Nguyễn Du với Hồ Xuân Hương


NguyenDuHoXuanHuong

NGUYỄN DU XUÂN HƯƠNG LUẬN ANH HÙNG

Hoàng Kim

Chút riêng chọn đá thử vàng. Biết đâu mà gửi can tràng vào đâu? Còn như vào trước ra sau. Ai cho kén chọn vàng thau tại mình? Từ rằng: Lời nói hữu tình. Khiến người lại nhớ câu Bình Nguyên Quân. Lại đây xem lại cho gần. Phỏng tin được một vài phần hay không? Thưa rằng: Lượng cả bao dong. Tấn Dương được thấy mây rồng có phen …”.

Truyện Thúy Kiều soi thấu những góc khuất của Lưu Hương Ký và ngược lại. Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương phần một chúng tôi đã viết “Hồ Xuân Hương tỏ ý Nguyễn Du” “Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ” để mở đầu cho chuyên luận này, và đã  biên khảo phần ba là Nguyễn Du Xuân Hương luận anh hùng tiếp phần hai Lưu Hương Ký và Truyện Thúy Kiều

Xuân Hương Nguyễn Du luận thời thế là ẩn ngữ đời người thể hiện trong Truyện Kiều và Lưu Hương ký. Mối tình Nguyễn Du với Hồ Xuân Hương sâu nặng tình nghĩa tri âm tri kỷ đã được thể hiện rõ trong phần một Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương.

Nguyễn Du làm gì trong ba năm 1790 – 1793? Tôi đồng tình với tư liệu của Phạm Trọng Chánh đăng tại Văn Hóa Nghệ An ngày 9 tháng 11 năm 2013 với tựa đề “Đọc sách Nguyễn Du trên đường gió bụi của Hoàng Khôi” : Năm 1790 Nguyễn Du cư ngụ tại chùa Hổ Pháo bên Tây Hồ, tại Hàng Châu, nơi Từ Hải tức Minh Sơn Hoà thượng từng tu hành, trước khi đi giang hồ thành cướp biển. Tại đây Nguyễn Du có được bản Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Gặp lại Nguyễn Đại Lang tại miếu Nhạc Phi cũng bên cạnh Tây Hồ, nơi đây Nguyễn Du viết 5 bài thơ, một bài Nhạc Phi, hai bài Tần Cối và hai bài Vương Thị, sau đó hai người đi Yên Kinh gặp vua Lê Chiêu Thống, trở về Hoàng Châu thì gặp Đoàn Nguyễn Tuấn sứ đoàn Tây Sơn tại một lữ quán, gặp bạn văn chương, Nguyễn Du bàn chuyện sôi nổi về Hồng nhan đa truân. Đoàn Nguyễn Tuấn viết hai bài thơ tặng văn nhân họ Nguyễn. Nguyễn Du về Long Châu và trở về Thăng Long. Ba năm 1791-1793. Nguyễn Du về ở với anh Nguyễn Nể, đang làm quan Tây Sơn tại Bắc Thành giữ chức Hàn Lâm thị thư, sung chức Phó sứ tuế công, năm 1791 Nguyễn Nễ đi sứ về, đã xây dựng lại một phần dinh thự Bích Câu, tại đây Nguyễn Du nghe cô Cầm, người nhạc nữ cũ cung vua Lê đánh đàn. Nhưng Nguyễn Du thường làm “Nam Hải điếu đồ” như Lã Vọng xưa. Nguyễn Du câu cá tại ao vườn của anh Nguyễn Khản cạnh đền Khán Xuân.  Nguyễn Du cùng Xuân Hương Hồ Phi Mai chính nơi đây đã bàn luận thời thế và sâu nặng mối tình “trai anh hùng, gái thuyền quyên. Phỉ nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng”.

Trong ba năm 1789-1792 Việt Nam có các sự kiện chính : Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh, Nguyễn Huệ được phong làm quốc vương, Lê Chiêu Thống thua trận tây Nghệ An, Trấn Ninh Lào và Tuyên Quang, bị mưu kế ngoại giao của nhà Tây Sơn với vua Càn Long nên chết thảm, Nguyễn Ánh lợi dụng tình hình Bắc Hà rối loạn nên đã chiếm trọn đất phương Nam. Nguyễn Du câu cá tại ao vườn của anh là Nguyễn Khản cạnh đền Khán Xuân, cùng Xuân Hương luận anh hùng. Nguyễn Du không chịu theo phò nhà Tây Sơn mà cam lòng ẩn nhẫn đợi thời.  Nguyễn Huệ bị chết đột ngột.  Nguyễn Du tiếp tục  mười lăm năm lưu lạc.

Đánh giá tầm vóc của những nhân vật lịch sử như Nguyễn Du, Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh, Lê Chiêu Thống, vua Càn Long, Phúc Khang An, Trịnh Sâm, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Hữu Chỉnh, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Văn Thành, … Hồ Xuân Hương chỉ ngợi khen minh triết, trí tuệ, khí phách, đảm lược của Nguyễn Du là anh hùng. Vì sao vậy.

Xuân Hương đối với Nguyễn Du là rất mực kính trọng, tri âm tri kỷ, một người tình nhân, người vợ “hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh” “sắc sảo mặn mà” nhưng đối với những kẻ tính tình hung bạo, thủ đoạn, thiếu nhân tính thì dẫu là “kinh luân gồm tài” Xuân Hương cũng phản kháng quyết liệt không thương tiếc, tìm ra những điểm yếu “chết người” để vạch trần cái ác, cái xấu, như câu “chúa dấu vua yêu một cái này

Hồ Xuân Hương thương Nguyễn Du long đong chìm nổi bị người đời và lịch sử thị phi vì “bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn” làm một tôi trung của nhà Lê, cam chịu cảnh mười lăm năm lưu lạc, chỉ hé lộ với Bắc Hành tạp lục và Truyện Kiều chứa một trời tâm sự để trao lại ngọc cho đời. Nguyễn Du thương Hồ Xuân Hương đọa đày tủi nhục không được chung sống với người minh yêu “Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung” phải trãi qua ba đời chồng, cam chịu lẽ mọn, chỉ tỏa sáng bia miệng giai thoại và Lưu Hương Ký. Hồ Xuân Hương khen Nguyễn Du là anh hùng “Tấn Dương được thấy mây rồng có phen” khen Tấn Văn Công bôn ba, khí phách của người quân tử chịu hoạn nạn. Nguyễn Du thương Hồ Xuân Hương “khen cho con mắt tinh đời. Anh hùng đoán giữa trần ai mới già” . Nguyễn Du đã dùng lời Thúy Kiều đánh giá “Từ Hải” và lời của Từ Hải thán phục Thúy Kiều, để thể hiện sự ý hợp tâm đầu của đôi nam nữ “trai anh hùng, gái thuyền quyên”.

*

Tôi lưu một ít trích dẫn dưới đây mà không chép thêm Nguyễn Du niên biểu của Năm Giáp Dần (1794). Nguyễn Du 30 tuổi. Năm Ất Mẹo (1795). Nguyễn Du 31 tuổi. Năm Bính Thìn (1796). Nguyễn Du 32 tuổi. Sau ba năm Nguyễn Du trầm tĩnh theo dõi đại cục vào Phú Xuân tìm cách giúp cho hai anh Nguyễn Nễ và Đoàn Nguyễn Tuấn thoát ra khỏi họa diệt tộc là dính líu quá sâu vào triều Tây Sơn, khi Nguyễn Du đã đọc nghìn lần kinh Kim Cương và đã nhìn thấy mối họa khó bề cứu vãn của một triều đại.

Ba năm vẹn” trong Lưu Hương ký của Hồ Xuân Hương nhớ Nguyễn Du là những năm này. Nguyễn Du không chịu ra phò tá triều đại Tây Sơn nhưng cũng không chịu vào Nam theo Nguyễn Ánh như Đặng Trần Thường. Điều đó là có lý do riêng, kín đáo, sâu sắc, khó nhận thấy. Người đời sau chỉ mới nhìn thấy ông dốc lòng cùng người thân trong họ Nguyễn Tiên Điền lập đền thờ cho những nghĩa sĩ “Cố Lê tiết nghĩa thần” (các bầy tôi tiết nghĩa đời Lê). Câu chuyện về Nguyễn còn dài. Trước đèn chỉ mới đang dần sáng tỏ “Hồ Xuân Hương thực là ai?” và  “Nguyễn Du Hồ Xuân Hương luận anh hùng

Ghi chú quan trọng:

BandoVietnam1760

Hình thế nước Đại Việt đàng Trong và đàng Ngoài năm 1760 (vẽ bởi công ty Cóvens e Mortier, Amsterdam) với bài viết  Nguyễn Du đêm thiêng đọc lại giúp chúng ta một góc nhìn toàn cảnh về thời thế và niên biểu Nguyễn Du từ năm 1766 đến 1789. Đại cục  thời điểm trước xuân Kỷ Dậu 1789 được tóm lược như sau:

đằng Trong, nhân lúc Bắc Hà biến loạn, vua Lê trốn vào rừng và phát chiếu cần vương, quân Thanh có thể can thiệp bất cứ lúc nào, Nguyễn Huệ phải lo đối phó từ hai phía. Ngày Đinh Dậu tháng 8 năm Mậu Thân (9.1788) Nguyễn Ánh công phá và bình định Sài Gòn – Gia Định, Đông Định Vương Nguyễn Lữ đã phải rút chạy về Quy Nhơn, Phạm Văn Tham tướng Nguyễn Nhạc lui về giữ những điểm trọng yếu ở Ba Thắc và Biên Hòa, đồng thời cấp báo về  Quy Nhơn xin viện binh. Nguyễn Nhạc không dám phát binh vì sợ Nguyễn Ánh thừa cơ mang thủy quân ra đột kích miền Trung. Nguyễn Vương nhân cơ hội này đã đánh rộng ra chiếm trọn Nam Bộ.

đằng Ngoài, vua Lê Chiêu Thống trốn chạy vào rừng ở Yên Thế Thái Nguyên Tuyên Quang chống lại Tây Sơn. Tướng Vũ Văn Nhậm và sau này là Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ không bắt được Lê Chiêu Thống nên đã lập chú vua là Lê Duy Cận làm Giám Quốc. Mẹ vua Lê Chiêu Thống đã cầu xin nhà Thanh viện binh giúp vua Lê phục quốc. vua Càn Long lợi dụng tình hình cho Tôn Sĩ Nghị, Ô Đại Kinh, Sầm Nghi Đống ba cánh quân của Lưỡng Quảng, Quý Châu – Vân Nam, Điền Châu chia đường sang cứu viện và nhân tiện cướp Đại Việt. Quân Thanh vào đến Thăng Long đã theo kế Càn Long lập Lê Chiêu Thống lên làm An Nam quốc vương để chống lại nhà Tây Sơn. Nguyễn Huệ tại Phú Xuân nhận được tin cấp báo đã lên ngôi Hoàng Đế để chính danh phận và lập tức kéo quân ra Bắc. Nhà Nguyễn Tiên Điền và những cựu thần nhà Lê trừ số theo vua bôn tẩu ra ngoài đều không được vua Lê tin dùng vì Nguyễn Khải anh Nguyễn Du vốn và thầy chúa Trịnh có thù sâu nặng với vua Lê. Nguyễn Huệ dụng binh như thần và khéo chia rẽ, mua chuộc nên nhiều cựu thần nhà Lê như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích và kể cả danh sĩ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp , anh trai Nguyễn Du là Nguyễn Nễ và và anh vợ Đoàn Nguyễn Tuấn đều lần lượt ra làm quan với nhà Tây Sơn, riêng Nguyễn Du thì không ra. Năm Kỷ Dậu (1789) Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh. Sầm Nghi Đống tự sát ở gò Đống Đa, Tôn Sĩ Nghị tháo chạy về Bắc, cánh quân của Ô Đại Kinh rút chạy,  Đồn Ngọc Hồi  với toàn bộ quân Thanh và danh tướng  Hứa Thế Hanh giữ đồn này đều bị diệt. Vua Quang Trung chiều ngày 5 Tết đã khải hoàn ở kinh thành Thăng Long. Các anh của Nguyễn Du ra làm  quan với nhà Tây Sơn. Phủ đệ của họ Nguyễn Tiên Điền bên hồ Tây được sửa lại. Nguyễn Du có ba năm vẹn sống cùng Hồ Phi Mai 1789-1992 ở đây để trầm tĩnh nhìn thời thế biến chuyển. Câu chuyện luận thời thế và anh hùng của họ cùng với những ẩn ngữ Lưu Hương ký và Từ Hải, Thúy Kiều chính là trong thời điểm này.

Trước khi tìm hiểu Hồ Xuân Hương thực là ai? Nguyễn Du Hồ Xuân Hương luận anh hùng, mời bạn duyệt lại đại cục “ba năm vẹn” 1789-1792 trong con lốc của các sự biến.

Nguyễn Du niên biểu 1789-1792

Nguyễn Huệ ngay sau chiến thắng Kỷ Dậu 1789, đã cho ngựa chiến ruổi nhanh vào kinh thành Phú Xuân báo tiệp cho Hoàng Hậu Lê Thị Ngọc Hân:

Đại phá quân Thanh gò chất xác
Đào ươm nghìn nụ hé môi say
Nhớ người tiễn rượu đêm ra trận
Tin đẹp lồng hoa gửi tặng đây

Kế đó, ông phái quân truy sát đuổi dài lực lượng chống đối, thực hiện các phương lược ngoại giao với nhà Thanh để được phong làm quốc vương, chính danh phận ở Bắc Hà, xây dựng thiết chế cai trị ổn định cho nhà Tây Sơn, sau đó trao lại binh quyền cho Ngô Văn SởNgô Thì Nhậm để trở lại Phú Xuân lo việc diệt Nguyễn Ánh.

Vua Quang Trung khi truy kích quân Thanh  đã bắt được chiếu thư Càn Long gửi Tôn Sĩ Nghị có đoạn viết: “…việc quân nên từ đồ, không nên hấp tấp. Hãy nên đưa hịch truyền thanh thế đi trước, và cho các quan nhà Lê về nước cũ hợp nghĩa binh, tìm Tự quân nhà Lê đem ra đứng đầu để đối địch với Nguyễn Huệ thử xem sự thể thế nào. Nếu lòng người nước Nam còn nhớ nhà Lê, có quân ta kéo đến ai chẳng gắng sức. Nguyễn Huệ tất phải tháo lui. Ta nhân dịp ấy mà sai Tự quân đuổi theo rồi đại binh của ta theo sau, như thế không khó nhọc mấy mà nên được công to. Đó là mẹo hay hơn cả. Ví bằng suốt người trong nước nửa theo đằng nọ, nửa theo đằng kia, thì Nguyễn Huệ tất không chịu lui. Vậy ta hãy đưa thư sang bảo đường họa phúc, xem nó đối đáp làm sao. Đợi khi nào thủy quân ở Mân (Phúc Kiến), Quảng đi đường bể sang Thuận HóaQuảng Nam rồi, bộ binh sẽ tiến lên sau. Nguyễn Huệ trước sau thụ địch thế tất phải chịu. Bấy giờ ta sẽ nhân mà làm ơn cho cả hai bên: Tự đất Thuận Hóa, Quảng Nam trở vào Nam thì cho Nguyễn Huệ; tự châu Hoan, châu Ái trở ra Bắc thì phong cho Tự quân nhà Lê. Ta đóng đại binh lại để kiềm chế cả hai bên, rồi sẽ có xử trí về sau.”

Quang Trung từ trước khi giao chiến, đã tính trước kế sách ngoại giao với nhà Thanh.  Lúc Tôn Sĩ Nghị rêu rao “Ai bắt sống được Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đem nộp sẽ được công đầu” lúc sắp kéo quân sang Đại Việt, thì Ngô Văn Sở tướng Tây Sơn đã sai Nguyễn Nha  đưa thư ký tên Sùng nhượng công Lê Duy Cẩn đến Tôn Sĩ Nghị xin hoãn binh, với những lời lẽ thật mềm dẻo, nhưng lại có những cảnh báo cho quân Thanh thấy rằng nếu đem quân vào, nhân dân Đại Việt đã thực hiện vườn không nhà trống; quân đội thì sẵn sàng và kiên quyết đánh giặc, được thể hiện ở những câu sau: “…Hiện nay, trong nước tôi đột nhiên nghe tin quân Thiên triều sắp qua cửa ải…Lính thì sợ vướng víu vào nghịch án, nên họ bảo nhau rằng: “Không đánh lại thì bị giết sạch!” Dân thì sợ không lấy gì cung ứng cho quân lương, nên họ bảo nhau rằng: “Không trốn tránh thì bị chết hết!” Vì thế, quân các đạo đều tranh nhau đến nơi đồn lũy, dân các xứ đều xô nhau tìm vào nơi núi rừng…” Nhưng Tôn Sĩ Nghị, bác bỏ thư của Ngô Văn Sở, rồi cứ cho quân vượt trấn Nam Quan vào Đại Việt.

Tôn Sĩ Nghị lúc đã vào thành Thăng Long thì vua Quang Trung lại sai Trần Danh Bính dẫn đầu một sứ bộ gồm 18 người đến Thăng Long đưa cho Tôn Sĩ Nghị ba đạo bẩm văn: Một đạo nhân danh giám quốc Lê Duy Cẩn, một đạo nhân danh quần thần văn võ, một đạo nhân danh nhân dân xin Tôn Sĩ Nghị đóng quân ở trấn Nam Quan để tra xét nội tình nhà Lê và Tây Sơn từ trước đến giờ. Vua Quang Trung còn đem nộp cho Tôn Sĩ Nghị những tuần dương binh là nhóm Hắc Thiên Tôn gồm 40 người do Ngô Hồng Chấn, tướng Tây Sơn, bắt được từ trước.[10] Nhưng Tôn Sĩ Nghị xem bẩm văn liền xé phăng ngay đi, rồi sai đem bọn Trần Danh Bính ra giết. Sau đó, Tôn Sĩ Nghị cho truyền hịch đi các nơi kể tội quân Tây Sơn, báo cho mọi người biết, quân Thanh sẽ đánh thẳng vào Quảng Nam bắt sống “bọn Nguyễn Huệ” mới thôi.[11][12]

Vua Càn Long sau thất bại nặng nề của nhà Thanh trong chiến tranh với Tây Sơn đã sai danh tướng Phúc Khang An thay thế Tôn Sĩ Nghị làm Tổng đốc Lưỡng Quảng được giao quyền tùy cơ hành xử và điều động thêm 50 vạn quân để ứng chiến vùng biên giới nhằm hư trương thanh thế. Phúc Khang An nguyên là đặc sứ phụ trách hậu cần cho đội quân của Tôn Sĩ Nghị là người mà vua Càn Long đặc biệt yêu quý và tin cẩn, dân gian cho rằng đó là con ngoài giá thú của vua với em gái của Hoàng Hậu.

Năm 1789, kho vàng tại tu viện Mật Tông ở Tây Tạng đang là điểm quan tâm lớn nhất của vua Càn Long đang bị quân Khuếch Nhĩ Khách Mông Cổ dòm ngó chuẩn bị tấn công. Vua Càn Long đã 78 tuổi có tính toán riêng về người kế vị là Hoàng tử Gia Khánh và phúc tướng Phúc Khang An nên việc cơ mật này không thể ai khác chính phải là Phúc Kháng An đảm nhiệm. Lưỡng Quảng và Đại Việt cũng cần sớm an định vì điểm nóng Cam Túc đang làm vua Thanh rất lo nghĩ, trong khi Nguyễn Huệ anh dũng thiện chiến không thể xem thường nên vua Càn Long lựa ý vỗ về hơn là đem binh thảo phạt.

Phúc Khang An và Thang Hùng Nghiệp sớm biết tình thế nên đã đón ý hoặc phân vai mật trao đổi với Tây Sơn. Nguyễn Huệ thấy rõ chỗ yếu của quân Thanh và biết họ đang tìm cách để giảng hòa, trong khi ông cũng đang bận tâm xử lý phía Nam. Do vậy sau khi Nguyễn Huệ thắng trận đã sai mang nhiều vàng bạc hối lộ Phúc Khang An và Tả giang Binh bị đạo Thang Hùng Nghiệp để nghị hòa và cho cháu là Nguyễn Quang Hiển lên cửa ải Nam Quan cầu phong và xin cho Nguyễn Huệ được về Bắc Kinh triều kiến Càn Long. Mưu mẹo này thông đồng giữa hai bên với sự thách giá trả giá bên trong và cách qua mặt vua Lê Chiêu Thống cùng số cựu thần nhà Lê và hợp lý hóa trong chính sử xin xem kỹ bài viết “Ngoại giao Việt Nam thời Tây Sơn” là tư liệu quý.

Lê Chiêu Thống lại tiếp tục xin nhà Thanh cho quân cứu viện. Nhà Thanh, phần sợ Quang Trung, phần đã ngán ngẩm việc chinh chiến, chỉ hứa hão với Chiêu Thống mà không cho quân. Thân vương nhà Thanh là Phúc Khang An hứa giúp quân cho Chiêu Thống, nhưng lại tâu với vua Thanh Càn Long rằng Chiêu Thống không còn muốn trở về. Phúc Khang An đã được hưởng lợi từ Tây Sơn và nhận rõ tình thế, nên đã dâng biểu xin hoàng đế Càn Long bãi binh, đồng thời ông cũng chỉ thị cho Thang Hùng Nghiệp gửi mật thư cho Quang Trung gợi ý nên hoà hiếu, tránh binh đao và lập các mẹo mực bang giao để giữ thể diện cho vua Càn Long mà tránh được chiến tranh.

Thư ngoại giao “Trần tình biểu” của vua Quang Trung lúc đầu khá cứng rắn nhưng với sự mưu kế của Thang Hùng Nghiệp nên đã nhẹ đi rất nhiều (5). Tây Sơn theo phương lược vạch sẵn, với tài ngoại giao khéo léo của Ngô Thì Nhậm, đã nhanh chóng bình thường hóa bang giao với phương Bắc.

Nhà Thanh đồng ý hủy bỏ việc động binh để trả thù, và tiếp nhận sứ thần của Tây Sơn. Vua Quang Trung phải dâng biểu “Nộp lòng thành”, nộp cống phẩm. Nhà Thanh đã chịu chấm dứt chiến tranh, nhưng vẫn chưa chịu thừa nhận Nguyễn Huệ làm An Nam quốc vương. Phúc Khang An viết cho vua Quang Trung một bức thư dài báo cho vua Quang Trung biết là vua Càn Long đã ban cho Quang Trung một chuỗi hạt trai, “Ơn trời cao đất dày đến thế là tốt lắm” lại báo cho vua Quang Trung biết rằng: bọn Lê Duy Kỳ đã bị róc tóc, mặc quần áo kiểu người Thanh, đã bị đưa đi an trí ở “ngoại biên” “quyết không cho về nước nữa”. Rồi sau đó Phúc Khang An đòi Tây Sơn phải làm miếu thờ Hứa Thế Hanh, Sầm Nghi Đống. Lại cho biết là khoảng tháng bảy, tháng tám năm Canh Tuất (1790) nhà Thanh sẽ làm lễ bát tuần vạn thọ vua Càn Long “Có hàng vạn nước vượt biển trèo non đem ngọc xe lễ vật đến chầu“. Phúc Khang An yêu cầu vua Quang Trung đến ngày đó cũng phải “chỉnh trang” sang chầu, và như thế phải khởi hành vào tháng tư năm Canh Tuất (1790) Đáng chú ý là sau đó, vua Càn Long xuống chỉ cho vua Quang Trung đại ý nói: do quân Thanh vượt biên giới đến Thăng Long, Nguyễn Huệ phải đem quân ra để hỏi Lê Duy Kỳ vì cớ gì cầu cứu thiên binh; vì bị quân Thanh đánh, quân Tây Sơn bất đắc dĩ phải đánh lại; gặp lúc cầu phao đứt, nên quân Thanh bị chết hại nhiều. Trong tờ chỉ Càn Long còn nhận rằng Nguyễn Huệ đã bắt và giết hết những người đã giết Hứa Thế Hanh và Sầm Nghi Đống. Ông còn cho rằng khi quân Thanh vào Thăng Long, ông đã ra lệnh cho Tôn Sĩ Nghị rút quân về nước, vì Sĩ Nghị không tuân lệnh, cho nên có trận đại bại vào đầu năm Kỷ Dậu. Ông lại đòi lập đền thờ Hứa Thế Hanh và Sầm Nghi Đống, và đòi vua Quang Trung phải đích thân sang Yên Kinh triều cận vào dịp Càn Long làm lễ bát tuần vạn thọ năm Canh Tuất. Ông lại nhắc rằng “Lê Duy Kỳ hèn lười, không tài, bỏ ấn trốn đi, chiểu theo pháp luật của Thiên triều phải tội nặng; rằng ông quyết an trí bọn chúng ở Quế Lâm, không bao giờ cho về nước nữa; rằng ông đã ra lệnh cho Phúc Khang An đưa phái đoàn Nguyễn Quang Hiển đến xem chỗ bọn Lê Duy Kỳ ở”.[17][18] Nhưng rồi vua Quang Trung viện cớ là mình chưa được phong vương, sợ có điều bất tiện khi gặp các vị quốc vương các nước ở Yên Kinh. Thế là Càn Long đành phải phong cho Nguyễn Huệ làm An Nam quốc vương để có điều kiện đến Yên Kinh triều cận một cách đàng hoàng.  Vua Càn Long qua Phúc Khang An lại ra điều kiện đòi triều Tây Sơn phải đúc người vàng đem cống như các triều đại trước. Ngô Thì Nhậm đã viết cho Phúc Khang An bức thư, trong đó có đoạn: “Quốc trưởng nước tôi vùng lên từ thủa áo vải, nhân thời biết việc, đối với vua Lê vốn không có danh phận vua tôi. Mất hay còn là do số trời; theo hay bỏ là do lòng người. Quốc trưởng tôi có ý cướp ngôi của nhà Lê đâu mà lại coi như kẻ thoán đoạt. Trước đây Tôn bộ đường đem quân đến, quốc trưởng nước tôi bất đắc dĩ phải đem quân ra ứng chiến, không hề có ý xâm phạm biên cảnh để mang tội. Nay đại nhân theo lệ cũ của Trần, Lê, Mạc bắt cống người vàng, như vậy chẳng hóa ra quốc trưởng nước tôi được nước một cách quang minh chính đại mà lại bị coi như hạng ngụy Mạc hay sao? Như thế thì tấm lòng kính thuận sợ trời thờ nước lớn cũng bị coi như việc nhà Trần bắt Ô Mã Nhi, nhà Lê giết Liễu Thăng hay sao?…Mong đại nhân noi theo mệnh lớn, miễn cho nước tôi lệ đúc người vàng để tiến cống…” Nguyễn Huệ trong thư này đã nói rõ rằng các vua Việt Nam thời trước sở dĩ phải cống người vàng là để chuộc một tội lỗi nào đó đối với Thiên triều còn Nguyễn Huệ tự coi không có tội gì với nhà Lê và cũng không có tội gì với nhà Thanh nên Tây Sơn không thể đúc người vàng để tiến cống.

Tháng 7 năm 1789, Càn Long ra chỉ dụ phong Nguyễn Huệ làm An Nam quốc vương.

Năm Canh Tuất (1790). Nguyễn Du 25 tuổi. Tháng 1 năm 1790, Hoàng đế Quang Trung giả (do Phạm Công Trị, cháu gọi Nguyễn Huệ bằng cậu đóng) đã sang triều kiến và dự lễ mừng thọ 80 tuổi của vua Càn Long. Đoàn sứ bộ Tây Sơn gồm 159 người có giả vương Nguyễn Huệ và Nguyễn Quang Thùy (mà vua Càn Long tưởng là hoàng thái tử của Nguyễn Huệ). Mục đích khác của đoàn sứ là thăm dò thái độ của nhà Thanh đối với vị vua lưu vong Chiêu Thống của nhà Lê. Đại quan nhà Thanh là Phúc Khang An, từng sang chiến trường Đại Việt, đứng sau lưng đoàn sứ bộ, nên nhiều tướng lĩnh nhà Thanh biết người cầm đầu sứ bộ không phải Nguyễn Huệ, nhưng ngại gây hấn nên không nói ra.

Sứ thần Tây Sơn đi đợt đó có Ngô Văn SởPhan Huy Ích (thượng thư, nhà ngoại giao, quê Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh,  tiền bối của nhà sử học Phan Huy Lê, giáo sư nhà giáo nhân dân, là một trong những chuyên gia hàng đầu về lịch sử Việt Nam hiện đại, người có ảnh hưởng lớn đến chính sử hiện tại trong sự đánh giá nhà Nguyễn và nhà Tây Sơn), Vũ Huy Tấn ( Thị lang bộ Công, tước , sau khi đi sứ về ông được phong làm Thượng thư bộ Công, tước Hạo Trạch hầu. Dưới triều Cảnh Thịnh, ông được đặc cách lên hàng Thượng trụ quốc, Thị trung đãi chiếu Thượng thư). Sứ đoàn Tây Sơn lần đó cũng có Nguyễn Nể là anh cùng cha khác mẹ với Nguyễn Du và  Đoàn Nguyễn Tuấn là anh vợ Nguyễn Du. Dọc đường đi, đoàn sứ giả có gặp hành tung của một số người họ Nguyễn ở Quảng Tây và sau đó cùng đi lên Yên Kinh. Người đời sau ngờ rằng đó chính là Nguyễn Du và Hà Mỗ.

Đoàn sứ thần Tây Sơn có giả vương Nguyễn Huệ làm thế nào để che mắt sứ đoàn vua Lê Chiêu Thống hiển nhiên có mặt ?. Phúc Khang An đã ngầm thông đồng mưu kế với Tây Sơn: “Tìm một người diện mạo giống quốc vương đi thay. Việc này chỉ có Công gia, Thang đại nhân, Vương đại nhân và ta là bốn người biết mà thôi. Nếu sợ Lê Duy Kỳ biết, ta bẩm ngay với Công gia đem 1000 người bọn ấy giữ kỹ không cho ra ngoài, còn ai biết được nữa”. (theo Bang giao tập, ngoại giao nhà Tây Sơn).

Mưu lược ngoại giao của nhà Tây Sơn mua chuộc Phúc Khang An và Thang Hùng Nghiệp qua các chứng cứ của Phan Huy Ích và Bang giao tập, với tình thế nhà Thanh đang rất chú tâm đến Tây Tạng, Cam Túc và chuyển giao ngai vàng. Phúc Khang An cần nhanh chóng lập được đại công quản lý Lưỡng Quảng và vỗ yên Đại Việt để tính toán vị thế đối trọng danh chính ngôn thuận với ngôi vua mà vua Càn Long cần phải chuyển giao cho Gia Khánh đang đến rất gần. Điều này đã ảnh hưởng sâu sắc tới kế sách, thái độ của vua Càn Long và Phúc Khang An đối với Lê Duy Kỳ.Vua Càn Long đã đón tiếp trọng thể đoàn sứ bộ An Nam của nhà Tây Sơn là có lý do ẩn ý riêng. Theo “Đại Thanh thực lục”, nhà Thanh chi phí cho sứ đoàn mỗi ngày hết 4.000 lạng bạc (tổng cộng lên đến 800.000 tính cho tới khi sứ đoàn về).[55] Ngày 11 tháng 7 năm Canh Tuất, vua Càn Long tiếp “vua” Tây Sơn ở hàng cung Nhiệt Hà, Càn Long tặng “Vua” Tây Sơn một bài thơ như sau:

Nguyên văn chữ Hán:

瀛藩入祝值時巡
初見渾如舊識親
伊古未聞來像國
勝朝往事鄙金人
九經柔遠只重澤
嘉會於今勉體仁
武偃文修順天道
大清祚永萬千春
Phiên âm Hán Việt:

Doanh phiên nhập chúc trị thì tuần
Sơ kiến hồn như cựu thức thân
Y cổ vị văn lai Tượng quốc
Thắng triều vãng sự bỉ kim nhân
Cửu kinh nhu viễn chi trùng dịch
Gia hội ư kim miễn thể nhân
Vũ yển văn tu thuận thiên đạo
Đại Thanh tộ vĩnh vạn thiên xuân.

Tạm dịch là:

Nước phiên đến lúc ta đi tuần
Mới gặp mà như đã rất thân
Nước Tượng chưa từng nghe triều cận
Việc cống người vàng thật đáng khinh
Nhà Thanh coi trọng việc đi sứ
Chín đạo thường có đạo vỗ yên
Xếp võ tu văn thuận thiên đạo
Đại Thanh còn mãi vạn ngàn xuân.[56]

Tới tháng 11 năm 1790, đoàn sứ bộ nhà Tây Sơn trở về Thăng Long. Trên đường về đoàn vẫn được tiếp đón long trọng hệt như lúc đi. Phan Huy Ích có ghi lại trong Tinh sà kỷ hành của ông như sau: Chuyến đi này được nhà vua (Càn Long) đặc cách cho quan Tổng đốc đi bạn tống. Thuyền, xe, cờ, quạt quáng cả mắt người ta. Đi đến đâu quan lại phải bôn tẩu đón tiếp đến đó. Mùa thu đến hành cung ở Nhiệt Hà, lại được theo xa giá về Yên Kinh, đi Tây Uyển. Luôn luôn tiến yến hàng tuần, được ơn trời âu yếm, ưu đãi khác thường. Từ trước đến giờ, người mình đi sứ Trung Quốc chưa có lần nào lạ lùng và vẻ vang như thế.

Sách Bang giao tập viết: “Đại Hoàng đế sợ Duy Kỳ ở Quảng Tây còn có nhiều bầy tôi cũ gây ra việc, cho nên ngày 16 tháng giêng năm Canh Tuất đã cho đem gia quyến Lê Duy Kỳ lên Yên Kinh, đem 116 người tùy tùng đi an trí ở các tỉnh Triết Giang, Giang Nam, Tứ Xuyên, Hồ Quảng. Lê Quýnh bị đưa đi Ỷ Lệ cách Yên Kinh 40000 dặm”. Nhà Thanh sai phân tán các quan lại cũ của nhà Lê đi các nơi để tách biệt không liên lạc được với nhau và cô lập Lê Duy Kỳ.  Bản thân Lê Duy Kỳ bị giam lỏng ở “Tây An Nam dinh” tại Yên Kinh . Nhà Tây Sơn chính thức nhận được sự công nhận của nhà Thanh.

Lê Quý Kỳ và các cựu thần nhà Lê có đối sách ngoại giao gì? sách Cương mục viết: “Nhà vua căm giận vì bị người Thanh lừa gạt, bèn cùng các bầy tôi là bọn Phạm Như Tùng, Hoàng Ích Hiểu, Lê Hân, Nguyễn Quốc Đống, Nguyễn Viết Triệu, Lê Quý Thích, Nguyễn Đình Miên, Lê Văn Trương, Lê Tùng và Lê Thức mười người uống máu ăn thề, làm bài biểu định đưa lên vua Thanh để xin quân cứu viện, nếu không được thì xin được đất hai châu Tuyên QuangThái Nguyên để quay về giữ việc thờ cúng tổ tiên hay là cùng nhau lén về Gia Định, nương nhờ triều ta (triều Nguyễn) để dần dà toan tính việc khôi phục, chứ quyết không chịu sống thừa ở đất Bắc.”

Năm Tân Hợi (1791). Nguyễn Du 26 tuổi.  Lê Duy Kỳ thấy không thể mong chờ viện binh của quân Thanh nên đã trở về chiếm đất Tuyên Quang, Cao Bằng dựa vào thế lực của tù trưởng Nùng Phúc Tấn, Hoàng Văn Đồng, liên kết với Trình Cao, Quy Hợp, các vùng Trấn Ninh của Vạn Tượng mưu đánh Nghệ An.  Nguyễn Huệ sai trấn tướng Nguyễn Quang Diệu và đô đốc Nguyễn Văn Uyển đem năm nghìn tinh binh theo đường thượng lộ Nghệ An tiến đánh chiếm được Trấn Ninh, diệt Trịnh Cao, Quy Hợp. Vua nước Vạn Tượng phải bỏ thành mà chạy. Quang Diệu thừa thắng đuổi dài đến tận Xiêm La, chém tướng Vạn Tượng là tả súy Phan Dung và hữu súy Phan Siêu, sau đó kéo quân về Bảo Lộc. Nùng Phúc Tấn và Hoàng Văn Đồng thế cùng không chống đỡ nổi đều bị quân Quang Diệu giết chết. Nguyễn Quýnh em Nguyễn Du quay trở về Hồng Lĩnh khởi nghĩa bị bắt và bị giết năm 1791 tròn 30 tuổi, dinh thự và làng Tiên Điền bị đốt sạch. Vua Lê Chiêu Thống cô thế với các cựu thần trung thành lại phải về Yên Kinh.

Nguyễn Huệ sau khi đã được nhà Thanh phong làm An Nam quốc vương và truy sát đuổi dài tận diệt những mầm mống hồi phục nhà Lê và các cựu thần nhà Lê ứng nghĩa, đã đặt thể chế Hoàng Đế, lập Lê Thị Ngọc Hân làm Bắc Chính cung Hoàng hậu, phong con trưởng là Nguyễn Quan Toản làm thái tử, chọn Nghệ An làm thủ đô với tên Phượng Hoàng trung đô, đắp thành đất ở núi Kỳ Lân, dựng lầu điện, chia cả nước thành các trấn để cai trị, định quan danh, làm sổ ba tịch đinh điền, phát thẻ tín lệnh (tương tự CMND ngày nay) để quan lý hộ tịch hộ khẩu. Về đối ngoại xin mở cửa ải hải quan giao thương với nhà Thanh ở Cao Bằng, Lạng Sơn để dân hai nước họp chợ thông thương, lại xin đặt phái bộ đại diện ở phủ Nam Ninh trong nội địa Trung Quốc, xin cưới công chúa nhà Thanh. Tất cả những điều Nguyễn Huệ đề đạt với vua Càn Long đều được vua Càn Long đồng ý.

Quang Trung chia vùng cai quản thuộc đất nhà Lê cũ thành các xứ (trấn) như sau:

  1. Xứ Đông (Hải Dương)
  2. Xứ Bắc (Kinh Bắc)
  3. Xứ Đoài (Sơn Tây)
  4. Xứ Yên Quảng
  5. Xứ Lạng (Lạng Sơn)
  6. Xứ Thái (Thái Nguyên)
  7. Xứ Tuyên (Tuyên Quang)
  8. Xứ Hưng (Hưng Hóa)
  9. Xứ Nghệ (Nghệ AnHà Tĩnh)
  10. Sơn Nam Thượng (Hà ĐôngHà Nam)
  11. Sơn Nam Hạ (Nam ĐịnhThái Bình)
  12. Thanh Hóa ngoại (Ninh Bình)
  13. Thanh Hóa nội (Thanh Hóa).
  14. Thuận Hóa
  15. Quảng Nam

Thuận Hóa là đất căn bản khởi nghiệp của Nguyễn Huệ được vua anh Nguyễn Nhạc phong Bắc Bình Vương cho vua em trước đây. Quảng Nam là đất Nguyễn Huệ chiếm thêm của Nguyễn Nhạc khi hai anh em bất hòa năm 1786-1788 (dẫn đến giết hại tướng giỏi của nhau Nguyễn Nhạc giết công thần Nguyễn Thung năm 1787, Nguyễn Huệ giết danh tướng Vũ Văn Nhậm năm 1788 Nguyễn Lữ chán nản và lo sợ Phạm Văn Tham phản trắc nên tự ý bỏ Gia Định trở về Quy Nhơn).  Vùng Bắc Hà (đàng Ngoài cũ) vua Quang Trung tổ chức lại các xứ đều đại thể giữ nguyên như thời Hậu Lê trừ xứ Sơn Nam và Thanh Hóa ra tách làm hai. Trước kia Phố Hiến là lỵ sở của Sơn Nam, tới thời Quang Trung thì Hạ Trấn đóng ở Vị Hoàng, cách dưới phố Hiến. Trong các trấn trên thì các trấn Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Thái Nguyên và Yên Quảng là ngoại trấn; các trấn Thanh Hóa ngoại, Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, Kinh Bắc, Hải Dương và Phụng Thiên là nội trấn. Mỗi xứ (trấn) chia làm nhiều phủ, mỗi phủ chia làm nhiều huyện, mỗi huyện chia làm nhiều tổng, mỗi tổng chia làm nhiều xã, mỗi xã lại chia nhiều thôn. Thành Thăng Long gồm 1 phủ, 2 huyện, 18 phường.

Vua Quang Trung tổ chức máy hành chính gồm: Tam công, Tam thiếu, Đại chủng tể, Đại Tư đồ, Đại Tư khấu, Đại Tư mã, Đại Tư không, Đại Tư Lệ, Thái úy, Ngự úy, Đại Tổng quản, Đại Đô hộ, Đại đô đốc, Đô đốc, Nội hầu, Hộ giá, Điểm kiểm, Chỉ huy sứ, Đô ty, Đô úy, Trung úy, Vệ Úy, Tham đốc, Tham lĩnh, Trung Thư lệnh, Phụng Chính, Thị Trung đại học sĩ, Hiệp biện đại học sĩ, Lục Bộ Thượng thư, Tả – Hữu đồng nghi, Tả – Hữu phụng nghi, Thị Lang, Tư vụ, Hàn Lâm… Mỗi trấn đặt một trấn thủ về hàng võ và một hiệp trấn về hàng văn. Mỗi huyện đặt một văn phân tri, một võ phân suất, một tả quản lý và một hữu quản lý. Công việc của quan văn là trưng đốc binh lương, xét xử từ tụng. Phận sự của quan võ là coi quản và thao diễn quân lính từ Đạo đến Cơ, từ Cơ đến Đội. Trong các xã, thôn thì có xã trưởng, thôn trưởng. Hàng tổng thì đặt Tổng trưởng (như chức Chánh Tổng về sau) để giữ việc hành chính trong một tổng. Ông đồng thời cũng cho soạn một bộ luật tên là “Hình luật thư”, nhưng chưa xong thì ông đột ngột mất nên mãi không hoàn thành.

Về xây dựng bộ máy hành chính, bổ nhiệm quan lại, thu hút nhân tài và giáo dục đào tạo, Quang Trung rất chú trọng thu dụng các nhân tài từng phục vụ nhà Lê. Ông ban “Chiếu cầu hiền” có đoạn: “Trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, thức ngủ mong mỏi mà có người tài cao học rộng chưa từng thấy đến. Hay Trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng? hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự?… Trẫm nơm nớp lo nghĩ, một ngày hai ngày cũng có hàng vạn sự việc nảy sinh Ngẫm cho kỹ: cái nhà to lớn – sức một cây không dễ gì chống đỡ, sự nghiệp thái bình – sức một người không thể đảm đương”.ác cựu thần nhà Lê cũ, tiêu biểu là các tiến sĩ Đoàn Nguyễn Tuấn, Vũ Huy Tấn, Nguyễn Nễ, Nguyễn Huy Lượng, Bùi Dương Lịch… đã ra giúp nhà Tây Sơn. Danh sĩ Nguyễn Thiếp sau nhiều lần từ chối, cuối cùng cũng nhận lời xuống núi giúp vua Quang Trung (xem thêm: Giáo dục khoa cử thời Tây Sơn)

Chiếu chỉ của Quang Trung ra năm 1792 về việc dịch sách chữ Hán sang chữ Nôm.

Quang Trung bỏ Hán ngữ như là ngôn ngữ chính thức trong các văn bản của quốc gia. Ngôn ngữ chính thức được sử dụng là tiếng Việt và được viết trong các văn kiện hành chính bằng hệ thống chữ Nôm. Quang Trung quy định các bài hịch, chiếu chỉ phải soạn bằng chữ Nôm; đề thi viết bằng chữ Nôm, và các sĩ tử phải làm bài bằng chữ Nôm. Ông còn chủ trương thay toàn bộ sách học chữ Hán sang chữ Nôm nên năm 1791 đã cho lập “Sùng chính viện” để dịch kinh sách từ Hán sang Nôm. Theo sách Tây Sơn lược thuật, ông chọn một quan văn “5 ngày một lần vào cấm cung để giảng giải kinh sách”.[63] Ngoài ra, Quang Trung quan tâm đưa việc học đến tận thôn xã. Trong “Chiếu lập học” ông lệnh cho các xã:“Phải chọn Nho sĩ bản địa có học thức, có hạnh kiểm đặt làm thầy dạy, giảng tập cho học trò”.

Về tôn giáo: Quang Trung đề cao chính sách tự do tín ngưỡng: trọng Nho giáo, bảo đảm hoạt động cho Phật giáo và Công giáo, các tu sĩ, giáo sĩ được tự do hoạt động, truyền đạo, xây dựng chùa chiền và nhà thờ, nhưng bài trừ mê tín dị đoan rất mạnh, chấn chỉnh lại việc tu hành: nhiều chùa ở các làng có mà người tu hành lạm dụng để truyền bá mê tín dị đoan bị đập bỏ để xây duy nhất một ngôi chùa ở huyện cấp trên, đồng thời những người tu hành không đạo đức, những kẻ lưu manh, lười biếng đều phải hoàn tục.

Về kinh tế: vua Quang Trung rất quan tâm khẩn hoang, phân phối đất đai cho những người nông dân nghèo, thúc đẩy thủ công nghiệp từng bị cấm trước kia, đề cao thương nghiệp và mở rộng quan hệ buôn bán giữa Đại Việt với nước ngoài. Ông khuyến khích giao thương giữa các thương thuyền nước ngoài và các thương thuyền của Đại Việt. Thuế ruộng được chia làm ba hạng ruộng tốt, ruộng khá và ruộng vừa, nộp thuế công điền tương ứng nhất đẳng điền 150 bát thóc, nhị đẳng điền 80 bát thóc, tam đẳng điền 50 bát thóc, nộp thuế tư điền tương ứng là  40,  30 và 20 bát thóc. Các loại thuế khác cũng vậy, đơn giản, chặt chẽ và nghiêm để phòng ngừa tham nhũng.

Về theo dõi nhân khẩu. Người dân được phân 4 hạng theo lứa tuổi: 9-17 tuổi là hạng “vị cập cách”; 18-55 tuổi là hạng “tráng”; 55-60 tuổi là hạng “lão”; 60 tuổi trở lên là hạng “lão nhiêu”. Ông còn cho làm thẻ bài “Thiên hạ đại tín” bằng gỗ có khắc họ tên, quê quán của người mang không phân biệt giàu sang nghèo hèn.

Trong lúc vua Quang Trung vẫn phải lo ổn định tình hình Bắc Hà và tiêu diệt tàn dư của nhà Lê còn sót lại thì Nguyễn Ánh được người Pháp hỗ trợ đã kéo ra đánh Bình Thuận, Bình Khang, Diên Khánh, quân của Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc liên tiếp bại trận và mất mấy thành này. Cho tới năm 1791, Nguyễn Nhạc chỉ còn cai quản Quy Nhơn, Phú Yên và Quảng Ngãi.

Quang Trung không chỉ muốn hòa hoãn với Càn Long mà còn muốn xuất quân đánh nhà Thanh. Trước khi tính chuyện đánh Thanh, nhà vua cho quấy rối nội địa Trung Quốc bằng cách lợi dụng đảng “Thiên Địa Hội” khiêu khích người Thanh. Các biên thần nhà Thanh như Phúc Khang An (mới thay Tôn Sĩ Nghị) tuy biết rõ Tây Sơn có bí mật nhúng tay, nhưng cũng chịu nhịn cho qua chuyện.

Năm Nhâm Tí (1792). Nguyễn Du 27 tuổi. Nguyễn Huệ cầu hôn với công chúa Thanh và xin đất Lưỡng Quảng để thử ý vua Thanh. Lê Chiêu Thống con trai chết, đau buồn, chán nản nên ngã bệnh.

Đầu năm 1792, vua Quang Trung lại sai sứ bộ sang Yên Kinh, mang các cống phẩm dâng Càn Long gồm: chiến lợi phẩm lấy được ở Vạn Tượng, sách binh thư của Đại Việt và một quyển sử viết về triều đại Lê Chiêu Thống. Ông cũng cầu hôn với công chúa Thanh và xin đất Lưỡng Quảng. Trong Bang giao hảo thoại mà Ngô Thì Nhậm là người chép lại vẫn còn hai văn bản ngoại giao đó. Tờ biểu chính thức đặt vấn đề xin làm con rể vị Thiên Tử nước Đại Thanh như sau: “Thần vốn là một kẻ áo vải đội ơn Thánh Hoàng cho giữ cõi Nam. Khi vào triều cận nơi cung khuyết đã được thấy rõ thiên nhan để vấn an, lại được ban thưởng rất nhiều. Phàm những việc mà ở cõi Nam Giao từ xưa đến nay chưa ai được hưởng, đều được (Thánh Hoàng). Đến khi thần lĩnh chỉ về nước, ngửa trông thánh ân đoái đến, ân chỉ ban luôn. Lồng lộng lòng nhân của Thánh Hoàng không thể tả sao cho xiết…Vua nhà Đại Thanh ta vâng chịu mệnh trời có muôn phương đất, những nơi soi đến đều nuôi nấng như con, rộng như doanh hoàn không để ra ngoài sân điện… Trộm nghĩ: Muôn vật không ẩn tình với trời đất, con cái không giấu tình với cha mẹ. Việc gia đình tâm sự đâu dám không bày tỏ với bậc chí tôn. Vừa đây thần bị vận đen, trong nhà thiếu người đơm cúng. Cơ đồ mới gây dựng, thuyền vuông ít người giúp đỡ. Cây ngọc muốn được nương nhờ, khóm dân mong được giữ vững. Ngước thấy Thanh triều gây nền từ núi Thăng Bạch, dựng nên nghiệp vua, con cháu ức muôn, đời đời phồn thịnh. Từ trước đến nay chế độ nhà trời, công chúa gả xuống, tất phải người tôn quý mới chọn đẹp duyên, không có lệ rộng ra đến các bầy tôi ở ngoài. Phận đã nghiêm chia ra trong ngoài như thế, thật khó mà với đến được. Chỉ vì một niềm tôn mến, riêng trông ngóng, trằn trọc không thôi. Trộm mong cành ngọc nhà trời rộng lan đến cả kẻ ngoại phiên ở dưới, khiến thần được ngửa đội ơn lành gần gụi gót lân…Chỉ vì quá phận cầu ơn, việc không phải là thường cách, mưu với mọi người chấp sự, không ai dám đề đạt lên cho. Muôn dặm cửa vua ngày ngày trông ngóng. Nay dám không tự lượng, mạo muội giãi bày lòng thành. Kính cẩn sai kẻ bồi thần sang chầu hầu, sau khi tâu bày rồi sẽ vì thần mà giãi bày lòng thực.

Để thăm dò thái độ nhà Thanh, vua Quang Trung lại giao việc này cho Vũ Văn Dũng, một viên tướng tin cậy quê ở Hải Dương. Vũ Văn Dũng mang hai tờ biểu sang Yên Kinh trực tiếp đặt hai vấn đề trên với vua Càn Long. Vua Quang Trung đã tính đến trường hợp phải dùng lực lượng quân sự đối phó với nhà Thanh, khi vua Càn Long nổi giận. Ông đã chuẩn bị đương đầu với mọi sự bất trắc, đó là nuôi dưỡng nhóm Tề Ngỗi (Tàu Ô) và Thiên Địa Hội. Trong trường hợp chiến tranh Việt Thanh lại xảy ra các nhóm này sẽ trở thành những lực lượng hỗ trợ đắc lực.  Khi vua Quang Trung trù tính việc xin đất làm đô và cầu hôn thì lúc này Vũ Văn Dũng đang nghỉ ở quê nhà trong trấn Hải Dương. Vua Quang Trung đã hạ sắc chỉ cho họ Vũ như sau: ““Sắc truyền cho Hải Dương Chiêu viễn đô đốc tướng quân dực vận công thần Vũ quốc công được gia phong chức chánh sứ đi sứ nước Thanh, được toàn quyền trong việc đối đáp tâu xin hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây để dò ý và cầu hôn một vị công chúa để chọc tức. Phải thận trọng đấy! Hình thế trong chuyến dụng binh đều ở chuyến đi này. Ngày khác làm tiên phong (đánh nước Thanh) chính là khanh đấy. Kính thay sắc này!”

Câu Hình thế trong chuyến dụng binh đều ở chuyến đi này, cho thấy Vũ Văn Dũng đi sứ nước Thanh không phải chỉ có các nhiệm vụ trên mà còn phải dò xét nội tình nhà Thanh, quan sát địa hình địa vật những nơi ông đi qua để một khi chiến tranh Việt Thanh lại bùng nổ thì quân Tây Sơn có thể có một số tin tức tình báo cần thiết mà tổ chức cuộc hành quân.

Theo gia phả họ Vũ, thì Vũ Văn Dũng cầm đầu sứ đoàn đã đến Yên Kinh và được vào bệ kiến vua Càn Long. Vũ Văn Dũng đã hoàn thành cả hai nhiệm vụ: cầu hôn và xin đất làm đô. Sau khi nghe lời tâu xin của Vũ Văn Dũng, vua Thanh giao vấn đề này cho đình thần bàn xét. Ngày hôm sau Vũ Văn Dũng lại được vào bệ kiến Càn Long ở Ỷ Lương các và vua Càn Long đã đồng ý trao đất Quảng Tây cho vua Quang Trung để làm đô và gả một công chúa cho vị thủ lĩnh Tây Sơn. Về việc cầu hôn, sau buổi tiếp sứ thần Đại Việt, vua Càn Long ra lệnh cho bộ lễ sửa soạn nghi lễ và định ngày cho công chúa nước Đại Thanh sang đẹp duyên cùng vua Đại Việt.

Tháng 5 năm Nhâm Tý, tức năm Càn Long thứ 57 (1792), con trai cựu hoàng Lê Chiêu Thống bị ốm chết. Các cận thần nhà Lê theo vua số thì bị giam giữ, số thì lưu tán, cơ may phục quốc không còn hi vọng, Lê Chiêu Thống ngã bệnh nặng.

Vua Quang Trung ý định cưới con vua và xin đất định đô chưa kịp trở thành hiện thực thì ông chết đột ngột vào ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (16 tháng 9 năm 1792), lúc khoảng 11-12 giờ đêm. Nguyễn Huệ qua đời, ở ngôi được 4 năm, hưởng thọ 40 tuổi, miếu hiệu là Thái Tổ Vũ hoàng đế. Bắc cung hoàng hậu Lê Ngọc Hân đã viết bài “Tế vua Quang Trung” và bài “Ai Tư Vãn” để bày tỏ nỗi đau khổ và tiếc thương cho người chồng anh hùng sớm ra đi.

Thi hài Quang Trung được táng ngay tại Phú Xuân, được táng ở cung điện Đan Dương. Nguyễn Quang Toản lên nối ngôi, tức là vua Cảnh Thịnh, sai sứ sang nhà Thanh báo tang và xin tập phong. Đô đốc Vũ Văn Dũng đang đi sứ nhà Thanh ở Bắc Kinh, nghe tin Quang Trung mất liền làm bài thơ viếng như sau:
Bố y phân tích ngũ niên trung
Mai cố thi vi tự bất đồng
Thiên vị ngô hoàng tăng nhất kỷ
Bất y Đường Tống thuyết anh hùng

Dịch:
Năm năm dấy nghiệp tự thân nông
Thời trước thời sau khó sánh cùng
Trời để vua ta thêm chục tuổi
Anh hùng Đường, Tống hết khoe hùng.

Vua Càn Long tặng tên hiệu cho Nguyễn Huệ là Trung Thuần, lại thân làm một bài thơ viếng và cho một pho tượng, 300 lạng bạc để sửa sang việc tang. Sứ nhà Thanh đến tận mộ ở Linh Đường (mộ giả) thuộc huyện Thanh Trì (Hà Nội) để viếng.

Nguyên nhân cái chết của vua Quang Trung theo các tài liệu đều cho rằng ông chết vì do đột tử bởi một cơn tăng huyết áp đột ngột. Bác sĩ Bùi Minh Đức khảo cứu các nguồn tư liệu lịch sử và kết luận rằng Nguyễn Huệ “xuất huyết não dưới màng nhện; nguyên nhân tử vong: do viêm phổi sặc“. Theo  Hoàng Lê nhất thống chí, thì vua Càn Long hình như đã biết việc này, bằng chứng là khi Quang Trung giả sang Yên Kinh gặp Càn Long, được Càn Long tặng cho chiếc áo, có thêu 7 chữ: Xa tâm chiết trục, đa điền thử (車心折軸多田鼠) Nghĩa là: Bụng xe gãy trục, nhiều chuột đồng. Theo phép chiết tự, chữ “xa” (車) và chữ “tâm” (心) ghép lại thành chữ “Huệ” (惠) là tên của Nguyễn Huệ; “chuột” nghĩa là năm tý (Nhâm tý 1792). Ý của dòng chữ trên áo là Nguyễn Huệ sẽ chết vào năm Tý.

Năm Quý Sửu (1793). Nguyễn Du 28 tuổi. Lê Chiêu Thống thất vọng và chán nản, lâm bệnh rồi qua đời ngày 16 tháng 10 (âm lịch) năm 1793 tại Yên Kinh. Nhà Thanh chôn ông theo nghi thức tước công. Ngày mồng hai tháng hai năm Quý Sửu (1793), sứ đoàn Tây Sơn sang đến Bắc Kinh để báo tang vua Quang Trung mất . Vua Càn Long đã phê vào tờ biểu báo tang hai chữ đáng tiếc, rồi ông thân làm một bài thơ viếng. Ông lại sai viên án sát Quảng Tây là Thành Lâm đến Nghệ An làm lễ đọc và đốt bài thơ ấy trước “phần mộ” vua Quang Trung. Ông còn giao cho sứ đoàn Ngô Thì Nhậm một tấm lụa đại cát đạt [41] và 3000 lạng bạc để dùng vào việc làm chay cho vua Quang Trung. Không chờ Nguyễn Quang Toản dâng biểu cầu phong,vua Càn Long lại đặc cách phong ngay cho Quang Toản làm An Nam quốc vương để chính danh phận và yên dân tâm.

Vua Càn Long tỏ ra rất vui vẻ, hả hê khi được Ngô Thì Nhậm cho biết trước khi từ trần, vua Quang Trung đã dặn quần thần phải luôn luôn tôn kính Thiên triều. Vì vậy, Càn Long lấy hai chữ Trung thuần đặt tên thụy cho vua Quang Trung.

Phúc Khang An khi đó đang làm tổng chỉ huy đánh quân Khuếch Nhĩ Khách Mông Cổ tại tu viện Mật Tông ở Tây Tạng để giành lại kho vàng to lớn ở núi Tuyết.  Khi trở về, Phúc Khang An đã viết cho triều đình Tây Sơn một bức thư có những câu: Bản Tước các bộ đường cùng Tiền Quốc vương (vua Quang Trung) đã từng đem lòng thành liên kết rất sâu. Nhớ khi tiến quan vào chầu, tâm sự sớm chiều, bàn soạn nửa năm, lúc cùng ngồi thuyền lúc cùng đi bộ trước khi vào chầu, thường thường đem tâm sự đàm đạo với nhau… đến lúc lên đường về nước, chia tay ở Hán Dương, cùng nhau than thở, quyến luyến nhớ thương. Bản tước các bộ đường từ tháng năm năm ngoái (1792) đốc binh tiến đánh bộ lạc Quách Nhĩ Khách… Nay nhờ Đại Hoàng Đế nghĩ đến quý quốc, che chở như trời. Bản tước các bộ đường đã nhận ủy nhiệm (của Đại Hoàng Đế làm tổng đốc Lưỡng Quảng) quý Quốc vương thỏa lòng nương tựa. Đợi khi đến tỉnh Việt (Quảng Đông), sẽ sai người đến Nghệ An làm lễ tế điệu, kính dâng bó hoa để tỏ lòng cố cựu.

Vua Càn Long cũng đã ra lệnh cho các quan của nhà Thanh đều phải cúi đầu làm lễ tưởng niệm vua Quang Trung: Thạc tào tòng sự các gia ngạch,Cá cá bất vong ngã tiên vương. Tạm dịch là: Tất cả các vị quan to (ở Thiên triều) đều cúi đầu làm lễ/ Ai ai cũng không quên An Nam quốc vương (Nguyễn Huệ) của chúng ta.

Lê Chiêu Thống bị giới làm sử đời sau phê phán gay gắt. Các tác giả Ngô gia văn phái thân Tây Sơn trong tiểu thuyết Hoàng Lê nhất thống chí viết: “Tuy vua Lê đã được phong Vương, nhưng giấy tờ đưa đi các nơi, đều dùng niên hiệu Càn Long. Vì có Nghị ở đấy nên không dám dùng niên hiệu Chiêu Thống. Ngày ngày sau buổi chầu, vua lại tới chờ ở doanh của Nghị để nghe truyền việc quân, việc nước. Vua cưỡi ngựa đi trước, Lê Quýnh cưỡi ngựa đi sau, quân lính hộ vệ chỉ vài chục người. Người trong kinh có kẻ không biết là vua. Hoặc có người biết, thì họ nói riêng với nhau rằng: Nước Nam ta từ khi có đế, có vương tới nay, chưa thấy bao giờ có ông vua luồn cúi đê hèn như thế. Tiếng là làm vua, nhưng niên hiệu thì viết là Càn Long, việc gì cũng do viên tổng đốc, có khác gì phụ thuộc vào Trung Quốc?“. Tuy nhiên, nhà Nguyễn do Nguyễn Ánh thành lập ra sau đó, lại nhìn nhận khá rộng lượng với Chiêu Thống. Hoàng đế Tự Đức có lời phê về Chiêu Thống, đại ý nói: “Nhà vua bị người ta lừa gạt, bị giám buộc ở quê người đất khách, đến nỗi lo buồn phẫn uất, ôm hận mà chết, thân dẫu chết, nhưng tâm không chết, kể cũng đáng thương! Vậy nên truy đặt tên thụy là Mẫn Đế“.

Lê Quýnh là ai ? mà Hoàng Lê nhất thống chí viết “Vua cưỡi ngựa đi trước, Lê Quýnh cưỡi ngựa đi sau, quân lính hộ vệ chỉ vài chục người. Người trong kinh có kẻ không biết là vua …”.

Lê Quýnh còn có tên là Lê Doãn Hữu, là trung thần nhà Lê trung hưng của họ Lê, vị quan nổi tiếng có linh vị được thờ ở chính giữa của đền thờ “Cố Lê tiết nghĩa từ” (đền thờ các bậc tiết nghĩa đời Lê) ở phía tây thành Thăng Long, tại phường Thuỵ Chương, huyện Vĩnh Thuận (nay là ngõ 124, đường Thụy Khê, Hà Nội). Lê Quýnh sinh năm 1750 mất năm 1805, quê ở làng Đại Mão, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An, Kinh Bắc (nay là thôn Đại Mão, xã Hoài Thượng, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Ông con trai của tiến sĩ Lê Doãn Giản.

Thời trẻ, năm 21 tuổi, Lê Quýnh được bổ làm nho sinh ở Chiêu Văn quán. Lúc trẻ ông là một công tử chơi bời nhưng biết làm văn. Năm 1774, lúc 25 tuổi, cha mất, ông về làng nuôi mẹ.

Lê Quýnh phò vua Lê chống Tây Sơn.  Năm 1786, sau khi Nguyễn Huệ diệt họ Trịnh, ông đem 300 gia đinh ra Thăng Long bảo vệ vua Lê Hiển Tông. Sau khi Lê Hiển Tông qua đời, cháu nội là Lê Duy Kỳ lên thay, tức vua Lê Chiêu Thống. Lê Quýnh nhận lệnh trấn giữ miền Giang Bắc, cắt đặt các công việc. Khi xong việc về kinh được phong tước bá, có tài liệu ghi là Tư Ốc bá, bấy giờ 37 tuổi .

Tháng 12 âm lịch năm 1787, sau khi Vũ Văn Nhậm đem quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long, Lê Chiêu Thống bỏ kinh thành chạy lên Kinh Bắc, sai hoàng đệ Duy Chi đem thị thần Lê Quýnh và tôn thất tất cả hơn 30 người rước thái hậu và nguyên tử (con trai Lê Chiêu Thống) đi Cao Bằng.

Tháng 4 năm 1788, ông tới được Thái Nguyên, gặp Đốc trấn Cao Bằng cho người đón lên Mục Mã (Cao Bằng) nhưng không lâu sau quân Tây Sơn đuổi tới, ông cùng đốc đồng Nguyễn Huy Túc, phiên thần Địch quận công Hoàng Ích Hiểu, Trường Xa hầu Phạm Đình Phan và Phượng Thái hầu Nguyễn Quốc Đống bảo vệ thái hậu và nguyên tử theo cửa ải Thủy Khẩu chạy sang Long Châu. Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị được lệnh che chở cho họ ở Nam Ninh và vua Càn Long bằng lòng cứu viện vua Lê. Sau đó Lê Quýnh và Nguyễn Quốc Đống trở về tâu với Lê Chiêu Thống. Lê Chiêu Thống sai tham tri chính sự Lê Duy Đản và Hàn lâm hiệu thảo Trần Danh Án vâng mệnh lệnh đem tờ bẩm, đi đường tắt, lên đón quân nhà Thanh. Ngày 24 tháng 10 năm 1788, quân Thanh được lệnh lên đường, tới ngày 1 tháng 11 đã vượt biên giới tiến vào Lạng Sơn và ngày 22 tháng ấy lấy lại kinh thành Thăng Long, đưa Lê Chiêu Thống trở lại ngai vàng. Lê Chiêu Thống phong Lê Quýnh lên Trung quân đô đốc, tước Trường Phái hầu. Theo Bắc hành tùng ký, Lê Quýnh được giao làm Tổng binh Đỉnh đái.

Ngày 2 tháng 12 năm 1789, Lê Chiêu Thống sai Lê Quýnh giữ việc tổng quản binh lương, hạn ngày tiến quân đánh dẹp quân của vua Quang Trung. Nhưng Tôn Sĩ Nghị muốn dùng kế dụ địch đến, giục Chiêu Thống thu hồi lại ấn kiếm, đổi chức vụ của Quýnh làm Đồng binh chương sự. Bấy giờ bệnh sốt rét của Lê Quýnh rất nguy kịch, bèn xin về nhà nghỉ để thuốc men điều trị.

Sau đó, quân Tây Sơn, dưới sự chỉ huy của vua Quang Trung, đã phản công và nhanh chóng đánh tan quân Thanh. Lê Chiêu Thống lại phải chạy trốn sang đất Trung Quốc vào đầu tháng giêng năm 1789.

Lê Quýnh lưu lạc đất Thanh. Tháng 2 năm 1789, Lê Quýnh mới biết Tôn Sĩ Nghị đã thất bại, Lê Chiêu Thống đã chạy sang Trung Quốc. Ông lại tụ họp quân sĩ để đợi quân của Lê Chiêu Thống[4]. Tháng 4 năm 1789, Phúc Khang An, khi đó thay Tôn Sĩ Nghị làm tổng đốc Lưỡng Quảng, đã dâng biểu xin hoàng đế Càn Long bãi binh. Các thần Hoà Thân ngấm ngầm ở trong ủng hộ cho kiến nghị ấy của Khang An, cố sức khuyên vua Thanh nên bãi binh. Vua Thanh cho lời tâu ấy là phải, bèn ra sắc mệnh phong Văn Huệ làm An Nam quốc vương, rồi triệu Lê Chiêu Thống và các bầy tôi trước sau theo sang tòng vong đều cho phép lục tục vào cả Yên Kinh. Tháng 6, Lê Quýnh gặp người anh họ tên là Lê Huy Lý, vâng mệnh Phúc Khang An sai về gọi Lê Quýnh lên cửa ải hỏi chuyện. Lúc ấy những việc mưu tính của ông còn chưa xong, bệnh cũng chưa khỏi hẳn nên đến tháng 7 mới lên đường đến cửa ải Nam Quan.

Phúc Khang An sai người gọi bọn Lê Quýnh, Lê Doãn Trị, Trịnh Hiến và Lý Gia Du vài mươi người đến Quảng Tây dụ bảo gióc tóc và thay đổi đồ mặc. Lê Quýnh đáp lại rằng: Được ơn vời đến đây, chúng tôi chưa được nghe ngài dạy bảo rõ ràng gì cả, thế mà nay chỉ bắt chúng tôi gióc tóc thì há phải là ý muốn ban đầu của bọn Quýnh này chạy vạy hàng hai, ba ngàn dặm sang đây để nhận lãnh lệnh truyền ấy đâu? Đầu chúng tôi có thể chặt được, chứ tóc chúng tôi không thể gióc được“. Phúc Khang An tức giận, cho đưa luôn cả bọn Lê Quýnh lên Yên Kinh. Bọn Quýnh đi đến Sơn Đông thì vừa gặp vua Thanh Càn Long đi tuần du ở phía đông. Vua Thanh triệu Lê Quýnh cùng đồng liêu vào yết kiến nói: Chúa nhà các ngươi đã tình nguyện yên phận ở lại Trung Quốc rồi, các ngươi đã một niềm theo vua thì khá lập tức gióc tóc và thay đổi lối ăn mặc để đợi lựa chọn bổ dùng. Lê Quýnh từ tạ mà rằng: Muôn dặm đi tòng vong, chúng tôi xin được giữ theo quốc tục để vào yết kiến quốc vương một chút đã, rồi sau sẽ xin vâng theo chỉ dụ gióc tóc cũng chưa muộn. Vua Thanh khen nói: Thật là trung thần của họ Lê. Tuy vậy, Càn Long vẫn cho đưa Lê Quýnh và các đồng liêu vào Yên Kinh. Về sau, vì không chịu gióc tóc, Lê Quýnh bị khép vào tội chống mệnh lệnh vua Thanh, bị giam ở ngục Bắc Sở thuộc tu Thận Hình.

Tháng 5 năm 1792, con nhỏ của Lê Chiêu Thống qua đời, đến ngày 16 tháng 10 năm 1793 vua Lê Chiêu Thống buồn rầu mà chết. Sau này, tới tháng 11 năm 1799 thì thái hậu mẹ Lê Chiêu Thống cũng chết. Cùng năm ấy (1799), vua Thanh Gia Khánh sai thả Lê Quýnh và các đồng liêu ra khỏi ngục, từ đầu tóc đến ăn mặc đều được để cho tùy tiện. Tháng 11 năm 1802, sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, vua Gia Long cử Thượng thư Binh bộ là Lê Quang Định làm chánh sứ dẫn đầu đoàn sứ thần sang nhà Thanh cầu phong. Nhân đó, ông cùng các cựu thần nhà Hậu Lê còn lưu lạc tại Trung Quốc xin đưa di hài của Lê Chiêu Thống, mẹ và con trai vị vua bất hạnh này về an táng tại Việt Nam. Hoàng đế nhà Thanh ân chuẩn. Ngày 13 tháng 8 năm 1804, ông cùng các cựu thần hộ tống di hài ba người về tới Việt Nam, vua Gia Long cho an táng tại Thanh Hóa. Ngày 16 tháng 9 âm lịch năm Ất Sửu (1805) Lê Quýnh mất, hưởng dương 55 tuổi. Tác phẩm của ông còn lưu lại là các tập “Bắc hành tung kí”, “Bắc hành lược biên” và “Bắc sở tự tình phú”, có giá trị sử học và văn học.

Đến mùa hè năm Tự Đức thứ 14 (1860), các quan ở Bộ theo lời bàn kê rõ lý lịch các vị cựu thần nhà Hậu Lê, vâng chỉ dụ của nhà vua cho lập đền thờ ở phía tây thành Thăng Long, tại phường Thụỵ Chương, huyện Vĩnh Thuận (nay là ngõ 124, đường Thụy Khê, Hà Nội). Thứ tự các bài vị đều sắp đặt theo như lời bàn của Bộ. Chính giữa là linh vị của Trường Phái hầu Lê Quýnh, đặt thụỵ hiệu là “Trung Nghị”. Bên tả bày linh vị của 11 người, gồm có đề lĩnh Nguyễn Viết Triệu, thượng thư Bút phong Đình Giản, Đinh Võ hầu Trần Quang Châu, Trần Danh Kệ, Hữu thị lang Nguyễn Huy Diệu, trấn thủ Lê Hân, chỉ huy Lê Doãn Trị, chưởng tứ bảo Lê Quý Thích, Nguyễn Hùng Trung, Lê Tùng, tả tham chính Kinh Bắc, Bình vọng Lê Trọng Trường. Bên hữu bày linh vị của mười một người, gồm có tĩnh nạn công thần Trần Danh Án, thanh hình hiến phó sứ Tuyên Quang Nguyễn Đình Viện, nội thị Nguyễn Quyên, Trần Đĩnh, đốc đồng Nguyễn Quốc Đống, Địch quận công Hoàng Ích Hiểu; Nguyễn Đình Miên, Đoàn Thận Xưởng, võ uý Nguyễn Trọng Du, Lê Thức, Cận quang hầu Phạm Như Tùng. Tất cả 22 người ấy đều được đặt thuỵ hiệu là “Trung mẫn”. Ngoài ra, ở phía đông thờ 5 người là Nguyễn Ngọc Liễn, Vương Triệu, Vương Chấn Thiều, Tôn Hạp, Lê Diên Định. Ở nhà phía tây thờ 5 người là Trần Lương, Trần Đăng, Vũ Trọng Dật, Trần Dần, Trần Hạc. Từ Lê Quýnh trở xuống cộng 33 người, trên đầu đều đề là “Cố Lê tiết nghĩa thần” (các bầy tôi tiết nghĩa đời Lê) và ngôi đền cũng đề là “Cố Lê tiết nghĩa từ” (đền thờ các bậc tiết nghĩa đời Lê).
ThuyKhueHoTay
Ngôi đền cổ “Cố Lê tiết nghĩa từ” ở địa chỉ ngõ 124, đường Thụy Khê, Hà Nội, cạnh hồ Tây, trên lối cổng chính, đường vào nhà của GS.TS. Vũ Mạnh Hải, cựu Phó Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (ghi chép và chú dẫn: Hoàng Kim).

Trong tập thơ Truyện Thúy Kiều bản dịch của Bùi Kỷ Trần Trọng Kim có lời Tựa của Phạm Quý Thích. “Cảo thơm lần giở trước đèn” tôi tin là mình không lầm trong nhận định Nguyễn Du là Từ Hải và Hồ Xuân Hương là Thúy Kiều. Hồ Xuân Hương thương Nguyễn Du long đong chìm nổi bị người đời và lịch sử thị phi vì “bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn” làm một tôi trung của nhà Lê, cam chịu cảnh mười lăm năm lưu lạc, chỉ hé lộ với Bắc Hành tạp lục và Truyện Kiều chứa một trời tâm sự để trao lại ngọc cho đời. Nguyễn Du thương Hồ Xuân Hương đọa đày tủi nhục không được chung sống với người minh yêu “Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung” phải trãi qua ba đời chồng, cam chịu lẽ mọn, chỉ tỏa sáng bia miệng giai thoại và Lưu Hương Ký. Hồ Xuân Hương khen Nguyễn Du là anh hùng “Tấn Dương được thấy mây rồng có phen” khen Tấn Văn Công bôn ba, khí phách của người quân tử chịu hoạn nạn. Nguyễn Du thương Hồ Xuân Hương “khen cho con mắt tinh đời. Anh hùng đoán giữa trần ai mới già” . Nguyễn Du đã dùng lời Thúy Kiều đánh giá “Từ Hải” và lời của Từ Hải thán phục Thúy Kiều, để thể hiện sự ý hợp tâm đầu của đôi nam nữ “trai anh hùng, gái thuyền quyên”.

Thưa rằng: Lượng cả bao dong
Tấn Dương được thấy mây rồng có phen
Rộng thương cỏ nội hoa hèn
Chút thân bèo bọt, dám phiền mai sau!

Nghe lời vừa ý gật đầu
Cười rằng tri kỷ trước sau mấy người
Khen cho con mắt tinh đời
Anh hùng đoán giữa trần ai mới già
Một lời đã biết đến ta
Muôn chung nghìn tứ, cũng là có nhau

Hai bên ý hợp tâm đầu
Khi thân, chẳng lọ là cầu mới thân
Ngõ lời cùng với băng nhân
Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn
Buồng riêng sửa chốn thanh nhàn
Đặt giường thất bảo, vây màn bát tiên
Trai anh hùng gái thuyền quyên
Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng.

LƯU HƯƠNG KÝ và TRUYỆN THÚY KIỀU là những kiệt tác và chỉ dấu quan trọng để hiểu thời thế và anh hùng thời đại Nguyễn Du.

Hôm nay là ngày tình yêu. Nguyễn Du với Hồ Xuân Hương là chuyện tình Việt Nam.

Hoàng Kim

Chú thích:

BiatuongniemNguyentohoHotaiVietNam
(1) “Bia tưởng niệm nguyên tổ họ Hồ ở Việt Nam” tại Bảo Đột Quỳnh Đôi
: Nguyên tổ họ Hồ ở Việt Nam là ngài Hồ Hưng Dật thuộc dòng Bách Việt, sinh tại Vũ Lâm tỉnh Chiết Giang, đậu Trạng nguyên đời Hán An Đế. Ngài sang làm thái thú Châu Diễn, sau đó  từ quan, về làm chủ trại hương Bảo Đột huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An, Ngài đức trọng tài cao giàu lòng nhân nghĩa, để lại cho muôn đời con cháu di huấn: Vạn đại vi dân…
Trãi hơn ngàn năm, chừng 40 đời con cháu rãi kháp từ Bắc chí Nam, họ Hồ đã góp sức bảo vệ và xây dựng tổ quốc Việt Nam được quốc sử ghi nhận như: Vua Hồ Quý Ly nhà cải cách lỗi lạc, như vua Quang Trung (Hồ Thơm) thiên tài quân sự như trạng nguyên Hồ Tông Thốc nhà sử học lớn, như nữ sĩ Hồ Xuân Hương, bà chúa thơ Nôm.
Đến thời đại Hồ Chí Minh, một trang sử lẫy lừng chiến công chống ngoại xâm, giành độc lập tự do cho Tổ quốc, con cháu càng phát huy trí tuệ, khí phách, đạo lý của truyền thống họ Hồ.
Năm Quý Mùi, niên hiệu Khai Đại thứ nhất (1403) vua Hồ Hán Thương xây dựng linh từ trên đất này để thờ nguyên tổ. Về sau dân rước hai vua Hồ về cùng phối tế. Tiếc thay linh từ mai một !
Nay thuận đạo trời hợp lòng người, con cháu họ Hồ Việt Nam trong và ngoài nước, cùng nhau xây dựng đài tưởng niệm này để đời đời hương khói thờ phụng tiên tổ.
Thành kính tri ân noi gương tiên tổ và các vị tiên linh, xin nguyện làm rạng danh họ Hồ

(2). Khóc Tổng Cóc. Cũng chính vì khóc cho mối tình dang dở mà những câu chữ như mang nỗi lòng chảy nước mắt của con người bạc phận: “Chàng Cóc ơi! Chàng Cóc ơi/ Thiếp bén duyên chàng có thế thôi/ Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé/ Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi!”. Giáo sư Lê Trí Viễn sau quá trình điền dã ở Tứ Xã, thanh minh cho Tổng Cóc và Hồ Xuân Hương đã phân tích bài thơ “Khóc Tổng Cóc” đúng với ý hiểu của người Tứ Xã: “Xưa nay cứ coi đây là lời khóc chồng và cũng không ai nghi ngờ gì. Dù cho đó không chỉ có đau xót mà có gì như một sự tiếc rẻ, thậm chí một sự ân hận nếu không là hờn oán. Có vẻ như một bài thơ giận người bỏ đi. Thương cho mình hơn là khóc cho người. Tóm lại, bài thơ không ra lời tang, là bài tự thương tự tiếc, không giận người mà chỉ tủi cho mình. Các nghiên cứu theo phương pháp hệ thống lại chỉ nhằm vào mấy chữ “cóc, bén (nhái bén), nòng nọc, chuộc (chẫu chuộc)” để thích thú cái tài thơ của nhà thơ, chứ không ngờ gì tới nỗi lòng chảy máu của bà“.

(3). Lời giải cho nghi vấn mộ phần Hồ Xuân Hương ở Hồ Tây (3)

Người ta tin rằng có mộ phần nữ sĩ Hồ Xuân Hương dưới làn nước hồ Tây, dòng họ Hồ lại thêm một lần rậm rịch chuyện tìm kiếm.

                                                                       Liên Phạm (Báo Công lý) Nguồn: (3)

Hà Nội đang làm đường sắt trên cao và dự tính một đoạn đường sắt đô thị sẽ chạy vượt trên Hồ Tây, đang làm dấy lên lo ngại ảnh hưởng đến không gian đậm đặc huyền tích.

Hồ Xuân Hương là ai?

Thơ của bà chúa thơ Nôm thì người Việt nào cũng thuộc đôi ba câu, nhưng bà là ai, số phận thế nào thì mấy ai tường, thậm chí nhiều chi tiết về cuộc đời bà vẫn lửng lơ trong thắc mắc của người đời như nhà thơ Hoàng Trung Thông từng băn khoăn rằng: “Như có như không, như không như có”.

Trong một lần công tác, tôi về Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu, Nghệ An) – mảnh đất địa đầu xứ Nghệ xưa nay nức tiếng là làng khoa bảng, khi có câu “Bắc Hà – Hành Thiện, Hoan Diễn – Quỳnh Đôi”. Nằm trên quốc lộ 1A có biển chỉ dẫn “Bia, mộ nữ sĩ Hồ Xuân Huơng” khiến tôi băn khăn, phải chăng người ta đã tìm được và “quy tập” mộ phần của “bà chúa thơ Nôm” về quê nhà?

Từ đường quốc lộ 1A, đi vào con đường liên xã chừng 5- 6km, tôi đến xã Quỳnh Đôi, bên tay phải có nhà bia ghi dòng chữ “bia nữ sĩ Hồ Xuân Hương (Sinh ngày Canh tý 25, tháng 2 Quý mão, năm Nhâm thìn 1772, mất ngày 13 tháng 4 năm Nhâm ngọ 1822)”- thì ra đây chỉ là bia, chứ không phải mộ bà. Hai bên đường dẫn vào nhà bia, là hàng xà cừ cổ thụ, và gần cạnh là mộ chí của nhà cách mạng Hồ Tùng Mậu và Anh hùng Cù Chính Lan, bao quanh là cánh đồng lúa xanh rì…

Ông Hồ Xuân Quế

Đem băn khoăn này, tôi vào chiêm bái Nhà thờ họ Hồ Quỳnh Đôi – một trong 3 dòng họ (họ Hoàng, họ Nguyễn, họ Hồ) có công “khai ấp lập làng” cách nay 1630 năm. Đền thờ họ được Nhà nước công nhận di tích lịch sử.  Hỏi chuyện cụ Hồ Xuân Quế – Trưởng Ban Cán sự họ Hồ Quỳnh Đôi, thì cụ cho biết: “Tôi cũng không biết mộ bà ở mô, người ta nghi mộ bà ở Vĩnh Phúc, hay ở ven Hồ Tây chi đó…”. Về thân thế, sự nghiệp của “bà chúa thơ Nôm”, cụ Quế mở sổ ghi ra:

Theo tộc phả thì, ông Hồ Phi Diễn (1703- 1786) đỗ tú tài năm 24 tuổi, ra Bắc dạy học, lấy bà họ Hà quê Hưng Yên rồi sinh được một con gái là Hồ Phi Mai (bút danh sau là Hồ Xuân Hương) ở phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận (nay ở vườn Bách Thảo gần hồ Tây). Có người nói lại cho rằng, Hồ Xuân Hương là con ông Hương cống Hồ Sĩ Danh (1706- 1783), em ruột Hoàng giáp Hồ Sĩ Đống nhưng phả hệ Quỳnh Đôi không thừa nhận điều này vì, ông Hồ Sĩ Danh sau khi đỗ Hương cống không ra làm quan, cũng không đi đâu xa khỏi làng nên không thể có con là Hồ Xuân Hương.

Cũng theo tộc phả, thì Hồ Xuân Hương và Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ (tức Hồ Thơm) là anh em cùng có chung ông tổ 5 đời, cùng đời thứ 27 của Đức Nguyên tổ Hồ Hưng Dật.

Hồ Xuân Hương tài năng lỗi lạc về thi ca và học vấn ở Kinh Kỳ, nhưng đời riêng thì có số phận hẩm hiu – lấy 3 đời chồng, và đều… làm lẽ, đều bị vợ cả chèn ép, có lẽ vì thế bà đã “kêu” lên: “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung…”.

 

Nhà thờ họ Hồ Quỳnh Đôi

Về thăm “quê choa”

Về làng Quỳnh đôi, từ nam phụ lão ấu, ai ai cũng tự hào về quê mình, có nhiều danh nhân, trong đó có nữ sĩ Hồ Xuân Hương và ai cũng kể vanh vách nhiều giai thoại về bà. Theo giai thoại của làng thì Hồ Xuân Hương đã từng về “quê choa” – làng Quỳnh Đôi. Khi về quê, Hồ Xuân Hương đã đi gánh nước ở giếng Cả, đựng nước là 2 nồi đất. Vốn là con gái đất Bắc chốn Kinh Kỳ, không thạo việc nhà nông, nên “nàng” gánh nước lóng ngóng, bị trượt chân ngã, vỡ cả 2 nồi đất, nước tung tóe. Trai làng, thấy cô gái xinh xắn, thì đổ ra trêu ghẹo. Hồ Xuân Huơng không “đỏ mặt”, mà làm ngay bài thơ “Vũ hậu tức cảnh” (Tức cảnh sau mưa) để “chữa thẹn”, có câu: “Giơ tay với thử trời cao thấp/ Xoạc cẳng đo xem đất ngắn dài”. Người ta phải “lè lưỡi”, đúng là phận nữ nhi, nhưng khí phách thật như Từ Hải! Giếng Cả, như trong giai thoại xưa nay vẫn còn, nhưng nay thành ao cá.

Thấy có người con gái nổi tiếng thơ văn ở xứ bắc về, thì bao tài tử văn nhân của làng, của vùng kéo nhau tới… xem mặt. Mà, làng Quỳnh Đôi hồi ấy đã nổi tiếng là làng khoa bảng, người có chữ nghĩa không thiếu, các danh sĩ trong làng hồi bấy giờ, như Long Sơn, Hổ Sơn… Trong đó, một tối có ông đồ Dương Trí Tản vốn tính ngang ngạnh, tự phụ cũng sang thách đấu văn thơ với “người đẹp”. Rít xong hơi thuốc lào nhả khói mù mịt, cho mọi người giãn ra, Trí Tản ung dung ra đọc “ứng khẩu” một bài thơ đã chuẩn bị sẵn: “Eo lưng thắt đáy thật là xinh/ Điếu ai hơn được điều cô mình/ Thoắt châm thoắt bén duyên hương lửa/ Càng núc, càng say tính với tình”. Hồ Xuân Hương “tẩn” luôn: “Giương (từ đồng âm với tên họ là Dương của Trí Tản) oai giễu võ thật là kinh/ Danh tiếng bao lăm đã tận rồi/ Thoáng ngửi thoáng ghê hơi hương lửa/ Tài trí ra sao hỏi tính tình”. Bao tài tử giai nhân chốn Kinh Kỳ mà Hồ Xuân Hương “không thèm chấp” nữa mà một ông đồ tự phong, nghiện thuốc lào chốn làng quê này lại còn đòi “hương lửa” (chim chuột) với nàng! Từ đó, “ông đồ” Dương Trí Tản không còn lên mặt dạy đời, cậy có tý chữ “bắt nạt” mọi người ở chốn làng quê này.

 

Phả hệ Hồ tộc

Lập Cổ Nguyệt đường

Bên cạnh Hồ Tây lộng gió, Hồ Xuân Hương lập ra Cổ Nguyệt đường – là cái quán nơi đàm đạo thơ văn, thu hút nhiều văn nhân – bạn bè lui tới, như Chiêu Hổ, Trần Hầu, Tốn Phong Thị, Phạm Quí Thích, Nguyễn Huy Tự, Mai Sơn Phủ, Cư Đình, Trần Quang Tĩnh, Trần Phúc Hiển, và có cả Nguyễn Du nữa…

Ông Cự Đình khi giới thiệu bà với ông Tốn Phong Thị đã viết: “Hồ Xuân Hương học rộng mà thuần thục, dùng chữ ít mà đầy đủ, từ mới lạ mà đẹp đẽ, thơ đúng phép mà văn hoa, thực là một bậc tài nữ”.

Tốn Phong Thị cũng nói: “Tuy đầy vẻ gió trăng mây móc nhưng đều tự đáy lòng mà phát ra, biểu hiện thành lời nói, lại đều đúng với cái ý nghĩa: xuất phát từ mối tình mà biết dừng lại trên lễ nghĩa”.

Mộ phần bà ở đâu?

Để tìm hiểu thông tin từ phía dòng họ Hồ, tôi đã tìm gặp nhà nghiên cứu Hồ Bá Hiền – Trưởng ban Sử – Ban Liên lạc họ Hồ Việt Nam – người luôn đau đáu với việc tìm mộ phần của một người trong dòng họ. Ông Hiền không còn ở KTT Trung Tự, nay ông mới chuyển đến chung cư ven Hồ Tây, có lẽ để gần nơi bà Hồ Xuân Hương yên nghỉ, khi ông mở cửa sổ ra là nhìn ra mặt hồ!

Ông Hiền nói: chứng tích rõ nhất là ở bài thơ “Long Biên trúc chi từ” của Tùng Thiện Vương (Miên Thẩm), khi năm 1842 nhà thơ hộ giá vua anh là Thiệu Trị (1840- 1847) ra Bắc tiếp sứ thần Trung Hoa. Miên Thẩm sai cô hầu gái ra Hồ Tây hái sen về cúng đàn, còn dặn rằng: “Đầy hồ rực rỡ hoa sen/ Sai người xuống hái để lên cúng đàn/ Chớ trèo lên mộ Xuân Hương/ Suối vàng còn giận tơ vương lỡ làng/ Sen tàn phấn rữa mồ hoang/ Xuân Hương đã khuất bên đàng cỏ xanh/ U hồn say khướt làm thinh/ Gió xuân mấy độ thổi tình ai hay” (GS. Hoàng Xuân Hãn dịch). Nơi “cúng đàn”, phải chăng là chùa Kim Liên, nay vẫn còn, mộ phần của Hồ Xuân Hương cạnh nghĩa địa Đồng Táo, cách xa chùa không quá 300 m. Cần nói thêm là, trước kia Hồ Tây nhỏ hơn bây giờ, khi bị vỡ đê, nước đã nhấn chìm nhiều nghĩa địa, trong đó có nghĩa địa Đống Táo.

Ông Hồ Sĩ Bằng, nguyên Viện trưởng Viện Quan hệ Quốc tế, Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác- Lênin và Tư tưởng HCM, trong sách “Họ Hồ trong cộng đồng dân tộc Việt Nam” đưa nghi vấn: “các nhà nghiên cứu thiên về thuyết mộ bà Hồ Xuân Hương nằm ở nghĩa địa ven hồ”. Sách “Tây Hồ chí” có đóng dấu của Viện Viễn Đông Bác Cổ, ký hiệu A3192/1-2 đoạn viết về hình thế hồ có câu: “Thôn Lạc Chính (tên cũ là Ngũ Xã) ở giữa hồ gồm 2 bãi bồi lớn, nhỏ hình con lân. Bãi lớn rộng vài trăm mẫu là khu dân cư, bãi nhỏ khoảng ba bốn chục mẫu có nhiều phần mộ”.

Bài thơ cùng nhiều tài liệu khác, ông Hồ Bá Hiền nghi mộ bà ở một trong 3 nơi: nghĩa địa Lạc Chính (gần Trúc Bạch), nghĩa địa Đống Táo (ở Nghi Tàm) và gò Thất Tinh (giữa Thụy Khuê và làng Hồ Khẩu). Từ những thông tin trên là chưa đủ, ông Hiền “cầu cứu” đến Trung tâm tìm mộ từ xa của UIA. Nhà ngoại cảm NTN cho biết, mộ bà hiện ở khu vực hồ Tây (gần nghĩa địa Đồng Táo, gần khách sạn Thắng Lợi). Mộ ở dưới hồ, sâu khoảng 1,8- 2,4 m, cạnh đấy có một miếu thờ bà… Từ đó, ông Hiền đã phác ra sơ đồ mộ bà: Cách phủ Tây Hồ 625 m về phía Tây Nam, cách khách sạn Thắng Lợi 915m về phía Nam, từ miếu cũ xuôi về Tây 1.480m.

Sơ đồ vị trí ngôi mộ, do ông Hồ Bá Hiền vẽ

Ông Vũ Hồ Luân- Trưởng BQL di tích đình, chùa làng Hồ Khẩu, phường Bưởi, cho biết: Thực ra, tôi nguyên cũng là người họ Hồ. Theo các cụ truyền lại thì, vua Quang Trung- Nguyễn Huệ (tức Hồ Thơm) khi kéo quân ra Bắc đánh quân Thanh đem theo rất nhiều người họ Hồ ra, rồi định cư rải rác ở Thăng Long, trong đó có cụ kỵ tôi. Khi Nguyễn Ánh diệt nhà Tây Sơn, thì nhiều người họ Hồ ở Thăng Long đổi sang họ khác, cụ kỵ tôi đổi sang họ Vũ, nhưng vẫn lấy đệm là “Hồ” (Vũ Hồ). Là nhà giáo nghỉ hưu, lại sống nhiều đời ở làng Hồ Khẩu, rất am hiểu, và viết nhiều sách về vùng Hồ Tây, ông Vũ Hồ Luân cho biết: Tôi đã cùng 2 đoàn của dòng họ Hồ gồm 2 tiến sĩ, 6 kỹ sư và cử nhân, đi ca-nô ra để xác định vị trí, theo thông tin của nhà ngoại cảm.

Nhưng, phải nói tôi rờn rợn khi thấy ca-nô gặp trục trặc, đang nổ máy bỗng tắt vụt, rồi phải lấy sào chống bằng tay. Rồi thuyền cứ đi gần vào cái chỗ xác định theo bản đồ, thì gió lại thổi bạt ra, cứ loay hoay mãi mất cả ngày mà không vào được vị trí ấy. Rồi trời đang nắng, thì đột nhiên có hạt mưa, gió kéo đến, rồi mưa trắng xóa mặt hồ… Có người trong đoàn nói, thuê người nhái thì sẽ “mò” được ngay, người khác thêm vào là “hút cạn nước hồ đi, thì cứ thế xuống mà… nhặt”! Ông Luân suy tư: Trong những câu nói ấy, có điều gì “phạm” vào, nên… cái tâm chưa thành nên bị quở trách. Vậy là công việc tìm kiếm mộ phần của bà phải dừng lại, từ đó đến nay.

Ông Hồ Bá Hiền cho biết, việc tìm được mộ phần, di cốt của bà không chỉ là mong mỏi của hậu sinh dòng họ, mà của những ai yếu mến bà trong nước và quốc tế, để ta có dịp thắp cho bà nén hương.

(4) Hồ Xuân Hương- người đó là ai?

Hoàng Trung Thông

Người ta nói nhiều về Hồ Xuân Hương
Nhưng người đó là ai?
Thật mỉa mai
Không ai biết rõ

Người ta nói nhiều về Hồ Xuân Hương
Nhưng người đó là ai?
Thật mỉa mai
Không ai biết rõ
Như có như không như không như có
Nàng ở làng Quỳnh
Nàng ở phường Khán Xuân
Mờ mờ tỏ tỏ
Khi thì nói cô con Hồ Phi Diễn
Khi thì bảo cô là em Hồ Sĩ Đống
Khi thì nói nàng viết thơ Nôm
Khi thì nói nàng giỏi giang chữ Hán
Khi thì nói nàng tục mà không dâm
Khi tì bảo nàng dâm mà không tục
Chỉ có mấy chục bài thơ thôi mà tốn biết bao giấy mực
Để bình về một người làm thơ
Một người phụ nữ không ai có thể thờ ơ
Một người phụ nữ đã từng xỉa xói
Một người phụ nữ đã từng dám nói
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng
Ôi người thơ nữ ấy thật là đáo để
Xuân Diệu mới tôn lên “Bà chúa thơ Nôm”
Nhưng có phải bà ấy là bà chúa hay không?
Hồ Xuân Hương đã có mấy đời chồng
Nào là ông Phủ Vĩnh Tường
Nào là Tổng Cóc
Dẫu rằng gặp phải con nòng nọc
Đứt đuôi từ đây nhé
Nhưng nàng vẫn là nàng đấy thôi
Dẫu có bôi vôi hay không bôi vôi
Thì cũng thế thôi
Người phụ nữ Việt Nam xưa
Đã sống và sống trọn đời mình
Dù các tú sĩ mê nàng và nàng mê các tú sĩ
Thì con người ấy vẫn kiên cường
Kỳ nữ hay kỹ nữ
Và xem khinh tất cả
Con người Hồ Xuân Hương
Và được mang là Cổ Nguyệt
Bất chấp mọi thói thường
Dám viết dám làm không cần ai biết
Hồ Xuân Hương
Ở phường
Khán Xuân
Hay ở làng Quỳnh
Tôi không quan tâm lắm
Tôi chỉ biết nàng là một nhà thơ
Một nhà thơ trác tuyệt
Một nhà thơ ưu việt
Đã để lại cho chúng ta
Những câu thơ
Không ơ hờ
Mà ráo riết
Hôm nay đọc lại những câu thơ của cô
Dẫu có lúc cô đơn cô quạnh
Mà cô không trốn tránh
Những niềm vui nỗi khổ của cuộc đời
Hồ Xuân Hương ơi !
Như hôm qua hôm nay và mãi mãi
Không hiểu vì sao người ta vẫn đọc thơ cô
Giá như tôi có được một vần thơ
Giàu bản sắc Việt Nam như cô đã viết
Tôi đã đến chùa Thầy
Đến hang Cắc Cớ để lấy cớ lên chợ Trời
Và tôi đã thuộc câu thơ của cô cô ơi
Tôi cũng đã đến Kẽm Trống
Và tôi mới hiểu sự tài tình của cô
Khi viết những câu thơ như thế
Nàng Hương ơi !
Người ta bình luận về dâm và tục trong thơ của nàng
Nhưng tôi vẫn thấy mùi hương phảng phất
Mùi hương của thơ ca
Tôi không hiểu là thơ của chính nàng
Hay người khác nghĩ ra
Vì quá mến yêu nàng
Cho nên người ta gán những bài thơ đó cho nàng tất cả
Dầu nàng ở quê tôi
Hay ở một nơi nào xa lạ
Tôi nhớ và tôi thương
Thì tôi vẫn nói rằng
Tôi thích Hồ Xuân Hương
Bà huyện Thanh Quan dầu tôi thích thích thơ bà
nhưng là câu thơ quan dạng
Còn câu thơ họ Hồ câu thơ nhạo báng
Đó là thơ của cô
Đọc lên sang sảng
Ai thẹn thì cúi đầu
Ai thích thì nghĩ lâu
Đó là nàng thơ của một thời một thuở
Đó là thơ là không ai không nhớ
Vỗ cái ấy vào mặt vua quan
Rất dân gian mà không phải dân gian
Nếu là gian thì ai nhớ được
Tôi chỉ hằng mơ ước
Có được những câu thơ như Hồ Xuân Hương.

(Hoàng Trung Thông – Tiếng đời không dứt)

(5) Ngoại giao Việt Nam thời Tây Sơn

Thấy rõ chỗ yếu của quân Thanh và biết họ đang tìm cách để giảng hòa. Ngày 18 tháng giêng năm Kỷ Dậu, vua Quang Trung sai Ngô Thì Nhậm viết cho Thanh Hùng Nghiệp một bức thư với lời lẽ khi thì cứng rắn khi thì mềm dẻo, cứng rắn trong thái độ bảo vệ độc lập của dân tộc, mềm dẻo để nhà Thanh chấp nhận được điều kiện giảng hòa mà không mất thể diện. Bức thư ấy như sau:

“Tôi là một người áo vải ở trại Tây Sơn nước An Nam, sinh trưởng ở cõi xa, hâm mộ thánh giáo Trung Hoa. Gặp lúc biến cố đành theo chinh chiến. Mùa hạ năm Bính Ngọ có việc ở Tây thành rồi lại về Nam. Mùa xuân năm Mậu Thân, nhân trong nước không yên, đem quân lại đến (Thănh Long). Năm ấy đã khiến sứ giả đến cửa Nam Quan đem đủ quốc tình tâu lên, cúi mong Đại hoàng Đế phân xử. Nhưng lưỡng Quảng tổng đốc Tôn Sĩ Nghị xé thư đuổi sứ, rồi lại nghe người đàn bà Lê nịnh hót nói khéo, vô cớ động binh, gây việc hiềm hấn ở ngoài biên.
“Ngày 5 tháng giêng năm nay, lúc mới đến tôi mong gặp Tôn Sĩ Nghị để hỏi xem dùng binh có thực là do Đại Hoàng đế không? Nhưng Sĩ Nghị tự đón đánh, rồi bị đày tớ của tôi đánh bại, quân sĩ giầy xéo lên nhau chết không biết bao nhiêu mà kể. Những quân hiện bị bắt hiện còn hơn 800 người… Tôi đã cấp cho ăn mặc và cho ở riêng một chỗ. Tôi không lấn sang biên giới để phải tội với thượng quốc.
“Chỉ vì con cháu nhà Lê hèn yếu, người nước đều về với tôi. Sĩ Nghị vì cớ tài sức, muốn phù trì người hèn yếu, không tài, đem tấm lòng cung thuận của tôi vất bỏ đi. Lại đưa thư vào trong cõi, muốn giết hại tôi cho sướng. Bởi thế gây nên binh đao rồi bị thảm bại.
“Tôi ở xa bến biển, làm gì cũng bị Sĩ Nghị ức hiếp. Nay sự thế xui khiến, tôi đã mang tiếng lấy cánh tay bọ ngựa chống bánh xe. Tiếp được lời dụ của đại nhân, lòng mắt đều mở rộng ra… Còn như mẹ con Duy Kỳ gây nên hiềm hấn, rồi bỏ nước ngầm trốn, hoặc giả lại đến đất biên giới của thượng quốc. Tôi mong Tôn đài tra rõ tâu lên rồi đưa cho bản quốc lĩnh về xét xử cho hả lòng dân. Như thế mới là trừ ác trừ tận gốc…
“Nay quân đội cốt ở chỗ đoàn kết một lòng, không cốt ở chỗ đông, binh lính quý ở chỗ tinh nhuệ, không quý ở chỗ nhiều. Kẻ khéo thắng ở chỗ vô cùng mềm dẻo, chứ không phải ỷ mạnh lấn yếu, lấy đông hiếp ít đâu.
“Nếu tình hình trên không được bày tỏ, Thiên triều không khoan dung, muốn động binh chinh chiến thì nước nhỏ không được thờ nước lớn, tôi cũng đành nhờ trời mà thôi. (Nhân tiện nộp kèm theo tờ hịch của Tôn Sĩ Nghị ức hiếp tôi để gây ra chinh chiến)
Ôi! Đường đường Thiên triều mà tranh được thua với nước nhỏ, cùng binh độc vũ để thỏa lòng tham. Đó là điều trái với đức hiếu sinh của Thượng đế, Chắc thánh tâm cũng không nỡ thế. Nhưng muôn một xảy ra nạn binh đao không dứt, tình thế đến thế thật không phải lòng tôi muốn thế, mà cũng không dám biết vậy.

Bức thư trên vua Quang Trung giao cho Vũ Văn Dũng lúc này đang là  Hổ Hầu mang sang Quảng Tây giao cho Thanh Hùng Nghiệp, cùng với một tờ biểu nhờ Thanh Hùng Nghiệp chuyển lên cho Vua Càn Long. Tờ biểu này vừa kể tội Lê Duy Kỳ, vừa kể tội Tôn Sĩ Nghị, nó được kết thúc bằng một câu biểu thị thái độ rất cứng rắn của triều đại Tây Sơn.
Xem thư và tờ biểu, Thanh Hùng Nghiệp tái mặt đi. Ông biết vua Quang Trung là người có ý thức dân tộc, không chịu làm những gì hại tới quốc thể. Ông ỉm tờ biểu đi không đệ về Yên Kinh cho vua Càn Long nữa. Ông nói với Vũ Văn Dũng rằng: Ngày nay không phải là lúc 2 nước đang giao chiến, sao lại nói bằng toàn một giọng tức giận thế này. Nói như thế này thì muốn được phong tước hay muốn tái khởi chiến tranh?. Rồi ngày 22 tháng giêng năm Kỷ Dậu, ông lại viết cho vua Quang Trung một bức mật thư nữa, có những câu đại loại như:

Bản đạo xem tờ biểu, thấy về thể chế rất là không hợp, nên phải dụ cho rõ. Lê Duy Kỳ vốn là quốc vương nước An Nam, Đại Hoàng đế đã sai quân hộ tống về nước, không ngờ Duy Kỳ sau khi tập phong lại bỏ nước ngầm trốn phụ ơn to, phạm tội rất nặng; pháp độ Thiên triều ngươi há chẳng biết hay sao. Lúc này nếu Duy Kỳ ở nước ngươi, còn phải áp giải đưa sang để nghị tội. Thế mới là thành tâm thực phục. Nay tờ biểu lại đòi tìm bắt, thực là ra ngoài tình lý… Bản đạo giữ cửa ải ngoài biên, sau này cùng ngươi giao thiệp còn nhiều. Vì thế mở lòng thực, mật vì khai đạo. Sau này quốc trưởng ngươi có trình bày với Cung bảo hộ đường, vạn phần không được nói đến việc này. Mật thư này lại kèm theo một mật thư khác trong đó có câu: Ta xem tờ biểu, ta thấy lạ lùng và sợ hãi quá. Như thế thì nước ngươi không phải là cần Đại Hoàng đế phong vương cho, mà là muốn gây mối binh đoan vậy.[8]

Rồi Thanh Hùng Nghiệp khuyên vua Quang Trung nên làm một tờ biểu khác. Vị thủ lĩnh Tây Sơn nghe theo, rồi sai bọn Nguyễn Hữu Trù và Vũ Huy Phác mang sang Quảng Tây nhờ Thanh Hùng Nghiệp chuyển lên Yên Kinh, cùng với mười dật vàng và hai mươi dật bạc.[8][11]

 (6) Hồ Xuân Hương huyền thoại và sự thật.

http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=19178

Nguyễn Cẩm Xuyên

Sách

GIAI NHÂN DI MẶC;

Hồ Xuân Hương

(In tại Hà Nội thời Pháp thuộc)

”Người ta nói nhiều về
Hồ Xuân Hương
Nhưng người đó là ai
Thật mỉa mai
Không ai biết rõ
Như có như không như không như có
Nàng ở làng Quỳnh
Nàng lại ở phường Khán Xuân
Mờ mờ tỏ tỏ… “

(Hồ Xuân Hương – người đó là ai?).

Mấy câu thơ ngắn của Hoàng Trung Thông ít nhiều gợi cho người đọc thấy được cái mơ hồ  huyền thoại của một nhà thơ nữ  hiếm hoi trong làng thơ Việt Nam mà xưa nay từ dân dã đến trí thức chẳng mấy ai không biết. Người ta thuộc thơ Hồ Xuân Hương, thuộc nằm lòng những bài thơ ngâm vịnh về đủ mọi thứ trên đời; giọng thơ tinh nghịch, đùa cợt pha chút mỉa mai thế  tục – ấy vậy mà Hồ Xuân Hương sinh trưởng ở đâu? vào thời nào? cuộc đời của Hồ Xuân Hương ra sao, đã trải qua những nỗi bất hạnh nào để nên thơ? … thì đến nay người ta chưa xác định được. Đã có không biết bao nhiêu biện thuyết, bao nhiêu sách báo của bao nhiêu nhà nghiên cứu văn học, bao nhiêu tác giả trong nước: từ Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến (1) đến Dương Quảng Hàm, Hoa Bằng, Trần Văn Giáp, Nguyễn Triệu Luật, Trương Tửu, Xuân Diệu, Trần Bích Lan, Lê Xuân Giáo, Ngô Lãng Vân, Nguyễn Đức Quyền, Trần Thanh Mại, Kiều Thu Hoạch, Lê Trí Viễn… và gần đây như Nguyễn Lộc, Hoàng Xuân Hãn, Bùi Hạnh Cẩn, Đào Thái Tôn, Lữ Huy Nguyên, Hoàng Bích Ngọc… đến những người nước ngoài như Antony Landes(2) , Maurice Durand(3) , John Balaban (4) … cũng đã bàn luận nhiều về thân thế, sự nghiệp văn chương của nữ sĩ họ Hồ này – và đáng buồn thay: các ý kiến này khác nhau thậm chí mâu thuẫn nhau. Sở dĩ vậy là vì bên cạnh những học giả, những nhà văn bản học Hán-Nôm chuyên nghiên cứu các tàng bản từ thế kỉ trước với tinh thần nghiêm túc, cẩn trọng (5) lại cũng có một số người viết chưa đủ tầm hoặc chưa có được những bằng chứng xác đáng, thường suy diễn theo cảm nhận chủ quan, võ đoán.

Tìm hiểu cuộc đời nữ sĩ Hồ Xuân Hương, trước hết, Dương Quảng Hàm trong Việt văn giáo khoa thư  năm 1940 cho rằng “Hồ Xuân Hương là con gái ông Hồ Phi Diễn người làng Quỳnh Ðôi, huyện Quỳnh Lưu, xứ Nghệ An”. Cụ đồ Diễn đậu tú tài năm 24 tuổi; ra Hải Dương dạy học. Tại đây cụ lấy lẽ  một cô gái họ Hà ở Bắc Ninh. Hồ Xuân Hương là con của cụ đồ Diễn và người vợ thứ này. Lúc này cụ đồ Diễn đã chuyển về sống tại phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận (gần Hồ Tây – Hà Nội bây giờ). Về sau, gia đình lại chuyển về thôn Tiên Thị, Tổng Tiên Túc, huyện Thọ Xương (nay là phố Lý Quốc Sư). Tại đây, Hồ Xuân Hương có một ngôi nhà riêng dựng gần hồ Tây, lấy tên là Cổ Nguyệt đường (6).

Đó chỉ là mới nói về nơi sinh trưởng và phụ mẫu còn thời gian sáng tác của Hồ Xuân Hương lại cũng tồn tại nhiều nghi vấn. Việc xác định được thời gian này là cần thiết vì thơ Hồ Xuân Hương là bằng chứng sống, khẳng định được sự lên ngôi của chữ Nôm trong văn học nước nhà. Chữ Nôm tuy đã xuất hiện từ bao nhiêu thế kỉ trước: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Thánh Tông đã có thơ nôm … nhưng phải đến Hồ Quý Ly và đặc biệt là đến đời Nguyễn Tây Sơn, nó mới thực sự có ngôi thứ rõ ràng, không còn “nôm na là cha mách qué” nữa, nó đã là thứ văn tự được luật pháp quy định dùng trong văn bản hành chính. Đến Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương thì văn chương chữ Nôm đã đạt đến trình độ điêu luyện, các tác phẩm chữ Nôm hay hơn hẳn những thơ văn Hán-Việt ở các đời trước cũng như cùng thời. Thơ Nôm lại có sức sống mạnh mẽ hơn thơ Hán-Việt vì phạm vi phổ biến rộng hơn; tác phẩm không chỉ gói gọn trong tầng lớp “sĩ” nữa mà trải rộng ra tất cả: những người nông dân chân lấm tay bùn, những thợ thuyền, những con hầu vú em… đều có thể đọc Kiều, thuộc thơ Hồ Xuân Hương. Vậy Hồ Xuân Hương có gốc gác họ tộc ở đâu? sinh trưởng trong khoảng thời gian nào?

Hồ Phi Tiến căn cứ các gia phả của họ Hồ ở Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An cho rằng kể từ Hồ Hồng là người khai cơ lập nên họ Hồ ở Quỳnh Đôi thì đến Hồ Phi Phúc là đời thứ 11. Hồ Phi Phúc (đổi họ Nguyễn) sinh Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ.

Cũng đời thứ 11 này : Hồ Phi Diễn sinh Hồ Xuân Hương. Vậy nếu xem Hồ Hồng là thủy tổ (đời thứ nhất) ở Quỳnh Đôi thì đến Hồ Xuân Hương là thuộc đời thứ 12; Quang Trung-Nguyễn Huệ cũng thuộc đời thứ 12. (Hồ Xuân Hương và Nguyễn Huệ cùng chung ông tổ 5 đời là Hồ Thế Anh) (8) .

Về năm sinh năm mất: nhiều tài liệu cho rằng Hồ Xuân Hương sinh năm 1772, mất năm 1822. Vậy nhưng căn cứ vào: Xuân đường đàm thoại của Tam nguyên Trần Bích San (9) thì Hồ Xuân Hương lại sinh vào đầu triều Nguyễn và mất  vào năm 1869(10) . Điều này khiến ta băn khoăn không ít  bởi vì trong Thương sơn thi tập của Nguyễn Phúc Miên Thẩm – tức Tùng Thiên vương có bài Long biên trúc chi từ  được viết năm  1842 khi Tùng Thiên vương hộ giá vua Thiệu Trị ra Bắc tiếp sứ thần nhà Thanh, có tới viếng mộ Hồ Xuân Hương cạnh hồ Tây (11). Căn cứ bài thơ này có thể khẳng định Hồ Xuân Hương đã qua đời từ lâu trước 1842.

Vì những phức tạp trên, hôm nay về thời gian sinh trưởng của Hồ Xuân Hương, nhiều tài liệu chỉ xác định mơ hồ trong một khoảng thời gian khá rộng: cuối Lê-đầu Nguyễn, cùng thời với Nguyễn Du (1765-1820) (12). Suy cho cùng: có lẽ  vì những định kiến khắt khe của cộng đồng xã hội xưa, Hồ Xuân Hương vốn dĩ đã bị người đời đương thời xem là phóng túng, lại là phận nữ nhi nên tác phẩm cũng như thân thế của Bà đã không được các nho sĩ trân trọng ghi chép cẩn thận như nhiều văn-thi sĩ khác. Cũng như thơ, những cuộc tình duyên của Hồ Xuân Hương đầy sóng gió với biết bao huyền thoại: Hồ Xuân Hương đã từng chung sống với những ai? Để trả lời câu hỏi này, các nhà nghiên cứu chủ yếu luận đoán qua văn thơ. Gần đây nhờ gia phả họ tộc của Xuân Hương ở Quỳnh Đôi cùng những ghi chép những bậc cao niên vùng Tứ xã ở Phú Thọ là nơi Bà đã từng sống một thời vàng son với Tổng Cóc, những đồn đoán lệch lạc từ trước mới được cải chính…(13)

Trước hết hãy nói đến Tổng Cóc  – Tên gợi nên cảm nhận về người – Nghe tên, người ta tưởng tượng ra dung mạo một người xấu xí về hình vóc, thô bỉ về nhân cách. “Cóc” lại thêm có chữ Tổng ở trước : khiến người ta nghĩ đây hẳn là một tên cường hào ác bá ! Thật vậy, Nguyễn Hữu Tiến trong Giai nhân di mặc, đã cho là “lúc trẻ Xuân Hương bị mẹ ép phải lấy cường hào Tổng Cóc. Tổng Cóc đã dốt nát lại có tính ăn chơi bạt mạng, sau một lần đánh bạc thua nhẵn túi, gia sản khánh kiệt đã  tiếc của mà chết. Xuân Hương bèn làm bài thơ nổi tiếng “Khóc Tổng Cóc” lời lẽ trào phúng; bởi đối với ông chồng không xứng ý này nàng chẳng có chút cảm tình nào…”

Thật oan cho Tổng Cóc. Nỗi oan này thật ra đã bắt nguồn từ chính bài thơ Khóc Tổng Cóc của Hồ Xuân Hương:

Chàng Cóc ơi! Chàng Cóc ơi!
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi;
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé.
Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi!

Bài thơ tài tình lắm trong câu chữ (cóc, bén (nhái), nòng nọc, chuộc (chẫu chuộc), bôi vôi…” ) nhưng đã để lại cho đời biết bao võ đoán. Cả trăm năm trước bài thơ đã bị nhiều người hiểu lệch; trước hết, đề bài thơ gợi cho người đọc nghĩ đến việc vợ khóc chồng vừa quá cố. Sự thực đâu phải vậy! Gs. Lê Trí Viễn có phân tích và cho rằng bài thơ vừa  bộc lộ đau xót vừa thể hiện một sự tiếc rẻ, thậm chí một sự ân hận nếu không là hờn oán. Có vẻ như một bài thơ giận người bỏ đi. Thương cho mình hơn là khóc cho người. Bài thơ không ra lời tang mà là lời tự thương tự tiếc, không giận người mà chỉ tủi cho mình.

Cụ Dương Văn Thâm (14) làm rõ vấn đề hơn khi cho biết: dân làng Mương, làng Gáp biết thừa bài thơ “Khóc Tổng Cóc” của Hồ Xuân Hương chỉ là “khóc” cho mối tình đã qua chứ đâu phải khóc chồng vừa mất, bởi vì ai lại khóc chồng mà đi giễu nhau như là “cóc, nòng nọc, nhái bén, chẫu chuộc…”  chả hóa ra là bạc ác độc địa lắm sao? Quả đúng như vậy; nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn (15) trong “Phóng sự điền dã” căn cứ vào cuộc trò chuyện với các cụ cao niên của làng Gáp xưa (nay là Tứ xã, Lâm Thao, Phú Thọ) (16) cho biết: Tổng Cóc là người làng Gáp. Theo lệ xưa, sợ khó nuôi, người ta thường chọn cho trẻ những tên thật xấu xí … Mặc dầu gia đình thuộc dòng dõi văn chương, Phó tổng Nguyễn Bình Kình (tự là Nguyễn Công Hòa), lúc bé đã có tên là “Cóc”. Tổng Cóc là con nhà gia thế (cháu của Nguyễn Quang Thành; đỗ Tiến-sĩ năm 1680, đời vua Lê Hi Tông) (17), hay chữ, lại giỏi võ nghệ, vẫn thường xướng họa với Xuân Hương chớ không phải dốt nát như người ta lầm tưởng. Giàu nghệ sĩ tính, cảm mến tài thơ văn, Tổng Cóc đã lấy lẽ Xuân Hương … và có thể Xuân Hương nhan sắc nên Tổng Cóc đã hết lòng chiều chuộng. Theo cụ Dương Văn Thâm: hơn 200 năm trước, đất đai, ao hồ nhà Tổng Cóc trải từ đầu đến cuối làng Gáp. Chiều ý thích của Xuân Hương, Tổng Cóc đã cho đắp một gò đất nổi giữa hồ, xây nhà thủy tạ có cầu bắc qua dành làm nơi nữ sĩ nghỉ ngơi, lấy cảm hứng làm thơ và dạy học; chung quanh hồ trồng toàn liễu, giữa hồ thả sen, nuôi cá…Tương truyền, vườn cây bên hồ, Tổng Cóc dành một sào đất, riêng trồng chanh cho Hồ Xuân Hương gội đầu. Dân làng kể, tóc bà Hồ Xuân Hương đen óng, dài chấm đất, mỗi khi gội, cuộn đầy một chậu, nên phải dùng nhiều chanh mới đủ(18).

Xuân Hương dù có một thời gian lúc bé sống ở quê nhưng đã sớm theo cha lên kinh thành. Giỏi văn chương lại là nữ lưu ở chốn kinh đô, tính cách của Xuân Hương mâu thuẫn trầm trọng với lối sống và định kiến của cộng đồng làng quê lam lũ. Xuân Hương có nhiều mối bất hòa với người trong gia đình Tổng Cóc. Cuộc tình nhiều trắc trở. Tổng Cóc bỏ nhà ra đi. Khi trở về, Xuân Hương lại cũng đã bỏ đi… và đã trở thành vợ lẽ của Tri phủ Vĩnh Tường. Bài thơ “Khóc Tổng Cóc” được Xuân Hương làm trong thời gian này là để khóc cho một cuộc tình đã chết . Một cuộc tình buồn!  (19)

Người chồng thứ hai được người đời truyền tụng là Ông Phủ Vĩnh Tường. Xuất phát từ bài thơ “Khóc ông Phủ Vĩnh Tường” nhiều giả thuyết đã tồn tại với nhiều lí giải khác nhau. Theo Ngô Lãng Vân: sau khi góa Tổng Cóc, Xuân Hương mở quán bên đường làm kế sinh nhai. Nhiều khách văn chương tìm đến xin xướng họa rất nhiều, trong số có một đồ sinh đỗ Giải nguyên sau nhiều lần xướng họa, rất phục tài Xuân Hương cưới làm vợ lẽ, sau này thành ông Phủ Vĩnh-Tường.

Hoàng Xuân Hãn cũng có  đề cập đến một người tên là Phạm Viết Đại (Hoàng Xuân Hãn đã ghi nhầm là “Phạm Viết Đạt”) được người ta cho là Tri phủ Vĩnh Tường, chồng của Xuân Hương nhưng ông không tin lắm vào tính xác thực của thơ Nôm truyền tụng và cho rằng bài “Khóc ông Phủ Vĩnh Tường quyết không phải của Xuân Hương và Xuân Hương không phải có chồng là Tri phủ Vĩnh Tường…” (20).

Về Phạm Viết Đại: Phương Tri (Tạp chí Văn Học, số 3/1974) cho biết ông Trần Tường dựa vào gia phả Trà-lũ xã và lời kể qua kí ức của các cụ già làng Trà Lũ đã phát hiện ra ông Phủ Vĩnh-tường tên là Phạm Viết Đại sinh năm 1802, đỗ Cử-nhân năm 1842; năm 1862 được thăng chức Đồng Tri phủ Vĩnh-tường.  Nhiều giai thoại và thơ xướng họa giữa Phạm Viết Đại với Xuân Hương cũng được các cụ già trong làng Trà Lũ kể và đọc lại theo trí nhớ. Ông Trần Tường nhận thấy nhiều bài thơ vịnh cảnh của Xuân Hương trùng hợp với những nơi mà Phạm Viết Đại đã từng làm quan. Tuy vậy, nếu cho rằng Phạm viết Đại là Tri phủ Vĩnh Tường và bài thơ khóc Tri Phủ Vĩnh Tường là khóc Phạm Viết Đại thì không đúng vì theo sách Nữ Lưu của Lê Dư thì nữ sĩ Xuân Hương góa chồng lần cuối rồi mất sau chồng vài năm; nghĩa là sau khi Phạm Viết Đại mất vào năm 1862 thì Xuân Hương mất vào khoảng năm 1864. Điều này là sai với căn cứ của Thương sơn thi tập (Miên Thẩm) vốn được xem là tác phẩm là có nguồn gốc chứng cứ lịch sử rõ rệt. Căn cứ Thương sơn thi tập:  Xuân Hương phải mất trước năm  1842. Điều này chỉ có thể chấp nhận được với Trần Bích San khi cho rằng Hồ Xuân Hương mất năm 1869.

Không công nhận Tri phủ Vĩnh Tường, Hoàng Xuân Hãn căn cứ Lưu Hương ký, Tục Hoàng Việt thi tuyểnĐại Nam thực lục  cho rằng Hồ Xuân Hương có chồng là Trần Phúc Hiển làm quan Tri phủ Tam Đái; năm 1813 Phúc Hiển được thăng  từ Tri phủ Tam-Đái lên chức Tham Hiệp trấn Yên Quảng; cưới Xuân Hương làm lẽ được khoảng một năm thì quan Tham hiệp bị tử hình năm 1818 (21).

Năm 1973, Hồng Liên Lê Xuân Giáo dịch Quốc sử di biên của Phan Thúc Trực. Căn cứ tác phẩm này, Lê Xuân Giáo cho rằng tài nữ được nhắc đến trong Quốc sử di biên chính là Hồ Xuân Hương nhưng lại cho rằng Trần Phúc Hiển là người chồng thứ ba (sau Tổng Cóc, Tri phủ Vĩnh Tường) .

Ngoài các đời chồng trên, Xuân Hương còn nhiều bạn văn chương với bao tình quyến luyến được ghi chép lại trong thơ. Người có nhiều thơ xướng họa là Chiêu Hổ. Nhiều nhà nghiên cứu (Trần Thanh Mại, Văn Tân, Nguyễn Triệu Luật …) vẫn cho rằng Chiêu Hổ là Phạm Đình Hổ (1768-1839; tác giả Vũ Trung tùy bút, Tang thương ngẫu lục ) cùng với Nguyễn Án và Xuân Hương đương thời mệnh danh là “Tam tài tử”. Tuy vậy Chiêu Hổ chắc chắn không thể là Phạm Đình Hổ được vì một lí do rất đơn giản là qua các bài thơ xướng họa với Xuân Hương Chiêu Hổ tỏ ra rất sành sỏi và rất thích thơ nôm, trong khi Phạm Đình Hổ ngay trong phần “Tự thuật” trong Vũ trung tùy bút đã tự nhận là “chữ Nôm ta không thể hiểu hết được(22).  Tác giả của Vũ Trung tùy bút không thích chữ Nôm; vậy không thể là Chiêu Hổ.

Chiêu Hổ là ai? đến nay chưa thể xác định.

Ngoài Chiêu Hổ, căn cứ Lưu hương ký, Hồ Xuân Hương còn nhiều bạn tình khác như Nguyễn Hầu, Trần Hầu (Hiệp trấn Sơn Nam Thượng-Trần Ngọc Quán(?), Hiệp trấn Sơn Nam Hạ Trần Quang Tĩnh, Tốn Phong, Mai Sơn Phủ, Thạch Đình, Cự Đình, Thanh Liên, Chí Hiên… Trong số những bạn văn chương có tình cảm đậm đà đáng lưu ý nhất là Nguyễn Du. Lưu Hương Ký  có bài “Cảm cựu kiêm trình Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu (Hầu: Nghi Xuân, Tiên Ðiền nhân)”. Với tước hiệu, tên người, gốc gác nêu ở đề bài thơ thì ta có thể chắc chắn đây là bài thơ bày tỏ tình cảm với Nguyễn Du, với nhiều câu thơ nồng nàn tình cảm:

Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung,
Mượn ai tới đấy gửi cho cùng.
Chữ  tình chốc đã ba năm vẹn,
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không.
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập,
Phấn son càng tủi phận long đong.
Biết còn mảy chút sương siu mấy,

Lầu Nguyệt năm canh chiếc bóng chong.

Căn cứ nội dung, bài thơ có lẽ đã được Xuân Hương viết năm 1813, năm Nguyễn Du được thăng Cần Chánh học sĩ sung Chánh sứ sang cống nhà Thanh, đi qua Thăng Long và gặp lại Xuân Hương.

Ngoài Nguyễn Du, những bạn văn chương khác cũng là những người tình rất đỗi gắn bó, thiết tha với Xuân Hương; ví dụ Mai Sơn Phủ được nói đến ở bài thơ “Họa Sơn Phủ chi tác” (họa thơ Sơn Phủ):

Này đoạn chung tình biết mấy nhau,
Tiễn đưa ba bước cũng nên câu.
Trên tay khép mở tanh chiều nhạn,
Trước mặt đi về gấp bóng câu.
Nước mắt trên hoa là lối cũ.
Mùi hương trong nệm cả đêm thâu.
Vắng nhau mới biết tình nhau lắm,
Này đoạn chung tình biết mấy nhau.

Riêng với Tốn Phong là người tình thân thiết với Xuân Hương nhiều năm và cũng là người viết bài tựa cho Lưu Hương ký: tình Xuân Hương tỏ ra rất đậm đà với người đã từng thề nguyền hẹn ước:

Kiếp này chẳng gặp nữa thì liều,
Những chắc trăm năm há bấy nhiêu.
Nghĩ lại huống đau cho phận bạc,
Nói ra thêm nhẹ với thân bèo.
Chén thề thủa nọ tay còn dính,
Món tóc thời xưa cánh vẫn đeo.
Được lứa tài tình cho xứng đáng,
Nghìn non muôn nước cũng tìm theo.

(Hoạ Tốn Phong nguyên vận).

Sau khi chia tay với Tổng Cóc, trong nhiều năm Xuân Hương đã quen biết nhiều văn nhân, tài tử. Cuộc đời, cuộc tình của Hồ Xuân Hương, nữ sĩ độc đáo trong nền văn học nước ta mịt mờ là thế. Việc xác định bằng một số sách sử của triều Nguyễn cũng khó khăn vì những quyển như Đại Nam thực lục chỉ chuyên chú ghi việc của chính quyền còn những chi tiết thuộc văn chương lại ghi rất sơ sài. Chỉ có cách là căn cứ vào một số sách bàn về văn thơ như Đại Nam đối thi,  Hoàng Việt thi tuyển, Quốc âm thi tuyển (23) và các bài thơ truyền tụng đựợc cho là của bà chép trong nhiều tàng bản nôm (24). Việc tuyển chọn, xác minh những bài thơ Nôm này không đơn giản chút nào vì qua nhiều năm tháng, sao đi chép lại, nhiều bài đã có nhiều dị bản và nhiều mạo tác. Riêng gần đây có Lưu Hương ký là một tập thơ được Trần Thanh Mại phát hiện, giới thiệu trong bài “Bản Lưu Hương ký và lai lịch phát hiện của nó” trên tạp chí Văn học số 11 năm 1964. Mới đây, trên Giadinh.net.vn , trang Văn hóa ngày 01/9/2008, Nguyễn Thắng viết theo tư liệu của TS Nguyễn Xuân Diện – Phó Giám đốc Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm như sau:

“…GS Hoàng Xuân Hãn kể lại: “Khi tìm kiếm tài liệu về Hồ Xuân Hương, tôi lục trong các báo ở Việt Nam, từ năm 1954 trở đi có chừng 7 – 8 báo văn học có nói đến Hồ Xuân Hương, nhưng cũng chỉ bâng quơ chuyện thơ Hồ Xuân Hương tục hay không tục, chứ không đả động đến đời sống của bà. Duy chỉ có ông Trần Thanh Mại tình cờ đọc những sách của trường Viễn Đông Bác Cổ để lại có bài tựa sách của một người ký tên là Nham Giác Tốn Phong. Bài tựa đó nói đến một cuốn sách tên là Lưu Hương ký của Hồ Xuân Hương. Sau bài tựa ấy có những bài thơ của ông Tốn Phong tặng Hồ Xuân Hương. Ông Trần Thanh Mại mới nghĩ rằng nếu tìm được Lưu Hương ký sẽ biết thêm về Hồ Xuân Hương. Chuyện này vào khoảng 1963, ông Trần Thanh Mại đã kể lại trong Tạp chí Văn học. Sau đó, ông Trần Thanh Mại loan báo muốn tìm cuốn Lưu Hương ký và ông nhận được lá thư của một cử nhân (không rõ tên) thông báo đã gửi biếu cuốn Lưu Hương ký cách thời điểm đó 8 -9 năm. Từ lúc ấy, ông Trần Thanh Mại mới bắt đầu khảo cứu Lưu Hương ký.

Trong Tạp chí Văn học (Hà Nội), năm 1964, ông Trần Thanh Mại mới giới thiệu và dịch 16 bài trong số 52 bài. Sau đó miền Bắc bước vào chiến tranh chống Mỹ nên bẵng đi một thời gian rất dài, không ai trở lại vấn đề Hồ Xuân Hương và không ai mở lại Lưu Hương ký mà đọc nữa”.

Năm 1988, GS Tạ Trọng Hiệp, trong một chuyến công tác ở Hà Nội, đã được GS Hoàng Xuân Hãn uỷ thác việc xin chụp lại hoặc chép lại Lưu Hương ký. Khi GS Hiệp đến Viện Văn học là nơi có chức năng bảo tồn bản Lưu Hương ký quý báu đó thì không tìm ra. Các chuyên gia về văn học cổ Việt Nam đều cho biết cuốn ấy đã mất rồi. Được biết, sau khi ông Trần Thanh Mại mất, người kế tục công tác nghiên cứu Hồ Xuân Hương, lại là người giữ công việc gần như quản thủ thư viện sách Hán Nôm của Viện Văn học, ông Hồ Tuấn Niệm, đã đem theo trong ba lô cuốn Lưu Hương ký trong những năm sơ tán tránh bom Mỹ mà không để lại Hà Nội một bản chụp nào cả. Ông Niệm đã mất và tập Lưu Hương ký cũng biến mất theo (…)

Sau khi không tìm được Lưu Hương ký ở Viện Văn học, GS Tạ Trọng Hiệp quay sang Viện Hán Nôm. Viện này có chức năng – do sắc lệnh của Hội đồng Chính phủ ghi rất rõ khi sáng lập – là hễ có phát hiện những tư liệu quan trọng về cổ văn, cổ sử thì Viện Hán Nôm phải có một bản chụp hay bản sao. Cuốn Du Hương Tích động ký mà Trần Thanh Mại đọc được và lần ra đầu mối Lưu Hương ký chính là một bản thảo mang ký hiệu A.2814 lưu tại Viện Hán Nôm. Trong bản thảo đó, ngoài bài ký còn chép 31 bài thơ chữ Hán của một người có tên là Tốn Phong. Khi GS Hiệp xin chụp lại Lưu Hương ký thì Viện Hán Nôm đưa Du Hương Tích động ký ra vì cứ tưởng rằng đây chính là Lưu Hương ký của Viện Văn học. Chính vì thế họ mới không chụp lại Lưu Hương ký của Viện Văn học.

Theo GS Tạ Trọng Hiệp: “Chỉ còn một hy vọng nhỏ là có một người duy nhất ở Hà Nội may ra còn giữ được bản chép tay toàn bộ 52 bài thơ trong Lưu Hương ký, đó là ông Đào Thái Tôn – một tác giả cũng viết về Hồ Xuân Hương. Trong cuốn Thơ Hồ Xuân Hương của Nguyễn Lộc có nói rằng Đào Thái Tôn là người đã được giao cho đọc tậpLưu Hương ký và đã dịch trọn vẹn 52 bài. Hy vọng ông Đào Thái Tôn có chép bản chữ Hán và bản Nôm để dùng và kiểm tra bản dịch của ông. Trong đợt về Việt Nam công tác, tôi cũng có yêu cầu được gặp ông Đào Thái Tôn, nhưng không may ông lại đi công tác. Nếu ông Tôn không giữ được bản chép tay Lưu Hương ký thì đây là một tổn thất không thể nào cứu vãn được…”.

Vậy là nay bản gốc Lưu Hương Ký do Trần Thanh Mại tìm được năm 1964 không còn. Một lần nữa chính bản tác phẩm của Hồ Xuân Hương lại chìm vào tăm tối.

Ngoài những mịt mờ trên, còn một nghi vấn lớn bởi một điều rất lạ : thơ Hồ Xuân Hương chia ra hai mảng riêng biệt với phong cách rất khác nhau.

Mảng thứ nhất là thơ Nôm truyền tụng. Vì là truyền tụng nên tính xác thực không cao lại có nhiều mạo tác. Hoàng Xuân Hãn trong Thiên tình sử Hồ Xuân Hương đã tỏ thái độ có phần gay gắt khi viết về thơ cùng những giai thoại về Hồ Xuân Hương trong các sách, tạp chí khoảng đầu thế kỉ XX như sau : “…Vác chuyện vui và các thơ nhảm được nhắc lại, thêm vào. Rồi chính phần thơ nôm sâu sắc, đứng đắn mất dần vì không được truyền bá…”  (25).

Xét về nội dung thì nhiều bài thơ nôm truyền tụng bị một số người coi là “tục” thế nhưng rồi họ cũng phải công nhận là nó hết sức độc đáo vì diễn đạt được những ý thơ rất tinh tế, gần với suy tưởng của quần chúng lao động và đậm chất ca dao. Lời thơ thể hiện nghệ thuật cực kì điêu luyện, bộc lộ một thái độ ngổ ngáo của một phụ nữ phản kháng những định kiến, thói tục vô lí của xã hội thời phong kiến. Tác giả đã vận dụng hết sức tài tình cái tục thường thấy trong truyện cười để đả kích những gì tưởng chừng như rất ghê gớm, những gì luôn được trọng vọng được tôn vinh trong xã hội xưa. Chẳng hạn sau khi một lời hai ý tả rất sống động, rất hay Đèo Ba Dội với những lời thật dí dỏm, bình dân như  cửa son đỏ loét, tùm hum nóc – bờ đá xanh rì lún phún rêu..” bài thơ lại kết lại thật thần tình bằng một cảm nhận đánh trúng ngay vào cái tầm thường-thế tục của  “hiền nhân quân tử … ai mà chẳngmỏi gối chồn chân cũng muốn trèo” . Rồi như bài Vịnh cái quạt : sau khi kể lể những điều mà ngay cả những người nghiêm túc nhất cũng phải bật cười  “…chành ra ba góc, da còn thiếu – khép lại đôi bên, thịt vẫn thừa…”  Xuân Hương lại cho chính những thứ xem ra rất “tục” ấy làm “mát mặt anh hùng”“che đầu quân tử” . Thật tài tình và táo bạo hết sức và  chính sự tài tình, táo bạo trong nghệ thuật thơ thuần Việt ấy đã nói lên những gì rất đúng, rất đáng nói trong cuộc sống bao đời tăm tối của nông thôn xưa – những điều mà người phụ nữ từ ngàn đời rất muốn nhưng chẳng khi nào  dám nói. Lí do này khiến dễ hiểu tại sao thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương lại được đại đa số quần chúng – đặc biệt là người lao động nghèo, người nông dân chân lấm tay bùn thán phục, tôn vinh.

Sau những bài thơ nghịch ngợm đến xuất thần ấy là Lưu hương ký với 52 bài thơ (24 bài chữ Hán và 28 bài chữ Nôm) mới phát hiện năm 1964. Điều đáng ngạc nhiên là nội dung của các bài thơ sau này dù vẫn rất trữ tình nhưng lại khá nghiêm trang. Sự sai biệt này gợi lên một câu hỏi lớn: Thơ Nôm truyền tụng Lưu Hương Ký có phải thuộc cùng một tác giả hay không? Nếu cùng một tác giả thì tại sao lại chuyển đổi phong cách thơ lạ lùng đến vậy? Thơ Nôm truyền tụng của Xuân Hương tinh nghịch, ngổ ngáo, thể hiện một thiên tài nghệ thuật Việt Nam có một không hai vậy mà đến Lưu Hương ký thì nghệ thuật lại trở nên rất đỗi bình thường và nếu có hay chăng thì cũng chỉ là hay ở tâm trạng chua chát, bi thương và sự nhịp nhàng cân đối trong điển tích, câu chữ như nhiều nhà thơ đời trước…hoặc cùng thời như Bà Huyện Thanh Quan chẳng hạn…

Đọc Lưu Hương Ký rồi so lại với thơ Nôm truyền tụng, người đọc ít nhiều thấy thất vọng với một thiên thần thơ Nôm gãy cánh, không còn tìm đâu thấy hương vị của một Hồ Xuân Hương ngày cũ.

Xem kĩ thêm chút nữa: thơ Nôm truyền tụng không hề đả động đến những người bạn văn chương vốn đã quen biết lâu như Tốn Phong, Trần Hầu, Nguyễn Hầu, Mai Sơn Phủ, Thạch Đình, Cự Đình, Thanh Liên, Chí Hiên…và ngược lại, tìm trong Lưu Hương Ký, người đọc lại không hề thấy có một câu, một chữ nào nhắc đến Tổng Cóc, ông Phủ Vĩnh Tường hay Chiêu Hổ.

Không biết đã có điều gì khuất tất?

—————————

CHÚ THÍCH:

(1) Nguyễn Hữu Tiến, bút hiệu: Đông Châu, là nhà Nho có thực học phụ trách chuyên mục “Tồn cổ lục” của Nam Phong tạp chí. Mục này chuyên khảo về văn thơ cổ.

(2) Người Pháp sống ở Việt Nam vào thế kỉ 19, đã sưu tầm biên soạn nhiều truyện dân gian và thơ Nôm Việt Nam rồi dịch ra tiếng Pháp;

(3) Người Pháp làm việc tại Viện Viễn Đông bác cổ Pháp (1947-1957), tác giả cuốn L’œuvre de la poétesse Vietnamienne Hồ Xuân Hương (Paris, 1968)

(4) Giáo sư văn chương Anh của trường đại học Carolina, người đã 4 lần đoạt giải thưởng Lamont của Viện Hàn lâm các Thi sĩ Mỹ, người thông thạo chữ Nôm, yêu thích và đã dịch thơ Hồ Xuân Hương ra tiếng Anh. (Khánh Ngọc, John Balaban – Người giới thiệu Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du ra thế giới “; laodong.com.vn ; Lao Động Xuân 2007.)

Lý Lan (Thơ Hồ Xuân Hương đến với độc giả Mỹ http://www.bacbaphi.com.vn) đã viết về tập thơ The Poetry of Hồ Xuân Hương như sau: “…Tập thơ gồm 48 bài thơ của Hồ Xuân Hương, mỗi bài được trình bày trang trọng dưới ba hình thức: bản tiếng Nôm, bản tiếng Việt, và bản tiếng Anh. ( … ) . Đọc đi đọc lại những bài thơ Hồ Xuân Hương bằng tiếng Anh, tôi càng cảm động và khâm phục nỗ lực của John Balaban; và càng nhận ra chữ nghĩa Hồ Xuân Hương không ai theo kịp suốt chiều dài thời gian mà cũng không có ai tương đương trong bình diện không gian…”

* Theo Thông tấn xã Việt Nam, Nhà văn Rumani Conxtantin Lupêanu vừa xuất bản tuyển tập gồm 64 bài thơ của nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương do chính ông tổng hợp và biên dịch. Tuyển thơ dày 150 trang được in song ngữ tiếng Việt-Rumani, trong đó nhiều bài có thêm ký họa, minh họa và phần diễn giải ý nghĩa. Một số bài được dịch và gieo vần theo niêm luật của thơ Rumani.

(5) Gs. Kiều Thu Hoạch: Thơ Nôm Xuân Hương từ cách nhìn văn bản học.

(6) “cổ”古 ghép với “ nguyệt”月  thành chữ “ hồ” 胡;

(7) Hồ Tông thế phả  do Hồ Sĩ Dương soạn – các hậu duệ chép bổ sung; Hồ gia thực lục-bản chi thế thứ tục biên của tú tài Hồ Phi Hội (1802-1875; người cùng thế hệ với Hồ Xuân Hương, Nguyễn Huệ); Ghi chép của Án sát Hồ Trọng Toàn (1801-1864); Hồ Quỳnh gia phổ của chi Hồ Phi Tích; Phả ký tộc Trung chi II họ Hồ Quỳnh Đôi (ghi phả hệ họ Hồ ở Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu Nghệ An từ đời ông tổ đầu tiên là trạng nguyên Hồ Hưng Dật sống vào thế kỷ thứ 10, sau đó có một khoảng thời gian 300 năm, tộc phả này bị thất truyền rồi lại tiếp tục được chép từ năm 1314 khi ông Hồ Kha từ Quỳ Trạch (Yên Thành) về Quỳnh Đôi xem địa thế và giao cho con là Hồ Hồng ở lại khai cơ lập nên làng Quỳnh Đôi.

(8) Cố giáo sư Trần Thanh Mại trên Tạp chí Văn học số 10 năm 1964 tuy cũng đồng ý Hồ Xuân Hương có nguyên quán tại Quỳnh Ðôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An nhưng lại cho rằng  song thân của bà là Hồ Sĩ Danh và một người thiếp quê ở Hải Dương. Hồ Xuân Hương thơ và đời (Lê Xuân Sơn) cũng cho rằng Hồ Xuân Hương tên thật là Hồ Phi Mai con ông Hồ sĩ Danh (1706-1783) và là em cùng cha khác mẹ với Hồ Sĩ Đống (1738-1786) là một vị quan đầu triều thời chúa Trịnh.

(9) Trần Tường phát hiện và công bố trên Tạp chí Văn Học, số 3/1974, dưới nhan đề “Một số tư liệu mới tìm thấy về Hồ Xuân Hương“.

(10)  …Xuân đường đàm thoại kể lại rằng: vào một ngày trong dịp tết lập xuân cuối mùa đông năm Kỷ Tỵ, niên hiệu Tự Đức thứ 22 (1869), trong một bữa tiệc rượu ở vùng Bắc Ninh cũ, có một người đến muộn. Hỏi ra, mới hay rằng ông ta vừa đi mai táng “Nghệ An tài nữ, hiệu Cổ Nguyệt Đường,  tự Xuân Hương” về! Thế là bên chiếu rượu, các “tao nhân mặc khách” cùng nhau phẩm bình về tài năng phẩm hạnh của người đã khuất. Mỗi người tỏ một thái độ khác nhau: người mừng rỡ là Hùng Lĩnh Xuân Mai; người buồn thương là Hoa Đường Ngọc Như. Cả hai đều ngâm vịnh, tưởng nhớ Xuân Hương theo cảm xúc của mình! Người ta còn nhận ra một người xem ra có vẻ điềm tĩnh hơn, ấy là người đi mai táng Xuân Hương, họ Hứa, tiểu hiệu là Ngô Ban. Ngô Ban “nghiêng cạn mấy chén uống ngay rồi ha ha cười, nói”. Theo ông ta, việc mai táng người tài nữ kia là “một việc đáng cười mà cũng đáng than”, chính ông và vài người đầy tớ đã chôn cất “nàng” ở cạnh núi Nguyệt Hằng, phủ Từ Sơn, huyện Đức Giang (thuộc Bắc Ninh cũ)…” (Đào Thái Tôn; Thơ Hồ Xuân Hương – Từ cội nguồn vào thế tục; trang 66. NXB Giáo Dục, 1996).

(11) 龍編竹之詞
並頭蓮花開滿池
花奴折去恭神裨
莫向春香墳上過
泉臺有恨錯牽絲
墜粉殘肢土一塋
春香歸去草青青
幽魂到氐今如醉
幾度春風吹不醒

Long Biên trúc chi từ:
Tịnh đầu liên hoa khai mãn trì,
Hoa nô chiết khứ cung thần ti.
Mạc hướng Xuân Hương phần thượng quá,
Tuyền đài hữu hận thác khiên ti.
Trụy phấn tàn chi thổ nhất doanh,
Xuân Hương qui khứ, thảo thanh thanh !
U hồn đáo để kim như tuý,
Kỷ độ xuân phong xuy bất tinh !

Hoàng Xuân Hãn dịch thơ:

Đầy hồ rực rỡ hoa sen;
Sai người xuống hái để lên cúng dàng.
Chớ trèo qua mộ Xuân Hương;
Suối vàng còn giận tơ vương lỡ làng.
Sen tàn, phấn rữa mồ hoang;
Xuân Hương đã khuất bên đàng cỏ xanh.
U hồn say tít làm thinh.
Gió xuân mấy độ thổi tình không hay!

(12) Sách giáo khoa hiện hành không nêu được thời gian sống của Hồ Xuân Hương mà chỉ nêu năm sinh, năm mất của Hồ Phi Diễn (1704-?) và Hồ Sĩ Danh (1706-1793); một trong hai người nghi vấn là thân sinh của Hồ Xuân Hương.

(13) Báo điện tử  Phú Thọ ngày 09/2/2006 và 26/06/2008 (http://www.baophutho.org.vn,) :

http://www.baophutho.org.vn

Ngôi nhà Tổng Cóc, nơi Hồ Xuân Hương đã sống và đề thơ, hiện giờ ông Kiều Phú đang ở

(Sơn Dương, Lâm Thao, Phú Thọ).

“…Tổng Cóc quen cha con Hồ Xuân Hương khi cùng đi thi Hương. Chằng hiểu cơ duyên thế nào, cụ Đồ đầu xứ người Nghệ An đã dắt con gái về làng Sơn Dương (Phú Thọ) dạy học. Cô gái ấy là Hồ Xuân Hương (…) Ở Tứ Xã hiện nay, bà con còn giữ được nhiều kỉ vật của Tổng Cóc – Hồ Xuân Hương: Gia đình anh Bùi Văn Thắng đang giữ đôi lục bình bằng gỗ mít, phủ sơn then có khắc chữ Hán. Tương truyền khi còn ái ân mặn nồng, Tổng Cóc đã yêu cầu Hồ Xuân Hương đề thơ lưu bút. Đôi lục bình vốn được đặt trên bàn thờ nhà Tổng Cóc, sau này kinh tế sa sút, đã phải bán đi … Cách nhà anh Thắng một cánh đồng, ngôi nhà lớn, làm toàn bằng gỗ quí, lợp ngói âm dương của gia đình Tổng Cóc vẫn được gia đình ông giáo Kiều Phú trân trọng giữ gìn. Ngôi nhà được làm cầu kì tới mức, đến cả cái bậu cửa ra vào cũng được chạm lưỡng long chầu nguyệt  (…) Cụ bà thân sinh ra ông Phú hơn 100 tuổi vẫn nhớ rất nhiều chuyện do cha mẹ kể lại liên quan đến Hồ Xuân Hương, cũng như sự tích ngôi nhà cổ của Tổng Cóc. Hiện, trên bức vách bằng gỗ mít phiến dày trong nhà, còn những dòng chữ được kể là của chính Hồ Xuân Hương đề : “Thảo lai băng ngọc kính/ Xuân tận hóa công hương; Độc bằng đan quế thượng/ Hảo phóng bích hoa hương”… Qua thời gian, do nhiều nhà quản lí địa phương, nhà nghiên cứu, người tham quan đã khiêng cả bức vách gỗ ra để bôi thuốc hiện màu vào nhằm in rập những nét chữ quí; qua nhiều mùa nước ngập, dòng chữ đã mờ đi rất nhiều.

(14) Lao Động số 144, ngày 26/06/2008 : Cụ Dương Văn Thâm, 93 tuổi, là nhà Nho và là người nghiên cứu công phu về cuộc đời Hồ Xuân Hương và Tổng Cóc với cả một kho bản thảo đồ sộ trong nếp nhà cổ giản dị. Nhờ cụ, các sinh viên, các nhà nghiên cứu về Tứ Xã (Phú Thọ) có được tư liệu chính xác về Hồ xuân Hương có quãng đời làm dâu trên quê hương Tổng Cóc.

(Lao Động số 144; ngày 26/06/2008 )

Cụ Dương Văn Thâm

(15) Nguyễn Hữu Nhàn: Nhà văn có nhiều nghiên cứu về văn hóa dân gian Phú Thọ.

(16) Trong đó đứng đầu nhóm có các cụ Xứ Cơ (đỗ đầu xứ), cụ Cả Chấn, cụ Bá Lạc, cụ Đồ Tạo, cụ Đồ Quán, cư Tống Thuần (tổng sự), ông Lê Văn Tiềm (nay đã gần trăm tuổi, đặc biệt là cụ Dương Văn Thâm. (Theo Đinh Vũ; http://www.baophutho.org.vn)
(17) Lịch triều tạp kỷ : Nguyễn Quang Thành có tiếng là thần đồng, 24 tuổi thi đỗ Tiến sĩ xuất thân năm Canh Thân đời Lê, niên hiệu Chính Hòa (1680). Ông làm quan trong triều, giữ chức Thiêm đô ngự sử; nay còn bia số 80 ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội.

(18) Nguyễn Hữu Tiến trong Giai Nhân Di Mặc có viết: “ Hồ Xuân Hương mặt hơi rỗ hoa, da hơi ngăm đen, không đẹp mà có duyên thầm…“. Những chi tiết này không biết Đông Châu đã căn cứ vào đâu (?).

Riêng Ngô Tất Tố trong truyện dã sử trong rừng Nho thì cho rằng nhan sắc Xuân Hương lúc ở Thăng Long đã làm cho nhiều Nho sinh phải mê mẩn: “…cái dáng dấp yểu điệu, cái dung nhan xinh đẹp của Xuân Hương lại làm cho lòng chàng nóng như lửa chất…”

(19) Theo Phạm Ngọc Dương; http://antg.cand.com.vn : Con cháu dòng họ Nguyễn Bình đã tìm được mộ cụ Tổng Cóc và đang trình dự án, thiết kế xây dựng với Sở Văn hóa – Thông tin và Thể thao tỉnh Phú Thọ để xây dựng mộ cụ, hoàn thành trước thời gian diễn ra cuộc hội thảo: “Tổng Cóc – Hồ Xuân Hương”, do Viện Nghiên cứu, bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc dự tính chủ trì và tổ chức tại Tứ Xã (Phú Thọ) vào cuối năm 2008.

(20) Hoàng Xuân Hãn; Thiên tình sử Hồ Xuân Hương; NXB Văn học 1995; trang 270

(21) Theo ông Hoàng Xuân Hãn thì bài thơ Khóc ông Phủ Vĩnh-tường có thể là ngụy tác vì Trần Phúc Hiển chết năm 1819, lúc bấy giờ chưa có tên “Phủ Vĩnh Tường” (đến 1822, phủ Tam-Đái  mới đổi tên thành phủ Vĩnh-tường).

* Có ý kiến cho rằng: Trần Phúc Hiển bị kêt tội tham nhũng và xử tử hình nhưng thật sự là do Lê Chất, Lê Văn Duyệt diệt vây cánh của Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường. Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán cũng tự tử chết.

(22) Vũ Trung tùy bút.(Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến dịch, NXB. Văn hóa – 1960).

(23) GS. Kiều Thu Hoạch; Thơ Nôm Hồ Xuân Hương – Từ góc nhìn văn bản học (Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 9/2007) có cho biết đã tìm được trong kho sách của Viện Hán-Nôm cuốn Đăng khoa lục sưu giảng của Trần Tiến (ký hiệu A.224) có chép một bài thơ Nôm kèm lời dẫn chữ Hán như sau: “Hà Nội tỉnh, nữ tử Xuân Hương hành lộ thất túc, thường lộ, tự vịnh” (Cô Xuân Hương ở tỉnh Hà Nội, đi đường sẩy chân ngã tốc váy, tự vịnh thơ):

Vén đám mây lên tỏ mặt trời
Lác coi từng đám rõ từng nơi
Giang sơn đâu đó nhô đầu dậy
Hoa cỏ quen hơi mỉm miệng cười

Ông Trần Thanh Mại rất thích thú với bài thơ này  và nhận xét: “Bài thơ sinh động thật, ma quái thật, Hồ Xuân Hương thật!”

(24) Gs.Kiều Thu Hoạch; Thơ Nôm Hồ Xuân Hương – Từ góc nhìn văn bản học (Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 9/2007) cho rằng: …cho đến hiện tại, dù đã mất mát ít nhiều, văn bản thơ Nôm Hồ Xuân Hương trong kho sách Hán Nôm cũng còn được 3 bản khắc ván in và nhiều bản chép tay, tổng cộng khoảng trên dưới 20 văn bản Nôm có thể làm cơ sở tư liệu cho việc tuyển chọn thơ Nôm Hồ Xuân Hương.

(25) Hoàng Xuân Hãn; Thiên tình sử Hồ Xuân Hương, NXB Văn học 1995, trang 280.

(KIẾN THỨC NGÀY NAY số 663 ngày 10/01/2009). Bản của tác giả Nguyễn Cẩm Xuyên http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=19178

Nguyễn Cẩm Xuyên
NgayTinhYeu142
CNM365. Chào ngày mới 14 tháng 2
. Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Valentine (hay còn gọi là Lễ tình nhân). Năm 1918 – Sau cách mạng tháng 10 Nga, Liên Xô bắt đầu sử dụng lịch Gregory, bộ lịch mới do Giáo hoàng Grêgôriô XIII đưa ra vào năm 1582 và sử dụng rộng rãi ngày nay.  Năm 2005 – Tên miền của Youtube được kích hoạt, Youtube hiện là trang web chia sẻ video lớn nhất thế giới. xem tiếp…Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
ChucmungNammoi

CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Advertisements

89 thoughts on “Nguyễn Du với Hồ Xuân Hương

  1. Pingback: Chào ngày mới 4 tháng 3 | Tình yêu cuộc sống

  2. Pingback: Bên lề chính sử | Tình yêu cuộc sống

  3. Pingback: Trí tuệ bậc Thầy | Tình yêu cuộc sống

  4. Pingback: Chào ngày mới 5 tháng 3 | Tình yêu cuộc sống

  5. Pingback: Truyện Joshep Stalin | Tình yêu cuộc sống

  6. Pingback: Chào ngày mới 6 tháng 3 | Tình yêu cuộc sống

  7. Pingback: Đêm trắng và Bình minh | Tình yêu cuộc sống

  8. Pingback: Chào ngày mới 7 tháng 3 | Tình yêu cuộc sống

  9. Pingback: Jackson bài ca sống mãi | Tình yêu cuộc sống

  10. Pingback: Jackson bài ca sống mãi | Tình yêu cuộc sống

  11. Pingback: Tổ Quốc nhìn từ những kiệt tác | Tình yêu cuộc sống

  12. Pingback: Chào ngày mới 8 tháng 3 | Tình yêu cuộc sống

  13. Pingback: Lên đỉnh Mã Phì Lèng | Tình yêu cuộc sống

  14. Pingback: Bên suối một nhành mai | Tình yêu cuộc sống

  15. Pingback: Chào ngày mới 9 tháng 3 | Tình yêu cuộc sống

  16. Pingback: Chào ngày mới 10 tháng 3 | Tình yêu cuộc sống

  17. Pingback: 24 tiết khí lịch nhà nông | Tình yêu cuộc sống

  18. Pingback: Chào ngày mới 11 tháng 3 | Tình yêu cuộc sống

  19. Pingback: Chào ngày mới 12 tháng 3 | Tình yêu cuộc sống

  20. Pingback: Chào ngày mới 13 tháng 3 | Tình yêu cuộc sống

  21. Pingback: Kiệt tác của tâm hồn | Tình yêu cuộc sống

  22. Pingback: Chào ngày mới 14 tháng 3 | Tình yêu cuộc sống

  23. Pingback: O Alquimista của Paulo Coelho | Tình yêu cuộc sống

  24. Pingback: Ngọc lục bảo Paulo Coelho | Tình yêu cuộc sống

  25. Pingback: Chào ngày mới 15 tháng 3 | Tình yêu cuộc sống

  26. Pingback: 500 năm nông nghiệp Brazil | Tình yêu cuộc sống

  27. Pingback: Chào ngày mới 16 tháng 3 | Tình yêu cuộc sống

  28. Pingback: Chào ngày mới 17 tháng 3 | Tình yêu cuộc sống

  29. Pingback: Chào ngày mới 18 tháng 3 | Tình yêu cuộc sống

  30. Pingback: Hoa Lúa | Tình yêu cuộc sống

  31. Pingback: Sông Mekong tài liệu tổng hợp | Tình yêu cuộc sống

  32. Pingback: Chào ngày mới 20 tháng 3 | Tình yêu cuộc sống

  33. Pingback: Nhà tôi có chim về làm tổ | Tình yêu cuộc sống

  34. Pingback: Chào ngày mới 21 tháng 3 | Tình yêu cuộc sống

  35. Pingback: Những tản văn hay | Khát khao xanh

  36. Pingback: Nhành mai trong thơ Bác | Tình yêu cuộc sống

  37. Pingback: Tiếng tri âm | Tình yêu cuộc sống

  38. Pingback: Nhớ Lão Khoa tìm ra rượu núi | Khát khao xanh

  39. Pingback: Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương | Tình yêu cuộc sống

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s