Chào ngày mới 30 tháng 9


CNM365. Chào ngày mới 30 tháng 9. Con đường di sản Lewis và Clark; CNM365 một góc nhìn sự thật; Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương; Châu Mỹ chuyện không quên Giấc mơ thiêng dạo chơi cùng Goethe ; Praha Goethe và lâu đài cổ; Có một ngày như thế; Bài thơ không quên; Ngày 30 tháng 9 năm 1966 Ngày Độc lập tại Botswana là một nước cộng hoà nằm kín trong lục địa Nam Phi, trước kia là quốc gia bảo hộ bởi Vương quốc Anh, nay thành nước độc lập thuộc Khối thịnh vượng chung Anh Quốc. Nước Botswana được đặt tên theo nhóm sắc tộc lớn nhất, người Tswana, có diện tích tự nhiên 581.730 km² (hạng 46) so Việt Nam 331.699 km² (hạng 66) Nước này có quan hệ chặt chẽ với Nam Phi, chủ yếu dựa vào khai mỏ (đặc biệt là kim cương), chăn nuôi gia súc, và du lịch; Ngày 30 tháng 9 năm 1935 Đập Hoover của Hoa Kỳ được khánh thành (hình). Đập này nằm trên biên giới giữa hai bang ArizonaNevada, của sông Colorado, miền tây nước Mỹ. Phía bắc đập nước đã thành hồ Mead, là một trong những kho nước nhân tạo lớn nhất thế giới, dài 177 km, tuyến bờ hồ dài 1.323 km. Ngày 30 tháng 9 năm 1520Suleiman I đăng quang Sultan của Ottoman, đế quốc đạt đỉnh cao về quân sự, chính trị và kinh tế trong thời gian ông trị vì. ‘Nhà nước Ottoman Tối cao’ là quốc hiệu nước Thổ Nhĩ Kỳ thời từ năm 1299 đến 1923. Đế quốc Ottoman tương tác với cả văn hóa phương Đôngphương Tây trong suốt lịch sử 624 năm của nó. Đế quốc Ottoman thời đỉnh cao quyền lực ở thế kỷ XVI và thế kỷ XVII, lãnh thổ rộng lớn gồm các vùng Tiểu Á, Trung Đông, nhiều phần ở Bắc Phi, và đa phần đông nam châu Âu đến tận Kavkaz, có diện tích khoảng trên 5,6 triệu km², với vùng ảnh hưởng thực tế của đế quốc này còn rộng hơn nhiều, nếu tính cả các vùng lân cận do các bộ lạc du mục cai quản, thuộc đế quốc này cai quản được công nhận. Bài chọn lọc ngày 30 tháng 9: Con đường di sản Lewis và Clark; CNM365 một góc nhìn sự thật; Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương; Giấc mơ thiêng dạo chơi cùng Goethe ; Praha Goethe và lâu đài cổ; Có một ngày như thế; Bài thơ không quên; Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-30-thang-9/

Dikhapquenguoidehieudatquehuong1

CON ĐƯỜNG DI SẢN LEWIS VÀ CLARK
Hoàng Kim
Thầy tôi Norman Borlaug  có kể cho tôi nghe về câu chuyện Thomas Jefferson (1743 – 1826) là Nhà tư tưởng sáng lập nước Mỹ, với Lewis & Clark cuộc thám hiểm miền Tây nước Mỹ. Đó là một ví dụ điển hình về tầm nhìn và dự án khoa học thành công. Con đường di sản Lewis và Clark lắng đọng trong tôi suốt ba mươi năm. Chuyện bây giờ mới kể …

Cuộc thám hiểm của Lewis và Clark đã được khởi sự vào ngày 14 tháng 5 năm 1804 và kết thúc cuối năm 1806. Đây là cuộc thám hiểm trên bộ đầu tiên của người Mỹ đến những tiểu bang duyên hải cận tây nhất của nước Mỹ và ngược lại. Miền Tây nước Mỹ là vùng đất nhiều thổ dân da đỏ sinh sống khoảng 10 ngàn năm trước đó, và thuở ấy miền Tây nước Mỹ có sự hiện diện của những cư dân mới là người thám hiểm và định cư thuộc các nước Tây Ban Nha, Anh, México, Nga và Mỹ. Tổng thống Mỹ Thomas Jefferson đã kiến nghị Quốc hội Mỹ phê chuẩn đầu tư cho chuyến khảo sát đường bộ của cuộc thám hiểm của Lewis và Clark cùng cộng sự. Trong một lá thư đề ngày 20 tháng 6 năm 1803, Tổng thống Mỹ Thomas Jefferson đã viết cho Lewis. “Mục tiêu sứ mạng của anh là thám hiểm Sông Missouri và dòng suối chính của nó qua dòng chảy và sự liên thông của nó với các bộ phận nước khác của Thái Bình Dương để xem Sông Columbia, Xứ Oregon, Colorado hay bất cứ con sông nào có thể cung cấp một sự liên thông mặt nước thực tiễn và trực tiếp nhất ngang qua lục địa này để giúp cho những mục đích thương mại“.

Thầy tôi trong buổi trò chuyện của mình đã khoanh vào các chỉ dấu Thomas Jefferson Lewis & Clark thành những điểm chính nhấn mạnh cho các lời diễn đạt của mình


Trong chuyến khảo sát CIANO, OREGON của Miền Tây Mexico và nước Mỹ năm 1989 sau 186 năm từ chuyến thám hiểm miền Tây nước Mỹ của Lewis & Clark và cộng sự, tôi nhớ đinh ninh lời Thầy dặn, thật ấn tượng và thấm thía khi viết bài thơ cảm khái:

ĐI KHẮP QUÊ NGƯỜI ĐỂ HIỂU ĐẤT QUÊ HƯƠNG Tạm biệt Oregon !
Tạm biệt Obregon California !
Cánh bay đưa ta về CIMMYTBầu trời xanh bát ngát
Lững lờ mây trắng bay
Những ngọn núi cao nhấp nhô
Những dòng sông dài uốn khúc
Hồ lớn Ciudad Obregonba tỷ khối nước

Nở xòe như chùm pháo bông
Những cánh đồng mênh mông
Thành trăm hình thù dưới làn mây bạc
Con đường dài đưa ta đi
Suốt dọc từ Nam chí Bắc
Thành sợi chỉ màu chạy mút tầm xa…

Ơi vòm trời xanh bao la
Gọi lòng ta nhớ về Tổ Quốc
Ôi Việt Nam, Việt Nam
Một vùng nhớ trong lòng ta tỉnh thức
Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương.

Hoàng Kim

Sáu tháng ở CIMMYT với tôi là một câu chuyện ám ảnh. Tôi như cậu bé chăn cừu mà Paulo Coelho kể trong kiệt tác của tâm hồn Nhà Giả Kim (O Alquimista) mà tôi đã viết ở Ngọc lục bảo Paulo Coelho, cũng giống như cô bé Quách Tương tại tiểu thuyết ‘Thần điêu đại hiệp’ của Kim Dung đi vào thế giới bí ẩn của riêng mình với khát khao tìm kiếm

Thầy Norman Borlaug là nhà khoa học xanh sống nhân đạo, và nêu gương tốt. Thầy là nhà nông học Mỹ cha đẻ của cuộc cách mạng xanh được tặng giải Nobel và Tổng thống Mỹ trao tặng huân chương cao quý nhất của nước Mỹ, thế giới tôn vinh là nhà bác học số một của nhân loại trong  cuộc chiến chống nghèo đói. Thầy đã suốt đời nghiên cứu giảng dạy về chọn tạo và phát triển cây lương thực, góp phần cải thiện đời sống và nâng cao thu nhập cho hàng trăm triệu nông dân nghèo ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Thầy là người sáng lập Giải thưởng Lương thực Thế giới và tổ chức nhiều hoạt động thiết thực thắp sáng niềm tin yêu cuộc sống.Câu chuyện về Người tôi đã kể vắn tắt tại Norman Borlaug di sản, niềm tin và nổ lực


Tôi được Thầy ghé thăm gần trọn buổi chiều tại phòng riêng ở CIMMYT, Mexico ngày 29.8.1988. Thầy đã một mình ghé thăm người trò nhỏ duy nhất của châu Á trong lớp học “Quản lý Trung tâm Trạm trại Nông nghiệp”. Khi Thầy đến, tôi đang thắp nến trên giá sách trong phòng đề tưởng nhớ ngày cha mất. Biết cha tôi bị bom Mỹ giết hại tại làng nhỏ ở Quảng Bình của buổi chiều này hai mươi năm trước (1968) lúc tôi còn là học sinh trung học của Trường cấp Ba Bắc Quảng Trạch, Thầy bối rối xin lỗi và thật bất ngờ tôi đã có được một buổi chiều vô giá riêng tư bên Thầy.

Người Thầy của tôi đã chọn chỉ cho tôi chỉ dấu Thomas Jefferson đã viết tự truyện của riêng mình để nói ít nhất trong lịch sử nước Mỹ nhưng để lại di sản lớn bằng cách chọn nhấn mạnh các mục từ khi bắt đầu và kết thúc sự nghiệp công cộng lâu dài của mình.

Lời Thầy dặn thật thấm thía: “ Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm tiếng để đời”.


Tôi nghĩ ngợi nhiều về miền Tây của Mexico và nước Mỹ xưa và nay. Ở đó cũng có những cây xương rồng và những vùng đất cằn cỗi.


Miền Tây của Mexico, CIANO và vùng OREGON của Miền Tây nước Mỹ cũng đồi núi trập trùng hệt Việt Nam và biên độ nóng bức và giá lạnh thật lớn, dân cư thưa thớt với nhiều người dân bản địa.

Chúng tôi đến CIANO và đi dọc miền Tây mà không đi ngang nước Mỹ như Cuộc thám hiểm của Lewis và Clark. CIANO là địa chỉ xanh tuyệt vời để tôi hiểu thế nào là một trạm trại nông nghiệp thực sự.


Khu văn phòng của trại thực nghiệm CIANO không lớn nhưng thực sự tiện nghi và hiệu quả và đồng ruộng nghiên cứu thí nghiệm thì được đầu tư và quản lý thật tuyệt vời.


Cánh đồng lúa mì thí nghiệm thực nghiệm tại CIANO thực sự cuốn hút. Đoàn chúng tôi ngày đi tham quan học tập. Buổi chiều sau khi ăn tối tôi lại mê mãi ghi chép,đọc và viết.
Bài học mà thầy Norman Borlaug chỉ dấu với tôi về Cuộc thám hiểm của Lewis và Clark thật thú vị.

Chuyến khảo sát của Lewis và Clark trong hai năm rưỡi đã đạt được thành tựu:

  • Hoa Kỳ hiểu biết rộng thêm về địa lý của phía miền tây nước Mỹ trong hình thức các bản đồ về các con sông và dãy núi chính.
  • Quan sát và mô tả 178 loài thực vật và 122 loài động vật (qua Danh sách của loài thực động vật được mô tả qua chuyến thám hiểm Lewis và Clark)
  • Khuyến khích giao thương da thú Âu-Mỹ tại miền Tây
  • Mở rộng quan hệ ngoại giao Âu-Mỹ với người bản thổ Mỹ
  • Thiết lập một tiền lệ cho việc thám hiểm miền Tây của Quân đội Hoa Kỳ
  • Củng cố tuyên bố chủ quyền của Hoa Kỳ đối với Lãnh thổ Oregon
  • Tập trung sự chú ý của truyền thông và của Hoa Kỳ vào miền Tây
  • Nhật ký của Lewis và Clark với các trang viết về họ đã hình thành một bộ văn chương lớn nói về miền Tây.

Lời Thầy dặnCon đường di sản Lewis và Clark, với tôi là bài học tuyệt vời.

CHÂU MỸ CHUYỆN KHÔNG QUÊN
Hoàng Kim

Châu Mỹ chuyện không quên tôi lưu lại trong 16 thư mục: Lời Thầy dặn; Con đường di sản Lewis và Clark500 năm nông nghiệp BrazilĐối thoại giữa các nền văn hóaCIMMYT tươi rói một kỷ niệmHoa xương rồng; Giấc mơ thiêng dạo chơi cùng Goethe; Mark Twain là Lincoln văn học Mỹ; Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương Đất nước Mexico ấn tượng lắng đọng; Rio thành phố giữa núi và biển; Borlaug và HemingwayBill Gates học để làm Truyện George Washington; Minh triết Thomas Jefferson; Kiệt tác của tâm hồn; Ngọc lục bảo Paulo Coelho; Mark Zuckerberg thật tuyệt vời; Mark Zuckerberg và Facebook; Mark Zuckerberg bài học cuộc sốngSóng yêu thương vỗ mãi đến vô cùng… Đây là những ghi chép rời rạc chưa kịp hiệu đính và sắp xếp lại,

CNM365 MỘT GÓC NHÌN SỰ THẬT
Hoàng Kim

Cảm ơn nhà nghiên cứu lịch sử Thụy Khuê và nữ sĩ Chử Thu Hằng, người viết và người lưu giữ tư liệu “Tôi không đánh giá gì cả, bởi vì người viết sử chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là trình bầy sự kiện lịch sử. Việc đánh giá là của người đọc. Độc giả đọc một đoạn sử viết về một nhân vật hay một giai đoạn lịch sử, rồi tự rút ra những suy nghĩ hay đánh giá về nhân vật hay giai đoạn lịch sử ấy, và đánh giá luôn cách viết của người soạn sử. Vần đề quan trọng của chúng ta hiện nay, là lầm việc “viết sử” với việc “đánh giá”. Vì thế, trong các cuộc phỏng vấn, người ta không hỏi những nhà được mệnh danh là sử gia ông biết gì về nhân vật hay giai đoạn lịch sử này, mà thường hỏi ông “đánh giá” gì về nhân vật lịch sử này, về giai đoạn kia. Và vị “sử gia” được hỏi cứ thao thao bất tuyệt “đánh giá” về một vấn đề mà đôi khi ông ta không biết.”. CNM365 một góc nhìn sự thật . Tôi thích lưu lại tinh hoa tâm đắc và suy ngẫm của chính mình. http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-30-thang-9/

Chử Thu Hằng 27 tháng 9 lúc 11:46

Quan niệm của nhà báo, nhà nghiên cứu lịch sử Thụy Khuê về hai từ “đánh giá” mà chúng ta đang dùng rất thông dụng. Chúng ta có quyền “đánh giá” lịch sử hay không? (Trích http://tacphammoi.net/…/Viet-cung-la-de-thoa-man-k…/d,detail)

.
“Tôi không đánh giá gì cả, bởi vì người viết sử chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là trình bầy sự kiện lịch sử. Việc đánh giá là của người đọc. Độc giả đọc một đoạn sử viết về một nhân vật hay một giai đoạn lịch sử, rồi tự rút ra những suy nghĩ hay đánh giá về nhân vật hay giai đoạn lịch sử ấy, và đánh giá luôn cách viết của người soạn sử. Vần đề quan trọng của chúng ta hiện nay, là lầm việc “viết sử” với việc “đánh giá”. Vì thế, trong các cuộc phỏng vấn, người ta không hỏi những nhà được mệnh danh là sử gia ông biết gì về nhân vật hay giai đoạn lịch sử này, mà thường hỏi ông “đánh giá” gì về nhân vật lịch sử này, về giai đoạn kia. Và vị “sử gia” được hỏi cứ thao thao bất tuyệt “đánh giá” về một vấn đề mà đôi khi ông ta không biết.

Triều đại cuối cùng nhà Nguyễn đã bị “đánh giá” hoàn toàn sai lạc từ khi “sử gia” Trần Huy Liệu viết những lời nhục mạ phũ phàng nhà Nguyễn.

Vần đề “đánh giá” không chỉ có trong điạ hạt lịch sử mà dàn trải trên toàn bộ các tác giả văn học, thí dụ người ta “đánh giá lại” Khái Hưng, Nhất Linh, Vũ Trọng Phụng… như thể các ông Khái Hưng, Nhất Linh, Vũ Trọng Phụng nằm dưới mộ, chờ đợi và hãnh diện được một ông chủ tịch hội này, hội kia cấp cho tấm giấy chứng nhận hạnh kiểm tốt. Các nhà văn lớn, mình đọc họ thì bổ ích cho mình, mình không đọc họ, họ chẳng mất gì, đời sau sẽ đọc họ. Họ có vĩnh cửu trước mắt, còn các ông lý trưởng, chánh tổng văn học chỉ có cái vắn vủi của một cuộc đời.

Khi vua Minh Mạng lập Quốc sử quán và lệnh cho các quan viết sử đi khắp các nơi trong nước để thu thập tài liệu, viết các bộ Đại Nam Thực Lục, Đại Nam Liệt Truyện… nhà vua đã tế nhị không đọc, tức là ông không kiểm duyệt bộ sử đồ sộ này. Vì thế mà ta thấy có những trang viết rất tự do, ghi cả những lời Minh Mạng “tâm sự” những lúc ông không tự tin ở mình, hoặc cho là mình đã quyết định sai lầm, hoặc cho là cách cai trị của mình quá nghiêm ngặt, đó là những điểm chứng tỏ sử quan có đủ tự do để cầm bút, cho nên phần viết về Minh Mạng của Thực Lục được các học giả đánh giá là trung thực nhất. Xin nói thêm điều nữa: các sử thần triều Nguyễn, không “đánh giá” cũng không tâng bốc vua và triệt hạ đối thủ, trừ vài chữ miệt thị như ngụy, giặc, họ chép lại trung thực những sự kiện đã xẩy ra, lời nói và hành động của vua cũng như của phe đối lập.

Lịch sử viết theo đúng quy luật như thế, tôi nghĩ rằng thời đại chúng ta còn kém xa thời đại Minh Mạng. Chúng ta chưa có tác phẩm lịch sử đúng nghĩa mà chỉ có sự “đánh giá” lịch sử, tức là người ta tuyên bố như thế này, thế kia về một nhân vật lịch sử: người ta “đánh giá lại Gia Long”, người ta đánh giá “Ngô Đình Diệm”. Tóm lại, người ta tự đứng trên lịch sử để phát biểu và không cần biết những sự thực xoay quanh những nhân vật lịch sử này như thế nào. Người ta không tìm hiểu, nghiên cứu, mà tùy hứng “đánh giá”: Người ta kết tội Phan Thanh Giản phản động rồi sau “đánh giá lại” là “yêu nước”.

Người đọc chờ đợi những cuốn sách nghiên cứu sâu sắc về Hiền Vương (Chúa Hiền Nguyễn Phước Tần), Gia Long, Minh Mạng, Võ Tánh, Ngô Tòng Châu, Lê Văn Duyệt … với những chứng cớ tỏ rõ các ông là người phản quốc, trước khi rút tên các ông khỏi những đường phố Sài Gòn…”

Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-30-thang-9/

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Chào ngày mới 29 tháng 9


CNM365 Chào ngày mới 29 tháng 9. Giấc mơ thiêng dạo chơi cùng Goethe Praha Goethe và lâu đài cổ; Có một ngày như thế; Bài thơ không quên; Ngày 29 tháng 9 năm 1774, Tác phẩm Nỗi đau của chàng Werther được phát hành khiến tác gia Johann Wolfgang von Goethe (hình) nổi tiếng thế giới. Johann Wolfgang von Goethe là nhà thông thái Đức, vĩ nhân văn chương thế giới, nhà thơ, nhà văn, nhà khoa học, tiểu thuyết gia, họa sĩ. Ba tác phẩm sử thi danh tiếng nhất của ông, bền vững với thời gian, là kịch thơ Faust đỉnh cao văn chương thế giới, Nỗi đau của chàng WertherWilhelm Meister’s Apprenticeship ; Ngày 29 tháng 9 năm 1951 là ngày mất của Nguyễn Bình, tên thật là Nguyễn Phương Thảo, (1906 – 1951) là Trung tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, lãnh đạo quân dân miền Nam Việt Nam kháng chiến chống Pháp. Ông hi sinh tại xã Srê Dốc, huyện Sê San, tỉnh Xtung Treng, trên đất Campuchia . Ông là  người đầu tiên được nhận huận chương quân công hạng nhất bởi sắc lệnh 84/SL của chủ tịch Hồ Chí Minh, được nhà nước truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Ngày 29 tháng 9 năm 1954, 12 quốc gia ký hiệp định thành lập Tổ chức Nghiên .cứu Nguyên tử Châu Âu (CERN), phòng thí nghiệm vật lý hạt lớn nhất thế giới hiện nay. Bài chọn lọc ngày 29 tháng 9: Giấc mơ thiêng dạo chơi cùng Goethe ; Praha Goethe và lâu đài cổ; Có một ngày như thế; Bài thơ không quên; Thông tin tại tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-29-thang-9/

Goethe at Rome

GIẤC MƠ THIÊNG DẠO CHƠI CÙNG GOETHE
Johann Wolfgang von GoetheRoma, Italia
Hoàng Kim

Mọi lý thuyết đều là màu xám,
chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi
Goethe trao tặng ta
minh triết của Người.

Tôi gặp Goethe
Kalovi Vary, Czechoslovakia
trong rừng thiêng cổ tích.
Người kể chuyện sử thi
Tiệp Khắc kỷ niệm một thời
Praha và lâu đài cổ
Những khát khao mơ ước của Faust,
Nỗi đau của chàng Werther

(Người nhắc tôi đừng quên
kể chuyện sử thi của dân tộc mình
Cho dù học gì, làm gì
cũng đừng bao giờ quên chuyện đó !

Người hỏi tôi
Con đọc Faust rồi có dám học Faust?
Con có dám nhận minh triết làm Thầy
Con có dám hiến mạng sống cho Tự Do
Con có dám hiến đời mình cho Trí Tuệ ?

Có ! Con theo Người !
Tôi trả lời.
Con xin học Goethe !

Ta gặp Goethe
trên cầu đi bộ Charles
trong 30 tượng thánh trầm tư
ngắm hình tượng Faust
cũng là Đế Quốc La Mã Thần Thánh
trên quảng trường Old Town Square
tại Praha

Ta tưởng nhớ Người ở Frankfurt,
Leipzig, Strasbourg
với bao nhiêu điểm đến …

Goethe

Tôi hiểu Goethe qua lời thơ Xuân Diệu
Mọi lý thuyết đều là màu xám,
chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi
Thơ Người đi cùng tôi bao tháng năm.
Tôi gặp Goethe ở nhiều nước châu Âu
Và cũng gặp Người tại Oregon
Miền Tây Nước Mỹ.

Tôi gặp Người ở hồ lớn
Ciudad Obregon
Ba tỷ khối nước
Cây xanh đất nước giao hòa

Tôi  gặp Người
CIMMYT  Mexico
phía cuối trời Tây
GoetheNorman Borlaug dạy cho tôi
Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương
Người hóa thân
trong thanh thản
bóng cây xanh
Người đàm đạo
với Norman Borlaug
và cậu học trò nghèo
Về ý tưởng xanh
Con đường xanh
Hành trình xanh
Sự nghiệp xanh
Nhà khoa học xanh
giấc mơ hạnh phúc

Anh và em
dạo chơi cùng Goethe
Ở FAO, Rome, Italy
Người hóa thân
thành nữ thần Tình Yêu (*)

Goethe là vòm cây xanh
Goethe cũng là lão nông
ngồi cùng chúng ta
chuyện trò
trên cánh đồng xanh
hạnh phúc.

Goethe Norman Borlauglà những trí tuệ bậc Thầy.
Họ không màng hư vình
mà hướng tới đỉnh cao hòa bình
sự an lành tiến bộ .

Trời xanh tuyệt vời !
Trời nhân loại mênh mông !

(*) Hình ảnh Hoàng Kim ở Roma, Italia.

Trở về điểm hẹn

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày


Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Chào ngày mới 28 tháng 9


CNM365 Chào ngày mới 28 tháng 9.Praha Goethe và lâu đài cổ; Có một ngày như thế; Bài thơ không quên; Châu Mỹ chuyện không quên; CIMMYT tươi rói một kỷ niệm. Ngày 28 tháng 9 năm 1928, Alexander Fleming nhận thấy một loại mốc diệt vi khuẩn phát triển trong phòng thí nghiệm của ông, thứ mà về sau được gọi là penicillin. Ngày 28 tháng 9 năm 1926,ngày sinh Nguyễn Cảnh Toàn, giáo sư toán học người Việt Nam (mất năm 2017),, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội, thứ trưởng Bộ Giáo dục Việt Nam (1976-1989), phó Chủ tịch Hội Toán học Việt Nam và Tổng biên tập tạp chí Toán học và Tuổi trẻ trong hơn 40 năm. Ông được báo chí trong nước đánh giá là một tấm gương tự học thành tài[1] và có công lao trong việc đào tạo và xây dựng đội ngũ những giáo viên toán. Ngày 28 tháng 9 năm 1986, Đảng Dân chủ Tiến bộ Đài Loan tuyên bố thành lập tại Đài Bắc, là đảng đối lập đích thực đầu tiên tại Đài Loan. Ngày 28 tháng 9 năm 2006, Sân bay quốc tế Suvarnabhumi tại tỉnh Samut Prakan, Thái Lan bắt đầu chính thức hoạt động, thay thế cho Sân bay quốc tế Don Mueang. Bài chọn lọc ngày 28 tháng 9:Praha Goethe và lâu đài cổ; Có một ngày như thế; Bài thơ không quên; Châu Mỹ chuyện không quên; CIMMYT tươi rói một kỷ niệm. Chưa quên sương muối gió mùa; Người vịn trời xanh chấp sói rừng; Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-28-thang-9/

CÓ MỘT NGÀY NHƯ THẾ
Hoàng Kim

Có một ngày như thế
Về với Trường thân yêu
Thầy bạn chung tiếp sức
Cùng nối dây cho diều.

Có một ngày như thế
Ngày Niềm vui đó em
Niềm tin và nghị lực
Em vượt lên chính mình.

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/co-mot-ngay-nhu-the/

Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-27-thang-9/

PRAHA GOETHE VÀ LÂU ĐÀI CỔ
Hoàng Kim

Lâu đài Praha là lâu đài cổ lớn nhất thế giới theo sách Kỷ lục Guinness. Ở đó có quảng trường Old Town Square là trung tâm trục lịch sử suốt nghìn năm với những tòa nhà cổ đầy màu sắc, các nhà thờ Gothic và đồng hồ thiên văn thời trung cổ. Lâu đài cổ Praha là nơi lưu dấu sử thi muôn đời của Gớt (Johann Wolfgang von Goethe 17491832), vĩ nhân khoa học nhân văn, nhà thông thái, đỉnh cao văn chương thế giới. Tôi may mắn được lạc vào thế giới của Goethe và được lắng nghe Người trò chuyện sử thi qua các trang sách kỳ thú.

Điều kỳ lạ với tôi là sau khi gặp Goethe và đọc tác phẩm của Người tại vùng đất thiêng Old Town Square và vùng suối nước nóng nổi tiếng Kalovy Vary nơi có khu nghĩ dưỡng spa và rừng cổ  thư viện Goethe, tôi ám ảnh đến lạ như bị thôi miên bởi một năng lượng quá mạnh mẽ. Tôi cũng ước ao hiểu biết và mong muốn dấn thân làm được những điều gì đó có ích cho đời. Tôi được phiêu lưu lên rừng xuống biển, đi được nhiều nơi khắp Á Âu Phi Mỹ mà người nhà với bạn bè nói vui là “có lộc và có may mắn xuất ngoại” bởi từ cậu bé chân đất làng Minh Lệ nghèo khó làm sao có được sự đổi đời này. Tôi được gặp Goethe nhiều lần sau đó, ở những địa điểm rất xa nhau, như ở Obragon (miền Tây nước Mỹ), CIMMYT (Mexico), FAO, Rome (Italiy), Ghent (Bỉ) Giấc mơ xanh, ước mơ xanh là bài học quý đầu đời. Goethe là người Thầy lớn của tôi.

Ngày 29 tháng 9 năm 1774 là ngày Johann Wolfgang von Goethe đã phát hành kiệt tác ‘Nỗi đau của chàng Werther’ mang lại cho Goethe danh tiếng quốc tế. Ngày 29 tháng 9 năm 1951 là ngày mất của tướng Nguyễn Bình, vị trung tướng và tư lệnh Nam Bộ Việt Nam (sinh năm 1906). Ngày 29 tháng 9 năm 1973 cũng là ngày mất của W. H. Auden là nhà thơ Mỹ gốc Anh (sinh năm 1907). Ông là một trong những nhà thơ lớn nhất của thế kỷ 20, người có sự ảnh hưởng rất lớn đến nền văn học Anh Mỹ.

“Praha Goethe và lâu đài cổ“ là phần hai của bài viết  “Tiệp Khắc kỷ niệm một thời”, tiếp nối  phần một “Tiệp Khắc đất nước con người”. Praha là thủ đô Cộng hòa Séc, trái tim văn hóa và học vấn châu Âu, nơi trung tâm thành phố được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới năm 1992, là “thành phố vàng” “thành phố một trăm ngọn tháp”. Goethe là nhà thông thái thiên tài, nhà thơ, nhà văn, nhà khoa học, triết gia, nhà viết kịch và họa sỹ người Đức danh tiếng toàn châu Âu và Thế Giới với Viện Goethe hiện có phân viện tại 13 thành phố ở Đức và 128 thành phố nước ngoài nhưng lắng đọng về Người là tại cụm công trình di sản thế giới nêu trên với những câu chuyện huyền thoại kỳ lạ.

Praha thành phố vàng

Sang Tiệp, đến Praha, chúng tôi được ở  khu nhà dành cho sinh viên và thực tập sinh nước ngoài tại Trường Đại học Praha, nơi có khá nhiều thực tập sinh và sinh viên các nước Âu, Á, Phi, Mỹ đến học nơi xưa là Trường Đại Học Karlova  được thành lập từ năm 1348, trung tâm học vấn châu Âu. Trường Đại học Praha là niềm tự hào của thầy cô giáo trường này và cũng là niềm tự hào của đất nước Tiệp Khắc.

Chị Magdalena Buresova hướng dẫn chúng tôi đi dã ngoại ba tuần trước khi chúng tôi trở về Trường trình bày báo cáo “Thành tựu nghiên cứu phát triển đậu rồng và các cây họ đậu nhiệt đới hợp tác Việt Tiệp” trong một Seminar ở Khoa Cây trồng và được thông báo là có nhiều người quan tâm.

Điểm đến đầu tiên của chúng tôi là “Praha vàng”, lâu đài cổ thành Hradčanské, quảng trường Con Ngựa, quảng trường Con Gà (theo cách gọi của sinh viên Việt tại Tiệp) và vô vàn những điểm tham quan nối hai đầu của hai Quảng trường Museum và Můstek và cầu đi bộ Karl (Tiếng Tiệp gọi là Karlův, người Việt gọi là cầu Tình) bắc trên con sông Vltava đến khu lâu đài cổ.

Thủ đô Praha hiện có dân số khoảng 1,5 – 2,5 triệu người, GDP bình quân đầu người của Praha cao gấp đôi mức bình quân của Cộng hòa Séc và cao gấp rưởi (153%) mức  bình quân của Liên minh châu Âu.  Tôi thuở đến Tiệp Khắc học năm 1986 thì dân số Praha ước khoảng 1,2 triệu người và Praha trong mắt tôi thời ấy thật “xa hoa”, giống như câu nói lưu truyền dân gian “Muốn giàu đi Đức, tri thức đi Nga, xa hoa đi Tiệp”. Câu thơ của nhà thơ Tố Hữu trong “Nhật ký đường về” năm 1964: “Praha vàng tím chiều hè. Hỡi nàng công chúa nằm mê, mộng gì” lung linh trong đầu tôi. Thành phố  Praha nằm bên sông Vltava ở miền trung Bohemia, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của Séc trong hơn 1000 năm, như tôi đã kể tại “Tiệp Khắc đất nước con người”

Tại Quảng trường Con Gà có cái đồng hồ cổ mỗi khi đánh chuông báo giờ, chú gà gáy lảnh lót từ tòa tháp cao nhất và những vị thần lần lượt diễu qua ô cửa nhỏ… Các du khách ai cũng thích thú nán lại chờ xem gà gáy và những vị thần diễu qua ô cửa nhỏ. Gần bảy trăm năm trôi qua mà chương trình của đồng hồ vẫn chính xác một cách tuyệt vời ! Cầu đi bộ Charles, hoàn thành năm 1402 rất nổi tiếng, nối đôi bờ sông Vltava ở trung tâm thủ đô Praha. Sông Vltava có chiều dài 430 km với diện tích lưu vực là 28.090 km² là sông dài nhất của Cộng hòa Séc, sông chảy theo hướng bắc từ đầu nguồn tại Šumava gần biên giới với Đức qua Český Krumlov, České Budějovice, và Praha, hợp lưu vào sông Elbe tại Mělník. Sông Vltava có 31 km chảy trong địa bàn của thành phố Praha với 18 cây cầu bắc ngang sông, trong đó cầu Charles là danh thắng số một về cầu nối đôi bờ thủ đô Praha.

Goethe vĩ nhân huyền thoại

Tôi gặp Goethe ở Kalovi Vary trong rừng thiêng cổ tích. Người đã viết nên kiệt tác Faust, Nỗi đau của chàng Werther, bộ sử thi huyền thoại ngợi ca con người, mãi mãi bền vững với thời gian.

Goethe là nhà thông thái thiên tài, nhà thơ văn, nhà khoa học, triết gia, viết kịch và họa sỹ người Đức. Goethe tuy sinh ra và lớn lên ở Frankfurt am Main, thành phố lớn thứ năm của Đức, nhưng ông đã sống ở Leipzig (thuộc Đức) Strasbourg (thuộc Pháp), và nơi tưởng niệm Goethe tại Tiệp Khắc có ở rất nhiều vùng . Danh tiếng của ông vang dội toàn châu Âu và Thế Giới. Viện Goethe hiện có phân viện tại 13 thành phố ở Đức và 128 thành phố ở nước ngoài.

Goethe là giáo sư đại học, bạn thân và quân sư của Quận công Charles Augustus xứ Saxe-Weimar trong Đế quốc La Mã Thần thánh.  Các tác phẩm của Goethe là kiệt tác của nhân loại. Ông viết những điều vượt lên lịch sử, khoa học, tôn giáo, không bị cuốn hút vào những tham vọng, khát khao quyền lực, những sự kiện nổi bật của thực tại mà hướng tới CON NGƯỜI với khát khao hiểu biết và ước mơ vượt lên nghịch cảnh số phận.

Hai tác phẩm nổi tiếng nhất của Goethe  là Faust và  Nỗi đau của chàng Werther.  Faust là tác phẩm thơ kịch văn xuôi độc đáo và tiêu biểu nhất của Goethe với 12.111 câu thơ thể tự do xen lẫn với văn xuôi, mở đầu là 32 câu thơ đề tặng, kế đến là 25 trường đoạn, thể hiện tâm trạng của Goethe cũng là  tâm trạng của thời đại. Cấu trúc và dịch lý tựa như kiệt tác Sấm ký Nguyễn Bỉnh Khiêm của Việt Nam

Faust I được Goethe sáng tác năm 1808, khi ông đang độ tuổi thanh xuân bế tắc và khao khát cống hiến,  với tâm trạng chán ghét muốn nổi loạn chống lại “sự cùng khổ Đức”. Đó là tâm trạng của các nhà văn và thế hệ thanh niên phong trào Bão táp và Xung kích. Goethe đặc biệt ngưỡng mộ vua nước Phổ là Friedrich II Đại Đế đã giành chiến thắng trong cuộc Chiến tranh Bảy năm (1756 – 1763). Goethe nung nấu viết được sử thi ghi lại những chuyển biến lớn của thời đại, làm quân sư chính đạo cho các quân vương và nhà lãnh đạo tài năng để thay đổi được thực trạng của nước Đức hiện thời. Ông viết:

“Vùng đất Đức, từ lâu đã bị ngoại bang vùi dập, bị các nước khác xâm chiếm,… nền thi ca Đức… thiếu niềm tự tôn của cả một dân tộc: chúng ta không hề thiếu tài năng. Lần đầu tiên thi ca Đức có được niềm tự hào thực sự, và tự hào hơn là nhờ Đức Vua Friedrich Đại Đế và những chiến công của Người trong cuộc Đại chiến Bảy năm. Tất cả mọi nền thi ca dân tộc đều mờ nhạt, càng mờ nhạt đi, nếu nó không dựa trên sự độc đáo nhân văn, không dựa trên những sự kiện gắn bó với nhân dân và những vị lãnh đạo xuất sắc của nước nó… Các vị vua phải được quan tâm trong chiến tranh và hiểm họa, trong những khi họ là những người đứng đầu mọi thứ, vì họ quyết định đến sự tồn vong của dân tộc và do đó họ sẽ được yêu thích hơn cả các vị Thần Thánh. Theo lối suy nghĩ này thì mỗi dân tộc vinh quang đều phải có một bộ sử thi… ” (Goethe).

Faust II gốm 5 hồi được Goethe bắt đầu khi ông đã năm mươi tuổi và hoàn thành ngày 22 tháng 7 năm 1831, một năm trước khi Goethe đi vào cõi vĩnh hằng lúc 82 tuổi. Faust II không còn là con người tuổi trẻ khát khao dấn thân nữa mà tuyển chọn những công việc rất hữu ích để giúp cho đời.

Faust đi từ một  nguyên mẫu dân gian Johannes Faust (hoặc Johann Faust, George Faust) là một nhân vật có thật, đặc biệt nổi tiếng ở vùng Đức Tiệp,  sống vào khoảng năm  1480 – 1541. Đó là một thầy thuốc, nhà chiêm tinh và “phù thủy” ảo thuật gia xuất chúng người Đức (ngôn từ để chỉ nhà khoa học tài năng có thể biến đá thành vàng). Trong thời kỳ kháng cách, chống mê tín dị đoan, cải cách tôn giáo thế kỷ 16 xuất hiện 68 giai thoại về nhân vật Faust được Johannes Spies ghi chép lại và từ đó lưu truyền trong dân gian về nhân vật này như một huyền thoại: người bán linh hồn cho quỷ dữ.

Sách truyện dân gian là một hình thức phổ biến của văn học châu Âu vùng  Bohemia thế kỷ 15-16. Những tác phẩm khuyết danh thường được in bằng giấy thông thường và bán rẻ nên lưu truyền khá phổ biến và rộng rãi trong công chúng. Nhân vật trong truyện dân gian thường thông minh, hóm hỉnh, nhiều yếu tố lạ, có hành động “kinh thiên động địa” trong những tình huống phức tạp, éo le… J.Spies cho xuất bản cuốn sách truyện dân gian về Faust năm 1587 cùng lời giải thích: Chuyện về Faust, kẻ làm quỷ thuật du đãng và là tên phù thuỷ. Hắn liên minh với quỷ sứ. Hắn phiêu lưu mạo hiểm. Và hắn phải nhận lấy số phận của mình. Kẻ không kính trọng thánh thần và là ví dụ khủng khiếp răn đe mọi người.

Faust trong dân gian là một học giả tài ba, sống nội tâm, ít chơi bời và không sa vào ham muốn quyền lực hoặc dục vọng như người đương thời mà khát khao kiến thức, hiểu biết, sống tự do phóng khoáng, không thích bị câu thúc, và chỉ chuyên giao du với những kẻ vô thần phù hợp với mình. Faust đã kết bạn với quỷ Mephisto ở dưới địa ngục và đã hiến linh hồn của mình cho quỷ để thỏa mãn ước mơ khám phá hiểu biết của mình. Kết cục Faust bị quỷ Mephisto hành hạ đọa đày đau khổ và máu óc Faust vung vãi khắp nơi nhưng quỷ dữ không thể nào khuất phục được Faust. Huyền thoại về  Faust với 68 câu chuyện đầy tính sử thi phiêu lưu mạo hiểm của một nhân vật có thật trong đời sống được công chúng hết sức ưa chuộng. Faust dám khát khao tự do, khám phá những bí mật của trời đất, xâm phạm đến sự thiêng liêng của thần thánh. Điều đó đã làm chất liệu nền, khơi nguồn cảm hứng cho Goethe ra đời kiệt tác Faust.

Goethe đã tìm thấy từ hình tượng nguyên mẫu của Faust trong dân gian, một khát vọng vô biên về sức mạnh sáng tạo và chinh phục của con người. Faust giống như Tôn Ngô Không của phương Đông, có thể lên thiên đường, xuống địa ngục,  trãi nhiều kiếp nạn nhưng cuối cùng đã tìm thấy chân lý “Chỉ những ai biết hăng say lao động, biết nổ lực chinh phục những đỉnh cao chí thiện thì mới xứng đáng được hưởng tự do và tình yêu cuộc sống.

Faust trong bí mật lâu đài cổ

Faust là hình bóng của Goethe trong kiệt tác ở quảng trường Old Town Square. Đó là  một con người chí thiện, yêu tự do, ước mơ hiểu biết. Kiệt tác Faust trong văn chương và kiệt tác Faust tại quảng trường Old Town Square đều rất nổi tiếng và bền vững với thời gian. Goethe đã dựng chân dung hình tượng Faust là một con người có tốt có xấu, có chính có tà, có thiện có ác, với những nỗ lực không ngừng vượt qua cám dỗ, dục vọng do sự tạo nghiệp của quỷ sứ Mephisto. Faust  là bài ca muôn thuở của tình yêu cuộc sống.

Faust trong văn chương của Goethe là tổng hòa của kịch, thơ, văn xuôi, tiên tri, dịch lý, là “kịch trong kịch” với nhiều tác phẩm nhỏ được lồng ghép nhau. Những đối thoại triết học thật sâu lắng và thích hợp cho những nhà nghiên cứu nhưng những hoạt cảnh ma quỷ và con người lại kích thích vùng tâm thức trẻ thơ của mỗi con người. Đọc Faust, ta hình dung như đọc Tây Du Ký, Sấm Trạng Trình, Truyên Kiều,  Kiếm hiệp Kim Dung, …

G. Chonhio nhận xét  “lịch sử nhân loại được hồi sinh trọn vẹn theo từng bước chân của Faust”. Faust từ một nhân vật có thật đã trở thành hình tượng huyền thoại trong dân gian và với kiệt tác của Goethe đã thành bất tử với thời gian . Điều này cũng tương tự như Trận Xích Bích thời Tam Quốc là chất liệu cho thơ và từ của Tô Đông Pha nhưng chính Tiền Xích Bích Phú và Hậu Xích Bích Phú của Tô Đông Pha lại là pho sử thi lưu dấu vùng địa linh Xích Bích neo đậu vào tim óc người đọc của nhiều thế hệ.

Goethe đã đoạn tuyệt với các mô tả sáo mòn cổ điển, đẽo gọt những sự kiện vụn vặt và những thị hiếu bình thường để khắc họa rất sâu tâm trạng của chính thời đại ông đang sống, hướng tới tương lai. Goethe đã khai mở, tiếp hợp với  thời kỳ khai sáng và chủ nghĩa lãng mạn. Chính vì vậy, Goethe đã có ảnh hưởng đặc biệt to lớn đến nền văn chương thế giới, nổi bật nhất ở châu Âu và nước Mỹ. Tác phẩm của Goethe hiện vẫn là nguồn cảm hứng trong âm nhạc cổ điển Đức, kịch, thơ, và triết học. Kiệt tác văn chương của  Goethe bền vững với thời gian.

Old Town Square là quảng trường nổi tiếng của lâu đài cổ Praha.  Kalovy Vary là vùng suối nước nóng nổi tiếng ở cộng hòa Sec, nơi có khu nghỉ dưỡng spa và rừng cổ tích với thư viện Goethe. Cuộc đời tôi thật may khi được lạc vào cả hai nơi kỳ diệu này trong thế giới của Goethe, được “Dạo chơi cùng Goethe”, lắng Người kể chuyện sử thi  khai mở tâm thức.

Đêm thiêng, bình minh và ngày mới bắt đầu.

Hoàng Kim

(*) Ghi chú: Tiệp Khắc kỷ niệm một thời, tôi viết lần đầu ngày 28 tháng 9 năm 2015 và dự định viết một ghi chép sâu hơn về  Praha Goethe và lâu đài cổ để bình giải Nỗi đau của chàng Werther và vở kịch thơ Faust là hai kiệt tác văn chương nổi tiếng của đại văn hào Goethe, danh nhân văn hóa thế giới, bậc thầy triết học và văn hóa lừng lẫy nhất của dân tộc Đức, lưu dấu rất đậm nét ở Tiệp Khắc. Năm nay, tôi đã hiệu đính và bổ sung bài viết này để hiến tặng bạn đọc.

CHƯA QUÊN SƯƠNG MUỐI GIÓ MÙA
Trinh Đường

Gửi một người nhờ mua
sương mù biên giới
-Tặng HGC-

Em nhờ anh mua bao nhiêu sương mù
Một làn mỏng làm khăn quàng
Một thung lũng để em vào ở ẩn ?
Sương Núi Nùng thương thu
Sương Hồ Tây để hồn ai hoá bướm
Còn sương mù trên đây
Dày
Đặc
Mịt mùng
Như quanh ta bỗng kín cổng cao tường
Như bốn mặt đều thiên la địa võng
Như trái đất bỗng lọt vào quả bóng
Bồng bềnh trôi trong một cõi hỗn hoang
Sương chặn xe úa hết ánh đèn vàng
Cứ đông đặc một trời hoa tuyết xốp
Tưởng xắn được ra từng mảng một
Để đắp thành vô số núi chiêm bao !

Em muốn mù sương biên giới tỉnh nào ?
Lạng Sơn, Hà Giang… không đâu bán cả
Chỉ có bán nấm tai mèo, thảo quả
Trao cho nhau những núi hẹn, sông thề
Qua tiếng khèn làm mây nước đê mê
Qua quả còn giao duyên lễ hội…
Đành lấy hồn đựng sương mù biên giới
Gửi về em nỗi nhớ thương dài…
Hà Giang 31/12/1996

Nhà thơ Trinh Đường (1 1 1917- 28 9 2001) đã vĩnh viễn ra đi nhưng tình yêu của ông đối với thơ, những bài thơ ông viết và những gì ông đã làm để gìn giữ và tôn vinh nền thơ dân tộc Việt vẫn còn mãi trong lòng chúng ta.

Cảm ơn nhà thơ Hoàng Gia Cương thơ hiền theo dòng thời gian đã lắng đọng những điều sâu sắc. Xin chọn lưu bài thơ CHƯA QUÊN SƯƠNG MUỐI GIÓ MÙA của nhà thơ Trinh Đường cảm hứng nhân tứ thơ ” Chưa quên sương muối gió mùa Không đi nên gửi nhà thơ mua dùm” của nhà thơ Hoàng Gia Cương và bài đối họa “NGƯỜI VỊN TRỜI XANH CHẤP SÓI RỪNG” của Hoàng Kim ngày 28 tháng 9 nhớ Trinh Đường.

NGƯỜI VỊN TRỜI XANH CHẤP SÓI RỪNG
Hoang Kim

Hà Giang ơi Hà Giang ơi
Núi thẳm mờ sương thấu cửa trời
Nơi đâu bạn cũ (*) thành sương khói
Bồng bềnh mây trắng dốc chơi vơi.

Trời rất xanh và rừng rất sâu
Mèo Vạc xa kìa, Lũng Dẻ đâu
Nào hang Cắc Cớ nào Công Cốc
Núi Tản ngàn năm biếc một màu.

Phình ngán Phình ngán Ắt tắc tím
Bạn ra kéo mình ra búa
Trò chơi mê mãi suối bên mai
Người vịn trời xanh chấp sói rừng.

(*) Hoàng Kim ở E568 F325B sau này là nòng cốt của F356 nước mắt Vị Xuyên, chính ủy sư đoàn Phạm Hồng (Hải Dương) là người thân.

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
Vietnamese Dan Bau MusicVietnam traditional music
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter hoangkim

Chào ngày mới 27 tháng 9


Vị trí của México

CNM365 Chào ngày mới 27 tháng 9 là ngày 29 tháng 8 âm lịch (năm 2019) Bài thơ không quên; Châu Mỹ chuyện không quên; CIMMYT tươi rói một kỷ niệm. Ngày 27 tháng 9 năm 1821 Quốc khánh Mexico giành được độc lập từ Tây Ban Nha. Ngày 27 tháng 9 năm 1905, Albert Einstein định rõ phương trình E=mc² trong bài luận “Quán tính của một vật có tùy theo nội dung Năng lượng?” xuất bản trên Tạp chí Vật lý học Annalen der Physik. Ngày 27 tháng 9 năm 1949 Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa xác định Mao Trạch Đông làm Chủ tịch chính phủ Nhân dân Trung ương, Chu Ân Lai làm Tổng lý Chính vụ Viện,  quốc kỳ là Ngũ tinh Hồng kỳ, Quốc ca là Nghĩa dũng quân tiến hành khúc tại Hội nghị Hiệp thương chính trị nhân dân Trung Quốc. Bài chọn lọc ngày 27 tháng 9: Bài thơ không quên; Châu Mỹ chuyện không quên; CIMMYT tươi rói một kỷ niệm. Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-27-thang-9/

BÀI THƠ KHÔNG QUÊN
Hoàng Kim
Nhân dân ta, dân tộc ta, non sông đất nước ta đời đời ghi nhớ ơn những người con trung hiếu đã hiến thân minh cho Tổ Quốc. Bài thơ không quên ĐẤT NƯỚC TÔI mỗi năm ngày 27 tháng 7, và ngày 29 tháng 8 âm lịch, chúng tôi đều học lại: Tấm ảnh Bác Hồ nghiêm trang lặng lẽ đã dạy chúng tôi thật nhiều điều: “Có những dòng sông mãi không chảy ra biển, chẳng phải vì bãi bờ níu kéo mà bởi lòng người còn gửi gắm trĩu nặng ở nơi đây! Có những thảm cỏ không ai nỡ đặt chân, chẳng phải vì cỏ non xanh mướt mà vì còn nhiều người con ưu tú đất Việt đang nằm dưới đất này! Có những khoảng trời thật trong xanh chỉ để dành cho hương trầm lan tỏa! Và có những khoảng thời gian, cả dân tộc ta cùng hướng về Ngày Thương Binh Liệt Sĩ “

Viengmochame

“Viếng mộ cha mẹ”; “Em ơi em can đảm bước chân lên”; “Mẹ”, ”Ba nén hương”; “Thư của người ra trận”; “Qua Thạch Hãn nhớ Linh Giang” “Linh Giang dòng sông quê hương”; “Thắp đèn lên đi em”; “Tháng Bảy mưa ngâu”, “Bạn ơi” “Ngày linh thiêng trong tháng linh thiêng” là những bài thơ không quên và chùm ảnh cùng chủ đề. “Viếng mộ cha mẹ” là bài thơ của đại tá Hoàng Trung Trực rút trong tập thơ “Dấu chân người lính”. “Em ơi em can đảm bước chân lên” là bài thơ của thầy giáo Nguyễn Khoa Tịnh. “Mẹ” là bài thơ của nhà thơ chiến sĩ Tô Hoàn, rút trong “Tuyển tập thơ lục bát Việt Nam” tái bản tháng 7 năm 2000, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin ấn hành. “Ba nén nhương” là bài thơ của nhà thơ thương binh Hoàng Cát đăng trên báo và trang thơ Nguyễn Trọng Tạo.”Thư của người ra trận” là bài thơ do anh Lê Trung Xuân đọc và Hoàng Kim chép lại theo trí nhớ sau khoảng thời gian hơn bốn mươi năm. Bốn người bạn Xuân, Chương, Trung, Kim đều cùng là sinh viên đại học nhập ngũ tháng 9 năm 1971. Chúng tôi cùng trong một tổ chiến đầu bốn người. Hai anh Xuân và Chương đều hi sinh năm 1972 tại Quảng Trị, còn Phạm Huy Trung và Hoàng Kim trở về trường cũ sau ngày đất nước thống nhất . Anh Xuân ra đi đã mang theo bí mật của bài thơ tình “Thư của người ra trận” mà cho đến nay chúng tôi vẫn chưa biết rõ ai là tác giả. “Thắp đèn lên đi em”; “Qua Thạch Hãn nhớ Linh Giang” “Linh Giang dòng sông quê hương”; “Tháng Bảy mưa ngâu” là thơ Hoàng Kim. “Ban ơi ” là bài thơ chưa rõ tác giả; “Ngày linh thiêng trong tháng linh thiêng” là bài viết của Trần Đăng Khoa..

VIẾNG MỘ CHA MẸ
Hoàng Trung Trực

Dưới lớp đất này là mẹ là cha
Là khởi phát đời con từ bé bỏng
Là lời mẹ ru dịu dàng cánh võng
Là gươm đao cha một thuở đau đời

Hành trang cho con đi bốn phương trời
Là nghĩa khí của cha, là nhân từ của mẹ
Vẫn bầu sữa tinh thần không ngừng không nghỉ
Để hành trang cho con đi tiếp cuộc đời

Cuộc đời con bươn chãi bốn phương trời
Nay về lại nơi cội nguồn sinh trưởng
Dâng nén hương mà lòng hồi tưởng
Thuở thiếu thời dưới lồng cánh mẹ cha

“Ước hẹn anh em một lời nguyền
Thù nhà đâu sá kể truân chiên
Bao giờ đền được ơn trung hiếu
Suối vàng nhắm mắt mới nằm yên”.

EM ƠI EM CAN ĐẢM BƯỚC CHÂN LÊN
Nguyễn Khoa Tịnh

Thầy ước mong em noi gương Quốc Tuấn

Đọc thơ em, tim tôi thắt lại
Lòng nghẹn ngào, nước mắt chảy rưng rưng
Nửa xót xa nhưng nửa lại vui mừng
Xót xa vì đời em còn thơ dại
Mới tuổi thơ mà cuộc đời đầy khổ ải
Mới biết cười đã phải sống mồ côi
Như chiếc thuyền giữa biển tự trôi
Như chiếc lá bay về nơi vô định
“Bụng đói” viết ra thơ em vịnh:

“Cơm ngày một bữa sắn trộn khoai
Có biết lòng ta bấy hỡi ai?
Vơi vơi lòng dạ, cồn cào bụng
Kể chi no đói, mặc ngày dài”

Phải!
Kể chi no đói mặc ngày dài
Rất tự hào là thơ em sung sức
Rất tự hào là em tôi đầy nghị lực
Đã hiển lộ mình qua “Cái chảo rang”

“Trung dũng ai bằng cái chảo rang
Lửa to mới biết sáp hay vàng
Xào nấu chiên kho đều vẹn cả
Chua cay mặn ngọt giữ an toàn
Ném tung chẳng vỡ như nồi đất
Quăng bừa xó bếp vẫn nằm ngang
Tốt đẹp đâu cần danh tiếng hão
Bạn cùng lửa đỏ, nóng chang chang”

Phải!
Lửa to mới biết sáp hay vàng!
Em hãy là vàng,
Mặc ai chọn sáp!
Tôi vui sướng cùng em
Yêu giấc “Ngủ đồng
Hiên ngang khí phách:

“Sách truyền sướng nhất chức Quận công
Ta sướng khi ra ngủ giữa đồng
Lồng lộng trời hè muôn làn gió
Đêm thanh sao sang mát thu không
Nằm ngữa ung dung như khanh tướng
Lấy mấy vần thơ tỏ nỗi lòng
Tinh tú bao quanh hồn thời đại
Ngủ đồng khoan khoái ngắm gương trong”

Tôi biết chí em khi “Qua đèo Ngang
Ung dung xướng họa với người anh hùng
Đã làm quân thù khiếp sợ:

“Ta đi qua đèo Ngang
Cũng gặp Người trèo qua núi hiểm
Đỉnh dốc chênh vênh
Xe mù bụi cuốn
Có lẽ thiên nhiên đã định bao giờ
Một dãy Hoành Sơn bát ngát trận đồ
Điệp điệp núi cao
Trùng trùng rừng thẳm.
Người thấy
Súng gác trời xanh
Gió lùa biển lớn
Nông dân rộn rịp đường vui
Thanh Quan nàng nhẽ có hay
Cảnh mới đã thay cảnh cũ.
Ta hay
Máu chồng đất đỏ
Mây cuốn dặm khơi
Nhân công giọt giọt mồ hôi
Hưng Đạo thầy ơi có biết
Người nay nối chí người xưa

Tới đây
Nước biếc non xanh
Biển rộng gió đùa khuấy nước
Đi nữa
Đèo sâu vực thẳm
Núi cao mây giỡn chọc trời

Nhớ thù nhà, luống thẹn làm trai
Thương dân nước, thà sinh phận gái
“Hoành Sơn cổ lũy”
Hỏi đâu dấu tích phân tranh?
Chỉ thấy non sông
Lốc cuốn, bốn phương sấm động.

Người vì việc nước ra đi
Ta muốn cứu dân nên thăm trận thế
Điều không hẹn mà xui gặp mặt
Vô danh lại gặp hữu danh
Cuộc đời dài ắt còn sẽ gặp nhau
Nay hội ngộ giữa đỉnh cao trời đất
Anh em ta ngự trên xe đạp
Còn Người thì lại đáp com măng
Đường xuyên sơn
Anh hùng gặp anh hùng
Nhìn sóng biển Đông
Như ao trời dưới núi.

Xin kính chào
Bậc anh hùng tiền bối
Ta ngưỡng mộ Người
Và tỏ chí với non sông
Mẹ hiền ơi!
Tổ Quốc ơi!
Xin tiếp bước anh hùng!”

Hãy cố lên em!
Noi gương danh nhân mà lập chí
Ta với em
Mình hãy kết thành đôi tri kỷ!
Đất Quảng Trạch này đâu kém Nam Dương
Tôi tự hào bài “Tỏ chí” của em:

“Quốc Tuấn ngày xưa chí vững bền
Thù nhà, nợ nước chẳng hề quên
Đến bữa quên ăn, đêm quên ngủ
Thương dân, yêu nước quyết báo đền
Văn hay thu phục muôn người Việt
Võ giỏi kinh hồn lũ tướng Nguyên
Mươi năm sau nữa ơi ông Tuấn
Nối chí ông, nay cháu tiến lên!”

Tôi thương mến em
Đã chịu khó luyện rèn
Biết HỌC LÀM NGƯỜI !
Học làm con hiếu thảo.
Mười lăm tuổi đã “Tập làm thầy giáo

“Vui gì hơn buổi đầu làm thầy giáo
Của lớp vở lòng đất mẹ yêu thương
Trưa nắng luyến các em cùng đến lớp
Giọng líu lo như chim hót ven đường.

Đứng trước các em tuổi nhỏ đáng yêu
Mà đã tưởng tới bao nhiêu người lớn
Nghe em đọc giọng thanh thanh dễ mến
Mà đã nghe đất nước xuyến xao mình!”

Tổ Quốc đang chờ em phía trước.
Em ơi em, can đảm bước chân lên!

(*) “Bụng đói”, “Cái chảo rang”, “Ngủ đồng”, “Qua đèo Ngang”, “Tỏ chí”, “Tập làm thầy giáo” là những bài thơ Hoàng Kim được thầy Nguyễn Khoa Tịnh trích dẫn in nghiêng trong bài thơ này.

MẸ
Tô Hoàn

Con về thăm mẹ chiều mưa
Mới hay nhà dột gió lùa bốn bên
Hạt mưa sợi thắng sợi xiên
Cứ nhằm vào mẹ những đêm trắng trời
Con đi đánh giặc một đời
Mà không che nổi một nơi mẹ nằm!

BA NÉN HƯƠNG
Hoàng Cát

Nén hương này con thắp giỗ mẹ
Bom ập đến mẹ về cõi thế

Nén hương này anh thắp giỗ em
Ở lại miền Nam không có mộ để anh tìm

Nén hương này tôi thắp giỗ thân tôi
Chiến tranh cướp đi hai chục năm rồi

Ba nén hương một mình tôi làm giỗ
Giỗ chính mình, giỗ mẹ, giỗ em tôi !

THƯ CỦA NGƯỜI RA TRẬN
(Bài thơ chưa rõ tác giả)

Anh viết cho em lá thư dài tâm sự
Trời Lục Nam đêm này khó ngủ
Cũng mơ màng như nét bút anh biên.

Ở quê hương giờ chắc đã lên đèn
Sau vất vả một ngày lao động
Đêm nay nhé cùng anh em hãy sống
Những ngày đầu thơ ấu của tình yêu.

Nhớ lắm em ơi những sớm những chiều
Ta sánh bước dưới trời cao trong vắt
Anh nắm tay em, em cười trong mắt
Trăng thẹn thùng lẫn vội bóng mây trôi
….
Rồi từ đó bao đêm thao thức bồi hồi
Anh mơ được cùng em xây tổ ấm
No đói có nhau ngọt bùi khoai sắn
Một căn nhà đàn con nhỏ líu lô

Tấm lòng em là cả một bài thơ
Anh muốn viết như một người thi sĩ
Ruộng lúa nương khoai tấm lòng tri kỷ
Có bóng em đi thêm đẹp cả đất trời.

Nhưng em ơi khi ta bước vào đời
Đâu chỉ có bướm có hoa có trời có đất
Đâu chỉ có mơ màng những đêm trăng mật
Mà đất trời đã nổi phong ba

Tạm biệt em, anh bước đi xa
Khi thửa ruộng luống cày còn dang dỡ
Khi mầm non tình ta vừa mới nhú
Khi căn nhà còn tạm mái tranh.

Quê hương ơi xóm nhỏ hiền lành
Có biết chăng người yêu ta ở đó
Một nắng hai sương giải dầu mưa gió
Mắt mỏi mòn ai đó ngóng trông nhau.

Anh đi biển rộng sông sâu
Con thuyền nhỏ vẫn mong ngày cập bến
Đò có đông em ơi đừng xao xuyến
Nắng mưa này đâu chỉ có đôi ta.

Anh đi bão táp mưa sa
Chỉ thương em một cánh hoa giữa trời
Đời là thế đó em ơi
Buồn thương xa cách chia phôi là thường.

Anh gửi cho em lời nhắn lên đường
Bức thư của người ra trận
Dù mai sau trong niềm vui chiến thắng
Anh chưa về nhưng đã có thư anh …

HoangTranLeNguyendatphuongNam

THẮP ĐÈN LÊN ĐI EM !
Hoàng Kim

Thắp đèn lên đi em!
Xua tăm tối, giữa đêm trường ta học
Vũ trụ bao la đèn em là hạt ngọc
Cùng sao khuya soi sáng mảnh đất này
Dù sớm chiều em đã học hăng say
Dù ngày mệt chưa một hồi thanh thản
Đèn hãy thắp sáng niềm tin chiến thắng
Em thắp đèn lên cho trang sách soi mình.

Thắp đèn lên đi em!
Xua tăm tối giữa đêm trường ta học
Em đâu chỉ học bằng ánh mắt
Mà bằng cả lòng mình, cả khối óc hờn căm
Thù giặc giết cha, bom cày sập tung hầm
Nhà tan nát, sân trường đầy miệng hố
Hãy học em ơi, dù ngày có khổ
Lao động suốt ngày em cần giấc ngủ ngon
Nhưng đói nghèo đâu có để ta yên
Và nghị lực nhắc em đừng ngon giấc
Nợ nước thù nhà ngày đêm réo dục
Dậy đi em, Tổ quốc gọi anh hùng.

Thắp đèn lên đi em!
Xua tăm tối giữa đêm trường ta học
Mặc cho gió đêm nay lạnh về tê buốt
Tấm áo sờn không đủ ấm người em
Vùng dậy khỏi mền, em thắp ngọn đèn lên
Để ánh sáng xua đêm trường lạnh cóng
Qua khổ cực càng yêu người lao động
Trãi đói nghèo càng rèn đức kiên trung
Em đã đọc nhiều gương sáng danh nhân
Hãy biết nhục, biết hèn mà lập chí
Thắp đèn lên đi em, ngọn đèn dầu bền bỉ
Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin.

Thắp đèn lên đi em!

QUA THẠCH HÃN NHỚ LINH GIANG
Hoàng Kim

Đá Dựng Nguồn Son cũng giống đây
Quê hương bao máu thắm sông này
Tử sinh thấu hiểu con đường sống
Đất nước thanh bình phải vững tay.

(*) Cám ơn thầy Mai Văn Quyền, bạn Tu Phan Van gợi những ký ức không thể quên. Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời. Bài thơ không quên https://hoangkimlong.wordpress.com/cate…/bai-tho-khong-quen/

LINH GIANG
Hoàng Kim
Hãy học thái độ của nước mà đi như dòng sông

Nhà mình gần ngã ba sông
Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình
Linh Giang sông núi hữu tình
Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con

“Chèo thuyền cho khuất bến Son
Để con khỏi chộ nước non thêm buồn “

Câu ru quặn thắt đời con
Mẹ cha mất sớm, con còn trẻ thơ

Ra đi từ bấy đến chừ
Lặn trong sương khói bến đò sông quê
Ngày xuân giữ vẹn lời thề
Non sông mở cõi, tụ về trời Nam.

HOME RIVER
Hoang Kim
Learning the attitude of water that goes like the river

My house is near a confluence
Rao Nan, Cho Moi, Nguon Son, Quang Binh
Linh River charming Mountain River
The place where I was born.

“Rowing far away the SON wharf
Not to see our village that makes me sadder “
Lullaby makes me heart- rending
My parents died early when I was a baby.

Leaving our village since then
Diving in smog from the wharf of our river
Keeping full oath in Spring days
When the country unify, we’ll live together in the South

English translation
by NgocphuongNam

LINH RIVER
Hoang Kim
Learning the attitude of water that goes like the river

By confluence sited is my home
Rao Nam, Cho Moi, Nguon Son, Quang Binh
Linh river of charming
That is place releasing a person

Rowing out of the Son
Let is the upset not involved in my mind
Such a sad lunlaby
Parents is dead left five child barren

Leaving home since then
Smog of wharf is driven my life
When Vietnam unified
The South chosen the homeland to live.

English translation
by Vu Manh Hai

DSC02002

THÁNG BẢY MƯA NGÂU
Hoàng Kim

Tháng Bảy mưa Ngâu
Trời thương chúng mình
Mưa giăng
Ướt đầm vạt áo
Bảy sắc cầu vồng
Lung linh huyền ảo
Mẹ thương con
Đưa em về cùng anh.

Chuyến xe tốc hành
Chạy giữa trăm năm
Chở đầy kỷ niệm
Chở đầy ắp tình em
Từ nơi chân trời
Góc biển

Chàng Ngưu hóa mình vào dân ca
Con ngựa, con trâu
Suốt đời siêng năng làm lụng.
Thương con gà luôn dậy sớm
Biết ơn con chó thức đêm trường.

Em ơi !
Những câu thơ ông bà gửi lại
Đã theo chúng mình đi suốt thời gian.

Tháng Bảy mưa Ngâu
Đầy trời mưa giăng giăng
Thương nàng Chức Nữ
Em là tiên đời thường
Đầy đặn yêu thương

DSC02003

Tháng Bảy mưa Ngâu
Nhớ thương ai góc biển chân trời
Những cuộc chia ly
Đong đầy nỗi nhớ …

Chiêm bao mơ về chuyện cũ
Khói sương mờ ký ức thời gian
Chốn nào chúng mình hò hẹn
Nơi em cùng anh xao xuyến yêu thương

Ngắm mưa Ngâu tháng Bảy
Mưa, mưa hoài, mưa mãi
Mưa trong lòng người
Nên mưa rất lâu…

Mưa rơi như dòng lệ trắng
Đất trời thương nối một nhịp cầu.

Em ơi
Lời tình tự của nghìn năm dân tộc.
Như sắc cầu vồng
Nối hai miền xa cách
Để xa nên gần
Vời vợi nhớ thương.

Cầu vồng yêu thương


Tháng Bảy mưa ngâu
Cầu vồng yêu thương.

Bài thơ không quên BẠN ƠI

… BẠN ƠI ! (Ngày 27-7)
Nguồn: chưa rõ tác giả, theo Đức Thọ 24 https://www.facebook.com/DanDucTho/photos/a.500703206653194/2550552668334894/?type=3&theater

Tao về chiến địa năm xưa
Tìm mày nhưng mãi vẫn chưa thấy mày
Chỉ nghe sống lại những ngày
Mưa bom bão đạn xéo giày quê hương

Mày- tao giã biệt người thương
Xếp nghiên bút lại, lên đường tòng quân
Đêm rừng giá lạnh chung chăn
Chia nhau khói thuốc, trở trăn chuyện đời:

Mong khi chiến cuộc hết rồi
Cùng xin cha mẹ cưới người mình yêu
Chẳng mong bạc lắm, tiền nhiều
Chỉ mong hầu hạ sớm chiều thân sinh!

Ấy nhưng bom đạn vô tình:
Tao quăng một nửa thân mình nơi đây
Còn mày chết chẳng thấy thây
Dở dang ước nguyện về xây cuộc đời!

Chiến tranh kết thúc lâu rồi
Tao nay cũng đã da mồi, tóc râm
Mẹ mày vẫn mấy chục năm
Thâu đêm không ngủ chỉ nằm ngóng tin

Dẫu rằng biết đã hy sinh
Chỉ mong đón cốt con mình về chăm .
Hôm nay tao trở lại thăm
Bạn ơi hãy chỉ chỗ nằm cho tao

Mẹ mày chỉ mỗi ước ao
Được ôm mày trước lúc vào cõi mê!
Chỉ đi! Tao dẫn mày về
Về mà gặp Mẹ với quê hương mình!

NGÀY LINH THIÊNG TRONG THÁNG LINH THIÊNG
Trần Đăng Khoa

Đó chính là ngày 27 tháng 7. Không hiểu sao, vào một ngày linh thiêng trong tháng linh thiêng này, tôi cứ lẩn mẩn nghĩ đến mấy câu thơ Chính Hữu viết về đồng đội. Câu thơ thật giản dị mà lại sâu sắc, ám ảnh. Đối với những người lính, đồng đội là hớp nước uống chung, miếng cơm sẻ nửa, là chia nhau một sớm nắng, một chiều mưa, chia khắp anh em một mẩu tin nhà, chia nhau đứng trong chiến hào chật hẹp, chia nhau nụ cười, chia nhau cái chết…

Vâng! Đúng vậy! Và ngay cả khi đã chết rồi, những người lính ấy vẫn chẳng lìa nhau. Dù ngã xuống ở Điện Biên, trước cửa ngõ Sài Gòn, hay trên đảo Gạc Ma, đảo Hoàng Sa, Trường Sa những năm gần đây thì họ vẫn cùng chung nhau một ngày giỗ: Ngày 27 – 7.

Vào một ngày “giỗ đồng đội” như thế, tôi tham gia đoàn tháp tùng Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết về Nghĩa trang Trường Sơn, Nghĩa trang Đường 9. Lần đầu tiên, Chủ tịch nước đi tầu hỏa, ăn bánh mì luộc, uống nước gạo rang như những người lính vào mặt trận năm xưa, nghe lại những bài hát xưa của lính.

Có lẽ không ở nơi nào, số người chết trận nhiều như ở Việt Nam. Hầu như làng nào, xã nào cũng có Nghĩa trang Liệt sĩ. Rồi còn bao nhiêu những Nghĩa trang ở bên ngoài Nghĩa trang? Khi chủ tịch nước và đoàn tùy tùng thả những vòng hoa xuống dòng sông Thạch Hãn, rồi hai bên bờ sông nhói lên những câu thơ quen thuộc: Đò lên Thạch Hãn, xin chèo nhẹ – Đáy sông còn đó bạn tôi nằm – Bao tuổi hai mươi thành sóng nước – Vỗ yên bờ bãi, vỗ ngàn năm…Và tôi rùng mình, chợt nhận ra rằng, con sông Thạch Hãn trong vắt và lạnh buốt như nước mắt kia, hóa ra là một nghĩa trang bằng nước.

Tháng Tư vừa rồi, tôi trở lại Trường Sa. Trước khi vào Đảo, chúng tôi thả hoa xuống Biển Đông. Và cả một đại dương mênh mông, mặn đắng ấy cũng là một nghĩa trang bằng nước. Chúng ta còn có bao nhiêu những Nghĩa trang ở bên ngoài Nghĩa trang như thế trong vô vàn những con sông, những cánh rừng mù mịt thăm thẳm kia?

Nếu trên mộ mỗi người lính chỉ thắp một ngọn nến, thì đêm đêm, trên dải đất hình chữ S của chúng ta sẽ sáng rực lên như một dải Ngân hà.

Hiện nay vẫn còn trên 200.000 liệt sĩ chưa tìm được hài cốt. Và như thế, vẫn còn trên 200.000 người mẹ, người cha, người vợ, và những người con phấp phỏng, khắc khoải chờ đợi người thân trở về, dù người thân chỉ còn là một chút xương mỏng trong đất lạnh. Chiến tranh đã qua 37 năm rồi, nhưng trong lòng những người có lương tri, chiến tranh đâu phải đã tắt.

Mỗi năm chỉ có một ngày 27.7. Nhưng với chúng ta, ngày nào cũng phải là ngày 27.7, ngày đền ơn đáp nghĩa, để không một ông bố, bà mẹ, không một người vợ, người con liệt sĩ nào phải bần hàn, đói rét. Để họ khổ hạnh bần hàn là chúng ta có tội.

Ngày xưa, chúng ta từng xếp hàng tiếp máu, giúp các thương binh, bệnh binh vượt qua cái chết. Bây giờ, người “tiếp máu” cho chúng ta lại chính là các liệt sĩ nằm trong các nghĩa trang kia. Nói như một thi sĩ, chúng ta xếp hàng vào nghĩa trang, không phải chỉ để thắp hương, tri ân các liệt sĩ, mà chính là nhận lại những nguồn máu Cách mạng, nguồn máu trong trẻo, tinh khiết của những người đã khuất. Trong đời sống bụi bặm, ô nhiễm này, rất nhiều người trong chúng ta cần được tiếp máu, thậm chí là thay máu, để cuộc sống ngày một trong lành, tươi sáng hơn.

Và chỉ như thế, sự hi sinh của hàng triệu liệt sĩ mới thực sự có ý nghĩa. Một hiền triết nói rằng: Những anh hùng liệt sĩ chỉ thực sự chết chừng nào chúng ta không còn nhớ đến họ.
Bởi thế, một lần nữa, tôi cầu mong: Ngày nào cũng là ngày 27 Tháng 7.

Ảnh dưới lão Khoa ở Nghĩa trang Trương Sơn và Thành cổ Quảng Trị 27-7-2019

Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày
Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng KimNgọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Chào ngày mới 26 tháng 9


CNM365 Chào ngày mới 26 tháng 9. Dấu xưa Đêm Yên Tử; Ngày 26 tháng 9 năm 1983, sĩ quan Liên Xô Trung tá Stanislav Yevgrafovich Petrov, người sau này nhận được giải thưởng đặc biệt Công dân thế giới ngày 21 tháng 5 năm 2004, bởi sự kiện ngày 26 tháng 8 năm 1983 đã tránh được chiến tranh nguyên tử khắp thế giới bằng cách chứng nhận báo động giả mặc dù hệ thống báo trước cho rằng Hoa Kỳ đang tấn công, xem thêm Chiến tranh Lạnh, cuộc chạy đua giữa Mỹ và Liên Xô và Chuyến bay 007 của Korean Air Lines. Ngày 26 tháng 9 năm 1969, Album Abbey Road của ban nhạc The Beatles được phát hành tại Anh. Ban nhạc The Beatles có tên trong danh sách “Nhân vật quan trọng nhất của thế kỷ 20” của tạp chí Time,  là nghệ sĩ có số đĩa bán chạy nhất lịch sử với hơn 600 triệu đĩa đã bán trên toàn thế giới. Ngày 26 tháng 9 năm 2004, tạp chí Rolling Stone xếp The Beatles là nghệ sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại. N Ngày 26 tháng 9 năm 2007, Nhịp dẫn cầu Cần Thơ sập làm 54 người chết, 180 người bị thương.(Cầu Cần Thơ hiện nay, hình). Bài viết chọn lọc ngày 26 tháng 9 Dấu xưa Đêm Yên Tử; Thiên nhiên là thú thần tiên; Lưu Trọng Văn và Jennifer Chung; Ta về với Linh Giang; Hoa Đất , Nhớ châu Phi Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-26-thang-9/

DẤU XƯA ĐỨC NHÂN TÔNG
Hoàng Kim

Đức Nhân Tông với Đêm Yên Tử là trãi nghiệm sâu lắng nhất đời tôi, tác phẩm và trích dẫn biên khảo yêu thích. Tôi chép lại hai điểm nhấn quan trọng “Dấu xưa đêm Yên Tử” “Thơ Thiền đức Nhân Tông” với bốn bài thơ “Lên non thiêng Yên Tử”, “Tìm về đức Nhân Tông”, “Sông núi lưu ân tình”, “Biển Hồ NgọcTây Nguyên” của chính mình với bài Trần Nhân Tông (1247-1308): Minh quân và đạo sĩ của Nguyễn Đức Hiệp.

DẤU XƯA ĐÊM YÊN TỬ

Đêm Yên Tử, vào lúc nửa đêm, ngày mồng 1 tháng 11 năm Mậu Thân (1308) sao sáng đầy trời, Trúc Lâm hỏi: “Bây giờ là mấy giờ?”. Bảo Sát thưa: “Giờ Tý”. Trúc Lâm đưa tay ra hiệu mở cửa sổ nhìn ra ngoài và nói: “Đến giờ ta đi rồi vậy”. Bảo Sát hỏi: “Tôn sư đi đâu bây giờ?”. Trúc Lâm nói: “Mọi pháp đều không sinh. Mọi pháp đều không diệt. Nếu hiểu được như thế. Chư Phật thường hiện tiền. Chẳng đi cũng chẳng lại”.

( trước đó) sách “Tam tổ thực lục”, bản dịch, Tư liệu Viện Khảo cổ học, ký hiệu D 687, trang 12 ghi: “Ngày 18 ngài lại đi bộ đến chùa Tú Lâm ở ngọn núi Kỳ Đặc, Ngài thấy rức đầu. Ngài gọi hai vị tì kheo là Tử Danh và Hoàn Trung lại bảo: ta muốn lên núi Ngoạ Vân mà chân không thể đi được thì phải làm thế nào? Hai vị tỳ kheo bạch rằng hai đệ tử chúng tôi có thể đỡ đại đức lên được. Khi lên đến núi, ngài cảm ơn hai vị tỷ kheo và bảo các ngươi xuống núi tu hành, đừng lấy sự sinh tử làm nhàm sự.

Ngày 19 ngài sai thị giả Pháp Không lên am Tử Tiêu ở núi Yên Tử giục Bảo Sát đến ngay núi Ngoạ Vân….. Ngày 21, Bảo Sát đến núi Ngoạ Vân, Ngài thấy Bảo Sát đến mỉm cười nói rằng ta sắp đi đây, sao ngươi đến muộn thế?” “Mùa đông tháng 11, … ngày mồng 3, thượng hoàng (Trần Nhân Tông) băng ở Am Ngoạ Vân Núi Yên Tử”. Sách Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, Nhà Xuất Bản Văn hoá Thông tin, 2004, trang 570 chép.

Đêm Yên Tử, tôi đi lúc nửa đêm từ nơi khởi đầu tại khu lăng mộ đức Nhân Tông theo đường xưa mây trắng lên chùa Đồng, Tôi đi một mình trong đêm lạnh không trăng sao và thật tỉnh lặng với một đèn pin nhỏ trong tay, gậy trúc, khăn quàng cổ và ba lô. Tôi đã tới vòm đá hang cọp phía sau chùa Bảo Sái gần đỉnh chùa Đồng lúc ba giờ khuya và ngồi dưới chân Bụt Trần Nhân Tông với cảm giác thành tâm, an nhiên thật lạ, không lo âu và không phiền muộn. Nơi đây giờ này là lúc Trần Nhân Tông mất. Người từ chùa Hoa Yên lúc nữa đêm đã nhờ Bảo Sái, một danh tướng cận vệ và đại đệ tử thân tín, cõng Người lên đây. Bảy trăm năm sau, giữa đêm thiêng Yên Tử, đúng chính nơi và khoảng giờ lúc đức Nhân Tông mất, tôi lắng nghe tiếng lá cây gạo trên 700 tuổi rơi rất mỏng lúc canh khuya. Bóng của Phật Nhân Tông mờ mờ bình thản lưng đền. Lúc đó vụt hiện trong đầu tôi bài kệ “Cư trần lạc đạo” của đức Nhân Tông và bài thơ “đề Yên Tử sơn, Hoa Yên Tự” của Nguyễn Trãi văng vẳng thinh không thăm thẳm vô cùng …

THƠ THIỀN TRẦN NHÂN TÔNG

Trần Nhân Tông (1258-1308) là một trong những vị vua anh minh nhất của lịch sử Việt Nam. Người tên thật là Trần Khâm, vua Trần thứ ba (sau vua cha Trần Thánh Tông và trước vua Trần Anh Tông). Với 50 năm cuộc đời, Trần Nhân Tông đã kịp làm được ít nhất năm việc lớn hiếm thấy và khó ai bì kịp ở mọi dân tộc và mọi thời đại: 1) Minh quân lỗi lạc, làm vua 15 năm (1278 – 1293) trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến hai lần đánh thắng quân Nguyên Mông là đội quân xâm lược hùng mạnh nhất thời đó; 2) Tổ sư thiền phái Trúc Lâm và Thái Thượng Hoàng 15 năm (1294-1306), là vua Phật Việt Nam. 3) Nhà văn hóa và nhà thơ kiệt xuất với thắng tích Trúc Lâm Yên Tử và kiệt tác Trần Nhân Tông; 4) Người thầy chiến lược của sự nghiệp mở nước và thống nhất non sông Việt “vua tôi đồng lòng, toàn dân đồng sức”, mở đất phương Nam bằng vương đạo, thuận thời, thuận người . 5) Nhà trị loạn kỳ tài đã hưng thịnh nhà Trần và cứu nguy cho nước Việt ở thời khắc quyết định, biến nguy thành an, biến những điều không thể thành có thể.

Thơ Thiền Trần Nhân Tông là chỉ dấu quan trọng về Người

Cư trần lạc đạo phú
Đại Lãm Thần Quang tự
Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca
Đăng Bảo Đài sơn
Đề Cổ Châu hương thôn tự
Đề Phổ Minh tự thủy tạ
Động Thiên hồ thượng
Họa Kiều Nguyên Lãng vận
Hữu cú vô cú
Khuê oán
Lạng Châu vãn cảnh
Mai
Nguyệt
Nhị nguyệt thập nhất nhật dạ
Quỹ Trương Hiển Khanh xuân bính
Sơn phòng mạn hứng
I
II
Sư đệ vấn đáp
Tán Tuệ Trung thượng sĩ
Tảo mai
I
II
Tặng Bắc sứ Lý Tư Diễn
Tây chinh đạo trung (tái chinh Ai Lao)
Thiên Trường phủ
Thiên Trường vãn vọng
Tống Bắc sứ Lý Trọng Tân, Tiêu Phương Nhai
Tống Bắc sứ Ma Hợp, Kiều Nguyên Lãng
Trúc nô minh
Tức sự
I
II
Vũ Lâm thu vãn
Xuân cảnh
Xuân hiểu
Xuân nhật yết Chiêu Lăng
Xuân vãn

Hoàng Kim kính cẩn cảm nhận

LÊN NON THIÊNG YÊN TỬ

Tỉnh thức giữa đêm thiêng Yên Tử
Để thấm hiểu đức Nhân Tông
Ta thành tâm đi bộ
Lên tận đỉnh chùa Đồng
Tâm sáng Ức Trai trong tựa ngọc

“Yên sơn sơn thượng tối cao phong
Tài ngũ canh sơ nhật chính hồng
Vũ trụ nhãn cùng thương hải ngoại
Tiếu đàm nhân tại bích vân trung
Ủng môn ngọc sóc sâm thiên mẫu
Quải ngọc châu lưu lạc bán không
Nhân miếu đương niên di tích tại
Bạch hào quang lý đổ trùng đồng” (1)

Non thiêng Yên Tử đỉnh kỳ phong
Trời mới ban mai đã rạng hồng
Vũ trụ mắt soi ngoài biển cả
Nói cười lồng lộng giữa không trung
Giáo ngọc quanh nhà giăng vạn khoảnh
Cỏ cây chen đá rũ tầng không
Nhân Tông bảo tháp còn lưu dấu
Mắt sáng hào quang tỏa ánh đồng. (2)

Non thiêng Yên Tử
Nghìn năm Thăng Long, Đông Đô, Hà Nôi
Bảy trăm năm đức Nhân Tông
Non sông bao cảnh đổi
Kế sách một chữ Đồng
Lồng lộng gương trời buổi sớm
Trong ngần, thăm thẳm, mênh mông …

* (1) Thơ Nguyễn Trải (2) Bản dịch thơ của Hoàng Kim
Nguồn: THUNG DUNG thơ văn Hoàng Kim Lên non thiêng Yên Tử (2011) https://thungdung.wordpress.com/yentu/

SÔNG NÚI LƯU ÂN TÌNH

Thương nước biết ơn bao người ngọc (*)
Vì dân qua bến nhẹ tênh lòng
Nhớ bao tài đức đời phiêu dạt
Ân tình lưu mãi những dòng sông.

(*) An Tư, Huyền Trân, Ngọc Hoa, Ngọc Vạn, …

TÌM VỀ ĐỨC NHÂN TÔNG

Kinh Dịch xem chơi, yêu tính sáng yêu hơn châu báu.
Sách Nhàn đọc giấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim…
(Trần Nhân Tông)

Người ơi con đến đây tìm
Non thiêng Yên Tử như tranh họa đồ
Núi cao trùng điệp nhấp nhô
Trời xuân bảng lãng chuông chùa Hoa Yên

Thầy còn dạo bước cõi tiên
Con ươm mầm sống xanh thêm ruộng vườn
Mang cây lộc trúc về Nam
Ken dày phên giậu ở miền xa xôi

Cư trần lạc đạo Người ơi
Tùy duyên vui đạo sống đời thung dung
Hành trang Thượng sĩ Tuệ Trung
Kỳ Lân thiền viện cành vươn ra ngoài

An Kỳ Sinh trấn giữa trời
Thơ Thiền lưu dấu muôn đời nước non …

BIỂN HỒ NGỌC TÂY NGUYÊN

“Mây núi nào không bay cạnh núi,
Sóng nào chẳng ở chốn xa khơi.” (1)
Ban mai nắng hửng Tiên Sơn đẹp
Vàng sáng trời quang Biển Hồ ơi.

Dấu xưa Đêm Yên Tử
Thơ Thiền Trần Nhân Tông
Lên non thiêng Yên Tử
Sông núi lưu ân tình
Tìm về đức Nhân Tông
Biển Hồ Ngọc Tây Nguyên

Bạch Ngọc
tiếp dẫn thơ Tuệ Trung Thượng Sĩ (1)
ảnh Chùa Bửu Minh

Tài liệu trích dẫn

TRẦN NHÂN TÔNG (1247-1308):
MINH QUÂN VÀ ĐẠO SĨ
biên khảo của Nguyễn Đức Hiệp
(Nguồn: https://nghiencuulichsu.com/2012/10/02/tran-nhan-tong-1247-1308-minh-quan-va-dao-si/)

“Nhà ta vốn là dân hạ bạn
đời đời ưa chuộng việc hùng dũng”
Trần Nhân Tông

Trong lịch sử Việt Nam, có những vị vua giỏi giang cáng đáng và lãnh đạo nước trong những tình huống khó khăn. Trần Nhân Tông là một trong những vị vua đầu khai triều và xây dựng nhà Trần. Triều ông là giai đoạn cực thịnh nhất của nhà Trần. Ông lãnh đạo nước trong những thời kỳ gay cấn nhất của lịch sử Việt Nam: chiến tranh xâm lược của đạo quân Mông Cổ gieo rắc kinh hoàng ở khắp lục địa Á-Âu.

Trong hai cuộc xâm lăng của Mông Cổ lần hai và lần ba, ông đã cùng tướng sĩ và nhân dân đối phó và đánh bại giặc. Ông là người mở ra Hội nghị Diên Hồng hỏi ý kiến toàn dân và cùng nhân dân đối kháng địch. Trần Nhân Tông không những là vị vua cương chính và gần dân mà còn là một đạo sĩ Phật giáo hiền tài, một trong ba sư tổ sáng lập ra trường phái Trúc Lâm duy nhất ở Việt Nam.

1- Con người và sự nghiệp

(a) Bản chất con người

Thái tử Trần Khâm tức Trần Nhân Tông lên ngôi vua thay thế Thượng Hoàng Thanh Tông năm 1279. Ông là một vị vua có cốt ở dân và có một târn hồn Việt cội rễ. Ẩn tàng trong ông là ý thức về nguồn, gợi nhớ gốc tổ Rồng Tiên, như lời ông từng nói với con Trần Anh Tông và Quốc Công Trần Quốc Tuấn: “Nhà ta vốn là dân hạ bạn, đời đời ưa chuộng việc hùng dũng… thích hình rồng vào đùi để tỏ ra không quên gốc.” Tục xăm hình rất phổ biến trong dân gian Việt Nam từ thời Hùng Vương, đến đời Trần Nhân Tông thì phát triển mạnh mẽ. Từ vua quan đến quân dân đều vẽ xâm hình rồng trước bụng, sau lưng và hai vế đùi. Lúc này người ta chẳng những quan niệm xâm hình rồng để khi xuống nước không bị giao long làm hại mà còn ngầm nhắc nhở nhau về một nguồn gốc như lời vua nhắn nhủ.

Tục này thịnh hành đến nổi người Trung Hoa trông thấy gọi là “thái long” tức rồng vẽ. Theo sứ nhà Nguyên Trần Phụ, thì mỗi người dân Đại Việt còn thích chữ “Nghĩa di quyền phụ, hình vu báo quốc” (Vì việc nghĩa mà liều thân, vì ơn nước mà báo đền). Điều này cho thấy dưới đời vua Trần Nhân Tông, quân dân đều một lòng và tụ tập quanh một ông vua có căn cơ là gốc dân.

(b) Tư cách lãnh đao

Nhân Tông là một vị vua anh minh, biết dùng và trọng dụng nhân tài. Đời ông, nhân tài, anh hùng, tuấn kiệt lũ luợt kéo ra giúp nước, lòng người như một. Bên ông, về quốc triều có Thái sư Trần Quang Khải, về binh sự có các danh tướng Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Trần Nhật Duật .., về văn học có các văn thi sĩ uyên bác như Nguyễn Thuyên, Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi. Riêng Nguyễn Thuyên là người khởi đầu dùng chữ Nôm làm thơ phú, văn hay như Hàn Dũ bên Trung Quốc ngày xưa nên Nhân Tông cho đổi tên là họ Hàn.

Sự hiểu người và dùng người của ông được thể hiện qua một câu chuyện tiêu biểu sau. Trong không khí khẩn trương, khi con trai của Hốt Tất Liệt là Thái tử Thoát Hoan đang sôi sục căm hờn điều động binh mã ở biên thùy để sửa soạn tràn vào Đại Việt. Vào một ngày cuối năm Nhâm Ngọ (1282), tại bến Bình Than có một cuộc họp lịch sử giữa vua Trần Nhân Tông và các tướng sĩ. Giữa lúc vua Nhân Tông và mọi người đang bàn bạc sôi nổi, vua chợt nhìn ra ngoài sông và thoáng thấy một chiếc thuyền lớn chở đầy than theo dòng đổ về xuôi. Nhác thấy trên thuyền có một người đội nón lá, mặc áo ngắn, ngộ ngộ trông như người quen, vua bèn chỉ và hỏi quan thi thần:

– Người kia có phải là Nhân Huệ Vương không?

Rồi lập tức sai quân chèo thuyền nhỏ đuổi theo. Nhưng lát sau chỉ thấy quân trở về không, tâu với vua là ông lái ngang bướng ấy không chịu đến mà chỉ trả lời rằng:

– Lão già này là người bán than, có việc gì mà vua gọi đến!

Nghe thấy thế, các quan rất đổi ngạc nhiên và lo cho người bán than, cái tội khi quân mạn thượng này dù xử nhẹ cũng phải dăm chục trượng là ít. Nhưng Nhân Tông vẫn tươi cười mà rằng:

– Thế thì đúng là Nhân Huệ Vương rồi, người thường không dám trả lời ta như thế!

Rồi sai nội thị đi gọi: lần này “lão ta” chịu đến. Vua quan nhìn ra thì đích thị không sai. Người lái thuyền bán than đó chính là Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư. Đội chiếc nón lá và bận tấrn áo nâu ngắn bạc phếch, quần xắn tới đầu gối, trông ông ta thật phong trần. Nhưng lạ thay, cuộc sống lam lũ vẫn không làm mất được cái vẻ tinh anh quắc thước và dáng dấp hiên ngang ở người tướng vũ dũng của cuộc kháng chiến chống Mông Cổ năm xưa, vì nóng tính và trót phạm lỗi với triều đình nên bị cách chức và tịch thu gia sản. Chuyến đi hôrn nay của ông tình cờ lại hóa hay

– Thế nào, liệu khanh còn đủ sức đánh giặc hay không? – Nhân Tông ướm hỏi.

Nghe thấy hai chữ “đánh giặc”, mắt Trần Khánh Dư vụt sáng:

– Dạ, thần còn đủ sức. Mấy năm nay vung rìu đẵn gỗ, cánh tay thần xern ra còn rắng rỏi hơn xưa.

Nhân Tông cười vui vẻ và ngợi khen:

– Quả là gan Trần Khánh Dư còn bền hơn sắt đá. Được rồi còn phải xem khanh lập công chuộc tội ra sao?

Đoạn xuống chiếu tha tội cho Trần Khánh Dư, ban mũ áo, phong làm phó tướng quân rồi cho ngồi ở ghế cuối hàng vương để bàn việc nước. Thế là triều đình lại có thêm được một người tài giỏi đứng ra phò vua giúp nước.

Sự dùng người của Nhân Tông như thế xứng đáng phong cách của một người lãnh đạo: hiểu và dùng người đúng chỗ.

(c) Cách cư xử người

Trần Nhân Tông là một vị vua khí khái và nhân đức. Đối diện với bao phong ba bão táp, ông lãnh đạo tướng sĩ và nhân dân chống đỡ những cơn hiểrn nguy. Nhưng không lúc nào là ông không để ý đến tình trạng của quân dân.

Khi quân Mông Cổ với khí thế hung tàn tràn vào Đại Việt, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn vì kém thế thua chạy rút về Vạn Kiếp. Nhân Tông nghe Hưng Đạo Vương thua, liền ngự một chiếc thuyền nhỏ xuống Hải Dương rồi cho vời Hưng Đạo Vương đến bàn việc, nhân thấy quân mình thua, trong bụng không yên, mới bảo Hưng Đạo Vương rằng:

– Thế giặc to như vậy, mà chống nó thì dân sự tàn hại, hay là trẫm hãy chịu hàng đi để cứu muôn dân?

Hưng Đạo Vương tâu rằng:

– Bệ hạ nói câu ấy thì thật là nhân đức, nhưng mà tôn miếu xã ­tắc thi sao? Nếu bệ hạ muốn hàng, xin trước hãy chém đầu tôi đi đã, rồi sau sẽ hàng.

Nhân Tông nghe lời nói trung liệt như vậy, trong bụng mới yên.

Cũng vậy, đối với quân thù, trong trận chiến thắng lịch sử của quân ta ở Tây Kết (Khoái Châu, Hải Hưng), tướng giặc là Toa Đô bị trúng tên chết và Ô Mã Nhi phải chốn chui xuống thuyền vượt biển chạy về Trung Quốc. Khi các tướng thắng trận đưa đầu Toa Đô về nộp, Nhân Tông thấy người dũng kiện mà lại hết lòng với chúa, nên xúc động mới than rằng: “Làm bầy tôi nên như người này” rồi cởi áo ngự bào đắp vào đầu Toa Đô, sai quân dùng lễ mai táng cho tử tế.

Khi bóng quân Mông Cổ không còn trên đất Nam, triều đình bắt được một tráp chứa các biểu hàng của một số quan. Số là khi quân giặc đang cường thịnh, triều thần lắm kẻ hai lòng, có giấy má đi lại với chúng. Đình thần muốn lục tráp ra để trị tội, nhưng Nhân Tông và Thánh Tông Thượng Hoàng nghĩ xa đến sự hoà giãi dân tộc nên sai đem đốt cả tráp đi cho yên lòng mọi người và cùng nhau xây dựng lại cố đô. Duy chỉ những người thực sự hàng và hợp tác với giặc mới bị trị tội.

(d) Trị nước

Trách nhiệm giữ nước đã xong, Nhân Tông còn phải lo việc ngoại giao với giặc và xây dựng lại đất nước và con người. Với nhà Nguyên, Mông Cổ, vua không kiêu căng khi thắng, mà hoà khí, khiêm nhượng nhưng nhân chính. Sự tàn phá của quân Mông Cổ thật nặng nề đến nổi, lúc chiến thắng trở về Thăng Long, vua không còn cung điện để ở mà phải tạm trú ở Lăng thị vệ. Trong tờ biểu gởi Hốt Tất Liêt, Nhân Tông đã phải viết: “đốt phá hết chùa miếu trong nước, khai quật phần mộ tổ tiên, cướp bóc dân gian, phá phách sản nghiệp trăm họ, mọi tàn ác không việc nào trừ …”.

Hậu quả của chiến tranh tàn khốc như vậy cho nên phải có chính sách an dân và ủy lạo dân. Sau cuộc chiến, Nhân Tông xuống chiếu đại xá cho thiên hạ. Nơi nào bị địch đốt phá thì tha tô ruộng và tạp dịch toàn phần, các chỗ khác thì xét miễn giảm theo thứ bậc khác nhau. Chinh sách khéo léo và có tầm nhìn xa này, thể hiện một tinh thần thương dân và ở một đầu óc có tư tưởng đầu tư xây dựng lâu dài, đã được kể lại trong quyển “Long thành dật sự” như sau:

Sau chiến tranh, thành Thăng Long nhiều đoạn bị san bằng, vua Nhân Tông định hạ chỉ gấp rút xây lại thành trì. Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn can rằng: “Việc sửa lại thành trì không cần kíp lắm. Việc cần kíp của triều đình phải làm ngay không thể chậm trễ được là việc ủy lạo nhân dân. Hơn 4 năm, quân giặc hai lần tràn sang quấy rối, từ nơi núi rừng đến nơi đồng ruộng, đều bị tàn phá hầu hết. Vậy mà nhân dân vẫn một lòng hướng về triều đình, xuất tài, xuất lộc, đi lính và đóng thuế, làm nên một lực lượng mạnh cho triều đình chống nhau với giặc. Nay nhà vua được trở về yên ổn. Việc làm trước hết là chú ý ngay đến dân, những nơi nào bị tàn phá, tuỳ tình trạng nặng nhẹ mà cứu tế; nơi nào bị tàn phá quá nặng, có thể miễn tô thuế mấy năm. Có như thế dân mới nức lòng càng quy hướng về triều đình hơn nữa. Người xưa đã nói: “chúng chí thành thành” nghĩa là ý chí của dân là một bức thành kiên cố. Đó mới là cái thành cần sửa chữa ngay, xin nhà vua xử lý.”

Vua Nhân Tông vui vẻ nghe theo lời khuyên của Trần Quốc Tuấn. Đây cũng là một bài học quan trọng mà gần đây chúng ta đã không nắm mà nguy hơn nữa là đã làm ngược lại.

Cũng vậy để cải tổ bộ máy hành chánh, và thúc đẩy nền kinh tế giúp dân giàu mạnh. Trần Nhân Tông quyết định giảm thủ tục, các quan lộc và quan liêu trong nước. Trước một bộ máy quá lớn và quá nặng nề từ Thượng thư sảnh, Môn hạ sảnh, Nội mật viện, đến các quan, cac lục bộ, các cục (Nội thư hoả cục, Chi hậu cục..), các đài (Ngự sử đài), các viện (Khu mật viện, Hàn lâm viện, Thẩm hình viện, Quốc sử viện, Thái y viện,..), các ty .. khiến Trần Nhân Tông phải thốt lên :

” Sao một nước bé bằng bàn tay mà phong nhiều quan thế! “

Lại một lần nữa, vấn đề này cũng là vấn đề mà hiện nay chúng ta đang trực tiếp đối diện

(e) Trung hiếu và gia huấn

Trần Nhân Tông coi việc trung hiếu là quan trọng hàng đầu. Đối với thượng hoàng và các bề trên ông đều hết lòng đáp nghĩa. Ông thường lễ long trọng hàng năm trước các lăng tiền bối. Bài thơ của ông làm lúc về bái yết lăng ông nội Trần Thái Tông vẫn còn để lại trong sử sách.

Trượng vệ thiên môn túc
Y quan thất phẩm thông ..

(Qua nghìn cửa chào nghiêm túc,
Đủ áo mũ các quan của bảy chức ..)

Khi ông là Thượng hoàng, đối với con ông là Trần Anh Tông, ông để tự do nhưng đều khuyên bảo những điều nhân đức về phép trị dân. Sử sách chép rằng, Anh Tông là người có hiếu nhưng thường uống rượu và lẻn đi chơi đêm khắp kinh thành, đến gà gáy mới về. Vì thế có lúc Nhân Tông phải có thái độ cứng rắn.

Tháng năm năm Kỷ Hợi (1299), vua Anh Tông uống rượu xương bồ say quá. Thượng hoàng Nhân Tông từ phủ Thiên Trường (Nam Định), nơi các Thượng hoàng thường ở an dưỡng, về kinh sư, quan trong triều không ai biết cả. Nhân Tông thong thả xem khắp các cung điện, từ sáng đến trưa. Người trong cung dâng cơm, Nhân Tông ngoãnh trông, không thấy vua, ngạc nhiên hỏi ở đâu?

Cung nhân vào đánh thức nhưng vua say quá không tỉnh. Ông giận lắm, trở về Thiên Trường ngay, xuống chiếu cho các quan ngày mai đến họp ở phủ Thiên Trường. Đến chiều, vua Anh Tông mới tỉnh, biết Thượng Hoàng về kinh, sợ hải quá, vội vàng chạy ra ngoài cung gặp một người học trò tên Đoàn Nhữ Hài, mượn thảo bài biểu để dâng lên tạ tội, rồi cùng với Nhữ Hài xuống thuyền đi suốt đêm đến phủ Thiên Trường. Nhân Tông xem biểu rồi quở mắng một lúc, và tha lỗi cho Anh Tông. Từ đó vua Anh Tông không uống rượu nữa.

2- Xuất thế và thơ văn

Sau khi quân xâm lăng Nguyên Mông Cổ không còn dám có tham vọng chiếm Đại Việt, năm năm sau (1293) Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con ở Thăng Long rồi rút về Thiên Trường đi ngao du và bắt đầu xuất thế. Trước lúc đó, ông đã là một nhà đạo sĩ và thi văn nổi tiếng đời Trần. Đời của ông lúc này chuyển qua một giai đoạn khác, việc nước và gia đình đã xong giờ đến việc mình và đời sống tinh thần của bản thân.

Ông cùng các đệ tử của mình lên núi Yên Tử (Quảng Ninh) xây dựng các chùa. Một trong những chùa nổi tiếng nhất là chùa Hoa Yên. Ông là vị “tổ” đã có công lớn trong việc xây dựng nên phái Phật giáo ở vùng Yên Tử Sơn này. Trần Nhân Tông, cùng sư Pháp Hoa và sư Huyền Quang là tam tổ của trường phái Trúc Lâm và thường được goi là phái Trúc Lâm Tam Tổ vì chỉ riêng ở Việt Nam mới có.

Sự nhập thiền của Trần Nhân Tông không phải là một tiêu cực yếm thế. Thiền Trúc Lâm mang một hinh thái nữa có nữa không, nữa thực nữa hư và có một tinh thần biện chứng tích cực. Một thiền Phật giáo nhập thế mà tất cả mọi người dân đều có thể áp dụng theo đuổi ở mọi nơi, mọi lúc trong đời sống không phải chỉ ở cửa chùa. Bắt nguồn từ thiền Vô Ngôn thông, quan điểm cơ bản của thiền Trúc lâm là “tức tâm tức Phật”, Phật ở tâm, ở trong ta, khi đốn ngộ thì ta là Phật và Phật là ta. Từ Yên Tử Sơn, lâu lâu Nhân Tông đi ngao du các nơi, thăm thắng cảnh thanh bình của quê hương mình. Lúc qua Thiên Trường vào một buổi chiều, trong cảnh tranh tối tranh sáng của đồng quê Việt Nam, dưới con mắt Thiền của mình, ông đã xúc cảm làm một bài thơ tựa đề “Thiên Trường vãn vọng”

Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên
Bán vô bán hữu tịch dương biên
Mục đồng địch lý quy ngưu tận
Bạch lộ song song phi hạ điền

(Xóm trước thôn sau tựa khói lồng
Bóng chiều dường có lại dường không
Mục đồng sáo vẵng trâu về hết
Cò trắng từng đôi hạ xuống đồng)

Những buổi chiều của đồng quê Việt Nam đẹp đẽ và yên tỉnh như kia là một hiện thực, đã có từ nghin năm nay trong đời sống nhân dân, và đã tác động mạnh mẽ vào một tâm hồn Việt cội rễ của đạo sĩ Trần Nhân Tông.

Danh tiếng của đạo sĩ Trần Nhân Tông vang lừng khắp Đại Việt đến tận đất Chiêm Thành. Trong cuộc thăm viếng lịch sử chưa từng có của một Thượng hoàng nước Đại Việt, cả Chiêm Thành từ vua quan đến nhân dân một lòng tôn kính một hiền sĩ từ phương xa ghé vào. Nhân Tông cũng xúc động và học hỏi nhiều từ một nền văn minh khác. Đối với ông, con người đâu đâu cũng vậy. Biên giới chỉ là một hàng rào giã tạo đặt ra bởi sự không thông hiểu giữa con người. Ông đã nhin xa và muốn thắt chặt tình thân hữu anh em của hai dân tộc Việt-Chiêm. Ông đề nghị với vua Trần Anh Tông kết hợp con gái Nhân Tông (tức em gái Trần Anh Tông) là công chúa Huyền Trân với vua Chiêm Thành. Cả Chiêm Thành, từ sự kính trọng đối với một đạo sĩ hiền tài này, đã hoan hỷ chấp nhận. Vua Chiêm là Chế Mân (Jaya Sinhavarman III mà trước đây là thái tử Harijit đã cùng đồng minh Đại Việt chống quân Nguyên đổ bộ ở Chiêm Thành) đã tặng Đại Việt hai châu Ô và châu Rí trong cuộc hôn nhân lịch sử này. Nhưng tiếc thay sau khi Chế Mân và Trần Nhân Tông mất, chiến tranh lại tái diễn giữa hai dân tộc.

Năm 1308, Thượng hoàng Trần Nhân Tông băng hà ở am Ngọa Vân, núi Yên Tử. Sư Pháp Hoa thiêu xác ông, nhặt hỏa cốt và hơn ba ngàn hạt xá lị để vào hộp, mang về chùa Từ Phúc ở kinh sư.

Mùa thu năm 1310, linh cửu chứa hỏa cốt Thượng hoàng được rước về chôn ở làng Quý Đức, Phủ Long Hưng (Thái Bình). Khi nghe tin ấy, cả nước đều muốn tiễn linh cửu người Việt hiền tài này lần cuối cùng. Trước hết, tạm quàn Nhân Tông ở điện Diên Hiền, khi sắp phát dẫn, đã đến giờ rồi mà quan liêu dân chúng đứng xem đầy khắp cung điện, ngay cả tể tướng cầm roi xua đuổi mà cũng không thể giản ra được. Vua cho gọi Trịnh Trọng Tử đến bảo rằng: “Linh cửu sắp phát dẫn mà dân chúng đầy nghẽn như thế này thì làm thế nào ?”. Trọng Tử là người có tiếng là nhiều tài năng trí xảo nhất Thăng Long và cũng rất giỏi về âm nhạc. Trọng Tử lập tức đến thềm Thiên Trì gọi quan Hải khấu và quan Hổ dực do Trọng Tử trông coi đến ngồi la liệt ở thềm, sai hát mấy câu hát Long Ngâm. Mọi người đều ngạc nhiên, kéo nhau đến xem, cung điện mới giãn người, linh cửu mới rước đi được. Long Ngâm khúc là một lối hát vãn, giọng bi ai, nghe rất cảm động … Suốt mấy ngày ấy từ Thăng Long đến Thái Bình, Long Ngâm khúc của cả nước theo linh cửu của ngài đến nơi an nghĩ cuối cùng.

Một ngôi sao sáng đã vụt tắt trên bầu trời nước Đại Việt. Mặc dầu thể xác ông không còn và đã tan thành tro bụi như ông muốn, nhưng hồn ông vẫn còn trong lòng dân tộc Việt.

Lời bạt:

Trong lịch sử trên thế giới rất hiếm người tài vừa là vua trị vì vừa là một hiền triết. Văn minh La Mã có Marcus Aurelus, hoàng đế triết gia, vừa minh trị an độ nhân dân, độ lượng với mọi người và để lại tác phẩm triết học nổi tiếng “Meditations”. Ở phương đông hơn mười hai thế kỷ sau có Trần Nhân Tông, cũng một minh quân, sáng lập trường phái thiền Trúc Lâm Việt Nam với các tác phẩm thiền “Khoá Hư lục”(1), “Thiền lâm thiết chủy ngữ lục”, “Tăng già toái sự” (5) không kém sâu sa.

Thiền Trúc Lâm Yên tử tuy không còn, nhưng dư âm vẫn còn vọng: cuối thế kỷ 18, Ngô Thì Nhậm mong tái lập lại dòng thiền này với tác phẩm “Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh”, gần đây chùa Trúc Lâm ở Đà Lạt là một cố gắng mong muốn khôi phục dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Hoàng thành cổ Thăng Long nay đã được khám phá, một ngày nào đó tôi hy vọng là điện Diên Hiền sẽ được hồi phục. Nguời người sẽ được đến tận nơi vua làm việc, đãi yến, nơi linh cửu vua tạm quàn, hình dung cảnh quan và tưởng nhớ mùi hương thiền toả ngát sáu trăm năm mươi năm trước và tưởng tượng trở lại thời vàng son của thiền Việt Nam với minh quân Trần Nhân Tông. Núi Yên Tử giờ đã có cáp treo, nhưng đi hành hương đường dốc bộ vẫn là tốt nhất theo dấu chân của Thượng hoàng Nhân Tông.

(1) Theo Thiều Chửu và một số nhà nghiên cứu cho là Trần Nhân Tông là tác giả “Khóa hư lục” chứ không phải Trần Thái Tông

Tham khảo

(1) Đại Việt Sử Ký toàn thư, Quyển 5 và 6, Kỷ Nhà Trần, Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam, 1993

(2) Khuyết danh, Thiền uyển tập anh, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1990

(3) Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận,http://www.quangduc.com/lichsu/17vnpgsuluan.html

(4) Tạ Ngọc Liễn, Vài nhận xét về Thiền Tông và phái Trúc Lâm – Yên Tử đời Trần, Nghiên cứu Lịch sử, số 4 (175), tháng 7,8/1977, p. 51-62

(5) Nguyễn Duy Hinh, Yên Tử – Vua Trần – Trúc Lâm, Nghiên cứu Lịch sử, số 2 (173), tháng 3,4/1977, p. 10-21. — tại Đỉnh Thiêng Yên Tử – Chùa Đồng.

Video yêu thích
KimYouTube
Trở về trang chính
Hoàng Kim Ngọc Phương NamThung dungDạy và họcCây Lương thựcDạy và HọcTình yêu cuộc sốngKim on LinkedInKim on FacebookKim on Twitter

Chào ngày mới 25 tháng 9


Sông Hồng và lưu vực

CNM365 Chào ngày mới 25 tháng 9. Thiên nhiên là thú thần tiên; Lưu Trọng Văn và Jennifer Chung; Ta về với Linh Giang; Hoa Đất , Nhớ châu Phi Ngày 25 tháng 9 năm 1951, Chiến tranh Đông Dương: Lực lượng Việt Minh vượt sông Hồng tiến vào khu vực Tây Bắc, mở đầu Chiến dịch Lý Thường Kiệt. Ngày 25 tháng 9 năm 1881, ngày sinh Lỗ Tấn, nhà văn Trung Quốc. Ngày 25 tháng 9 năm 1982, ngày mất Đặng Thai Mai, giáo sư, nhà giáo, nhà phê bình văn học Việt Nam, nguyên là Bộ trưởng Bộ Giáo Dục, và Viện trưởng đầu tiên Viện Văn Học Việt Nam. Bài chọn lọc ngày 25 tháng 9: Thiên nhiên là thú thần tiên; Lưu Trọng Văn và Jennifer Chung; Ta về với Linh Giang; Hoa Đất , Nhớ châu Phi Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-25-thang-9/

Thiên nhiên là thú thần tiên

THIÊN NHIÊN LÀ THÚ THẦN TIÊN
Hoàng Kim

Thiên nhiên là thú thần tiên
Chân quê là chốn bình yên đời mình
Bạn hiền bia miệng anh linh
Thảnh thơi hưởng trọn ân tình thế gian.

Thien nhien la thu than tien 3
Thien nhien la thu than tien 4
Thien nhien la thu than tien 5

LƯU TRỌNG VĂN VÀ JENNIFER CHUNG
Hoàng Kim

Cám ơn anh Lưu Trọng Văn xin được lưu ảnh và chép lại bài viết này. Cao hơn trang văn là cuộc đời, tính tốt và trí tuệ, nghị lực vươn tới.

Lưu Trọng Văn ĐẾN MỸ
(Nguồn: FB Lưu Trọng Văn)

Đến Mỹ, gã nghe nói nhiều về các cô các cậu con ông cháu cha học tại các trường đại học của Mỹ chỉ ăn chơi là chính còn việc thi cử đã có hẳn dịch vụ làm bài hộ, làm luận án hộ, thậm chí cả thi hộ.

Đồng chí A B C… con của gia đình có truyền thống cách mạng, tốt nghiệp đại học của Mỹ, và thế là bổ nhiệm, và thế là vù vù lên chức và thế là trở thành hạt giống đỏ lãnh đạo tương lai.

Trong khi đó có rất nhiều bạn trẻ gốc Việt ở Mỹ đã tự mình phấn đấu cật lực vươn lên, vượt lên.

Gã gặp một trong số bạn trẻ đáng tự hào cho người Việt đó: Jennifer Chung. Hiện cô gái 26 tuổi này đang điều hành một công ty ở California chuyên chăm sóc sắc đẹp da và sản xuất các loại dược phẩm chăm sóc da.

Gã tặng cho cô một cây bút. Cô lấy bút ký tên mình lên giấy và nói: chữ ký của tỉ phú Mỹ tương lai.

Gã tin vào điều cô gái nói khi được đọc bài diễn thuyết của cô lúc cô 20 tuổi với tư cách một hoa hậu châu Á ở Mỹ trước hàng ngàn sinh viên trường đại học UC Berkeley danh tiếng:

“Tôi lớn lên ở Rochester – một thành phố nhỏ trong tiểu bang Minnesota, nơi có mùa thu tươi đẹp với đa dạng sắc màu, mùa đông lạnh buốt khi tuyết rơi dày trên mặt đất và mùa hè với thời tiết nóng vừa phải.

Mẹ tôi làm hai công việc cùng lúc, ban ngày thì phục vụ bàn ở một nhà hàng Trung Hoa, đêm đến thì làm công việc của một y tá theo ca. Tôi cũng không rõ vì đâu mà mẹ tôi có thể xoay sở làm hai công việc một lúc như vậy trong khi bà thậm chí còn không có thời gian để ngả lưng khi phải chăm lo cho 3 miệng ăn (trong đó có cả bố tôi nữa).

Dù sao đi chăng nữa, tôi cũng nhớ rất rõ. Sheila độ chừng 2 tuổi, còn tôi thì 5 tuổi rưỡi. Đêm ấy, tôi đã quyết định sẽ thức đợi mẹ về. Khi nghe thấy tiếng mở cửa xe ô tô của mẹ, hai chị em tôi chạy ùa ra khỏi căn hộ bé tý của mình và ngồi trước bậc thềm trong bộ đồ ngủ siêu dễ thương đợi mẹ bước tới phía cửa kính nơi ra vào.

Tôi có thể thấy những bông tuyết rơi và cảm nhận mình rét run. Đến giờ tôi vẫn nhớ vẻ mặt hốt hoảng của mẹ khi thấy hai đứa trẻ ngồi đó đợi mình về. Bà chạy nhanh về phía chúng tôi và ôm chầm lấy, nước mắt tràn trên má của bà.

Vì chỉ mới là một đứa trẻ 5 tuổi, tôi không hiểu lý do vì sao bà khóc. Nhưng thấy bà khóc, tôi cũng khóc òa theo. Rồi ba người chúng tôi cứ ngồi đó cho tới khi mẹ tôi nhận ra rằng chúng tôi sẽ bị đóng băng mất nếu cứ ngồi lì ở đó.

Đêm đó, tôi đã cảm nhận được mẹ tôi yêu chúng tôi đến nhường nào, và chúng tôi cũng yêu bà biết chừng nào.

Giờ thì tôi có thể lý giải một cách hợp lý nhất lý do vì sao tôi bật khóc. Tôi không thể làm được việc gì giúp cho mẹ. Mới chỉ là một đứa trẻ 5 tuổi rưỡi và tất cả những gì tôi có thể làm là tồn tại như một lý do để mẹ lao động vất vả và cực nhọc.

Tôi biết rằng, bất kể cả thế giới này có sụp đổ dưới chân mình, mọi thứ có thể biến mất, nhưng chỉ cần chúng tôi ở bên nhau thì mọi chuyện đều sẽ ổn cả.

Gia đình là nòng cốt, là hạt nhân của sức mạnh và tình yêu ở mỗi người. Điều mà tôi đã học được ngay từ tuổi thơ đó là: Gia đình không phải là điều gì quan trọng mà gia đình là tất cả.

Tất cả những gì tôi có hiện nay, công việc kinh doanh của gia đình, địa vị, tình cảm khăng khít với anh chị em trong gia đình sẽ không thể nào có được nếu thiếu đi niềm tin và sự cống hiến của mẹ dành cho gia đình.

Khi còn là một đứa trẻ, bố tôi là cả thế giới đối với tôi. Tôi còn nhớ, hồi ấy, sáng thứ Bảy nào, tôi cũng dậy thật sớm để xem ông pha cà phê theo kiểu Việt Nam. Nếu tôi thức dậy đúng giờ đó, bố sẽ làm cho tôi một cốc thêm nhiều sữa hơn – đúng cái vị mà tôi thích.

Bố thậm chí còn nghiền đá nhỏ ra để tôi có thể nhai được. Và rồi bố con sẽ đứng cạnh cánh cửa trượt và đón buổi sớm cùng nhau. Đó là khi tôi mới 6 tuổi, cách đây 14 năm về trước.

Rồi đến năm tôi lên 9. Thời gian trôi qua chỉ trong nháy mắt. Tôi, dù vẫn là một đứa trẻ, xong bố đã không còn là cả thế giới với tôi nữa. Mà thực ra là tôi cũng không chắc, thế giới có ý nghĩa gì đối với mình. Người cha yêu dấu và hoàn hảo – người hàng tuần vẫn làm cho tôi món đồ uống ưa thích này đã trở thành một người xa lạ đáng sợ và hung hãn.

Tuy nhiên, mỗi khi mẹ hỏi tôi: “Nếu bố mẹ không ở cùng nhau nữa, con muốn ở cùng với ai?”. Tôi luôn chọn bố. Và tôi làm thế không phải vì tôi yêu bố hơn, mà từ tận sâu trong mình, tôi biết, bố cần tôi hơn mẹ vì bố không biết tiếng Anh.

Với mong muốn bố sẽ quay trở lại là người đàn ông mà tôi biết thuở còn nhỏ đã khiến tôi không thể nhận ra rằng mẹ mới chính là người cần có tôi lúc đó.

Còn đây là tôi năm 15 tuổi. Mặc dù mãi sau này tôi mới nhận ra nhưng tôi vẫn luôn tự nhủ: Muộn còn hơn không. Tôi nhận ra những cố gắng của mình trong việc thay đổi bố là vô vọng. Ông không thể là người bố như trong nhận thức năm tôi lên 6 tuổi nữa bởi vì ông không còn là một người như thế nữa.

Cái ngày đó cuối cùng cũng tới khi bố gọi tôi ra và nói với tôi rằng ông sẽ đi. Lúc đó, tôi chẳng hiểu chuyện gì đang diễn ra, bố sẽ đi xa hàng tháng, và vì lý do nào đó, mọi thứ trở nên rõ ràng hơn khi tôi nhận ra rằng không phải vì tôi không cố gắng giúp ông thay đổi mà là chính bản thân ông không muốn thay đổi. Tôi nhận thấy tôi đã tốn quá nhiều công sức và thời gian để hàn gắn lại mối quan hệ cha-con đã từng tồn tại trong trí nhớ của một đứa bé gái.

Trong cuộc sống, chúng ta có rất nhiều cơ hội để làm quen với những người bạn mới, nhưng không may thay, chúng ta cũng có rất nhiều cơ hội để đánh mất họ.

Điều mà tôi rút ra được đó là bạn không thể làm vừa lòng tất cả mọi người – đơn giản là vì bạn sẽ không bao giờ có đủ thời gian hay sức lực để làm điều đó. Vậy thì tại sao lại phải tốn sức vào những việc không xứng đáng với thời gian mình bỏ ra như vậy nữa?

Có thể tôi sẽ mất tất cả những tháng ngày đó nhưng những thứ mà tôi rút ra được đó là cuộc đời mỗi con người tồn tại trên trái đất này rất ngắn – thực tế là quá ngắn để có thể lãng phí cho những người không yêu thương mình hay mình cũng không thể sống mãi đủ lâu dài cho tới khi họ yêu thương mình.

Gia đình tôi ít tổ chức lễ Giáng sinh hay bất kỳ ngày lễ quan trọng nào. Không phải vì gia đình tôi không quan tâm đến những thứ đó, chúng tôi là những người nhập cư, giống như bao người nhập cư khác, chúng tôi vẫn đang cố hòa nhập theo cách sống “Mỹ”.

Tôi vẫn nhớ khi xem những bộ phim về Giáng sinh và thấy những cây thông trang trí rực sáng ánh đèn với cả một biển quà dưới chân. Tôi biết là tôi luôn khao khát được trải qua một mùa Giáng sinh như thế, một ngày “Giáng sinh hoàn hảo”.

Nhưng gia đình tôi không thể nào cho tôi cơ hội được tận hưởng một kỳ nghỉ Giáng sinh như thế. Năm nào tôi cũng ngập trong cảm giác thất vọng. Chúng tôi không thể mua nổi cây thông trang trí, một ngôi nhà có ống khói hay bất kỳ món quà nào.

Một vài hôm trước kỳ nghỉ Giáng sinh năm tôi học lớp 6, tôi tình cờ nhìn thấy một cây thông công chúa Disney màu hồng rất nhỏ. Nhưng đó là vật gần nhất cây thông nô-en vậy nên tôi đã nài nỉ một hồi lâu.

Tôi đã rất hạnh phúc bước ra từ cửa hàng Disney đó trong tay cầm cây nô-en nhỏ bé. Đêm đó, tôi đã làm tất cả những gì có thể để ông Già Nô-en biết tôi ở đâu. Tôi đã viết một bức thư rất dài, tôi thích món quà gì và tôi
cố gắng giải thích cho ông hiểu rằng tôi không có bánh bích-quy sô-cô-la hay ống khói để ông có thể ra khỏi nhà mình.

Đêm đó tôi đi ngủ mà không biết rằng mẹ đã lén vào phòng của tôi lần xem bức thư của tôi gửi ông già Noel. Sau đó mẹ đã một mình băng ra trời tuyết trắng xoá lấy hết đồng tiền mẹ vừa kiếm được mua những món quà mà tôi thích.

Khi mẹ tôi lén đưa những món quà ấy đặt bên tôi rồi lặng lẽ đi ra thì tôi thức dậy và biết sự thật. Mẹ khép cửa lại rồi, tôi oà khóc. Khóc vì nhận ra rằng Ông già Nô-en không hề tồn tại.

Bốn năm sau đó trôi qua nhanh chóng – tôi đã trưởng thành hơn – vượt qua những ám ảnh về quà tặng của ông già Nô-en, nhưng vẫn mơ ước về một kỳ Giáng sinh hoàn hảo.

Và rồi, cuối cùng, tôi cũng có được cơ hội. Khi khả năng tài chính bây giờ đã có vẻ ổn định hơn, mẹ tôi hiểu Giáng sinh có ý nghĩa thế nào đối với chúng tôi, và tôi đã có thể tự một mình đi ra cửa hàng. Tôi đã mua về, như các bạn có thể tưởng tượng thấy, một cây thông lớn xanh mượt – với những bóng đèn xanh, đỏ – những vật treo trang trí lấp lánh – và cả một bữa ăn Giáng sinh thịnh soạn.

Mặc dù không giống như trong phim ảnh, nhưng đó là ngày lễ Giáng sinh của chúng tôi. Vì vậy, bằng cách nào đó mà ông Già Noel vẫn tồn tại. Bởi vì, khi mà thứ bạn hằng mong muốn diễn ra, do bạn làm ra thì bạn chính là Ông già Nô-en của chính mình.

Bài học ở đây là… Không bao giờ là quá muộn để có một tuổi thơ hạnh phúc. Nhưng bài học lớn hơn ở đây chính là bạn phải dựa vào chính bản thân mình vì không ai khác có thể thay đổi thứ mà bạn muốn thấy.

Chúng ta có thể đều là những người đã trưởng thành nhưng không quên mình đã từng là một đứa trẻ tự trong đáy lòng. Không bao giờ quên những thứ mà chúng ta đã không có được hoặc những điều mình chưa làm khi còn thơ bé, hãy chia sẻ những điều này với người khác và để họ chia sẻ điều đó với bạn.

Từ nhỏ Mẹ tôi đã dạy tôi….Yêu thương. Và cũng từ nhỏ Cha tôi đã dạy tôi……Tự lập và đừng trông chờ vào sự ban bố thương hại của kẻ khác cho dù người đó là cha mình thì họ vẩn có thể bỏ mình đi.

Bạn không cần ai chỉ cho bạn rằng bạn có thể làm gì và không thể làm gì. Nếu bạn tin vào chính mình, bạn có thể làm được điều đó. Khi không ai khác bên bạn, bạn chỉ còn lại một mình.

Và cuối cùng tuổi thơ khổ cực đã dạy tôi…Niềm tin.

Rằng bất kể có điều gì xảy ra trong cuộc sống, không bao giờ được nhìn lại phía sau, mà hãy luôn hướng về phía trước. Chỉ có nắng mới có thể xuất hiện trong mưa. Khi đời nghiệt ngã, bạn sẽ mạnh mẽ hơn.”

haydivephiamattroihk

VUI ĐI DƯỚI MẶT TRỜI
Hoàng Kim

Hãy lên đường đi em
Ban mai vừa mới rạng
Vui đi dưới mặt trời
Một niềm tin thắp lửa

Ta như ong làm mật
Cuộc đời đầy hương hoa
Thời an nhiên vẫy gọi
Vui đời khỏe cho ta.

Video và thông tin yêu thích
Cách mạng sắn ở Việt Nam

KimYouTube

Video yêu thích
Giúp bà con cải thiện mùa vụ (Video Long Phu ở Lào)
Vietnamese food paradise
KimYouTube
Trở về trang chính
Hoàng Kim Ngọc Phương NamThung dungDạy và họcCây Lương thựcDạy và HọcTình yêu cuộc sốngKim on LinkedInKim on FacebookKim on Twitter

Chào ngày mới 24 tháng 9


CNM365 Chào ngày mới 24 tháng 9. Ta về với Linh Giang; Hoa Đất , Nhớ châu Phi Thiên nhiên là thú thần tiên; Ngày 24 tháng 9 năm 1973 Ngày độc lập tại Guiné-Bissau; Ngày 24 tháng 9 năm 1946, Cathay Pacific được thành lập tại Hồng Kông, hiện là một trong những hãng hàng không lớn nhất thế giới.  Ngày 24 tháng 9 năm 1957 Sân vận động Camp Nou được khánh thành tại Barcelona, Tây Ban Nha, đây là sân vận động lớn nhất châu Âu. Ngày 24 tháng 9 năm 1997, Trần Đức Lương bắt đầu đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch nước Việt Nam. Bài chọn lọc ngày 24 thang 9: Ta về với Linh Giang; Hoa Đất , Nhớ châu Phi; Thiên nhiên là thú thần tiên Bay lên; Quản lý bền vững sắn châu Á; Có những lớp sinh viên như thế; Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-24-thang-9/

Ta về với Linh Giang

TA VỀ VỚI LINH GIANG
Hoàng Kim


Ta về với Linh Giang
Nhớ quay quắt những người thân thiết
Linh Giang ơi Linh Giang
Lời thề trên sông Hóa

Ta khóc lúc ra đi
Và khóc lúc trở về …

Cầu này nơi phà Gianh năm xưa
Nối con đường Bắc Nam sinh tử
Hoành Sơn, Linh Giang, Lũy Thầy
Tuyến công thủ ba tầng hiểm trở

Cuối một dòng sông là cửa biển
Thanh Khê nối đôi bờ hội tụ
Rào Nậy Rào Nan Nguồn Son
Bài ca Trường Quảng Trạch, Ba Đồn.

Linh Giang dòng sông quê hương
linh-giang-dong-song-que-huong
(*) ảnh cầu Gianh của anh Bu Lu Khin
https://hoangkimlong.wordpress.com/…/…/ta-ve-voi-linh-giang/

 linh-giang-dong-song-que-huong

LINH GIANG DÒNG SÔNG QUÊ HƯƠNG
Hoàng Kim
Hãy học thái độ của nước mà đi như dòng sông

Nhà mình gần ngã ba sông
Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình
Linh Giang sông núi hữu tình
Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con

“Chèo thuyền cho khuất bến Son
Để con khỏi chộ nước non thêm buồn “

Câu ru quặn thắt đời con
Mẹ cha mất sớm, con còn trẻ thơ

Ra đi từ bấy đến chừ
Lặn trong sương khói bến đò sông quê
Ngày xuân giữ vẹn lời thề
Non sông mở cõi, tụ về trời Nam.

LỜI THỀ TRÊN SÔNG HÓA 1288
Hoàng Kim


Sông Hóa ơi Bạch Đằng Giang
Ta đến nơi đây chẳng một lần
Lời thề sông núi trời đất hiểu (*)
Lời dặn lại của Đức Thánh Trần

Sông Hóa ơi hời ơi Linh Giang
Quê hương liền dải tụ trời Nam
Minh Lệ, Hưng Long hai bầu sữa
Hoàng Gia trung chính một con đường.

Rào Nan Đá Dựng chốn sông thiêng
Nguồn Son Chợ Mới đẹp ân tình
Minh Lệ đình xưa thương làng cũ
Nguyện làm hoa đất của quê hương.

Đất nặng ân tình đất nhớ thương
Ta làm hoa đất của quê hương
Để mai mưa nắng con đi học
Lưu dấu chân trần với nước non.

HOA ĐẤT
Người ta hoa đất (*), an nhàn vô sự là tiên (**)
Thung dung cỏ hoa thế giới người hiền
Hoàng Kim

Điền trúc măng ngon
hôm qua chăm mai
sớm nay hái nấm
chiều về thu măng.

Thung dung thanh nhàn
sống giữa thiên nhiên
sửa bài cho em
vui cùng bạn quý.

Đọc sách dọn vườn
lánh chốn bon chen
thảnh thơi cuộc đời
chơi cùng hoa cỏ.

Nhà xinh hoa thơm dịu cửa
Đất lành gió mát đưa hương.

Xưa lên non Yên Tử
mang lộc trúc về Nam
nay đến chốn thung dung
vui nhởn nhơ hái nấm.

Ơn Thầy
thung dung Hoa Đất
thầy bạn là lộc xuân cuộc đời
phúc hậu, an nhiên, minh triết, tận tâm.
Hoa Lúa
ngọc cho đời
Đạo ẩn vô danh (***)

(*) Tục ngữ Việt Nam
(**) Nguyễn Bỉnh Khiêm
(***) Lão Tử

Le Anh Duc added 2 new photos. September 15 at 5:32pm ·

Buổi bảo vệ luận văn thạc sĩ với rất nhiều người quan tâm tham dự, có cả 2 chuyên gia người Nhật Bản cũng đến tìm hiểu kết quả nghiên cứu“.

Kim Loan Phan: “Giống khoai Nhật đỏ đã góp phần làm giàu cho người dân Tuy Đức, Đắk Nông thầy ạ

Hoàng Kim Cám ơn em Kim Loan Phan với quà tặng khoai lang Nhật đỏ HL518 Việt Nhật. Khoai Việt từ giống tốt đến thương hiệu, từ Vĩnh Long miền Tây đến Đăk Nông Tây Nguyên đang mang lại nguồn lợi thu nhập và niềm vui cho nhiều hộ gia đình nông dân nghèo. Chúc các em tiếp nối bảo tồn và phát triển, tuyển chọn hệ củ khoai lang HL518 Nhật đỏ phẩm chất rất ngon năng suất cao theo đúng bản tả kỹ thuật và phẩm cấp giống gốc đã đăng ký. Em học gương bảo tồn và phát triển của “Thanh trà Thủy Biều cố đô Huế” tạo vùng khoai ngon Nhật đỏ HL518 Đăk Nông .

Có một ngày như thế

CUỐI DÒNG SÔNG LÀ BIỂN
Hoàng Kim

Cuối một dòng sông là cửa biển Cuối một cuộc tình là yêu thương. Đức tin phục sinh thánh thiện Yêu thương mở cửa thiên đường’.

tt2-1

Chúng tôi là những bạn học chung lớp của lứa sinh viên khóa 2 khoa Nông học Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh đã kéo nhau về dâng hương tại Văn Miếu Trấn Biên ở Biên Hòa gần Cù Lao Phố sông Đồng Nai. Nơi đây lưu dấu nhiều huyền thoại đất và người phương Nam, dòng sông hò hẹn, cuối một dòng sông là cửa biển, và vùng đất thiêng bậc nhất của đất phương Nam, đầy ắp những câu chuyện lạ.

songdongnai

Theo tài liệu Khoa học vui “Con sông nào chảy trong nội địa dài nhất Việt Nam?” Sông Đồng Nai chảy qua các tỉnh Lâm Đồng, Đăk Nông, Bình Phước, Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh là con sông nội địa dài nhất Việt Nam, với chiều dài trên 437 km và lưu vực 38.600 km², nếu tính từ đầu nguồn sông Đa Đưng thì dài 586 km còn nếu tính từ điểm hợp lưu với sông Đa Nhim phía dưới thác Pongour thì dài 487 km. Sông Đồng Nai đổ vào biển Đông tại khu vực huyện Cần Giờ. Các phụ lưu chính của nó gồm sông Đa Nhim, sông Bé, sông La Ngà, sông Sài Gòn, sông Đạ Hoai và sông Vàm Cỏ. Các chi lưu của nó có tên gọi là sông Lòng Tàu (sông Ngã Bảy), sông Đồng Tranh, sông Thị Vải, sông Soài Rạp (sông Soi) v.v.

Giáo sư Tôn Thất Trình trong bài viết “Lạm bàn phát triển tỉnh Đồng Nai – Biên Hòa” đăng trên blog Quà tặng (The Gift) đã giới thiệu tổng quát: “Sông Đồng Nai tuy chỉ được xem là con sông đứng hàng thứ ba ở Việt Nam, sau sông Hồng và sông  Mê Kông nhưng chiều dài  chảy trong nước lại đứng hạng nhất 635 km trước sông Hồng  566 km, còn sông Cửu Long đứng hạng 8,  230 km,   chỉ trên sông Thu Bồn hạng 9,  205km . ( Thái Công Tụng, Vietnamologica , 2005 ). Phần sông Đồng Nai chảy qua tỉnh Đồng Nai ngày nay chỉ dài 294 Km .  Tên cũ của sông Đồng Nai là sông Phước Long , còn có tên là sông Hòa Quí.  Theo Đại Nam Nhất Thống Chí (bản dịch của Phạm Trọng Điềm 1997 và Hòang Đỗ sưu tập 2003 ), có đôi chút  địa lý không hòan tòan đúng theo  phân chia hành chánh hay gọi tên ngày nay.

Giáo sư Tôn Thất Trình cũng trong bài viết trên, đôi chút xuôi dòng lịch sử, đã kể tiếp: “Đồng Nai xứ sở lạ lùng. Dưới sông  sấu lội , trên bờ cọp um (Ca Dao miền Nam). Trước khi hình thành và phát triễn Nam Kỳ Lục Tỉnh, vùng đất hoang vu này, từ đầu Công Nguyên đến thế kỷ thứ 7, thuộc về vương quốc Phù Nam, bao gồm một vùng đất bao la trải dài từ  lưu vực sông Cửu Long đến sông Mênam xuống tận các đảo Mã lai (  Lâm Văn Bé, Dòng Việt số 17 năm 2005 ). Tháng 11 năm 1998, ở làng Phú Mỹ  huyện Cát Tiên khám phá ra một ngôi làng cổ, tuổi đã 2500- 3000 năm.  Đây là một phức tạp di tích  gồm  đền đài, tháp và rất nhiều  di vật tiền sử, chứng tỏ có sự lẫn lộn của  một văn hóa Phù Nam ở miền  Nam và văn hóa  Champa. Trong số di vật  có nhiều  tượng thờ như Linga – Yoni, những vật liệu linh thiêng thờ cúng, dùng các bộ phận sinh dục con người làm biểu tượng.  Có một Linga  cao 2.1 m  là một di vật  lọai này lớn nhất thế giới. Ngòai ra  còn nhiều dấu tích khác  chứng tỏ Cát Tiên cũng có thể là một thánh địa của Vương Quốc Phù Nam, xây dựng  cách đây 2000 năm. Thật ra  dưới thời Pháp thuộc, lưu vực sông Đồng Nai  với các địa điểm như cù lao Rùa, Cù Lao Phố,  bến Đò…  đã được các nhà khảo cỗ ( Cartailahac  1888, Grossin 1902, Loesh 1909, Barthère và Ripelin 1911, Malleret và Jansé 1937) …  khai quật nhiều lần, nhiều nơi, tìm được hàng ngàn cỗ vật như búa rìu bằng đá, bằng đồng, sắt, xương sọ, dụng cụ đá mài nhẵn … chứng tỏ rằng lưu vực sông Đồng Nai  đã có người cư ngụ 4000 – 2500 năm nay rồi, không có lịch  sử, không chữ viết ghi chép, nên họ là người tiền sử. Trước thời vương quốc Phù Nam, họ là những con người tiền phong đến khai thác hạ lưu sông Đồng Nai, tạo ra một nền văn minh hái lượm, làm ruộng nước nữa ( Theo Hứa Hòanh,  Tập san Đi Tới, số 69 và 70, năm 2003 ) .

Năm 1620, vua Chen Chetta II đến Thuận Hóa xin cầu hôn với công nương Ngọc Vạn, con chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên. Chúa Nguyễn lợi dụng việc gả con gái này đưa người Việt đi vào lập nghiệp ở vùng đất Phù Nam cũ ở hạ lưu sông Đồng Nai, trên danh nghĩa là đất Chân Lạp, nhưng trong thực tế  là đất vô chủ, bởi lẽ từ nhiều thế kỷ, vì sự suy yếu  nội bộ, vì chiến tranh liên tiếp với Xiêm La, vùng đất này hòan toàn hoang vu, không có guồng máy cai trị của Chân Lạp. Trước khi người Việt đến, vùng này chỉ có vài mươi nóc  nhà  người Miên- Môn, theo nhà văn quê quán Biên Hòa Bình Nguyên Lộc còn có thể cả người  tộc dân Mạ, hay có thể cả tộc dân Cho Ro, tộc dân Stiêng, cả ba thuộc họ Nam Á , ngôn ngữ thuộc hệ Môn Miên (Khmer)  vì ảnh hưởng xưa cũ của hai nước Phù Nam và Chân Lạp. Nguyễn Cư Trinh gọi chung  là Côn Man (Côn Miên), ở trên các gò cao sâu trong rừng vùng Preikor ( Sài Gòn ), sống biệt lập  với người Miên ở vương triều.

Năm 1623, Chúa Sải  cho đặt  hai trạm thu thuế ở  Prei Nokor ( Sài Gòn, nay ở khỏang quận 5 và Kas Krobei ( Bến Nghé, nay ở khỏang quận 1). Trịnh Hoài Đức cũng xác nhận trong Gia Định Thành Thống  Chí  là dân các tỉnh phía Bắc xứ Đàng Trong đã vô Mô Xòai từ đời các Tiên hoàng đế Nguyễn Hòang 1558- 1613, và chúa Sải Nguyễn Phước Nguyên ( 1613- 1635 ). Sử ghi là  năm 1665, có độ 1000 người Việt  vào lập nghiệp ở vùng đất mới này ( cũng theo  Lâm Văn Bé, Dòng Việt 2005

Năm 1679, các tướng giỏi nhà Minh là Trần Thường Tuấn và Dương Ngạn Địch và thương nhân Mạc Cữu đã tới đất phương Nam. Nguyên là năm đó nhà  Mãn Thanh thay thế nhà Minh, tướng trấn thủ Quảng Đông là Dương Ngạn Địch với Phó Tổng Binh Hoàng Tiến và Tổng binh châu Cao, châu Lôi, châu Liêm  là Trần Thượng Xuyên, Phó Tổng Binh là Trần An Bình  đem 3000 quân  và 50 chiến thuyền chạy thẳng vào cửa Tư Hiền Đà Nẳng xin làm thần dân chúa Nguyễn. Chúa Hiền Nguyễn Phước Tần  dung nạp họ, cho Trần Thượng Xuyên vào cửa biển Cần Giờ, định cư ở Bàn Lân  xứ Đồng Nai, Cù Lao Phố Biên Hòa, Dương Ngạn Địch ở Mỹ Tho cũng khai khẩn đất đai và lập phố phường buôn bán. Người Hoa hay Minh Hương tập trung ở cù lao Phố  lập thành làng Thanh Hà, chuyên nghề thương mãi.  Cù lao Phố là  đô thị người Hoa đầu tiên ở Việt Nam  phát triển liên tục trên nữa thế kỷ, đóng một vai trò  quan trọng  xuất nhập cảng cho xứ Đồng Nai. Địa danh Cát Lái, đáng lý phải gọi là “ Các Lái “ để chỉ danh  một bến đò, một  chỗ họp chợ của  người buôn bán sĩ, các ghe lái thương hồ  chở  chén đĩa, lu hũ , đá tán kê nhà, cối xay bột… đưa về miền Tây, đồng bằng Sông Cửu Long và chuyên chở thóc lúa gạo trái cây nông sàn lên buôn bán ờ Nông Nại và Gia Định.

Năm  1689, Chúa Nguyễn Phước Chu sai Thống suất Nguyễn Hửu Cảnh  làm Kinh Lược  xứ Đồng Nai, lúc đó có tên là Đông Phố,  chia đất Đông Phố đặt huyện Phước Long, lập dinh Trấn Biên; lấy xứ Sài Côn, đặt huyện Tân Bình, lập dinh  Phiên Trấn ( tức là Gia Định ). Và đặt phủ Gia Định  thống thuộc hai dinh  Trấn Biên, Phiên Trấn. Lúc này, cả hai huyện  Phước Long và Tân Bình, theo Nguyễn Hữu Cảnh thống kê, đã mở rộng đất ngàn dặm, dân số hơn 4 vạn hộ (theo Đại Nam Thực Lực Tiền Biên, quyễn IV). Chúa Nguyễn Phúc Chu  sai chiêu mộ thêm lưu dân từ  Bố Chính trở vào Bình Thuận đến ở  đây, thiết lập xã, thôn, phường, ấp, chia ranh giới, khai khẩn ruộng đất, đánh thuế tô, thuế dung, làm bộ đinh, bộ điền (Phan Khoang ,  Việt sử xứ Đàng Trong, xuất  bản năm 1967).

Năm 1739, chúa Nguyễn Phúc Khoát sai Nguyễn Cư Trinh  sang đánh vua Cao Miên là  Nặc Nguyên phải bỏ chạy và xin nộp đất miền Nam Gia Định là Tầm Bôn và Lôi Lạp để giảng hòa. Trước đó Nặc Nguyên đánh phá Hà Tiên. Thương nhân Mạc Cửu là di dân thời Minh đồng thời với tướng Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên, trước đó đã qui phục  chúa Nguyễn và làm Tổng Binh Hà Tiên, cùng với con là Mạc Thiên Tích nối nghiệp cha,  phát triễn  phồn thịnh Hà Tiên, chống lại  vua Cao Miên và Xiêm La.

Năm 1747,  Cù Lao Phố đánh dấu một biến cố lớn. Hơn 60 năm thành lập, Nông Nại đại phố sầm uất hơn bao giờ hết. Một tên cầm đầu bọn khách thương người Phúc Kiến là Lý Văn Quảng, dậy lòng tham cùng 300 đồng đảng tự xưng là “ Nông Nại  đại phố vương”  định chiếm  Nông Nại, tổ chức như một triều đình, đã đánh úp dinh Trấn Biên, hạ sát trấn thủ dinh là Cẩn Thành Hầu Nguyễn Cao Cẩn.  Phó  tướng dinh Trấn Biên là Lưu thủ Cường, tước Cường Oai Hầu, rút ván cầu “ Chợ Đồn”  bắc  ngang  giữa cù lao Phố và đồn canh bờ sông, cố thủ.  ChúaNguyễn Phúc Khoát đã sai Cai  cơ Tống Phúc Đại đem binh cứu viện. Tống Phước Đại  bắt được Lý Văn Quảng  cùng đồng bọn là 57 người. Lớp còn lại  bỏ trốn vào rừng hay  theo sông Đồng Nai xuống Tân Bình.

Năm 1782 ngày 7 tháng 7  tại Chợ Quán ở Nông Nai đại phố có khoảng 4000 người Hoa đã  bị quân Tây Sơn  giết.  Chuyện là trong số tàn quân rã ngũ của Lý Văn Quảng mấy chục năm sau  có hai tên là Lý Tài và Tập Đình  giỏi vỏ nghệ, khôn ngoan,  được dân du thủ du thực tôn làm anh chị, thuộc  phe Thiên địa hội “ Phản Thanh Phục Minh”. Bọn Lý Tài, Tập Đình trước đó theo Tây Sơn nhưng  sau khi được Chu Văn Tiếp ở Đồng Xuân Phú Yên chỉ điểm đã trở cờ đến xin theo phò  Đông cung Dương từ Quảng Nam chạy vào Qui Nhơn.  Đang lúc sa cơ,  Đông cung đãi Tài và Đình như thượng khách và  khi Đông Cung tới Gia Định hợp với  quân của chúa Định , lấy hiệu là Tân Chính vương khi chúa Định nhường ngôi, Lý Tài được phong làm  đại nguyên sóai. Làm cho quân Đông Sơn do tướng Đỗ Thành Nhơn  phò tá  chúa Định vào Gia Định trước Đông cung, bất mãn. Hay tin ấy, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ kéo đại quân vào đánh, tới núi Châu Thới bắt được Lý Tài giết ngay. Huệ đuổi theo quân Nguyễn bắt được Tân Chính Vương ở Ba Vát, Thái Thượng Vương ở Cà Mau, đem về Sài Gòn hành hình.  Nguyễn Nhạc vào Nam, khi hay tin viên hộ giá thân tín của mình là Phạm Ngạn bị giết, đã nổi trận lôi đình, ra lịnh  tàn sát tất cả người Hoa  ở cù lao Phố ( vì  Nhạc còn nghi thêm là người Hoa đã giúp lương thực cho các chúa Nguyễn, và Nhạc căm ghét sự phản trắc bỏ Nhạc mà theo chúa Nguyễn trước đó ). Vụ thảm sát này rất lớn. Linh mục  Castueras, có mặt tại Chợ Quán ngày 7 tháng 7 năm 1782, cho biết có  gần 4000 người  bị quân Tây Sơn  giết.  Sử quan  nhà Nguyễn, nhất là Trịnh Hoài Đức, có thể tăng cao số nạn nhân Hoa gấp ba lần ( theo Hứa Hòanh ở tập san Đi Tới nói trên). Cù lao Phố bị quân Tây Sơn phá tan hoang, khi trung hưng lại, người ta trở về, dân số  không còn bằng một phần trăm lúc trước ( Theo Đại Nam Nhất Thống Chí). Những người Hoa còn sót lại chạy về Gia Định, gầy dựng lại cảnh Chợ Lớn, có mòi sung túc thịnh vượng hơn cù lao Phố trước (Sài Gòn năm xưa của Vương Hồng Sển).

Năm  1768, cuộc Nam Tiến  của dân Việt Nam kể như gần hoàn thiện. Lảnh thổ Nam Kỳ lúc này được chia thành 3 tỉnh : tỉnh Đồng Nai bao gồm các vùng đất miền  Đông Nam Bộ, tỉnh Sài Gòn bao gồm các vùng đất từ  sông Sài Gòn đến  cửa Cần Giờ  và tỉnh Long Hồ bao gồm các  vùng đất miền Tây Nam Bộ. Năm 1808, dưới thời  Gia Long, Nam Kỳ được gọi là Gia Định Thành bao gồm 5 trấn: Hà Tiên, Vĩnh Thạnh, Định Tường, Phiên An, Biên Hòa. Năm 1834, dưới thời Minh Mạng 5 trấn được biến thành  6 tỉnh. Năm 1888 thời Pháp thuộc, Nam Kỳ được chia ra làm 20 hạt, rồi 20 tỉnh, trong đó có tỉnh Biên Hòa. Năm 1954,  Miền Nam, sau hiệp định Genève để chỉ vùng đất Việt Nam Cộng Hòa  Nam vĩ tuyến  17, gồm 40 tỉnh trong đó vẫn còn tỉnh Biên HòaSau 1975, tỉnh Đồng Nai được thiết lập và Biên Hòa trở thành thị xã tỉnh lỵ tỉnh Đồng Nai.

Văn miếu Trấn Biên là văn miếu đầu tiên được xây dựng năm 1715  tại xứ Đàng Trong, để tôn vinh Khổng Tử, các danh nhân văn hóa nước Việt và làm nơi đào tạo nhân tài phục vụ cho chế độ. Năm 1861, nơi thờ phụng trên đã bị thực dân Pháp phá bỏ. Mãi đến năm 1998, Văn miếu Trấn Biên mới được khởi công khôi phục lại nơi vị trí cũ, và hoàn thành vào năm 2002. Hiện nay toàn thể khu vực uy nghi, đẹp đẽ và quy mô này, tọa lạc tại khu đất rộng thuộc phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, Việt Nam.

Năm 1698, khi Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào đến xứ Đồng Nai, thì vùng đất ấy đã khá trù phú với một thương cảng sầm uất, đó là Cù lao Phố. Để có nơi bảo tồn, phát huy và tôn vinh các giá trị văn hóa giáo dục xưa và nay của dân tộc Việt ở vùng đất mới, 17 năm sau, tức năm Ất Mùi (1715), chúa Nguyễn Phúc Chu sai trấn thủ Nguyễn Phan Long và ký lục Phạm Khánh Đức xây dựng Văn miếu Trấn Biên. Đây là văn miếu đầu tiên được xây dựng tại xứ Đàng Trong, có trước cả văn miếu ở Vĩnh Long, Gia ĐịnhHuế. Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, ghi: Văn miếu Trấn Biên được xây dựng tại thôn Tân Lại, tổng Phước Dinh, huyện Phước Chánh (nay thuộc phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa). Và theo mô tả của Đại Nam nhất thống chí, thì Văn miếu Trấn Biên được xây dựng trên thế đất đẹp: Phía nam trông ra sông Phước Giang, phía bắc dựa vào núi Long Sơn, là một nơi cảnh đẹp thanh tú, cỏ cây tươi tốt…Bên trong rường cột chạm trổ, tinh xảo… Trong thành trăm hoa tươi tốt, có những cây tòng, cam quýt, bưởi, hoa sứ, mít, xoài, chuối và quả hồng xiêm đầy rẫy, sum sê, quả sai lại lớn…. Trước năm 1802, hằng năm, đích thân chúa Nguyễn Phúc Ánh đến Văn miếu Trấn Biên để hành lễ hai lần vào mùa xuân và mùa thu. Nhưng từ khi chúa Nguyễn lên ngôi ở Huế, thì quan tổng trấn thành Gia Định, thay mặt vua, cùng với trấn quan Biên Hòa và quan đốc học đến đây hành lễ…

Tương tự Văn miếu Huế, bên cạnh có Quốc tử giám để giảng dạy học trò. ở Biên Hòa, bên cạnh Văn miếu Trấn Biên là Tỉnh học (trường học tỉnh Biên Hòa). Trường học lớn của cả tỉnh này mãi đến đời vua Minh Mạng mới dời về thôn Tân Lại (nay thuộc phường Hòa Bình, Biên Hòa). Như vậy, ngoài việc thờ phụng, Văn miếu Trấn Biên còn đóng vai trò như một trung tâm văn hóa, giáo dục của Biên Hòa xưa và Nam Bộ xưa trước khi Văn miếu Gia Định ra đời năm 1824.

*

GS. Trần Thanh Đạm Báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh trong bài “Góp phần nhận thức về vai trò lịch sử của nhà Nguyễn (1802 – 1945)”, số 41 ngày 30 tháng 10 năm 2008 đã nhận định : “Nhiều tư liệu đã có hoặc mới phá hiện đã chứng minh rằng trong nửa thế kỷ XIX, đối với đất nước Việt Nam, nhà Nguyễn đã làm được không ít việc, và nhiều việc có thể được gọi là những thành tựu. Ví dụ: đối với sự nghiệp thống nhất đất nước, dù rằng việc này được khởi đầu từ phong trào Tây Sơn song việc thống nhất đang còn dở dang, thậm chí cuối thời Tây Sơn cũng đang có nguy cơ phân liệt. Chính Nguyễn Ánh đã hoàn thành công việc dở dang này, hoàn thành sự nghiệp thống nhất, kết thúc tình trạng đất nước chia hai, quy giang sơn về một mối.”

Cuối một dòng sông là cửa biển. Chúng ta đã đến lúc công tâm nhìn lại những giá trị lịch sử lắng đọng Đi như một dòng sông, Nam tiến của Người Việt.

Xem tiếp
Đi như một dòng sông
Nam tiến của người Việt
Con đường di sản thanh trà Huế

Thiên nhiên là thú thần tiên

THIÊN NHIÊN LÀ THÚ THẦN TIÊN
Hoàng Kim

Thiên nhiên là thú thần tiên
Chân quê là chốn bình yên đời mình
Bạn hiền bia miệng anh linh
Thảnh thơi hưởng trọn ân tình thế gian.

Thien nhien la thu than tien 3
Thien nhien la thu than tien 4
Thien nhien la thu than tien 5

Video nhạc tuyển
Bài ca thời gian
Trở về trang chính
Hoàng KimNgọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter


Chào ngày mới 23 tháng 9


Nam Bộ kháng chiến 23 9

CNM365 Chào ngày mới 23 tháng 9. Bay lên; Quản lý bền vững sắn châu Á; Sắn châu Á 10 thông tin mới; Có những lớp sinh viên như thế; Ngày 23 tháng 9 là ngày thu phân tiết khí có khởi đầu bằng điểm giữa mùa thu kinh độ Mặt Trời bằng 180 độ, khi Mặt Trời ở gần xích đạo nhất. Ngày 23 tháng 9 năm 1945 là ngày Nam Bộ kháng chiến Quân Pháp khai hỏa nhằm chiếm quyền kiểm soát Sài Gòn với sự giúp đỡ của quân Anh. Dân quân Nam Bộ với vũ khí tầm vông vạt nhọn khởi đầu Nam Bộ kháng chiến (hình). “Mùa thu rồi ngày hăm ba Ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến. Rền khắp trời lời hoan hô Dân phương Nam nhịp chân tiến ra trận tiền.Thuốc súng kém, chân đi không Mà đoàn người giàu lòng vì nước. Nóp với giáo mang ngang vai Nhưng thân trai nào kém oai hùng. Ngày 23 tháng 9 năm 1846, Sao Hải Vương được phát hiện bởi nhà thiên văn học Johann Gottfried Galle dùng các dự đoán của nhà toán học Urbain Le Verrier. Sao Hải Vương là hành tinh thứ tám và xa nhất tính từ Mặt Trời trong Hệ Mặt Trời. Sao Hải Vương có khối lượng gấp 17 lần khối lượng của Trái Đất. Nó quay trên quỹ đạo quanh Mặt Trời ở khoảng cách bằng khoảng 30 lần khoảng cách Trái Đất đến Mặt Trời. Bài chọn lọc ngày 23 tháng 9: Bay lên; Quản lý bền vững sắn châu Á; Sắn châu Á 10 thông tin mới; Có những lớp sinh viên như thế; Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-23-thang-9/

BAY LÊN
Nhớ AHLLVT Nguyễn Văn Bảy

Đòn tấn công vạch trời
Mig17 bắn rơi F4
Đồn Lương dội hoan hô
Cánh bay niềm mơ ước

Bay lên nào Hải Âu
Cánh chim chào biển rộng
Ban mai rạng bầu trời
Mừng cánh bay không mỏi.

Bay theo đàn Hải Âu
Bình minh bừng nắng mới
Biển xao sóng trở mình
Đất lành muôn tiếng gọi

Hạ cánh về đời thường
Bảy Lúa cùng khoai sắn
‘Nóp với giáo mang ngang vai
Nhưng thân trai nào kém oai hùng’

Mùa thu này ngày hăm ba
Vĩnh biệt Phi công huyền thoại Nguyễn Văn Bảy

Hoàng Kim thành kính phân ưu

Bay lên AHLLVT Nguyễn Văn Bảy

Nguyên Hùng đưa tin theo Trung tướng phi công Phạm Phú Thái, bác Bảy vừa vĩnh viễn ra đi sau một thời gian được cấp cứu tại bệnh viện 175. Thế là niềm hy vọng của hàng triệu trái tim vừa bùng lên chưa trọn ngày đã sớm bị dập tắt, bởi mọi người đang rất vui mừng vì tin bác Bảy đã có thể ăn cháo từ sáng nay… Đại tá AHLLVT Nguyễn Văn Bảy, phi công huyền thoại thời chống Mỹ với chiến công bắn rơi 7 máy bay, gồm 2 F105 và 5 F4. Lưu ý rằng, bác Bảy chỉ lái Mig 17 là loại tiêm kích không hề có tên lửa, chỉ có pháo 23mm và 37mm. Sau khi nghỉ hưu & về quê làm vườn, bác “Bảy Lúa” lại nổi tiếng với củ sắn 22,5kg do chính tay mình trồng được.

Cách mạng sắn ở Việt Nam

Quản lý bền vững sắn châu Á

QUẢN LÝ BỀN VỮNG SẮN CHÂU Á
từ nghiên cứu đến thực hành, từ cách ứng phó
thực tiễn khẩn cấp đến chọn giải pháp chìa khóa
Hoàng Kim

Khẩn cấp phối hợp hành động ngăn chặn dịch bệnh virus khảm lá sắn. Hội thảo khu vực về kế hoạch kiểm soát bệnh khảm lá sắn ở Đông Nam Á hai ngày 18 và 19 tháng 9 năm 2018 tại Phnôm Pênh. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản Campuchia, ông Lincoln đã kêu gọi Campuchia và cộng đồng quốc tế chung sức nỗ lực ngăn chặn đại dịch bệnh khảm lá sắn (CMD) đang đe dọa nghiêm trọng đối với toàn bộ chuỗi sản xuất chế biến xuất khẩu ở Campuchia và Việt Nam; Giải pháp chìa khóa để khắc phục Bệnh virus khảm lá sắn và cách phòng trừ có trong chương 6 sách sắn “Quản lý bền vững sắn châu Á từ nghiên cứu đến thực hành“. Thông tin dưới đây đúc kết ngắn thông tin toàn cảnh tầm dịch hại tại khu vực, giá trị bài học lịch sử lắng đọng của “Quản lý bền vững sắn châu Á từ nghiên cứu đến thực hành” do tiến sĩ Reinhardt Howeler chủ biên đến 10 bài báo power point mới đây về diễn biến ứng phó bệnh khảm lá sắn CMD của mạng lưới sắn châu Á..

Ngày 15 tháng 9 năm 2017, trang Cây Lương thực Khoa Nông học Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh do tiến sĩ Hoang Kim làm chủ bút đã có bài viết “Bệnh virus khảm lá sắn và cách phòng trừ” trao đổi thông tin chi tiết về “Quy trình kỹ thuật phòng trừ bệnh khảm lá sắn (Cassava Mosaic Disease – CMD) do Cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật Việt Nam ban hành lần đầu tại văn bản số 1605/BVTV-TV ngày 21/7/2017. Theo Cục BVTV, đây là đối tượng dịch hại mới và lần đầu tiên xuất hiện gây hại tại Việt Nam. Ngày 29 tháng 8 năm 2018, tiến sĩ Hoang Kim tại bài viết “Sắn Việt Nam hôm nay và ngày mai” đã thông tin ý kiến của ba chuyên gia tư vấn là đặc biệt quan trọng liên quan trực tiếp đến giải pháp thực tiễn khắc phục bệnh sắn.

Tiến sĩ Claude Fauquest, Giám đốc đối tác sắn toàn cầu cho thế kỷ 21 (GCP21) thông tin (7/2017): “Bệnh vi rus khảm lá sắn CMD đang lan rộng nhanh chóng giữa năm 2016, đầu tiên gây hại một vài nơi tại Campuchia và bây giờ là tại 5 tỉnh ở Đông Cam-pu-chia và ít nhất một tỉnh (Tây Ninh) ở Việt Nam. Bệnh này lây lan chủ yếu do hom giống và bọ phấn trắng (whiteflies), mặc dù bọ phấn trắng có vai trò nhỏ hơn nhưng sự lây lan rất quan trọng. Một số sáng kiến đã được thực hiện bởi JIICA, CIAT, FAO, ACIAR, nhưng chưa thể kiểm soát bệnh này. Chúng ta cần thiết lập một dự án khu vực đơn giản cho kiểm soát bệnh CMD ít nhất là Campuchia và Việt Nam. Những nước đang bị dịch hại CMD đe dọa như Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam đều cần ghi danh tham gia kế hoạch này. GCP21 có thể phục vụ như là một bộ xúc tác để thúc đẩy sự phát triển của kế hoạch”.

Sách sắn “Quản lý bền vững sắn châu Á từ nghiên cứu đến thực hành” của tiến sĩ Reinhardt Howeler và tiến sĩ Tin Maung Aye, người dịch Hoàng Kim, Hoang Long, Mai Trúc Nguyễn Thị (Trúc Mai) , BM Nguyễn (Bạch Mai) đã đề cập chi tiết chương 6 “Sâu bệnh hại sắn và cách phòng trừ” có hướng dẫn biện pháp phòng trừ tổng hợp đối với bệnh này, trọng điểm là sử dụng hom giống sạch bệnh của giống kháng và giống chống chịu CMD kết hợp sự tiêu hủy nguồn bệnh và kiểm dịch thực vật nghiêm ngặt để phòng trừ, xem chi tiết tại http://cayluongthuc.blogspot.com/2017/09/benh-virus-kham-la-san-va-cach-phong-tru.html

1. KHẨN CẤP NGĂN CHẶN BỆNH KHẢM LÁ SẮN

1.1 Hành động khẩn cấp ở Việt Nam và Hội thảo Quốc tế

Bệnh virus khảm lá sắn CMD đã và đang lan rộng trên nhiều tỉnh Việt Nam qua hom giống sắn lấy từ cây bị bệnh và qua môi giới bọ phấn trắng. Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn Việt Nam đã có công văn số 4142 BNN PTNT ngày 31/5/ 2018, công văn số 1465 Cục Bảo vệ Thực vật ngày 6/6/2018 hướng dẫn chi tiết giải pháp ứng phó dịch hại và cách phòng trừ. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn Việt Nam đã có chỉ thị số 5957 BNN PTNT ngày 6/8/2018 về vấn đề này. Sách cẩm nang thực hành và những ý kiến tư vấn của tiến sĩ Reinhardt Howeler đối với ‘Bệnh vi rus khảm lá sắn CMD và cách phòng trừ” để kiểm soát tốt dịch hại nghiêm trọng CMD và tư vấn thực hành canh tác sắn thích hợp bền vững.

Ý kiến tư vấn của tiến sĩ Claude M. Fauquest đối với sắn Việt Nam nhấn mạnh:

* KẾT LUẬN CỦA HỘI NGHỊ SẮN QUỐC TẾ TOÀN CẦU NGÀY 11-15 THÁNG 6 NĂM 2018 VỀ KIỂM SOÁT DỊCH BỆNH VI RUS KHẢM LÁ SẮN CMD Ở ĐÔNG NAM Á

Hoàng Kim lược dịch từ tài liệu nguồn của GS Lê Huy Hàm và TS. Claude M. Fauquest

Hội nghị sắn quốc tế lần thứ IV, Benin, ngày 11-15 tháng 6 năm 2018 đã tổ chức một phiên họp đặc biệt để báo cáo tình trạng dịch bệnh virus khảm lá sắn gần đây (CMD) ở Đông Nam Á. Mục tiêu của bốn báo cáo này là làm cho cộng đồng sắn quốc tế nhận thức được vấn đề nghiêm trọng và phát triển các đề xuất thực tế cho một kế hoạch hành động nhanh chóng với tất cả các bên liên quan trong khu vực để kiểm soát dịch bệnh CMD ở vùng Đông Nam Á của Thế giới.

Bốn bản báo cáo trình bày tại hội nghị quốc tế gồm: 1) Báo cáo về sự bùng nổ dịch bệnh CMD của Giáo sư Lê Huy Hàm từ AGI, Việt Nam; 2) Báo cáo kinh tế của Tiến sĩ Jonathan Newby từ CIAT – Việt Nam; 3) Báo cáo giám sát của nhà virus học Wilmer Cuellar từ CIAT-Colombia; 4) Báo cáo về các chiến lược được phát triển với các bên liên quan trong khu vực Đông Nam Á của Tiến sĩ C.M. Fauquet, Giám đốc GCP21.

Mục đích của phiên họp này là chứng minh tầm quan trọng của sắn ở khu vực này trên thế giới, sản xuất 55 triệu tấn sắn mỗi năm, cho thấy mức độ lây lan của bệnh CMD và thông báo cho cộng đồng về những nỗ lực phát triển cho đến nay một kế hoạch hành động khu vực. Khảo sát thực địa mở rộng và sự tương tác của các bên liên quan trong khu vực được thực hiện bởi CIAT và các đối tác quốc gia cho thấy CMD chính thức có mặt tại 6 tỉnh của Campuchia và 2 tỉnh miền Nam Việt Nam. Lây lan hiện nay của bệnh được ước tính là ít hơn 10% tổng diện tích trồng sắn. Dựa trên kiến ​​thức hiện tại về dịch bệnh CMD, các chuyên gia đều đồng ý rằng khu vực này đang ở giai đoạn sớm của dịch bệnh khi vẫn có thể hạn chế tác động của căn bệnh này. Các chuyên gia cũng đồng ý rằng CMD chủ yếu lây lan bằng cách vận chuyển nguyên liệu trồng sắn nhiễm bệnh được sử dụng để trồng các cánh đồng mới. Các vectơ bọ phấn trắng (whitefly) tự nhiên của bệnh có mặt trên sắn trong vùng và đóng vai trò môi giới truyền bệnh trong các lĩnh vực nhưng chúng đóng một vai trò nhỏ cho đến nay trong sự lây lan của bệnh sang các lĩnh vực mới. Quan trọng nhất, các chuyên gia chỉ ra rằng việc vận chuyển và xuất khẩu tinh bột, sắn lát, bột sắn hoặc củ sắn tươi không đe dọa nhập khẩu bệnh thông qua bất kỳ sản phẩm nào làm giảm lo ngại về thương mại trong nước và xuất khẩu. Các nước trong khu vực được khuyến khích chủ động truyền đạt tình trạng của bệnh và tham gia cùng nhau để gắn kết một hành động phối hợp chống lại mối đe dọa virus mới khảm lá sắn trong khu vực.

Kinh nghiệm kiểm soát dịch bệnh virus khảm lá sắn CMD ở châu Phi và châu Á đã chỉ ra rằng nguồn rủi ro lớn nhất để lây lan bệnh này từ sang vùng khác là do sự trao đổi của hom giống sắn từ cây bị nhiễm bệnh. Các cây sắn bị nhiễm bệnh có thể được vận chuyển hàng trăm cây số trong một ngày. Các vectơ bọ phấn trắng ((whitefly) cũng có thể góp phần lan truyền bệnh lên đến 100 km mỗi năm. Biện pháp kiểm dịch nghiêm ngặt trong nước là đặc biệt quan trọng để giám sát vùng bệnh hại và hạn chế sự di chuyển của hom giống bị nhiễm bệnh lan truyền từ nơi này sang nơi khác. Cần chú ý xác định các khu vực không có bệnh để giữ cho chúng không bị bệnh. Việc thương mại hóa ngành công nghiệp sắn ở Đông Nam Á tạo cơ hội cho việc cải thiện dòng chảy thông tin để ngăn chặn sự di chuyển của các vật liệu trồng giống sắn bị nhiễm bệnh.

Kế hoạch hành động theo vùng có thể bao gồm các bước sau:

Hành động ngắn hạn

+ Tích hợp dữ liệu giám sát liên tục được thu thập bởi các nhóm nghiên cứu khác nhau làm việc trong khu vực để xác định các khu vực bị ảnh hưởng và bị đe dọa ngay lập tức
+ Lập bản đồ phân bố giống ở các khu vực có tỷ lệ mắc CMD cao bằng cách sử dụng các marker phân tử.
+ Phổ biến thông tin cho các dịch vụ khuyến nông và nông dân để nâng cao nhận thức và quản lý bệnh.
+ Nhân nhanh và phân phối hom giống không có virus (hoặc những giống sắn năng suất bột cao ít bị nhiễm virus khảm lá CMD) cho nông dân ở các vùng bị ảnh hưởng.
+ Tiêu chuẩn hóa các giao thức chẩn đoán và giám sát được sử dụng bởi các nhóm nghiên cứu khác nhau làm việc trong khu vực

Hành động trung hạn

+ Nhập khẩu, thử nghiệm và nhân của vật liệu giống sắn kháng CMD hiện tại ở một số địa điểm trong khu vực.
+ Giới thiệu cách ly các quần thể này được phát triển bằng cách nhập nội nguồn gen giống sắn kháng CMD từ các giống sắn châu Phi, châu Mỹ Latinh và Đông Nam Á .

Hành động dài hạn

+ Sự tích hợp của các gen kháng virus vào giống sắn KU50 (đối với Việt Nam sử dụng hai giống để tích hợp gen kháng virus là KM419 và KM94 có quy mô trồng 42% và 37% diện tích sắn Việt Nam hiện nay) dựa trên lợi ích từ tất cả những đặc tính tốt mà giống được trồng rộng rãi này trong khu vực có thể cung cấp.

+ Cộng đồng sắn quốc tế có mặt tại hội nghị bày tỏ sự sẵn sàng mạnh mẽ của họ để cộng tác với bất kỳ kế hoạch khu vực nào nhằm quản lý sự lây lan của CMD. Đặc biệt, các đồng nghiệp sắn từ lục địa châu Phi có thể cung cấp kiến ​​thức tích lũy rộng rãi về CMD, sự lan truyền và kiểm soát chúng, bao gồm các công cụ chẩn đoán và các giống kháng CMD có năng suất cao.

+ GCP21 đã tập hợp một loạt các bên liên quan trong khu vực Đông Nam Á và đang lập kế hoạch một hội thảo khu vực để xây dựng kế hoạch hành động chi tiết phối hợp với các bên liên quan trong khu vực để nhanh chóng thực hiện các biện pháp can thiệp khẩn cấp ngăn chặn dịch bệnh CMD gây ảnh hưởng tiêu cực đến công nghiệp sắn vùng này.

1.2. Hành động khẩn cấp ở Campuchia và Hội thảo khu vực

FRSH NEWS http://www.freshnewsasia.com Báo Campuchia ngày 18 /9/2018 đưa tin: Hội thảo khu vực về kế hoạch kiểm soát bệnh khảm lá sắn ở Đông Nam Á được khai mạc sáng ngày 18 tháng 9 năm 2018 tại Phnôm Pênh. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản Campuchia, ông Lincoln đã kêu gọi Campuchia và cộng đồng quốc tế chung sức nỗ lực ngăn chặn dại dịch bệnh khảm lá sắn (CMD) đang đe dọa nghiêm trọng đối với toàn bộ chuỗi sản xuất chế biến và xuất khẩu ở Campuchia và Việt Nam.

“Bệnh đã nổ ra ở Ấn Độ và Sri Lanka, và lần đầu tiên ở Đông Nam Á vào năm 2015. Và trong những năm gần đây căn bệnh này đã lan sang Việt Nam và Campuchia, và đã tàn phá nghiêm trọng sản lượng sắn ở mức độ kinh hoàng. Do đó cấp thiết để nghiên cứu và đánh giá tình trạng của đại dịch và đề ra biện pháp phòng trừ ngăn chặn sự lây lan CMD một cách hiệu quả nhất. Ông Lincoln lưu ý rằng cây sắn là mối ưu tiên hàng đầu của đất nước Campuchia vì sắn hiện là cây trồng ưu tiên thứ 2 sau lúa gạo, sắn được trồng hàng năm khoảng 400 ngàn hecta và mang lại hơn 13,8 triệu tấn.”Campuchia đã trở thành nhà cung cấp sắn làm nguyên liệu chính và là thành tựu chính ở Đông Nam Á”, ông nói thêm. Trên thực tế, hơn 3,8 triệu tấn sắn được xuất khẩu sang các thị trường khu vực và toàn cầu vào năm 2017, “ông nói.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản Campuchia, ông Lincoln đã đưa ra một số khuyến nghị chính để nghiên cứu xem xét để tìm ra giải pháp chìa khóa giải quyết vấn đề một cách hiệu quả ngăn chặn đại dịch này. Các khuyến nghị bao gồm :

1: Nghiên cứu thêm để tìm các nguồn dịch bệnh và giới thiệu các biện pháp phòng ngừa để ngăn chặn dịch bệnh từ khu vực này sang vùng khác. Thực hiện các biện pháp khẩn cấp để giảm thiểu hoặc ngăn chặn dịch bệnh có thể đe dọa sản xuất sắn.

2: Tất cả các tổ chức và các quan chức có liên quan được giám sát vai trò trong việc điều chỉnh việc nhập khẩu giống sắn từ các nước có dịch bùng phát đến một khu vực đặc biệt dọc theo biên giới.

3: Tiếp tục nỗ lực để tổ chức sản xuất giống do mình làm ra để tránh nhập khẩu hom giống từ vùng có dịch.

4: Tăng cường hợp tác trong nghiên cứu, chia sẻ thông tin và giải pháp giữa các nước trong khu vực.

5: Nâng cao nhận thức về bệnh khảm lá vi rus CMD và các biện pháp phòng ngừa cho nông dân, chủ trang trại và nhà sản xuất một cách toàn diện và yêu cầu sự hợp tác từ họ trong trường hợp bùng nổ.

Nguồn tin chi tiết tại đây: http://www.freshnewsasia.com/…/99375-2018-09-18-04-33

2. QUẢN LÝ BỀN VỮNG SẮN CHÂU Á
Lời nói đầu, Mục lục, Bệnh Chương 6

QUẢN LÝ BỀN VỮNG SẮN CHÂU Á Từ Nghiên cứu đến Thực hành là sách sắn được viết bởi Reinhardt Howeler and Tin Maung Aye. Người dịch Hoàng Kim, Hoàng Long, Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Bạch Mai. Nguyên bản tiếng Anh: Sustainable management of cassava in Asia – From research to practice/ Reinhatdt Howeler and Tin Maung Aye. Cali, CO: Centro Internacional de Agricultura Tropical (CIAT), 2015, 148 trang, (CIAT Publication No. 396), chỉ số xuất bản ISBN 978-958-694-136-5, Bản tiếng Việt  CIAT VAAS The Nippon Foundation Nhà xuất bản thông tấn 2015. Sách không bán. Chỉ số xuất bản 9786049450471 Tiến sĩ Clair Hershey, Trưởng Chương trình sắn CIAT giới thiệu: (trích) ” Công việc tóm tắt trong tài liệu này thay cho những lời khuyên tốt nhất hiện có sau hơn 50 năm kinh nghiệm thực tiễn kết hợp nghiên cứu và làm việc với nông dân để hiểu những thách thức thực tế cuộc sống và cơ hội mà họ phải đối mặt.”.

Được sự đồng ý của tác giả, tài liệu sách sắn mới này được giới thiệu song ngữ Anh Việt lần lượt tại trang Quản lý bền vững sắn châu Á chuyên mục Khoa học Cây trồng http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlongwww.hoangkimlong.wordpress.com  chuyên mục cùng tên Quản lý bền vững sắn châu Á

SUSTAINABLE MANAGEMENT OF CASSAVA IN ASIA
From Research to Practice

By Reinhardt Howeler and Tin Maung Aye

FOREWORD

Cassava is one of the most popular crops in Asia’s uplands for its flexibility in cropping systems, its ability to produce well in challenging conditions and for its multiple uses – providing food, animal feed, and income to support farming families. But although cassava has a reputation as an easy crop to grow, it requires good management in order to get good yields year after year, while protecting the soil and water resources.

The world of agriculture is changing quickly, and cassava is not immune to this change. On the one hand, the market for cassava and cassava products is growing in several Asian countries, with the potential to become more lucrative. Many new, higher yielding varieties are available for farmers to use, and their knowledge about crop and soil management has grown steadily.

Yet at the same time, pests and diseases are growing in importance and can often impact yields. Their control requires very good knowledge and careful integrated management practices. There are many options for managing soil preparation, planting density, weeds and harvesting. The production of high-quality planting material (stakes or seed) is a kind of invisible benefit that is often not fully appreciated by growers, and understanding and implementing the inputs and practices that contribute to long-term optimized productivity is fundamental to a cassava farmer’s success. For example, soil fertility management is the core practice for long-term success for many cassava farmers.

But the right combination of practices will be specific for each farm. Farmers who grow cassava often do not have easy access to good information on best management practices. In most countries, the extension systems for providing technical advice to cassava farmers are non‑existent or not as well developed as for rice or maize, for example. The experts, charged with providing that advice – usually extension agents, sales representatives of companies providing inputs, such as fertilizer or pesticides, or the technical outreach staff of processing companies – typically work with many crops and many farmers, or may have a commercial interest in advice that motivates the purchase of specific products or services. Most technologies developed for cassava are designed to be environmentally friendly, that is, they do not rely on high inputs of chemicals or destructive practices. It is important that technologies that are disseminated and promoted take full advantage of this concern for the environment.

This book aims to provide well-founded and unbiased information on managing the cassava crop for maximum profitability and household well-being, while protecting the soil for long-term sustainability. It is based on the experience and research results from many decades, especially in Asia but also in Africa and Latin America. Much of the information was developed by the International Center for Tropical Agriculture (CIAT) – with headquarters in Cali, Colombia, and a regional office for Asia, previously in Bangkok, Thailand, and currently in Hanoi, Vietnam – and partner institutions throughout the region. These partners are mentioned throughout the manual in discussion of the relevant experiments or technologies. Many farmers themselves participated in developing research ideas and solutions through a process of Farmer Participatory Research (FPR). This has been a key part of assuring the practical relevance of the results.

The book is designed both for those who provide advice directly to farmers, as well as the teachers who train students to become extension agents, agronomists, or industry representatives. It can also serve to provide advice and information directly to well-informed farmers, who can understand some of the more technical information and apply it for their own needs and conditions. No manual can provide detailed advice at the individual farm level, but it will give good guidance for extension agents and others who work with farming communities to adjust and adapt to specific needs. We invite national partners to use this manual freely to develop additional material for local training and extension purposes.

The authors of this book, Drs. Reinhardt Howeler and Tin Maung Aye, have worked extensively with a broad range of partners, on experiment stations and on farmer fields across the region. The work summarized in this manual represents the best available advice from more than 50 years of combined research experience and work with farmers to understand their real-life challenges and opportunities.

This manual would not have been possible without the support of the Nippon Foundation. This support involved more than two decades of funding for research, training, and network development activities throughout Southeast Asia. CIAT gratefully acknowledges the key role of the Nippon Foundation, both in the research initiatives that developed the information included in this manual, and the support to write, translate, and produce it.

CIAT’s Cassava Program is pleased to present this manual for use in managing cassava production systems that will optimize the short- and long-term benefits for farmers who grow the crop, while protecting the environment.

Clair Hershey

Leader, CIAT Cassava Program

2017-02-01_nhungnguoiban

QUẢN LÝ BỀN VỮNG SẮN CHÂU Á
Từ Nghiên cứu đến Thực hành

Tác giả: Reinhardt Howeler và Tin Maung Aye.
Người dịch: Hoàng Kim, Hoàng Long, Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Bạch Mai

LỜI NÓI ĐẦU

Sắn là một trong những loại cây trồng thích nghi vùng cao phổ biến nhất ở châu Á vì tính linh hoạt của nó trong hệ thống cây trồng, khả năng sản xuất thuận lợi trong điều kiện khó khăn và tính đa dụng cung cấp thực phẩm, thức ăn gia súc, nguồn thu nhập cho hộ nông dân. Mặc dù sắn có tiếng là cây dễ trồng, nó vẫn đòi hỏi phải quản lý tốt để có được năng suất cao qua các năm, đi đôi việc bảo vệ nguồn đất và nước.Thế giới nông nghiệp đang chuyển đổi một cách nhanh chóng và cây sắn cũng không tránh khỏi sự thay đổi này. Một mặt, thị trường sắn và sản phẩm sắn đang tăng trưởng ở một số nước châu Á với khả năng thu lợi nhiều hơn từ cây này. Nhiều giống sắn mới năng suất cao là có giá trị đối với hệ thống sản xuất và sự hiểu biết về quản lý đất và cây trồng tối ưu đã được tăng đều đặn. Đồng thời, vấn đề sâu bệnh cũng trở nên quan trọng và thường ảnh hưởng đến sản lượng cây trồng. Kiểm soát chúng đòi hỏi kiến thức tốt và quản lý cẩn thận. Có nhiều lựa chọn trong hoạt động quản lý cây trồng như chuẩn bị đất, mật độ trồng, quản lý cỏ dại và các công cụ thu hoạch. Việc sản xuất cây giống chất lượng cao (homhạt giống) có lợi thế tiềm năng mà thường không được đánh giá đầy đủ bởi người trồng sắn. Quản lý độ phì đất là thực hành cốt lõi mang lại thành công lâu dài cho nhiều nông dân trồng sắn. Hiểu biết thấu đáo các yếu tố đầu vào và thực hiện những điều đó góp phần tối ưu hóa năng suất, về lâu dài là nền tảng thành công của một người nông dân trồng sắn.

Nhưng kết hợp đúng thực tiễn cần được cụ thể cho mỗi trang trại. Những người nông dân trồng sắn thường không dễ tiếp cận thông tin chuẩn mực về thực hành quản lý tốt nhất. Ở hầu hết các nước, hệ thống khuyến nông cung cấp tư vấn kỹ thuật cho người nông dân trồng sắn không phát triển như đối với cây lúa hoặc cây ngô và thỉnh thoảng còn không có. Các chuyên gia tư vấn thường là cán bộ khuyến nông, các đại diện bán hàng của công ty cung cấp nguyên liệu đầu vào như phân bón hay thuốc trừ sâu, hay các chuyên viên kỹ thuật của các công ty chế biến. Họ thường làm việc với nhiều loại cây trồng và nhiều nông dân, hoặc có thể có các lợi ích thương mại với động cơ mua bán sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể. Hầu hết các công nghệ được phát triển cho sắn được thiết kế thân thiện môi trường, nghĩa là không phụ thuộc vào đầu vào cao của hóa chất hoặc các thực hành bất lợi. Điều quan trọng là công nghệ được phổ biến và phát huy tận dụng mối quan tâm đối với môi trường.

Cuốn sách này nhằm mục đích cung cấp thông tin có cơ sở tốt về quản lý cây sắn để nông hộ thu lợi tối đa và phát triển tốt hơn trong khi vẫn bảo tồn độ phì nhiêu của đất và phát triển bền vững lâu dài. Nó được dựa trên những kinh nghiệm và kết quả nghiên cứu từ nhiều thập kỷ qua, đặc biệt không chỉ ở châu Á mà còn ở châu Phi và châu Mỹ Latinh. Rất nhiều thông tin được phát triển bởi sự tham gia làm việc giữa Trung tâm Quốc tế Nông nghiệp Nhiệt đới (CIAT) – có trụ sở ở Cali, Colombia, và một văn phòng khu vực châu Á, trước đây đặt ở Bangkok, Thái Lan và hiện nay đang đặt ở Hà Nội, Việt Nam – với các tổ chức đối tác trong khu vực. Các đối tác này được đề cập trong tài liệu thông qua hướng dẫn thảo luận các thí nghiệm hoặc công nghệ liên quan. Nhiều nông dân tham gia phát triển ý tưởng và giải pháp trong chương trình nghiên cứu có sự tham gia của nông dân (FPR). Đây là một phần quan trọng trong việc đảm bảo sự phù hợp thực tế của các kết quả.

Cuốn sách được thiết kế cho những người cung cấp tư vấn trực tiếp đến nông dân, cũng như các giáo viên, nhà nông học, sinh viên, cán bộ khuyến nông, đại lý nông sản và công nghiệp chế biến cùng những ai quan tâm đến quản lý đất và cây trồng bền vững đối với sắn ở châu Á. Sách cũng được dùng để cung cấp thông tin tư vấn trực tiếp đến nông dân, những người hiểu biết kỹ thuật canh tác sắn để vận dụng phù hợp với điều kiện cụ thể của mình. Tuy sách chưa có hướng dẩn chi tiết tại trang trại cá nhân nhưng nó là cẩm nang hướng dẫn cho cán bộ khuyến nông và những người làm việc với cộng đồng nông dân để điều chỉnh thích hợp với nhu cầu cụ thể. Chúng tôi mời các đối tác quốc gia sử dụng hướng dẫn này một cách tự do để phát triển các tài liệu bổ sung cho mục đích đào tạo và khuyến nông địa phương.

Các tác giả cuốn sách này là tiến sĩ Reinhardt Howeler và Tin Maung Aye đã làm việc rộng khắp với một loạt các đối tác, các trạm thí nghiệm và trên đồng ruộng của nông dân. Công việc tóm tắt trong tài liệu này thay cho những lời khuyên tốt nhất hiện có sau hơn 50 năm kinh nghiệm thực tiễn kết hợp nghiên cứu và làm việc với nông dân để hiểu những thách thức thực tế cuộc sống và cơ hội mà họ phải đối mặt.

Sách hướng dẫn này sẽ không thể thực hiện được nếu không có sự hỗ trợ của quỹ Nippon. Những gắn bó hơn hai thập kỷ hỗ trợ kinh phí cho các hoạt động nghiên cứu, đào tạo và phát triển mạng lưới trên khắp Đông Nam Á. CIAT trân trọng cảm ơn vai trò quan trọng của Quỹ Nippon trong các sáng kiến nghiên cứu phát triển thông tin bao gồm hướng dẫn này, cũng như hỗ trợ biên dịch và sản xuất tài liệu hướng dẫn.

Chương trình sắn CIAT hân hạnh giới thiệu hướng dẫn này để sử dụng trong việc quản lý hệ thống sản xuất trồng sắn nhằm tối ưu hóa lợi ích ngắn và dài hạn cho nông dân cũng như để bảo vệ môi trường.

Clair Hershey
Trưởng Chương trình sắn CIAT

Giới thiệu về tác giả

Reinhardt Howeler

Reinhardt Howeler sinh tại Indonesia nhưng lớn lên ở Hà Lan. Sau khi tốt nghiệp ở Học viện Nông nghiệp Nhiệt đới, ông di cư sang Mỹ tiếp tục nghiên cứu của mình và lấy bằng tiến sĩ về hóa học đất tại Trường Đại học Cornell. Ông tham gia tổ chức CIAT ở Cali, Colombia năm 1970, khi chương trình sắn mới được thành lập năm 1972. Ông tiến hành các thí nghiệm trong nhà kính để xác định nhu cầu dinh dưỡng của cây sắn và làm thế nào để quản lý sắn không bị xói mòn nghiêm trọng. Năm 1986, ông chuyển đến văn phòng CIAT châu Á tại Bangkok, Thái Lan và ở lại đây suốt thời gian 23 năm. Ông đã làm việc chặt chẽ với các nhà nghiên cứu, cán bộ khuyến nông và nông dân trong điều kiện thực tế với tất cả các nước trồng sắn trong khu vực, phát triển các hoạt động quản lý đất và cây trồng tốt hơn, và tăng cường ứng dụng  chúng bằng cách sử dụng phương pháp nghiên cứu có sự tham gia của nông dân (FPR). Kết quả là sản lượng sắn ở châu Á tăng lên đáng kể, cho phép sự gia tăng nhanh chóng của công nghiệp chế biến và sử dụng sắn, tăng cung cầu sử dụng sắn, cải thiện thu nhập và đời sống của nhiều nông hộ trồng sắn. Reinhardt Howeler là chuyên gia sắn nổi tiếng, biên soạn nhiều sách và đã được vinh danh tại Việt Nam (ND).

Tin Maung Aye

Tin Maung Aye đã được sinh ra và lớn lên ở Myanmar, ở đó ông nhận bằng Cử nhân Nông nghiệp của Viện Nông nghiệp Yezin năm 1984. Sau khi làm việc như một trợ lý nghiên cứu trong ba năm ông chuyển đến Thái Lan, nơi ông hoàn thành bằng Thạc sĩ trong hệ thống nông nghiệp ở Viện Công nghệ Châu Á (AIT) tại Bangkok vào năm 1994. Sau khi làm việc ở các vị trí khác nhau tại AIT, ông tham gia nghiên cứu của tổ chức Landcare Ltd. tại New Zealand với tư cách là một nhà phân tích hóa học, và sau đó làm việc như một trợ lý nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Phân bón và Vôi tại Đại học Massey. Ông đã hoàn thành bằng tiến sĩ về khoa học đất từ Đại học Massey ở New Zealand vào năm 2001. Ông đã làm việc cho chương trình sắn CIAT  như một nhà khoa học đất và nông học sắn từ năm 2005, bốn năm đầu tiên ở Lào và sau đó chủ yếu tại Campuchia, Lào, Việt Nam và Myanmar. Ông hiện đang làm việc tại Văn phòng khu vực châu Á-CIAT tại Hà Nội. Trong suốt sự nghiệp của mình, ông đã hoạt động trong nông nghiệp cộng đồng và các tổ chức chuyên nghiệp với mục tiêu hỗ trợ xóa đói giảm nghèo và nâng cao tính bền vững nông nghiệp ở vùng cao ít được ưa chuộng của vùng nhiệt đới châu Á và Thái Bình Dương, đặc biệt là ở Đông Nam Á.

Hoang Gia Bookstore
Nguồn tài liệu trực tuyến: http://nhasachhoanggia.blogspot.com/

Mục lục

Chương                                                                                                                   Trang

1      Sắn châu Á, vùng trồng và cách sử dụng .01

2      Giống sắn nào tốt hơn  11

3      Đất sắn và kỹ thuật đất làm đất 21

 4     Hom giống sắn, thời vụ và kỹ thuật trồng 25

5      Sắn trồng xen 41

6      Sâu bệnh hại sắn và cách phòng trừ 49

7      Sắn thiếu dinh dưỡng và bị ngộ độc 63

8      Bón phân NPK cho sắn 71

9      Bón phân trung vi lượng và vôi cho sắn 81

10    Kết hợp phân bón thương mại, phân chuồng và hữu cơ vi sinh 89

11    Cách thức sinh học để tăng năng suất và cải thiện đất 99

12    Làm thế nào để chống xói mòn đất  111

13    Tóm tắt kỹ thuật tổng hợp quản lý sắn bền vững 131

CHƯƠNG 6
SÂU BỆNH HẠI SẮN VÀ CÁCH PHÒNG TRỪ

Làm cách nào để ngăn chặn những sâu bệnh sắn nghiêm trọng?

Cây sắn cũng như các cây trồng khác có thể bị sâu bệnh nghiêm trọng làm giảm năng suất. Sắn là cây dài ngày nên việc áp dụng thuốc trừ sâu thường xuyên là không kinh tế. Hầu hết các loại sâu bệnh sắn có thể kiểm soát hiệu quả thông qua quản lý sâu bệnh tổng hợp (IPM). Điều này bao gồm:

• Giống sắn có khả năng chống chịu sâu bệnh quan trọng nhất.

• Sử dụng hom giống chất lượng cao, sạch sâu bệnh.

• Xử lý hom giống với một hỗn hợp thuốc diệt nấm và trừ sâu trước khi trồng.

• Bón phân đủ và cân đối để sắn sinh trưởng mạnh và tăng sức chống chịu.

• Không dùng thuốc trừ sâu cho sắn vì chúng có thể tiêu diệt các thiên địch sinh học tự nhiên giúp sắn không nhiễm một số sâu bệnh hại. Thuốc trừ sâu chỉ nên dùng để dập tắt các “điểm nóng”, nơi dịch hại lần đầu được quan sát thấy và chỉ khi dịch ở giai đoạn sớm của sự phát triển. Thuốc trừ sâu có thể được sử dụng để kiểm soát sâu bệnh truyền qua đất, chẳng hạn như mối, vì điều này không ảnh hưởng đến thiên địch của sâu hại lá.

• Để giảm các bệnh sắn truyền qua đất mà chủ yếu là bệnh thối rễ cần luân canh sắn với cây trồng khác, đặc biệt là ngũ cốc hoặc cỏ.

 • Giám sát cây trồng thường xuyên và nhổ bỏ các cây bị nhiễm bệnh hại. Đốt tàn dư cây bị nhiễm bệnh sau khi thu hoạch.

 • Ngăn chặn sự vận chuyển vật liệu trồng nhiễm sâu bệnh từ các cánh đồng bị nhiễm sang những cánh đồng không bị nhiễm.

• Không nên mua vật liệu trồng không rõ nguồn gốc vì có thể rủi ro sâu bệnh.

Bệnh chính hại sắn (trích dẫn chỉ riêng cho bệnh khảm lá sắn CMD)

Sắn châu Á gần đây đã có một số bệnh hại nghiêm trọng đang thay đổi vì sản xuất sắn được mở rộng và sắn được trồng quanh năm cho công nghiệp chế biến.  Sau đây là một số bệnh chính hại sắn ở châu Á.

Bệnh khảm lá sắn ở Sri Lanka và Ấn Độ

Virus khảm lá sắn Ấn Độ (ICMV) và virus khảm lá sắn Sri Lanka (SLCMV) là hai thể khảm riêng biệt, có liên quan chặt chẽ với virus gây bệnh khảm lá sắn (CMD) ở châu Phi. Một số giống sắn chống chịu ICMV, nhưng nhiều nông dân ở bang Kerala của Ấn Độ thích giống sắn bản địa của họ vì chất lượng ăn tốt hơn. Việc giới thiệu gần đây của giống sắn kháng CMD từ CIAT, như MNga-1 (được phát triển bởi IITA ở Nigeria) và các giống sắn khác đang được sử dụng rộng rãi trong các chương trình nhân giống sắn tại Ấn Độ để sản xuất giống kháng ICMV với các đặc tính mong muốn khác.

benh-virus-kham-la-san
Các triệu chứng của bệnh khảm sắn ở Sri Lanka và Ấn Độ.
giong-khang-benh-virus-kham-la-san
Giống kháng bệnh khảm (ở bên phải của bức ảnh) đang được phát triển ở Ấn Độ.

Những triệu chứng của bệnh khảm lá sắn bao gồm những vết lốm đốm úa vàng trên lá xanh với lá biến dạng, có thể dẫn đến rụng lá và cây còi cọc nghiêm trọng. Lá cũng có thể bị giảm kích thước, xoắn và biến dạng. Triệu chứng xuất hiện chủ yếu trong mùa mưa, khiến việc nhận biết các cây bị bệnh rất khó khăn trong mùa khô. Bệnh lây chủ yếu thông qua việc sử dụng các vật liệu trồng bị nhiễm bệnh, cũng như bởi các ruồi trắng Bemisia tabaci.

Để kiểm soát hiệu quả bệnh khảm lá sắn cần thực hiện những điều sau đây:

• Trồng giống sắn kháng như H-97, H-165, và Sree Visakham (ở Việt Nam là giống sắn lai giữa giống kháng CMD và giống sắn thương mại chịu bệnh phổ biến nhất Việt Nam).

• Chọn vật liệu trồng có nguồn gốc từ mô phân sinh sạch bệnh, tiếp theo là nhân dòng vô tính với kiểm tra định kỳ và loại bỏ các cây bị nhiễm.  

• Chọn giống sắn sạch bệnh trước khi bắt đầu mùa khô nóng .

• Nhân giống sắn sạch bệnh ở vùng cao thì ruồi trắng rất ít hoặc không có.

• Sử dụng hom sắn đầu tiên từ những cây sạch bệnh tại vườn ươm gần để ngăn chặn lây lan bệnh hại.  

• Thực hiện thông lệ kiểm dịch thực vật nghiêm ngặt, tiêu hủy cây bệnh nhanh chóng kịp thời.  

• Trồng xen hoặc chuyển đổi vụ trồng cần đánh giá thêm để xác định hiệu quả.

3. TIẾN BỘ MỚI KIỂM SOÁT BỀN VỮNG BỆNH SẮN CMD
3.1 Mười bài báo power point mới đây (Sustainable Cassava Disease Solutions Asia) về diễn biến ứng phó bệnh khảm lá sắn CMD của mạng lưới sắn châu Á.

quan-ly-ben-vung-san-chau-a-11
quan-ly-ben-vung-san-chau-a-12
quan-ly-ben-vung-san-chau-a-13
quan-ly-ben-vung-san-chau-a-14
quan-ly-ben-vung-san-chau-a-15
quan-ly-ben-vung-san-chau-a-16
quan-ly-ben-vung-san-chau-a-17
quan-ly-ben-vung-san-chau-a-18
quan-ly-ben-vung-san-chau-a-19
quan-ly-ben-vung-san-chau-a-20

4. SẮN CHÂU Á THÁCH THỨC VÀ CƠ HỘI
Sắn châu Á tiến bộ tốt, thách thức nhiều, cơ hội mới

haydivephiamattroihk

5. VUI ĐI DƯỚI MẶT TRỜI
Hoàng Kim

Hãy lên đường đi em
Ban mai vừa mới rạng
Vui đi dưới mặt trời
Một niềm tin thắp lửa

Ta như ong làm mật
Cuộc đời đầy hương hoa
Thời an nhiên vẫy gọi
Vui đời khỏe cho ta.

Video và thông tin yêu thích
Cách mạng sắn ở Việt Nam

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on FacebookKim on Twitter

Chào ngày mới 22 tháng 9


Tập tin:Abrahamlincoln.jpg

CNM365 Chào ngày mới 22 tháng 9. Làng Minh Lệ quê tôi; Đối thoại với Thiền sư; Quản lý bền vững sắn châu Á; Ngày 22 tháng 9 Ngày độc lập tại Bulgaria (1908) và Mali (1960). Ngày 22 tháng 9 năm 1862, Tổng thống Hoa Kỳ Abraham Lincoln (hình) phát hành Tuyên ngôn giải phóng nô lệ, tuyên bố quyền tự do của tất cả nô lệ ở phần lớn lãnh thổ thuộc Liên minh miền Nam, bắt đầu từ năm sau. Ngày 22 tháng 9 năm 1829, ngày sinh Tự Đức, vua nhà Nguyễn của Việt Nam (mất năm 1883). Tự Đức (22 tháng 9 năm 1829 – 19 tháng 7 năm 1883) tên thật là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, khi lên ngôi đổi thành Nguyễn Phúc Thì, là vị hoàng đế thứ tư của triều Nguyễn. Ông là vị vua có thời gian trị vì lâu dài nhất của nhà Nguyễn, trị vì từ năm 1847 đến 1883, ông được truy tôn miếu hiệu là Nguyễn Dực Tông. Triều đại của ông đánh dấu sự suy yếu của nhà Nguyễn và nhiều sự kiện xấu với vận mệnh Đại Nam. Quân đội nhà Nguyễn ngày càng suy yếu, kinh tế trì trệ, trong khi nhiều cuộc nội loạn diễn ra trong cả nước. Năm 1858, liên quân Pháp-Tây Ban Nha nổ súng tấn công Đà Nẵng. Trước tình hình người Pháp xâm lấn trong triều đình đặt ra vấn đề cải cách, liên tiếp các năm từ 1864 đến 1881, với các quan là Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ,… liên tiếp dâng sớ xin nhà vua cho cải cách toàn diện đất nước nhưng nhưng đình thần bất đồng và nảy sinh hai phe cải cách và bảo thủ, rồi đến khi nước Đại Nam dần rơi vào tay quân Pháp cũng nảy sinh hai phe chủ chiến và chủ hòa. Tới năm 1883, Tự Đức qua đời, ngay sau đó Pháp tấn công vào kinh đô và ép buộc nhà Nguyễn phải công nhận sự “bảo hộ” của Pháp trên toàn Đại Nam. Đại Nam sau thời Tự Đức thực tế đã mất nước vào tay Pháp. Ngày 22 tháng 9 năm 1913, ngày mất Tôn Thất Thuyết, danh tướng Việt Nam (sinh năm 1839), phái chủ chiến, người đã nhân danh vua Hàm Nghi ra chiếu Cần Vương, kêu gọi nhân dân Việt Nam chống Pháp. Toàn bộ gia đình ông cũng tham gia kháng chiến và nhiều người đã hy sinh, được người dân ca tụng là “Toàn gia yêu nước“. Bài chọn lọc ngày 22 tháng 9 Làng Minh Lệ quê tôi; Đối thoại với Thiền sư; Quản lý bền vững sắn châu Á; Giống khoai lang ở Việt Nam; Khoai lang Nhật đỏ HL518 Việt Nhật Khoai Việt từ giống tốt đến thương hiệu. Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-22-thang-9/

LÀNG MINH LỆ QUÊ TÔI
Hoàng Kim

Linh Giang dòng sông quê hương. Nhà mình  gần ngã ba sông. Rào Nan Chợ Mới Nguồn Son Quảng Bình. Quê tôi sông núi hữu tình. Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con. Tôi nợ quê hương mình những ký ức về Làng Minh Lệ quê tôi, nợ những người thân và bạn hữu quê hương bao chuyện tuổi thơ và cuộc đời nhưng thỉnh thoảng mới gặp. Hôm nay tôi ghé chào cụ Nguyễn Ngọc Hạp một bô lão của làng Minh Lệ nay ở Hà Nội và lắng nghe cụ trò chuyện.

Chúc mừng cụ Ngọc Hạp Nguyễn vui khỏe hạnh phúc, cụ đã lưu lại ký ức thời gian không thể quên. Cụ nay trên 82 xuân, có trí nhớ tốt, quan tâm vận nước, nói và viết chính trực. Cụ lưu lại những điều không nỡ quên “Làng Minh Lệ trong chiến tranh thế giới lần thứ 2” “Khí thế Làng Minh Lệ sau ngày Độc Lập” và “Ký ức thời gian”. Tôi xin được chép các bài này vào chuyên mục “Làng Minh Lệ quê tôi” https://hoangkimlong.wordpress.com/ca…/lang-minh-le-que-toi/

LÀNG MINH LỆ TRONG CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI

Cụ Nguyễn Ngọc Hạp kể: “Cầu Minh Lệ và ga tàu hỏa gần nhau nằm trên tuyến đường giao thông huyết mạch Bắc Nam. Năm 1945, Nhật chiếm Đông Dương, cầu và ga làng tôi trở thành chiến địa Nhật và phe Đồng Minh.

Tôi nhớ một buổi chiều sau cơn mưa tạnh. Một chiếc máy bay cánh bằng bay đến ga rồi có tiếng nổ, khói đen bốc lên, máy bay vòng lại có tiếng súng liên thanh nổ. Dân trong xóm nhốn nháo chạy đi xem Ông binh Suông đi lính bên Tây về quát lớn: ‘Nó thả bom bắn đạn đum đum đó, đến là chết’, mọi người mới không đi. Từ đó bắt đầu cuộc chiến. Hàng ngày từng tốp máy bay ba hoăc năm, có khi bảy chiếc đến đánh phá dữ dội, dưới đất trận đìa cao xạ Nhật bắn lên .Cầu sập mà máy bay chẳng rơi chiếc nào.

Nhât đến đóng làng tôi chủ yếu phục vụ giao thông vận tải. Chúng đóng ở xóm Bắc xóm Nam. Một tốp đóng ớ trường làng trước cửa nhà tôi. Ban đầu thì mọi người đều sợ, nhưng họ không bắt bớ đánh đập ai, nên mọi người vẫn đi lại làm ăn bình thường.Tôi rủ thằng Cát, con ông binh Suông, đi xem Nhật. Nó nói bọ hắn nhủ ả Huể đàn bà con gái không được đi ngang qua đó.

Cầu sập, tàu đến ga phải “tăng bo”. Nhật thường bắt phu các làng lân cận tập trung ở sân trường điểm danh rồi dẫn đi làm việc. Lũ con nít chúng tôi đến coi không thấy chúng đánh đập ai, xóm tôi cũng không thấy Nhật bắt đi làm phu và cả làng không bị bắt trồng đay như ngoài Bắc.

Nhật sửa xong cầu, máy bay Đồng Minh lại bắn phá. Những quả bom tạ rơi xuống sông, cá chết nổi đầy, dân ven sông được dịp đua nhau xuống sông vớt, các anh lớn đi tìm nhặt về những băng ca tút đạn vàng chóe.

Thế rồi bổng nhiên lính Nhật treo cờ trắng, vẻ mặt buồn rầu. Các anh lớn nói với nhau nước Nhật bị Mỹ ném bom nguyên tử phải đầu hàng phe Đồng Minh có nước Nga ờ cùng phe mình mạnh lắm đã đánh phát xít Đức hàng.

Nhật đập súng vất xuống sông rút đi, toán ở trong xóm chú Dộ tôi gần đình làng Minh Lệ (*), viên sĩ quan tự sát, lính cắt thủ cấp bỏ lên khay trùm khăn đỏ làm lễ truy điệu. Tôi theo các anh lớn đến xem và họ rút sau cùng qua đò Phú Trịch

Nhật đi rồi, tàu hỏa lại đổ xuống các toán lính Tàu và lừa ngựa. Các anh lớn nói là quân Tàu ô đến tước vũ khí Nhật. Họ gầy ốm, ăn ở, phóng uế bẩn thỉu khắp làng, lừa ngựa đế sổng phá hoại hoa màu trong làng, dân bức xúc nhưng đành chiu.

Cũng may, họ ờ không lâu rồi đi nhưng nạn đói năm 45 ở nước ta rất khủng khiếp. Làng tôi không đến nỗi gì nhưng ảnh hưởng thật ghê sợ.Tàu hỏa đổ xuống ga Minh Lệ hàng ngày đem xuống làng những tốp người đói khát ốm đau đi ăn xin, đa phần là người già, đàn bà và trẻ con, ngày nào cũng có người ăn xin chết ngoài đường, làng tôi phải chôn cất, nghe người lớn nói đa phần là người Thái Bình, Nam Định, có cả Thanh Hóa.

Vậy đó, chiến tranh và hậu quả phát xít đã xẩy ra ở làng quê Minh Lệ trước ngày cách mạng. Tôi kể lại cho thế hệ trẻ ngày nay biết .Mong các bạn trẻ hãy kể truyền miệng cho con cháu nghe, bởi tuổi già và năng lực không cho phép tôi viết lại thành sách”

KHÍ THẾ LÀNG MINH LỆ SAU NGÀY ĐỘC LẬP

Cụ Nguyễn Ngọc Hạp nhân năm 2018 ,kỷ niệm 73 năm Lễ Quốc Khánh ngày 2 tháng 9 năm 1945, cụ vào tuổi 81. Nhớ lại hồi ức tuổi thơ khi còn là đứa trẻ con 8 tuổi ở trong đội nhi đồng do các anh lớn phụ trách. Cự Hạp kể tiếp:

“Tôi không thể nào quên ngày toàn thể làng tôi sôi động trong khí thế cách mạng,mọi người chăm chỉ tăng gia sản xuất chống giặc đói, đêm đêm già trẻ cầm đèn dầu đi học chống giặc dốt. Dân quân tập luyện quân sự, đào giao thông hào, lập làng chiến đấu.

Lớp thanh niên trai tráng đầu tiên xung phong nhập ngũ, trong số đó có anh Hoàng Ngọc Tợ, anh Trặng, anh Doành đã tham gia mặt trận chốt giữ đường 9 Khe Sanh, Ban Na Phầu chiến đấu trở về kể chuyện cả làng đều biết. Anh Tợ bị địch bắn trúng vào đầu, đội mũ sắt làm móp mũ, mọi người đến xem bàn tán mừng cho anh. Người chú trong họ tôi là Nguyễn Hữu Nghính kể lại rằng: anh Trặng giữ súng máy đại liên khẩu “chiêu hòa” nặng lắm vừa truy kích vừa bắn không cần giá súng.Bọn trẻ chúng tôi chuyền tại nhau thích thú, có đứa bắt chước lúc đánh trận giả làm vui. Lớp lính cũ thời Pháp cũng tình nguyện vào Vệ Quốc Đoàn là ông binh Khạm, binh Nghìa. Ông cai Huỳnh dẫn trung đội hành quân qua làng đóng ở trường tiểu học đem súng mút cờ tông ra bắn thử, đạn tịt vài ba phát mới nổ được một phát, cả xóm đến xem hãnh diện lắm

Khí thế rộn ràng chuẩn bị đi vào cuộc kháng chiến toàn dân giữ vững độc lập rất cao

Đội văn nghệ do anh Hoàng Hũu Sam phụ trách tổ chức diễn kịch ở sân trường vở nhạc kịch “Hội nghị Diên Hồng” hay lắm.. Anh Sam mặc áo dán giấy, giả áo cẩm bào đóng vua, những anh khác đeo râu giả cong lưng chống gậy đóng cụ già. Vua hát:

Kế giữ nước nên hòa hay nên chiến?
Các cụ đồng thanh: Quyết chiến”

Thế nước yểu lấy gì lo chíến chinh?
Các bô lão đồng thanh “Hy sinh”

Khán giả ngồi xem đồng thanh hướng ứng hát theo khí thế đầy hăng hái. Tuy tôi là trẻ con nhưng bố tôi thời ấy là Chủ tịch (*), nhiều người thường lui tới bàn việc, tôi nghe lóm cũng nhớ được nhiều chuyện và nay nhớ lại thời điểm xuất phát lập nên những chiến tích xã Quảng Minh anh hùng (là làng Minh Lệ xưa) từ sự nhen nhúm ngọn lửa đầu tiên ngày đó.

Nhà tôi cạnh đường quan người Pháp làm từ phủ Quảng Trạch (Ba Đồn) lên ga Minh Lệ,trước mặt nhà là trường học, gần nhà mệ Dùm, có từ lớp đồng ấu, lớp năm đến lớp tư (xem hình 2). Học hết lớp thì lên trường Ecole de Thọ Linh có từ lớp ba đến lớp nhất.

Không biết trường làng tôi có từ lúc nào, nhưng to lắm 5 gian mái lợp tranh, chân cột kê tảng đá xanh vuông 0.8m, nền đắp cao, sân rộng, thanh thiếu niên cả làng tụ tập đá bóng ở đó.

Buổi tối các anh lớn như Bích, Quế, Gián. Tân, Sinh, Tôn, Soảnh, Đạnh, Chuồi, Ban, Chấp, Tửng …. hay tù tập đàm luận. Chung tôi như thằng Thiệt, Thạnh. Cát …đến hóng chuyện, nghe lỏm các anh nói. Nước ta có ông Nguyễn Ái Quốc cầm đầu Việt Minh sắp nổi dậy cướp chính quyền, làng mình có ông cửu Ngô, chú Sính, ông bộ Em (ông Quê) ông Miều v.v…theo Việt Minh. Hồi ấy Nhật đã rút đi, ông tri phủ cũng không thấy dẫn lính đi tuần về làng qua cửa nhà tôi nửa.

Một hôm ở sân trường có người đặt bàn ra giữa sân, nhiều người tụ tập, tôi ra xem. Bỗng một tiếng súng nổ, một người dáng cao, mặt rổ hoa, tay cầm súng lục, nhảy lên bàn diễn thuyết. Người làng nói đó là anh Minh người làng Hòa Ninh ở trong đội võ trang tuyên truyền (về sau năm 47 nghe nói anh có kiếm Nhật ở trong đội diệt ác trừ gian, chém nhiều người lắm, đêm nào thanh kiếm rung là sáng ra có người bi chém, ghê lắm)

Một sáng mùa thu mát mẻ, tiếng trống vang lên thúc dục dân tụ tập lại. Lũ trẻ chúng tôi đi xem nhiệt tình lắm (không nhớ ngày nào). Tôi thấy đủ mặt có các ông mà các anh lớn nói, ông cửu Ngô là người đứng đầu, có mặt cả làng, tôi thấy chú kiểm Túy, chú Hài, anh Soắc, anh Bửu ,và nhiều anh lớn mà tôi đã kể. Lá cờ đỏ sao vàng kéo lên cột cờ của trường, mọi người nắm tay giơ lên mang tai chào (chưa có quốc ca). Sau đó, ông cửu Ngô nói vài câu rồi hô vang:

Đả đảo thực dân Pháp
Đả đảo Bảo Đại
Ủng hộ Việt Mịnh
Việt Nam độc lập muôn năm !

Một không khí hăm hở, đoàn người cầm gậy cầm gươm kéo lên xóm tây nhà lý Xâng, ông ta nằm trên võng ru con vội vã đi lấy sổ sách và triện giao nộp tử tế. Đoàn người lại kéo về sân trường. Nhà tôi cũng bị khám xét vì cha tôi là quan lảnh binh thời Pháp đang ở Đà Nẵng, trong tốp người có chú Sính, ông Miều, ông Quê. Mẹ tôi đi chợ Côi vắng, chúng tôi về mách, mẹ tôi đến mắng người Việt Minh là bà con. Họ cười xòa thân thiện.

Đoàn người phân công một toán xuống Ba Đồn cùng với các xã khác cướp chính quyền ở phủ, huyện. Khi vế anh Soánh kể bắt được tri phủ Đặng Hữu An, ông ta sợ lắm.

Tối đó tại sân trường tụ tập thành lập các đoàn thể cứu quốc.Từ đó trụ sở xã làm viêc ở gần ga tai xưởng ép dầu lạc do ông Hoàng Hữu Ngô làm Chủ tich xã lâm thời, tên xã là Hạ Văn, sau này là Minh Trạch, bao gồm: Minh Lệ, Thọ Linh, Hòa Ninh, La Hà. Tên xã Hạ Văn nghe cũng lạ, nhưng trong huân chương bố tôi nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi rõ như vậy. Vì sau đó, bố tôi (là ông Nguyễn Ngọc Xừ do HK ghi chú) rời quân ngũ trở về được bầu làm Chủ tịch xã thay cho ông Ngô.

Trường làng cũ tiếc rằng hiện nay không còn nữa, nơi di tích lịch sử của làng đã quên. Nay tôi nhớ tiếc cái nôi đã bắt đầu cho sự nghiêp của các lớp người tiền bối cách mạng. Họ là những kỷ sư, tiến sĩ, những sĩ quan quân đội trong kháng chiến chống Pháp chống Mỹ.

Lớp người đi trước đã không còn nữa, tôi mạn phép từ lứa tuổi của tôi trở về trước kể lại để thế hệ trẻ ngày nay con cháu được nghe. Tôi cam kết với dân làng là tôi chưa kể hết chứ không thêm không bớt để giữ nguyên giá trị lịch sử của làng Minh Lệ quê tôi, để đừng ai lợi dụng lắp ráp lịch sử khoe khoang dòng họ. Phạm vi bài viết trên FB tôi cố gắng tường trình sự kiện lịch sử cách mạng Làng Minh Lệ phần nào giúp độc giả thế hệ trẻ biết và cũng xin lỗi các cụ lứa tuổi tôi trở về trước, ai nhớ kế bổ sung cho con cháu nghe ./.

Hà Nội 21/9/2018. Chào ngày mới 21 tháng 9 (CNM365) Cụ Nguyễn Ngọc Hạp kể Hoàng Kim ghi lại và chú thích

GHI CHÚ CỦA HOÀNG KIM

(*) Đình Minh Lệ (ảnh nhìn từ ruộng lúa trước cửa nhà ông Dộ): Đình Minh Lệ được xây dựng năm 1464 dưới triều vua Lê Thánh Tông, hoàng đế thứ 5 của nhà Lê sơ, là nơi thờ tự bốn vị Đức Thần Tổ Trương Hoàng Trần Nguyễn. Thuở sơ khai, đình Minh Lệ là ngôi đình chung của cả năm thôn “Nhất xã ngũ thôn”: Minh Lệ (Quảng Minh), thôn Đoài (Diên Trường – Quảng Sơn), Vĩnh Ninh (Hoà Ninh – Quảng Hoà), Vĩnh Phước, Vĩnh Lộc (Quảng Lộc).

Đình Minh Lệ, ảnh Hoàng Minh Đức

(**) Chủ tịch liên xã thuở đó là cụ Nguyễn Ngọc Xừ, ““Hồn chính khí bốc lên ánh sáng/ Sáng choang ngọc đá giữa hoang tàn’./Tâm nhân văn lắng đọng tinh hoa/Hoa Đất Hoa Người trong cõi Bụt.” Hai câu thơ đầu là thơ của Cụ Hoàng Bá Chuân em ruột của bà ngoại tôi đọc lời điếu khi cải táng cụ Nguyễn Ngọc Xừ, bị chết oan Hai câu thơ sau là thơ của Hoàng Kim. LÀNG MINH LỆ QUÊ TÔI là một câu chuyện dài về quê hương đất và người, nếp nhà và nét đẹp văn hóa, hướng thiện và chính trung.

ĐỐI THOẠI VỚI THIỀN SƯ
Biển Hồ Tây Nguyên
Hoàng Kim

“Mây núi nào không bay cạnh núi
Sóng nào chẳng ở chốn xa khơi” (*)
Ban mai nắng hửng Tiên Sơn đẹp
Vàng sáng trời quang Biển Hồ ơi …

(*) Bạch Ngọc tiếp dẫn thơ Tuệ Trung Thượng Sĩ (1) ảnh Chùa Bửu Minh — cùng với Chua Buu Minh, Thượng tọa Thích Giác Tâm; xem tiếp Đối thoại với Thiền sư https://hoangkimlong.wordpress.com/…/doi-thoai-voi-thien-su/

Những câu nói hay hàng ngày (Đối thoại với Thiền sư LỜI VÀNG)

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
Vietnamese Dan Bau MusicVietnam traditional music Vietnamese food paradiseTa Nợ (Thơ Phan Chí Thắng, Nhạc Nguyễn Quang Nhàn)KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam 

Chào ngày mới 21 tháng 9


CNM365 Chào ngày mới 21 tháng 9. Giống khoai lang ở Việt Nam; Khoai lang Nhật đỏ HL518 Việt Nhật Khoai Việt từ giống tốt đến thương hiệu Quản lý bền vững sắn châu Á; Làng Minh Lệ quê tôi Ngày 21 tháng 9 Ngày Quốc tế Hòa bình (International Day of Peace) (trước đây là ngày khai mạc Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc). Ngày 21 tháng 9 năm 1820 , Đế quốc Maratha là cựu Đế quốc và vương quốc tại Ấn Độ bị diệt vong sau khi chiến bại trước Anh Quốc, Công ty Đông Ấn Anh tiếp tục củng cố địa vị tại Ấn Độ. Ngày 21 tháng 9 năm 1832 là ngày mất của Sir Walter Scott, nhà văn và nhà thơ lãng mạn nổi tiếng người Scotland (sinh năm 1771) với nhiều tác phẩm được coi là đại diện cho nền văn học cổ điển Anh, như Ivanhoe (Ai-van-hô), Rob Roy, Waverley, Trái tim của Midlothian (The Heart of Midlothian). Bài chọn lọc ngày 21 tháng 9 Giống khoai lang ở Việt Nam; Khoai lang Nhật đỏ HL518 Việt Nhật Khoai Việt từ giống tốt đến thương hiệu Quản lý bền vững sắn châu Á; Làng Minh Lệ quê tôi . Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-21-thang-9/

KHOAI LANG NHẬT ĐỎ HL518 VIỆT NHẬT Hoàng Kim trả lời GSTS Trần Duy Quý hỏi: Khoai này tốt lắm năng suất khá cao. Dân Bắc đang lùng mua giống mà không biết mua ở đâu? Ngoài Bắc có nơi nào sản xuất lớn chưa anh Kim? Tôi (Hoàng Kim) xin trả lời thầy Quý hai ý trên, và đặc biệt nhấn mạnh thành tựu giống khoai lang HL518 chất lượng rất ngon năng suất cao đã xã hội hóa từ 20 năm nay (1997-2017). Bà con nông dân muốn có khoai lang ngon năng suất trên 30 tấn/ ha, nguồn thực phẩm sạch giàu vitamin A và C, trồng có lợi nhuận cao hợp cho người nghèo, thì cần thực hiện đúng và đủ 10 khâu kỹ thuật then chốt, mà quan trọng nhất là đúng giống tốt, đảm bảo chắc chắn đúng dây giống tốt của khoai ngon đã được phục tráng, xin đừng sơ suất “bởi tin nên mắc, bởi nghe nên lầm”. Khoai lang HL518 từ giống tốt đến thương hiệu là hành trình văn hóa. Mời xem Khoai lang HL518 khác biệt Beni Azuma https://hoangkimlong.wordpress.com/…/khoai-lang-hl518-khac…/ mời đón đọc bài Kỹ thuật trồng khoai lang Nhật đỏ HL518 xuất khẩu.

Cám ơn GSTSKH Trần Duy Quý đã quan tâm và trao đổi câu hỏi thật cảm động. Giống khoai lang HL518 (Nhật đỏ) và khoai lang HL491 (Nhật tím) đã được Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam tuyển chọn và giới thiệu, Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn đã công nhận giống năm 1997 . Hai giống khoai này đột phá về chất lượng khoai ngon và năng suất cao. Những tỉnh trồng hai giống khoai lang này nhiều là Vĩnh Long, Kiên Giang, Đà Lạt, Đắc Nông, Gia Lai, Đồng Nai và Sóc Trăng. Điển hình tỉnh Vĩnh Long, năm 2011 Vĩnh Long trồng diện tích khoai lang 8,5 ngàn ha, năng suất bình quân 29,2 tấn/ ha sản lượng đạt 248,7 ngàn tấn, (Tổng cục Thống kê 2014) tăng gấp 5 lần về sản lượng so với sản lượng khoai lang Vĩnh Long năm 2000 là 46,2 ngàn tấn; diện tích 2,5 ngàn ha, năng suất 18,4 tấn/ ha,. Như ậy, bình quân năng suất khoai toàn tỉnh Vĩnh Long đạt 158,7% so với năm 2000 (xem ảnh chụp Kỷ yếu khoa học giai đoạn 1975- 2015 Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam trang 51).

Hai giống khoai lang HL518 (Nhật đỏ) và khoai lang HL491 (Nhật tím) nay đã xã hội hóa và thành vùng khoai lang Vĩnh Long nổi tiếng. Lùng mua giống thì nên về Bình Minh và Vĩnh Tân chọn hộ giỏi nhất đạt 40-50 tấn/ ha mà mua. Bài học Thanh trà Thủy Biều cố đô Huế nóng hổi tính thời sự đó anh Trần Duy Quý à. Tôi không biết rõ nơi nào ở miền Bắc đã thành vùng sản xuất lớn nhưng ngoài Vĩnh Long thì Gia Lai (Nguyễn Thị Hoa 2015) và Đắc Nông (Phan Thị Kim Loan 2017) có cập nhật thời sự khoai lang HL518 (Nhật đỏ) gần đây.

Việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại tỉnh Đăk Nông từ năm 2005 đến 2015 được triển khai và mang lại hiệu quả trong đó cây khoai lang Nhật đỏ đang được người dân quan tâm và lựa chọn vì nó mang lại hiệu quả kinh tế cao (năng suất cao, chất lượng rất ngon, vỏ đỏ, thịt củ màu vàng đến cam đậm dạng củ thuôn láng, đồng đều, bở, chất lượng củ luộc bùi, vị ngọt, mùi thơm đặc trưng, đặc biệt có hàm lượng tinh bột và protein cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu sang thị trường khó tính của các nước như Nhật Bản, Singapore, thời gian sinh trưởng 95-105 ngày, ít sâu bệnh hại chính).

Năm 2014, tổng diện tích khoai lang toàn tỉnh Đăk Nông đã trồng 5.400 ha, trong đó khoai lang Nhật đỏ 4.320 ha (chiếm 80%); Năng suất bình quân 9,44 tấn/ha, sản lượng 101.960 tấn. Riêng địa bàn huyện Tuy Đức năm 2014 đã trồng 1.900 ha, trong đó khoai lang Nhật đỏ là 1.600 ha (chiếm 84,2%), năng suất bình quân 9,4 tấn/ha, sản lượng 35.730 tấn, trong khi có nhiều hộ điển hình đạt trên 25 tấn/ ha. (Uỷ ban nhân dân tỉnh Đắk Nông, 2014). Bốn tồn tại chính sản xuất khoai lang tại địa phương là: 1) giống thoái hóa và lẫn tạp chưa được phục tráng chùm củ, hệ củ để đảm bảo đúng dây giống tốt của giống khoai ngon. 2) chưa thực hiện đồng bộ 10 biện pháp kỹ thuật canh tác khoai lang liên hoàn và VIETGAP cho khoai; 3) chưa bón đầy đủ cân đối hiệu quả phân khoáng NPK phối hợp với phân chuồng, phân xanh và chế phẩm hữu cơ vi sinh. 4) Chưa đáp ứng nguồn lực con người chuyên nghiệp đồng bộ cho “Công nghệ chọn tạo và nhân giống khoai lang Nhật đỏ HL518 xuất khẩu”.

Mười kỹ thuật trồng khoai lang đạt năng suất cao, chất lượng tốt, hiệu quả kinh tế cao, thân thiện môi trường gồm: 1) Sử dụng hom giống tốt nhất của giống tốt nhất (Nhật đỏ) đã được phục tráng tuyển chọn thích hợp tại địa phương; 2. Thời gian trồng và thu hoạch tối ưu để khoai lang ít sùng cho năng suất tối đa và lợi nhuận kinh tế; 3. Sử dụng cân đối hiệu quả phân bón NPK (đặc biệt là phân kali) kết hợp với phân chuồng phân xanh và hữu cơ vi sinh để cải thiện độ màu mỡ của đất và tăng sản lượng; 4. Khoai lang trồng lên luống thích hợp với khoảng cách tối ưu phù hợp giống, điều kiện canh tác và đất trồng; 5. Sử dụng quản lý dịch hại tổng hợp để ngăn chặn sâu bệnh khoai lang đặc biệt là bọ hà, sâu đục dây, bệnh xoăn lá, bệnh thối đen; 6. Cải tiến hệ thống sản xuất khoai lang bằng luân xen canh cây trồng và ứng dụng cơ giới hóa phù hợp; 7. Nhấc dây, làm cỏ xã vun luống, chăm sóc kịp thời, kiểm soát cỏ dại; 8. Phương pháp làm đất thích hợp giảm xói mòn trên đất dốc; 9. Quản lý tưới tiêu nước hiệu quả cho khoai lang; 10. Đào tạo nguồn lực cho nghề khoai từ giống tốt đến thương hiệu, từ FPR đến 10 T; từ VietGAP cho khoai lang đến kết hợp tốt sản xuất chế biến và sử dụng khoai lang.

Khoai Việt từ giống tốt đến thương hiệu nhiều triển vọng và thách thức. Tôi nhắn với các thạc sĩ khoai lang ở Gia Lai (Nguyễn Thị Hoa 2015) và Đắc Nông (Phan Thị Kim Loan 2017): Cám ơn các em Kim Loan Phan, Nguyen Thi Hoa với quà tặng khoai lang Nhật đỏ HL518 Việt Nhật. Khoai Việt từ giống tốt đến thương hiệu, từ Vĩnh Long miền Tây đến Đăk Nông Tây Nguyên đang mang lại nguồn lợi thu nhập và niềm vui cho nhiều hộ gia đình nông dân nghèo. Chúc các em tiếp nối bảo tồn và phát triển, tuyển chọn hệ củ phẩm chất rất ngon năng suất cao theo đúng bản tả kỹ thuật và phẩm cấp đã đăng ký, học gương bảo tồn và phát triển của ” Thanh trà Thủy Biều cố đô Huế ” tạo vùng khoai ngon Nhật đỏ HL518 Đăk Nông, Gia Lai . ..

Hoàng Kim cùng với Huỳnh Hồng2 người khác. 13 tháng 4, 2017 lúc 07:30 ·

ĂN KHOAI KIỂU NHẬT
Hoàng Kim

ĂN khoai kiểu Nhật nhớ em tôi
KHOAI Đỗ Quý Hạo thật tuyệt vời
KIỂU ngon nướng hầm nghiền hấp luộc
NHẬT đỏ (HL518) Nhật tím (HL491) ngon nhất thôi

Xem chi tiết tại Giống khoai lang ở Việt Nam https://hoangkimlong.wordpress.com/category/giong-khoai-lang-o-viet-nam/; Khoai Việt từ giống tốt đến thương hiệu; Giống khoai lang HL518 Nhật đỏ; Giống khoai lang HL491 Nhật tím; Ăn khoai kiểu Nhật.xem tại Chào ngày mới 13 tháng 4 https://cnm365.wordpress.com/…/…/chao-ngay-moi-13-thang-4-3/

Hỏi: TS. Hoàng Kim trò chuyện với TS. Võ Thái Dân và Châu Ry. Thầy TS. Võ Thái Dân nói: “Với khoai lang, ăn sống vẫn là ngon nhất” và Châu Ry cũng nói: “Em cũng thích ăn sống, lúc đi ruộng khoai lang sống chấm muối ớt là ngon tuyệt vời.”.

Trả lời: TS Hoàng Kim nói : Ăn khoai kiểu Nhật thì họ thích nhất ăn nướng; kế đến là hầm nghiền hấp luộc. Hai giống khoai lang HL518 (Nhật đỏ) và HL91 (Nhật tím) đáp ứng tốt thị trường khó tính này.

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
Vietnamese Dan Bau MusicVietnam traditional music Vietnamese food paradiseTa Nợ (Thơ Phan Chí Thắng, Nhạc Nguyễn Quang Nhàn)KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam