Trần Mạnh Hảo một góc nhìn


VatlucbinhNamBoVạt lục bình Nam Bộ. Dòng sông đuổi bắt chân trời, chẳng có gì trên đời có gan bám theo dòng sông về vô tận ngoài chấm lục bình kia. Lục bình như một biểu tượng sâu xa của kiếp người, vẫn trổ hoa trong mưa gió. . Như một đóa lục bình văn học,… Sau này, sẽ đến lúc tôi thêm một chữ “Nhớ” nữa: “Nhớ Trần Mạnh Hảo một góc nhìn”. Người đương thời ít người dám, muốn gần, nói và viết về anh, nhưng số lượng người âm thầm đọc, lẳng lặng đọc văn thơ anh thì nhiều, và khá lớn. Văn chương Trần Mạnh Hảo là văn chương thân phận con người. Mà con người thì gần với tình yêu cuộc sống.

Trần Đăng Khoa trao đổi về Cuộc cách mạng thi ca hôm nay, trong Chân dung và đối thoại, Nhà Xuất bản Thanh niên Hà Nội, trang 194-196, đã viết: “…Tranh luận với Trần Mạnh Hảo không nên cải nhau trên mấy lý lẽ vặt“, mà “… Tốt nhất hãy làm ngược lại những gì Trần Mạnh Hảo đã làm”.

Tôi đồng tình với Trần Đăng Khoa và cho việc khen chê là bình thường. Thưởng thức nghệ thuật là thưởng thức tài năng sáng tạo văn chương của các cá nhân nhà văn thơ. Văn thơ hay thì khen, dở thì chê. Thơ hay hạng nhất là thơ muôn đời. Thơ hay hạng hai là thơ của một thời. “Mùa thu tôi đi học” thơ Trần Mạnh Hảo là thơ của nhiều thời.

Hai bài văn khác “Sơn Nam vạt lục bình Nam Bộ” và “Hemingway-ông già râu trên biển cả chữ nghĩa” văn Trần Mạnh Hảo, đăng trong Nhớ Sơn Nam ông già Nam Bộ cùng với hai nhân vật kỳ dị của nước Mỹ Borlaug và Hemingway. Đó là những tản văn hay ám ảnh, và chuẩn xác đến kỳ lạ về số phận, thân phận con người !. Tôi đọc và cứ bâng khuâng nghĩ nếu như cuộc đời ít bất cập hơn và giá như Trần Mạnh Hảo dành trọn đời cho những áng thơ văn dạng này để giữ lại “viên ngọc ngậm cho đời” thì hay biết bao !

Tôi không đồng tình với anh nhiều việc và chẳng liên quan việc anh, nhưng bài thơ văn hay thì khen ! “Hoa bìm ơi viên mực tím sương mù” . Trần Mạnh Hảo lục bình Nam Bộ.

Hoàng Kim

 

Tài liệu dẫn

TranManhHaotrongTMH

MÙA THU TÔI ĐI HỌC.

Thơ Trần Mạnh Hảo.

Tuổi thơ tôi chớm heo may như tóc
Phất phơ trời trên vầng trán mùa thu
Con vạc gọi vì sao mai đi học
Hoa bìm ơi viên mực tím sương mù

*

Mùa hè trốn đi đâu tôi chẳng thấy
Mẹ vội may áo mới sợ tôi hờn
Gánh mùng tơi mẹ đổi thành thếp giấy
Hoa cúc vàng từ độ ấy vàng hơn

*

Mẹ khổ sở vì tôi mơ bút máy
Đêm nhìn lên trời cũng đổ mồ hôi
Một cặp sách mười năm không sắm nổi
Tuổi thơ tôi chân đất đến trường đời

*

Ôi bè bạn toàn cào cào châu chấu
Qủa bưởi nào rơi xuống nhảy choi choi
Miếng áo vá của một thời yêu dấu
Tôi học cùng trường với củ sắn củ khoai

*

Mùa thu đánh kẻng trời ngân tiếng vạc
Tâm hồn tôi đi học với mọi người
Hỡi ngòi bút lá tre bay trên bàn xào xạc
Có nghe lòng mực tím quả mùng tơi?

Sài Gòn 12-8-1991

SonNamtrongTMH

SƠN NAM VẠT LỤC BÌNH NAM BỘ

Trần Mạnh Hảo

Không hiểu sao, mỗi lần nhớ đến nhà văn Sơn Nam, tôi lại hình dung đến những vạt hoa lục bình trên các kênh rạch, sông ngòi của miền Nam. Lục bình, loài hoa “vừa đi vừa nở”, như một bài thơ tôi viết thuở nào, là một thứ hoa quá bình thường, thậm chí quá tầm thường, do trời trồng, cứ phiêu dạt, cứ lang bạt kỳ hồ như mây bay gió thổi, như số phận và tâm hồn của người nghệ sĩ. Lục bình vừa đi vừa sống, vừa đi vừa nở hoa, vừa đi vừa sinh sôi và tan rã. Nương trên sông nước, có lúc loài hoa xê dịch này chạy như bay về phía chân trời, chạy như đang bị nghìn thượng nguồn lũ lụt đuổi bắt, chạy như đang trôi tuột về phía hư vô, về phía không còn gì, để bấu víu và tồn tại…

Quả thực, Sơn Nam là loài lục bình chuyên đi bộ, trôi bộ trên những vỉa hè của Sài thành. Ông cứ tưng tửng như thế mà đi vào lòng người, mà đi vào văn học. Học theo phép trôi nổi, vô bờ bến của hoa lục bình, chừng như Sơn Nam cứ tưng tửng suốt hơn bảy mươi năm mà đi bộ trên những vỉa hè bụi bậm quanh co của con người. Đốm lục bình trên cạn này có cảm giác như trôi không nghỉ, vừa đi vừa ngậm cái sâu kèn bốc khói, thảng hoặc cười ruồi một cái rất bí hiểm, hoặc gật đầu chào một bóng mây, quờ tay lên khoảng không như tính vịn vào sự hụt hẫng của bước chân phận số. Trên dòng đời trôi dạt, cuộn xoáy về vô định ấy, trong hoang sơ im lặng chợt trổ ra bông lục bình, đột ngột như tiếng khóc oa oa sơ sinh của mang mang thiên cổ, có lúc lại đầy đặn, ấm áp tươi vui như tiếng cười của trời đất. Nhìn lên trời, đám mây tưng tửng kia chợt như một dề lục bình của cao xanh, trôi đi muôn đời bí hiểm mà sao chưa học được phép nở hoa của bông lục bình hoang dã.

Gió kia thổi tưng tửng lên miệt vườn và Sơn Nam cứ thế mà đi tưng tửng đến mọi người. Ông có cái dáng cổ quái như người đã ở miệt vườn từ mấy trăm năm, từ độ ông bà mình đầu tiên mở đất Nam Bộ. Ông giống như một tùy phái của Thoại Ngọc Hầu vừa thu nạp dân binh đi mở kinh Vinh Tế về, lội bộ qua vài ba trăm năm đến với chúng ta như lội qua vài ba công ruộng. Sơn Nam đã ở đô thành gần này hơn nửa thế kỷ mà cái dáng của ông vẫn như là dáng của dân miệt vườn chay. Ông chưa hề bị nhiễm chất thị thành, hệt như ông già Nam Bộ này vừa theo mùa nước nổi bắt được mấy xâu chuột, kêu bạn bè kiếm vài chùm bông điên điển về nướng chuột nhậu chơi. Ông có cái dáng dân chài lưới của U Minh thượng, U Minh hạ hơn là cái dáng của dân làm văn, viết sử.

Sơn Nam là nhà văn của nông thôn, mà là nông thôn Nam Bộ, một nông thôn thuần phác mà dữ dằn, chịu chơi mà nghĩa khí, nhân hậu mà ngang tàng. Cái miệt vườn trong văn chương của Sơn Nam là một miệt vườn xưa, nơi con người và cá sấu còn tranh giành nhau từng tấc đất, nơi cọp ngồi lù lù giữa buổi chợ chiều, nơi mũi lao thường biết cách dẫn đường con người bằng cách phóng đi như tên bắn về phía hoang vu, tăm tối và nỗi sợ trước một thiên nhiên được cấu tạo bằng nỗi niềm của người xa xứ.

Ông chính hiệu là nhà văn của buổi đầu mở đất, của những người bị phát vãng, bị lưu đầy từ miền Trung, miền Bắc vào, của dân trốn nợ, của kẻ thất tình quá mà bỏ xứ, của những anh hùng Lương Sơn Bạc, muốn tìm tự do nơi xứ cọp hơn là phải sống tù túng, sợ hãi trong sự áp bức của cõi người toàn quan ôn, chúa ác. Sơn Nam là một nhà Nam Bộ học, một cuốn từ điển của thời đầu mở đất Đồng Nai. Ông tiếp tục truyền thống văn chương của những Nguyễn Đình Chiểu, Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Hồ Biểu Chánh, Đông Hồ… Văn ông giản dị chừng nào, mộc mạc chừng nào lại sâu sắc mà hàm súc chừng ấy. Đọc ông, tôi cứ nhớ đến Tuốchghênhiép, một nhà văn phong tục của Nga ở thế kỷ mười chín với “bút ký người đi săn” nổi tiếng trên thế giới. Tuốchghênhiép là một biên niên sử của nông thôn Nga thời Sa hoàng, với những trang trại và những cỗ xe tam mã, những mệnh phụ phu nhân và những mối tình phù phiếm gió bay, những nông nô và số phận tẩm toàn nước mắt, những cánh rừng tai ga hư thực và những hươu nai chỉ lấy sự chạy làm vũ khí. Cũng như Tuốcghênhiép, Sơn Nam là một nhà văn phong tục của miền Nam, của những huyền thoại thời kỳ khai điền lập ấp.

Văn của Sơn Nam không ào ào như gió chướng, lại không trong veo như nước cất trong phòng thí nghiệm, mà nó là thứ chất lỏng hồng hào có tên là phù sa, chỉ cần vốc lên đã thấy mỡ màu cả bàn tay. Dưới ngòi bút của ông, những mảnh vụn bình thường nhất của thiên nhiên, những góc khuất nhất của hồn người chợt như được khoác lên một thứ ánh sáng mới, được bước ra sân khấu của ngôn từ với vẻ mặt trang trọng và cảm động. Những cảnh, những đời, những tâm sự của ông dù với tính cách hảo hớn, hào hùng nhất, sảng khoái và chịu chơi nhất bao giờ cũng pha một giọng kể trầm buồn, u hoài, xa vắng. Nói cho cùng, Sơn Nam là nhà văn của nỗi buồn con người. Hình như nỗi buồn đau mới có khả năng tạo ra cái đẹp của nghệ thuật? Thế giới nguy hiểm hơn, dễ đổ vỡ hơn nếu chỉ tồn tại bằng tiếng cười, bằng sự hoan lạc. Những câu chuyện mà Sơn Nam kể cho chúng ta thường pha chất dân gian, pha chút tiếu lâm nguyên thủy miệt vườn, đôi khi cái cười đi qua còn lưu lại nước mắt. Làm cho người đọc cảm động, còn tác giả tuồng như vẫn tỉnh queo, vẫn lầm lũi đi tìm những mảnh đời khác, những câu chuyện khác, gom nhặt chất liệu như đi mót lúa.

Sơn Nam dáng dấp nhỏ con như núi của phương Nam nhưng rắn rỏi, gân guốc. Gương mặt ông khắc khổ, hun hút như được chạm khắc bởi nỗi niềm tù túng của lịch sử có nét hao hao gương mặt của tượng đá Phù Nam. Đôi mắt ông nhìn tôi vừa xuyên suốt, vừa u u minh minh, vừa sáng quắc vừa lờ đờ, hệt như là đôi mắt của quá khứ. Ông cười lành như cái cười của nghé, của bê. Đôi lúc đang ngồi cười nói, ông chợt im lặng như quên mất tiếng nói, thậm chí như thể ông đã để quên hai lỗ tai ở nhà. Và chợt thấy ông cười ruồi như cười với người trong mơ. Đôi khi ông thất thường như mưa nắng, song ông vẫn là người bình dị, chưa một lần tỏ ra kênh kiệu ta đây. Ông có khả năng chơi thượng vàng hạ cám. Lớp trẻ quý mến ông ở tấm lòng thành thật, cởi mở và chịu chơi, thậm chí lẹt xẹt, hề hề.

Thỉnh thoảng gặp ông, tôi lại thấy nhà văn Sơn Nam của chúng ta già đi một tí. Duy giọng nói ông còn hào sảng, tiếng cười hì hì của ông sao mà trẻ thơ dường vậy. Con người càng già đi, tâm hồn càng trở về thời thơ ấu. Với những tập truyện ngắn bút ký xuất sắc, với những tập biên khảo uyên thâm, với những phát hiện mới mẻ về chân dung tinh thần của người Nam Bộ, Sơn Nam quả rất xứng đáng với ý nghĩa của tên tuổi mình.

Dòng sông đuổi bắt chân trời, chẳng có gì trên đời có gan bám theo dòng sông về vô tận ngoài chấm lục bình kia. Lục bình như một biểu tượng sâu xa của kiếp người, vẫn trổ hoa trong mưa gió. Như một đóa lục bình văn học, tâm hồn Sơn Nam đang trôi trên những trang văn về phía chân trời của cuộc sống.”

Trần Mạnh Hảo
Nguồn: Nhớ Sơn Nam ông già Nam Bộ

HemingwaytrongTMH

HEMINGWAY- ÔNG GIÀ RÂU TRÊN BIỂN CẢ CHỮ NGHĨA

Trần Mạnh Hảo

Ernest Hemingway (ảnh năm 1954)  Nobel Văn Học 1954 : tác phẩm ” Ngư ông và biển cả”. Ngày 21-7 kỷ niệm 117 năm ngày sinh của đại văn hào Mỹ Ernest Hemingway ( 1899-2016).

Hemingway lao vào cuộc đời như một võ sĩ đấm box lao ra trường đấu. Mà quả thực, có lúc, ông nhà văn kỳ lạ này thuở đầu đời đang trên tàu biển sang châu Âu cùng người vợ thứ nhất Hadley, đã tổ chức một trận đấu quyền anh, tự mình lao ra làm đấu sĩ để lấy ít francs giúp đỡ một cô gái bị bỏ rơi. Lúc đã thành danh, có khi ông thỉnh thoảng nổi máu yêng hùng, còn nhảy phóc ra từ bàn nhậu, phanh áo khoe bộ ngực lông lá đầy nam tính rồi thách đấu một tên chó chết nào đó, hoặc đấm những cú trời giáng vào khoảng không cảnh cáo thế gian, hoặc ghi vào mặt thằng cha nào đám xúc phạm ông một vài vết bầm tím gọi là… nhớ đời.

Hemingway cuồn cuộn và ào ạt như sông Mississippi hồng hộc sóng gió, hồng hộc thở ra biển tất cả nguồn cơn vừa phô bày, vừa bí ẩn của nước Mỹ. Có khi ông dàn trải đời mình thành mênh mông như thảo nguyên Chicago ngựa chạy gãy chân không thấu. Có khi ông đùn đẩy đời mình lên thành gò đống, chót vót như đỉnh núi Kilimanjaro, mượn linh hồn con báo mà chết muôn đời trên đỉnh tuyết mây trời vọng tưởng.

Cái gì của Hemingway cũng tột cùng. Hemingway tán gái. Hemingway đấm bốc. Hemingway túy ông. Hemingway mê cuồng với đấu trường bò tót. Hemingway săn tê giác và sư tử Phi châu. Hemingway lao sùng sục ra biển Cuba câu cá kiếm. Hemingway viết văn. Hemingway vong thân. Hemingway dấn thân. Hemingway lôn luôn coi Fidel Castro là thần tượng và là bạn thân thiết của nhà cách mạng Cuba này. Hemingway mê mẩn nước Mỹ và ngán nước Mỹ tới tận cổ. Hemingway lẩn thẩn với hư vô…

Một cuộc đời 62 tuổi như ông, dù có chia ra hàng chục cuộc đời khác cũng đều mãnh liệt và cùng tận hết mình. Có thể nói, Hemingway – một nhà văn rất Mỹ, từ cuộc đời đến tác phẩm chính là hình ảnh của nước Mỹ thu nhỏ, của một nước Mỹ đam mê và rồ dại, kiêu hùng và bi lụy, tự do và trầm cảm, chếnh choáng và hư vô…

Cùng với Chúa Trời, bò tót, sư tử, cá kiếm, năm người đàn bà có tên và không tên khác đã nhào nặn nên thể xác và tâm hồn Hemingway.

Đầu tiên là Grace Hall – mẹ ông, một người đàn bà Anh mắt xanh xinh đẹp, cao lớn, tươi tắn và nồng nàn như bình nguyên nước Mỹ, một giáo viên dạy nhạc tại North Oak Park đã truyền vào ông cả tâm hồn nghệ sĩ đầy mơ mộng, lúc nào cũng bàng bạc như sương và véo von như chim chóc. Cha ông – Ed Hemingway, một bác sĩ y khoa cao lớn, đẹp trai, một tay chơi mê câu cá, mê săn bắn đã “câu” được người phụ nữ âm nhạc này ngay trong trường trung học.

Khi Ernest vừa sinh ra, mẹ ông đã viết vào nhật ký những dòng như lời tiên tri về về đứa con trai ngỗ ngược và thiên tài sau này như sau: “Các con chim cổ đỏ hót những bài ca ngọt ngào nhất để chào mừng người viễn khách tí hon đến với thế giới xinh đẹp này”. Quả thật, Ernest suốt đời là viễn khách trên quê hương mình, là viễn khách của thế giới, viễn khách của những người đàn bà chết mê chết mệt vì ông, viễn khách trong chính bản thân mình, viễn khách của cái chết và hư vô. Cũng quả thật, cái nhìn của người mẹ đã xuyên suốt cuộc đời ái tình sôi nổi như bão giông sấm chớp của người con trai khi tiên đoán về “Các con chim cổ đỏ” châu tuần quanh người đàn ông cao lớn tới gần hai thước, ngực rộng, vai to, râu hùm hàm én, đẹp trai và chịu chơi vào loại nhất nước Mỹ này.

Một con chim cổ đỏ, mỏ đỏ đầu tiên mà Ernest vồ được khi chàng nằm điều dưỡng do bị thương ở chân tại Milan (Italy) năm 1918, lúc mới 19 tuổi là nàng điều dưỡng viên Agnes Hannah Von Kurowsky – hơn chàng gần 10 tuổi. Trong 18 cô điều dưỡng viên đến từ Mỹ xinh như mộng, Ernest đã chọn nàng Agnes Hannah lớn tuổi nhất đám, một nàng xinh tươi, tóc nâu sẫm, có mắc liếc đa tình và khóe cười lúng liếng có thể làm nghiêng lệch cả cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất. Chàng Ernest lao vào mối tình đầu như con sư tử Phi châu lao vào con sơn dương. Anh chị yêu nhau tưởng có thể sập bệnh xá Croce Rossa Americana đóng tại Milan vẫn còn nằm trong tầm đại bác của quân Áo. Hemingway trong đêm tối chiến tranh nóng nực, dám dũng cảm một mình lao lên cõng một thương binh đang hấp hối người Italy giữa trận tiền và đã hưởng trọn một tràng súng máy của quân Áo vào cẳng chân, khiến cả hai cùng gục xuống trong vũng máu. Chuyện dám hy sinh cứu đồng đội này đã đưa chàng trai trẻ Mỹ từ địa ngục chiến tranh đến với thiên đường có tên là Agnes Hannah tóc nâu sẫm kiều diễm như quà tặng mỹ miều của số phận.

Tình yêu trong chiến tranh phải chia lìa vội vã. Chàng phải về Mỹ vì bị thương đi cà nhắc. Còn nàng ở lại Milan tiếp tục băng bó vết thương thể xác và tâm hồn cho những chiến binh thoát chết khác, những Ernest khác. Về Mỹ ngày nào Ernest cũng viết một lá thư cho người tình Hannah nhưng chẳng có hồi âm. Hóa ra, Agnes Hannah đã quên chàng Ernest bé bỏng miệng còn thơm mùi sữa để đú đởn với một tên sĩ quan người Italy đa tình chết tiệt nào đấy. Ernest thất tình như rồ dại. Chàng nguyền rủa nàng – vị nữ thánh của mối tình đầu chính ra chàng phải tôn thờ mãi mãi thì lại đi hận nàng hơn hận quân Áo tí nữa đã xơi tái một cẳng chân mình. Lần đầu tiên yêu và lần đầu tiên bị phản bội, Ernest đã nếm chén đắng của sự thất tình.

Ernest đã thề giết chết Agnes Hannah trong tâm hồn mình để rồi làm cho nàng thành bất tử trong một cái tên khác là Catherine Barkley – nhân vật nữ chính trong cuốn tiểu thuyết đã đưa ông lên hàng những văn hào lớn nhất nước Mỹ và thế giới: “Giã từ vũ khí” xuất bản năm 1929. Hemingway hóa thân vào nhân vật Federic Henry để làm sống dậy cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, mối tình thứ nhất, nước Italy thứ nhất, sự rồ dại và đam mê thứ nhất của đời ông và của nhân loại. Tình yêu đẹp tới mức phi lý của Henry và cô y tá Catherine hiện lên lồng lộng như là sự phản đề của cuộc chém giết tàn khốc có tên là chiến tranh. Catherine cuối cùng đã không chết ở chiến hào mà chết bởi tạc đạn tình yêu: chết trong cuộc sinh nở.

Thế mà năm 1932, Hemingway điên tiết lên, đã toan tìm đấm vỡ mõm gã đạo diễn để cho Catherine không chết trong phim “Giã từ vũ khí”, trái với cái chết của nàng trong tiểu thuyết. Catherine đã chết bởi tình yêu. Nhưng tình yêu này bởi chiến tranh mà sinh ra. Chúng ta có thể “Giã từ được vũ khí” nhưng không thể nào giã từ được tình yêu và nỗi chết. Suốt cuộc đời cuồng nhiệt sống và cuồng nhiệt viết của mình, Hemingway đã bị tình yêu và cái chết, bị những người đàn bà và sư tử Phi châu giằng xé về hai phía thiên đường và địa ngục.

Cuốn tiểu thuyết “Mặt trời vẫn mọc” ra mắt năm 1926 của ông là tiếng thở dài của nước Mỹ, là mùi xú uế của cả một thế hệ bị chiến tranh bài tiết ra thành những hòn sống, những cục sống đi lang thang khắp châu Âu và Bắc Mỹ như những hồn ma.

Sau thời kỳ vong thân, sau cú thất thần mất hết hồn vía của thế chiến thứ nhất, trước hiểm họa phát xít xuất hiện đe dọa nhân loại, Hemingway tỉnh thức, chợt như nhảy bổ ra từ chai rượu, nhảy bổ ra từ các cuộc câu cá, đi săn để sang Tây Ban Nha tham gia binh đoàn quốc tế bảo vệ nền Cộng hòa non trẻ, chống lại nhà độc tài Franco. Tiểu thuyết “Chuông nguyện hồn ai” xuất bản năm 1940 là bài ca bi thương nơi cuộc dấn thân của một nhân loại mới ngây thơ và tốt lành, một nhân loại dám xé ngực mình, lấy trái tim làm vũ khí tiêu diệt cái ác.

Hemingway đã khoác một y phục khác, một cái tên khác là chàng Robert Jordan, một chiến sĩ tình nguyện người Mỹ đã đến Tây Ban Nha để chiến đấu bảo vệ nền Cộng hòa.

Trong tận cùng chết chóc, nước Tây Ban Nha hiện lên qua hình ảnh nàng du kích Maria, một thánh nữ đồng trinh của chiến tranh. Tình yêu của Jordan với Maria là tình yêu của một dấn thân này với một bơ vơ khác, là nghẹn ngào tỏ tình cùng nức nở. Tình yêu nào của văn chương Hemingway chừng như cũng là tình yêu của vết thương, tình yêu soi mình trong chiều sâu hút của một cái giếng trong suốt là nỗi chết. “Chết trong chiều nắng tà”, cuốn tiểu thuyết ra mắt năm 1932 của Hemingway đã đưa nước Tây Ban Nha trưng ra với thế giới ở một gương mặt khác với nghi lễ thiêng liêng của thuật đấu bò. Đây là một tiểu thuyết bên ngoài tưởng sục sôi, tưởng gào thét điên dại vì việc đấu bò tót; nhưng thực ra đây là tiểu thuyết luận đề, Hemingway bàn về cái chết, một cái chết có vẻ ma thuật và kỳ bí như chính Tây Ban Nha mà suốt đời ngoảnh lại, nhà văn còn thảng thốt đến ngẩn ngơ.

Hemingway bị ba con vật: bò tót, sư tử, cá kiếm rình ông từ ba góc của một tam giác quỷ – đời sống; hệt như năm người đàn bà ông yêu từ Agnes Hannah đến bốn bà vợ của bốn thời kỳ kéo ông ra thành sợi dây thun của hoan lạc và đầy ải. Bốn “triều đại” nữ hoàng trị vì trên tâm hồn và chiếc giường của ông từ “triều” hoàng kim Hadley, qua Pauline, tới Martha rồi Mary Welsh và dừng lại “ở triều” thứ năm – triều đại của hư vô và chấm hết là khẩu súng săn shotgun.

May mà trước khi đi tìm con báo trên đỉnh núi tuyết, Hemingway đã kịp ném linh hồn xuống biển Cuba để sinh ra kiệt tác “Ngư ông và biển cả”. Cuốn truyện vừa này lần đầu được in trọn trên tờ Life và bán được 5 triệu bản trong vòng 48 tiếng đồng hồ để đạt được giải thưởng Pulitzer và giải Nobel năm 1954.

Qua kiệt tác này, mới biết người khổng lồ của văn học phương Tây, một nhà văn Mỹ nhất lại mang một tâm hồn phương Đông, rất Phật và rất Lão Trang vậy. Ông già Santiago này chính là một tên gọi khác của Hemingway đã một mình lênh đênh trên chiếc thuyền câu đơn độc, suốt ba ngày đêm bị con cá kiếm vĩ đại mà ông vừa câu được lôi đi vào muôn trùng biển cả, đến nỗi tưởng như chính con cá kiếm kia đã câu được ông già. Cuộc vật lộn trong ba ngày chết đi sống lại kia của lão Santiago chính là cuộc vật lộn của ông già râu Hemingway suốt một đời lênh đênh và cô đơn tới cùng tận trên biển cả chữ nghĩa.

Con cá kiếm nặng tới sáu, bảy tấn, dài và lớn hơn chính chiếc thuyền câu, một sinh vật mạnh và đẹp đến mê cuồng của biển cả khiến chợt nhìn thấy nó, lão Santiago đã rợn da gà vì choáng ngợp. Qua nhân vật Santiago, khi con cá kiếm ngoài hành tinh đến cắn câu, chừng như ông già râu Hemingway đã ngó thấy hư vô, hay chính từ phút đó, hư vô đã câu được ông già và lôi đi tới đầu mút của thế giới văn học? Đằng sau con cá kiếm – linh hồn biển cả kia, ông lão kép Santiago – Hemingway này chừng như nhìn thấy tất cả đàn bà trên thế giới hợp lại và lôi ông đi vào siêu hình tình yêu, siêu hình sự chết.

Không, cuộc chiến đấu vĩ đại giữa một nhân loại cô đơn, bé nhỏ, yếu ớt và một thiên nhiên gầm thét, hung tợn tới vô cùng qua bàn tay rách nát và thân thể rớm máu vì cuộc giằng co sống chết của lão Santiago với con cá kiếm, Hemingway, nhà nhân đạo chủ nghĩa đã mang tới một thông điệp: “Con người không được sinh ra để chịu thất bại. Một con người có thể bị hủy diệt nhưng không bị đánh bại”.

Khi chỉ còn cách cái chết một gang tay, nhờ sức mạnh “không bị đánh bại” ấy, trong rốn thẳm tuyệt vọng, lão Santiago đã phóng ngọn lao cuối cùng của thế giới và giết được hung thần cá kiếm.

Chính là dòng suối máu của con khủng long này phun ra biển cả đã mời gọi hàng đàn cá mập kéo tới. Chỉ trong nháy mắt, bọn Pônpốt-Iêngxari này của biển cả đã chén sạch sành sanh thành quả sống chết của ngư ông. Cuối cùng, lão Santiago kéo lên bờ một bộ xương cá kiếm vĩ đại nhất thế giới – một bộ xương của siêu hình tôn giáo.

Vâng, chính là đàn cá mập nada (hư vô – tiếng Tây Ban Nha Hemingway hay dùng) được biển cả phái tới Ketchum, sáng chủ nhật ngày 2/7/1961 đã “vồ” được đại văn hào bằng khẩu súng săn hai nòng shotgun. Chính từ khẩu súng này, Hemingway từng săn được voi, sư tử, tê giác, báo và thú rừng Phi châu. Lần cuối cùng, ông đã săn được chính bản thân mình bằng một phát đạn tự bắn vào đầu.

Không có gì giết nổi con người này kể cả chiến tranh, cả bệnh viêm gan vì rượu, cả hai lần rớt máy bay và nhiều lần bị tai nạn xe hơi – trừ chính bản thân ông. Một lần nữa, Hemingway lại lên đường đi câu con cá kiếm của Chúa Trời ở bên kia thế giới. Ông đã bị hư vô vồ mất và lôi đi trên biển cả chữ nghĩa tới muôn đời. Trước đó, Hemingway đã vồ được vĩnh cửu; hệt như con báo Phi châu đã vồ được đỉnh núi tuyết Kilimanjaro, tìm được “Một nơi sạch sẽ và sáng sủa” nhất thế gian để chết và để cứu rỗi sự vĩnh hằng của cái đẹp đang bị thế giới trần tục này săn đuổi…

Trần Mạnh Hảo

 

Bài viết mới

DoanNamSinhlanguoithenao

ĐOÀN NAM SINH LÀ NGƯỜI THẾ NÀO?

Đoàn Nam Sinh là người thế nào? hãy đọc NÔNG SẢN VIỆT NAM thì rõ. Ông là người tử tế và có góc nhìn khác. Nam Sinh Đoàn hơi giống Sơn Nam ông già Nam Bộ của miền Tây, nhưng ông này có pha một chút của Huỳnh Kim và Hoàng Kim (Đồng Tháp) lại có lẫn một chút của Trần Mạnh Hảo. ” Thế giới đã phải chịu tổn thất rất lớn không phải vì sự tàn ác của những người xấu mà vì sự im lặng của những người tốt ” Napoleon đã nói vậy và Nam Sinh Đoàn là người dám nói lên. https://www.facebook.com/doannamsinh/posts/482057221893742 .

Đoàn Nam Sinh là ai?

Anh Nam Đoàn Sinh trong bài “NÔNG SẢN VIỆT NAM” đã tự giới thiệu:  “Tôi là con một nông dân. Từ bé đã vọc đất, nghịch nước, đã phụ kéo dây tưới rau, thu hoạch hoa lợi đưa vào chợ. Lớn lên, tôi nghe lời cha học canh nông. Và suốt từ bấy đến giờ, tôi vẫn đùa như thiệt mình là người Việt gốc Sú/ chou, bắp cải.Toàn bộ công việc của đời tôi là làm gì cho nhà nông khấm khá hơn. Bước đầu là cơ giới hóa  canh tác, tự động hóa việc tưới. Sau này về trường còn chú ý đến chế biến, bao bì, vận xuất,… Cũng đã qua một thời xuất khẩu rau hoa, cà phê, cây cảnh đến một số thị trường, XHCN cũng từng, TB giẫy chết cũng biết … Hai mươi lăm năm gần đây, tôi cùng đồng nghiệp chuyên tâm đưa tiến bộ về công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp, trước nhất là giống và kỹ thuật nhân giống. Sau đó là dinh dưỡng, phòng trừ sâu, bệnh, cỏ dại theo hướng sinh học hữu cơ, thân thiện với môi trường. Nhìn chung, góc nào cũng từng lăn, từng trãi với nhà nông từ rau hoa hàng niên, lúa bắp đậu mè, cho đến đa niên như Tiêu trà cà phê, cả cây rừng,… Nên việc dấn lên sự thật này, có thể tự làm khó cho mình, song phải gióng lên để chia sẻ với cộng đồng xã hội và bà con chân lấm tay bùn“.

Đoàn Nam Sinh là con nông dân, lớn lên từ nghề nông, học nghề nông, từng trãi với nhà nông. Như vậy là rõ. Mục đích loạt bài này của anh là gì? Anh viết: “Nên việc dấn lên sự thật này, có thể tự làm khó cho mình, song (Đoàn Nam Sinh) phải gióng lên để chia sẻ với cộng đồng xã hội và bà con chân lấm tay bùn“. Như vậy cũng là thật rõ.

Nông sản Việt Nam 70 năm nhìn lại

Thăm ngôi nhà cũ của Darwin, tôi ước ao học được từ đôi mắt Darwin soi thấu nguồn gốc các loài, tìm đến tư duy mạch lạc của một trí tuệ lớn và tập hợp lắng nghe kinh nghệm tầm nhìn của những người trong cuộc đương thời để vận dụng soi tỏ “Niên biểu lịch sử Việt Nam“, ” 500 năm Nông nghiệp Việt Nam”, “90 năm Nông nghiệp miền Nam” nhằm tìm thấy trong sự rối loạn và góc khuất lịch sử dòng chủ lưu tiến hóa, chấn hưng văn hóa, giáo dục và nông nghiệp Việt.

Đối thoại với anh Đoàn Nam Sinh, anh nhận định tổng quát về  “Nông sản Việt Nam 70 năm nhìn lại“:

Nếu những năm ’60 miền Nam mới nhập DDT, Endrine, Mercaptan,…trừ sâu thì miền Bắc cũng bắt đầu “hóa học hóa” nông nghiệp. Nhà nông trong Nam làm quen với Urê, sulfate amonne -SA thì miền Bắc tiếp cận “Đạm một lá”, ‘đạm hai lá’. Khi cách mạng xanh ở Ấn Độ thành công, thì miền Bắc mới bắt đầu với Trân châu lùn, các giống lúa mang gien lùn. Miền Nam tiếp cận với IRRI qua các giống Thần Nông IR8, IR 20,… Nhưng tốc độ tiếp cận công nghệ và sản phẩm công nghệ cao ở phía  bắc phụ thuộc vào Liên Xô, Trung Quốc nên đã chậm dần đều.

Sau ngày thống nhất, hầu hết kỹ sư nông nghiệp từ miền Bắc không đọc được tên thuốc, tên phân hay các chếphẩm chăn nuôi. Kiến thức ở các trường Đại học cũng chậm lại chừng 20 năm do đủ thứ trì trệ. Do vậy, đến nay, từ chỗ ta đi trước các nước lân cận thì tụt hậu so với họ không dưới 50 năm. (Chú ý rằng chỉ 50 năm sau cùng của thế kỷ 20, loài người đã đi được đoạn đường bằng 5000 năm trước đã đi. Và trong vũ trụ thông tin, chỉ 13 năm qua thôi, ta đã chậm hơn các nước như Mã Lai, In đô, Thái Lan, Đài Loan,… bình quân chừng 50 năm phát triển kinh tếnông nghiệp).

Trách nhiệm này, trước hết thuộc về sự kiên trì “ngu lâu” nhằm chính trị hóa khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật, kinh tế xã hội,…của giới chóp bu và sự kiên quyết lãnh đạo toàn dân toàn diện toàn thể…để giành quyền kiểm soátt và thao túng tài nguyên của đảng cầm quyền.

Từ khi ‘cởi trói’, ‘đổi mới’ để nhà nông tự lo, thì có gạo dư để bán, thịt đủ để ăn, vài ngành như cà phê, tiêu cũng có vẻ khởi sắc. Nhưng hãy nhìn đi, giá trị xuất khẩu của tất cả nông sản nước ta trong mấy mươi năm góp lại thì có nhân với trăm năm nữa cũng không huề vốn được với diện tích 7 triệu hec ta rừng đã và đang mất đi, đất và nước dùng trong nghề nông đang từng ngày suy kiệt.

Các đồng bằng Nam Bộ đã vắt kiệt khả năng tạo ra năng suất của đất, phân hóa học được dùng ngày càng nhiều. Sâu bệnh cỏ dại kháng thuốc tích lũy ngày càng đông, càng mạnh khiến nhà nông phải đổi thuốc tăng liều liên tục để giữ lấy mùa màng. Trên Tây nguyên, ngoài Tây Bắc và cả vùng Bắc và  Trung Bộ cũng không khác tý nào.

Việc cải thiện giống ra sao ? Miền Bắc dựa vào lúa lai của TQ, miền Trung có nhiều vùng cũng vậy. Trong Nam còn dựa được vào các giống lúa Thái như Khao Đak Mali, Ấn Độ như Jasmine 85 để xuất khẩu. Một số giống chọn lọc được như ST 5 đến ST 20, hay vài giống của Viện Ô Môn còn rất hẹp đường tiến thủ. Trong lúc các giống cơm cứng rẻ tiền vẫn chiếm phần lớn diện tích. Giống Ngô thì nhập từ Mỹ là chính, vài giống từ Thái, từ Đài Loan và Viện Ngô cải tiến rất leo heo trên các cánh đồng.  Các giống cây trồng khác từ cây ăn quả đến rau hoa đều di nhập vào hàng năm cả tỉ đô la. Con giống trong chăn nuôi cũng thế, nhất là sau khi để Trung Quốc ôm hết từ con giống đến thức ăn thì ngành chăn nuôi, chủ lực của Nông nghiệp Việt Nam teo dần.

Phân bón và thuốc men phần lớn đều nhập. Đạm Phú Mỹ chỉ được một phần nhỏ, còn lại toàn bộ nguyên liệu là nhập. Các nhà máy thuốc thú y cũng nhập cảng nguyên liệu, sang chai đóng gói, thế thôi.

Nhà nông chúng ta ngày nay bị một lúc nhiều vòi bạch tuộc nhắm vào. Các Công ty bán giống, bán vật tư nói chung là giàu lên, thiên đường của thuốc trừ sâu, trừ cỏ mà. Thứ đến là các đại lý, cùng một trust với chính quyền, cán bộ kỹ thuật ngành nông nghiệp- từ thanh tra cho đến bảo vệ thực vật, khuyến nông, khuyến đủ thứ…hè nhau vét của nông dân từ cái đáy khố rách. Thế mà khi nông sản tới mùa, đám thu mua từ các công ty còn đỗ ra đồng. Nào cân điêu, trừ thủy phần, tạp nhiễm, mua nợ,… cho đến các công ty nhà nước cũng điêu. Chúng chỉ ở xa, điều hành bằng chính sách giá cả.

Cũng tội nghiệp cho nông sản xứ ta, lúa mua về đủ cỡ hạt, độ ẩm,… Sấy xong xay ra nát tấm nhiều, chỉ bán cho khách nghèo, ăn đỡ đói. Chứ yêu cầu phẩm chất đồng đều cho dễ chế biến vận xuất thì đào đâu ra. Khách ăn gạo yêu cầu cao và khác xa cách làm của Việt Nam, nhưng chẳng ai định hướng cho sản xuất.

Đến chuyện xuất cảng, các hiệp hội nhà nước trá hình như VFA (gạo), Vicofa (cà phê) toàn quyền giao dịch, định giá, xây dựng cổng sau, sân sau,…miển trích nộp ngon lành cho “Chính phủ”, còn bọn nhà nông thì mặc mẹ chúng nó, và cấm chúng mày thành lập hiệp hội ngành nghề.

Hai năm trước, tôi nhận lời súp-pọt cho Đại học Kinh tế, thuộc dự án Brownee- thúc đẩy sản xuất kinh doanh cà phê. Tại sự kiện cà phê, có cả Nam của Vicofa, Vũ của Trung Nguyên,… tôi đã nói rõ (trích…) chỉ cần nhìn qua “lăng kính” cà phê: Hiệp hội là bọn hoạt đầu chính trị; Kinh doanh thì triết lý tởm lợm, tiền gom vào nhà; Chính quyền các cấp dây dưa với mafia; thử hỏi nông dân sẽ được gì? Cà phê lung tung giống, chất lượng rất ba vạ vì có quy trình nào chuẩn tắc đâu, ngứa đâu gãi đấy. Chẳng cần bồi bổ cho đất đai (của toàn dân -của đảng), chỉ chạy theo năng suất, mà người mua lại đòi chất lượng thì giết dân chứ còn gì.

Từ các Viện, Trường chỉ nghiên cứu vớ vẫn. Chứ chuyện làm ra một giống, xây dựng một quy trình chuẩn tại một vùng cụ thể để đáp ứng yêu cầu chất lượng ABC…thì cũng cần mươi năm đến vài mươi năm, chẳng ai làm. Doanh nghiệp như thằng cu Vũ cu Văn chả dại đầu tư, nên có gì xơi nấy, chẳng trách được.

Vấn đề vẫn là quyền tư hữu đất đai, quyền tự do lập hội còn xa với nhà nông, nên ngày nào còn tồn tại thể chế cũ rích và thối nát này thì nông dân còn khốn  đốn. Nói nhanh cho vuông.”

Những lời này anh Nam Sinh Đoàn đã chia sẽ với Song Pham, Chinh Pham, Xinh Pham, Nguyễn Thông, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Hồng Kiên, Phan Chi, Phan Tùng Giang, Hồng Chương Phan, Trung Quan Do, Quang Ham Ho, Quoc Trung, Nguyen Quoc, Tuan Nguyen Quoc, Võ Lão Nông, Võ Quốc Hội, Danh Vo Dinh

90 năm nông nghiệp Việt Nam những  điều trăn trở
Tôi muốn đánh giá sâu ở khoảng thời gian 90 năm Viện KHKTNN miền Nam khi Viện Hàn lâm Khoa học Pháp thiết lập đầutiên Viện Khảo cứu Đông Dương mà nay là Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam , sau đó là 60 năm Đại học Nông Lâm TP. HCM và nìn rộng ra một chút Angkor nụ cười suy ngẫm500 năm nông nghiệp Brazil để luận bàn về 90 năm nông nghiệp Việt Nam những  điều trăn trở.

“Phụng sự xã hội” là chùm bài mới đây của ông Đoàn Nam Sinh  đắng quá và thật khác với ý của Phó Thủ tướng: Thu nhập bình quân hộ nông dân đã đạt 97 triệu đồng trên báo Dân Trí ngày 25/8/2016 và gợi lại ý kiến của ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng, hiện là lúc kinh tế Việt Nam đang cho thấy có những chuyển dịch các nguồn lực “Không qua 2 vấn đề khó khăn, Việt Nam sẽ thành nền kinh tế thất bại”.

Xin được tiếp tục nghe kiến giải của tác giả và  lắng nghe các ý kiến của thầy bạn nghề nông. Tôi nói với anh Đoàn Nam Sinh: “Tui Hoàng Kim (Nong Lam University in Ho Chi Minh city) đang lắng nghe anh, nhưng thưa anh Nam Sinh Đoàn, thuốc anh đắng quá !”

Hoàng Kim

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s