Chào ngày mới 1 tháng 3


NamNinhQuangTayUngChauxua
CNM365. Chào ngày mới 1 tháng 3.
Năm 1076Ung Châu thất thủ trong Chiến dịch đánh Tống, 1075-1076 của quân Đại Việt. Năm 1872Vườn quốc gia Yellowstone được thành lập tại miền Tây Hoa Kỳ, đây là vườn quốc gia đầu tiên trên thế giới. Năm 1906 – ngày sinh Phạm Văn Đồng, Thủ tướng Việt Nam (1955-1987), (mất năm 2000). Năm 1943 – ngày mất của Alexandre Yersin, thầy thuốc Thụy Sĩ , bác học Pháp, sống và chết ở Việt Nam (ông sinh năm 1863). xem tiếp …

 

NhaTrang

NHA TRANG VÀ YERSIN

Hoàng Kim

Nha Trang, biển yển rừng trầm, thiên đường nghỉ dưỡng du lịch biển đảo nổi tiếng Việt Nam là cũng là nơi an nghĩ và lưu dấu những cống hiến đặc biệt xuất sắc của nhà bác hoc thiên tài Yersin.

Quần thể mộ Yersin ở Suối Dầu và thư viện Yersin ở Viện Pasteur Nha Trang là trường hợp duy nhất Chính phủ Việt Nam cấp bằng chứng nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia cho một người nước ngoài. Tại làng Tân Xương ở Suối Dầu, dân làng thờ Yersin làm thành hoàng. Ngày mỗi ngày, công viên Yersin, Bảo tàng Yersin, mộ Yersin càng có nhiều lượt khách trong nước và quốc tế đến thăm để chiêm nghiệm bài học lớn tình yêu cuộc sống.
Mộ Alexandre Yersin (1863-1943) tại Suối Dầu, Nha Trang, Việt Nam

Alexandre Émile Jean Yersin là nhà bác học lỗi lạc người Pháp gốc Thụy Sĩ. Ông là bác sĩ y khoa, nhà vi khuẩn học, nhà thám hiểm, nhà nông học, nhà chăn nuôi, nhà điểu học, nhà dân tộc học, nhiếp ảnh gia, nghiên cứu khí tượng, nhà văn, nhà dịch thuật, nhà nhân đạo và ân nhân được nhân dân Việt Nam tôn kính. Ông được trao tặng Bắc Đẩu Bội tinh, huân chương cao quý nhất của nước Pháp, Việt Nam long bội tinh, Viện sĩ Viện Hàn Lâm Khoa học, Viện Hàn lâm Y học, Viện Hàn lâm Khoa học các thuộc địa, Hội Bệnh học Hải ngoại, Hội Y học Nhiệt đới, Hội Thiên văn Pháp quốc.

Yersin sinh ngày 22 tháng 9 năm 1863 tại làng Lavaux (hat Vaux) Aubonne, Thụy Sĩ,tổ tiên ông vốn là người Pháp di cư sang Thụy Sĩ, năm 1889 ông được phục hồi quốc tịch Pháp. Alecxandre Yersin mất ngày 01 tháng 3 năm 1943 tại Nha Trang. Yersin đã phát hiện độc tố bệnh bạch hầu năm 1888, Ông thám hiểm năm 1892 tìm ra con đường bộ từ Nha Trang ven Biển Đông băng qua dãy Trường Sơn qua Stung Treng đi suốt dọc ha lưu sông Mekong đến Phnom Penh. Ông là người thám sát lần đầu Cao nguyên Lâm Viên năm 1893 giúp thiết lập nên thành phố nghỉ mát Đà Lạt. Yersin đã tìm ra trực khuẩn gây bệnh dịch hạch sau này được đặt theo tên ông Yersinia pestis năm 1894 và điều chế huyết thanh chữa trị. Yersin là người sáng lập Viện Pasteur Nha Trang năm 1895. Với tiền thưởng khoa học, Yersin mua một khu đất rộng 500 héc-ta ở Suối Dầu để làm nông nghiệp và chăn nuôi. Ông là người đầu tiên du nhập và phát triển cây cao su ở Việt Nam năm 1897. Ông tuyển chọn nhiều loại thực vật và động vật từ khắp nơi trên thế giới để nuôi trồng tại Suối Dầu, biến nó thành một cộng đồng nông nghiệp và khoa học với một trạm xá phục vụ cư dân trong vùng. Ông cho trồng cây cà-phê Liberia, các loại cây thuốc, cây coca để sản xuất cô-ca-in sử dụng trong ngành dược. Ông làm vườn, trồng hoa, nuôi chim, nuôi ngựa bò, sản xuất huyết thanh chống dịch cho bò. Trung tâm thí nghiệm này về sau trở thành Viện Thú y đầu tiên ở Đông Dương. Ông là người thành lập và là hiệu trưởng đầu tiên của Trường Y Đông Dương (tiền thân của Đại học Y Hà Nội) năm 1902. Ông trồng thử nghiệm cây canh ki na để sản xuất thuốc ký ninh chữa bệnh sốt rét năm 1917. Ông Năm Yersin nghiên cứu khoa học, sống thung dung trọn đời với người dân và thiên nhiên trong lành ở Suối Dầu, Nha Trang, Khánh Hòa.

Nha Trang và Yersin có một mối nhân duyên thật kỳ lạ. Năm 1891, khi đặt chân đến Nha Trang, Yersin đã yêu mến vùng đất này, và quyết định lưu trú tại đây. Ông viết cho Émile Roux, “Hãy đến đây với tôi, ông sẽ biết ở đây thú vị như thế nào, thời tiết không nóng nhiều, cũng không lạnh lắm, một khung cảnh thanh bình tuyệt đối và nhiều công việc cần làm“. Tên “Nha Trang” có hai giả thuyết, một giả thuyết cho rằng nó được hình thành do cách đọc của người Việt phỏng theo âm một địa danh Chăm vốn có trước là Ya Trang hay Ea Trang (có nghĩa là “sông Lau”, tiếng người Chăm, tức là gọi sông Cái chảy qua Nha Trang ngày nay, con sông này đổ ra biển đúng chỗ có nhiều cây lau). Từ tên sông, sau chỉ rộng ra vùng đất, từ năm 1653. Giả thiết khác cho rằng Nha Trang trước năm 1891 chỉ mới là một vịnh nước yên tĩnh đầy nắng chưa có tên gọi trên bản đồ nhưng khi Yersin đến ở và xây “nhà trắng” ở đó nổi bật trên những ngôi nhà làng chài lúp xúp trên dải cát trắng từ năm 1891, thì họ gọi là ”nhà trắng” lâu dần phiên âm thành Nha trang. Giả thiết đầu tiên được các nhà nghiên cứu thống nhất hơn. Dẫu vậy giả thuyết thứ hai cũng được nhiều người ủng hộ.

Yersin lưu dấu nhiều ký ức sâu đậm tại Nha Trang. Di sản Yersin thật sự to lớn và bền vững với thời gian ở Việt Nam. Ông từ trần tại nhà riêng ở Nha Trang ngày 1 tháng 3 năm 1943 , và để lại di chúc: “Tôi muốn được chôn ở Suối Dầu. Yêu cầu ông Bùi Quang Phương giữ tôi lại tại Nha Trang, đừng cho ai đem tôi đi nơi khác. Mọi tài sản còn lại xin tặng hết cho Viện Pasteur Nha Trang, và những người cộng sự lâu năm. Đám táng làm giản dị, không huy hoàng không điếu văn.” Noël Bernard, người đầu tiên viết tiểu sử Yersin đã nhận xét: “Chắc chắn rất hiếm có người ít tư lợi đến thế. Yersin tự xóa mờ mình đi để người khác được tự do sáng kiến, sự tự do mà chính bản thân ông hết sức gắn bó

Yersin cũng lưu dấu ở Đà Lạt, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Thủ Dầu Một. Tại Đà Lạt, thành phố tình yêu, nơi núi non tuyệt đẹp trên cao nguyên Lâm Viên, Yersin là người nước ngoài đầu tiên đã thám hiểm và khám phá ra Đà Lạt. Tên ông được lưu dấu tại Trường Lycée Yersin (Trường Cao đẳng Sư phạm), Trường Đại học Yersin và Công viên Yersin. Tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Thủ Dầu Một,  tên của Yersin được đặt  tên đường để vinh danh. Dẫu vậy, nơi chính của Người vẫn là ở Nha Trang.

Tôi thắp hương tưởng nhớ bác Năm Yersin theo lối gọi yêu mến của người dân Việt và bâng khuâng nhớ Người. Tôi thầm tự hỏi: dưới vòm trời này, đất lành này, núi biếc biển xanh này, so sánh con người phúc hậu, hiền lành, khiêm nhường đang nằm dưới ngôi mộ yên bình kia và những vĩ nhân lỗi lạc nhất của các nước lớn đến và ra đi khỏi Việt Nam, rốt cụộc thì ai hơn ai ? Ai đọng lại trong lòng dân Việt sâu bền hơn?.

Ông Năm Yersin không phải là người Việt nhưng ông được mọi người Việt mọi thời yêu quý, tôn kính, ngưỡng mộ, Ông thật hạnh phúc.


Du lịch Nha Trang 

Nha TrangYersin, đất lành chim đậu, người hiền đến ở.

Hoàng Kim

 

 

2003 TrungQuocQUẢNG TÂY XƯA VÀ NAY

Hoàng Kim

Nam Ninh, Khâm Châu, Hợp Phố  ngày nay thuộc Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, là Ung Khâm Liêm xưa, đã biết bao thay đổi.

Tôi đến Quảng Tây nhiều lần, đã từng du thuyền ở Quế Lâm, leo núi cao và cùng ăn cơm người dân tộc Choang, thăm khu di chỉ khảo cổ Tây Sa Pha nơi khai quật được các loại rìu đá, dao đá, những công cụ nguyên thủy của người cổ Bách Việt, nơi câu thơ “châu về Hợp Phố” vẫn còn văng vẳng bên lòng.
NamNinh

Ung Châu xưa, nay là Nam Ninh thành phố lớn nhất và là thủ phủ của khu tự trị Quảng Tây, Trung Quốc. Thành phố này nằm cách biên giới Việt Nam 180 km. Dân số Nam Ninh hiện khoảng 7,5 – 9,0 triệu người, (tương đương dân số thành phố Hồ Chí Minh của Việt Nam). Nam Ninh có 6 quận Giang Nam, Hưng Ninh, Lương Khánh, Tây Hương Đường,  Thanh Tú, Ung Ninh và  6 huyện Hoành Long An,   Mã Sơn, Tân Dương, Thượng Lâm,  Vũ Minh. Thủ phủ  Nam Ninh là nơi trung chuyển khách đến tham quan Quế Lâm nổi tiếng, thăm các làng dân tộc thiểu số ở Bắc và Tây Quảng Tây và khách Trung Quốc sang thăm Việt Nam bằng đường bộ.

Nam Ninh nay là thủ phủ của Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, nơi tổ chức Hội thảo Cây Có Củ Toàn Cầu, xưa là trọng điểm của chiến dịch đánh Tống 1075-1076 do tướng nhà LýLý Thường Kiệt phát động nhằm tấn công quân Tống ở ba châu Ung Khâm Liêm, chặn đứng âm mưu của Vương An Thạch chủ trương Nam tiến tìm kiếm chiến thắng bên ngoài để giải tỏa những căng thẳng trong nước.

Đến Quảng Tây, nhớ câu chuyện trên lại nhớ Tô Đông Pha bị đày ải ở Thiểm Tây, Hàng Châu, sau đó trôi dạt về biên viễn Giang Nam, suốt đời lận đận, vì chống lại biến pháp không bền vững của Vương An Thạch, nhưng người yêu thương, túi thơ, kiếm bút, công trình thủy lợi Hàng Châu di sản văn hóa thế giới vẫn như trăng sáng đêm rằm lồng lộng giữa trời.

Đến Quảng Tây gợi nhớ câu thơ Nguyễn Du: “Giang sơn vui thú yên hà. Mai là bạn cũ, hạc là người quen“và câu thơ của Hồ Chí MinhĐi đường mới biết gian lao, Núi cao rồi lại núi cao trập trùng; Núi cao lên đến tận cùng, Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non“. Lại nhớ câu thơ Lên non thiêng Yên Tử  “Non sông bao cảnh đổi. Kế sách một chữ Đồng. Lồng lộng gương trời buổi sáng. Trong ngần, thăm thẳm, mênh mông“.

KhamChauKhâm Châu xưa và nay tên gọi không đổi. Khâm Châu là một trong 14 địa cấp thị thuộc khu tự trị tỉnh Quảng Tây. Khâm Châu nằm bên vịnh Bắc Bộ với diện tích 10.843 km2 và dân số trên 3,1 triệu người,Khâm Châu nằm ở phía nam Quảng Tây, trên vùng bờ biển thuộc vịnh Bắc Bộ. Phía bắc tiếp giáp với địa cấp thị Nam Ninh, phía tây tiếp giáp địa cấp thị Phòng Thành Cảng, phía đông tiếp giáp địa cấp thị Ngọc Lâm, phía đông bắc tiếp giáp Quý Cảng, phía đông nam giáp Bắc Hải. Phía đông bắc và tây bắc có 2 dãy núi là Lục Vạn Đại Sơn và Thập Vạn Đại Sơn, với độ cao đều trên 1.000 m. Khâm Châu  là hải cảng chủ yếu phục vụ cho xuất khẩu cho vùng duyên hải tây nam Trung Quốc. Khâm Châu có 4 đơn vị cấp huyện:  quận Khâm Nam, quận Khâm Bắc, huyện Linh Sơn, huyện Phố Bắc

BacHaiLiêm Châu xưa chính là Hợp Phố, Bắc Hải ngày nay. Bắc Hải là một địa cấp thị thuộc Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc. Bắc Hải có nghĩa là biển bắc, là nơi có cảng biển, một nhà máy đóng tàu lớn nằm bên bờ phía bắc của vịnh Bắc Bộ.

Hợp Phố trước đây gọi là Liêm Châu, là một huyện thuộc địa cấp thị Bắc Hải. Huyện này có diện tích 2.380 km², dân số hiện khoảng 1,3 triệu người, huyện lỵ là trấn Liêm Châu. Khoảng 5.000 năm trước, trong thời kỳ đồ đá mới tại khu vực Hợp Phố ngày nay đã có những hoạt động của con người. Tại di chỉ khảo cổ Tây Sa Pha người ta đã khai quật được các loại rìu đá, dao đá,  những công cụ nguyên thủy của con người.

Trước khi nhà Tần thống nhất Trung Quốc, Hợp Phố là vùng đất của Bách Việt. Năm thứ 33 thời Tần Thủy Hoàng (214 TCN), quân đội Tần thống nhất Lĩnh Nam, lập ra Nam Hải, Quế Lâm, và Tượng Quận. Hợp Phố thuộc về Tượng Quận. Năm Nguyên Đỉnh thứ 6 thời Hán Vũ Đế (111 TCN), quân đội Tây Hán xâm chiếm Nam Việt, lấy vùng giáp giới Nam Hải, Tượng Quận lập ra quận Hợp Phố, với thủ phủ quận đặt tại Từ Văn (nay thuộc huyện Hải Khang tỉnh Quảng Đông), đồng thời thiết lập huyện Hợp Phố. Năm Hoàng Vũ thứ 7 (228) thời Tam Quốc, Đông Ngô đổi quận Hợp Phố thành quận Châu Quan, nhưng chẳng bao lâu sau lại đổi về tên cũ.

Năm Trinh Quan thứ 8 (634) thời Đường Hợp Phố được gọi là Liêm Châu. Năm Chí Nguyên thứ 17 (1280), nhà Nguyên đổi thành tổng quản phủ Liêm Châu. Từ năm Hồng Vũ thứ nhất (1368) thời Minh cho tới thời Thanh người ta lập phủ Liêm Châu, trực thuộc tỉnh Quảng Đông. Thời kỳ Trung Hoa dân quốc (19111949), huyện Hợp Phố trước sau thuộc về đạo Khâm Liêm, tỉnh Quảng Đông, Thời kỳ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sau nhiều lần tách nhập và thay đổi, nay thuộc Bắc Hải  một địa cấp thị thuộc Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây.

Tỉnh Quảng Tây năm 1958, được chuyển đổi thành Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây theo đề nghị của Thủ tướng Chu Ân Lai. Lý do vì người Choang là dân tộc thiểu số lớn nhất ở Trung Hoa và tập trung nhiều ở Quảng Tây. Người Hán đứng đầu chiếm khoảng 92% dân số của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, khoảng 98% dân số của Đài Loan và khoảng 19% dân số thế giới.

Người Choang ở Trung Quốc cũng chính là người Nùngngười TàyViệt Nam. có dân số trên 18 triệu người đứng thứ hai chiếm sau người Hán trong số 55 dân tộc thiểu số được Cộng hòa nhân dân Trung Hoa chính thức công nhận. Người Choang có 94 % dân số sống tại tỉnh Quảng Tây,[2] tập trung ở phía tây và tây nam tỉnh[2] . Tại tỉnh Quảng Tây theo Cục Thống kê Quảng Tây thì  61,5% dân số toàn tỉnh là người Hán, người Choang chiếm 32,6%, còn lại  6% là các sắc tộc thiểu số khác.[2] .

Quảng Tây xưa là  “Quảng Nam Tây lộ” tên gọi có từ thời nhà Tống. “Quảng” 广 có nghĩa là “mở rộng”, và được đặt cho vùng này kể từ thời nhà Tây Tấn trở đi. “Quảng Tây” và tỉnh láng giềng Quảng Đông có tên gọi chung đầy đủ là “Lưỡng Quảng” (两广), tên gọi tắt là “Quế” 桂, lấy theo tên Quế Lâm là một thành phố lớn và được coi là danh lam thắng cảnh bậc nhất của Trung Hoa cổ xưa và hiện đại. Bill Clinton tổng thống Hoa Kỳ sang thăm trung Quốc đại lục sau nhiều năm Trung Mỹ tách biệt địa chính trị, đã chọn Quế Lâm là điểm đến sau Bắc Kinh. Vùng đất này chính thức thuộc về Trung Quốc từ năm 214 TCN, khi quân đội nhà Tần xâm chiếm hầu hết miền nam Trung Hoa ngày nay.

Tên gọi “Quảng Tây” bắt nguồn từ thời nhà Tống, khi khu vực này được tổ chức thành một lộ, gọi là Quảng Nam Tây Lộ. Vào cuối đời nhà Nguyên, vùng này được tổ chức thành một tỉnh với tên gọi được rút gọn thành “Quảng Tây”. Vào cuối đời nhà Thanh, ở huyện Quế Bình, miền đông Quảng Tây, đã nổ ra Khởi nghĩa Kim Điền vào ngày 11 tháng 1 năm 1851, khởi đầu của phong trào khởi nghĩa nông dân vĩ đại Thái Bình Thiên Quốc. Cửa ải Trấn Nam Quan (ngày nay là Hữu Nghị Quan) trên biên giới với Việt Nam cũng là nơi diễn ra trận đánh Trấn Nam Quan (镇南关战役) nổi tiếng vào ngày 23 tháng 3 năm 1885, trong Chiến tranh Pháp-Thanh. Trong trận đánh này, mũi tấn công của quân Pháp đã bị lực lượng Trung Quốc của tướng Phùng Tử Tài  đánh bại, một sự kiện lịch sử rất được những người yêu nước Trung Hoa ca tụng.

Sau ngày thành lập Trung Hoa Dân Quốc, Quảng Tây trở thành căn cứ của một trong những tập đoàn quân phiệt hùng mạnh nhất của Trung Quốc: Tập đoàn Quảng Tây (Quế hệ) cũ do Lục Vinh Đình và những người khác lãnh đạo, tập đoàn này đã vươn ra kiểm soát cả các tỉnh Hồ NamQuảng Đông ở liền kề.

Đầu thập niên 1920, Tập đoàn Quảng Tây cũ bị thất bại, và được thay thế bằng Tập đoàn Quảng Tây mới, do Lý Tông NhânBạch Sùng Hi cầm đầu. Quảng Tây còn được nhắc đến bởi Khởi nghĩa Bách Sắc, một cuộc khởi nghĩa cộng sản do Đặng Tiểu Bình lãnh đạo vào năm 1929 nhưng các căn cứ cộng sản đã được thiết lập này cuối cùng đều bị lực lượng Quốc dân Đảng tiêu diệt.

Vào năm 1944 gần kết thúc Thế chiến II, Nhật Bản chiếm đóng Quảng Tây sau Chiến dịch Ichigo (hay còn gọi là Chiến dịch Dự Tương Quế trong một nỗ lực thu tóm tuyến đường sắt Hồ Nam-Quảng Tây và thiết lập một vùng đất nối với Đông Dương Pháp thuộc. Người Nhật đã chiến thắng và một loạt các thành phố chính ở Quảng Tây trở thành thuộc địa của Nhật Bản. Tỉnh Quảng Tây do nằm ở xa phía nam, lực lượng cộng sản kiểm soát Quảng Tây muộn hơn nên chính quyền tỉnh thay đổi muộn hơn, mãi vào tháng 12 năm 1949, hai tháng sau khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Quân đội Nhân dân Việt Nam có chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn tổ chức phối hợp cùng với Giải phóng quân Trung Quốc chính là trong dịp này. Trong sáu thế kỷ tiếp theo, Quảng Tây vẫn là một tỉnh của Trung Quốc cho đến khi được Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chuyển thành một khu tự trị dành cho dân tộc thiểu số đông đảo ở đây.

Tỉnh Quảng Tây trong suốt chiều dài lịch sử là vùng đất không có biển. Sau năm 1952 một phần nhỏ của bờ biển Quảng Đông được chuyển giao cho Quảng Tây, từ đó vùng đất này được thông với biển, đến năm 1955 chuyển giao lại, và năm 1965 tiếp nhận lại.

Tỉnh Quảng Tây gần tỉnh Quảng ĐôngĐài Loan. Vì những đặc điểm địa chính trị quan trọng nêu trên, nên Mao Trạch Đông đã có chuyến du phương Nam những năm cuối của Cách mạng Văn hóa để bịt kín những mưu lược liên kết của Lâm Bưu, người bị tử nạn ngày 13 tháng 9 năm 1971, sau khi kế hoạch đảo chính bị bại lộ, đã bị hỏa tiễn bắn khi đi ăn tiệc về, hoặc do máy bay rơi ở Mông Cổ khi đang trốn chạy sau vụ mưu sát Mao Trạch Đông không thành.

NhaTranphuongBacSoi vào Quảng Tây là soi vào lịch sử TrungViệt và ngộ được nhiều vấn đề sâu sắc của quá khứ và hiện tại.  Những huyền thoại về gốc gác người Việt cổ, nhà Trần phương Nam, nhà Trần phương Bắc, Nùng Trí Caochiến dịch đánh Tống 1075-1076 do tướng nhà LýLý Thường Kiệt phát động, Giáp Hải bài thơ “Vịnh Bèo”, Những kiệt tác thơ văn Nguyễn TrãiHải Khẩu dạ bạc hữu cảm”, “Sấm động Nam Vang/ Vũ qua Bắc Hải”, Bí ẩn việc vua Quang Trung cầu hôn công chúa Mãn Thanh và xin đất định đô trên đất người Việt cổ để về thăm thiên triều bớt xa xôi cách trở, v.v… và v.v… có quan hệ đến bài học lịch sử này.

CassavaNews132
Nam Ninh
đầu năm 2016 là nơi diễn ra Hội thảo Cây Có Củ Toàn Cầu. Văn hóa lịch sử khoa học và công nghệ toàn cầu giao hội ở một điểm đến. Tại đây Việt Nam đã có báo cáo “Cách mạng sắn ở Việt Nam” được đánh giá cao của cộng đồng quốc tế, khi Việt Nam đưa năng sắn lên gấp đôi trong phạm vi toàn quốc trong một thời gian ngắn và hiện nay nhiều tỉnh đã đưa năng suất sắn lên trên 36,0 tấn mang lại nguồn thu, hiệu quả kinh tế và sinh kế cho nhiều hộ nông dân.

Quảng Tây xưa và nay, một góc nhìn thú vị.

Hoàng Kim

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích
Những bài hát hay nhất của Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (25 bài)
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Advertisements

Chào ngày mới 1 tháng 3


NamNinhQuangTayUngChauxua
CNM365. Chào ngày mới 1 tháng 3.
Năm 1076Ung Châu thất thủ trong Chiến dịch đánh Tống, 1075-1076 của quân Đại Việt. Năm 1872Vườn quốc gia Yellowstone được thành lập tại miền Tây Hoa Kỳ, đây là vườn quốc gia đầu tiên trên thế giới. Năm 1906 – ngày sinh Phạm Văn Đồng, Thủ tướng Việt Nam (1955-1987), (mất năm 2000).

 

1 tháng 3

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày 1 tháng 3 là ngày thứ 60 (61 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 305 ngày trong năm.

« Tháng 3 năm 2016 »
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31

Mục lục

Sự kiện

Sinh

Mất

Những ngày lễ và kỷ niệm

Tháng 1 | Tháng 2 | Tháng 3 | Tháng 4 | Tháng 5 | Tháng 6 | Tháng 7 | Tháng 8 | Tháng 9 | Tháng 10 | Tháng 11 | Tháng 12

Tham khảo

Nam Ninh, Quảng Tây

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nam Ninh
南宁市
—  Địa cấp thị  —
Thành phố Nam Ninh
Chuyển tự chữ Hán
 • Giản thể 南宁市
 • Phồn thể 南寧市
 • Bính âm NánNíng shì
Một phần của thành phố Nam Ninh

Một phần của thành phố Nam Ninh
Vị trí trong khu tự trị Quảng Tây
Vị trí trong khu tự trị Quảng Tây

Nam Ninh trên bản đồ China

Nam Ninh
Nam Ninh

Vị trí tại Trung Quốc

Tọa độ: 22°49′1″B 108°20′31″Đ
Quốc gia Trung Quốc
Khu tự trị Quảng Tây
Trụ sở hành chính Thanh Tú
Diện tích
 • Địa cấp thị 22.293 km2 (8,607 mi2)
Dân số (2006)
 • Địa cấp thị 6.480.000
 • Mật độ 290/km2 (750/mi2)
 • Vùng đô thị 2.450.000
Múi giờ Giờ chuẩn Trung Quốc (UTC+8)
Mã bưu chính 530000
Thành phố kết nghĩa Klagenfurt sửa dữ liệu
Biển số xe 桂A
Hoa biểu trưng Dâm bụt (Hibiscus rosa-sinensis)
Cây biểu trưng Hạnh (Prunus dulcis)
Trang web www.nanning.gov.cn

Nam Ninh (tiếng tráng: Namzningz; chữ Hán giản thể: 南宁; phồn thể: 南寧; pinyin: Nánníng) là một địa cấp thị, thủ phủ của Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây ở miền nam Trung Quốc. Dân số vào năm 2006 là 6.480.000 người. Thành phố này nằm cách biên giới Việt Nam 180 km.

Mục lục

Lịch sử

Tần Thủy Hoàng năm thứ 33 (214 TCN), nhà Tần thống nhất vùng Lĩnh Nam, lập ra các quận như Nam Hải, Quế Lâm, Tượng Quận; khi đó Nam Ninh thuộc quận Quế Lâm. Từ khi Hán Cao Tổ lên ngôi cho tới năm Nguyên Đỉnh thứ nhất thời Hán Vũ Đế (206 TCN tới 116 TCN) Nam Ninh là vùng đất thuộc nước Nam Việt. Từ năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (111 TCN) thuộc về quận Úc Lâm. Thời Tam quốc, là vùng đất thuộc Đông Ngô, với tên gọi là huyện Lâm Phổ thuộc quận Úc Lâm, Quảng Châu và được gọi như thế cho đến hết thời Tây Tấn. Năm Đại Hưng thứ nhất thời Đông Tấn (318), tách khỏi quận Úc Lâm để lập ra quận Tấn Hưng, vẫn thuộc Quảng Châu, thủ phủ đặt tại huyện Tấn Hưng (nay thuộc khu đô thị Nam Ninh). Thành cổ Tấn Hưng là một trong những địa danh nổi tiếng nhất tại Nam Ninh.

Năm Khai Hoàng thứ 18 (598) thời nhà Tùy, đổi tên huyện Tấn Hưng thành huyện Tuyên Hóa, thủ phủ đặt tại thành Tuyên Hóa (nay thuộc khu đô thị Nam Ninh). Năm Trinh Quan thứ 6 (632) thời nhà Đường, khi Nam Tấn Châu đổi tên thành Ung Châu thì Tuyên Hóa là đô đốc phủ Ung Châu, như thế Nam Ninh đã trở thành trung tâm hành chính của địa khu Quế Tây Nam, vì thế Nam Ninh còn gọi vắn tắt là “Ung” (“Ung” bắt đầu xuất hiện trong Nguyên Hòa quận huyền chí thời Đường; năm Hàm Thông thứ 3 (862) Ung Châu quản lý Lĩnh Nam tây đạo, thủ phủ đặt tại huyện Tuyên Hóa, khi đó Nam Ninh trở thành thủ phủ của đơn vị hành chính tương đương với ngày nay là cấp tỉnh.

Năm Chí Nguyên thứ 16 (1279) thời nhà Nguyên, đổi Ung Châu thành lộ Ung Châu, gồm huyện Tuyên Hóa, Vũ Duyên, lập ra tổng quản phủ lộ Ung Châu, kiêm tả hữu lưỡng giang khê động trấn phủ, thuộc hành trung thư tỉnh Hồ Quảng; tháng 9 năm Thái Định thứ nhất (1324), để mừng cho việc biên cương phía nam quy phục, lộ Ung Châu được đổi tên thành lộ Nam Ninh (với ý nghĩa là yên ổn bờ cõi phương nam), tên gọi Nam Ninh bắt đầu có từ đây. Năm Chí Chính 23 (1363), hành trung thư tỉnh Hồ Quảng phân chia ra thành hành trung thư tỉnh Quảng Tây, lộ Nam Ninh thuộc về hành trung thư tỉnh Quảng Tây. Năm Hồng Vũ thứ nhất (1368) phế bỏ lộ Nam Ninh, lập phủ Nam Ninh. Huyện Tuyên Hóa thuộc về phủ Nam Ninh, thủ phủ đặt tại khu vực ngày nay thuộc khu đô thị Nam Ninh. Nhà Thanh duy trì tổ chức và tên gọi của thời Minh.

Tháng 7 năm thứ nhất Trung Hoa dân quốc (1912), phế bỏ huyện Tuyên Hóa và phủ Nam Ninh. Tới tháng 10 cùng năm, chính quyền tỉnh Quảng Tây dời thủ phủ từ Quế Lâm về Nam Ninh. Như thế Nam Ninh trở thành trung tâm tỉnh Quảng Tây. Tháng 10 năm 1936, thủ phủ tỉnh Quảng Tây lại dời về Quế Lâm và Nam Ninh trở thành hành chính giám đốc khu (khi đó gọi là khu 9). Tháng 10 năm 1939, thủ phủ tỉnh Quảng Tây lại từ Quế Lâm dời về Nam Ninh.

Tháng 1 năm 1950, thành lập thành phố Nam Ninh. Ngày 8 tháng 2 cùng năm, chính quyền nhân dân tỉnh Quảng Tây thành lập, xác định Nam Ninh là thủ phủ tỉnh này. Tháng 12 năm 1952, Nam Ninh là thủ phủ khu tự trị người Choang Quế Tây (năm 1956 đổi thành châu tự trị người Choang Quế Tây). Tháng 3 năm 1958, Khu tự trị người Choang Quảng Tây thành lập, Nam Ninh là thủ phủ của khu tự trị.

Hành chính

phải|nhỏ|240px|Hành chính Nam Ninh

Nam Ninh có 6 quận (市辖区, thị hạt khu), 6 huyện (县).

Kinh tế

Nam Ninh về đêm

GDP năm 2004 58,8 tỷ NDT, tăng 13% so với năm 2003. GDP đầu người 16.121 NDT (tương đương 1.950 USD), năm 2003, xếp thứ 116/659 thành phố của Trung Quốc. Xuất khẩu năm 2004 đạt 5 tỷ USD. Nam Ninh có quặng: vàng, sắt, mangan, nhôm, thạch anh, bạc, than, đá cẩm thạch.

Nam Ninh có 6 khu phát triển (开发区, khai phát khu) là:

  • Khu phát triển công nghệ cao Nam Ninh DZ (南宁高新技术产业开发区)
  • Khu phát triển kinh tế công nghệ Nam Ninh DZ (南宁经济技术开发区)
  • Khu đầu tư Hoa kiều Nam Ninh (南宁华侨投资区)
  • Khu nghỉ mát thắng cảnh núi Thanh Tú Nam Ninh (南宁青秀山风景名胜旅游区)
  • Khu Tân Hồ Tương Tư Nam Ninh (南宁相思湖新区)
  • Khu công nghiệp Lục Cảnh Nam Ninh (南宁六景工业园区).

Du lịch

Nam Ninh là nơi trung chuyển khách đến tham quan Quế Lâm nổi tiếng, thăm các làng dân tộc thiểu sô ở Bắc và Tây Quảng Tây và khách Trung Quốc sang thăm Việt Nam bằng đường bộ.

Sân vận động Quảng Tây- nơi diễn ra Hội chợ Triển lãm Trung Quốc –ASEAN lần thứ 8, 2011

Các trường đại học

  • Đại học Quảng Tây (广西大学) (thành lập năm 1928)
  • Đại học Y khoa Quảng Tây (广西医科大学)
  • Đại học Dân tộc Quảng Tây (广西民族大学)
  • Học viện Sư phạm Quảng Tây (广西师范学院) (thành lập năm 1953)
  • Đại học Đông y dược Quảng Tây (广西中医药学院)
  • Học viện Nghệ thuật Quảng Tây (广西艺术学院)
  • Học viện Kinh tế Tài chính Quảng Tây (广西财经学院)
  • Học viện Giáo dục Quảng Tây(广西教育学院)

Chào ngày mới 1 tháng 3



CNM365. Chào ngày mới 1 tháng 3. Wikipedia Ngày này năm xưa. Năm 1076Ung Châu thất thủ trong Chiến dịch đánh Tống, 1075-1076 của quân Đại Việt. Năm 1872Vườn quốc gia Yellowstone được thành lập tại miền Tây Hoa Kỳ, đây là vườn quốc gia đầu tiên trên thế giới. Năm 1943 -ngày mất của  Alexandre Yersin, thầy thuốc Thụy Sĩ , bác học Pháp, sống và chết ở Việt Nam (ông sinh năm 1863)

1 tháng 3

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày 1 tháng 3 là ngày thứ 60 (61 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 305 ngày trong năm.

« Tháng 3 năm 2015 »
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30 31

Mục lục

Sự kiện

Sinh

Mất

Những ngày lễ và kỷ niệm

Tháng 1 | Tháng 2 | Tháng 3 | Tháng 4 | Tháng 5 | Tháng 6 | Tháng 7 | Tháng 8 | Tháng 9 | Tháng 10 | Tháng 11 | Tháng 12

Tham khảo

Chiến dịch đánh Tống, 1075-1076

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Chiến dịch đánh Tống 1075-1076
Một phần của Chiến tranh Tống – Việt, 1075-1077
Thời gian 27 tháng 10 năm 10751 tháng 3 năm 1076
Địa điểm Khâm Châu, Liêm Châu, Ung Châu thuộc Trung Quốc
Kết quả Đại Việt chiến thắng
Tham chiến
Nhà Lý Đại Việt Nhà Tống Trung Quốc
Chỉ huy
Lý Thường Kiệt
Lưu Kỷ
Nùng Tông Đản
Hoàng Kim Mãn
Vi Thủ An
Thân Cảnh Phúc
Lưu Di
Tô Giám  
Trương Thủ Tiết  
Trần Vĩnh Thái  
Thẩm Tông Cổ  
Phan Nhược Cốc  
Cổ Cấn Lặc
Lực lượng
8[1]-10 vạn[2][3] 2.800 quân chính quy (thành Ung Châu)[1]
5.000 quân (toàn Ung Châu)[4]
Khâm Châu: 500 quân[5]
Liêm Châu: ít nhất 8.000 thổ binh[5]
Không rõ số lượng[4] quân Quế Châu, Tân Châu, Bạch Châu, Dung Châu và các nơi khác
Tổn thất
Hơn 20.000 quân 70.000 [6]-100.000 quân và dân thiệt mạng[7]
.

Chiến dịch đánh Tống 1075-1076 là tên gọi chiến dịch do tướng nhà LýLý Thường Kiệt phát động nhằm tấn công quân Tống ở 3 châu dọc theo biên giới Tống – Việt năm 10751076.

Mục lục

Hoàn cảnh lịch sử

Năm 1010, Lý Công Uẩn lập ra nhà Lý. Để củng cố khu vực biên giới phía bắc, nhà Lý dùng chính sách gả công chúa cho các thủ lĩnh miền núi để gắn chặt mối quan hệ với họ. Trải qua 3 triều vua Lý Thái Tổ, Lý Thái TôngLý Thánh Tông, nước Đại Việt phát triển ổn định, khá vững mạnh.

Ở phương bắc, nhà Tống từ khi thành lập (năm 960) đã phải khắc phục những hậu quả do thời chia cắt Ngũ đại Thập quốc để lại. Ngoài việc đánh dẹp các nước cát cứ, nhà Tống phải đối phó với nước Liêu của người Khiết Đan lớn mạnh ở phương bắc – quốc gia được vua nhà Hậu Tấn cắt cho 16 châu Yên Vân ở phía bắc từ năm 936 nên lãnh thổ bành trướng nhiều về phía Trung Quốc và thường nhân đó can thiệp vào trung nguyên. Đến thời Tống Thái Tông, dù dẹp hết các nước trong Thập quốc nhưng nguy cơ uy hiếp từ phía nhà Liêu vẫn luôn tiềm ẩn với nhà Tống.

Sang thời Tống Nhân Tông, nhà Tống lại bị thêm sự uy hiếp của nước Tây Hạ của người Đảng Hạng phía tây bắc mới nổi. Nhà Tống phải cống nộp nhiều của cải và bị mất nhiều phần lãnh thổ cho Liêu và Tây Hạ. Trong nước, triều Tống bị rối loạn bởi những cải cách của Vương An Thạch.

Chủ trương tiến đánh các nước phía nam Trung Quốc để giải tỏa các căng thẳng trở thành một chiến lược của nhà Tống.

Ý định nam tiến của Tống

Từ thời Lý Thái Tông, nhà Lý đã nhân cuộc đánh phá biên giới nhà Tống của thủ lĩnh người TàyNùng Trí Cao mà bành trướng ngầm lãnh thổ của mình bằng cách xúi biên dân người Việt lấn đất và sinh sự trong một thời gian khá dài[8].

Từ năm 1070, Vương An Thạch chú ý đến phương nam và muốn lập công ở ngoài biên, tâu lên vua Tống rằng:

“Giao Chỉ vừa đánh Chiêm Thành bị thất bại, quân không còn nổi một vạn, có thể lấy quân Ung Châu sang chiếm Giao Chỉ.”[9].

Năm 1073, vua Tống Thần Tông phái Thẩm Khởi làm Quảng Tây kinh lược sứ lo việc xuất quân. Thẩm Khởi đặt các doanh trại, sửa đường tiếp tế, phủ dụ 52 động thuộc Ung Châu sung công các thuyền chở muối để tập thủy chiến.

Thẩm Khởi sau đó làm trái ý vua Tống, bị điều đi nơi khác và Lưu Di thay chức. Lưu Di được lệnh tăng cường binh lực, tiếp tục điểm dân, tích lương, đóng chiến thuyền, luyện tập thủy binh và cấm người Đại Việt sang đất Tống buôn bán vì sợ bị do thám.

Đặc biệt, nhà Tống đã biến Ung Châu thành một căn cứ xuất phát để đánh Đại Việt và giao cho Tô Giám, một viên tướng dày dặn kinh nghiệm trong cuộc chiến chống Nùng Trí Cao trước đây chỉ huy căn cứ này.

Đại Việt ra tay trước

Năm 1072 vua Lý Thánh Tông qua đời, thái tử Càn Đức mới 7 tuổi lên thay, tức là vua Lý Nhân Tông. Thái phi Ỷ Lan làm nhiếp chính, được sự phò tá của các đại thần Lý Thường Kiệt, Lý Đạo Thành nên tình hình quốc gia vẫn khá ổn định.

Tuy Tống cố gắng giữ bí mật, nhưng tình báo của Đại Việt vẫn nắm được ý đồ của quân Tống. Đặc biệt, năm 1073, một tiến sỹ nhà Tống là Từ Bá Tường vì không được trọng dụng nên đã thông báo với nhà Lý. Bởi thế Đại Việt đã nắm được khá đầy đủ tình hình chuẩn bị chiến tranh của nhà Tống.

Lúc này số quân Tống đang tập hợp ở các căn cứ Ung, Khâm, Liêm khoảng 10 vạn đang luyện tập, song chưa thể đánh ngay được vì số quân này là quân Hoa Nam vừa mới tuyển. Nhà Tống sẽ rút 45 ngàn cấm binh thiện chiến ở phương bắc để lập đạo quân chủ lực, thì việc đó làm chưa xong.[10][11].

Trước tình hình đó, thái úy Đại Việt là Lý Thường Kiệt cho rằng:

Ngồi yên đợi giặc sao bằng đánh trước để bẻ gãy mũi nhọn của nó

Chủ trương thực hiện một chiến lược đánh đòn phủ đầu, Tiên phát chế nhân. Ông quyết định mở trận tiến công quy mô sang đất Tống[12][13].

Trận châu Khâm-châu Liêm

Vị trí Khâm Châu tại Quảng Tây

Vị trí Ung Châu (ngày nay là Nam Ninh) tại Quảng Tây

Đại Việt đã huy động 10 vạn quân sang đánh phá căn cứ châu Ung của Tống, bao gồm cả lực lượng chính quy của triều đình lẫn quân của các thủ lĩnh dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc.

Đạo quân của triều đình ở phía Đông do đích thân Lý Thường Kiệt chỉ huy, gồm cả thủy lục quân xuất phát từ vùng Móng Cái ngày nay tiến vào đất Tống nhằm tới châu Khâm.

Còn đạo quân của các thủ lĩnh dân tộc thiểu số ở phía Tây đặt dưới sự chỉ huy của Tông Đản chia làm 4 mũi tiến vào đất Tống: Lưu Kỷ từ Quảng Nguyên (Cao Bằng), Hoàng Kim Mãn từ Môn Châu (Đông Khê – Cao Bằng), Thân Cảnh Phúc từ Quang Lang (Lạng Sơn) và Vi Thủ An từ Tô Mậu (Quảng Ninh) và nhắm tới châu Ung[14]. Đạo quân phía Tây sẽ “dương Tây” để đạo quân phía Đông bất ngờ “kích Đông”.

Phòng ngự châu Ung gồm hai phần, tổng số có 5.000 quân[4]. Giữ biên thuỳ Đại Việt và đóng quân trong thành: 2.000 quân đóng ở thành Ung, 3.000 chia đóng ở 5 trại tiếp giáp biên giới Đại Việt: Hoành Sơn, Thái Bình, Vĩnh Bình, Cổ Vạn, Thiên Long[4]. Khâm Châu và Liêm Châu sát biển tiếp giáp Quảng Ninh và Lạng Sơn ngày nay, đặt viên Phòng biên tuần sứ cai quản đoàn quân Đằng Hải để hợp với quân của hai viên tuần kiểm, không quá 500 người, đóng ở hai trại: Như Tích giáp biên thuỳ châu Vĩnh Anh và Để Trạo ở cửa sông Khâm Châu.[5]

Ngày 27 tháng 10 năm 1075, Vi Thủ An dẫn 700 quân từ Tô Mậu vào đánh Cổ Vạn, chiếm được trại Cổ Vạn. Tin tức đến tận ngày 21 tháng 12 mới tới được triều đình nhà Tống. Tiếp theo, các mũi quân phía Tây lần lượt đánh chiếm trại Vĩnh Bình, Thái Bình, các châu Tây Bình, châu Lộc, trại Hoành Sơn[15][16].

Quân Tống bị thu hút vào phía Tây, nên lơ là phía Đông. Đã có người Khâm châu phát hiện và báo cho tướng giữ thành là Trần Vĩnh Thái nhưng Thái không tin. Khi có tin đạo quân phía Đông của Đại Việt đến tập kích, Thái vẫn thản nhiên bày tiệc uống rượu. Quân Tống đã không chống đỡ nổi. Ngày 30 tháng 12 năm 1075, châu Khâm bị chiếm, Trần Vĩnh Thái và các thủ hạ Văn Lương, Ngô Phúc, Tưởng Cẩn, Tống Đạo đều bị bắt và bị giết. Quân Lý không phải giao phong một trận nào, lấy hết của cải mang đi[15]. Người dân địa phương của Bắc Tống dù sau này thương Thái bị giết mà lập đền thờ nhưng vẫn chê cười Thái là người ngu muội; hễ thấy ai không thông tuệ thì gọi là Trần Thừa Chỉ (Thừa chỉ là hàm chức của Vĩnh Thái)[17].

Nghe tin Khâm châu thất thủ, quân Tống ở Liêm châu cố phòng bị nhưng không chống nổi. Ngày 2 tháng 1 năm 1076, châu Liêm thất thủ[15][16] Chúa các trại Như Tích và Để Trạo đều tử trận. Phía Tống bị bắt tới 8.000 tù binh dùng để đưa đồ vật cướp được xuống thuyền sau cũng đem giết hết. Quan trấn thủ châu Khâm là Lỗ Khánh Tôn và các thủ hạ Lương Sở, Chu Tông Thích, Ngô Tông Lập đều bị giết.

Sau đó, Lý Thường Kiệt dẫn quân đến châu Ung cùng đạo quân phía Tây quyết tâm hạ thành châu Ung.

Phát “Phạt Tống lộ bố văn”

Lý Thường Kiệt kéo quân tiến sâu vào nội địa. Phía Tống không còn quân cản đường quân Lý kéo đến thành Ung châu[18]. Nhưng Lý Thường Kiệt vẫn lo ngại dân Tống sẽ cản đường về của quân Lý, do đó nhằm phô trương danh nghĩa cuộc bắc phạt, Lý Thường Kiệt viết Phạt Tống lộ bố văn và sai yết ở dọc đường để kể tội nhà Tống.

Dân Tống thấy lời tuyên cáo đều vui mừng đồng tình, mang rượu thịt ra khao quân Lý. Từ đó mỗi khi dân Tống thấy cờ hiệu Lý Thường Kiệt từ xa đều nói đó là quân của cha họ Lý người nước Nam và cùng nhau bày án bái phục trên đường. Do đó uy danh quân Lý lan rất xa[18].

Trận Ung Châu

Quân Lý vây thành

Ngày 10 tháng 12, Tông Đản kéo đến Ung Châu. Cánh quân chiếm được Khâm Châu tiến lên Ung Châu. Cánh chiếm được Liêm Châu tiến sang miền Đông Bắc chiếm châu Bạch[19].

Nửa tháng sau Ty kinh lược Quảng Tây mới hay tin về cuộc tấn công này để thông báo về triều. Vua tôi nhà Tống hết sức bối rối. Rồi nhiều nơi khác bị mất lại được cáo cấp về, nhà Tống càng hoang mang, sau đó có lệnh của Tống Thần Tông cho Quảng Châu, Quảng Tây phải cố thủ ở các nơi hiểm yếu nhất, vận chuyển tiền, vải, lương thực để khỏi lọt vào tay quân Lý, cách chức Lưu Di, cử Thạch Giám thay coi Quế Châu và đưa viện binh tới các thị trấn đang bị uy hiếp.

Ngày 18 tháng 1 năm 1076, đạo quan của Lý Thường Kiệt cũng tới thành Ung. Mấy vạn quân của Lý Thường Kiệt, Lưu Kỷ và các tù trưởng khác vây thành Ung vài vòng kín như bưng. Tướng giữ thành là Tô Giám thấy thế quân Đại Việt mạnh nên đã áp dụng triệt để chính sách cố thủ để chờ viện quân, tính chỉ hai tuần lễ có thể đến nơi. Tô Giám ban đầu tin rằng Ung Châu cách Quế Châu chỉ có 14 ngày đường, nên viện binh thế nào cũng sẽ đến kịp cho nên đóng cửa thành cố thủ. Kiểm điểm binh lương, trong thành Ung lúc ấy chỉ có 2.800 quân. Dân thành Ung tất cả được gần 6 vạn người bấy giờ sợ hãi đạp nhau mà chạy. Ông đem hết công nhu (tiền công) phát hết cho dân khích lệ mọi người vững lòng, kiên trí. Kẻ nào bỏ trốn phải tội theo quân lệnh (Địch Tích là một bộ hạ dưới trướng của Tô Giám bị chém trong trường hợp này). Ông còn phao tin viện binh không còn xa thành là bao nhiêu.

Trước đó con Tô Giám là Tử Nguyên làm quan ở Quế Châu đem gia đình đến thăm cha, lúc sắp trở về thì thành Ung bị vây, Tô Giám lại bắt Tử Nguyên để vợ con ở lại chỉ được về Quế Châu một mình, vì sợ nếu để người nhà đi đông thì nhân dân cũng bỏ trốn hết.

Viện binh Quế Châu

Lúc này Lưu Di giữ Quế Châu nghe tin thành Ung bị nguy liền phái Trương Thủ Tiết đem quân đi cứu. Thủ Tiết nghe tin quân Lý đông và mạnh, không dám tiến thẳng đến Ung châu, đi vòng theo đường Quý Châu tới Tân Châu rồi hạ trại ở Khang Hòa nghe ngóng.

Ung Châu bị vây gấp quá, Tô Giám cho người mang lạp thư – thư viết vào giấy rồi bọc trong nến – mà ngậm vào miệng phá vòng vây ra báo cho Tống Cầu ở Quế Châu. Tống Cầu giục Trương Thủ Tiết đi gấp. Tiết bất đắc dĩ kéo quân đi, đến núi Hỏa Giáp[20] rồi ra giữ ải Côn Lôn giữa châu Tân và châu Ung, cách Ung 40 km.

Lý Thường Kiệt biết tin viện binh Tống đến, bèn cho quân đón đánh. Ngày 4 tháng Giêng âm lịch, tức ngày 11 tháng 2 năm 1076, quân Lý kéo thẳng đến ải Côn Lôn, quân Tống hốt hoảng bỏ chạy. Trương Thủ Tiết, Nguyên Dụ, Trương Biện, Hứa Dự, Vương Trấn là các chỉ huy của lực lượng viện binh nhà Tống đều bị giết tại trận. Nhiều quân sĩ Tống đầu hàng quân Lý[17].

Quân Lý hạ thành

Thành Ung châu vững chắc, chính Vương An Thạch tin rằng quân Lý sẽ không phá nổi.

Để công phá Ung Châu, mấy vạn quân Lý bắc thang mây để leo thành. Quân Tống dùng đuốc mà đốt nên không thể bắc gần được. Lý Thường Kiệt lại dùng tên độc mà bắn, người ngựa trên thành chết nằm gối lên nhau. Quân Tống dùng thần tư (một loại nỏ) ra bắn. Thành cao và chắc, quân Lý đánh phá hơn 40 ngày không hạ được. Có tù bình bên Tống hiến kế với Lý Thường Kiệt dùng phép thổ công, tức là chèo qua bao đất vào thành. Quân Đại Việt liền lấy túi cho đất vào, cứ thế đắp vào chân thành. Khi các bao đất cao lên, quân Lý theo đó mà leo lên mặt thành. Lý Thường Kiệt theo đó mà tiến đánh.

Ngày 1 tháng 3 năm 1076, sau 42 ngày kiên cường kháng cự[21], thành Ung thất thủ. Tô Giám cố gắng đốc thúc cùng bọn tàn quân chiến đấu đến phút cuối cùng. Khi đã kiệt sức ông cho 36 thân nhân tự sát rồi tự thiêu mà chết. Không tìm thấy Tô Giám, quân Đại Việt giết hết dân trong thành, tổng cộng hơn 50.000 người[21]. Trận này quân Lý bị thiệt hại 15.000 quân, cùng một số voi chiến[22].

Đại Việt rút quân

Lấy xong Ung châu, Lý Thường Kiệt kéo quân lên phía bắc, tỏ ý muốn đánh tiếp Tân châu. Tướng giữ Tân châu nhà Tống là Cổ Cắn Lặc nghe tin, sợ hãi bỏ thành chạy.

Lý Thường Kiệt ra lệnh tiêu hủy thành lũy, phá kho tàng dự trữ trong vùng Tả Giang và lấy đá lấp sông chặn đường cứu viện của quân Tống[23].

Liệu chừng đại quân Tống từ phương bắc sắp kéo xuống, nếu tiến gấp có thể qua vùng khê động đánh vào châu Quảng Nguyên của Đại Việt, mà quân Lý công phá thành Ung châu hơn 1 tháng đã mệt mỏi, Lý Thường Kiệt quyết định thu quân trở về Đại Việt để lo bố phòng.

Tháng 3 năm 1076, quân Lý rút khỏi Ung châu.

Kết quả và ý nghĩa

Nhà Tống chủ trương tập trung căn cứ hậu cần tại các cứ điểm phía nam để chuẩn bị đánh Đại Việt. Nhà Lý đánh phá các châu Liêm, Khâm và Ung, đốt hết các trại Vĩnh Bình, Thái Bình, Thiên Long, Cổ Vạn đã đạt được mục tiêu ra quân chặn thế mạnh của Tống.

Sau thất bại này, cả Tống Thần Tông và Vương An Thạch đều quy lỗi cho các tướng dưới quyền. Thẩm Khởi và Lưu Di bị truy xét tội trạng. Vương An Thạch viết trong Tư kỷ:

Vua sai Khởi kinh chế kín việc Giao Chỉ, các đại thần không hay. Phàm Khởi tâu xin gì, vua cũng nghe.

Nhưng Tống Thần Tông từ chối việc từng sai Thẩm Khởi chuẩn bị đánh Đại Việt, tự tay viết chiếu nói:

Trước Thẩm Khởi ở Quảng Tây nói dối là nhận được mật chỉ của triều đình bảo soạn đánh Giao Chỉ[24]

Cả Tống Thần TôngVương An Thạch đều hối tiếc vì không đánh Đại Việt sớm, ngay khi Lý Nhân Tông mới lên ngôi. Sau khi Ung châu thất thủ, phía nhà Tống thừa nhận không còn cơ hội “đánh úp Giao Chỉ” nhưng vẫn chuẩn bị kế hoạch phục thù.

Nhà nghiên cứu Hoàng Xuân Hãn cho rằng:

Tống tiếc rẻ không đánh Đại Việt trước, nhưng không biết rằng sở dĩ Tống bị đánh trước vì dự định đánh Đại Việt. Trong cuộc chiến này, phía Đại Việt nhờ có Lý Thường Kiệt chủ động đi bước trước nên đã giành thắng lợi hoàn toàn và tránh khỏi được thất bại về sau (trong toàn cuộc chiến với Tống)[25].

Xem thêm

Tham khảo

  • Đại Việt sử lược
  • Đại Việt sử ký toàn thư
  • Hoàng Xuân Hãn (1996), Lý Thường Kiệt, lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý, NXB Hà Nội
  • Phạm Văn Sơn, Việt Sử Toàn Thư – bản điện tử
  • Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2003), Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 3, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
  • Tống Sử
  • Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược – bản điện tử

 

Vườn quốc gia Yellowstone

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Vườn quốc gia Yellowstone

IUCN II (Vườn quốc gia)
Hẻm núi lớn của Yellowstone

Hẻm núi lớn của Yellowstone

Vị trí Vườn quốc gia Yellowstone

Vị trí Vườn quốc gia Yellowstone

Vị trí vườn quốc gia Yellowstone

Vị trí Wyoming, MontanaIdaho, USA
Tọa độ 44°36′0″B 110°30′0″TTọa độ: 44°36′0″B 110°30′0″T
Diện tích 2.219.799 mẫu Anh (8.983 km²)[1]
Thành lập 1 tháng 3 năm 1872
Lượng khách 2.835.649[2] (năm 2005)
Cơ quan quản lý Cục Công viên Quốc gia Hoa Kỳ

Vườn quốc gia Yellowstone là một vườn quốc gia Hoa Kỳ nằm ở các bang phía tây Wyoming, MontanaIdaho của Hoa Kỳ được thành lập ngày 01 tháng 3 năm 1872,[3][4]. Yellowstone là vườn quốc gia đầu tiên và xưa nhất thế giới, phần lớn ở góc phía đông của Wyoming. Yellowstone nổi tiếng với các loài động vật hoang dãcác điểm địa nhiệt, đặc biệt là mạch nước phun Old Faithful.[1] Ở đây có một số kiểu hệ sinh thái, như kiểu rừng cận núi cao là chủ yếu.

Người Mỹ bản địa đã sống ở vùng Yellowstone ít nhất là 11,000 năm. Khu vực này nằm trên đường đi trong cuộc thám hiểm của Lewis và Clark vào đầu thập niên 1800. Bên cạnh việc tham quan của mountain men trong nửa đầu thập niên 1800, các cuộc thám hiểm có tổ chức chỉ bắt đầu từ cuối thập niên 1860. Quân đội Hoa Kỳ đã được ủy nhiệm để giám sát khu này sau khi nó được thành lập. Năm 1917, quyền quản lý vườn quốc gia được giao cho National Park Service, một cơ quan được thành lập vài năm trước đó. Hàng trăm công trình đã được xây dựng và được bảo vệ về các yếu tố lịch sử và kiến trúc, và các nhà nghiên cứu đã kiểm tra, đánh giá hơn 1.000 điểm khảo cổ.

Vường quốc gia Yellowstone có diện tích 8.980 km², bao gồm các hồ, vực, sông và các dãi núi.[1] Hồ Yellowstone là một trong những hồ nằm ở độ cao lớn nhất Bắc Mỹ và năm ở trung tâm của lòng chảo Yellowstone, một siêu núi lửa lớn nhất trên lục địa. Lòng chảo là một núi lửa đang hoạt động; nó đã phun nhiều lần với sức mạnh rất lớn trong 2 triệu năm gần đây. Phân nửa các điểm địa nhiệt trên thế giới là nằm ở Yellowstone.[5] Các dòng dung nham và đá núi lửa phủ hầu hết các vùng đất của Yellowstone. Vườn quốc gia là vùng lõi của hệ sinh thái Greater Yellowstone, hệ sinh thái hầu như còn nguyên vẹn lớn nhất thuộc vùng ôn đới bắc Bán cầu.[6]

Hàng trăm loài động vật có vú, chim, cá và rùa đã được ghi nhận bao gồm một số loài có nguy cơ tuyệt chủng hoặc bị đe dọa tuyệt chủng.[1] Các mảng rừng và đồng cỏ lớn cũng có chỉ bao gồm các loài thực vật duy nhất. Có các loài gấu, sói xám, và các bầy bò rừng bizonnai sừng tấm sống khu vườn này. Các trận cháy rừng xảy ra trong công viên mỗi năm; trong trận cháy rừng năm 1988, gần một phần ba công viên bị đốt cháy. Yellowstone có nhiều điểm vui chơi giải trí như đi bộ đường dài, cắm trại, chèo thuyền, câu cá và ngắm cảnh. Các đường bê tông được xây dựng đến các khu vực địa nhiệt chính cũng như các hồ và thác. Vào mùa đông, du khách thường đến công viên theo các tour du lịch có người hướng dẫn sử dụng các xe trượt tuyết.

Mục lục

Địa lý

Hồ Yellowstone trong buổi sáng mùa xuân

Bản đồ Wyoming chỉ ra vườn quốc gia Yellowstone

Khoảng 96% diện tích đất dai của vườn quốc gia Yellowstone nằm trong tiểu bang Wyoming. Khoảng 3% thuộc lãnh thổ bang Montana và khoảng 1% còn lại thuộc bang Idaho. Vườn quốc gia này dài khoảng 102 km (63 dặm Anh) theo chiều bắc-nam và 87 km (54 dặm Anh) theo chiều đông-tây. Với diện tích 898.317 ha (2.219.789 mẫu Anh), Yellowstone lớn hơn cả cả hai bang là đảo RhodeDelaware cộng lại. Sông và hồ chiếm 5% diện tích đất, với khu vực chứa nước lớn nhất là hồ Yellowstone có diện tích 35.220 ha (87.040 mẫu Anh). Hồ Yellowstone sâu tới 122 m (400 ft) và có 177 km (110 dặm Anh) đường bờ hồ. Nằm ở cao độ 2.357 m (7.733 ft) trên mực nước biển, hồ Yellowstone là hồ nằm ở độ cao lớn nhất tại Bắc Mỹ. Rừng chiếm 80% diện tích đất đai của vườn, phần lớn diện tích còn lại là đồng cỏ[1]

Đường phân chia lục địa của Bắc Mỹ chạy chéo qua phần tây nam của vườn. Đường phân chia này là một đặc trưng địa hình chia tách các lưu vực chia nước của Thái Bình DươngĐại Tây Dương. Khoảng một phần ba vườn nằm ở phía tây của đường phân chia này. Nơi phát sinh của các sông Yellowstone và sông Snake là gần nhau nhưng trên hai mặt đối diện nhau của đường phân chia này. Kết quả là nước của sông Snake chảy tới Thái Bình Dương trong khi nước của sông Yellowstone lại chảy tới Đại Tây Dương thông qua vịnh Mexico.

Grand Canyon của Yellowstone. Lưu ý tới màu vàng của đá, mà từ đó có tên gọi của vườn quốc gia này

Vườn nằm trên cao nguyên Yellowstone, với độ cao trung bình là 2.400 m (8.000 ft) trên mực nước biển. Cao nguyên này có ranh giới ở gần như mọi mặt là các dãy núi của dãy núi Trung Rocky, với độ cao từ 2.743 tới 3.352 m (9.000-11.000 ft). Điểm cao nhất trong vườn là đỉnh Eagle cao 3.462 m (11.358 ft) và điểm thấp nhất là dọc theo lạch Reese (1.610 m hay 5.282 ft)[1]. Các dãy núi cận kề như dãy núi Gallatin ở phía tây bắc, dãy núi Beartooth ở phía bắc, dãy núi Absaroka ở phía đông và dãy núi Teton cùng dãy núi Madison ở phía tây nam và tây. Đỉnh núi nổi bật nhất trên cao nguyên Yellowstone là đỉnh Washburn cao 3.122 m (10.243 ft).

Vườn quốc gia Yellowstone có một trong những rừng hóa đá lớn nhất trên thế giới, với các cây gỗ bị vùi lấp từ rất lâu bơit tro bụi và đất, bị chuyển hóa từ gỗ thành các vật liệu khoáng hóa. Tại đây có 290 thác nước cao ít nhất 4,5 m (15 ft), với thác nước cao nhất là thác hạ lưu sông Yellowstone cao 94 m (308 ft)[1].

Hai hẻm núi sâu nằm trong vườn quốc gia, cắt ngang qua đá túp núi lửa của cao nguyên Yellowstone bằng các con sông ít nhất là trên 640.000 năm. Sông Lewis chảy qua hẻm núi Lewis ở phía nam còn sông Yellowstone chảy qua Grand Canyon của Yellowstone trong hành trình của nó ở phía bắc.

Địa chất

Bazan cột gần thác Tower; các trận ngập lụt lớn của bazan và các kiểu dung nham khác diễn ra trước sự phun trào khổng lồ của tro và đá bọt siêu nóng

Yellowstone là nơi kết thúc phía đông bắc của bình nguyên sông Snake, một vòng cung lớn hình chữ U qua các dãy núi trải rộng từ Boise, Idaho khoảng 640 km (400 dặm Anh) về phía tây. Đặc trưng này đi theo hành trình của mảng Bắc Mỹ trong suốt 17 triệu năm gần đây do nó bị chuyển vận bởi kiến tạo địa tầng ngang qua điểm nóng lớp phủ tĩnh. Cảnh quan của Vườn quốc gia Yellowstone ngày nay là biểu lộ gần đây nhất của điểm nóng này phía dưới lớp vỏ Trái Đất[7].

Các thềm cao của suối nước nóng Mammoth

Hõm chảo Yellowstone là hệ thống núi lửa lớn nhất tại Bắc Mỹ. Nó được gọi là “siêu núi lửa” do hõm chảo được hình thành từ các vụ phun trào nổ cực lớn. Hõm chảo hiện tại được tạo ra từ vụ phun trào biến cố địa chất diễn ra khoảng 640.000 năm trước, trong đó giải phóng 1.000 km³ (240 dặm khối Anh) tro, đá và các vật liệu đá mảnh nhiệt. Vụ phun trào này mãnh liệt hơn phun trào núi St. Helens 1980 tới 1.000 lần[8]. Nó tạo ra một miệng núi lửa sâu tới 1 km (0,62 dặm Anh) và kích thước 85 x 45 km (52 x 28 dặm Anh) và ngưng đọng thành Lava Creek Tuff, một thành hệ địa chất đá túp cố kết. Vụ phun trào mãnh liệt nhất đã biết, diễn ra khoảng 2,1 triệu năm trước, phun ra 2.450 km³ (588 dặm khối Anh) vật liệu tro núi lửa và tạo thành thành hệ đá gọi là Huckleberry Ridge Tuff và tạo ra hõm chảo Island Park[9]. Vụ phun trào nhỏ hơn phóng ra 280 km³ (67 dặm khối Anh) vật liệu khoảng 1,2 triệu năm trước, tạo thành hõm chảo Fork Henry và ngưng đọng thành Mesa Falls Tuff[8].

Đường đi bộ bằng gỗ cho phép du khách tới gần suối nước nóng Grand Prismatic.

Cả ba vụ phun trào cao đỉnh này đã giải phóng một lượng lớn tro và che phủ phần lớn miền trung Bắc Mỹ, với tro bụi rơi xuống cách xa đó hàng trăm dặm. Lượng tro bụi và khí giải phóng vào khí quyển có lẽ đã gây ra những tác động đáng kể tới các kiểu mẫu thời tiết thế giới và dẫn tới sự tuyệt chủng của nhiều loài, chủ yếu tại Bắc Mỹ[10].

Vụ phun trào cao đỉnh nhỏ hơn sau đó diễn ra khoảng 160.000 năm trước. Nó tạo thành một hõm chảo tương đối nhỏ, chứa West Thumb của hồ Yellowstone. Muộn hơn, hai chu kỳ phun trào nhỏ hơn, với vụ cuối cùng diễn ra khoảng 70.000 năm trước đã vùi lấp phần lớn hõm chảo dưới lớp dung nham dày[9].

Mỗi vụ phun trào trên thực tế là một phần của chu kỳ phun trào có cao đỉnh với sự sụp đổ của mái của khoang macma bị rút cạn một phần. Nó tạo ra miệng núi lửa, gọi là hõm chảo và giải phóng một lượng rất lớn vật liệu núi lửa, thường là thông qua những khe nứt bao quanh hõm chảo. THời gian giữa ba vụ phun trào biến cố địa chất gần đây nhất trong khu vực Yellowstone dao động trong khoảng 600.000 tới 900.000 năm, nhưng số lượng nhỏ như vậy của các vụ phun trào cao đỉnh không thể sử dụng để dự đoán các sự kiện núi lửa trong tương lai[11].

Các tia nắng hoàng hôn trong hơi nước tại Tổ hợp suối nước nóng Mammoth

Khoảng 630.000 tới 700.000 năm trước, hõm chảo Yellowstone đã gần như được nhồi đầy với các vụ phun trào có chu kỳ của các dung nham rhyolit như có thể thấy tại Obsidian Cliff, và các dung nham bazan như có thể thấy tại Sheepeater Cliff. Các địa tầng dung nham dễ dàng nhìn thấy nhất tại hẻm núi lớn (Grand Canyon) của Yellowstone, nơi sông Yellowstone vẫn đang tiếp tục đục vào trong các lớp dung nham cổ đại. Hẻm núi này là thung lũng chữ V kinh điển, chỉ ra rằng ở đây có sự xói mòn kiểu sông chứ không phải sự xói mòn kiểu sông băng.

Mạch nước phun nổi tiếng nhẩt trong vườn, và có lẽ của thế giới, là mạch nước phun Old Faithful, nằm tại Bồn địa Upper Geyser. Mạch nước phun Castle, mạch nước phun Lionmạch nước phun Beehive nằm trong cùng một bồn địa. Vườn quốc gia chứa mạch nước phun hoạt động lớn nhất thế giới—Mạch nước phun Steamboat tại bồn địa Norris Geyser. Có khoảng 300 mạch nước phun tại Yellowstone và tổng cộng ít nhất 10.000 điểm đặc trưng địa nhiệt. Một nửa điểm đặc trưng địa nhiệt và hai phần ba mạch nước phun của thế giới tập trung tại Yellowstone[12].

Tháng 5 năm 2001, Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ, Vườn quốc gia Yellowstone và Đại học Utah đã lập ra Đài quan sát núi lửa Yellowstone (YVO), một cơ quan để giám sát dài hạn các tiến trình địa chất của dải núi lửa trên cao nguyên Yellowstone, để phổ biến các thông tin liên quan tới các nguy hiểm rủi ro tiềm năng của khu vực có hoạt động địa chất mạnh này[13].

Mạch nước phun Old Faithful phun trào nước nóng khoảng sau mỗi 91 phút.

Năm 2003, các thay đổi trong bồn địa Norris Geyser đã làm người ta phải tạm thời đóng cửa một vài đường đi trong bồn địa. Các lỗ phun khí mới được ghi nhận và một vài mạch nước phun thể hiện sự gia tăng trong hoạt động với nhiệt độ nước tăng cao. Một vài mạch nước phun trở nên quá nóng đến mức chúng chuyển thành dạng chỉ phun hơi nước nóng do nước bị quá nhiệt và chúng không thể phun trào bình thường được nữa[14]. Điều này trùng khớp với báo cáo của dự án nghiên cứu lâu năm của Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ, trong đó người ta lập bản đồ đáy hồ Yellowstone và nhận dạng mái vòm cấu trúc đã bị đội lên trong quá khứ. Nghiên cứu chỉ ra rằng những phần đội lên này không gây ra mối đe dọa ngay lập tức về phun trào núi lửa, do chúng có thể đã phát triển rất lâu từ trước đó và không thấy có sự gia tăng nhiệt độ gần với các chỗ đội lên[15]. Ngày 10-3-2004, một nhà sinh học phát hiện 5 con bò rừng bizon bị chết dường như do bị hít phải khí địa nhiệt độc hại bị sót lại trong bồn địa Norris Geyser bởi sự đảo ngược khí quyển theo mùa. Nó gần trùng khớp với sự bột phát hoạt động địa chấn trong tháng 4 năm 2004[16]. Năm 2006, người ta thông báo rằng các khu vực mái vòm hồ Mallard và mái vòm lạch Sour— những khu vực người ta đã biết từ lâu là có các thay đổi đáng kể trong chuyển động trong lòng đất của chúng— đã trồi lên với tốc độ khoảng 4 tới 6 cm (1,5 tới 2,4 inch) mỗi năm từ giữa năm 2004 cho tới năm 2006[17]. Vào cuối năm 2007, sự trồi lên này vẫn tiếp tục với tốc độ đã giảm[18]. Các sự kiện này đã gây sự chú ý lớn từ các phương tiện thông tin đại chúng cũng như những đồn đoán về tương lai địa chất của khu vực. Các chuyên gia đã bác bỏ những đồn đoán bằng cách thông báo rằng không có rủi ro tăng cao về phun trào núi lửa trong tương lai gần[19].

Phun trào của mạch nước phun Castle

Phun trào của mạch nước phun Castle năm 1874

Yellowstone trải qua hàng nghìn trận động đất nhỏ mỗi năm, dường như tất cả đều khó ghi nhận đối với con người. Tại đây có ít nhất 6 trận động đất với cường độ lớn hơn 6 hay lớn hơn trong quá khứ, bao gồm cả trận động đất cường độ 7,3-7,5 diễn ra với chấn tâm ngay bên ngoài ranh giới phía tây bắc vườn quốc gia vào ngày 17 tháng 8 năm 1959. Trận động đất này đã gây ra một trận lở đất lớn, gây ra sự sập đổ ngăn chặn một phần hồ Hebgen ngay phía dưới dòng chảy của đập Hebgen, trầm tích từ vụ lở đất đã chặn sông Madison và tạo ra một hồ mới phía trên đập, gọi là hồ Earthquake. Hai mưới tám người đã chết và các tổn thất về tài sản trong khu vực cận kề là rất lớn. Trận động đất đã làm cho một số mạch nước phun ở phía tây bắc vườn quốc gia phải phun trào, các vết nứt lớn trong lòng đất được hình thành và thoát hơi nước nóng, còn một số suối nước nóng thông thường có nước trong đã trở thành vẩn đục[20]. Một trận động đất cường độ 6,1 đã xảy ra trong vườn quốc gia vào ngày 3 tháng 6 năm 1975, nhưng tổn thất là không đáng kể. Trong ba tháng của năm 1985, khoảng 3.000 trận động đất nhỏ đã được máy móc ghi nhận tại phía tây bắc vườn quốc gia, làm hõm chảo Yellowstone lún xuống một chút[8]. Bắt đầu từ ngày 30 tháng 4 năm 2007, khoảng 16 trận động đất nhỏ có cường độ lên tới 2,7 đã diễn ra tại hõm chảo Yellowstone trong vài ngày. Những tập hợp nhiều trận động đất như vậy là phổ biến và từng có 70 tập hợp động đất như thế trong giai đoạn từ năm 1983 tới năm 2008[21]. Tháng 12 năm 2008, trên 250 trận động đất được ghi nhận trong vòng 4 ngày phía dưới hồ Yellowstone, trận mạnh nhất có cường độ 3,9[22]. Hoạt động địa chấn trong vườn quốc gia Yellowstone là liên tục và được Chương trình nguy hiểm động đất của Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ ghi nhận, báo cáo mỗi giờ[23].

Sinh học và sinh thái

Linh dương sừng tỏa là động vật sinh sống phổ biến trong các đồng cỏ của vườn quốc gia.

Vườn quốc gia Yellowstone là trung tâm của 8.093.712 ha đất đai thuộc Hệ sinh thái Đại Yellowstone, một khu vực bao gồm cả Vườn quốc gia Grand Teton, rừng quốc gia Hoa Kỳ cận kề và các khu vực hoang vu rộng lớn trong các khu rừng này. Hệ sinh thái này là dải kéo dài liên tcj còn sót lại lớn nhất của vùng đất cổ xưa chưa phát triển tại Hoa Kỳ ngoài Alaska và được coi là hệ sinh thái còn nguyên vẹn lớn nhất thế giới tại khu vực ôn đới Bắc bán cầu[6] (mặc dù khu vực này chủ yếu không phải là ôn đới mà là cận núi cao và toàn bộ vùng đất thuộc rừng quốc gia Hoa Kỳ bao quanh vườn quốc gia này không còn nguyên vẹn). Với sự thành công của chương trình tái du nhập chó sói bắt đầu từ thập niên 1990, dường như mọi loài động vật từng sinh sống trong khu vực này khi người da trắng lần đầu tiên đặt chân tới đây đều có thể lại được tìm thấy.

Quần thực vật

1.700 loài cây gỗ và các dạng thực vật có mạch khác là bản địa của vườn quốc gia. Khoảng 170 loài khác là loài xâm lấn không bản địa. Trong số 8 loài cây lá kim đã lập hồ sơ, các rừng thông Lodgepole che phủ 80% tổng số diện tích rừng[1]. Các loài cây lá kim khác, như linh sam cận núi cao, vân sam Engelmann, linh sam Douglas núi Rockythông vỏ trắng, được tìm thấy như là các lùm cay thưa thớt trong suốt cả vườn quốc gia. Vào năm 2007, thông vỏ trắng bị nấm gỉ sắt thông vỏ trắng đe dọa; tuy nhiên, nó chủ yếu diễn ra tại các khu rừng phía bắc và tây. Tại Yellowstone, khoảng 7% thông vỏ trắng bị nấm này gây hại, trong khi tại tây bắc Montana thì gần như toàn bộ thông vỏ trắng đều bị nấm gây hại[24]. Dương rungliễu là các loài cây lá sớm rụng phổ biến nhất tại đây. Các rừng dương rung đã suy giảm đáng kể từ đầu thế kỷ 20, nhưng các nhà khoa học tại Đại học bang Oregon đã góp phần vào việc phục hồi dương rung bằng cách đưa chó sói trở lại đây để làm thay đổi thói quen gặm lá của nai sừng tấm bản địa[25].

Tại đây có vài chục loài thực vật có hoa đã được nhận dạng, phần lớn ra hoa trong khoảng tháng 5 tới tháng 9[26]. Cỏ roi ngựa cát Yellowstone là loài hiếm chỉ tìm thấy tại Yellowstone. Nó có quan hệ họ hàng gần với các loài sinh sống trong khu vực có khí hậu nóng hơn, làm cho nó trở thành kỳ dị tại đây. Khoảng 8.000 cụm loài hoa hiếm này sống tren các vùng đất cát ven bờ hồ Yellowstone, ngay phía trên mực nước[27].

Quần động vật

Bò rừng bizon gặm cỏ gần suối nước nóng

Tại Yellowstone có khoảng 60 loài động vật có vú, bao gồm cả loài nguy cấpsói xám, các loài bị đe dọa như linh miêugấu xám Bắc Mỹ[1]. Các loài thú lớn khác còn có bò rừng bizon, gấu đen, nai sừng tấm, nai anxet, hươu đuôi đen, dê núi, linh dương sừng tỏa, cừu sừng tobáo sư tử.

Bắt đầu từ năm 1914, trong cố gắng nhằm bảo vệ quần thể nai sừng tấm, Quốc hội Hoa Kỳ đã cho lập quỹ để sử dụng vào mục đích “tiêu diệt chó sói, chó đồng cỏ và các động vật khác gây tổn hại cho nông nghiệp và gia súc” trên các vùng đất công. Các thợ săn của Vườn quốc gia đã thực hiện nhiệm vụ này và vào năm 1926 họ đã bắn giết 136 chó sói và dường như chó sói đã biến mất khỏi Yellowstone[28]. Sự tiêu diệt còn tiếp diễn tới năm 1935 khi Cục Vườn quốc gia chấm dứt hoạt động này. Với sự thông qua của Luật về loài nguy cấp năm 1973 thì chó sói là một trong số những loài động vật có vú được liệt kê đầu tiên[28]. Sau khi chó sói bị tiêu diệt khỏi Yellowstone thì chó sói đồng cỏ trở thành động vật ăn thịt hàng đầu. Tuy nhiên, do nó không thể hạ được những con thú lớn nên quần thú lớn trở nên què quặt và bệnh hoạn.

Sói xám du nhập tại Vườn quốc gia Yellowstone

Vào thập niên 1990, Chính phủ liên bang đã thay đổi quan điểm về sói. Trong một quyết định gây mâu thuẫn của Cục Cá và Động vật hoang dã Hoa Kỳ, 66 con sói thung lũng Mackenzie, được nhập khẩu từ Canada, đã được du nhập vào vườn quốc gia này. Các cố gắng tái du nhập đã thành công với quần thể tương đối ổn định. Một khảo sát tiến hành năm 2005 thông báo họ phát hiện 13 bầy sói, tổng cộng 118 con tại Yellowstone và 326 trong toàn bộ hệ sinh thái.

Một vấn đề nhức nhối khác là có rất nhiều du khách đi tham quan trong vườn quốc gia Yellowstone đã bị gấu xám Bắc Mỹ tấn công. Nạn nhân bị gấu tấn công thường là khách đi bộ đường dài và gặp phải chúng trên đường. Đã có rất nhiều người bị gấu tấn công đến tử vong. Do gấu xám ở đây rất hung dữ nên vì thế vườn quốc gia phải nghiêm cấm du khách không được tiếp cận gấu, không được cho gấu ăn, khi đi bộ đường dài không được đi một mình, khi gặp gấu không được bỏ chạy và phải mang bình xịt gấu khi đi bộ trong rừng.

Ghi chú

  1. ^ a ă â b c d đ e ê “Yellowstone Fact Sheet”. National Park Service. 10 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2007.
  2. ^ “Historical Annual Visitation Statistics”. Yellowstone National Park. U.S. Department of the Interior. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2006.
  3. ^ “Yellowstone, the First National Park”. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2010.
  4. ^ U.S. Statutes at Large, Vol. 17, Chap. 24, tr. 32-33. “An Act to set apart a certain Tract of Land lying near the Head-waters of the Yellowstone River as a public Park.” From The Evolution of the Conservation Movement, 1850-1920 collection. Library of Congress
  5. ^ “Geothermal Features and How They Work”. National Park Service. 17 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2007.
  6. ^ a ă Schullery, Paul. “The Greater Yellowstone Ecosystem”. Our Living Resources. U.S. Geological Survey. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2007.
  7. ^ “The Snake River Plain”. Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ. 12 tháng 3 năm 2001. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2007. Đã bỏ qua tham số không rõ |abbr= (trợ giúp)
  8. ^ a ă â “Tracking Changes in Yellowstone’s Restless Volcanic System”. Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ. 19 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2007.
  9. ^ a ă “Volcanic History of the Yellowstone Plateau Volcanic Field”. Đài quan sát núi lửa Yellowstone. Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ. 2 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2007.
  10. ^ Bindeman, Ilya N. (tháng 6 năm 2006). “The Secrets of Supervolcanoes”. Scientific American. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2007.
  11. ^ “Questions About Future Volcanic Activity”. Đài quan sát núi lửa Yellowstone. Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ. 2 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2007.
  12. ^ “Yellowstone National Park”. World Heritage Sites. Trung tâm Di sản thế giới của UNESCO. 23 tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2007.
  13. ^ “Information about the Yellowstone Volcano Observatory”. Đài quan sát núi lửa Yellowstone. Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ. 2 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2007.
  14. ^ “Notable Changes in Thermal Activity at Norris Geyser Basin Provide Opportunity to Study Hydrothermal System”. Đài quan sát núi lửa Yellowstone. Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ. 16 tháng 3 năm 2005. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2007.
  15. ^ “Frequently asked questions about recent findings at Yellowstone Lake”. Đài quan sát núi lửa Yellowstone. Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2007.
  16. ^ “Archive of Stories About the Yellowstone Volcanic System”. Đài quan sát núi lửa Yellowstone. Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ. 2 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2007.
  17. ^ Stark, Mike (15 tháng 12 năm 2006). “Yellowstone domes rising at ‘really pronounced’ pace”. Billings Gazette. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2007.
  18. ^ Smith, Robert B.; Wu-Lung Chang, Lee Siegel (8 tháng 11 năm 2007). “Yellowstone rising: Volcano inflating with molten rock at record rate”. Thông cáo báo chí, Ban quan hệ công chúng của Đại học Utah (EurekAlert! (American Association for the Advancement of Science)). Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2007.
  19. ^ Lowenstern, Jake (tháng 6 năm 2005). “Truth, fiction and everything in between at Yellowstone”. Geotimes (Viện Địa chất Hoa Kỳ). Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2007.
  20. ^ “Largest Earthquake in Montana”. Historic Earthquakes. Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ. 24 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2007.
  21. ^ “More Than A Dozen Earthquakes Shake Yellowstone”. KUTV News. 6 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2007.
  22. ^ “Archive of Yellowstone Updates for 2008”. Đài quan sát núi lửa Yellostone. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2008.
  23. ^ USGS: Latest Earthquakes – US Yellowstone Region
  24. ^ Kendall, Katherine. “Whitebark Pine”. Our Living Resources. Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2007.
  25. ^ “Presence Of Wolves Allows Aspen Recovery In Yellowstone”. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2007.
  26. ^ “Where Are the Bloomin’ Wildflowers?” (PDF). Cục Vườn quốc gia Hoa Kỳ. Tháng 2 năm 2004. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2007.
  27. ^ “Yellowstone Sand Verbena”. Nature and Science. Cục Vườn quốc gia Hoa Kỳ. 20 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2007.
  28. ^ a ă “Defenders of Wildlife”. A Yellowstone Chronology. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2007.