Tân Chính Vương thăng Tôn Thất Chí làm Thiếu phó, Tôn Thất Xuân làm Chưởng cơ, Lý Tài làm Bảo giá Đại tướng quân. Lý Tài tâu với Tân Chính vương xin sai Chưởng cơ Tống Phước Hòa cùng Tống Phước Thiện đem quân đến đóng giữ Long Hồ, nói là để phòng quân Tây Sơn nhưng thực ra là sợ Đỗ Thành Nhơn đem quân đánh úp. Nguyễn Phúc Ánh biết ý bèn mật báo Định Vương cho mình mang quân đi Ba Giồng chiêu dụ quân Đông Sơn. Lý Tài bức Định Vương về Thủ Dầu Một. Tân Chính Vương trở về Sài Gòn cử Tống Phước Đạm làm giám quân, Trần Văn Hòa làm tham mưu dẫn những người ở Quy Nhơn mới đến trở lại Quảng Ngãi đểu sự chiêu tập nghĩa binh nhưng dọc đường bị phục binh của quân Tây Sơn chặn bắt. Trần Văn Hòa bị giết. Tôn Thất Đạm phải quay lại. Lúc ấy, Nguyễn Nhạc sai người ra xin với chúa Trịnh cho trấn thủ đất Quảng Nam. Trịnh Sâm bây giờ cũng chán sử dụng binh, bèn nhân dịp phong cho Nguyễn Nhạc làm Quảng Nam trấn thủ, Cung quận công. Nguyễn Nhạc được phong rồi, không phải phòng giữ mặt bắc nữa, bèn sai Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ đem thủy bộ quân vào đánh Gia Định. Lý Tài chống cự không nổi phải bỏ chạy. Tân Chính Vương chạy về Định Tường rồi lại chạy về Vĩnh Long. Thái Thượng Vương chạy về Long Xuyên. Nhưng chẳng bao lâu Nguyễn Huệ đem quân đuổi bắt được cả Thái Thượng Vương và Tân Chính Vương, đem giết đi. Nguyễn Phúc Ánh trốn thoát được. Mạc Thiên Tứ và Tôn Thất Xuân lánh ra đảo Phú Quốc và sau đó sang Xiêm La cầu viện. Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ lấy xong đất Gia Định để Tổng Đốc Chu ở lại trấn thủ, rồi đem quân về Quy Nhơn.

Năm Mậu Tuất (1778) Nguyễn Du mười ba tuổi, bà Trần Thị Tần, mẹ Nguyễn Du qua đời. Nguyễn Du mồ côi cả cha lẫn mẹ nên ông phải ở với người anh khác mẹ là Nguyễn Khản (hơn ông 31 tuổi). Cũng trong năm này, anh thứ hai của Nguyễn Du là Nguyễn Điều (sinh năm 1745) được bổ làm Trấn thủ Hưng Hóa. Năm ấy, Nguyễn Nhạc tự xưng đế hiệu, đặt niên hiệu là Thái Đức, phong cho Nguyễn Lữ làm Tiết chế, Nguyễn Huệ làm Long Nhương tướng quân.

Năm Kỷ Hợi (1779), Nguyễn Du mười bốn tuổi. Năm ấy, ở Long Xuyên, Nguyễn Phúc Ánh tụ tập những thuộc hạ cũ nhân lúc Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ đều về Quy Nhơn, khởi binh tiến đánh Sa Đéc, cùng Đỗ Thanh Nhơn và các tướng đánh đuổi Tổng đốc Chu lấy lại thành Sài Gòn. Bấy giờ Nguyễn Ánh mới có 17 tuổi. Các tướng tôn làm Đại nguyên súy, Nhiếp quốc chính. [Theo Hoàng Việt Hưng Long Chí thì vào tháng Giêng năm Mậu Tuất 1778]. Ít lâu sau vua Tây Sơn lại sai Tổng đốc Chu, Tư khấu Uy đem quân thủy vào đánh Trấn Biên và Phiên Trấn. Nguyễn Nhạc lại sai hổ giá Phạm Ngạn đem quân từ Quy Nhơn tới. Trần Phượng không chống nổi. Đỗ Thành Nhơn đem quan Đông Sơn ra cự chiến chém được Tư khấu Uy . Nguyễn Ánh sai Lê Văn Quân đem binh đánh chiếm thành Bình Thuận và thành Diên Khánh. Tướng Tây Sơn là Phạm Ngạn phải lui về Quy Nhơn. Nguyễn Ánh sai Tổng nhung Nguyễn Văn Hoàng, Lễ bộ Nguyễn Nghi đem quân bộ ra đóng giữ Bình Thuận để hợp binh với Chu Văn Tiếp. Nguyễn Ánh cũng sai người thông sứ với Xiêm La (Thái Lan), sai Đỗ Thành Nhơn, Hồ Văn Lân đem binh đánh Chân Lạp (Campuchia ngày nay), lập con Nặc Tôn là Nặc In lên làm vua, để Hồ Văn Lân ở lại bảo hộ. Ở Gia Định, Nguyễn Ánh đặt quan cai trị, định lệ thu thuế để nuôi binh lính, làm chiến thuyền, luyện tập binh mã để phòng bị chiến tranh. Bấy giờ có người ở trấn Sơn Nam là Trần Xuân Trạch, Nguyễn Kim Phẩm cùng thủ hạ đem quân vượt biển vào Gia Định được Nguyễn Ánh trọng dụng làm tả hữu Chưởng cơ.

Năm Canh Tý (1780), Nguyễn Du mười lăm tuổi, Nguyễn Khản là anh cả của Nguyễn Du đang làm Trấn thủ Sơn Tây bị khép tội mưu loạn trong Vụ án năm Canh Tý, bị bãi chức và bị giam ở nhà Châu Quận công. Nguyễn Du về Tiên Điền học với chú Nguyễn Trọng và đi lại thân thiết với Đoàn Nguyễn Tuấn là một người thân cũng là học trò của Nguyễn Nghiễm ở Sơn Nam Hạ. Năm ấy, Nguyễn Ánh xưng vương, phong Đỗ Thành Nhơn làm Ngoại hữu Phụ Chính Thượng tướng công. Nhưng sau vì Đỗ Thành Nhơn cậy công lộng quyền, oai vượt lấn chủ nên Nguyễn Ánh theo mưu Tống Phước Thiêm đã phục vệ sĩ giết đi. Cũng vì việc ấy nên Đông Sơn khi trước hết lòng giúp Nguyễn Vương sau đều bỏ cả, và lại phản lại, thành ra lôi thôi phải đánh dẹp mãi.

Niên biểu Nguyễn Du, 15 năm lưu lạc (1781-1796)

Năm Tân Sửu (1781) Nguyễn Du mười sáu tuổi. Nguyễn Du làm Chánh Thủ hiệu quân Hùng Hậu ở Thái Nguyên. Ý định Nguyễn Du tạo đất căn bản, dấy nghiệp ở Bắc Hà, lập thế chân vạc, tranh hùng với Nguyễn Huệ nhà Tây Sơn ở Thuận Hóa và Nguyễn Ánh ở đất Gia Định. Tướng trấn thủ Thái Nguyên là Quản Vũ Hầu Nguyễn Đăng Tiến (Hà Mỗ trong Gia Phả họ Nguyễn Tiên Điền) là cha nuôi Nguyễn Du và tâm phúc Nguyễn Nhiễm. Tướng trấn thủ Sơn Tây là Nguyễn Điền là anh cùng cha khác mẹ của Nguyễn Du, Tướng trấn nhậm Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ đều là học trò Nguyễn Nhiễm và đó cũng là đất tổ nghiệp của nhà Nguyễn Tiên Điền. Nguyễn Du dự định dựng cờ phù Lê, xin chiếu vua Càn Long, liên thủ với vùng Nam Trung Quốc và Nghệ Tĩnh, giao kết kẻ sĩ, xây dựng lực lượng, trầm tĩnh theo chuyển biến thời cuộc để chớp thời cơ hành động.

Chọc trời khuấy nước mặc dầu
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai

Cũng năm ấy, Nguyễn Ánh sau sự biến Đông Sơn, phải vất vả đối phó với nội tình tan rã ở Gia Định. Tháng 10 năm đó, vua nước Xiêm La (Thái Lan) là Trịnh Quốc Anh (Taksin) sai hai anh em tướng Chất Tri (Chakkri) sang đánh Chân Lạp. Nguyễn Vương sai Nguyễn Hữu Thụy và Hồ Văn Lân sang cứu, trong khi hai quân đang chống nhau thì ở Vọng Các (Băng Cốc) vua Xiêm bắt giam vợ con của hai anh em Chất Tri. Hai anh em tướng Chất Tri (Chakkri) bèn giao kết với Nguyễn Hữu Thụy rồi đem quân về giết Trình Quốc Anh (Taksin) và tự lập làm vua Xiêm La, xưng là Phật Vương (Rama1). Họ Chakkri làm vua cho đến ngày nay và các vua đều xưng là Rama. Vua Rama I chọn Bangkok (hay “Thành phố của các thiên thần”) làm kinh đô.

Năm Nhâm Dần (1782), Nguyễn Du mười bảy tuổi. Năm ấy, Trịnh Sâm mất, Kiêu binh phế Trịnh Cán, lập Trịnh Khải (Trịnh Tông) lên ngôi chúa. Hai anh của Nguyễn Du là Nguyễn Khản được làm Thượng thư bộ Lại, tước Toản Quận công, Nguyễn Điều làm Trấn thủ Sơn Tây.

Trước đó, Trịnh Sâm kiêu hãnh khi quân Trịnh lấy được Thuận Hóa, đã có ý cướp ngôi nhà Lê, bèn sai quan thị lang Vũ Trần Thiệu đi cùng quan nội giám mang biểu sang tấu trình vua Thanh rằng con cháu nhà Lê không có ai đáng làm vua nữa. Nhưng, Vũ Trần Thiệu khi sang hồ Đồng Đình đã đem đốt tờ biểu rồi uống thuốc độc mà chết nên việc cầu phong bỏ không nói đến nữa. Trịnh Sâm say đắm Đặng Thị Huệ, trước khi chết để di chiếu phế con trưởng là Trịnh Khải lập con thứ là Trịnh Cán làm thế tử và giao Huy Quận Công Hoàng Đình Bảo (Tố Lý) làm phụ chính. Trịnh Cán ít tuổi, lắm bệnh không mấy người phục, nên xảy ra biến loạn. Tháng 9 năm 1782 Trịnh Sâm mất, Trịnh Khải mưu với quân tam phủ kéo đến vây phủ giết Hoàng Đình Bảo, bỏ Trịnh Cán và Đặng Thị Huệ, lập Trịnh Khải lên làm chúa, tức Đoan Nam Vương (Nguyễn Khản là thầy dạy của Trịnh Khải).

Tháng 10 năm 1782, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ đem hơn 100 chiến thuyền vào cửa Cần Giờ đánh nhau với quân Nguyễn Ánh ở Ngã Bảy. Thủy binh Tây Sơn tinh nhuệ và thiện chiến áp sát và dùng hỏa hổ tấn công. Quân Nguyễn Ánh mặc dù có người Pháp và người Bồ Đào Nha điều khiển tàu châu Âu bảo vệ vòng ngoài vẫn thua to. Cai cơ Mạn Hòe (Manuel) người Pháp chết tại trận. Nguyễn Ánh phải bỏ thành Sài Gòn chạy về Ba Giồng. Quận công Tống Phước Thiêm bị quân Đông Sơn giết chết. Nguyễn Ánh dẫn tàn quân lánh ra đảo Phú Quốc. Nguyễn Nhạc bình xong đất Gia Định, rút quân về Quy Nhơn, để hàng tướng Đông Sơn là Đỗ Nhàn Trập giữ Sài Gòn. Khi quân Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ về Quy Nhơn rồi, Chu Văn Tiếp đem quân từ Phú Yên về hợp với quân các đạo, đánh đuổi quân Tây Sơn đi, lấy lại thành Sài Gòn rồi đón Nguyễn Ánh về, sửa sang mọi việc để chống giữ với Tây Sơn.

Năm Quý Mão (1783), Nguyễn Du mười tám tuổi. Nguyễn Du thi Hương ở trường Sơn Nam, đậu Tam trường . Nguyễn Du vẫn giữ chức Chánh thủ hiệu quân Hùng hậu Thái Nguyên, nơi Quản Vũ Hầu Nguyễn Vũ Tiến là cha nuôi làm quan trấn thủ. Đây là vùng đất hiểm yếu có nhiều người Trung Quốc sang khai mỏ bạc. Nguyễn Đăng Tiến vốn là tay giặc già phản Thanh phục Minh người Việt Đông Trung Quốc, vừa là tân khách, thầy dạy võ cho Nguyễn Du và các anh em, vừa là tâm phúc của Nguyễn Nhiễm.

Nguyễn Du lấy vợ chính thất họ Đoàn là con gái thứ sáu của Đoàn Nguyễn Thục (người Quỳnh Côi, Hải An xưa thuộc Sơn Nam, nay thuộc Thái Bình). Nhờ lương duyên này mà Nguyễn Du có thêm thế lực của cha vợ là quan Hoàng giáp Phó Đô ngự sử Quỳnh Châu bá và anh vợ là tiến sĩ Đoàn Nguyễn Tuấn, sau này làm quan thị lang triều Tây Sơn.

Cũng năm ấy, Nguyễn Khản đầu năm thăng chức Thiếu Bảo, cuối năm thăng chức Tham tụng, Thượng Thư Bộ Lại kiêm trấn thủ Thái Nguyên, Hưng Hóa. Anh cùng mẹ của Nguyễn Du là Nguyễn Nễ (sinh 1761) đỗ đầu thi Hương ở điện Phụng Thiên, được bổ thị nội văn chức, khâm thị nhật giảng, sung Nội Hàn Viện cung phụng sứ, phó tri thị nội thư tả lại phiên, Thiên Thư Khu mật viện Đức Phái hầu, cai quản đội quân Phấn Nhất của phủ Chúa. Vừa lúc Thuận Châu khởi binh, phụng sai hiệp tán quân cơ của đạo Sơn Tây.

Năm 1783, vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc sai Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ đem binh vào đánh phía Nam. Trong chiến dịch này, Nguyễn Huệ đã khéo lợi dụng lúc thủy triều lên và mượn sức gió thổi từ biển vào đất liền để dùng hỏa công và hỏa hổ tiến công, trên bờ thì dùng voi chiến do thủy binh chở vào, lần đầu xuất hiện ở đất Gia Định trên một địa thế hẹp. Nguyễn Vương thua to. Nguyễn Ánh rước mẹ và cung quyến chạy ra đảo Phú Quốc. Tháng 6 năm ấy, Nguyễn Huệ ra đánh Phú Quốc, Nguyễn Vương chạy về Côn Lôn. Quân Tây Sơn lại đem thuyền đến vây Côn Lôn, nhưng gặp bão đánh đắm cả thuyền nên Nguyễn Ánh mới trốn thoát được, chạy về đảo Cổ Cốt rồi về lại Phú Quốc.

Ở kinh kỳ Thăng Long, nguyên từ khi họ Trịnh giúp nhà Lê trung hưng về sau, chia quân làm hai thứ binh là ưu binh và nhất binh. Ưu binh thì kén quân Thanh Nghệ làm quân túc vệ đóng ở kinh thành canh giữ những nơi trọng yếu cung vua phủ chúa, được cấp công điền và có chức sắc. Nhất binh là lính tứ trấn ở Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Dương, Sơn Tây chỉ để đủ giữ các trấn và hầu hạ các quan còn thì cho về làm ruộng, khi cần dùng thì mới gọi. Những lính ưu binh từ các đời trước, dù có kẻ ngang ngược công thần nhưng nhà chúa cũng chỉ trị tội tên cầm đầu mà vẫn giữ chế độ ưu binh, nên về sau ưu binh đã quen thói gặp điều trái ý là nổi lên làm loạn. Nay Trịnh Khải nhờ quân tam phủ Thanh Nghệ mà đoạt được ngôi chúa Đoan Nam Vương, trừ được vây cánh của Trịnh Cán nên ban ân quan tước cho kẻ đứng đầu kiêu binh là Nguyễn Bằng và trọng thưởng cho kiêu binh. Đó chính là mầm loạn khó kiềm chế.

Năm Giáp Thìn (1784), Nguyễn Du mười chín tuổi. Tháng 2, nhân vụ 7 kiêu binh bị nhà chúa giết vì bữa tiệc vua Lê đãi kiêu binh có công phò Hoàng Tự Tôn Lê Duy Kỳ từ trong tù ra, kiêu binh đã nổi dậy đưa hoàng tôn Lê Duy Kỳ lên làm thái tử. Tư dinh của Nguyễn Khản ở phường Bích Câu, Thăng Long bị phá. Nguyễn Khản trốn lên với em là Nguyễn Điều đang làm trấn thủ Sơn Tây và Nguyễn Nể làm Hiệp tán Nhung vụ. Họ toan hợp quân các trấn về đánh kiêu binh, nhưng khi sự lộ ra quân kiêu binh vào canh chặt phủ chúa, Trịnh Khải không ra được nên mưu bất thành. Kiêu binh chia nhau giữ các cửa ô. Quân các trấn sợ chúa bị hại nên đành kéo về. Kiêu binh áp lực bãi chức Nguyễn Khản và giáng chức Nguyễn Điều, hai người về Hà Tỉnh.

Lại nói về Hoàng tôn Lê Duy Kỳ (tức vua Lê Mẫn Đế, Lê Chiêu Thống sau này) là con trưởng của Lê Duy Vĩ, cháu đích tôn của vua Lê Hiển Tông. Ba anh em hoàng tự tôn được kiêu binh giải cứu sau 15 năm lao tù. có mối hận sâu sắc chúa Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm (1767-1782). Hoàng Lê Nhất thống chí của Ngô Thời Chí kể rằng: Nguyên Trịnh Doanh có con gái lớn là quận chúa Tiên Dung, quận chúa là con vợ cả, được Trịnh Doanh yêu lắm. Thế tử Trịnh Sâm là con vợ thứ. Vợ cả Doanh muốn con được làm hoàng hậu nên xin với Doanh để gả cho thế tử Lê Duy Vĩ. Vì quá yêu con, vợ Doanh thường phân biệt lễ vua tôi quá rõ rệt, những bữa mời thái tử ăn cơm, Sâm không được vợ cả Trịnh Doanh cho cùng ngồi với thái tử. Trịnh Sâm nói với Lê Duy Vĩ: “Trong hai ta phải có kẻ mất người còn. Vua ấy không thể cùng thời với chúa này”. Thái tử Lê Duy Vĩ vẫn có ý đề phòng, thường giao kết với hào kiệt và dân sĩ trong thiên hạ, mong ngày giành lại thực quyền. Do Trịnh Doanh mất sớm. Trịnh Sâm được lên thay quyền. Việc đầu tiên của Sâm là sai một viên quan thị vu cho thái tử thông gian với cung nhân của Trịnh Doanh (Lập lại mưu cũ của Trịnh Giang giết vua trước đây: vu cho Lê Đế Duy Phương tư thông với vợ Trịnh Cương, buộc phế bỏ, giáng xuống làm Hôn Đức quân, rồi bị giết chết). Nay thái tử Lê Duy Vĩ cũng bị kết tội trạng giống hệt vậy. Thái tử và ba con bị tống giam vào ngục. Sau đó, thái tử lại bị vu tội định bỏ trốn để tạo phản nên bức uống thuốc độc chết năm 1771. Ba anh em hoàng tự tôn bị giam vào ngục 15 năm sau mới được kiêu binh giải cứu. Nhà chúa giết bảy kiêu binh giải cứu hoàng tự tôn Lê Duy Kỳ khi vua Lê đang thiết họ ăn uống đã châm ngòi cho loạn Kiêu binh phá nát Tư dinh của Nguyễn Khản ở phường Bích Câu và áp lực bãi chức Nguyễn Khản, bởi ông là thầy Trịnh Khải, lại làm quan Tham tụng, thượng thư bộ Lại.

Lại nói Nguyễn Ánh ở Phú Quốc hết sạch lương thực phải hái rau và tìm củ chuối mà ăn, thế lực cùng kiệt, bèn cho người tìm người quen cũ là cố đạo Bá Đa Lộc lúc đó đang ở Thái Lan để hỏi kế. Bá Đa Lộc khuyên là nên cầu nước Pháp nhưng phải cho thế tử Cảnh cùng đi để làm tin. Nguyễn Ánh theo lời ấy, bèn giao Hoàng tử Cảnh theo Bá Đa Lộc mang quốc thư sang Pháp. Tờ thư ấy có 14 khoản đại ý xin nước Pháp giúp cho 1500 quân và tàu bè, súng ống, thuốc đạn, đủ cả mọi thứ. Nguyễn Vương xin nhường cho nước Pháp cửa Hội An, đảo Côn Lôn và để riêng cho nước Pháp được đặc quyền vào buôn bán ở nước Nam. Nguyễn Ánh lại tiếp được mật biểu của Châu Văn Tiếp (lúc trước bị thua ở Sài Gòn đã theo đường núi chạy sang Thái Lan xin cầu viện) nên mới đến hội với tướng Thái Lan tại Hà Tiên và sau đó sang Bangkok. Vua Xiêm Chakkri (Rama1) tiếp đãi Nguyễn Ánh rất hậu và sai hai tướng Chiêu Tăng, Chiêu Sương cùng các tướng Lục Côn, Sa Uyên và Chiêu Thùy Biện là một cựu thần Chân Lạp thân Xiêm, đem hai vạn quân (tài liệu khác nói là ba vạn, có tài liệu nói là năm vạn kể cả quân bộ của Chân Lạp và hương binh mới mộ của Nguyễn Ánh ) với 300 chiến thuyền sang giúp. Nguyễn Ánh phong Châu Văn Tiếp là Bình Tây đại đô đốc được toàn quyền điều khiển việc quân. Ngày 9 tháng 6 xuất quân, trước chiếm Kiên Giang sau theo hai đường thủy bộ tiến sang lấy được Rạch Giá, Ba Thắc, Trà Ôn, Sa Đéc. Khi đánh đến Mân Thít, Châu Văn Tiếp bị thương nặng và mất. Nguyễn Ánh cử Lê Văn Quân thay chức thống lĩnh đại quân, Nguyễn Văn Thành đem 8.000 quân theo quân Xiêm đi đánh trận. Các tướng Mạc Tử Sinh (con Mạc Thiên Tứ), Nguyễn Thừa Diễn đi trấn thủ và mộ binh ở các vùng vừa chiếm được. Quân Xiêm tiến đến đâu cũng làm nhiều điều hung ác, dân rất oán giận. Tướng Tây Sơn là Trương Văn Đa sai người cấp báo về Quy Nhơn. Vua Tây Sơn sai Nguyễn Huệ đem binh vào chống giữ.

Năm Ất Tỵ (1785), Nguyễn Du hai mươi tuổi. Nguyễn Huệ vào đến Gia Định, nhử quân Xiêm vào trận địa mai phục ở rạch Gầm, Xoài Mút ở phía trên Mỹ Tho. Nguyễn Huệ bố trí pháo binh ở hai bên bờ và các cù lao trên sông, phục sẵn chiến thuyền ở các con lạch và cù lao Thới Sơn, sau đó phái một số thuyền tới khiêu khích quân Xiêm dụ vào nơi đã giăng bẫy, đánh một trận vào ngày 19 tháng 1 năm 1785, giết quân Xiêm chỉ còn vài nghìn, theo đường bộ chạy được về nước. Nguyễn Huệ phá được quân Xiêm và đem binh truy đuổi Nguyễn Ánh. Chúa Nguyễn hết cả lương thực chỉ còn khoảng 200 quân tướng và 5 chiếc thuyền chạy dạt sang đảo Cổ Cốt, rồi sang Xiêm. Nguyễn Ánh nói với vua Xiêm: “Quý quốc vương nghĩ tình lân bang giao hảo cho quân sang giúp nhưng vì tướng tá kiêu ngạo, quân lính tham bạo nên mới đến nổi thất bại như thế”. Vua Xiêm Chakri I gọi Chiêu Tăng, Chiêu Sương là “ngu hèn, kiêu căng, hung hãn đến nỗi bại trận làm bại binh, nhục quốc”. Người Xiêm từ sau cuộc bại trận năm 1785, miệng tuy nói khoác mà lòng thì sợ Tây Sơn như cọp. Nguyễn Ánh sau đó xin vua Xiêm cho ra ở Đồng Khoai, ngoại thành Vọng Các (Bangkok ngày nay) khẩn hoang, làm ruộng, đốn củi… để nuôi nhau và bí mật cho người về do thám ở Long Xuyên.

Nguyễn Huệ, sau khi đánh dẹp xong, liền đem đại quân về Quy Nhơn, cử Đô đốc Đặng Văn Trấn ở lại giữ Gia Định. Dương Công Trừng đánh úp quân Tây Sơn ở Long Xuyên bị Thái bảo Tham dẫn quân từ Gia Định xuống đánh, bắt sống và giết chết. Quân Miến Điện sang đánh Xiêm, vua Xiêm đích thâm cầm quân đi đánh. Nguyễn Ánh tự mình cầm quân đi trợ chiến, bắt sống được hơn 500 tù binh cùng nhiều khí giới. Ít lâu sau Xiêm bị quân Chà Và sang xâm chiếm, Nguyễn Ánh sai Lê Văn Quân trợ chiến cùng em vua Xiêm đi đánh trận. Quân Chà Và bị thua phải rút về. Nguyễn Ánh đóng chiến thuyền và dò la tình hình nhà Tây Sơn để mưu tính trở về.

Năm Bính Ngọ (1786) Nguyễn Du hai mươi mốt tuổi. Loạn kiêu binh ở kinh đô Thăng Long lên cao trào. Quân kiêu binh kéo nhau hàng trăm, hàng ngàn đi cướp phá các làng. Hễ có đứa nào đi lẻ loi thì dân làng lại bắt giết đi nên quân và dân xem nhau như cừu địch. Các văn thần võ tướng đều bó tay. Tham tụng Bùi Huy Bích phải dỗ dành mãi mới tạm yên. Các vụ mất mùa liên tiếp xẩy ra, giá gạo tăng vọt và kiêu binh cướp phá làm hàng nghìn người chết đói. Các trấn Quảng Yên, Kinh Bắc, Thái Nguyên lâm vào cảnh tàn phá, nạn đói và nổi dậy lan rộng.

Tây Sơn chăm chú theo dõi sự suy đồi của họ Trịnh. Ý đồ Tây Sơn đối với phía Bắc đã được Nguyễn Hữu Chỉnh đổ thêm dầu. Nguyễn Hữu Chỉnh là môn hạ của Quận Huy Hoàng Đình Bảo, lập kế rước Tây Sơn về dẹp kiêu binh để báo thù cho chủ.

Nguyễn Hữu Chỉnh là người huyện Chân Phúc, phủ Đức Quang, Trấn Nghệ An nay là xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc, Nghệ An, đỗ hương cống năm 16 tuổi, tục gọi là cống Chỉnh. Ông hào hoa, cơ trí, nhiều can đảm lại có tài biện bác, trước theo Hoàng Ngũ Phúc đi đánh giặc bể, giặc sợ gọi là chim dữ. Sách “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” chép: “Hữu Chỉnh, lúc trẻ tuổi đỗ hương tiến, là người hào phóng không bó buộc vào khuôn phép. Du lịch kinh sư, Hữu Chỉnh vào yết kiến Hoàng Ngũ Phúc. Ngũ Phúc khen là có tài khác thường, dùng làm gia khách. Khi Ngũ Phúc vào xâm lấn trong Nam, cho Hữu Chỉnh đi theo quân thứ, giữ công việc thư kí, rồi sai đến Tây Sơn khuyên Văn Nhạc (tức Nguyễn Nhạc) quy thuận với triều đình, được Văn Nhạc kính trọng”.

Sau khi quận Việp Hoàng Ngũ Phúc mất, Nguyễn Hữu Chỉnh tiếp tục làm thủ hạ cho cháu quận Việp là quận Huy Hoàng Đình Bảo, người được giao làm phụ chính cho Điện Đô vương Trịnh Cán, con nhỏ của Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm lên ngôi lúc mới 5 tuổi. Khi quận Huy bị kiêu binh giết, Nguyễn Hữu Chỉnh bàn với trấn thủ Nghệ An là Võ Tá Giao việc tự lập nhưng Giao sợ không dám theo nên Chỉnh bỏ vào với vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc và được vua Thái Đức Nguyễn Nhạc rất tín nhiệm. Tây Sơn nhiều phen dòm ngó Phú Xuân nhưng còn nghe ngóng chưa dám quyết . Gặp khi Phạm Ngô Cầu sai Nguyễn Phu Như vào do thám Tây Sơn, không ngờ Nguyễn Hữu Chỉnh quen biết Phu Như nên dò biết rõ tình hình Thuận Hóa và hiến kế cho vua Thái Đức.

Nguyễn Nhạc nắm được tình hình Thuận Hóa trấn thủ Phạm Ngô Cầu là người nhu nhược, vô mưu, tham lam, ham làm giàu, mê tín, đa nghi và Bắc Hà biến động nên chớp thời cơ sai em là Nguyễn Huệ làm tiết chế, rể là Vũ Văn Nhậm làm tả quân đô đốc, Nguyễn Hữu Chỉnh làm hữu quân đô đốc đem quân thủy bộ ra đánh Thuận Hóa. Nguyễn Lữ đưa quân tiếp ứng ở mặt sau. Nguyễn Huệ phái một cánh quân thủy tới thẳng sông Gianh để chiếm các công sự phòng thủ và ngăn chặn mọi tiếp viện từ phía Bắc, hai cánh quân thủy bộ cùng lúc tiến đánh Phú Xuân. Phạm Ngô Cầu trúng kế mê hoặc lập đàn chay cầu siêu, lại bị kế li gián của Nguyễn Hữu Chỉnh nên nhanh chóng thất bại. Biết Phạm Ngô Cầu tính đa nghi, Nguyễn Hữu Chỉnh viết thư chiêu hàng gửi phó tướng Hoàng Đình Thể lại giả vờ cho người đưa nhầm cho Phạm Ngô Cầu. Khi quân Tây Sơn đánh thành, Hoàng Đình Thể đem quân bản bộ ra đối trận bắn hết thuốc đạn, Phạm Ngô Cầu đóng chặt cửa thành không ra cứu viện nên Hoàng Đình Thể và hai con cùng tỳ tướng Vũ Tá Kiên đều bị chết. Phạm Ngô Cầu kéo cờ trắng ra hàng bị giải về Quy Nhơn định tội phải chém. Toàn bộ vùng Thuận Hóa rơi vào tay Tây Sơn chỉ trong mấy ngày.

Nguyễn Huệ hội tướng bàn định việc trấn giữ Thuận Hóa. Nguyễn Hữu Chỉnh nói: Tướng quân phụng mệnh ra đánh một trận mà bình được Thuận Hóa, binh uy chấn động Bắc Hà. Phép dùng binh, có đủ thời, thế và cơ thì đánh đâu cũng được. Bắc Hà bây giờ tướng lười, quân kiêu, triều đình không kỹ cương, nay nhân uy thanh nếu đánh là thắng, xin đừng bỏ lỡ. Nguyễn Huệ nói: Bắc Hà có nhiều nhân tài không nên coi thường. Hữu Chỉnh đáp lại: Nhân tài Bắc Hà chỉ có một mình Chỉnh, nay Chỉnh đã bỏ đi thì nước không còn ai, xin ông chớ ngại. Nguyễn Huệ cười nói: Người khác thì ta không ngại mà chỉ ngại ông đó thôi. Chỉnh biến sắc nói: Tôi tài hèn, nói vậy là để tỏ cho ông biết, Bắc Hà không còn nhân tài mà thôi. Nguyễn Huệ lấy lời nói ngọt để yên lòng Chỉnh và bảo rằng: Nhà Lê làm vua đã mấy trăm năm nay, bây giờ cướp lấy, chưa chắc lòng người đã theo mình. Hữu Chỉnh nói: Nay Bắc Hà có vua lại có có chúa, ấy là một sự cổ kim đại biến. Họ Trịnh tiếng là phù Lê, thực là hiếp chế, cả nước không ai phục. Vả xưa nay không ai làm gì để giúp nhà Lê là vì sợ cái thế mạnh đó mà thôi, nay ông phù Lê diệt Trịnh thì thiên hạ ai chẳng theo ông. Nguyễn Huệ nói: Ông nói phải lắm nhưng ta chỉ phụng mệnh đi đánh Thuận Hóa mà thôi, chứ không phụng mệnh đi đánh Bắc Hà, sợ rồi mang tội trái lệnh thì làm thế nào? Hữu Chỉnh nói: Trái lệnh là tội nhỏ, việc ông làm là công to. Tướng ở ngoài có điều không theo mệnh vua, ông lại không biết hay sao?.

Nguyễn Huệ để anh là Nguyễn Lữ ở lại giữ thành Phú Xuân, cử Nguyễn Hữu Chỉnh đem thủy binh đi tiên phong vào cửa Đại An đánh lấy kho lương ở bên sông Vị Hoàng. Nguyễn Huệ tự đem binh đi theo sau, ước với Hữu Chỉnh đến sông Vị Hoàng đốt lửa lên làm hiệu. Đại quân Tây Sơn đánh như gió cuốn ra bắc.

Trịnh Tự Quyền đem quân vào tăng cường cho Nghệ An dềnh dàng chưa tới nơi thì Vị Hoàng đã mất. Trấn thủ Sơn Nam Bùi Thế Dận đưa quân bộ về ứng cứu, đô đốc thủy quân Đinh Tích Nhưỡng dàn chiến thuyền giữ cửa sông Luộc. Nguyễn Huệ lợi dụng gió đông nam thổi mạnh, đêm đến nước sông lên to sai lấy hình nộm đặt lên thuyền rồi đánh trống kéo cờ thả cho thuyền trôi đi. Đinh Tích Nhưỡng dàn thuyền chống giữ và dùng súng để bắn, đến lúc biết bị lừa thì hết cả thuốc đạn không chống nổi quân Tây Sơn phải bỏ thuyền mà chạy. Quân của Bùi Thế Dận và Trịnh Tự Quyền cũng tan cả, Nguyễn Huệ hạ được thành Sơn Nam, một mặt truyền hịch đi các lộ nói danh nghĩa phù Lê diệt Trịnh, một mặt thần tốc đánh thốc vào thành Thăng Long. Quân Trịnh rệu rã thua trận, tan vỡ chạy.

Bấy giờ ở Thăng Long, kiêu binh không sai khiến được, Trịnh Khải gọi Hoàng Phùng Cơ ở Sơn Tây về cứu viện. Quân Tây Sơn tiến lên đánh tan quân thủy của Đinh Tích Nhưỡng và quân bộ của Hoàng Phùng Cơ. Đoan Nam Vương Trịnh Khải đích thân mặc áo nhung y, cầm cờ lên voi thúc quân chặn đánh Nguyễn Huệ ở bến Long Tân nhưng thế quân Tây Sơn quá mạnh nên phải chạy về Sơn Tây rồi bị người dân là Nguyễn Tranh lừa bắt được, áp giải đi nộp cho quân Tây Sơn. Dọc đường, Trịnh Khải lấy gươm cắt cổ mà chết.

Nguyễn Huệ sai lấy vương lễ mà chôn cất chúa Trịnh rồi vào thành Thăng Long yết kiến vua Lê. Họ Trịnh giúp nhà Lê trung hưng lập ra nghiệp chúa truyền từ Trịnh Tùng đến Trịnh Khải được 216 năm (1570-1786) thì chấm dứt. Sau khi Nguyễn Huệ yết kiến vua Lê Hiển Tông, Nguyễn Hữu Chỉnh lại sắp đặt Nguyễn Huệ lấy công chúa Lê Ngọc Hân, con gái thứ của vua Lê. Tại kinh kỳ, phe cánh họ Trịnh còn đông, Bấy giờ mọi người mới hiểu rõ Hữu Chỉnh rước Tây Sơn ra để trả thù cho chủ, chứ không phải Nguyễn Khản.

Tây Sơn ra Bắc, Nguyễn Khản từ Hà Tỉnh theo ghe mành ra Bắc giúp chúa Trịnh chủ trương đóng quân theo lối vẩy sộp kiểu phòng ngự chiều sâu nhiều tầng (theo Lê Quý Kỷ sự), nhưng kiêu binh vu cáo ông rước giặc Tây Sơn về. Nguyễn Khản phải bỏ chạy, ông mất trong hoàn cảnh đó ở Thăng Long, thi hài ông được đưa về an táng tại Hà Tĩnh. Khi kinh thành thất thủ, nhà Trịnh mất, Nguyễn Điều buồn uất ức thành bệnh mất ngày 31-7-1786. Mộ được an táng xã Đại Đồng, huyện Nam Đàn, Nghệ An, sau được cải táng về xã Sơn An, huyện Hương Sơn. Các con và gia đình ông lập chi Nguyễn Tiên Điền tại đây. Chi họ này ở đó hiện có trên 400 người.

Nguyễn Du ở đâu trong năm này? Trong cơn lốc của sự biến, người đời sau (Nguyễn Thế Quang với tiểu thuyết Nguyễn Du) cho rằng Nguyễn Du đã gặp Nguyễn Huệ tại điện Kính Thiên. Viên võ tướng Nguyễn Du trẻ tuổi cao lớn với thanh bảo kiếm của Việp Quân Công Hoàng Ngũ Phúc trao tặng trước đây đã trầm tĩnh đối mặt với người anh hùng Nguyễn Huệ oai chấn Bắc Hà. Nguyễn Huệ vì muốn lấy lòng những người tôn phò nhà Lê  và ông có tâm ý riêng nên phủ dụ và thả cho đi.

Vua Lê Hiển Tông đau yếu, bệnh tình ngày mỗi nặng. Nguyễn Huệ ép vua gượng thiết triều và đem sổ ghi hộ tịch dân binh vào dâng. Vua Lê Hiển Tông phong cho Nguyễn Huệ tước Nguyên soái Uy Quốc Công và gả con gái là công chúa Lê Thị Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ. Sau khi vua Lê Hiển Tông băng hà, Nguyễn Huệ lập cháu trưởng của vua là Lê Duy Kỳ lên nối ngôi, đặt niên hiệu là Chiêu Thống.

Vua Mẫn Đế Lê Chiêu Thống tên thật là Lê Duy Khiêm, con của hoàng thái tử Lê Duy Vĩ, đã bị Trịnh Sâm bức hại chết ở trong ngục. Lê Chiêu Thống là cháu đích tôn của vua Lê Hiển Tông (ở ngôi 1740 – 1786). Lê Duy Khiêm khi lên ngôi đổi tên là Lê Duy Kỳ, là vị vua thứ 16 và là cuối cùng của nhà Lê trung hưng. Ông thực ở ngôi từ cuối tháng 7 âm lịch năm 1786 do Nguyễn Huệ đưa lên ngôi, cho tới đầu tháng giêng năm 1789 khi bị Vũ Văn Nhậm phế truất và thay thế bằng người chú là Lê Duy Cán làm Giám Quốc. Vua Lê Chiêu Thống trước khi kế vị là người mắc nạn cùng cha, và là vua Lê cuối cùng nổ lực củng cố vương quyền, cầu viện nhà Thanh đánh Quang Trung với hy vọng trở lại ngai vàng. Ông chết ở xứ người, bị sử sách chỉ trích “bán nước”, “cõng rắn cắn gà nhà”. Vua Gia Long Nguyễn Ánh thành lập triều  Nguyễn đánh giá có rộng lượng hơn đối với Chiêu Thống vì có những nguồn tin mật báo khác với dư luận, nay được đúc kết ở tài liệu Hoàng Việt Hưng Long Chí . Vua Tự Đức có lời phê về Chiêu Thống, đại ý: “Nhà vua bị người ta lừa gạt, bị giám buộc ở quê người đất khách, đến nỗi lo buồn phẫn uất, ôm hận mà chết, thân dẫu chết, nhưng tâm không chết, kể cũng đáng thương!  Vậy nên truy đặt tên thụy là Mẫn Đế[4]. Vua Lê Chiêu Thống lên ngôi là lúc chính sự đặc biệt rối ren và phân liệt nhiều nhất trong hơn 200 năm chia cắt Đàng Trong và Đàng Ngoài. Trước đó, các vua Lê Trung Hưng chỉ tồn tại trên danh nghĩa ở Đàng Ngoài, thực chất quyền hành trong tay các chúa Trịnh; còn từ sông Gianh trở vào nam là Đàng Trong, đất đai do chúa Nguyễn cai quản, cũng lấy danh nghĩa “phù Lê”.  Lê Chiêu Thống  là người mắc nạn cùng cha, được lập kế vị. Trước khi Trịnh Doanh chết, thế tử Trịnh Sâm có hiềm khích sâu sắc với hoàng thái tử Lê Duy Vĩ, nên Sâm đã bày mưu hãm hại và giết chết Duy Vĩ trong ngục, sau khi Trịnh Sâm nối ngôi chúa tháng 12 năm Tân Sửu (1771). Ba con trai của Lê Duy Vĩ là Lê Duy Khiêm, Lê Duy Trù và Lê Duy Chi đều bị bắt giam ở ngục Đề Lãnh[3]. Năm đó, Duy Khiêm mới sáu tuổi. Chú của Duy Khiêm (em Duy Vĩ) là Duy Cận được lập làm thái tử do can thiệp của Trịnh thái phi (mẹ Trịnh Sâm). Đến tháng 10 năm Nhâm Dần (1782), sau khi Trịnh Sâm mất, binh lính tam phủ làm loạn, tức là loạn kiêu binh, truất thế tử Trịnh Cán, lập thế tử Trịnh Khải. Quân lính cũng mở ngục rước ba con của Duy Vĩ về cung. Năm đó Duy Khiêm 17 tuổi, ở trong ngục tổng cộng 11 năm. Duy Khiêm trở về cung, ngôi thái tử của Duy Cận bị đe doạ. Trịnh thái phi vốn ủng hộ Duy Cận sợ Duy Cận mất ngôi thái tử, bèn sai hoạn quan là Liêm Tăng đến bắt ép Duy Khiêm sang chầu, để toan bí mật giết đi. Duy Khiêm từ chối không được, khóc mà ra đi. Khi đi đường, quân tuần sát ngăn lại. Vì thế các quân lính la hét ầm ĩ, yêu cầu tra cứu người lập mưu làm hại thái tôn. Quân lính lùng tìm Liêm Tăng không được, ngờ là Duy Cận chủ mưu. Lúc ấy, Duy Cận đang chầu Trịnh thái phi, nghi trượng để ngoài cửa phủ đường, quân sĩ đều đập phá tan nát. Duy Cận sợ, phải thay đổi quần áo đi lẻn về cung. Duy Khiêm thoát nạn. Trịnh Khải biết việc này là do thái phi gây ra, bèn dụ quân sĩ thôi làm huyên náo, rồi hạ lệnh cho bầy tôi trong triều xin vua Hiển Tông lập Duy Khiêm làm hoàng thái tôn, lại bắt Duy Cận làm tờ biểu nhường ngôi thái tử. Tháng giêng năm 1783, Duy Khiêm với cương vị là cháu trưởng, được ông nội lập làm hoàng thái tôn, còn chú Duy Cận bị truất làm Sùng Nhượng Công. Lúc ấy Duy Khiêm 18 tuổi.

Nguyễn Huệ với chiêu bài phù Lê diệt Trịnh, tháng Bảy năm Bính Ngọ (1786), đã đánh đổ Trịnh Khải, và được vua Hiển Tông phong làm Nguyên soái phù chính dực vận Uy Quốc Công, lại được vua Hiển Tông gả cho con gái thứ 21 là công chúa Lê Ngọc Hân. Nguyễn Huệ thấy chưa thể củng cố được vững chắc quyền lực của mình ở Bắc Hà, nên quyết định không xưng đế mà để nhà Lê tiếp tục giữ ngôi vua. Nguyễn Huệ tham khảo ý kiến vợ. Công chúa Lê Ngọc Hân khen Duy Cận là người hiền, nhưng sau đó do ý kiến từ hoàng tộc nhà Lê, Ngọc Hân xin lại với Nguyễn Huệ lập Duy Khiêm. Nguyễn Huệ đồng ý, đưa Duy Khiêm lên ngôi vua. Vua mới đổi tên là Duy Kỳ, đặt niên hiệu là Chiêu Thống. Năm 1786, vua Chiêu Thống 21 tuổi (bằng tuổi với Nguyễn Du).

Vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc vốn không có ý định đánh ra Bắc Hà nên trước đây khi tiếp được thư Nguyễn Huệ nói sắp đánh ra Bắc vội cho người ra Thuận Hóa ngăn lại. Nhưng khi sứ thần tới nơi thì Nguyễn Huệ đã cử binh đi rồi. Sau lại tiếp được thư nói rằng Tây Sơn đã lấy được Thăng Long còn phải ở lại giúp nhà Lê. Nguyễn Nhạc sợ em ở ngoài lâu ngày sinh biến, không kiềm chế được Huệ nữa, vội vã đem 500 quân ra Thuận Hóa, rồi lấy thêm 2000 quân nữa, đi gấp ngày đêm ra Thăng Long. Vua Chiêu Thống đem bách quan ra đón ở Nam Giao nhưng Nguyễn Nhạc đi thẳng và cho người đến nói xin khất ngày sau tiếp kiến. Vua Thái Đức sau khi lựa lời vỗ về em, đã tự mình cầm quân, thay đổi hết nhân sự do em sắp đặt rồi mới gặp gỡ vua Lê Chiêu Thống vừa lên ngôi. Mấy hôm sau Nguyễn Nhạc mời Chiêu Thống sang phủ đường làm lễ tương kiến. Nguyễn Nhạc ngồi giữa, vua Lê Chiêu Thống ngồi bên tả, Nguyễn Huệ ngồi bên hữu, các quan văn võ đứng hầu hai bên. Trong cuộc hội kiến, Lê Chiêu Thống xin cắt đất Nghệ An cho Tây Sơn. Nguyễn Nhạc nói: “Vì họ Trịnh hiếp chế, cho nên chúng tôi ra giúp vua; nếu bằng đất nước họ Trịnh thì một tấc cũng không để lại, nhưng là của nhà Lê thì một tấc cũng không dám lấy. Xin nhà vua gắng sức làm việc, giữ yên bờ cõi, để đời đời giao hiếu với nhau, ấy là cái phúc của hai nước vậy“. Hôm sau, anh em Tây Sơn mật truyền cho các tướng thủy bộ, kho tàng có gì lấy hết, rồi đến nửa đêm 17 tháng 8, kéo quân về Nam. Nguyễn Hữu Chỉnh hôm sau mới biết, giật mình sợ hãi, vội theo thuyền buôn đuổi gấp vào Nghệ An, kịp theo vua Tây Sơn. Nguyễn Nhạc không nỡ chối bỏ, nên cho ở lại với Nguyễn Văn Duệ giữ Nghệ An, trong lúc nhà Tây Sơn cử Võ Văn Dũng đóng ở Hà Tĩnh và Vũ Văn Nhậm đóng tại Đồng Hới để tạo thế liên kết phòng thủ.

Vua Chiêu Thống sau tháng Tám năm Bính Ngọ (1786), khi Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ bất ngờ bỏ vào nam đã không đủ uy tín và tài năng để khôi phục lại vương quyền, dẫn đến cảnh “hào mục các nơi chiếm giữ châu quận, chiêu tập binh mã, đều mượn danh nghĩa “bảo vệ”[1]. Những hạng vô lại đánh giết lẫn nhau, trong nước thành ra rối loạn”. Thêm vào đó, dư đảng của họ Trịnh là Trịnh Bồng lại nổi lên, được vua triệu về triều, dần dần lấn át quyền hành của vua. Chiêu Thống cũng hiểu được đây là cơ hội khôi phục lại vương quyền chính thống của nhà Lê. Tháng Chín năm Bính Ngọ Chiêu Thống năm thứ nhất (1786), trước yêu cầu phong vương của Trịnh Bồng, vua cự tuyệt và nói: Trước kia cơ nghiệp nhà ta giữa chừng đổ nát, chính quyền do trong tay họ Trịnh, việc tế tự thì về quả nhân. Đấy là một thời kỳ. Nhưng nay lòng trời oán ghét họa loạn, phó thác quyền bính cho một mình ta. Một nước hai vua, có lẽ nào cứ giữ làm thể lệ được?[1]. Tuy nhiên, trước áp lực từ triều thần cùng lực lượng quân đội ủng hộ Trịnh Bồng do Đinh Tích Nhưỡng chỉ huy kéo từ Hải Dương về Thăng Long, Chiêu Thống buộc phải nhượng bộ và phong cho Bồng là Nguyên soái, Tổng quốc chính, Yến Đô Vương. Tuy nhiên, bản thân Trịnh Bồng cũng không nắm được thực quyền, việc quyết đoán nằm cả ở trong tay người thực sự nắm giữ quân đội là Đinh Tích Nhưỡng. Tích Nhưỡng vốn là tướng võ biền, dẫn đến việc cai trị càng rối loạn hơn: “Ngay giữa ban ngày, thủ hạ ra sức cướp bóc dân cư gần kinh thành, không có hiệu lệnh ngăn cấm. Mọi người đều cho là không còn hy vọng gì cả”[1]. Trong khi đó, Chiêu Thống một mặt tự đề phòng cho bản thân, một mặt bí mật xuống chiếu cần vương, cử người vào Nghệ An thăm dò ý định của trấn thủ Nghệ An là Nguyễn Hữu Chỉnh. Tình trạng “bằng mặt mà không bằng lòng” giữa Chiêu Thống và Trịnh Bồng thể hiện qua sự kiện bổ nhiệm và đặt tên gọi quan lại sau đó. Chiêu Thống tìm cách nắm lấy binh quyền, nhưng Đinh Tích Nhưỡng, câu kết với Hoàng Phùng Cơ, mượn tiếng đem quân từ Sơn Tây về bảo vệ kinh thành, gây áp lực buộc nhà vua phải trở lại hệ thống cai trị cũ trước kia với quyền hành thực sự nằm cả trong tay chúa Trịnh. Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục nhận xét: “Từ đấy, chính quyền trong nước lại về tay họ Trịnh, nhà vua rất tức giận, mọi việc đều giằng co hạn chế, trong triều rối beng, không biết thế nào là chuẩn định”[1]. Mâu thuẫn giữa cung vua và phủ chúa lên đến đỉnh điểm và bùng phát thành bạo lực vào tháng 11 năm Bính Ngọ (1786), sau sự kiện Dương Trọng Khiêm. Khiêm là một trong những người ủng hộ mạnh mẽ việc khôi phục quyền hành của chúa Trịnh và được Trịnh Bồng đền đáp bằng chức coi giữ bộ Hộ, trông coi về tài chính, thuế khóa. Tuy nhiên, do lo sợ nhà vua khôi phục lại quyền lực, Khiêm xui Trịnh Bồng làm việc phế lập. Bồng nghe theo, sai Nguyễn Mậu Nễ và Bùi Nhuận đang đêm đem quân vào cung khuyết. Hoàng Phùng Cơ nghe tin, sợ bị mang tiếng xấu cùng phe với quân tạo phản, đem quân chặn Mậu Nễ. Mậu Nễ không dám đánh, buộc phải lui quân.

Sau sự kiện đó, Chiêu Thống chính thức có chiếu thư cho Nguyễn Hữu Chỉnh kêu gọi đem quân cần vương. Chỉnh vốn là tay gian hùng, bỏ nhà Lê theo Tây Sơn, rồi lại dẫn Tây Sơn ra Bắc Hà, nhưng cũng không được Tây Sơn tin tưởng. Khi Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ rời Thăng Long vào nam đã không cho Chỉnh biết. Chỉnh phải chạy theo về, rồi được bổ làm trấn thủ Nghệ An, cũng là việc bất đắc dĩ. Đến đây, Chỉnh tiếp được mật chỉ, thấy là cơ hội không thể bỏ qua, lập tức truyền đi các nơi, lấy danh nghĩa nhà Lê mộ quân, trong “khoảng mười ngày, mộ hơn được một vạn lính”[1]. Chỉnh đem quân tiến ra Bắc, nhanh chóng đập tan mọi kháng cự của Trịnh Bồng và Đinh Tích Nhưỡng, được Chiêu Thống đích thân ra khỏi thành đón tiếp.

Ở mặt Nam năm 1786, Nguyễn Ánh đã liên kết được với hải thuyền và lính đánh thuê người Bồ Đào Nha. Ông nhận thấy lực lượng còn yếu và chưa thể tranh hùng cùng quân Tây Sơn về bộ binh, kỵ binh, tượng binh, nên chú trọng hơn hết việc xây dựng thủy binh thiện chiến liên kết với hải quân người nước ngoài. Trước đó, mùa xuân năm Ất Tỵ (1785) Nguyễn Ánh đã cho hoàng tử Cảnh theo Bá Đa Lộc đến cầu viện Pháp nhưng nước Pháp có nội biến nên không giúp được. Phạm Văn Nhơn và phái bộ sứ thần của Nguyễn Ánh đã dừng tại Công ty Ấn Độ thuộc Pháp tại Pondichery ở Ấn Độ nơi công ty này và Hội thừa sai Hải ngoại Paris được thành lập năm 1664. Họ bàn kế hoạch định nhờ hải quân Anh giúp đỡ nhưng Ba Đa Lộc cho rằng người Anh gian xảo nên cầu viện Bồ Đào Nha. Năm 1786, tàu thuyền Bồ Đào Nha đã đưa hoàng tử Cảnh về thủ đô Pháp.

Người đời sau đánh giá sự biến Năm Bính Ngọ (1786) và vai trò của họ Nguyễn Tiên Điền rất khác nhau, chủ yếu là do tầm nhìn và góc nhìn. Sự thật là năm 1786, khi Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc thì họ Nguyễn Tiên Điền đã bị táng gia bại sản “Hồng Lam vô gia, huynh đệ tán” như đã nói ở phần Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa. Lý do vì các cựu thần nhà Lê cho rằng họ Nguyễn Tiên Điền mượn tiếng tôn phò chúa Trịnh để mưu đồ tiếm quyền và tạo tai họa rước quân Tây Sơn về, nên họ đã xử lý thẳng tay không thương tiếc. Cho đến lúc Nguyễn Hữu Chỉnh tiếm quyền và bị Vũ Văn Nhậm giết, rồi Nguyễn Huệ ra Bắc giết “kẻ tiếm quyền” Vũ Văn Nhậm là phò mã của Nguyễn Nhạc làm sâu sắc thêm hố chia rẽ trong nội bộ nhà Tây Sơn. Vua Gia Long thể hiện tầm nhìn trong đại cục đó lúc lên ngôi năm 1802, tuy ông rất để ý kiềm chế họ Nguyễn Tiên Điền nhưng vẫn rất trọng dụng nhà Nguyễn Tiên Điền. Vua Gia Long lấy làm thiếp người cháu gái ruột của Nguyễn Du, lại phong Nguyễn Du chức Cai bạ, sau đó là Chánh sứ, sau đó là Hàn Lâm Đại học sĩ. Vua Minh Mệnh cũng vậy nhưng thủ đoạn cứng rắn hơn cả Nguyễn Ánh trong trị quốc. Nguyễn Du dụng tâm lấy Truyện Thúy Kiều gửi gắm chính kiến và tâm sự, bày tỏ cho hết mọi tình mọi ý của mình, “bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn” “Đã mang lấy nghiệp vào thân/ Cũng đừng trách lẫn trời gần, trời xa/ Thiện căn ở tại lòng ta/ Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài“. Truyền Thúy Kiều là một kiệt tác tài tình.  Nguyễn Công Trứ với bài thơ Vịnh Thúy Kiều  thực chất là luận bàn về Nguyễn Du: “Bán mình trong bấy nhiêu năm, Dễ đem chữ hiếu mà lầm được ai”. Nguyễn Công Trứ là nhà quân sự, chính trị, kinh tế và một nhà thơ lỗi lạc thời Minh Mệnh, lịch sử Việt Nam cận đại. Ông đồng quan điểm với Minh Mệnh “tiên phát chế nhân” thẳng tay chế ngự những lực lượng đối lập tiềm tàng. Ông là con quan Đức Ngạn hầu Nguyễn Công Tấn họ Nguyễn Uy Viễn vốn có nhiều mối quan hệ tế nhị với họ Nguyễn Tiền Điền, cũng ràng buộc và phức tạp như họ Hồ Quỳnh Đôi của Hồ Xuân Hương và họ Hồ Phi Phúc của Nguyễn Huệ.  Nguyễn Công Trứ thân mật hay chống đối Nguyễn Du, đó là điều hậu thế cần lý giải cho đúng? Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ là câu chuyện dài, sẽ được luận bàn trong một bài viết riêng. Bài thơ của ông Phạm Quý Thích người cùng thời với Nguyễn Du trong bài “Tựa” của Truyện Thúy Kiều, Nguyễn Du do Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim hiệu khảo; Nghĩa tám câu thơ là: “Nàng Kiều nếu không đến sông Tiền Đường (thì) cái nợ yên hoa nửa đời trả sao xong? Cái tài sắc của nàng không đáng vùi xuống dưới nước, tấm lòng trong sạch của nàng lúc nào cũng không thẹn với Kim lang. (Nhưng ngẫm) trong giấc mộng đoạn trường thì đã hiểu cái căn nguyên cả đời nàng, nghe tiếng đàn bạc mệnh tuy đã gãy hết khúc, mà nỗi oán hận vẫn còn dài. (Thế mới hay) Một mảnh tài tình mà cái lụy chung muôn đời. (Vậy thì) quyển Tân thanh này cốt để thương xót ai?” Nguyễn Khuyến viết “Thằng bán tơ kia giở dói ra/ Làm cho bận đến cụ Viên già“, hẳn là có dụng ý.

Năm Đinh Mùi (1787) Nguyễn Du 22 tuổi. Nguyễn Nhạc từ Thăng Long trở về, phong cho Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương trấn thủ Phú Xuân, còn mình thì dẫn tùy tùng về Quy Nhơn, tự xưng làm Trung Ương Hoàng Đế, phong cho Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương ở đất Gia Định, phong Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương ở đất Thuận Hóa, lấy Hải Vân làm giới hạn. Nguyễn Nhạc hỏi những báu vật vàng bạc đoạt được ở phủ chúa Trịnh. Nguyễn Huệ từ chối không nộp. Nguyễn Huệ muốn kiêm quản cả đất Quảng Nam nhưng Nguyễn Nhạc không cho. Cùng thêm một số chuyện hiềm khích cơ mật khác. Nguyễn Huệ bèn phát hịch kể tội Nhạc, rồi đem quân vào vây thành Quy Nhơn. Nguyễn Nhạc đóng cửa thành cố thủ. Đặng Văn Trấn, tướng của Nguyễn Nhạc để tham đốc là Trần Tú ở lại giữ thành Gia Định còn mình tự đem quân về cứu viện nhưng khi đến Phú Yên thì bị quân của Nguyễn Huệ bắt. Nguyễn Huệ vây Quy Nhơn ngặt đến nỗi Nguyễn Nhạc phải thân lên thành mà kêu khóc, gọi Nguyễn Huệ mà bảo rằng: ” Nỡ lòng nào lại nồi da nấu thịt thế này?” Nguyễn Huệ mới động lòng rút quân về Thuận Hóa. Hai anh em tuy hòa giải nhưng thực lòng vẫn oán giận nhau.

Nguyễn Ánh sau trận thất bại năm Giáp Thìn (1784)  sang lánh nạn ở Xiêm (Thái Lan) nóng lòng mong chờ viện binh nhưng Nguyễn Huệ đã khéo sai sứ sang thông hiếu với Thái Lan. Nguyễn Ánh thấy ở nước người  lâu ngày không tiện nên bí mật về nước theo kế của Tống Phước Đạm. Trước hết Nguyễn Ánh sai Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Liêm về Hà Tiên dò xét tình hình, khâu nối lực lượng., Phạm Văn Nhơn về Hòn Tre sửa soạn tàu bè, cai cơ Ngoạn, cai cơ Trung đi mua thóc dự trữ sẵn lương thực, rồi nhân đêm tối, không từ biệt vua Xiêm mà ra về vào ngày Bính Dần tháng Bảy. Khi Nguyễn Ánh về đến Hòn Tre mới biết chuyện cai cơ Trung giết chủ thuyền buôn Thái Lan để cướp của cải. Ông đã lệnh chặt đầu cai cơ Trung gửi đến vua Thái để tạ lỗi. Nguyễn Ánh cũng thu phục bọn cướp biển Hà Hỉ Văn đảng Bạch Liên Giáo nay làm cướp biển Hà Tiên. Ông cũng thu phục được danh tướng Nguyễn Va7n Trương trấn thủ Long Xuyên.  Tống Phước Đạm lợi dụng sự bất hòa của nhà Tây Sơn lập kế li gián Đông Định Vương Nguyễn Lữ là trấn tướng Gia Định và Phạm Văn Tham là phó tướng của Nguyễn Lữ.  Tống Phước Đạm bắt được vợ lẽ của hộ đốc Lý tướng Tây Sơn và đã làm mật thư giả của Nguyễn Nhạc gửi Nguyễn Lữ, trong thư nói Phạm Văn Tham là phe đảng của Nguyễn Huệ và khiến Nguyễn Lữ giết đi. Tống Phước Đạm giao thư cho vợ lẽ của hộ đốc Lý mang về dụ hàng Phạm Văn Tham.  Tham xem thư cả sợ bèn giương cờ trắng (hiệu kỳ của Nguyễn Ánh) kéo về dinh lũy của Nguyễn Lữ. Đông Định Vương tưởng Tham đã mang quân về hàng Nguyễn Ánh rồi, sợ Tây Sơn quân mỏng không  thể địch nổi nên bỏ chạy về Quy Nhơn. Từ đó, Phạm Văn Tham một mình trấn giữ Gia Định. Quân Tây Sơn và quân Nguyễn Ánh giao chiến một số trận lớn nhỏ. Thế lực Nguyễn Vương ngày một lớn mạnh. Thái úy Nguyễn Văn Hưng từ Quy Nhơn mang ba mươi chiến thuyền vào tiếp ứng. Nguyễn Ánh cố thủ.  Ít lâu sau, Nguyễn Văn Hưng chuyển thóc gạo đầy các thuyền rồi rút đi. Nguyễn Ánh chia binh đóng những nơi hiểm yếu chẹn đường quân Tây Sơn.

Giữa lúc này Nguyễn Hữu Chỉnh đem binh tiến gấp từ Nghệ An về Thăng Long, đuổi Trịnh Bồng, trước mượn danh nghĩa tôn phò vua Lê Chiêu Thống sau đó là lộng hành.
Vua Lê Chiêu Thống tuy không thích việc Nguyễn Hữu Chỉnh chuyên quyền nhưng lại đồng thuận với ông ta trên 2 điểm[11][12]: Không muốn sự quay lại của họ Trịnh; Không muốn chịu ảnh hưởng của Tây Sơn và không bằng lòng việc mất Nghệ An cho Tây Sơn. Bởi vì Tây Sơn tuy không còn ở Bắc Hà nhưng vẫn giữ đất Nghệ An, trong khi cương thổ cũ của Đàng Ngoài là tới sông Gianh thuộc Bắc Bố Chính (Quảng Bình). Lê Chiêu Thống đồng tình với Nguyễn Hữu Chỉnh trong việc cử Trần Công Xán vào Phú Xuân đòi Nguyễn Huệ đất Nghệ An.

Nguyễn Hữu Chỉnh sau khi đánh tan quân họ Trịnh, vào Thăng Long, được vua Lê Chiêu Thống bổ dụng làm Đại tư đồ, phong tước Bằng trung công và một mực tin dùng. Nguyễn Hữu Chỉnh nắm binh quyền, bổ nhiệm quan chức, sắp đặt chính sự. Sách Cương mục chép: “Từ đây, uy quyền quá lừng lẫy, Chỉnh kéo bà con bè đảng, cắt đặt chia giữ các chức ở trong kinh đô và ngoài các trấn, việc gì cũng tự Chỉnh chuyên quyền quyết định cả. Chỉnh lại mở phủ cho con là Hữu Du ở tại phía đông dinh mình, bắt chước như lối chúa Trịnh xưa cho thế tử ra ở phủ riêng. Chỉnh kiêu ngạo lấn lướt, làm cho nhà vua dần dần phát chán”[1].

Vua Lê Chiêu Thống lại tìm cách giết Chỉnh, nhưng Vũ Trinh, anh rễ của Nguyễn Du, can ngăn, mới thôi. Chỉnh phong thanh biết chuyện, từ đó bỏ luôn cả lễ triều yết. Tuy nhiên, Chỉnh vẫn giữ danh nghĩa tôn phù vua Lê. Sau đó, cùng bộ hạ là Hoàng Viết Tuyển, Chỉnh lần lượt diệt các thế lực chống đối nhà Lê ở Bắc Hà như Dương Trọng Khiêm, Hoàng Phùng Cơ, Trịnh Bồng và Đinh Tích Nhưỡng.

Nguyễn Hữu Chỉnh cũng ngầm sai người  mang nhiều vàng bạc đưa cho Nguyễn Văn Duệ ở Nghệ An để giết Võ Văn Dũng ở Hà Tĩnh và lấy sông Gianh làm ranh giới như cũ. Vũ Văn Nhậm dò biết mưu ấy bèn cấp báo cho Nguyễn Huệ. Huệ liền sai người ra Nghệ An bắt Duệ nhưng Duệ thấy động đã đem quân thuộc hạ theo đường rừng trốn về Quy Nhơn. Nguyễn Huệ không bằng lòng “trả” Nghệ An mà điều thêm quân cho Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, những danh tướng tâm phúc của Nguyễn Huệ, đặt  dưới quyền tiết chế của Vũ Văn Nhậm con rể của Nguyễn Nhạc để kịp thời khống chế Nguyễn Hữu Chỉnh nhân lúc tình hình Bắc Hà rối ren, Nguyễn Hữu Chỉnh còn bận lo đánh dẹp các lực lượng thân họ Trịnh.

Tháng 11 năm Đinh Mùi, Chiêu Thống thứ nhất (1787). Quân Tây Sơn do Vũ Văn Nhậm chỉ huy tấn công Bắc Hà. Chiêu Thống sai Nguyễn Hữu Chỉnh đem quân chống cự, nhưng do quân đội trước đây vốn nằm trong sự sai khiến của Đinh Tích Nhưỡng và Hoàng Phùng Cơ nay không thể sai khiến, quân của họ Nguyễn Tiên Điền thì lại bị vua Lê và Hữu Chỉnh bị li gián nghi kỵ không tin dùng (do Tể tướng Nguyễn Khản anh của Nguyễn Du là thầy dạy Trịnh Khải người đang bị thị phi bởi các cựu thần vua Lê)  nên quân bản bộ của Chỉnh không thể chống cự nổi quân Tây Sơn và đều bị Văn Nhậm đánh tan trong trận đánh lớn trên sông Thanh Quyết.  Hữu Chỉnh và Hữu Du chỉ kịp đem vài trăm quân chạy về Thăng Long.

Tháng 12 năm Đinh Mùi 1787, Văn Nhậm kéo quân tới Thăng Long, vua Lê Chiêu Thống nghe lời Hữu Chỉnh, bỏ Thăng Long chạy đi Kinh Bắc. Lúc đi, thị vệ và các bầy tôi tản mát bỏ trốn hết. Vua Lê Chiêu Thống sai Lê Quýnh cùng hơn 30 người tôn thất đem bà Hoàng Thái hậu và Hoàng phi, Hoàng tử chạy lên Cao Bắng. Chỉnh thì cướp đường rước vua Lê Chiêu Thống chạy lên Kinh Bắc.  Khi vua đến Kinh Bắc, trấn thủ là Nguyễn Cảnh Thước, vốn đã bí mật đầu hàng Tây Sơn, đóng cửa thành cáo bệnh không đón. Vua cùng Hữu Chỉnh qua đò sông Nguyệt Đức, đi theo chỉ còn sáu, bảy người, lại bị bọn vô lại cướp mất áo bào. Tình cảnh hết sức thê thảm. Khi Chiêu Thống tới huyện Yên Dũng mới được tri huyện của huyện ấy giúp đỡ, xin hộ giá, rồi dần dần khôi phục lại được lực lượng ở núi Mục Sơn đất Yên Thế mạn Cao Bằng, Thái Nguyên.

Vũ Văn Nhậm sai bộ tướng Nguyễn Văn Hòa truy sát và đuổi kịp quân nhà Lê. Vua Lê Chiêu Thống thân chinh cầm quân ngự chiến, nhưng thua trận, Nguyễn Hữu Du chết tại trận, Nguyễn Hữu Chỉnh bị bắt sống đóng gông giải về Thăng Long.  Nhậm kể tội rồi sai chặt chân tay, phanh thây Chỉnh. Quân nhà vua tan vỡ, Dương Đình Tuấn hộ vệ vua chạy sang trại Sơn Lộc. Các bầy tôi khác đều tan tác hết.

Vũ Văn Nhậm tìm bắt vua Lê Chiêu Thống nhưng không được, bèn tôn Sùng Nhượng Công Lê Duy Cẩn lên làm Giám Quốc để thu phục lòng người. Thầy đề lại Giám Quốc mỗi ngày phải sang chầu chực ở dinh Vũ Văn Nhậm. Nhậm tỏ ý kiêu ngạo. Ngô Văn Sở mật trình tấu sự tình về Nguyễn Huệ. Bắc Bình Vương lập tức truyền lệnh kéo quân kỵ gấp đường ra Thăng Long, nửa đêm đến nơi bắt Vũ Văn Nhậm giết đi, đổi đặt quan quân, đặt quan lục bộ và các quan trấn thủ, để Lê Duy Cẩn vẫn làm Giám Quốc, chủ trương việc tế lễ để giữ tông miếu tiền triều, dùng Ngô Thì Nhậm làm Lại bộ tả thị lang, cùng bọn Ngô Văn Sở ở lại trấn giữ Bắc Hà, còn Nguyễn Huệ thì chọn ngày về nam.

Mẹ của vua Lê Chiêu Thống chạy lên Cao Bằng cùng với Đốc đồng Nguyễn Huy Túc, phiên thần Địch quận công Hoàng Ích Hiểu, tụng thần Lê Quýnh và Nguyễn Quốc Đống bảo vệ thái hậu và con trai Chiêu Thống qua cửa ải Thủy Khẩu chạy sang Long Châu nhà Thanh, gặp Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị và Tuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh cầu xin cứu viện. Tôn Sĩ Nghị dâng biểu lên vua Càn Long xin điều quân Lưỡng Quảng, Vân Nam, Quý Châu chia hai đường sang cứu viện cho vua Lê. Lúc này vua Chiêu Thống đã chạy lánh vào Bảo Lộc, Trấn Ninh.

Nhà Thanh bèn nhân dịp đấy định thôn tính luôn An Nam. Cương mục viết: “Thái hậu đưa nguyên tử (con trai Chiêu Thống) đến yết kiến ở trong sân, gào khóc xin cứu viện. Bọn Sĩ Nghị tâu với vua Thanh rằng tự hoàng nhà Lê đương phải bôn ba, đối với đại nghĩa, ta nên cứu viện. Vả lại, An Nam là đất cũ của Trung Quốc, sau khi khôi phục nhà Lê, ta nhân đó, đặt lính thú để đóng giữ. Thế là vừa làm cho nhà Lê được tồn tại, vừa chiếm lấy được An Nam: thật là làm một chuyến mà được hai lợi.”[4].

Năm Mậu Thân (1788) Nguyễn Du 23 tuổi. Tống Phước Đạm dâng kế cho Nguyễn Ánh: “Tây Sơn tuy lấy được Bắc Hà nhưng vua Lê Chiêu Thống và triều đình nhà Lê còn trốn tránh trong vùng rừng núi, nhất định sẽ cầu viện nhà Thanh. Nhân lúc Nguyễn Huệ đang bận đối phó ở phía Bắc chưa rỗi để mắt đến phía Nam. Nguyễn Nhạc và  Nguyễn Lữ ở phía Nam khó xoay trở. Chúa thượng nhân lúc này về chiếm đất Gia Định sẽ có thời cơ lớn”. Nguyễn Ánh nghe lời, đem đại quân về An Giang nhưng chưa kịp dựng đồn trại thì đã bị quân Tây Sơn tấn công. Quân hai bên giao chiến kịch liệt, quân của Thái bảo Phạm Văn Tham mới chịu lui. Thề lực Nguyễn Ánh ngày một nổi lên và có nhiều tướng giỏi. Tôn Thất Huy đóng ở Giồng Triệu. Lê Văn Quân đóng ở Giồng Trôm. Mạc Tử Sinh trấn thủ Hà Tiên. Phạm Văn Nhơn trấn thủ Long Xuyên. Trương Phước  Giáo, Nguyễn Đình Đắc, Tôn Thất Hội, Võ Văn Lượng, Nguyễn Văn Hiếu, Mạc Văn Tô, Trần Văn Tín, Đoàn Văn Khoa , … đều là những nghĩa dũng. Đặc biệt quân sư Tống Phước Đạm mưu kế sâu sắc, liệu việc như thần. Chu Văn Tiếp, Đỗ Thành Nhơn, Võ Tánh là Gia Định tam hùng. Nguyễn Ánh trao cho Võ Tánh giữ chức khâm sai Tổng nhung, chưởng cơ dinh Tiên phong, lại gả trưởng công chúa Nguyễn Thị Ngọc Du cho Võ Tánh. Từ ngày Nguyễn Ánh lên nối ngôi vua Nguyễn tháng 2 năm 1780, sau đó giết Đỗ Thanh Nhơn, thâu tóm quyền lực, cho đến năm 1788 chưa bao giờ thế lực quân Nguyễn mạnh đến như vậy. Nguyễn Ánh thu phục Gia Định lần thứ Tư nhằm ngày Đinh Dậu tháng 8 năm Mậu Thân (9.1788). Tướng Tây Sơn Phạm Văn Tham lui về giữ những điểm trọng yếu ở Ba Thắc và Biên Hòa, đồng thời cấp báo về Quy Nhơn để xin viện binh. Nguyễn Nhạc chần chừ không dám phát binh vì sợ quân Nam thừa cơ đánh úp Quy Nhơn trong khi Nguyễn Huệ đang bận ở mặt Bắc không thể kịp ứng cứu. Do Gia Định quân Tây Sơn không có cứu viện nên lực lượng Nguyễn Vương đã đánh rộng ra các địa bàn phía Nam và làm chủ vững chắc vùng Nam Bộ ngày nay.

Vua Lê Chiêu Thông bị tướng Tây Sơn Ngô Văn Sở đánh tan ở sông Ngô Đồng, chạy vào Thành Hoa rồi ra Kinh Bắc. Vua Chiêu Thống sai Trần Danh Án và Lê Duy Đản đi sứ sang cầu viện binh nhà Thanh, nhưng khi đi đến gần biên giới thì mới hay tin là quân của Tôn Sĩ Nghị đang kéo qua, liền vội quay về báo vua Lê Chiêu Thống để bí mật lên cửa ải đón viện binh.

Càn Long nhân cơ hội đánh chiếm Đại Việt bèn sai Tổng đốc Lưỡng QuảngTôn Sĩ Nghị mang từ 18.000 đến hơn 20 vạn quân (xem phần “Các ý kiến về số quân Thanh” bên dưới), gồm các đạo binh huy động từ Quảng Đông, Quảng Tây, Vân NamQuý Châu hộ tống Lê Chiêu Thống về Đại Việt với danh nghĩa phù Lê.

Quân Thanh chia làm 3 đường tiến sang Đại Việt:

  1. Quân Vân Nam, Quý Châu do đề đốc Vân Quý là Ô Đại Kinh, từ Vân Nam qua ải Mã Bạch, theo đường Tuyên Quang xuống Sơn Tây vào Thăng Long.
  2. Quân Quảng Đông, Quảng Tây do Tôn Sĩ Nghị (chức tổng đốc Lưỡng Quảng) trực tiếp chỉ huy, qua ải Nam Quan vào Lạng Sơn; phó chỉ huy là Hứa Thế Hanh (chức đề đốc) cùng các tướng Thượng Duy Thăng, Trương Triều Long (cả hai đều đang mang chức tổng binh), Lý Hóa Long (chức phó tướng).
  3. Quân tình nguyện Điền châu do Sầm Nghi Đống chỉ huy, theo đường Long châu tiến vào Cao Bằng rồi tiến về Thăng Long.

Cả 3 đạo quân xuất phát vào cuối tháng 10 âm lịch năm 1788.

Càn Long còn đặc cử Phúc Khang An chuyên trách hậu cần. Theo sách Thánh vũ ký, phần “Càn Long chinh phủ An Nam ký” của Ngụy Nguyên đời Thanh, Phúc Khang An đã thiết lập trên 70 đồn quân lương to lớn và kiên cố từ hai đường Quảng TâyVân Nam tới Thăng Long. Riêng chặng đường từ ải Nam Quan tới Thăng Long, Khang An thiết lập 18 kho quân lương trong khi Tôn Sĩ Nghị hành quân.

Tiền quân Tây Sơn vừa đánh vừa rút lui. Ở Lạng Sơn thấy quân lính dưới quyền trốn mất, Phan Khải Đức  ra hàng còn Nguyễn Văn Diễm rút vội về Kinh Bắc hợp với Trấn thủ Nguyễn Văn Hoà chống giữ và đưa thư cáo cấp về Thăng Long[13] . Theo thư Lê Chiêu Thống gửi cho Tôn Sỹ Nghị, tổng số quân Tây Sơn đóng ở miền Bắc khoảng 60 ngàn quân, trong đó có 30 ngàn quân do bắt lính tại địa phương, không có lòng chiến đấu. Ngô Văn Sở được tin quân Thanh kéo sang liền nhóm họp các văn võ quan nhà Lê Trung Hưng đưa một bức thư ký tên Giám Quốc Sùng Nhượng Công, Lê Duy Cẩn sang xin hoãn binh với Tôn Sĩ Nghị. Các tướng Tây Sơn mở cuộc thảo luận. Nhiều người bàn dùng phục binh đánh quân Thanh như Lê Lợi diệt tướng MinhLiễu Thăng, Lương Minh trước đây, duy Ngô Thì Nhậm chủ trương kế hoạch, nhử quân Thanh vào sâu nội địa, thủy quân rút về Biện Sơn trước, lục quân kéo vào đóng giữ núi Tam Điệp rồi báo tin vào cho Bắc Bình Vương. Chiến lược này được chấp thuận, binh sĩ các đạo đều được lệnh về hội ngay dưới cờ của Tiết Chế Ngô Văn Sở tại bờ sông Nhị vào năm hôm sau. Sở bàn kế hoạch lui quân.

Ngô Văn Sở sai tướng chặn giữ bến đò Xương Giang chặn quân Thanh, và sai Phan Văn Lân đưa hơn 10 ngàn quân tinh nhuệ từ Thăng Long đi đánh. Quân Tây Sơn vượt sông Nguyệt Đức đánh vào quân Thanh đang đóng ở núi Tam Tầng, bao vây doanh trại của Tôn Sĩ Nghị. Súng hỏa sang của quân Thanh bắn ra như mưa, đồng thời cung tên từ hai cánh phải và trái của quân Thanh cũng bắn ra, quân Tây Sơn chết rất nhiều. Tôn Sĩ Nghị lại phái một toán kỵ binh từ mạn thượng lưu vượt qua sông đánh úp lấy đồn Thị Cầu. Đồn này phát hỏa, Văn Lân cả sợ rút về.[14] Giữa tháng 11 năm 1788, quân Thanh tới bờ bắc sông Thương. Quân Tây Sơn rút về bờ nam nhưng chặt phá hết cầu và lấy hết thuyền bè. Theo sách Thánh vũ ký, phần “Càn Long chinh phủ An Nam ký” của Ngụy Nguyên, quân Thanh đã tổn thất khá nhiều mới bắc được cầu qua sông do đạn của quân Tây Sơn bắn sang trước khi rút hẳn. Quân Thanh tiến đến Thị Cầu, Phan Văn Lân đã chặt cầu và tận dụng bờ nam cao hơn bờ bắc mà bắn đại bác sang khiến quân Thanh mất 3 ngày (15 đến 17 – 11) không bắc nổi cầu. Nửa đêm 17 tháng 11, Phan Văn Lân mang một ngàn quân bản bộ theo khúc sông Cầu định tập kích trại Tôn Sĩ Nghị nhưng bị thiệt hại do hoả lực của quân Thanh bắn ra. Sau đó Văn Lân đụng độ tướng Thanh là Trương Triều LongTam Tằng. Theo Hoàng Lê nhất thống chí, Quân Tây Sơn ít và yếu thế bại trận, nhiều người bị rét cóng hay chết đuối lúc vượt sông, quân Tây Sơn chết gần hết, phải rút lui. Trong khi đó, lục quân của Ngô Văn Sở cũng rút về tới Ninh Bình cố thủ. Ngày 20 tháng 11, quân Tây Sơn đóng đồn từ Tam Điệp tới Biện Sơn, Ngô Văn Sở cho đô đốc Tuyết vào nam cấp báo với Bắc Bình vương Nguyễn Huệ.

Ngày 21 tháng 11 năm Mậu Thân (1788), thành Thăng Long bỏ ngỏ, quân của Nghị vào đóng và tướng doanh của Nghị đặt tại Tây Long Cung. Theo lời vua Thanh dặn, Sĩ Nghị lấy xong thành này rồi trao ấn cho Duy Kỳ, tấn phong làm An Nam quốc vương lấy lòng dân Đại Việt.[14]. Ngày 22, Sĩ Nghị làm lễ ở điện Kính Thiên để làm lễ sách phong cho vua Lê Chiêu Thống. Tôn Sĩ Nghị tính chuyện truy kích Nguyễn Huệ nhưng Tôn Vĩnh Thanh tâu là Quảng Nam xa cách đô thành nhà Lê 2.000 dặm, dùng quân 1 vạn người thì phải cần 10 vạn phu vận tải, cũng bằng từ Trấn Nam Quan đến thành họ Lê.[15] Cuộc hành quân của Tôn Sĩ Nghị theo các nhà nghiên cứu[12], từ 28/10 tới 20/1, mất 22 ngày mới tới Thăng Long, lâu hơn 6 ngày mà Nghị từng dự liệu với Càn Long. Tôn Sĩ Nghị bố trí quân Thanh đóng ở phía nam tới phía tây thành Thăng Long, cho đạo quân Lưỡng Quảng đóng hai bên bờ sông Hồng, quân Điền châu đóng ở Khương Thượng, quân Vân Quý đóng ở Sơn Tây. Theo Hoàng Lê nhất thống chíKhâm định Việt sử Thông giám Cương mục của nhà Nguyễn, quân Thanh ở Thăng Long chểnh mảng phòng thủ, thường đi cướp bóc hãm hại dân Đại Việt nên bị oán ghét.  Lê Duy Kỳ thực hiện thanh trừng những người hợp tác với Tây Sơn. Theo Đại Nam thực lục, Nguyễn ÁnhGia Định nghe tin quân Thanh vào Thăng Long cũng sai Phan Văn TrọngLâm Đồ mang thư và chở 50 vạn cân gạo ra cho quân Thanh nhưng giữa đường bị bão biển, cả người và gạo đều bị đắm hết. Tôn Sĩ Nghị ban đầu chủ quan, sau nghe lời cảnh báo của các tướng dưới quyền Lê Duy Kỳ cũng quyết định ngày 6 tháng Giêng sẽ ra quân đánh Tây Sơn. Nghị bố trí đồn Ngọc HồiThanh Trì (Hà Nội), đồn Hà HồiThường Tín (Hà Nội), đồn Nhật TảoDuy Tiên (Hà Nam) và đồn Nguyệt Quyết huyện Thanh Liêm (Hà Nam). Quân Cần vương của Duy Kỳ do Hoàng Phùng Tứ chỉ huy cũng được điều từ Sơn Tây xuống Gián Khẩu làm tiền đồn chặn quân Tây Sơn. Quân Thanh đồng thời cũng tụ tập thêm được các Hoa Kiều sống ở phía Bắc Đại Việt được chừng một vạn người đóng thành một trại, nhóm quân này ỷ thế đi cướp phá, và hãm hiếp không kiêng sợ gì ai[16]. Dù Tôn Sĩ Nghị có ra sắc lệnh nghiêm quân kỷ nhưng vì quân kiêu nên cũng không có tác dụng lắm[17].

Nguyễn Huệ ở Bình Sơn nhận được tin cấp báo của đô đốc Tuyết  ngày 24 tháng 11. Ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (22 tháng 12 năm 1788), Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế tại Phú Xuân, lấy niên hiệu Quang Trung và ra lệnh xuất quân.

Ngày 29 tháng 11, quân Tây Sơn đến Nghệ An, đóng lại hơn 10 ngày để tuyển thêm quân, cứ 3 suất đinh lấy 1 suất lính. Sau 1 thời gian ngắn, ông đã có thêm hơn hàng vạn người. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, số quân cũ và mới của Quang Trung là 10 vạn và hơn 100 voi chiến[2]. Nguyễn Huệ vấn kế La Sơn Phu Tử,  Nguyễn Thiếp tán đồng việc bất ngờ đánh gấp. Về thái độ của dân chúng, sử gia Nguyễn Khắc Thuần trong sách Đại cương Lịch sử cổ trung đại Việt Nam ghi thì thanh niên địa phương nô nức gia nhập hàng ngũ Tây Sơn[20] còn theo sử gia Tạ Chí Đại Trường trong sách Lịch sử nội chiến Việt Nam 1771- 1802 thì trích trong thư giáo sĩ Longer là người đương thời gởi cho Julliard cho biết quân Tây Sơn bắt lính “gay gắt đến nỗi người ta không biết trốn vào đâu để tránh quân dịch. Các kẻ sai nha đem chó theo để tìm người trong khu rừng bên cạnh như người ta tìm thú: người ta lấy dao xỉa vào các đống rơm dùng để đun nấu”[21] . Nguyễn Huệ tổ chức  quân Thanh Nghệ làm đạo Trung quân cùng bốn đạo Tiền, Hậu, Tả, Hữu  của cựu binh Thuận Quảng và gấp đường tiến ra Bắc.  Ngày 20/12, Quang Trung tiến đến Tam Điệp và tán thành chủ trương rút lui của Ngô Thì Nhậm. Theo sách Lê triều dã sử, sở dĩ quân Tây Sơn hành quân nhanh chóng vì Nguyễn Huệ đã bố trí 3 người 1 tốp thay nhau 2 người cáng 1 đi suốt ngày đêm. Theo Quân doanh kỳ lược của Trần Nguyên Nhiếp (là bí thư dưới quyền Tôn Sĩ Nghị), nghe tin thám tử quân Thanh các nơi chạy về báo Nguyễn Huệ đang lấy thêm lính Thanh – Nghệ và sắp đánh ra bắc, Tôn Sĩ Nghị vội cho quân tập dượt để chuẩn bị tác chiến, sai phó tướng Hứa Thế Hanh trực tiếp chỉ huy mặt trận phía nam Thăng Long[22]. Dẫu vậy, đám quân Thanh chủ quan là quân Nguyễn Huệ còn xa và mãi mê ăn Tết không phòng bị, nên khi quân Tây Sơn bất ngờ tấn công trước giao thừa, đồn Hà Hồi nhanh chóng bị tiêu diệt  không kịp truyền báo cho Trung quân ở Thăng Long.

Năm Kỷ Dậu 1789, Nguyễn Du 24 tuổi, vua Quang Trung đại phá quân Thanh. Ngày 30 tháng chạp, vua Quang Trung cho quân ăn tết trước rồi hạ lệnh tiến quân. Ông hẹn với ba quân mồng 7 tháng Giêng âm lịch sẽ vào ăn tết ở Thăng Long. Thế trận của vua Quang Trung chia làm năm đạo:

  1. Đạo quân do Quang Trung chỉ huy có Ngô Văn SởPhan Văn Lân làm tiên phong, có cả tượng binh và kỵ binh đánh vào chính mặt nam Thăng Long.
  2. Đạo quân do đô đốc Tuyết chỉ huy theo đường thuỷ tiến vào sông Lục Đầu, đánh đồn quân cần vương của Lê Duy KỳHải Dương, chặn đường rút của quân Thanh bên kia sông Hồng.
  3. Đạo quân đô đốc Lộc chỉ huy cùng đạo quân đô đốc Tuyết theo đường thuỷ tiến vào sông Lục Đầu, tới đây tách ra đi gấp lên Phượng Nhãn, Lạng Giang chặn đường rút của quân Thanh phía bắc.
  4. Đạo quân đô đốc Bảo chỉ huy, cũng có tượng binh và kỵ binh theo đường Ứng Hoà (Hà Tây) ra làng Đại Áng, phối hợp với cánh quân Quang Trung đánh đồn Ngọc Hồi của Hứa Thế Hanh.
  5. Đạo quân đô đốc Long chỉ huy (có ý kiến khác cho rằng là tướng Đặng Tiến Đông) , cũng có tượng binh và kỵ binh theo đường Chương Đức, hướng lên Sơn Tây nhưng sẽ rẽ quặt sang làng Nhân Mục tập kích đồn Khương Thượng của Sầm Nghi Đống và tiến vào Thăng Long từ hướng tây.[23].

Đêm Giao thừa (30 Tết), từ phòng tuyến Tam Điệp, quân Tây Sơn xuất phát. Đạo quân do Quang Trung chỉ huy vượt sông Giao Thuỷ đánh đồn Gián Khẩu của quân cần vương nhà Lê. Quân Lê tan vỡ, Hoàng Phùng Tứ bỏ chạy. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, quân Quang Trung thần tốc tiến lên bắt gọn đám quân Thanh do thám và tiêu diệt các đồn bắc sông Nguyệt Quyếtđồn Nhật Tảo (Duy Tiên). Do đạo quân Tây Sơn hành quân nhanh và các đám quân do thám bị bắt, quân Thanh từ đồn Hà Hồi tới Thăng Long không biết gì về cử động của quân Tây Sơn.

Dụ hàng đồn Hà Hồi, áp sát Ngọc Hồi. Ngày 3 tháng Giêng, quân Tây Sơn tiến đến Hà Hồi cách Thăng Long khoảng 20 km. Quang Trung cho quân vây chặt đồn rồi sai bắc loa kêu gọi quân Thanh đầu hàng. Quân Thanh bị bất ngờ trước sự áp sát quá nhanh của quân Tây Sơn, không kịp kháng cự, đều ra hàng. Ngày 4 tháng Giêng, Quang Trung tiến đến đồn Ngọc Hồi. Hứa Thế Hanh ở đây nghe tin đồn Hà Hồi bị diệt vội báo về Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị vội điều Thang Hùng Nghiệp mang quân ra tăng viện, lại đặc sai 20 kỵ binh phải thay nhau chạy đi chạy lại báo cáo tình hình. Nhưng khi tiến quân tới Ngọc Hồi, Quang Trung không đánh ngay. Quân Thanh bị động cũng không dám giao tranh trước nhưng cũng không biết bị đánh khi nào. Cả ngày mùng 4, Quang Trung chỉ cho quân hư trương thanh thế để uy hiếp tinh thần quân Thanh và gây sự chú ý của quân Thanh tới đạo quân do ông chỉ huy vào mặt trận Ngọc Hồi để tạo điều kiện cho yếu tố bất ngờ của các đạo quân đô đốc Long và đô đốc Bảo. Chính Tôn Sĩ Nghị nghe báo cáo của kỵ binh cũng bị hút vào đồn Ngọc Hồi mà không nhận ra nguy cơ từ cánh quân của đô đốc Long.

Diệt đồn Đống Đa. Khi Quang Trung diễu võ ngoài đồn Ngọc Hồi, đô đốc Long đang trên đường bắc tiến hướng đến Sơn Tây – nơi có đạo quân Vân Quý của Ô Đại Kinh – thì bất thần rẽ sang làng Nhân Mục nay thuộc xã Nhân ChínhKhương Đình và nửa đêm bất ngờ tập kích đồn Khương Thượng của Sầm Nghi Đống. Theo Thánh vũ ký của Nguỵ Nguyên, các đội voi của Tây Sơn đều có đại bác trên lưng nã vào đồn. Quân Thanh bị đánh bất ngờ trong đêm tối, chết rất nhiều, tan vỡ bỏ chạy. Sầm Nghi Đống thấy không thể giữ được đồn bèn tự sát trên đài chỉ huy ở Loa Sơn (Khu vực phố chùa Bộc – Hà Nội hiện nay)[24]. Một số tài liệu mới mà giới nghiên cứu đưa ra gần đây lại cho thông tin khác về diễn biến trận diệt đồn Khương Thượng. Theo đó, khi quân Thanh bị diệt đáng kể, Sầm Nghi Đống bỏ chạy lên cố thủ tại đài chỉ huy ở Loa Sơn. Đô đốc Long chia quân làm 2: một cánh đánh sang Nam Đồng để tiến vào Thăng Long, một ít quân tiếp tục vây hãm Loa Sơn. Sầm Nghi Đống không tự vẫn ngay mà cố thủ trên đài chờ cứu viện của Tôn Sĩ Nghị, nhưng tới ngày hôm sau không có quân cứu, Sầm mới tuyệt vọng và thắt cổ tự sát[25]. Khu vực Khương Thượng và xung quanh, do xác quân Thanh chết quá nhiều, sau chất thành 12 gò cao, có đa mọc um tùm gọi là Gò Đống Đa. Trận diệt đồn Khương Thượng cũng còn gọi là trận Đống Đa.

Hạ xong đồn Khương Thượng, ngay trong đêm mùng 4, đô đốc Long tiến vào bắn phá đồn Nam Đồng ở phía tây thành Thăng Long. Khi Tôn Sĩ Nghị nhận được tin báo việc đồn Khương Thượng thất thủ thì đô đốc Long đã diệt xong đồn Nam Đồng và tiến vào đánh bản doanh của Nghị ở Thăng Long.

Tôn Sĩ Nghị vội vàng tháo chạy. Các tài liệu cũ đều mô tả cảnh hỗn loạn của quân Thanh. Hoàng Lê nhất thống chí viết: “Nghị lên ngựa không kịp đóng yên, quân sĩ các doanh nghe tin đều hoảng hốt tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô nhau rơi xuống nước mà chết… Lát sau cầu lại đứt, quân lính bị rơi xuống nước, sông Nhị Hà bị tắc không chảy được…”.  Đại Nam chính biên liệt truyện viết: “Tôn Sĩ Nghị đóng trên bãi cát, được tin bại trận vội vàng cưỡi ngựa một mình chạy về bắc. Tướng sĩ thấy vậy tranh nhau qua cầu mà chạy, cầu đứt, lăn cả xuống sông, chết đến vài vạn người, làm cho nước sông không chảy được”.  Theo Thánh vũ ký của Nguỵ Nguyên nhà Thanh: “Sĩ Nghị chạy trốn qua được bờ bắc sông Phú Lương (Tức sông Hồng) liền cắt đứt cầu phao khiến các đạo quân của Hứa Thế Hanh và Trương Triều Long bị bỏ lại ở bờ nam. Do đó hơn 1 vạn người vừa tướng vừa quân xô nhau nhảy xuống sông để bơi sang bờ bắc và đều bị chết đuối cả”[26],[27]. Lê Duy Kỳ được tin Sĩ Nghị đã bỏ chạy, vội dắt gia quyến chạy theo, ra đến bờ sông thì cầu đã gãy, phải men theo bờ sông phía Nghi Tàm, lấy được chiếc thuyền đánh cá chèo sang được bên kia sông Hồng. Em Duy Kỳ là Duy Chi được sai giữ cửa ô Yên Hoa (Tức Yên Phụ ngày nay) thấy Duy Kỳ đã chạy, cũng bỏ chạy lên Tuyên Quang.

Sáng mồng 5 Tết, khi đô đốc Long tiến vào Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị đã bỏ chạy, Quang Trung hạ lệnh đánh đồn Ngọc Hồi. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, đồn này được Sĩ Nghị quan tâm phòng thủ nhất, có phó tướng Hứa Thế Hanh đích thân ra chỉ huy. Đồn có hỏa lực mạnh, xung quanh có địa lôi và chông sắt. Để phá hỏa lực địch, Quang Trung làm sẵn 20 tấm mộc đỡ đạn có tẩm rơm ướt dàn đi trước. Theo Lê quý kỷ sựViệt sử Thông giám cương mục, mờ sáng mùng 5, 100 voi chiến Tây Sơn tiến lên. Ngựa quân Thanh sợ voi lui lại, giẫm lên nhau, lùi về đồn. Quân Thanh không dám ra nữa, cố thủ trong đồn bắn ra. Quang Trung chia tượng binh làm hai cánh, một cánh vòng qua sau đồn Ngọc Hồi, đóng phía đông đê Yên Duyên để chặn đường địch rút; cánh kia dùng mộc tẩm rơm ướt tiến lên hãm đồn. Đại bác quân Thanh bị vô hiệu lực. Quân Tây Sơn tiến vào đồn hỗn chiến. Đại Nam chính biên liệt truyện mô tả, quân Thanh không chống nổi chạy tản ra tứ phía, lại giẫm phải địa lôi chính mình đặt từ trước nên bị chết rất nhiều. Đồn Ngọc Hồi bị quân Tây Sơn thiêu cháy. Quân Thanh từ đồn Ngọc Hồi chạy tới đê Yên Duyên, trông thấy phục binh Tây Sơn chặn đánh, phải chạy theo đường Vịnh Kiều[28] trốn về Thăng Long. Nhưng chạy tới nửa đường thì gặp cánh quân đô đốc Bảo đánh tới từ làng Đại Áng. Quân Thanh phải chạy lên làng Quỳnh Đô[29] định trốn vào đầm Mực. Theo Hoàng Lê nhất thống chí, quân đô đốc Bảo tiến vào đầm Mực tiêu diệt toàn bộ quân Thanh còn lại chạy từ Ngọc Hồi về đây. Như vậy toàn bộ hệ thống đồn do Tôn Sĩ Nghị thiết lập để phòng thủ ở nam Thăng Long đều bị quân Tây Sơn tiêu diệt. Theo Thánh vũ ký của Nguỵ Nguyên, các tướng Hứa Thế Hanh, Trương Triều Long, Thượng Duy Thăng đều tử trận. Cũng theo Thánh vũ ký, đạo quân Vân Nam – Quý châu đóng ở Sơn Tây được tin các đồn thất thủ, tướng Ô Đại Kinh không giao chiến trận nào đã bỏ chạy, nhờ tướng người ViệtHoàng Văn Đồng dẫn đường chạy về Trung Quốc.

Chiều mồng 5 tết (tức 30 tháng 1 năm 1789[30]), Quang Trung và đô đốc Bảo tiến vào Thăng Long trong sự chào đón của nhân dân, đô đốc Long ra đón rước vào thành. Đại Nam chính biên liệt truyện mô tả, áo bào của Quang Trung sạm màu khói súng. Trên đường tháo chạy, Tôn Sĩ Nghị bị hai cánh quân Tây Sơn của đô đốc Tuyết và đô đốc Lộc chặn đánh ở Hải Dương và Phượng Nhãn, tơi tả chạy về, bỏ lại cả quân ấn, kỳ bài, sắc thư. Trần Nguyên Nhiếp là bí thư dưới quyền Nghị sau này mô tả: Sĩ Nghị cùng Nguyên Nhiếp đi lạc lối, quanh co nhiều chỗ, bị đói khát 7 ngày đêm mới tới ải Nam Quan. Theo giáo sĩ De la Bissachere ở Việt Nam khi đó, số quân Thanh kịp theo Nghị qua bên kia biên giới chỉ có khoảng 50 người.

Lê Duy Kỳ vội chạy theo Nghị thoát sang bên kia biên giới. Theo Hoàng Lê nhất thống chí, quân Tây Sơn đuổi theo và rao lên rằng sẽ đuổi qua biên giới đến khi bắt được Nghị và Duy Kỳ mới thôi. Bởi thế dân Trung Quốc ở biên giới dắt nhau chạy làm cho suốt vài chục dặm không có người. Như vậy sớm hơn dự kiến, chỉ trong vòng 6 ngày, quân Tây Sơn đã đánh tan quân Thanh. Cánh quân Điền châu gần như bị diệt hoàn toàn, cánh quân Lưỡng Quảng chủ lực bị thương vong nặng và tan rã gần hết, riêng quân Vân Nam – Quý châu không giao chiến mà rút êm về nước. Quang Trung đã hẹn với ba quân mồng 7 vào ăn tết ở Thăng Long nhưng chỉ đến mồng 5, quân Tây Sơn đã khải hoàn ở kinh thành.

Vua Lê Chiêu Thống những năm sau đó lại tiếp tục xin nhà Thanh cho quân cứu viện. Nhà Thanh, phần sợ Quang Trung, phần đã ngán ngẩm việc chinh chiến, chỉ hứa hão với Chiêu Thống mà không cho quân. Thân vương nhà Thanh là Phúc Khang An hứa giúp quân cho Chiêu Thống, nhưng lại tâu với vua Thanh Càn Long rằng Chiêu Thống không còn muốn trở về. Tháng tư năm đó, theo lời tâu của Hòa Thân và Phúc Khang An, Càn Long phong Nguyễn Huệ là An Nam quốc vương và nhận tiếp sứ của nhà Tây Sơn. Thế nhưng, Chiêu Thống vẫn chưa thôi mộng phục quốc. Cương mục chép: “Nhà vua căm giận vì bị người Thanh lừa gạt, bèn cùng các bầy tôi là bọn Phạm Như Tùng, Hoàng Ích Hiểu, Lê Hân, Nguyễn Quốc Đống, Nguyễn Viết Triệu, Lê Quý Thích, Nguyễn Đình Miên, Lê Văn Trương, Lê Tùng và Lê Thức mười người uống máu ăn thề, làm bài biểu định đưa lên vua Thanh để xin quân cứu viện, nếu không được thì xin được đất hai châu Tuyên QuangThái Nguyên để quay về giữ việc thờ cúng tổ tiên hay là cùng nhau lén về Gia Định, nương nhờ triều ta (triều Nguyễn) để dần dà toan tính việc khôi phục, chứ quyết không chịu sống thừa ở đất Bắc.”[4].

Tháng 5 năm Nhâm Tý, tức năm Càn Long thứ 57 (1792), con trai chết, Chiêu Thống thất vọng và chán nản, lâm bệnh rồi qua đời ngày 16 tháng 10 (âm lịch) năm 1793 tại Yên Kinh. Nhà Thanh chôn ông theo nghi thức tước công. Năm 1802, sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng đế, mở đầu thời kỳ nhà Nguyễn, đã cho sứ giả sang thông hiếu và quy phục nhà Thanh. Nhân đó các bầy tôi nhà Hậu Lê dâng biểu xin trở về nước nhà. Năm 1804, vua Gia Khánh nhà Thanh cho phép đưa linh cữu vua Lê, thái hậu và con trai Chiêu Thống về nước. Tháng 11 cùng năm táng nhà vua ở lăng Bàn Thạch.

*

Nguyễn Du đã ở đâu trong những năm này? Những sử liệu dưới đây cho thấy các địa điểm ẩn hiện của ông trong những năm này Nguyễn Du đi lại giữa Thăng Long, Quảng Tây, Kinh Bắc, Hải Dương, Nghệ An nhưng đang là lúc “ngọa hổ tàng long” nên hành tung kín đáo, bí mật, rất ít lộ diện.

Lê Quý Kỷ Sự” của Nguyễn Thu có nói đến cuộc khởi nghĩa tại Tư Nông của cựu Trấn Thủ Thái Nguyên Nguyễn Đăng Tiến, tước Quản Vũ Hầu, bị tướng Tây Sơn bắt giải về cho Vũ Văn Nhậm. Nhậm trọng sự khí khái nên dụ hàng, sau đó cũng tha bổng và cho phép muốn đi đâu thì đi. Họ đi sang Vân Nam. Nguyễn Quýnh quay trở về Hồng Lĩnh khởi nghĩa bị bắt và bị giết năm 1791 lúc 30 tuổi, dinh thự và làng Tiên Điền bị đốt sạch.  Nguyễn Du đến Vân Nam, bị bệnh ba tháng mùa xuân. Khi hết bệnh, Nguyễn Du và Nguyễn Đăng Tiến đi Liễu Châu sau đó chia tay, Nguyễn Đại Lang về thăm quê nhà vùng Quế Lâm cao sơn lưu thủy. Nguyễn Du đi giang hồ ba năm ở Trung Quốc trong áo mũ nhà sư mang danh Chí Hiên, từ Quảng Tây theo thuyền đi dọc sông và hồ Động Đình đến Hán Khẩu, rồi theo sông Hán lên Trường An, rồi theo kinh Đại Vận Hà đến Hàng Châu. Nguyễn Du viết bài Dương Quý Phi, Bùi Tấn Công mộ, Phân Kinh thạch đài có lẽ trong dịp này .

Tại lời đề “tiểu dẫn” của “Thăng long cầm giả ca”, chính  Nguyễn Du đã nói rõ rằng những năm trước và sau cái Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ hai đến lúc Nguyễn Huệ chết, ông chủ yếu ở Thăng Long. “Lưu Hương ký” của Hồ Xuân Hương cũng trùng khớp lời xác nhận “ba năm vẹn” đó.

Trong “Thanh Hiên thi tập” nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Chánh đã phát hiện thấy “có những bài tả cảnh tuyết, núi non trùng điệp, lá vàng, trưởng giả ăn mặc còn theo nhà Hán (không theo nhà Thanh để tóc bính đuôi sam, áo quần Mãn Châu), dân chúng theo lịch nhà Tần, xử dụng nhạc cụ “tù và” ? … Nguyễn Du có những câu thơ kỳ lạ: Tôi đọc kinh Kim Cương nghìn lượt?. Muôn dậm mũ vàng chiều nắng xế? Giang Bắc, Giang Nam cái túi không? Nguyễn Du làm gì mà đọc kinh Kim Cương trong ba năm, đội mũ vàng nhà sư đi muôn dậm (khoảng 5000 km), làm gì không tiền mà đi hết các sông phía bắc đến sông phía nam Dương Tử Giang ? Nguyễn Du ở đâu mà cách Trường An ngàn dậm về phía Nam ?Theo Nguyễn Hành, cháu Nguyễn Du, có viết ông có một cuộc đời giang hồ như cuộc đời làm quan: Giang hồ long miếu hai điều đủ, Thi họa cầm thư bốn nghệ tinh. Theo gia phả từ năm 1786 đến 1796 Nguyễn Du về quê vợ tại Quỳnh Hải, Thái Bình hợp cùng Đoàn Nguyễn Tuấn khởi nghĩa chống Tây Sơn. Nhưng điều này không đúng vì từ năm 1788 Đoàn Nguyễn Tuấn ra làm quan Tây Sơn và đi sứ trong đoàn 158 người năm 1790. Đoàn Nguyễn Tuấn có hai bài thơ viết tặng một văn nhân họ Nguyễn, gặp tại Hoàng Châu, Trung Quốc vào mùa thu bàn luận về văn chương sôi nổi chuyện gì ?, Đoàn Nguyễn Tuấn phải lên Nhiệt Hà nơi vua Càn Long đang nghỉ mát ? Văn nhân họ Nguyễn đi xe song mã về Nam và hẹn gặp lại tại nước nhà vào mùa xuân. Trên đường đi cớ gì mà Đoàn lại viết một bài thơ Vô Đề về hồng nhan đa truân khi gặp một ca nhi hát cho sứ đoàn tại bến sông Hán?.”

Nguyễn Du dẫn vợ con về quê bà vợ cả ở Thái Bình sống qua ngày. Đó cũng là thời gian ông sáng tác tập Thanh Hiên tiền hậu tập, Nguyễn Hưng Quốc đã nhận định như vậy trong bài  “Tết đọc lại Nguyễn Du”. … “tổng số 65 bài của tập thơ, có 17 bài nhắc đến hình ảnh bạch phát hay bạch đầu: “Bạch đầu đa hận tuế thời thiên” (Đầu bạc thường bực vì ngày tháng trôi mau); hay “Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên” (Tráng sĩ đầu bạc bùi ngùi ngẩng lên trời) hay “Bạch phát hùng tâm không đốt ta” (Tóc bạc rồi, dù có hùng tâm, cũng chỉ biết ngồi suông than thở). Không biết ông bệnh gì, nhưng lúc nào cũng than bệnh: “Nhất nhất xuân hàn cựu bệnh đa” (Một nhà xuân lạnh, bệnh cũ lại nhiều); “Tam xuân tích bệnh bần vô dược” (Ba tháng xuân ốm liên miên, nghèo không có thuốc); “Cùng niên ngọa bệnh Tuế giang tân” (Suốt năm đau ốm nằm ở bến Tuế giang); “Đa bệnh đa sầu khí bất thư” (Lắm bệnh, hay buồn, tâm thần không được thư thái); “Thập niên túc tật vô nhân vấn” (Bệnh cũ mười năm, không ai thăm hỏi); “Giang hồ bệnh đáo kinh thời cửu” (Bệnh đến trong bước giang hồ đã lâu ngày). Đã bệnh lại còn nghèo. Phải ở nhờ nhà người khác: “Tiêu tiêu bạch phát ký nhân gia” (Đầu bạc bơ phờ ở nhờ nhà người). Hết nhờ người này sang nhờ người khác: “Lữ thực giang tân hựu hải tân” (Hết ăn nhờ ở miền sông lại đến miền biển). Lúc nào trong túi cũng rỗng không: “Giang nam giang bắc nhất nang không” (Một chiếc túi rỗng không, đi hết phía nam sông lại sang phía bắc sông). Thiếu mặc: “Tảo hàn dĩ giác vô y khổ” (Mới rét mà đã thấy khổ vì không áo). Có khi đói: “Táo đầu chung nhật vô yên hỏa” (Suốt ngày bếp không đỏ lửa). Ngay cả khi Nguyễn Du đã ra làm quan dưới triều Gia Long rồi, có năm vợ con vẫn đói: “Thập khẩu hài nhi thái sắc đồng” (Nhà mười miệng trẻ đói xanh như rau); “Thập khẩu đề cơ Hoành Lĩnh bắc” (Nhà mười miệng ăn đang kêu đói ở phía bắc Hoành sơn). Mười đứa trẻ ở đây chính là con của Nguyễn Du. (Gia phả ghi Nguyễn Du có 3 vợ: bà vợ đầu sinh một con trai tên Nguyễn Tứ; bà vợ thứ hai cũng sinh một con trai tên Nguyễn Ngũ; bà vợ thứ ba sinh mười con trai và sáu con gái; tổng cộng, như vậy, ông có 18 người con. Tuy nhiên, căn cứ vào tên người con đầu, Nguyễn Tứ, chúng ta có thể đoán là ông có ba người con khác, anh hay chị của Nguyễn Tứ, có lẽ đã chết lúc còn nhỏ hoặc ngay trong bào thai.) Đói đến độ có lúc phải xin ăn: “Cơ hàn bất giác thụ nhân liên” (Đâu ngờ phải đói rét để cho người thương). Nhưng buồn nhất có lẽ là cảm giác bất lực và bế tắc…”

(xem tiếp…)

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG


Chúc mừng Năm mới 2016 vui khỏe hạnh phúc

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube
Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Advertisements

88 thoughts on “Chào ngày mới 3 tháng 2

  1. Pingback: Hà Văn Lâu thung dung đời thường | Tình yêu cuộc sống

  2. Pingback: Chào ngày mới 25 tháng 2 | Tình yêu cuộc sống

  3. Pingback: Truyện George Washington | Tình yêu cuộc sống

  4. Pingback: Chào ngày mới 26 tháng 2 | Tình yêu cuộc sống

  5. Pingback: Ngày mới yêu thương | Tình yêu cuộc sống

  6. Pingback: Đọc lại và suy ngẫm | Tình yêu cuộc sống

  7. Pingback: Đến với bài thơ hay | Khát khao xanh

  8. Pingback: Chào ngày mới 27 tháng 2 | Tình yêu cuộc sống

  9. Pingback: Biển Đông vạn dặm | Tình yêu cuộc sống

  10. Pingback: Đối thoại triết học | Tình yêu cuộc sống

  11. Pingback: Chào ngày mới 28 tháng 2 | Tình yêu cuộc sống

  12. Pingback: Trịnh Công Sơn tình yêu cuộc sống | Tình yêu cuộc sống

  13. Pingback: Chào ngày mới 29 tháng 2 | Tình yêu cuộc sống

  14. Pingback: Đến với bài thơ hay | Tình yêu cuộc sống

  15. Pingback: Nha Trang và Yersin | Tình yêu cuộc sống

  16. Pingback: Chào ngày mới 1 tháng 3 | Tình yêu cuộc sống

  17. Pingback: Vườn Quốc gia ở Việt Nam | Tình yêu cuộc sống

  18. Pingback: Chào ngày mới 2 tháng 3 | Tình yêu cuộc sống

  19. Pingback: Truyện Norodom Sihanouk | Tình yêu cuộc sống

  20. Pingback: Chào ngày mới 3 tháng 3 | Tình yêu cuộc sống

  21. Pingback: Dạo chơi non nước Việt | Tình yêu cuộc sống

  22. Pingback: Chào ngày mới 4 tháng 3 | Tình yêu cuộc sống

  23. Pingback: Trí tuệ bậc Thầy | Tình yêu cuộc sống

  24. Pingback: Chào ngày mới 5 tháng 3 | Tình yêu cuộc sống

  25. Pingback: Truyện Joshep Stalin | Tình yêu cuộc sống

  26. Pingback: Chào ngày mới 6 tháng 3 | Tình yêu cuộc sống

  27. Pingback: Đêm trắng và Bình minh | Tình yêu cuộc sống

  28. Pingback: Chào ngày mới 7 tháng 3 | Tình yêu cuộc sống

  29. Pingback: Jackson bài ca sống mãi | Tình yêu cuộc sống

  30. Pingback: Jackson bài ca sống mãi | Tình yêu cuộc sống

  31. Pingback: Tổ Quốc nhìn từ những kiệt tác | Tình yêu cuộc sống

  32. Pingback: Chào ngày mới 8 tháng 3 | Tình yêu cuộc sống

  33. Pingback: Lên đỉnh Mã Phì Lèng | Tình yêu cuộc sống

  34. Pingback: Bên suối một nhành mai | Tình yêu cuộc sống

  35. Pingback: Chào ngày mới 9 tháng 3 | Tình yêu cuộc sống

  36. Pingback: Nhành mai trong thơ Bác | Tình yêu cuộc sống

  37. Pingback: Tiếng tri âm | Tình yêu cuộc sống

  38. Pingback: Nhớ Lão Khoa tìm ra rượu núi | Khát khao xanh

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s