Trò chuyện với anh Đoàn Nam Sinh


DoanNamSinhlanguoithenao

ĐOÀN NAM SINH LÀ NGƯỜI THẾ NÀO?  hãy đọc NÔNG SẢN VIỆT NAM thì rõ. Ông là người tử tế và có góc nhìn khác. Nam Sinh Đoàn hơi giống Sơn Nam ông già Nam Bộ của miền Tây, nhưng ông này có pha một chút của Huỳnh Kim và Hoàng Kim (Đồng Tháp) lại có lẫn một chút của Trần Mạnh Hảo. ” Thế giới đã phải chịu tổn thất rất lớn không phải vì sự tàn ác của những người xấu mà vì sự im lặng của những người tốt ” Napoleon đã nói vậy và Nam Sinh Đoàn là người dám nói lên sự thật, dẫu là một góc nhìn khác. https://www.facebook.com/doannamsinh/posts/482057221893742 .

Đoàn Nam Sinh là ai?

Anh Nam Đoàn Sinh trong bài “NÔNG SẢN VIỆT NAM” đã tự giới thiệu:

Tôi là con một nông dân. Từ bé đã vọc đất, nghịch nước, đã phụ kéo dây tưới rau, thu hoạch hoa lợi đưa vào chợ. Lớn lên, tôi nghe lời cha học canh nông. Và suốt từ bấy đến giờ, tôi vẫn đùa như thiệt mình là người Việt gốc Sú/ chou, bắp cải.Toàn bộ công việc của đời tôi là làm gì cho nhà nông khấm khá hơn. Bước đầu là cơ giới hóa  canh tác, tự động hóa việc tưới. Sau này về trường còn chú ý đến chế biến, bao bì, vận xuất,… Cũng đã qua một thời xuất khẩu rau hoa, cà phê, cây cảnh đến một số thị trường, XHCN cũng từng, TB giẫy chết cũng biết …

Hai mươi lăm năm gần đây, tôi cùng đồng nghiệp chuyên tâm đưa tiến bộ về công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp, trước nhất là giống và kỹ thuật nhân giống. Sau đó là dinh dưỡng, phòng trừ sâu, bệnh, cỏ dại theo hướng sinh học hữu cơ, thân thiện với môi trường. Nhìn chung, góc nào cũng từng lăn, từng trãi với nhà nông từ rau hoa hàng niên, lúa bắp đậu mè, cho đến đa niên như Tiêu trà cà phê, cả cây rừng,…

Nên việc dấn lên sự thật này, có thể tự làm khó cho mình, song phải gióng lên để chia sẻ với cộng đồng xã hội và bà con chân lấm tay bùn”.

Đoàn Nam Sinh là con nông dân, lớn lên từ nghề nông, học nghề nông, từng trãi với nhà nông. Như vậy là rõ. Mục đích loạt bài này của anh là gì? Anh viết: “Nên việc dấn lên sự thật này, có thể tự làm khó cho mình, song (Đoàn Nam Sinh) phải gióng lên để chia sẻ với cộng đồng xã hội và bà con chân lấm tay bùn“. Như vậy cũng là thật rõ.

Nông sản Việt Nam 70 năm nhìn lại

Thăm ngôi nhà cũ của Darwin, tôi ước ao học được từ đôi mắt Darwin soi thấu nguồn gốc các loài, tìm đến tư duy mạch lạc của một trí tuệ lớn và tập hợp lắng nghe kinh nghệm tầm nhìn của những người trong cuộc đương thời để vận dụng soi tỏ “Niên biểu lịch sử Việt Nam“, ” 500 năm Nông nghiệp Việt Nam”, “90 năm Nông nghiệp miền Nam” nhằm tìm thấy trong sự rối loạn và góc khuất lịch sử dòng chủ lưu tiến hóa, chấn hưng văn hóa, giáo dục và nông nghiệp Việt.

Đối thoại với anh Đoàn Nam Sinh, anh nhận định tổng quát về  “Nông sản Việt Nam 70 năm nhìn lại“:

Nếu những năm ’60 miền Nam mới nhập DDT, Endrine, Mercaptan,…trừ sâu thì miền Bắc cũng bắt đầu “hóa học hóa” nông nghiệp. Nhà nông trong Nam làm quen với Urê, sulfate amonne -SA thì miền Bắc tiếp cận “Đạm một lá”, ‘đạm hai lá’. Khi cách mạng xanh ở Ấn Độ thành công, thì miền Bắc mới bắt đầu với Trân châu lùn, các giống lúa mang gien lùn. Miền Nam tiếp cận với IRRI qua các giống Thần Nông IR8, IR 20,… Nhưng tốc độ tiếp cận công nghệ và sản phẩm công nghệ cao ở phía  bắc phụ thuộc vào Liên Xô, Trung Quốc nên đã chậm dần đều.

Sau ngày thống nhất, hầu hết kỹ sư nông nghiệp từ miền Bắc không đọc được tên thuốc, tên phân hay các chếphẩm chăn nuôi. Kiến thức ở các trường Đại học cũng chậm lại chừng 20 năm do đủ thứ trì trệ. Do vậy, đến nay, từ chỗ ta đi trước các nước lân cận thì tụt hậu so với họ không dưới 50 năm. (Chú ý rằng chỉ 50 năm sau cùng của thế kỷ 20, loài người đã đi được đoạn đường bằng 5000 năm trước đã đi. Và trong vũ trụ thông tin, chỉ 13 năm qua thôi, ta đã chậm hơn các nước như Mã Lai, In đô, Thái Lan, Đài Loan,… bình quân chừng 50 năm phát triển kinh tếnông nghiệp).

Trách nhiệm này, trước hết thuộc về sự kiên trì “ngu lâu” nhằm chính trị hóa khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật, kinh tế xã hội,…của giới chóp bu và sự kiên quyết lãnh đạo toàn dân toàn diện toàn thể…để giành quyền kiểm soátt và thao túng tài nguyên của đảng cầm quyền.

Từ khi ‘cởi trói’, ‘đổi mới’ để nhà nông tự lo, thì có gạo dư để bán, thịt đủ để ăn, vài ngành như cà phê, tiêu cũng có vẻ khởi sắc. Nhưng hãy nhìn đi, giá trị xuất khẩu của tất cả nông sản nước ta trong mấy mươi năm góp lại thì có nhân với trăm năm nữa cũng không huề vốn được với diện tích 7 triệu hec ta rừng đã và đang mất đi, đất và nước dùng trong nghề nông đang từng ngày suy kiệt.

Các đồng bằng Nam Bộ đã vắt kiệt khả năng tạo ra năng suất của đất, phân hóa học được dùng ngày càng nhiều. Sâu bệnh cỏ dại kháng thuốc tích lũy ngày càng đông, càng mạnh khiến nhà nông phải đổi thuốc tăng liều liên tục để giữ lấy mùa màng. Trên Tây nguyên, ngoài Tây Bắc và cả vùng Bắc và  Trung Bộ cũng không khác tý nào.

Việc cải thiện giống ra sao ? Miền Bắc dựa vào lúa lai của TQ, miền Trung có nhiều vùng cũng vậy. Trong Nam còn dựa được vào các giống lúa Thái như Khao Đak Mali, Ấn Độ như Jasmine 85 để xuất khẩu. Một số giống chọn lọc được như ST 5 đến ST 20, hay vài giống của Viện Ô Môn còn rất hẹp đường tiến thủ. Trong lúc các giống cơm cứng rẻ tiền vẫn chiếm phần lớn diện tích. Giống Ngô thì nhập từ Mỹ là chính, vài giống từ Thái, từ Đài Loan và Viện Ngô cải tiến rất leo heo trên các cánh đồng.  Các giống cây trồng khác từ cây ăn quả đến rau hoa đều di nhập vào hàng năm cả tỉ đô la. Con giống trong chăn nuôi cũng thế, nhất là sau khi để Trung Quốc ôm hết từ con giống đến thức ăn thì ngành chăn nuôi, chủ lực của Nông nghiệp Việt Nam teo dần.

Phân bón và thuốc men phần lớn đều nhập. Đạm Phú Mỹ chỉ được một phần nhỏ, còn lại toàn bộ nguyên liệu là nhập. Các nhà máy thuốc thú y cũng nhập cảng nguyên liệu, sang chai đóng gói, thế thôi.

Nhà nông chúng ta ngày nay bị một lúc nhiều vòi bạch tuộc nhắm vào. Các Công ty bán giống, bán vật tư nói chung là giàu lên, thiên đường của thuốc trừ sâu, trừ cỏ mà. Thứ đến là các đại lý, cùng một trust với chính quyền, cán bộ kỹ thuật ngành nông nghiệp- từ thanh tra cho đến bảo vệ thực vật, khuyến nông, khuyến đủ thứ…hè nhau vét của nông dân từ cái đáy khố rách. Thế mà khi nông sản tới mùa, đám thu mua từ các công ty còn đỗ ra đồng. Nào cân điêu, trừ thủy phần, tạp nhiễm, mua nợ,… cho đến các công ty nhà nước cũng điêu. Chúng chỉ ở xa, điều hành bằng chính sách giá cả.

Cũng tội nghiệp cho nông sản xứ ta, lúa mua về đủ cỡ hạt, độ ẩm,… Sấy xong xay ra nát tấm nhiều, chỉ bán cho khách nghèo, ăn đỡ đói. Chứ yêu cầu phẩm chất đồng đều cho dễ chế biến vận xuất thì đào đâu ra. Khách ăn gạo yêu cầu cao và khác xa cách làm của Việt Nam, nhưng chẳng ai định hướng cho sản xuất.

Đến chuyện xuất cảng, các hiệp hội nhà nước trá hình như VFA (gạo), Vicofa (cà phê) toàn quyền giao dịch, định giá, xây dựng cổng sau, sân sau,…miển trích nộp ngon lành cho “Chính phủ”, còn bọn nhà nông thì mặc mẹ chúng nó, và cấm chúng mày thành lập hiệp hội ngành nghề.

Hai năm trước, tôi nhận lời súp-pọt cho Đại học Kinh tế, thuộc dự án Brownee- thúc đẩy sản xuất kinh doanh cà phê. Tại sự kiện cà phê, có cả Nam của Vicofa, Vũ của Trung Nguyên,… tôi đã nói rõ (trích…) chỉ cần nhìn qua “lăng kính” cà phê: Hiệp hội là bọn hoạt đầu chính trị; Kinh doanh thì triết lý tởm lợm, tiền gom vào nhà; Chính quyền các cấp dây dưa với mafia; thử hỏi nông dân sẽ được gì? Cà phê lung tung giống, chất lượng rất ba vạ vì có quy trình nào chuẩn tắc đâu, ngứa đâu gãi đấy. Chẳng cần bồi bổ cho đất đai (của toàn dân -của đảng), chỉ chạy theo năng suất, mà người mua lại đòi chất lượng thì giết dân chứ còn gì.

Từ các Viện, Trường chỉ nghiên cứu vớ vẫn. Chứ chuyện làm ra một giống, xây dựng một quy trình chuẩn tại một vùng cụ thể để đáp ứng yêu cầu chất lượng ABC…thì cũng cần mươi năm đến vài mươi năm, chẳng ai làm. Doanh nghiệp như thằng cu Vũ cu Văn chả dại đầu tư, nên có gì xơi nấy, chẳng trách được.

Vấn đề vẫn là quyền tư hữu đất đai, quyền tự do lập hội còn xa với nhà nông, nên ngày nào còn tồn tại thể chế cũ rích và thối nát này thì nông dân còn khốn  đốn. Nói nhanh cho vuông.”

Những lời này anh Nam Sinh Đoàn đã chia sẽ với Song Pham, Chinh Pham, Xinh Pham, Nguyễn Thông, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Hồng Kiên, Phan Chi, Phan Tùng Giang, Hồng Chương Phan, Trung Quan Do, Quang Ham Ho, Quoc Trung, Nguyen Quoc, Tuan Nguyen Quoc, Võ Lão Nông, Võ Quốc Hội, Danh Vo Dinh

90 năm nông nghiệp Việt Nam những  điều trăn trở

Chúng ta muốn đánh giá sâu ở khoảng thời gian 90 năm Viện KHKTNN miền Nam khi Viện Hàn lâm Khoa học Pháp thiết lập đầu tiên Viện Khảo cứu Nông nghiệp Đông Dương năm 1925 mà nay là Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam vừa kỷ niệm 90 năm ngày thành lập, sau đó là nhìn rộng ra từ 60 năm Đại học Nông Lâm TP. HCM  kể từ năm 1955 cho đến nay vừa qua 60 năm.

Lịch sử Nam tiến của dân tộc Việt bắt đầu từ thế kỷ 15 cũng đồng thời với mốc thời gian mà Colombo khám phá ra châu Mỹ năm 1492. Trong chuỗi lịch sử trên 4000 năm của dân tộc Việt, được chia làm hai phần theo ý  kiến của nhà sử học giáo sư Đào Duy Anh (tại trích dẫn ở trang Dạo chơi non nước Việt): Phần đầu từ thời mở nước cho đến thế kỷ 15 là “Khắp vùng đồng bằng sông Hồng,/ vùng núi và trung du phía Bắc,/ không mẩu đất nào không lưu dấu tổ tiên/ để giành quyền sống với vạn vật”. Phần sau là quá trình Nam Tiến “Suốt dọc các vùng /từ duyên hải Bắc Trung Bộ,/ đến duyên hải Nam Trung Bộ,/ Tây Nguyên,/ Đông Nam Bộ,/ Đồng Bằng Sông Cửu Long, là sự nghiệp gian nan tiến thủ của tổ tiên /để mở rộng hy vọng tương lai dân tộc”.

Và, chúng ta nhìn rộng ra một chút, so sánh với  500 năm nông nghiệp Brazil , Angkor nụ cười suy ngẫm để luận bàn về 90 năm nông nghiệp Việt Nam những  điều trăn trở và tìm đường sống của dân tộc (Đường sống Tonstoi, Nguyên Ngọc giới thiệu).Tư duy mới nông nghiệp cần làm gì và làm như thế nào để đời sống người dân tốt hơn?

Giáo sư Võ Tòng Xuân trong “Tâm thư”  gửi tân Bộ trưởng Bộ NN&PTNT đã viết: “Việt Nam muốn được cộng đồng thế giới đối xử như một quốc gia có nền kinh tế thị trường thật sự thì nên bỏ mức hạn điền và công nhận đất tư nhân, để người dân có toàn tâm đầu tư vào mảnh đất của mình sản xuất hiệu quả nhất”. “Vấn đề sơ hữu đất đai này là cốt lõi, chìa khóa cần giải quyết hàng đầu trước khi xử lý các vấn đề khác.” Giải pháp mà giáo sư Xuân đề xuất lợi và hại như thế nào, quản lý đất đai nên như thế nào  là tốt nhất?

Làm gì để phát huy nội lực và tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nông nghiệp? Tái cơ cấu nông nghiệp như thế nào là tốt nhất? Trang thông tin Việt Nam Châu Phi hợp tác Nam Nam  có trao đổi: “Định hướng quan trọng hơn tốc độ” (Direction is somuch more important than speed).  “Tương lai của châu Phi nằm trong nông nghiệp” (Source: Africa’s future lies in agriculture – African leaders insist ). Đánh giá một đất nước, một dân tộc, một chính sách kinh tế xã hội cần nhìn thấu chất lượng cuộc sống của những người nghèo nhất xã hội là nông dân. Nếu họ chưa thay đổi được số phận thì đất nước đó, chính sách đầu tư đổi mới đó vẫn chưa đạt được hiệu quả đích thực. Nông nghiệp là giá đỡ của nền kinh tế ở châu Phi và Việt Nam, cần khai mở được tiềm lực nông nghiêp để chấn hưng kinh tế văn hóa xã hội. Châu Phi phải có một cách tiếp cận tốt hơn để chấm dứt nạn đói và nghèo đói ở đó. Hợp tác Nam Nam do FAO và Chính phủ Việt Nam khởi xướng đầu thế kỷ 21 có ý nghĩa chính trị kinh tế văn hóa xã hội to lớn. Thành tựu và bài học đạt được là tốt, có thể chia sẻ bảo tồn phát triển bền vững. Tương lai của châu Phi nằm trong nông nghiệp đã tái khẳng định tầm nhìn và ước muốn của bạn trong thay đổi phát triển. Sự cần thiết phải nắm lấy cơ hội, điều chỉnh mới và tăng tốc, đừng để cơ hội vuột đi. Việt Nam – châu Phi, nên đẩy mạnh hợp tác tư nhân, khai thác nhiều kênh hợp tác đầu tư hiệu quả, mà không chỉ trông chờ vào hợp tác song phương chính thức giữa hai chính phủ cho bảo tồn và phát triển. Con người (Man power) Vật liệu (Materials), Quản lý (Management) Cách làm (Method) Tiền (Money) cần hợp tác khai thông hiệu quả”.

“Phụng sự xã hội” là bài viết mới của anh Đoàn Nam Sinh quá đắng và thật khác so với ý của Phó Thủ tướng: Thu nhập bình quân hộ nông dân đã đạt 97 triệu đồng đăng trên báo Dân Trí ngày 25/8/2016 và gợi lại ý kiến của ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng: Hiện là lúc kinh tế Việt Nam đang cho thấy có những chuyển dịch các nguồn lực “Không qua 2 vấn đề khó khăn, Việt Nam sẽ thành nền kinh tế thất bại“. Trang VietNamNet ngày 29/8/2016 với tiêu đề Tầm nhìn quá xa, mục tiêu quá nhiều: Việt Nam thua cả châu Phi

Việt Nam để trở thành nước công nghiệp vào 2020 hầu hết các mục tiêu được thừa nhận rất khó đạt được. Chính sách phát triển công nghiệp của Việt Nam được xem là quá nhiều ưu tiên không có trọng điểm. Ông Dương Đình Giám, Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, nguyên Viên trưởng Viện chính sách công nghiệp, Bộ Công thương đề xuất Việt Nam nên trở thành nước cung cấp các sản phẩm nông sản và nông sản chế biến chất lượng cao với một số thương hiệu mạnh tầm khu vực và thế giới. Đồng thời, phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan tới nông nghiệp với ưu tiên cơ khí nông nghiệp, cơ khí hóa chất, cơ khí vận tải… Ông Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc Nghiên cứu của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright lưu ý nên tham vấn khu vực tư nhân vì doanh nghiệp nhà nước hiện chỉ đóng góp 30% vào GDP.

Nông sản Việt Nam và các sản phẩm chế biến nông sản chất lượng cao có thương hiệu mạnh tầm khu vực và thế giới làm gì, ở đâu và khi nào để nông dân thực sự được hưởng lợi đổi đời?

Xin được tiếp tục nghe kiến giải của tác giả và  lắng nghe các ý kiến của thầy bạn nghề nông. Tôi nói với anh Đoàn Nam Sinh: “Tui Hoàng Kim (đại học Nông Lâm) đang lắng nghe anh, nhưng thưa anh Đoàn Nam Sinh, thuốc anh đắng quá !”

Hoàng Kim

conduongluagaovietnamCON ĐƯỜNG LÚA GẠO VIỆT NAM

Hoàng Kim

Việt Nam là chốn tổ của nghề lúa. Giáo sư tiến sỹ, anh hùng lao động Nguyễn Văn Luật, nguyên Viện trưởng Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long,  tác giả chính của cụm công trình ‘Nghiên cứu và phát triển lúa gạo’ đoạt giải thưởng Hồ Chí Minh, đã có hai bài viết quan trọng giới thiệu về “Lịch sử cây lúa Việt Nam” và “Cải tiến giống lúa cho sản xuất lúa gạo tại Việt Nam”. Giáo sư đã đưa ra các bằng chứng và dẫn liệu ‘Việt Nam là chốn tổ của nghề lúa’ và ‘các tiến bộ của giống lúa Việt Nam những năm đầu thế kỷ 21’. Hai bộ sách: Nguyễn Văn Luật (chủ biên), xuất bản lần đầu năm 2001, 2002, 2003 Cây lúa Việt Nam thế kỷ 20, ba tập Nhà Xuất Bản Nông nghiệp, Hà Nội, 1.347 trang, và Nguyễn Thị Lang, Bùi Chí Bửu 2011. Khoa học về cây lúa, di truyền và chọn giống. Nhà Xuất bản Nông Nghiệp, 623 trang đã đúc kết về những tiến bộ này.

Con đường lúa gạo Việt Nam” là chùm bài lược thuật về các dâng hiến lặng lẽ của một số nhà nông học,  nhà giáo và nông dân giỏi nghề nông. Họ gắn bó cuộc đời với nông dân, nông nghiệp, nông thôn, và những sinh viên, học viên nghề nông để làm ra những hạt gạo ngon hơn, tốt hơn cho bát cơm của người dân. Tập tài liệu nhỏ này mục đích nhằm kể lại những mẫu chuyện đời thường nghề nông cho các em sinh viên đọc thêm ngoài giờ học chính.

Thầy Norman Borlaug nhà khoa học xanh, cha đẻ của cuộc cách mạng xanh được tặng giải Nobel và thế giới tôn vinh là nhà bác học số một của nhân loại trong  cuộc chiến chống nghèo đói, đã có dặn thật thấm thía: “ Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”.

Dạy học không chỉ trao truyền tri thức, kỹ năng nghề nghiệp mà còn trao truyền ngọn lửa. Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị lao động khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa mang lại đủ niềm vui cho bữa ăn của người dân nghèo. Chừng đó chúng ta sẽ còn phải DẠY VÀ HỌC. Cái gốc của sự học là HỌC LÀM NGƯỜI.

Nam Bộ Việt Nam, quê hương của nhà bác học nông dân Lương Định Của, là nơi con đường lúa gạo Việt Nam khởi phát và tỏa rộng, là nơi mở đầu cho chùm bài viết này. Về miền TâySao anh chưa về lại miền Tây. Nơi một góc đời anh ở đó. Cần Thơ Sóc Trăng sông Tiền Sông Hậu. Tên đất tên người chín nhớ mười thương. Anh có về Bảy Núi Cửu Long. Nắng đồng bằng miên man bao nỗi nhớ. Kênh ông Kiệt thương mùa mưa lũ. Anh có về nơi ấy với em không?” (thơ Hoàng Kim).

Lương Định Của con đường lúa gạo
Nơi tỏa rộng con đường lúa gạo Việt

Những chân dung nghề nông phác thảo

Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi
Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng
Phạm Trung Nghĩa nhà khoa học xanh
Nguyễn Thị Trâm người Thầy lúa lai
Bảy Nhị chuyện cổ tích cho người lớn
Từ Sắn Việt Nam đến Lúa Siêu Xanh
Những người Việt lỗi lạc ở FAO
Bùi Huy Đáp lúa xuân Việt Nam
Lê Hùng Lân gạo ngon Hoa Tiên
Kênh ông Kiệt giữa lòng dân
Ông Hồ Sáu làm kinh tế giỏi
Thầy Xuân lúa và hệ canh tác

DẠY, HỌC VÀ LÀM cây lương thực
Gạo Việt chất lượng và thương hiệu
Trò chuyện với anh Đoàn Nam Sinh

Con đường xanh của chúng ta
Công việc này trao lại cho em
Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời
Hoa của Đất

Về miền Tây
Hoa Lúa

Xin giới thiệu ‘Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng‘ trong chùm bài viết trên

GaoThomSocTrang

HỒ QUANG CUA GẠO THƠM SÓC TRĂNG

Hoàng Kim

Nhà văn, nhà báo Huỳnh Kim vừa có bài viết ấn tượng Gạo thơm ST ra thế giới viết về kỹ sư Hồ Quang Cua, tác giả nhãn hiệu Gạo thơm Sóc Trăng nổi tiếng ST5, ST20,… “Thái Lan làm được sao mình không làm? ” “ST ra thế giới nông dân và doanh nghiệp cùng có lợi“. Những trăn trở của anh Hồ Quang Cua và những người tâm huyết “chọn tìm giống tốt đêm nằm chiêm bao” cũng là trăn trở của hàng triệu nông dân Việt Nam.

ST5

Làm gì để nâng cao giá trị canh tác, giá trị sử dụng và hiệu quả kinh tế để hạt ngọc Việt đi ra thế giới ? Từ nghiên cứu chọn tạo giống tốt, hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh, đến phục tráng, thực nghiệm, nhân giống gốc, xây dựng cánh đồng mẫu lớn, đến tổ chức hệ thống sản xuất chế biến kinh doanh khép kín là  một chuỗi công việc to lớn để có được chén cơm ngon như những tấm hình minh họa dưới đây