About HoangKim, NgocphuongNam

Hoàng Kim (sinh năm 1953 tại Quảng Bình, thường trú ở Đồng Nai) là tiến sĩ nông học, giảng viên chính cây lương thực ở Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh. Ông là chủ bút các website: TS. Hoàng Kim, Ngọc phương Nam, FoodCrops.vn, CNM365, Tình yêu cuộc sống, Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Việt Nam tổ quốc tôi, Khát khao xanh, Học mỗi ngày, Danh nhân Việt.

Chuyện làng Hoành


CHUYỆN LÀNG HOÀNH. Hoàng Kim lưu lại ít thông tin chọn lọc. Bài này tiếp nối bài Nhân dân và an dân; Hai bài đọc lại và làng Hoành. VGP News Đối thoại với dân, Chủ tịch Hà Nội giải tỏa ‘điểm nóng’ Đồng Tâm; VOV Chùm ảnh: Cuộc sống bình yên trở lại với xã Đồng Tâm. VOV Cận cảnh: Đồng Tâm vỡ òa vui sướng khi đối thoại thành công. Nguyên Hùng Hơi chậm nhưng là chậm chắc. Trương Huy San Nhân dân tha nhớ về với nhân dân. Các báo có đưa trung thực ý kiến của bà con làng Hoành không? Trích phát biểu của cụ Kỷ, 63 tuổi tại phiên đối thoại sáng 22/4 giữa dân làng Hoành với Chủ tịch Nguyễn Đức Chung:

“Chúng tôi rất đau lòng vì những việc vừa qua. Ông Nguyễn Đức Chung nguyên giám đốc công an chắc phải hiểu rõ không ai có tội trừ khi bị kết tội. Để giải quyết vấn đề phải tìm ra nguyên nhân gốc rễ như vậy mới thấu tình đạt lý. Những gì đã xảy là sự việc đáng tiếc. Ở chừng mực nào đó nếu người dân chúng tôi không hiểu thì phải tuyên truyền cho chúng tôi…

Quê hương Đồng Tâm là xã anh hùng trong kháng chiến, để xảy ra chuyện này không ai không đau lòng, nhất là chuyện ông Kình là cán bộ lão thành 82 tuổi đời, 66 năm tuổi Đảng bị bắt. Chúng tôi hiểu luật pháp cho phép bắt một người trong trường hợp khẩn cấp không cần lệnh. Nhưng thử hỏi ông Kình gây nguy hiểm cho ai mà bắt như thế. Đá như quả bóng, quăng lên ô tô. Tôi nói xin lỗi là quăng như quăng một con lợn. Chúng tôi chứng kiến mà rơi nước mắt.

Phản ứng mà người dân tạm giữ một số cán bộ công an là phản ứng nhất thời vì quá bức xúc. Theo pháp luật giữ người như thế là sai nhưng cái sai của chúng tôi xuất phát từ 2 cái sai của cán bộ:

Cái sai thứ nhất là khu vực đất 59 hecta đất đồng Sênh của chúng tôi không liên quan đến đất sân bay, mà lãnh đạo xã khẳng định là đất quốc phòng. Loa phát thanh nói ra rả nhưng càng nói thì làm người dân căm phẫn hơn. Cái sai là không làm rõ đất thuộc quyền của dân Đồng Tâm không thuộc đất quốc phòng. Nếu đất quốc phòng phải có quyết định của Thủ tướng, để thu hồi 59 hecta phải thông qua Quốc hội là dự án có khả thi không. Phê chuẩn xong Thủ tướng mới ra quyết định thu hồi. Nhưng đến giờ không có bất kỳ quyết định nào của các cấp có thẩm quyền cả.

Cái sai thứ hai là bắt người trong trường hợp khẩn cấp, nhưng thực tế là lừa. Các đồng chí bảo nhân dân lên dẫn chỉ mốc giới để giải quyết đâu là phần đất nông nghiệp đâu là quốc phòng. Những người dân chúng tôi trong đó có ông Kình tin tưởng đi theo, nhưng chỉ mới đến cột mốc thứ 2 đã bắt người một cách dã man. Mọi người không chứng kiến không thể hiểu nổi sự đau lòng…”

(Chinhphu.vn) – Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Nguyễn Đức Chung cam kết sẽ giải quyết công tâm, công minh sự việc tại xã Đồng Tâm trên tinh thần khách quan và chính xác nhất để người dân trở về cuộc sống yên bình.

CHUYỆN ÔNG DƯƠNG TRUNG QUỐC ĐẾN THÔN HOÀNH

Lê Kiên

Lại thấy có những rác rưởi muốn ném vào ông Quốc, và tôi phải viết stt này để bảo vệ ông.

Chúng viết rằng, ĐBQH Dương Trung Quốc chọn thời điểm đến thôn Hoành, Đồng Tâm đúng ngày ông Nguyễn Đức Chung đối thoại, là nhằm đánh bóng hình ảnh của mình. Chúng viết rằng, ông Quốc không đến thôn Hoành vào những ngày trước đó là hèn, là không có trách nhiệm với cử tri, mặc dù ông Quốc đã nhận đơn của cụ Kình. Chúng viết rằng, ông Quốc và ông Nhưỡng đi theo đoàn ông Chung, để “múa phụ hoạ”.

Stt này, tôi sẽ kể chi tiết câu chuyện, và cần đến khoảng 1500 chữ, để bạn đọc fb tỏ tường.

Đó là ngày sinh nhật Lê Nin, 22-4, tôi nhớ rõ ngày này, bởi Lê Nin sinh sau một ngày tôi kỷ niệm ngày tỏ tình với bạn gái.

6g sáng, ĐBQH Lưu Bình Nhưỡng gọi cho tôi: “bây giờ anh vào Đồng Tâm, chú đi với anh không?”. Tôi ngần ngừ giây lát, bởi lịch của tôi hôm đó vẫn họp UBTVQH cả ngày. “Em đi, thôi bỏ họp, cũng muốn xuống tận nơi xem thực tế ra sao”. Anh Nhưỡng hỏi có nên mời thêm ĐBQH nào đi cùng, thêm người thì sẽ tốt hơn. “Chú Quốc” – tôi đáp ngay. “Nhưng anh chưa có số bác Quốc”. “Để em nhắn”.

Tại sao tôi lại đề nghị ông Nhưỡng mời ông Quốc đi cùng. Bởi ông Quốc là ĐBQH đầu tiên gọi cho Chủ tịch Nguyễn Đức Chung ngay sau khi vụ việc xảy ra, khuyên ông Chung đối thoại, lấy kinh nghiệm từ vụ ông Phạm Thế Duyệt về Thái Bình 20 năm trước. Ông Quốc cũng trả lời báo chí từ ngày đầu, nhận “tôi thấy mình có phần lỗi, vì mấy hôm trước cũng nhận được đơn của cụ Kình”.

Ông Nhưỡng gọi điện thoại khi ông Quốc mới từ Đà Nẵng bay ra, chuẩn bị lên xe đi Yên Tử. Nhưng ông cũng huỷ lịch trong ngày để đến thôn Hoành. ĐBQH Lưu Bình Nhưỡng không ngồi xe biển xanh, ông tự lái xe gia đình đến đón tôi, qua đón ông Quốc. Ông đem theo hộp bánh để trên xe, sợ tôi và ông Quốc chưa kịp ăn sang.

Hỏi thăm mấy bận, xe chúng tôi cũng đến được đường rẽ vào đầu thôn, một cảnh sát giao thông ra chặn lại, đi cùng là một cán bộ an ninh. Ông Nhưỡng rút thẻ ĐBQH ra, vị cán bộ an ninh cũng kịp nhận ra ông Quốc. Cho xe qua. Khi đến đầu làng, lúc đó gần 8g sáng. Đám thanh niên ra chặn lại, ông Quốc bước xuống. “Á, a, à, bác Quốc, bác Quốc…” – tiếng của người dân. Tôi giơ điện thoại chụp ảnh. “Tắt ngay. Xóa ngay. Đ.M, nhà báo không được chụp” – mấy người dân chỉ thẳng vào mặt tôi. “Tôi đi cùng bác Quốc” – tôi nói. Mấy thanh niên hướng dẫn cho xe anh Nhưỡng đỗ vào làng.

Cánh cổng thôn Hoành lúc đó vẫn đóng, bằng những đống đất, đá, chướng ngại vật. “Không khí” thôn Hoành đặc quánh, nóng hừng hực. Các nhà báo cũng không được vào, ngoại trừ con em tôi, Duy Hoàng, là đứa con của thôn Hoành, nó đã ăn nằm suốt từ hôm nọ.

Ông Quốc, ông Nhưỡng được dân mời vào nhà ông Sinh, cụm trưởng cụm 1 (thôn Hoành có 8 cụm). Những người dân bắt đầu kể, người này chưa xong người kia đã kế tiếp, nghẹn ngào, đau xót, khóc than… Chuyện trò được khoảng gần một tiếng, thì một chị phụ nữ chạy vào, chị là thân thích của cụ Kình và là người nắm “đường dây nóng” của ông Chung với dân thôn Hoành mấy bữa nay.

“Các cụ ơi, anh Chung bảo là sắp về. Anh ấy bảo với cháu nói lại với các cụ, nếu đồng ý các điểm sau thì anh ấy sẽ vào tận thôn đối thoại. Anh Chung nói một là phải đảm bảo an toàn, hai là phải dọn dẹp gạch đá chướng ngại vật, ba là phải cam kết 19 người bị giữ từ hôm nọ là không có chuyện đánh đập, được đối xử tốt, bốn là sau khi anh chung vào đối thoại xong thì sẽ đón các anh kia về luôn, năm là anh Chung hứa sẽ giải quyết dứt điểm vụ việc này, sáu là anh Chung cho một tỷ để xã Đồng Tâm làm công trình phúc lợi. Đấy, anh Chung nói sao cháu thuật lại y như vậy” – chị nói, giọng gấp gáp.

Nghe xong, ông Quốc quay sang hội ý với ông Nhưỡng: “anh Chung về đối thoại rồi thì có lẽ là mình nên rút, để anh ấy làm việc”. Ông Quốc động viên người dân là phải rất bình tĩnh, tạo điều kiện cho Chủ tịch Chung đối thoại, cùng nhau tháo gỡ. Ông đưa số điện thoại cho em trai cụ Kình và dặn: “nếu có việc gì cần, các cụ cứ gọi tôi, như tôi đã nói là tôi thấy có phần trách nhiệm bởi tôi đã nhận đơn mà không có ý kiến kịp thời”.

Ông Nhưỡng thì nghĩ khác: “Em nghĩ mình chưa nên rút, mình là ĐBQH chủ động về đây, thực hiện chức năng giám sát. Ông Chung về thì cứ làm nhiệm vụ của ông ấy. Em nghĩ mình nên ở lại xem sự việc diễn biến thế nào, cũng là để ở bên cạnh người dân, nếu có thể thì góp vào để cuộc đối thoại có kết quả tốt đẹp hơn” – ông Nhưỡng nói.

Đa số người dân có mặt ủng hộ ý kiến ông Nhưỡng, họ mời hai vị ĐBQH ra trụ sở xã. Vừa đứng dậy thì ông Quốc nhận được điện thoại của ông Chung, Chủ tịch HN cho biết ông đang trên đường vào và có ý muốn ông Quốc “lánh đi, cứ để em xuống làm việc với bà con”. Ông Quốc đang do dự về ý kiến của ông Chung thì mấy cụ già đã nhanh miệng “mời bác lên xe đến trụ sở xã, có Bí thư xã đang ở đó”. Vài phút sau ông Chung gọi điện lại, ông thay đổi suy nghĩ và mời ông Quốc ở lại tham dự cuộc đối thoại. “Anh yên tâm, anh cứ vào làm việc của mình, tôi sẽ hỗ trợ anh nếu có thể, tôi tin anh và anh cũng phải tin tôi” – ông Quốc nói với ông Chung.

Cho đến trước thời điểm bắt đầu đối thoại, ông Chung còn gọi cho ông Quốc thêm một cuộc nữa, có lẽ là để nắm tình hình thực tế. Ông Quốc còn động viên: “em cứ vào đi, anh nghĩ là mọi chuyện sẽ tốt nếu em vào”.

Cuộc đối thoại và mọi chuyện diễn ra sau đó, như tôi đã kể ở các stt trước rồi.

Có người đặt ra câu hỏi. Vậy các vị ứng cử tại địa bàn Đồng Tâm, Mỹ Đức mất hút ở đâu trong những ngày nóng bỏng ấy? Tôi xin thông tin thêm: ĐBQH Nguyễn Chiến là người ứng cử tại đây, ông ấy đã sớm có mặt ở thôn Hoành trước khi chúng tôi đến khoảng 3 ngày, và ông ấy lặng lẽ thu thập thông tin và xử lý vụ việc theo cách của riêng mình.

Như tôi đã viết, cánh cửa thôn Hoành đã mở ra và người tra chìa khóa vào là ông NGuyễn Đức Chung. Nhưng góp phần giải quyết vụ việc có công lao không nhỏ của các vị ĐBQH, đặc biệt là các ông Lưu Bình Nhưỡng, Dương Trung Quốc, Lê Thanh Vân.

Đọc đến chỗ này, nếu có ai đó còn nghi ngờ về mục đích của các vị ĐBQH đã đặt chân đến thôn Hoành, thì đó là những tư duy cặn bã.

Bài viết mới
Video yêu thích
KimYouTube

Nhân dân và an dân



NHÂN DÂN VÀ AN DÂN

Hoàng Kim
đọc thơ “Nhân Dân”  Hoàng Đình Quang
có dẫn lời thơ Bùi Minh Quốc
Ôi nhân dân, một nhân dân như thế!

Dạy và học, nói và làm suốt đời
Thì mục đích sau cùng vẫn thế
Việc nhân nghĩa cốt ở an dân
Kiệt tác Ức Trai (1) lưu dấu ngàn năm (2).

Đẩy thuyền là dân
Lật thuyền là dân.
“Lênh đênh qua cửa Thần Phù
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm” (3).

Tiếng Việt và Dân ta học suốt đời.
Ôi Tiếng Việt như bùn và như lụa (4)
Thảo dân là đất bùn ruộng ngấu

Hoa lúa (5) mầm sen ngọc cho đời (6)

(1) ‘ Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãichuyên luận của Hoàng Kim
https://cnm365.wordpress.com/2015/08/12/nhung-kiet-tac-tho-van-nguyen-trai/
(2) ‘ Đêm Yên Tử bình minh ngày mới ‘ chuyên luận của Hoàng Kim
http://www2.hcmuaf.edu.vn/contents.php?ids=10541&ur=hoangkim
(3) Ca dao cổ
(4) Bài thơ ‘Tiếng Việt’ Lưu Quang Vũ
“… Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa/ Óng tre ngà và mềm mại như tơ…”
(5) Hoa Lúa,  thơ Hoàng Kim
(6) Ngọc cho đời, tản văn Hoàng Kim


NHÂN DÂN (I)

Hoàng Đình Quang

Ôi nhân dân, một nhân dân như thế!
(Bùi Minh Quốc)

Nếu đến một ngày không có nhân dân
Các ông quan hẳn hài lòng biết mấy
Không có những đoàn người xếp hàng xô đẩy
Cửa công đường sạch bóng như gương!

Không có nhân dân sẽ chẳng bị tắc đường
Cảnh sát giao thông vào bóng cây tránh nắng
Cổng bệnh viện suốt bốn mùa yên lặng
Bác sĩ ra sân chơi ten-nis tưng bừng.

Không có nhân dân, chẳng ai ở núi rừng
Biên giới tiến về bên hông nhà chính phủ
Công viên sẽ chỉ còn chim với thú
Người bán vé bâng khuâng cất tiếng hát thành lời.

Không có nhân dân quả thật rất tuyệt vời
Tôi nghĩ thế, và tôi tin như thế
Không ai ăn gian, chẳng kẻ nào trốn thuế
Quan chức rung đùi thưởng thức Trịnh Công Sơn.

(Viết ở cổng Bệnh viện Ung Bướu –TPHCM
15-1-2009)

NHÂN DÂN (II)

Hoàng Đình Quang

Tự sắm cho mình vai diễn đắt “sô”
Tiếng tay vỗ rào rào như gió cuốn
Vòng hào quang tha hồ tưởng tượng
Tiền bán vé chui vào cái túi không tên!

Tự phong cho ta tất cả mọi thứ quyền
Sát phạt mơ hồ, ngồi lên ngôi ảo
Giơ nắm đấm qua khỏi tầm cơm áo
Vỗ ngực xưng tên nơi góc chợ đầu đường.

Tự xếp cho mình chỗ đứng đế vương
Sai khiến quần thần, tay sai, đầy tớ
Mũ áo cân đai suốt đời khoai củ
Trong giấc mơ cùn chỉ thèm một nắm xôi.

Biết quá ít về mình, thông thạo chuyện trời ơi
Rất lắm lòng tin, cơ man thần tượng
Cho đến lúc trở về không, nằm xuống
Vẫn chẳng biết mình mãi mãi bằng không!

Viết khi đi dự cuộc gặp mặt ngày Thương Binh – Liệt sĩ (Phường tôi) 27-7-2010

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày
Video yêu thích
KimYouTube

Hai bài đọc lại và làng Hoành



HAI BÀI ĐỌC LẠI VÀ LÀNG HOÀNH. Hoàng Kim ngắm ảnh ‘tứ trụ sử Việt thời hiện tại Lê Lâm Tấn Vượng với vợ chồng Giáo sư Trần Văn Giàu’ và đọc lại ” Nỗi ám ảnh của quá khứ” do nhà sử học Trần Quốc Vượng ghi chép với “Báo cáo về vụ nổi dậy ở Thái Bình 1997” do giáo sư Tương Lai đăng, để soi tỏ thêm thông tin nóng hổi ngày mới “Sự kiện Đồng Tâm – Tin VNE từ làng Hoành” của Hiệu Minh blog. Câu hỏi rằng “Chuyện làng Hoành mới và nóng, việc đánh giá là nhỏ hay sao mà lại xếp sau ‘hai bài đọc lại’?”. Xin thưa chuyện làng Hoành là không hề nhỏ, và không hề dễ, vả chăng lỗ nhỏ đắm thuyền “tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ” “chuyện chém bảy kiêu binh làm sụp nhà Lê Trịnh” thì ‘hai bài đọc lại’ nên lần lượt xem kỹ trước ‘chuyện làng Hoành’ để thấm thía.

ĐỌC ‘NỖI ÁM ẢNH CỦA QUÁ KHỨ’

TranQuocVuong2

“Nỗi ám ảnh của quá khứ” “Bài của giáo sư Vượng”  là câu chuyện thật sâu xa và thật đáng suy ngẫm mà giáo sư Nguyễn Lân Dũng đã tâm đắc tặng cho những thành viên Xóm Lá chúng tôi.

Giáo sư Nguyễn Lân Dũng viết: “Thưa các bạn, Giáo sư Trần Quốc Vượng (12/12/1934 -8/8/2005) hơn tôi 4 tuổi nhưng tốt nghiệp Đại học với tôi cùng một khóa (1956) và dạy cùng trường Đại học Tổng hợp với tôi từ Khóa I. Ông nổi tiếng trong tứ trụ về Khoa học Lịch sử (Lâm-Lê-Tấn-Vượng). Ông cũng nổi tiếng về chuyện ăn nói thẳng thắn. Nhưng ông là người tốt, một người yêu khoa học và yêu nước. Bằng chứng là Ông đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất và được Tặng thưởng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học- Công nghệ. Nhân dịp Đảng đang mong tất cả chúng ta đóng góp ý kiến về các Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 12, tôi thấy mình không đủ tầm suy nghĩ sâu xa như GS. Trần Quốc Vượng nên mạn phép đăng lại bài viết này của ông (1991), một bài viết cách đây những 24 năm, nhưng có thể gợi cho chúng ta nhiều suy nghĩ về thời cuộc, từ đó có thể đề xuất ra những kiến nghị hữu ích cho Đảng, cũng tức là cho sự phát triển của đất nước, cho hạnh phúc của nhân dân. Cũng có những điểm các bạn chưa đồng tình với GS. Vượng, đó là quyền của từng bạn.  Nguyễn Lân Dũng”.

Xin phép thầy Dũng được chép lại bài “Nỗi ám ảnh của quá khứ” về trang “Tình yêu cuộc sống” (CNM365) để giúp bạn đọc tiện theo dõi và mong muốn được  lắng nghe lời bình tại đây hoặc FB (https://www.facebook.com/daihocnonglam).Trang “Tình yêu cuộc sống” do Hoàng Kim làm chủ bút ghi chép bài học lịch sử Chào Ngày Mới 365 ngày (CNM365) những sự kiện và con người nổi bật của dòng chủ lưu dân tộc và thời đại nhằm giúp bạn đọc và suy ngẫm những kinh nghiệm sâu sắc của quá khứ có ích cho việc dạy, học và làm ở hiện tại và tương lai. Bài của Giáo sư Vượng là sự lắng đọng Xưa và Nay.

Ý kiến của em trao đổi với thầy Dũng về bài học tâm đắc nhất mà em đọc và suy ngẫm qua “bài của giáo sư Vượng” là: Mình nên nói và viết điều gì, cho ai nghe, có ích lợi gì, ở đâu và lúc nào cần TẬN THIỆN, ĐÚNG MỰC, CÓ LÍ, CÓ LỢI, ĐÚNG LÚC. Dạy, học và thực hành sự “tận thiện, biết dừng” (Nguyễn Bỉnh Khiêm), “nhìn cho rộng suy cho kỹ” (Hồ Chí Minh), “dĩ công vi thượng, dám đánh và biết thắng” (Võ Nguyên Giáp).

Thời đại thế giới ngày nay đang hình thành mẫu người thực dụng và siêu thực dụng “bất kể mèo trắng mèo đen miễn là bắt được chuột”, “giả bảo là chân, chân cũng giả, không làm ra có, có rồi không” dần thay thế, chuyển hóa và biến dạng mẫu hình con người dấn thân cho  lý tưởng. Sự thực dụng và chạy đua kinh tế, vũ trang đang làm phân hóa sâu sắc thế giới giàu nghèo, phá vỡ sự hài hòa bền vững, làm suy thoái ô nhiễm môi trường, chi phối đời sống văn hóa xã hội. Việt Nam trong vòng xoáy toàn cầu đó và có nỗi ám ảnh của quá khứ.

Minh triết sống thung dung  phúc hậu là mỗi người, gia đình và xã hội tự nhận ra kho báu vô giá của chính mình để sống bình an, thanh nhàn với lòng dịu hiền và trái tim nhẹ nhõm.

Cũng thật mong lắm thay!

ĐỌC LẠI “THÁI BÌNH 1997” VÀ “LÀNG HOÀNH 2017”

Xem tiếp…

Tài liệu dẫn:

Trần Quốc Vượng (1934-2005)

NỖI ÁM ẢNH CỦA QUÁ KHỨ

GS Trần Quốc Vượng

Nước Việt Nam ta hiện là một quốc gia kém phát triển về mọi mặt, vừa lạc hậu, vừa lạc điệu với một thế giới nhìn chung đã và đang phát triển rất nhanh, đặc biệt từ nửa sau thế kỷ 20.

Tạm bỏ qua một bên mọi sự “giải thích”, nào đổ tội cho phong kiến đế quốc, thực dân bành trướng, thiên tại, địch hoạ, chiến tranh, cách mạng, nào viện dẫn sai lầm chủ quan của những người cầm nắm vận mệnh quốc gia mấy chục năm qua, v.v… tình trạng ấy là không bình thường, gây nên một bức xúc tâm lý, một nỗi đau thân thể, một nhức nhối thân xác và tâm linh, buộc KẺ SĨ và NGƯỜI DÂN, vừa gian khổ kiếm sống, vừa suy nghĩ đêm ngày, tìm cách khắc phục và vượt qua tình trạng tủi nhục này…

Có ĐỘC LẬP rồi chăng, nhưng hoạ LỆ THUỘC vẫn luôn luôn mai phục, cả về mô hình chính trị và sự phát triển kinh tế…

Có THỐNG NHẤT rồi chăng, nhưng mầm CHIA RẼ mọc rễ sâu xa, nào Bắc /Nam, nào Cộng sản / không Cộng sản…

Điều chắc chắn, là NHÂN DÂN chưa có HẠNH PHÚC, TỰ DO thực sự.

Với biết bao hệ luỵ của một cuộc chiến kéo dài, buộc ràng tới 3 thế hệ người Việt Nam (và rất nhiều quốc gia liên đới), lạ một điều (mà sao lại là lạ nhỉ ?), là từ “người thua” đến “kẻ thắng”, giờ đây, ai ai cũng mang một mặc cảm hoành đoạt (complexe de frustration), nói nôm na mà MẤT MÁT. Trước hết là NGƯỜI DÂN THƯỜNG.

Người ra đi hàng triệu, bỏ xác ngoài biển khơi hàng ngàn, vạn, biết bao em gái ta, chị ta, cả mẹ ta nữa… bị kẻ hải tặc khốn kiếp dày vò làm nhục! Chưa nói đến của cải, ai còn sống thì đều cảm thấy mất quê hương!

Người ở lại, hàng chục triệu nông dân bỗng dưng cảm thấy mất đất, không có quyền tự do hành xử trên “mảnh đất ông bà”, trong khuôn viên do chính tay mình tạo dựng; hàng triệu công nhân mất việc, thất nghiệp hay bị kém sử dụng (sous-emploi), sống ngất ngư, lây lất qua ngày…

Trí thức, thì tản mác, bị lãng phí thảm hại, trừ một số rất ít kẻ xu thời (đời nào chẳng có?), người nào cũng cảm thấy mất tự do tư tưởng và sáng tạo.

Một tình trạng như thế, chỉ có lợi cho lũ gian manh. Một cuộc “đổi đời” kỳ cục như thế, mà nếu cứ nhất định muốn gọi nó, muốn gọi đó, là “cách mạng”, thì là một cuộc cách mạng đã mất phương hướng. Phương hướng là cái tiêu ngữ trên mỗi đầu trang giấy, từ sau Tháng Tám 1945: ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC.

Cho nên phải nghĩ lại, phải bình tâm mà nghĩ lại, nói theo thời thượng từ giữa thập kỷ 80, là phải ĐỔI MỚI TƯ DUY.

Tư duy là công việc của mỗi CON NGƯỜI, vì về bản chất, con người là một sinh vật có tư duy, có ý thức và vì có tư duy, có ý thức mà được / phải có quyền tự do lựa chọn mô hình hành động, cho chính mình (tự do cá nhân), cho chính cộng đồng mình (nhà mình, làng mình, nước mình…) và phải / được chịu trách nhiệm về chính sự lựa chọn đó.

Tôi rất thân và rất quí Nguyễn Huy Thiệp, hẳn thế, nhưng chính vì thế mà tôi không thể nào đồng ý với anh khi anh trả lời phỏng vấn báo Libération là “Tôi đã sống như một con thú”. Con thú làm sao mà biết viết, biết in “Tướng về hưu”, “Phẩm tiết”…? Lẽ tất nhiên là tôi hiểu cái “ý tại ngôn ngoại” của anh: Cái mặt bằng kinh tế xã hội của một Việt Nam hiện nay trên đó “anh phải sống”, sự ràng buộc của “cơ chế”? v.v…

Tôi nhớ lại, ngày 12-1-1983, trong buổi họp kỷ niệm 40 năm ra đời “Đề cương Văn hoá Việt Nam”, ông Trường Chinh – tác giả chính của cái “Đề cương” đó – đã nói với các “nhà khoa học xã hội” Việt Nam: “Nếu không có một điều kiện tối thiểu về vật chất để sinh sống thì con người có thể trở thành con thú!”.

Điều đó chẳng có gì mới lạ, vì bằng kinh nghiệm nghiệm sinh, nhiều nhà trí thức chúng tôi đã nghĩ và nói thế từ lâu; điều mới và lạ, là cho đến tận lúc ấy, một vị lãnh đạo cao cấp của đảng Cộng sản Việt Nam mới nói ra như thế!

Mà con người, nhất là người trí thức Việt Nam, đâu chỉ đói rét vì miếng cơm manh áo? Đói tự do tư tưởng cũng có thể trở thành con thú! Vì con thú, như con trâu, con bò, dù co no cỏ thì cũng chỉ biết theo đuôi! Theo đuôi con đầu đàn!

Bao năm qua, có biết bao con người Việt Nam chỉ biết theo đuổi kẻ cầm quyền, hoặc khốn khổ thay, là chỉ được theo đuôi người lãnh đạo và lại được “khen” là “có ý thức tổ chức, kỷ luật” và vì vậy được vào Đảng, được “đề bạt” làm kẻ “cầm quyền” bậc sơ trung cấp, để, nói cho cùng, cũng chỉ thành kẻ “chấp hành”, “thừa hành”, nhưng có được chút “quyền”: đối trên và nịnh trên, là dưới và nạt dưới!

Tôi nhớ lại, khoảng mười năm trước đây, một người học trò và là bạn bè của tôi, trước khi đi Nga làm luận án Phó tiến sĩ sử học, trong buổi “tiệc bia” tiễn biệt thầy trò, bè bản, đã ngỏ với tôi lời “khuyên” tâm sự: “Nếu như thày mà cũng “đầu hàng cơ chế” nữa là bọn em mất nhờ đấy!”. Anh ấy ở Nga 4 năm, về nước với bằng xanh phó tiến sĩ, thẻ đỏ đảng viện và, gia nhập “cơ chế”, trở thành “người lãnh đạo” của tôi hôm nay!

Tôi chẳng buồn mà cũng chẳng vui. Tôi chọn lựa cho mình một hướng đi: Gia nhập “Câu lạc bộ những người thích đùa”.

Tôi thường nói đùa như người Hà Nội vẫn thường đùa anh ấy:
– Cậu là đảng viên nhưng mà tốt!

Câu nói đùa, mà “nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào” và hơn nữa, với câu nói ấy, có thể bị “quy chụp” là “phản động”.

Tôi có một anh bạn, phải nói là rất thân, học với nhau từ thuở “hàn vi”, lại cũng làm việc dưới một mái trường Đại Học trên ba chục năm trường, cùng “leo thang” rất chậm, từ “tập sự trợ lý” đến full professor, chair-department; anh là con “quan lớn”, em của “ngụy lớn” nhưng “có đức có tài”, được chọn làm “hàng mẫu không bán” kiểu như ông Bùi Tín vừa làm ồn ào giới truyền thông một dạo – nhưng khác ông ta là cho đến nay anh không gửi “kiến nghị” kiến nghiếc gì, nói năng với TRÊN, với DƯỚI bao giờ cũng “chừng mực”, chẳng “theo đuôi” mà cũng chẳng là “dissident” của chế độ. Anh thường bảo tôi: thì về cơ bản cũng nghĩ như cậu thôi. Nhưng cậu thông cảm, mỗi người một tính một nết, một hoàn cảnh. Cậu “thành phần tốt”, ăn nói táo tợn thì quá lắm người ta chỉ bảo cậu là “bất mãn cá nhân” thôi. Tớ “thành phần xấu”, ăn nói bằng 1/10 cậu thôi cũng đủ bị “quy” là “phản ứng giai cấp” rồi! O.K.! Anh cứ sống kiểu anh, tôi cứ sống kiểu tôi. Chỉ có mỗi một điều thôi, là vì vậy và vì nhiều lý do sâu xa khác nữa – nên nước ta chỉ có những nhà trí thức (intellectuals) chứ không có giới trí thức (intelligentsia).

Vậy thua thiệt thì Dân ráng chịu!

Bi kịch, nỗi bất hạnh của trí thức Việt Nam, của nước Việt Nam là ở đó…

*

Báo Đoàn Kết của một cộng đồng người Việt Nam bên Pháp đưa tin: Vào cuối năm ngoái (1990), có một ông uỷ viên Bộ Chính trị kiêm bí thư thường trực Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam nhân sang Paris dự Đại hội Đảng Cộng sản Pháp, có tập hợp Việt kiều lại để nói chuyện. Trong khoảng 2 tiếng, ông chỉ “nói” mà không “nghe”, lại còn bảo: “Sống ở nước ngoài, biết gì chuyện trong nước, tuổi 40-50 trở xuống – nghĩa là vào hạng tuổi con cháu ông – biết gì mà góp ý kiến!”. Xem chừng bà con Việt kiều, nhất là anh chị em “trí thức”, bực mình với ông lắm.

Tôi là “trí thức” ở trong nước, ở Hà Nội nữa, nghe những lời lẽ ấy “quen tai” rồi.

Cũng ông ấy, lúc còn làm “Bí thư thành uỷ” Hà Nội, khi thấy báo “Quân Đội Nhân Dân” 1987 công bố “Bức thư ngỏ gởi ông chủ tịch thành phố Hà Nội” của tôi, nói về việc “Phá hoại các di tích lịch sử của Thủ đô” đã cho triệu tôi lên trụ sở Thành uỷ và “thân mật” bảo – Nếu anh là công nhân, anh nói (nôm na, tục tằn) kiểu đó tôi còn hiểu được, đằng này anh là giáo sư, là trí thức, sao lại nói kiểu đó (nôm na, “toạc móng heo, treo móng giò”). Nếu anh nói thế, “tôi” thì “tôi” nghe được, nhưng những “người khác”, họ không nghe được! Từ nay anh nên “thay đổi” cái “giọng nói” của anh đi!

– Đảng bảo: “Trí thức là của Công Nông và cũng là Công Nông”, vậy nếu công nhân – theo ông – nói được như vậy thì trí thức cũng nói được như vậy. Có gì – theo ông – là khác nhau giữa giọng “trí thức” và giọng “công nhân” ?

– Ông không khác gì người khác. Nếu theo ông, ông “nghe được” vậy thì người khác cũng phải nghe được. Vậy tôi chả việc gì phải “đổi giọng” cả!

Thực ra, tôi biết thừa cái “giọng tôi” chính ông nghe không được nên ông mới “góp ý” cho tôi, nhưng ông lại cố tình đổ cho là người khác nghe không được, hơn nữa ông lạicố tách “tôi” ra khỏi công nhân, “đề cao” tôi là “trí thức”, để chỉ cốt răn dạy tôi: Với vị thế của anh, anh không được ăn nói với chúng tôi (những nhà lãnh đạo) bằng cái giọng như vậy! Bà xã tôi lúc ấy còn sống và là giáo viên trường Trung học Trưng Vương nổi danh ở Hà Nội – nghe tin tôi được / bị phải gọi lên thành uỷ, lấy làm lo lắng lắm, bảo tôi (“giọng” bà ấy bao giờ cũng vậy, con gái nhà “tư sản Hà Nội” mà): Anh lên đấy, liệu mà ăn mà nói! Anh có sao, chỉ khổ vợ con! Chùa Một Cột có bị phá để làm Bảo tàng Lăng Bác, nếu có hại thì hại cả nước, đâu dính gì đến riêng anh mà anh cứ “la làng” lên, một con én chẳng làm nổi mùa xuân, “ăn cái giải gì” mà cứ nói, chỉ khổ vào thân; có cái giấy Úc mời sang kỷ niệm 200 năm nước “nó” đấy, khéo các “bố” ấy lại không cho đi, vợ con Ôi, làm “thằng người Việt Nam”, làm “trí thức Việt Nam” biết bao là “hệ luỵ”.

Tôi đưa chuyện HỌC TRÒ, BÈ BẠN, VỢ CON dàn trải trên mặt giấy đâu phải để “nói xấu” họ, nhất là nói về vợ tôi – nay đã mất, cầu cho linh hồn bà ấy tiêu diêu miền cực lạc – mà trong tâm khảm tôi, bao giờ tôi cũng cảm thấy mình xấu tính hơn bè bạn – vợ con – học trò. Tôi chỉ muốn nói về thân phận trí thức ở cái nước Việt Nam mang cái nhãn hiệu Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa mà thực ra là còn đang rất kém phát triển này: ông uỷ viên Bộ chính trị ấy, kiêm bí thư Trung ương này, kiêm bí thư thành phố này… ai chả nghĩ là ông ấy cộng sản hơn ai hết nhưng thực ra thì ứng xử của ông ấy từ Hà Nội đến Paris lại “gia trưởng”, “nho giáo cuối mùa” hơn ai hết!

Khổ vậy đó, cho nên giáo sư Alexander Woodside, từ góc trời tây bắc của xứ tuyết Canada mới hạ một câu về cách mạng Việt Nam: “The spiritual and cultural milieu from which the vietnamese revolution sprang was both confucian and comunist” (Cái môi trường tâm linh và văn hoá mà từ đấy cách mạng Việt Nam phóng tới là cả Khổng Nho và Cộng sản).


Ông giáo sư Từ Chi một trong những bạn bè thân thiết của tôi từ một cậu tú ở Huế đi nam tiến ngay sau ngày 23 tháng 9 và trở thành cộng sản rồi năm 54 trở về học đại học để trở thành một nhà dân tộc học. Ông đi làm chuyên gia ở Tây Phi, thương một người con gái Hà Nội nhà nghèo vì chiến tranh mà lưu lạc mãi sang tận bờ sông Niger. Ông quyết đưa người phụ nữ bất hạnh đó trở về tổ quốc chỉ bằng cách kết hôn với nhau, dù ông biết trước rằng hành động dấn thân ấy ông phải về nước trước thời hạn. Và cho đến 25 năm sau, ông không bao giờ được ra nước ngoài, dù ông, không có bất cứ một hành vi gì phạm pháp. Cái án được phán quyết không theo “Luật hôn nhân và gia đình” của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ban hành năm 1960, mà là theo đạo lý hủ Nho.
Về nước năm 65 qua ngã Moscow ông dừng chân ở đó 5 ngày gặp tôi ở quán cà phê Sính, ông rỉ tai tôi: “Chế độ Xo Viết không thể nào viable” (nguyên văn có nghĩa: không thể “thọ” được). Đấy là lời tiên tri đúng trước 1/4 thế kỷ! Vì sao NƯỚC và ĐẢNG có những người trí thức giỏi đến thế mà bây giờ cả NƯỚC, cả ĐẢNG đều lâm vào tình huống “khủng hoảng toàn diện”?

Từ năm 65, cứ mỗi lần nghe thấy lời khuyến dụ tôi vào Đảng, ông lại bảo tôi: “Tuỳ ông đấy, nhưng… nếu ông có vào thì đừng để người ta đuổi ông ra!”. Ông biết kỷ luật của Đảng ông là “kỷ luật sắt” mà tôi thì ông cũng biết quá rõ tôi là người “tự do”, tính ưa phóng khoáng, là người “bất cơ” (không chịu ràng buộc) theo chữ dùng để đánh giá mình của nhà sử gia họ Tư Mã bên Tàu!

Tôi hỏi ý kiến ông về tính chất Cách mạng Việt Nam. Ông trả lời: Cụ Hồ bảo nước mình là một nước nông nghiệp, dân tộc mình là một dân tộc nông dân. Cứ đấy mà suy, thì cuộc “Cách mạng” bây giờ hẳn vẫn là một cuộc khởi nghĩa nông dân. Khác chăng là trước, khởi nghĩa nông dân do một số nhà nho xuất thân nông dân như Quận He, như Cao Bá Quát cầm đầu, bây giờ là do những người cộng sản cũng xuất thân ở nông thôn và có căn tính nhà nho, như cụ Hồ, như ông Trường Chinh… lãnh đạo. Ông đọc bài ông Nguyễn Khắc Viện rồi chứ, Confucianisme et Marxisme (La Pensée, No 105, Octobre 1962). Ông Viện là cộng sản và là con cụ nghè Nguyễn Khắc Niệm đấy!

Đầu thế kỷ XX, trong xã hội yêu nước vẫn âm ỉ một chủ nghĩa yêu nước xóm làng (village patriotism, chữ của Alexander Woodside). Yêu nước chống Pháp kiểu Nho của cụ Phan Bội Châu thất bại ở 2 thập kỷ đầu của thế kỷ XX. Và dòng trí thức Nho gia tàn lụi. Một số con cháu nhà Nho, một số con cháu nông dân, một số con cháu nhà công thương mới trở thành lớp trí thức Tây học. Một số ấy chấp nhận le fait colonial và trở thành công chức cho Tây, như ông cụ ông kỹ sư canh nông, như ông cụ tôi (bác sĩ)… Một số khác, yêu nước hơn, mong áp dụng ở Việt Nam những lý tưởng Mác-Lê thế kỷ XIX.

Cái chủ nghĩa quốc gia của kiểu tư sản mà ông Nguyễn Thái Học, ông Xứ Nhu, kể cả cậu ruột ông đã khởi xướng ở Việt Nam Quốc dân đảng thì đã bị thực dân vùi dập khủng bố tan hoang từ thập kỷ 30. Còn lại cái chủ nghĩa quốc tế của Mác Lê mà Nguyễn Ái Quốc và những nhà cộng sản mang về áp dụng vào một xã hội nông dân châu Á nghèo khổ, khác hẳn cơ địa xã hội tư sản Tây Âu, nơi hình thành chủ nghĩa Marxisme. Người cộng sản Việt Nam có căn tính nông dân – Nho giáo đã gần Dân hơn người tiểu tư sản Tây học ở thành thị. Họ đã vận động và tổ chức được phong trào nông dân và toàn dân đánh Pháp, đuổi Nhật, làm cách mạng tháng Tám thành công. Kháng chiến là sự nối dài của Cách mạng tháng Tám.

Kháng chiến đã thắng lợi. Chủ nghĩa thực dân phương Tây đã bị hoá giải.

  • *

Dưới thời quân chủ – nông dân – nho giáo, ở Viễn Đông, có một ước mơ ĐẠI ĐỒNG. “Thế giới ĐẠI ĐỒNG, thiên hạ vi CÔNG”. Ở đầu thập kỷ 20, trong một bài viết, Nguyễn Ái Quốc cho rằng cái chủ nghĩa ĐẠI ĐỒNG của Khổng Nho ấy rất gần với chủ nghĩa Cộng sản. Alexander Woodside nhận xét: Ông Mao phê phán rất dữ dằn Khổng Nho còn ông Hồ rất nhẹ nhàng với Nho Khổng. Xây “đời sống mới” năm 46, ông Hồ nêu khẩu hiệu của Nho Khổng: CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH CHÍ CÔNG VÔ TƯ. Dạy đạo đức cho cán bộ, ông Hồ lấy câu Nho Tống: “Tiên ưu hậu lạc”. Về giáo dục xã hội, ông cũng dùng câu có sẵn của Khổng Mạnh, đại loại như “Bất hoạn bần nhi hoạn bất quân…” (Không sợ thiếu chỉ sợ không công bằng…) hay là “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”, v.v… và v.v… Đến di chúc, ông cũng đưa vào một câu trích dẫn của Đỗ Phủ đời Đường: “Nhân sinh thất thập cổ lai hy”. Thơ chữ Hán của ông, có nhiều câu, y phỏng theo Đường thi…

Nhưng cái mô hình xã hội chủ nghĩa kiểu Stalin hay kiểu Mao (Staline Mao hoá) dù đã ít nhiều Hồ hoá, Việt Nam hoá cũng tỏ ra không thành công trước thực tiễn “bướng bỉnh” của một nước Việt Nam nhỏ bé – tiểu nông.

Người Cộng sản Việt Nam đã lầm khi tưởng rằng dù với cơ cấu kỹ thuật cũ, ít thay đổi, cứ làm đại việc công hữu hoá (quốc hữu hoá, tập thể hoá, hợp tác hoá…) thì vẫn xoá bỏ được áp bức bóc lột, cải tạo xã hổi chủ nghĩa thành công. Hoá ra là một công thức đơn giản hơn: CÔNG HỮU HOÁ + CHUYÊN CHÍNH (VÔ SẢN) = (QUÁ ĐỘ sang) CHỦ NGHĨA XÃ HỘI.

Tôi và ông Từ Chi bàn mãi về chuyện này. Sau thời công xã nguyên thuỷ, chế độ áp bức bóc lột đầu tiên nảy sinh ở đất Việt với chế độ “thủ lĩnh địa phương”, lang đạo, phia tạo (tiếng Anh tạm dịch là local chieftains) khi ruộng đất còn gần như y nguyên là “của công” nhưng “dân đen” là tiểu nông tản mạn còn thủ lĩnh giữ quyền “thế tập” theo dòng máu.

Dân gian nói giản dị:
Trống làng ai đánh thì thùng
Của chung ai khéo vẫy vùng thành riêng!

Thì giờ đây, ruộng hợp tác, của kho hợp tác, bọn bí thư, chủ nhiệm, kiểm soát đều ở trong một cơ sở Đảng chuyên chính, chúng sẽ “vẫy vùng” thành riêng thôi! Ba năm liền 76-79 tôi đi Định Công Thanh Hoá, khảo cổ (ngày), khảo kim (đêm). Và 3 ngày liền cuối năm 79, tôi thuyết trình trước Tỉnh Uỷ Thanh Hoá về sự phá sản của mô hình làng Định Công (người ta tuyên bố “Định Công hoá” toàn tỉnh Thanh Hoá, vời bài báo tràng giang “Bài học Định Công” của Bí thư Trung Ương Tố Hữu). Thính giả cứ bỏ dần trước sự “vắng mặt” của Bí thư, Phó bí thư Tỉnh uỷ (người ta phải “nhìn Trên” để định thế ứng xử). Còn một ông thường vụ phụ trách tuyên huấn kiên trì nghe 3 ngày, để sau này khi Định Công phá sản hoàn toàn, đã khoa trương tuyên bố, chứng tỏ ta đây sáng suốt hơn các nhà lãnh đạo khác:
– “Lúc bấy giờ (79), ai dám nghe Trần Quốc Vượng nói, ngoài tôi?” (ông ấy bây giờ là Bí thư Đảng uỷ Bộ Văn hoá – Thông tin).

Năm 82 tôi đi Liên Xô thuyết trình khoa học. Bài viết của tôi bằng tiếng Việt, Dương Tường dịch sang tiếng Anh, Từ Chi dịch sang tiếng Pháp, bà Nona Nguyễn Tài Cẩn dịch sang tiếng Nga. Bà Nona bảo: bài của anh hay lắm, nhưng thuyết trình ở Paris thì hợp hơn, nói với trí thức nước tôi (Liên Xô), họ không hoan nghênh đâu! Mà quả nhiên!

Về nước, tôi briefing cho bạn bè nghe về Liên Xô và nói lén qua hơi men: “Dứt khoát hỏng!” Và đấy là lần duy nhất tôi “được” đi Liên Xô. Đầu năm 83, giáo sư Phạm Huy Thông cho đăng bài của tôi lên trang đầu Tập san Khảo cổ học (1). Đảng uỷ Uỷ ban Khoa học Xã hội viết bản báo cáo dài lên ban Tuyên huấn Trung ương quy kết tôi 4 tội:
– Chống chủ nghĩa Mác-Lê: vì tôi bảo: Công hữu hoá có thể đẻ ra bóc lột.
– Chống công nghiệp hoá: vì tôi bảo: Nông nghiệp phải / còn là mặt trận sản xuất hàng đầu.
– Chống đấu tranh giai cấp: vì tôi bảo: Nông dân khởi nghĩa – ngay cả ăn cướp -cũng không đánh vào người làng mà chủ yếu đi cướp nơi khác và đánh vào Quan.
– Chống chuyên chính vô sản: vì tôi bảo: Chuyên quyền đẻ ra tham nhũng.

Vụ án “văn tự” này kéo dài 3 năm, không có kết luận. 3 năm tôi được “ngồi nhà”, khỏi đi Tây và nói tiếng Tây! Cuối năm 86, khi Đại hội VI đảng Cộng sản Việt Nam kết luận lại trong nghị quyết là Nông nghiệp là “mặt trận hàng đầu”, giáo sư Phạm mỉa mai ở trụ sở Uỷ ban Khoa học Xã hội: Thế bây giờ Đảng uỷ đúng hay Trần Quốc Vượng đúng ?
Nhưng “nỗi ám ảnh của quá khứ” vẫn không tha người làm Sử như tôi (mà nói theo nhà Phật thì kiếp này còn là “quả” của kiếp trước kia mà). Năm 85, nhân năm “quốc tế người già”, ông Nguyễn Hữu Thọ nhờ người nói tôi viết bài “Truyền thống người già Việt Nam”.

Báo Đại Đoàn Kết của ông không “đoàn kết” nổi bài của tôi, tôi nhờ báo Tổ Quốc của ông Nguyễn Xiển đăng dùm. Rồi năm 86 có hội Khoẻ Phù Đổng của đoàn Thanh Niên, ông Bí thư T.N. nhờ tôi viết bài “Phù Đổng khoẻ”. Mùa hè nóng bỏng 86, trước Đại hội VI 5 tháng, ông Bí thư Trung ương Đảng phụ trách tư tưởng H.T. đem hai bài của tôi ra “chửi bới” giữa Hội nghị mở rộng Ban Chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam, đề bạt Nguyễn Khắc Viện, Trần Quốc Vượng, Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng là 4 trí thức chống đối. Ông Giàu, thầy học cũ của tôi, đâm thư kiện. Ông H.T. biên thư trả lời (tôi còn giữ làm “chứng từ thanh toán”) bảo: Tôi không động đến anh, tôi chỉ động đến Trần Quốc Vượng, vì anh ta viết “Các vua Trần nhường ngôi” ám chỉ đòi chúng tôi rút lui, và viết “Thánh Gióng bay lên trời” ám thị chúng tôi đánh giặc xong còn cứ ngồi lại giành quyền vị…! Khốn khổ, vì sao các ông ấy cứ “mỗi lời là một vận vào khó nghe” như vậy? Hay là tại dân gian “nói cạnh” các cụ: Có tật giật mình?

Xã hội Việt Nam truyền thống cũ có nhiều nét hay, vẻ đẹp nên ở cạnh nước lớn, bị xâm lăng, đô hộ, đè nén hàng ngàn năm vẫn trỗi dậy phục hưng dân tộc, “trở thành chính mình”. Nhưng xã hội quân chủ – nông dân – nho giáo từ sau thế kỷ XV có nhiều “khuyết tật trong cấu trúc” – nói theo các nhà khoa học hôm nay:

Ở trong NHÀ thì có thỏi GIA TRƯỞNG, tuy tâm niệm “con hơn cha là nhà có phúc” mà vẫn không thích “ngựa non háu đá”, “trứng khôn hơn vịt”.

Ở trong LÀNG thì có nạn CƯỜNG HÀO, với tinh thần ngôi thứ, chiếu trên, chiếu dưới, “miếng giữa làng hơn sàng xó bếp”.

Ở trong VÙNG thì có nạn SỨ QUÂN, thủ lĩnh vùng thích “nghênh ngang một cõi”, gặp dịp là sẵn sàng “rạch đôi sơn hà”.

Ở cả NƯỚC thì có nạn QUAN LIÊU, quan tham nhũng, tân quan tân chính sách, luật không bằng lệ, kiện thì cứ kiện nhưng “chờ được vạ má đã sưng”, nên chỉ cứng đầu thì dại, “không ngoan” nhất là “luồn cúi” và trí thức “lớn” thì cũng tự an ủi “gặp thời thế thế thời phải thế”. Vì ngoài thì “bế môn toả cảng”, trong thì “chuyên quyền độc đoán”, cho nên sĩ khí ắt phải bạc nhược.

Thế giới giờ đây thay đổi đã nhiều. Song trong nước mình thì chưa đổi được bao nhiêu. “Nỗi ám ảnh của Quá khứ” vẫn còn đè nặng.

Chỉ còn một cách để “đổi đời” cho DÂN, cho NƯỚC: Đó là xây dựng một chế độ dân chủ, một nhà nước pháp quyền, một nền kinh tế công – nông – nghiệp với thị trường tự do, một tư tưởng cởi mở, rộng dung, khoáng đạt, tự do, một nền văn hoá đa dạng, giữ cho được bản sắc tốt đẹp của dân tộc nhưng biết hoà nhập với thế giới, với nhân gian…
Tóm một chữ thì không phải là chữ “ĐẤU” mà là chữ “HOÀ”: HOÀ BÌNH, HOÀ HỢP, HOÀ THUẬN, HOÀ GIẢI…

Chẳng những NHÂN HOÀ mà cả NHIÊN HOÀ (hoà hợp với thiên nhiên, tự nhiên)
“Hoà nhi bất đồng”… mong lắm thay!

Cornell 1-5-91

TranQuocVuong4

Trần Quốc Vượng (1934-2005)

(*) Trần Quốc Vượng
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Giáo sư Trần Quốc Vượng sinh ngày 12 tháng 12 năm 1934 mất ngày 8 tháng 8 năm 2005,  là một giáo sư, nhà sử học, nhà khảo cổ học Việt Nam.

Tiểu sử

Ông sinh tại Hải Dương, nhưng quê quán ở Lê Xá, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Sau khi tốt nghiệp thủ khoa cùng với Phan Huy Lê, Đinh Xuân Lâm năm 1956 ông được giữ lại làm cán bộ giảng dạy tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội).

  • 1956-1980 ông là Cán bộ giảng dạy Cổ sử Việt Nam, Khoa Sử, Đại học Tổng hợp
  • 1959 ông là Trưởng nhóm/ Trưởng môn Khảo cổ học, Khoa Sử, Đại học Tổng hợp
  • 1980-1993 ông là Giáo sư, Chủ nhiệm Bộ môn Khảo cổ học, Khoa Sử, Đại học Tổng hợp
  • 1989-2005 ông trở thành Nhà giáo Ưu tú, Giám đốc Trung tâm Liên Văn hoá – Lịch sử Khoa Sử, Đại học Tổng hợp
  • 1993-1996 Trưởng môn Văn hoá học, Đại học Đại cương, Đại học Quốc gia Hà Nội
  • 1993-1996 Trưởng ngành Du lịch học, Đại học Tổng hợp
  • 1996-2005 Chủ tịch Hội đồng Khoa học và đào tạo, Khoa Du lịch, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội; Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Văn hoá Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Ngày 22 tháng 9, 2003 ông lập gia đình lần thứ hai với người vợ trẻ kém ông gần 30 tuổi (sinh năm 1963). Người vợ trước của ông đã mất trước đó khá lâu.

Tứ trụ sử học Việt Nam đương đại

Ông được xem là một trong “tứ trụ” “Lâm, Lê, Tấn, Vượng“(tức gồm các Giáo sư Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn và Trần Quốc Vượng) của sử học Việt Nam đương đại. Theo lời giải thích của chính ông[1], đó là chuyện huyền thoại có lẽ hình thành vào cuối thập kỷ 1960, khi cả bốn ông đều nổi tiếng học giỏi. Ra trường vào giữa thập kỷ 1950, ba ông “Lâm, Lê, Vượng” học cùng khoá, còn ông “Tấn” học sau (thủ khoa năm 1957). Sau đó, theo lệnh của khoa, ông và giáo sư Hà Văn Tấn góp sức xây dựng ngành Khảo cổ học của khoa Sử, vì sau năm 1954, khi Pháp rút khỏi Việt Nam thì ngành Khảo cổ Việt Nam hầu như chỉ còn là con số 0, không có một nhà khảo cổ học nào. Ông đã lên lớp đầu tiên về Khảo cổ học Việt Nam niên khoá 19591960, cùng với sự giúp đỡ tư liệu của giáo sư Hà Văn Tấn.

Tác phẩm

Ông đã viết nhiều bài nghiên cứu khoa học (trên 400 bài) đăng trên các tạp chí chuyên môn trong nước (Khảo cổ, Lịch sử, Văn học, Văn hoá Dân gian, Văn hoá Nghệ thuật…) và ngoài nước (Cornell University Press, North Ilinois, Yale University (Mỹ), Tokyo, Kyoto, Osaka University (Nhật), Seoul University (Hàn Quốc), Oxford University Press (Anh)…). Ngoài ra, ông đã viết và được in ấn nhiều sách (trên 40 cuốn) ở cả trong và ngoài nước, có thể kể đến như:

  • Việt Nam khảo cổ học (tiếng Nhật, Tokyo, 1993)
  • Trong cõi (California, 1993)
  • Theo dòng lịch sử (1995)
  • Some aspects of Vietnam culture (Mỹ, 1995)
  • Tìm hiểu văn hoá dân gian Hà Nội (1997)
  • Việt Nam, cái nhìn địa văn hoá (1998)
  • Vietnam folklore and history (Mỹ, North Ilinois, 1998)
  • Essay into the Vietnam past (New York, Mỹ, 1999)
  • Ngành nghề, tổ nghề, làng nghề Việt Nam (1999)
  • Làng nghề, phố nghề Thăng Long, Hà Nội (2000)
  • Văn hoá Việt Nam, tìm tòi và suy ngẫm (2000)
  • Trên mảnh đất nghìn năm văn vật (2001)
  • Tìm hiểu bản sắc văn hoá xứ Huế (2001)
  • Confusianism in East Asia (Seoul, Hàn Quốc, 2001)
  • Khoa Sử và tôi (2001)
  • Tìm hiểu bản sắc văn hoá xứ Quảng (2002)
  • Tìm hiểu bản sắc văn hoá dân gian Nam Bộ (2004)
  • Hà Nội như tôi hiểu (2005)
  • Con người – Môi trường – Văn hoá (2005)

    Các hoạt động khác

  • Tổng Thư ký Hội Văn nghệ Dân gian Hà Nội (từ 1976 đến 2005)
  • Phó Tổng Thư ký Hội Văn hoá Văn nghệ Dân gian Việt Nam (từ 1989 đến 2005)
  • Chủ tịch Hội Sử học Hà Nội (từ 1990 đến 1996)
  • Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Sử học Việt Nam (từ 1993 đến 2005)
  • Chủ tịch Câu lạc bộ Ngành nghề thủ công truyền thống
  • Chủ nhiệm câu lạc bộ Văn hoá Ẩm thực Việt Nam (từ 1995 đến 2005)
  • Cố vấn Bộ trưởng Bộ Văn hoá Thông tin về Chương trình thiết kế – tu bổ – tôn tạo các di tích lịch sử (từ 1995 đến 2005)
  • Tư vấn Uỷ ban nhân dân Hà Nội về các di tích lịch sử Hà Nội và Chương trình “Ngàn năm Thăng Long” (từ 1995 đến 2005)
  • Uỷ viên Hội đồng tư vấn của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam về Khu di tích Hoàng thành Thăng Long (2003-2004).

Khen thưởng

Ông đã được Chính phủ Việt Nam tặng Huân chương Lao động hạng Nhất (1997) và rất nhiều Huân Huy chương khác.

Ngày 20 tháng 1, 2012, ông được Chủ tịch nước ký quyết định trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt IV về Khoa học – công nghệ với cụm công trình Văn hóa Việt Nam: Truyền thống và Hiện đại gồm 3 tác phẩm: Văn hóa Việt Nam – Tìm tòi và Suy ngẫm, Việt Nam cái nhìn Địa – Văn hóa, Trên mảnh đất ngàn năm văn vật [2].

Chú thích

Liên kết ngoài

BaocaovevunoidayoThaiBinh1997

BÁO CÁO VỀ VỤ NỔI DẬY CỦA THÁI BÌNH 1997

Tương Lai

Tác giả bản báo cáo này lúc đó là viện trưởng Viện xã hội học Việt Nam, thành viên Tổ Nghiên cứu Đổi mới của Thủ tướng Chính phủ (Tổ này được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng giải tán vào mùa hè năm 2006).

Bản báo cáo này đã được tác giả công bố toàn văn trên mạng Bauxite Việt Nam ngày 30.1.2012.

Sự kiện đêm 26 rạng ngày 27/6/1997 ở xã An Ninh, huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình như một hồi chuông báo động khiến chúng ta cần tỉnh táo nhìn nhận lại về hậu phương vững chãi của chúng ta để có những suy nghĩ nghiêm túc về vấn đề nông thôn, nông nghiệp, nông dân trong sự nghiệp Ðổi mới và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, nông nghiệp.

An Ninh là lá cờ đầu của huyện Quỳnh Phụ, và cũng có thể nói là lá cờ đầu của Thái Bình, một điển hình tiên tiến đã từng là quê hương của phong trào 5 tấn trước đây và hiện nay luôn luôn là lá cờ đầu của nhiều phong trào quần chúng chiếm lĩnh đỉnh cao thành tích về kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, v.v. Gần đây Thái Bình càng nổi bật trong việc triển khai chương trình xây dựng kết cấu hạ tầng, đặc biệt với 4 công trình lớn : Ðiện, Ðường, Trường, Trạm [trạm y tế] cùng tiến hành đồng thời và thu được những thành tích lớn, tạo ra một diện mạo khang trang đẹp đẽ của một tỉnh lúa đồng bằng sông Hồng mà khách tham quan có thể ngồi trên ô tô đi khắp các xã trong tỉnh trên con đường quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ đã rải nhựa hoặc lát gạch phẳng lì !

Ấy thế rồi, đêm 26, rạng 27/6/97 hàng ngàn nông dân nổi dậy đập phá chậu cảnh tường hoa, bàn xa lông tiếp khách, bát đĩa dùng liên hoan và chiêu đãi, kính tủ bàn của trụ sở ủy ban xã, một tòa nhà uy nghi, lộng lẫy vừa xây tốn hơn 800 triệu đồng. Rồi sau đó, dân kéo đi đập phá 8 ngôi nhà của bí thư Ðảng ủy, Chủ tịch ủy ban, cán bộ địa chính và các bậc chức sắc khác nhau của xã (chỉ có một nhà của một người dân làm việc nấu nướng phục vụ hội nghị và khách của xã). Sau đêm hỗn loạn, giận dữ, đốt phá, sáng mai hoạt động của xã lại bình thường, người ta lại vẫn ra đồng họp chợ, đi lại chuyện trò vô tư !

Ba ngày sau sự kiện nói trên, theo yêu cầu của Tổ Nghiên cứu Ðổi mới của Thủ tướng Chính phủ thực hiện chỉ thị của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, đoàn cán bộ xã hội học chúng tôi về xã An Ninh, được Bí thư Ðảng ủy tiếp tại trụ sở mà kính vỡ, mảnh bát đĩa vỡ, chậu cảnh vỡ vẫn ngổn ngang, kể cả một tượng Bác Hồ bằng thạch cao trắng bị vỡ vẫn nằm ở góc bàn trong hội trường và theo lời của Bí thư Ðảng ủy xã thì “Hiện trường vẫn được giữ nguyên” như để nói lên tính phản loạn không thể dung tha được và cần phải trấn áp ngay của vụ bạo động 26-27/6/97.

Vấn đề gì đã diễn ra ở đây ? Nguyên nhân vì đâu ? Hậu quả ra sao ? Diễn biến sắp tới sẽ thế nào ? Cần có kiến nghị gì đây từ sự tiếp cận xã hội học ? Ðó là vấn đề đặt ra cho chúng ta, ba nhóm nghiên cứu gồm 10 người.

Một nhóm về ở ngay trong lòng điểm nóng : xã An Ninh gồm 4 người (1 Phó Giáo sư, Phó Tiến sĩ, Trưởng phòng Xã hội học nông thôn, 1 Bí thư chi bộ và là Trợ lý của Viện trưởng, 1 Phó Tiến sĩ Trưởng phòng Tổ chức và Đào tạo cán bộ, đảng viên, 1 nữ cán bộ nghiên cứu của Phòng Xã hội học nông thôn, đảng viên).

Một nhóm gồm ba cán bộ, do một Phó Giáo sư, Phó Tiến sĩ và là Phó Viện trưởng phụ trách khoa học dẫn đầu, một cán bộ nghiên cứu, Phó Phòng Xã hội học nông thôn, một cán bộ trẻ (cả hai đều là người quê ở Thái Bình, đang có họ hàng ở Thái Bình) đi theo tuyến rộng, dọc theo đường Hà Nam, Nam Ðịnh, qua Tiền Hải, vòng về thị xã, qua Ðông Hưng, Thái Thụy, Quỳnh Phụ, Kiến Xương để tìm hiểu âm vang và độ nhiễm cảm của các sự kiện bạo động trong tỉnh.

Một nhóm xuất phát sau một tuần, đến huyện Thái Thụy nơi có điểm nóng Thái Thịnh để đo sự diễn biến sau sự kiện An Ninh và dư luận quần chúng về các giải pháp của chính quyền Tỉnh đã áp dụng. Nhóm này gồm một Phó Giáo sư, ba Phó Tiến sĩ đều là đảng viên, trong đó có một chuyên gia đã từng có công trình nghiên cứu sâu về nông thôn và về Thái Bình, đang làm luận án Tiến sĩ sẽ bảo vệ tại Pháp về đề tài nông thôn Việt Nam.

Ðồng thời với các nhóm đi khảo sát tại Thái Bình, Viện trưởng Viện Xã hội học đã giao nhiệm vụ cho một Phó Tiến sĩ Phó Trưởng Phòng Xã hội học dân số và Gia đình đang cùng với các cán bộ triển khai một đề tài nghiên cứu về hộ kinh tế gia đình và địa vị của người phụ nữ kết hợp khảo sát thêm về chủ đề như nhóm nghiên cứu sâu ở Thái Bình đang làm, hiện triển khai tại Hải Hậu, Nam Ðịnh. Cũng như thế, sau khi kết thúc nghiên cứu ở Thái Bình một tuần, Viện trưởng Viện Xã hội học đã trao nhiệm vụ cho một đoàn nghiên cứu tại 10 xã trong 3 tỉnh (Hà Nam, Nam Ðịnh, Ninh Bình) về đề tài biến động dân số thu thập thêm tư liệu về chủ đề như đã nghiên cứu ở Thái Bình, người phụ trách này là một nghiên cứu sinh đang làm luận án Tiến sĩ ở Mỹ về dân số, là đảng viên, kết hợp với đồng chí Bí thư chi bộ đã từng nghiên cứu ở Quỳnh Phụ, Thái Bình cùng tiến hành, và cũng chỉ hai đảng viên này thu thập số liệu để báo cáo trực tiếp cho Viện trưởng. Công việc đang được triển khai và sẽ bổ sung vào báo cáo tổng kết này.

Bản báo cáo tổng kết này là dựa trên các tư liệu thu thập được qua phỏng vấn sâu, quan sát trực tiếp, các văn bản của tỉnh, huyện, xã (băng ghi âm ghi lời người được hỏi và tập hồ sơ ghi lại nội dung đã thu vào băng) cùng với 8 báo cáo của các cán bộ đi khảo sát và sơ kết của nhóm khảo sát. Vì đây chỉ là thông tin được thu thập qua phỏng vấn, chuyện trò và lời người kể có thể là người trong cuộc, người chứng kiến, người nghe kể lại không khỏi bị khúc xạ theo lăng kính chủ quan, cho nên các số liệu (cho dù ghi thành con số) cũng chỉ có ý nghĩa phỏng chừng, tương đối khác với thống kê và báo cáo chính thức của người có trách nhiệm ở địa phương. Người viết báo cáo, trong trường hợp có dẫn ra các số liệu cũng là để gợi lên tình huống, không mang tính biểu đạt thật chính xác.

I. Tổng quan về các sự kiện dẫn đến sự bùng nổ ở Thái Bình

Những ngày cuối cùng của tháng 6 năm 1997 đã cho thấy tính nghiêm trọng của một loạt những sự biến đã xảy ra ở một phần lớn các vùng nông thôn tỉnh Thái Bình. Ðã có tới 5 (Quỳnh Phụ, Hưng Hà, Tiền Hải, Ðông Hưng, Thái Thụy) trên 7 huyện và thị của tỉnh có phản ứng và khiếu kiện của nông dân về những vấn đề dân chủ và công bằng xã hội trong nông thôn. Nội dung chủ yếu của những khiếu kiện này tập trung xung quanh việc đòi thanh tra và công khai hóa việc phân chia ruộng và nhất là việc thu và chi những khoản đóng góp mà chính quyền địa phương (xã và huyện) thu của nông dân trong những năm qua để xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong nông thôn, chủ yếu là các công trình : Ðiện – Ðường – Trường – Trạm.

Xây dựng kết cấu hạ tầng, trong đó đặc biệt là các công trình Ðiện – Ðường -Trường – Trạm là một chủ trương đúng đắn của tỉnh, rất hợp với nguyện vọng của dân. Người dân Thái Bình nói chung rất tự hào về hệ thống đường giao thông liên tỉnh, liên huyện và liên xã của họ.

Ðiều đáng nói ở đây là các công trình này đã được thực hiện trong 5 năm qua với một tốc độ và nhịp điệu quá nhanh. Do đó các khoản thu từ nhân dân cũng tăng nhanh chưa từng thấy. Năm 1991, tỉnh chủ trương chỉ đảm bảo cho 65 % các hộ trong tỉnh có điện dùng vào năm 1995. Nhưng cuối năm 1992 đã có 70 % số hộ (báo cáo của Ủy ban Nhân dân tỉnh, tháng 10 năm 1992) và năm 1996, 100 % số hộ trong tỉnh đã có điện dùng, toàn bộ đường tỉnh đã được nhựa hoặc xi măng hóa hết và 2/3 số trường học trong tỉnh đã là nhà cao tầng. Nguồn vốn để chi cho các công trình này chủ yếu lấy từ các nguồn trong tỉnh.

Trong ba năm 1988-1990, tổng số vốn đầu tư cho cơ sở vật chất kỹ thuật là 39,5 tỉ đồng, trong đó 9,5 tỉ là do Trung ương cấp, 30 tỉ là từ huy động ngân sách trong tỉnh. Nhưng phần vốn huy động từ sự đóng góp của nhân dân và tập thể cũng rất lớn. Ngoài ra, các quỹ giao thông xóm xã cũng ra sức phát triển. Có nơi còn chủ trương “cứng hóa kênh mương” để tăng nhanh các nguồn thu từ nhân dân (Thái Thụy). Phải chăng các khoản thu này là quá lớn so với khả năng đóng góp của người nông dân Thái Bình vốn chỉ có nguồn thu từ hạt thóc là chủ yếu ?

Cơ cấu thu nhập của tỉnh vào năm 1991 cho thấy 81 % là thu từ nông nghiệp. Các khoản thu này lên tới chừng trên dưới 35 khoản, thay vì 14 khoản theo quy định của huyện và 7 khoản theo quy định của tỉnh. Ðiều cần lưu ý là các khoản thu và chi này đã không được sử dụng một cách công khai và dân chủ. Các khoản thanh toán được công bố lại cho thấy có dấu hiệu của sự lạm dụng công quỹ, bởi nó vượt quá xa các định mức chi phí trên thị trường (giá của các công trình xây dựng thường cao gấp nhiều lần giá trị thực tế của chúng). Một chiếc cống thoát nước do chính quyền xã xây đã quyết toán tới 21 triệu đồng, nhưng khi dân đập đi xây lại thì chỉ mất 7,5 triệu đồng (xã Quỳnh Hồng). Trong khi đó, một số cán bộ chủ chốt ở một số địa phương lại có biểu hiện giàu lên nhanh quá mức bình thường trong năm năm qua, cùng với sự giàu lên trông thấy qua nhà cửa, các phương tiện sử dụng trong sinh hoạt là những nét xa hoa kệch cỡm về lối sống của một số người dễ dàng gây phản ứng trong quần chúng.

Nhân dân một số địa phương đã có đơn khiếu kiện lên xã, huyện, thậm chí cả tỉnh với các hình thức hợp pháp, từ đưa đơn có nhiều chữ ký cho một người đi gặp các cấp lãnh đạo có thẩm quyền (Tiền Hải, xã Ðông Trà), tới việc tập trung vài chục hay vài trăm người trước cổng Ủy ban tỉnh từ cuối năm 1996 (Quỳnh Hội : tháng 10/1996, 700 người lên tỉnh 2 đêm 1 ngày để trình đơn khiếu kiện, sau đó là đợt 2, với 1.500 người, đòi thanh tra lại đất 5 % vào tháng 4/1997). Người ta ước tính có chừng 120/260 xã trong tỉnh có biểu tình đưa đơn và từ chỗ đi lẻ tẻ, dần dần hình thành tổ chức quy mô hơn, người ta cho rằng có chừng 40 cuộc biểu tình lên tỉnh được tổ chức có quy củ và trật tự.

Những cuộc khiếu kiện này thường được tiếp đón một cách không nhiệt tình. Cách trả lời thường là sự im lặng kéo dài, hoặc lờ đi, hoặc cho thanh tra công khai nhưng kết luận không có gì. Những vấn đề này, thực ra, đã nảy sinh từ những năm 86-90 song cách giải thích chính thức của các cấp chính quyền từ xã, đến huyện, đến tỉnh về những sự kiện trên thường cho đó là “những biểu hiện tiêu cực nảy sinh do một số cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, lợi dụng chức quyền tham nhũng, đè nén dân, làm mất uy tín của Ðảng và Nhà nước. Mặt khác cũng là do một số người lợi dụng việc mở rộng dân chủ trong quá trình đổi mới và những khó khăn đang gặp phải đã có hành động cực đoan quá khích, thậm chí tiếp tay cho địch, gây rối nội bộ, nói xấu Ðảng và Nhà nước”. Những cách giải thích này không thuyết phục được quần chúng, nhất là vì nó chưa đưa ra được những giải pháp có hiệu quả thiết thực.

Từ tháng 5 năm 1997, những sự biến xảy ra dồn dập hơn, mãnh liệt hơn, và có chiều hướng sử dụng bạo lực từ cả hai phía, để răn đe hoặc để giải quyết những vấn đề đang tồn tại.

Sự xuất hiện của cảnh sát cơ động dường như đã đặt các cuộc biểu tình hợp thức vào tình thế bế tắc. Xu hướng bạo lực ngày càng có khả năng trở thành hiện thực. Sự kiềm chế và tính tổ chức ở những người biểu tình càng giảm sút thì các sự biến xã hội càng khó kiểm soát. Người ta chứng kiến một cuộc khủng hoảng chính trị xã hội thực sự trong nhiều xã và huyện của nông thôn Thái Bình.

Ngày 11 tháng 5 năm 1997, theo lời ước đoán thì có khoảng 2000 nông dân Quỳnh Phụ thuộc trên dưới 36 trong 38 xã của huyện đã tham gia vào cuộc biểu tình từ xã lên tỉnh bằng xe đạp và sau đó ở lại tỉnh 2 ngày 1 đêm, gây ảnh hưởng lớn trong toàn tỉnh. Cũng theo lời kể lại thì trong khi cuộc biểu tình này đang cố gắng thể hiện thái độ nghiêm túc và thận trọng trong việc bày tỏ nguyện vọng của đông đảo nhân dân trong huyện, thì ở trước trụ sở Ủy ban Nhân dân huyện Quỳnh Phụ, cuộc tập trung của nhân dân nhiều xã trong huyện, cứ đông dần lên vì người các nơi ùn ùn kéo đến, có người ước lượng là có đến 1 vạn (?) người. Khi đám đông đã đến quy mô như vậy, chỉ cần một hành động quá khích là có thể dẫn đến những bùng nổ không sao kiềm chế được.

Theo lời người kể lại, thì do cách xử sự thiếu khôn ngoan và không thỏa đáng của một số người đại diện cho quyền lực nhà nước, dân phẫn nộ đã dùng bạo lực, phá trụ sở công an huyện, tấn công bằng gạch đá vào lực lượng an ninh có trang bị xe phun nước và chó béc-giê. Trước 500 công an, với 3 xe vòi rồng, dùi cui lá chắn, dân bảo nhau chuẩn bị nếu bị phun nước thì cả đàn ông, đàn bà sẽ cởi hết quần áo ra tắm. Công an ném 10 quả lựu đạn cay, dân phá hỏng một xe vòi rồng trong tiếng kêu “thế này thì dân chết mất”, lại có tiếng “thà chết còn hơn sống khổ”. Công an được lệnh không đánh lại dân. Nhưng khi trời tối, dân phát hiện có công an mặc thường phục trà trộn vào đám đông quần chúng. Thế là diễn ra cảnh bi hài, dân hô : “cứ xem thằng nào đi giày da, sờ vào bụng thằng nào to tức là không phải dân, nhằm vào nó mà nện”. Công an bị thương 9, 10 người, dân bị thương vài chục. Công an bị thương được đưa vào bệnh viện, nhưng dân bị thương thì không vào vì sợ bị phát hiện nên khiêng về làng tất.

Dẫn đến cuộc bạo động này là chuyện dân bao vây Viện Kiểm sát huyện Quỳnh Phụ đòi thả hai người đánh kẻng tập hợp dân, đã bị bắt. Cuộc xô xát này, cho dù không để xảy ra tử vong song đã là bước ngoặt dẫn đến những sự biến sau này ngày càng bạo liệt hơn, bạo lực nhiều hơn và ngày càng mang tính trả thù hơn là đấu tranh hợp pháp.

Ðiều đáng lo ngại nữa là các huyện khác trong tỉnh đều coi cuộc đấu tranh này của người dân Quỳnh Phụ đã trở thành mô hình cho cách đặt vấn đề và phương thức đấu tranh của họ. Một mặt, những người khởi xướng cuộc khiếu kiện, rồi biểu tình bày tỏ sự nhiệt thành với cuộc đấu tranh chống tham nhũng, giữ gìn sự trong sáng của Ðảng, bảo vệ sức mạnh của chính quyền dân chủ nhân dân do Ðảng và nhà nước phát động. Mặt khác họ kêu gọi tinh thần cố kết cộng đồng làng xã vốn tiềm tàng trong đầu óc của mỗi người dân để buộc mọi người phải tham gia vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng theo cách nghĩ và cách làm của họ. Chẳng hạn như : ai không đi biểu tình, khiếu kiện thì tùy, nhưng nhà có người chết đừng có gọi dân khiêng, có cháy nhà đừng gọi người dập lửa. Phương thức đấu tranh ấy, chính là sự quay trở về với “lệ làng”, mà buộc “phép vua” trước đây đã phải thua. Một khi mà kỷ cương, phép nước do những cán bộ xã, huyện và cả tỉnh đại diện đã không yên được lòng dân, thì tính tự phát của lệ làng, của đám đông có tổ chức hay không có tổ chức, dẫn đến sự manh động, là điều không thể tránh khỏi.

Bước chuyển từ “đối thoại” sang “đối đầu” đã thực sự chia rẽ một bộ phận lớn nhân dân với chính quyền địa phương và lực lượng bảo vệ trật tự là công an. Xu hướng manh động của những người nông dân mất bình tĩnh với sự tham gia của những trẻ em vị thành niên và những người kém kinh nghiệm xã hội đã được thổi bùng lên bởi các phần tử cực đoan quá khích và những thành phần bất hảo trong xã hội, điều ấy cũng không có gì lạ.

Ví dụ như, người ta kể lại rằng, ngày 8 tháng 6 năm 1997, chừng 300 thanh niên tuổi từ 13 đến 17 đã trói Chủ tịch và Bí thư xã Quỳnh Hoa, dong lên huyện dưới trời mưa mà không cho đội mũ. Họ phá cổng Ủy ban huyện làm Chủ tịch huyện phải bỏ chạy. Họ la hét và hạ nhục bằng những câu hỏi khiêu khích : vì sao mà “giàu lên nhanh thế”, vì sao mà “chóng béo” đến thế.

Khoảng 10 ngày sau là sự kiện lên đến cao trào bằng việc đốt phá đêm 26 rạng 27/6/97 tại xã An Ninh, huyện Quỳnh Phụ. Rồi sau Quỳnh Phụ, một loạt các huyện khác đã nổ ra đấu tranh dưới nhiều hình thức kể cả biểu tình, khiếu kiện như ở Ðông Hưng (xã Ðông Cường) lẫn tấn công bằng bạo lực vào các cán bộ xã bị coi là phần tử tham nhũng. Người ta cho rằng tại ba xã Thái Thịnh, Thái Tân và Mĩ Lộc của huyện Thái Thụy là đỉnh cao của những cuộc tấn công bằng bạo lực. Phần đông các cán bộ xã bị tấn công đã phải trốn chạy. Những người còn lại đã phải dùng hình thức tự vệ bằng vũ khí và sự hỗ trợ của họ hàng, người cùng xóm gắn bó với họ.

Sau những bùng nổ đó, huyện, tỉnh (và có thể cả Trung ương) đã có những giải pháp, thêm vào đó, khung cảnh khủng bố và sự phá phách của những phần tử quá khích cũng đã làm cho nhiều người phải suy nghĩ lại về mục tiêu và phương thức của những cuộc đấu tranh đang diễn ra. Sự trấn áp những phần tử quá khích và những lời hối lỗi của họ trên màn ảnh truyền hình địa phương được đưa liên tục có thể cũng đã răn đe những hành vi bạo lực, manh động. Trong nhân dân cũng đã có người nhận ra hành động “luồn gió bẻ măng”, có thể thấy rằng đám đông đã bị lợi dụng bởi những kẻ cực đoan, những kẻ muốn đục nước béo cò, trả thù cá nhân, thậm chí những hành vi lưu manh, cướp bóc. Tình hình tạm lắng xuống, song những nguyên nhân đẩy tới sự khủng hoảng và bùng nổ vừa qua vẫn còn nguyên, nếu chưa nói là đây đó, nơi này nơi khác được nung nấu thêm ! Màn kịch bạo lực dường như đã đi quá những giới hạn có thể chấp nhận cả từ phía chính quyền lẫn từ phía nông dân, hậu quả xã hội thật nặng nề.

Ðể tỉnh táo giải quyết hậu quả nặng nề này đòi hỏi một sự dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, mổ xẻ phân tích để dám cắt bỏ ung nhọt, thuốc thang bổ dưỡng cho cơ thể xã hội lành mạnh với một đường lối đúng, giải pháp đúng.

Câu hỏi đặt ra là, bằng cách nào đây để giải quyết những mâu thuẫn đã tích lũy nhiều năm ở nông thôn mà không phải sử dụng đến bạo lực ? Ðể trả lời câu hỏi này, việc đánh giá lại những sự biến vừa xảy ra một cách khách quan, tỉnh táo và thực sự cầu thị là tiền đồ quan trọng nhất.

Phải chăng là, không thể quy mọi nguyên nhân của các sự biến trên cho những kẻ quá khích, cực đoan hay những tên lưu manh chỉ thèm trả thù, cướp bóc và đập phá. Bởi lẽ nếu đúng là bọn này thì chúng không có uy tín, không có lẽ phải, không có khả năng tập hợp nông dân trong những cuộc biểu tình hợp pháp, nghiêm túc và đầy ý thức chính trị như vừa qua. Nếu đúng như câu chuyện được kể lại thì với một tập hợp trên dưới hai ngàn người, từ hơn 30 xã trong huyện, tập hợp ở một địa điểm và thời điểm bí mật đã được định trước chắc chắn là một hoạt động có tổ chức chặt chẽ và có sự chỉ huy thống nhất.

Người ta kể lại rằng họ diễu hành hàng đôi bằng xe đạp lên tỉnh để tránh những trục trặc và ách tắc giao thông do họ gây ra hoặc do hoàn cảnh đưa lại. Cứ khoảng từ 30 đến 50 người lại có một người chữa xe đạp để tránh những trục trặc kỹ thuật. Ðến trụ sở Ủy ban tỉnh, họ ngồi thành hàng trên vỉa hè, tuyệt đối không bẻ cây, vứt rác, làm mất trật tự, trị an nơi họ có mặt. Họ kiên nhẫn chịu đựng sự căng thẳng, mệt mỏi trong 2 ngày 1 đêm chỉ để đưa được lá đơn khiếu nại tới tay ông Chủ tịch tỉnh. Ðã có biết bao giai thoại về cuộc biểu tình này chỉ để tỏ lòng khâm phục trình độ tổ chức của người lãnh đạo và ý thức tổ chức của những người tham gia. Ở những cuộc biểu tình này tuyệt nhiên không có xung đột, đụng độ nào cho dù có sự hiện diện của cảnh sát dã chiến (chỉ có xung đột ở huyện, xã).

Người ta cho rằng ở các cuộc biểu tình này có sự tập hợp đông đảo các tầng lớp nông dân ở nhiều vùng nông thôn trong tỉnh, từ người già, trẻ em, phụ nữ, tới những cựu chiến binh, đảng viên, cán bộ về hưu vốn đã từng lăn lộn, chiến đấu và hy sinh xương máu của mình qua hai cuộc kháng chiến. Nếu thế thì phải chăng, tính quần chúng rộng rãi của cuộc đấu tranh này cho phép nhìn nhận rằng đây là một phong trào xã hội, chứ không phải là những mâu thuẫn cục bộ, càng không là sự phản loạn chống lại chế độ.

Sự tham gia của đông đảo các đảng viên, các cựu chiến binh, những người về hưu, một lực lượng xã hội có trình độ nhận thức chính trị và xã hội tương đối cao trong nông thôn càng giải thích rõ tính chất và quy mô của cuộc đấu tranh của nông dân trong sự biến vừa qua và có lẽ chưa tắt hẳn.

Trong cuộc đấu tranh chống tiêu cực mà điển hình là cuộc đấu tranh chống tham nhũng và sự mất công bằng, mất dân chủ trong nông thôn, lực lượng này có vai trò rất quan trọng. Bởi vì, họ không chỉ là nạn nhân trực tiếp của những tệ nạn cường hào, tham nhũng mà còn là những người có khả năng nhận biết. Chính vì thế, họ dễ trở thành những người khởi xướng và lãnh đạo cuộc đấu tranh mà chúng tôi đã nói ở trên.

Qua tìm hiểu các cán bộ xã, thấy rõ một điều là họ biết rất rõ những ai đứng đằng sau các cuộc tấn công vào bộ máy cán bộ lãnh đạo đương quyền. Nhóm chủ yếu phát động là những cán bộ trước cũng làm cán bộ nhưng nay không còn đương chức nữa. Thuộc về nhóm chủ yếu này ở một số nơi có cán bộ hưu trí, những người tương đối có trình độ cả về học vấn, tổ chức, còn sức lực nhưng thiếu việc làm. Cũng không nên quên rằng, Thái Bình, với đặc điểm đất chật, người đông, có một số lượng rất lớn người đi thoát ly làm cán bộ và nay về hưu. Ðược đảm bảo tương đối về đời sống, và cũng có hiểu biết, có nhiều thời gian những người thuộc nhóm này thường hay đề xuất ý kiến trong đời sống nông thôn.

Cũng chính vì vậy, cách đưa tin của Đài Truyền hình Thái Bình làm cho người ta nghĩ rằng bọn “côn đồ” xúi giục, nay bọn chúng đã bị bắt và ăn năn hối lỗi và nhận tội thì những người nhẹ dạ cả tin và manh động theo đuôi bọn quá khích đã nhận ra sai lầm. Cách đưa tin đó hình như không đạt được mục đích, mà ngược lại, trong khía cạnh nào đó lại như tích tụ thêm sự phẫn nộ.

Sau 10 năm tiến hành công cuộc Ðổi mới, rõ ràng là đời sống vật chất của mọi tầng lớp nông dân đã được nâng lên, nông thôn đã từng bước chuyển mình. Thái Bình lại càng nổi trội lên với bao lá cờ đầu, bao nhiêu vẻ khang trang, nề nếp. Vậy cái gì đã lôi kéo nông dân vào một cuộc đấu tranh dữ dội và rộng khắp như vậy ? Theo chúng tôi có lẽ không chỉ đơn thuần là lý do kinh tế. Những khiếu kiện kinh tế chỉ là điểm xuất phát khi một số cán bộ xã bị nghi ngờ có hành vi tham nhũng lại tự cho mình cái quyền tự phán xét, tự hợp thức hóa những quyết định đáng nghi ngờ của họ. Những người này tự cho họ là đại diện cho Ðảng bởi họ chính là bí thư hay các đảng ủy viên quan trọng của đảng bộ, tự cho là đại diện cho Chính quyền nhân dân, khi họ là chủ tịch hay các phó chủ tịch, trưởng thôn, tự xem là đại diện cho pháp luật khi họ là chủ tịch hay các thành viên của Hội đồng nhân dân xã. Những người này triệt để sử dụng các thiết chế hiện hành đang bị quan liêu hóa để hợp thức hóa những quyết định của họ thay vì trực tiếp tham khảo, lắng nghe ý kiến của nhân dân, dần dần một bộ phận những người có quyền lực này xa lạ và đối lập với dân.

Một khi mà sự việc đã diễn ra đến tình huống như vậy thì ở những nơi này, nội bộ Ðảng bị chia rẽ vì phe cánh và quyền lợi, mất dần sức sống, không còn uy tín. Chính quyền rơi vào nguy cơ mất mối liên hệ với các tổ chức quần chúng. Giữa dân với Ðảng và Chính quyền mất dần kênh liên lạc vốn có. Người ta phải sử dụng đến các hình thức khiếu kiện vượt cấp để tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề của họ. Khi mọi hình thức đó không đi đến kết quả thì xung đột nổ ra dưới mọi hình thức. Các phần tử cực đoan quá khích có cơ hội để đưa cuộc đấu tranh nhanh chóng đi đến bế tắc bằng các hình thức bạo lực và sự trả thù.

Hãy dừng lại ở sự kiện xã An Ninh, huyện Quỳnh Phụ, đi vào diễn biến dẫn đến sự bùng nổ để qua đó, chứng minh cho những phân tích nói trên.

Sự việc bắt đầu bằng những đụng độ căng thẳng xung quanh yêu cầu của Thanh tra Nhân dân xóm 10, thôn Kiến Quan, đòi ông Khương, nguyên Xóm trưởng giao nộp hồ sơ sổ sách để kiểm tra mà chưa được đáp ứng. Ngày 24/6/97, trước sức ép của nhiều người, ông Lương Văn Quang, thành viên Tổ Thanh tra Nhân dân xóm đã đánh kẻng họp dân toàn xóm mà chưa có sự đồng ý của người có trách nhiệm. Ðiều này đã dẫn đến tranh chấp, đôi co trong việc lập biên bản và giữ ông Quang tại trụ sở Ủy ban vào ngày 26/6/97. Việc này do Chủ tịch Nguyễn Mạnh Hàm và Bí thư Ðảng ủy Vũ Xuân Chiếm chủ trương.

Bị kích động bởi một lời thách đố của Chủ tịch xã khi nóng giận, dân xóm 10, và sau đó kèm theo là hàng nghìn người từ các thôn xóm khác trong và ngoài xã đã tràn đến bao vây trụ sở xã vào cuối ngày hôm đó. Những hành động quá khích vượt quá giới hạn của cuộc đấu lý đã dẫn đến bạo lực. Ðám đông hàng trăm người trong đó có những người bịt mặt với sự reo hò, cổ xúy của hàng nghìn người vây Ủy ban (cỡ chừng vài ba nghìn người, có người cho rằng có tới 6 nghìn người) đã tràn vào trụ sở Ủy ban Nhân dân xã, đập phá bàn ghế, tủ công tác, bàn hội nghị, phòng ốc, chậu hoa, cây cảnh, bát đĩa, v.v. và săn đuổi cán bộ xã đang có mặt tại trụ sở. (Khi thấy sự việc có chiều hướng nguy hiểm, hệ thống đèn chiếu sáng đã phải vụt tắt, tất cả các cán bộ xã đều đã phải trốn chạy tháo thân).

Thế rồi từ 7h tối ngày hôm đó cho tới rạng sáng ngày hôm sau (chừng 3h30′) là một cuộc bạo động của đám đông hàng nghìn người rầm rập trên đường lần lượt đi phá, đốt nhà cửa, lấy tài sản của các cán bộ chủ chốt trong xã.

Trình tự của cuộc đập phá : Thoạt đầu là Ủy ban xã, ngay sau đó là nhà chị Ly, liền kề Ủy ban (đây là gia đình thường thổi nấu cơm khách, phục vụ ăn uống cho Ủy ban xã). Người ta nói rằng việc đập phá nhà chị Ly là để cho bõ tức vì không tìm thấy ông Chủ tịch Hàm tại đó. Tại nhà này, đám đông đã đốt xe máy phân khối lớn của một cán bộ công an tỉnh biệt phái theo dõi cơ sở. Từ nhà chị Ly, đám đông ầm ầm đi tới xóm 11 dập phá nhà Chủ tịch Hàm. Sau đó, chuyển xuống xóm 6, phá nhà ông Trung, cán bộ quản lý địa chính xã, sang xóm 8, đập phá tài sản nhà ông Lự, Chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp, đại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh Thái Bình. Tại đây, đã diễn ra cuộc đụng độ quyết liệt giữa thân nhân của chủ nhà với người đi đập phá, cả hai phía đều có người bị thương, đám đông đã bắt đầu nổi lửa đốt từ nhà này trở đi. Tiếp đó đám đông vượt đồng sang xóm 9, xóm 10 để đập phá và đốt nhà ông Hoa, Phó Chủ tịch phụ trách nội chính xã, quay trở về gần nhà Chủ tịch Hàm để đốt phá nhà ông Ðăng, Chỉ huy trưởng quân sự xã, sau đó tới các xóm khác đốt phá nhà ông Trừ (nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân khóa trước, nay là Trưởng ban Tài chính xã) rồi tới đốt phá nhà ông Hứa, Phó Chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp. Ðiểm đốt phá cuối cùng là nhà Bí thư Ðảng ủy Vũ Xuân Chiếm, huyện ủy viên huyện Quỳnh Phụ… Tại đây, đám đông giải tán vào lúc khoảng 3h30′ sáng ngày 27/6/1997.

Từ những thông tin mà chúng tôi nắm được qua cuộc khảo sát nhanh được trình bày tóm tắt ở trên chúng tôi nghĩ có thể gợi lên một số nguyên nhân để giải thích các sự biến vừa rồi. Ðương nhiên ở đây cũng chỉ là sự suy nghĩ chủ quan của chúng tôi từ cách tiếp cận xã hội học. Ở những cách tiếp cận khác, có thể có sự nhìn nhận khác. Tuy vậy, chúng tôi cứ mạnh dạn nêu lên như sau :

II. Sức dân bị khai thác quá mức, bị sử dụng lãng phí và bị tham nhũng quá mức

5374201

Là một tỉnh nông nghiệp, mật độ dân số quá cao và có một thời tỉ lệ phát triển dân số quá lớn. Thái Bình cho đến nay vẫn chỉ trông chờ vào việc trồng lúa. 102.360 ha đất nông nghiệp của Thái Bình đã được thâm canh đến mức tối đa và nhìn chung năng suất cũng đã đạt đến mức tối đa : 10-15 tấn/ha/năm ; tức là khoảng từ 2 cho đến 2,5 tạ/sào/vụ. Bình quân đất canh tác mỗi khẩu dao động từ 1 tới 1,5 sào/người. Ước tính năm 1997 trung bình mỗi người dân Thái Bình xuất khẩu không quá 15 đô la, trong đó một phần không nhỏ trông chờ vào xuất khẩu lúa. Ðược mùa nên giá lúa đã rơi mạnh ; giá lúa trung bình tại các chợ là 1.200 đ/kg thóc và sau vụ Ðông xuân 1997 Thái Bình còn hàng chục vạn tấn chưa có thị trường tiêu thụ.

Nhìn từ góc độ hộ gia đình, tình hình lúa ít sáng sủa hơn. Theo nhiều người đánh giá, nếu cần mua 200 đ thuốc lào cũng phải bán lúa và 5 cân mới mua nổi 1 bao Vinataba (Thời báo Kinh tế, 16/7/1997). Những nguồn thu nhập khác ngoài lúa như chăn nuôi là thấp và ít ỏi. Chúng tôi dẫn ra đây trường hợp một nông dân đã từng tham gia biểu tình ở xã Tây Phong, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Gia đình anh ta 5 người với 7,5 sào ruộng có thể có thu nhập tối đa là :

7,5 sào x 4 tạ = 30 tạ = 3 tấn = 3.600.000đ

2 tạ lợn x 10.000đ/kg = 2.000.000đ

Các khoản khác : = 2.000.000đ

Tổng cộng : = 7.600.000đ

Trong lúc đó, các khoản chi phí chủ yếu là :

7,5 sào x 1 tạ = 7,5 tạ = 1.000.000đ

2 tạ lợn X 5.000đ/kg = 1.000.000đ Tổng cộng : = 2.000.000đ

Các khoản đóng góp cho chính quyền:

Vụ đông : 71,1 tạ = 850.000đ

Vụ mùa : 5,7 tạ = 680.000đ

Cộng : = 1.530.000đ

Tổng cộng: = 4.100.000đ Thu nhập bình quân 800.000 đ/người

Có lẽ đây là một trường hợp không mấy cá biệt, mà có thể xem như khá phổ biến đối với Thái Bình.

Với nguồn thu tối đa là 1.000.000 đ/người/năm, người nông dân phải chi cho ăn, mặc, học hành của con cái, chữa bệnh, sửa chữa nhà cửa và vô vàn các khoản khác nữa. Trong lúc đó hệ thống nhu cầu lại được mở rộng, theo kênh truyền thông đại chúng về lối sống đô thị và theo mạng lưới giao thông nối liền nông thôn với đô thị. Ví dụ, nước giải khát chè xanh không còn trong khi xuất hiện “bia Ong” (Thái Bình) cũng như các loại nước có ga khác. Người nông dân trên những thửa ruộng với nhiều mảnh cách xa nhau cũng không thể cày sâu hơn, cuốc bẫm hơn vì họ đã nghiệm ra là càng như thế thì thu nhập của họ càng ít đi. Trong khi đó, đường nhựa và thông tin đại chúng truyền tải liên tục về cho họ những sản phẩm mới và những hình ảnh mới mà họ ít có cơ hội để hưởng dụng chúng. Ðặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục đại học và y tế nhà nước, rất khó để người nông dân có thể hưởng được những thành quả của sự phát triển trong hai hệ thống đó.

Trong lúc đó, người nông dân cũng tận mắt thấy sự đồng đều truyền thống mà họ yêu mến không còn nữa. Nhóm cán bộ xã đã giàu lên nhanh chóng và bắt đầu có một lối sống khác: “chiều chiều họ cưỡi xe dim [xe honda Dream], đeo vạt [cà vạt], mặt đỏ như ông tiên sư, ra cánh đồng đứng chỉ trỏ” (lời kể của một lão nông, huyện Quỳnh Phụ). Thế rồi vợ con của những cán bộ kiểu này bắt đầu có những đua đòi, kệch cỡm trong lối sống mà bà con lối xóm cho là “hợm của”. Và không thể nào lý giải được nguồn gốc của số của cải đó. Trong các khiếu nại, nhiều người nông dân chỉ yêu cầu các cán bộ lãnh đạo xã dạy cho họ biết cách làm thế nào để cũng có thể giàu lên nhanh chóng như cán bộ.

Thành tựu về tăng trưởng kinh tế ở Thái Bình là rõ ràng : người nông dân từ chỗ đói ăn, nhà tranh vách đất nay đã chuyển sang đủ ăn, nhà kiên cố. Tuy nhiên, do hệ thống nhu cầu được mở ra nên từng người cụ thể không cảm nhận được sự tăng trưởng đó. Có chăng là với người già, khi họ ngồi nhớ lại rằng ngày xưa đời sống khổ cực hơn.

Một thành tựu cơ bản của Thái Bình cho đến tận hôm nay là đẩy nhanh các chương trình xã hội. Trong năm năm qua những công trình “Ðiện, đường, trường, trạm” đã là những thành tựu nổi bật nhằm mục tiêu phát triển kinh tế, đặc biệt là phát triển xã hội. Tuy nhiên, nếu phát triển các chương trình đó trong bối cảnh của nền kinh tế không phát triển đạt đến mức tương ứng thì sẽ đem lại một sự thụt lùi cả trên bình diện kinh tế lẫn xã hội. Ðiều này thì nhiều lãnh đạo nào cũng có thể hiểu.

Thế nhưng, dường như lãnh đạo Thái Bình muốn thông qua những chương trình xã hội để phần nào đảm bảo lại sự phân phối lại công bằng hơn cho người dân. Có lẽ chưa có tỉnh nào phát triển hệ thống giao thông nông thôn tốt được như Thái Bình : đường liên xã đều được rải nhựa. Hơn thế, Thái Bình còn phát triển cả bốn công trình điện, đường, trường, trạm cùng một lúc. Quả thực điều này đã tạo cho nông thôn Thái Bình một diện mạo rất tươi sáng. Nhìn từ ngoài vào, ấn tượng thật nổi bật. Song nếu đi sâu phân tích sẽ bật ra nhiều vấn đề.

Ðiểm đầu tiên cần hiểu : từ nguồn vốn nào để thực thi các công trình lớn đó ? Không thể từ đâu khác, kể cả nguồn vốn cho việc xây dựng trụ sở, hội trường, nhà tưởng niệm, v.v. đều chủ yếu lấy từ sự đóng góp của nông dân. Cùng với nó là từ các nguồn có thể xoay xở được như bán đất cho những người có tiền làm nhà. Ðặc biệt là khoản tiền vay của ngân hàng với hy vọng sẽ trả dần về sau này. Ước tính số tiền nợ vay ngân hàng theo những người được hỏi có thể chiếm 10 % tổng số tiền sử dụng để triển khai các chương trình trên. Gánh nặng trả nợ về sau thì rồi cũng đè trên vai người dân chứ còn ở đâu khác. Mà những khoản đóng góp thì rất đa dạng.

Ví dụ : tại xã Tây Phong huyện Tiền Hải, người ta nói với chúng tôi rằng : mỗi con trâu 1 vụ phải đóng 40 kg thóc về tiền giao thông, tức là mỗi chân trâu 10 kg thóc cho 1 vụ ; mỗi đàn vịt từ 30 con trở lên phải đóng thuế trồng cỏ. Còn nhiều khoản đóng góp khác nữa, ví như một cuộc họp phổ biến kiến thức nói về nông nghiệp cũng đòi mỗi gia đình phải đóng góp 7 kg thóc, v.v.

Những xã càng là tiên tiến, lá cờ đầu, thì sự đóng góp của dân càng nặng hơn. Cũng người nông dân tại xã Tây Phong, Tiền Hải, Thái Bình, người đã tham gia cuộc biểu tình bày tỏ ý kiến trên huyện đã nói ở trên, anh ta cho biết : “Theo quy định vụ Ðông xuân 97 gia đình anh phải đóng 7,1 tạ thóc cho hộ 5 người. Nhờ quyết định 279 (**) nên vụ Ðông xuân này hộ chỉ còn phải đóng góp 2,2 tạ thóc mà thôi. Và các gia đình trong xã bắt đầu tổ chức ăn mừng việc “giảm sản”. Ở xã là nơi mà sự đóng góp đó đè lên vai người nông dân với tất cả sức nặng của nó, hầu như tất cả các xã của Thái Bình đều nằm trong tình trạng mang công mắc nợ ngân hàng. Xã nợ chừng 1-2 tỷ là chuyện thường. Tại xã Quyết Tiến huyện Kiến Xương, một xã có khoảng hơn 3 000 dân, mức nợ nằm ở khoảng trung bình cũng là chừng 400 triệu. Theo lời bình của một cán bộ xã : “Nếu xã nợ chừng 100 triệu trở lại thì còn có thể xoay xở được chứ quá 100 triệu thì sẽ rất nan giải”.

Cần nhớ rằng, nội dung đích thực của các chương trình xã hội không phải nằm ở phần cứng của nó, mà là nội dung bên trong cái khung hào nhoáng đó. Chẳng hạn, với trường học thì phần cơ bản phải là đời sống và giáo viên để cho họ thực sự là giáo viên chứ không phải là người nông dân có nghề phụ là dạy học ! Với trạm xá thì tay nghề của các cán bộ y tế cùng những trang thiết bị tối thiểu cho họ hành nghề mới là cái chức năng đích thực. Nếu thế thì một câu hỏi được đặt ra : Liệu có cần phải xây nhiều trạm xá đến như thế không trong khi đã có một hệ thống giao thông tốt và thuận lợi đến như vậy ? Cũng có nghĩa là cho đến hôm nay, thực chất các chương trình phát triển xã hội cũng mới chỉ hoàn tất bước đầu ở phần dễ thấy nhất và tương đối ít tốn hơn. Ấy thế mà cũng đã kiệt sức. Câu hỏi đặt ra sẽ là, phát triển các chương trình xã hội có kịp mang lại động lực mới cho phát triển kinh tế nông thôn Thái Bình hay không, hay đang là gánh nặng quá sức đối với người dân khi mà bình quân thu nhập của họ chỉ trên dưới xấp xỉ 1 triệu đồng cho 1 người trong 1 năm ? Hậu quả của sự đóng góp quá sức đó là gì, chúng ta đã tìm thấy trong các sự biến vừa rồi. Nói cách khác, theo chúng tôi, đó chính là một trong những nguyên nhân đẩy tới sự biến Thái Bình.

III. Cán bộ và cơ chế

627762

1. Về người cán bộ

Ðiều mà mọi người thường giải thích, do cán bộ xã tham nhũng quá đáng, ức hiếp dân để dân không chịu nổi nên tức nước thì vỡ bờ thôi. Trăm sự là đều do cán bộ xã hư hỏng mà ra. Nói vậy cũng có chỗ đúng song cách nhìn nhận ấy không thỏa đáng, và nói cho cùng, cũng chưa đi vào nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự khủng hoảng ở Thái Bình, một điển hình nổi bật nhiều năm của sự nghiệp phát triển nông thôn. Rốt cuộc lại thì những người cán bộ là ai, phải chăng họ chính là những thành viên cấp cuối cùng thực thi mọi đường lối chính sách của Ðảng và Nhà nước ? Mà thật ra, với người nông dân ở xã thì Ðảng và Nhà nước cũng là một, nó là hiện diện cho những người có quyền lực đang trực tiếp tổ chức và chi phối đời sống của họ. Ở một khía cạnh nào đó, người cán bộ xã phải gánh trên vai toàn bộ gánh nặng của hệ thống quản lý về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng… Chính họ là người chuyển tải mọi chủ trương đường lối của Ðảng và Nhà nước đến trực tiếp với người dân, nói đúng hơn, đến 80 % dân số của cả nước. Không có họ khó hình dung được sự hoạt động của hệ thống quản lý. Cho nên, không thể chỉ có sự phê xét về họ, mà quan trọng hơn, là sự thẩm định lại cái cơ chế đang điều hành họ, đúng hơn, cái cơ chế mà họ được đặt vào, và rồi, bản thân họ góp phần làm cho cái cơ chế ấy vận hành và cũng bị sự vận hành của cơ chế ấy chi phối.

Ðương nhiên, họ phải chịu trách nhiệm với những hoạt động của họ, hành vi của họ, phẩm chất của họ. Không ai có thể biện hộ cho hành vi tham nhũng và ức hiếp dân của những cán bộ xã hư hỏng. Họ phải bị xử lý, người khác sẽ được thay thế vào, và guồng máy tiếp tục được vận hành theo cái cơ chế đã từng chi phối những cán bộ vừa bị xử lý (sa thải hoặc kỷ luật, ví dụ thế). Thế rồi sao nữa ?

Một bộ máy quản lý ở cấp xã cũng đủ lệ bộ như đã quy định từ Trung ương, chỉ có điều, tiền phụ cấp công tác hoặc lương mà họ được hưởng không tương xứng với công việc mà họ phải gánh vác. Ví dụ như, với 280.000đ, một chủ tịch xã chỉ có thể chi phí cho việc đi họp ở huyện, ở tỉnh, giao tiếp, khách khứa (xăng xe, thuốc lá, thuốc lào, giải khát dọc đường, sửa xe, v.v.). Nhưng họ cũng phải sống chứ, phải nuôi vợ con, rồi nhà cửa, giỗ chạp, cưới xin, chữa bệnh, học hành cho con cái, v.v. Tiền lấy đâu ra ? Ấy vậy mà, xem ra, không mấy cán bộ có chức, có quyền ở xã lại chịu sống trong cảnh bần hàn nhưng liêm khiết cả. Nói chung thì, ở những xã vừa bùng lên những vụ khiếu kiện, những vụ biểu tình, những sự đập phá, v.v. các cán bộ xã đều có mức sống tương đối cao so với mặt bằng mức sống chung của dân trong xã (trừ những cá biệt).

Trong cuộc phỏng vấn một ông giáo về hưu tại thị trấn Kiến Xương, người đang đi khắp nơi nộp đơn đòi thành lập Hội Chống tham nhũng, thì ông ta chia tham nhũng ra làm ba loại, trong đó loại 2, loại 3 thì chỉ cảnh cáo. Chính ông cũng thừa nhận rằng, các cán bộ xã đã làm việc rất nhiều nhưng phần tặng thưởng cho họ về công lao hoạt động là quá ít ỏi. Cũng có nghĩa là ông mặc nhiên thừa nhận những cái mà những người cán bộ có được cũng một phần là công sức lao động của họ, công sức ấy chưa được Nhà nước bồi hoàn thích đáng, và vì vậy tham nhũng là điều dễ hiểu và khá phổ biến. “Nếu cách chức cả thì lấy ai làm việc”, ông ta kết luận !

Cũng có thể thấy rằng, công quỹ được hình thành nên, để trong đó có thu nhập của cán bộ xã, có thể có được từ 3 nguồn (ở những xã không có dịch vụ phát triển) :

– Tiền phần trăm do các bên nhận thầu “lại quả” khi thực thi các công trình phúc lợi công cộng. Khoản tiền này rất lớn và khó xác định. – Tiền bán đất cho nông dân xây nhà. – Những khoản thu phí trong các hoạt động sản xuất của nông dân.

Những khoản tiền này được chi để trang trải mọi hoạt động của một bộ máy hành chính rất cồng kềnh, song không được trả đủ lương để tồn tại. Ðấy là chưa nói để chứng minh sự tồn tại của mình là hợp lý, bộ máy này luôn luôn xáo động bằng sự thay đổi nhân sự, bằng sự thăm viếng thường xuyên để chứng tỏ tính chất tập trung tuyệt đối của họ. Phần còn lại sau khi chi phí cho sự hoạt động của bộ máy cồng kềnh đó sẽ thuộc về những người quản lý cấp cơ sở.

Như vậy có nghĩa là khoản thu nhập thêm của cán bộ xã có tính hai mặt. Một mặt, nó là sự trả công cho lao động cường độ rất cao của họ. Mặt khác, nó là sự tước đoạt của cộng đồng. Và do tính chất tuyệt đối của quyền lực hiện hữu, hoàn toàn không có khả năng kiểm soát được về sự tước đoạt này, gắn với sự bất hợp lý của nền hành chính. Sự lạm dụng công quỹ được hình thành nên do những đóng góp nói trên là điều tất yếu, không thể khác được. Và, sự lạm dụng đó rất lớn, chẳng hạn như, người ta nói và chắc là không ngoa, sau hai năm công tác, một trưởng thôn có thể kiếm được 17 tấn thóc. Nói cách khác, cùng với việc sử dụng công quỹ để nuôi một bộ máy quản lý quá cồng kềnh ở cấp xã, để tạo ra sự khang trang cho cả cộng đồng, người cán bộ xã cũng tìm cách làm giàu cho gia đình họ.

Vấn đề đặt ra không chỉ là phẩm chất của người cán bộ xã mà chủ yếu là cơ chế nào đã cho phép họ cái quyền được tạo ra công quỹ đó và được phép sử dụng công quỹ đó. Sự phẫn nộ của nông dân không phải chỉ là những khoản họ phải đóng góp, và còn là, và chủ yếu là việc chi dùng sự đóng góp đó, trong đó có sự tham nhũng như đã phân tích ở phần II.

2. Sự đối đầu giữa cán bộ quản lý và dân

Sự đối đầu giữa cán bộ cấp cơ sở và nông dân là một thực tế rõ nét. Mà những sự biến ở Thái Bình vừa qua đã được phơi bày, cần phải được mạnh dạn chỉ ra. Cần chú ý đến một câu ngạn ngữ phương Tây : “Quyền lực có xu hướng tham nhũng, và quyền lực là tuyệt đối thì tham nhũng là tuyệt đối”. Ở cơ sở cộng đồng xã hội nông thôn hiện nay, sự tập trung quyền lực tuyệt đối, trên thực tế là ở trong tay một số người, mặc dù trên danh nghĩa thì là tập thể lãnh đạo của tổ chức Ðảng và Chính quyền.

Trong cuộc phỏng vấn tại nhiều xã trong đợt khảo sát vừa qua của chúng tôi, nhiều bà con nông dân đã thể hiện rõ sự phẫn nộ và quyết liệt với một số cán bộ xã và ngược lại các cán bộ xã cũng có một thái độ như thế đối với những người nông dân biểu tình. Sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai nhóm người này là quá rõ, họ rành nhau quá, biết kỹ về nhau quá. Sau những năm dài cùng tồn tại dựa vào nhau, có lẽ chỉ có họ mới hiểu chính xác thế nào là mối quan hệ giữa người quản lý (nhà nước) và người bị quản lý (nhân dân). Và tuyệt đối họ không có ảo tưởng về nhau. Những ảo tưởng về đối tượng quản lý, nếu có, chỉ bắt đầu xuất hiện tại cấp huyện và những cấp cao hơn chứ không thể nào có được tại cấp xã. Cán bộ cấp xã là những người có tư duy rất cụ thể (và có lẽ đó là nơi đào tạo tốt nhất về quản ý nhà nước hiện nay hơn bất cứ học viện nào).

Bi kịch nông thôn là ở chỗ cả hai nhóm người đang đối diện với nhau đều cùng hướng vào những mục tiêu mà xã hội theo đuổi và cơ chế mà xã hội vận hành để theo đuổi các mục tiêu đó. Chính họ cùng chia sẻ những mục tiêu đó mà không ý thức được về cái giá phải trả để đạt được tới đích. Sự căng thẳng vẫn tồn tại từ rất lâu, nhưng một thời gian có phần mờ đi vì chiến tranh, về sự hy vọng về một xã hội tốt đẹp, trong đó mọi người đều bình đẳng như nhau, sướng khổ như nhau. Khi bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới sau hòa bình, những hậu quả của chiến tranh càng được làm trầm trọng thêm trong sự vận hành cơ chế kế hoạch hóa tập trung và bao cấp đẩy tới sự khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng và kéo dài, đời sống nông thôn lại càng khó khăn gấp bội. Những bước khởi sắc với Nghị quyết 10 và công cuộc Ðổi mới làm cho đời sống nông thôn có chuyển biến mạnh. Tuy nhiên, sau thời gian khởi động, những động lực được tạo ra không còn giữ được sức đẩy như trước nữa, động lực mới thì chưa tạo ra được. Cơ chế vận hành của hệ thống quản lý và bộ máy hành chính càng ngày càng bộc lộ sự bất cập của chúng. Sự bất cập càng kéo dài thì đụng độ giữa người quản lý và đối tượng họ quản lý càng tăng.

Những dồn nén không được giải tỏa (những khiếu kiện hợp lý và trong khuôn khổ hiền hòa, chỉ nhận được những thái độ lẩn tránh quanh co hoặc im lặng kéo dài của các cấp từ xã lên đến huyện, đến tỉnh thậm chí đôi lúc cả trung ương) đến một lúc không kềm chế được đã bục ra. Và khi nó đã bục ra thì có một thực tế phũ phàng là: bộ máy quản lý cấp xã nhiều nơi bị vô hiệu hóa hoặc tan rã. Ðiều mỉa mai nhất, chúng thể hiện rõ sự bục vỡ đó ở ngay những nơi đã được đánh giá là chính quyền vững mạnh, đảng bộ bốn tốt ví như ở xã An Ninh, Quỳnh Phụ, xã Thái Thịnh, Thái Thường của Thái Thụy và xã Tây Phong của Tiền Hải.

Ở những nơi này, sự đối đầu giữa người dân và bộ máy quản lý đã đến cao độ. Và sự đối đầu này hoàn toàn không có cái gì để làm mềm đi cả. Mặc dầu ở những nơi này người ta vẫn học thuộc lòng khẩu hiệu : “Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Thế là diễn ra tình huống nhà nước cấp xã quản lý theo những mục tiêu mà nhà nước cấp trên đề ra. Nhân dân thể hiện sự làm chủ của mình bằng cách nổi lên phản kháng. Tuy nhiên, trong cuộc xung đột đó, theo nhận xét của nhiều người, hoàn toàn không thấy bóng dáng của đảng viên nào đứng ra can ngăn những cơn phẫn nộ của quần chúng, bảo vệ những thành quả đã đạt được cũng như bảo vệ nhân tính của người. Trong các sự biến, nhìn rõ sự đối đầu giữa nhà nước, những người quản lý, và nông dân, những người bị quản lý. Tuy vậy, không thấy có ai ca thán gì về Ðảng, tất cả mọi người vẫn nói rằng : đường lối của Ðảng là đúng đắn ! Gần như mọi người đều nhận định rằng : dân chỉ chống những cán bộ tham nhũng, hư hỏng, không chống lại chế độ.

Ðây là một vấn đề của chính trị học, có lẽ chúng ta cần có sự nghiên cứu thỏa đáng để rút ra bài học về mặt thể chế và về vai trò của Ðảng cầm quyền được hiện diện bằng xương bằng thịt ở tổ chức Ðảng cơ sở và ở người Ðảng viên sống trong lòng quần chúng. Không thể không thấy rằng, sự hiện diện bằng xương, bằng thịt của Ðảng cầm quyền là Nhà nước, là chính quyền ở cơ sở cũng như ở các cấp. Ở một khía cạnh khác trong mối quan hệ giữa cán bộ cơ sở với dân, cần phân tích đó là sự mất dân chủ, xa rời quần chúng nhân dân của một số cán bộ xã còn phản ánh ở một chiều cạnh khác của sự bất bình đẳng xã hội mà chính họ là đại diện.

Ðó là sự cố tình phô bày một lối sống trái ngược hẳn với đạo lý của đời sống cộng đồng vốn rất đặc trưng cho nông thôn Thái Bình. Người dân Thái Bình chỉ chuyên nghề nông, ít va chạm với thương trường, vì xa các trục giao thông quốc gia và quốc tế nên rất dễ phản ứng với những gì xa lạ, nhất là những thay đổi từ trong đời sống cộng đồng của chính họ. Họ nhìn những người cán bộ xã đang giàu lên nhanh không phải bằng mồ hôi nước mắt của chính họ bằng con mắt nghi ngờ bao nhiêu, thì càng tỏ ra căm uất bấy nhiêu khi chứng kiến sự xa hoa đua đòi và kênh kiệu của những người này.

Người dân thể hiện sự căm tức ấy qua cách mô tả những ngôi nhà cao to có trang bị đắt tiền kiểu thành phố, những chiếc xe máy đời mới nhất, đến cách ăn diện của các bà vợ các cán bộ xã đi liền với những câu nói hợm hĩnh, rồi đồ trang sức ở những đứa con cán bộ, v.v. (Một ví dụ : vợ của một cán bộ xã đứng giữa chợ gọi điện thoại di động về cho chồng con xem muốn ăn gì đổi món để mua khiến cho bà con nhìn họ với đôi mắt phẫn nộ và dè bỉu). Rõ ràng là cùng với sự phẫn nộ trước những bất công và tham nhũng về kinh tế trước sự lộng quyền mất dân chủ về chính trị và xã hội, mô hình văn hóa của làng quê cổ truyền đụng độ gay gắt với những khác lạ của lối sống của những người mới phất lên do khai thác được cơ may, quyền lực mà họ đang có. Chiều cạnh của văn hóa này của các sự biến cần phải nhìn cho ra để giải thích thêm về nguyên nhân cho những màn kịch đốt nhà và đập phá của cải đầy bạo lực mà người không theo dõi sự kiện này từ đầu khó cảm nhận được để nhìn nhận và phân tích sự kiện bạo động vừa xảy ra.

Quả thật, cán bộ xã, người đại diện cho hệ thống quản lý nhà nước ở cấp xã cùng với cơ chế quản lý đang vận hành đã bộc lộ những yếu kém và bất cập để dẫn đến những vụ đụng độ gay gắt, chuyển thành những bùng nổ xã hội khiến chúng ta buộc phải nhìn nhận trở lại một cách nghiêm khắc về vấn đề quản lý nhà nước. Cũng cần phải lưu ý rằng những sự kiện Thái Bình lại nổ ra vào lúc chúng ta vừa có nghị quyết Trung ương 3 về nhà nước và cán bộ !

3. Những giải pháp bất cập từ nhiều phía

Nếu diễn biến của tình hình đã vượt quá tầm kiểm soát của những người tổ chức và tham gia vào cuộc đấu tranh, thì đối với chính quyền các cấp trên, đây cũng là một sự kiện hết sức bất ngờ. Cách nhận định địch – ta trong tư duy chính trị trước đây đã có ảnh hưởng không nhỏ tới các giải pháp tình thế. Nghi vấn về sự xúi giục hay âm mưu phá hoại của địch đã loại trừ khả năng xử lý kịp thời những vụ tham nhũng và vi phạm dân chủ trong nông thôn của một số cán bộ xã và có thể dập tắt ngay từ đầu cái mầm của sự rối loạn không đáng có này. Nó cũng làm chậm lại việc củng cố Ðảng và các tổ chức quần chúng trong nông thôn. “Không cắt bỏ ngay cái bọc ung thư, để cho nó di căn rồi mới lo cứu chữa thì quá chậm”, đó là một nhận xét chí lý của một cán bộ có trọng trách ở cấp tỉnh nay đã về hưu, đã nói với chúng tôi !

Các quyết định của tỉnh cho dù là đúng, song vì không sát với thời điểm của nó nên có khi còn gây căng thẳng thêm cho tình hình. Chỉ thị “279” yêu cầu chính quyền địa phương chỉ được thu 7 khoản như quy định của tỉnh, được công bố vào cuối tháng 6.97 đã làm bế tắc thêm cho các giải pháp nếu đâu đó cán bộ cố tìm cách tháo gỡ sự đụng độ. Các công trình đã được ký kết và khởi công. Các khoản tiền đã được vay để tạm ứng trước, nay không còn khả năng thanh toán vì đã mất các nguồn thu. Tỉnh đã phải ban bố tiếp một quyết định khác yêu cầu đình chỉ mọi khoản thu và hứa cung cấp kinh phí để giải quyết những bế tắc hiện tại. Những yêu sách của quần chúng là bức xúc và phần lớn những chính quyền cấp xã không sao thỏa mãn, vì nếu thỏa mãn chúng thì phải phủ định chính mình: quyền lực, lợi ích, uy thế. Tình hình dẫn tới chỗ bế tắc. Hệ thống quyền lực ở xã lung lay và không còn chỗ dựa trong dân. Vai trò lãnh đạo bị mờ nhạt, vô hiệu hóa.

Tình trạng thiếu lãnh đạo trong nông thôn lập tức được biến thành cơ hội cho các lực lượng xã hội khác xuất hiện chi phối đời sống xã hội nông thôn. Cái cơ cấu làng họ lâu nay tưởng như chìm sâu trong ký ức giờ đây lại sống lại và trở thành chỗ dựa mạnh mẽ cho đời sống thôn xã. Hình ảnh những cán bộ xã Mỹ Lộc (Thái Thụy) phải co cụm trên nóc nhà mình với sự bảo vệ của những người trong gia tộc và thôn xóm phải chăng là điều cảnh báo cho sự bất lực của bộ máy quản lý mà lâu nay chúng ta cứ ngỡ như là vững chãi và sự phục hồi sức mạnh hệ thống thân tộc, làng họ cổ truyền. Sự khôi phục những sinh hoạt gia tộc và làng xã truyền thống trong những năm gần đây có mối liên hệ gì không với những sự biến này ?

Năm 1993, các đảng viên thuộc hai chi bộ ở xã Thụy Hải (Thái Thụy) đã tổ chức dân hai thôn cầm vũ khí đánh nhau vì tranh chấp đất. Người ta cũng rất tích cực trong việc đòi tách hợp tác xã và đòi chia lại ruộng đất giữa các thôn. Những câu chuyện về “chi bộ họ ta”, về sự kế nghiệp các bí thư và chủ tịch đã nghỉ quản lý bằng con, cháu của họ vốn không chỉ xảy ra gần đây mà nó đã tiềm tàng từ lâu trong cộng đồng làng xã khi đi vào hợp tác hóa để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Việc khôi phục các quan hệ và sinh hoạt văn hóa truyền thống ấy chính là cái giá đỡ có hiệu quả cho quá trình chính trị hóa đời sống nông thôn hiện nay. Nó có thể có ích cho công cuộc đổi mới hiện nay, nếu nó được hướng theo những mục tiêu chung của đất nước và thời đại. Trong tình thế ngược lại nó sẽ là lực cản to lớn cho việc xây dựng khối đoàn kết toàn dân và sự đi lên của đất nước trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Cần lưu ý rằng : “Làng là tế bào của xã hội Việt Nam. Xã hội Việt Nam là sản phẩm của tự nhiên tiết ra từ quá trình định cư và cộng cư của người dân Việt trồng trọt. Hiểu được làng Việt là có trong tay cơ sở tối thiểu và cần thiết để tiến lên hiểu xã hội Việt nói riêng và xã hội Việt Nam nói chung trong sự năng động lịch sử của nó, trong ứng xử cộng đồng và tâm lý tập thể của nó, trong các biểu hiện văn hóa của nó, cả trong những phản ứng của nó trước những hình thái mà lịch sử đương đại đặt vào nó” (***).

Chúng ta đang chứng kiến “những phản ứng của làng xã” trước những hình thái mà lịch sử đương đại đặt vào nó.

Mô hình văn hóa “làng họ” ăn sâu vào tâm thức và thế ứng xử của người nông dân, đặc biệt là nông dân đồng bằng Bắc Bộ. Trong các thiết chế của làng xã cổ truyền, làng – họ là mối liên hệ đặc trưng. Hệ thống thân tộc, các phe giáp, mối quan hệ người cùng làng đã phần nào tạo ra đời sống ổn định, trung hòa bởi những đối kháng trong xã hội. Cái cơ cấu làng – họ với những thiết chế cổ truyền ấy tưởng đã bị xóa bỏ để thay vào đó thiết chế quyền lực mới : Đảng và Chính quyền ở xã. Trong thực tế, ảnh hưởng của thiết chế bền vững xưa kia không tan biến mà chỉ chìm sâu xuống mà thôi. Một khi uy lực và tín nhiệm của bộ máy quyền lực hiện thời bị lung lay thì sức mạnh của thiết chế cũ lại trỗi dậy. Không thấy điều này, sẽ không tìm ra được những giải pháp mang tính bền vững trong việc xây dựng nông thôn mới, lại là nông thôn đang hướng tới sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa.

Thổi bùng lên ngọn lửa từ lâu âm ỉ là thiếu sót của một bộ phận khá lớn những cán bộ cấp cơ sở và những xử lý không đúng của các cấp trên của họ. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc xử lý và kỷ luật một số cán bộ có sai lầm khuyết điểm mà thôi thì chưa đủ. Ðiều ấy là tuyệt đối cần thiết để yên lòng dân, song chưa giải quyết được tận gốc những nguyên nhân tích lũy, sự bùng nổ lại tiếp tục có thể diễn ra. Vì, tiếp theo sau sự sa thải hoặc kỷ luật những cán bộ có sai lầm, những người mới được bổ nhiệm sẽ lại tiếp tục hoạt động trong cái cơ chế vốn là nguyên nhân của sự tham nhũng, lộng quyền, thiếu dân chủ, không đủ trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để thực thi chúc năng nhà nước tại cơ sở thì con đường dẫn đến sai lầm của lớp cán bộ mới này là không tránh khỏi.

IV. Dân chủ và dân trí, sự vi phạm quyền dân chủ tại nông thôn

5993221.jpg

Nếu khởi đầu từ cấp cơ sở đi lên, thì thật sẽ hết sức ngạc nhiên tại sao người nông dân lại có thể chịu đựng lâu đến như thế sự mất dân chủ. Trước hết là vấn đề ruộng đất. Nếu việc trả lại ruộng đất cho người nông dân tự quản là nền tảng lớn nhất và sơ khởi cho bất cứ loại hình dân chủ nào thì hiện thực ở Thái Bình là, người nông dân thường không biết được thật chính xác số đất họ có và với số đất đó họ phải nộp những khoản gì, bao nhiêu và trên văn bản nào. Tất cả đã được tính sẵn trong một quyển sổ bởi ai đó và hộ gia đình ở nhiều nơi không được giữ quyển sổ đó, mà là do trưởng xóm giữ.

Chẳng thế mà sau những sự biến, ở nhiều nơi cán bộ xã (có thể dưới sự chỉ đạo của cấp trên) đã lẳng lặng đến tuyên bố hoặc gạch bỏ những khoản mục mà dân phải đóng góp và đã được ghi vào sổ. Bà con kháo nhau, nếu cứ đà này thì vài năm là chúng ta có thể giàu ! Bằng những chuyện thật mà cứ tưởng như đùa này, quyền làm chủ đất đai, ước mơ nghìn đời của người nông dân trên thực tế đã bị vi phạm nghiêm trọng và khiến cho mọi sự bàn cãi về thành tích dân chủ của một nông thôn mới quả là một điều xa xỉ. “Nhà nước bảo thuế ruộng loại A nộp 19 kg/sào, xã thu hơn 30 kg/sào, dân cứ phải đóng. Một gia đình có 3 mẹ con, một đứa con đang đi học lớp 7, một đứa học lớp 4. Bà mẹ không may ngã gãy chân. Thế là tiền thuốc men ngốn hết số thóc trong nhà, chưa thể đóng thuế được, chỉ còn 20kg thóc trong nhà, xã cũng vào vét sạch thì còn dân với chủ gì nữa”. Ðấy là lời của một cán bộ lão thành ở Thái Bình nói với chúng tôi.

Tiếp đó, những dấu hiệu thông thường của nền dân chủ, dù chỉ là hình thức, càng khó có thể nói là được tôn trọng. Một việc đơn giản nhất là bầu trưởng xóm, một chức vụ được quy định bởi nhà nước và quy trình bầu cũng được quy định bởi nhà nước, một nhân vật sống sát nhân dân nhất, thì ngay việc bầu cử này người dân cũng không thật có quyền. Hay đúng hơn là, người dân có quyền bầu ra một ông trưởng xóm làm đúng những gì cấp trên quy định. Nếu không ông trưởng xóm đó sẽ được bãi miễn, để thay bằng một ông trưởng xóm khác dễ bảo hơn (xã Tây Phong, Tiền Hải).

Do vậy, khó có thể nói nền dân chủ mà chúng ta triển khai có gì khá hơn nền dân chủ làng xã vốn đã tồn tại nghìn đời ở nông thôn Việt Nam mà ngay cả chính quyền đô hộ thực dân Pháp trước năm 1945 cũng ngần ngại không dám xóa bỏ. Ở một chiều cạnh khác của việc thực thi dân chủ là ở tinh thần luật pháp. Ở đây cũng lại thể hiện một sự bất cập. Một số cán bộ tin chắc rằng quyết nghị của Hội đồng nhân dân xã có thể là cơ sở pháp lý tuyệt đối cho mọi hành vi của họ. Vì thế, chỉ cần thao túng Hội đồng nhân dân là họ có ngay được những văn bản pháp lý cho những quyết định mất dân chủ của họ. Còn ở phía một bộ phận nhân dân thì dường như chế độ dân chủ bằng pháp luật chỉ có tính hình thức. Họ chỉ tin vào một chế độ dân chủ trực tiếp, nơi mà họ có thể trực tiếp phát biểu ý kiến và nguyện vọng của họ. Họ đã làm nên một sự kiện gần như cuộc “đảo chính” khi họ giằng micro từ tay một cán bộ (xã Thái Thịnh, tháng 6/97) để đọc bản đề nghị phế truất vị chủ tịch xã do chính họ bầu ra trước đây và đề cử một người khác. Những cách quan niệm khác nhau và bất cập về dân chủ trong xã hội không thể không dẫn tới những rối loạn chức năng của tổ chức bộ máy nhà nước ở cấp xã, cái cần làm thì không làm, cái không được phép thì cứ làm bừa.

Một đặc trưng khác của nền dân chủ là sự kiểm soát hữu hiệu hoạt động của nền hành pháp. Và không thể nói người nông dân, hay thanh tra nhân dân được bầu ra, lại có thể làm được điều nàỵ Một kiểm soát hữu hiệu phải có thông tin, ấy vậy mà, chưa có cơ chế nào quy định để người dân nắm được thông tin cần thiết. Với cơ chế “Ðảng lãnh đạo” được hiểu một cách thô thiển theo kiểu đảng viên phải nắm tất cả mọi chức vụ, sự kiểm tra cũng bị những người nhân danh Ðảng thao túng. Như vậy thì sự dân chủ đã bị vi phạm trắng trợn.

Sự kiện Thái Bình diễn ra với đủ mọi lời đồn đại lan tràn, nhưng truyền thông của tỉnh trong một thời gian dài đã không hề cung cấp bất kỳ một thông tin nào về việc “vậy thì cái gì đang lan truyền trong toàn thể các xã ở Thái Bình”. Còn khi được phép đưa tin thì lại đưa theo một sự lựa chọn phiến diện, không phản ảnh được tình hình, không đáp ứng được đòi hỏi của dân. Ðể nói về cái quyền sơ đẳng của nhân dân nhiều nơi bị xâm phạm thô bạo, xin dẫn ra đây một ví dụ : Một trường hợp đẻ con thứ ba (xã Tây Phong, Tiền Hải) bị phạt theo quy định. Nhằm nhanh chóng thu tiền phạt, xã đã tự mình đặt tên cho con của gia đình bị phạt và dẫn đến trường hợp rất hy hữu trong lịch sử : đứa bé có hai tên, tên chính do chính quyền đặt và tên khác do bố mẹ đặt cho !

Quyền dân chủ bị xâm phạm, điều ấy quá rõ, điều ấy cũng lại gắn với vấn đề dân trí. Có một sự thật phải chấp nhận, khi trình độ dân trí chưa được nâng cao thì việc thực thi dân chủ không tránh khỏi những lệch lạc. Ðiều dễ trông thấy nhất là chủ nghĩa bình quân trong dân chủ làng xã, trong quan niệm dân chủ đó, phần lớn mọi người vẫn chỉ chia sẻ một giá trị là sự chia đều cho tất mọi người những quyền lợi về vật chất và về tinh thần mà xã hội đạt được và người ta có quyền duy trì và thực hiện các quyền đó. Người ta không chấp nhận rằng có những người khác lại có khấm khá hơn họ. Và sự phát triển dân trí trong những năm vừa qua chỉ đủ đưa những người lãnh đạo phong trào nông dân, trong trường hợp tốt nhất là tư tưởng thành lập một Hội Chống tham nhũng. “Bọn tham nhũng như lũ chuột. Hội Chống tham nhũng là con mèo. Chỉ cần có hơi mèo là chuột sợ”. Khởi đầu với lý lẽ như thế, rõ ràng là dễ đi vào lòng người, sẽ được những kẻ quá khích cổ vũ cho cái triết lý trong cơ chế hiện nay thì cứ Chí Phèo là được tất. Và đám đông bùng lên. Những người cầm đầu với ý định rất tốt đẹp ban đầu không còn làm chủ được tình hình nữa.

Còn bên kia, các cán bộ chính quyền, nhất là cấp xã, cũng có cùng mặc cảm dân chủ ấy, ngần ngại hành động. Và họ rất hận với chỉ thị 279 giảm đóng góp của dân xuống. Vì theo họ, đấy là chỉ báo cho cái sự dân chủ Chí Phèo phát triển.

V. Những nhu cầu khác chưa được đáp ứng

9265175 (1).jpg

Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội, đảm bảo dân chủ nâng cao dân trí, xã hội hiện đại cần đến một loạt các thiết chế xã hội để đảm bảo sự hiểu biết lẫn nhau tốt hơn giữa con người trên căn bản tôn trọng cá nhân. Xã hội hiện đại còn là một sự hài hòa giữa lao động và sử dụng hợp lý thời gian nhàn rỗi, đặc biệt là khi có sự tăng trưởng kinh tế.

Chúng ta đứng trước hiện tượng là Thái Bình là một trong những tỉnh khá nhất của nông thôn Bắc Bộ, kinh tế có lên tuy chưa nhiều so với tiêu chuẩn hiện đại nhưng là rất cao so với những ngày trước năm 1945. Học vấn cũng vậy. Ấy thế mà việc tạo ra những điều kiện để sử dụng thời gian nhàn rỗi là gần như con số không. Thanh niên sau khi được học hành đã không thể tìm được một cách giải trí tích cực nào ngoài việc giải trí thụ động là xem tivi. Trong khi đó tuổi kết hôn lại được nâng cao đến thừa sinh lực. Thanh niên cũng không có chỗ để thực thi trình độ hiểu biết của mình do phải tuân thủ truyền thống “trọng xỉ”, dù cho đã có văn hóa, nhưng xem ra vẫn còn “trẻ quá” để thay thế các bậc cha chú do vậy họ cũng chưa có chỗ để sử dụng. Trong các đám đập phá ở nông thôn Thái Bình người ta quan sát thấy chủ yếu là thanh niên, với những mô hình hiệp khách du nhập một cách bập bõm qua các phương tiện thông tin đại chúng cũng là điều để chúng ta suy nghĩ kỹ hơn về nguyên nhân.

Ðối với các nhóm tuổi khác, đặc biệt là phụ nữ, tình hình còn bi kịch hơn. Ruộng đất còn ít, nghề phụ không có, người ta không biết sử dụng lao động của mình làm gì. Những truyền thống và tập tục văn hóa ngày xưa thì phần lớn đã bị tiêu vùi trong những năm tháng trước đây. Việc phá đình chùa cuối cùng ở Thái Bình là vào những năm đầu thập kỷ 80. Một sự trống trải trên bình diện văn hóa tinh thần, cái dù sao đi chăng nữa cũng đào tạo cho con người ta một nhân cách, dù là nhân cách cam chịu, sự trống trải đó sẽ dẫn tới những hệ lụy mà không phải lúc nào người lãnh đạo cũng cảm nhận được. Và không có cái gì dễ thay thế nó. Văn hóa mới, hướng nhiều về vật chất, lại cao hơn mức mà kinh tế nông thôn Thái Bình cho phép.

Những tổ chức, thể chế xã hội được xây dựng nên trong những năm tháng đã qua. Ðoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Phụ lão, v.v. dần dần rơi vào trạng thái phần nào hữu danh vô thực. Những tổ chức này có một thời đã đóng một vai trò rất tích cực nhưng giờ đây hình như không còn sức hấp dẫn người dân nữa. Tất cả những thiết chế xã hội này đều vẫn đang hoạt động, nhưng có vẻ như nó đã không đáp ứng được mục tiêu : tạo một sự đồng cảm xã hội.

Trong khi đó, những loại hình tổ chức khác bắt đầu được lập ra : các hội từ thiện, các tổ chức phi chính phủ, v.v. lại cũng chưa phát huy được tác dụng bao nhiêu. Người ta dường như cũng cảm nhận rằng những loại hình thức tổ chức đó cũng chẳng đáp ứng được gì cho nhu cầu tinh thần và giao tiếp xã hội của người dân vì vẫn là những con người cũ làm những việc đó.

Do vậy, một mặt người dân tiêu chỗ tiền phụ trội ít ỏi có được của họ vào ma chay, cưới xin và những cái hủ tục khác nữa như uống rượu hoặc đánh số đề. Và mặt khác, tâm linh họ lại hướng mạnh về tôn giáo tín ngưỡng. Có thể thấy ở nông thôn tất cả các bà, các chị từ 30 tuổi trở lên đều chăm chỉ tham gia lễ chùa hoặc đi nhà thờ đều đặn.

Nên chỉ riêng quan sát ngôi chùa ở nông thôn thì có thể thấy thiết chế này trong bối cảnh hiện nay là trở nên rất hữu ích cho người dân nông thôn : thỏa mãn phần nào nhu cầu văn hóa tinh thần, rèn luyện tình người cho con người. Hơn thế, nó còn là nơi cưu mang cho những cuộc đời bất trắc, cái mà ở thời nào cũng có. Ðặc biệt là với một nông thôn mà không có gia đình nào không có người phải nằm xuống trong cuộc chiến tranh. Không phải ngẫu nhiên mà phần lớn các sư giữ chùa làng là những người phụ nữ có số phận dở dang, trong số đó có nhiều người trở về sau những năm tháng chiến đấu trong trong hàng ngũ thanh niên xung phong, chống Mỹ cứu nước.

Và nhà thờ Thiên chúa giáo cũng đang hoạt động tích cực như một lực lượng cứu rỗi linh hồn. Họ có đủ đức tin và nguồn tài chính để đi vào trong quần chúng. Ðiều này thật đáng phải suy nghĩ.

Kết luận

Sự kiện Thái Bình, nếu với cái nhìn tỉnh táo, sẽ là một cơ hội để chúng ta có thể nhìn rõ thực trạng chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa của nông thôn nước ta, do vậy mà có những chủ trương đúng sách lược đúng, đưa nông nghiệp và nông thôn đi vào sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa.

Khi cái nhọt đã bục vỡ, nếu biết cách xử lý, nỗi đau sẽ giảm nhẹ đi rất nhiều và phần cơ thể nhiễm khuẩn sẽ lành mạnh trở lại. Ðiều ấy là dễ hiểu song không dễ chấp nhận, không dễ có một thái độ dám nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật với một sự dũng cảm mổ xẻ, phân tích để tìm ra đúng nguyên nhân. Nếu không tìm ra đúng nguyên nhân của sự kiện, chỉ dừng lại trên bề mặt của hiện tượng, đối phó bị động và tạm thời bằng những giải pháp chắp vá, thì nhất thời có thể tạm yên được sự bùng nổ, nhưng cái đẩy tới sự bùng nổ thì vẫn còn nguyên, thậm chí còn nung nấu them, đây là một logic tất yếu mà mọi sự bưng bít, che đậy hay xuyên tạc sẽ gánh chịu những hệ lụy khó lường.

Hơn nữa, sự kiện Thái Bình không là ngẫu nhiên và duy nhất. Cái đáng ngạc nhiên – nếu có ai đó có sự ngạc nhiên – thì tại sao lại xảy ra đúng ở Thái Bình, lá cờ đầu của sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, cái xót xa là ở những điểm nóng nơi dân đòi hạ bệ hoặc bắt dẫn lên huyện cán bộ Ðảng và Chính quyền xã mà không gặp sự phản kháng nào của Ðảng viên, mà những nơi ấy lại vừa được tuyên dương là đảng bộ vững mạnh! Sự kiện Thái Bình có những nguyên cớ ngẫu nhiên, đặc thù, song vấn đề nông dân trỗi dậy đòi quyền lợi về kinh tế, về chính trị, về xã hội thì không còn là cá biệt và ngẫu nhiên chỉ xảy ra ở Thái Bình. Do đó, giải quyết đúng sự kiện Thái Bình cũng chính là giải quyết đúng vấn đề nông thôn, nông nghiệp, nông dân hiện nay. Trên cơ sở khảo sát nhanh sự kiện Thái Bình, từ sự tiếp cận xã hội học, chúng tôi hình dung các kịch bản có thể diễn ra như sau:

1. Kịch bản thứ nhất :

Bị động đối phó bằng cách, một mặt giảm bớt các khoản phải đóng góp của dân, mặt khác trấn áp những đối tượng được nhận định là người cầm đầu, người kích động dân, người có hành vi hung đồ phạm pháp. Tiếp đó dần dần xem xét và kỷ luật hoặc loại bỏ một số cán bộ tham nhũng mất lòng dân, xem xét lại một số văn bản, quyết định từ cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh để có sửa đổi hợp lý, hợp lòng dân, kiện toàn lại bộ máy Đảng và Chính quyền ở cấp xã, loại bỏ những người tham nhũng quá đáng, quá mất phẩm chất, không có khả năng quản lý, bổ sung những cán bộ tốt, có phẩm chất, có năng lực, được dân tin.

Ðộng viên sức dân, đẩy mạnh sản xuất phát triển kinh tế – xã hội, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông thôn, nông nghiệp, cải thiện đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nông dân.

2. Kịch bản thứ hai :

Trung ương và tỉnh cử người về tại những điểm nóng, họp toàn thể nhân dân, công khai tiếp nhận kiến nghị, trực tiếp trả lời cho dân một số vấn đề có thể trả lời được ngay, ghi nhận những điểm cần tiếp tục xem xét để trả lời dân sau đó. Ở những nơi khác, cũng có thể làm tương tự với đại diện của tỉnh, huyện và một số ngành chức năng. Cách chức những cán bộ Ðảng và Chính quyền đã có bằng chứng là tham nhũng nặng, mất hết uy tín trong dân ; công khai tự phê bình những sai lầm về chủ trương, giải pháp không đúng với đường lối chính sách của Ðảng và nhà nước, làm thiệt hại đến lợi ích của dân. Cùng với việc đó, xử lý trong pháp luật những phần tử manh động và kích động quần chúng gây thiệt hại về vật chất và tinh thần cho cán bộ và cho dân, cho tài sản công cộng.

Kiện toàn bộ máy quản lý cấp xã, Đảng và Chính quyền bổ sung những cán bộ có phẩm chất được dân tín nhiệm. Sửa đổi và hoàn thiện cơ chế mới phát huy được sự đồng thuận xã hội, đẩy mạnh sản xuất phát triển kinh tế – xã hội, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nông dân, từng bước thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

3. Kịch bản thứ ba

Công khai phê bình và tự phê bình về những sai lầm của cán bộ lãnh đạo xã, huyện và tỉnh trong việc ban hành và áp đặt những chủ trương, giải pháp không phù hợp với đường lối Ðổi mới của Ðảng, làm mất lòng dân, gây phẫn nộ trong quần chúng. Xử lý thích đáng những cán bộ Ðảng và Nhà nước ở các cấp xã, huyện, tỉnh mắc sai lầm nghiêm trọng đã được dân chỉ ra, những người chịu trách nhiệm về việc ban hành những văn bản, chỉ thị sai lầm, gây thiệt hại cho dân, làm mất uy tín của Ðảng và Nhà nước. Song song với công việc trên, dựa vào pháp luật để xử lý thích đáng những người lợi dụng phong trào quần chúng nhằm thực hiện những mưu đồ cá nhân, vi phạm luật pháp, làm hại đến lợi ích vật chất và tinh thần của cán bộ, nhân dân và tài sản công cộng.

Nhanh chóng xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải tạo cơ bản bộ máy hành chính trên căn bản hoạt động theo chức năng, do vậy, phải bổ nhiệm những cán bộ được đào tạo nghiệp vụ hành chính, có phẩm chất đạo đức và được dân tin. Phân định rõ chức năng của cơ quan Ðảng và cơ quan hành chính Nhà nước để có hệ thống kiểm tra, chỉ huy thông suốt đến cấp xã, nơi trực tiếp với công sản hàng ngày của dân.

Trên cơ sở ổn định xã hội mà mấu chốt là sự đồng thuận xã hội, đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế và xã hội theo cơ chế thị trường của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần được vận dụng sáng tạo trên địa bàn nông thôn. Tạo ra động lực phát triển bằng việc xử lý thỏa đáng mối quan hệ lợi ích của người nông dân và nghĩa vụ xã hội, nghĩa vụ với đất nước trên căn bản của nhận thức đúng về vai trò và lực lượng của người nông dân trong giai đoạn lịch sử mới. Từ đó, có những sửa đổi lớn về mặt chính sách trên hướng Ðổi mới và sáng tạo để thực sự phát huy sức mạnh nội sinh, đưa nông nghiệp, nông thôn, nông dân vào công nghiệp hóa và hiện đại hóa.

Ba kịch bản nói trên cũng chỉ là những dự báo căn cứ vào những gì đang diễn ra. Ðương nhiên, điều mong muốn của người làm khoa học là muốn được thấy kịch bản thứ hai được chuyển dần sang kịch bản thứ ba.

Nông thôn và nông nghiệp của chúng ta từ sau Nghị quyết 10 vẫn đang phát triển trên căn bản của kinh tế hộ gia đình nông dân. Ðể cho hộ kinh tế gia đình chuyển dần từ hộ sản xuất tự cấp tự túc sang hộ kinh tế sản xuất hàng hóa còn là những phấn đấu gian khổ với rất nhiều điều kiện được tạo ra. Một trong những điều kiện tiên quyết nhất là phải có những thể chế thích hợp với sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước bằng các cơ chế chính sách vĩ mô.

Sự biến Thái Bình sẽ là một cái hích mạnh mẽ cho những quyết sách đúng đắn để giải quyết vấn đề nông dân, nông nghiệp, nông thôn. Mà nếu như vậy thì trong cái rủi có cái may.

Một điều tưởng như đã chìm vào trong quá khứ : mọi chính quyền nhà nước qua các biến thiên của lịch sử đều phải đối diện với nông dân, nông thôn, nông nghiệp ở một nước mà hệ văn minh lúa nước ở vùng nhiệt đới gió mùa chi phối toàn bộ đời sống. Từ tháng 8 năm 45, chúng ta cứ tưởng là với công nông liên minh là nền tảng, nhà nước ta đã không phải lo sự đụng độ và đối đầu với cái biển nông dân mênh mông và mãnh liệt ấy. Thế mà giờ đây, hóa ra chính nhà nước công nông của ta cũng vẫn đang đứng trước một thách đố mới của câu chuyện cũ. Chỉ có điều, lịch sử phát triển theo đường xoáy trôn ốc. Vì vậy, lịch sử lại càng đòi hỏi bản lĩnh của Ðảng và nhà nước mà sứ mệnh của mình là xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh đi lên chủ nghĩa xã hội phải giải quyết một cách thỏa đáng và vững chắc vấn đề nông dân. Ðặc biệt là, khi chúng ta quyết tâm đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước ta, một nước mà 80% cư dân sống ở nông thôn, thì vấn đề công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn càng là vấn đề bức xúc. Không làm sáng tỏ vấn đề này thì chưa thể định hướng được rõ đường lối công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Một lần nữa vấn đề nông dân lại được đặt ra !

Ngày 8 tháng 8 năm 1997

Chú thích:

(*) Theo kế hoạch kinh tế năm 1992 của tỉnh – tháng 1.1992.

(**) Chỉ thị của chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình ký ngày 11.6.97 “Về việc chấn chỉnh, thu, quản lý và sử dụng các loại quỹ, các khoản thu của xã, phường, thị trấn và hợp tác xã nông nghiệp”.

(***) Nguyễn Từ Chi “Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người” – Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội, 1996, trang 177.


SỰ KIỆN ĐỒNG TÂM- TIN VNE TỪ LÀNG HOÀNH

Hiệu Minh

Mấy hôm nay có vài tờ báo alo, anh Cua ơi, viết gì cho bên báo đi. Dạ, đề tài gì? Anh cứ viết những gì anh tâm đắc.

Viết về Đồng Tâm, Mỹ Đức nhé, mình định về xem ra…răng. Ôi anh ơi, tha cho báo em. Nhậy cảm lắm. OK thì tha.

NhabaoBaoHa VNE
Hóa ra vẫn có báo VNE vào tận “sào huyệt” là thôn Hoành, phóng viên là một cô gái có con nhỏ, nếu là tôi thì đã đái ra quần.

Đang làm video cho lớp 10 tốt nghiệp cấp 3 năm 1970 gồm toàn các bạn nam ra trận lúc khốc liệt nhất, chiến trường Quảng Trị.

Một số bạn tập trung tại Hà Tây và được dân đùm bọc trước khi đi Nam chiến đấu. Nhiều người không trở về.

Duyệt trên internet thấy phim “The Fog of War” nói về cuộc chiến Viêt-Mỹ của Bộ trưởng Bộ QP Robert McNamara, trong đó có câu “In order to do good, you may have to engage in evil – Để làm được điều tốt, có khi phải phạm tội ác”.

Câu nói đó đúng cho cả hai phía chính quyền và nhân dân Đồng Tâm.

Đừng mang danh sự phát triển mà không cân đối quyền lợi của người dân, và cũng đừng vì sự hận thù mà đẩy sự việc lên mức không thể kiểm soát.

Nếu có sự đối thoại và hiểu biết, mọi việc phải dựa trên hai bên cùng có lợi.

Đừng vì nhân danh bất cứ điều gì, thì người dân nơi đây vẫn là tổ ấm của những người lính xung trận năm xưa và chính quyền vẫn là chỗ dựa của dân.

Sắp đến 30-4 nhớ bài học của người Mỹ thua trận, đừng chứng minh mình là phe tốt đẹp mà phải phạm tội.

Câu chuyện về tranh chấp đất đai là tiểu thuyết không có hồi kết bởi vài chữ “Đất đai là sở hữu toàn dân…”

Mời các bạn xem bài của VNE, sợ bị hạ xuống, nên copy ra đây.

3 tiếng mất liên lạc với toà soạn khi về Mỹ Đức khiến nhiều người lo lắng, chuyện gì đã xảy ra với tôi.

Cho tới sáng 16/4, mọi cánh cửa thông tin về xã Mỹ Đức chỉ le lói một vài tia yếu ớt. Câu chuyện mà ai cũng có thể truyền tai nhau là chiều 15/4, một đoàn cảnh sát gồm cả cơ động, công an, cán bộ huyện đã xảy ra xô xát với hàng ngàn người dân, sau hoạt động bắt người theo quyết định khởi tố đã có từ trước đó hơn một tháng. Hàng chục cảnh sát, công an, cán bộ huyện đã bị dân giữ lại tại nhà văn hoá thôn Hoành, xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức.

Tôi và một phóng viên nam lên đường tới Mỹ Đức với một sự thôi thúc phải tìm ra câu chuyện gì thực sự đang diễn ra.

Gần đến nơi, thấy từng nhóm người cả cảnh sát, cả người mặc thường phục đứng lố nhố khắp trên con đường vào xã tôi đã run. Tôi chỉ là một phụ nữ, tôi còn có con nhỏ. Tôi dừng lại một quán trà ven đường lân la đến nửa ngày. Nhưng qua giờ trưa, tôi thấy mình không thể chịu nổi nữa. Tôi tự hỏi: Vì sao đã đến tận nơi này rồi lại ngồi đây để trở về ngờ vực? Tôi có linh cảm có một câu chuyện chẳng lành đằng sau những video chỉ thấy gào thét, chỉ thấy những hừng hực căm phẫn từ đám đông bắt bớ kia? Và tôi đã không kìm được bước chân của mình đến cổng làng, sau khi để lại toàn bộ giấy tờ, tư trang cho người đồng nghiệp ở vòng ngoài, chỉ mang theo 2 thứ: ghi âm và điện thoại.

Nhưng khi vừa kịp thấy đám đông đứng đầu đường dẫn vào thôn Hoành, vừa thoáng qua những thân gỗ to lù lù chắn ngang đường làng, tôi đã bị nhiều bàn tay lôi lại. Tôi giật bắn người: hàng chục đôi mắt phụ nữ lọt ra từ khuôn mặt bịt kín khẩu trang đang đổ dồn về mình. Những người đàn ông chạy ào tới túm áo tôi.

Những câu hỏi như thét lên: “Mày là ai? Từ đâu đến? Đến đây làm gì?”. Tôi không biết mở lời từ đâu, bởi không thể gào to như họ. Tôi run rẩy.

Mất một hai phút để tự trấn tĩnh, tôi nói mình là phóng viên. Nhưng dân làng nói tôi phải có thẻ ngành. Toàn bộ giấy tờ tôi đã để bên ngoài vì không thể đoán trước thái độ của những người dân ở đây với nhà báo như thế nào. Không xuất trình được giấy tờ, tôi bị một người đàn ông và một phụ nữ áp giải bằng xe máy vào sâu bên trong.

Họ chở tôi vào làng, len lỏi qua những chướng ngại vật đã dựng lên. Dọc hai bên đường, từng tốp người già, trẻ, lớn bé đứng ngồi nhấp nhô. Khi nhìn thấy người lạ mặt, họ bật dậy và lại tiếp tục những câu hỏi như gào lên: “Nó là ai? Sao lại vào đây?”.

Người làng chở tôi đến trước một khu nhà văn hoá thôn Hoành: Nơi đang giữ hàng chục người thực thi công vụ. Chúng tôi dừng lại trước cánh cổng sắt đóng chặt nhiều lớp khoá. Trong khoảng sân lớn, có vài chục người: đàn ông trung niên, thanh niên, phụ nữ… Người ngồi, người nằm ngủ, bên cạnh đều có sẵn gậy nhỏ.

Thấy tôi, người dân bật dậy, đổ dồn những ánh nhìn cảnh giác cùng tức giận. Có một người đàn bà mặt giận dữ nói nhất định phải khám người tôi. Những người đàn ông bình tĩnh cũng không khuyên nổi bà. Bà dẫn tôi vào một căn phòng nhỏ, bắt cởi quần áo. Tôi run lên. Đời tôi chưa từng nghĩ có một lúc mình sẽ nhận sự xúc phạm lớn đến vậy.

Thấy chiếc khuy quần, người đàn bà cũng nghi ngờ đó là một thiết bị ghi âm, ghi hình nguỵ trang nào đó. Người đàn bà vừa khám vừa hét lên những câu chuyện không đầu không cuối. Hóa ra bà là người thân của một trong 4 người Đồng Tâm vừa bị bắt giữ. Mọi sự tức giận, sợ hãi trong tôi bỗng tan biến. Trên gương mặt khắc khổ, giận dữ của người đàn bà hiện lên sự hoang mang, sợ hãi. Tôi hợp tác để bà khám bất kỳ gì bà muốn và hỏi chuyện. Bà ứa nước mắt kể rằng đời mình chưa bao giờ phải chứng kiến cảnh bắt người như hôm qua. Người phụ nữ ấy không chịu đựng nổi.

Tôi chợt nhận ra, họ cũng là người nông dân giống như bố mẹ mình, ẩn sau những câu nói ác khẩu là sự hiền lành, đôn hậu, và thậm chí là yếu đuối. Tôi bình tĩnh trò chuyện cùng bà.

Nhưng cuộc nói chuyện liên tục bị ngắt quãng. Những người xung quanh chen vào, tiếp tục đòi khám người lần nữa, bắt tôi mở khóa điện thoại để lục soát, cáo buộc tôi là “người được cài vào thôn”. Nhưng bà gạt họ đi, và cứ thế kể. Người ta mắng bà: “Cô có biết đây là ai không mà cô kể?”. Bà mặc kệ.

Người phụ nữ ấy có một khát khao được nói, và những gì bà cần, là một sự lắng nghe.

Sau một hồi, những người xung quanh không để bà nói tiếp nữa. Họ quyết định đuổi tôi ra khỏi xã, tịch thu ghi âm và điện thoại. “Nếu các bác không nói với cháu, thì vĩnh viễn không có ai biết chuyện gì đã xảy ra ở đây” – tôi cố gắng thuyết phục. Có một lúc, tôi thậm chí đã nghĩ đến việc sẽ ở lại đây đêm nay: họ sẽ giam tôi, nhưng như thế cũng không sao, tôi sẽ biết được thêm nhiều điều. Tôi không còn thấy sợ người dân nữa. Chỉ có một vấn đề, là họ không đồng ý để tôi gọi một cuộc điện thoại về nhà cho gia đình yên tâm.

Rồi một ai đó để ngỏ khả năng, rằng nếu tôi là phóng viên đàng hoàng của một cơ quan báo chí tử tế, thôn Hoành sẽ chào đón tôi quay lại. Vài thanh niên áp giải tôi ra ngoài thôn. Tôi lấy giấy tờ và xin quay lại.

Lại đi qua những đoạn đường đầy ắp người, nhưng chào đón tôi lúc này là những ánh mắt đã dịu lại. Thấy tôi quay lại, hết phụ nữ, lại đến đàn ông đều muốn kể chuyện. Có người vì xúc động mà nói đứt quãng không thành câu. Họ đã chấp nhận nói chuyện điện thoại với toà soạn và cam kết: đảm bảo an toàn tuyệt đối để tôi trở về.

Câu chuyện tôi lắng nghe sau đó không như những gì bên ngoài đang run sợ. Họ khẳng định không tưới xăng lên người cảnh sát. Họ còn cử riêng một gia đình hàng ngày nấu cơm cho các cán bộ ăn, dẫn cán bộ đi vệ sinh, tắm rửa.

Họ còn muốn kể câu chuyện nhiều hơn như thế với tôi, nhưng trời sắp tối, họ muốn đưa tôi ra về để được an toàn. Tôi hiểu vẫn còn có những người cực đoan không thấy thoải mái với một người lạ trong thôn vào lúc này.

Tôi đã bắt đầu hành trình trong thôn Hoành bằng sự sợ hãi đến cứng người, nhưng ra về với tâm trạng bình yên. Đưa tôi ra khỏi thôn, những người đàn ông, phụ nữ bỏ gậy xuống, rời đi những ánh mắt giận dữ, họ lại trở về với sự đôn hậu của những người dân quê. Sau những đống sỏi đá ngổn ngang đổ xuống làm chướng ngại vật là những biểu ngữ: “Không chống chính quyền”.

Nếu hôm ấy, tôi đi thẳng về Hà Nội sau khi được thả ra, tôi sẽ vĩnh viễn chỉ nhìn thấy một nửa bức tranh. Và đó là nửa tối ám, đầy những ánh mắt long lên vì giận dữ, đầy cảm xúc tiêu cực. Nhưng tôi đã quay lại, và chủ động đối thoại, để may mắn được nhìn thấy sự hồn hậu và nỗi khát khao được bày tỏ trong chính những gương mặt ấy.

Khoảng cách giữa một con người đầy hằn học cầm gậy gỗ, với một con người chất phác của nông thôn, dường như chỉ là một cuộc trò chuyện cầu thị. Nhiều người trong số họ chỉ có nhu cầu được lắng nghe.

Một cuộc đối thoại thực sự công khai đang được chờ đợi.

Bảo Hà.

Bài viết mới


Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook Kim on Twitter

Hữu Ngọc từ điển văn hóa Việt


HỮU NGỌC TỪ ĐIỂN VĂN HÓA VIỆT
Hoàng Kim
Nhà văn hóa Hữu Ngọc, sách và đời, là từ điển văn hóa Việt. Cụ Hữu Ngọc sinh năm 1918 tại Hà Nội, gốc gia đình ở huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Cụ là ông tiên giữa đời thường, dạo chơi trong văn hóa Việt, trọn trăm năm vẫn trí tuệ, minh triết. “Lãng du trong văn hóa Việt Nam” của cụ Hữu Ngọc học mà chơi, chơi mà học. Ở đó là một rừng thiêng cổ tích văn hóa Việt, một từ điển bách khoa toàn thư, đậm đặc thông tin, ít chữ nhiều nghĩa, là “văn chương điện tín, mỗi chữ là một thông tin” (chữ của Trần Đăng Khoa). Hai bộ sách lớn tiếng Việt và tiếng Anh đều dày 1048 trang và rất chuẩn mực. Với 357 bài là 357 từ khóa văn hóa Việt phủ kín ba mảng lớn: Đất Việt (103 bài), Lịch sử – Truyền thống (150 bài) và Văn hóa – Bản sắc dân tộc – Văn học – Nghệ thuật (122 bài). Sách soi thấu nhiều ngõ ngách lịch sử văn hóa. Ta tìm trong những câu chuyện ông kể như mừng rỡ gặp được người thầy thông tuệ và  gặp lại chính mình. Dạo chơi cùng cụ Hữu Ngọc  “Lãng du trong văn hóa Việt Nam”, lắng nghe cụ trò chuyện qua trang sách, bạn sẽ thấu hiếu câu nói của Bruno – nhà ngoại giao Bỉ:  “Tôi bàng hoàng vì chỉ nửa giờ gặp ông Hữu Ngọc, tôi hiểu văn hoá Việt Nam bằng cả bấy lâu tôi đọc bao nhiêu cuốn sách và tìm hiểu nền văn hoá của dân tộc ông. Tôi vô cùng cảm ơn ông”. Loạt tác phẩm của nhà văn hóa Hữu Ngọc là ngọc cho đời “Phác thảo chân dung văn hóa Pháp,” “Mảnh trời Bắc Âu,””Văn hóa Thụy Điển,” “Hồ sơ văn hóa Mỹ,” “Chân dung văn hóa Nhật Bản.” “Chìa khóa để biết và hiểu Lào”… Cuộc đời và trang sách của cụ là nhịp cầu văn hóa nối dân tộc Việt với thế giới.

NHÀ VĂN HÓA HỮU NGỌC, ĐỜI VÀ SÁCH

Nhà văn hóa Hữu Ngọc sinh ngày 1 tháng 1 năm 1918 tại Thuận Thành, Bắc Ninh, sống và làm việc tại Hà Nội. Ông là tác giả của hai bộ sách lớn Lãng Du Trong Văn Hoá Việt Nam và “Wandering through Vietnamese culture“. Bản tiếng Anh của sách này đã được tặng Giải Vàng sách Việt Nam 2006.  Nhà văn hóa Hữu Ngọc nay đã 98 tuổi nhưng ông vẫn đi và viết đều đặn. Cuộc đời ông giống như một nhịp cầu nối văn hóa Việt Nam với thế giới và thế giới với Việt Nam.

Tốt nghiệp tú tài triết học, Hữu Ngọc vào học trường Luật. Ngày ấy học luật để ra làm quan nhưng ông lại rẽ ngang sang nghề dạy học. Ông muốn đem lời nói từ trong con tim đến với học trò trong cảnh mất nước. Kháng chiến chín năm chống Pháp, ông làm Trưởng ban giáo dục tù, hàng binh Âu-Phi, có dịp lặn lội đi khắp các trại để làm công tác địch vận, giúp cho những người lính Âu-Phi trong đội quân xâm lược của thực dân Pháp hiểu về cuộc kháng chiến chính nghĩa và nền văn hóa của Việt Nam.

Sau năm 1954, ông có nhiều dịp đi công tác và hội thảo ở nhiều nước trên thế giới, đem tiếng nói chính nghĩa, yêu lao động, yêu hòa bình của dân tộc Việt Nam đến với bạn bè quốc tế, làm cho họ hiểu đất nước và nền văn hóa của Việt Nam hơn.

Trong thời kỳ đổi mới, nhà văn hóa Hữu Ngọc lại càng “được mùa” nói chuyện văn hóa. Sức lan tỏa của những cuốn sách do ông viết làm bạn đọc gần xa tìm đến ông. Mỗi năm ông thường có trên 50 buổi nói chuyện cho người nước ngoài nhất là Mỹ, Pháp, có buổi lên đến hơn một trăm người nghe. Nhiều vị nguyên thủ quốc gia, nghị sĩ, giáo sư nhiều nước khi đến Việt Nam đã dành thời gian để nghe ông nói về văn hóa Việt Nam. Người nghe đặc biệt thích thú khi được ông phân tích quá trình hình thành và đặc điểm của nền văn hóa Việt Nam.

Ông đã được Nhà nước Việt Nam tặng Huân chương Chiến công và Huân chương Độc lập, Chính phủ Thụy Điển tặng Huân chương “Ngôi sao phương Bắc”

Hữu Ngọc với tri thức sâu rộng, lại sử dụng thành thạo tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức, sử dụng được chữ Hán, trên nữa thế kỷ cầm bút, ông đã góp cho đời một loạt tác phẩm viết về kho tàng văn hóa phong phú của nhiều dân tộc. Đó là “Phác thảo chân dung văn hóa Pháp,” “Mảnh trời Bắc Âu,””Văn hóa Thụy Điển,” “Hồ sơ văn hóa Mỹ,” “Chân dung văn hóa Nhật Bản.” “Chìa khóa để biết và hiểu Lào.”Ông dốc sức giới thiệu văn hóa Việt Nam ra nước ngoài, viết đều đặn hơn chục năm trời mục “Mạn đàm truyền thống” cho Le Courrier Viet Nam (tiếng Pháp) và Vietnam News (tiếng Anh). Mỗi bài viết của ông là một câu chuyên nhỏ dắt người đọc đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác về nền văn hóa phong phú của Việt Nam.

Những bài viết đó của Hữu Ngọc đã được tập hợp thành một cuốn sách quý “Phác thảo chân dung văn hóa Việt Nam” bằng hai thứ tiếng Anh và Pháp. Cuốn sách đã được dùng làm món quà quý trao tặng các nguyên thủ quốc gia đến tham dự Hội nghị các nước có sử dụng tiếng Pháp lần thứ bảy tại Hà Nội năm 1997.

Tác phẩm của Hữu Ngọc đã được tập hợp thành bộ sách lớn “Lãng du trong văn hóa Việt Nam.” do Nhà Xuất bản Thanh Niên ấn hành năm 2007, phát hành bởi Fahasa, dày 1.048  trang. Cuốn sách tiếng Anh  “Sketches for a Portrait of Vietnamese Culture”  do Nhà Xuất bản Thế Giới xuất bản  lần đầu năm 1995 tái bản lần 2 năm 1997, lần 3 năm 1998; tái bản lần 4 năm 2004  và đổi thành tên mới “Wandering through Vietnamese culture”, tái bản lần 5, lần 6, lần 7, lần 8  vào các năm 2005, 2006, 2007, 2008 và đúc kết thành bộ sách lớn năm 2010. Thành công của cuốn sách tiếng Anh vượt ra ngoài sự mong đợi của tác giả, trở thành món quà tặng quý giá cho những ai muốn tìm hiểu về văn hóa Việt Nam.

Nhà văn Trần Đăng Khoa trong Vài nét Hữu Ngọc đã kể chuyện về ông ở đời thường: “Ngoài những trang viết, Hữu Ngọc còn có nhiều cuộc giao lưu quốc tế. Tôi cũng đã nhiều lần ngồi dự những cuộc gặp gỡ của ông. Những lúc ấy, Hữu Ngọc rất linh hoạt, khi nói tiếng Anh. Lúc chuyển tiếng Pháp, lúc lại quặt sang tiếng Đức. Ai hỏi ông bằng tiếng nước nào thì ông trả lời bằng tiếng nước đó. Hữu Ngọc có khả năng thôi miên người nghe bằng khối lượng kiến thức khá uyên bác của mình. Chúng ta hãy nghe chính những khán giả của ông bộc lộ:

Xin vô cùng đa tạ bài nói tuyệt vời của ông Hữu Ngọc ngày hôm qua ở Trung tâm văn hoá Nhật Hawii. Tất cả chúng tôi đều bị cuốn hút nghe ông kể về dĩ vãng và hiện tại ở Việt Nam (Paul Rehob Chủ tịch Phòng Thương mại Việt Mỹ ở bang Hawaii – Mỹ)

Bài thuyết trình của ông Hữu Ngọc thực là hoàn hảo. Có một thành viên trẻ của đoàn chúng tôi còn bảo phần của ông là điểm hay nhât của cả chương trình nói chung. Bản thân tôi thấy ông Hữu Ngọc sử dụng kỹ năng sư phạm hiện đại rất điêu luyện cho vốn hiểu biết sâu sắc của mình. Tôi ước ao giá được nghe bản thuyết trình này sớm hơn, khi tôi bắt đầu công tác ở Hà Nội. Một bài thuyết trình thật sáng sủa” (Bjorn Lasson, Phụ trách đoàn 30 chuyên gia và nhà doanh nghiệp Thuỵ Điển trong chuyến thăm Việt Nam)

Đối với nhà trí thức Việt Nam ưu tú này – Ông Hữu Ngọc ngôn ngữ của chúng ta, di sản nghệ thuật của chúng ta, toàn thể nền văn hoá của chúng ta, là bộ phận của nền văn hoá riêng của ông, bên cạnh nền văn hoá dân tộc, gắn chặt nhau và cùng toả sáng (Charles Foruniau Tiến sĩ sử học Pháp- Hội trưởng Hội Pháp Việt hữu nghị)

Ông Hữu Ngọc quả là một người phi thường – điểm nổi bật nhất ở Hội nghị là nghe ông Hữu Ngọc nói chuyện

Hay đến sửng sốt

Hữu Ngọc gây ấn tượng mạnh trong tôi. Rát khiêm tốn! Rất thông minh! Rất khoan dung!

Tôi bàng hoàng vì chỉ nửa giờ gặp ông Hữu Ngọc, tôi hiểu văn hoá Việt Nam bằng cả bấy lâu tôi đọc bao nhiêu cuốn sách và tìm hiểu nền văn hoá của dân tộc ông. Tôi vô cùng cảm ơn ông” (Bruno- Nhà ngoại giao Bỉ)

Ta có thể còn gặp rất nhiều những tiếng reo vui như thế của bạn bè quốc tế trong các trang báo chí nước ngoài. Tôi cũng muốn nói thêm một điều gì đó về ông. Nhưng rồi tôi lại im lặng. Khẳng định điều gì về ông bây giờ, dường như là …quá sớm. Bởi Hữu Ngọc đang sung sức. Ông vẫn đang đi. Trước mặt tôi vẫn thấp thoáng tấm lưng ông. Tấm lưng lầm lụi trong gió bụi…”

SÁCH HỮU NGỌC, CẢM NHẬN CỦA  BẠN ĐỌC

Vinabook.com giới thiệu sách Lãng Du Trong Văn Hoá Việt Nam:

Bằng con mắt của một người thuần Việt, Hữu Ngọc nắm bắt được những vẻ đẹp của những nền văn minh nhân loại. Và bằng con mắt của nhân loại, ông phát hiện ra được những tính chất đặc sắc của Việt Nam mà nhiều khi người Việt ta lại không thể nhìn ra.

Bàn về các làng quê truyền thống Việt Nam, Hữu Ngọc cho rằng, do chiến tranh, do kinh tế thị trường, lại ảnh hưởng văn hoá phương Tây, các làng truyền thống của Việt Nam, hầu hết đã ít nhiều bị “ô nhiễm” văn hoá. Có chăng, chỉ còn mỗi làng Đường Lâm. Cũng theo Hữu Ngọc, Đường Lâm có thể xem là mẫu làng truyền thống Việt Nam duy nhất còn lại khá hoàn hảo, ít bị ô nhiễm nhất. Nhà nghiên cứu văn hoá Thái Lan Thainaitis nói với Hữu Ngọc rằng “cần thiết phải cảnh báo để người dân nhận thức về di sản văn hoá của mình trước khi nó bị lãng quên và bị thời gian hủy diệt. Đường Lâm vừa là thắng cảnh đẹp, vừa được tạo nên bởi chính bàn tay của người Việt Nam – đó chính là văn hoá văn minh của nước Việt Nam có một lịch sử lâu dài… Cảnh đẹp Hạ Long là do thiên nhiên tạo nên, không giống như Đường Lâm chỉ do con người tạo dựng”. Cảnh quan Đường Lâm dường như vẫn giữ được vẻ xưa. Nói như hoạ sĩ Phan Kế An, trước kia theo tục lệ làng, không ai được xây dựng nhà cao hơn mái đình. Tuy lệ ấy đã nhạt đi, có vài ba nhà cao tầng đựơc xây nhưng không đáng kể. Cái chính ít xây là do dân nghèo, nông nghiệp là chính, buôn bán ít, nghề phụ chỉ có một số nghề truyền thống: giò chả, nuôi gà, làm kẹo bột, chè lam, bánh bỏng, dệt vải và làm tương. Đưa ra mấy thông tin như thế, rồi Hữu Ngọc bình một câu sắc lẻm mà không kém phần chua xót. May quá! không ngờ chính “cái nghèo đã cứu vớt được một di sản văn hoá”.

Không ít người đã đi Côn Minh bằng đường xe lửa. Nhưng không mấy ai để ý đến con đường sắt này. Trong một bài viết rất ngắn về Lào Cai, mảnh đất biên cương nơi địa đầu Tổ quốc, Hữu Ngọc cho ta biết: “Đường xe lửa Lào Cai – Côn Minh, hoàn thành năm 1910, mà thực dân Pháp khoe là một kỳ công kỹ thuật và một thắng cảnh du lịch. Đây là một trong những đường xe lửa ngoạn mục nhất và hiểm trở nhất Châu Á. Nó băng qua những quang cảnh đa dạng, khi thì đi sâu vào rừng nhiệt đới bao la, khi thì trèo những ngọn núi cheo leo, khi thì uốn khúc ở bên đáy vực thẳm”. Nếu chỉ dừng lại như thế, đoạn văn chẳng ấn tượng gì, cũng không có giá trị gì ngoài một chi tiết thông tin về năm ra đời của con đường sắt. Nhưng Hữu Ngọc đã đẩy lên một nấc nữa: “có điều cuốn này không nói là xây dựng tuyến đường này, công ty xe lửa Vân Nam của Pháp đã làm chết năm vạn cu-li Trung Quốc và Việt Nam”. Và thế là ngay lập tức, ta sẽ nhìn con đường sắt ấy bằng một con mắt khác.

Cũng đề cập đến mảnh đất địa đầu tổ quốc này, Hữu Ngọc còn bàn đến một địa danh với mấy tình tiết khá thú vị. Qua bài viết của Hữu Ngọc, ở thị xã Lào Cai, theo nhân dân kể lại, thì địa danh Cốc Lếu cũng mang ý nghĩa bảo tồn Văn hoá Việt: Cốc Lếu có nghĩa là gốc gạo. Đồn rằng theo lệnh Minh Mạng, người Việt ở đâu đều phải trồng cây gạo để đánh dấu lãnh thổ. Hoá ra thời xưa, cha ông ta đã cắm mốc lãnh thổ… bằng cây.”

Lãng Du Trong Văn Hoá Việt Nam (tái bản) - nhà sách trực tuyến Sức Mạnh Ngòi Bút

Sách hay Bùi Việt Thắng giới thiệu sách Lãng du trong văn hóa Việt Nam:
Cuốn sách có độ dày 1.030 trang (in khổ lớp 15 x 22,7), nó giống như một “bách khoa toàn thư” thu nhỏ, một cẩm nang văn hóa Việt Nam tiện lợi và bổ ích không chỉ cho bạn bè quốc tế muốn hiểu văn hóa Việt Nam mà còn tối cần thiết cho chính mỗi người Việt Nam chúng ta nếu muốn hiểu rõ cội nguồn, truyền thống và tương lai văn hóa dân tộc.

 Trước khi “Lãng du trong văn hóa Việt Nam” với vai trò là “sứ giả văn hóa”, Hữu Ngọc đã chu du tới các nền văn hóa lớn như Pháp, Mỹ và các nước Bắc Âu. Tôi rất tâm đắc với ý kiến của nhà thơ Trần Đăng Khoa: “Hữu Ngọc là người Việt Nam, nhưng ông cũng là công dân của cả một thế giới rộng lớn. Ông kết hợp và tận dụng được cùng một lúc hai “nguồn lực” đó (vài nét về Hữu Ngọc – Lời đầu sách).

 “Lãng du trong văn hóa Việt Nam” không phải là một công trình nghiên cứu văn hóa theo lối hàn lâm, cũng không phải là một cuốn sách chuyên khảo dạng chuyên đề mà có thể coi như là một tập bút ký hoành tráng với tổng số 357 bài (mỗi bài chỉ khoảng 2,5 trang và ngót 1.000 chữ).

Cuốn sách được cấu tạo bởi 3 mảng lớn: Đất Việt (103 bài), Lịch sử – Truyền thống (150 bài) và Văn hóa – Bản sắc dân tộc – Văn học – Nghệ thuật (122 bài). Một cuốn sách đồ sộ, “nặng ký”, nhưng đọc không mệt, không chán vì lối viết của Hữu Ngọc vốn “chữ ít nghĩa nhiều”, nói một cách khác là chữ ít nhưng lượng thông tin nhiều.

Thật không quá lời và có lẽ cũng không làm nhà văn hóa, “sứ giả văn hóa” Hữu Ngọc tự ái khi Trần Đăng Khoa nhận xét đây là kiểu “văn chương điện tín. Mỗi chữ là một thông tin”. Đúng là một cuộc lãng du chữ nghĩa trong thế giới văn hóa Việt Nam qua bàn tay nghệ nhân Hữu Ngọc với những “bí kíp” tuyệt chiêu. Bạn bè quốc tế và cả người Việt Nam sẽ làm một cuộc lãng du trên một đất nước có hàng nghìn năm lịch sử, có bề dày văn hóa như Việt Nam.

Đặc sắc nhất của “Lãng du trong văn hóa Việt Nam” của Hữu Ngọc, theo tôi, tập trung rõ nhất ở phần thứ ba cuốn sách với tựa đề: Văn hóa – Bản sắc dân tộc – Văn học – Nghệ thuật.

Như chúng ta biết, văn học  nghệ thuật là bộ phận quan trọng của văn hóa, qua văn học nghệ thuật mà người ta nhìn thấu và cảm thức được văn hóa của một dân tộc khác. Mặt khác giao lưu văn hóa của nhân loại cũng có nhiều cách thức, con đường khác nhau nhưng qua và nhờ văn học nghệ thuật là con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất (chẳng hạn mấy chục năm đầu thế kỷ XX người Việt Nam đã hiểu được thần thái văn hóa Pháp qua Victor Hugo).

Trong phần quan trọng này, khi bàn về bản sắc văn hóa dân tộc nếu chú ý chúng ta thấy Hữu Ngọc đã tiến hành phương pháp so sánh A với B để thấy rõ A hơn.

Vì thế không có gì lạ Hữu Ngọc đã viết một loạt để so sánh, để tìm ra cái giống cũng như cái khác của văn hóa Việt Nam so với thế giới: Giao lưu văn hóa Đông Tây, Cái nhìn của hôm nay, Giao thoa văn hóa Đông Tây, Kết hợp những giá trị văn hóa Đông Tây, Gặp gỡ văn hóa phương Tây, Sợi dây vô hình Đông Tây, Giao thoa văn hóa…

Một cách đặt vấn đề như thế là khoa học và nhân văn bởi vì Việt Nam đang trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế, chúng ta không thể đóng cửa để tự mình “mẹ hát con khen hay” hoặc hơn thế “ta là ta mà cứ mê ta” mãi được. Từ cuối thế kỷ XX và đặc biệt ở thế kỷ XXI này, mỗi cư dân trên trái đất này đều thấm nhuần một sự thật giản dị “Trái đất là ngôi nhà chung của thế giới”. Cả nhân loại đã hát chung bài Chúc mừng năm mới, đã cùng đón Lễ Giáng sinh, Lễ tình yêu…

Hữu Ngọc trong công trình “Lãng du trong văn hóa Việt Nam” cũng đã bộc lộ một thái độ khoa học trung thực khi một mặt đề cao “tính cộng đồng của người Việt” như một nét trội trong tính cách, bản sắc dân tộc nhưng mặt khác cũng đặt vấn đề nghiêm túc “tất cả mọi truyền thống đều là thay đổi”.

Đi sâu vào vấn đề này tác giả đã có sự kiến giải khá thuyết phục: “Làm thế nào để có thể bảo tồn được truyền thống dân tộc trong bối cảnh một nền văn hóa toàn cầu viễn thông tin học có khuynh hướng phá vỡ các đặc điểm dân tộc? Phải chăng phải bám một cách máy móc vào những giá trị cũ, coi như bất di bất dịch hay chỉ cần giữ cái cốt, cái tinh túy, mà biến đổi theo hơi thở của nhịp sống”.

Trên tinh thần này toàn bộ 357 bài viết của Hữu Ngọc trong “Lãng du văn hóa Việt Nam” đã làm phát lộ được “hơi thở của nhịp sống” văn hóa Việt Nam. Ai đó nhận xét đúng về cách viết về văn hóa của Hữu Ngọc là “ròng ròng sự sống” mà vẫn uyên thâm, uyên bác.

Khi bàn về bản sắc văn hóa dân tộc Hữu Ngọc cũng đã đứng trên lập trường khoa học biện chứng để bàn tới vấn đề “tiếp biến văn hóa”. Theo cách lý giải của tác giả, trong quan niệm hiện nay “đối thoại văn hóa” là một phương thức tiếp biến văn hóa.

Đã có một thời gian khá dài chúng ta diễn trò “độc thoại” trên nhiều lĩnh vực, trong đó có văn hóa. Đã đến lúc, do hoàn cảnh lịch sử “thiên thời địa lợi nhân hòa”, sự giao lưu văn hóa của Việt Nam với thế giới đã rộng mở và chính giao lưu tạo ra hiện tượng tiếp biến (tiếp thu và cải tiến) văn hóa.

Đọc “Lãng du trong văn hóa Việt Nam” thấy thêm một Hữu Ngọc nhạy cảm và tinh tế khi bàn về văn học nghệ thuật. Những bài viết của ông về lĩnh vực này vừa thể hiện một Hữu Ngọc – nhà nghiên cứu vừa thể hiện một Hữu Ngọc – người cảm thụ sành điệu. Những bài viết về thơ chữ Hán, thơ Đường, Truyện Kiều, về tranh Hàng Trống, về nghệ thuật gốm, về âm nhạc, điện ảnh… đều tránh được lối “cưỡi ngựa xem hoa” nhưng cũng không quá tỉa tót tỉ mỉ.

Chủ yếu là ông đi tìm cái “thần thái” của đối tượng bằng một lối viết tung bút – nghiêng về chấm phá, gợi mở suy tư và gieo tranh luận. ở vào độ tuổi chín mươi (ông sinh năm 1918) Hữu Ngọc vẫn rất trẻ trung và dí dỏm khi viết về Thế hệ ve sầu Choai choai… ở đó tác giả thể hiện mình như một nhà sư phạm và như một nhà tâm lý học.

Thấu thị bản chất sự vật đã được coi là thành công của người viết nhưng dự cảm được bước đi và tương lai của nó mới quan trọng, nói cách khác đó là năng lực dự báo khoa học của người nghiên cứu (cũng như sáng tác).

Hữu Ngọc trong “Lãng du trong văn hóa Việt Nam” cũng là một nhà dự báo khi hướng tới những vấn đề văn hóa thế kỷ XXI? Thế kỷ XXI có cần đến thơ nữa không? Văn hóa và chiến tranh văn hóa.

Đọc “Lãng du trong văn hóa Việt Nam” của Hữu Ngọc có cảm giác yên tâm về cái gọi là “tương lai văn hóa đọc” trong sự cạnh tranh của “văn hóa nghe nhìn” mà xã hội đang rất quan tâm. Những cuốn sách như thế vẫn rất cần thiết, bổ ích với chúng ta, trong đó có “Lãng du trong văn hóa Việt Nam”.

Nhà sử học Phan Huy Lê cảm nhận: “Hữu Ngọc là một nhà văn, nhà báo nổi tiếng về những tác phẩm giới thiệu văn hóa nước ngoài vào Việt Nam và văn hóa Việt Nam ra nước ngoài. Trong cuốn sách này, tác giả xuất phát từ hiện thực hàng ngày ở Việt Nam để đi ngược lại nguồn gốc và đi sâu tìm hiểu tính độc đáo của văn hóa Việt Nam.
Nhà báo Thái Lan Don Pathan viết: “Mặc dù Việt Nam bị đảo lộn trong mấy thập kỷ qua bởi những người khách nước ngoài, Hữu Ngọc đã thuyết phục độc giả là ở đất nước hơn 80 triệu dân này có một nền văn hóa độc đáo sẽ không bao giờ mất.
Bạn Phù Vân Vô Thường ở Văn phòng Dự án Văn hóa Giáo dục Sách hay TP. Hồ Chí Minh giới thiệu:

Lãng du trong văn hóa Việt Nam có thể xem như là một cuốn nhật ký về văn hóa dân tộc, trong đó có những bức tranh đa diện về đất nước, con người Việt Nam. Với một lối văn mộc không son phấn, văn hóa Việt Nam được nhà văn hóa Hữu Ngọc phác họa một cách sắc nét qua những dòng ký sự đặc biệt lôi cuốn người đọc.

Với một cặp mắt đầy tinh tế, những dòng ghi chép ngắn của tác giả đã đưa không gian văn hóa Việt Nam hiển hiện trước mắt bạn đọc. Có thể đấy là một vùng đất biên cương xa vắng, hoặc là một nơi sát cạnh thủ đô và thậm chí là cả giữa chốn thị thành phồn hoa.

Từng bước, ông dẫn dắt người đọc dọc theo chiều dài của đất nước lãng du vào Lam Kinh của triều Lê. Rồi quay ra làng Nhị Khê, thăm quê hương Nguyễn Trãi. Xuống La Xuyên xem đồ gỗ chạm khắc tinh vi. Đến Vạn Phúc hỏi về nghề dệt lụa Hà Đông. Sang vùng Kinh Bắc nghe hát quan họ. Về xứ Đoài viếng mộ Tản Đà. Trở lại chiến khu xưa Định Hóa, bồi hồi nhớ bao kỷ niệm. Lên vùng Tây Bắc xa xôi như Lào Cai thưởng thức bài hát đưa ma của người Mông Sapa, nếm trải hương vị của núi rừng Tây Bắc. Về tận Cao Bằng, thăm xứ sở người Tày, tìm hiểu hội xuống đồng của họ. Qua Lạng Sơn ăn món khau nhục, nghe điệu hát sli của người Nùng. Ngược Sơn La tìm hiểu tục ngữ Thái. Đến Mường Tè trò chuyện với người La Hú… Lang thang vào Ninh Thuận xem đồ gốm Chăm thô ráp, nghe câu đố Chăm ý nhị… Về Văn Miếu để hiểu được truyền thống hiếu học của người xưa; vãn cảnh chùa chiền Phật giáo, đạo quán Lão giáo, nhà thờ Thiên Chúa giáo… Ông còn dẫn người đọc đến với những tín ngưỡng tôn giáo như thờ cúng tổ tiên, chữ hiếu, chữ nghĩa đến những tục đốt vàng mã…, rồi mở rộng ra toàn cầu hóa và tâm linh… Bên cạnh đó, những nét văn hóa, bản sắc dân tộc, văn học nghệ thuật cũng được ông đề cập một cách sâu rộng.

Không chỉ là cảnh đất nước, Lãng du trong văn hóa Việt Nam còn đưa bạn đọc theo chân tác giả đi đến những phương trời xa. Gần nhất là những vùng đất sát biên giới như Côn Minh, xa hơn là châu Âu, châu Mỹ. Nhưng những hành trình đó vẫn gắn liền với bản sắc văn hóa Việt như những chuyện bảo tồn giá trị gia đình của người Việt Nam ở nước ngoài hay ý nhị như câu chuyện chào cờ của người Việt và người Pháp.

Trong tác phẩm này, văn hóa Việt Nam được ông phác họa một cách sắc nét qua từng dòng ký sự. Với lối viết ngắn gọn, súc tích, nhà văn Hữu Ngọc lôi cuốn bạn đọc bằng hiểu biết và xúc cảm. Tất cả những năng lực ấy ông bộc lộ qua hai phương tiện: viết và nói bằng một tư duy rất hiện đại. Với một lối văn mộc không son phấn, văn hoa, cốt lõi ở văn ông là nội dung. Sự mộc mạc, hồn nhiên ở từ ngữ, cách thể hiện dung dị và ngộ nghĩnh gây nên những bất ngờ thú vị là tố chất dễ thấy trong Lãng du trong văn hóa Việt Nam.

Đây là một cuốn nhật ký văn hóa, không phải là “trường thiên đại luận” về văn hóa theo cung cách hàn lâm, mà là bức tranh đa diện về đất nước, con người Việt Nam. Dưới góc nhìn của ông, con người nông thôn nghĩa tình đến thế, họ sống thật bình dị mà những ai gần gũi họ mới thấy hết được chất chân quê… Tất cả được gạn lọc qua cảm thụ của một tâm hồn tinh tế – nhà văn, nhà văn hóa Hữu Ngọc sau hơn 50 năm cầm bút.

Sinh năm 1918, nhà văn hóa, nhà văn Hữu Ngọc nay đã ở tuổi “xưa nay hiếm”, thế nhưng sức đi, sức viết của ông như nằm ngoài cái khái niệm thời gian. Nói như nhà thơ Trần Đăng Khoa thì ông giống như: “một dòng sông cuồn cuộn luôn chảy xiết”. Và dòng sông đó đang chuyển tải những nét đẹp của văn hóa Việt Nam đi khắp thế giới.

Chính vì thế, nhiều người ví Hữu Ngọc như là một người xuất khẩu văn hóa Việt đến với bạn bè bốn phương. Người Việt Nam đọc được những gì về văn hóa của chính mình trong cuốn sách giới thiệu văn hóa Việt cho người nước ngoài? Đó là sự choáng ngợp trước vẻ đẹp của quê hương, của văn hóa mà đôi lúc vì quá quen thuộc nên nhiều người đã đánh mất đi phần nào.

Và Hữu Ngọc đã làm một công việc tưởng chừng kỳ lạ, “nhập khẩu” vào Việt Nam chính văn hóa Việt Nam và chuyến “nhập khẩu” này đã như lời nhắc nhở về một niềm tự hào mà mỗi con người Việt cần phải nâng niu và giữ gìn trong suốt cuộc đời mình.”

Một bạn đọc khác nhận xét:
“Không phải sách nghiên cứu cũng không phải sách hướng dẫn du lịch nhưng Lãng du trong văn hóa Việt Nam chứa đựng tất cả những nét cơ bản nhất mà người đọc cần để biết thêm về văn hóa, con người Việt Nam.“

HỮU NGỌC,  PHO TỪ ĐIỂN VĂN HÓA VIỆT

Ví như bói Kiều, bạn có thể mở một mục bất kỳ trong bộ sách lớn của Hữu Ngọc để được vui đắm mình vào việc tìm hiểu một vùng đất hoặc một vấn đề lịch sử, truyền thống, văn hóa, bản sắc dân tộc, văn học, nghệ thuật…  Nhưng hay nhất,  tốt nhất là khi bạn có một điều gì đó băn khoăn trong câu chuyện mà bạn có thể “hỏi” ở sách Hữu Ngọc thì nơi đó đúng là một pho từ điển văn hóa.Tôi mấy hôm nay đang tìm hiểu về Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương, mở trang sách Lãng du trong văn hóa Việt Nam đọc bài “Vịnh Hạ Long và thơ Hồ Xuân Hương” thấy cụ Hữu Ngọc viết:“Các cụ ta ngày xưa thường hay ngâm vịnh những cảnh đẹp, gửi tình cảm vào thiên nhiên. Vậy mà thơ cổ điển về vịnh Hạ Long thật hiếm, có lẽ vì nơi này hiểm trở, đi lại khó khăn, xa nơi kinh tế văn hóa của cả nước là đồng bằng Bắc Bộ. Thơ nổi tiếng nhất về vịnh Hạ Long có mấy bài của vua Lê Thánh Tông (kế kỷ 15) và chúa Trịnh Cương (thế kỷ 18). Năm 1952, nhân làm sách Hán Nôm ở Pháp, học giả Hoàng Xuân Hãn đã phát hiện ra trong mục “Quảng Yên” của cuốn sách chép tay “Đại Nam dư địa chí ước biên” năm bài thơ chữ Hán về vịnh Hạ Long của Hồ Xuân Hương . Những bài thơ này miêu tả phong cảnh vịnh Hạ Long khi thuyền len lõi qua những núi đá mờ ảo. Non non nước nước, chim bay cá lặn, cảnh sắc huyền ảo dưới bóng chiều tà. Để cảm thông với hồn thơ một nữ thi sĩ ngắm cảnh Hoa Phong (tên cũ vịnh Hạ Long) cách đây gần hai trăm năm, xin trích một bài (nguyên văn chữ Hán, bản dịch của Hoàng Xuân Hãn):

Phiến phàm vô cấp độ Hoa Phong
Lá buồm không vội vượt qua vùng Hoa Phong)
Triệu bích đan nhai xuất thủy trung
(Vách đá đứng, sườn núi đỏ, giữa nước trỗi dựng lên
Thủy thế mỗi tùy sơn diện chuyển
(Thế nước tùy chỗ theo núi mà biến chuyển)
Sơn hình tà kháo thủy môn thông
(Hình núi nghiêng mình, nép tựa cửa lạch, để nước thông qua)
Ngư long tạp xử thu yên bạc
(Cá rồng lẫn lộn, tăm khuất dưới tầng hơi nước mùa thu)
Âu lộ tề phi nhật chiếu hồng
(Âu cò cùng bay trong ánh đỏ mặt trời chiếu
Ngọc động vân phòng tam bách lục
(Cõi tiên có ba trăm sáu động ngọc và phòng mây
)
Bất tri thùy thị thủy tinh cung
(Đây không biết chốn nào là cung Thủy tinh).

Phải chăng Hồ Xuân Hương , tác giả bài thơ Hán thanh tao và bác học này, cũng chính là cô Hồ Xuân Hương của truyền thống dân gian với những bài thơ Nôm châm biếm, đáo để, dục tính? Dựa vào thư tịch cổ, ông Hoàng Xuân Hãn khẳng định đúng là thế. Và ông đã đưa ra chân dung  một Hồ Xuân Hương trữ tình (qua tập Lưu Hương Ký) mà phần thơ giễu cợt làm lúc thiếu thời chỉ là một sắc thái.”

Không ít người đã đi Hạ Long nhưng Hữu Ngọc chỉ bằng một vài nét chấm phá đã khái quát những tuyệt phẩm thơ cổ viết về danh thắng xinh đẹp Hạ Long giúp đánh thức sự tò mò tìm kiếm của những người nặng lòng với Hạ Long  và thi ca Việt thì ông quả thật là tài tình. Nhà văn hóa Hữu Ngọc còn đẩy lên một mức cao hơn khi viết “Vịnh Hạ Long và Hồ Xuân Hương”  giới thiệu kiệt tác thơ chữ Hán đặc sắc của bà chúa thơ Nôm, hé lộ năm bài thơ chữ Hán và tập Lưu Hương Ký của bà, cùng với sự phát hiện về một Hồ Xuân Hương ở sắc thái khác. Sách từ điển văn hóa của Hữu Ngọc rọi ánh sáng tìm kiếm một Hồ Xuân Hương khác, đó là bạn thân thiết của Nguyễn Du, giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn về  lịch sử và bản sắc văn hóa Việt.

Hữu Ngọc, sách và đời, là từ điển văn hóa Việt,

Hoàng Kim

Video nhạc tuyển

Lãng du trong văn hoá Việt Nam
Việt Nam quê hương tôi
KimYouTube

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter

Bàn cờ thế sự


BÀN CỜ THẾ SỰ.  Nga thắng lợi kép ở Syria. Nga có lãi lớn ở Syria ! (ảnh internet) Chuyên gia quân sự Lê Ngọc Thống trên báo Đất Việt đã bình luận:”Với những kết quả quân sự, chính trị có ý nghĩa tầm chiến lược như trên thì chỉ cần không sa lầy tại Syria là coi như Nga đã thắng lớn. Thực tế là Nga đã không sa lầy và không những thế, họ cũng thắng tại chiến trường Syria trong việc bảo vệ chế độ Assad và chống khủng bố. Và nếu cần phải nói thêm thì đây là thắng lợi kép của Nga“. Hoàng Kim đọc lại và suy ngẫm; xem thêm http://baodatviet.vn/quoc-phong/binh-luan-quan-su/nga-co-lai-lon-tai-syria-3331633/

Gạo Việt chất lượng và thương hiệu vẫn là điểm nóng hiện nay của gạo Việt. Châu Phi lắc đầu gạo Việt hết cửa? An An  báo Đất Việt trích dẫn tờ Diễn đàn doanh nghiệp lời TS. Đào Thế Anh, Phó Viện trưởng Viện Cây Lương thực và Cây Thực phẩm (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) cho biết: “Thách thức lớn nhất hiện nay là thay đổi thế chế quản lý ngành lúa gạo và chuỗi giá trị lúa gạo theo hướng quản lý chất lượng và thúc đẩy hợp tác liên kết trong chuỗi”. Trước đó, bàn về tiềm năng và chiến lược xuất khẩu gạo Việt, Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh đã phải thừa nhận gạo Việt đang bị cạnh tranh toàn diện cả về giá, chất lượng lẫn thị trường nhập khẩu. “Các nước sản xuất gạo lớn trên thế giới như Ấn Độ, Thái Lan và ngay cả Campuchia cũng đang cạnh tranh trực tiếp về giá với gạo Việt Nam. Lợi thế về giá của gạo Việt Nam có nhưng đang bị dồn vào thế phải cạnh tranh ở các thị trường xuất khẩu truyền thống lẫn thị trường trung lập (còn dư địa cạnh tranh)”, Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh cho biết;  xem thêm: http://baodatviet.vn/kinh-te/doanh-nghiep/chau-phi-lac-dau-gao-viet-het-cua-3331701/;  Suy nghĩ về hợp tác bảo tồn và phát triển nhớ lại các bài viết  Việt Nam Châu Phi hợp tác Nam Nam, Lúa Sắn Việt Nam đến châu Phi;

AntuongObama

Ấn tượng Obama. So sánh phản ứng của Trump và Obama về vụ khủng bố London. Tổng thống Trump gửi lời chia buồn tới Thủ tướng Anh, còn cựu tổng thống Obama gửi lời chia buồn tới nạn nhân và người nhà họ. “Tôi xin bày tỏ lòng tiếc thương những nạn nhân và gia đình gặp nạn ở London. Không hành động khủng bố nào có thể làm lung lay sức mạnh và sự lạc quan của người Anh, đồng minh của chúng tôi”, ông Obama viết lúc 20h ngày 23/3. Đăng tải của ông Obama nhận được hơn 114.000 lượt chia sẻ và hơn 600.000 lượt thích, gấp nhiều lần so với đăng tải của ông Trump, được hơn 18.000 lượt chia sẻ và 107.000 lượt thích. Nhà báo Hồng Hạnh, VNExpress đưa tin; xem thêm http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/so-sanh-phan-ung-cua-trump-va-obama-ve-vu-khung-bo-london-3560255.html

Bàn cờ thế sự Thế Giới và Việt Nam quan hệ mật thiết với tư duy, thể chế quản lý.

Hoàng Kim

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam 

Đọc lại và suy ngẫm


doclaivasuyngam201736

VỈA HÈ ĐỌC LẠI VÀ SUY NGẪM. ‘SOHA: Tư duy và tầm nhìn vỉa hè’, bài viết của Hiệu Minh và ảnh Phố M – Goergetown – Thủ đô Washington DC. Ảnh: HM. Đây là một bài viết sáng nay đáng suy ngẫm. ” Tôn Đản là của các quan  Nhà Thờ là của trung gian quần thần  Đồng Xuân là của thương nhân  Vỉa hè là của nhân dân anh hùng”. “Thời bao cấp nghèo khó đó kéo theo vỉa hè tiếp tục oằn lưng mang trên vai “sứ mệnh lịch sử buôn bán” trải dài hai thế kỷ. Dù sang thế kỷ 21 gần hai thập kỷ, hè phố trở thành cái nút thắt cản trở phát triển mà nặng nề nhất là Hà Nội. Gần đây với sự ra quân đồng loạt ở Hà Nội và HCM nhằm giành lại vỉa hè cho người đi bộ, nhất là biện pháp mạnh của ông Đoàn Ngọc Hải, Phó Chủ Tịch Q1 Thành phố Hồ Chí Minh và sau đó là ông Nguyễn Đức Chung, Chủ tịch TP. Hà Nội, được dư luận đồng tình”. Bài báo viết.

Lưu, đọc lại và suy ngẫm.

Hoàng Kim

Tài liệu dẫn

SOHA: Tư duy và tầm nhìn vỉa hè

Hiệu Minh 

Vỉa hè Hà Nội, Sài Gòn đã phát triển ngoài tầm kiểm soát. Đã tới lúc phải lập lại trật tự cho nó dù đã muộn.

Nhưng ra quân bắt cóc bỏ đĩa chưa đủ mà cần một triết lý về phát triển dài hạn. Đường phố không chỉ để bước chân người qua. Nếu thiết kế và quản lý tốt thì sẽ mang lại phồn vinh cho quốc gia.

Vỉa hè là của nhân dân anh hùng

Một thời bao cấp có chế độ phân phối hàng, các quan chức cao được mua ở cửa hàng trên phố Tôn Đản, cấp thấp chút mua ở phố Nhà Thờ.

Không biết mua bán ở đâu vì tem phiếu có hạn, đi chợ một lần là hết bay tiêu chuẩn, lại ngăn sông cấm chợ, hè phố trở thành “cửa hàng” cho thứ dân. Vì thế có mấy câu thơ vui vui

Tôn Đản là của các quan
Nhà Thờ là của trung gian quần thần
Đồng Xuân là của thương nhân
Vỉa hè là của nhân dân anh hùng

Người lam lũ sử dụng vỉa hè làm nơi mua bán rau cỏ, thực phẩm rẻ tiền, chè chén, kẹo lạc, thuốc lá hôi, hàng rong đủ kiểu, mà ít người nhớ ra rằng, vỉa hè thiết kế dành cho từ quan đến dân.

Thời bao cấp nghèo khó đó kéo theo vỉa hè tiếp tục oằn lưng mang trên vai “sứ mệnh lịch sử buôn bán” trải dài hai thế kỷ.

Dù sang thế kỷ 21 gần hai thập kỷ, hè phố trở thành cái nút thắt cản trở phát triển mà nặng nề nhất là Hà Nội.

Gần đây với sự ra quân đồng loạt ở Hà Nội và HCM nhằm giành lại vỉa hè cho người đi bộ, nhất là biện pháp mạnh của ông Đoàn Ngọc Hải, PCT Q1 TP HCM và sau đó là ông Nguyễn Đức Chung, Chủ tịch Tp Hà Nội, được dư luận đồng tình.

Xem tiếp bài của Cua Times trên SOHA

Chuyện tử tế phim học làm người


tranvanthuy-trongdongtrotan

CHUYỆN TỬ TẾ PHIM HỌC LÀM NGƯỜI. Hoàng Kim. Hà Nội trong mắt ai, Chuyện tử tế phim học làm người của đạo  diễn Trần Văn Thủy và bài viết Những gì thấy được ‘Trong đống tro tàn’ của Trần Văn Thủy do Phạm Phú Minh đăng trên Văn Việt đã ám ảnh tôi: “Con đường của lòng tử tế, của sự nhân ái. Con đường tình người rộng rãi thênh thang…“.  Trần Văn Thủy, đọc lại và suy ngẫm.

Hà Nội Trong Mắt Ai (Đạo diễn Trần Văn Thủy)

chuyentutephimhoclamnguoi
HỌC MỖI NGÀY. Chuyện tử tế (đạo diễn Trần Văn Thủy)  phim học làm người. http://hocmoingay.blogspot.com/2015/01/nguoi-tu-te-phim-hoc-lam-nguoi.html

Những gì thấy được ‘Trong đống tro tàn’ của Trần Văn Thủy

Phạm Phú Minh

Theo sự hiểu biết của tôi thì nhà văn, nhà đạo diễn điện ảnh Trần Văn Thủy là người đầu tiên sống trong xã hội Việt Nam đương thời đã đặt vấn đề Tử Tế bằng tác phẩm của mình. Cuốn phim tài liệu Chuyện Tử Tế của ông thực hiện năm 1985, được công bố ít năm sau đó, đã gây một chấn động trong lương tâm của con người, không những của người Việt Nam mà còn nhiều nơi trên thế giới.

Có chuyện gì vậy? Chuyện tử tế? Thì có gì lạ? Chẳng phải là từ khai thiên lập địa con người vẫn sống giữa cuộc tranh đấu giữa cái Thiện với cái Ác đó sao, một cuộc tranh đấu bất tận như tên của một cuốn phim Mỹ: From Here To Eternity -Từ đây cho đến mãi mãi về sau, được người Pháp chuyển dịch thành Tant qu’il y aura des hommes -Cho đến khi nào còn con người. Hai cái tên tiếng Anh và tiếng Pháp của cuốn phim nổi tiếng ấy đều cho thấy cuộc xung đột giữa cái tốt và cái xấu nó sẽ còn mãi mãi trong xã hội loài người, khiến người ta phải nghĩ một cách sâu xa hơn, là bản chất và mục tiêu đời sống của chúng ta chính là cố gắng đẩy lùi cái xấu để cái tốt được lên ngôi.

Nhưng nghĩ cũng lạ, cái trật tự tinh thần để phân biệt tốt xấu thì đã được con người xác định từ rất xa xưa, có lẽ ngay từ bản năng của sự sống: mạng sống là tốt, giết hại là xấu; thương yêu là tốt, thù hận là xấu; tự do thoải mái là tốt, gông cùm kiềm hãm là xấu; sáng kiến phát triển là tốt, hủ lậu trì trệ là xấu; no cơm ấm áo là tốt, đói rét là xấu… Những cặp tốt xấu như thế có thể kể ra vô tận, cho thấy thân phận của con người thật ra rất chênh vênh, nhưng kinh nghiệm sống và sự thăng hoa tinh thần của con người trong quá trình “thành người” của mình đã khẳng định phía nào nên theo, cái gì nên loại bỏ. Ý thức đó tạo nên ĐẠO LÝ chung cho cuộc sống của con người đông tây kim cổ.

Chuyện con người sống tử tế với con người và vạn vật chẳng qua cũng chỉ nằm trong Đạo Lý ấy mà thôi, nhưng sở dĩ có người như Trần Văn Thủy phải làm phim để đặt ra như một vấn nạn trước lương tâm con người, là vì cuộc sống trong cơ chế đang ngự trị trên đất nước Việt Nam xem ra thiếu vắng sự Tốt lành mà ngược lại, nghiêng về phía cái Ác. Đây không phải là chuyện tốt xấu trong một xã hội bình thường, mà là kết quả của một chế độ khác thường. Vì thế nguy cơ của cái Ác trở thành một khuynh hướng đè bẹp cái Thiện ngày càng rõ rệt, và đã trở thành một nguy cơ cho đất nước và dân tộc Việt Nam.

Phim Chuyện Tử Tế ra đời năm 1985, tính năm nay 2016 đã là 31 năm, vậy hành trình của nó và của tác giả làm nên nó, hiện đã tới đâu rồi? Câu chuyện nó vượt biên một cách bí mật để đến được Liên Hoan Phim Leipzig Đông Đức cuối năm 1988 có thể dựng thành một cuốn phim trinh thám nghẹt thở. Và sau khi nó chiếu và được nhiệt liệt hoan nghênh tại liên hoan này thì tới phiên tác giả của nó lập tức “vượt biên” sang Pháp ngay trong đêm đó, cũng nghẹt thở không kém. Khi đã đến Pháp, tác giả của nó mới biết Chuyện Tử Tế đã được giải thưởng Bồ Câu Bạc ở liên hoan phim Leipzig. Rồi nó được chiếu trong rạp hát và đài truyền hình Pháp. Rồi nhiều nước khác đã mua phim Chuyện Tử Tế…

Đạo diễn Trần Văn Thủy vào thời điểm tham dự liên hoan phim Chuyện Tử Tế đã đứng trước một đường ranh giới rất mong manh, hoặc nó đoạt được giải thì ông là người có công, được quay về Việt Nam an toàn, hoặc nó không gặt hái được gì cả thì ông bắt buộc phải chọn con đường lưu vong tại Tây Âu.

Nhưng sự tử tế đã mỉm cười với ông, và hôm nay đạo diễn Trần Văn Thủy, ở tuổi 76, và đã đúc kết mọi chuyện với cuốn sách Chuyện Nghề Của Thủy và cuốn Trong Đống Tro Tàn mà độc giả đang cầm trên tay. Hình ảnh “đống tro tàn” mà tác giả gợi ra nó như thế nào là tùy cách nhìn của người đọc, nhưng với tác giả, thì tôi đoán cái tên đó phần nào cũng là tổng kết cái hành trình mà ông đã đi suốt nửa thế kỷ qua, tròn 50 năm (1966-2016). Chưa hẳn nó có ý nghĩa tiêu cực như khi chúng ta đứng trước một căn nhà đã bị thiêu rụi, mọi thứ đã thành tro, mà chỉ là tổng kết thời gian gần cả đời người với nhiều nỗi truân chuyên gay cấn liên tục với một chủ đề gần như duy nhất: sự tử tế. Đống tro tàn chỉ là một cách nói, có thể là một ám chỉ rằng trong cái đám ngổn ngang đó vẫn còn sót lại một vài tàn lửa sẽ làm bùng lên ngọn lửa của cái Thiện.

Nhưng có một điều chắc chắn, trong đống mà tác giả gọi là tro tàn này chứa đựng một tấm lòng hừng hực nóng, qua các câu chuyện đời của tác giả. Có nhiều chuyện được kể lại, xem qua thì là những chuyện vui buồn, những kỷ niệm trong đời, nhưng tất cả hầu như chỉ một chủ đề, đó là sự thăng hoa tốt đẹp của bản chất con người, mà các tôn giáo lớn từ hàng ngàn năm trước đã nhìn ra và dẫn dắt nhân loại.

Đây có thể là tác phẩm văn học cuối cùng của ông, vì có cả lời trăng trối căn dặn mọi chuyện sau khi ông qua đời. Trong Mấy Lời Gửi Lại, xem như là Di Chúc của ông, sau những dặn dò cụ thể liên quan đến tang lễ và việc gia đình, gia tộc, ở phần cuối ông viết:

“Hình như trên đời này chẳng có mấy ai khi nhắm mắt xuôi tay lại không nuối tiếc việc nọ, việc kia. Phần tôi, tự xét mình là thường dân nhưng đã cố gắng trong mọi hoàn cảnh, mọi bổn phận. Sức của tôi có hạn, tôi chỉ thương xót cho bọn trẻ, con cháu tôi và con cháu chúng ta. Chúng thừa hưởng một gia tài quá bề bộn của tiền nhân để lại. Không dễ gì để chúng có được một cuộc sống hạnh phúc đúng nghĩa mà thế hệ chúng ta hằng mơ ước cho chúng.

Dẫu sao, tôi xin chân thành cầu chúc cho mọi người được sống trong niềm vui, trong an bình và sự thanh thản của một xã hội lương thiện, tử tế hơn”.

Điều ông nuối tiếc là ở chỗ lớp con cháu sẽ không được sống hạnh phúc đúng nghĩa mà thế hệ ông hằng mong ước, nghĩa là sống trong một “xã hội lương thiện, tử tế hơn”. Một chữ “hơn” đầy ý nghĩa, nói lên thực tại đáng buồn của xã hội Việt Nam trong hiện tại.

Chương 2, Cha Tôi, là một bài viết mà tôi cho quan trọng nhất trong tập sách này. Kể lại cuộc đời cha mình, ông đã ghi rõ “tưởng nhớ về Thầy – người Cha đẻ và là người Cha tinh thần của con” cho thấy cái nhìn đầy yêu mến và khâm phục của ông về thân phụ của mình, mà theo tôi, ông coi là một mẫu mực, một tấm gương cho suốt cuộc đời của ông.

Có một câu nói của thân phụ ông mà suốt đời ông không quên, đó là câu thân phụ ông thốt ra một cách bình tĩnh sau khi chứng kiến cảnh người bạn thân của mình (bác Phó Mâu) đã bị bắn chết trong cuộc đấu tố:

“Sau hôm về chợ Cồn để chôn cất bác Phó Mâu, Thầy tôi lên gác nằm. Một lát sau ông cho gọi tôi và Lai, người em sát tôi lên. Hai chúng tôi ngồi chờ bố bảo gì. Ông vẫn nằm vắt tay lên trán, im lặng. Không hiểu sao những lúc Thầy tôi im lặng như thế tôi rất sợ, tôi lên tiếng rất khẽ:

– Thầy bảo gì chúng con ạ?

Một lát sau ông mới thủng thẳng nói một câu rất ngắn: – Hỏng – hẳn – rồi – các – con ạ!

Tôi không hiểu. Lúc đó tôi hoàn toàn không hiểu. Tôi hỏi lại:

– Thầy bảo gì cơ ạ?

– Thầy và bác Phó Mâu đã giúp Việt Minh quá nhiều, bây giờ bác chết oan, Thầy không còn tin vào cái gì nữa!

Trong cuộc đời, tôi rất nhớ những điều Thầy tôi đã nói với tôi. Đây không phải là lúc kể ra tất cả, nhưng cái câu đau đớn, bất đắc chí: ” Hỏng – hẳn – rồi – các – con ạ”! Thì chắc chắn xuống mồ tôi cũng không thể nào quên được”.

Kể ra một người trong tuổi thiếu niên mà được nhận lãnh một câu nói như thế từ cha của mình trong một hoàn cảnh đặc biệt của đất nước thì cũng khó mà quên được. “Hỏng-hẳn-rồi-các-con-ạ” là một khẳng định khái quát cả một sự sụp đổ toàn diện trong tâm hồn người cha, truyền lại cho các con mình nhận thức về tương lai của cái chế độ mà họ đang sống trong đó với biết bao kỳ vọng chế độ đó sẽ mở ra một thời kỳ tốt đẹp cho đất nước. “Hỏng hẳn rồi” đã ghi một dấu ấn quan trọng nhất trong lòng tác giả khi mới lớn, để suốt đời ông luôn để tâm nhìn thấy nó hỏng ở chỗ nào, và định hướng các hành vi của ông để lên tiếng cảnh báo cho mọi người về cái nguy cơ vô cùng thảm khốc cho cả một dân tộc.

Trong cuốn sách mà có vẻ tác giả cho là cuối cùng này của mình, chúng tôi nghĩ chương Cha Tôi là nơi Trần Văn Thủy khẳng định điều tâm huyết nhất trong đời mình, đó là nét Đạo Lý mà cha ông đã truyền cho ông. Đạo Lý ấy cha ông đã tiếp nhận từ truyền thống của dân tộc Việt Nam, nó cũng không khác với Đạo Lý chung của nhân loại đã có từ ngàn đời.

Trần Văn Thủy thì quan tâm và suy nghĩ rất nhiều về vấn đề nền tảng ấy trong các chương khác trong cuốn sách này. Ông vốn là người làm phim tài liệu, luôn luôn ghi nhận và viết xuống những đề tài mà ông cho là đáng làm phim trong suốt cuộc đời nghề nghiệp của ông, nhưng tiếc thay không mấy dự định của ông đã được thực hiện. Chương “Những kịch bản không thành phim” ông ghi lại nội dung những đứa con điện ảnh không bao giờ được ra đời ấy, với những nhận xét có khi nhiều phẫn nộ.

Ví dụ từ năm 1980 ông đã có một kịch bản về Trịnh Công Sơn:

“Một kịch bản khác tôi tâm đắc vô cùng đó là khi tôi viết về Trịnh Công Sơn năm 1980. Có lẽ khi ấy vừa ở Nga về, vừa làm xong bộ phim “Phản bội” nổi tiếng (1979 – 1980), đang “hăng tiết vịt”, tôi đã viết về Trịnh Công Sơn. Tôi kể những ngày tháng nằm hầm ở chiến trường miền Nam (1966 – 1969), mở trộm đài Sài Gòn, nghe nhạc Trịnh mà nổi da gà. Những Đại bác đêm đêm vọng về thành phố/Người phu quét đường dừng chổi đứng nghe/Những Người con gái Việt Nam da vàng… Con người miền Nam, hơi thở miền Nam, nhạc Trịnh ám ảnh tôi. Sao lại yêu thương đến thế! Sao lại da diết lay động đến thế! Vấn đề tôi đặt ra trong kịch bản đó không chỉ là những giai điệu, những ca từ hút hồn của nhạc Trịnh mà tôi tự vấn: Mảnh đất nào, văn hóa nào, phẩm hạnh nào đã nuôi dưỡng một tâm hồn trong sáng và chân thiện đến thế, đã sản sinh ra con người chân tình đến thế? Nếu như Karl Marx nói: “Con người là sản phẩm của tổng hòa mọi quan hệ xã hội” thì cái xã hội miền Nam đầy rẫy những “Tội ác và tàn dư của Mỹ Ngụy” ấy tại sao lại sản sinh ra Trịnh Công Sơn?”

Ba mươi năm sau khi làm phim Chuyện Tử Tế để kêu gọi lòng tử tế trong xã hội mình đang sống, đạo diễn Trần Văn Thủy cay đắng nhận ra mình vẫn sống trong xã hội ấy, nhưng:

“Ngày nay trong một chế độ nhân danh sự ưu việt, người ta lại thấy bao điều xót xa trong quan hệ giữa người với người. Tham nhũng, bè phái, cửa quyền. Đạo đức xuống cấp một cách khủng khiếp.” …

“Ai cũng biết rằng tòa án và pháp luật chỉ làm công việc giải quyết hậu quả của hành động. Còn muốn ngăn chặn cái mầm gây ra tội ác, làm nó triệt tiêu khi còn trong trứng, triệt tiêu ngay trong ý nghĩ của con người, thì không gì bằng tôn giáo” […] “tôn giáo nói chung, cái đạo chân chính nào cũng khuyên con người nghĩ thiện, làm thiện, tránh xa tội lỗi, xa điều độc ác. Và như vậy nó góp phần tích cực vào việc giữ gìn đạo đức, trật tự an ninh xã hội, làm cho đất nước lành mạnh”.

Mỗi một chương của cuốn sách này là một câu chuyện hay, có thể nói là hấp dẫn, nhưng luôn luôn ẩn nỗi cảm động, thấm thía và rất lôi cuốn người đọc. Tác giả quan sát rất tinh tế về các nhân vật mình quen biết, các sự kiện vui buồn xảy ra với mình, nhưng khi kể ra thì chuyện nào cũng đáng là một bài học cho người đọc, bài học về nhân cách, về thái độ sống ở đời với một chủ đề bất biến là tích cực nhấn mạnh về sự tử tế, lòng nhân ái.

Tác giả có sự quan hệ rất rộng rãi, đề tài viết có thể là về giới làm phim Nhật Bản, hoặc những người Mỹ hoạt động văn hóa và nhân đạo; về việc thực hiện một cuốn phim tài liệu về nhà thờ Phát Diệm với kiến trúc tôn giáo độc đáo; về một người thầy thuốc hiếm có về bệnh phong cùi, Bác sĩ Trần Hữu Ngoạn, mà khi đọc xong câu chuyện của ông, độc giả chỉ có thể thốt lên: đó là một bậc Thánh, hoặc là một Bồ Tát; về nhạc sĩ Phạm Duy là người ông rất hâm mộ từ thời còn rất trẻ…

Với con mắt quan sát tinh nhạy của một đạo diễn phim tài liệu cộng với một tấm lòng đề cao cái Thiện và chống lại cái Ác, và cộng thêm nữa sự sắc sảo tinh quái của một người sống trong sự kềm cặp mà lúc nào cũng khao khát xé rào để rao giảng những điều chẳng phù hợp chút nào với đường lối của xã hội đương thời, Trần Văn Thủy rất xứng đáng với câu nhận xét sau đây của Larry Berman, một nhà văn Mỹ:

“… on a war that ravaged so many, yet left us with survivors like Tran Van Thuy, war photographer, filmmaker and ultimately philosopher.”

“… về một cuộc chiến đã hủy hoại biết bao sinh mạng, nhưng đã để lại cho chúng ta những người sống sót như Trần Văn Thủy, một nhà quay phim thời chiến, một đạo diễn điện ảnh, và cuối cùng là một triết gia.”

[Trích từ lời Tựa trong bản dịch sang Anh ngữ cuốn tự truyện Trong Mắt Ai (In Whose Eyes) của Trần Văn Thủy]

Nhìn cuộc sống ở một xã hội mà ông phải sống và rút ra từ đấy những nhận xét, những phán đoán, thẩm định nhằm phá vỡ hàng rào dây thép gai ý thức hệ quái đản trong thời đại của chúng ta, thì ngoài vai trò nghề nghiệp, đúng Trần Văn Thủy còn là một triết gia, một triết gia dấn thân với những tác phẩm văn học nghệ thuật rất can đảm và hết sức sâu sắc của ông.

Chẳng hạn, nếu chúng ta được xem phim Chuyện Tử Tế, hoặc ít ra được xem kịch bản của phim do chính đạo diễn viết, chúng ta sẽ thấy lời bình trong phim quan hệ tới mức độ nào. Không có lời bình thì chỉ là một phim câm, cái đó đã hẳn, nhưng điều quan trọng, đó là lời bình do Trần Văn Thủy viết. Lời ấy là linh hồn của phim. Đó là những lời gãy gọn dễ hiểu nhưng mang khả năng khái quát rất cao – xem/nghe tới đâu thấm thía tới đó, và đặc biệt là nó có khả năng dẫn dắt người xem hiểu ra ngoài, vượt lên trên những gì đang xem. Như thế, lời bình đã chứa đựng triết lý của sự việc, sự vật, nâng chúng lên một tầng phổ quát.

Rất nhanh, thế giới đã bắt được các tín hiệu nhân bản mà TrầnVăn Thủy đã gửi gắm trong phim Chuyện Tử Tế. Vào cuối những năm 80 có tới hơn 10 đài Truyền hình lớn trên thế giới mua bản quyền Chuyện Tử Tế, và đạo diễn Mỹ John Gianvito đã đề cử ChuyệnTử Tế là một trong mười bộ phim Tài liệu hay nhất thế giới của mọi thời đại. Những chuyện như thế chưa từng xảy ra với Điện ảnh Việt Nam.

Cách đây hơn mười năm Trần Văn Thủy đã xuất bản cuốn sách có nhan đề Nếu Đi Hết Biển, nêu lên một thắc mắc vừa cụ thể vừa siêu hình: nếu đi hết biển thì sẽ tới đâu? Thoạt đầu với khái niệm trái đất tròn, tác giả cho rằng “nếu đi hết biển, qua các đại dương và các châu lục, đi mãi, đi mãi thì cuối cùng lại trở về quê mình, làng mình”. Nhưng nhiều năm sau, khi tác giả đã đi đến đất Mỹ thì mới thấy rằng người Việt xa xứ “qua các đại dương và các châu lục, đi mãi, đi mãi” mà cuối cùng không thể “trở về quê mình, làng mình” được.

Cuốn sách mới nhất Trong Đống Tro Tàn này cho chúng ta cảm tưởng tác giả không còn điều thắc mắc ấy nữa. Con đường địa lý của quả địa cầu dù trên mặt đất hay mặt biển thì rất rõ ràng, đi mãi thì có thể trở về nơi mình xuất phát. Nhưng con đường của lòng người, với bao nhiêu thứ hệ lụy của cuộc sống thì không thể vạch một lộ trình đơn giản nào. Tâm trạng và mục tiêu của người Việt Nam khi dong thuyền ra khơi để làm một chuyến vượt biên không lãng mạn tự hỏi đi hết biển thì sẽ đến đâu, mà là nhắm tới một bến bờ cụ thể nào đó mình có thể sống được một đời sống tự do, xứng đáng là của một con người. Nhưng một khi cuộc sống đã ổn định trên miền đất mới, thì chắc chắn con đường quay về quê cũ trong lòng họ vẫn còn, dưới rất nhiều dạng: chính trị, kinh tế, tình cảm… hoặc lắm khi chỉ là một giấc mơ về một đất nước tốt đẹp hơn, đáng sống hơn.

Nhưng đâu phải chỉ có con đường cụ thể với hai hướng đi và về nó ràng buộc chúng ta. Trong lòng bất cứ ai cũng có thể mở ra vô số con đường sẽ dẫn đến vô số nơi mà chính trong tác phẩm Trong Đống Tro Tàn tác giả luôn luôn đề cập tới: con đường của lòng tử tế, của sự nhân ái. Con đường tình người rộng rãi thênh thang…

Nhạc sĩ Phạm Duy khi viết câu kết cho trường ca Con Đường Cái Quan của ông, đã mô tả cảm nhận của người Việt Nam khi đã hoàn tất cuộc Nam Tiến của mình tại Mũi Cà Mau:

Đường đi đã tới! Lòng dân đã nối!
Người tạm dừng bước chân vui! Người ơi!
Người mơ ước tới: đường tan ranh giới
Để người được mãi
Đi trong một duyên tình dài.
Con đường thế giới xa xôi,
Trong lòng dân chúng nơi nơi.

Phải chăng khi viết những câu này vào năm 1960, Phạm Duy đã có tiên cảm về “con đường thế giới xa xôi” mà người Việt Nam sẽ dấn bước vào, và sau này đã gây thắc mắc về một bờ bến nơi Trần Văn Thủy? Nhưng Phạm Duy cũng thấy ra niềm vui trong “một duyên tình dài”, phải chăng đó là tình của nhân loại, của sự Tử Tế, của lòng Nhân Ái mà Trần Văn Thủy thao thức và vận động suốt đời ông để mong cho nó thắng cái xấu và cái ác?

Nam California ngày 01 tháng Mười Một, 2016.

Video yêu thích