Chào ngày mới 17 tháng 1


CNM365. Chào ngày mới 17 tháng 1. Sơn Tùng kể chuyện Hồ Chí Minh. Ngày cơm nắm Onigiri tại Nhật Bản. Ngày 17 tháng 1 năm 1258, Chiến tranh Nguyên Mông – Đại Việt lần 1: Quân Mông Cổ giao chiến với quân Đại Việt tại Bình Lệ Nguyên, kết quả quân Đại Việt buộc phải rút lui, tức 12 tháng 12 năm Đinh Tỵ  Ngày 17 tháng 1 năm 1706, ngày sinh Benjamin Franklin là nhà khoa học, chính khách, nhà ngoại giao hàng đầu, nhà hoạt động xã hội, tác giả, thợ in, triết gia, nhà phát minh nổi tiếng người Mỹ (mất năm 1790); xem tiếp Bài chọn lọc ngày 17 tháng 1: Sơn Tùng kể chuyện Hồ Chí Minh. Bảy Nhị kênh ông Kiệt và tôi500 năm nông nghiệp Brazil;xem tiếp https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-17-thang-1/;

SƠN TÙNG KỂ CHUYỆN HỒ CHÍ MINH
Hoàng Kim

Sơn Tùng cuối bài viết Theo con đường của Bác Hồ đã viết  “Sau khi nước nhà thống nhất, nếu chấp nhận ý kiến của ông (Đại tướng Võ Nguyên Giáp) về xây dựng kinh tế là: trước hết phải để thời gian khôi phục rồi mới tính đến phát triển, và phải đặt nông nghiệp là mặt trận hàng đầu; thì chắc chắn là hạn chế được những mất cân đối nghiêm trọng trong nền kinh tế quốc dân lúc bấy giờ, dẫn đến khủng hoảng đời sống”.  Đọc lại và suy ngẫm. https://hoangkimlong.wordpress.com/2017/01/17/son-tung-ke-chuyen-ho-chi-minh/

BẢY NHỊ KÊNH ÔNG KIỆT VÀ TÔI
Hoàng Kim

Ông Bảy Nhị
tên thật ông là Nguyễn Minh Nhị, nguyên chủ tịch tỉnh An Giang. Ông có bài viết “Gửi anh Nguyễn Bá Thanh: Phút 89…” đăng trên báo Tuổi trẻ Chủ Nhật đầu năm 2013, làm dư luận sững sờ vì hay và thật. Trước đó, ông cũng có bài viết “Giá lúa nằm ngoài hạt gạo” mà tôi đã chọn đưa vào bài giảng cây lúa. Bạn xuống An Giang hỏi ông Bảy chủ tịch ai cũng biết. Tôi gọi trõng tên ông biết là không phải nhưng với tôi thì ông tuy còn khỏe và đang sống sờ sờ nhưng đã là người lịch sử, tựa như Mạc Cữu, Mạc Thiên Tích xưa, oai chấn Hà Tiên góp sức mộ dân mở cõi, làm phên dậu đất phương Nam của dân tộc Việt. Ông Bảy đã là nhân vật lịch sử trong lòng tôi.

Tôi có một kỷ niệm quý rất khó quên. Ông Bảy Nhị ba lần lặn lội lên Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc tìm tôi là giám đốc Trung tâm để hỏi cách đưa cây gì vào khai hoang phục hóa hiệu quả cho vùng đất hoang hóa Tri Tôn, Tịnh Biên. Ông đồng tình với tôi việc việc ứng dụng canh tác giống lúa thơm Khao Dawk Mali 105 (KDM 105) nhưng trồng cây gì luân canh lúa hiệu quả trong các tháng mùa khô thì đó vẫn là bài toán khó?

Mờ sớm một ngày đầu tháng mười một. Trời se lạnh. Nhà tôi có chim về làm tổ. Buổi khuya, tôi mơ hồ nghe chim khách líu ríu lạ trên cây me góc vườn nên thức dậy. Tôi bước ra sân thì thấy một chiếc xe ô tô đậu và cậu lái xe đang ngủ nướng. Khi tôi ra, cậu lái xe thức dậy nói: “Chú Bảy Nhị, chủ tịch tỉnh An Giang lên thăm anh nhờ tuyển chọn giống mì ngắn ngày để giúp An Giang né lũ. Đợt trước chú đã đi cùng chú Tùng (là ông Lê Minh Tùng sau này làm Phó Chủ Tịch Tỉnh, Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang) lên làm việc với anh rồi. Nay mì đã được năm tháng tuổi, chú muốn lên coi kỹ ở trên ruộng xem củ to bằng ngần nào. Chú Bảy giờ hành chính bận họp nên thăm sớm. Đến nhà anh, thấy sớm quá chú ngại nên ra thẳng ngoài đồng rồi, nhờ tui đón anh ra sau”.

Tôi giật mình nghĩ: “Cái ông này không thể xạo được. Mình nói là có giống mì bảy tháng. Năm tháng ông lên kiểm tra đồng ruộng nhổ thử, thiệt chu đáo. Ông thật biết cách kiểm tra sâu sát”. Chợt dưng tôi nhớ đến MỘT LỐI ĐI RIÊNG của Bác Hồ trong thơ Hải Như: “ Chúng ta thích đón đưa/ Bác Hồ không thích/ Đến thăm chúng ta Bác Hồ thường “đột kích”/ Chữ “đột kích” vui này Người nói lại cùng ta/ Và đường quen thuộc/ Bác chẳng đi đâu/ Đường quen thuộc thường xa/ Bác hiện đến bằng lối tự tìm ra:/ Ngắn nhất/ Bác không muốn giẫm lên mọi đường mòn có sẵn/ Khi đích đã nhắm rồi/ Người luôn luôn tạo cho mình:/ Một lối đi riêng”. Sau này hiếm có đồng chí lãnh đạo nào học được cách làm như Bác. Họ đi đâu đều thường xếp lịch hành chính và đưa đón đàng hoàng, chẳng cần một lối đi riêng. Tôi thầm chợt cảm phục ông Bảy.

Tri Tôn, Tịnh Biên là những huyện khó khăn của tỉnh An Giang. Hệ thống thủy lợi nội đồng nối với “Kênh ông Kiệt” đã mang nguồn nước ngọt về ruộng. Bạn xem chùm ảnh cũ trong blog của tôi để rõ hơn cách làm. Giống lúa KĐM 135 ngon cơm sinh trưởng phát triển tốt trên vùng đất hoang hóa được tưới đã mang lại niềm vui cho người nghèo. Các giống cây màu rau đậu trồng vụ khô sau khi thu hoạch lúa đã giúp nâng cao đời sống người dân. Khoa học kỹ thuật bám dân bám ruộng âm thầm nhưng hiệu quả làm đổi thay vùng Tri Tôn Tịnh Biên. Tôi đã có tám năm gắn bó với mảnh đất này. Đi đâu người dân cũng khen ông sáu Kiệt và ông bảy Nhị. Kênh ông Kiệt giữa lòng dân. Vùng đất hoang hóa sình lầy nay đã thành vựa lúa. Tỉnh An Giang nay đã thành vùng lúa sản lượng cao nhất nước.

“Kênh ông Kiệt” và vùng đất An Giang cũng là nôi nuôi dưỡng phát triển của các giống mì ngắn ngày KM98-1, KM140 đươc chọn tạo để đáp ứng nhu cầu né lũ nay đã phát triển rộng khắp toàn quốc. Ảnh đầu trang là hình ông Nguyễn Minh Nhị, nguyên Chủ tịch tỉnh, cùng anh Ngô Vi Nghĩa với các giống mì cao sản ngắn ngày trên ruộng tăng vụ ở vùng đất An Giang. Ảnh gần cuối trang là hình thầy Lê Minh Tùng, Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang, Phó Chủ tịch tỉnh An Giang với giống mì KM98-1. An Giang cũng là nôi ứng dụng đầu tiên của Việt Nam và thế giới đối với những dòng khoai mì đột biến theo hướng ngắn ngày. Chúng tôi những người tạo chọn giống củ mì thật biết ơn ông Bảy Nhị. Không có ông thì củ mì của tôi khó có thể đến được với kênh ông Kiệt. Dường như đó là nhân duyên. Ông Bảy Nhị là ông cán bộ cách mạng gắn bó với dân và ấn tượng đẹp trong lòng tôi để tình tự kể.

Bài viết của ông Bảy Nhị gửi ông Bá Thanh thật ấn tượng. Nguyên văn bài viết đó như sau:

Viết gửi anh Nguyễn Bá Thanh

“Tháng 10-2001, nhậm chức chủ tịch ủy ban được bốn tháng, tôi dự cuộc họp Chính phủ có Thủ tướng Phan Văn Khải chủ trì cùng các phó thủ tướng Vũ Khoan, Nguyễn Công Tạn. Với tâm trạng “phút 89” ấy nên khi dự hội nghị, tôi mạnh dạn phát biểu: “Sự trì trệ của bộ máy là do cơ chế tổ chức. Cụ thể là tôi làm chủ tịch tỉnh mà không có quyền thay đổi cán bộ sở, kể cả trưởng phòng. Và ngay như hiện nay, đến Thủ tướng cũng không dễ cách chức được tôi, vì tôi là do tỉnh ủy cử và nhất là do Bộ Chính trị quản lý”.

Tôi theo dõi thái độ Thủ tướng và các phó thủ tướng, ai nấy đều rất vui vẻ. Tôi bước xuống trong sự tán thưởng của hội nghị. Anh Đoàn Mạnh Giao, chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, khi đi ngược chiều với tôi lên để giới thiệu người phát biểu kế tiếp, ngang tôi anh kê vào tai nói: “Ông nói hay quá, tôi thay cậu tài xế mà cũng không được”.

Đến lượt anh Nguyễn Bá Thanh, chủ tịch UBND TP Đà Nẵng: “Tôi thấy đại hội vừa xong, phân công cấp ủy viên mới rồi, hay cơ quan đang ổn định biên chế công tác, bỗng dưng rút người ra đi học. Làm vậy khác nào đội banh có 11 người, ông rút ra một người không đá thì đội hình còn lại làm sao mà đá? Còn nói cách chức cán bộ thì cỡ trưởng phòng thôi, mới bàn mà nó nghe thì nó tính cách chức mình trước rồi”. Hội trường vỗ tay!

Đến phiên anh Út Phương, chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương, phát biểu thì vừa có duyên vừa “văn chương” sinh động ngược với vẻ bề ngoài: “Thơ ông Tố Hữu có câu: Đảng ta có trăm tay (tai) nghìn mắt. Câu này suy ra: Đảng ta có 50 người làm mà có đến 500 người ngồi nhìn thì ai mà dám làm, làm sao chịu nổi?!”. Cả hội trường lại vỗ tay và cười rộ.

Hội nghị Chính phủ tháng 10-2001 trở thành kỷ niệm để đời trong tôi. Và có lẽ đối với Thủ tướng Phan Văn Khải cũng vậy, gặp nhau ông hay nói: “Hội nghị mà có Bảy Nhị, Út Phương, Bá Thanh là vui lắm”. Tại hội nghị Chính phủ tháng 10-2003, khi phát biểu kết luận hội nghị, Thủ tướng nói: “Hội nghị Chính phủ năm sau (2004) chúng ta không nghe được Bảy Nhị và Út Phương phát biểu nữa, sẽ rất buồn, vì hết khóa này hai người không còn làm chủ tịch nữa. Lần họp này xem như Chính phủ chia tay hai người!”. Tự nhiên tôi thấy Thủ tướng trở nên thân tình vì ông hiểu được cán bộ, hiểu được cái khó của cơ chế.

Tôi và anh Út Phương nghỉ hưu từ sau Đại hội X, nay ngót hơn bảy năm, chỉ còn anh Bá Thanh – bí thư Đà Nẵng – tiếp tục công tác, để lại cho Đà Nẵng những dấu ấn và tiếng lành vang cả nước. Nay anh cũng tròn 60 tuổi, tuổi sung mãn của một chính khách như thường thấy ở các nước khác, nhưng ở ta thì anh cũng đang ở “phút 89” như tôi năm nào. Có điều cái thế và lực của anh có khác hơn: ủy viên Trung ương Đảng, trưởng Ban Nội chính trung ương. Với thế và lực vượt trội này, nếu thành công, chỉ vài phút đầu lịch sử thì cái tuổi và nhiệm kỳ công tác của anh sẽ còn “thêm hai hiệp phụ” để dứt điểm cái thế nhùng nhằng với tham nhũng đã thành quốc nạn hiện nay!

Tôi hi vọng và kỳ vọng ở anh, như mấy ngày nay dư luận rộn ràng trên các báo in và báo mạng sau tin anh được Đảng điều về Hà Nội. Những dòng ghi nhớ chuyện vui cũ, vừa là hưởng ứng cùng tình cảm chung của mọi người với anh Bá Thanh, vừa như góp phần phản ánh những chi tiết nhỏ của những lỗi khó sửa mà trên cương vị công tác mới, anh Bá Thanh sẽ gặp như là những vật cản không dễ vượt qua, để các nhà lập pháp nghiên cứu tháo gỡ cho quốc dân nhân sửa Hiến pháp lần này.”

Bài báo hay của ông Nguyễn Minh Nhị gửi ông Nguyễn Bá Thanh theo tôi chẳng cần lời bình luận nào thêm mà chỉ cần ghi lại. Tôi chỉ trầm tư trước câu hỏi: Làm thế nào để tháo gỡ “những vật cản không dễ vượt qua” . Tôi tâm đắc với lời Bác Giáp suốt đời học Bác Hồ “dĩ công vi thượng” việc công trên hết. Câu trả lời thật rõ ràng là: Khi Nhân Dân, Tổ Quốc trên hết, thì bất cứ giải pháp nào có lợi cho Dân cho Nước cũng đều nghiên cứu vận dụng được cả, không từ một giải pháp nào. Thực chất đó là phép quyền biến “dĩ bất biến ứng vạn biến”.

Kênh ông Kiệt

“Vẫn là Thủ tướng của nhân dân / Vẫn là anh Sáu mọi gia đình/ Lồng lộng bóng soi miền sông nước/ Đời nặng ân tình, đất nặng chân”. Đó là những câu thơ cảm khái khóc tiễn cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt của Ông Bảy Nhị.

Một năm sau khi cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt từ trần, Hội đồng nhân dân tỉnh An Giang khóa VII đã Quyết nghị đặt tên công trình kênh T5 là kênh Võ Văn Kiệt và đặt bia lưu niệm tại đầu kênh để ghi nhớ công lao của cố Thủ tướng với hệ thống kênh huyết mạch, tháo chua, rửa phèn, mở mang vùng đất hoang hóa của khu vực Tứ giác Long Xuyên.

Báo An Giang, Trường Đại học An Giang đã đăng bài Kênh “ông Kiệt” tắm mát đồng bằng của tác giả Bảo Trị – Thành Chinh. Báo Đất Việt đăng bài Kênh ông Kiệt của tác giả Võ Ngọc- Bảo Châu. Báo Tuổi Trẻ đăng loạt bài Từ kênh Vĩnh Tế đến kênh Võ Văn Kiệt của tác giả Quốc Việt. Kỳ 1: Hào lũy đất phương Nam ; Kỳ 2: Trấn giữ biên giới ; Kỳ 3: Thương hồ Vĩnh Tế ; Kỳ 4: Dấu chân lấm bùn của ông Sáu Dân; Kỳ 5: Đào kênh T5 . Tôi đã viết bài Kênh ông Kiệt giữa lòng dân và đăng lại bài Kênh “ông Kiệt” tắm mát đồng bằng trên trang HỌC MỖI NGÀY với lòng biết ơn sâu sắc.

Kênh Vĩnh Tế và Kênh Võ Văn Kiệt là hai công trình sống mãi trong lòng dân.

Kênh Vĩnh Tế dài gần 100km chạy dọc biên giới hai tỉnh An Giang, Kiên Giang với vương quốc Campuchia. Kênh do Thượng đạo Khâm sai, trấn thủ Vĩnh Thanh Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại chỉ huy hơn 80.000 dân binh đào ròng rã 5 năm liền (1819-1824). Sau khi hoàn thành, vua Minh Mạng đã lấy tên vợ của Thoại Ngọc Hầu , bà Châu Thị Vĩnh Tế, đặt tên cho con kênh này là kênh Vĩnh Tế. Thượng nguồn con kênh tiếp dòng sông Hậu ở thị xã Châu Đốc, hạ nguồn nhập sông Giang Thành ở Hà Tiên để ra biển Tây. Kênh Vĩnh Tế hiện rộng khoảng 40-70m, sâu 3-4m so với mực nước biển tùy từng đoạn. Kênh Vĩnh Tế là tuyến thủy lộ, tuyến kênh biên giới đặc biệt quan trọng mở mang vùng đất Tây Nam Bộ mang tầm vóc của một công trình chiến lược nhất thế kỷ 19 hào lũy đất phương Nam, khẳng định chủ quyền lãnh thổ, mở mang vùng đất mới.

Kênh Võ Văn Kiệt (kênh T5) dài 48km, rộng 30-36m và sâu 3m, thông kênh Vĩnh Tế ở Tri Tôn, An Giang, chảy qua Hòn Đất, Kiên Giang rồi đổ ra vịnh Thái Lan. Đây là một cụm “công trình thủy lợi cấp bách” mang dấn ấn Thủ tướng Võ Văn Kiệt, “bác Sáu Dân” nhằm “thoát lũ biển Tây” ngọt hóa vùng đất năng lác hoang hóa sình lầy của hai tỉnh An Giang, Kiên Giang biến thành đất sản xuất nông nghiệp…. Ông Bảy Nhị đã chia sẻ: “Thời điểm trước năm 1997 (trước khi tuyến kênh T5 hoàn thành) cứ dạo lũ về là các cấp, các ngành lo ngai ngái. Lũ về là những vùng trũng, đầu nguồn lại phải lo cảnh sơ tán dân, cứu đói, cắt lúa chạy lũ. Từ khi hệ thống kênh mương cấp 2, 3 hoàn thành theo Quyết định 99/TTg như: Nạo vét kênh Tám Ngàn, H7, các kênh 5, 13, 16… , phần nào lũ đã khống chế. Tuy vậy, những vùng như Tứ giác Long Xuyên, cảnh lũ trắng đồng vẫn là nỗi lo lớn, buộc những người lãnh đạo phải bàn quyết sách tháo gỡ vấn đề”. “Tứ giác Long Xuyên, vùng đất trũng phèn có diện tích gần 500.000 ha đất nông nghiệp vẫn còn hoang hóa nhiễm phèn, trong đó An Giang chiếm diện tích khá lớn chính là vùng đất chúng ta bỏ quên bấy lâu nay chưa khai phá. Đất không phụ người, chỉ sợ người phụ đất mà thôi”.

Thủ tướng Võ Văn Kiệt trong chuyến về thăm và làm việc tại An Giang trong hai ngày 21, 22-7-1996, đã đi thị sát cánh đồng Lạc Quới, kênh mương nội đồng vùng Tứ giác Long Xuyên. Thủ tướng đã chỉ thị: “Đề án quy hoạch thủy lợi vùng Tứ giác Long Xuyên cần nhanh chóng thực hiện vì nó sẽ giúp khu vực sử dụng được nguồn phù sa vô giá của lũ sông Cửu Long, chính nó sẽ đảm đương việc thoát lũ, rửa phèn khai phá đất nông nghiệp cho vùng Tứ giác Long Xuyên. Các Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Thủy lợi, Bộ Khoa học-Công nghệ và Môi trường cần nhanh chóng phối hợp lập kế hoạch xây dựng tuyến kênh thoát lũ ra Vịnh Thái Lan”.

Sau việc đào xong kênh T6, đưa nước từ Vĩnh Tế qua kênh Mới về biển Hà Tiên vào năm 1996. Đầu năm 1997, công trình chống lũ cấp bách kênh T5 – Tuần Thống, Luỳnh Quỳnh, Tân Thành – Lò Gạch, tuyến đê bờ nam Vĩnh Tế; hệ thống cống ngăn, xả lũ và 2 đập điều chỉnh lũ Tha La, Trà Sư; các cống ngăn mặn giữ ngọt thoát lũ ven biển… đã được cấp bách xây dựng theo Quyết định 159/TTg của Thủ tướng Chính phủ. Hàng loạt công trình thủy lợi phục vụ dẫn ngọt, tiêu chua, tiêu úng, xổ phèn, ngăn mặn và hàng vạn cây số bờ bao bảo vệ lúa hè thu được xây dựng đã góp phần quyết định vào việc phát triển nông nghiệp và các ngành kinh tế khác trong vùng. Trong đó, kênh T5 có ý nghĩa chiến lược, được khởi công giữa quý I đến cuối tháng 8-1997 là hoàn thành. Đây là công trình thủy lợi hoàn thành nhanh nhất trong lịch sử đào kênh ở Việt Nam. Ngày mùng 8 Tết Mậu Dần 1998 (nhằm ngày 4-2-1998), 50.000 ha đất hai tỉnh An Giang, Kiên Giang được ngọt hóa. Ngày mùng 9 Tết Mậu Dần khởi công nạo vét kênh Vĩnh Tế, điều tiết lũ cùng dòng Võ Văn Kiệt thoát lũ ra biển Tây. Chọn bờ Nam song song tuyến kênh hình thành những tuyến dân cư vượt lũ trên toàn tuyến. Đây là đại công trình thủy lợi gồm hệ thống các kênh T4, T5, T6 thoát lũ, dẫn ngọt, tháo chua, rửa phèn, khai hoang, phục hóa hàng trăm ngàn ha đất .

Những năm sau, cụm từ “lũ đẹp” bắt đầu xuất hiện và định nghĩa “sống chung với lũ “cũng từ đó hình thành, Từ một công trình thủy lợi đã mở mang diện tích sản xuất, giảm thiểu ngập lũ. Ổn định vững chắc hai vụ sản xuất đông xuân và hè thu; giảm thấp mức lũ chính vụ, tạo điều kiện phát triển sản xuất, giảm chi phí xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở, giảm thiệt hại về người và của mùa lũ về. Từ đó, tạo thế đưa nước ngọt giàu phù sa từ sông Hậu vào kết hợp ngăn mặn, giữ ngọt, tháo chua rửa phèn, cải tạo đất sản xuất nông nghiệp, cải tạo môi trường nước, vệ sinh đồng ruộng phục vụ phát triển sản xuất, sinh hoạt của nhân dân trong vùng. Tất cả đã được kênh T5 đảm trách hiệu quả.

Ngọc phương Nam

Vựa lúa Nam Bộ là ngọc. Đó là Ngọc phương Nam. Kênh ông Kiệt giữa lòng dân. Kênh ông Kiệt trong lòng tôi với cây lúa, cây ngô, củ sắn, củ khoai thân thiết ! Ảnh tác giả đang chọn giống sắn mới ở vùng đất Tri Tôn, Tịnh Biên.

Gửi KH

Thơ cho em giữa tháng năm này
Là lời người dân nói vể kênh ông Kiệt
Là con kênh xanh mang dòng nước mát
Làm ngọt ruộng đồng Tứ giác Long Xuyên

Con kênh T5 thoát lũ xả phèn
Dẫn nước ngọt về vùng quê nghèo khó
Tri Tôn, Tịnh Biên trong mùa mưa lũ
Giữa hoang hóa, sình lầy, thấm hiểu lòng dân

Nguyễn Công Trứ xưa khẩn hoang đất dinh điền
Thoại Ngọc Hầu mở mang kênh Vĩnh Tế
Kênh ông Kiệt giữa lòng dân bền bỉ
Ân nghĩa cuộc đời lưu dấu nghìn năm

Em ơi khi nuôi dạy con
Hãy dạy những điều vì dân, vì nước
Người ta sinh ra cho đến khi nhắm mắt
Đọng lại trong nhau vẫn chỉ những CON NGƯỜI.

Tôi nhớ không quên những tấm ảnh kỷ niệm một thời.

Cách đây ít hôm, tôi có giới thiệu với các chuyên gia Nhật Bản, giáo sư tiến sĩ Motoaki Seki – RIKEN PSC và tiến sĩ Hirano – RIKEN Nishina về chùm ảnh của đề tài “Ứng dụng đột biến lý học và nuôi cấy mô để tạo giống khoai mì có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất củ tươi và hàm lượng tinh bột cao phù hợp với việc né lũ của tỉnh An Giang” thực hiện năm 2002-2004 tại vùng đất hoang hóa Tri Tôn Tịnh Biên. Họ đều ngạc nhiên thích thú vì Việt Nam đã triển khai hướng nghiên cứu này từ rất sớm.

Giống khoai lang ở Việt Nam đã được chuyên gia nông nghiệp nước ta hợp tác với chuyên gia Nhật và chuyên gia CIP (Trung tâm Khoai tây Quốc tế) thực hiện từ nhiều năm qua. Các giống khoai lang tốt như Nhật đỏ HL518, Nhật tím HL419, Murasa Kimasari, Nhật vàng Kokey 14, Nhật trắng HL284 đã phổ biến rộng rãi trong sản xuất. Nhiều vùng khoai lang ngon như khoai Nhật tím HL419 ở Bình Minh, Bình Tân của tỉnh Vĩnh Long, khoai Trùi Sa Trà Đõa ở Thăng Bình của tỉnh Quảng Nam, khoai Lệ Cần ở Đăk Đoa của tỉnh Gia Lai, khoai Bí Mật ở Lâm Hà, Đà Lạt của tỉnh Lâm Đồng, khoai Nhật đỏ HL518 ở Tuy Đức và Đăk Song của tỉnh Đăk Nông. Nhưng đặc biệt hơn cả là Kỳ tích từ cây lúa, củ khoai ở Hòn Ðất ở tỉnh Kiên Giang với doanh nghiệp của ông Đỗ Quý Hạo trồng khoai lang rất thành công.

Ít ai biết những giống khoai lang, giống sắn mang lại nguồn thu cao lợi nhuận lớn cho người dân chịu ơn dòng nước mát và những tấm lòng như ông Kiệt, ông Bảy. Tôi biết ơn ông tự đáy lòng mà không nói,

Bảy Nhị, kênh ông Kiệt trong lòng tôi như vậy đó.

Hoàng Kim

Chép lại một bài viết không nỡ quên. Cám ơn các bạn FB đã nhắc tôi lưu bài này. Nguồn: https://hoangkimlong.blogspot.com/2013/01/bay-nhi-kenh-ong-kiet-va-toi.html

500 NĂM NÔNG NGHIỆP BRAZIL
Hoàng Kim

Tôi kể về một thoáng Brazil đất nước con người và 500 năm nông nghiệp Brazil. Các chính khách chuyên gia hàng đầu Brazil đã soi lại 500 năm nông nghiệp Brazil trong sự hòa quyện với lịch sử đất nước và thương mại. Họ đã lần tìm trong những biến động của lịch sử vùng đất với các yếu tố nguồn lực căn bản Đất đai và Thức ăn (Land and Food) để bảo tồn và phát triển. 500 năm nông nghiệp Brazil là bài học lớn cho Nông Nghiệp Việt Nam. Tôi xin được chia sẻ điều này với  GS. Nguyễn Tử Siêm Nong Hoc Web, OM Lúa Giống và quý thầy bạn nhân dịp kỷ niệm Viện Lúa 40 năm xây dựng và phát triển và sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp Gạo Việt chất lượng và thương hiệu.xem tiếp https://cnm365.wordpress.com/category/500-nam-nong-nghiep-brazil/

Video yêu thích
Nhà thơ Hải Như với Hải phòng – TP Hoa Phượng Đỏ 60 năm (12/5/2015)

Nhà thơ Hải Như với Hà Nội
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

Chào ngày mới 3 tháng 1


Chào ngày mới 3 tháng 1. Nguyễn Du 253 năm nhìn lại. Ngày 3 tháng 1 năm 1766 nhằm ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu là ngày sinh của Nguyễn Du (mất năm 1820),danh sĩ tinh hoa, đại thi hào, nhà chính trị, ngoại giao và giáo dục xuất chúng của triều Nguyễn, tác giả Truyện Kiều, Bắc Hành tạp lục và nhiều tác phẩm nổi tiếng khác. Ngày 3 tháng 1 năm 610 sau công nguyên trong đêm thiêng của tháng chay Ramadan (*) khoảng cuối tháng 9 âm lịch Ả Rập của người Hồi giáo. Nhà tiên tri Muhammad giáo chủ đạo Hồi lúc 40 tuổi đã may mắn tình cờ nhận được kinh Koran lần đầu tiên tại động Hira do thiên thần Gabriel mang đến theo cách truyền khẩu và yêu cầu nhà tiên tri học thuộc lòng. Thiên thần sau đó đến nhiều lần và bản mặc khải này được chép lại theo thứ tự ngược với thứ tự thời gian của thiên thần mang tới. Câu 1 chương 96 của kinh Koran “Hãy đọc, nhân danh Chúa của ngươi…” sau trở thành câu đầu tiên. Kinh Koran là một trong những bộ kinh ảnh hưởng sâu đậm nhất nhân loại và được nhiều người nghiên cứu nhất chỉ sau Kinh Thánh. Ngày 3 tháng 1 năm 1976, một phần của Bộ Luật Nhân quyền Quốc tế thể hiện qua Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa  bắt đầu có hiệu lực thực hiện; xem tiếp https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-3-thang-1/; Bài chọn lọc ngày 3 tháng 1: Nguyễn Du 253 năm nhìn lại (Hoàng Kim); Đạo Hồi và nhà tiên tri Muhammad (Hoàng Kim); Thơ về Mẹ, Nghĩ về Cha, (Hoàng Long ); Thơ cho con (Hoàng Kim).

(*) Ramadan là tháng chay theo tên gọi tháng thứ 9 của âm lịch Ả Rập, theo dương lịch thay đổi từng năm không có ngày thống nhất. Ramadan hiểu là “tháng nhịn ăn” không thật chuẩn vì các tín đồ Hồi giáo không ăn chay hoàn toàn và cũng không nhịn ăn hoàn toàn, bởi suốt một tháng lễ này, tất cả các tín đồ đạo Hồi đều nghiêm túc thực hiện quy định: không ăn không uống không hút thuốc không sinh hoạt tình dục vào ban ngày từ lúc mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn và những người đang ốm, phụ nữ có thai, trẻ em dưới 5 tuổi cùng những người đang đi du lịch ở nước ngoài mà nước đó  không lấy đạo Hồi làm quốc giáo thì được phép miễn trừ, và đối với học sinh nhỏ tuổi, binh lính với người lao động nặng thì không cần phải nhịn ăn, điều này hoàn toàn là tự giác do sự phát nguyện từ tâm. Khi hết tháng chay, người Hồi giáo có lễ Eid al-Fitr.

Nguyễn Du 253 năm nhìn lại
Hoàng Kim

Nguyễn Du sinh ngày 3 tháng 1 năm 1766 nhằm ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu, tại phường Bích Câu ở Thăng Long (Hà Nội), mất ngày 16 tháng 9 năm 1820 (nhằm ngày 10 tháng tám năm Canh Thìn) tại kinh đô Huế, hưởng thọ 55 tuổi. Nguyễn Du tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, biệt hiệu Hồng Sơn Liệp Hộ (người đi săn ở núi Hồng), lại có hiệu Nam Hải Điếu Đồ (kẻ đi câu ở biển Nam). Nguyễn Du là danh nhân văn hóa thế giới, nhà thơ lớn, danh sĩ tinh hoa, hiền tài lỗi lạc, nhà chính trị, ngoại giao, văn hóa, giáo dục kiệt xuất không chỉ của nhà Nguyễn mà còn là kỳ tài muôn thuở của mọi thời đại Việt Nam. Nguyễn Du đã vượt lên vinh nhục bản thân giữa thời nhiễu loạn, vàng lầm trong cát để trao lại ngọc cho đời.

Con người Nguyễn Du, Hồng Sơn Liệp Hộ, ra tướng võ vào tướng văn, chọc trời khuấy nước, Từ Hải khen Kiều khéo biết người. Danh sĩ Tố Như, Nam Hải Điếu Đồ, đêm mặt trăng, ngày mặt trời, nhả ngọc phun châu, Tam Hợp đạo cô tài đoán dịch. Ông lưu lại kiệt tác Truyện Kiều ẩn ngữ giữa đời thường và tuyệt phẩm Bắc Hành sử thi soi chính pháp. Con người đó, tầm vóc đó gần gũi mà cao xa, minh triết và trầm tĩnh, nhân hậu và tiềm ẩn, tâm tình và tài trí đều trọn vẹn tuyệt đỉnh. Văn chương Việt đã có quá nhiều bài viết về Nguyễn Du. Ghi chép này là nén tâm hương thành kính tưởng nhớ Người.
Xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nguyen-du-250-nam-nhin-lai/

Đạo Hồi và nhà tiên tri Muhammad
Hoàng Kim

Một phần trong bức tranh thế giới hôm nay là Hồi giáo và nhà tiên tri Muhammad. Bạn sang Trung Đông và châu Phi không thể và không nên không biết một chút gì về Đạo Hồi và nhà tiên tri Muhammad. Đạo Hồi hiện nay trên thế giới có trên 1,57 tỷ người chiếm khoảng một phần tư dân số toàn thế giới, đứng thứ hai chỉ sau Kito giáo. Cộng đồng Hồi giáo chiếm khoảng 25% tại Nam Á, 20% ở Trung Đông, 15% ở Châu Phi, và 13% ở Indonesia. Người theo đạo Hồi cũng có ở châu Âu, Trung Quốc, Nga và châu Mỹ nhưng tỷ lệ thấp hơn. Đạo Hồi chủ yếu là dòng Sunni chiếm  75–90% và Shia chiếm 20-10%.  Nhà tiên tri Muhammad, sinh ngày 2 tháng 5, sống vào khoảng năm 570 – 632, được những tín đồ Hồi giáo Islam toàn cầu gọi là “Sứ giả của Thượng Đế” và tin là đó vị ngôn sứ Allah cuối cùng mà Thiên Chúa gửi xuống để dẫn dắt nhân loại.

Tôi tóm tắt  câu chuyện ‘Đạo Hồi và nhà tiên tri Muhammad’ giữa hai vùng tối sáng; mời bạn xem video Prophet Muhammad (PBUH) Complete life story in English của BBC để hiểu thêm về nhà tiên tri Muhammad nhưng dường như chưa thật may mắn. Cõi nhân gian bé tí nhưng hiểu biết đúng một tôn giáo như đạo Hồi là không hề dễ dàng vì mỗi chúng ta nhìn qua nhiều lăng kính khác nhau và nhiều ảo ảnh khúc xạ làm cho ta ngộ nhận lầm tưởng. Sự khôn ngoan là bớt nói hồ đồ và biết lắng nghe.

Nhà tiên tri Muhammad nói với chúng ta rằng ông chỉ là một người hoàn toàn bình thường ông chỉ được may mắn làm sứ giả của Thượng đế để tiếp nhận và trao lại cho đời, cho con người một viên ngọc quý, mà lời nhắn đó hậu thế gọi là Kinh Qu’ran

Quá trình đến với châu Phi, sang Trung Đông, Âu Mỹ và Ấn Độ, tôi được tiếp xúc với nhiều nguồn văn hóa, mới thấm hiểu tự do và cực đoan, thông suốt và vướng mắc, vô thần và đức tin, quả trứng nở ra con gà hay con gà đẻ ra quả trứng. Hành trình triết học là một chuỗi chiêm nghiệm để hiểu biết minh triết và tìm về tự thân. Tôi đã chuyên chú học và viết CNM365 suốt 7 năm (2011-2017) cùng sự liên hệ mật thiết với Wikipedia, nay đúc kết thông tin này cho mình và hiến tặng bạn đọc.

ĐẠO HỒI

Sự ra đời Đạo Hồi có từ thế kỷ 7 tại bán đảo Ả Rập, do nhà tiên tri Muhammad là vị sứ giả Thượng đế nhận được mặc khải cuối cùng Kinh Koran của Allah  Đấng Tối Cao, đã truyền  cho con người qua thiên thần Jibrael. Islam nghĩa gốc Hồi giáo là “vâng mệnh, quy phục Thượng Đế” và Muslim trong tiếng Ả Rập là chỉ người theo đạo Islam.

Xuất xứ Hồi giáo từ dân tộc Hồi Hột là một nước láng giềng phương bắc của Trung Quốc Dân tộc Hồi Hột lãnh thổ lúc rộng lớn nhất vào khoảng năm 616 đến 840, vùng phân bố kéo dài từ đông Mãn Châu đến tây Trung Á. Tài liệu xưa nhất dùng danh từ “Hồi Hột”  là Liêu Sử soạn vào thế kỷ 12. Dân tộc Hồi Hột đã giúp nhà Đường dẹp loạn An Lộc Sơn. Đến thời Nguyên (1260 – 1368), dân tộc Hồi Hột chuyển đổi thành “người Hồi” để chỉ người Trung Á, bất luận theo tín ngưỡng nào. Đến thời Minh (1368 – 1644), cụm từ “người Hồi” dần đổi nghĩa để chỉ những người theo đạo Islam. Tại Trung Quốc từ  thời Nguyên, đã có cụm từ “Đại Thực giáo”, “đạo A-lạp-bá”, “Thanh Chân giáo” trong nhiều từ điển tiếng Hán và dùng phổ biến tại  các thánh đường Islam quán ăn, nhà ăn. Ngày nay tại Trung Quốc người ta cũng thường gọi Islam theo phiên âm là Y Tư Lan giáo. Ở Việt Nam người dân quen dùng từ Hồi giáo hoặc Đạo Hồi.

Giáo lý căn bản của Hồi giáo tại duy nhất một quyển kinh Koran, gồm có 114 chương, 6236 tiết. Đối với các tín đồ Hồi giáo, kinh Koran là một vật linh thiêng, vì đó chính là lời phán của Allah Đấng Toàn Năng. Người Hồi giáo tin tưởng các vị sứ giả đến trước sứ giả Muhammad, kể từ Adam qua Noah, Abraham, Moise, đến Jesus. Người Hồi giáo cũng tin tưởng Cựu ước và Tân ước là kinh sách của Allah nhưng họ không thi hành theo vì sự “lệch lạc” do người Do Thái giáo và Thiên Chúa giáo tạo ra và thiên kinh Qur’an được Allah mặc khải xuống để điều chỉnh lại những gì đã sai trái ở hai cuốn kinh sách nói trên. Người Hồi giáo cũng kính trọng đức Jesus là một sứ giả rất được kính mến của Allah, nhưng họ không tin Jesus là con của Thiên Chúa mà Jesus chỉ là một con người, một sứ giả như mọi sứ giả khác vì theo quan điểm của Hồi giáo thì Thiên Chúa không có con, như Kinh Koran đã phán “Allah là Đấng Tạo Thiên Lập Địa! Làm thế nào Ngài có con khi Ngài không hề có người bạn đường? Chính Ngài là Đấng đã sáng tạo và thông hiểu tất cả mọi vật.” (trích 6:101). Người Hồi giáo không chấp nhận tội tổ tông, việc làm của Adam và Eva không là nguồn gốc tội lỗi của loài người. Không một ai có quyền rửa tội cho một ai khác, ngoại trừ Allah. Sự khác nhau giữa Kinh Cựu Ước, Kinh Tân Ước và Kinh Koran căn bản như sau: Kinh Cựu Ước: ‘Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình’ (sách Sáng Thế 1:27). Kinh Tân Ước: ‘Ta và Cha ta là một’ (Tân Ước Gioan 10:30). Kinh Koran: ‘Ngài là Đấng Duy Nhất. Allah Đấng Độc Lập và Cứu Rỗi. Ngài chẳng sinh ra ai và cũng chẳng ai sinh ra Ngài. Không một ai đồng đẳng với Ngài’. (Kinh Koran 112: 1-4).

Đạo Hồi kinh Koran liệt kê mười điều tâm nguyện

  1. Chỉ tôn thờ một Thiên Chúa (tiếng Á Rập là Allah).
  2. Vinh danh và kính trọng cha mẹ.
  3. Tôn trọng quyền của người khác.
  4. Hãy bố thí rộng rãi cho người nghèo.
  5. Cấm giết người, ngoại trừ trường hợp đặc biệt (*).
  6. Cấm ngoại tình.
  7. Hãy bảo vệ và chu cấp trẻ mồ côi.
  8. Hãy cư xử công bằng với mọi người.
  9. Hãy trong sạch trong tình cảm và tinh thần.
  10. Hãy khiêm tốn

(*) Hai trường hợp đặc biệt được giết người mà không bị trọng tội là:
1) Trong khi kháng cự hoặc chiến đấu chống lại những kẻ lùng giết người đạo mình nhằm cưỡng bách bỏ đạo. Nhưng nếu chiến thắng, phải noi gương thiên sứ Muhammad, tha thứ và đối xử nhân đạo với phần đông kẻ bại trận.
2) Giết những tên sát nhân để trừ hại cho dân lành.

Năm trụ cột căn bản của đạo Hồi
1) Tuyên đọc câu Kalimah Sahadah: Ash Ha Du Allah Ila Ha Il Lallah Wa Ash ha du an na Muhammader rosu Lullah, có nghĩa Tôi công nhận Allah là thượng đế duy nhất và ngoài ra không có ai khác cả và tôi công nhận Muhammad là vị sứ giả cuối cùng của Ngài
2) Cầu nguyện ngày năm lần: Buổi bình minh, trưa, xế trưa, buổi hoàng hôn và tối.
3) Bố thí.
4) Nhịn chay tháng Ramadan.
5) Hành hương về Mecca.

Tín đồ Hồi giáo có chín luật lệ
1) Một lần trong đời, họ phải hành hương về thánh địa Mecca, nhưng với điều kiện họ không vay mượn hay xin phí tổn. Trước khi đi, họ phải lo cho gia đình vợ con đầy đủ những nhu cầu cần thiết trong thời gian họ vắng mặt hành hương.
2) Nghiêm cấm ăn máu, thịt con vật đã chết trước khi được cắt tiết theo nghi thức; không được ăn thịt lợn vì lợn là con vật ô uế.
3) Nghiêm cấm uống rượu và các thức uống lên men.
4) Nghiêm cấm cờ bạc.
5) Nghiêm cấm gian dâm và trai gái quan hệ xác thịt trước khi cưới hỏi.
6) Nghiêm cấm ăn những con vật ăn thịt sống hay ăn tạp (như chó, mèo, chuột, v.v.).
7) Người Hồi giáo chỉ được ăn thịt đã được giết mổ theo nghi thức của đạo Hồi. Tuy nhiên, trong trường hợp tuyệt đối không có gì ăn, họ được ăn mọi thứ để duy trì sự sống.
8) Hàng năm phải thực hiện tháng ăn chay Ramadan để tưởng nhớ và biết thương xót người nghèo. Tháng này tính theo lịch Mặt Trăng. Trong tháng này, khi còn ánh sáng Mặt Trời, họ không được ăn và uống, đến đêm thì mới ăn. Cũng trong tháng này, con người phải tha thứ và sám hối, vợ chồng không được gần nhau vào ban ngày nhưng ban đêm vẫn có thể ân ái với nhau. Trẻ em và phụ nữ có mang không phải thực hiện Ramadan.
9) Hồi giáo nghiêm cấm kỳ thị chủng tộc và tôn giáo, tín đồ Hồi giáo không được phép chỉ trích cũng như phán xét người khác. Đó là việc của Allah Đấng Toàn Năng

Đạo thường hằng trong vũ trụ. Theo quan điểm Hồi giáo, đạo của họ là đạo thường hằng trong vũ trụ, do Thượng Đế tạo ra, và vì Thượng Đế vốn bất sinh bất diệt nên đạo của Ngài cũng bất sinh bất diệt; còn Muhammad đơn thuần chỉ là một người “thuật nhi bất tác”, thuật lại cho mọi người những mặc khải của Thượng Đế mà thôi.

Con người đầu tiên Adam do Thượng Đế tạo ra là tín đồ Hồi giáo đầu tiên, và thuở hồng hoang, khắp đất trời là một vương quốc Hồi giáo. Không chỉ người mà thôi, mà tất cả muông thú, cỏ cây đều tuân theo Hồi giáo cả. Adam và loài người được kiến tạo là để thay mặt Thượng Đế cai quản các loài thảo cầm ở nhân gian. Do đẳng cấp của loài người cao và tự do ý chí nên dẫn đến lầm lạc rời bỏ Thượng Đế, và xa dần chính đạo. Khi Adam, con người đầu tiên lìa trần, con cháu ông thiếu sự chỉ dạy nên lầm lạc đi vào đường tối.

Vì vậy Thượng Đế đã gửi xuống nhân gian những vị Thiên Sứ để nhắc lại Thiên Đạo, đưa loài người về đúng nẻo ngay. Trước Muhammad, đã có nhiều nhà tiên tri giảng lời mặc khải ở trần thế, trong đó có Noah, Abraham, Moses, David  và Jesus … Tuy nhiên, do loài người chưa tỉnh ngộ và do sự tự cao, tự đại của con người, mà không theo chính đạo.

Muhammad là  vị Thiên Sứ hoàn hảo nhất và là vị Thiên Sứ cuối cùng. Bất cứ ai dám xưng Thiên Sứ sau Muhammad đều là kẻ tà giáo. Abraham (Ibrohim) cử xuống cho Do Thái Giáo và Giêsu (Ysa) cử xuống cho Kitô giáo, đều có vị trí Thiên Sứ trong Hồi giáo. Đấng Toàn Năng Allah mà ba tôn giáo này thờ phượng chỉ là một. Người Do Thái giáo và Thiên Chúa giáo cũng được tín đồ Hồi giáo tương đối coi trọng và gọi là Giáo Dân Thánh Thư (People of The Book). Kinh Thánh cũng là sách thiêng trong Hồi giáo, nhưng Kinh Koran là đầy đủ và hoàn thiện nhất.

NHÀ TIÊN TRI MUHAMMAD

Muhammad được sinh vào khoảng năm 570 tại Mecca (Makkah) và qua đời ngày 8 tháng 6 năm 632 tại Medina (Madinah). Hai thành phố Mecca và Medina thuộc về miền tây của Ả Rập Saudi ngày nay. Muhammad có nghĩa là “người được ca ngợi” trong tiếng Ả Rập. Tín đồ Islam khắp mọi nơi thế giới thường gọi ông là Nabi (al-nabi,النبي) “sứ giả (của Thượng Đế)”, Rasul-Allah (رسول الله ) hoặc Rasul có nghĩa là “thiên sứ của Thượng Đế”.

Một số tự điển lớn Anh Pháp dùng định nghĩa Prophet/Prophète “Sứ giả của Thiên Chúa”  và giải nghĩa thêm “Muhammad, người lập ra đạo Islam”. Các tín đồ Hồi giáo thường chúc tụng tiếng Anh là “Sall- Allahu alayhi wa salam” Peace and Benediction Upon Him”, viết tắt là PBUH, hoặc tiếng Pháp là “Paix et Bénédiction Sur Lui”, viết tắt là PBSL, tiếng Việt là ‘Cầu xin Allah ban ân phước và sự bình an cho ngài’, viết tắt là “(saw)” hay “(saas)”. Trong bản dịch tác phẩm văn học truyện Nghìn lẻ một đêm sang tiếng Việt và trên báo chí, ngôn ngữ tiếng Việt thông dụng thì nhà tiên tri Muhammad thường được gọi là Đấng tiên tri, Thánh Mô-ha-met hoặc Giáo chủ Mô-ha-met.

Nhà tiên tri Muhammad sinh ngày 12 tháng 3 âm lịch Ả Rập năm “Con Voi”. Năm ấy thống đốc vùng Yemen vào chiếm Mecca, trong đoàn quân có con voi chiến rất to, nên người ta gọi là năm Con Voi mà theo các sử gia ngày nay khoảng năm 569 – 571, số đông coi là năm 570. Thánh Muhammad là con đầu lòng của ông Abd-Allah và bà Aminah. Người Trung Đông và Ấn-Âu vốn có truyền thống lấy tên những người mình quý mến đặt cho con, nên tên thánh Muhammad rất thông dụng ngày nay.

Nhà tiên tri Muhammad không được biết mặt cha vì cha ông đã mất trên chuyến đi buôn xa vài tuần trước khi ông ra đời. Mẹ con ông từ đó được ông nội ông cấp dưỡng. Mẹ ông là người có học vấn và có sáng tác một số bài thơ, vẫn còn giữ được đến ngày nay. Tiếc thay, bà qua đời một cách đột ngột lúc ông lên sáu. Ông được ông nội rước về nuôi. Ông nội ông tuổi đã cao, nên ông cũng chỉ ở được với ông hai năm, sau đó được nuôi nấng và dạy dỗ bởi người bác là Abu Talib  là người thừa kế chức quản lý đền Al Haram.

Nhà tiên tri Muhammad lớn lên có tiếng là người đẹp trai và hào hiệp. Ông rất trọng tín nghĩa lại gia nhập nhóm nghĩa hiệp ở Mecca nhiều lần bênh vực những người cô quả bị cường hào ác bá ức hiếp nên được tặng ngoại hiệu là Al-Amin (người đáng tin cậy). Ông theo nghề buôn bán và không biết đọc biết viết như số đông người Mecca thời bấy giờ. Gặp năm đói kém, kinh tế thành Mecca bị suy thoái. Bác ông, ông Abu Talib mới đề nghị ông làm việc cho một goá phụ giàu có là bà Khadija, để quản lý cho bà các chuyến buôn hàng đường xa. Sau một thời gian làm việc cho bà Khadija, ông thành hôn với bà năm ông 25 tuổi. Phần nhiều các tài liệu nói rằng lúc ấy bà Khadija tuổi đã 40, nhưng theo sách của Baladhuri thì lúc ấy bà chỉ mới 28. Tất cả tài liệu đều nói rằng sau đó hai người sống với nhau hạnh phúc đến lúc bà Khadija qua đời, khoảng 24 năm sau. Bà Khadija trong khoảng 10 năm tiếp theo, đã sinh cho ông 7 người con, 3 trai 4 gái. Bé trai đầu tên là Qasim chỉ nuôi được đến lúc vừa mới biết đi. Những người sau mới nuôi được đến lúc trưởng thành, nổi tiếng nhất là con gái út, tên là Fatima.

Nhà tiên tri Muhammad lúc tuổi gần 40, khi cuộc sống đã tạm an ổn, thường hay đến động Hira núi Ánh Sáng  ở ngoại ô Mecca tu khổ hạnh theo lối tham thiền nhập định. Nhiều khi ông ở đấy mấy ngày liền và vợ ông phải cho người mang nước uống và thức ăn đến cho ông. Lúc ông 40 tuổi, vào một đêm cuối tháng 9 âm lịch Ả Rập (tháng Ramadan), tại động Hira, ông kể rằng ông chợt thấy một vầng sáng lạ hiện ra và nói “Ta là thiên thần Gabriel, được Thiên Chúa phái đến đây để báo cho anh được biết, anh được chọn làm sứ giả của Ngài”. Thiên thần dạy ông tẩy rửa theo nghi thức, và sau đó đưa cho ông một tấm lụa dài có thêu chữ bảo ông đọc. Ông trả lời rằng: Tôi không biết đọc. Thiên thần mới ôm siết lấy ông và nói: “Hãy đọc, nhân danh Chúa của ngươi, Đấng đã tạo ngươi từ một hòn máu đặc…” Ông đọc theo sau đó.

Dongda Hira Mecca

Động đá Hira ở Mecca là nơi mà thánh Muhammad đã nhận được kinh Koran theo các học giả Islam. Thiên thần Gabriel sau lần gặp đầu tiên đã tiếp tục đến với nhà tiên tri  Muhammad nhiều lần với những điềm lành, và tiếp tục mang đến thêm những lời kinh bảo ông học thuộc. Những lời kinh Koran ấy có thứ tự trình bày ngược với thứ tự thời gian mà thiên thần Gabriel mang đến. Câu đầu của Koran, “Hãy đọc, nhân danh Chúa của ngươi…” sau trở thành câu 1 của chương 96.

Nhà tiên tri Muhammad sau đó bắt đầu truyền đạo Islam. Những giáo lý cơ bản như đã được tóm tắt ở phần trên. Người tín đồ đầu tiên là vợ ông, bà Khadija. Kế đến là người nô lệ vừa được ông trả tự do tên là Zaid. Rồi ông làm một buổi tiệc mời thân bằng quyến thuộc đến nhà, và giới thiệu về Islam. Sau buổi tiệc đó, con của ông Abu Talib, tuyên bố theo đạo. Kế đến là người bạn chí thân của ông, ông Abu Bakar, một doanh nhân giàu có, cũng tuyên bố theo đạo và lập tức trả tự do ngay cho 8 người nô lệ của ông. Ông cũng truyền đạo rất tích cực và ông Othman rể của nhà tiên tri Muhammad cũng thuận theo.

Khoảng năm 613, một hôm, theo tập quán cổ truyền khi có việc hệ trọng, nhà tiên tri Muhammad đã kêu gọi mọi người quy tụ trên đồi Safa ở Mecca. Ông bắt đầu bằng câu hỏi: Mọi người có tin không nếu tôi nói rằng phía sau ngọn đồi này đang có một đoàn quân đang hạ trại để chuẩn bị tấn công chúng ta ?. Người ta trả lời rằng: Ông chưa hề nói dối, dĩ nhiên ông nói gì ai cũng sẽ tin. Ông mới bắt đầu rằng: Thiên Chúa đã sai phái tôi đến cảnh cáo mọi người, và ai không nghe tôi hãy coi chừng cơn thịnh nộ của Ngài. và tiếp tục bài giảng. Từ đó, ông thường xuyên giảng đạo trước công chúng.

Quả như lời ông tiên tri, vì giáo điều Islam ngược lại với tín ngưỡng và lợi tức kinh tế của thành Mecca giảm sút sự dâng hương cúng tế nên một số người của dòng Qureysh bắt đầu có phản ứng mạnh để ngăn chống sự phát triển của Islam. Họ thương lượng và tìm nhiều biện pháp để ông chấm dứt truyền đạo. Họ châm biếm, chế nhạo, chửi rủa và ném đá khi ông gảng đạo. Họ chặn các bộ lạc từ xa đến hành hương và dặn đừng đến nghe ông. Đối với những người từ xa đến Mecca làm việc, thường là nô lệ thì họ dùng những cực hình dã man để bức bách bỏ đạo.

Năm 615, do sự bách hại đó, nên khoảng 101 tín đồ Islam, trong đó có 18 phụ nữ, dẫn đầu bởi ông Othman là rể của nhà tiên tri Muhammad đã buộc phải trốn khỏi Mecca và đi  tị nạn ở Abyssinia. Ông Othman vào yết kiến vị hoàng đế xứ này và được chấp thuận tị nạn. Phe bảo thủ Mecca cho người đến Abyssinia đòi, nhưng bị khước từ.

Năm 619, ông Abu Talib, người đã nuôi nấng nhà tiên tri Muhammad từ lúc còn thơ, và là người đã cương quyết bảo vệ ông trước phe bảo thủ qua đời  lúc ông đã hơn 80 tuổi. Vài hôm sau lại đến lượt bà Khadija từ trần. Năm ấy việc truyền đạo gặp nhiều khó khăn vì lúc bấy giờ quyền quản lý đền Al Haram được về tay ông Abu Lahab, một trong hai người chống đối nhất của ông.

Năm 620, một hôm, thánh Muhammad kể lại với tín đồ và công chúng rằng đêm qua thiên thần Gabriel đã rước ông đi Jerusalem. Tại Jerusalem ông đã cầu nguyện nơi ngôi đền mà xưa kia thánh vương Solomon đã dựng lên lần đầu tiên. Sau đó ông cưỡi con thiên mã lên các tầng trời, được gặp các thánh đời trước như tổ Adam, Chúa Giê-Su, thánh Moses và thánh Abraham rồi được vào bái kiến Thiên Chúa . Dịp này, ông đã nhận được lệnh là các tín đồ Islam phải cầu nguyện 5 lần mỗi ngày.

Tín đồ lắm người hoang mang ngờ vực, không biết còn nên tiếp tục tin ở ông hay không. Nhưng những điều lạ mà ông tiên tri cho đoàn khách thương được xác nhận khi về đến Mecca đã làm cho sự cầu nguyện mỗi ngày 5 lần trở thành giáo điều căn bản của Islam. Ngày nay, tại các xứ Islam, mỗi năm ngày 27 tháng 7 âm lịch Ả Rập là ngày nghỉ lễ để kỷ niệm chuyến đi lên thượng giới của ông, gọi là chuyến đi Miraj. Tại các đền chùa, người ta cầu nguyện suốt đêm.

Khoảng năm 620 có vài người Yathrib theo đạo, trở về truyền giảng được thành công lớn. Năm 621, tại đồi Aqaba ở Mecca, thánh Muhammad lần lượt gặp hai phái đoàn người Yathrib. Thành phố Yathrib nằm cách Mecca khoảng 450 km về phía bắc. Tại đây, hai nhóm người này đã thề trung thành với đạo và với ông. Họ cũng sẵn sàng đón tiếp những người bị bức hại ở Mecca và mời ông sang thành phố nơi họ cư trú. Sau hai cuộc hội thề này, nhiều tín đồ Islam ở Mecca dần dần trốn sang Yathrib. Thấy vậy, phe bảo thủ của tộc Qureysh lại nhóm họp và tìm ra một ý kiến mới: mỗi chi của tộc Qureysh sẽ cử ra một thanh niên, đứng canh trước cửa của nhà  Muhammad, chờ ông bước ra thì đồng loạt xông đến hạ sát ông, và như vậy những ai muốn báo thù cho ông sẽ không thể nào hướng sự trả thù đến tất cả các chi trong bộ tộc. Nhà tiên tri Muhammad đã thoát được cạm bẫy này. Ông cùng ông Abu Bakar trốn ra khỏi Mecca, và sau mấy tháng vừa đi vừa ẩn trú, họ đến được Yathrib.

Nhà tiên tri Muhammad tại  Yathrib đã được các tín đồ cũ mới đón tiếp nồng nhiệt và  trở thành lãnh tụ của đa số dân thành phố này, nơi mà thời gian sau được đổi tên là “Thành Phố của vị Sứ Giả”gọi tắt là Medina. Việc đầu tiên ông làm ở đây là khởi công xây một thánh đường đơn sơ và giảng đạo trước công chúng vào buổi trưa thứ sáu hàng tuần. Ông cũng quy định khi cầu nguyện, hãy hướng mặt về Ngôi Đền Thiêng ở Mecca. Những người rời bỏ Mecca ít nhất  186 gia đình và khoảng 1500 tín đồ được người tiếp trợ cho tá túc và giúp kế sinh nhai. Medina lúc bấy giờ có hai bộ lạc Ả Rập và một thiểu số Do Thái với ba bộ lạc chính. Các bộ lạc này vừa trải qua mấy năm chiến tranh với nhau. Nhà tiên tri Muhammad họp các bộ lạc ấy lại, soạn một bản hiến pháp, và định quy chế thành bang cho Medina. Bản hiến pháp này gồm có 47 điều khoản, và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng châu Âu.

Nhà tiên tri Muhammad di cư từ Mecca đến Medina cùng với Abu Bakr năm 622. Năm này về sau (vào năm 638) được Umar lấy làm năm khởi đầu kỷ nguyên của cộng đồng Islam, gọi là kỷ nguyên Hijri (viết tắt là AH, Hijri nghĩa là Cuộc Di Cư), hay chính là năm đầu tiên của lịch Hồi giáo. Sau đó một thời gian, luật nhịn chay tháng Ramadan được ban ra, và được coi là một sự giảm nhẹ so với luật ban xuống thời trước (Do Thái giáo và Cơ Đốc giáo nguyên thủy phải nhịn 40 ngày, thay vì 30 ngày). Luật Zakat (đóng góp an sinh xã hội, lấy từ 2,5% lợi tức đã trừ những chi tiêu căn bản), phân biệt với sự khuyến khích bố thí đã có từ trước, cũng được ban ra khoảng thời gian này.

Phe bảo thủ Mecca bằng mọi cách và thủ đoạn thuyết phục người Medina tuyệt giao với nhà tiên tri Muhammad và các tín đồ đến từ Mecca. Họ cũng liên lạc, bí mật hoặc công khai với các bộ lạc ở Medina và các vùng lân cận, để cấm vận kinh tế hay để có nội ứng cho cuộc tấn công về sau. Tín đồ Islam từ Mecca vẫn tiếp tục rải rác trốn đi Medina. Phe bảo thủ cũng cho người trà trộn trong những người này để hành thích ông, nhưng khi thích khách đến gần thì nhà tiên tri Muhammad  đã nói cho biết là thích khách và người chủ mưu ám sát ông đã nói riêng những lời gì với nhau, khiến thích khách hoảng sợ, thú nhận âm mưu và sau đó đã theo ông nhập đạo.

Năm 624 trận Badr là cuộc chiến đầu tiên giữa cộng đồng Islam ở Medina và phe bảo thủ Mecca xảy ra . Địa điểm ở cách Medina khoảng 100 km về phía nam. Quân Mecca đông hơn 900, quân Islam chỉ được 313 người, nhưng thắng trận. Phe Mecca tử trận khoảng 70 người, trong đó có ông Abu Jahil, một trong hai người chống đối quan trọng nhất. Ông Abu Lahab không đi đánh, nhưng hay tin bại trận thì tức tối thành bệnh mà chết một tuần sau. Đa số tù binh được đối xử tử tế, và được trả tự do đổi lấy tiền chuộc. Ai biết chữ thì phải dạy đọc dạy viết cho hai đứa trẻ ở Medina. Ai nghèo quá thì cũng được trả tự do mà không có điều kiện gì .

Năm 626,Trận núi Uhud xẫy ra khi phe bảo thủ Mecca phái đến 3000 quân thì nhà tiên tri Muhammad cũng có đến 1000 quân để ứng chiến. Trận này quân Mecca thắng, nhưng quân Medina giữ được các vị trí quan trọng, nên người Mecca phải rút về.

Năm 627, Trận Chiến Hào phe bảo thủ Mecca chuẩn bị trở lại với một đoàn quân đông hơn nữa. đoàn quân này khoảng một vạn đến hai vạn tư người tùy tài liệu do có  với một số lớn quân thuê từ các bộ lạc khác. Quân Islam có khoảng ba nghìn người. Nhà tiên tri Muhammad đã cho đào chiến hào để ngăn địch và ông cũng tham gia đào hào như mọi người.  Quân Mecca trong trân chiến hào bị thiệt hại nặng và buộc phải rút lui.

Năm 628, một thủ lĩnh lớn của miền đông theo Islam và cấm bán thực phẩm đi Mecca. Kinh tế của Mecca cũng gần kiệt quệ vì phí tổn tổ chức trận Chiến Hào, nên Mecca bị nạn đói đe dọa. Thánh Muhammad bèn ra lệnh xuất công quỹ giúp đỡ một số người nghèo túng ở Mecca, bán thực phẩm cho Mecca, và để cho người của phe bảo thủ Mecca tự do đi ngang qua vùng kiểm soát của Medina để buôn bán với Syria và Palestine. Sau một số cử chỉ tỏ thiện ý muốn hòa bình với Mecca, thánh Muhammad và 1.400 người hành hương về Mecca và không mang theo vũ khí. Hai bên ký hòa ước. Năm sau, cuộc hành hương của ông và những người đồng hành đến Mecca diễn ra tốt đẹp. Hai bên đều theo đúng điều đã giao kết tại Hudaybiya.

Nhà tiên tri Muhammad khi ở phương xa đến cầm quyền ở thành Yathrib và mang lại nhiều thay đổi năm 621, thì một số kẻ chống đối do bị mất quyền lợi và địa vị đã ngầm liên lạc với phe bảo thủ Mecca để làm nội ứng và tích cực khuyến khích một số bộ lạc xa gần chống lại chính quyền Islam. Trận Mouta chống quân Đông La Mã của Hoàng đế Đông La Mã là Heraclius tập trung lực lượng khá đông gần cửa ải vào bán đảo, nhà tiên tri Muhammad phái một đội quân 3.000 người đi ngăn địch. Quân hai bên giao chiến tại Mouta. Theo At-Tabari, quân Medina bại trận, nhưng cũng cầm cự được 3 ngày. Đông La Mã thấy muốn thắng Ả Rập cũng phải tổn thất nhiều, và họ còn cần giữ lực lượng để phòng Ba Tư phản công, nên không tiến quân vào bán đảo.

Năm 630 có bộ lạc Banu Bakr đồng minh của Mecca đánh nhau với bộ lạc Khuza’ah đồng minh của Medina. Phe bảo thủ Mecca giúp bộ lạc Banu Bakr. Thánh Muhammad coi là họ đã xé bỏ hòa ước Hudaibiya qua hành động đó, nên chuẩn bị hưng binh, nhưng giữ bí mật không nói là sắp đi đâu. Thủ lĩnh phe bảo thủ Mecca là ông Abu Sufyan lo ngại, đích thân đến Medina điều đình, nhưng bị giữ lại không cho về. Nhà tiên tri Muhammad đem 10.000 quân đến Mecca. Phe bảo thủ Mecca hoang mang vì năm trước hai tướng giỏi nhất của họ là Khalid bin Walid và Amr bin Al Ass đã bỏ đi Medina theo Islam. Nay lại không có thủ lĩnh Abu Sufyan quyết định, nên đa số ngồi im không kháng cự. Nhà tiên tri Muhammad đã dẹp yên lưc lượng chống đối ở Mecca và đưa Attab bin Asid, một nhân vật quan trọng của phe bảo thủ, nay theo Islam, được ông đặt làm thống đốc Mecca, và quy định lương bổng theo cơ chế chính quyền Medina. Khi vào xem kho tàng của đền Ka’aba từ nhiều năm được khách thập phương dâng cúng, người ta kiểm kê được hơn 55.000 lạng vàng. Nhà tiên tri Muhammad không chạm đến tiền này. Sau khi ở lại Mecca vài tuần sắp xếp các công việc, ông trở về Medina.

Năm thứ 9 của kỷ nguyên Hijri (tương đương với năm 631) được các sử gia Islam gọi là Năm của Các Phái Đoàn. Năm ấy có rất nhiều phái đoàn đến từ khắp nơi trên bán đảo Ả Rập tuyên bố bộ lạc họ theo Islam và xin nội thuộc vào lãnh thổ Medina. Nhà tiên tri Muhammad dành nhiều thời gian để tổ chức hệ thống hành chính, thuế khóa cho các vùng mới gia nhập. Ông nghiêm cấm gia đình và người trong họ lấy tiền công quỹ chi tiêu riêng. Năm thứ 10 Hijri rất nhiều trường học được lập ra trong khắp lãnh thổ, và đặc biệt là ở Yemen phía nam bán đảo.

Năm 631, Ba Tư ngày càng suy yếu, trong 3 năm ngôi hoàng đế qua tay ít nhất 5 người. Đông La Mã nhận thấy có thể yên tâm làm một cuộc viễn chinh vào Ả Rập. Được quân tế tác cho biết Đông La Mã chuẩn bị binh sĩ, nhà tiên tri Muhammad bèn kêu gọi thánh chiến. Ông quy tụ được một đạo quân đông 30.000 người cho chiến dịch Tabuk. Nhà tiên tri Muhammad và quân sĩ ra đến ải Tabuk, cách Medina khoảng 800 km về phía bắc. Đông La Mã thấy quân đối phương hùng hậu và kỷ luật, ngại nhiều tổn thất, nên không dám tấn công. Thánh Muhammad ở lại Tabuk ít lâu nhận định tình thế, rồi rút quân về.

Năm 632 nhà tiên tri Muhammad về Mecca hành hương lần cuối và có bài giảng ở Arafat. Ngày 9 tháng 12 âm lịch Ả Rập, theo nghi thức hành hương, các tín đồ quy tụ ở đất Arafat, ngoại ô Mecca, để cầu nguyện. Tùy tài liệu, Số tín đồ có mặt nghe giảng đông đả khoảng chín vạn đến mười bốn vạn người . Thánh Muhammad đứng trên một đỉnh núi con là núi Từ Bi (‘Ar-Rahman’). Mỗi khoảng cách xa xa có một người khỏe giọng lặp truyền lại từng câu ông nói để mọi người đều nghe rõ.

Ông nhắc lại những tín điều quan trọng, dặn dò mọi người hãy cố gắng theo lời truyền dạy của kinh Koran, và tuyên bố là sứ mạng truyền đạo Islam của ông nay đã hoàn tất.

Mặc dù là lãnh tụ của một quốc gia rộng lớn, nhưng thánh Muhammad vẫn sống giản dị, ở nhà cửa sơ sài. Ông không đòi hỏi sự phục dịch, tự tay xách nước giếng khi cần tắm rửa. Ông thường nhịn chay, và tránh trong một bữa ăn hai thứ thịt. Trong thời gian bà Khadija còn sống, ông chỉ một vợ một chồng. Sau khi bà Khadija qua đời khoảng một năm thì ông tục huyền với một góa phụ, và sau đó thành hôn với mấy người nữa, đều là góa phụ hay đã ly dị chồng, ngoại trừ cô Aisha con ông Abu Bakar, trong những tình huống đặc biệt.

Đầu năm 11 Hijri, sức khỏe ông kém hẵn. Vài lần thấy mình không đủ sức dẫn lễ cầu nguyện ngày 5 lần ở thánh đường, nên ông nhờ ông Abu Bakar dẫn lễ thay. Ông kiểm lại tài sản, có chút ít đất đai thì ông để lấy huê lợi cho gia đình, còn 7 đồng dinar thì bố thí cho người nghèo. Ông cũng còn thanh gươm trị giá mấy đồng tiền vàng gởi cho người rể út là Ali, và một chiếc áo giáp nằm ở một hiệu cầm đồ người Do Thái ở Medina.

Ông qua đời ngày 12 tháng 3 âm lịch Ả Rập, cũng là sinh nhật của ông. Đã có nhiều người có khuynh hướng thờ phụng ông như một vị thần linh khi ông còn sống, nên ông mới tuyên bố: Hỡi dân chúng ! Nếu ai tôn thờ Muhammad thì hãy biết rằng Muhammad đã chết. Còn ai tôn thờ Allah thì Allah vẫn hằng sống và không bao giờ chết !

Thi hài ông được an táng trong khuôn viên thánh đường gần nhà, nay gọi là thánh đường Al-Nabawy (Thánh Đường Thiên Sứ). Sau thánh đường mở rộng, phần mộ ông nay nằm trong toà đại điện.

ĐỐI THOẠI TRIẾT HỌC

Năm 620, nhà tiên tri Muhammad một hôm đã kể lại rằng đêm qua thiên thần Gabriel đã rước ông đi Jerusalem. Tại Jerusalem ông đã cầu nguyện nơi ngôi đền mà xưa kia thánh vương Solomon đã dựng lên lần đầu tiên. Kế đó, ông duy nhất chỉ nói đến Kinh Koran và Năm trụ cột căn bản của đạo Hồi: 1) Tuyên đọc câu Kalimah Sahadah: Ash Ha Du Allah Ila Ha Il Lallah Wa Ash ha du an na Muhammader rosu Lullah, có nghĩa Tôi công nhận Allah là thượng đế duy nhất và ngoài ra không có ai khác cả và tôi công nhận Muhammad là vị sứ giả cuối cùng của Ngài; 2) Cầu nguyện ngày năm lần: Buổi bình minh, trưa, xế trưa, buổi hoàng hôn và tối. 3) Bố thí. 4) Nhịn chay tháng Ramadan. 5) Hành hương về Mecca.

Vua Solomon và sách khôn ngoan là tinh hoa trí tuệ Do Thái. Vua Solomon (khoảng năm 965-928 trước công nguyên) là vị quân vương xuất sắc của Vương quốc Israel thống nhất, ông là chính trị gia, nhà cầm binh lỗi lạc, đồng thời cũng là con người khôn ngoan và nhà hiền triết. Ông có một số lượng tài sản khổng lồ và được coi là người giàu nhất lịch sử nhân loại. Thời gian ông trị vì là thời gian cực thịnh của vương quốc Israel. Ông áp dụng chính sách đối ngoại kết thân với các nước láng giềng nhằm phát triển về kinh tế và thương nghiệp, về đối nội thì củng cố chế độ phong kiến tập quyền, tăng cường tổ chức và phát triển quân đội, cải cách hành chính. Ông đã cho xây nhiều đền đài và lăng tẩm là những công trình kiến trúc tuyệt mỹ, di sản nghệ thuật quý báu để lại cho đời sau.

LoivangAlbertEinstein

Triết học giữa đời thường. Tôi thích thái độ triết học của nhà bác học Albert Einstein, cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: trân trọng và lắng nghe. Nghiên cứu Hồi giáo và nhà tiên tri Muhammad là chúng ta đang đối thoại với một di sản văn hóa lớn của vùng Mecca, Trung Đôn,g Trung Á và Châu Phi, một tâm điểm của nền chính trị, văn hóa và tâm linh thế giới. Anh Bu Lu Khin là người suy ngẫm và kiến giải rất sâu về đạo Bụt Việt Nam có nêu ra câu hỏi: ” Tại sao Đạo hồi dễ đi vào cực đoan, và khi đã cực đoan thì tàn hại cõi nhân sinh này thật khủng khiếp ?” Tôi Hoàng Kim mời anh ghé đọc chuyên mục ĐỐI THOẠI TRIẾT HỌC tiếp nối chuyên mục HỒI GIÁO và NHÀ TIÊN TRI MUHAMMAD cung cấp ba thông tin sự thật để góp phần lý giải ẩn ngữ trên. Trong mười tôn giáo lớn thế giới, một số học giả đánh giá rằng tuyệt đại đa số các triết thuyết tôn giáo đều ít nhiều còn duyên nợ vấn vít giữa hữu và vô, giữa trí tuệ minh triết và vô minh, giữa vô thần và đức tin cố chấp theo một niềm tin nào đó, mà không cho phép dị biệt. Chỉ có ĐẠO PHẬT LÀ TỰ DO, triết lý vô ngã quay về tự thân, mà không tìm ở nơi khác. Hồi giáo và nhà tiên tri Muhammad, quá khứ và hiện tại đều có những uẩn khúc lịch sử (như trình bày trong bài trên) và môi trường thực tế có thể gieo mầm cực đoan đến mức tàn hại cõi nhân sinh này thật khủng khiếp (như đã thấy và nhiều người nghĩ). Lời vàng của Albert Einstein thật thấm thía: Không thể gìn giữ hòa bình bằng bạo lực. Nó chỉ có thể đạt được bằng sự thông hiểu lẫn nhau. (Peace cannot be kept by force; it can only be achieved by understanding.) https://hoangkimlong.wordpress.com/…/loi-vang-albert…/

Anh Bu Lu Khin viết tiếp: “Bu tui đã đọc đối thoại triết học nhưng mênh mông quá nên chỉ muốn nghe quan điểm của chính Hoàng Kim thôi hihi”. Tôi trả lời: Anh Bu Lu Khin thiên kinh vạn quyển thì em vái anh rồi. Nghiên cứu sâu đạo Bụt thì em vái anh thêm mấy vái nữa, nhưng đối thoại triết học thì mệnh mông quá. Phân biện đúng sai thì tính anh rành mạch đúng ra đúng, sai ra sai chứ không hồ đồ. Huhu… Anh kể tiếp chuyện Phỏng vấn Đường Tăng và kinh Vệ Đà cho vui anh Bu.  Thầy Suong Ngoke khen: Hoàng Kim giỏi quá. Tiếp tục phát huy nhé. Tiếp lời Thầy và anh Bu, em xin có thêm bài viết này:

Binh Minh Yen Tu

TRÚC LÂM THĂM THẲM MỘT GÓC NHÌN.
Hoàng Kim

Kinh Dịch xem chơi,
365 ngày
mê mãi.
Sách Nhàn đọc giấu,
câu có câu không.
Trước đèn bảy trăm năm,
Yên Tử
Trúc Lâm
thăm thẳm một góc nhìn.

1
“Câu hữu câu vô,
Quay bên phải, ngoái bên trái.
Thuyết lý ầm ĩ,
Ồn ào tranh cãi.
Câu hữu câu vô,
Khiến người rầu rĩ.
Cắt đứt mọi duyên quấn quýt như dây leo,
Thì hữu và vô đều hoàn toàn thông suốt”.
2.
Kinh Dịch xem chơi
Yêu TÍNH SÁNG yêu hơn châu báu>
Sách Nhàn đọc giấu
Trọng LÒNG NGƯỜI trọng nữa hoàng kim”
3.
“Ở đời vui đạo thả tùy duyên
Đói cứ ăn đi , mệt ngủ liền
Khoba1u trong nhà thôi tìm kiếm
Vô tâm đối cảnh hỏi chi thiền”

(Trúc Lâm Trần Nhân Tông)

Hứng mật đời
thành thơ
Việc nghìn năm hữu lý
Trạng Trình

Đến trúc lâm
Đạt năm việc lớn hoàng thành
Đất trời xanh
Yên Tử …

Thơ về Mẹ
Hoàng Long

Thuở cỏn con, con nằm bên mẹ
Đầu rúc vào lòng, con ấm lắm mẹ ơi
Con thương mẹ đêm ngày tần tảo
Thức đêm dài mẹ may áo cho con

Gió đồng nội trưa hè nắng nóng
Mẹ ngồi khom nhổ cỏ một mình
Mưa đêm lạnh mẹ ngồi lo lắng
Lo cho con yên giấc cơn đau

Con vui sướng khi được ôm lưng mẹ
Mỗi lần mẹ về với chị em con
Đem cho con muôn điều hạnh phúc
Mẹ vẫn luôn nghĩ về chúng con

Thuở thiếu thời con không nghe lời mẹ
Để mỗi lần mẹ đánh con đau
Tuổi nhỏ bồng bột chưa biết nghĩ
Giờ lớn khôn con cố học hành

Con sẽ bay cao bay xa mãi
Tìm đến ánh sáng của tương lai
Tìm ra người bạn con mong ước
Giữ mãi hình mẹ ở trong con

Đảm việc nhà lo toan việc nước
Xây gia đình giữ hạnh phúc cho con
Con muốn tìm, muốn gặp người bạn đó
Người bạn như mẹ, mẹ của con

Xa cha mẹ, chúng con lên thành phố
Nhớ tuổi thơ mẹ nhắc con học hành
Mẹ làm lụng chúng con mong giúp mẹ
Nhưng mẹ chỉ cười “học đi con”

Mẹ đã cho con nhiều hạnh phúc
Dạy cho chúng con biết điều hay
Mẹ cũng chăm con từng giấc ngủ
Mỗi lần con về bên mẹ, mẹ ơi!

Con muốn ở bên mẹ như thuở bé
Cảm nhận tình thương mẹ dành cho con
Thoải mái từng giờ trong hạnh phúc
Bên mẹ, gia đình, giấc ngủ ngon.

Read more: https://dembuon.vn/threads/tho-ve-me-hoang-long.1154.html#ixzz5378LcAiy

Nghĩ về Cha
Hoàng Long

Nguyen Long

Thơ cho con

Hoàng Kim

Ước muốn cuộc đời cha
Có con đi nối con đường sự nghiệp
Con đứng trên vai cha
Vươn tới những chân trời mơ ước

Nguyen Long 1

Thương yêu tặng hai con
Tố Nguyên Hoàng Long

Con!
Thân thương một tiếng gọi
Hạnh phúc bật nên lời
Lòng Cha bồi hồi
Sung sướng gọi:
Con!

Cha đi công tác xa
Mong đợi Con, từng ngày chờ thư Mẹ
Thư đến!
Con ra đời!
Cha run lên vì mừng
Thao thức suốt đêm
Không ngủ

Bạn bè vây quanh Cha
Trân trọng niềm vui thiêng liêng
Nâng cốc chúc Cha
Hạnh phúc!

Tiếng Con ngọt ngào môi Cha
Dào dạt lòng Cha vỗ mãi
Có Con
Nối cuộc đời Cha
Gấp đôi
Có Con
Đan giữa cuộc đời
Hạnh phúc

Con là sợi dây máu thịt
Yêu thương gắn Mẹ và Cha
Có Con
Cha thấy cuộc đời ý nghĩa hơn
Cuộc sống – Tình yêu – Sự nghiệp
Hai Con là hai con mắt
Cửa sổ tâm hồn Cha
Dẫu đời Cha nhiều chông gai
Trái chín cuộc đời vẫn ngọt
Con là giấc mơ trong trẻo
Là ban mai tươi vui
Là viên ngọc trao đời
Là hương hoa hạnh phúc

Ước vọng cuộc đời Cha
Có Con đi nối con đường sự nghiệp
Con đứng trên vai Cha
Vươn tới những chân trời mơ ước

Hai Con
Hai viên ngọc
Chị con và Con
Mẹ con dịu hiền hơn
Mẹ con đảm đang hơn
Cha bớt vụng về mỗi việc làm nho nhỏ
Con trở thành ngọn lửa
Sưởi ấm lòng Mẹ Cha
Khi mỗi ngày khó khăn
Trong trẻo tiếng Con
Mẹ Cha hết mệt
Con là niềm vui lớn nhất
“Con hơn Cha nhà có phúc”
Cha mong dồn cho Con.

Lớn lên
Con sẽ hỏi Cha
Sao Cha đặt tên Con là Hoàng Long?
Con ơi!
Tên Con là khúc hát yêu thương
Của lòng Cha Mẹ
Cha Mẹ thương nhau
Vì qúy trọng những điều ân nghĩa
Sự nghiệp và tình yêu
Những ngày gian khổ
Cùng nghiên cứu củ sắn, củ khoai
Con là giống khoai Hoàng Long
Tỏa rộng nhiều vùng đất nước
Dẫu không là trái thơm qủa ngọt
Nhưng là niềm vui người nghèo
Để Cha nhớ về quê hương
Khoai sắn bốn mùa vất vã
Để Cha nhớ những ngày gian khổ
Năm năm
Cơm ngày một bữa
Khoai sắn không phụ lòng
Để Cha nhớ về
Lon khoai nghĩa tình
Nắm khoai bè bạn
Gom góp giúp Cha ăn học
Khi vào đời
Cha gặp Mẹ con
Cho nên:
Cha muốn Con
Trước khi làm những điều lớn lao
Hãy biết làm củ khoai, củ sắn
Hãy hướng tới những người lao động
Nhớ quê nghèo cắt rốn, chôn rau

Lớn lên
Con sẽ hỏi cha
Sao Cha đặt tên con Hoàng Long?
Long là rồng
Con là đậu rồng
Là công trình thứ hai Mẹ Cha nghiên cứu
Mẹ con chọn hạt
Cha gieo nên con
Vất vả gian nan
Hứa hẹn một mùa gặt hái
Con là tháng ngày mong đợi
Là niềm vui đóng góp cho đời
Từ hạt đậu củ khoai
Cha Mẹ trao Con sự nghiệp
Cha nhớ câu đối trăm năm
Về một gia đình hạnh phúc
“Sáng khoai, trưa khoai, tối khoai
ngày khoai ba bữa
Cha đỗ, mẹ đỗ, con đỗ
đều đỗ cả nhà”
Chị con và Con
Là mong ước
Của Mẹ và Cha

Lớn lên
Con sẽ hỏi Cha
Sao Cha đặt tên con Hoàng Long?
Long là rồng
Nghĩa mẹ tạo nền
Công cha xây móng
Trước mắt con là sông dài, biển rộng
Ước mong con bay lên
Con hãy đi đến cùng
Mục đích của con
Làm được những điều cao cả
Hãy cố gắng không ngừng
Kiên gan
Bền chí
Ước mơ và hiện thực
Hôm nay và mai sau
Nghị lực là thước đo cuộc đời
Hai chữ đầu tiên Con học làm người
Phải học hai điều NHÂN NGHĨA

Cha mong Con lớn lên
Ít nếm trãi khó khăn, vất vả
Nhưng đừng bao giờ quên
Những ngày đói khổ
Thời thơ ấu của Cha
Mồng Ba tháng Giêng ngày mất của Bà
Hai mươi tháng Mười ngày ông Mỹ giết
Ngày mà cửa nhà tan nát
Đói nghèo Bác dắt dìu Cha
Tuổi thơ thì bắt ốc, mò cua
Lớn một chút trồng khoai, dạy học
Qua danh lợi hiểu vinh, hiểu nhục
Trãi đói nghèo biết nghĩa, biết ân
Phan Thiết là nơi Mẹ đã sinh Con
Ông Bà ngoại nuôi cho Con khôn lớn
Tuổi thơ của Con lớn trong yên ấm
Tao nôi êm ả, thanh bình
Ru cho Con “uống nước nhớ nguồn”
Khi con lớn đừng quên điều HIẾU THẢO

Cha say viết về Con
Kể về Con
Thơ cho Con
Cô bác vây quanh Cha
Gật gù
Thông cảm

Thơ chắp mối
Từng vần,
Từng mảng
Câu thơ chưa chỉnh lời
Nhưng tứ thơ
Dồn dập
Bối hồi
Hạnh phúc lớn
Trong lòng Cha
Ngân mãi

Praha
HK

ToNguyen

Con là nguồn hạnh phúc đầu tiên

Hoàng Kim

Tặng con Tố Nguyên

Mẹ đi về quê ngoại để sinh con
Trời tháng Sáu xanh một màu thương nhớ
Ba mong con mấy đêm liền không ngủ
Ngày hai mươi con khóc chào đời.

Con mang về Ba Mẹ một nguồn vui
Hạnh phúc trăm năm, niềm ao ước lớn
Mong mỏi chứa chan, tình yêu trọn vẹn
Bao yêu thương âu yếm rộn trong lòng.

Ba vui mừng chọn đặt tên con
Cặp tên đẹp giữa muôn ngàn từ ngữ
Cái tên vì con mà thành rực rỡ
Con hãy làm tên đẹp hóa bài ca.

Con Tố Nguyên của Mẹ và Ba
Hoàng Tố Nguyên ngân nga niềm hạnh phúc
Mẹ cùng con
Thủy Nguyên thành chữ kép
Con là nguồn hạnh phúc đầu tiên

Nguyen Loc 1a
Nguyen Loc 9

Hoàng Bá Lộc và Hoàng Tố Nguyên

Video nhạc tuyển

Chào ngày mới
Bài ca thời gian

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook, Kim on Twitter