Trang viết giàu thông tin


Trang viet giauthongtinDuongDong

Dương Đồng là trang viết giàu thông tin. Dạy và học ngày nay cần kết nối điểm chính nhân cách, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp. PGS.TS. Dương Duy Đồng là Phó Hiệu Trưởng trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, chuyên gia Dinh dưỡng và Thức ăn Gia súc, phụ trách công tác Hợp tác quốc tế và Nghiên cứu khoa học. Thầy Đồng bận nhiều việc nhưng “vẫn tham gia cùng sinh viên đến phút cuối” (hình đẹp đầu trang), luôn cập nhật những mẫu chuyện ngắn yêu nghề và đời thường nhân hậu, lan tỏa niềm tin, nghị lực, cảm hứng, thông tin cho thầy bạn và các sinh viên nghề nông.
Trangvietgiauthongtin3
Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời. Trường tôi và Gia đình Nông nghiệp là nôi yêu thương.
TrangvietgiauthongtinDuongDong2

Chúc mừng thầy Dương Đồng. Chùm ảnh thân thương một thời để nhớ.

Bài viết mới

Advertisements

Bài thuốc quý cho sức khỏe


Baithuocthongmachmau1

BÀI THUỐC QUÝ CHO SỨC KHỎE. Thật không ngờ làm thông mạch máu lại đơn giản như vậy ! Chữa trị tận gốc những loại bệnh về mạch máu, cảm cúm, cao huyết áp, tim mạch… bằng cách mỗi  ngày uống một thìa trước bữa ăn sáng bài thuốc quý dân gian gồm nước cốt tỏi, nước cốt gừng, nước chanh, dấm táo hoặc nước thơm và mật ong.

Baithuocthongmachmau
Tắc nghẽn động mạch là căn bệnh nguy hiểm. Bài thuốc đơn giản làm thông mạch máu.

Baithuocthongmachmau1aMột người đàn ông tại London trong khi đến Pakistan tham gia một cuộc họp thì đột nhiên lồng ngực bị đau dữ dội. Sau đó ông được bệnh viện xét nghiệm chuẩn đoán ba động mạch vành đã bị tắc nghiêm trọng, cần phải phẫu thuật bắc cầu mạch vành. Trong thời gian chờ đợi mổ, ông ta đã tìm đến thầy lang cổ truyền của đất nước Hồi giáo này…

Vị thầy thuốc đã mách ông dùng thử một món ăn bài thuốc dân gian gọi là Thực liệu pháp. Tháng sau ông quay lại bệnh viện kiểm tra để mổ thì thật bất ngờ, cả ba động mạch máu, những chỗ bị tắc đều đã khai thông. Ông đã chia sẻ kinh nghiệm của mình trên mạng để mọi người biết. Ông còn đăng lên mạng hình chụp mạch máu của mình trước và sau khi điều trị để mọi người có thể dễ dàng nhận ra.Baithuocthongmachmau4

Dưới đây là cách chế biến phương thuốc:

Nguyên liệu: Nửa trái chanh, hai miếng gừng lớn, ba nhánh tỏi, một bình dấm táo, mật ong vừa đủ dùng.

Cách điều chế: Tỏi bóc vỏ, gừng thái nhỏ, bỏ vào máy xay sinh tố hoặc cho vào dụng cụ nghiền trộn thành hỗn hợp sền sệt, sau đó dùng vải chắt lấy nước và bỏ bã. Cho tỏi đã bóc vỏ, nước gừng vào nồi đất, cho thêm nước cốt chanh và dấm táo, đun lửa lớn cho sôi, sau đó vặn nhỏ lửa từ từ đun. Trong khi đun không nên đậy nắp, mà để hơi nước bốc hơi. Đun khoảng nửa tiếng, đến khi thấy lượng nước trong nồi còn chừng một nửa là được. Sau khi nước đã nguội bớt thì cho thêm mật ong vào, khuấy đều. Có thể cho nhiều mật ong một chút cho dễ uống. Bỏ thành phẩm vào bình thuỷ tinh có nắp đậy, để vào tủ lạnh bảo quản để dùng dần.

Baithuocthongmachmau2

Baithuocthongmachmau3

Cách dùng

Mỗi ngày uống một thìa trước bữa sáng. Hầu hết những bệnh về mạch máu đều có thể chữa trị tận gốc bằng phương pháp này. Món ăn bài thuốc dân gian này có thể dùng như một loại đồ uống, giúp ngăn ngừa các bệnh cảm cúm, cao huyết áp, tim mạch…

Nguồn thông tin và nhận xét

Bài thuốc quý thông mạch máu Quỳnh Chi (theo Ntdtv) và  Nguyễn Sơn Phong (theo http://go.funnno.com) cùng một số báo trong và ngoài nước đã đăng. Tôi có tra cứu lại bản gốc. Cám ơn tiến sĩ Phạm Xuân Tùng đã thông tin. Đây là bài thuốc rất quý vì phần lớn người cao tuổi đều có bệnh liên quan đến mạch máu, cao huyết áp, tim mạch. Dược tính nguyên liệu của món ăn bài thuốc này là bổ dưỡng sức khỏe,  rất ít tác dụng phụ, lại có sẵn dễ tìm, hợp lý và đáng tin cậy. Liều dùng món ăn bài thuốc này gia giảm tùy nghi theo cơ địa từng người và sự tư vấn của bác sĩ.

Hoàng Kim (sưu tầm)

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

 

Borlaug và Hemingway


TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Di sản Norman BorlaugErnest Hemingway lắng đọng những ấn tượng quý trong đời tôi, khi tôi may mắn đã được tiếp xúc trực tiếp với những ý tưởng và cống hiến của họ từ năm 1988. Tôi thật ngưỡng mộ nhà khoa học xanh Norman Borlaug đã dấn thân vì chén cơm ngon của người dân toàn nhân loại và tài năng văn chương  Anh mẫu mực của Ernest Hemingway. Tôi chỉ  mới kịp chép đôi điều về họ trên Wikipedia Tiếng Việt và ở trang Chào ngày mới 365 ngày. Tôi lưu bài viết này để mỗi năm quay trở lại bài viết nhằm chiêm nghiệm sâu hơn về di sản của hai con người kỳ dị này trong khoa học cây trồng và ngôn ngữ văn chương Anh.


Norman Borlaug
  sinh ngày 25 tháng 3, năm 1914 mất ngày 12 tháng 9 năm 2009, là nhà nông học Mỹ, nhà nhân đạo, người đoạt giải Nobel hòa bình năm 1970. Ông được coi là cha đẻ của Cách mạng xanh. Ông là người đã nhận được đồng thời ba giải thưởng lớn (Giải Nobel Hòa bình, Huân chương Tự do của Tổng thống và Huy chương vàng của Quốc hội) vì những cống hiến đặc biệt cao quý cho nhân loại.

Ernest Hemingway sinh ngày 21 tháng 7 năm 1899 mất ngày 2 tháng 7 năm 1961, là  nhà văn viết truyện ngắn, tiểu thuyết gia, nhà báo người Mỹ. Ông cũng là cựu quân nhân và là một người xa xứ Paris. Ông đã nhận được Giải Nobel Văn học năm 1954 và Giải Pulitzer năm 1953 với tiểu thuyết Ông già và biển cả. Ngày 1 tháng 9 năm 1952 là ngày tiểu thuyết Ông già và biển cả của Ernest Hemingway được xuất bản lần đầu tiên. Ngày 21 tháng 10 năm 1867, tiểu thuyết  Chuông nguyện hồn ai của Hemingway được phát hành lần đầu.

Hemingway mất lúc 62 tuổi khác với Borlaug từ giả cõi đời khi 95 tuổi. Cốt cách của hai người cũng khác nhưng hai người đều có chung một đặc điểm là những nhà nhân đạo chủ nghĩa với ý chí và nghị lực phi thường , khát khao xanh vươn tới chân thiện mỹ với một niềm tin mãnh liệt và một nghị lực sắt đá. Hai người này đều giống như Goeth với nhân vật  mà tôi đã kể bạn nghe trong phần hai Praha Goeth và lâu đài cổ của câu chuyện dài Tiệp Khắc kỹ niệm một thời. Tôi gặp Goethe ở Kalovi Vary trong rừng thiêng cổ tích. Người đã viết nên kiệt tác Faust, Nỗi đau của chàng Werther, bộ sử thi huyền thoại ngợi ca con người, mãi mãi bền vững với thời gian. Borlaug và Hemingway cũng như kiệt tác của Goeth đều mang tới thông điệp vĩnh hằng: “Con người có thể chết nhưng chí hướng và nghị lực của họ không bao giờ bị đánh bại”.

Mỗi dân tộc có những con người tuyệt vời làm cầu nối cho đất nước họ bước ra thế giới . Hemingway với kiệt tác Ông già và biển cả  là bậc thầy văn chương thấu hiểu và làm chủ những kết cấu tinh vi của ngôn ngữ Anh. Hemingway đã thức tỉnh và làm say mê nhiều thế hệ hệt như La Fontaine với kiệt tác Ngụ ngôn,  Victor Hugo với kiệt tác Những người khốn khổ , Nguyễn Du với kiệt tác Truyện Kiều,… Đó là những di sản văn hóa vô giá của nhân loại.

Mời bạn đọc bài HEMINGWAY- ÔNG GIÀ RÂU TRÊN BIỂN CẢ CHỮ NGHĨA  của Trần Mạnh Hảo. Thật thú vị khi đọc lời bình ấn tượng này về Hemingway với kiệt tác Ông già và biển cả.

(còn  tiếp…)

Hoàng Kim

Tài liệu dẫn:

Hemingway ( 1899-2016)

HEMINGWAY- ÔNG GIÀ RÂU TRÊN BIỂN CẢ CHỮ NGHĨA

Trần Mạnh Hảo

Ernest Hemingway (ảnh năm 1954)  Nobel Văn Học 1954 : tác phẩm ” Ngư ông và biển cả”. Ngày 21-7 kỷ niệm 117 năm ngày sinh của đại văn hào Mỹ Ernest Hemingway ( 1899-2016).

Hemingway lao vào cuộc đời như một võ sĩ đấm box lao ra trường đấu. Mà quả thực, có lúc, ông nhà văn kỳ lạ này thuở đầu đời đang trên tàu biển sang châu Âu cùng người vợ thứ nhất Hadley, đã tổ chức một trận đấu quyền anh, tự mình lao ra làm đấu sĩ để lấy ít francs giúp đỡ một cô gái bị bỏ rơi. Lúc đã thành danh, có khi ông thỉnh thoảng nổi máu yêng hùng, còn nhảy phóc ra từ bàn nhậu, phanh áo khoe bộ ngực lông lá đầy nam tính rồi thách đấu một tên chó chết nào đó, hoặc đấm những cú trời giáng vào khoảng không cảnh cáo thế gian, hoặc ghi vào mặt thằng cha nào đám xúc phạm ông một vài vết bầm tím gọi là… nhớ đời.

Hemingway cuồn cuộn và ào ạt như sông Mississippi hồng hộc sóng gió, hồng hộc thở ra biển tất cả nguồn cơn vừa phô bày, vừa bí ẩn của nước Mỹ. Có khi ông dàn trải đời mình thành mênh mông như thảo nguyên Chicago ngựa chạy gãy chân không thấu. Có khi ông đùn đẩy đời mình lên thành gò đống, chót vót như đỉnh núi Kilimanjaro, mượn linh hồn con báo mà chết muôn đời trên đỉnh tuyết mây trời vọng tưởng.

Cái gì của Hemingway cũng tột cùng. Hemingway tán gái. Hemingway đấm bốc. Hemingway túy ông. Hemingway mê cuồng với đấu trường bò tót. Hemingway săn tê giác và sư tử Phi châu. Hemingway lao sùng sục ra biển Cuba câu cá kiếm. Hemingway viết văn. Hemingway vong thân. Hemingway dấn thân. Hemingway lôn luôn coi Fidel Castro là thần tượng và là bạn thân thiết của nhà cách mạng Cuba này. Hemingway mê mẩn nước Mỹ và ngán nước Mỹ tới tận cổ. Hemingway lẩn thẩn với hư vô…

Một cuộc đời 62 tuổi như ông, dù có chia ra hàng chục cuộc đời khác cũng đều mãnh liệt và cùng tận hết mình. Có thể nói, Hemingway – một nhà văn rất Mỹ, từ cuộc đời đến tác phẩm chính là hình ảnh của nước Mỹ thu nhỏ, của một nước Mỹ đam mê và rồ dại, kiêu hùng và bi lụy, tự do và trầm cảm, chếnh choáng và hư vô…

Cùng với Chúa Trời, bò tót, sư tử, cá kiếm, năm người đàn bà có tên và không tên khác đã nhào nặn nên thể xác và tâm hồn Hemingway.

Đầu tiên là Grace Hall – mẹ ông, một người đàn bà Anh mắt xanh xinh đẹp, cao lớn, tươi tắn và nồng nàn như bình nguyên nước Mỹ, một giáo viên dạy nhạc tại North Oak Park đã truyền vào ông cả tâm hồn nghệ sĩ đầy mơ mộng, lúc nào cũng bàng bạc như sương và véo von như chim chóc. Cha ông – Ed Hemingway, một bác sĩ y khoa cao lớn, đẹp trai, một tay chơi mê câu cá, mê săn bắn đã “câu” được người phụ nữ âm nhạc này ngay trong trường trung học.

Khi Ernest vừa sinh ra, mẹ ông đã viết vào nhật ký những dòng như lời tiên tri về về đứa con trai ngỗ ngược và thiên tài sau này như sau: “Các con chim cổ đỏ hót những bài ca ngọt ngào nhất để chào mừng người viễn khách tí hon đến với thế giới xinh đẹp này”. Quả thật, Ernest suốt đời là viễn khách trên quê hương mình, là viễn khách của thế giới, viễn khách của những người đàn bà chết mê chết mệt vì ông, viễn khách trong chính bản thân mình, viễn khách của cái chết và hư vô. Cũng quả thật, cái nhìn của người mẹ đã xuyên suốt cuộc đời ái tình sôi nổi như bão giông sấm chớp của người con trai khi tiên đoán về “Các con chim cổ đỏ” châu tuần quanh người đàn ông cao lớn tới gần hai thước, ngực rộng, vai to, râu hùm hàm én, đẹp trai và chịu chơi vào loại nhất nước Mỹ này.

Một con chim cổ đỏ, mỏ đỏ đầu tiên mà Ernest vồ được khi chàng nằm điều dưỡng do bị thương ở chân tại Milan (Italy) năm 1918, lúc mới 19 tuổi là nàng điều dưỡng viên Agnes Hannah Von Kurowsky – hơn chàng gần 10 tuổi. Trong 18 cô điều dưỡng viên đến từ Mỹ xinh như mộng, Ernest đã chọn nàng Agnes Hannah lớn tuổi nhất đám, một nàng xinh tươi, tóc nâu sẫm, có mắc liếc đa tình và khóe cười lúng liếng có thể làm nghiêng lệch cả cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất. Chàng Ernest lao vào mối tình đầu như con sư tử Phi châu lao vào con sơn dương. Anh chị yêu nhau tưởng có thể sập bệnh xá Croce Rossa Americana đóng tại Milan vẫn còn nằm trong tầm đại bác của quân Áo. Hemingway trong đêm tối chiến tranh nóng nực, dám dũng cảm một mình lao lên cõng một thương binh đang hấp hối người Italy giữa trận tiền và đã hưởng trọn một tràng súng máy của quân Áo vào cẳng chân, khiến cả hai cùng gục xuống trong vũng máu. Chuyện dám hy sinh cứu đồng đội này đã đưa chàng trai trẻ Mỹ từ địa ngục chiến tranh đến với thiên đường có tên là Agnes Hannah tóc nâu sẫm kiều diễm như quà tặng mỹ miều của số phận.

Tình yêu trong chiến tranh phải chia lìa vội vã. Chàng phải về Mỹ vì bị thương đi cà nhắc. Còn nàng ở lại Milan tiếp tục băng bó vết thương thể xác và tâm hồn cho những chiến binh thoát chết khác, những Ernest khác. Về Mỹ ngày nào Ernest cũng viết một lá thư cho người tình Hannah nhưng chẳng có hồi âm. Hóa ra, Agnes Hannah đã quên chàng Ernest bé bỏng miệng còn thơm mùi sữa để đú đởn với một tên sĩ quan người Italy đa tình chết tiệt nào đấy. Ernest thất tình như rồ dại. Chàng nguyền rủa nàng – vị nữ thánh của mối tình đầu chính ra chàng phải tôn thờ mãi mãi thì lại đi hận nàng hơn hận quân Áo tí nữa đã xơi tái một cẳng chân mình. Lần đầu tiên yêu và lần đầu tiên bị phản bội, Ernest đã nếm chén đắng của sự thất tình.

Ernest đã thề giết chết Agnes Hannah trong tâm hồn mình để rồi làm cho nàng thành bất tử trong một cái tên khác là Catherine Barkley – nhân vật nữ chính trong cuốn tiểu thuyết đã đưa ông lên hàng những văn hào lớn nhất nước Mỹ và thế giới: “Giã từ vũ khí” xuất bản năm 1929. Hemingway hóa thân vào nhân vật Federic Henry để làm sống dậy cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, mối tình thứ nhất, nước Italy thứ nhất, sự rồ dại và đam mê thứ nhất của đời ông và của nhân loại. Tình yêu đẹp tới mức phi lý của Henry và cô y tá Catherine hiện lên lồng lộng như là sự phản đề của cuộc chém giết tàn khốc có tên là chiến tranh. Catherine cuối cùng đã không chết ở chiến hào mà chết bởi tạc đạn tình yêu: chết trong cuộc sinh nở.

Thế mà năm 1932, Hemingway điên tiết lên, đã toan tìm đấm vỡ mõm gã đạo diễn để cho Catherine không chết trong phim “Giã từ vũ khí”, trái với cái chết của nàng trong tiểu thuyết. Catherine đã chết bởi tình yêu. Nhưng tình yêu này bởi chiến tranh mà sinh ra. Chúng ta có thể “Giã từ được vũ khí” nhưng không thể nào giã từ được tình yêu và nỗi chết. Suốt cuộc đời cuồng nhiệt sống và cuồng nhiệt viết của mình, Hemingway đã bị tình yêu và cái chết, bị những người đàn bà và sư tử Phi châu giằng xé về hai phía thiên đường và địa ngục.

Cuốn tiểu thuyết “Mặt trời vẫn mọc” ra mắt năm 1926 của ông là tiếng thở dài của nước Mỹ, là mùi xú uế của cả một thế hệ bị chiến tranh bài tiết ra thành những hòn sống, những cục sống đi lang thang khắp châu Âu và Bắc Mỹ như những hồn ma.

Sau thời kỳ vong thân, sau cú thất thần mất hết hồn vía của thế chiến thứ nhất, trước hiểm họa phát xít xuất hiện đe dọa nhân loại, Hemingway tỉnh thức, chợt như nhảy bổ ra từ chai rượu, nhảy bổ ra từ các cuộc câu cá, đi săn để sang Tây Ban Nha tham gia binh đoàn quốc tế bảo vệ nền Cộng hòa non trẻ, chống lại nhà độc tài Franco. Tiểu thuyết “Chuông nguyện hồn ai” xuất bản năm 1940 là bài ca bi thương nơi cuộc dấn thân của một nhân loại mới ngây thơ và tốt lành, một nhân loại dám xé ngực mình, lấy trái tim làm vũ khí tiêu diệt cái ác.

Hemingway đã khoác một y phục khác, một cái tên khác là chàng Robert Jordan, một chiến sĩ tình nguyện người Mỹ đã đến Tây Ban Nha để chiến đấu bảo vệ nền Cộng hòa.

Trong tận cùng chết chóc, nước Tây Ban Nha hiện lên qua hình ảnh nàng du kích Maria, một thánh nữ đồng trinh của chiến tranh. Tình yêu của Jordan với Maria là tình yêu của một dấn thân này với một bơ vơ khác, là nghẹn ngào tỏ tình cùng nức nở. Tình yêu nào của văn chương Hemingway chừng như cũng là tình yêu của vết thương, tình yêu soi mình trong chiều sâu hút của một cái giếng trong suốt là nỗi chết. “Chết trong chiều nắng tà”, cuốn tiểu thuyết ra mắt năm 1932 của Hemingway đã đưa nước Tây Ban Nha trưng ra với thế giới ở một gương mặt khác với nghi lễ thiêng liêng của thuật đấu bò. Đây là một tiểu thuyết bên ngoài tưởng sục sôi, tưởng gào thét điên dại vì việc đấu bò tót; nhưng thực ra đây là tiểu thuyết luận đề, Hemingway bàn về cái chết, một cái chết có vẻ ma thuật và kỳ bí như chính Tây Ban Nha mà suốt đời ngoảnh lại, nhà văn còn thảng thốt đến ngẩn ngơ.

Hemingway bị ba con vật: bò tót, sư tử, cá kiếm rình ông từ ba góc của một tam giác quỷ – đời sống; hệt như năm người đàn bà ông yêu từ Agnes Hannah đến bốn bà vợ của bốn thời kỳ kéo ông ra thành sợi dây thun của hoan lạc và đầy ải. Bốn “triều đại” nữ hoàng trị vì trên tâm hồn và chiếc giường của ông từ “triều” hoàng kim Hadley, qua Pauline, tới Martha rồi Mary Welsh và dừng lại “ở triều” thứ năm – triều đại của hư vô và chấm hết là khẩu súng săn shotgun.

May mà trước khi đi tìm con báo trên đỉnh núi tuyết, Hemingway đã kịp ném linh hồn xuống biển Cuba để sinh ra kiệt tác “Ngư ông và biển cả”. Cuốn truyện vừa này lần đầu được in trọn trên tờ Life và bán được 5 triệu bản trong vòng 48 tiếng đồng hồ để đạt được giải thưởng Pulitzer và giải Nobel năm 1954.

Qua kiệt tác này, mới biết người khổng lồ của văn học phương Tây, một nhà văn Mỹ nhất lại mang một tâm hồn phương Đông, rất Phật và rất Lão Trang vậy. Ông già Santiago này chính là một tên gọi khác của Hemingway đã một mình lênh đênh trên chiếc thuyền câu đơn độc, suốt ba ngày đêm bị con cá kiếm vĩ đại mà ông vừa câu được lôi đi vào muôn trùng biển cả, đến nỗi tưởng như chính con cá kiếm kia đã câu được ông già. Cuộc vật lộn trong ba ngày chết đi sống lại kia của lão Santiago chính là cuộc vật lộn của ông già râu Hemingway suốt một đời lênh đênh và cô đơn tới cùng tận trên biển cả chữ nghĩa.

Con cá kiếm nặng tới sáu, bảy tấn, dài và lớn hơn chính chiếc thuyền câu, một sinh vật mạnh và đẹp đến mê cuồng của biển cả khiến chợt nhìn thấy nó, lão Santiago đã rợn da gà vì choáng ngợp. Qua nhân vật Santiago, khi con cá kiếm ngoài hành tinh đến cắn câu, chừng như ông già râu Hemingway đã ngó thấy hư vô, hay chính từ phút đó, hư vô đã câu được ông già và lôi đi tới đầu mút của thế giới văn học? Đằng sau con cá kiếm – linh hồn biển cả kia, ông lão kép Santiago – Hemingway này chừng như nhìn thấy tất cả đàn bà trên thế giới hợp lại và lôi ông đi vào siêu hình tình yêu, siêu hình sự chết.

Không, cuộc chiến đấu vĩ đại giữa một nhân loại cô đơn, bé nhỏ, yếu ớt và một thiên nhiên gầm thét, hung tợn tới vô cùng qua bàn tay rách nát và thân thể rớm máu vì cuộc giằng co sống chết của lão Santiago với con cá kiếm, Hemingway, nhà nhân đạo chủ nghĩa đã mang tới một thông điệp: “Con người không được sinh ra để chịu thất bại. Một con người có thể bị hủy diệt nhưng không bị đánh bại”.

Khi chỉ còn cách cái chết một gang tay, nhờ sức mạnh “không bị đánh bại” ấy, trong rốn thẳm tuyệt vọng, lão Santiago đã phóng ngọn lao cuối cùng của thế giới và giết được hung thần cá kiếm.

Chính là dòng suối máu của con khủng long này phun ra biển cả đã mời gọi hàng đàn cá mập kéo tới. Chỉ trong nháy mắt, bọn Pônpốt-Iêngxari này của biển cả đã chén sạch sành sanh thành quả sống chết của ngư ông. Cuối cùng, lão Santiago kéo lên bờ một bộ xương cá kiếm vĩ đại nhất thế giới – một bộ xương của siêu hình tôn giáo.

Vâng, chính là đàn cá mập nada (hư vô – tiếng Tây Ban Nha Hemingway hay dùng) được biển cả phái tới Ketchum, sáng chủ nhật ngày 2/7/1961 đã “vồ” được đại văn hào bằng khẩu súng săn hai nòng shotgun. Chính từ khẩu súng này, Hemingway từng săn được voi, sư tử, tê giác, báo và thú rừng Phi châu. Lần cuối cùng, ông đã săn được chính bản thân mình bằng một phát đạn tự bắn vào đầu.

Không có gì giết nổi con người này kể cả chiến tranh, cả bệnh viêm gan vì rượu, cả hai lần rớt máy bay và nhiều lần bị tai nạn xe hơi – trừ chính bản thân ông. Một lần nữa, Hemingway lại lên đường đi câu con cá kiếm của Chúa Trời ở bên kia thế giới. Ông đã bị hư vô vồ mất và lôi đi trên biển cả chữ nghĩa tới muôn đời. Trước đó, Hemingway đã vồ được vĩnh cửu; hệt như con báo Phi châu đã vồ được đỉnh núi tuyết Kilimanjaro, tìm được “Một nơi sạch sẽ và sáng sủa” nhất thế gian để chết và để cứu rỗi sự vĩnh hằng của cái đẹp đang bị thế giới trần tục này săn đuổi…

Trần Mạnh Hảo

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  CNM365 Tình yêu cuộc sống Cây Lương thực  Dạy và Học  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook

Ba bài thơ người lính


Trước vầng trăng cổ tích
TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Trước vầng trăng cổ tích, tôi chép lại HỌC MỖI NGÀY. ba bài thơ người lính “Mảnh đạn trong người” “Nhớ bạn” của anh Hoàng Trung Trực và bài thơ “Gặp bạn ở chợ Bến Thành” của anh Hoàng Đình Quang với lời bình của anh Đỗ Minh Tâm “Nỗi khắc khoải về một bài thơ”. Câu viết anh Tâm làm tôi nghẹn sự đồng cảm: “Đọc xong câu cuối, bất chợt một giọt nước mắt rơi vào chén trà khi tôi nâng lên mời anh. Xin cám ơn anh và tác giả đã cho tôi được đọc một bài thơ hay trong ngày tháng bẩy này.”

MẢNH ĐẠN TRONG NGƯỜI

Hoàng Trung Trực

Bao nhiêu mảnh đạn gắp rồi
Vẫn còn một mảnh trong người lạ thay
Nắng mưa qua bấy nhiêu ngày
Nó nằm trong tuỷ xương này lặng câm…

Thời khói lửa đã lui dần
Tấm huân chương cũng đã dần nhạt phai
Chiến trường thay đổi sớm mai
Việt Nam nở rộ tượng đài vinh quang.

Thẳng hàng bia mộ nghĩa trang
Tên đồng đội với thời gian nhạt nhoà
Muốn nguôi quên lãng xót xa
Hát cùng dân tộc bài ca thanh bình

Thế nhưng trong tuỷ xương mình
Vẫn còn mảnh đạn cố tình vẹn nguyên
Nằm hoài nó chẳng nguôi quên
Những ngày trở tiết những đêm chuyển mùa

Đã qua điều trị ngày xưa
Nó chai lỳ với nắng mưa tháng ngày
Hoà bình đất nước đổi thay
Đêm dài thức trắng, đau này buồn ghê

Khi lên bàn tiệc hả hê
Người đời uống cả lời thề chiến tranh
Mới hay cuộc sống yên lành
Vẫn còn mảnh đạn hoành hành đời ta.

NHỚ BẠN

Hoàng Trung Trực

Ngỡ như bạn vẫn đâu đây
Khói hương bảng lãng đất này bình yên
Tình đời đâu dễ nguôi quên
Những dòng máu thắm viết nên sử vàng

Trời xanh mây trắng thu sang
Mình ta đứng giữa nghĩa trang ban chiều
Nhớ bao đồng đội thương yêu
Đã nằm lòng đất thấm nhiều máu xương

Xông pha trên các chiến trường
Chiều nay ta đến thắp hương bạn mình

GẶP BẠN Ở CHỢ BẾN THÀNH

Hoàng Đình Quang

Ơ này, quen quá, ai ơi!
Hoá ra ông bạn từ thời chiến tranh
Lơ ngơ giữa chợ Bến Thành
Bán mua gì để phong phanh thế này?
Dễ gì nhận được nhau ngay
Mắt nhìn trờn trợn, bắt tay trờn trờn(!)

Thợ cày chán lại con buôn
Giờ làm cửu vạn có buồn nhau không?
Một thời đánh bắc, dẹp đông
Chiến tranh kết thúc, dở ông dở thằng
Dại nào bằng cái dại hăng
Coi Ông Trời bé không bằng mảnh vung!
Áo cơm, là thứ lạnh lùng
Có khi vũng nước, anh hùng sa cơ…

Phô răng cười giữa ngã tư
Vèo vèo xe cộ, lừ đừ bạn tôi
Gốc cây, quán cóc ta ngồi
Rượu suông ta nhắm với thời vinh quang
Tay run, mắt đỏ, ly tràn
Rót vào trăm nỗi ngổn ngang, vơi đầy…

Chúng mình sống đến hôm nay
Còn bao nhiêu đứa gửi thây rừng già
Ơn Trời Đất, ơn Mẹ Cha
Đội ơn vợ đã vì ta mà nghèo!
Rượu cho chồng, cám cho heo
Tình tang cho nợ, bọt bèo cho thơ
Thương đàn con dại ngẩn ngơ
Di truyền cả cái khù khờ của cha!
Long đong ở giữa quê nhà
Quẩn quanh ở chỗ người ta cờ tàn…

Bạn ngồi bạn uống rượu khan
Tôi ngồi uống nỗi cơ hàn bạn tôi!

NỖI KHẮC KHOẢI VỀ MỘT BÀI THƠ.

Đỗ Minh Tâm

Một buổi chiều, tôi nhận được bài thơ “Gặp Nhau Ở Chợ Bến Thành” của tác giả Hoàng Đình Quang (Đã đăng báo văn nghệ Quân Đội số 38 tháng 11/2010) từ anh Tô Mai, một người có nhiều tâm huyết với thơ. Đạp xe hơn chục cây số mang bài thơ cho tôi trong nắng hè tháng bẩy này. Tôi thầm nghĩ hẳn là bài thơ đã để lại trong anh nhiều cảm xúc.

Sau chén trà thơm đãi anh, tôi hào hứng đọc ngay. Qủa nhiên bài thơ làm tôi xúc động. Những câu thơ mộc mạc, chân tình đến cháy lòng của người lính đã cứa vào tâm can tôi cũng từng là người lính. Câu chuyện gặp nhau bất chợt của hai người đồng đội đã một thời trận mạc, “Một thời đánh Bắc dẹp Đông, một thời chung nước bình tông giữa rừng, một thời bom đạn rát lưng”, mà bây giờ “Dễ gì nhận được nhau ngay”. “Thợ cày chán lại con buôn”. Nỗi cực nhọc hai sương một nắng cùng những vết thương làm anh sọm đi trước tuổi. Đất làng giờ đã thành đường, thành phố, anh đành ra chợ làm “con buôn” nhưng “Lơ ngơ giữa chợ Bến Thành/ Bán mua gì để phong phanh thế này?”, hàng hóa buôn bán chỉ sơ sài, một mảnh vải bạt, với vài sọt khoai, rau. Cái khốn khó làm anh đến nỗi gặp người đồng đội cũ mà vẫn “lơ ngơ”, cảnh giác đến sợ sệt, hoài nghi trong cái bắt tay “Mắt nhìn trờn trợn, bắt tay trờn trờn(!)” thì sự cảm thương đến quặn lòng. Âý thế mà có một thời những con người như anh “Dại nào bằng cái dại hăng/ Coi ông trời bé chỉ bằng mảnh vung”, chỉ có người lính tay cầm súng, chân đạp rào gai băng mình trong lửa đạn mới có cái “Hăng” như thế.

Những con người một thời xông pha đánh Bắc, dẹp đông, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, bây giờ thi thoảng huân chương đầy ngực về khoe với vợ con hôm nay được bữa cơm chiêu đãi. Ngày mai lại “Thợ cày chán lại con buôn/ Giờ làm cửu vạn có buồn nhau không” thì câu “ Chiến tranh kết thúc dở ông dở thằng” quả là nghèn nghẹn nỗi chát chua.

Nhờ số phận may mắn, phúc đức cha mẹ, ông bà, những người lính đã qua được hiểm nguy để hoàn thành nhiệm vụ, làm trọn trách nhiệm của người trai trong thời chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Rời quân ngũ trở về với đời thường, trong nỗi lo toan vì miếng cơm manh áo, vun vén cho hạnh phúc gia đình, may thay còn có những người vợ tảo tần, sớm khuya chia sẻ. Câu thơ “ Đội ơn vợ đã vì ta mà nghèo/ Rượu cho chồng, cám cho heo/ tình tang cho nợ, bọt bèo cho thơ” thì quả là bi hài. Đọc câu thơ mà ta lại liên tưởng đến những câu trong bài thơ của cụ Tú Xương “Thương Vợ”: “Quanh năm buôn bán ở mom sông/ Nuôi đủ năm con với một chồng…”.

Hoàng Đình Quang đã chạm vào được nỗi đau đớn nhất “Thương đàn con dại ngẩn ngơ/ Di truyền cả cái khù khờ của cha”. Thân mình, số phận dù có hẩm hiu đến đâu, những người làm cha, làm mẹ đều khao khát mong cho con mình được khỏe mạnh, học hành, sung sướng. Chỉ một đứa con đau ốm đã làm ta lo, buồn, mất ăn mất ngủ, thế mà hàng ngày phải nhìn một đàn con ngẩn ngơ, hậu quả của nhiễm độc chiến tranh di truyền cho mãi mai sau thì nỗi đau xé lòng, như bị rứt dần từng khúc ruột vứt đi.

Những người sắt đá nhất tôi tin khi đọc câu thơ này cũng phải nghẹn nghào rơi lệ. Vì những đứa con “Ngu ngơ” ấy mà người cha, người lính đã tàn nhưng không chịu phế vẫn cắn răng, gồng mình lên “long đong ở giữa quê nhà/ Quẩn quanh ở chỗ người ta cờ tàn…”

Những nhà hàng sang trọng, máy lạnh ro ro, trong ấy những người có tiền đang hưởng thụ đặc sản, rượu tây, thì dưới gốc cây quán cóc hai người CCB cũng “ Rượu suông ta nhắm với thời vinh quang”. Tuy nghèo khó nhưng họ không hèn, họ tự hào với một thời gian truân, trận mạc, với những chiến công và hạnh phúc trong đoàn quân tiến vào giải phóng Sài Gòn giữa rừng cờ hoa chào đón. Để đến hôm nay vẫn đau đáu nỗi niềm nhớ thương đồng đội “ Tay run, mắt đỏ, ly tràn/ Rót vào bao nỗi ngổn ngang tháng ngày…/ Chúng mình sống đến hôm nay/ Còn bao nhiêu đứa gửi thây rừng già”. Người lính chịu bao nỗi đau mất mát vẫn thấy mình còn may mắn, hạnh phúc lắm, còn được chén rượu suông mà “Nhắm với thời vinh quang”.

Câu kết của bài thơ đã để lại khắc khoải đến im lặng: “Bạn ngồi bạn uống rượu khan/ Tôi ngồi uống nỗi cơ hàn bạn tôi!”

Đọc xong câu cuối, bất chợt một giọt nước mắt rơi vào chén trà khi tôi nâng lên mời anh. Xin cám ơn anh và tác giả đã cho tôi được đọc một bài thơ hay trong ngày tháng bẩy này.

20/7/2013

Xem thêm
Dấu chân người lính
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Bài thơ không quên


HoangTranLeNguyendatphuongNamBÀI THƠ KHÔNG QUÊN. Hoàng Kim giới thiệu bức ảnh “Hoàng Trần Lê Nguyễn đất phương Nam” với bảy bài thơ không quên: “Viếng mộ cha mẹ”, “Mẹ”, ”Ba nén hương”, “Thư của người ra trận”, “Thắp đèn lên đi em”, “Em ơi em can đảm bước chân lên”, “Tháng Bảy mưa ngâu”..

“Viếng mộ cha mẹ” là bài thơ của đại tá Hoàng Trung Trực rút trong tập thơ “Dấu chân người lính”. “Mẹ” là bài thơ của nhà thơ chiến sĩ Tô Hoàn, rút trong “Tuyển tập thơ lục bát Việt Nam” tái bản tháng 7 năm 2000, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin ấn hành. “Ba nén nhương” là bài thơ của nhà thơ thương binh Hoàng Cát đăng trên báo và trang thơ Nguyễn Trọng Tạo.”Thư của người ra trận” là bài thơ do anh Lê Trung Xuân đọc và Hoàng Kim chép lại theo trí nhớ sau khoảng thời gian hơn bốn mươi năm. Bốn người bạn Xuân, Chương, Trung, Kim đều cùng là sinh viên đại học nhập ngũ tháng 9 năm 1971. Chúng tôi cùng trong một tổ chiến đầu bốn người. Hai anh Xuân và Chương đều hi sinh năm 1972 tại Quảng Trị, còn Phạm Huy Trung và Hoàng Kim trở về trường cũ sau ngày đất nước thống nhất . Anh Xuân ra đi đã mang theo bí mật của bài thơ tình “Thư của người ra trận” mà cho đến nay chúng tôi vẫn chưa biết rõ ai là tác giả. “Thắp đèn lên đi em” là bài thơ của Hoàng Kim.  “Em ơi em can đảm bước chân lên” là bài thơ của thầy giáo Nguyễn Khoa Tịnh. “Tháng Bảy mưa ngâu” là bài thơ của Hoàng Kim.

Bức ảnh và chùm Bảy bài thơ không quên tháng Bảy này nối đôi bờ sinh tử, nối các khát vọng cháy bỏng của đời người; đó là lòng biết ơn và yêu thương, là dấu lặng cuộc sống. 

VIẾNG MỘ CHA MẸ

Hoàng Trung Trực

Dưới lớp đất này là mẹ là cha
Là khởi phát đời con từ bé bỏng
Là lời mẹ ru dịu dàng cánh võng
Là binh nghiệp cha một thuở đau đời

Hành trang cho con đi bốn phương trời
Là nghĩa khí của cha, là nhân từ của mẹ
Vẫn bầu sữa tinh thần không ngừng không nghỉ
Để hành trang cho con đi tiếp cuộc đời

Cuộc đời con bươn chãi bốn phương trời
Nay về lại nơi cội nguồn sinh trưởng
Dâng nén hương mà lòng hồi tưởng
Thuở thiếu thời dưới lồng cánh mẹ cha

“Ước hẹn anh em một lời nguyền
Thù nhà đâu sá kể truân chiên
Bao giờ đền được ơn trung hiếu
Suối vàng nhắm mắt mới nằm yên”.

MẸ

Tô Hoàn

Con về thăm mẹ chiều mưa
Mới hay nhà dột gió lùa bốn bên
Hạt mưa sợi thắng sợi xiên
Cứ nhằm vào mẹ những đêm trắng trời
Con đi đánh giặc một đời
Mà không che nổi một nơi mẹ nằm!

BA NÉN HƯƠNG

Hoàng Cát

Nén hương này con thắp giỗ mẹ
Bom ập đến mẹ về cõi thế

Nén hương này anh thắp giỗ em
Ở lại miền Nam không có mộ để anh tìm

Nén hương này tôi thắp giỗ thân tôi
Chiến tranh cướp đi hai chục năm rồi

Ba nén hương một mình tôi làm giỗ
Giỗ chính mình, giỗ mẹ, giỗ em tôi !

THƯ CỦA NGƯỜI RA TRẬN

(Bài thơ chưa rõ tác giả)

Anh viết cho em lá thư dài tâm sự
Trời Lục Nam đêm này khó ngủ
Cũng mơ màng như nét bút anh biên.

Ở quê hương giờ chắc đã lên đèn
Sau vất vả một ngày lao động
Đêm nay nhé cùng anh em hãy sống
Những ngày đầu thơ ấu của tình yêu.

Nhớ lắm em ơi những sớm những chiều
Ta sánh bước dưới trời cao trong vắt
Anh nắm tay em, em cười trong mắt
Trăng thẹn thùng lẫn vội bóng mây trôi
….
Rồi từ đó bao đêm thao thức bồi hồi
Anh mơ được cùng em xây tổ ấm
No đói có nhau ngọt bùi khoai sắn
Một căn nhà đàn con nhỏ líu lô

Tấm lòng em là cả một bài thơ
Anh muốn viết như một người thi sĩ
Ruộng lúa nương khoai tấm lòng tri kỷ
Có bóng em đi thêm đẹp cả đất trời.

Nhưng em ơi khi ta bước vào đời
Đâu chỉ có bướm có hoa có trời có đất
Đâu chỉ có mơ màng những đêm trăng mật
Mà đất trời đã nổi phong ba

Tạm biệt em, anh bước đi xa
Khi thửa ruộng luống cày còn dang dỡ
Khi mầm non tình ta vừa mới nhú
Khi căn nhà còn tạm mái tranh.

Quê hương ơi xóm nhỏ hiền lành
Có biết chăng người yêu ta ở đó
Một nắng hai sương giải dầu mưa gió
Mắt mỏi mòn ai đó ngóng trông nhau.

Anh đi biển rộng sông sâu
Con thuyền nhỏ vẫn mong ngày cập bến
Đò có đông em ơi đừng xao xuyến
Nắng mưa này đâu chỉ có đôi ta.

Anh đi bão táp mưa sa
Chỉ thương em một cánh hoa giữa trời
Đời là thế đó em ơi
Buồn thương xa cách chia phôi lẽ thường.

Anh gửi cho em lời nhắn lên đường
Bức thư của người ra trận
Dù mai sau trong niềm vui chiến thắng
Anh chưa về nhưng đã có thư anh …

THẮP ĐÈN LÊN ĐI EM !

Hoàng Kim

Thắp đèn lên đi em!
Xua tăm tối, giữa đêm trường ta học
Vũ trụ bao la đèn em là hạt ngọc
Cùng sao khuya soi sáng mảnh đất này
Dù sớm chiều em đã học hăng say
Dù ngày mệt chưa một hồi thanh thản
Đèn hãy thắp sáng niềm tin chiến thắng
Em thắp đèn lên cho trang sách soi mình.

Thắp đèn lên đi em!
Xua tăm tối giữa đêm trường ta học
Em đâu chỉ học bằng ánh mắt
Mà bằng cả lòng mình, cả khối óc hờn căm
Thù giặc giết cha, bom cày sập tung hầm
Nhà tan nát, sân trường đầy miệng hố
Hãy học em ơi, dù ngày có khổ
Lao động suốt ngày em cần giấc ngủ ngon
Nhưng đói nghèo đâu có để ta yên
Và nghị lực nhắc em đừng ngon giấc
Nợ nước thù nhà ngày đêm réo dục
Dậy đi em, Tổ quốc gọi anh hùng.

Thắp đèn lên đi em!
Xua tăm tối giữa đêm trường ta học
Mặc cho gió đêm nay lạnh về tê buốt
Tấm áo sờn không đủ ấm người em
Vùng dậy khỏi mền, em thắp ngọn đèn lên
Để ánh sáng xua đêm trường lạnh cóng
Qua khổ cực càng yêu người lao động
Trãi đói nghèo càng rèn đức kiên trung
Em đã đọc nhiều gương sáng danh nhân
Hãy biết nhục, biết hèn mà lập chí
Thắp đèn lên đi em, ngọn đèn dầu bền bỉ
Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin.

Thắp đèn lên đi em!

EM ƠI EM CAN ĐẢM BƯỚC CHÂN LÊN

Nguyễn Khoa Tịnh

Thầy ước mong em noi gương Quốc Tuấn

Đọc thơ em, tim tôi thắt lại
Lòng nghẹn ngào, nước mắt chảy rưng rưng
Nửa xót xa nhưng nửa lại vui mừng
Xót xa vì đời em còn thơ dại
Mới tuổi thơ mà cuộc đời đầy khổ ải
Mới biết cười đã phải sống mồ côi
Như chiếc thuyền giữa biển tự trôi
Như chiếc lá bay về nơi vô định
Bụng đói” viết ra thơ em vịnh:

Cơm ngày một bữa sắn trộn khoai
Có biết lòng ta bấy hỡi ai?
Vơi vơi lòng dạ, cồn cào bụng
Kể chi no đói, mặc ngày dài”

Phải!
Kể chi no đói mặc ngày dài
Rất tự hào là thơ em sung sức
Rất tự hào là em tôi đầy nghị lực
Đã hiển lộ mình qua “Cái chảo rang

Trung dũng ai bằng cái chảo rang
Lửa to mới biết sáp hay vàng
Xào nấu chiên kho đều vẹn cả
Chua cay mặn ngọt giữ an toàn
Ném tung chẳng vỡ như nồi đất
Quăng bừa xó bếp vẫn nằm ngang
Tốt đẹp đâu cần danh tiếng hão
Bạn cùng lửa đỏ, nóng chang chang

Phải!
Lửa to mới biết sáp hay vàng!
Em hãy là vàng,
Mặc ai chọn sáp!
Tôi vui sướng cùng em
Yêu giấc “Ngủ đồng
Hiên ngang khí phách:

Sách truyền sướng nhất chức Quận công
Ta sướng khi ra ngủ giữa đồng
Lồng lộng trời hè muôn làn gió
Đêm thanh sao sang mát thu không
Nằm ngữa ung dung như khanh tướng
Lấy mấy vần thơ tỏ nỗi lòng
Tinh tú bao quanh hồn thời đại
Ngủ đồng khoan khoái ngắm gương trong

Tôi biết chí em khi “Qua đèo Ngang
Ung dung xướng họa với người anh hùng
Đã làm quân thù khiếp sợ:

Ta đi qua đèo Ngang
Cũng gặp Người trèo qua núi hiểm
Đỉnh dốc chênh vênh
Xe mù bụi cuốn
Có lẽ thiên nhiên đã định bao giờ
Một dãy Hoành Sơn bát ngát trận đồ
Điệp điệp núi cao
Trùng trùng rừng thẳm.
Người thấy
Súng gác trời xanh
Gió lùa biển lớn
Nông dân rộn rịp đường vui
Thanh Quan nàng nhẽ có hay
Cảnh mới đã thay cảnh cũ.
Ta hay
Máu chồng đất đỏ
Mây cuốn dặm khơi
Nhân công giọt giọt mồ hôi
Hưng Đạo thầy ơi có biết
Người nay nối chí người xưa

Tới đây
Nước biếc non xanh
Biển rộng gió đùa khuấy nước
Đi nữa
Đèo sâu vực thẳm
Núi cao mây giỡn chọc trời

Nhớ thù nhà, luống thẹn làm trai
Thương dân nước, thà sinh phận gái
“Hoành Sơn cổ lũy”
Hỏi đâu dấu tích phân tranh?
Chỉ thấy non sông
Lốc cuốn, bốn phương sấm động.

Người vì việc nước ra đi
Ta muốn cứu dân nên thăm trận thế
Điều không hẹn mà xui gặp mặt
Vô danh lại gặp hữu danh
Cuộc đời dài ắt còn sẽ gặp nhau
Nay hội ngộ giữa đỉnh cao trời đất
Anh em ta ngự trên xe đạp
Còn Người thì lại đáp com măng
Đường xuyên sơn
Anh hùng gặp anh hùng
Nhìn sóng biển Đông
Như ao trời dưới núi.

Xin kính chào
Bậc anh hùng tiền bối
Ta ngưỡng mộ Người
Và tỏ chí với non sông
Mẹ hiền ơi!
Tổ Quốc ơi!
Xin tiếp bước anh hùng!”

Hãy cố lên em!
Noi gương danh nhân mà lập chí
Ta với em
Mình hãy kết thành đôi tri kỷ!
Đất Quảng Trạch này đâu kém Nam Dương
Tôi tự hào bài “Tỏ chí” của em:

Quốc Tuấn ngày xưa chí vững bền
Thù nhà, nợ nước chẳng hề quên
Đến bữa quên ăn, đêm quên ngủ
Thương dân, yêu nước quyết báo đền
Văn hay thu phục muôn người Việt
Võ giỏi kinh hồn lũ tướng Nguyên
Mươi năm sau nữa ơi ông Tuấn
Nối chí ông, nay cháu tiến lên!

Tôi thương mến em
Đã chịu khó luyện rèn
Biết HỌC LÀM NGƯỜI !
Học làm con hiếu thảo.
Mười lăm tuổi đã “Tập làm thầy giáo

Vui gì hơn buổi đầu làm thầy giáo
Của lớp vở lòng đất mẹ yêu thương
Trưa nắng luyến các em cùng đến lớp
Giọng líu lo như chim hót ven đường.

Đứng trước các em tuổi nhỏ đáng yêu
Mà đã tưởng tới bao nhiêu người lớn
Nghe em đọc giọng thanh thanh dễ mến
Mà đã nghe đất nước xuyến xao mình ! ”

Tổ Quốc đang chờ em phía trước.
Em ơi em, can đảm bước chân lên!

(*) Bụng đói, Cái chảo rang, Ngủ đồng, Qua đèo Ngang, Tỏ chí, Tập làm thầy giáo
là những bài thơ Hoàng Kim trích dẫn in nghiêng trong bài này.

THÁNG BẢY MƯA NGÂU

Hoàng Kim

Tháng bảy mưa ngâu
Trời thương chúng mình
Mưa giăng
Ướt đầm vạt áo
Bảy sắc cầu vồng
Lung linh huyền ảo
Mẹ thương con
Đưa em về cùng anh.

Chuyến xe tốc hành
Chạy giữa trăm năm
Chở đầy kỷ niệm
Chở đầy ắp tình em
Từ nơi chân trời
Góc biển

Chàng Ngưu hóa mình vào dân ca
Con ngựa, con trâu
Suốt đời siêng năng làm lụng.
Thương con gà luôn dậy sớm
Biết ơn con chó thức đêm trường.

Em ơi !
Những câu thơ ông bà gửi lại
Đã theo chúng mình đi suốt thời gian.

Tháng bảy mưa ngâu
Đầy trời mưa giăng giăng
Thương nàng Chức Nữ
Em là tiên đời thường
Đầy đặn yêu thương.

Tháng bảy mưa ngâu
Nhớ thương ai góc biển chân trời
Những cuộc chia ly
Đong đầy nỗi nhớ …
Chiêm bao mơ về chuyện cũ
Khói sương mờ ký ức thời gian
Chốn nào chúng mình hò hẹn
Nơi em cùng anh xao xuyến yêu thương
Ngắm mưa Ngâu tháng bảy
Mưa, mưa hoài , mưa mãi
Mưa trong lòng người
Nên mưa rất lâu
Mưa rơi như dòng lệ trắng
Đất trời thương nối một nhịp cầu

Em ơi
Lời tình tự của nghìn năm dân tộc.
Như sắc cầu vồng
Nối hai miền xa cách
Để xa nên gần
Vời vợi nhớ thương.

(*) “Tháng Bảy mưa Ngâu” là bài thơ tình của Hoàng Kim viết tặng cho những đôi lứa yêu thương cách xa nhau và khát khao ngày gặp mặt. Bài thơ cũng là lời biết ơn những anh hùng liệt sĩ nhân ngày 27.7. Ngưu Lang Chức Nữ là chuyện tình cảm động trong dân gian Việt Nam. Truyện nàng tiên Chức Nữ xinh đẹp, phúc hậu, nết na yêu thương chàng trai Ngưu Lang khôi ngô, hiền lành, chăm chỉ. Họ yêu nhau say đắm, bất chấp sự xa xôi nghìn trùng của cõi Trời và cõi Người. Cảm động trước tình yêu son sắt thủy chung của hai người, mỗi năm Trời Phật đã nối duyên cho họ gặp nhau một lần vào tiết tháng Bảy mưa ngâu trước rằm Trung Thu tháng Tám. Đó là dịp Trời gom góp của nhà Trời và sự cần mẫn suốt năm của Ngưu Lang Chức Nữ để làm thành chiếc cầu vồng bảy màu nối liền đôi bờ thăm thẳm. Muôn vạn con quạ, cò, vạc, bồ nông, ngỗng trời đã hợp lực ken kín cầu Ô Thước để giúp Ngưu Lang Chức Nữ gặp nhau. Những giọt nước mắt mừng tủi của hai người cảm động đất trời đã hóa thành mưa ngâu…

Video nhạc tuyển
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook

Giáo dục tinh hoa


VoNguyenGiapVanCao

VÕ NGUYÊN GIÁP VÀ VĂN CAO Im lặng mà bão giông, khoảnh khắc mà trường cửu, tưởng như vô định nhưng đang thấu mọi cõi…” bức ảnh Nguyễn Đình Toán thật đẹp cảm khái.

GIÁO DỤC TINH HOA

Hoàng Kim

đọc lại và suy ngẫm Võ Nguyên Giáp tự trong sâu thẳm. Tôi cũng tưởng sẽ có một khoảng lặng mới quay lại với những bài viết về đại tướng Võ Nguyên Giáp khi tôi đã đăng liên tục mười bài về Người trên DANH NHÂN VIỆT nhưng tự trong sâu thẳm vẫn không thể cưỡng được ý muốn viết tiếp đôi lời. Giáo sư Nguyễn Huệ Chi trong bài “Tướng Giáp, người anh hùng của độc lập Việt Nam, đã qua đời”  đã viết thật thấm thía:Giải tỏa tấn bi kịch vô hình khủng khiếp đè lên con người đó, bỏ qua mọi thứ “công tội” do chính cái chủ nghĩa mà con người đó theo đuổi, trả lại cho con người đó cái giá trị đích thực của một vị tướng đánh trận tài năng, phải nói chính là vòng tay ân nghĩa của nhân dân.“Về nghỉ là thượng sách. Thử điểm lại lịch sử xưa nay có tướng nào giành được chiến công lẫm liệt mà không đi kèm thân bại danh liệt hay không?”.

Phan Chí Thắng  “Nghĩ về nhạc sĩ Văn Cao và bài hát mùa xuân đầu tiên” đã viết: “Văn Cao là một tượng đài của tình yêu Tổ Quốc và lòng cao thượng. Phải nói thẳng là Văn Cao bị vùi dập, đầy đọa. Tác giả Tiến Quân ca bị cấm sáng tác. Không gì cay đắng hơn khi một nghệ sỹ bị cấm sáng tác. Mùa vui chiến thắng huy hoàng, mùa vui bất tận thế mà ông coi là “mùa bình thường”. Nhiều người (lãnh đạo) từng khó chịu việc này. Logic của Văn Cao lại khác . Dân tộc Việt Nam đã đi từ cái Bất thường sang cái Bình thường rồi. Đó mới là điều đáng mừng nhất? Trái tim Văn Cao đủ lớn cho cho Nhẫn, Thiện, Tâm. Nhưng không có chỗ cho sự thù hẳn cá nhân. Ông đặt nỗi đau riêng của mình trong nỗi đau chung của dân tộc. Ông coi tai hoạ của mình chỉ là một phần rất nhỏ trong tai hoạ của nhân dân. Đó mới đúng là Văn Cao. Hiểu ông khác đi, chỉ nhìn thấy phần buồn tủi trong “Mùa Xuân đầu tiên” là chưa hiểu ông, là hạ thấp ông. Trước một toà kiến trúc nguy nga, ta phải lùi ra xa một khoảng cách đủ để thấy hết quy mô tầm cỡ và vẻ đẹp hùng tráng của nó. Ta phải đủ nhỏ bé để thấy ngợp trước ông. Điều đó làm ta thích thú. Và phải đủ tầm cao để hiểu Văn Cao. Điều đó làm ta hạnh phúc.

Ngày Quốc hội Việt Nam truy tặng nhạc sỹ Văn Cao Huân chương Hồ Chí Minh xin trân trọng chép lại bài học giáo dục tinh hoa.

Tài liệu dẫn:

VoNguyenGiapVanCao

Võ Nguyên Giáp và Văn Cao  Im lặng mà bão giông, khoảnh khắc mà trường cửu, tưởng như vô định nhưng đang thấu mọi cõi…” bức ảnh của Nguyễn Đình Toán thật đẹp cảm khái. 

VÕ NGUYÊN GIÁP TỰ TRONG SÂU THẲM

Hoàng Kim

Đọc lại và suy ngẫm. Tôi cũng tưởng sẽ có một khoảng lặng mới quay lại với những bài viết về đại tướng Võ Nguyên Giáp khi tôi đã đăng liên tục mười bài về Người trên DANH NHÂN VIỆT nhưng tự trong sâu thẳm vẫn không thể cưỡng được ý muốn viết tiếp đôi lời. Giáo sư Nguyễn Huệ Chi trong bài viết “Tướng Giáp, người anh hùng của độc lập Việt Nam, đã qua đời”  có những lời thật thấm thía:Giải tỏa tấn bi kịch vô hình khủng khiếp đè lên con người đó, bỏ qua mọi thứ “công tội” do chính cái chủ nghĩa mà con người đó theo đuổi, trả lại cho con người đó cái giá trị đích thực của một vị tướng đánh trận tài năng, phải nói chính là vòng tay ân nghĩa của nhân dân.“Về nghỉ là thượng sách. Thử điểm lại lịch sử xưa nay có tướng nào giành được chiến công lẫm liệt mà không đi kèm thân bại danh liệt hay không?”.

TƯỚNG GIÁP , NGƯỜI ANH HÙNG CỦA ĐỘC LẬP VIỆT NAM , ĐÃ QUA ĐỜI

Jean-Claude Pomonti, Le Monde, số ra ngày 4 tháng mười 2013

Đào Hùng dịch

 

Những tưởng BVN đã khép lại đề tài Võ Nguyên Giáp sau hơn mười ngày liên tục đưa tin kể từ khi vị Đại tướng nằm xuống. Nhưng tự trong sâu thẳm, chủ đề Võ Nguyên Giáp vẫn thôi thúc một sự suy nghĩ có tính chất phản tỉnh về nhiều mặt, ở mọi người trí thức tỉnh táo của thời đại. Công lao thì rõ rồi song cũng đâu đã được soi tỏ hết, vì nhiều luồng thông tin quá phức tạp chồng phủ lên con người ấy kể từ khi ông thất sủng mãi đến khi qua đời. Và trách nhiệm của vị tướng về hậu quả của hai cuộc chiến giành thắng lợi gian nan chật vật suốt 20 năm ròng nhằm bảo đảm cho sự lên ngôi toàn vẹn của một chính thể chuyên chế ngày càng lộ diện hà khắc, dẫn đến tình trạng bi thảm của một nước Việt Nam ngổn ngang đổ vỡ, một dân tộc bị xé nát – cả chính trị kinh tế văn hóa xã hội, cả khủng hoảng phần sống hiện thực lẫn phần sống tâm linh ở mỗi con người – trong hiện tại, chẳng lẽ ông không dự phần?

 

Có những người tỏ ý chế giễu cái đám đông đã lũ lượt kéo đến hầu như dài vô tận để kính viếng hương hồn vị tướng trong suốt những ngày lễ tang ông diễn ra và ngay giờ đây ở khu mộ của ông ở Vũng Chùa ngày ngày vẫn có đến 4, 5000 người khói hương không dứt; họ cho rằng đây là một hiện tượng “lên đồng” chẳng khác gì đám đông người dân Bắc Triều Tiên khóc như mưa như gió trước cái chết của Kim Il Sung. Tôi không tin lắm vào điều này. Ít ra thì có đến hai phần ba những người đến nghiêng mình trước di ảnh hoặc thi hài ông đủ khả năng chiêm ngẫm về cái chết của ông.

 

Không phải vì người Việt Nam không từng bị nhồi sọ đến mê muội một thời gian dài và vẫn còn tiếp tục bị nhồi sọ, nhưng người Việt Nam ra mặt “phù suy” như vừa qua là một sự kiện khó lòng tưởng tượng. Một cuộc biểu tình hiền lành nhưng lại có ý nghĩa thách thức công khai khiến những kẻ nào đó nếu còn chút hiểu biết phải hết sức choáng ngợp. Có thể là cái chết đã góp phần tạo nên một sự “thanh lọc”, mong thế lắm, có giá trị đánh thức những lương thức chưa ngủ hẳn, để giữa hai lớp người ngày càng xa cách nhau trong quan điểm may ra cùng tìm được chút ánh sáng chung phía cuối con đường hầm. Kỳ thực, phải nói ngay, đấy chỉ là huyễn vọng, khi mà nhiều chuyện xảy ra từ đó đến nay hình như lại có chỉ dấu rằng, cái chết làm cho trắng đen càng tách bạch hơn. Cái chết của một người bị chính thành tích chói lọi của mình bắt phải trả giá, bị đẩy xuống thân phận một người nằm trên bờ vực “chính” và “phản” trong gang tấc, thì không thể có giá trị hàn gắn như ở những trường hợp khác, mà chỉ báo hiệu sự phân liệt mạnh mẽ giữa một bên là những quyền lợi phe nhóm ích kỷ không thể sửa chữa và một bên là dân tộc và nhân dân. Giải tỏa tấn bi kịch vô hình khủng khiếp đè lên con người đó, bỏ qua mọi thứ “công tội” do chính cái chủ nghĩa mà con người đó theo đuổi, trả lại cho con người đó cái giá trị đích thực của một vị tướng đánh trận tài năng, phải nói chính là vòng tay ân nghĩa của nhân dân. Người viết mấy dòng này, cũng do cơ duyên dun dủi, đã từng được gián tiếp nghe một lời khuyên vị tướng của chúng ta từ nửa cuối những năm 1970, đại khái: “Về nghỉ là thượng sách. Thử điểm lại lịch sử xưa nay có tướng nào giành được chiến công lẫm liệt mà không đi kèm thân bại danh liệt hay không?”.

 

BVN tuy đã đăng nhiều bài về tướng Giáp nhưng vẫn còn thiếu một vài bài mở thêm cái nhìn từ thế giới bên ngoài soi vào. “Cờ ngoài bài trong” người ngoài cuộc thì thường rõ hơn một số ngóc ngách nào đấy mà người trong cuộc dễ bị khuất lấp. Bài viết đăng dưới đây của Jean-Claude Pomonti phóng viên báo Le Monde tại Đông Nam Á từ năm 1968 đến 1974 và tái xuất hiện tại Việt Nam từ 1987 rồi sau đó còn trở lại nhiều lần ít nhiều có thể bù vào chỗ thiếu khuyết nói trên.”
Nguyễn Huệ Chi
VoNguyenGiap1

Trong lịch sử ông vẫn là một trong những vị chỉ huy chiến trận lớn của thế kỷ XX, người duy nhất đã lần lượt đánh bại Pháp và đương đầu với Hoa Kỳ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã qua đời hôm thứ sáu 4 tháng mười ở tuổi 103.

Sự chiếm lĩnh cứ điểm Pháp ở Điện Biên Phủ tháng năm 1954 và sự sụp đổ của Sài Gòn tháng tư 1975 là những chiến tích của vị chỉ huy tầm cỡ đặc biệt này: uy tín cá nhân, thiên tài hậu cần, chiến thuật gia vô song. Những thắng lợi không thể chối cãi đó, đã khiến tướng Võ Nguyên Giáp trở thành người cuối cùng của một loạt các nhà chiến lược vĩ đại Việt Nam, trải qua bao thế kỷ, đã thành công trong việc chặn đứng con đường xuống phương Nam của Trung Quốc sau khi đuổi chúng ra khỏi đất nước mình. Về phần mình, tướng Giáp đã góp phần vào việc làm thất bại cuộc quay trở lại Việt Nam của Pháp, và trên đà đó, giữa lúc diễn ra chiến tranh lạnh, đã bẻ gãy sự thay thế mà người Mỹ muốn thực hiện.

Sinh ngày 25 tháng tám 1911 ở một làng miền Trung Việt Nam, trong một gia đình nhà nho khiêm tốn, Võ Nguyên Giáp đã trải qua tuổi trẻ trong một môi trường đấu tranh dân tộc: bị lôi thôi với Mật thám Pháp, hai lần ngồi tù năm 1930 và 1932. Ông đỗ tú tài (Pháp) năm 1934, rồi dạy lịch sử và tiếng Pháp ở Hà Nội, trường Thăng Long, lò hun đúc các chiến sĩ chống thực dân. Năm 1937, vào thời kỳ Mặt trận Bình dân, ông tham gia Đảng Cộng sản Việt Nam lúc đó đang ở trong vòng bí mật.
Từ đó, hành trình của ông đã được vạch ra. Tháng năm 1940, cùng với Phạm Văn Đồng, vị thủ tướng tương lai (1954-1986), Võ Nguyên Giáp sang Trung Quốc để lần đầu tiên, gặp Hồ Chí Minh, người sáng lập Đảng Cộng sản năm 1930. Năm 1939, ông kết hôn cùng với một nữ chiến sĩ cùng quê với ông, sinh được một đứa con năm 1940. Ông không bao giờ gặp lại vợ: ít lâu sau khi ông ra đi, bà bị Mật thám Pháp bắt. Bị tra tấn dã man, bà chết trong tù, theo người ta nói, là tự vẫn. Ông Giáp chỉ được tin mấy năm sau.

Say mê Bonaparte
 

Ở trường trung học Thăng Long, vào đêm trước Thế chiến hai, học sinh đã mệnh danh ông là “ông tướng”, hay cụ thể hơn là “Napoléon”. Nếu ông Giáp vẫn học hỏi những kinh nghiệm của các bậc tiền bối, qua bao thế kỷ, đã giáng cho bọn xâm lược Trung Quốc những đòn thảm bại, thì ông cũng nghiên cứu chi tiết các chiến dịch của Bonaparte. Những bậc tiền bối đã dạy cho ông nghệ thuật vận dụng địa hình, dựa lưng vào dãy Trường Sơn, củng cố hậu phương, lôi kéo đối phương vào cạm bẫy.

VoNguyenGiap2

Trong các chiến thuật của Bonaparte, ông Giáp đặc biệt ghi nhớ “yếu tố bất ngờ”. Về Điện Biên Phủ, một nửa thế kỷ sau ông đã kể lại với chúng tôi, “người đứng đầu các cố vấn của chúng tôi chủ trương tấn công nhanh” vào cứ điểm Pháp nằm trên một cánh đồng giáp Lào. Cuộc tấn công ấn định vào ngày 25 tháng một 1954, lúc 17 giờ, tức trước khi đêm xuống ít lâu. Vào phút cuối, tướng Giáp kéo dài thời hạn thêm 24 giờ đồng hồ. Rồi ông “ra lệnh rút quân, kể cả pháo”. “Đấy là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời tổng chỉ huy của tôi”.

Tại sao? Ông đã giải thích “Để tấn công, tôi chờ nghe trên đài phát thanh tướng Navarre tuyên bố rằng làn sóng Việt Minh đã chựng lại…”. Navarre lúc đó là chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương và chính ông ta đã quyết định lập cứ điểm gần biên giới giữa Lào và Việt Nam để thu hút các sư đoàn Việt Minh. “Chựng lại”, ông Giáp mỉm cười nhắc lại. “Và tôi đã hành động ngay!” Ngày 23 tháng ba. Chỉ huy sở của tướng de Castries, chỉ huy cứ điểm, bị chiếm ngày 7 tháng năm, chưa đầy hai tháng sau.

Ông Giáp còn nói về những diễn biến sau đây. Vài tuần trước ngày “tổng tiến công cuối cùng” của Việt Cộng kết thúc bằng cuộc đầu hàng của Sài Gòn ngày 30 tháng tư 1975, hải cảng chiến lược Đà Nẵng ở miền Trung, đã bị quân đội cộng sản bao vây. “Chính quyền Sài Gòn của Nguyễn Văn Thiệu, ra lệnh cho chỉ huy địa phương, tướng Ngô Quang Trưởng phải “tử thủ”. Tôi lệnh cho sư đoàn 312 tấn công Đà Nẵng. Viên chỉ huy trả lời tôi: “Quân địch khá mạnh, tôi xin 7 ngày”. Tôi hỏi: “Tôi cho rằng Ngô Quang Trưởng sẽ rút bằng đường biển. Hắn ta phải mất bao nhiêu lâu?” “Ít ra là ba ngày”, viên chỉ huy 312 trả lời bằng điện báo. “Vậy thì tôi cho anh ba ngày. Lệnh cho các đơn vị hành tiến giữa ban ngày, xuống Quốc lộ 1. Các anh sẽ bị pháo hải quân đối phương oanh kích, nhưng không sao”, ông Giáp nói. “Như vậy, ông nói tiếp, không những cái túi Đà Nẵng bị tiêu diệt mà chúng tôi còn có thêm nhiều sư đoàn dự bị để mở cuộc tấn công cuối cùng vào Sài Gòn”. “Tôi chỉ nói đơn giản: “Tiến vào Sài Gòn!”” Một lần nữa, yếu tố bất ngờ, sự “tập trung quân”, sự “táo bạo”, đó là những gì mà ông Giáp còn ghi lại khi phân tích những chiến dịch của Bonaparte (ông không nói Napoléon đệ nhất, hoàng đế, rõ ràng khía cạnh chính trị không hấp dẫn ông).

Hoàn toàn tin tưởng các phụ tá

 

Chỉ được thành lập vào cuối Thế chiến hai, quân đội Việt Minh thực hiện nhiệm vụ không ngần ngại. Năm 2004, tôi rất ngạc nhiên khi ông Giáp thốt lên: “Cuộc trở về từ đảo Elbe, thật kỳ diệu!”, khi nói về việc quân đội hoàng gia do Louis XVIII điều đến để chặn đường hoàng đế và đáng lẽ phải đối đầu, thì đã gia nhập vào quân của hoàng đế Napoléon. Đối với ông Giáp, đó là một cái nháy mắt về mối quan hệ ông thiết lập với các phụ tá của mình: họ tuân lệnh ông một cách vô điều kiện, họ hoàn toàn tin tưởng ông.

Ông Giáp còn là một thiên tài về hậu cần. Một hôm ông nhắc lại với chúng tôi công thức mà Bonaparte đã sử dụng trong chiến dịch Italia: “Nơi một con dê đi qua lọt, thì một người có thể qua; nơi một người có thể qua, thì một tiểu đoàn có thể qua”. “Ở Điện Biên Phủ, ông nói tiếp, để đem một kilô gạo đến cho binh sĩ đang thiết lập vòng vây, phải tiêu thụ bốn kilô khi vận chuyển. chúng tôi đã dùng 260.000 người mang vác, hơn 20 nghìn chiếc xe đạp, 11.800 chiếc mảng, 400 xe vận tải và 500 con ngựa”. Dưới sự che chở của rừng dày, các bộ phận pháo của Việt Minh được tháo rời để khuân vác lên đồi bao quanh cứ điểm, rồi được lắp ghép lại.

Dù sao, trên lĩnh vực hậu cần, sự thực hiện đáng kinh ngạc nhất, trong những năm 60, là “con đường Hồ Chí Minh”, một hệ thống đường mòn được rừng rậm che phủ chạy từ bắc đến nam, dựa vào đất nam Lào và đông-bắc Campuchia để tránh các thiết bị phòng ngự của quân Mỹ ở miền Nam. Một con đường “đi một chiều”, mà sau này bộ đội Việt Nam nói như vậy. Nhưng người Mỹ không bao giờ chặt đứt được con đường tiếp vận đó – người, đạn dược, khí tài, xe tăng, thiết giáp – dù phải dùng đến thả bom ồ ạt, chất diệt cỏ, thả dù hàng trăm nghìn quả mìn và bẫy chống cá nhân.

Quyền uy của Hồ Chí Minh bị pha loãng
 VoNguyenGiap3

Dù sao, không ai có thể trở thành tiên tri, và ông Giáp phải nếm trải kinh nghiệm chua xót. Hồ Chí Minh, người cha của nền độc lập đã tuyên bố trước đám đông một triệu người dân Hà Nội ngày 2 tháng chín 1945, vẫn phải cơ cấu với những phần tử không khoan nhượng chiếm số đông trong Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ giữa những năm 60, uy quyền của ông bị pha loãng. Ông trở thành một thần tượng không có ảnh hưởng gì lớn nhiều năm trước khi ông mất năm 1969. Tướng Giáp mất chỗ dựa chính của mình.

Giữa Võ Nguyên Giáp và Lê Duẩn, người Tổng Bí thư vĩnh viễn của Đảng Cộng sản, sự lục đục đã xảy ra từ năm 1966, đến mức khi Việt cộng tấn công một số thành phố miền Nam năm 1968 – cuộc tấn công Tết Mậu Thân nổi tiếng – ông Giáp được điều sang Đông Âu. Ông chỉ được gọi về vị trí tổng chỉ huy, với mọi quyền hành trong tay năm 1972, để tổ chức thắng lợi công cuộc bảo vệ miền Bắc, cụ thể là Hà Nội, chống cuộc oanh kích khủng khiếp của Mỹ có pháo đài bay B-52 tham gia.

Thắng lợi năm 1975 đã đưa ông Giáp trở thành mục tiêu, giống như các nhà chiến lược Việt Nam khác, ông được đánh giá là quá xuất sắc và có ảnh hưởng quá lớn để trở thành nguy hiểm. Cụ thể đó là trường hợp của Nguyễn Trãi, nhà nho tinh tế và nhà chỉ huy vĩ đại, đầu thế kỷ XV đã bị lưu đày trong nội địa để không che mờ hình ảnh nhà vua Lê Lợi.

Năm 1976, năm thống nhất chính thức Việt Nam, ông Giáp mất chức chỉ huy quân đội. Bốn năm sau, ông bị rút khỏi Bộ Quốc phòng. Trong Đại hội V Đảng Cộng sản năm 1982, ông không được bầu lại vào Bộ Chính trị. Trước công chúng, ông Giáp không nói gì và tiếp tục dùng lời lẽ công thức cứng nhắc của người cộng sản có kỷ luật. Người ta cho ông ra mắt trong những ngày kỷ niệm chiến thắng và lời nói của ông bị kiểm duyệt. Có khi hàng tháng ông không xuất hiện trước công chúng. Luận điệu tuyên truyền chính thống còn không thừa nhận vai trò quyết định của ông trong chiến thắng năm 1975, và biến đổi một cách tài tình thành sự tháo chạy của quân đội miền Nam.

Khi Lê Đức Thọ – một trong những tiếng nói chủ chốt của hạt nhân cứng rắn trong Đảng Cộng sản và là người đối thoại với Henry Kissinger trong cuộc thương thuyết ở Paris – qua đời năm 1990, ông Giáp có ý định nắm lại Đảng. Nhưng ý đồ của ông, vào thời buổi bức tường Berlin sụp đổ, đã không thành công. Trong một cuộc họp kín của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản, một đại biểu còn giật micro khỏi tay ông, theo lời kể của Phạm Xuân Ẩn (1927-2006). Năm 1996, ông Giáp bị đuổi khỏi Ban Chấp hành Trung ương và 6 tháng sau, mất luôn vị trí Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế.

Trở lại chính trường
 

Rồi thời gian đã làm nên chuyện, một thế hệ lãnh đạo mới vào vị trí, thông tin chuyển tải tự do hơn với sự phát triển theo cấp số nhân của bối cảnh. Ông Giáp vẫn ở đó. Ông được hành động tự do hơn. Vì ông vẫn tỉnh táo, ông tranh thủ để phát biểu kịp thời vào lúc này hay lúc khác. Đấy là trường hợp khi nổ ra tranh cãi năm 2009 về việc khai thác của người Trung Quốc đối với những mỏ lộ thiên bô xít trên cao nguyên phía nam.

Người Pháp, rồi người Xô Viết, đã từ chối không làm, vì sợ gây nên thảm họa môi trường. Ông Giáp đã hai lần viết thư cho Bộ Chính trị để bày tỏ sự phản đối của mình. Ông biết rõ hồ sơ: ông vẫn còn là Bộ trưởng phụ trách kinh tế, khi vào đầu những năm 90, các chuyên gia Xô Viết đến để lập báo cáo. Chiến dịch chống khai thác bô xít đặt chính phủ vào thế phòng vệ và buộc họ phải đưa ra những tham vọng khiêm tốn hơn.

Đạt đến 100 tuổi năm 2011, cơ thể rất yếu, đôi khi phải nhập bệnh viện, trên thực tế ông Giáp không xuất hiện nữa. Thời gian đó, giống như mọi người Việt Nam đã sống một cuộc đời mẫu mực, ngay từ khi còn sống, ông Giáp đã bắt đầu trở thành một thần tượng. Ông đã là thành hoàng. Để không bị tụt hậu, năm 2012 chính phủ phải quyết định lập cho ông một bảo tàng.

Ông Hồ Chí Minh đã có một phản xạ thiên tài. Khi đến gặp ông tháng sáu 1940 ở miền nam Trung Quốc, Võ Nguyên Giáp chỉ mới 29 tuổi và không được đào tạo tí gì về quân sự. Làm sao một nhà cách mạng từng trải – Bác Hồ lúc đó đã 50 tuổi – lại dám phán đoán rằng người chiến sĩ trẻ tuổi đó có cốt cách của một nhà chỉ huy lớn? Ông Hồ đã giao cho ông Giáp việc tổ chức lực lượng tự vệ, rồi thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam. Từ năm 1949, ông đã phong ông Giáp làm Đại tướng, cấp bậc ông giữ cho đến khi qua đời.

J.-C. P.
Dịch giả gửi trực tiếp cho BVN.

NGHĨ VỀ NHẠC SỸ VĂN CAO VÀ BÀI HÁT MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN

Phan Chí Thắng

Hôm nay Quốc hội truy tặng nhạc sỹ Văn Cao Huân chương Hồ Chí Minh. Cái gì của César thì phải trả cho César thôi!

Tiến Quân ca là bài Quốc ca tôi cho là nằm trong số Quốc ca hay nhất trên thế giới.

Tôi từng được nghe kể có lần Văn Cao cùng vài người bạn uống rượu trên quán vỉa hè. Khi ông già gầy gò lững thững bước đi, bà bán hàng hỏi ông này là ông nào. Một người bảo ông này là tác giả bài hát mà khi cất lên đến Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng phải đứng nghiêm!

Nhưng bây giờ tôi muốn viết về bài hát Mùa Xuân đầu tiên của Văn Cao.

Đó là một bài hát đặc biệt. Nó được viết bởi một nhạc sỹ đặc biệt, vào một thời điểm đặc biệt và có một số phận cũng khá đặc biệt.

Văn Cao viết ca khúc Mùa Xuân đầu tiên vào mùa Đông năm 1976, nó bị cấm gần 20 năm, cho đến khi ông đã qua đời mới hết cấm.

Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về
Mùa bình thường mùa vui nay đã về
mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên
Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông
một trưa nắng cho bao tâm hồn.
Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về
Người mẹ nhìn đàn con nay đã về
Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên
Nước mắt trên vai anh, giọt sưởi ấm đôi vai anh
Niềm vui phút giây như đang long lanh.
ôi giờ phút yêu quê hương làm sao trong xuân vui đầu tiên.
ôi giờ phút trong tay anh đầu tiên một cuộc đời êm ấm.
Từ đây người biết quê người
Từ đây người biết thương người
Từ đây người biết yêu người .
Giờ dặt dìu mùa xuân theo én về
Mùa bình thường, mùa vui nay đã về.
Mùa xuân mơ ước ấy xưa có về đâu
với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông
một trưa nắng thôi hôm nay mênh mông.

Rất nhiều người, nếu không muốn nói là tất cả chúng ta, thích bài hát này. Điệu valse sang trọng quý phái, giai điệu dễ hát đến bất ngờ và ca từ đặc biệt giản dị, gần gũi.

Khi vui, lúc buồn ta đều muốn nghe ca khúc này. Nghe một mình. Như để gột sạch tâm hồn nhuộm đầy bụi trần của ta. Vì sao lại thế?

Tôi xin không lặp lại việc phân tích bình luận ca từ như một bài thơ. Nhiều người đã viết rồi.Tôi muốn thấy một Văn Cao như ông từng là Một tượng đài của Tình yêu Tổ Quốc và Lòng Cao thượng.

Phải nói thẳng là Văn Cao bị vùi dập, đầy đọa. Tác giả Tiến Quân ca bị cấm sáng tác. Không gì cay đắng hơn khi một nghệ sỹ bị cấm sáng tác. Tôi nhớ hồi nhỏ thỉnh thoảng thấy có ký hoạ Văn Cao trên báo Văn nghệ, chắc là một cách mà bạn bè giúp để ông có thu nhập.

Vậy thì ông buồn, khổ, hận là lẽ đương nhiên. Ai đó phân tích, tìm thấy những cái đó trong “Mùa Xuân đầu tiên” là không sai. Nhưng Văn Cao là một nhân cách lớn, ông cao hơn hẳn người bình thường rất nhiều. Ông không đau buồn cá nhân, không một chút oán hận.

Ông thấy niềm vui sum họp sau mấy chục năm chia cắt:

Nước mắt trên vai anh, giọt sưởi ấm đôi vai anh
Niềm vui phút giây như đang long lanh.

Trên tất cả là tình yêu quê đất nước:

ôi giờ phút yêu quê hương làm sao trong xuân vui đầu tiên.
ôi giờ phút trong tay anh đầu tiên một cuộc đời êm ấm.

Và linh cảm của người nghệ sỹ thiên tài là nhìn thấy trong tương lai sự bình yên của đời sống con người mới là điều quan trọng nhất:

Mùa bình thường, mùa vui nay đã về
Mùa xuân mơ ước ấy xưa có về đâu
với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông
một trưa nắng thôi hôm nay mênh mông.

Mùa vui chiến thắng huy hoàng, mùa vui bất tận thế mà ông coi là “mùa bình thường”.
Nhiều người (lãnh đạo) từng khó chịu việc này.

Logic của Văn Cao lại khác . Dân tộc Việt Nam đã đi từ cái Bất thường sang cái Bình thường rồi. Đó mới là điều đáng mừng nhất?

Trái tim Văn Cao đủ lớn cho cho Nhẫn, Thiện, Tâm. Nhưng không có chỗ cho sự thù hẳn cá nhân.

Ông đặt nỗi đau riêng của mình trong nỗi đau chung của dân tộc. Ông coi tai hoạ của mình chỉ là một phần rất nhỏ trong tai hoạ của nhân dân.

Đó mới đúng là Văn Cao.
Hiểu ông khác đi, chỉ nhìn thấy phần buồn tủi trong “Mùa Xuân đầu tiên” là chưa hiểu ông, là hạ thấp ông.

Trước một toà kiến trúc nguy nga, ta phải lùi ra xa một khoảng cách đủ để thấy hết quy mô tầm cỡ và vẻ đẹp hùng tráng của nó.

Ta phải đủ nhỏ bé để thấy ngợp trước ông. Điều đó làm ta thích thú.
Và phải đủ tầm cao để hiểu Văn Cao. Điều đó làm ta hạnh phúc.

Video yêu thích

Mùa xuân đầu tiên (Nhạc và lời Văn Cao, trình bày Hồng Nhung)
Mùa xuân đầu tiên (Nhạc và lời: Văn Cao, trình bày Thanh Thúy)
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Nguyễn Khắc Viện nhân cách ngời sáng


NguyenKhacVien

NGUYỄN KHẮC VIỆN NHÂN CÁCH NGỜI SÁNG

Hoàng Kim

­Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện (1913-1997) là nhà văn hóa bác sĩ y khoa tâm lý giáo dục, nhà khoa học xã hội nhân văn và hoạt động chính trị xã hội lỗi lạc của Việt Nam trong thế kỷ 20. Người đã để lại các di sản thực tiễn và công trình nghiên cứu có giá trị cho Việt Nam và góp phần giới thiệu đất nước con người Việt Nam ra thế giới. Ông đã được Nhà nước Việt Nam tặng Huân chương Độc lập hạng nhất, Viện Hàn Lâm Pháp tặng Giải thưởng Grand prix de la Francophonie, Chủ tịch Nước Việt Nam truy tặng giải thưởng Nhà nước cho tác phẩm “Việt Nam, một thiên lịch sử”.

“Hãy nhớ lại lời cảnh tỉnh của ông Nguyễn Khắc Viện” PGS.TSKH. Lê Văn Tố đã nhắc chúng ta nhớ về Nguyễn Khắc Viện một nhân cách ngời sáng và lời cảnh tỉnh của ông. Thời điểm này rất cần những người chính trực, yêu hòa bình, công bình và kiên quyết để gióng lên tiếng nói của công luận đòi Formosa rời khỏi Việt Nam và khắc phục hậu quả đặc biệt nghiêm trọng mà họ đã gây ra đối với đời sống dân sinh môi trường sinh thái biển miền Trung. “Đọc lại và suy ngẫm” đã đăng thông tin cập nhật về vụ cá chết ở 4 tỉnh miền Trung tại  https://hoangkimlong.wordpress.com/2016/07/01/doc-lai-va-suy-ngam-6/#comments.

NGUYỄN KHẮC VIỆN CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP

Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện sinh ngày 5 tháng 2 năm 1913 tại làng Gôi Vị nay là xã Sơn Hòa, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, thân phụ là cụ Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm, một danh nho trung hậu, từng làm quan nhiều nơi, với nhiều chức vụ như Tư nghiệp Quốc Tử Giám,Tuần vũ Khánh Hòa, Phủ doãn Thừa Thiên, Tổng đốc Thanh Hoá…, Dòng họ nội ngoại của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện có nhiều người khoa bảng, thầy thuốc, nhà nho tiết tháo, mà ông đã kể lại chi tiết trong tác phẩm Từ làng Gôi Vị đến kinh thành Paris.

Ông học tiểu học tại Hà Tĩnh và Huế, trung học tại Trường Collège Vinh, một trường có tiếng nhiều học sinh giỏi như Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Đức Nguyên (tức Hoài Thanh)… Sau khi chuyển vào Huế học và đỗ Thành Chung. Năm 1931, ông ra Hà Nội học lớp tú tài trường Bưởi. Năm 1934, ông đỗ xuất sắc ba bằng tú tài ở Trường Bưởi. Năm 1934-1937 ông thi đậu vào trường Đại học Y khoa Hà Nội. Năm 1937, ông được sang Pháp học tại Đại học Y khoa Paris.

Năm 1941, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện tốt nghiệp xuất sắc trường Đại học Y khoa với hai bằng bác sĩ nhi khoa và bác sĩ các bệnh nhiệt đới nhưng không thể về nước mà ở lại tham gia hoạt động phong trào Việt kiều do Thế chiến thứ hai bùng nổ. Trong thời gian này, ông mắc bệnh lao và phải điều trị dài hạn trong trại an dưỡng Saint Hilaire du Touvet, tỉnh Grenoble, một bệnh viện dành cho trí thức và sinh viên Pháp. Sau 6 tháng điều trị, bệnh có đỡ, ông xin ra viện tiếp tục hoạt động, nhưng vì ăn uống kham khổ và làm việc quá sức nên bệnh tái phát. Năm 1943-1948 ông lại vào bệnh viện và phải lên bàn mổ 7 lần, cắt bỏ 8 xương sườn, toàn bộ phổi phải và 1/3 phổi trái, tưởng không thể thoát chết. Nhưng nhờ nghị lực cao, ông dần dần lấy lại sức, vừa nằm điều trị, vừa đọc sách triết học Đông – Tây, tìm ra phương pháp dưỡng sinh hợp với thể bệnh của bản thân để tự cứu chữa, đồng thời tham gia các hoạt động ủng hộ kháng chiến ở Việt Nam.

Năm 1949, nhà khoa học xã hội nhân văn và hoạt động chính trị xã hội Nguyễn Khắc Viện đã gia nhập Đảng Cộng sản Pháp, sinh hoạt trong chi bộ bệnh viện. Ông tích cực vận động trí thức trong bệnh viện ủng hộ cuộc kháng chiến của Việt Nam, đòi hòa bình, chấm dứt chiến tranh. Ông thường xuyên viết bài giới thiệu Việt Nam, phê phán chủ nghĩa thực dân đăng trên các tạp chí vào báo nổi tiếng tại Pari “Tư tưởng” (La Pensée), “Tinh thần” (Esprit) Châu Âu (Europe), “Phê bình mới” (La nouvelle critique), “Tập san Cộng sản” (Cahiers du communisme), “Người quan sát” (L’Observateur), “Nước Pháp mới” (France nouvelle), “Thế giới ngoại giao” (Le monde diplomatique) dưới nhiều bút danh: Nguyễn Nghệ, Nguyễn Kiên … Tại Pháp, ông tập trung tâm sức cho hoạt động nghiên cứu và quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới, phản đối chiến tranh của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ tại Đông Dương. Ông là người lãnh đạo phong trào Việt kiều yêu nước tại Pháp. Ông cũng hoàn thành tập sách Le Sud Vietnam depuis Đien Bien Phu. Năm 1950, ông ra khỏi bệnh viện và hoạt động Việt kiều tại Grenoble. Năm 1952 đến năm 1963, ông lên Paris thay Giáo sư Phạm Huy Thông (bị trục xuất về nước) làm Tổng thư ký kiêm Bí thư Đảng đoàn Hội liên hiệp Việt kiều tại Pháp. Năm 1963, ông bị trục xuất về nước do các hoạt động chống chiến tranh.

Năm 1964-1984 nhà văn và nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện là ủy viên Ủy ban liên lạc văn hóa với nước ngoài, sáng lập và chủ biên tạp chí đối ngoại “Nghiên cứu Việt Nam” bằng tiếng Pháp và tiếng Anh (Etudes Vietnamiennes, Vietnam Studies) và làm Giám đốc Nhà xuất bản Ngoại văn (nay là Nhà xuất bản Thế giới). Ông dịch tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du ra tiếng Pháp. Ông đề xuất thiết kế, giới thiệu Tuyển tập Văn học Việt Nam từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ XX (bằng tiếng Pháp). Ông viết bằng tiếng Pháp tác phẩm nổi tiếng “Việt Nam một thiên lịch sử”. Ông cũng viết một lượng sách báo đồ sộ với chất lượng cao giới thiệu đất nước, con người, văn hóa truyền thống Việt Nam ra thế giới. Năm 1984, ông nghỉ hưu và được Nhà nước tặng Huân chương Độc lập hạng Ba.

Năm 1989, nhà khoa học xã hội nhân văn tâm lý giáo dục Nguyễn Khắc Viện sáng lập và làm giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tâm lý và Bệnh lý trẻ em (Trung tâm N-T), xuất bản tờ “Thông tin Khoa học Tâm lý” và nhiều tác phẩm về Tâm lý học, đặc biệt quan tâm đến những trẻ em bị rối loạn tâm trí do hoàn cảnh. Năm 1992, ông nhận giải thưởng của Viện Hàn Lâm Pháp Grand prix de la Francophonie dành cho người nước ngoài đã sử dụng tích cực và có hiệu quả tiếng Pháp. Với tấm lòng yêu trẻ thiết tha, ông đã cống hiến phần lớn khoản tiền thưởng 400 000 francs (tương đương 80.000 USD) trong giải thưởng Grand prix de la Francophonie của Viện Hàn lâm Pháp tặng ông cho quỹ của Trung tâm Nghiên cứu Tâm lý Trẻ em (Trung tâm N-T). Ông soạn kịch bản và cộng tác với Xưởng phim Tài liệu khoa học Trung ương sản xuất một số phim giới thiệu đất nước (Đất Tổ nghìn xưa, Vịnh Hạ Long, Đất Tây Sơn) và về tâm lý giáo dục trẻ em. Ông đồng thời là nhà trí thức yêu nước nồng nàn, có nhiều tư tưởng tiến bộ và gửi các kiến nghị về chính trị, văn hóa và giáo dục đối với chính phủ. (Di cảo chưa công bố). Từ tháng 7 năm 1996 ông bị ốm nặng, cầm cự bằng phương pháp dưỡng sinh. Năm 1997, ông được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng nhất. Ngày 10 tháng 5 năm 1997, ông qua đời tại Hà Nội. Thi hài ông được an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch Hà Nội dành cho những danh nhân có công đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Ngày 1 tháng 9 năm 2000, Chủ tịch Nước đã truy tặng Giải thưởng Nhà nước cho cuốn “Việt Nam một thiên lịch sử”.

Tác phẩm Nguyễn Khắc Viện đã xuất bản với một khối lượng kiến thức bách khoa phong phú, đồ sộ, đa dạng, thật đáng kinh ngạc, từng trải Ðông Tây, tác phẩm uyên thâm, tinh thông kim cổ, tư duy sắc sảo, bút pháp  mạch lạc, văn chương khúc chiết hiếm thấy, bao gồm: 1) Truyện Kiều (dịch sang tiếng Pháp); 2) Lịch sử Việt Nam; 3) Kinh nghiệm Việt Nam; 4) Miền Nam Việt Nam sau Điện Biên Phủ; 5) Tuyển tập văn học Việt Nam; 6) Việt Nam, Patrie retrouvée; 7) Từ điển tâm lý; 8) Từ vựng tâm lý ; 9)Từ điển xã hội học; 10) Nỗi khổ của con em; 11) Tâm lí gia đình; 12) Tâm lí tiểu học; 13) Từ sinh lí đến dưỡng sinh; 14) Tâm lí trẻ em; 15) Tâm lí đại cương; 16) Tâm bệnh lí trẻ em; 17) Bàn về đạo Nho; 18) Tìm lại Tổ Quốc; 19) Việt Nam một thiên lịch sử; 20) Tự truyện; 21) Tâm tình đất nước; 22) Việt Nam – Tổng kết một chiến thắng hay để hiểu Việt Nam; 23) Ước mơ và Hoài niệm. 24) Tâm lý học và đời sống/ Đặng Phương Kiệt, Nguyễn Khắc Viện; … (Nguồn:  Nguyễn Khắc Viện, chungta.com)

LỜI CẢNH TỈNH CỦA NGUYỄN KHẮC VIỆN

Tôi không chép lại những lời cảnh tỉnh của nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện. Điều này các bạn dễ tìm thấy trong di sản của ông và rất dễ tìm thấy bằng Google. Hãy là chính mình. Trong mỗi hoàn cảnh, chúng ta chọn chiêm nghiệm riêng những điều cho chính mình mà đứng nên giáo điều, lệ thuộc vào bất cứ ai.

Danh sĩ Nguyễn Khắc Viện trong tác phẩm “Một đôi lời”từng đánh giá đạo Phật. Ông kính trọng đức Phật, đạo Phật, đồng tình đạo Phật là Tự Do nhưng không đồng tình với đạo Phật coi “đời là bể khổ” Ông cho rằng đời có khổ có sướng, hạnh phúc và bất hạnh, an nhiên và lo lắng. Sống Đẹp là do mình. Con người ông thung dung tự tại thanh thoát như tiên, vượt lên mọi sự khen chê thế tục.

Danh sĩ Nguyễn Khắc Viện là nhà thực tiễn sáng suốt và là nhà văn hóa khoa học nhân văn minh triết nên mới được như ngày nay trong lịch sử công luận và trong mắt của người đương thời. Ông là NGỌC CHO ĐỜI, nhất định người đời sau sẽ có nhiều người quay lại, đọc lại và suy ngẫm về ông. Nhận định về danh sĩ Nguyễn Khắc Viện, mời bạn đọc cảm nhận của bà Nguyễn Thị Bình, nhà giáo Hoàng Như Mai và nhà báo Lê Phú Khải.

Nguyễn Khắc Viện còn là học giả, nhà văn, nhà báo với nhiều cuốn sách và bài viết vừa đậm đà phong cách văn học, vừa mang tính chính luận sâu sắc và bản sắc dân tộc. Trong vốn trước tác đa dạng và phong phú đó của Nguyễn Khắc Viện, nhiều tác phẩm đã được bạn đọc trong và ngoài nước đánh giá cao, coi đó là những đóng góp có giá trị vào nền văn hóa, xứng đáng được lưu giữ lâu dài…” (Nguyễn Thị Bình)

Suốt cả cuộc đời, Nguyễn Khắc Viện tuân thủ trung thực và trung thành một Đạo Sống rất đẹp, vốn là cái truyền thống muôn đời của trí thức Việt Nam: Yêu nước, lo dân.”
(Hoàng Như Mai)

“Ðãi ông một bữa cơm nghèo
Trải giường ông nghỉ, lòng nhiều xót thương
Lưng già ít thịt nhiều xương
Sáu, năm vết mổ sẹo còn đầy vai
Con đường dân chủ công khai
Ông như lão tướng một đời xông pha
Bọn quan liêu – lũ gian tà
Kính ông ngoài mặt, bỉ dè sau lưng
Núi sông được mấy anh hùng
Thế gian được mấy cõi lòng trinh trung!”

(Lê Phú Khải)

DANH SĨ NGUYỄN KHẮC VIỆN TRONG TÔI

Tôi kính trọng nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện, một nhân cách ngời sáng của danh sĩ hiện đại, vừa uyên bác sâu sắc vừa trí tuệ thực tiễn, người biết tìm cách hành xử hiệu quả và vượt qua nghịch cảnh để cống hiến cao quý cho đời. Ông là nhà hoạt động văn hóa, y học, tâm lý giáo dục lỗi lạc, người đã để lại cho Việt Nam và Thế giới một khối lượng đồ sộ công trình nghiên cứu giá trị, nhưng tôi thực sự không ngờ cụ lại là người viết thơ tình hay đến thế! Trong nhà tôi có nhiều sách của ông và tôi đặc biệt yêu thích cuốn “Việt Nam một thiên lịch sử” viết bằng tiếng Anh. Hôm trước, tôi có đọc được trang viết của anh Ngô Minh “Quà tặng xứ mưa” giới thiệu bài thơ tình Nguyễn Khắc Viện và lời nói đầu sách “Nguyễn Khắc Viện, yêu và mơ” mà thật ngạc nhiên và vui thích.

“Vậy mà chúng tôi vừa phát hiện một tập gồm hơn hai mươi lá thư tình hết sức là … lãng mạn của Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, một bí mật được cất giấu gần nửa thế kỷ, trong lúc tìm soạn những Di cảo của ông để trao cho Cục Lưu trữ quốc gia để bảo quản lâu dài. Đọc những lá thư tình của Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, chúng ta không chỉ cảm thấy thích thú trước một điều bất ngờ mà còn rung cảm trước vẻ đẹp phong phú của ngôn từ cũng như tâm hồn trẻ trung, tươi tắn và vị tha của một con người” “Thư không ghi năm, nhưng chắc cũng là năm 1967. Một lá thư thật hay, thêm lời bình nữa thì chẳng khác chi làm ồn khi người ta đang lắng nghe một bài hát du dương ngọt ngào!” (lời nhà văn Nguyễn Khắc Phê.

Tôi đã trân trọng chép lại lá thư “Thơ tình Nguyễn Khắc Viện 17 tháng 1” trong phần đầu bài viết “Nguyễn Khắc Viện, tìm trong di sản”.

“Thế là được giặt tất, được múc nước rửa chân, được đánh máy đẽo gọt bài… Bao nhiêu mơ ước dần dần thành sự thật, một sự thật thấm thía hơn lúc chỉ còn là ước mơ. Quên, bàn viết chung bài về Hà Nội, sợi ngang sợi dọc chúng ta đang dệt lên cuộc đời mới của riêng hai đứa mình. Từ đây hai chữ đời riêng mới có ý nghĩa, mua sắm cái gì, diện chiếc quần mới, quét cái nhà chưa sạch, trước kia riêng chung lẫn lộn, làm gì chỉ làm cho tròn nhiệm vụ, không có thú riêng. Thú vị lắm những lúc có mặt người khác, ngồi ngắm ánh mặt trời lấp loáng trên mái tóc em, cảm thấy cái đẹp ấy chỉ dành riêng cho mình; hay khi chúng mình thoáng nhìn nhau giữa lúc trò chuyện với người khác, êm thắm làm sao một ánh mắt đưa qua trong giây lát, ngọt lịm như ngụm nước dừa giữa ngày hè nóng bức. Lạ thật! Hạnh phúc đến nhẹ nhàng, chỉ một một làn gió lướt ngoài da mà in sâu đến xương tủy. Một chút hương thơm hầu như không cảm thấy mà thấm đến ruột gan.

Em muôn yêu ngàn quý, đêm nằm anh nhớ, ngày dậy anh thương, càng gần càng thương, càng xa càng nhớ, nghĩ đến ngày mỗi phút mỗi giây đều là của chung, rung cả người; nghĩ đến lúc cái gì cũng là của chung… Sáng chợp mắt đã có thể đưa tay vuốt làn tóc, chiều chiều đón em đi làm về. Ngày ấy sẽ là ngày như thế nào nhỉ? Em ơi, anh muốn người anh thành con người pha-lê trong suốt, cho em thấy hết mỗi giọt máu, mỗi thớ thịt đều thắm nhuộm tình yêu. Em có thấy anh như cành khô đang sống lại không? Có thấy lòng anh nay lâng lâng như một sáng mùa thu không? Em ơi, như đóa hoa tắm gội trong ánh mặt trời, em cứ thản nhiên để cho tình yêu của anh quấn quýt, bao quanh lấy em. Anh bây giờ yêu em, quý em không còn chuyện gì mắc míu nữa, không còn vấn đề gì nữa, thương thương nhớ nhớ thành tự nhiên như ăn như thở thôi. Hôn mái tóc vàng, hôn đôi chân ngọc”.

(Nguyễn Khắc Viện)

Con người hiền lành, trung thực, nhân văn và tốt đẹp dường ấy làm ta tin tưởng, kính trọng.  Nguyễn Khắc Viện nhân cách ngời sáng.

Tổ Quốc, Quê Hương những ngày trước hiểm họa.  Ứa nước mắt khát khao dân tộc Việt có nhiều người như Nguyễn Khắc Viện biết bao!

Video yêu thích
Em_da -thay-gi-trong-hom-nay
Em đã thấy gì trong hôm nay
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook