Những tuyệt phẩm nhạc xuân


b19ee-binh2bminh2byen2btu

NHỮNG TUYỆT PHẨM NHẠC XUÂN. Mời bạn thưởng thức Happy New Year 2017 Chúc mừng năm mới vui khỏe hạnh phúc. Giọt thời gian lung linh điểm ngọc, bản nhạc tuyệt vời đầu xuân. Nhạc sĩ Phú Quang những ca khúc hay nhất. Thinh lặng, tuyệt phẩm của Beethoven. Tuyết xuân của Andreea Petcu. (Bình minh trên Yên Tử, ảnh Hoàng Kim). Đi qua 2016 niềm vui lắng đọng https://t.co/dWbiUwWldV https://t.co/UPux7kVtan Cám ơn các bạn và thân chào ngày mới an lành.

 

Advertisements

Đùa với thầy Phùng


phungho

ĐÙA VỚI THẦY PHÙNG

Hoàng Kim

Sang chơi với bạn gặp Thầy

Vui vui lại vớ được đầy thúng thơ
“Sóng lòng” (1) thơ của Phùng Hồ
Giáo sư vật lý nhà thơ tài tình
 
Vương Trọng là bậc liền anh
Chọn thơ sinh tử cũng thành thơ vui
Ngàn vàng mua lấy nụ cười
Cây lộc sắn (2), chuyện đi câu (3), đường làng (4)
 
Đã rồi đông đúc cháu con,
Nhớ thời đạo mạo cụ non đa tình,
Nhớ đồng nghiệp, nhớ học sinh,
Nhớ người ta, nhớ cả mình ngày xưa“(5).
 
Nằm đây là một giáo sư
Ít tiền, ít tiếng mà dư nụ cười” (6)
 
Đời khi nào cũng thảnh thơi
THUNG DUNG, PHÚC HẬU nên người tài hoa.

Tài liệu dẫn

THƠ THẦY PHÙNG HỒ

Phuong Le

Nhà thơ Trọng Vương
BÀI THƠ NỔI TIẾNG CỦA PHÙNG HỒ:

Chồng tôi là một thầy đồ
Người Hà Tĩnh, ở thủ đô lâu rồi
Quanh năm dạy học lần hồi
Với tôi cố mãi được vài mụn con
Trời thương đủ nếp, đủ lòn
Tôi chưa phát hiện có còn nơi nao
Một tay tôi nắm hầu bao
Có còn chăng nữa tiền nào mà nuôi.
Chồng tôi một mét bảy mươi
Ba vòng đủ chuẩn, đầu đuôi đủ dùng
Ki lô cân nặng bậc trung
Cả hơi quần áo cũng chừng bảy mươi.
Chồng tôi có cái khung thôi
Phụ tùng da thịt một tôi vỗ vào
Nhớ hồi còn cấp còn bao
Bo-bo lót ruột thuốc lào phổi xông
Không đùi không bụng không mông
Cởi ra, xin lỗi thật không dám nhòm.
Bộ xương cách trí còm nhom
Từng lên bục giảng, từng làm bộ môn,
Từng say nghiên cứu sớm hôm,
Từng nuôi lợn để nuôi con nuôi mình
Cũng từng được nhận chức danh
Nhưng không đủ sống nên đành ra đi
Làm thuê mãi tít Châu Phi
Tận nơi nghe nói cái gì cũng đen.
Chồng tôi không phải thằng hèn
Việc gì cũng được, kiếm tiền thì không
Vừa chuyên mà lại vừa hồng
Muốn làm thủ tướng nhưng không ai mời
Đành làm dân đỏ suốt đời
Không tiền nên chẳng chơi bời trăng hoa
Chẳng tròn trách nhiệm “lão gia”
Làm chồng nhà hẹp, làm cha hẹp tiền.
Cũng là cái số vô duyên
Đến khi dành được tí tiền – già queo
Tầng cao đã ngại chân trèo
Có ăn chẳng thể ăn nhiều nữa đâu
Thủy tinh thể đục đã lâu
Màn hình vi tính lắc đầu chào thua.
Chỉ còn mỗi món thơ đùa
Chòng thầy ghẹo bạn chẳng chừa một ai
Mà đâu nên tập nên bài
Đọc nơi xó xỉnh báo đài nào đăng
Nhặt toàn những chuyện lăng nhăng
Thất niêm, thất luật chẳng bằng “Bút tre”
Rỗi hơi cũng có người nghe
Cù lần chỉ tổ làm bia miệng đời.
Tưởng ông còn sống dai dai
Thế mà đã vội “gút – bai” đi rồi
Lẽ ra “khóc đứng khóc ngồi”
Nhưng Ông đã dặn nên tôi chỉ cười
Dặn tôi từ hãy sinh thời
Nghe lời tôi cứ y lời làm theo
Rằng “yêu khi sống thì yêu
Chết rồi đừng dại khóc nhiều tốn khăn”.
I-meo bè bạn xa gần
Ông đi vui vẻ chẳng cần thương đau
Sự đời kẻ trước người sau
Rồi ra tất cả theo nhau lìa đời
Chuyến này nếu được lên trời
Ông xin phục vụ gần nơi Ngọc Hoàng
Chẳng ham phú quý giầu sang
Chỉ mong đòi được trần gian công bằng.
Dặn con về việc lễ tang
Chỉ nên đơn giản đừng làm rùm beng
Sống không khôn, chết chẳng thiêng
Có thiêng Ông cũng chẳng “riềng” một ai
Anh em bằng hữu trong ngoài
Hay tin thì đến một vài phút giây
Gọi là tình nghĩa trước nay
Chào Ông một tiếng trong ngày Ông đi
Đừng vòng hoa, đừng phong bì
Cứ coi như thể Ông đi làm đồng
Chị em phụ nữ má hồng
Xin đừng son phấn làm Ông dùng dằng
Sinh thời Ông chẳng lăng nhăng
Biệt ly ai dám chắc rằng không sao
Mộ Ông chôn chặt đào sâu
Đặt cao tấm đá đằng đầu ghi sơ:
“Nằm đây là một giáo sư
Ít tiền, ít tiếng mà dư nụ cười”
Chết rồi vẫn cứ yêu đời
Dẫu thành ma cũng đừng ai ngại ngần.
Những lời ông dặn ân cần
Nay tôi xin ghép thành vần ghi ra
Báo tin bè bạn gần xa
Vừa là cáo phó cũng là điếu văn.
2009

CÂY LỘC SẮN

Lá lộc sắn làm gia vị thịt cầy
Quả chát ngọt mời bầy chim trở lại
Trồng quá khứ vào góc vườn hiện tại
Để cháu con nhỡ mãi đến mai sau.

Sớm hôm nay chí chóe tiếng chào mào
Ngỡ ngàng quá cây mùa đầu chín quả
Chi chít cành tím bầm sau kẽ lá
Tuổi thơ về theo phép lạ trên cây.

Mệt mỏi rồi trong thời cuộc đổi thay
Ngột ngạt quá tháng ngày chen chúc phố
Ta trồng cây neo vào đây nỗi nhớ
Để cháu con có chổ gội tâm hồn.

Khẽ khàng ta cắn quả sắn con con
Nghe chát ngọt
những vui buồn một thuở.

8 – 2011

ĐI CÂU

Một mình ngồi với cần câu
Cá không cắn
được một xâu nỗi buồn.
Câu chơi, có cá thả luôn,
Làm sao thả được nỗi buồn mắc câu.

Nỗi buồn phải của ai đâu
Tự mình thả xuống
mắc câu của mình…

2012

ĐƯỜNG LÀNG

Đường làng đã trải bê tông
Còn hằn những dấu chân không một đời.
Tuổi thơ giờ đã xa xôi
Vẫn đau mười ngón chân tôi tím bầm.

2012

SÓNG LÒNG

Da thịt cồn cào niềm tiếc nuối
Tóc mây vương vấn cõi xa xôi
Tay trần khỏa nước lao xao động
Đến tận hồn tôi lớp sóng dồi.

 

(xem thêm Tập thơ”Sóng lòng” của tác giả Phùng Hồ)

Video yêu thích

 

Vườn Quốc Gia ở Việt Nam


10VQGPhongNhaKeBang

VƯỜN QUỐC GIA Ở VIỆT NAM

Hoàng Kim

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Phong Nha – Kẻ Bàng là một trong 30 Vườn Quốc gia Việt Nam, khu dự trữ sinh quyển của thế giới, khu bảo tồn thiên nhiên, rừng đặc dụng và thắng cảnh nổi tiếng ở Quảng Bình. Việt Nam tổ quốc ta tự hào có 30 Vườn Quốc gia trải rộng khắp các vùng sinh thái: Tam ĐảoHoàng Liên, Ba Bể, Bái Tử Long, Xuân Sơn ở vùng núi và trung du phía Bắc;  Ba Vì, Cúc PhươngCát Bà, Xuân Thủy ở vùng đồng bằng sông Hồng; Phong Nha – Kẻ BàngBạch Mã, Bến En, Pù Mát, Vũ Quang ở vùng ven biển bắc Trung Bộ;  Núi Chúa,  Phước Bình ở vùng ven biển nam Trung Bộ; Chư Yang Sin, Bidoup Núi Bà, Chư Mom RayKon Ka Kinh, Yok Đôn ở vùng Tây Nguyên;  Cát Tiên, Lò Gò-Xa Mát, Bù Gia MậpCôn Đảo ở vùng Đông Nam Bộ; Mũi Cà Mau,  Phú Quốc,  Tràm Chim, U Minh Hạ,  U Minh Thượng ở vùng Tây Nam Bộ. Tổng diện tích 30 vườn quốc gia khoảng 10.350,74 km² (trong đó có 620,10 km² là mặt biển), chiếm khoảng 2,93% diện tích lãnh thổ đất liền. Đến tháng 8/2015, cả nước có 31 vườn quốc gia, tăng thêm vườn Quốc gia  Du Già-Cao nguyên đá Đồng Văn. Ngoài ra còn có Quần thể di tích danh thắng Yên Tử đang được lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm 2017.

BandoVQGVN
Bản đồ vị trí của những điểm đến di sản Vườn Quốc gia ở Việt Nam kèm theo tại đây. Bài này tóm tắt thông tin về những nơi đó.

CatTien

Thiên nhiên là bà mẹ cuộc sống

Ngắm di vật cổ ở Nam Cát Tiên, đối thoại với lịch sử văn hóa của một vùng đất, ta sẽ hiểu được tường tận nhiều điều. Vườn Quốc gia Việt Nam là một pho sách mở cần được khám phá, khai mở, bảo tồn và phát triển. Đó là một nguồn năng lượng dồi dào và mạch viết vô tận. Đặc biệt là khi kết nối hòa quyện được những di sản vô giá của dân tộc với các di sản lịch sử địa lý văn hóa du lịch của toàn thế giới.

Vườn Quốc gia ở Việt Nam là những quà tặng vô giá trên quê hương Việt Nam yêu dấu mà chúng ta may mắn được thừa hưởng. 30 di sản quý giá này của đất nước là những điểm nhấn bảo tồn thiên nhiên, chủ yếu là rừng và di sản lịch sử văn hóa,  là những điểm đến du lịch đáng ao ước của cả đời người. “Hồn Tổ quốc ngự giữa rừng sâu thẳm. Rừng điêu tàn là Tổ Quốc suy vong !” thầy Lê Văn Ký của chúng tôi đã viết vậy.

Thầy Thái Văn Trừng nhà lâm học lỗi lạc Việt Nam, tiến sĩ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với luận án ‘Sinh thái thảm thực vật rừng Việt Nam’ được đặc cách bảo vệ bằng tiếng Pháp tại Nga vào năm 1962. Thầy là cánh chim đầu đàn trong lĩnh vực môi trường sinh thái rừng và  là người đầu tiên đã tìm ra phương pháp phục hồi hệ sinh thái rừng nhiệt đới bị tàn phá do chất hóa học sử dụng trong chiến tranh ở miền Nam Việt Nam, phủ xanh đồi trọc, dựng phi lao chống cát. Thầy đã gắn bó trọn đời với nghề rừng, đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng Viện phó Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam, Viện trưởng Sinh học nhiệt đới TPHCM, Giám đốc Bảo tàng thực vật TPHCM, Chủ tịch Hội Sinh học TPHCM, được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực Khoa học Nông nghiệp. Thầy truyền tâm huyết cho chúng tôi sự yêu quý rừng.

nguyenhuechithai
Anh Thái Nguyễn Huệ Chí (hình trên) là con trai của thầy Thái Văn Trừng, cũng say mê với rừng, nhớ rừng và luôn thường trực một tình yêu lớn lao đối với rừng Việt “Hồn Tổ quốc“. Bạn đã đến được những nơi nào trong 30 di sản Vườn Quốc gia Việt Nam quý giá này? Cuộc đời có những thứ giàu hơn tiền bạc. Sức khỏe, thiên nhiên an lành và thời gian trãi nghiệm là giao điểm của tình yêu cuộc sống. Nhiều bí ẩn huyền thoại trong rừng thiêng cổ tích cần được khám phá.  Đến với thiên nhiên, chúng ta được tắm mình trong nguồn năng lượng vô tận của trời xanh, cây xanh, gió mát và không khí  an lành.

30 di sản Vườn Quốc gia Việt Nam

Sau đây là giới thiệu tóm tắt về 30 di sản Vườn Quốc gia Việt Nam. Phần này được trích dẫn và  cập nhật theo thông tin mới đúc kết và bổ sung của Wikipedia Tiếng Việt.

01TamDao
Vườn quốc gia Tam Đảo
là một vườn quốc gia của Việt Nam, nằm trọn trên dãy núi Tam Đảo, một dãy núi lớn dài trên 80 km, rộng 10–15 km chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Vườn trải rộng trên ba tỉnh Vĩnh Phúc (huyện Tam Đảo), Thái Nguyên (huyện Đại Từ) và Tuyên Quang (huyện Sơn Dương), cách Hà Nội khoảng 75 km về phía Bắc.Tọa độ địa lý của Vườn quốc gia Tam Đảo: 21°21′-21°42′ vĩ Bắc và 105°23′-105°44′ kinh Đông. Ngày 6 tháng 3 năm 1986, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 136/TTg về việc phê duyệt “Dự án khả thi đầu tư xây dựng Vườn quốc gia Tam Đảo”. Ngày 15 tháng 5 năm 1996 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã có quyết định số 601 NN-TCCB/QĐ về việc thành lập Vườn quốc gia Tam Đảo trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.

02HoangLien

Vườn quốc gia Hoàng Liên là một vườn quốc gia Việt Nam được thành lập năm 2002, nằm ở độ cao từ 1.000-3000m so với mặt biển trên dãy Hoàng Liên Sơn thuộc địa bàn các huyện Than Uyên, Phong Thổ tỉnh Lai ChâuSa Pa của tỉnh Lào Cai.Tọa độ địa lý của vườn từ 22°07′-22°23′ độ vĩ Bắc và 103°00′-104°00′ độ kinh Đông. Trước khi được công nhận là vườn quốc gia, khu vực này là một khu bảo tồn thiên nhiên mang tên Khu Bảo tồn Thiên nhiên Hoàng Liên – Sa Pa từ năm 1996. Vườn quốc gia Hoàng Liên được thành lập theo Quyết định số 90/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 12 tháng 7 năm 2002, về việc chuyển Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên-Sa Pa thành Vườn quốc gia Hoàng Liên. Vườn quốc gia Hoàng Liên được chọn là một Trung tâm đa dạng của các loài thực vật trong Chương trình bảo tồn các loàì thực vật của Hiệp hội Bảo vệ Thiên nhiên Thế giới (IUCN). Vườn cũng được Quỹ môi trường toàn cầu được xếp vào loại A, cao cấp nhất về giá trị đa dạng sinh học của Việt Nam. Năm 2006, Vườn quốc gia Hoàng Liên được công nhận là Vườn di sản ASEAN.

03VQGBaBe

Vườn quốc gia Ba Bể là một vườn quốc gia, rừng đặc dụng, khu du lịch sinh thái của Việt Nam, nằm trên địa phận tỉnh Bắc Kạn, với trung tâm là hồ Ba Bể. Vườn quốc gia Ba Bể được thành lập theo Quyết định số 83/TTg ngày 10 tháng 11 năm năm 1992 của Thủ tướng Chính phủ. Vườn quốc gia Ba Bể nằm trên địa bàn 5 xã Nam Mẫu, Khang Ninh, Cao Thương, Quảng Khê, Cao Trĩ thuộc huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, có tọa độ là 105°36′55″ kinh đông, 22°24′19″ vĩ bắc. Vườn quốc gia này Hà Nội 250 km về phía bắc, thuộc địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn và cách thành phố Bắc Kạn 50 km. Vườn quốc gia Ba Bể là một điểm du lịch sinh thái lý tưởng với phong cảnh kỳ thú và sự đa dạng sinh học. Năm 2004, Ba Bể đã được công nhận là một di sản thiên nhiên của ASEAN. Trước đó, đây từng là Khu danh lam thắng cảnh và Di tích lịch sử, là Khu rừng cấm hồ Ba Bể. Vườn Quốc gia Ba Bể được thành lập theo quyết định số 83/TTg ngày 10/11/1992 của Chính phủ với diện tích 7.610 ha, trong đó có 3.226 ha là phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và hơn 300 ha diện tích mặt hồ. Những nghiên cứu khoa học khẳng định đây là khu vực giàu có về đa dạng sinh học, có nhiều nét đặc trưng của hệ sinh thái điển hình rừng thường xanh trên núi đá vôi và hồ trên núi, rừng thường xanh đất thấp. Trung tâm của vườn là hồ Ba Bể với chiều dài tới 8 km và chiều rộng 800 m, nằm trên độ cao 178 m, là “hồ tự nhiên trên núi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng ở Việt Nam”. Nằm trên vùng núi đá vôi, vốn có rất nhiều hang động caxtơ….mà hồ vẫn tồn tại với cảnh đẹp mê người là điều diệu kì, hấp dẫn mà thiên nhiên ban tặng. Vườn Quốc gia Ba Bể có 1.281 loài thực vật thuộc 162 họ, 672 chi, trong đó có nhiều loài thực vật quý hiếm có giá trị được ghi vào Sách Đỏ của Việt Nam và Thế giới.
04VQGBaiTuLong

Vườn quốc gia Bái Tử Long là một khu bảo tồn sinh quyển cấp quốc gia tại khu vực vịnh Bái Tử Long huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh Việt Nam. Vườn được thành lập theo quyết định 85/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngày 1 tháng 6 năm 2001. Vườn quốc gia Bái Tử Long nằm trong vùng có tọa độ địa lý là: 20°55’05” ÷ 21°15’10” vĩ độ Bắc và 107°30’10” ÷ 107°46’20” kinh độ Đông. Diện tích tự nhiên của vườn bao gồm diện tích đất đai của tất cả các đảo nằm trong khu vực tọa độ trên, kèm theo các vùng biển vùng quanh các đảo này với bề rộng 1 km tính từ đường bờ biển các đảo đó, tổng diện tích là 15.783 ha. Các đảo thuộc vườn quốc gia bao gồm: Ba Mùn, Trà Ngọ Lớn, Trà Ngọ Nhỏ, Sậu Nam, Sậu Động, Đông Ma, Hòn Chính, Lò Hố, Máng Hà Nam, Máng Hà Bắc, Di To, Chầy Cháy, Đá Ẩy, Soi Nhụ,…, và các đảo nhỏ trong vùng tọa độ nêu trên.
05VQGXuanSon

Vườn quốc gia Xuân Sơn là một vườn quốc gia nằm trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Vườn quốc gia Xuân Sơn với kiểu địa hình núi đá vôi đặc trưng, được chuyển từ khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Sơn thành vườn quốc gia theo Quyết định của Thủ tướng chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 49/2002/QĐ-TTg ngày 17 tháng 4 năm 2002. Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm ở huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, cách thành phố Việt Trì 80 km, Hà Nội 120 km, có tọa độ địa lý: Từ 21°03′ đến 21°12′ vĩ bắc và từ 104°51′ đến 105°01′ kinh đông, phạm vi ranh giới được xác định: Phía Đông giáp các xã Tân Phú, Minh Đài, Long Cốc, huyện Tân Sơn. Phía Tây giáp huyện Phù Yên (tỉnh Sơn La), huyện Đà Bắc (tỉnh Hoà Bình). Phía Nam giáp huyện Đà Bắc (tỉnh Hoà Bình). Phía Bắc giáp xã Thu Cúc, huyện Tân Sơn. Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm trên hệ thống núi đá vôi có độ cao từ 700 đến 1.300 m. Trong khu vực có rất nhiều hang đá. Vườn quốc gia Xuân Sơn có diện tích vùng đệm 18.369 ha, trong đó diện tích vùng lõi là 15.048 ha  khu vực bảo vệ nghiêm ngặt là 11.148 ha, Điểm đặc trưng của Xuân Sơn là vườn quốc gia duy nhất có rừng nguyên sinh trên núi đá vôi (2.432 ha). Xuân Sơn được đánh giá là rừng có đa dạng sinh thái phong phú, đa dạng sinh học cao, đa dạng địa hình kiến tạo nên đa dạng cảnh quan.

06VQGBaVi

Vườn quốc gia Ba Vì là một vườn quốc gia của Việt Nam, nằm trên khu vực dãy núi Ba Vì thuộc huyện Ba Vì (Hà Nội) và hai huyện Lương Sơn, Kỳ Sơn tỉnh Hòa Bình với diện tích 10.814,6 ha, có toạ độ địa lý: từ 20 độ 55′ đến 21 độ 07′ vĩ bắc và 105 độ 18′ đến 105 độ 30′ kinh đông, cách trung tâm Hà Nội 50 km về phía tây, và cách Sơn Tây, Hà Nội 15 km, được thành lập năm 1991 theo quyết định số 17-CT ngày 16 tháng 01 năm 1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam. Vườn quốc gia Ba Vì từ đầu thế kỉ 20, đã là địa danh nổi tiếng về sự đa dạng hệ sinh thái và phong cảnh đẹp, khí hậu mát mẻ. Vườn quốc gia này nằm trong dãy núi cao chạy dọc theo hướng đông bắc – tây nam với đỉnh Vua cao 1.296 m, đỉnh Tản Viên cao 1.227m, đỉnh Ngọc Hoa cao 1.131 m. Về động vật, có 45 loài thú, 115 loài chim, 61 loài bò sát và 27 loài ếch nhái, trong đó có nhiều loài quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam và thế giới như gà lôi trắng, khỉ, báo, gấu, sóc bay, v.v. Hiện tại, người ta đã biết trên 1.000 loài thực vật, trong số đó có khoảng 200 loài cây dược liệu, nhiều loài quý như bách xanh, thông, dẻ, lát hoa.

07VQGCucPhuong

Vườn Quốc gia Cúc Phương (hay rừng Cúc Phương) là một khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng đặc dụng nằm trên địa phận ranh giới 3 khu vực Tây Bắc, châu thổ sông HồngBắc Trung Bộ thuộc ba tỉnh: Ninh Bình, Hòa Bình, Thanh Hóa. Vườn quốc gia này có hệ động thực vật phong phú đa dạng mang đặc trưng rừng mưa nhiệt đới. Nhiều loài động thực vật có nguy cơ tuyệt chủng cao được phát hiện và bảo tồn tại đây. Đây cũng là vườn quốc gia đầu tiên tại Việt Nam. Vườn quốc gia Cúc Phương là một địa điểm khảo cổ. Các di vật của người tiền sử có niên đại khoảng 12.000 năm đã được phát hiện như mồ mả, rìu đá, mũi tên đá, dao bằng vỏ sò, dụng cụ xay nghiền… trong một số hang động ở đây chứng tỏ con người đã từng sinh sống tại khu vực này từ 7.000 đến 12.000 năm trước. Năm 1960, rừng Cúc Phương được công nhận là khu bảo tồn rừng và được thành lập theo Quyết định 72/TTg ngày 7 tháng 7 năm 1962 với diện tích 20.000 ha đánh dấu sự ra đời khu bảo vệ đầu tiên của Việt Nam. Quyết định số 18/QĐ-LN ngày 8 tháng 1 năm 1966 chuyển hạng lâm trường Cúc Phương thành VQG Cúc Phương. Quyết định số 139/CT ngày 09/5/1998 của Chính phủ thành lập Vườn quốc gia Cúc Phương. Vườn thuộc địa giới hành chính của ba tỉnh: Ninh Bình (hầu hết xã Cúc Phương, một phần xã Kỳ Phú, Văn Phương, Yên Quang của huyện Nho Quan), Thanh Hóa (phần lớn núi đá vôi, núi đất, thung lũng các xã Thạch Lâm, Thạch Yên, Thành Mỹ, Thành Yên của huyện Thạch Thành), Hoà Bình (toàn bộ rừng núi đá vôi các xã Lạc Thịnh, Yên Lạc, Phú Lai, Yên Trị, Ngọc Lương của huyện Yên Thủy, xã Yên Nghiệp, Ân Nghĩa thuộc huyện Lạc Sơn). Vườn quốc gia Cúc Phương được xác định là 1 trong 7 trung tâm đa dạng thực vật bậc nhất của Việt Nam, là địa điểm du lịch đặc biệt nổi tiếng về sinh thái, môi trường, thu hút trên hàng trăm nghìn lượt du khách tham quan hàng năm.

08VQGCatBa

Vườn quốc gia Cát Bà là khu rừng đặc dụng của Việt Nam, khu dự trữ sinh quyển thế giới. Vườn quốc gia Cát Bà thuộc huyện Cát Hải, Hải Phòng. VQG Cát Bà thành lập ngày 31/3/1986 theo quyết định số 79/CP của Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam (nay là chính phủ). Gồm các hệ sinh thái biển, hệ sinh thái rừng trên cạn, hệ sinh thái rừng ngập mặn. VQG Cát Bà nằm cách trung tâm thành phố Hải Phòng 30 hải lý về phía đông, có tọa độ địa lý: 20°44′50″-20°55′29″ vĩ độ bắc,106°54′20″-107°10′05″ kinh độ đông.  Bắc giáp xã Gia Luận. Đông giáp vịnh Hạ Long. Tây giáp thị trấn Cát Bà và các xã Xuân Đám, Trân Châu, Hiền Hào. Tổng diện tích tự nhiên của vườn là 16.196,8 ha. Trong đó có 10.931,7 ha là rừng núi và 5.265,1 ha là mặt nước biển. Địa hình toàn bộ VQG Cát Bà gồm một vùng núi non hiểm trở có độ cao

09VQGXuanThuyVườn quốc gia Xuân Thủy là một vùng bãi bồi rộng lớn nằm ở phía Nam cửa Sông Hồng, cách Hà Nội khoảng 150 km về hướng Đông Nam, có tổng diện tích tự nhiên là 7.100 ha. Phú sa màu mỡ của Sông Hồng và biển đã tạo dựng nên khu đất ngập nước với nhiều loài động thực vật hoang dã và các loài chim di cư quý hiếm. Từ tháng 01/1989 Xuân Thủy đã là vùng đất ngập nước đầu tiên của Đông Nam Á tham gia Công ước quốc tế RAMSAR (Công ước bảo tồn các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế đặc biệt như là nơi cư trú của những loài chim nước – Ramsar, Iran, 1971). Đến tháng 01/2003, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định sô 01/2003/QĐ-TTg chính thức nâng hạng Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Xuân Thủy thành Vườn quốc gia Xuân Thủy, với  mục tiêu nhiệm vụ chính là: * Bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước điển hình của vùng cửa Sông Hồng, các loài động vật, thực vật đặc trưng của hệ sinh thái đất ngập nước, đặc biệt là các loài thủy sinh và các loài chim nước, chim di trú. * Phục vụ cho nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và phát triển du lịch sinh thái. * Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, phục vụ cho công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và giáo dục môi trường, phát triển du lịch sinh thái, góp phần phát triển kinh tế xã hội, tạo công ăn việc làm cho cộng đồng dân cư địa phương. Tháng 12/2004, UNESCO tiếp tục công nhận Vườn quốc gia Xuân Thủy trở thành vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển thế giới khu vực ven biển liên tỉnh đồng bằng châu thổ Sông Hồng.
10VQGPhongNhaKeBang

Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng là di sản thiên nhiên thế giới theo tiêu chí địa chất, địa mạo được UNESCO công nhận lần 1 năm 2003, di sản thiên nhiên thế giới với tiêu chí đa dạng sinh học, sinh thái được UNESCO công nhận lần 2 vào ngày 3 tháng 7 năm 2015, là một vườn quốc gia Việt Nam tại huyện Bố Trạch, và Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, cách thành phố Đồng Hới khoảng 50 km về phía Tây Bắc, cách thủ đô Hà Nội khoảng 500 km về phía nam. Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng giáp khu bảo tồn thiên nhiên Hin Namnotỉnh Khammouan, Lào về phía tây, cách Biển Đông 42 km về phía đông kể từ biên giới của hai quốc gia. Phong Nha-Kẻ Bàng nằm ở một khu vực núi đá vôi rộng khoảng 200.000 ha thuộc lãnh thổ Việt Nam, khu vực lãnh thổ Lào tiếp giáp vườn quốc gia này cũng có diện tích núi đá vôi khoảng 200.000 ha. Diện tích vùng lõi của vườn quốc gia là 85.754 ha và một vùng đệm rộng 195.400 ha. Tháng 8 năm 2013, Thủ tướng chính phủ đã có quyết định mở rộng vườn quốc gia này lên 1233,26 km2[1]. Vườn quốc gia này được thiết lập để bảo vệ một trong hai vùng carxtơ lớn nhất thế giới với khoảng 300 hang động và bảo tồn hệ sinh thái bắc Trường Sơn ở khu vực Bắc Trung Bộ Việt Nam. Đặc trưng của vườn quốc gia này là các kiến tạo đá vôi, 300 hang động, các sông ngầm và hệ động thực vật quý hiếm nằm trong Sách đỏ Việt NamSách đỏ thế giới. Các hang động ở đây có tổng chiều dài khoảng hơn 80 km nhưng các nhà thám hiểm hang động Anh và Việt Nam mới chỉ thám hiểm 20 km, trong đó 17 km ở khu vực Phong Nha và 3 km ở khu vực Kẻ Bàng. Tháng 4 năm 2009, một đoàn thám hiểm thuộc Hiệp hội Hang động Hoàng gia Anh đã phát hiện và công bố hang Sơn Đoòng là hang động có kích thước lớn nhất thế giới (dài trên năm km, cao 200m, và rộng 150m), lớn hơn nhiều so với hang DeerVườn quốc gia Gunung MuluSarawak, Malaysia, lớn gấp 4 đến 5 lần so với Phong Nha. Trong đợt khảo sát này, đoàn thám hiểm cũng tìm thấy nhiều hang động khác. Kiến tạo carxtơ của Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng được hình thành từ 400 triệu năm trước, từ thời kỳ Đại Cổ Sinh do đó là carxtơ cổ nhất ở châu Á. Trải qua nhiều thay đổi lớn về địa tầngđịa mạo, địa hình khu vực này hết sức phức tạp. Phong Nha-Kẻ Bàng phô diễn các bằng chứng ấn tượng về lịch sử Trái Đất, giúp nghiên cứu lịch sử hiểu được lịch sử địa chất và địa hình của khu vực. Khu vực Phong Nha-Kẻ Bàng là một trong những mẫu hình riêng biệt và đẹp về sự kiến tạo carxtơ phức tạp ở Đông Nam Á.
11VQGBenEn
Vườn quốc gia Bến En là một vườn quốc gia thuộc tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam, được thành lập theo quyết định số 33 ngày 27 tháng 1 năm 1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam. Vườn quốc gia Bến En  thuộc huyện Như Thanh và huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa, cách thành phố Thanh Hóa khoảng 36 km về phía tây nam. Tọa độ từ 19°31′ tới 19°43′ vĩ bắc và 105°25′ tới 105°38′ kinh đông. Tổng diện tích là 14.735 ha, trong đó rừng nguyên sinh là 8.544 ha. Vườn quốc gia Bến En diện tích 3000 ha, có địa hình nhiều đồi núi,  sông, suốihồ Mực trên núi với 21 đảo nổi ở giữa, Vườn có nhiều loài sinh vật quý, với 1389 loài thực vật (lim xanh, lát hoa, chò chỉ, trai lý, bù hương…), có 1004 loài động vật,66 loài thú (với 29 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam như: sói đỏ, gấu ngựa, vượn đen, phượng hoàng đất, gà tiền mặt vàng…) với cảnh quan thiên nhiên kỳ thú tuyệt đẹp.
12VQGPuMat
Vườn quốc gia Pù Mát là một khu rừng đặc dụng ở phía tây tỉnh Nghệ An. Tiếng Thái, Pù Mát có nghĩa là những con dốc cao, được thành lập theo quyết định số 174/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 08/11/2001 về việc chuyển hạng Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Mát thành Vườn quốc gia. Vườn quốc gia Pù Mát hiện được xác định là vùng lõi của khu dự trữ sinh quyển miền tây Nghệ An do UNESCO công nhận năm 2007. Vị trí địa lý từ 18°46′ đến 19°12′ vĩ bắc và từ 104°24′ đến 104°56′ kinh độ đông. Tổng diện tích của Vườn quốc gia Pù Mát là 94.804 ha, trải rộng trên 3 huyện Tương Dương, Con CuôngAnh Sơn của tỉnh Nghệ An. Vùng đệm của Vườn quốc gia Pù Mát có diện tích 86.000 ha. Độ cao biến động của rừng Pù Mát là từ 200 – 1.814 m trong đó đỉnh Pù Mát cao nhất: 1.814m. Sự đa dạng sinh học phong phú với trên 1.144 loài thực vật có mạch , 3 loài thú đặc hữu Đông Dương, 259 loài chim, với nhiều loài quý hiếm.
13VQGVuQuang
Vườn quốc gia Vũ Quang (còn gọi với tên: Vườn quốc gia Vụ Quang) là một vườn quốc gia thuộc tỉnh Hà Tĩnh, nơi có nhiều loài sinh vật đặc hữu chỉ có ở Việt Nam, được thành lập theo quyết định số 102/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày 30 tháng 7 năm 2002. Vị trí địa lý Vườn quốc gia Vũ Quang nằm ở phía tây bắc tỉnh Hà Tĩnh, cách thành phố Hà Tĩnh 75 km. Phía đông giáp xã Hoà Hải (huyện Hương Khê). Phía tây giáp xã Sơn Kim (huyện Hương Sơn). Phía nam giáp biên giới Việt Nam – Lào. Phía bắc giáp xã Sơn Tây (huyện Hương Sơn), và các xã Hương Đại, Hương Minh (huyện Vũ Quang). Tọa độ địa lý từ 18°09′ đến 18°26′ vĩ bắc; từ 105°16′ đến 105°33′ kinh đông. Tổng diện tích: 55.028,9 ha.