Chào ngày mới 11 tháng 1


Bayinnaung Myanma

CNM365. ON THIS DAY. NGÀY 11 THÁNG 1 TRONG LỊCH SỬ

Năm 1551Bayinnaung (1516-1581) trở thành vị vua đời thứ ba của nhà TaungooMyanma. Ông là “sự bùng nổ nhiệt huyết lớn nhất từng thấy ở Myanma”, đã thành lập nên đế quốc lớn nhất Đông Nam Á, bao gồm Myanma ngày nay, Manipur nay thuộc Ấn Độ, Mong Mao (những nhà nước cổ của người ShanVân Nam), Lan NaAyutthaya (miền bắc, trung và nam Thái Lan ngày nay), Lan Xang (đông bắc Thái Lan và Lào ngày nay).[3].  Năm 1851Hồng Tú Toàn bái Thượng đế và hội chúng tại Kim Điền thôn, Quế Bình, Quảng Tây, tiến hành khởi nghĩa, đặt hiệu là Thái Bình Thiên Quốc. Năm 1787William Herschel phát hiện ra hai vệ tinh của sao Thiên VươngTitaniaOberon. Năm 1922Insulin lần đầu tiên được sử dụng để điều trị bệnh đái tháo đường trên người.  Năm 1946 – Tổng Bí thư Đảng Lao động Albania Enver Hoxha tuyên bố thành lập Cộng hòa Nhân dân Xã hội chủ nghĩa Albania. Năm 2007Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)… xem tiếp…

ThaibinhThienquoc

THÁI BÌNH THIÊN QUỐC BÀI HỌC LỊCH SỬ.

Hoàng Kim

Đừng bỏ quên nông dân, đó là động lực cách mạng, bài học lớn của lịch sử. Thái Bình Thiên Quốc là phong trào nông dân lớn nhất, tiêu biểu nhất trong lịch sử Trung Quốc tại thế kỷ 19, đã để lại nhiều kinh nghiệm đặc biệt quý giá cho các cuộc cách mạng về sau. Mao Trạch Đông suốt sự nghiệp chính trị của mình, ông đã nghiền ngẫm không biết bao nhiêu lần Tư trị Thông giám, Thủy Hử, Tam Quốc và Thái Bình Thiên Quốc. “Báo cáo khảo sát phong trào nông dân Hồ Nam” là tác phẩm quan trọng đầu tiên của Mao Trạch Đông. Đánh giá hiệu quả đổi đời của một đất nước thì trước hết và sau cùng phải nhìn vào chất lượng đời sống của nông dân. Hiệu quả đổi mới đích thực khi người nông dân thay đổi được số phận của mình. Thái Bình Thiên Quốc bài học lịch sử soi thấu những thành công và thất bại của người nông dân cầm quyền.  (xem tiếp…)

ẤN TƯỢNG OBAMA

Hoàng Kim

Tổng thống Barack Obama khóc khi nói lời cảm ơn và chia tay Nhà Trắng tại thành phố quê nhà Chicago, nơi ông bắt đầu sự nghiệp chính trị, vào tối 10/1 (9h sáng ngày 11/1 giờ Hà Nội). Obama cám ơn người dân và nói lời từ biệt.

AntuongObama

Obama vững tin vào tương lai của nước Mỹ. Dẫu vậy, một linh cảm mà tầm nhìn Obama đã thấy trước một bức tranh tối tương lai thế giới đầy lo âu hơn. Tôi nhớ lại thông điệp sau cùng của Obama cuối năm 2016: “Tôi muốn kết luận lại bài diễn văn của mình bằng cách nói rằng tôi thừa nhận lịch sử đang kể một câu chuyện rất khác câu chuyện tôi nói ngày hôm nay. Chúng ta đã chọn một cái nhìn lịch sử đen tối hơn và đầy hoài nghi hơn. (Let me conclude by saying that I recognize history tells a different story than the one that I’ve talked about here today. There’s a much darker and more cynical view of history that we can adopt).

Tổng thống Mỹ Obama thật ấn tượng. Dưới đây lưu lại một số trích dẫn chọn lọc…


Những điều người ta sẽ mãi nhớ về Tổng thống Mỹ Obama

12 bức ảnh khó quên nhất trong nhiệm kỳ của Tổng thống Mỹ Obama

Mời bạn xem tiếp bài trước
Ấn tượng Obama

Hoàng Kim

CNM365. TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. 365 chuyện kể mỗi ngày.

Hãy đi về phía mặt trời
Lên đường đi em
Bình minh đã rạng
Hãy đi về phía mặt trời !

Video yêu thích
Thái Bình Thiên Quốc (phim bộ)
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Chào ngày mới 11 tháng 1


Bayinnaung Myanma

CNM365. Chào ngày mới 11 tháng 1. Wikipedia Ngày này năm xưa. Năm 1551Bayinnaung (1516-1581) trở thành vị vua đời thứ ba của nhà TaungooMyanma. Ông là “sự bùng nổ nhiệt huyết lớn nhất từng thấy ở Myanma”, đã thành lập nên đế quốc lớn nhất Đông Nam Á, bao gồm Myanma ngày nay, Manipur nay thuộc Ấn Độ, Mong Mao (những nhà nước cổ của người ShanVân Nam), Lan NaAyutthaya (miền bắc, trung và nam Thái Lan ngày nay), Lan Xang (đông bắc Thái Lan và Lào ngày nay).[3].  Năm 1851Hồng Tú Toàn bái Thượng đế và hội chúng tại Kim Điền thôn, Quế Bình, Quảng Tây, tiến hành khởi nghĩa, đặt hiệu là Thái Bình Thiên Quốc. Năm 1787William Herschel phát hiện ra hai vệ tinh của sao Thiên VươngTitaniaOberon. Năm 1922Insulin lần đầu tiên được sử dụng để điều trị bệnh đái tháo đường trên người.  Năm 1946 – Tổng Bí thư Đảng Lao động Albania Enver Hoxha tuyên bố thành lập Cộng hòa Nhân dân Xã hội chủ nghĩa Albania. Năm 2007Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

11 tháng 1

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày 11 tháng 1 là ngày thứ 11 trong lịch Gregory. Còn 354 ngày trong năm (355 ngày trong năm nhuận).

« Tháng 1 năm 2016 »
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31

Mục lục

Sự kiện

Ngày sinh

Ngày mất

Những ngày lễ và kỷ niệm

Tháng 1 | Tháng 2 | Tháng 3 | Tháng 4 | Tháng 5 | Tháng 6 | Tháng 7 | Tháng 8 | Tháng 9 | Tháng 10 | Tháng 11 | Tháng 12

Tham khảo

Bayinnaung

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bayinnaung
ဘုရင့်နောင်
Bayinnaung.JPG

Tượng Bayinnaung ở phía trước của Bảo tàng Quốc gia Myanmar
Tại vị 11 tháng 01 năm 1551 – tháng 11 năm 1581 (30 năm 10 tháng)
Đăng quang 12 tháng 01 năm 1554
Tiền nhiệm Tabinshwehti
Kế vị Nanda
Thông tin chung
Phối ngẫu Atulathiri
Sandadewi
Yazadewi[1]
Hậu duệ Nanda
Nyaungyan
Minye Thihathu
Nawrahta Minsaw[1]
Tên đầy đủ Shin Ye Htut (ရှင်ရဲထွတ်)
Hoàng tộc Taungoo
Thân phụ Mingyiswe
Thân mẫu Shin Myo Myat
Sinh 13 tháng 2 năm 1516[2]
Mất Tháng 11 năm 1581 (hưởng dương 65 tuổi)
Pegu
An táng Pegu
Tôn giáo Phật giáo Thượng tọa bộ
Burmese character k.svg
Bài viết này có chứa các ký tự Myanma. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các chữ Myanma.

Bayinnaung (tiếng Miến Điện: ဘုရင့်နောင်, phát âm [bəjɪ̰ɴ nàuɴ]; sinh: 13/11/1516 – mất 11/1581) là vị vua đời thứ ba của nhà TaungooMyanma. Suốt 30 năm trị vì, mà một sử gia từng đánh giá là “sự bùng nổ nhiệt huyết lớn nhất từng thấy ở Myanma”, Bayinnaung đã thành lập nên đế quốc lớn nhất Đông Nam Á, bao gồm Myanma ngày nay, Manipur nay thuộc Ấn Độ, Mong Mao (những nhà nước cổ của người ShanVân Nam), Lan Na (bắc Thái Lan ngày nay), Ayutthaya (miền trung và nam Thái Lan ngày nay) và Lan Xang (đông bắc Thái Lan và Lào ngày nay).[3]

Dù người ta thường hay nhớ đến ông vì võ công vĩ đại xây dựng đế quốc, song di sản lớn nhất của Bayinnaung là đã thu phục được các nhà nước Shan vào vương quốc do người Miến lãnh đạo, nhờ đó loại bỏ nguy cơ người Shan xâm phạm Thượng Miến, một nguy cơ xuất hiện và thường trực từ cuối thế kỷ 13. Sau khi chinh phạt các nhà nước Shan vào năm 1557, vị vua này đã thiết kế một hệ thống hành chính làm suy yếu sức mạnh thế tập của các saopha (tù trưởng) người Shan, và điều chỉnh các tập quán của người Shan phù hợp với những chuẩn mực của người Miến. Chính sách đối với người Shan của ông được các vị vua người Miến sau này tiếp tục cho đến tận khi vương quốc này bị thực dân Anh thôn tính vào năm 1885.[4]

Tuy nhiên, ông đã không thể áp dụng chính sách hành chính nói trên vào bất kỳ đâu khác trong đế quốc của mình. Đế quốc của ông là một tập hợp lỏng lẻo các vương quốc có chủ quyền mà vua của những xứ đó thần phục chính bản thân ông như một vị vua của các vị vua, chứ không thần phục vương quốc Taungoo. Chỉ sau khi ông qua đời chỉ 3 năm, người Ayutthaya đã vùng dậy. Đến năm 1599, tất cả các vị vua mà ông đã khuất phục đều đã phản lại, và đế quốc của Bayinnaung đã sụp đổ hoàn toàn.

Ở Thái Lan, ông nổi tiếng nhờ một bài hát và một cuốn sách thu hút rộng rãi độc giả có tên “Phu Chana Sip Thit” nghĩa là “Người chinh phạt thập phương”.

Mục lục

Tuổi trẻ

Theo truyền thuyết, Bayinnaung là con trai của một cặp vợ chống làm nghề chế mật mía nhà ở gần Pagan. Lúc nhỏ ông có tên là Shin Ye Htut (ရှင်ရဲထွတ်). Ye Htut trong tiếng Myanma có nghĩa là “con mối”, vì lúc sinh ở vườn nhà ông có một tổ mối. Ngay sau khi ông ra đời thì đến lượt Hoàng tử Mintaya chào đời. Mẹ Ye Htut được gọi đến Taungoo làm nhũ mẫu cho Hoàng tử Mintaya. Ở Taungoo, Ye Htut và Hoàng tử Mintaya lớn lên cùng nhau và trở thành bạn của nhau. Khi trưởng thành, Ye Htut được làm quan nhỏ trong triều. Vì dám có quan hệ yêu đương với công chúa con vua, nên Ye Htut đáng lẽ đã bị tống vào ngục, nhưng may nhờ một vị sư xin giúp mà thoát tội. Sau đó, Hoàng tử Mintaya lên ngôi vua, tức là Vua Tabinshweti nhà Taungoo, vào năm 1531. Nhờ là bạn của vua thuở nhỏ, Ye Htut được vua yêu mến, gả em mình cho và được vua mới gọi bằng Bayinnaung Kyawhtin Nawrahta (Bayinnaung nghĩa là “hoàng nghĩa đệ”).

Sau thất bại trong việc chinh phạt Ayutthaya vào năm 1548, Tabinshweti chán nản và suy nhược tinh thần. Khi đó, Bayinnaung được vua phong làm phó vương và đã kiểm soát chính sự để giữ yên đất nước. Smim Htaw, con trai một vị vua người MônPegu đã nổi dậy và Tabinshweti bị một thuộc hạ thân tín người Môn tên là Smim Sawhtut – vốn cũng là người dòng dõi hoàng tộc Môn – ám sát. Smim Sawhtut sau đó tự xưng là vua của người Môn, và như vậy kình địch với Smim Htaw. Smim Htaw đã dẫn quân Môn tấn công Pegu và đã giết được Smim Sawhtut.

Giành lại đất nước (1550-1555)

Sau khi Tabinshwehti bị người Môn ám sát ngay tại kinh đô Pegu vào năm 1550, Bayinnaung đã lãnh đạo cuộc chiến tranh giành lại vương quốc của Tabinshwehti, giành lại Taungoo và Prome vào năm 1551, Pegu, Martaban, và Bassein vào năm 1552, và cuối cùng là Ava vào năm 1555.

Các nhà nước Shan và Chiang Mai (1557-1558)

Sau khi giành lại Thượng Miến và Hạ Miến, Bayinnaung đã dẫn quân tiến lên phía bắc chinh phạt khu vực của người Shan và chiếm được Mong Mit, Hsipaw, Yawnghwe, Mong Yang, và Mogaung vào năm 1557.

Năm tiếp theo, ông đánh chiếm Mong NaiLan Na (Zin Mè 1558). Năm 1563, ông chinh phạt Mong Mao, một nhà nước khác của người Shan mà nay nằm trong lãnh thổ Trung Quốc hiện tại.

Năm 1576, ông đưa quân trở lại Mogaung để tăng cường sự kiểm soát của mình ở đây.

Ayutthaya (1564-1569)

Năm 1563, Bayinnaung tiến hành một chiến dịch quân sự lớn nhằm vào Ayutthaya, chiếm được kinh đô của nước này, buộc vua Ayutthaya phải đầu hàng vào năm 1569 mặc dù người Thái không ngừng kháng cự ở khắp nơi. Trong thực tế, Ayutthaya đã bị khuất phục thành một chư hầu của Myanma, và hàng ngàn người Thái đã bị bắt đem về Myanma, gồm cả hai hoàng tử NaresuanEkathotsarot.

Lan Xang (những năm 1570)

Cũng trong thời kỳ những năm 1570 Bayinnaung đã chinh phạt vương quốc Lan Xang (Lin Zin) ở Lào ngày nay. Vua Lan Xang, Setthathirath, và thần dân của ông đã bỏ kinh đô Viêng Chăn vào rừng sâu kháng chiến.

Bayinnaung đã truy đuổi vào trong rừng sâu, nhưng chiến tranh trong địa hình như vậy rất khó khăn. Rất khó tìm ra và giáp chiến với đối phương. Không thực sự kiểm soát nổi Lan Xang, Bayinnaung rút về Myanma.

Nhưng không bỏ cuộc, năm 1574, Bayinnaung lại tái chinh phạt Lan Xang. Ông đã thử lùa dân địa phương quay về kinh đô và xây dựng lại vương quốc này và cho người của ông cai trị.

Qua đời (1581)

Ngay trước khi qua đời năm 1581 Bayinnaung vẫn còn chuẩn bị mở một cuộc tấn công nữa vào Arakan ở ven biển phía tây. Kế vị Bayinnaung là con trai ông, Nanda Bayin. Trong thời kỳ con ông trị vì, đế quốc mà Bayinnaung xây dựng đã tan rã, và Ayutthaya đã ly khai ngay sau khi Bayinnaung qua đời.

Di sản

Bayinnaung (mặc giáp phục) trong một cảnh phim “Puchana Sib Tid”
  • Là người đã chinh phạt Ayutthaya và Lan Na, những nhà nước tiền thân của Thái Lan, ông được người Thái biết đến khá nhiều và được kính trọng. Họ gọi ông là Burenong. Chote Praepan (bút danh “Jacob”), một nhà báo có ảnh hưởng ở Thái Lan và cũng là một nhà văn đã phát triển câu chuyện về ông theo hướng thành một bản anh hùng ca giả tưởng, “ผู้ชนะสิบทิศ” hay “Puchana Sib Tid”, nghĩa là “người chinh phạt mười phương”. Trong truyện, ông là người đã đem vị hoàng tử nhỏ tuổi người Thái về Myanma và dạy dỗ.
  • Tiểu thuyết nói trên đã được dùng để làm phim truyền hình và phim truyện. Một bài hát cùng tên đã được viết cho các bộ phim và do Charintra Nanthanakorn thể hiện, đến nay vẫn là một trong những bài hát phổ biến nhất ở Thái Lan.

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ a ă Tun Aung Chain (2004). Selected Writings of Tun Aung Chain. Myanmar Historical Commission. tr. 119.
  2. ^ Khin Khin Ma (2004). Selected Writings of Khin Khin Ma. Myanmar Historical Commission, Golden Jubilee Publication Committee. tr. 21.
  3. ^ Victor B Lieberman (2003). Strange Parallels: Southeast Asia in Global Context, c. 800-1830, volume 1, Integration on the Mainland. Cambridge University Press. tr. 150–154.
  4. ^ Maung Htin Aung (1967). A History of Burma. New York and London: Cambridge University Press. tr. 117–118.

Liên kết ngoài

Bayinnaung

Sinh: 2 / 1516 Mất: 11 / 1581

Tước hiệu
Tiền vị:
Tabinshwehti
Vua Myanma
1/1551 – 11/1581
Kế vị
Nanda

Hồng Tú Toàn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hồng Tú Toàn
洪秀全
Hong Xiuquan.jpg

Ảnh vẽ Hồng Tú Toàn vào khoảng năm 1860
Thiên vương
Tại vị 11 tháng 1 năm 18511 tháng 6 năm 1864
Tiền nhiệm (không)
Kế nhiệm Hồng Thiên Quý Phúc
Thông tin chung
Hậu duệ Thái Bình Thiên vương Hồng Thiên Quý Phúc
Minh vương Hồng Thiên Minh
Quang vương Hồng Thiên Quang
Tên đầy đủ Hồng Tú Toàn
Tước vị Thái Bình Thiên vương
Niên hiệu Thái Bình Thiên quốc (太平天囯): 11 tháng 1, 18511 tháng 6, 1864
Thân phụ Hồng Cạnh Dương
洪競揚
Thân mẫu Vương thị
王氏
Sinh 1 tháng 1, 1814
Nhà Thanhthôn Phúc Nguyên Thuỷ, huyện Hoa, Quảng Đông, Đại Thanh
Mất 1 tháng 6, 1864 (50 tuổi)
Thiên Kinh, Thái Bình Thiên quốc

Hồng Tú Toàn (chữ Hán: 洪秀全, bính âm: Hong Xiuquan), tự là Hỏa Tú (火秀), xuất thân từ một gia đình người Khách Gia là lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa nông dân Thái Bình Thiên Quốc chống lại triều đình Mãn Thanh. Ông tự xưng là Thiên Vương, thành lập Thái Bình Thiên Quốc và từng chiếm lĩnh nhiều vùng đất rộng lớn ở miền nam Trung Quốc. Ông tự xưng là em trai của chúa Giê-xu.

Mục lục

Tiểu sử

Hồng Tú Toàn sinh năm 1812 (cũng có tài liệu ghi 1813) trong một gia đình trung nông có 3 trai 1 gái ở thôn Phúc Nguyên Thuỷ (福源水村), huyện Hoa (花縣) (ngày nay là huyện Hoa Đô, tỉnh Quảng Đông), Quảng Đông, Trung Quốc. Cha ông là Hồng Cạnh Dương (洪競揚) và mẹ ông là Vương thị (王氏). Ông học hành thông minh nhưng đi thi nhiều lần không đỗ. Ông sau đó chuyển đến sống tại thôn Quan Lộc (官祿㘵村). Sau đó ông đã kết hôn với Lại Tích Anh (賴惜英).

Hồng Tú Toàn bắt đầu học tại Thư Phòng các (书房阁) lúc bảy tuổi. Sau sáu năm ông đã có thể đọc thuộc Tứ Thư Ngũ kinh. Vào lúc 15 tuổi, cha mẹ của ông không còn đủ khả năng để cho ông tiếp tục, do đó, ông trở thành một thầy giáo cho trẻ em trong làng của mình và tiếp tục học một mình. Năm 22 tuổi, vào năm 1836, ông đi thi Tú tài tại trường thi Quảng Châu, nhưng bị trượt. Ông thi lại bốn lần, nhưng không lần nào thành công. Điều này một phần là do không có tiền hối lộ cho các quan.

Hồng Tú Toàn sau đó trở thành một thục sư (塾师) tại Thư Phòng các và một số trường học ở Liên Hoa Đường (莲花塘) và vài làng khác.

Sự nghiệp

Năm 1837. sau khi thi trượt lần thứ hai, Hồng Tú Toàn bị bệnh nặng và mơ thấy một ông vua đưa mình một thanh kiếm, đi diệt trừ Nhà Thanh đang khinh rẻ nông dân. Hồng Tứ Toàn kể rằng trong giấc mơ ông cũng thấy một người trẻ tuối hơn, ông gọi bằng anh. Bảy năm sau, vào năm 1843, tình cờ đọc cuốn Lời lành răn đời của Hội Truyền bá đạo Thiên Chúa xuất bản ở Quảng Châu, ông nhận ra trong giấc mơ của mình ông gặp được Thượng Đế, cùng với Chúa Giê-xu, người mà ông gọi bằng anh. Sẵn có tâm lý không bằng lòng với chế độ khoa cử và những quy định bất công của triều đình nhà Thanh, ông đã lấy chủ nghĩa bình đẳng của đạo Thiên Chúa làm gốc, sáng lập ra đạo “Bái Thượng đế” để tập hợp người dân chống lại chính quyền.

Năm 1844, Hồng Tú Toàn đi truyền đạo. Đến năm 1850, ông phát động cuộc khởi nghĩa vùng núi tỉnh Quảng Tây. Sau khi giành được một số thắng lợi, ông tuyến bố thành lập chính quyền mới gọi là Thái Bình Thiên Quốc, tự xưng là Thiên vương và phân phong cho các tướng lĩnh. Thế lực của quân Hồng Tú Toàn rất mạnh, chỉ trong vòng chưa đầy nửa năm họ đã chiếm được hết hơn 16 tỉnh, 600 thị trấn, làm triều đình nhà Thanh lung lay đến tận gốc rễ. Tháng 3 năm 1853, quân nổi dậy chiếm được thành phố quan trọng phía nam của Mãn Thanh là Nam Kinh. Hồng Tú Toàn đã quyết định đổi tên thành phố thành Thiên Kinh và lấy đó làm thủ đô của Thái Bình Thiên Quốc.

Nhưng Thái Bình Thiên Quốc đã không xây dựng những căn cứ vững chắc trong những vùng mình chiếm đóng. Bộ phận lãnh đạo phạm vào nhiều sai lầm về chính trị và quân sự. Năm 1856, Hồng Tú Toàn thủ tiêu một số tướng tá có thế lực của Thái Bình Thiên Quốc (trong đó có Đông vương Dương Tú Thanh, một viên tướng tài giỏi, thành phần cố nông) không ăn cánh với mình, làm cho lực lượng khởi nghĩa giảm sút đi nhiều.

Các nước tư bản phương Tây là Anh, Pháp, Hoa Kỳ lợi dụng sự rối ren hiện nay tại Trung Quốc, trước hết dùng vũ lực buộc triều đình Mãn Thanh khuất phục, khiến cuộc chiến tranh Nha phiến lần thứ 2 (1857-1860) xảy ra, sau đó tích cực giúp đỡ triều đình Mãn Thanh và tầng lớp địa chủ quan liêu vũ trang tấn công Thái Bình Thiên Quốc. Năm 1864, Thiên Kinh bị quân đội nhà Thanh và đội vũ trang của địa chủ quan liêu bao vây chặt. Quân đội và tàu chiến của Anh, Pháp, Hoa Kỳ cũng tham gia tấn công. Quân Thái Bình Thiên Quốc cùng với dân chúng trong thành chiến đấu dũng cảm. Ngày 1 tháng 6 năm 1864, khi thành Thiên Kinh sắp thất thủ, Hồng Tú Toàn đã tự vẫn.

Tác phẩm văn chương

Bài thơ sau đây, bài thơ có tiêu đề là Trảm tà lưu chinh thi (斩邪留正诗), được viết vào năm 1837 bởi Hồng Tú Tài, minh họa suy nghĩ tôn giáo của mình và mục đích mà sau này dẫn đến việc thành lập Thái Bình Thiên Quốc.

Nguyên văn chữ Hán

《斬邪留正詩》

手握乾坤殺伐權,
斬邪留正解民懸。
眼通西北江山外,
聲振東南日月邊。
璽劍光榮存帝賜,
詩章憑據誦爺前,
太平一統光世界,
威風快樂萬千年。

Dịch Hán Việt

Trảm tà lưu chinh thi

Thủ ác Càn khôn sát phạt quyền,
Trảm tà lưu chính giải dân huyền.
Nhãn thông tây bắc giang sơn ngoại,
Thanh chấn đông nam nhật nguyệt biên.
Tỉ kiếm quang vinh tồn Đế tứ,
Thi chương bằng cứ tụng Da tiền.
Thái Bình nhất thống quang thế giới,
Uy phong khoái lạc vạn thiên niên.

Nhận định

Nguồn tham khảo

Tham khảo

Liên kết ngoài

Hồng Tú Toàn

Sinh: 1 tháng 1 1814 Mất: 1 tháng 6 1864

Tước hiệu
Tiền vị:
Không
Thiên vương
1851 – 1864
Kế vị
Hồng Thiên Quý Phúc

Thái Bình Thiên Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc
Vanquishing of Wuchang city.jpg
.
Thời gian Tháng 12 năm 1850 – Tháng 8 năm 1871
Địa điểm Trung Quốc
Kết quả Chiến thắng của nhà Thanh
Sự sụp đổ của Thái Bình Thiên Quốc
Sự suy yếu của nhà Thanh
Tham chiến
Nhà Thanh Nhà Thanh
 Anh Quốc
 Pháp
Thái Bình Thiên Quốc
Chỉ huy
Nhà Thanh Hàm Phong
Nhà Thanh Đồng Trị
Nhà Thanh Thái hậu Từ Hi
Nhà Thanh Tăng Quốc Phiên
Nhà Thanh Tả Tông Đường
Nhà Thanh Lý Hồng Chương
Nhà Thanh Mã Tân Di
Nhà Thanh Bào Siêu
Nhà Thanh Thắng Bảo
Nhà Thanh Tăng Cách Lâm Thấm
Pháp Auguste Léopold Protet  
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Charles George Gordon
Hoa Kỳ Frederick Townsend Ward-(đánh thuê)  
Hoa Kỳ Henry Andres Burgevine-(đánh thuê)  
Hồng Tú Toàn
Dương Tú Thanh
Tiêu Triều Quý  
Phùng Vân Sơn  
Vi Xương Huy
Thạch Đạt Khai  
Tần Nhật Cương
Hồ Dĩ Hoảng
Trần Ngọc Thành
Lý Tú Thành
Lý Thế Hiền
Đàm Thiệu Quang
Lâm Phượng Tường 
Lý Khai Phương 
Hoàng Văn Kim
La Đại Cương
Hồng Tuyên Kiều
Lực lượng
2 triệu – 5 triệu quân chính quy
300.000 dân quân
1 triệu – 3 triệu quân chính quy
Tổn thất
Khoảng 20 triệu (kể cả dân thường và quân đội)[1]
.

Hồng Tú Toàn, người sáng lập Thái Bình Thiên Quốc

Thái Bình Thiên Quốc (chữ Hán phồn thể: 太平天國, chữ Hán giản thể: 太平天国; 18511864) là một nhà nước trong lịch sử Trung Quốc được hình thành từ cuộc nổi dậy của nông dân do Hồng Tú Toàn (洪秀全) cầm đầu vào giữa thế kỷ 19. Thái Bình Thiên Quốc có lãnh thổ trải rộng từ sông Dương Tử xuống phía nam Trung Quốc với trên 16 tỉnh và hơn 600 thị, có thủ đô là Thiên Kinh (Nam Kinh).

Lịch sử phát triển và suy vong của Thái Bình Thiên Quốc gắn liền với cuộc đấu tranh của người dân Trung Quốc chống lại sự cai trị của nhà Thanh và sự xâm lăng của các thế lực phương Tây.

Cuộc chiến tranh giữa Thái Bình Thiên Quốc và các thế lực đối kháng được coi là một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất trong thế kỷ 19 ở Trung Quốc. Theo thống kê không chính thức nó đã tước đi sinh mạng của hơn 20 triệu người, bao gồm thường dân và quan quân, nhưng cũng có nguồn cho rằng số người chết lên đến khoảng 50 triệu người. Sau cuộc chiến chống lại Thái Bình Thiên Quốc, nhà Thanh đã kiệt quệ và đành phải chứng kiến các nước phương Tây xâm chiếm những vùng đất duyên hải, áp đặt các đặc quyền thương mại trên đất Trung Hoa.

Mục lục

Sự hình thành và phát triển

Năm 1843, Hồng Tú Toàn, một nho sĩ bất mãn với xã hội phong kiến lúc bấy giờ, đã kết hợp với những lý luận cơ bản về lấy chủ nghĩa bình đẳng của đạo Thiên Chúa làm gốc, sáng lập ra đạo “Bái Thượng đế” để tập hợp người dân chống lại chính quyền. Ông tự nhận mình người được Thượng Đế phong Vương cử xuống trần thế thiên hành đạo, giúp người dân chống lại Thanh triều.

Năm 1847 – 1848, hai tỉnh Lưỡng Quảng bị nạn đói, giặc cướp khắp nơi, Hồng Tú Toàn hợp cùng một nhóm bạn đồng học đồng hương như Dương Tú Thanh, Tiêu Triều Quý, Thạch Đạt Khai dấy binh nổi dậy ở Kim Điền – Quảng Tây, với khẩu hiệu “Phản Thanh, diệt tham ô tàn bạo, khôi phục lại nhà Minh”. Quân nổi dậy được sự ủng hộ mạnh mẽ của người dân nghèo, chỉ trong một thời gian ngắn đã lên tới hàng trăm vạn người. Quân nổi dậy cả nam lẫn nữ đều để tóc dài, chống lại lệnh để bím tóc đuôi sam của triều đình Mãn Thanh – nên sử nhà Thanh thường gọi là “Giặc tóc dài”.

Thế lực của quân Hồng Tú Toàn rất mạnh, chỉ trong vòng chưa đầy nửa năm họ đã chiếm được hết hơn 16 tỉnh, 600 thị trấn…, làm triều đình nhà Thanh lung lay đến tận gốc rễ. Tháng 3 năm 1853, quân nổi dậy chiếm được thành phố quan trọng phía nam của Mãn Thanh là Nam Kinh. Hồng Tú Toàn đã quyết định đổi tên thành phố thành Thiên Kinh và lấy đó làm thủ đô của Thái Bình Thiên Quốc.

Vào thời điểm cực thịnh của mình, lãnh thổ Thái Bình Thiên Quốc bao trùm hầu hết miền trung và miền nam Trung Quốc. Tuy nhiên Thái Bình Thiên Quốc không nắm được bất kì một cảng biển quan trọng nào của vùng duyên hải. Chính điều này đã phần nào đưa chính quyền Thiên Quốc vào tình trạng bị cô lập và không có các quan hệ thương mại với bên ngoài.

Chính sách quản lý nhà nước

Sau khi lập quốc, Hồng Tú Toàn đã ban hành chính sách cai trị như sau:

Lãnh thổ của Thái Bình Thiên Quốc năm 1854 (màu đỏ)
  1. Về tôn giáo, đạo đức, có 10 khoản phỏng theo thập giới của đạo Ki Tô: phải thờ phụng Thượng Đế, không thờ phụng các tôn giáo khác (cấm thờ Khổng, Lão, Phật…, cấm cả thờ ông bà), mỗi tuần bảy ngày, ngày nào cũng phải tán tụng ân đức của Thượng Đế, phải hiếu thuận với cha mẹ, không giết người, không tà dâm, không trộm cướp, không nói láo.
  2. Chính sách xã hội: những người già cả, góa vợ, góa chồng, những người cô độc, hoặc trẻ em, không cày ruộng được chính phủ cấp dưỡng.
  3. Nghiêm cấm các tập tục như thói đàn bà bó chân, thói hút thuốc phiện, uống rượu, đánh bạc, mua bán nô tì, nuôi nàng hầu.
  4. Quan chế, binh chế (lược bỏ)
  5. Điền chế: ruộng đất, vàng bạc là của chung, không ai được giữ làm của riêng; ruộng thì chính quyền phân phát cho, dân cùng nhau cày cấy, cùng ăn cùng mặc, có tiền thì cùng tiêu, người nào trữ mười lạng bạc hoặc một lạng vàng thì bị trừng phạt.
  6. Chế độ đó là chế độ cộng sản, lần đầu tiên Hồng Tú Toàn đem áp dụng ở Trung Quốc, nhưng vì năm nào cũng có chiến tranh chưa thực hành được trọn.
  7. Dùng lịch mới, gọi là Thiên lịch: mỗi năm gồm 366 ngày, chia làm 12 tháng, tháng lẻ 31 ngày, tháng chẵn 30 ngày, như vậy cứ 4 năm, dôi ra 3 ngày, thi hành được 5 năm sau đó thấy sai lệch mới phải sửa lại.
  8. Chế độ thi cử: vì Thái Bình Thiên quốc đề xướng nam nữ bình đẳng, nên cho cả nam nữ đi thi như nhau, lập ra hai bảng một cho nam và một cho nữ. Có chủ khảo riêng cho nam thí sinh, chủ khảo riêng cho nữ thí sinh. Phía nữ cũng lấy một người đậu Trạng nguyên, đó là một đặc sắc của Thái Bình Thiên Quốc.

Tuy nhiên, các chính sách không có hiệu quả vì được tiến hành không theo một chủ trương chung; tất cả mọi cố gắng đều dồn vào quân đội và việc quản lý dân sự rất kém. Trong khi chính quyền cấm chế độ đa thê, Hồng Tú Toàn lại có 88 vợ. Nhiều viên chức trong chính quyền Thái Bình Thiên Quốc cũng có nhiều vợ và sống như vua.

Cơ cấu bộ máy nhà nước

Bộ máy nhà nước của Thái Bình Thiên Quốc được xây dựng xung quanh các lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa. Người đứng đầu nhà nước là Thiên Vương Hồng Tú Toàn, có quyền quyết định tối cao về các vấn đề quân sự, chính trị và tôn giáo. Tuy nhiên những năm cuối đời Thiên Vương thực chất chỉ đảm nhiệm những vấn đề tôn giáo.

Đứng sau Thiên Vương là các Vương gia, họ được phân quản lý các vùng trên lãnh thổ của Thái Bình Thiên Quốc. Ban đầu lập quốc Thái Bình Thiên Quốc có 5 vương gia, bao gồm Bắc Vương Vi Xương Huy, Nam Vương Phùng Vân Sơn, Đông Vương Dương Tú Thanh, Tây Vương Tiêu Triều Quý và Dực Vương Thạch Đạt Khai. Sau này có thêm Trung Vương Lý Tú Thành, Phú Vương, Tĩnh Vương, Anh Vương Trần Ngọc Thành v.v. Vào thời kỳ cuối của Thiên quốc, tổng cộng có khoảng 2000 người được phong vương.

Bảy vương gia thời kì đầu

Tước hiệu
Tên
Tập tước
Hoà Nãi Sư Thục Bệnh Chủ Tả Phụ Chính Quân sư Đông vương Dương Tú Thanh Bị Thiên Vương sai Bắc Vương làm binh biến giết chết năm 1856
Con trai thứ năm của Thiên vương là Hồng Thiên Hựu thừa tự, xưng là Ấu Đông vương Cửu thiên tuế. Không rõ tung tích sau khi Thiên Kinh thất thủ.
Hữu Bật Hựu Chính Quân sư Tây vương Tiêu Triều Quý Con trai trưởng Tiêu Hữu Hoà tập tước, xưng là Ấu Tây vương Bát thiên tuế.
Tiền Đạo Phó Quân sư Nam vương Phùng Vân Sơn Con trai thứ của Tây vương là Tiêu Hữu Phúc thừa tự, xưng là Ấu Nam vương Thất thiên tuế.
Hậu Hộ Hựu Phó Quân sư Bắc vương Vi Xương Huy Có tội nên bị giết, tước danh hiệu.
Tả quân Chủ tướng Dực vương Thạch Đạt Khai
Yến vương Tần Nhật Cương Có tội nên bị giết, trừ tước.
Dự vương Hồ Dĩ Hoảng Con trai Hồ Vạn Thăng tập tước, xưng là Ấu Dự vương Cường thiên tuế.

Ở mức thấp hơn Vương gia là các Hầu và Công chúa, Thừa tướng. Vai trò của những người này chủ yếu là quản lý về mặt quân sự và trợ lý cho các Vương.

Các hầu gia thời kì đầu

Tước hiệu
Tên
Ghi chú
Đính Thiên hầu Tần Nhật Cương Năm 1854 được phong làm Yến vương.
Tĩnh Hồ hầu Lâm Phượng Tường Truy phong làm Cầu vương.
Định Hồ hầu Lý Khai Phương Truy phong làm Thỉnh vương.
Bình Hồ hầu Cát Văn Nguyên Truy phong làm Chúc vương.
Tiễu Hồ hầu Chu Tích Côn Không rõ sau này ra sao, có khả năng hi sinh trong cuộc Bắc phạt.
Diệt Hồ hầu Hoàng Ích Vân Chết trong lần cháy quân doanh năm 1853.
Hộ Quốc hầu Hồ Dĩ Hoảng Năm 1854 được phong làm Dự vương.
Hưng Quốc hầu Trần Thừa Dung Về sau đổi thành Tả Thiên hầu.
Vệ Quốc hầu Hoàng Ngọc Côn Về sau đổi thành Vệ Thiên hầu.
Trấn Quốc hầu Lô Hiền Bạt Thân thích của Dương Tú Thanh, tông tích về sau không rõ.
Bổ Thiên hầu Lý Tuấn Xương Về sau đổi tên thành Tuấn Lương, bị Vi Xương Huy giết trong Sự biến Thiên Kinh.
Tán Thiên hầu Mông Đắc Ân Năm 1859 được phong làm Tán vương.
Tương Thiên hầu Lâm Đại Cơ Cháu rể của Dương Tú Thanh.
Tướng Thiên hầu Hoàng Kì Thăng
Khuông Thiên hầu Hoàng Duy Giang Anh rể của Dương Tú Thanh.
Trợ Thiên hầu Lưu Thiệu Đình Thượng thư của Đông Điện, bị Vi Xương Huy giết trong Sự biến Thiên Kinh.
Dực Thiên hầu Cát Thành Tử Thượng thư của Đông Điện, bị Vi Xương Huy giết trong Sự biến Thiên Kinh.
Phù Thiên hầu Phó Học Hiền Thượng thư của Đông Điện, bị Vi Xương Huy giết trong Sự biến Thiên Kinh.
Vệ Thiên hầu Tăng Cẩm Khiêm

Các vương gia quan trọng thời kì sau

Nhìn chung bộ máy nhà nước của Thái Bình Thiên Quốc khá đơn giản và mang nặng tính quân sự. Có lẽ nó xuất phát từ hoàn cảnh chiến tranh, tuy nhiên chính vì vậy việc quản lí kinh tế của nhà nước này cũng rất lỏng lẻo và thiếu hiệu quả. Mặc dù chiếm được vùng lãnh thổ rất lớn nhưng thực chất Thái Bình Thiên Quốc chỉ quản lí được các đô thị, còn tại các địa phương và các vùng nông thôn việc quản lí nhà nước hầu như bị bỏ ngỏ – chính quyền trung ương chỉ tập trung quản lí nhân khẩu để bổ túc lực lượng cho quân đội.

Sự sụp đổ của Thái Bình Thiên Quốc

Sau các chiến thắng trước triều đình Mãn Thanh, theo các sử gia, Hồng Tú Toàn và các tướng lĩnh của Thái Bình Thiên Quốc đã có một quyết định sai lầm chiến lược khi không tiếp tục các chiến dịch quân sự mạnh mẽ chống lại triều đình Mãn Thanh nữa, mà rút về xây dựng bộ máy quản lý tại các vùng đã chiếm được. Chính sai lầm về chiến lược phát triển này đã cho phép nhà Thanh có thời gian để bình tĩnh khôi phục lại lực lượng để phòng thủ và sau đó là phản công lại Thái Bình Thiên Quốc.

Cuộc chiến giữa Thái Bình Thiên Quốc và nhà Mãn Thanh kéo dài dai dẳng trong hơn một thập kỉ. Lực lượng quân sự của nhà Thanh với các vũ khí tiên tiến từ các nước phương Tây đã dần chiếm ưu thế. Cùng trong thời gian đó nội bộ lãnh đạo của Thái Bình Thiên Quốc cũng bắt đầu có mâu thuẫn, xung đột tranh giành quyền lực. Bản thân bộ máy quản lí nhà nước của Thái Bình Thiên Quốc cũng không được vận hành tốt do thiếu nhân lực có trình độ, dẫn tới việc nhà nước thực chất chỉ quản lý được các đô thị trên những vùng lãnh thổ mà họ kiểm soát. Trong sức ép của chiến tranh và sự quản lý nhà nước yếu kém, Thái Bình Thiên Quốc dần dần suy tàn.

Năm 1864, Tằng Quốc PhiênLý Hồng Chương chỉ huy quân Thanh chiếm lại thủ đô Thiên Kinh của Thái Bình Thiên Quốc. Hồng Tú Toàn tự tử, quân đội và chính quyền của Thái Bình Thiên Quốc tan rã chấm dứt 15 năm tồn tại của một nhà nước độc lập trong lòng Trung Hoa.

Nguyên nhân sụp đổ của nhà nước Thái Bình Thiên Quốc được các nhà sử học cho là do thiếu tổ chức (chiếm lĩnh đất đai mà không biết cai trị), nội bộ lủng củng (do tranh giành quyền lực đã chia bè cánh sâu sắc) và nhất là mất lòng người (do muốn hủy bỏ hết truyền thống dân tộc). Nhưng Thái Bình Thiên Quốc cũng đã đặt ra một số nền móng mới cho sự phát triển của xã hội Trung Quốc, chẳng hạn việc Hồng Tú Toàn chủ trương bình đẳng giới, cho phụ nữ tham gia cả trong quân đội cũng như bộ máy nhà nước đã đem đến cho người dân Trung Hoa khái niệm mới về nam nữ bình quyền, điều mà sau này đã được đề cao trong cuộc Cách mạng Tân Hợi 1911.

Tính chất và ý nghĩa lịch sử

Thái Bình thiên quốc không phải là phong trào tôn giáo vì thực chất họ chỉ thông qua hình thức tôn giáo để tổ chức, nhờ giáo lý để nói lên ước vọng vào Thượng đế để làm đấng hộ mệnh tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân vào cuộc đấu tranh chống cường quyền.

Đây cũng chưa phải là cuộc cách mạng dân chủ tư sản vì lực lượng tham gia chủ yếu là nông dân do vậy chưa đại diện cho một lực lượng sản xuất mới, quan hệ sản xuất mới. Phong trào này xuất thân từ 2 mâu thuẫn cơ bản trong xã hội: Giữa dân chúng Trung Quốc với đế quốc thực dân và giữa nhà nước phong kiến thối nát hủ lậu với quần chúng nhân dân lao động.

Phong trào Thái Bình thiên quốc là phong trào nông dân lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc, được xét đến không chỉ về phạm vi hoạt động mà còn phải kể đến các chính sách đổi mới hết sức quyết liệt và sáng tạo của nó. Lần đầu tiên một cương lĩnh chính trị đã được đưa ra giải quyết được những quan hệ xã hội tồn tại lâu đời, sự sở hữu ruộng đất… Phong trào này làm suy yếu triều đình Mãn Thanh khiến họ khó lòng chống đỡ trước sức ép của các cường quốc phương Tây hoặc đã phương Tây hóa đồng thời chính sự suy yếu này thuận lợi cho các cuộc cách mạng dân chủ, dân tộc sau này. Đây là phong trào nông dân Trung Quốc tiêu biểu trong thế kỷ 19 để lại nhiều kinh nghiệm cho các cuộc cách mạng về sau trong thế kỷ 20.

Phim ảnh

Phong trào Thái Bình thiên quốc đã được chuyển thể thành 2 bộ phim truyền hình cùng tên do Trung Quốc và Hồng Kông lần lượt sản xuất.

Bộ phim Thái Bình Thiên Quốc do Trung Quốc sản xuất năm 1998: đạo diễn Trần Gia Lâm với các nhân vật như: Thiên Vương Hồng Tú Toàn, Hồng Tuyên Kiều, Phó Thiện Tường, Tô Tam Nương, Thạch Ích Dương…[2]

Bộ phim Thái Bình Thiên Quốc do Hồng Kông (TVB) sản xuất năm 1988 với độ dài 45 tập có sự tham gia của các diễn viên: Lữ Lương Vĩ, Trần Mẫn Nhi, Hoàng Nhật Hoa, Đặng Tuỵ Vân, Quách Phú Thành…

Chú thích

  1. ^ Userserols. “Userserols.” Statistics of Wars, Oppressions and Atrocities of the Nineteenth Century. Truy cập ngày 11 tháng 4, 2007.
  2. ^ Xem chiếu dạo

Tài liệu tham khảo

Video yêu thích
Hãy đi về phía mặt trời
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook