Chào ngày mới 21 tháng 2


CNM365. Chào ngày mới 21 tháng 2. Solokhop sông Đông êm đềm Ngày 21 tháng 2 năm 1984 là ngày mất của  Mikhail Aleksandrovich Sholokhov, (ông sinh năm 1905). nhà văn Liên Xô, người thắng giải Nobel Văn học năm 1965 Tác phẩm Sông Đông êm đềm của ông là kiệt tác của nhân loại, và được Jorge Amado cho rằng có thể sánh với Chiến tranh và hòa bình của Lev Tolstoy. Ngày 21 tháng 2 năm 1848 Tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản của Karl Marx và Friedrich Engels lần đầu tiên được xuất bản tại Luân Đôn, Anh Quốc. Cuốn sách được coi là một trong các văn kiện chính trị có ảnh hưởng lớn nhất của thế giới. Bài chọn lọc ngày 21 tháng 2: Solokhop sông Đông êm đềm; Sắn Việt Nam hôm nay và ngày mai, Cassava and Viet Nam: Now and Then; xem tiếp… https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-21-thang-2/

SẮN VIỆT NAM HÔM NAY VÀ NGÀY MAI
Hoàng Kim

Cách mạng sắn ở Việt Nam thành tựu và bài học là những kinh nghiệm quý giá.
Ở Việt Nam, sắn là cây lương thực quan trọng thứ ba sau lúa và ngô. Sắn Việt Nam ngày nay là một ngành xuất khẩu đầy triển vọng với diện tích hơn nửa triệu ha và giá trị xuất khẩu hơn một tỷ đô la Mỹ mỗi năm. Cuộc cách mạng sắn ở Việt Nam (Cassava revolution in Vietnam), với sự tham gia của hàng triệu nông dân trồng sắn, đã đạt được sự chuyển đổi lớn về năng suất, sản lượng, giá trị sử dụng và hiệu quả kinh tế. , thu nhập của cuộc sống, sinh kế và việc làm cho người dân trên toàn quốc. Sắn Việt Nam hôm nay và ngày mai tiếp tục một cuộc cách mạng mới. Cuộc chiến chống lại bệnh khảm lá sắn (CMD) và bệnh chồi rồng (CWBD) với chương trình sinh kế và giá trị sắn của ACIAR. “Thiết lập các giải pháp bền vững cho cây sắn ở Đông Nam Á” là sự tiếp nối và hỗ trợ đặc biệt cấp bách, cần thiết, hiệu quả, có tính khả thi cao để bảo tồn và phát triển Cách mạng sắn ở Việt Nam . (xem https://hoangkimlong.wordpress.com/carget/san-viet-nam-hom-nay-va-ngay-mai/

Chương trình Sắn Việt Nam (Viet Nam Cassava Program VNCP) là một địa chỉ xanh của gia đình sắn. Đó là một kinh nghiệm quý giá về sự liên kết chặt chẽ giữa nông dân với ‘bạn nhà nông’, bao gồm các chuyên gia quốc tế với gia đình sắn Việt Nam cùng làm việc chặt chẽ với nông dân xây dựng mô hình điểm trình diễn, là chìa khóa của sự bảo tồn và phát triển sắn bền vững. Chúng tôi đã cùng nhau đánh giá giống sắn mới và kỹ thuật thâm canh sắn thích hợp trên ruộng nông dân. Sư hợp tác chặt chẽ đã xâu chuỗi sự thành công bền vững của Cách mạng sắn ở Việt Nam. https://youtu.be/81aJ5-cGp28

VIETNAM ACIAR CIAT AND IDENTITY
(Hoang Kim review).

Cassava revolution in Vietnam achievements and lessons are valuable experiences. In Vietnam cassava is the third most important food crop after rice and corn. Vietnam cassava today is a promising export industry with an area of over half a million hectares and an export value of over one billion US dollars per year. The cassava revolution in Vietnam (The cassava revolution in Vietnam), with the participation of millions of cassava farmers, has achieved great transformation in productivity, output, use value and economic efficiency. , income of living, livelihoods and jobs for people nationwide. Vietnam cassava today and tomorrow continue a new revolution. The fight against the cassava leaf mosaic disease (CMD) and dragon bud disease cassava witches Broom Disease   (CWBD) with ACIAR’s cassava livelihood and value program. ‘Establishing sustainable solutions for cassava in mainland Southeast Asia’ is a continuation and support especially urgent, necessary, effective, with high feasibility for the preservation and development of Cassava Revolution in Vietnam. (see https://hoangkimlong.wordpress.com/category/san-viet-nam-hom-nay-va-ngay-mai/

Bạn tốt khó tìm, khó bỏ lại, và không thể quên lãng (Good friends are hard to find, harder to leave, and impossible to forget). Sắn Việt Nam là chuyện nhiều năm còn kể.

ACIAR CIAT VÀ SẮN VIỆT NAM

Chương trình sinh kế và chuỗi giá trị sắn của ACIAR. ‘Thiết lập giải pháp bền vững cho bệnh sắn ở vùng Đông Nam Á’ là sự tiếp nối và hổ trợ đặc biệt cấp bách, cần thiết, hiệu quả, với tính khả thi cao cho sự bảo tồn và phát triển Cách mạng sắn ở Việt Nam. Tiến sĩ Jonathan Newby khuyến nghị giữa kỳ của AGB / 2012/078 và ASEM / 2014/053 vào tháng 1 năm 2018 về các giải pháp can thiệp khẩn cấp ngăn chặn dịch bệnh khảm lá sắn (CMD) và dịch bệnh chổi rồng (CWBD) : 1). nhân rộng các vật liệu trồng sạch bệnh và tích hợp với giám sát sâu bệnh; 2). hỗ trợ phát triển hệ thống cung cấp nguyên liệu trồng sạch bệnh; 3). phát triển các xét nghiệm chẩn đoán nhanh để cải thiện sâu bệnh và theo dõi bệnh; và 4). giới thiệu các dòng giống kháng bệnh cải tiến vào các chương trình nhân giống quốc gia. Đề xuất này tích hợp các khuyến nghị và hoạt động này vào dự án AGB/2018/172 hiện tại tập trung vào tìm hiểu thị trường, chuỗi giá trị và chính sách cho các công nghệ mở rộng nhằm cải thiện tính bền vững và lợi nhuận của ngành sắn. (Thông tin tại ACIAR Cassava Value Chain and Livelihood Program https://www.facebook.com/groups/1462662477369426/)

Chọn tạo và phát triển giống sắn năng suất cao có khả năng kháng bệnh CMD, thiết lập thí nghiệm thực địa cho mô hình sắn Việt Nam tại các vùng sinh thái chính trồng sắn là khẩn cấp, lâu dài và khó khăn nhất trong bốn mục tiêu nghiên cứu. Sáu yếu tố chính (6 M) của một dự án thành công, bao gồm: “Man Power con người” “Materials Vật liệu” “Market Thị trường” “Management Quản lý” “Method Phương pháp” và “Money Tiền”. Trong 6 yếu tố này, Man Power Con người” và “Material Vật liệu” là hai yếu tố quan trọng nhất. Sự tích hợp các dòng giống sắn kháng bệnh cải tiến vào các giống sắn năng suất cao nhất và ít nhiễm bệnh CMD của ‘sắn việt nam’ là sự tiếp nối những thành tựu và bài học trước đây .


Sắn Việt Nam hôm nay và ngày mai. Tiến sĩ Claude M. Fauquest là một trong các người bạn tốt của nông dân trồng sắn châu Á. Ý kiến tư vấn đặc biệt quan trọng của ông đối với Sắn Việt Nam tại đây Hình ảnh ghi nhận chuyến đi của tiến sĩ Claude M. Fauquest, Giám đốc Quan hệ đối tác Sắn toàn cầu Thế kỷ 21 (Director of the Global Cassava Partnership for the 21st Century – GCP21), CIAT, Apdo. Aereo 6713, Cali, Colombia, thăm nhà máy chế biến sắn Đăk Lăk, đánh giá hiện trạng canh tác sắn tại Đăk Lăk và Phú Yên tháng 8/2017.

Bạn tốt khó tìm, khó bỏ lại, và không thể quên lãng (Good friends are hard to find, harder to leave, and impossible to forget). Sắn Việt Nam là chuyện nhiều năm còn kể.
Câu chuyện của họ là câu chuyện đời thực của gia đình sắn Việt Nam, ACIAR, CIAT và bản sắc; Xem tiếp (See more) https://hoangkimlong.wordpress.com/category/san-viet-nam-hom-nay-va-ngay-mai/

Sắn Việt Nam câu chuyện thành công, thành tựu bài học cần bảo tồn và phát triển. Tiến sĩ Reinhardt Howeler là người biên soạn rất nhiều sách sắn chuyên khảo với tác phẩm mới “Quản lý bền vững sắn châu Á từ nghiên cứu đến thực hành” Howeler R.H. and T. M. Aye 2015 (Nguyên tác: Sustainable Management of Cassava in Asia – From Research to Practice, CIAT, Cali,  Colombia, 147 p). Người dịch: Hoàng Kim, Hoàng Long, Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Bạch Mai 2015; Quản lý bền vững sắn châu Á : Từ nghiên cứu đến thực hành. Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Nhà Xuất bản Thông tấn, Hà Nội, Việt Nam, 148 trang. Tác phẩm này được đánh giá cao “Thay cho những lời khuyên tốt nhất hiện có về kỹ thuật canh tác sắn sau hơn 50 năm kinh nghiệm thực tiễn kết hợp nghiên cứu và làm việc với nông dân để thấu hiểu những thách thức thực tế cuộc sống và cơ hội mà họ phải đối mặt” (The work summarized in this manual represents the best available advice from more than 50 years of combined research experience and work with farmers to understand their real-life challenges and opportunities. – Clair Hershey, CIAT Cassava program). Reinhardt Howeler là chuyên gia sắn nổi tiếng thế giới, người bạn lớn của nông dân trồng sắn châu Á có 23 năm kinh nghiệm làm việc vời nông dân châu Á và Việt Nam.  Ông đã được chính phủ Việt Nam trao tăng huy chương hữu nghị vì sự nghiệp phát triển nông nghiệp Việt Nam năm 1997 đồng thời với tiến sĩ Kazuo Kawano.

Cassava and Vietnam: Now and Then” (Sắn và Việt Nam: bây giờ và sau đó) là chủ đề của bộ phim cùng tên của hãng phim NHK Nhật Bản công chiếu năm 2009. Kazuo Kawano là người bạn lớn của nông dân trồng sắn Thế giới, châu Á và sắn Việt Nam, người đã đóng góp nhiều công sức với thực tiễn sản xuất sắn Việt Nam, biên soạn 11 sách, 157 bài báo khoa học và đoạt nhiều giải thưởng lớn quốc tế, trong đó có huy chương hữu nghị năm 1997 của chính phủ Việt Nam. Ông đã đúc kết một phóng sự ảnh . Gíao sư Kazuo Kawano là chuyên gia chọn giống sắn rất nổi tiếng. Hình ảnh trích dẫn dưới đây về giống sắn KM419 phổ biến trong sản xuất ở Tây Ninh năm 2009 và giống sắn tốt khảo nghiệm năm đó trên đồng ruộng. Câu chuyện sắn của giáo sư Kazuo Kawano là góc nhìn về sự bảo tồn và phát triển.sắn Việt Nam. 

Kazuo Kawano

KK and Kim in Tay Ninh at KM 419 field in Dec 2009. KM-94 is still the best for mono-culture cassava in Tay Ninh, Mr. Thanh agrees. But he is planting KM98-5 (tai xanh) and KM419 (tai do) extensively in his field, probably because being a new variety, KM98-5 and KM419 still offers good opportunities for planting stake sale. Kazuo Kawano và Hoàng Kim trên cánh đồng KM419 tháng 12 năm 2009. KM-94 vẫn là tốt nhất cho sắn trồng thuần ở Tây Ninh, ông Thanh đồng ý. Nhưng anh ấy đang trồng rộng rãi KM98-5 (tai xanh) và KM419 (tai do) trong cánh đồng của mình, có lẽ vì là giống mới, KM98-5 và KM419 vẫn mang lại cơ hội tốt để trồng bán cây giống. Giáo sư Kazuo Kawano kể lại.

Bạn tốt khó tìm, khó bỏ lại, và không thể quên lãng (Good friends are hard to find, harder to leave, and impossible to forget). Sắn Việt Nam là chuyện nhiều năm còn kể.
Câu chuyện của họ là câu chuyện đời thực của gia đình sắn Việt Nam.
Xem tiếp (See more) https://hoangkimlong.wordpress.com/category/san-viet-nam-hom-nay-va-ngay-mai/

SỰ KIỆN LÀM VIỆC VỚI NÔNG DÂN giáo sư Kazuo Kawano đã kể qua phóng sự ảnh “Cassava and Vietnam: Now and Then“: “Một điều nổi bật trong sự hợp tác của chúng tôi với các đồng nghiệp Việt Nam là sự sẵn sàng cấp bách của họ để làm việc chặt chẽ với nông dân. Điều này trái ngược với trải nghiệm Mỹ Latinh của tôi. Cánh đồng sắn gần Hà Nội, vào khoảng năm 1995. Loan, một người vợ nông trại, KK (Kazuo Kawano) và Hộ. Nghe từ nông dân ở Hà Tây năm 1996. KK và ông Chiến, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Cây Có Củ, VASI. Loan điều hành một cuộc họp sắn ở Hà Tây vào năm 1996. Ngoan chủ trì một cuộc họp thôn ở Phổ Yên năm 1996. Thu hoạch thử nghiệm sắn trên thực địa ở Bắc Thái năm 1996; một hỗn hợp kỳ lạ của Ngoan (có lẽ đã là Giáo sư), sinh viên, nông dân,một bà già và một em bé. Đoàn tụ tại nhà ông Kiên ở Phổ Yên 13 năm sau đó”

READINESS FOR WORKING WITH FARMERS. Kazuo Kawano.One thing outstanding in our collaboration with the Vietnamese colleagues is their acute readiness for working closely with farmers. This is in good contrast to my Latin American experience. Cassava field near Hanoi, circa 1995. Loan, a farm wife, KK and Ho.Hearing from farmers in Hatay in 1996. KK and Mr. Chien, Deputy Director of Root Crop Research Center, VASI.
Loan leading a town meeting in Hatay in 1996. Ngoan presiding a village meeting in Pho Yen in 1996. Harvest of a field trial in Bac Thai in 1996; a curious mixture of Ngoan (Professor to be), students, farmers, an old woman and a baby. Reunion at Mr. Kien’s house in Pho Yen 13 years later.. In Cassava Now and Then by Kazuo Kawano)

Cassava and Vietnam: Now and Then

(キャッサバとベトナム-今昔物語)

Kazuo Kawano

I visited Vietnam for a week this last December,  where a team of NHK video-taped for a documentary of the changes caused by the new cassava varieties I introduced 20 years ago in the lives of small framers, the enhanced activities of industrial and business communities and the development of research organizations. It was a most interesting, amusing and rewarding visit where I reunited with a multitude of former small farmers who are more than willing to show me how their living had been improved because of KM-60 and KM-94 (both CIAT-induced varieties) , many “entrepreneurs” who started from a village starch factory, and several former colleagues who became Professor, Vice Rector of Universities, Directors of research centers and so on. Vietnam can be regarded as a country who accomplished the most visible and visual progress most rapidly and efficiently utilizing CIAT-induced technology.

For my own record as well as for responding to the requests from my Vietnamese colleagues, I decided to record the changes and progress that had taken place in Vietnam in general and in cassava varietal development in particular in a series of picture stories. This is the first of long stories that would follow.

昨年の12月に、NHKの国際ドキュメンタリー番組の収録でベトナムを10年ぶりに再訪する機会があった。それは私が中心となって開発したキャッサバの多収性・高澱粉性の新品種群を20年 前に導入した事が引き起こした人々の生活向上の様子を、南から北へと訪ね歩く旅であった。今回の旅では、小農から出発して家を建て中農、富農となった多数 の人々、村の澱粉加工所の親父だったのが大工場のオーナーや実業家となっている幾人もの成功者、そして殆んど名前だけの研究員であったのが今や試験場長、 大学教授、副学長になっている昔の仲間達を訪ね歩いたが、その殆んどの人が私との再会を喜んでくれて、口々に新しいキャッサバ品種のおかげで自分達の生活 と境遇が革命的に良くなったと話してくれた。

私自身の記録のため、それにベトナムの昔の仲間からのリクエストに答える目的もあって、この20年間のベトナムの発展とキャッサバ生産の進展を絵物語風に書き留めることにした。これはその長い物語の始まりの章である。

Xem tiếp (See more) https://hoangkimlong.wordpress.com/category/san-viet-nam-hom-nay-va-ngay-mai/

Bài liên quan: Châu Mỹ chuyện không quên
Cassava in Vietnam: a successful story 
30 Years of ACIAR
CIAT is 50: Building a sustainable food future since 1967

SOLOKHOV SÔNG ĐÔNG ÊM ĐỀM

Hoàng Kim

Trong ký ức tuổi thơ của tôi có dòng sông quê hương và Sholokhov sông Đông êm đềm thao thiết chảy. Sông Đông êm đềm là sử thi về số phận của một dân tộc, một vùng đất như lời trong một bài hát Cossack cổ: ” Mảnh đất thân thương, mảnh đất vinh quang của chúng ta được gieo những cái đầu Cossack. Điểm trang sông Đông êm đềm của chúng ta có những nàng gái góa trẻ măng. Hoa nở trên sông Đông êm đềm, cha của chúng ta là bầy trẻ thơ côi cút. Sông Đông êm đềm đầy nước mắt những người mẹ, người cha.”. Tôi nhớ về  sông Đông êm đềm  là nhớ một cái kết, với đại ý“Năm tháng đi qua. Những cuộc chiến tranh đã thôi tàn phá. Những cuộc cách mạng đã thôi gào thét.. Chỉ đọng lại không phôi pha. Tấm lòng em nhân hậu, dịu dàng. Và tràn đầy yêu thương“. Đời người, ai cũng có một dòng sông quê hương. Tôi cũng có Linh Giang dòng sông quê hương của tôi và những cuốn sách tuổi thơ được đọc. Tôi đã noi theo Linh Giang dòng sông quê hương và noi theo trang sách tuổi thơ Sholokhov sông Đông êm đềm để đi như một dòng sông . Ngày 24 tháng 5 là kỷ niệm ngày sinh và 21 tháng 2 là kỷ niệm ngày mất của đại thi hào Nga Mikhail Aleksandrovich Sholokhov tác giả bộ sử thi vĩ đại Sông Đông êm đềm, tôi cùng các bạn, chúng ta hãy cùng nhau soát lại Wikipedia – Tiếng Việt về đại cương tác giả và tác phẩm, đọc lại và suy ngẫm. Phần dưới đây chỉ là một phiên bản Wikipedia chỉnh sửa  theo nhận thức với góc nhìn hẹp của riêng tôi.

Sông Đông êm đềm tóm tắt tác phẩm

Sông Đông êm đềm (tiếng Nga: Тихий Дон, Tikhy Don) là bộ tiểu thuyết vĩ đại nhất của nhà văn Nga Mikhail Aleksandrovich Sholokhov. Bộ tiểu thuyết này đã được Sholokhov viết ròng rã trong gần 14 năm với 4 tập, nội dung nói về cuộc sống của những người Cozak . Đây là một trong những tiểu thuyết phổ biến nhất của Văn học Xô viết , đã đem lại cho tác giả của nó Giải Nobel Văn học năm 1965, và được Jorge Amado cho rằng có thể sánh với Chiến tranh và hòa bình của Lev Tolstoy.

Sông Đông êm đềm miêu tả giai đoạn lịch sử mười năm (1912 – 1922) của  Chiến tranh thế giới thứ nhất tại mặt trận miền Tây nước Nga  Ukraina, Ba Lan, România cho đến Sankt-Peterburg, Moskva nhưng chủ yếu diễn ra ở hai bờ sông Đông và tập trung vào một làng Cossack ven sông.

Trong phần đầu của tiểu thuyết, Sholokhov đã quay lại quá khứ của gia đình Melekhov từ thời người ông nội với cô vợ người Thổ Nhĩ Kì bị người dân Cossack xa lánh và dị nghị do lối sống kì lạ. Gregori Melekhov là con thứ hai trong một gia đình ông nội là người Cossack, bà nội là người Thổ Nhĩ Kỳ.

Gregori đem lòng yêu Aksinia, vợ một người hàng xóm và nhằm ngăn cản mối quan hệ này, gia đình Melekhov cưới Natalia cho chàng. Gregori và Aksinia muốn được tiếp tục sống bên nhau nên đã cùng bỏ nhà đi làm thuê. Tủi nhục, phẫn uất, Natalia đã quyên sinh nhưng không chết. Gregori phải đi lính khi đến tuổi và cùng với những chàng trai Cossack khác, trong đó có người anh Pyotr nhập ngũ trước đó chiến đấu chống lại quân Áo, Đức trong những năm đầu của Thế chiến thứ nhất. Tham gia chiến tranh, do cứu sống một Trung tá bị thương, chàng được tặng Huân chương thánh Gorge đồng thời cảm nhận thấy tính chất tàn bạo, vô nghĩa của chiến tranh và luôn day dứt về điều đó.

Ở quê nhà, Aksinia sống trong cơ cực, cô đơn, tuyệt vọng, đứa con đầu lòng cũng không sống nổi vì bệnh tật, nàng đã chấp nhận quan hệ với Evgeni, con trai của chủ nhà. Bị thương và về phép, biết được chuyện của Aksinia, Gregori quay trở về sống với Natalia và sau khi chàng trở lại quân ngũ ít lâu thì Natalia sinh đôi một trai, một gái. Cách mạng tháng Mười nổ ra, trong những ngày hỗn loạn ấy, Gregori bị xô đẩy hết từ “bên Đỏ” rồi lại sang “bên Trắng”. Mặc dù chán ghét và không ý thức được mình chém giết để làm gì nhưng vó ngựa Cossack của Gregori vẫn phiêu bạt khắp các chiến trường, lao vào những trận đánh đẫm máu. Bất chấp những gì đã xảy ra, Gregori và Aksinia vẫn yêu nhau và họ đã nối lại quan hệ. Tuyệt vọng, Natalia nhờ một bà lang băm bỏ đi giọt máu của mình và Gregori mà nàng đang mang trong người rồi chết do mất máu, trước khi chết Natalia đã tha thứ cho Gregori. Không lâu sau, con gái của Gregori và Natalia cũng chết do thiếu thốn, bệnh tật.

Sau khi giải ngũ về quê, đã chán ghét cảnh chém giết trên chiến trường chàng chỉ mong có một cuộc sống bình yên cùng Aksinia. Bất chấp điều đó và mặc dù giữa em gái Gregori với Miska Kosevoi, một người bạn của chàng đã trở thành đại diện cho chính quyền Xô viết trong vùng yêu nhau tha thiết, chàng luôn sống trong sự đe dọa phải trả giá cho những gì đã gây ra khi chống lại chính quyền mới. Lo sợ trước nguy cơ bị bắt giam và xét xử, Gregori bỏ trốn theo quân thổ phỉ của Fomin. Chính quyền Xô viết ngày càng được củng cố và toán phỉ của Fomin không còn đất dung thân, Gregori đem Aksinia bỏ trốn đi một nơi xa mong có được cuộc sống yên ổn nhưng trên đường trốn chạy bị phát hiện, truy đuổi, Aksinia trúng đạn chết trên tay Gregori. Cùng trong lúc này, Gregori đã đem tất cả vũ khí thả xuống sông Đông như một hành động giã từ vũ khí.

Trở về vùng sông Đông, anh gặp lại con trai. Anh được biết bố mẹ đã mất, anh trai (lính bảo hoàng) bị em rể (hồng quân) giết. Tất cả những gì còn lại của Gregori trên đời là đứa con trai duy nhất. Hình ảnh cuối cùng của bộ tiểu thuyết là cảnh Gregori bồng đứa con về nhà.

Mikhail Sholokhov và quá trình sáng tác

Mikhail Sholokhov sinh năm 1905 trong một gia đình người Cozak ở Kamenskaya thuộc Đế quốc Nga. Bố của ông là một nông dân Cozak, còn mẹ ông xuất thân từ một gia đình nông dân người Ukraina đã từng có một đời chồng. Sholokhov đi học tại các trường phổ thông ở Kargin, Moskva, Boguchar và Veshenskaya; đến năm 1918 thì tham gia Hồng quân chiến đấu trong Nội chiến Nga. Khi đó Sholokhov mới 13 tuổi.

Sau khi tham gia cuộc Nội chiến ở phía Hồng quân năm 1920, Sholokhov trở về quê, một làng Cossack thuộc trấn Veshenskaya vùng sông Đông (nay là tỉnh Rostovsky, Liên bang Nga) năm 1924. Ông bắt đầu viết Sông Đông êm đềm từ năm 1925 và lần lượt phát hành:

  • Phần một, (1928), viết về giai đoạn 1912 đến 1916: nhân vật chính Gregori Melekhov mới bắt đầu lớn lên, gia nhập quân ngũ và tham gia chiến tranh thế giới lần thứ nhất.
  • Phần hai (1929), viết về giai đoạn 1916 đến đầu 1918, giai đoạn cuộc Cách mạng tháng Mười nổ ra, hoạt động của đội quân Bạch vệ của tướng Cornhilov, khởi đầu cuộc Nội chiến Nga.
  • Phần ba (1933), viết về giai đoạn đầu 1918 đến tháng 5 năm 1919, giai đoạn cuộc nội chiến diễn ra khốc liệt.
  • Phần bốn (1940), viết về giai đoạn từ tháng 5 năm 1919 cho đến khi cuộc nội chiến kết thúc năm 1922.

Bản dịch tiếng Việt phổ biến nhất là của dịch giả Nguyễn Thụy Ứng, được in thành tám tập. Năm 2005, được in làm bốn tập, trong đó dịch giả đã hiệu đính lại bản dịch, thêm phần phụ lục để giới thiệu một số đoạn trước đây bị cắt bỏ. Lần tái bản gần nhất (2007), Nhà xuất bản Văn học gộp thành hai quyển.

Giá trị căn bản của Sông Đông êm đềm

Sông Đông êm đềm  được so sánh với Chiến tranh và Hoà bình của Lev Nikolayevich Tolstoy. Bộ sử thi này một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của trường phái Hiện thực Xã hội chủ nghĩa mà trong đó Sholokhov đã hợp nhất được những di sản nghệ thuật của Tolstoy và Gogol.

Ngay từ chương mở đầu tác phẩm đưa đã đưa độc giả vào cuộc sống của những người nông dân Cossack vùng sông Đông trước cách mạng tháng Mười với nếp sống phong kiến gia trưởng nghiệt ngã, cùng những xung đột căng thẳng trong những quan hệ gia đình, sinh hoạt. Từ chương 2 hành động của tiểu thuyết mở rộng dần sang những vấn đề xã hội nóng bỏng gắn liền với những biến động của lịch sử diễn ra trên đất nước: những định kiến của người dân Cossack, vốn trước kia được Nga hoàng ưu đãi đặc biệt nhằm mua chuộc, sử dụng để chống phá mọi phong trào đấu tranh của nhân dân, sự phân hóa xã hội trong cộng đồng Cossack, cuộc đấu tranh giai cấp đặc biệt phức tạp và ác liệt vùng sông Đông. Trong các tập 2, 3 và 4, tác phẩm tập trung miêu tả bối cảnh lịch sử những năm nội chiến, những xung đột gia đình gắn với xung đột xã hội.

Cũng như các tác giả kinh điển của trường phái hiện thực, Sholokhov đã viết Sông Đông êm đềm với tất cả sự thật dù tàn nhẫn nhưng là lô-gíc tất yếu của hoàn cảnh, tác động xã hội. Mặc dù rất đáng yêu, đáng được hưởng hạnh phúc nhưng số phận của Gregori, Aksinia, Natalia và nhiều nhân vật khác nữa đều bi thảm trong dòng chảy khốc liệt của những biến động xã hội lớn lao ở nước Nga thời kỳ Nội chiến. Bộ sử thi đồ sộ với trên 100 nhân vật diễn ra trong 10 năm trên một không gian rộng lớn, với những sự kiện dồn dập nhưng được kết cấu vô cùng chặt chẽ. Mỗi nhân vật đều được mô tả với đặc điểm tâm lý, tính cách và cả thể hình rất riêng biệt, từ người nông dân bần cùng nhiệt tình đi theo cách mạng đến bọn phú nông chống phá cách mạng với lòng hằn thù sâu sắc, từ những đảng viên trung kiên đến bọn chỉ huy, binh lính trong các đạo quân bạch vệ liều lĩnh và tàn bạo, từ các chàng trai Cossack bộc trực và quả cảm đến những cô gái Cossack yêu thương say đắm và giàu lòng vị tha.

Độc giả bị cuốn hút bởi tính cách, tâm hồn Aksinia và cũng nhớ cả “lọn tóc trên cái gáy rám nắng” của nàng. Tính hiện thực sâu sắc của Sông Đông êm đềm thể hiện rõ nét ở từng hình tượng nhân vật với tất cả những gì tốt đẹp, bình thường, thậm chí xấu xa như cuộc đời vẫn luôn là như vậy. Aksinia hấp dẫn, mãnh liệt, chiến đấu đến cùng để giành giật tình yêu nhưng cũng không vượt qua nổi những phút cô đơn, tuyệt vọng và cả bản năng rất đàn bà. Natalia thủy chung, hiền dịu nhưng nhẫn nhục, cam chịu và yếu đuối. Chính vì vậy những nhân vật của Sông Đông êm đềm lại càng thực, càng sống trong lòng độc giả. Với tình yêu và hấp thụ được cái hồn của vùng đất sông Đông, Sholokhov đã đưa vào Sông Đông êm đềm cảnh vật quê hương, những tập tục và các bài dân ca một cách nhuần nhuyễn, hòa quyện với con người.

Trong Sông Đông êm đềm hình tượng nhân vật Gregori tiêu biểu cho tầng lớp trung nông trải qua nhiều lầm lạc, dao động về tư tưởng chính trị trong những năm bão táp. Tính cách của Gregori phức tạp, mâu thuẫn. Đó là một con người chính trực, tự trọng, nồng nhiệt, mạnh mẽ và dũng cảm rất Cossack, yêu làng xóm và quê hương, nhưng cũng có những mặt xấu như thô bạo, ít nhiều tàn nhẫn và tư hữu. Với những định kiến đã hình thành từ lâu trong cộng đồng Cossack, Gregori cho rằng cách mạng đã tước đoạt mất những quyền lợi của cộng đồng Cossack, xâm phạm vào truyền thống, danh dự của họ. Gregori muốn rằng những người Cossack không theo phe đỏ cũng không thuộc phe trắng, nhưng rồi cuộc đấu tranh quyết liệt diễn ra ngay trên quê hương sông Đông, ngay trong những người Cossack đã không cho phép họ lựa chọn con đường thứ ba. Gregori đã rơi vào lầm lạc khi tách khỏi nhân dân, đi theo quân bạch vệ, phạm tội chống lại nhân dân, chống lại tổ quốc. Nhưng giữa những ngày tháng đó chàng vẫn không thôi dằn vặt, cảm thấy mình lạc lõng, đau khổ với những quyết định của mình. Gregori đã bỏ trốn về nhà mà trong thâm tâm vẫn chưa xác định được con đường tất yếu phải đi. Những định kiến và tư tưởng cũ vẫn níu giữ Gregori trong tư thế bấp bênh, lưng chừng, có lúc chàng gia nhập hồng quân, có lúc lại bị cuốn về phe đối nghịch. Kết cục của sự lừng chừng giữa những dòng xoáy của xã hội đã khiến chàng không tìm được cho mình một con đường, không tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống, những người phụ nữ gắn bó với chàng phải chịu kết cục thảm thương và bản thân chàng rơi vào tình thế nguy hiểm khi mang trọng tội phản bội chính quyền xô viết và bên mình không còn một ai thân thích.

Không chỉ những nhân vật được khắc họa tới mức điển hình, những vấn đề muôn thuở của con người như tình yêu, ý nghĩa cuộc sống, những quan hệ họ tộc và làng xóm được mô tả rất thành công, Sông Đông êm đềm còn biểu hiện một cách chân thực, sống động cuộc sống, số phận của cả một dân tộc, một vùng đất của người Cossack đúng như trong lời một bài hát Cossack cổ: Mảnh đất thân thương, mảnh đất vinh quang của chúng ta được gieo những cái đầu Cossack. Điểm trang sông Đông êm đềm của chúng ta có những nàng gái góa trẻ măng. Hoa nở trên sông Đông êm đềm, cha của chúng ta là bầy trẻ thơ côi cút. Sông Đông êm đềm đầy nước mắt những người mẹ, người cha và của người dân Nga nói chung trong thời kỳ Nội chiến.

“Sức mạnh nghệ thuật và sự chính trực, mà với nó, trong cuốn sử thi sông Đông, ông đã biểu hiện cả một giai đoạn lịch sử của người dân Xô viết.’”[2] chính là những gì làm nên Giải Nobel Văn học của Sholokhov.

Sông Đông êm đềm thoạt đầu có những nghi vấn về tác giả, với các luận cứ chính được đưa ra:  Mikhail  Sholokhov là người ít học, ông chỉ học bốn năm cấp một ở trường làng rồi bỏ học đi làm liên lạc cho Hồng quân; Sholokhov còn quá trẻ và thiếu trải nghiệm cuộc sống để có thể viết nên những áng văn như thế (khi phần đầu tiên của Sông Đông êm đềm được xuất bản năm 1928 lúc Sholokhov mới 23 tuổi); Các tác phẩm sau này của Sholokhov (như Đất vỡ hoang, Họ đã chiến đấu vì Tổ quốc, Khoa học căm thù, Số phân một  người ; không sánh được  chất lượng văn chương so với Sông Đông êm đềm. Gần đây nghi vấn này đã bị xóa bỏ khi các bản thảo thất lạc trong chiến tranh đã tìm lại được và dùng máy tính phân tích, so sánh các văn bản văn chương.

Sông Đông êm đềm
đã được chuyển thể thành phim, năm 1930 bởi đạo diễn Olga  Ivan Pravov,  thành  phim truyền hình năm 1957 – 1958 bởi đạo diễn Sergey Gerasimov, và  thành phim truyền hình năm 1992 bởi đạo diễn Sergey Bondarchuk.

Sholokhov sông Đông êm đềm là di sản văn chương quý giá của nước Nga và thế giới.

xem tiếp https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-21-thang-2/

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter





Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s