Chào ngày mới 15 tháng 1


CHÀO NGÀY MỚI 15 THÁNG 1
Hoàng Kim

CNM365 Ta về với Linh Giang; Nếp nhà đẹp văn hóa; Câu chuyện ảnh tháng Một; Giấc mơ lành yêu thương; Linh Giang Đình Minh Lệ; Nguồn Son nối Phong Nha; Làng Minh Lệ quê tôi; Nguyễn Du trăng huyền thoại, Ngày 15 tháng 1 năm 1929 là ngày sinh Martin Luther King, nhà hoạt động dân quyền người Mỹ gốc Phi (mất năm 1968). Ông là một trong những nhà lãnh đạo có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ cũng như lịch sử đương đại của phong trào bất bạo động. King được nhiều người trên khắp thế giới ngưỡng mộ như một anh hùng, nhà kiến tạo hoà bình và thánh tử đạo. Bài diễn văn nổi tiếng của ông “Tôi có một giấc mơ” nâng cao nhận thức của công chúng về quyền con người, quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Martin Luther King được nhìn nhận là một trong những nhà hùng biện vĩ đại nhất trong lịch sử nước Mỹ. Ngày 15 tháng 1 năm 2001 Từ điển Bách khoa Mở Wikipedia  chính thức bắt đầu nhờ hai người sáng lập Jimmy Wales và Larry Sangger cùng với vài người cộng tác nhiệt thành và chỉ có phiên bản tiếng Anh. Ngày nay hàng trăm nghìn người ghé thăm từ khắp mọi nơi trên thế giới để thực hiện hàng chục nghìn sửa đổi cũng như bắt đầu nhiều bài viết mới. Ngày 15 tháng 1 năm 1559, Elizabeth I  đăng quang Nữ vương Anh tại Westminster Abbey, Luân Đôn. Nữ vương Elizabeth I trị vì 45 năm, thời Vương quốc Anh có thế lực ảnh hưởng toàn cầu, và chiến tích nước Anh đánh bại hạm đội của Tây Ban Nha năm 1588 được xem là một trong những chiến thắng lừng lẫy nhất trong lịch sử nước Anh; Bài chọn lọc ngày 15 tháng 1: Ta về với Linh Giang; Nếp nhà đẹp văn hóa; Câu chuyện ảnh tháng Một; Giấc mơ lành yêu thương; Linh Giang Đình Minh Lệ; Nguồn Son nối Phong Nha; Làng Minh Lệ quê tôi; Nguyễn Du trăng huyền thoại, Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-15-thang-1/

TA VỀ VỚI LINH GIANG
Hoàng Kim

Ta về với Linh Giang
Lời thề trên sông Hóa
Ta khóc khi ra đi
Tâm bình lặng lúc về

Làng Minh Lệ quê tôi
Đất Mẹ vùng di sản;
Linh Giang, Đình Minh Lệ;
Nguồn Son nối Phong Nha

Hoành Sơn với Linh Giang
Đá Đứng chốn sông thiêng
Sông Nhật Lệ Lũy Thầy
Tuyến ba tầng thủ hiểm

Nam tiến của người Việt
Cao Biền trong sử Việt
Trúc Lâm Trần Nhân Tông
Đào Duy Từ còn mãi

Bài ca Trường Quảng Trạch
Lời dặn của Thánh Trần
Cuối dòng sông là biển
Hoa Đất thương lời hiền

Ta về với Linh Giang
Sông đời thao thiết chảy…


Bài và ảnh liên quan

Làng Minh Lệ quê tôi

Cầu Minh Lệ Rào Nan

 linh-giang-dong-song-que-huong

LINH GIANG
Hoàng Kim

Nhà mình gần ngã ba sông
Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình
Linh Giang sông núi hữu tình
Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con

“Chèo thuyền cho khuất bến Son
Để con khỏi chộ nước non thêm buồn “

Câu ru quặn thắt đời con
Mẹ cha mất sớm, con còn trẻ thơ

Ra đi từ bấy đến chừ
Lặn trong sương khói bến đò sông quê
Ngày xuân giữ vẹn lời thề
Non sông mở cõi, tụ về trời Nam.

Ta về với Linh Giang

HOME RIVER

Learning the attitude of water that goes like the river

My house is near a confluence
Rao Nan, Cho Moi, Nguon Son, Quang Binh
Linh River charming Mountain River
The place where I was born.

“Rowing far away the SON wharf
Not to see our village that makes me sadder “
Lullaby makes me heart- rending
My parents died early when I was a baby.

Leaving our village since then
Diving in smog from the wharf of our river
Keeping full oath in Spring days
When the country unify, we’ll live together in the South

English translation
by NgocphuongNam

LINH RIVER
Hoang Kim
Learning the attitude of water that goes like the river

By confluence sited is my home
Rao Nam, Cho Moi, Nguon Son, Quang Binh
Linh river of charming
That is place releasing a person

Rowing out of the Son
Let is the upset not involved in my mind
Such a sad lunlaby
Parents is dead left five child barren

Leaving home since then
Smog of wharf is driven my life
When Vietnam unified
The South chosen the homeland to live.

English translation
by Vu Manh Hai

LỜI THỀ TRÊN SÔNG HÓA
Hoàng Kim


Sông Hóa ơi Bạch Đằng Giang
Ta đến nơi đây chẳng một lần
Lời thề sông núi trời đất hiểu
Lời dặn của Thánh Trần

Sông Hóa ơi hời, ơi Linh Giang
Quê hương liền dải tụ trời Nam
Minh Lệ, Hưng Long hai bầu sữa
Hoàng Gia trung chính một con đường.

Rào Nan Đá Đứng chốn sông thiêng
Nguồn Son Chợ Mới đẹp ân tình
Minh Lệ đình xưa thương làng cũ
Nguyện làm hoa đất của quê hương.

Đất nặng ân tình đất nhớ thương
Ta làm hoa đất của quê hương
Để mai mưa nắng con đi học
Lưu dấu chân trần với nước non.

HOA ĐẤT

Đất nặng ân tình đất nhớ thương
Ta làm hoa đất của quê hương
Để mai mưa nắng con đi học
Lưu dấu chân trần với nước non.

ĐÌNH MINH LỆ
Hoàng Kim

Tay men bệ đá sân đình
Tổ tiên cha mẹ lặng thinh chốn này
Đình làng chốn cũ nơi đây
Nuôi đêm phúc ấm dưỡng ngày nhân sinh.

NẾP NHÀ ĐẸP VĂN HÓA
Hoàng Kim


Nếp nhà là thói quen của một gia đình. Nguyễn Trãi có câu “Nên thợ, nên thầy nhờ có học/ No ăn, no mặc bởi hay làm”. Làm và Học là hoạt động sống cơ bản của con người để đáp ứng nhu cầu tối thiểu ăn mặc, yêu đương, nhà ở, đi lại, chăm sóc sức khỏe và chất lượng cuộc sống. Nếp nhà xét cho cùng là sự bảo tồn phát triển tự do của mỗi cá nhân gia đình và dòng họ. Soi thấu gia tộc là soi vào văn hóa lịch sử của sự kế thừa, phát triển và biến đổi.

Lời dặn của Thánh Trần thấm thía những bài học lớn. Quốc Công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn được dân Việt tôn kính gọi là Đức Thánh Trần. Vua Trần Anh Tông lúc Đức Thánh Trần sắp lâm chung có ân cần ngự tới nhà thăm, hỏi rằng: “Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào?”. Đức Thánh Trần  trả lời: “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy”. Nguyên văn: “Ngày xưa Triệu Vũ Đế (tức Triệu Đà) dựng nước, vua nhà Hán cho quân đánh, nhân dân làm kế thanh dã (vườn không nhà trống), đại quân ra Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, Hồ Nam, còn đoản binh thì đánh úp phía sau. Đó là một thời. Đời nhà Đinh, nhà Tiền Lê dùng người tài giỏi, đất phương nam mới mạnh mà phương bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên dưới một dạ, lòng dân không lìa, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống. Đó lại là một thời. Vua nhà Lý mở nền, nhà Tống xâm phạm địa giới, dùng Lý Thường Kiệt đánh Khâm, Liêm, đến tận Mai Lĩnh là vì có thế. Vừa rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây. Vì vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc phải bị bắt. Đó là trời xui nên vậy. Đại khái, nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản binh chế trường trận là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như các tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được. Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy” * (Đại Việt sử ký toàn thư tập 2 trang 76 -77). Trần Hưng Đạo giành chiến thắng trước quân Nguyên trên sông Bạch Đằng, kết thúc chiến tranh Nguyên Mông – Đại Việt lần 3 vào ngày 9 tháng 4 năm 1288, tức 8 tháng 3 năm Mậu Tý. Sau ba lần thắng giặc, đất nước thanh bình, ông lui về Vạn Kiếp và mất ngày 20 tháng 8 năm 1300 tại vườn An Lạc. Đền Kiếp Bạc (Hải Dương) là đền thờ chính của đức Thánh Trần.Chùa Thắng Nghiêm nơi Trần Hưng Đạo tu học lúc nhỏ, Người trở về hiển thánh.

Đức Thánh Trần gương soi kim cổ. Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là nhà chính trị, quân sự, nhà văn kiệt xuất thời nhà Trần. Chiến công kiệt xuất đánh bại quân đội nhà Nguyên năm 1285 và 1287 đã đưa Đức Thánh Trần thành đại danh tướng lừng lẫy nhất của thế giới và Việt Nam. “CHỌN TƯỚNG” là một chương trong Binh thư Yếu lược của Trần Quốc Tuấn, kiệt tác súc tích và sâu sắc lạ lùng: “Người quân tử tiến thoái quả quyết, xem người thì thanh thản vui tươi, chí thì ở trừ tàn bạo, đó là khí độ của người tướng quốc. Thấy ác không giận, thấy lành không mừng, nhan sắc không thay đổi, đó là lượng của người thiên tử. Được sự thắng nhỏ, gặp sự thua nhỏ, mà mừng lo hình ra nét mặt, hễ thấy động thì động, thấy tĩnh thì tĩnh, nhát mà không tính toán gì, cất chân thì thần sắc không định, mà hay lấy lời nói để thắng người, đó là tướng ngu vậy.

Bảy phép để biết người: 1. Hỏi bằng lời nói xem trả lời có rõ ràng không 2. Lấy lời cật vấn đến kỳ cùng để xem cách ứng biến của họ. 3.  Cho gián điệp thử xem có trung thành không.
4. Hỏi rõ ràng tường tất để xem đức hạnh thế nào. 5. Lấy của mà thử để xem có thanh liêm không 6. Lấy sắc đẹp mà thử để xem có đứng đắn không. 7. Lấy việc khó khăn mà thử để xem có dũng cảm không. 8. Đem rượu cho họ uống say để xem có giữ được thái độ không.

Tướng ngu có tám điều tệ: 1. Lòng tham mà không chán 2. Ghen người hiền, ghét người tài 3. Tin lời dèm pha, thích lời nịnh hót 4. Xét người mà không xét mình 5. Do dự không quả quyết 6. Say đắm rượu và sắc đẹp 7. Thích xảo trá mà lòng nhút nhát 8. Nói lời viễn vông mà không giữ lễ

Gia Cát Lượng sách Tướng Uyển chỉ bảy phép biết người.Biết tính tình của người, chẳng gì khó bằng xem xét, lành dữ tuy khác nhau, tính tình và vẻ mặt chẳng phải một: có kẻ thì ôn hoà, hiền lành nhưng làm việc trộm cắp;có kẻ bề ngoài thì cung kính nhưng trong bụng thì vô lễ, dối trá; có kẻ bề ngoài thì mạnh dạn nhưng trong bụng thì khiếp sợ;có kẻ làm việc tận lực nhưng bụng không trung thành;

Bảy phép sau đây để biết người 1. Hỏi việc phải trái để dò chí hướng; 2. Lấy lời cật vấn để biết ứng biến; 3. Đem mưu kế hỏi để lường kiến thức; 4. Giao chuyện hiểm nguy để soi dũng cảm; 5. Mời rượu cho uống say để xét tính tình; 6. Đưa lợi gái thử để rõ thanh liêm chính trực; 7. Đem việc cậy nhờ để xét sự trung thành, tin thật.

Tám hạng tướng và bậc đại tướng . Nhân tướng là người dùng đức để đem đường cho người, dùng lễ để xếp việc cho họ, hiểu thấu sự đói rét của người dưới, biết rõ khó nhọc của đồng sự, đó là nhân tướng. Nghĩa tướng là người làm việc không cẩu thả, thấy lợi mà không tham, biết chết vinh hơn sống nhục. Lễ tướng là người có địa vị cao quý mà không kiêu căng, công hơn người mà không cậy, tài năng mà biết hạ mình, cứng cỏi mà biết nhẫn nhịn. Trí tướng là người gặp biến bất ngờ mà chí không đổi, ứng phó linh hoạt với việc khó khăn, có thể đổi họa thành phúc, gặp cơn nguy biến mà sắp đặt thành thắng thế. Tín tướng là người thưởng phạt nghiêm minh công bằng, khen thưởng không chậm trễ và không bỏ sót, trừng phạt không buông tha cho kẻ cao quý. Bộ tướng thủ hạ của đại tướng phải chọn người tay chân lẹ làng, võ nghệ tuyệt luân,  giỏi đánh gần, ứng biến di chuyển mau lẹ, để bảo vệ an toàn cao nhất cho chủ soái. Kỵ tướng là người có thể vượt núi non cheo leo, từng trải việc nguy hiểm, cưỡi ngựa bắn tên mau lẹ như chim bay, tới thì đi trước, lui thì về sau. Mãnh tướng là người khí thế vượt hẳn ba quân, dám coi thường địch mạnh, gặp đánh nhỏ vẫn luôn cẩn trọng, gặp đánh lớn thì can đảm quả quyết. Bậc đại tướng là người bao trùm và vượt hẳn tám hạng tướng kể trên, gặp hiền tài thì tôn trọng lắng nghe, biết tỏ ý mình không theo kịp người, biết nghe lời can ngăn như thuận theo dòng nước, lòng rộng rãi nhưng chí cương quyết, giản dị và nhiều mưu kế.”

Vạn Kiếp tông bí truyền thư (萬劫宗秘傳書) của Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương, tác phẩm này còn gọi là Vạn Kiếp binh thư đã thất truyền. Bài tựa của Trần Khánh Dư trong cuốn sách này giải thích bí truyền đại sư là người thế nào: “Phàm người khéo cầm quân thì không cần bày trận, khéo bày trận thì không cần giao chiến, khéo giao chiến thì không thể thất bại, khéo thất bại thì không thương vong. Xưa kia, Cao Dao làm chức sĩ sư mà mọi người không dám trái mệnh, Văn Vương và Vũ Vương nhà Chu là bậc thầy về văn và về võ, ngấm ngầm sửa đức để khuynh loát quyền bính của nhà Thương mà lấy nghiệp vương. Đó đều có thể gọi là những người giỏi cầm quân, không cần bày trận vậy. Vua Thuấn múa lá mộc và lông trĩ mà họ Hữu Miêu tự mình tìm đến, Tôn Vũ nước Ngô đem mỹ nhân trong cung thử tập trận mà phía tây phá nước Sở hùng cường, phía Bắc ra uy với nước Tần nước Tấn, nổi tiếng khắp chư hầu. Đó đều có thể gọi là những người giỏi bày trận, không cần giao chiến vậy. Cho đến Mã Ngập nước Tấn dựa vào bát trận đồ chuyển đánh nghìn dặm, phá được Thụ Cơ Năng mà lấy lại Lương Châu. Thế gọi là người giỏi giao chiến không bao giờ thất bại vậy.Cho nên, trận nghĩa là bày ra, là khéo léo. Ngày xưa, vua Hiên Viên lập ra phép “tỉnh điền” để đặt binh chế, Gia Cát Lượng xếp đá bên sông để làm bát trận, Vệ công sửa lại làm trận Lục Hoa, Hoàn Ôn định ra trận Xà Thế, trước sau đều có trận đồ nổi tiếng, trình bày tuần tự, thành phép tắc rõ ràng. Nhưng người đương thời ít ai thông hiểu, muôn vàn đầu mối nhìn vào dường như rối loạn, chưa từng nắm được lẽ biến dịch bên trong. Ví như những phép tắc và suy luận của Lý Thuyên, người sau không ai hiểu nghĩa là gì. Vì thế, Quốc công ta bèn so sánh, kê cứu trận đồ và binh pháp của các nhà, tổng hợp lại thành một bộ sách. Tuy chép cả những điều chi tiết, nhưng người sử dụng thì nên bỏ bớt những chỗ rườm, tóm lấy thực chất. Rồi lấy năm hành ứng với nhau, chín cung câu với nhau, phối hợp cương và nhu, xoay vần chẵn và lẽ, không làm hỗn loạn âm dương và thần sát, phương lợi và sao tốt, hung thần và ác tướng, ba cát và năm hung, việc nào việc ấy thực phân minh rõ rệt. Quốc công lại còn thêm bớt với chiến thuật của thời Tam đại, nhờ đó trăm trận trăm thắng. Cho nên đương thời phía bắc làm cho Hung Nô phải sợ, phía tây làm cho Lâm Ấp phải kinh. Rồi ông đem sách này dạy bảo con em làm gia truyền, không tiết lộ cho người ngoài biết. Lại có lời dặn rằng: “Sau này con cháu và bề tôi phò tá của ta có học được bí thuật này thì nên lấy đầu óc sáng suốt, linh hoạt mà thực hành và sắp đặt nó, chứ không nên lấy đầu óc cứng nhắc, tối tăm mà cất giữ và lưu truyền. Nếu trái điều đó thì sẽ mang vạ vào thân, lại hại lây đến cả con cháu. Đó gọi là tiết lậu cơ trời vậy.”

Bài tựa của Trần Khánh Dư cho Vạn Kiếp tông bí truyền thư, còn như sách Binh thư yếu lược mà người đời ngờ rằng bản thật đã bị cướp và thất lạc, đời sau chỉ có chân truyền lời này.

Chùa Thắng Nghiêm (Hà Nội) nơi Trần Hưng Đạo lúc nhỏ tu học, là nơi Người hiển thánh. Ôi, đọc lại “Binh Thư Yếu lược” “Hịch Tướng Sĩ Văn” và Vạn Kiếp tông bí truyền thư, soi gương kim cổ, lắng nghe cuộc sống, đọc lại lời răn dạy nếp nhà là để biết sửa lỗi mình;

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nói về phép xử thế của bậc hiền minh thuở thời thế nhiễu loạn, vàng lầm trong cát: ”Đạo trời đất là Trung Tân, vẹn toàn điều Thiện là Trung, không vẹn toàn điều Thiện thì không phải là Trung. Tân là cái bến, biết chỗ dừng lại là bến chính, không biết chỗ dừng lại là bến mê. Nghĩa chữ Trung chính là ở chỗ Chí Thiện.Trung Tân quán bi ký, 1543). Đạo ở mình ta lấy đạo trung/ Chớ cho đục, chớ cho trong (Thơ chữ Nôm, Bài số 104) Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ/ Người khôn, người đến chốn lao xao (Thơ chữ Nôm, Bài số 79). Làm việc thiện không phải vì công tích mà ở tấm lòng. Nay vừa sau cơn loạn lạc thì chẳng những thân người ta bị chìm đắm, mà tâm người ta càng thêm chìm đắm. Các bậc sĩ đệ nên khuyến khích nhau bằng điều thiện, để làm cho mọi người dấy nên lòng thiện mà tạo nên miền đất tốt lành. (Diên Thọ kiều bi ký, 1568) An nhàn, vô sự là tiên (Sấm ký)”. Người đời sau luận chuyện Lão Tử ‘dạy’ Khổng Tử: “Ngươi cứ nhìn vào trời đất mà hiểu Đạo của ta. Kìa, có trời thì có đất, có núi thì có sông, có cao thì có thấp, có dài thì có ngắn, có cương thì có nhu, có rỗng thì có đặc, có sáng thì có tối, có thẳng thì có cong… Mọi thứ đang dịch chuyển trong sự biến hóa vô cùng. Tự nhiên tự do nhưng có trật tự và cái lí của nó. Cao thì xa, thấp thì gần, dài thì yếu, ngắn thì mạnh, cương thì gãy, nhu thì dẻo, rỗng thì âm to, đặc thì câm. Mọi thứ trong trời đất gắn kết được nhờ khác biệt, không có chuyện giống nhau mà hợp lại được với nhau“.

Hoàng Kim đúc kết tóm tắt về nếp nhà đẹp văn hóa xây dựng gia đình hạnh phúc, cần có phúc ấm gia đình với trí tuệ phúc hậu, minh triết, tận tâm, làm việc tự ý cẩn thận, im lặng là trí tuệ, lời nói là năng lực. Minh triết của đời người hạnh phúc là biết sống thung dung, phúc hậu, thanh thản, an nhiên tự tại, nhận ra kho báu vô giá của chính mình, không lo âu, không phiền muộn, sống với tinh thần dịu hiền và trái tim nhẹ nhõm. Cụ Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm (trong sách Hoàng Niêm đất Hương Sơn, Nhà Xuất bản Thuận Hoá, năm 2007) là cha ruột của những người con danh tiếng GS Nguyễn Khắc Dương, GS Nhà văn hoá Nguyễn Khắc Viện, GS Nguyễn Khắc Phi, Nhà văn Nguyễn Khắc Phê, nhà giáo Nguyễn Thị Dư Khánh, qua bài viết “Cụ Hoàng Giáp dạy con” của Vu Gia đã chúng ta thấy nét đẹp văn hóa của một gia đình hạnh phúc. GS. Hoàng Ngọc Hiến có bài bình giảng rất hay về nếp nhà Nên thợ, nên thầy” “No ăn, no mặc”. Ông Lê Quang Nhung ở Bến Tre có bài “Giữ lại nếp nhà” đã trao đổi thật thấm thía “Nếp nhà là cái ở sâu trong trái tim ta, là gốc rễ của con người nhưng do mải mê với cuộc sống, nhiều khi ta quên mất. Rất đồng tình với ai đó: Xã hội là nơi cho cá nhân phát triển, còn gia đình là nơi cá nhân hình thành tính cách, tâm hồn, tư duy, tài năng, đạo đức của con người. Vì vậy, xây dựng môi trường văn hóa từ gia đình phải là một mắc xích quan trọng trong quá trình giáo dục tính cách, tình cảm, tâm hồn, đạo đức, đặc biệt là cho giới trẻ. Tu được thân mới “tề gia”, rồi đến “trị quốc”, sau cùng là “bình thiên hạ”. Sắp xếp theo trình tự như vậy cũng có cái lý của người xưa.” Nhà văn Nguyễn Khải có bài viết “Nếp nhà” nói rõ quan niệm gia đình hạnh phúc qua lời kể của một bà cụ phúc hậu “Theo bà cụ, thời bây giờ có được vài trăm cây vàng không phải là khó, cũng không phải là lâu, nhưng có được một gia đình hạnh phúc phải mất vài đời người, phải được giáo dục vài đời. Hạnh phúc không bao giờ là món quà tặng bất ngờ, không thể đi tìm, mà cũng không nên cầu xin”.

Bài này là suy nghiệm của tôi về nếp nhà đẹp văn hóa

“Nhân hậu thói nhà in một nếp
Chân chính bao nhiêu phúc bấy nhiêu”
Trăng rằm vui chơi giăng
Nếp nhà đẹp văn hóa
Nhà Trần trong sử Việt
Mạc triều trong sử Việt
Nhớ Ông Bà Cậu Mợ
Hoa Đất thương lời hiền

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là hoangthuccanh-29-6-1987.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là hoang-thuccanh-2.jpg

Hoàng Kim kính đại thọ Cậu Hoàng Thúc Cảnh. Một câu chuyện ân tình của Cậu nhân việc mừng thọ Cậu một trăm tuổi tôi lần đầu xin kể lại: Năm 1977, Cậu Hoàng Thúc Cảnh đã lặn lội đường xa lên gặp thầy Hoàng Sỹ Oánh là Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Đại học Nông nghiệp II Hà Bắc ở Đồn Lương, Việt Yên, Hà Bắc và nói: Xin quý Thầy cho cháu Kim được chuyển trường vào Đại học Nông nghiệp 4 ở thành phố Hồ Chí Minh của nước mình vừa thống nhất. Kim mồ côi cha mẹ từ nhỏ, cha bị bom Mỹ giết hại. Anh Trực trận mạc từ rất sớm. Kim đã học trường thầy và đã xung phong nhập ngũ năm 1971. Cháu học giỏi lại trưởng thành dày dạn trong chiến đấu, nay về trường lại được quý thầy quy hoạch đào tạo là thật mừng. Nhưng mong quý Thầy chiếu cố hoàn cảnh cháu thật thương tâm, trước cơm ngày một bữa suốt năm năm, nay cả nhà vẫn lưu tán một người một nơi. Gia đình ao ước lớn nhất là tụ họp sau chiến tranh. Anh biết rõ tánh tôi ở gần gủi Bác và cụ Đồng, trọng tánh của các cụ mà chưa hề phiền lụy ai, nhưng riêng việc này nhờ anh chiếu cố. Thầy Đỗ Ánh là Hiệu trưởng kế tiếp của Trường, và thầy Võ Hùng đều cảm động. Đức nhân hậu, lòng yêu thương và tầm nhìn sáng suốt, thật biết ơn cậu, một lời gia đình đoàn tụ.

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là 2017-10-12_nepnhavanetdepvanhoa3.jpg

TỰ VỊNH VƯỢT BÁT TUẦN
Minh Sơn Hoàng Bá Chuân


Bát tuần đã trãi việc đời nhiều
Chân chính bao nhiêu phúc bấy nhiêu
Nhân hậu thói nhà in một nếp
Trung kiên việc nước đủ trăm chiều
Lòng son phơi phới vầng trăng dọi
Tóc bạc phơ phơ ngọn gió phiêu
Hôm sớm sân Lai (*) thêm sắc mới
Sum vầy con cháu tiếng vui reo !

Mai trắng tóc người cũng trắng trong
Đường trần lên thấu đỉnh cao phong
Hoàng gia Mạc tộc ngời tâm đức
Lối hẹp đường cong chẳng thẹn lòng

Cậu Hoàng Thúc Tấn viết: Cậu xem bài viết về Cao Biền của cháu thật sự là điều mới lạ đối với cậu. Nếu thực sự Cao Biền như cháu đã khảo cứu thì lịch sử nước ta hoàn toàn khác. Có đoạn nói mộ Cao Biền ở Tuy Hoà thì thời nhà Đường nước ta mới chỉ vẻn vẹn một phần của Bắc bộ. Cậu xem một số bài khảo cứu của cháu qua Faebook và rất vui và lý thú khi đọc. Cậu Tấn”

Kim Hoàng trả lời: cháu nhớ cậu cùng các cậu mợ kính yêu và người thân của các cháu. Cháu thật xúc động khi hình dung người cậu trên 85 tuổi đã viết cho cháu những lời chân tình này. Cháu về quê thắp hương cho người thân ‘Hoàng gia Mạc tộc’ và thấu hiểu sâu sắc ‘Cao cát Mạc sơn’ nhưng cháu chưa thể viết rõ hơn. Cháu trích chép kính cậu một ghi chú trong bài trên Vạn Kiếp tông bí truyền thư (萬劫宗秘傳書) của Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương, tác phẩm này còn gọi là Vạn Kiếp binh thư đã thất truyền. Bài tựa của Trần Khánh Dư trong cuốn sách này giải thích bí truyền đại sư là người thế nào:

“Phàm người khéo cầm quân thì không cần bày trận, khéo bày trận thì không cần giao chiến, khéo giao chiến thì không thể thất bại, khéo thất bại thì không thương vong. Xưa kia, Cao Dao làm chức sĩ sư mà mọi người không dám trái mệnh, Văn Vương và Vũ Vương nhà Chu là bậc thầy về văn và về võ, ngấm ngầm sửa đức để khuynh loát quyền bính của nhà Thương mà lấy nghiệp vương. Đó đều có thể gọi là những người giỏi cầm quân, không cần bày trận vậy. Vua Thuấn múa lá mộc và lông trĩ mà họ Hữu Miêu tự mình tìm đến, Tôn Vũ nước Ngô đem mỹ nhân trong cung thử tập trận mà phía tây phá nước Sở hùng cường, phía Bắc ra uy với nước Tần nước Tấn, nổi tiếng khắp chư hầu. Đó đều có thể gọi là những người giỏi bày trận, không cần giao chiến vậy. Cho đến Mã Ngập nước Tấn dựa vào bát trận đồ chuyển đánh nghìn dặm, phá được Thụ Cơ Năng mà lấy lại Lương Châu. Thế gọi là người giỏi giao chiến không bao giờ thất bại vậy.Cho nên, trận nghĩa là bày ra, là khéo léo. Ngày xưa, vua Hiên Viên lập ra phép “tỉnh điền” để đặt binh chế, Gia Cát Lượng xếp đá bên sông để làm bát trận, Vệ công sửa lại làm trận Lục Hoa, Hoàn Ôn định ra trận Xà Thế, trước sau đều có trận đồ nổi tiếng, trình bày tuần tự, thành phép tắc rõ ràng. Nhưng người đương thời ít ai thông hiểu, muôn vàn đầu mối nhìn vào dường như rối loạn, chưa từng nắm được lẽ biến dịch bên trong. Ví như những phép tắc và suy luận của Lý Thuyên, người sau không ai hiểu nghĩa là gì. Vì thế, Quốc công ta bèn so sánh, kê cứu trận đồ và binh pháp của các nhà, tổng hợp lại thành một bộ sách. Tuy chép cả những điều chi tiết, nhưng người sử dụng thì nên bỏ bớt những chỗ rườm, tóm lấy thực chất. Rồi lấy năm hành ứng với nhau, chín cung câu với nhau, phối hợp cương và nhu, xoay vần chẵn và lẽ, không làm hỗn loạn âm dương và thần sát, phương lợi và sao tốt, hung thần và ác tướng, ba cát và năm hung, việc nào việc ấy thực phân minh rõ rệt. Quốc công lại còn thêm bớt với chiến thuật của thời Tam đại, nhờ đó trăm trận trăm thắng. Cho nên đương thời phía bắc làm cho Hung Nô phải sợ, phía tây làm cho Lâm Ấp phải kinh. Rồi ông đem sách này dạy bảo con em làm gia truyền, không tiết lộ cho người ngoài biết. Lại có lời dặn rằng: “Sau này con cháu và bề tôi phò tá của ta có học được bí thuật này thì nên lấy đầu óc sáng suốt, linh hoạt mà thực hành và sắp đặt nó, chứ không nên lấy đầu óc cứng nhắc, tối tăm mà cất giữ và lưu truyền. Nếu trái điều đó thì sẽ mang vạ vào thân, lại hại lây đến cả con cháu. Đó gọi là tiết lậu cơ trời vậy.”
Bài tựa của Trần Khánh Dư cho Vạn Kiếp tông bí truyền thư, còn như sách Binh thư yếu lược mà người đời ngờ rằng bản thật đã bị cướp và thất lạc.Đời sau chỉ chân truyền lời này.

Mạc triều trong sử Việt. Hoàng chi Mạc tộc và Cao Bằng . Tỉnh Cao Bằng có làng Đà Quận ở xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, từ thời Mạc đến nay hàng năm đều có Lễ hội chùa Đà Quận từ ngày 9 âm lịch đến rằm Nguyên tiêu tháng Giêng hàng năm để tảo mộ tổ tiên và dâng hương tưởng nhớ. Cao Bằng là đất sau cùng của nhà Mạc tiếp tục tồn tại hơn 100 năm sau khi nhà Mạc không còn triển vọng phục quốc mới nhập vào đất nhà Hậu Lê. Làng Đà Quận là làng dân Mạc theo hương linh Đà Quận Công Mạc Ngọc Liễn. Nhà Mạc tuân theo di nguyện của Mạc Ngọc Liễn danh tướng thái phó vua Mạc là không bao giờ vì dòng họ mình mà nồi da xáo thịt đưa ngoại viện vào giày xéo non sông. Mạc tộc lúc kế cùng lực kiệt đã đổi họ Mạc thành họ khác và lưu tán khắp mọi nơi trong cả nước, trong đó có Hoàng chi Mạc tộc Làng Minh Lệ và cho đến nay có Hoàng chi Mạc tộc đất phương Nam cũng là những người con xa xứ. Những ngày đầu xuân nay (2020) sau 428 năm (tính từ năm 1592 Cao Bằng thất thủ vì sự công phá của nhà Lê Trịnh), Việt sử ghi nhớ di nguyện tổ tiên, ‘Lời dặn sau cùng của Mạc Ngọc Liễn’ tại quốc sử Việt đối chiếu qua các thời viết về Mạc triều trong sử Việt: “Nay khí vận nhà Mạc đã hết, họ Lê lại trung hưng, đó là số trời. Dân ta là người vô tội mà khiến để phải mắc nạn binh đao, ai nỡ lòng nào! Chúng ta nên lánh ra ở nước khác, nuôi dưỡng uy lực, chịu khuất đợi thời, chờ khi nào mệnh trời trở lại mới làm được, chứ không thể lấy lực chọi với lực. Khi hai con hổ tranh nhau, tất phải có một con bị thương, không có ích gì cho công việc. Nếu thấy quân họ đến đây thì chúng ta nên tránh đi, chớ có đánh nhau với họ, cốt phòng thủ cẩn thận là chính; lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng”. Tác giả Trần Gia Phụng trong bài viết: “Những cuộc đổi họ lớn trong lịch sử” có đoạn bình luận về lời trăng trối của ông: “Đây không phải lời nói suông trong cảnh trà dư tửu hậu, nhưng đây là tâm huyết của một con người sắp nằm xuống trong cơn hoạn nạn cùng cực vì mất nước. Suốt trong lịch sử Việt Nam, chúng ta thường được nghe những lời nói của Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Đặng Dung, hào hùng như vó ngựa tổ tiên, nhưng ít khi được đọc những dặn dò như Mạc Ngọc Liễn – nhân bản, đầy tình tự dân tộc không khác gì lời ru êm ái trong những câu ca dao mộc mạc”.

Chuyện cổ tích người lớn “Người trồng cây hạnh người chơi, Ta trồng cây đức để đời về sau” Trong 8 đời chúa Nguyễn, không thấy ông nào làm điều gì thất đức. Ông nào cũng lo làm cho dân giàu nước mạnh. Lịch sử cuộc nam tiến đi từ Phú Yên đến Cà Mau-Châu Đốc chứng minh điều đó. Hậu thế đã được thừa hưởng biết bao phúc lợi từ sự nghiệp nam tiến đó! Có 3 ông chúa mang danh hiệu khác người: Chúa Sãi, chúa Hiền, chúa Ngãi. Nghe nôm na và thân tình biết mấy. Nếu cai trị mà không được dân thương mến và biết ơn  thì làm chi có những cách gọi kém vương giả nhưng giàu tình cảm như thế? Có đến 4 ông chúa, ngoài tên và vương hiệu, lại tự xưng là đạo nhân, như Thiên Túng đạo nhân (chúa Minh Nguyễn Phúc Chu), Vân Tuyền đạo nhân (chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ) hay Từ Tế đạo nhân (Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát), Khánh Phủ đạo nhân (Định Vương Nguyễn Phúc Thuần). Đó cũng là một nét đặc biệt. Nhiều ông chúa xây chùa (chúa Tiên lập chùa Thiên Mụ, Long Hưng, Bảo Châu, Kính Thiên; chúa Hiền lập chùa Túy Vân) hay  trùng tu chùa, đúc chuông, thỉnh sư giảng Pháp (chúa Minh).  Có lẽ nhờ biết tu nhân tích đức mà Đức năng thắng số, Số bất cập đức nên  tai qua nạn khỏi, như câu tục ngữ mà ông bà xưa thường nói để dạy khôn cho con cháu: Trời hại mới lo, người hại như phấn nhồi. Đó là nói nôm na, cho có vẻ chính xác và minh triết hơn thì đấy chính là nhân quả nghiệp báo”. Điều lạ lùng hơn cả trong Nam tiến của người Việt là liên minh Nguyễn Hoàng Mạc Cảnh Huống, Nguyễn Phúc Nguyên Mạc Thị là những uẩn khúc lịch sử chưa thể viết rõ.

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là giadinhdilien.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là 1b-cac-cau-cua-bakim.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là 1-vieng-mo-chame-co-caumothan-truchuyenkim.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là mung-em-lam-nguoi-thay-nhc3a2n-van.jpg

HOÀNG CHI MẠC TỘC LÀNG MINH LỆ

Chúng tôi tự hào về dòng họ Hoàng chi Mạc tộc làng Minh Lệ có nhiều người con trung hiếu với đất nước, quê hương và gia đình. Cụ Hoàng Bá Chuân, bố của bảy người con trai ở câu chuyện “Cuộc đoàn tụ bất ngờ của 5 anh em ngày giải phóng thủ đô“ là em ruột của bà ngoại tôi.Ông tôi thường dạy con cháu về nếp nhà phúc hậu văn hóa. Ông bà cậu ruột mẹ tôi đã trao lại di thư: “Nhà tôi sinh được bảy người con/ Quyết chí chung tình với nước non/ Kháng chiến năm con đi khắp nước/ Lớn lên trai bé sẽ xung phong…” Cậu Cương ngọc trai bé của ông tôi, sau này cũng vào bộ đội Trung đoàn Thủ Đô (E102) Sư đoàn Quân Tiên phong (F308). Cậu Cương dần dà theo trọn đời nghề làm kỹ thuật vô tuyến điện nhưng cái nghiệp lắng đọng lại là thơ, theo dòng thời gian thao thức một tầm nhìn nhân văn sâu sắc, tài hoa, với một gia đình hạnh phúc, nếp nhà phúc hậu và văn chương đích thực. Hoàng chi Mạc tộc Làng Minh Lệ có một thuở đã lạc vào tai ách “Phố cụt”. Thật may mắn trước “Phố cụt” đã có “Phố khuya” để kịp bình tâm suy ngẫm, và sau “Phố cụt” “cùng tắc biến” là “Phố nối” hóa giải “Phố cụt”, tiếp “Phố cong Tam Đảo” và xuống đến đời thường “Đi trên phố nhỏ” bình yên của một vòng tròn nhân quả. Tôi đã tâm đắc để viết nên bài thơ “Thời gian lắng đọng người hiền.” trong buổi sáng cuối thu cà phê sáng với CNM365

Đi tìm lịch sử bị quên lãng tôi nhớ đến Vua Hàm Nghi và ông Nguyễn Thạc và nhớ đến Bà Đen Bài ca thời gian. Câu chuyên hậu duệ của Hoàng chi Mạc tộc làng Minh Lệ có sự gần gũi câu chuyện hậu duệ nhà Nguyễn. Cựu hoàng Nguyễn Phúc Vĩnh San Duy Tân được Tướng De Gaulle (sau này là Tổng thống Pháp) đồng ý cho trở lại Việt Nam trên cương vị Hoàng đế; nhưng sau khi hoàng đế Duy Tân thẳng thừng đưa ra đề xuất đòi hỏi sự thống nhất của ba kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ) thì ông đã bị tử nạn ngay tại Trung Phi và tất cả những người đi trên máy bay đều thiệt mạng. Lịch sử Việt do sự chi phối của những yếu tố tất nhiên và ngẫu nhiên mà tạo nên bước ngoặt quyết định, đó âu là duyên nghiệp số phận của dân tộc liên quan cá nhân. Vua Hàm Nghi  tên thật là  Nguyễn Phúc Ưng Lịch hay là Nguyễn Phúc Minh, sinh ngày  3 tháng 8 năm 1871 mất ngày  4 tháng 1 năm 1943, niên hiêu là Hàm Nghi từ khi làm vua  ngày  2 tháng 8 năm 1884 cho đến khi bị đày sang xứ Algérie ở Bắc Phi  ngày 25 tháng 11 năm 1888. Vua là vị Hoàng đế thứ 8 của nhà Nguyễn, vương triều phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Ngày nay, Việt Nam xem ba vị vua Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân là các vua yêu nước chống Pháp  trong thời kỳ Pháp thuộc. Do những uẩn khúc lịch sử, ông Trương Thạc là người Việt Nam duy nhất cuối cùng bên linh cữu vua Hàm Nghi. Chúng tôi gọi ông Trương Thạc chồng mệ Phong họ Trần, chị gái đầu của bà ngoại tôi là ông cậu thất Khiếng hay ông cậu thất Phong (gọi theo tên con là cậu Phong của chúng tôi). Hoàng chi Mạc tộc làng Minh Lệ có quan hệ đến Võ Nguyên Giáp ẩn số Chính Trung và những câu chuyện dài trong nếp nhà và nét đẹp văn hóa mà tôi kể kỹ hơn ở phần ba.Thời gian lắng đọng người hiền.

Thời gian lắng đọng người hiền
Hoàng Kim

Bình minh Yên Tử  đầu tiên
Ánh Trăng khuya rọi khắp miền thế gian
Hoàng Gia thi tứ nồng nàn
Tình yêu cuộc sống muôn vàn yêu thương.

Câu thơ lắng đọng đời thường,
Mạ ơi xúc động lời thương dặn dò,
Cha tôi là một nhà Nho,
Tìm về nguồn cội, Chớm thu … tuyệt vời !

Cội nguồn Lũng Động, Cổ Trai,
Khí thiêng cõi Bắc nhớ nơi sinh thành,
Vua Thái tổ Mạc Đăng Dung,
Hoàng chi dòng đích lưu cùng nước non.

Phố Cụt, Phố nối, Phố cong,
Đi trong phố nhỏ một vòng nhân gian
Rùa ơi tôn bậc trí nhân
Để nền Văn hiến ngàn năm không nhòa.

Sáu mươi năm Mạ đi xa,
Mạ ơi tiếng vọng không là niềm riêng.

Thời gian lắng đọng người hiền.
Đông tàn xuân tới, bình minh rạng ngời.

Hoàng Gia Cương thơ hiền

Hoàng Gia Cương là tác giả của chùm thơ (chữ tin đậm mà Hoàng Kim trích dẫn trên đây). Cụ có các tác phẩm chính: Thơ 1) Lặng lẽ thời gian, Nxb Thanh Niên 1997, 2) Lắng đọng Nxb Hội nhà văn, 2001, 3) Trong cõi vô biên Nxb Hội nhà văn 2005, 4) Trãi nghiệm với thời gian Nxb Hội nhà văn 2010, 5) Theo dòng thời gian Nxb Văn Học 2013; Truyện ký 6) Cổ tích cho mai sau Nxb QĐND 2006. Tác phẩm thơ văn của Hoàng Gia Cương có mặt trên 30 tuyển tập, tập thơ văn in chung. Anh Bu Lu Khin Nguyễn Quốc Toàn viết: “Trong số thơ của Hoàng Gia Cương bu tui thích nhất bài “Phố Cụt”. Cái cụt của con đường là biểu trưng cho cái bê tắc, cái cụt lủn của khát vọng của con người. Người ta bám vào ba cái phao cứu sinh là Phật, Chúa, và Tư bản luận của Mác nhưng tất cả cũng chỉ là cơn gió bay qua “Gió nồm rồi gió heo may. Lạc vào phố cụt Bụi bay mù trời!”. Gia đình Hoàng gia Mạc tộc “thập tam thế hậu” nhờ phúc ấm tổ tông và nếp nhà nét đẹp văn hóa mà có được sự hanh thông hạnh phúc tiếp nối.

HỌ TRẦN MẸ VÀ DÌ

Dòng họ Hoàng và dòng họ Trần làng Minh Lệ chúng tôi có người ông ngoại sinh được ba người con. Mẹ là gái đầu đi ở cho nhà địa chủ từ nhỏ. Cậu ‘qua’ mất sớm. Dì là gái út thoát li làm cách mạng từ rất sớm. Mẹ sinh ba trai, hai gái. Dì sinh bốn trai. Mẹ tôi mất sớm đúng ngày Tết Nguyên Đán mồng Ba năm 1964. Cha nói trong nước mắt: ‘Các con gọi chồng dì bằng cậu, bởi hiếm có ai chăm sóc chị dâu tận tụy như dượng của các con’. Cha bị bom Mỹ giết hại ngày 29 tháng 8 âm lịch năm 1968. Chúng con lớn lên dưới lồng cánh cưu mang của Dì Cậu và đại gia đình Trần Hoàng Nguyễn..Trong vận mệnh của Tổ Quốc và Gia Đình, cha và cậu đã từng cầm súng, bảy con trai của mẹ và dì có năm đứa đã từng cầm súng

HOÀNG GIA NGỌC PHƯƠNG NAM

Gia đình tôi Hoàng gia phương Nam có bốn tộc Hoàng, Trần, Lê, Nguyễn. Bố tôi với bác tôi và người em gái bố đều rất nghèo. Bác tôi là thầy đồ nho dạy học chữ Tàu thuở tiếng Tây lên ngôi nên nhà sa sút. Cô tôi đi ở và lấy chồng Phong Nha Kẻ Bàng. Bố tôi lấy mẹ tôi cũng là người đi ở cho địa chủ và nghề của bố là chuyên chèo đò khuya chợ Mới chợ Troóc từ ngã ba nguồn Son tới Phong Nha và kịp về làm nông để nhận công điểm hợp tác xã. Bố chết bom năm 1968. Trần là họ mẹ, gốc gác họ Trần có từ thời vua Trần Dụ Tông chết trận khi đánh Chiêm Thành thì vợ vua không về Bắc nữa mà ở lại thành tộc Trần. Năm gia tộc ở Làng Minh Lệ là Trần, Hoàng, Trương, Nguyễn và Hoàng chi Mạc tộc. Cũng có thêm chi tiết của Mạc Cảnh Huống và Mạc Thị Gái nhưng sự kiểm chứng nguồn gốc Trần, Hoàng còn cần thêm thời gian. Lê là họ chị dâu cả của gia đình tôi là dân xứ biển ngoại hải Quảng Thuận gần Ba Đồn. Nguyễn là họ vợ tôi và họ của chồng chị gái Hoàng Thị Huyền. “Chúng tôi sinh thành ở Quảng Bình… Nhà mình ở ngã ba sông. Rào Nan chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình. Nay thì đoàn tụ đất phương Nam. Gia đình chúng tôi đi như một dòng sông, gìn giữ nếp nhà chân chính nhân hậu

hoangtranlenguyendatphuongnam

Hoàng Ngọc Dộ khát vọng

Hoàng Ngọc Dộ (1937-1994) là nhà giáo quê ở xã Quảng Minh, huyện Quảng Trạch (nay là thị xã Ba Đồn), tỉnh Quảng Bình. Mẹ mất sớm. Nhà nghèo. Cha bị bom Mỹ giết hại. Thầy đã nổ lực nuôi dạy các em vượt qua gian khổ, nghèo đói và chiến tranh để vươn lên trở thành những gia đình thành đạt và hạnh phúc. Gương nghị lực vượt khó hiếm thấy, ăn ngày một bữa suốt năm năm, nuôi hai em vào đại học với sự cưu mang của thầy bạn và xã hội đã một thời lay động sâu xa tình cảm thầy trò Trường Cấp Ba Bắc Quảng Trạch (Quảng Bình). Thầy mất sớm, hiện còn lưu lại gần 100 bài thơ. Lời thơ trong sáng, xúc động, ám ảnh, có giá trị khích lệ những em học sinh nhà nghèo, hiếu học. Một số bài tiêu biểu có trên Thi Viện trang thơ Hoàng Ngọc Dộ “Khát vọng”

Cuốc đất đêm

Mười lăm trăng qủa thật tròn
Anh hùng thời vận hãy còn gian nan
Đêm trăng nhát cuốc xới vàng
Trăng dòm, ta hẹn, trăng càng dòm thêm
Đất vàng, vàng ánh trăng đêm
Đêm khuya, ta với nàng quên nhọc nhằn.

Ánh sao

Bóng đêm trùm kín cả không trung
Lấp lánh phương Đông sáng một vừng
Mây bủa, mây giăng còn chẳng ngại
Hướng nhìn trần thế bạn văn chương.

Lời nguyền

Không vì danh lợi đua chen
Thù nhà, nợ nước, quyết rèn bản thân!

Ước hẹn anh em một lời nguyền
Thù nhà đâu sá kể truân chiên
Bao giờ đền được ơn trung hiếu
Suối vàng nhắm mắt mới nằm yên.

Mạ ơi

Đã chẵn tháng rồi, ôi Mạ ôi!
Tuần trăng tròn khuyết đã hết rồi
Mà con không thấy đâu bóng Mạ
Thấy trăng vắng Mạ dạ bùi ngùi.

Năm mươi ngày chẵn thấm thoắt trôi
Mạ về cỏi hạc để con côi
Vầng trăng tròn trặn vừa hai lượt
Vắng Mạ, lòng con luống ngậm ngùi.

Con đọc sách khuya không nghe tiếng Mạ
Nỗi tâm tư con nghĩ miên man
Lúc Mạ còn, con bận việc riêng con
Không đọc được để Mạ nghe cho thỏa dạ.

Nay con đọc, vắng nghe tiếng Mạ
Nỗi bùi ngùi lòng dạ con đau
Sách mua về đọc Mạ chẵng nghe đâu
Xót ruôt trẻ lòng sầu như cắt.
Mạ ơi Mạ, xin Mạ hãy nghe lời con đọc.

Buồn khi rão bước đồng quê
Buồn khi chợp mắt Mạ về đâu đâu
Buồn khi vắng Mạ dạ sầu
Buồn khi mưa nắng giải dầu thân Cha
Buồn khi sớm tối vào ra
Ngó không thấy Mạ, xót xa lòng buồn.

Chia tay bạn quý

Đêm ngày chẳng quản đói no
Thức khuya dậy sớm lo cho hai người
Chăm lo văn sách dùi mài
Thông kim bác cổ, giúp đời cứu dân

Ngày đêm chẵng quản nhọc nhằn
Tối khuyên, khuya dục, dạy răn hai người
Mặc ai quyền quý đua bơi
Nghèo hèn vẫn giữ trọn đời thủy chung

Vận nghèo giúp kẻ anh hùng
Vận cùng giúp kẻ lạnh lùng vô danh
Mặc ai biết đến ta đành
Dăm câu ca ngợi tạc thành lời thơ

Hôm nay xa vắng đồng hồ
Bởi chưng hết gạo, tớ cho thay mày
Mày tuy gặp chủ tốt thay
Nhớ chăng hôm sớm có người tri ân.

Thức em dậy

Đã bốn giờ sáng
Ta phải dậy rồi
Sao Mai chơi vơi
Khoe hào quang sáng

Ta kêu Kim dậy
Nó đã cựa mình
Vớ vẫn van xin
Cho thêm chút nữa.

Thức, lôi, kéo, đỡ
Nó vẫn nằm ỳ
Giấc ngủ say lỳ
Biết đâu trời đất

Tiếc giấc ngủ mật
Chẳng chịu học hành
Tuổi trẻ không chăm
Làm sao nên được

Đêm ni, đêm trước
Biết bao là đêm
Lấy hết chăn mền
Nó say sưa ngủ

Ta không nhắc nhủ
Nó ra sao đây
Khuyên em đã dày
Nó nghe chẳng lọt

Giờ đây ta quyết
Thực hiện nếp này
Kêu phải dậy ngay
Lay phải trở dậy

Quyết tâm ta phải
Cố gắng dạy răn
Để nó cố chăm
Ngày đêm đèn sách

Ta không chê trách
Vì nó tuổi thơ
Ta không giận ngờ
Vì nó tham ngủ

Quyết tâm nhắc nhủ
Nhắc nhủ, nhắc nhủ …

Nấu ăn

Ngày một bữa đỏ lửa
Ngày một bữa luốc lem
Ngày một bữa thổi nhen
Ngày một bữa lường gạo
Ngày một bữa tần tảo
Ngày một bữa nấu ăn.

(*) 5 năm cơm ngày một bữa

Nỗi lòng

Nhá củ lòng anh nhớ các em
Đang cơn lửa tắt khó thắp đèn
Cảnh cũ chưa lìa đeo cảnh mới
Vơi ăn, vơi ngủ, với vơi tiền

Cảnh mãi đeo người được đâu em
Hết khổ, hết cay, hết vận hèn
Nghiệp sáng đèn giời đang chỉ rõ
Rồi đây cay đắng chẳng buồn chen.

Dự liên hoan

Hôm nay anh được chén cơm ngon
Cửa miệng anh ăn, nuốt chả trơn
Bởi lẽ ngày dài em lam lũ
Mà sao chỉ có bữa cơm tròn.

Nhớ người xưa

Ông Trình, ông Trãi, ông Du ơi
Chí cả ngày xưa Cụ trả rồi
Có biết giờ đây ai khắc khoải
Năm canh nguyệt giãi gợi lòng tôi

Bó gối mười năm ở nội thành
Thầy xưa đã rạng tiết thanh danh
Tớ nay vương nợ mười năm lẽ
Sự nghiệp Thầy ơi rạng sử xanh.

Em ốm

Bồn chồn khi được tin nhà
Rằng người xương thịt nay đà bị đau
Nghĩ mình là kẻ đỡ đầu
Mà sao phải chịu lao đao chốn này.

Đêm rét thương em

Đêm này trời rét, rét ghê
Ta thương chiến sĩ dầm dề gió sương
Thương em lặn lội chiến trường
Chăn không, áo mỏng, gió sương dạn dày.

Em về

Em về anh biết nấu chi
Ba lần khoai sắn, kể chi cá gà
Thương em lặn lội đường xa
Về nhà khoai sắn, dưa cà cùng anh

Bao giờ giặc Mỹ sạch sanh
Em về anh thết cơm canh cá gà
Mùng vui kể chuyện nước nhà
Gia đình đoàn tụ thật là đượm vui.

Làm đồng

Làm đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót, say sưa với đồng
Chung tay liềm hái cuốc chòng
Ngày nay nhỏ giọt, mai lòng sướng vui.

Làm đồng nắng sém, da hui
Ai ơi xin chớ tham hời của dân
Khổ cay nắng sém da hồng
Xuân xanh già dặn với đồng, ai ơi!

Ngắm trăng

Nằm ngữa trong nhà ngắm Hằng Nga
Hợp cảnh, hợp tình, Hằng ngắm lại
Hợp nhà, hợp cửa, ả rọi hoa
Từng đám vòng tròn nằm giữa chiếu
Chiếu thế mà ra lại chiếu hoa
Hậu Nghệ thuở xưa sao chị ghét
Ngày nay mới biết ả yêu ta.

Nhà dột

Lã chã đêm đông giọt mưa phùn
Lách qua tranh rạ nhỏ lung tung
Chiếu giường ướt đẫm, thân đâu thoát
Nghĩ cảnh nhà hoa thật não nùng.

Qua đèo Ngang

Qua đèo Ngang, qua đèo Ngang
Rừng thẳm Hoành Sơn giống bức màn
Tường thành hai dãy nhiều lũy nhỏ
Gió chiều lướt thổi nhẹ hơi hương
Cổng dinh phân định đà hai tỉnh
Cheo leo tầng đá, giá hơi sương
Người qua kẻ lại đều tức cảnh
Ta ngẫm thơ hay của Xuân Hương (1)

(1) Thơ Xuân Hương:
“Một đèo, một đèo, lại một đèo
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo …”

Hoàng Trung Trực dấu chân người lính

Anh Hoàng Trung Trực đã viết bài thơ “Viếng mộ cha mẹ” thật xúc động

Dưới lớp đất này là mẹ là cha
Là khởi phát đời con từ bé bỏng
Là lời mẹ ru dịu dàng cánh võng
Là gươm đao cha một thuở đau đời.

Hành trang cho con đi bốn phương trời
Là nghĩa khí của cha, là nhân từ của mẹ
Vẫn bầu sữa tinh thần không ngừng không nghỉ
Để hành trang cho con đi tiếp cuộc đời

Cuộc đời con bươn chãi bốn phương trời
Nay về lại nơi cội nguồn sinh trưởng
Dâng nén hương mà lòng hồi tưởng
Thuở thiếu thời dưới lồng cánh mẹ cha.

“Ước hẹn anh em một lời nguyền
Thù nhà đâu sá kể truân chiên
Bao giờ đền được ơn trung hiếu
Suối vàng nhắm mắt mới nằm yên”.

Anh Hoàng Trung Trực đã tóm tắt hoàn cảnh gia đình tôi qua thơ “Dấu chân người lính”(*) Đó là thời kỳ chiến tranh khốc liệt nhất trong lịch sử Việt Nam, so sánh với sự ác liệt của chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai, mà trên một mức độ nào đó thì sự tàn phá hủy diệt còn khốc liệt hơn. Ernest Hemingway (1899-1961), tác giả của kiệt tác Ông già và biển cả, Giã từ vũ khí, là một cựu quân nhân, sống trãi gần trọn đời trong chiến tranh và nghèo đói của chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai. Ông đã mô tả lớp người như ông là thế hệ cầm súng, không hề được tận hưởng chất lượng cuộc sống, là “Thế hệ bỏ đi” (Lost Generation) của cộng đồng người Paris xa xứ; xem Borlaug và Hemingway. Anh em tôi cũng thật thấm thía điều đó. Thế nhưng, cũng như bao nhiêu thanh niên của thế hệ Việt Nam Hồ Chí Minh , chúng tôi nhận thức sâu sắc rằng: Nhà nghèo sinh con hiếu / Nước loạn có tôi trung. Chúng tôi thề ra đi giữ trọn vẹn độc lập thống nhất non sông, làm tròn nghĩa vụ người con trung hiếu để về dâng hương.

DẤU CHÂN NGƯỜI LÍNH
Hoàng Trung Trực

Dấu chân người lính
Hoàng Trung Trực
    
Cuộc đời và thời thế

Năm Thân con khóc chào đời
Sức sống sữa Mẹ suốt đời tình thương
Nước nhà gặp cảnh tai ương
Việt Nam là bãi chiến trường giao tranh
 Pháp Nhật Tàu tới hoành  hành
Chạy giặc Cha Mẹ phải đành lánh thân
Người dân khổ cực muôn phần
Nước nhà chiến sự, nghèo bần Mẹ Cha
Trường Sơn rừng núi là nhà
Rừng thiêng nước độc, ta ra chẳng thời *
                               
Tuổi thơ trong nghèo đói

Ai quyền sống được làm người
Mà dân mất nước gặp thời chua cay?
Đời Cha sự nghiệp đổi thay
Lính Tây ngày trước, thời này đánh Tây

Ru ta lời Mẹ đêm ngày
Vọng theo hồn Nước tháng ngày bên Cha
Cha thì chiến đấu đường xa
Mẹ con chạy giặc, cửa nhà thì không
Nỗi niềm cuộc sống đau lòng
Bão mưa tàn phá, gió lồng không ngơi.

Gia đình nhiều nguy nan

Mẹ ta dãi nắng dầm mưa
Lo cho con có cháo dưa học hành
Giữa rừng số phận mong manh
Mẹ phải chịu bệnh hoành hành héo hon
Đời Mẹ chung thủy sắt son
Đời Cha lính chiến tuổi xuân đọa đày
Lời thề nguyên bản xưa nay
Đã là người lính không lay lòng vàng
Bệnh về chẳng chút thở than
Bao nhiêu mầm bệnh Cha mang theo về

Mẹ Cha bao gian khổ

Bệnh sốt rét thật là ghê
Gan lách phù thủng trăm bề hại Cha
Chiến tranh tan cửa nát nhà
Mình Cha xoay xở thật là gian nan
Phận con rau cháo cơ hàn
Tuổi thơ năm tháng bần hàn Mẹ Cha
Tháng ngày khoai muối dưa cà
Đời còn Cha Mẹ đậm đà tình thương
Tình Cha Mẹ, nghĩa Nước Non
Tháng ngày chăm chút vuông tròn hiếu trung.

Tuổi xuân vui lên đường

Lên đường theo lệnh tòng quân

Xa nhà nỗi nhớ bội phần từ đây
Mẹ khóc nước mắt tuôn đầy
Lo con gian khổ cuộc đời chiến binh
Cha không khóc chỉ làm thinh
Tiễn con tựa cửa lặng nhìn theo con

Vần xoay sự nghiệp vuông tròn
Dấu chân Cha trước, nay con theo Người
Gẫm suy mới rõ thế thời
Hoàng Trung Trực đã thành người chiến binh.

Giải phóng nước bạn Lào
(10/1963- 5/1965)

Đất Hương Khê , núi Quảng Bình
Vượt Trường Sơn vắt sức mình kiệt hao
Núi Phú Riềng, đất Lạc Xao
Nơi này ghi dấu chiến hào binh ta
Đời nhọc nhằn, thân xót xa

Trĩu vai súng đạn, gạo là quanh lưng        
Vượt bao đèo dốc  hành quân
Liên hồi tác chiến, máu dầm mồ hôi
Lại thêm sốt rét từng hồi
Thuốc men chẳng có, tháng trời toàn măng
Chia nhau chén cháo cứu thân
Trên bom, dưới đạn, ngủ hầm, tình thâm.

Nhớ người thân đã khuất

Đêm trường thân lại xông pha
Theo chân thủ trưởng vào ra trận thù
Đạn giặc đan chéo như mưa
Đôi chân thủ trưởng đạn cưa mất rối
Trong ta tỉnh thức tình người
Cõng ngay thủ trưởng xuôi đồi chạy lui
Đêm rừng trời lại tối thui
Lạc mất phương hướng tới lui tìm đường
Quay đầu hỏi ý tình thương
Mới hay thủ trưởng tìm đường đi xa


Không hơi thở một xác ma
Làm ta thực sự xót xa một mình

Người thấm mệt, phút tử sinh
Giữa rừng im ắng lặng thinh không người 
Chỉ nghe tiếng thú quanh đồi

Làm cho ớn lạnh khắp người của ta
Song vì cái đói không tha
Cho nên khiếp sợ theo đà mất tiêu
Trãi qua những phút hiểm nghèo
Vác xác thủ trưởng cố leo tìm đường.

Giữa rừng núi, không người thương
Còn đâu phương hướng, tai ương không người
Một tâm hồn một cuộc đời
Không gạo không lửa, giữa trời rừng xanh
Một mình tính mạng mong manh
Tình thương người lính giúp anh chí bền
Năm ngày thủ trưởng vẫn nguyên
Tìm ra đơn vị bình yên lòng mình.

Tin Mẹ mất giữa chiến trường

(xem tiếp chuỗi chiến dịch và sự kiện chính …)
Rút trong tập thơ
Hoàng Trung Trực ‘dấu chân người lính’

Vieng mo Cha Me

ƠN NGƯỜI

Ân quốc ân gia ân phụ mẫu
Tạ thiên tạ địa tạ tiền nhân.
Tổ tiên công đức muôn đời thịnh
Con cháu thảo hiền vạn kiếp vinh.
Minh Lệ Hưng Long hai bầu sữa
Hoàng Gia đức độ một con đường.
Hồn chính khí bốc lên ánh sáng
Sáng choang ngọc đá giữa hoang tàn
Tâm nhân văn lắng đọng tinh hoa
Hoa Đất Hoa Người trong cõi Bụt.

caumothanthamhoanggia
hoangkimhonoi
nguyenchienthangvoicanha
nguyenhuuminh1

HÀ NỘI SEN TÂY HỒ

Bảy con trai và hai con gái của Mẹ và Dì đều tạc cùng một khuôn mặt, đặc biệt là bảy anh em trai. Tôi viết bài thơ mừng em làm người Thầy nhân văn. Sâu sắc và tâm đắc hơn hết là nếp nhà, sự thương yêu nhau rất mực với nghị lực vượt khó, là phước đức niềm tự hào của gia đình.

Mừng em làm người Thầy nhân văn
Hoàng Kim

Mừng em làm người Thầy nhân văn
Ngắm ảnh đại gia đình mà thương trào nước mắt.
Nguyễn Du 250 năm nhìn lại.
Bài học sâu xa dạy và học làm người.

Nhớ Mẹ và Dì xưa nhà nghèo đi ở và thoát li.
Mẹ mang khoai cho ông Hòa khi ông gặp nạn.
Cha và cậu bán sạch gia tài khi mẹ ốm
Tối lửa tắt đèn nhà tang tóc đói cơm.
Mồng 3 Tết đông đặc người làng đến tiễn mẹ đi
Suốt năm năm cơm ngày một bữa rồi Cha mất vì bom.
Nhà dì bé tí một gian đầy ắp cháu con về ở
Một dòng họ nghèo nhưng vang xa tiếng thơm nhân ái.
Một nếp nhà thư hương gia đình văn hóa.
Thắm thiết yêu thương giấy rách giữ lấy lề …

*
Mừng em làm Giáo sư nhân văn
Bồi đắp người hiền cho dân tộc Việt.
Lớp lớp người thân trước em, cùng em, nối theo em
Làm người minh triết,
Phúc hậu yêu thương
Dạy và Học  làm Người.

Tôi thấm thía tâm đắc với bà cụ minh triết phúc hậu trong “Nếp nhà’  Nguyễn Khải.Theo bà cụ, thời bây giờ có được vài trăm cây vàng không phải là khó, cũng không phải là lâu, nhưng có được một gia đình hạnh phúc phải mất vài đời người, phải được giáo dục vài đời. Hạnh phúc không bao giờ là món quà tặng bất ngờ, không thể đi tìm, mà cũng không nên cầu xin”.

Sự thật là “Nhân hậu thói nhà in một nếp Chân chính bao nhiêu phúc bấy nhiêu” Nhân cách người hiền đưa đến kết cục tốt. Luật nhân quả, tính cách, vận mệnh, nếp nhà, khoa nhân tướng học ẩn giấu nhiều điều quan hệ sâu xa đến gia đình hạnh phúc và sự may mắn. Nếp nhà đẹp văn hóa.

Hoàng Kim

Tài liệu dẫn

NẾP NHÀ

Nguyễn Khải

“Theo bà cụ, thời bây giờ có được vài trăm cây vàng không phải là khó, cũng không phải là lâu, nhưng có được một gia đình hạnh phúc phải mất vài đời người, phải được giáo dục vài đời. Hạnh phúc không bao giờ là món quà tặng bất ngờ, không thể đi tìm, mà cũng không nên cầu xin”. xem tiếp Nếp nhà đẹp văn hóa

“TÔI CÓ MỘT GIẤC MƠ”
Hoàng Kim

Martin Luther King nhà hoạt động dân quyền Mỹ năm 1963 đã đọc bài phát biểu Tôi có một giấc mơ tại thủ đô Washington, D.C.”Tôi có một giấc mơ, rồi có một ngày trên những ngọn đồi đất đỏ của Georgia, con của nô lệ và con của chủ nô sẽ ngồi lại với nhau bên bàn ăn của tình huynh đệ. Tôi có một giấc mơ, rồi có một ngày vùng đất hoang mạc Mississippi, bức bối vì hơi nóng của bất công và áp bức, sẽ chuyển mình để trở nên ốc đảo của tự do và công bằng.Tôi có một giấc mơ, rồi có một ngày bốn con nhỏ của tôi sẽ sống trong một đất nước mà chúng không còn bị đánh giá bởi màu da, mà bởi tính cách của chúng. Hôm nay tôi có một giấc mơ…

Hồ Chí Minh, Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người kết nối sức mạnh Việt Nam khi suốt đời dấn thân cho một ước nguyện: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.

Barack Obama, tổng thống đương nhiệm của Hoa Kỳ, là người Mỹ gốc Phi đầu tiên được bầu vào chức vụ này. Ông là tổng thống da màu đầu tiên của nước Mỹ, đã làm được điều tưởng như không thể, khi ông tiếp nối giấc mơ của Martin Luther King “ I Have a Dream “Tôi có một giấc mơ lay động lương tâm và bừng dậy sức mạnh của nước Mỹ“.

Nguyễn Khải  ngọc cho đời  có một giấc mơ: “Tôi viết vậy thì tôi tồn tại ! “.Trần Đăng Khoa trong tôi có một giấc mơ “Giản dị, xúc động, ám ảnh“.

Tôi có một giấc mơ hạnh phúc. Tình yêu cuộc sống mang cho ta niềm tin và nghị lực.

Hoang Kim

THẮP ĐÈN LÊN ĐI EM !

Em đã học nhiều gương sáng danh nhân
Hãy biết nhục, biết hèn mà lập chí
Thắp đèn lên đi em, ngọn đèn dầu bền bỉ
Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin

LỜI THẦY DẶN
Kính tặng GS. Norman Borlaug

Việc chính đời người chỉ ít thôi
Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi
Phúc hậu suốt đời làm việc thiện
Di sản muôn năm mãi sáng ngời.

NHỚ ĐÀO DUY TỪ

Ngược gió đi không nản
Rừng thông tuyết phủ dày
Ngọa Long cương đâu nhỉ
Đầy trời hoa tuyết bay

LÊN YÊN TỬ

Tỉnh thức giữa đêm thiêng Yên Tử
Để thấm hiểu đức Nhân Tông
Ta thành tâm đi bộ
Lên tận đỉnh chủa Đồng
Tâm sáng Ức Trai trong tựa ngọc

KÍNH CHÀO SỰ DẤN THÂN CHO MỘT SỰ NGHIỆP LỚN

Lời cám ơn nhân lễ đón nhận 40 năm tuổi Đảng (đầu xuân năm 2014)

Kính thưa đ/c Nguyễn Hay, Hiệu trưởng; Đ/c Huỳnh Thanh Hùng – Bí thư Đảng ủy, P. Hiệu trưởng; các đ/c trong Ban Chấp hành Đảng ủy; lãnh đạo các đoàn thể quần chúng, đảng viên được nhận huy hiệu 40 năm, 30 năm tuổi Đảng và toàn thể cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh.

Tôi là Hoàng Kim, hôm nay vinh dự được đón nhận huy hiệu 40 năm tuổi Đảng. Đây là phần thưởng cao quý của Đảng đã ghi nhận quá trình 40 năm công tác của tôi từ ngày kết nạp Đảng trong quân đội 9 tháng 8 năm 1973 cho đến nay trãi qua các nhiệm vụ làm người chiến sĩ, nhà khoa học và thầy giáo. Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh là nôi đào tạo tôi từ năm 1977 đến năm 1981 và nơi tôi về giảng dạy cây lương thực từ năm 2006 đến nay. Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam là nơi mà tôi làm cán bộ nghiên cứu khoa học nông nghiệp suốt từ năm 1981 đến năm 2006, trong đó tôi có 20 năm làm phó giám đốc và giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc.”Bao năm Trường Viện là nhà/ Lúa ngô khoai sắn đều là thịt xương/ Một đời người một rừng cây/ Thầy ươm giống tốt để mai thành rừng”.

Tại diễn đàn này, tôi bày tỏ lòng trung thành vô hạn đối với Tổ Quốc, Nhân Dân và sự biết ơn chân thành đối với Đảng, Bác Hồ. Tôi biết ơn nôi sinh thành, nơi lập nghiệp, gia đình, đồng bào, đồng chí, thầy cô, bạn hữu, học sinh, sinh viên yêu quý, những gương sáng Lương Định Của con đường lúa gạo, Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời đã nuôi dưỡng, giáo dục và rèn luyện tôi từ một cậu bé mồ côi cả cha lẫn mẹ thành một người con trung hiếu của đất nước. Tôi nguyện làm nhà khoa học xanh, người Thầy chiến sĩ, tiếp tục dấn thân cho sự nghiệp xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí và đào tạo nhân tài theo gương của chủ tịch Hồ Chí Minh, đại tướng Võ Nguyên Giáp. Con theo Người nguyện làm Hoa Lúa.

Điều tâm đắc nhất của tôi trong chặng đường 40 năm tuổi Đảng là “phúc hậu suốt đời làm việc thiệndấn thân làm người chiến sĩ, nhà khoa học xanh và thầy giáo tận tụy, góp phần chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Đối với tôi, đó là niềm vinh dự lớn! Tôi quan niệm rằng sự dấn thân cho sự nghiệp “xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí và đào tạo nhân tài” là rất cơ bản và cấp thiết để góp phần chấn hưng Tổ Quốc, Dân tộc Việt tồn tại và phát triển. Tôi hạnh phúc được sinh ra trong một gia đình nông dân lao động lương thiện: cha tôi là người lính Vệ Quốc năm xưa, mẹ và anh chị đều là những người phúc hậu, anh trai tôi cũng là người lính, nhà bên vợ cũng vậy. Tôi đã nhận thức được ”Khi đất nước nguy biến thì không tiếc máu xương xả thân bảo vệ. Khi đất nước hòa bình thì gắng trau dồi làm người công dân phúc hậu, người thầy bạn tốt của công chúng, biết chăm lo chén cơm, việc học của người dân. Sống làm người tốt, làm đảng viên tốt

Cám ơn các đồng chí.

Hoàng Kim

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích

Chỉ tình yêu ở lại
Ngày hạnh phúc của em
Giúp bà con cải thiện mùa vụ
Quà tặng cuộc sống yêu thích
Vietnamese food paradise
KimYouTube
Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Chào ngày mới 15 tháng 1


CNM365. Chào ngày mới 15 tháng 1. Chào mừng Wikipedia kho tàng kiến thức nhân loại. Ngày này năm xưa. Ngày 15 tháng 1 năm 2001 Từ điển Bách khoa Mở Wikipedia  chính thức bắt đầu nhờ hai người sáng lập Jimmy WalesLarry Sanger cùng với vài người cộng tác nhiệt thành và chỉ có phiên bản tiếng Anh. Ngày nay hàng trăm nghìn người ghé thăm từ khắp mọi nơi trên thế giới để thực hiện hàng chục nghìn sửa đổi cũng như bắt đầu nhiều bài viết mới. Ngày 15 tháng 1 năm 1929 là ngày sinh Martin Luther King, nhà hoạt động dân quyền người Mỹ gốc Phi (mất năm 1968). Ông là một trong những nhà lãnh đạo có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ cũng như lịch sử đương đại của phong trào bất bạo động. King được nhiều người trên khắp thế giới ngưỡng mộ như một anh hùng, nhà kiến tạo hoà bình và thánh tử đạo. Bài diễn văn nổi tiếng của ông “Tôi có một giấc mơ”  nâng cao nhận thức của công chúng về quyền con người, quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Martin Luther King được nhìn nhận là một trong những nhà hùng biện vĩ đại nhất trong lịch sử Hoa Kỳ  Ngày 15 tháng 1 năm 1559, Elizabeth I  đăng quang Nữ vương Anh tại Westminster Abbey, Luân Đôn. Nữ vương Elizabeth I trị vì 45 năm, thời Vương quốc Anh có thế lực ảnh hưởng toàn cầu, và chiến tích nước Anh đánh bại hạm đội của Tây Ban Nha năm 1588 được xem là một trong những chiến thắng lừng lẫy nhất trong lịch sử nước Anh;  xem tiếp… https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-15-thang-1/; Bài chọn lọc: Nguyễn Du kiệt tác thơ chữ Hán; Nguyễn Du hiền tài lỗi lạc; Tỉnh thức ‘tôi có một giấc mơ’.

NguyenDu

NGUYỄN DU KIỆT TÁC THƠ CHỮ HÁN
Hoàng Kim
Nguyễn Du kiệt tác thơ chữ Hán dường như đã chạm thấu những vấn đề sâu sắc nhất của nhân loại và tình yêu thương con người. Nếu Truyện Kiều làm say đắm lòng người về nhân cách và tài năng trác tuyệt của một đại thi hào, danh nhân văn hóa thế giới thì Nguyễn Du kiệt tác thơ chữ Hán tỏa sáng tầm vóc và bản lĩnh của một anh hùng quốc sĩ tinh hoa. Ngày mới đọc kỹ lại Kỳ lân mộ, Liễu Hạ Huệ mộ, Đối tửu tại Thi Viện trang thơ Nguyễn Du và duyệt lại ba bài viết Nguyễn Du là bậc  anh hùng, Nguyễn Du viếng mộ Liễu Hạ Huệ, Tâm sự Nguyễn Du qua Đối tửu, thầm thương bậc anh hùng “Ba trăm năm nữa chốc mòng, biết ai hậu thế khóc cùng Tố Như“. Người hiểu và thương yêu kính trọng Con Người. xem tiếp…https://cnm365.wordpress.com/2016/01/30/nguyen-du-kiet-tac-tho-chu-han/

Nguyen Du
NGUYỄN DU HIỀN TÀI LỖI LẠC
Hoàng Kim
Nghiên cứu Niên biểu Nguyễn Du 1986-1992; Nguyễn Du Hồ Xuân Hương luận anh hùng; Nguyễn Du khí phách và tầm nhìn, liên hệ với các thông tin ở  Nguyễn Du 250 năm nhìn lại; Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa và Nguyễn Du kiệt tác thơ chữ Hán càng thấy rõ Nguyễn Du là hiền tài lỗi lạc. Đọc lại những ẩn ngữ  giữa Hồ Xuân Hương (Hồ Phi Mai) bàn luận với Nguyễn Du, những lời đối đáp giữa Kiều và Từ Hải càng thấu hiểu. “Ghé mắt trông sang thấy bảng treo/ Kìa đền Thái thú đứng cheo leo/ Ví đây đổi phận làm trai được/ Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu” (Hồ Xuân Hương); “Kiều rằng lượng cả bao dong/ Tấn Dương được thấy mây rồng có phen/ Xót thương cỏ nội hoa hèn/ Tấm thân bèo bọt dám phiền mau sau” (Thúy Kiều). “Nghe lời vừa ý gật đầu/ Từ rằng tri kỷ trước sau mấy người/ Khen cho con mắt tinh đời /Anh hùng đoán giữa trần ai mới già/ Một lời đã biết đến ta/ Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau“ (Từ Hải). xem tiếp … https://hoangkimvn.wordpress.com/2016/01/15/nguyen-du-hien-tai-loi-lac/

BÀN VỀ TÔI CÓ MỘT GIẤC MƠ
Hoàng Kim

Nhiều người nói về giấc mơ. Martin Luther King là nhà hoạt động dân quyền Mỹ năm 1963 đã đọc bài phát biểu Tôi có một giấc mơ tại thủ đô Washington, D.C.”Tôi có một giấc mơ, rồi có một ngày trên những ngọn đồi đất đỏ của Georgia, con của nô lệ và con của chủ nô sẽ ngồi lại với nhau bên bàn ăn của tình huynh đệ. Tôi có một giấc mơ, rồi có một ngày vùng đất hoang mạc Mississippi, bức bối vì hơi nóng của bất công và áp bức, sẽ chuyển mình để trở nên ốc đảo của tự do và công bằng.Tôi có một giấc mơ, rồi có một ngày bốn con nhỏ của tôi sẽ sống trong một đất nước mà chúng không còn bị đánh giá bởi màu da, mà bởi tính cách của chúng. Hôm nay tôi có một giấc mơ… “
Hồ Chí Minh, Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người kết nối sức mạnh Việt Nam khi suốt đời dấn thân cho một ước nguyện: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.Barack Obama, Tổng thống Mỹ thứ 44 là người Mỹ gốc Phi đầu tiên được bầu vào chức vụ này. Ông là tổng thống da màu đầu tiên của nước Mỹ, đã làm được điều tưởng như không thể, khi ông tiếp nối giấc mơ của Martin Luther King “ I Have a Dream “Tôi có một giấc mơ lay động lương tâm và bừng dậy sức mạnh của nước Mỹ“. Tổng thống Obama lời nhắn sau cùng tại Thông điệp Liên bang cuối cùng của ông có sáu điểm nhấn đủ chuyển tải một thông điệp mạnh mẽ. Đó là giấc mơ đầy tính nhân văn, hướng đến CON NGƯỜI. Cuộc sống khi đã qua trãi nghiệm, được trọn đời làm nhà khoa học xanh người thầy chiến sĩ, tôi tỉnh thức và thấm thía lời căn dặn sau cùng của giáo sư Trần Văn Giàu khi người đã đi trọn trăm năm: “Từ này đừng chỉ viết sử, mà hãy viết những điều vượt lên trên sử, viết về CON NGƯỜI“… Quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc là nổ lực và đích đến của mọi người chúng ta. Nguyễn Khải có một giấc mơ: “Tôi viết vậy thì tôi tồn tại ! “.Trần Đăng Khoa có một giấc mơ tử tế, mong muốn viết được thứ văn chương “Giản dị, xúc động, ám ảnh“.

Tôi có một giấc mơ hạnh phúc giúp lạc quan niềm tin và nghị lực.Tôi sẽ quay lại với bài viết thú vị này.


Kỉ yếu Nong Lam University

Nong Lam University
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

Chào ngày mới 15 tháng 1


Queen Elizabeth I

CNM365. Chào ngày mới 15 tháng 1. Wikipedia Ngày này năm xưa. Năm 1559Elizabeth I  đăng quang Nữ vương Anh tại Westminster Abbey, Luân Đôn. Thời trị vì của Elizabeth I kéo dài 45 năm, nổi bật với các sự kiện: Vương quốc Anh trở nên một thế lực có ảnh hưởng toàn cầu, và những tranh chấp tôn giáo luôn sục sôi trong nước. chiến tích nước Anh đánh bại hạm đội của Tây Ban Nha năm 1588 được xem là một trong những chiến thắng lừng lẫy nhất trong lịch sử nước Anh. Năm 1929 – ngày sinh Martin Luther King, nhà hoạt động dân quyền người Mỹ (mất năm 1968). Martin Luther King là nhà hoạt động dân quyền người Mỹ gốc Phi, và là người đoạt Giải Nobel Hoà bình năm 1964. Ông là một trong những nhà lãnh đạo có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ cũng như lịch sử đương đại của phong trào bất bạo động. King được nhiều người trên khắp thế giới ngưỡng mộ như một anh hùng, nhà kiến tạo hoà bình và thánh tử đạo. Bài diễn văn nổi tiếng của ông “Tôi có một giấc mơ”  nâng cao nhận thức của công chúng về quyền con người, quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Martin Luther King được nhìn nhận là một trong những nhà hùng biện vĩ đại nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Năm 1964, King là nhân vật trẻ tuổi nhất được chọn để nhận Giải Nobel Hòa bình vì những nỗ lực chấm dứt nạn kỳ thị chủng tộc qua biện pháp bất tuân dân sự, và các phương tiện bất bạo động khác. Ngày 4 tháng 4 năm 1968, King bị ám sát tại Memphis, Tennessee. Năm 1977, Tổng thống Jimmy Carter truy tặng King Huân chương Tự do của Tổng thống. Đến năm 1986, ngày Martin Luther King, Jr. được công nhận là quốc lễ. Năm 2004, ông được truy tặng Huân chương vàng Quốc hội. Năm 2001 – Từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia phiên bản tiếng Anh được đưa lên internet. (xem tiếp…)

Nguyen Du
TÌNH YÊU CUỘC SỐNG.
365 chuyện kể mỗi ngày. Nguyễn Du hiền tài lỗi lạc. Bài này tiếp nối  Nguyễn Du 250 năm nhìn lại; Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa. Nội dung giới thiệu về: Niên biểu Nguyễn Du 1986-1992. Nguyễn Du Hồ Xuân Hương luận anh hùng. Nguyễn Du khí phách và tầm nhìn.

Ghé mắt trông sang thấy bảng treo/ Kìa đền Thái thú đứng cheo leo/ Ví đây đổi phận làm trai được/ Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu” (Hồ Xuân Hương) “Kiều rằng lượng cả bao dong/Tấn Dương được thấy mây rồng có phen/ Xót thương cỏ nội hoa hèn/ Tấm thân bèo bọt dám phiền mau sau” (Thúy Kiều). “Nghe lời vừa ý gật đầu/ Từ rằng tri kỷ trước sau mấy người/ Khen cho con mắt tinh đời /Anh hùng đoán giữa trần ai mới già/ Một lời đã biết đến ta/ Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau“ (Từ Hải).

Niên biểu Nguyễn Du 1986-1992 (xem tiếp…)

I have a dream

Martin Luther King nhà hoạt động dân quyền Mỹ năm 1963 đã đọc bài phát biểu Tôi có một giấc mơ tại thủ đô Washington, D.C.”Tôi có một giấc mơ, rồi có một ngày trên những ngọn đồi đất đỏ của Georgia, con của nô lệ và con của chủ nô sẽ ngồi lại với nhau bên bàn ăn của tình huynh đệ. Tôi có một giấc mơ, rồi có một ngày vùng đất hoang mạc Mississippi, bức bối vì hơi nóng của bất công và áp bức, sẽ chuyển mình để trở nên ốc đảo của tự do và công bằng.Tôi có một giấc mơ, rồi có một ngày bốn con nhỏ của tôi sẽ sống trong một đất nước mà chúng không còn bị đánh giá bởi màu da, mà bởi tính cách của chúng. Hôm nay tôi có một giấc mơ…

Hồ Chí Minh, Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người kết nối sức mạnh Việt Nam khi suốt đời dấn thân cho một ước nguyện: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.

Barack Obama, tổng thống đương nhiệm của Hoa Kỳ, là người Mỹ gốc Phi đầu tiên được bầu vào chức vụ này. Ông là tổng thống da màu đầu tiên của nước Mỹ, đã làm được điều tưởng như không thể, khi ông tiếp nối giấc mơ của Martin Luther King “ I Have a Dream “Tôi có một giấc mơ lay động lương tâm và bừng dậy sức mạnh của nước Mỹ“.  Tổng thống Obama lời nhắn sau cùng là Thông điệp Liên bang cuối cùng của Obama trong nhiệm kỳ của mình trước lưỡng viện Quốc hội Mỹ vào lúc 21h ngày 12/1/2016 (giờ Mỹ), tức 9h sáng 13/1/2016 giờ Việt Nam. Vị tổng thống này và bài viết này, tôi tin rằng, sẽ có nhiều người còn đọc lại. Sáu điểm nhấn đủ chuyển tải một thông điệp mạnh mẽ. Đó là giấc mơ Mỹ, giấc mơ đầy tính nhân văn, hướng đến CON NGƯỜI. Dấu ấn Obama thật tốt đẹp. Obama lời nhắn sau cùng thật xuất sắc. Ông và tôi là bạn, là bình đẳng. Lương tri tỉnh thức. Những tiếng nói yêu thương lay động lương tâm và bừng dậy sức mạnh không chỉ của nước Mỹ mà là của con người.

Cuộc sống khi đã qua trãi nghiệm, được trọn đời làm nhà khoa học xanh người thầy chiến sĩ, tôi mới bừng hiểu và thấm thía lời căn dặn sau cùng của giáo sư Trần Văn Giàu khi người đã đi trọn trăm năm: “Từ này đừng chỉ viết sử, mà hãy viết những điều vượt lên trên sử, viết về CON NGƯỜI“… Quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc là độc lập, tự do, hạnh phúc là nổ lực và đích đến của mọi người chúng ta.

Nguyễn Khải  ngọc cho đời  có một giấc mơ: “Tôi viết vậy thì tôi tồn tại ! “.Trần Đăng Khoa trong tôi có một giấc mơ “Giản dị, xúc động, ám ảnh“.

Tôi có một giấc mơ hạnh phúc. Tình yêu cuộc sống mang đến cho ta niềm tin và nghị lực.

Hoàng Kim

LINH GIANG DÒNG SÔNG QUÊ HƯƠNG

Hãy học thái độ của nước mà đi như dòng sông (xem tiếp…)

        Chúc mừng Năm mới 2016 vui khỏe hạnh phúc

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây  cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Chào ngày mới 15 tháng 1


 Queen Elizabeth I

CNM365. Chào ngày mới 15 tháng 1: Wikipedia Ngày này năm xưa. Năm 1559Elizabeth I  đăng quang Nữ vương Anh tại Westminster Abbey, Luân Đôn. Năm 1929 – ngày sinh Martin Luther King, nhà hoạt động dân quyền người Mỹ (mất năm 1968) Năm 2001 – Từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia phiên bản tiếng Anh được đưa lên internet.

15 tháng 1

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày 15 tháng 1 là ngày thứ 15 trong lịch Gregory. Còn 350 ngày trong năm (351 ngày trong năm nhuận).

« Tháng 1 năm 2016 »
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31

Mục lục

Sự kiện

Sinh

Mất

Những ngày lễ và kỷ niệm

Tháng 1 | Tháng 2 | Tháng 3 | Tháng 4 | Tháng 5 | Tháng 6 | Tháng 7 | Tháng 8 | Tháng 9 | Tháng 10 | Tháng 11 | Tháng 12

Tham khảo

Elizabeth I của Anh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Elizabeth I của Anh
Elizabeth I in coronation robes.jpg
Nữ hoàng AnhIreland(chi tiết…)
Tại vị 17 tháng 11, 155824 tháng 3, 1603
Đăng quang 15 tháng 1, 1559
Tiền nhiệm Mary I Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệm James I Vua hoặc hoàng đế
Thông tin chung
Hoàng tộc Nhà Tudor Tudor Rose.svg
Thân phụ Henry VIII Vua hoặc hoàng đế
Thân mẫu Anne Boleyn
Sinh 7 tháng 9, 1533
Lâu đài Placentia
Mất 24 tháng 3, 1603 (69 tuổi)
Lâu đài Richmond
An táng Điện Westminster
Tôn giáo Anh giáo

Chữ ký của Elizabeth I của Anh

Elizabeth I (phát âm: Ê-li-da-bét I; 7 tháng 9 năm 153324 tháng 3 năm 1603) là Nữ hoàng AnhNữ hoàng Ireland từ ngày 17 tháng 11 năm 1558 cho đến khi qua đời. Bà được biết đến với những danh hiệu khác như Nữ hoàng Đồng trinh[1], Gloriana, hoặc Good Queen Bess, và trở nên bất tử với tên Faerie Queene trong thiên sử thi cùng tên của Edmund Spenser. Elizabeth I là người thứ sáu, cũng là người cuối cùng, của Triều đại Tudor (những người khác thuộc dòng Tudor đã từng lên ngôi báu là ông nội Henry VII, cha Henry VIII, em trai cùng cha khác mẹ Edward VI, em gái đồng đường Jane và chị cùng cha khác mẹ Mary I). Thời trị vì của Elizabeth I kéo dài 45 năm, nổi bật với hai sự kiện: Vương quốc Anh trở nên một thế lực có ảnh hưởng toàn cầu, và những tranh chấp tôn giáo luôn sục sôi trong nước.

Elizabeth khởi sự cai trị đất nước bằng cách tìm kiếm những lời tư vấn khôn ngoan và thích đáng[2], những quyết định chính trị của nữ hoàng thường dựa vào một nhóm các cố vấn đáng tin cậy được đặt dưới sự dẫn dắt của William Cecil, Nam tước Burghley. Một trong những quyết định quan trọng đầu tiên của Elizabeth là quay sang ủng hộ việc xác lập giáo hội theo khuynh hướng Kháng Cách cho nước Anh, với nữ hoàng là Thống đốc Tối cao của Giáo hội. Từ đây hình thành và phát triển Anh giáo. Trái với sự mong đợi của thần dân cũng như của Quốc hội, Elizabeth không hề kết hôn. Mặc dù luôn cẩn trọng trong đối ngoại và dè dặt khi ủng hộ các chiến dịch quân sự tại Hà Lan, PhápIreland, chiến tích nước Anh đánh bại hạm đội của Tây Ban Nha (Armada ) năm 1588 được nối kết với tên tuổi của nữ hoàng và thường được xem là một trong những chiến thắng lừng lẫy nhất trong lịch sử nước Anh.

Giai đoạn này thường được nhắc đến như là Thời kỳ Elizabeth hoặc Thời Hoàng kim Elizabeth. Các nhà viết kịch William Shakespeare, Christopher MarloweBen Johnson đã tạo nên thanh danh cho mình trong thời kỳ này; Francis Drake trở thành người Anh đầu tiên thực hiện một chuyến hải hành vòng quanh Trái Đất; Francis Bacon thiết lập quan điểm chính trịtriết học; Bắc Mỹ trở thành thuộc địa của Anh do công của Walter Raleigh và Sir Humphrey Gilbert.

Elizabeth là một quân vương điềm tĩnh, quyết đoán và tỏ ra bảo thủ hơn vua cha và vua em[3]. Câu nói được bà yêu thích là “video et taceo” (Tôi quan sát và tôi im lặng)[4]. Chính phẩm hạnh này đã nhiều lần cứu nữ hoàng khỏi bị trói buộc vào những liên minh sai lầm trong chính trị và hôn nhân. Giống vua cha Henry VIII, bà thích viết lách và làm thơ. Nữ hoàng đã ban Chứng thực Hoàng gia (Royal Charter) cho những định chế nổi tiếng như Đại học TrinityDublin (năm 1592) và Công ty Đông Ấn Anh Quốc (1600).

Virginia, một trong 13 khu thuộc địa, về sau hợp nhất để trở nên Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, được đặt tên theo một danh hiệu của Elizabeth, “Nữ hoàng Đồng trinh” (Virgin Queen).

Tuy nhiên, các sử gia tỏ ra nghiêm khắc hơn, họ thường miêu tả Elizabeth là người nóng tính[5], đôi khi thiếu quyết đoán[6] và cho rằng bà thành công là nhờ may mắn. Những năm cuối triều đại Elizabeth, một loạt những khó khăn về kinh tế và quân sự đã làm giảm sút uy tín của nữ hoàng đến mức khi bà qua đời nhiều người đã thở phào nhẹ nhõm.

Dù vậy, Elizabeth vẫn được các sử gia xem là một nhà cai trị có sức thu hút cá nhân và biết cách vượt qua mọi trở ngại để tồn tại trong một thời kỳ mà chính quyền thường hạn chế và thiếu hiệu quả, và khi vua chúa các vương quốc láng giềng luôn phải đối phó với các khó khăn trong nước với nguy cơ vương quyền có thể bị tổn hại nghiêm trọng, như trường hợp của các đối thủ của Elizabeth như Nữ hoàng Mary của Scotland, bị tống giam năm 1568 rồi xử tử hình năm 1587.

Sau thời trị vì ngắn ngủi của em trai và chị, triều đại kéo dài 45 năm của Elizabeth đã cống hiến một giai đoạn ổn định rất quí báu cho nước Anh và là nhân tố chủ chốt giúp hình thành ý thức dân tộc cho người dân Anh[3].

Thiếu thời

Elizabeth Tudor, lúc 13 tuổi.

Elizabeth là con duy nhất của Vua Henry VIII và Anne Boleyn, Nữ hầu tước xứ Prembroke. Hai người bí mật kết hôn vào một thời điểm giữa mùa đông năm 1532 và cuối tháng 1 năm 1533. Elizabeth chào đời tại Lâu đài Placentia ở Greenwich ngày 7 tháng 9 năm 1533, và được đặt tên theo bà nội, Elizabeth xứ York[7]. Ngay khi ra đời, Elizabeth được ban quyền kế thừa ngai báu mặc dù Henry VIII đã có một con gái, Mary; Mary không được cha công nhận là người thừa kế hợp pháp vì nhà vua đã hủy bỏ hôn ước với người mẹ, Catherine xứ Aragon, công chúa nước Tây Ban Nha[8][9].

Henry mong chờ sự ra đời của một con trai để bảo đảm sự kế tục của triều đại Tudor, nhưng sau khi sinh hạ Elizabeth, Hoàng hậu Anne bị sẩy thai hai lần trong năm 1534 và đầu năm 1536, rồi nhà vua bắt đầu có quan hệ với nhiều phụ nữ khác.

Vẫn còn nhiều tranh luận về nguyên nhân Anne bị thất sủng, nhưng các sử gia đồng ý với nhau về sự vô tội của Anne đối với các cáo buộc chống lại bà, họ tin rằng cái chết của bà đã được sắp đặt bởi những đối thủ chính trị. Anne bị bắt ngày 2 tháng 5 năm 1536 và bị cầm tù. Mười bảy ngày sau bà bị hành quyết với các tội danh phản quốc, loạn luân với anh/em trai, George Boleyn, và tội phù thủy[10][11].

Elizabeth, mới lên ba, bị tuyên bố là con bất hợp pháp và bị mất tước hiệu công chúa, cũng không được hưởng tài sản của người mẹ[12]. Cô chỉ còn là Lady Elizabeth và không được sống gần cha khi ông kết hôn với Jane Seymour[12]. Năm 1537, người vợ thứ ba của Henry, Jane Seymour, sinh con trai, Hoàng tử Edward; theo Đạo luật Kế vị năm 1544, Edward là người kế thừa ngai báu nước Anh.

Người bảo hộ đầu tiên của Elizabeth là Lady Margaret Bryan, một nữ hầu tước cô gọi là “Muggie”. Lúc bốn tuổi, Elizabeth có người bảo hộ mới, Katherine Champernowne, mà cô thường gọi là “Kat”. Champernowne tạo lập một mối quan hệ thân thiết với Elizabeth và trở nên người bạn tốt và thân tín suốt cuộc đời cô. Champernowne đóng góp nhiều cho học vấn của Elizabeth, với sự kèm cặp của William Grindal, cô có thể viết tiếng Anh, tiếng Latintiếng Ý, sau đó đạt nhiều tiến bộ trong việc học tiếng Pháptiếng Hy Lạp[13]. Khi Grindal từ trần năm 1548, Roger Ascham thay thế Grindal hướng dẫn cô trong học thuật theo phương pháp mới, biến học tập thành một công việc thú vị[14]. Matthew Parker, mục sư của mẹ cô, dành một mối quan tâm đặc biệt đến cuộc sống và quyền lợi của Elizabeth do Anne, khi ấy đang sống trong kinh hãi trước khi bị hành quyết, ủy thác Parker chăm sóc đời sống tâm linh cho con gái. Về sau Parker trở thành Tổng Giám mục thành Canterbury sau khi Elizabeth đăng quang năm 1558. Một người bạn thân tình khác mà Elizabeth thường nhắc đến với nhiều tình cảm là một người Ireland, Thomas Butler, về sau là Bá tước xứ Ormonde (mất năm 1615).

Elizabeth là người đa tài, kiên định và cực kỳ thông minh. Cô ham thích học hỏi vì khao khát hiểu biết. Giống song thân, cô là một cô gái lãng mạn và quyến rũ.

Henry VIII qua đời năm 1547, truyền ngôi cho Edward VI. Catherine Parr, người vợ cuối của Henry, kết hôn với Thomas Seymour, cậu của Edward VI. Seymour đem Elizabeth về nhà mình. Người ta tin rằng Seymour muốn tạo lập quan hệ thân tình với Elizabeth khi cô sống trong nhà ông. Ở đây, cô nhận lãnh giáo huấn từ Roger Ascham. Dưới ảnh hưởng của Catherine Parr và Ascham, Elizabeth được trưởng dưỡng trong đức tin Kháng Cách (Protestant).

The Miroir or Glasse of the Synneful Soul, bản thảo do Elizabeth, lúc 11 tuổi, dịch từ tiếng Pháp, để dâng cho Catherine Parr năm 1544. Bìa sách thêu được cho là do chính tay Nữ hoàng tương lai thực hiện.[15]

Khi vua em Edward là người Kháng Cách sùng tín, còn trị vì, địa vị của Elizabeth vẫn còn an toàn. Đến năm 1553, Edward qua đời ở tuổi mười lăm vì bệnh tật từ khi còn nhỏ. Edward để lại một di chúc thay thế di chúc của Henry. Bất kể Đạo luật Kế vị 1544, di chúc này loại bỏ Mary và Elizabeth khỏi quyền kế thừa và công bố Lady Jane Grey, người được Thomas Seymour bảo hộ, là người kế vị[16]. Một sự hợp tác giữa Thomas và John Dudley, Công tức xứ Northumberland, con trai của John, Guilford Dudley, đã kết hôn với Jane. Lady Jane lên ngai, nhưng bị phế truất chỉ hai tuần lễ sau đó. Trong sự tung hô của dân chúng, Mary chiến thắng tiến vào Luân Đôn, với cô em cùng cha khác mẹ, Elizabeth, ở bên cạnh[17].

Mối liên kết giữa hai chị em không kéo dài. Mary quyết tâm đàn áp đức tin Kháng Cách mà Elizabeth tiếp nhận từ khi còn bé, và buộc mọi người phải dự lễ Misa. Elizabeth không có sự lựa chọn nào khác phải tỏ ra phục tùng nữ hoàng[18]. Song uy tín của Mary sút giảm khi dân chúng biết dự định kết hôn với Hoàng tử Felipe của Tây Ban Nha (về sau là vua Felipe II của Tây Ban Nha)[19] nhằm tìm kiếm sự hậu thuẫn cho phe Công giáo bên trong nước Anh. Sau cuộc nổi dậy của Wyatt năm 1554 tìm cách ngăn cản cuộc hôn nhân giữa Mary và Felipe nhưng thất bại, Elizabeth bị cầm giữ trong Tháp Luân Đôn vì bị cho là có dính líu đến cuộc nổi dậy[20]. Có những sự đòi hỏi xử tử hình Elizabeth, nhưng đa số dân Anh không muốn nhìn thấy một thành viên thuộc dòng họ Tudor rất được lòng dân bị sát hại. Quan Chưởng ấn Stephen Gardiner muốn rút tên Elizabeth khỏi danh sách kế vị, nhưng cả Mary lẫn Quốc hội đều không đồng ý. Sau hai tháng bị giam giữ, Elizabeth được trả tự do vào đúng ngày mẹ cô bị hành quyết mười tám năm trước. Ngày 22 tháng 5, khi Elizabeth được đưa đến Woodstock để bị quản thúc tại gia dưới sự giám sát của Sir Henry Bedingfield, dân chúng đứng hai bên đường hoan hô cô[21][22].

Sau một thời gian trị vì ôn hòa, Mary, một người Công giáo sùng tín, khởi sự theo đuổi chính sách ngược đãi người Kháng Cách mà nữ hoàng xem là những kẻ dị giáo và là mối de dọa cho thẩm quyền của bà. Do những cuộc bách hại chống phe Kháng Cách được tiến hành dưới thời trị vì của mình, nữ hoàng bị gán cho biệt danh “Mary khát máu”. Dù bị Mary thuyết phục cải đạo theo Công giáo La Mã, Elizabeth khôn khéo duy trì lòng trung thành với lương tâm và khát vọng của mình. Cuối năm ấy, khi có những lời đồn đại về việc Mary có thai, Elizabeth được phép trở lại triều đình theo lời yêu cầu của Felipe. Do lo ngại nữ hoàng có thể chết khi sinh con, Felipe muốn Elizabeth, dưới sự bảo hộ của ông, sẽ là người kế vị, thay vì người có huyết thống gần Elizabeth nhất, Nữ hoàng Mary của Scotland. Mary lớn lên trong hoàng cung Pháp và có hôn ước với Thái tử Pháp, mặc dù là người Công giáo, Felipe không muốn Mary kế thừa ngai báu nước Anh vì sợ ảnh hưởng của người Pháp trên chính trường Anh qua Mary.

Lên ngôi

Phần còn lại của lâu đài cổ Hatfield House. Tại đây Elizabeth nghe tin Mary qua đời trong tháng 11 năm 1558.

Tháng 11 năm 1558, sau cái chết của Mary, Elizabeth I lên ngôi báu nước Anh. So với Mary, nữ hoàng mới rất được lòng dân, người ta thuật lại rằng khi Mary qua đời dân chúng đổ ra đường reo mừng. Theo truyền thuyết, Elizabeth được báo tin kế vị khi đang ngồi dưới gốc cây sồi ở Hatfield đọc Kinh Thánh Hi văn, một người hầu đến gần và háo hức nói “Hoàng thượng…”. Elizabeth thốt lên một câu Kinh Thánh từ Thi thiên (Thánh vịnh) 118: 23, “Ấy là công việc của Chúa, một sự diệu kỳ trong mắt chúng ta”.

Elizabeth lên ngai lúc 25 tuổi. Suốt trong lễ đăng quang ngày 15 tháng 1 năm 1559, Elizabeth được dân chúng chào đón tung hô, họ diễn kịch và đọc thơ tán tụng nhan sắc và trí tuệ của nữ hoàng[23]. Lúc ấy chức Tổng Giám mục thành Canterbury (đứng đầu chức sắc Giáo hội Anh) đang khuyết; Hồng y Reginald Pole vừa qua đời. Các Giám mục có thế lực từ chối tham dự lễ đăng quang vì chiếu theo giáo luật Công giáo, Elizabeth, một tín hữu Kháng Cách, bị xem là bất hợp pháp. Chỉ có một chức sắc ít tiếng tăm Owen Oglethorpe, Giám mục thành Carlisle, đến tham dự và trao vương miện cho nữ hoàng. Lễ Tiệc Thánh được cử hành bởi tuyên úy của nữ hoàng.

Lễ đăng quang của Elizabeth I là lần cuối cùng được cử hành theo nghi thức Latin; từ đó, các lễ đăng quang, ngoại trừ của George I, đều được cử hành theo nghi thức Anh. Elizabeth thuyết phục Matthew Parker nhận lãnh chức vụ Tổng Giám mục Canterbury.

Ngày 20 tháng 11 năm 1558, Elizabeth nói chuyện với Hội đồng Tư vấn và các nhà quý tộc tụ họp về Hatfield để tuyên thệ trung thành với nữ hoàng, trong đó lần đầu tiên bà đề cập đến ẩn dụ “hai định chế” thường được sử dụng sau này: định chế thiên nhiên và định chế chính trị.

…trọng trách đặt nặng trên vai làm trẫm kinh hãi, nhưng khi nhận biết mình là một tạo vật của Thiên Chúa, được dựng nên để vâng phục ý chỉ của Ngài, từ đáy lòng trẫm khao khát được thêm sức bởi ân điển của Ngài, để ý Chúa được nên trong nhiệm vụ Ngài giao phó. Dù là một người như mọi người khác, bởi ý Chúa, trẫm được đặt vào vị trí đứng đầu một định chế chính trị, vì vậy trẫm mong mọi người… sẽ chung tay giúp sức để triều đại này với sự phục vụ của thần dân sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ đối với Thiên Chúa toàn năng, và để lại cho hậu thế nhiều điều tốt lành. Trẫm hứa sẽ hành động theo những lời khuyên và tư vấn khôn ngoan và đúng đắn.[24]

Trước đó, trong cuộc diễu hành chiến thắng đi qua khắp thành phố ngay vào ngày trước lễ đăng quang, Elizabeth được thần dân hết lòng chào đón với những bài diễn văn cùng những lễ hội tung hô tân vương, hầu hết diễn ra theo khuynh hướng Kháng Cách. Sự duyên dáng và thái độ cởi mở của Elizabeth làm thần dân càng thêm thêm yêu mến bà.[23] Hôm sau, tại Điện Westminster, Owen Oglethorpe, Giám mục Carlise, đội vương miện cho Elizabeth. Lễ đăng quang được xem như là một sự kiện thể hiện sự đồng thuận của thần dân, trong âm thanh ồn ả của các loại nhạc cụ như đàn organ, sáo, kèn, trống, và chuông.[25]

Tôn giáo

Một trong những mối quan tâm hàng đầu của Elizabeth I khi bắt đầu trị vì là các vấn đề tôn giáo. Nhận biết thần dân muốn nữ hoàng khước từ quyền lực của Giáo hoàng và ảnh hưởng của Tây Ban Nha, điều này phù hợp với ước nguyện của bà và những quyết sách được đề nghị bởi Sir William Cecil. Elizabeth cũng biết Giáo hoàng sẽ không chịu công nhận bà là con hợp pháp của Henry VIII và là quân vương của nước Anh[26]. Vì vậy, nữ hoàng quyết định thành lập một giáo hội Kháng Cách phù hợp với nguyện vọng người dân Anh[27]. Năm 1559, Quốc hội làm luật thành lập giáo hội theo mô hình của Edward VI, với nhà vua là người đứng đầu giáo hội[27]. Dự luật nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ tại Viện Thứ dân, nhưng gặp chống đối tại Viện Quý tộc, đặc biệt là từ các Giám mục. Tuy nhiên, may mắn cho Elizabeth, nhiều vị trí Giám mục đang khuyết, kể cả chức vụ Tổng Giám mục thành Canterbury[28][29]. Điều này giúp các thành viên Viện Quý tộc ủng hộ Kháng Cách chiếm đa số phiếu khi biểu quyết. Đạo luật Đồng nhất (Act of Uniformity) được nữ hoàng phê chuẩn năm 1559, qui định việc sử dụng Sách Cầu nguyện chung theo đức tin Kháng Cách trong các nhà thờ[30]. Bí tích Thánh thể của Giáo hội Công giáo bị bác bỏ. Nữ hoàng nhận danh hiệu “Thống đốc Tối cao của Giáo hội Anh” thay vì “Đầu của Giáo hội”.

Đạo luật Quyền Tối thượng năm 1559 buộc tất cả viên chức công phải chấp nhận quyền kiểm soát của nhà vua trên giáo hội. Nhiều Giám mục từ chối ủng hộ lập trường của Elizabeth bị bãi chức và được thay thế bởi những chức sắc ủng hộ nữ hoàng. Bà bổ nhiệm Hội đồng Tư vấn mới, không còn có sự hiện diện của các thành viên Công giáo. Dưới triều Elizabeth, tình trạng chia rẽ và tranh chấp do bè phái giảm thiểu đáng kể. Cố vấn trưởng của nữ hoàng, Sir William Cecil, đảm nhiệm chức Bộ trưởng Ngoại giao, và Sir Nicholas Bacon làm Quan Chưởng ấn.

Nhiều tín hữu Công giáo, nhất là ở châu Âu đại lục, xem Elizabeth là dị giáo. Ngày 25 tháng 3 năm 1570, Giáo hoàng Pius V ra chỉ dụ Regnans in Excelsis phạt vạ tuyệt thông Elizabeth và gọi là bà là “nữ hoàng tiếm vị”.[31] Chỉ dụ này, trên lý thuyết giải phóng người Công giáo tại Anh khỏi nghĩa vụ trung thành với Elizabeth, lại khiến giáo hội Anh liên kết chặt chẽ với vương quyền và đặt người Công giáo tại Anh vào tình huống khó khăn[32]

Hôn nhân

Robert Dudley. Mối thâm tình giữa Elizabeth và Dudley kéo dài hơn 30 năm.

Ngay từ lúc mới lên ngôi, chuyện hôn nhân của nữ hoàng là vấn đề được mọi người quan tâm. Trong thực tế, Elizabeth chưa bao giờ kết hôn mà không ai biết rõ nguyên nhân. Nữ hoàng cũng từng tính đến việc chọn người phối ngẫu, trong đó có François, Công tước xứ Anjou. Tuy vậy, Elizabeth không thấy cần có một người đàn ông giúp đỡ để trị nước, và một cuộc hôn nhân có thể khiến nữ hoàng vướng vào nguy cơ bị ngoại bang can thiệp vào nội tình nước Anh, như trường hợp của Mary. Mặt khác, hôn nhân có thể cho nữ hoàng cơ hội có con nối dõi[33].

Nhiều người muốn kết hôn với Elizabeth, nhưng nữ hoàng chỉ xem xét ba hoặc bốn trường hợp. Người bạn từ thuở thiếu thời, Robert Dudley, có lẽ là người có nhiều cơ may nhất. Nhưng Dudley đã kết hôn và William Cecil, cố vấn thân tín nhất của Elizabeth, phản đối mối quan hệ này. Năm 1560, cái chết không rõ nguyên nhân của Amy Robstart, vợ của Dudley, đã gây ra nhiều lời đồn đoán[34]. Cuối cùng nữ hoàng đặt bổn phận cao hơn tình cảm, phong Dudley làm Bá tước xứ Leicester và bổ nhiệm ông vào Hội đồng Cơ mật, hai người vẫn duy trì tình bạn lâu dài.

Sau Dudley, Elizabeth xem hôn nhân như là một phần trong chính sách đối ngoại[35], xem đây là nghĩa vụ hơn là tình cảm cá nhân. Quốc hội nhiều lần khẩn khoản nữ hoàng kết hôn, nhưng bà cứ lẩn tránh[36]. Khi Elizabeth mắc bệnh đậu mùa trong năm 1563, Quốc hội khẩn nài nữ hoàng kết hôn hoặc chỉ định người kế nhiệm nhằm tránh một cuộc nội chiến có thể xảy ra khi bà băng hà, nhưng bị từ chối. Năm 1570, khi các nhân vật chủ chốt trong triều nhận biết nữ hoàng không chịu kết hôn, cũng không chỉ định người kế nhiệm, William Cecil ra sức tìm kiếm giải pháp cho vấn đề thừa kế[35]. Nhưng chính sự im lặng của Elizabeth đã củng cố sự an toàn chính trị cho bà: nữ hoàng biết rằng nếu chỉ định người thừa kế có thể xảy ra một cuộc đảo chính[37]. Trong khi đó, tình trạng độc thân của Elizabeth dấy lên trong dân chúng lòng sùng bái dành cho một nữ hoàng đồng trinh. Trong thi ca cũng như trong hội họa, nữ hoàng được miêu tả như là một nữ thần, không phải một phụ nữ bình thường[38].

Đối ngoại

Chính sách đối ngoại của Elizabeth chủ yếu là phòng thủ, với một ngoại lệ là cuộc chiếm đóng Le Havre kéo dài từ tháng 10 năm 1562 đến tháng 6 năm 1563, khi phe Huguenot đồng minh với Elizabeth liên kết với phe Công giáo Pháp tái chiếm bến cảng này. Elizabeth định ý trao đổi Le Havre để lấy Calaisngười Pháp đã chiếm lại vào tháng 1 năm 1558[39]. Năm 1560, bà gởi quân đến Scotland để ngăn cản ý định của người Pháp sử dụng đất nước này như một hậu cứ để tấn công nước Anh[40]. Năm 1585, Elizabeth ký Hiệp ước Nonsuch với Hà Lan nhằm ngăn chặn hiểm họa từ Tây Ban Nha[41]. Dựa vào sức mạnh của các hạm đội Anh Quốc mà Elizabeth có thể theo đuổi chính sách đối ngoại mạnh mẽ hơn. Khi tranh chấp với Tây Ban Nha, 80% cuộc chiến diễn ra trên mặt biển[42]. Nữ hoàng phong tước cho Francis Drake sau chuyến thám hiểm vòng quanh thế giới từ năm 1577 đến 1580, và sau những cuộc đột kích của ông nhắm vào những hải cảng và hạm đội của Tây Ban Nha. Triều đại của bà cũng chứng kiến việc thành lập những đồn điền đầu tiên trên những vùng đất mới ở châu Mỹ, và khu thuộc địa Virginia được đặt tên để vinh danh nữ hoàng. Dù vậy, những vụ cướp biển và những vụ làm ăn bất chính của những tay phiêu lưu trên biển vẫn diễn ra ngoài vòng kiểm soát của triều đình[43][44].

Elizabeth phê chuẩn Hiệp ước Cateau-Cambresis năm 1559, mang lại hòa bình cho hai nước Anh và Pháp. Bà ủng hộ nguyên tắc “Nước Anh của người Anh”. Tuy nhiên, một lãnh thổ dưới quyền cai trị của bà là Ireland không chấp nhận nguyên tắc này.

Mary của Scotland

Mary Stuart, tranh François Clouet, c. 1559

Elizabeth có một đối thủ nguy hiểm là một người em họ, một giáo dân Công giáo, Mary Stuart, Nữ hoàng Scotland và là vợ của Vua nước Pháp, François II. Năm 1559, với sự ủng hộ của nước Pháp, Mary tuyên bố là Nữ hoàng Anh. Chính sách ban đầu của Elizabeth đối với Scotland là chống lại sự hiện diện của người Pháp ở đây[45] do lo ngại âm mưu của người Pháp xâm lăng nước Anh và đặt Mary, Nữ hoàng Scotland lên ngai báu Anh Quốc[46]. Elizabeth gởi quân đến Scotland hỗ trợ những người Kháng Cách chống đối. Tháng 7 năm 1560, Hiệp ước Edinburg được ký kết giúp giải tỏa mối đe dọa của người Pháp từ phía bắc[47]. Năm 1561, khi Mary quay trở lại Scotland để cầm quyền thì giáo hội Kháng Cách đã có vị trí vững chắc ở đây, và đất nước được cai trị bởi một hội đồng các nhà quý tộc Kháng Cách được Elizabeth hậu thuẫn[48]. Mary từ chối phê chuẩn hiệp ước[49].

Năm 1565, Mary kết hôn với Huân tước Darnley, người tuyên bố quyền kế thừa ngai vàng nước Anh. Tuy vậy, cuộc hôn nhân là điểm khởi đầu một chuỗi những sai lầm khiến Mary mất quyền kiểm soát vào tay những người Kháng Cách Scotland và Elizabeth. Darnley bị mất lòng dân và mang tiếng xấu khi xử lý vụ án mạng David Rizzio, một thư ký người Ý của Mary. Tháng 2 năm 1567, Darnley bị James Hepburn, Bá tước xứ Bothwell giết chết. Tháng 5 năm 1657, Mary kết hôn với Bothwell, dấy lên những nghi ngờ cho rằng nữ hoàng đồng mưu giết chồng.

Những sự kiện này mau chóng làm sụp đổ uy tín chính trị của Mary và dẫn đến việc bà bị giam cầm tại Lâu đài Loch Leven. Giới quý tộc Scotland buộc Mary thoái vị và lập con trai của bà, James, kế vị. James sinh năm 1566, được giáo dưỡng trong niềm tin Kháng Cách. Mary trốn thoát khỏi Loch Leven năm 1568, băng qua biên giới để vào nước Anh. Mary bị giam giữ tại đây trong 19 năm[50].

Năm 1569, những người chủ mưu vụ Nổi dậy ở phương Bắc âm mưu giải thoát Mary và lập kế hoạch cho bà kết hôn với Thomas Howard, Công tước xứ Norfork. Elizabeth cho bắt giam Howard. Năm 1570, xảy ra vụ mưu phản do Ridolfi cầm đầu nhằm ám sát Elizabeth để tôn Mary lên ngôi. Đến năm 1586 xảy ra vụ mưu phản Babington. Lúc đầu, Elizabeth chống lại chủ trương xử tử hình Mary, nhưng đến cuối năm nữ hoàng chịu nhượng bộ trước áp lực của triều thần. Ngày 8 tháng 2 năm 1587, Mary bị chém đầu tại Lâu đài Fotheringhay, Northamptonshire[51].

Tây Ban Nha

Chân dung Elizabeth I trong ngày đọc diễn văn chiến thắng Hạm đội Tây Ban Nha (Armada), 19 tháng 8 năm 1588 (minh họa phía sau); bàn tay nữ hoàng đặt trên quả địa cầu biểu trưng sức mạnh toàn cầu của nước Anh.

Sau những thất bại thảm hại trong vụ Le Havre từ năm 1562-1563, Elizabeth chống lại việc mở các cuộc viễn chinh nhắm vào lục địa Âu châu mãi cho đến năm 1585, khi nữ hoàng cử một đạo quân đến hỗ trợ lực lượng phiến quân Kháng Cách tại Hà Lan đang chống lại vua Tây Ban Nha Felipe II. Sau khi những đồng minh của Elizabeth, Hoàng thân Guillaume I của Orange-Nassau, và François (Công tước Anjou) từ trần, và một loạt các thị trấn Hà Lan chịu thần phục Alexander Farnese Công tước xứ Parma, Thống đốc Hà Lan thuộc Tây Ban Nha. Tháng 12 năm 1584, liên minh giữa Felipe II và Liên đoàn Công giáo Pháp tại Joinville làm xói mòn sức mạnh của Henri III của Pháp, em của Anjou, trong nỗ lực chống lại quyền thống trị của Tây Ban Nha tại Hà Lan. Nó cũng mở rộng ảnh hưởng của Tây Ban Nha dọc theo Eo biển Manche trên đất Pháp và trở thành mối đe dọa đối với nước Anh[41]. Tháng 8 năm 1585, Anh và Hà Lan phản ứng bằng cách ký kết Hiệp ước Nonsuch, theo đó Elizabeth cam kết hỗ trợ quân sự cho Hà Lan. Hiệp ước này đánh dấu sự bùng nổ Chiến tranh Anh-Tây Ban Nha, kéo dài đến năm 1604 khi Hiệp ước Luân Đôn được ký kết.

Năm 1586, Sir Francis Drake bắt đầu tập kích các tàu buôn Tây Ban Nha trên Thái Bình Dương và vùng biển Caribbean, và mở một cuộc tấn công dữ dội vào cảng Cadiz.

Cuộc viễn chính dưới quyền chỉ huy của Robert Dudley, Bá tước xứ Leicester, là một thất bại[52]. Thiếu hụt tiền và binh lính cộng với sự bất tài của Dudley đã làm hỏng chiến dịch. Đến tháng 12 năm 1587, Dudley phải từ nhiệm và vua Felipe II quyết định tiến chiếm nước Anh[53]

Ngày 12 tháng 7 năm 1588, Armada Tây Ban Nha, hạm đội lừng danh và là sức mạnh thống trị trên mặt biển của Đế quốc Tây Ban Nha, giong buồm đến eo biển, chuẩn bị cho cuộc xâm lăng trong kế hoạch phối hợp với đạo quân tinh nhuệ của Công tước xứ Parma, từ Hà Lan tiến đánh vào bờ biển đông nam nước Anh. Nhờ thời tiết thuận lợi, với các tàu chiến nhỏ nhưng cơ động, cùng những tin tức tình báo gởi đi từ Hà Lan, hải quân Anh chuẩn bị sẵn sàng đối đầu Armada Tây Ban Nha với các tàu chiến lớn và trang bị hỏa lực mạnh. Do tính toán sai[54], thiếu may mắn và bị những con tàu lửa (những chiếc thuyền chất đầy vật liệu bắt lửa, phóng hỏa và lao vào hạm đội địch) của Anh tấn công. Mặt khác, vào ngày 1 tháng 8, các tàu chiến của Tây Ban Nha cắm neo trong hải cảng Graville bị đánh bạt lên phía đông bắc, Armada bị đánh bại. Hạm đội bị đánh tan tác quay về Tây Ban Nha sau khi gánh chịu những thiệt hại nặng nề gây ra bởi những cơn bão dữ trên biển Ireland[55].

Ngày 9 tháng 8 lịch Julius (tức ngày 19 tháng 8 theo lịch Gregory)[56], Elizabeth đến thị sát quân binh trú đóng tại TilburyEssex. Mang một áo giáp che ngực bằng bạc bên ngoài chiếc áo dài màu trắng, nữ hoàng đã đọc một trong những bài diễn văn nổi tiếng nhất của mình[57]:

Trẫm vẫn thường được khuyến cáo hãy cẩn thận giữ mình khi đến giữa hàng quân có vũ trang, vì e ngại những âm mưu bội phản; nhưng trẫm đảm bảo rằng trẫm không hề muốn sống mà không tin tưởng thần dân trung thành và đáng yêu của trẫm. Chỉ có những bạo chúa mới lo sợ như thế…

Trẫm biết rằng mình chỉ là một phụ nữ yếu đuối; nhưng là một phụ nữ có trái tim và lòng gan dạ của một quân vương, của một vua chúa nước Anh, dám coi thường cả Parma[58] và Tây Ban Nha, hoặc bất kỳ vua chúa châu Âu nào muốn xâm lăng bờ cõi của trẫm…[59]

Đánh bại Armada Tây Ban Nha (1588), tranh của Philippe-Jacques de Loutherbourg (1796).

Khi thoát nạn ngoại xâm, cả nước vui mừng. Buổi lễ Tạ ơnĐại giáo đường Thánh Phao-lô được tổ chức long trọng không kém lễ đăng quang[55]. Việc đánh bại hạm đội lừng danh của Tây Ban Nha là một chiến thắng vang dội, cho Elizabeth và cho những người Kháng Cách tại Anh. Người dân Anh xem sự kiện này như là dấu chỉ về sự phù trợ của Thiên Chúa, và về sự bất khả xâm phạm của vương quốc dưới quyền cai trị của một nữ hoàng đồng trinh[42]. Tuy nhiên, chiến thắng này không thay đổi toàn cục cuộc chiến. Chiến tranh vẫn tiếp diễn, Tây Ban Nha tiếp tục kiểm soát Hà Lan, và hiểm họa xâm lăng vẫn còn đó[53].

Pháp

Khi Henri IV, một tín hữu Kháng Cách, lên ngôi báu năm 1589, Elizabeth điều quân đến hỗ trợ tân vương. Quyền kế thừa của Henri bị thách thức bởi Liên minh Công giáo và Felipe II, do đó Elizabeth e rằng Tây Ban Nha sẽ chiếm đóng các hải cảng dọc eo biển, song các chiến dịch của Anh tiến hành trên đất Pháp lại tổ chức kém và thiếu hiệu quả[60]. Huân tước Willoughby, hầu như chẳng quan tâm đến các mệnh lệnh của nữ hoàng, xua 4.000 quân lên phương bắc mà chẳng thu được kết quả nào. Tháng 12 năm 1589, quân Anh phải triệt thoái trong hỗn loạn, thiệt hại một nửa quân số. Năm 1591, John Norreys dẫn 3.000 quân tiến đến Bretagne để chuốc lấy thất bại thảm hại[61].

Trong các cuộc viễn chinh, Elizabeth không muốn đáp ứng yêu cầu của các tư lệnh mặt trận khi họ cần thêm quân dụng và viện binh. Norreys phải đích thân về Luân Đôn để cầu viện, khi ấy quân đội của Liên minh Công giáo tiến đến tàn sát binh lính của ông tại Craon, phía tây bắc nước Pháp, vào tháng 5 năm 1591. Tháng 7, Elizabeth gởi một đạo quân khác dưới quyền chỉ huy của Robert Devereux, Bá tước xứ Essex, đến giúp Henri IV vây hãm thành Rouen. Lại thêm một thất bại: Devereux chẳng làm được gì và phải trở về vào tháng 1 năm 1592[62]. Thông thường, Elizabeth không kiểm soát được các tư lệnh một khi họ đem quân ra nước ngoài. “Ông ta ở đâu, làm gì, hoặc sẽ làm gì, trẫm không hề hay biết.” Elizabeth viết như thế về Devereux[63].

Ireland

Mặc dù Ireland là một trong hai vương quốc của Elizabeth, bà phải đối diện với sự thù nghịch ở đây – trong những khu vực được dành quyền tự trị – [64] ở đó cư dân Công giáo ủng hộ kẻ thù của nữ hoàng. Chính sách của Elizabeth là ban đất cho các cận thần và ngăn chặn những người chống đối thiết lập hậu cứ cho Tây Ban Nha tấn công nước Anh[40]. Để đáp trả các cuộc nổi dậy liên tiếp, quân Anh áp dụng chiến thuật đốt phá và tàn sát đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Năm 1582, trong cuộc nổi dậy ở Munster của Gerald FitzGerald, Bá tước xứ Desmond, ước tính có khoảng 30.000 người Ireland bị bỏ đói cho đến chết.

Từ năm 1594 đến 1603 là giai đoạn khó khăn nhất khi xảy ra cuộc nổi dậy gọi là Loạn Tyrone, hay Cuộc chiến Chín năm do Hugh O’Neill, Bá tước xứ Tyrone lãnh đạo với sự hậu thuẫn của Tây Ban Nha[65]. Mùa xuân năm 1599, Elizabeth sai Robert Devereux, Bá tước xứ Essex, đến dẹp loạn, nhưng ông này không làm được gì mà còn tự ý bỏ về. Charles Blount, Huân tước Mountjoy, được cử đến thay thế Devereux, phải mất ba năm mới đánh bại quân phiến loạn. Năm 1603, O’Neill chịu đầu hàng, chỉ ít ngày sau khi Elizabeth qua đời[66].

Cuối đời

Chân dung James I, tranh của John de Critz, khoảng năm 1606.

Hình ảnh của Elizabeth thay đổi theo tuổi tác và khi cuộc sống độc thân được khẳng định. Nữ hoàng được miêu tả như là Belphoebe hay Astraea, sau chiến thắng Armada, là Gloriana, còn trong thi ca của Edmund Spencer, là Faerie Queene, nữ hoàng muôn đời tươi trẻ. Các bức họa chân dung của nữ hoàng ngày càng trở nên siêu thực và nữ hoàng trở thành một hình tượng bí ẩn trông trẻ trung hơn thực tế rất nhiều. Trong thực tế, da mặt nữ hoàng bị rỗ hoa do mắc bệnh đậu mùa năm 1562, bà bị hói đầu nên phụ thuộc vào tóc giả và mỹ phẩm[67][68].

Giai đoạn sau chiến thắng Armada năm 1588 là những năm khó khăn kéo dài cho đến lúc kết thúc triều đại Elizabeth[69]. Tranh chấp với Tây Ban Nha và Ireland cứ dai dẳng, gánh nặng thuế má càng nặng hơn, thêm vào đó là thất mùa và chi phí chiến tranh. Vật giá càng leo thang mức sống càng xuống thấp[70][71]. Trong khi đó, các biện pháp trấn áp người Công giáo được tăng cường, đến năm 1591, Elizabeth cho phép thẩm vấn và lục soát nhà ở người Công giáo[72]. Elizabeth ngày càng phụ thuộc vào các phương tiện tuyên truyền để nuôi dưỡng trong dân chúng ảo tưởng về một đất nước an bình và thịnh vượng[70]. Trong những năm cuối, sự chỉ trích gia tăng phản ánh sự bất bình của thần dân đối với nữ hoàng[73].

Tuy nhiên, đây chính là thời kỳ hoàng kim của văn học Anh[74]. Những dấu hiệu đầu tiên của phong trào văn học mới khởi phát vào cuối thập niên thứ hai của triều đại Elizabeth với “Euphues” của John Lyly, và “The Shepheardes Calender” của Edmund Spencer trong năm 1578. Trong thập niên 1590, một số trong những tài năng lớn nhất của nền văn học Anh đến độ chín mùi, trong đó có William ShakespeareChristopher Marlowe. Cùng với thời kỳ Jacobe kế tiếp, nền kịch nghệ Anh đạt đến đỉnh điểm của mình[75]. Khái niệm về thời đại Elizabeth huy hoàng được xây dựng bởi những tên tuổi trong các lãnh vực kiến trúc, kịch nghệ, thi caâm nhạc.

Ngày 4 tháng 8 năm 1598, cố vấn thân cận nhất của Elizabeth, Nam tước Burghley, từ trần. Con trai của ông, Robert Cecil, được chọn làm người thay thế, sau đó trở thành người lãnh đạo chính phủ[76]. Một trong những nhiệm vụ của Cecil là chuẩn bị cho một tiến trình chuyển giao quyền lực êm thắm. Do Elizabeth không công khai chọn người kế nhiệm nên Cecil phải làm việc trong bí mật[77]. Cecil thương thảo riêng với vua James VI của Scotland, người thừa kế hợp pháp nhưng không được công nhận. Theo lời khuyên của Cecil, James cố làm Elizabeth khuây khỏa và “chiếm được cảm tình của bậc chí tôn”. Theo sử gia J. E. Neale, dù không công khai tuyên bố truyền ngôi cho James, quần thần đều biết ý định này của nữ hoàng[78].

Sức khỏe của Elizabeth vẫn tốt cho đến mùa thu năm 1602, một loạt những cái chết của bạn hữu khiến nữ hoàng rơi vào tình trạng trầm cảm nghiêm trọng. Tháng 2 năm 1603, cô em họ cũng là người bạn thân tín, Catherine Carey, Nữ Công tước xứ Nottingham, qua đời; đây là cú sốc đối với nữ hoàng. Tháng 3, Elizabeth ngã bệnh và vùi mình trong “nỗi sầu khổ khôn nguôi”[79]. Elizabeth mất ngày 24 tháng 3 năm 1603 tại Lâu đài Richmond, khoảng giữa hai giờ và ba giờ sáng. Vài giờ sau, Cecil và hội đồng công bố James Stuart của Scotland trở thành vua James I của Anh[80].

Quan tài của Elizabeth được mang đi ngay trong đêm trên thuyền rồng đến Lâu đài Whitehall. Trong tang lễ tổ chức vào ngày 28 tháng 4, quan tài của nữ hoàng, phủ bằng nhung tím, được đưa đến Điện Westminster trên xe tang bốn ngựa kéo. Ghi chép của nhà viết sử John Stow:

Westminster bao phủ đầy người thuộc mọi tầng lớp, tràn ngập đường phố, các ngôi nhà, mọi cửa sổ, trên mái nhà, tập hợp tại đây để dự tang lễ. Khi đám đông nhìn thấy tượng nữ hoàng trên quan tài, liền vang lên tiếng thở dài, rên rỉ, than khóc như chưa từng xảy ra bao giờ[81]

Di sản

Đám tang của Elizabeth năm 1603

Dù than khóc tiếc thương, dân chúng cảm thấy nhẹ nhõm khi nữ hoàng qua đời.[82] Sự xuất hiện một thế hệ lãnh đạo mới mang đến những tín hiệu tốt ban đầu với nỗ lực kết thúc cuộc chiến chống Tây Ban Nha năm 1604 và cắt giảm thuế. Mãi cho đến năm 1612 khi Robert Cecil qua đời, chính sách của triều đình không có nhiều thay đổi so với trước đây.[83] Tuy vậy, triều đại James I không được lòng dân khi nhà vua giao trọng trách cho những người thân tín; đến thập niên 1620, dân chúng bắt đầu nhớ về Elizabeth với sự tiếc nuối.[84] Nữ hoàng được tôn vinh như là một nữ anh hùng đấu tranh cho chính nghĩa Kháng Cách và là nhà lãnh đạo một thời kỳ hoàng kim, trong khi họ xem James là người ủng hộ Công giáo, dưới tay là đám triều thần thối nát.[85] Trong những năm cuối đời, hình ảnh huy hoàng của Elizabeth được tô điểm rực rỡ hơn, những khó khăn kinh tế, quân sự và tình trạng phân hóa được xem là những vấn nạn nhất thời và thanh danh của nữ hoàng càng lên cao. Triều đại Elizabeth được lý tưởng hóa để trở thành một thời kỳ mà hoàng gia, giáo hội và quốc hội hoạt động hài hòa trong sự cân bằng quyền lực được qui định bởi hiến pháp.[86]

Hình tượng của Elizabeth được miêu tả bởi những người Kháng Cách ngưỡng mộ bà từ thế kỷ 17 gây nhiều ảnh hưởng và có giá trị lâu dài.[87] Ký ức về nữ hoàng trở nên sống động khi xảy ra chiến tranh chống Napoleon, lúc ấy nước Anh đang cận kề họa ngoại xâm.[88] Trong thời kỳ Victoria, huyền thoại Elizabeth hội nhập dễ dàng vào ý thức hệ của đế chế.[82][89] Đến giữa thế kỷ 20, Elizabeth trở nên biểu tượng lãng mạn cho tinh thần dân tộc chống lại hiểm họa ngoại bang.[90][91] Các sử gia trong giai đoạn này như J. E. Neale (1934), và A. L. Rowse (1950) xem triều đại Elizabeth là thời kỳ hoàng kim của sự tiến bộ.[92]

Tuy nhiên, các sử gia hiện đại có quan điểm nghiêm khắc hơn về Elizabeth.[93]. Sự kiện nổi bật nhất trong thời trị vì của bà là chiến tích đánh bại Armada, và những cuộc tập kích nhắm vào người Tây Ban Nha như vụ Cádiz trong năm 15781596, song một số sử gia cũng chỉ ra những thất bại quân sự trên bờ cũng như trên mặt biển như vụ “Island voyage” năm 1597.[60] Cung cách Elizabeth giải quyết các vấn đề ở Ireland là một vết ố trên bảng thành tích của bà.[94] Do thiếu quyết đoán trong chính sách đối ngoại, khó có thể xem Elizabeth là một quân vương dũng cảm đứng ra bảo vệ các quốc gia Kháng Cách chống lại Tây Ban Nha và nhà Habsburg. Thường khi nữ hoàng chỉ cung ứng sự trợ giúp tối thiểu cho các lân bang Kháng Cách, và không chịu cấp tiền đầy đủ cho các tướng lĩnh hầu có thể thay đổi tình hình ở hải ngoại.[95]

Một đồng sovereign thời Elizabeth, mặt trước khắc hình Nữ hoàng cầm vương trượng và quả cầu thánh giá, mặt sau khắc huy hiệu hoàng gia bên trong bông hồng Tudor.

Việc Elizabeth thiết lập giáo hội Anh đã giúp định hình bản sắc dân tộc cho nước Anh cho đến ngày nay.[96][97][98] Song, những người tôn vinh bà như là người anh hùng của chính nghĩa Kháng Cách đã bỏ qua sự kiện nữ hoàng từ chối bác bỏ tất cả nghi thức Công giáo.[99][100] Các sử gia cũng ghi nhận rằng lúc ấy các tín hữu Kháng Cách sùng tín xem Đạo luật Settlement and Uniformity năm 1559 của nữ hoàng là một sự thỏa hiệp.[101][102][103] Thật vậy, Elizabeth xem đức tin là một vấn đề cá nhân, và không muốn, theo cách nói của Francis Bacon, “thâm nhập vào lòng và tư tưởng thầm kín của người khác”.[104][105]

Dù chủ trương phòng thủ trong chính sách ngoại giao, triều đại Elizabeth chứng kiến sự thăng tiến vượt bật của nước Anh trên trường quốc tế. Giáo hoàng Sixtus V nhận xét về bà với sự kinh ngạc, “[Elizabeth] chỉ là một phụ nữ, bà chủ trên một nửa hòn đảo, nhưng đã làm Tây Ban Nha, Pháp, [Thánh chế La Mã], và mọi người khiếp sợ”.[106] Trong thời trị vì của nữ hoàng, nước Anh giành được lòng tự tin và quyền tự quyết trong khi cả thế giới Cơ Đốc giáo đang bị phân hóa.[84][107][108] Elizabeth là người đầu tiên trong dòng họ Tudor thừa nhận rằng một quân vương chỉ có thể cai trị đất nước với sự đồng thuận của người dân.[109] Do đó, nữ hoàng luôn hợp tác với quốc hội và các cố vấn là những người bà tin là dám nói lên sự thật – nghệ thuật trị nước mà những quân vương thuộc dòng họ Stuart đã không chịu học hỏi. Trong khi một số sử gia cho rằng bà là người may mắn,[106] Elizabeth tin rằng bà được Thiên Chúa phù trợ.[110] Tự hào là một người Anh,[111] Nữ hoàng tin rằng Thiên Chúa, những lời khuyên chân tình, và tình yêu thần dân dành cho bà là những nhân tố xây đắp sự thành công của triều đại Elizabeth.[112] Trong một lần cầu nguyện, Elizabeth dâng lời tạ ơn Thiên Chúa:

Trong lúc chiến tranh và bạo loạn cùng sự ngược đãi luôn quấy nhiễu các vua chúa và các lân bang, thì triều đại tôi vui hưởng thái bình, và bờ cõi tôi là nơi ẩn náu cho hội thánh của Chúa. Tình yêu sắt son thần dân dành cho tôi khiến kẻ thù của tôi vỡ mộng.[106]

Hình ảnh Elizabeth I trong văn hóa

Trải qua bốn thế kỷ, Nữ hoàng Elizabeth I là nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật.

Hội họa, văn học, kịch nghệ, và âm nhạc

  • Những bài viết của chính Elizabeth với số lượng đáng kể, được Nhà xuất bản Đại học Chicago sưu tập và ấn hành dưới tựa đề Elizabeth I: Collected Works.
  • Trong Portraiture of Elizabeth I, những bức chân dung của nữ hoàng với trang phục sang trọng.
  • Trong vở King Henry VIII của William Shakespeare có cảnh thông báo sự ra đời của Elizabeth cũng như cảnh cô chịu lễ rửa tội.
  • Biệt danh “The Faerie Queen” của Elizabeth đến từ thiên sử thi cùng tên của Edmund Spenser.
  • Elizabeth là nhân vật chnhs trong vở kịch Mary Stuart của Friedrich Schiller (1800).
  • Elizabeth cũng xuất hiện trong cuốn tiểu thuyết Kenilworth của Sir Walter Scott.
  • Cô thiếu nữ Elizabeth có mặt trong The Prince and the Pauper của Mark Twain.
  • Nhà soạn kịch người Mỹ và là khôi nguyên Giải Pulitzer Maxwell Anderson trình bày cuộc đời Elizabeth trong hai vở kịch nổi tiếng nhất của ông, Elizabeth the Queen (1930), và Mary of Scotland (1933).
  • Margaret Irwin viết ba cuốn tiểu thuyết về tuổi trẻ của Elizabeth: Young Bess (1945), Elizabeth, Captive Princess (1950), và Elizabeth and the Prince of Spain (1953).
  • Mary M. Luke cũng viết một ba cuốn về Nhà Tudor: Catherine the Queen (1968), A Crown for Elizabeth (1970), và Gloriana: The Years of Elizabeth I (1973).
  • All the Queen’s Men của Evelyn Anthony (1960).
  • No Great Magi của Fritz Leiber (1963).
  • Vivat! Vivat Regina! của Robert Bolt (1970)
  • The Queen and the Gypsy của Constance Heaven (1977)
  • My Enemy the Queen của Victoria Holt (1978)
  • Queen of This Realm của Jean Plaidy (1984)
  • Legacy của Susan Kay (1985)
  • Much Suspected of Me của Maureen Peters (1991)
  • I, Elizabeth của Rosalind Miles (1994).
  • To Shield the Queen, một bộ tám cuốn nói về Ursula Blanchard, một tùy tùng của Elizabeth, của Fiona Buckley (1997–2006).
  • Elizabeth I, Red Rose of the House of Tudor của Kathryn Lasky, viết cho thiếu nhi (1999).
  • Một bộ chín cuốn tiểu thuyết: The Poyson Garden (2000), The Tidal Poole (2000), The Twylight Tower (2002), The Queene’s Cure (2003), The Thorne Maze (2003), The Queene’s Christmas (2004), The Fyre Mirror (2006), The Fatal Fashione (2006), và The Hooded Hawke (2007) của Karen Harper.
  • Beware, Princess Elizabeth, tiểu thuyết cho trẻ em của Carolyn Meyer (2001).
  • Robin Maxwell viết ba cuốn tiểu thuyết về Elizabeth: Virgin: Prelude to the Throne (2001), The Secret Diary of Anne Boleyn, và The Queen’s Bastard (1999).
  • Trong sáu cuốn sách của Philippa Gregory viết về Nhà Tudor, có năm cuốn viết về Elizabeth: The Other Boleyn Girl (2001), The Boleyn Inheritance (2006), The Queen’s Fool (2003), The Virgin’s Lover (2004), và “The Other Queen” (2008).
  • Queen Elizabeth I: A Children’s Picture Book của Richard Brassey (2005)
  • Queen Elizabeth I and Her Conquests của Margret Simpson (2006)
  • The Lady Elizabeth (2008) của Alison Weir.
  • Elizabeth the Queen, kịch của Maxwell Anderson
  • Elizabeth Rex, kịch của Timothy Findley (2000)
  • Elizabeth I (2011) tiểu thuyết của Margaret George.

Opera

Kịch, Điện ảnh, và Truyền hình

Hình tượng Elizabeth xuất hiện nhiều trên sân khấu kịch, trong phim điện ảnh và truyền hình. Thật vậy, bà là quân vương nước Anh được làm phim nhiều nhất.[113][114] George MacDonald Fraser wrote “no historic figure has been represented more honestly in the cinema, or better served by her players”.[115]

Kịch

Điện ảnh

Cate Blanchette đóng vai Elizabeth, hai lần được đề cử Giải Oscar.

Judi Dench, đoạt Giải Oscar với vai Elizabeth trong phim Shakespeare in Love.

Trong điện ảnh, các diễn viên sau từng đóng vai Elizabeth:

Truyền hình

Trên truyền hình, vai Elizabeth được giao cho:

Phả hệ

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ Elizabeth I chưa bao giờ kết hôn
  2. ^ “I mean to direct all my actions by good advice and counsel.” Elizabeth’s first speech as queen, Hatfield House, 20 November 1558. Loades, 35.
  3. ^ a ă Starkey, 5.
  4. ^ Neale, 386.
  5. ^ In 1593, the French ambassador confessed: “When I see her enraged against any person whatever, I wish myself in Calcutta, fearing her anger like death itself”. Somerset, 731–32.
  6. ^ Somerset, 729.
  7. ^ Somerset, 4.
  8. ^ Loades, 3–5
  9. ^ Somerset, 4–5.
  10. ^ Loades, 6–7.
  11. ^ Haigh, 1–3.
  12. ^ a ă In the act of July 1536, it was stated that Elizabeth was “illegitimate… and utterly foreclosed, excluded and banned to claim, challenge, or demand any inheritance as lawful heir…to [the King] by lineal descent”. Somerset, 10.
  13. ^ Our knowledge of Elizabeth’s schooling and precocity comes largely from the memoirs of Roger Ascham, also the tutor of Prince Edward. Loades, 8–10.
  14. ^ Somerset, 25.
  15. ^ Davenport, 32.
  16. ^ Loades, 24–25.
  17. ^ Elizabeth had assembled 2,000 horsemen, “a remarkable tribute to the size of her affinity”. Loades 25.
  18. ^ Loades, 26.
  19. ^ Loades, 27.
  20. ^ Somerset, 49.
  21. ^ Loades, 29.
  22. ^ “The wives of Wycombe passed cake and wafers to her until her litter became so burdened that she had to beg them to stop.” Neale, 49.
  23. ^ a ă Somerset, 89–90. The “Festival Book” account, from the British Library
  24. ^ Full document reproduced by Loades, 36–37.
  25. ^ Neale, 70.
  26. ^ Somerset, 92.
  27. ^ a ă Loades, 46.
  28. ^ “It was fortunate that ten out of twenty-six bishoprics were vacant, for of late there had been a high rate of mortality among the episcopate, and a fever had conveniently carried off Mary’s Archbishop of Canterbury, Reginald Pole, less than twenty-four hours after her own death”. Somerset, 98.
  29. ^ “There were no less than ten sees unrepresented through death or illness and the carelessness of ‘the accursed cardinal’ [Pole]”. Black, 10.
  30. ^ Somerset, 101–103.
  31. ^ POPE PIUS V’S BULL AGAINST ELIZABETH (1570)
  32. ^ Hogge, 46–47.
  33. ^ Loades, 39.
  34. ^ Trong tháng 4 năm 1559, có báo cáo là Amy bị “một căn bệnh trong một bộ ngực của cô” và được phỏng đoán là bà bị ung thư. Vào thời điểm đó, nhiều người tin rằng Dudley đã bỏ bà để kết hôn với nữ hoàng (In April 1559, Amy had been reported as suffering from a “malady in one of her breasts”, and it is now presumed that she had cancer. At the time, it was widely believed that Dudley had done away with her in order to marry the queen). Somerset, 166–167.
  35. ^ a ă Haigh, 17.
  36. ^ Loades, 40.
  37. ^ Khi vào năm 1566 một ủy ban quốc hội kêu gọi Elizabeth chỉ định một người thừa kế, bà đề cập đến việc “một người thứ hai, như là tôi trước đây” đã được sử dụng như là trọng điểm của âm mưu chống lại chị gái mình, nữ hoàng Mary I (When in 1566 a parliamentary commission urged Elizabeth to name an heir, she referred to the way “a second person, as I have been” had been used as the focus of plots against her sister, Queen Mary). Haigh, 22–23.
  38. ^ Haigh, 23.
  39. ^ Frieda, 191.
  40. ^ a ă Loades, 55.
  41. ^ a ă Haigh, 135.
  42. ^ a ă Loades, 61.
  43. ^ Flynn and Spence, 126–128.
  44. ^ Somerset, 607–611.
  45. ^ Haigh, 131.
  46. ^ Mary’s position as heir derived from her great grandfather Henry VII, through Henry VIII’s sister Margaret Tudor. In her own words, “I am the nearest kinswoman she hath, being both of us of one house and stock, the Queen my good sister coming of the brother, and I of the sister”. Guy, 115.
  47. ^ Theo điều khoản của Hiệp ước, cả Anh và Pháp đều rút quân khỏi Scotland. Haigh, 132.
  48. ^ Loades, 67.
  49. ^ Loades, 68.
  50. ^ Loades, 72–73.
  51. ^ Guy, 1–11.
  52. ^ Haigh, 134
  53. ^ a ă Haigh, 138.
  54. ^ Khi đô đốc hải quân Tây Ban Nha, Công tước Medina Sidonia, đến bờ biển gần Calais mới biết đạo quân của Công tước xứ Parma chưa sẵn sàng nên buộc phải hoãn binh, do đó tạo cơ hội cho quân Anh triển khai tấn công. Loades, 64.
  55. ^ a ă Neale, 300.
  56. ^ Diễn văn
  57. ^ Though most historians accept that Elizabeth gave such a speech, its authenticity has been questioned (Frye, The Myth of Elizabeth at Tilbury, 1992), since it was not published until 1654. Doran, 235–236.
  58. ^ Alexander Farnese (1545 – 1592), là Công tước xứ Parma và Piacenza từ 1586-1592, và Thống đốc Hà Lan thuộc Tây Ban Nha từ 1578 -1592. Parma thống lĩnh đạo quân tinh nhuệ trú đóng tại Hà Lan dự định phối hợp với Armada Tây Ban Nha tiến chiếm nước Anh trong kế hoạch xâm lăng Vương quốc Anh của Vua Felipe II trong năm 1588, nhưng thất bại.
  59. ^ Somerset, 591.
    • Neale, 297–98.
  60. ^ a ă Haigh, 142.
  61. ^ Haigh, 143.
  62. ^ Henry abandoned the siege in April. Haigh, 143.
  63. ^ Haigh, 143–144.
  64. ^ One observer wrote that Ulster, for example, was “as unknown to the English here as the most inland part of Virginia”. Somerset, 667.
  65. ^ Loades, 98.
  66. ^ Loades, 98–99.
  67. ^ Loades, 92.
  68. ^ Gaunt, 37.
  69. ^ Black, 353.
  70. ^ a ă Haigh, 155.
  71. ^ Black, 355–356.
  72. ^ Black, 355.
  73. ^ This criticism of Elizabeth was noted by Elizabeth’s early biographers William Camden and John Clapham. For a detailed account of such criticisms and of Elizabeth’s “government by illusion”, see chapter 8, “The Queen and the People”, Haigh, 149–169.
  74. ^ Black, 239.
  75. ^ Black, 239–245.
  76. ^ After Essex’s downfall, James VI of Scotland referred to Cecil as “king there in effect”. Croft, 48.
  77. ^ Cecil wrote to James, “The subject itself is so perilous to touch amongst us as it setteth a mark upon his head forever that hatcheth such a bird”. Willson, 154.
  78. ^ Neale, 385.
  79. ^ Black, 411.
  80. ^ Black, 410–411.
  81. ^ Weir, 486.
  82. ^ a ă Loades, 100.
  83. ^ Willson, 333.
  84. ^ a ă Somerset, 726.
  85. ^ Strong, 164.
  86. ^ Dobson and Watson, 257.
  87. ^ Haigh, 175, 182.
  88. ^ Dobson and Watson, 258.
  89. ^ The age of Elizabeth was redrawn as one of chivalry, epitomised by courtly encounters between the queen and sea-dog “heroes” such as Drake and Raleigh. Some Victorian narratives, such as Raleigh laying his cloak before the queen or presenting her with a potato, remain part of the myth. Dobson and Watson, 258.
  90. ^ Haigh, 175.
  91. ^ In his preface to the 1952 reprint of Queen Elizabeth I, J. E. Neale observed: “The book was written before such words as “ideological”, “fifth column”, and “cold war” became current; and it is perhaps as well that they are not there. But the ideas are present, as is the idea of romantic leadership of a nation in peril, because they were present in Elizabethan times”.
  92. ^ Haigh, 182.
  93. ^ Haigh, 183.
  94. ^ Black, 408–409.
  95. ^ Haigh, 142–147, 174–177.
  96. ^ Loades, 46–50.
  97. ^ Weir, 487.
  98. ^ Hogge, 9–10.
  99. ^ The new state religion was condemned at the time in such terms as “a cloaked papistry, or mingle mangle”. Somerset, 102.
  100. ^ “The problem with the ‘Protestant heroine’ image was that Elizabeth did not always live up to it. London Protestants were horrified in 1561 when they heard of the plan to get Spanish support for a Dudley marriage by offering concessions on religion, and it took Elizabeth almost a decade to re-establish her Protestant credentials.” Haigh, 165.
  101. ^ Haigh, 45–46, 177.
  102. ^ Black, 14–15.
  103. ^ Collinson, 28–29.
  104. ^ Williams, 50.
  105. ^ Haigh, 42.
  106. ^ a ă â Somerset, 727.
  107. ^ Hogge, 9n.
  108. ^ Loades, 1.
  109. ^ As Elizabeth’s Lord Keeper, Sir Nicholas Bacon, put it on her behalf to parliament in 1559, the queen “is not, nor ever meaneth to be, so wedded to her own will and fantasy that for the satisfaction thereof she will do anything…to bring any bondage or servitude to her people, or give any just occasion to them of any inward grudge whereby any tumults or stirs might arise as hath done of late days”. Starkey, 7.
  110. ^ Somerset, 75–76.
  111. ^ Edwards, 205.
  112. ^ Starkey, 6–7.
  113. ^ FilmCrunch: Cate Blanchett to Reprise Royal Role
  114. ^ Famous People and their Lives: Queen Elizabeth I
  115. ^ Fraser, George MacDonald: The Hollywood History of the World, Fawcett, 1989, p. 69–70
  116. ^ Neil Genzlinger, NY Times review.Retrieved ngày 17 tháng 1 năm 2009

Tham khảo

  1. Black, J. B. The Reign of Elizabeth: 1558–1603. Oxford: Clarendon, (1936) 1945. OCLC 5077207
  2. Brimacombe, Peter. All the Queen’s Men: The World of Elizabeth I. New York: St Martin’s Press, 2000. ISBN 0312232519.
  3. Camden, William. History of the Most Renowned and Victorious Princess Elizabeth. Wallace T. MacCaffrey (ed). Chicago: University of Chicago Press, selected chapters, 1970 edition. OCLC 59210072.
  4. Clapham, John. Elizabeth of England. E. P. Read and Conyers Read (eds). Philadelphia: University of Pennsylvania Press, 1951. OCLC 1350639.
  5. Collinson, Patrick. “The Mongrel Religion of Elizabethan England.” Elizabeth: The Exhibition at the National Maritime Museum. Susan Doran (ed.). London: Chatto and Windus, 2003. ISBN 0701174765.
  6. Croft, Pauline. King James. Basingstoke and New York: Palgrave Macmillan, 2003. ISBN 0333613953.
  7. Davenport, Cyril. English Embroidered Bookbindings. Alfred Pollard (ed.). London: Kegan Paul, Trench, Trübner and Co., 1899. OCLC 705685.
  8. Dobson, Michael; and Nicola Watson. “Elizabeth’s Legacy”. Elizabeth: The Exhibition at the National Maritime Museum. Susan Doran (ed.). London: Chatto and Windus, 2003. ISBN 0701174765.
  9. Doran, Susan. “The Queen’s Suitors and the Problem of the Succession.” Elizabeth: The Exhibition at the National Maritime Museum. Susan Doran (ed.). London: Chatto and Windus, 2003. ISBN 0701174765.
  10. Edwards, Philip. The Making of the Modern English State: 1460–1660. Basingstoke and New York: Palgrave Macmillan, 2004. ISBN 031223614X.
  11. Elizabeth I: The Collected Works Leah S. Marcus, Mary Beth Rose & Janel Mueller (eds.). Chicago: Chicago University Press, 2002. ISBN 0226504654.
  12. Elton, G.R. England under the Tudors. London: Routledge, 1991. ISBN 041506533X.
  13. Flynn, Sian; and David Spence. “Elizabeth’s Adventurers”. Elizabeth: The Exhibition at the National Maritime Museum. Susan Doran (ed.). London: Chatto and Windus, 2003. ISBN 0701174765.
  14. Frieda, Leonie. Catherine de Medici. London: Phoenix, 2005. ISBN 0173820390.
  15. Gaunt, William. Court Painting in England from Tudor to Victorian Times. London: Constable, 1980. ISBN 0094618704.
  16. Graves, Michael A. R. Elizabethan Parliaments: 1559–1601. London and New York: Longman, 1987. ISBN 0582355168.
  17. Guy, John. My Heart is My Own: The Life of Mary Queen of Scots. London and New York: Fourth Estate, 2004. ISBN 184115752X.
  18. Haigh, Christopher. Elizabeth I. Harlow (UK): Longman Pearson, (1988) 1998 edition. ISBN 0582437547.
  19. Hasler. P. W (ed). History of Parliament. House of Commons 1558–1603 (3 vols). London: Published for the History of Parliament Trust by H.M.S.O., 1981. ISBN 0118875019.
  20. Hogge, Alice. God’s Secret Agents: Queen Elizabeth’s Forbidden Priests and the Hatching of the Gunpowder Plot. London: HarperCollins, 2005. ISBN 0007156375.
  21. Loades, David. Elizabeth I: The Golden Reign of Gloriana. London: The National Archives, 2003. ISBN 1903365430.
  22. Neale, J.E. Queen Elizabeth I: A Biography. London: Jonathan Cape, (1934) 1954 reprint. OCLC 220518.
  23. Ridley, Jasper. Elizabeth I: The Shrewdness of Virtue. New York: Fromm International, 1989. ISBN 088064110X.
  24. Rowse, A. L. The England of Elizabeth. London: Macmillan, 1950. OCLC 181656553.
  25. Russell, Conrad. The Crisis of Parliaments: English History, 1509–1660. Oxford: Oxford University Press, 1971. ISBN 0199130345.
  26. Somerset, Anne. Elizabeth I. London: Phoenix, (1991) 1997 edition. ISBN 0385721579.
  27. Starkey, David. “Elizabeth: Woman, Monarch, Mission.” Elizabeth: The Exhibition at the National Maritime Museum. Susan Doran (ed.). London: Chatto and Windus, 2003. ISBN 0701174765.
  28. Strong, Roy. Gloriana: The Portraits of Queen Elizabeth I. London: Pimlico, (1987) 2003. ISBN 071260944X.
  29. Waller, Maureen, “Sovereign Ladies: Sex, Sacrifice, and Power. The Six Reigning Queens of England.” St. Martin’s Press, New York, 2006. ISBN 0-312-33801-5
  30. Weir, Alison. Elizabeth the Queen. London: Pimlico, (1998) 1999 edition. ISBN 0712673121.
  31. Williams, Neville. The Life and Times of Elizabeth I. London: Weidenfeld & Nicolson, 1972. ISBN 0297831682.
  32. Willson, David Harris. King James VI & I. London: Jonathan Cape, (1956) 1963. ISBN 0224605720.
  33. Wilson, Charles H. Queen Elizabeth and the Revolt of the Netherlands. Berkeley: University of California Press, 1970. ISBN 0520017447.
  34. “Nữ hoàng băng giá” và những cuộc cầu hôn bất thành
  35. Nữ hoàng Elizabeth Đệ nhất: Để giữ mãi vị trí độc tôn

Xem thêm

Liên kết ngoài

Elizabeth I của Anh

Sinh: 7 Tháng 9 1533 Mất: 24 Tháng 3 1603

Tước hiệu
Tiền vị:
Mary I
Nữ hoàng Anh
Nữ hoàng Ireland

17 Tháng 11, 1558 – 24 tháng 3, 1603
Kế vị
James I
Hoàng gia Anh
Tiền vị:
Lady Mary Tudor
Người thừa kế ngai vàng nước Anh
như người kế thừa không chắc chắn
Tháng 3, 1534 – 1536
Kế vị
Edward, hoàng tử xứ Wales
Tiền vị:
Lady Catherine Grey
Người thừa kế ngai vàng nước Anh và Ireland
như là người kế thừa không chắc chắn
19 tháng 7, 1553 – 17 tháng 11, 1558
Trống ngôi

Không bao giờ chỉ định người thừa kế¹
Danh hiệu được kế thừa bởi

Henry Frederick, hoàng tử xứ Wales

Chú thích
1. Người thừa kế gần nhất của bà là Lady Frances Brandon theo sắc luật kế vị thứ BaMary I của Scotland theo luật truyền thống cognatic primogeniture

Wikipedia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Wikipedia
Một khối cầu màu trằng ghép lại từ nhiều mảnh xếp hình lớn. Trên mỗi mảnh là các chữ cái thuộc nhiều bộ chữ cái khác nhau
Wikipedia wordmark

Biểu tượng Wikipedia, một quả địa cầu có chứa các kí tự từ nhiều hệ chữ viết khác nhau
Địa chỉ website Wikipedia.org
Khẩu hiệu Tiếng Anh: The free encyclopedia that anyone can edit.
Tiếng Việt: Cuốn bách khoa toàn thư mà bất cứ ai cũng có thể chỉnh sửa.
Thương mại Không
Loại website Bách khoa toàn thư trực tuyến
Yêu cầu đăng ký Tùy chọn, có thể không nhưng cần đăng kí cho 1 số tác vụ nhất định như chỉnh sửa trang được bảo vệ, tạo trang mới hay tải lên các tập tin
Ngôn ngữ hỗ trợ 276 phiên bản đang hoạt động (trên tổng số 286 phiên bản)[1]
Số lượng thành viên Hơn 71,000 người tham gia chỉnh sửa đang hoạt động,[2] tổng cộng 418.241 tài khoản.
Giấy phép nội dung CC Attribution / Share-Alike 3.0
Đa số tài liều được cấp giấy phép kép dựa theo GFDL, việc cấp giấy phép truyền thông có thể khác.
Chủ sở hữu Wikimedia Foundation
Tạo bởi Jimmy Wales, Larry Sanger[3]
Bắt đầu hoạt động 15 tháng 1 năm 2001 (13 năm trước)
Xếp hạng Alexa Straight Line Steady.svg 6 ((December 2013))[4]
Tình trạng hiện tại Đang hoạt động

Wikipedia là một bách khoa toàn thư nội dung mở bằng nhiều loại ngôn ngữ trên Internet. Wikipedia được viết và xây dựng do rất nhiều người dùng cùng cộng tác với nhau, cho nên ai muốn thay đổi những bài viết, chỉ cần có một trình duyệt Web và khả năng truy cập Internet. Dự án này, nói chung, bắt đầu từ ngày 15 tháng 1 năm 2001 để bổ sung bách khoa toàn thư Nupedia bởi những nhà chuyên môn; hiện nay Wikipedia trực thuộc Quỹ Hỗ trợ Wikimedia, một tổ chức phi lợi nhuận. Wikipedia hiện có hơn 15 triệu bài viết, với hơn 3,3 triệu bài trong phiên bản tiếng Anh (English Wikipedia); vào tháng 1 năm 2006, nó có hơn 750.000 thành viên. Từ khi nó được mở cửa, Wikipedia càng ngày càng nổi tiếng[5] và sự thành công của nó đã nảy sinh ra vài dự án liên quan. Tuy nhiên, có nhiều tranh luận về sự tin cậy của nó. Mặc dù vậy, một công bố vào ngày 9/8/2014 của viện thăm dò YouGov sau khi khảo sát 2.000 người tại Anh cho thấy 64% số người được hỏi tin vào độ xác thực của thông tin trên Wikipedia, cao hơn tỉ lệ 61% tin vào BBC, và vào những tờ báo uy tín khác như Times (45%), The Guardian (45%), The Sun (13%).[6]

Wikipedia thường được làm nguồn bởi phương tiện truyền thông đại chúng nhiều khi để chỉ trích và nhiều khi để khen vì những đặc tính tự do, mở, dễ sửa đổi và phạm vi rộng rãi. Nhiều khi dự án không chỉ được nói đến, nhưng cũng được làm nguồn về chủ đề khác. Wikipedia khuyến khích những người đóng góp theo quy định “Thái độ trung lập“, bằng cách tóm tắt các quan điểm quan trọng để tới gần sự thật khách quan. Việc dùng Wikipedia như nguồn tham khảo đã gây ra tranh luận vì tính mở của nó làm nó có thể bị phá hoại, bị sửa không đúng, hoặc không bao gồm các chủ đề đều đặn, hoặc có ý kiến không có căn cứ. Nó cũng bị chê là có thiên vị nhất quán, đặt cao ý kiến số đông hơn là bằng cấp, sự thiếu trách nhiệm cũng như kiến thức chuyên môn của người viết khi được so sánh với những bách khoa toàn thư thông thường. Tuy nhiên, sự rộng rãi và cặn kẽ của nó, và tính năng được cập nhật liên tục, đã làm dự án trở thành nguồn tham khảo hữu ích đối với hàng triệu người. Bất cứ sửa đổi nào mang tính phá hoại sẽ bị điều tra và thông tin phá hoại đó sẽ bị xóa ngay lập tức.

Wikipedia hiện có hơn 200 phiên bản ngôn ngữ, trong đó vào khoảng 100 đang hoạt động. 15 phiên bản đã có hơn 500.000 bài viết: tiếng Anh, Đức, Pháp, Ba Lan, Nhật, Ý, Thụy Điển, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hoa, Nga, Na Uy, Phần Lan, Quốc tế ngữtiếng Việt. Phiên bản tiếng Đức đã được phát hành trên đĩa DVD, và nhiều phiên bản khác được sao chép qua website khác. Người dùng các thiết bị viễn thông có thể truy cập thông tin từ trang liên kết rút gọn wapedia với các phiên bản ngôn ngữ hệt wikipedia tại đây

Đặc trưng

Khẩu hiệu của Wikipedia là “Bách khoa toàn thư tự do để tất cả mọi người sửa đổi”, và người thành lập dự án Jimmy Wales diễn tả mục đích của nó là “để tạo ra bách khoa toàn thư miễn phí có phẩm chất càng cao càng tốt và đưa nó cho tất cả mọi người trên thế giới bằng ngôn ngữ họ dùng”[7]. Nó được viết trên website wikipedia.org dùng một loại phần mềm gọi là “wiki“, thuật ngữ dùng để gọi WikiWikiWeb trước tiên và bắt nguồn từ tiếng Hawaii Wiki Wiki, tức là “nhanh lẹ”. Ông Wales có mục đích là dẫn Wikipedia tới phẩm chất “của Britannica hoặc cao hơn” và được xuất bản trên giấy.

Vài dự án bách khoa toàn thư đã và đang hoạt động. Vài dự án có quy định cộng tác và sở hữu bài viết theo kiểu truyền thống, thí dụ như Bách khoa toàn thư Triết học Stanford bởi những nhà chuyên môn hoặc dự án Nupedia đã đóng cửa. Những website thoải mái hơn như là h2g2Everything2 làm việc dạy chỉ tổng quát, những bài viết ở đấy được viết và quản lý bởi người riêng. Những dự án như là Wikipedia, Susning.nuEnciclopedia Libre là wiki, trong đó các bài viết được phát triển bởi nhiều tác giả, và không có quá trình kiểm duyệt bài viết chính thức. Trong những bách khoa toàn thư wiki đó, Wikipedia được trở thành bách khoa lớn nhất tính theo số bài viết và số chữ. Khác với nhiều bách khoa toàn thư, nó cho phép sử dụng nội dung dưới Giấy phép Văn bản Tự do GNU.

Wikipedia có một bộ quy định để lựa chọn loại thông tin nào để bao gồm trong dự án. Nhiều khi những quy định này được chú thích khi bàn cãi về việc cộng thêm, sửa lại, di chuyển, hoặc xóa một bài viết…

Lịch sử

Bài chi tiết: Lịch sử Wikipedia

Wikipedia “bắt nguồn” từ Nupedia

Đầu tiên thì Wikipedia chỉ là dự án nhỏ bên cạnh Nupedia, dự án để viết bách khoa với một số nhà chuyên môn theo quá trình chính thức. Nupedia mở cửa ngày 9 tháng 3 năm 2000 dưới sở hữu của Tập đoàn Bomis, một công ty cổng Web. Những người chính của dự án là Jimmy Wales, giám đốc của Bomis, và Larry Sanger, chủ bút của Nupedia và Wikipedia sau đó. Ông Sanger nói rằng Nupedia khác với những bách khoa toàn thư đã có vì nó sử dụng nội dung mở; nó không có hạn chế về cỡ vì nó hiện diện trên Internet; và nó không thiên vị vì nó công khai và có thể có nhiều loại người đóng góp[8]. Nupedia có quá trình 7 bước để nhà chuyên môn kiểm tra các bài thuộc chuyên môn của họ, nhưng quá trình này bị xem là quá chậm cho một số bài ít ỏi. Dùng tiền của Bomis, có lúc họ đặt kế hoạch để lấy lại vốn đầu tư bằng quảng cáo[8]. Nó được sử dụng dưới Giấy phép Nội dung mở Nupedia trước tiên, nhưng đổi qua Giấy phép Văn bản Tự do GNU trước khi Wikipedia được thành lập, theo yêu cầu của Richard Stallman.

Wikipedia tiếng Anh vào ngày 20 tháng 3 năm 2001, hai tháng rưỡi sau khi được thành lập

Trên danh sách gửi thư của Nupedia, ngày 10 tháng 1 năm 2001, ông Sanger đề nghị tạo ra wiki bên cạnh Nupedia. Dưới đề tài “Hãy làm một wiki” (Let’s make a wiki), ông viết rằng: “Không, đây không phải là một đề nghị không đứng đắn. Đó là một ý tưởng để thêm một tính năng ít Nupedia. Jimmy Wales nghĩ rằng nhiều người có thể tìm thấy những ý kiến phản đối, nhưng tôi nghĩ rằng không (…) Khi sử dụng Nupedia của wiki, đây là “Ultimate mở” và định dạng đơn giản cho việc phát triển nội dung Chúng ta có đôi khi bandied về ý tưởng cho đơn giản, các dự án khác để mở hoặc thay thế hoặc bổ sung Nupedia.. Có vẻ như với tôi, wiki có thể được thực hiện thực tế ngay lập tức, cần được bảo dưỡng rất ít, và nói chung là rất thấp, it rủi ro. Chúng tôi cũng là một nguồn tiềm năng lớn cho nội dung Vì vậy, có ít nhược điểm, như tôi có thể nhìn thấy..”

No, this is not an indecent proposal. It’s an idea to add a little feature to Nupedia. Jimmy Wales thinks that many people might find the idea objectionable, but I think not. (…) As to Nupedia’s use of a wiki, this is the ULTIMATE “open” and simple format for developing content. We have occasionally bandied about ideas for simpler, more open projects to either replace or supplement Nupedia. It seems to me wikis can be implemented practically instantly, need very little maintenance, and in general are very low-risk. They’re also a potentially great source for content. So there’s little downside, as far as I can see.”[9]

Wikipedia mở cửa chính thức ngày 15 tháng 1 năm 2001, chỉ là một phiên bản tiếng Anh tại wikipedia.com, và ông Sanger giới thiệu nó lần đầu tiên trên danh sách gửi thư[10]. Trước đó, từ ngày 10 tháng 1, nó chỉ là một tính năng của Nupedia, trong đó ai nào có thể viết bài để được thêm vào bách khoa toàn thư sau khi được xem lại. Nó được bắt đầu lại bên ngoài Nupedia, sau khi các nhà chuyên môn của Ủy ban Tư vấn Nupedia phản đối kiểu phát triển của nó[11]. Sau đó, Wikipedia hoạt động như dự án riêng không có Nupedia bảo quản. Quy định “quan điểm trung lập” của nó được viết xuống vào những tháng đầu tiên, tuy nó sát với quy định “nonbias” (phi thiên vị) của Nupedia. Ngoài đó, chỉ có một vài nguyên tắc đầu tiên. Wikipedia được nhiều người đóng góp đến từ Nupedia, những tin nhắn tại Slashdot, và kết quả tìm kiếm. Nó tăng lên tới 20.000 bài viết bằng 18 ngôn ngữ vào cuối năm đầu[12]. Nupedia và Wikipedia hoạt động bên cạnh nhau đến khi máy chủ Nupedia bị ngừng hoạt động thường trực vào năm 2003, và cả nội dung Nupedia được đưa vào Wikipedia.

Hai ông Wales và Sanger cho rằng WikiWikiWeb của Ward Cunningham hoặc Kho Mẫu Portland đã đưa ra quan niệm sử dụng wiki. Ông Wales nói rằng ông nghe về quan niệm này lần đầu tiên từ Jeremy Rosenfield, một người làm cho Bomis và đã dẫn ông Wales đến wiki đó vào tháng 12 năm 2000[13], nhưng Wikipedia mới bắt đầu sau khi ông Sanger nghe về wiki đó từ Ben Kovitz, người quen ở đấy, vào tháng 1 năm 2001[11] và đề nghị tạo ra wiki cho Nupedia. Dưới quan niệm liên quan đến nội dung tự do, nhưng không dựa trên wiki, dự án GNUPedia hoạt động bên cạnh Nupedia vào đầu lịch sử của nó. Sau đó nó ngừng hoạt động và người thành lập nó, người nổi tiếng về phần mềm tự do Richard Stallman, ủng hộ Wikipedia[14].

Vì sợ có thể mang quảng cáo đến dự án và thiếu quyền hạn bảo quản ở trung tâm phiên bản tiếng Anh, nhiều người dùng Wikipedia tiếng Tây Ban Nha (Wikipedia en español) chia ra khỏi Wikipedia để thành lập Enciclopedia Libre vào tháng 2 năm 2002. Sau đó cùng năm, ông Wales loan báo là Wikipedia sẽ không bao gồm quảng cáo trong tương lai, và website được chuyển sang địa chỉ wikipedia.org. Từ đó, nhiều dự án đã chia ra khỏi Wikipedia vì quy định viết bài, thí dụ như Wikinfo, họ bỏ “quan điểm trung lập” để thay với nhiều bài viết phụ nhau viết theo “quan điểm thông cảm”.

Từ Wikipedia và Nupedia, Quỹ Hỗ trợ Wikipedia được thành lập ngày 20 tháng 6 năm 2003[15]. Từ đó đến nay, Wikipedia và các dự án liên quan trực thuộc tổ chức bất vụ lợi đó. Dự án liên quan đầu tiên của Wikipedia, “Kỷ niệm: Wiki 11 tháng 9”, được thành lập vào tháng 10 năm 2002 để kể chuyện về những Tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9; dự án từ điển Wiktionary mở cửa vào tháng 12 năm 2002; bộ sưu tập danh ngôn Wikiquote, một tuần sau khi Wikimedia được thành lập; và thư viện mở Wikibooks, tháng sau. Sau đó Wikimedia vẫn tiếp tục bắt đầu thêm dự án khác.

Wikipedia thường đo sự phát triển của dự án theo số bài viết. Trong hai năm đầu tiên, nó tăng lên khoảng chừng vài trăm bài mới mỗi ngày. Wikipedia tiếng Anh đạt tới bài viết thứ 100.000 ngày 22 tháng 1 năm 2003. Năm 2004, tốc độ tăng lên số bài vào khoảng 1.000 hay 3.000 mỗi ngày cho tất cả các phiên bản ngôn ngữ. Wikipedia tiếng Anh đạt tới bài thứ 500.000 ngày 25 tháng 2 năm 2004[16]. Wikipedia đạt đến bài viết thứ một triệu trong tất cả 105 phiên bản ngôn ngữ vào ngày 20 tháng 9 năm 2004[17], trong khi phiên bản tiếng Anh nói riêng đạt đến bài viết thứ 500.000 ngày 18 tháng 3 năm 2005[18] và bài thứ một triệu ngày 1 tháng 3, 2006[19].

Quỹ Hỗ trợ Wikimedia đã đăng ký nhãn hiệu Wikipedia® tại Cơ quan sáng chế và nhãn hiệu Hoa Kỳ ngày 17 tháng 9 năm 2004. Nhãn hiệu này được công nhận chính thức ngày 10 tháng 1 năm 2006. Bản quyền của nhãn hiệu cũng được chấp nhận tại Nhật Bản ngày 16 tháng 12 năm 2004 và tại Liên minh châu Âu ngày 20 tháng 1 năm 2005. Gọi chính xác là dấu hiệu phục vụ, phạm vi của dấu hiệu này bao gồm: “Sự cung cấp thông tin ở lĩnh vực kiến thức bách khoa tổng quát dùng Internet“.

Hiện có dự định cho phép sử dụng nhãn hiệu Wikipedia để sản phẩm sách vở hoặc DVD[20]. Nguyên cả Wikipedia tiếng Đức sẽ được in ra bởi công ty Directmedia, trong 100 cuốn sách, mỗi cuốn 800 trang. Họ sẽ bắt đầu vào tháng 10 năm 2006 và xong vào năm 2010.

Ngày 27 tháng 2 năm 2006, Wikipedia tiếng Anh đạt tới con số một triệu thành viên, với “Romulus32” được coi như thành viên một triệu. Vài ngày sau, ngày 1 tháng 3 năm 2006, phiên bản tiếng Anh cũng đạt tới con số một triệu bài viết. “Jordanhill railway station“, giải thích về Nhà ga Jordanhill tại Glasgow (Scotland), được định là thứ một triệu.

Phần mềm và máy móc

Wikipedia được từ 10.000 đến 35.000 yêu cầu trang mỗi giây, tùy theo thời gian.[21] Hơn 100 máy chủ được thiết lập để thỏa mãn nhu cầu.

Wikipedia dựa trên MediaWiki, nền phần mềm wiki chuyên biệt có nguồn tự domở, phần lớn được viết trong PHP và được xây trên cơ sở dữ liệu MySQL. Phần mềm này bao gồm những tính năng lập trình như là ngôn ngữ macro, biến số, hệ thống gắn tiêu bản (template transclusion), và đổi hướng URL. MediaWiki được phát hành theo Giấy phép Công cộng GNU (GPL) và được sử dụng bởi các dự án Wikimedia, cũng như nhiều dự án wiki khác. Ban đầu Wikipedia chạy trên UseModWiki, một chương trình Perl của Clifford Adams (Phase I). Nó bắt phải viết hoa theo kiểu CamelCase để tạo ra siêu liên kết giữa các bài; cú pháp hai dấu ngoặc vuông được hỗ trợ về sau. Bắt đầu từ tháng 1 năm 2002 (Phase II), Wikipedia bắt đầu sử dụng chương trình PHP wiki với cơ sở dữ liệu MySQL; phần mềm này được viết đặc biệt cho Wikipedia bởi Magnus Manske. Phần mềm Phase II được sửa nhiều lần để thỏa mãn nhu cầu đang lên theo đường lũy thừa (exponential growth). Tháng 7 năm 2002 (Phase III), Wikipedia đổi qua phần mềm thế hệ thứ ba, MediaWiki, mới đầu do Lee Daniel Crocker viết.

Các máy chủ của Wikipedia trên toàn thế giới

Các máy chủ của Wikipedia trên toàn thế giới

Biểu đồ dữ liệu được chuyển giữa các máy chủ của Wikipedia. 20 máy chủ cơ sở dữ liệu chuyển dữ liệu tới hàng trăm máy chủ Apache phía sau; các máy Apache chuyển dữ liệu tới 50 máy squid phía trước.

Tóm lược cấu trúc hệ thống vào tháng 4 năm 2009. Xem biểu đồ máy chủ tại Meta-Wiki.

Wikipedia chạy trên các nhóm máy chủ Linux tại Florida và hai vị trí khác.[22] Wikipedia chỉ xài một máy chủ cho đến năm 2004; lúc đó hệ thống máy chủ được mở rộng thành cấu trúc đa tầng (multitier architecture) phân phối. Vào tháng 1 năm 2005, dự án chạy trên 39 máy chủ dành riêng ở Florida. Hình dạng này bao gồm một máy cơ sở dữ liệu chủ chạy MySQL, vài máy phụ CSDL, 21 máy chủ web chạy Apache HTTP Server, và bảy máy bộ nhớ Squid. Vào tháng 9 năm 2005, nhóm máy chủ này đã bao gồm 100 máy tại ba vị trí chung quanh thế giới[22].

Các yêu cầu trang được gửi cho tầng máy Squid trước. Những yêu cầu mà bộ nhớ Squid không thể thỏa mãn được gửi qua các máy chủ cân bằng tải (load-balancing server) có phần mềm Linux Virtual Server; nó gửi yêu cầu cho một trong những máy chủ Apache để kết xuất trang dùng dữ liệu từ CSDL. Các máy chủ web gửi lại những trang được yêu cầu và kết xuất trang của các phiên bản ngôn ngữ Wikipedia. Để tăng lên tốc độ trả lời nhiều hơn, các trang được kết xuất cho người chưa đăng nhập được bỏ vào bộ nhớ phân phối (distributed memory cache) cho đến khi nó lỗi thời, nên có thể bỏ qua hẳn quá trình kết xuất trang đối với phần nhiều lần truy cập những trang thường gặp. Hai nhóm máy chủ lớn hơn tại Hà LanHàn Quốc hiện xử lý nhiều nhu cầu cho Wikipedia..

Dự án liên quan

Wikipedia có vài dự án liên quan:

  • Wiktionary, dự án làm bộ từ điển tự do
  • Wikibooks, dự án làm thư viện về sách giáo khoa tự do
  • Wikiquote, bộ từ điển về danh ngôn
  • Wikisource, kho lưu nguồn tư liệu bằng mọi ngôn ngữ có phạm vi công cộng hoặc xuất bản theo GFDL

Cũng có nhiều dự án cùng loại, như Wikitravel…..

Vào tháng 2 năm 2001, phần lớn người dùng Wikipedia bằng tiếng Tây Ban Nha không hài lòng với phương hướng của dự án nên đã rút khỏi để bắt đầu dự án Enciclopedia Libre. [cần dẫn nguồn]

Tham khảo

  1. ^ “List of Wikipedias”. Meta-Wiki.
  2. ^ “Wikipedia Statistics – Tables – Active wikipedians”. Stats.wikimedia.org. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2013.
  3. ^ Jonathan Sidener. “Everyone’s Encyclopedia”. San Diego Union Tribune. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2006.
  4. ^ “Wikipedia.org Site Info”. Alexa Internet. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2013.
  5. ^ Xem những sơ đồ tại “Lần được truy nhập“, Thống kê Wikipedia, 1 tháng 1 năm 2005.
  6. ^ Thông tin trên Wikipedia có thực sự chính xác?, theo Kenhtuyensinh.vn 08:40 AM 26/08/2014
  7. ^ Wales, James. “Wikipedia là bách khoa toàn thư“. 8 tháng 3 năm 2005, wikipedia-l@wikimedia.org.
  8. ^ a ă Sanger, Lawrence. “Hỏi đáp về Nupedia“. Nupedia. Tháng 3 năm 2000.
  9. ^ Sanger, Lawrence. “Hãy làm một wiki“. Lưu trữ Internet. 10 tháng 1 năm 2001.
  10. ^ Sanger, Lawrence. “Wikipedia hoạt động!Lưu trữ Internet. 17 tháng 1 năm 2001.
  11. ^ a ă Sanger, Lawrence. Lịch sử Ban đầu của Nupedia và Wikipedia: Luận văn. Slashdot. 18 tháng 4 năm 2005.
  12. ^ Wikipedia:Multilingual statistics“. Wikipedia. 30 tháng 3 năm 2005.
  13. ^ Wales, James. “Re: Những luận văn của Sanger“, 20 tháng 4 năm 2005, wikipedia-l@wikipedia.org.
  14. ^ Stallman, Richard. “Dự án Bách khoa Toàn thư Mở“. Quỹ Hỗ trợ Phần mềm Mở. 1999.
  15. ^ Wales, James. “Giới thiệu Quỹ Hỗ trợ Wikimedia“. 20 tháng 6 năm 2003. wikipedia-l@wikipedia.org.
  16. ^ 500.000 bài viết tại Wikipedia“. Quỹ Hỗ trợ Wikimedia. 25 tháng 2 năm 2004.
  17. ^ Wikipedia đến một triệu bài viết“. Quỹ Hỗ trợ Wikimedia. 20 tháng 9 năm 2004.
  18. ^ Wikipedia xuất bản bài tiếng Anh thứ 500.000“. Quỹ Hỗ trợ Wikimedia. 18 tháng 3 năm 2005.
  19. ^ English Wikipedia Publishes Millionth Article“, Wikimedia Foundation, March 1, 2006
  20. ^ “Phát triển dùng khả năng tình nguyện”. 5 tháng 12 năm 2005. Đã bỏ qua tham số không rõ |org= (trợ giúp)
  21. ^ “Thống kê yêu cầu hàng tháng”. Quỹ Wikimedia. Truy cập 3 tháng 2, 2007.
  22. ^ a ă “Các máy chủ Wikimedia tại wikimedia.org”. Truy cập 6 tháng 2, 2007.

Liên kết ngoài

Wikimedia-logo-meta.png

Meta có thông tin liên quan tại:

 

Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính 
hoangkim vietnam, hoangkim, hoangkimvietnam, Hoàng Kim, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, foodcrops.vnCassava in Vietnam, Cassava News, VietnamAfricaCassavaRice, Khát khao xanh, DayvahocHọc mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, Câu chuyện ảnh, 5 phút thư giản, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con