Chào ngày mới 17 tháng 5


Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là ho-xuan-huong-kiet-tac-tho-han-nom.png

CHÀO NGÀY MỚI 17 THÁNG 5
Hoàng Kim
CNM365
Trời mưa trong mắt ai; Nguyễn Du trăng huyền thoại; Borlaug và Hemingway; Con đường di sản Lewis Clark; Sóng yêu thương vỗ mãi; Đối thoại nền văn hóa; Ngày 17 tháng 5 ngày Hiến pháp của Na Uy và Nauru, những chọn lọc kinh nghiệm cho Việt Nam. Ngày 17 tháng 5 năm 2019 Chiến tranh thương mại Hoa Kỳ – Trung Quốc tiếp tục leo thang với những động thái quyết liệt từ hai quốc gia. Ngày 17 tháng 5 năm 1742, Chiến tranh Silesia lần thứ nhất: Nhà vua nước Phổ Friedrich II Đại Đế đánh tan tác quân Áo trong trận đánh tại Chotusitz; Bài chọn lọc ngày 17 tháng 5:Trời mưa trong mắt ai; Nguyễn Du trăng huyền thoại; Borlaug và Hemingway; Con đường di sản Lewis Clark; Sóng yêu thương vỗ mãi; Đối thoại nền văn hóa; Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-17-thang-5/


TRỜI MƯA TRONG MẮT AI
Hoàng Kim

Trời mưa rây rây hạt
Mình trồng hoa tiếp thôi
Mồ hôi và mưa quyện
Yêu thương thấm mát người.

Nắng mưa là thời trời
Tốt lành là thế đất
Phước đức bởi lòng người
An nhiên mưa gió thổi.

Lắng nghe Lương Phủ ngâm (*)
Ngắm nhìn non nước đổi
Thung dung giấc ngủ trưa
Tỉnh thức trồng tiếp nối …

“Ngược gió đi không nản
Rừng thông tuyết phủ dày
Ngọa Long cương đâu nhỉ
Đầy trời hoa tuyết bay !” (**)

Ghi chú:
(*) Lương Phủ Ngâm
(thơ Gia Cát Lượng )

Một đêm gió bấc lạnh,
vạn dặm mây mịt mù
Trên không tuyết bay loạn,
biến đổi cả giang sơn.

Ngửa mặt nhìn trời cao,
thấy như rồng đang đấu
Trùng trùng sư tử bay,
chớp mắt biến vũ trụ.

Cưỡi lừa qua cầu nhỏ,
một mình than mai gầy.

Nguyên văn

一夜北风寒,
万里彤云厚.
长空雪乱飘,
改尽江山旧.

仰面观太虚,
疑是玉龙斗.
纷纷鳞甲飞,
顷刻遍宇宙.

骑驴过小桥,
独叹梅花瘦!

Phiên âm: Nhất dạ bắc phong hàn,
vạn lý đồng vân hậu. Trường không tuyết loạn phiêu,
cải tận giang sơn cựu. Ngưỡng diện quan thái hư,
nghi thị ngọc long đấu. Phân phân lân giáp phi,
khoảnh khắc biến vũ trụ. Kỵ lư quá tiểu kiều,
độc thán mai hoa sấu!

Mưa . Trời vẫn mưa và dần nặng hạt lên Tổ quốc ướt, anh khô làm sao nổi (thơ Nguyễn Lâm Cẩn). Trời mưa rây rây hạt Mình trồng hoa tiếp thôi Mồ hôi và mưa quyện Yêu thương thấm mát người. (thơ Hoàng Kim) https://hoangkimlong.wordpress.com/category/mua/

(**) Nhớ Đào Duy Từ
(Thơ Hoàng Kim)

TRỜI MƯA TRONG MẮT AI

NGUYỄN DU TRĂNG HUYỀN THOẠI
Hoàng Kim
1
Nguyễn Du thơ chữ Hán
Kiếm bút thấu tim Người
Đấng danh sĩ tinh hoa
Nguyễn Du khinh Thành Tổ
Bậc thánh viếng đức Hòa
2
Nguyễn Du tư liệu quý
Linh Nhạc thương người hiền
Trung Liệt đền thờ cổ
“Bang giao tập” Việt Trung
Nguyễn Du niên biểu luận
3
Nguyễn Du Hồ Xuân Hương
“Đối tửu” thơ bi tráng
“Tỏ ý” lệ vương đầy
Ba trăm năm thoáng chốc
Mại hạc vầng trăng soi.
4
Nguyễn Du Nguyễn Công Trứ
Uy Viễn “Vịnh Thúy Kiều”
Tố Như “Đọc Tiểu Thanh”
Bến Giang Đình ẩn ngữ
Thời biến nhớ người xưa.
5
Nguyễn Du thời Tây Sơn
Mười lăm năm tuổi thơ (1766 – 1780)
Mười lăm năm lưu lạc (1781 – 1796)
Thời Hồng Sơn Liệp Hộ (1797-1802)
Tình hiếu thật phân minh
6
Đi săn ở núi Hồng
Hành Lạc Từ bi tráng
Nguyễn Du ức gia huynh
Câu cá và đi săn
Ẩn ngữ giữa đời thường
7
Nguyễn Du thời Nhà Nguyễn
Mười tám năm làm quan (1802-1820)
Chính sử và Bài tựa
Gia phả với luận bàn
Bắc hành và Truyện Kiều
8
Nguyễn Du Phạm Quý Thích
Nguyễn Du khóc Tố Như
Nguyễn Du Kinh Kim Cương
Ba trăm năm thoáng chốc
Mai hạc vầng trăng soi.
9
Nguyễn Du và Truyện Kiều
Tâm tình và Hồn Việt
Tấm gương soi thời đại
Đi thuyền trên Trường Giang
Nguyễn Du trăng huyền thoại

Nguyễn Du trăng huyền thoại là nghiên cứu của Hoàng Kim. Vị thiền sư Linh Nhạc Phật Ý tại Tổ Đình chùa cổ Thủ Đức trong giấc mơ lạ Nguyễn Du nửa đêm đọc lại đã khuyên tôi lập “Nguyễn Du niên biểu luận” cuộc đời và thời thế Nguyễn Du để tìm hiểu về Người. Theo vị Thiền sư này thì dấu vết chứng cứ sự thật hàng năm của Nguyễn Du là chỉ dấu đáng tin cậy về những sự kiện trọng yếu của thời thế đã gợi ý chi phối thế xuất xử đối với bình sinh hành trạng Nguyễn Du, để chúng ta có thể hiểu đúng sự thật và huyền thoại về ông. Những sự kiện chính tại đàng Trong và đàng Ngoài với các nước liên quan hệ quy chiếu lấy chính Nguyễn Du và gia tộc của ông làm trung tâm là dẫn liệu thông tin thực sự có ích để thấu hiểu chính xác ẩn ngữ Truyện Kiều, lịch sử, văn hóa, con người, bối cảnh hình thành kiệt tác “300 năm nữa chốc mòng biết ai thiên ha khóc cùng Tố Như”

Tôi viết Nguyễn Du trăng huyền thoại cho những ai vốn thích Nguyễn Du và Truyện Kiều nhưng chỉ có sách Truyện Kiều và một ít bộ sách quý có liên quan mà chưa thể có thời gian đào sâu tìm hiểu về bộ kiệt tác văn chương Việt kỳ lạ này với những ẩn ngữ thời thế cuộc đời Nguyễn Du lắng đọng vào trang sách. Để giúp cho bạn đọc đỡ tốn công, tôi xin có ít lời hướng dẫn cách đọc chùm 9 bài này như sau. Đầu tiên bạn nên đọc bảng Mục lục chín bài viết này và minh định được mình đang đọc bài nào trong chín bài viết ấy; Thứ hai mời đọc ngay bài bảy mục 2 va 3 đó là Chính sử và Bài tựa/ Gia phả với luận bàn. Muốn hiểu thêm Nguyễn Du trăng huyền thoại cần tìm đọc những sách và tác giả giới thiệu trong bài và bài có sự định kỳ quay lại. Thứ ba Nguyễn Du là danh sĩ tinh hoa Việt Nam thời nhà Nguyễn Tổng luận Nguyễn Du và Truyện Kiều là suy ngẫm lắng đọng.

Nguyễn Du là danh sĩ tinh hoa Việt Nam thời nhà Nguyễn, là minh sư hiền tài lỗi lạc, là nhà thơ lớn danh nhân văn hóa thế giới, là một hình mẫu con người Việt Nam thuộc về văn hóa tương lai, là một tấm gương trong về phép ứng xử chí thiện, nhân đạo, minh triết giữa thời nhiễu loạn. Ông là tác giả của.Truyện Kiều và Bắc hành tạp lục bài học tâm tình Việt đã thấm sâu vào hồn Việt và lan tỏa khắp thế giới. Nguyễn Du sinh ngày 3 tháng 1 năm 1766, nhằm ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu, tại phường Bích Câu, ở Thăng Long, Hà Nội, mất ngày 16 tháng 9 năm 1820 nhằm ngày 10 tháng tám năm Canh Thìn.

Tổng luận Nguyễn Du và Truyện Kiều tóm tắt như sau

1. Nguyễn Du không chỉ là nhà thơ lớn, danh nhân văn hóa thế giới mà còn là danh sĩ tinh hoa, đấng anh hùng hào kiệt minh sư hiền tài lỗi lạc.

2. Nguyễn Du rất mực nhân đạo và minh triết, ông nổi bật hơn tất cả những chính khách và danh nhân cùng thời. Nguyễn Du vượt lên vinh nhục bản thân giữa thời nhiễu loạn, vàng lầm trong cát để trao lại ngọc cho đời. “Nguyễn Du là người rất mực nhân đạo trong một thời đại ít nhân đạo” (Joocjo Budaren nhà văn Pháp). Ông chí thiện, nhân đạo, minh triết, mẫu hình con người văn hóa tương lai. Kiều Nguyễn Du là bài học lớn về tâm tình hồn Việt. Truyện Kiều của Nguyễn Du đã thấm sâu vào hồn Việt và lan tỏa khắp thế giới.

3. Nguyễn Du quê hương và dòng họ cho thấy gia tộc họ Nguyễn Tiên Điền là dòng họ lớn đại quý tộc có thế lực mạnh “Triều đình riêng một góc trời/ Gồm hai văn võ, rạch đôi sơn hà”. Vị thế gia tộc Nguyễn Tiên Điền đến mức nhà Lê, họ Trịnh, nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn đều tìm mọi cách liên kết, lôi kéo, mua chuộc, khống chế hoặc ra tay tàn độc để trấn phản. Nguyễn Du để lại kiệt tác Truyện Kiều là di sản muôn đời, kiệt tác Bắc hành tạp lục 132 bài, Nam trung tạp ngâm 16 bài và Thanh Hiên thi tập 78 bài, là phần sâu kín trong tâm trạng Nguyễn Du, tỏa sáng tầm vóc và bản lĩnh của một anh hùng quốc sĩ tinh hoa, chạm thấu những vấn đề sâu sắc nhất của tình yêu thương con người và nhân loại. Đặc biệt “Bắc Hành tạp lục” và Truyện Kiều là hai kiệt tác SÁCH NGOẠI GIAO NGUYỄN DU sử thi và tuyên ngôn ngoại giao nhân nghĩa làm rạng danh nước Việt được ghi trong chính sử nhà Nguyễn và và ngự chế Minh Mệnh tổng thuyết

4. Nguyễn Du niên biểu luận, cuộc đời và thời thế là bức tranh bi tráng của một bậc anh hùng hào kiệt nhân hậu, trọng nghĩa và tận lực vì lý tưởng. Nguyễn Du đã phải gánh chịu quá nhiều chuyện thương tâm và khổ đau cùng cực cho chính ông và gia đình ông bởi biến thiên của thời vận”Bắt phong trần phải phong trần.Cho thanh cao mới được phần thanh cao“. Nguyễn Du mười lăm năm tuổi thơ (1765-1780) mẹ mất sớm, ông có thiên tư thông tuệ, văn võ song toàn, văn tài nổi danh tam trường, võ quan giữ tước vị cao nơi trọng yếu; người thân gia đình ông giữ địa vị cao nhất trong triều Lê Trịnh và có nhiều người thân tín quản lý phần lớn những nơi trọng địa của Bắc Hà. Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc (1781- 1796) Thời Hồng Sơn Liệp Hộ (1797-1802) là giai đoạn đất nước nhiễu loạn Lê bại Trịnh vong, nội chiến, tranh đoạt và ngoại xâm. Nguyễn Du và gia đình ông đã chịu nhiều tổn thất nhưng ông kiên gan bền chí, tận tụy hết lòng vì nhà Lê “Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn. Để lời thệ hải minh sơn. Làm con trước phải đền ơn sinh thành“. Nguyễn Du thời Nhà Nguyễn (1802- 1820) ra làm quan triều Nguyễn giữ các chức vụ từ tri huyên, cai bạ, cần chánh điện đại hoc sĩ, chánh sứ đến hữu tham tri bộ lễ. Ông là nhà quản lý giỏi yêu nước thương dân, Nguyễn Du để lại Truyện Kiều và “Bắc Hành tạp lục” không chỉ là kiệt tác sử thi và tuyên ngôn ngoại giao nhân nghĩa  làm rạng danh nước Việt mà còn là di sản lịch sử văn hóa mẫu mực của dân tộc Việt.

5. Minh triết ứng xử của Nguyễn Du là bậc hiền tài trước ngã ba đường đời là phải chí thiện và thuận theo tự nhiên “Tùy cơ, tùy vận, tùy thiên mệnh, tùy thời, tùy thế, lại tùy nghi” Nguyễn Du ký thác tâm sự vào Truyện Kiều là ẩn ngữ ước vọng đời người, tâm tình và tình yêu cuộc sống “Thiện căn cốt ở lòng ta, Chữ tâm kia mới thành ba chữ tài” .

6. Truyện Kiều có tầm ảnh hưởng rất sâu rộng đã trở thành hồn Việt, và là tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam được dịch ra hơn 20 thứ tiếng và trên 73 bản dịch. Giá trị tác phẩm Kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du có sự tương đồng với kiệt tác Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần.nhưng khác chiều kích văn hóa giáo dục và giá trị tác phẩm.

7. Nhân cách, tâm thế của con người Nguyễn Du đặt trong mối tương quan với Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh của thời đại Hậu Lê Trịnh – nhà Tây Sơn – đầu triều Nguyễn; khi so sánh với Tào Tuyết Cần là văn nhân tài tử của thời đại cuối nhà Minh đến đầu và giữa nhà Thanh thì vừa có sự tương đồng vừa có sự dị biệt to lớn.

8. Gia tộc của Nguyễn Quỳnh – Nguyễn Thiếp – Nguyễn Du tương đồng với gia tộc của Tào Tỷ – Tào Dần – Tào Tuyết Cần nhưng nền tảng đạo đức văn hóa khác nhau  Nhấn mạnh điều này để thấy sự cần thiết nghiên cứu liên ngành lịch sử, văn hóa, con người tác gia, bởi điều đó chi phối rất sâu sắc đến giá trị của kiệt tác.

9. Nguyễn Du trăng huyền thoại tư liệu 500 trang là vầng trăng soi thời đại Nguyễn Du. Tổng Mục lục chuyên luận gồm: Nguyễn Du thơ chữ Hán / Kiếm bút thấu tim Người/ Đấng danh sĩ tinh hoa/ Nguyễn Du khinh Thành Tổ/ Bậc thánh viếng đức Hòa/ Nguyễn Du tư liệu quý/ Linh Nhạc thương người hiền/ Trung Liệt đền thờ cổ/ “Bang giao tập” Việt Trung/ Nguyễn Du niên biểu luận/ Nguyễn Du Hồ Xuân Hương /“Đối tửu” thơ bi tráng/ “Tỏ ý” lệ vương đầy/ Ba trăm năm thoáng chốc / Mại hạc vầng trăng soi./ Nguyễn Du Nguyễn Công Trứ/ Uy Viễn “Vịnh Thúy Kiều”/ Tố Như “Đọc Tiểu Thanh” / Bến Giang Đình ẩn ngữ / Thời biến nhớ người xưa./ Nguyễn Du thời Tây Sơn/ Mười lăm năm tuổi thơ (1766 – 1780) / Mười lăm năm lưu lạc (1781 – 1796) / Thời Hồng Sơn Liệp Hộ (1797-1802) / Tình hiếu thật phân minh / Đi săn ở núi Hồng / Hành Lạc Từ bi tráng / Nguyễn Du ức gia huynh / Ẩn ngữ giữa đời thường/ Nguyễn Du thời Nhà Nguyễn / Mười tám năm làm quan (1802-1820)/ Chính sử và Bài tựa/ Gia phả với luận bàn / Bắc hành và Truyện Kiều/ Nguyễn Du Phạm Quý Thích / Nguyễn Du khóc Tố Như/ Nguyễn Du Kinh Kim Cương/ Ba trăm năm thoáng chốc/ Mai hạc vầng trăng soi./.Nguyễn Du và Truyện Kiều / Tâm tình và Hồn Việt/ Tấm gương soi thời đại / Đi thuyền trên Trường Giang/ Nguyễn Du trăng huyền thoại/

Tài liệu tham khảo chính

1. Nguyễn Du tiểu sử trong sách Đại Nam liệt truyện chính biên sơ tập Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, người dịch Đỗ Mộng Khương, người hiệu đính Hoa Bằng, Viện Sử học Việt Nam, Nhà Xuất bản Thuận Hóa, Huế 2006, trang 400 /716 Tập 2

Nguyễn Du

Người huyện Nghi Xuân, trấn Hà Tĩnh, là con Xuân Quận Công đời Lê Nguyễn Nhiễm, và là em Tham tụng Nguyễn Khản; Du là con nhà tướng, có văn tài sẵn khí tiết, không chịu theo giặc. Gia Long sơ, bổ làm Tri phủ Thường Tín, rồi vì ốm xin cáo từ;Năm thứ 5, triệu bổ Đông các học sĩ; Năm thứ 8 ra làm Cai bạ Quảng Bình, trị dân có chính tích; Năm thứ 12, thăng Cần chính điện học sĩ, sung Chánh sứ sang nước Thanh tuế cống, đến khi về thăng Hữu tham tri bộ Lễ

Minh Mạng năm thứ 1, lại có mệnh đi sứ, chưa đi thì chết. Thánh Tổ Nhân Hoàng đế rất tiếc, cho 20 lạng bạc, hai cây gấm tàu, khi đưa quan về cho thêm 300 quan tiền. Du là người ngạo nghễ tự phụ, mà bề ngoài tỏ ra kính cẩn, mỗi khi vào yết kiến có vẻ sợ hãi như không nói được. Vua thường bảo rằng: Nhà nước dùng người, chỉ cần người hiền, vốn không phân biệt Nam Bắc, ngươi cùng với Ngô Vị đã được đối đãi hậu, làm quan đến Á khanh, nên biết thì phải nói để hết chức phận, khá nên do dự rụt rè chỉ cốt vâng dạ làm gì”.

Du rất giỏi về thơ, làm thơ quốc âm rất hay, khi sang sứ nước Thanh về, có tập thơ “Bắc hành” và truyện “Thúy Kiều”lưu hành ở đời. Du trước vì gia thế làm quan nhà Lê, gặp loạn Tây Sơn không có chí lại ra giúp đời nữa, còn tự ý đi chơi săn bắn núi Hồng Sơn, 99 ngọn vết chân hầu khắp. Khi bị lệnh triệu không thể từ được mới ra làm quan, thường phải chịu khuất với cấp trên, lấy làm uất ức bất đắc chí . Đến khi bệnh kịch, không chịu uống thuốc, sai người nhà mở duỗi chân tay, nói đã lạnh cả, Du bảo rằng: “Tốt”, nói xong thì chết, không nói một câu nào đến việc sau khi chết. Du có hai em là Thảng và Sóc đều có tài nghệ hiển đạt. Thảng chữ viết chân phương, có tiếng viết tốt, lúc đầu sung vào viện Hàn lâm, khoảng năm Minh Mạng thăng thị lang bộ Công           

2. Bài tựa của Bùi Kỷ trong sách Nguyễn Du Truyện Thúy Kiều, Bùi Kỷ Trần Trọng Kim hiệu khảo Nhà xuất bản Tân Việt 1968.

Quyển truyện Thúy Kiều này là một quyển sách kiệt-tác làm bằng quốc-âm ta. Người trong nước từ kẻ ngu-phu ngu-phụ cho chí người có văn-học, ai cũng biết, ai cũng đọc, mà ai cũng chịu là hay. Một quyển sách có giá-trị như thế, mà chỉ hiềm vì các bản in ra, có nhiều bản không giống nhau, rồi có người lại tự ý mình đem chữa đi, chữa lại, thành ra càng ngày càng sai-lầm nhiều thêm ra. Mới đây những bản in bằng quốc-ngữ, tuy có dễ đọc và dễ xem hơn trước, nhưng chưa thấy có bản in nào thật chính đáng, những điều sai lầm vẫn còn như các bản chữ Nôm cũ, mà chữ Quốc ngữ viết lại không được đúng, và những lời giải-thích cũng không kỹ càng lắm. Chúng tôi thấy vậy, mới nhặt nhạnh các bản cũ, rồi so sánh với các bản mới để hiệu chính lại cho gần được nguyên văn. Chúng tôi lại hết sức tìm tòi đủ các điển tích mà giải thích cho rõ ràng, để ai xem cũng hiểu, không phải ngờ điều gì nữa.

Hiện nay tập nguyên văn của tácgiả làm ra thì không tìm thấy nữa, chỉ có hai bản khác nhau ít nhiều, là bản Phường, in ở phố hàng Gai, Hà Nội, và bản Kinh của vua Dực Tông bản Triều đã chữa lại.

Bản Phường là bản của ông Phạm Quí Thích đem khắc in ra trước hết cả. Ông hiệu là Lập Trai, người làng Huê Đường (nay đổi là làng Lương Đường) phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương, đỗ tiến sĩ về cuối đời Lê, cùng với tác-giả là bạn đồng thanh đồng khí, cho nên khi quyển truyện này làm xong thì tác giả đưa cho ông xem. Chắc cũng có sửa-đổi lại một vài câu, nhưng xem lời văn thì chỗ nào cũng một giọng cả. Vậy nên chúng tôi thiết tưởng rằng lấy bản Phường làm cốt, thì có lẽ không sai lầm là mấy. Còn những chỗ mà bản Kinh đổi khác đi, hoặc những câu mà về sau người ta sửa lại, thì chúng tôi phụ lục cả ở dưới, để độc giả có thể xem mà cân nhắc hơn kém. Lại có một vài chữ người ta muốn đổi đi, nhưng không đúng với các bản Nôm cũ, thì chúng tôi cũng thích xuống dưới, chứ không tự tiện mà đổi nguyên-văn đi. Chủ-ý của chúng tôi là muốn giữ cho đúng như các bản cũ, chứ không muốn làm cho hay hơn.

Truyện Thúy Kiều này nguyên lúc đầu tác giả nhan đề là “ĐOẠN-TRƯỜNG TÂN-THANH” 斷腸新聲.  Sau nghe đâu ông Phạm Quí Thích đổi lại là “KIM VÂN KIỀU TÂN-TRUYỆN “金雲翹新傳. Nhưng vì trong truyện chỉ có Thúy Kiều là vai chính, còn Kim Trọng và Thúy Vân là vai phụ cả. Nếu đề như vậy, thì e không hợp lẽ. Vả chăng tục thường gọi là Truyện Kiều, thì chi bằng ta cứ theo thói thường mà nhan đề là Truyện Thúy Kiều, rồi ở dưới đề thêm tên cũ ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH”, gọi là để tỏ cái ý tồn cổ. Song đấy là nói về phần hình-thức ở bề ngoài, còn về phần tinh thần văn chương trong truyện Thúy Kiều, thì sau này chúng tôi sẽ đem ý kiến riêng mà bày tỏ ra đây, họa may có bổ ích được điều gì chăng. Vậy trước hết xin lược thuật cái tiểu sử của tác giả để độc giả hiểu rõ tác giả là người thế nào.

Tác-giả húy là Du 攸, tự là Tố-Như 素如, hiệu là Thanh-Hiên 清軒, biệt hiệu là Hồng-Sơn Liệp-hộ 鴻山獵戶, quán tại làng Tiên-Điền, huyện Nghi-Xuân, tỉnh Hà-Tĩnh, con thứ bảy ông Hoàng-giáp Xuân-Quận-công Nguyễn Nghiễm, làm thủ-tướng Lê-triều. Bác ruột là ông Nguyễn Huệ cùng anh là ông Nguyễn Khản đều đỗ tiến-sĩ, làm quan đồng thời. Ông Nguyễn Khản làm đến Lại-bộ Thượng-thư, sung chức Tham-tụng. Còn người anh thứ hai là Điều-nhạc-hầu, húy là Điều, làm Trấn-thủ Sơn-Tây. Cả nhà, cha con, chú bác, anh em, đều là người khoa-giáp, làm quan to đời nhà Lê. Tố-Như tiên-sinh là con bà trắc-thất, người huyện Đông-Ngạn, tỉnh Bắc-Ninh, tên là Thấn 殯. Bà sinh được bốn người con trai tên là Trụ 伷, Nệ 儞, Du 攸 (tức là tiên-sinh) và Ức 億. Tiên-sinh sinh vào ngày nào, thì nay ta không rõ, chỉ biết vào năm ất-dậu là năm Cảnh-Hưng thứ 26 (1765), nghĩa là vào đời Lê-mạt.

Xem gia-thế nhà tiên sinh, thì tiên sinh là dòng dõi một nhà thế phiệt trâm anh đệ nhất trong nước lúc bấy giờ. Không rõ tiên sinh thụ nghiệp ai, có lẽ là học tập phụ huynh trong nhà. Tiên sinh thuở còn trẻ thiên tư dĩnh ngộ, năm 19 tuổi đã đỗ ba trường, tức là đỗ tú tài. Tiên sinh là người có khí tiết, gặp khi trong nước có biến, nhà Nguyễn Tây Sơn dấy lên, nhà Lê bại vong, tiên sinh đã nhiều phen lo toan sự khôi phục, nhưng vì sự không thành, bỏ về quê ở, lấy sự chơi bời săn bắn làm vui thú. Trong vùng chín mươi chín ngọn núi Hồng Lĩnh không có chỗ nào là chỗ tiên sinh không đi đến. Phải thời quốc phá gia vong, tiên-sinh đã toan bỏ việc đời ra ngoài tai, đem cái thân thế mà vui với non sông. Ấy là cái chí của tiên sinh đã định như thế, nhưng đến khi vua Thế Tổ Cao Hoàng bản Triều đã thống-nhất được giang sơn, có ý muốn thu phục lòng người miền Bắc, xuống chiếu trưng triệu những nhà dòng dõi cựu thần nhà Lê ra lục dụng. Tiên sinh phải triệu ra làm quan, hai ba lần từ chối không được. Năm Gia Long nguyên-niên (1802), tiên sinh phải ra làm tri huyện huyện Phù Dực, (nay thuộc tỉnh Thái-Bình). Được ít lâu bổ đi Tri phủ Thường Tín. Sau tiên-sinh cáo bệnh xin về. Đến năm Gia Long thứ năm (1806) lại phải triệu vào Kinh thụ chức Đông các học sĩ. Năm thứ tám (1809) bổ ra làm Cai Bạ (tức là Bố chính) Quảng-Bình. Năm thứ 12 (1813) thăng lên làm Cần chính điện học sĩ, sung chức chánh sứ sang cống Tàu. Đến khi về, được thăng Lễ bộ Hữu tham tri. Năm Minh Mệnh nguyên niên (1820) lại có chỉ sai tiên sinh đi sứ Tàu lần nữa, nhưng chưa kịp đi thì phải bệnh mất.

3. Gia phả họ Nguyễn ở Tiên Điền trang 73-81. (có ba trang tiếng Việt và 6 trang tiếng Hán Nôm). Trong sách Lê Xuân Lít 2005. “200 năm nghiên cứu bàn luận truyện Kiều” Nhà Xuất Bản Giáo Dục ,1995 trang

Gia phả họ Nguyễn ở Tiên Điền
Thanh Hiên Công – Con thứ Bảy (Nguyễn Du)
Nguồn: Lê Xuân Lít 2005. Hai trăm năm nghiên cứu bàn luận Truyện Kiều Nhà Xuất bản Giáo Dục, 1995 trang ‘Tôi tin rằng các độc giả sẽ tìm thấy trong tập sách này tất cả những kết quả tiêu biểu nhất mà giới nghiên cứu và phê bình văn học đã thu được trong thời gian hai trăm năm kể từ khi Truyện Kiều ra đời’ (GS Cao Xuân Hạo); Gia phả cụ Nguyễn Du ở trang 73-81 của sách này, gồm 3 trang bản dịch tiếng Việt và 6 trang bản Hán Nôm; Nguyễn Thị Thanh Xuân (dịch) Tài liệu lưu trữ tại Viện Hán Nôm.

Công tên húy là Du , lúc nhỏ húy Du, tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, sinh năm Ất Dậu (1765) do bà Liệt phu nhân họ Trần sinh ra. Ba tuổi được phong ấm Hoằng Tín đại trung thành môn vệ úy xuất thân Thu Nhạc công. Ông dung mạo khôi ngô, lúc nhỏ Việp Quận công trông thấy lấy làm lạ ban cho bảo kiếm. Năm lên sáu , sách vở đọc qua một lượt là nhớ. Năm Quý Mão (1783) 19 tuổi dự khoa thi Hương ở trường Sơn Nam đỗ Tam trường. Xưa kia môn hạ của Trung Cẩn công là Hà Mỗ làm Chánh Thủ hiệu quân Hùng hậu ở Thái Nguyên , già rồi không có con muốn xin ông làm hậu tự. Trung Cẩn công đồng ý. Khi Hà Mỗ mất thì ông được tập chức của Hà Mỗ. Năm Kỷ dậu (1789) vua Lê chạy sang phương Bắc ông theo hộ giá không kịp, bèn trở về quê vợ, nương nhờ anh vợ là Đoàn Khắc Tuấn (Bàn gia phả chép nhầm. Phải là Đoàn Nguyễn Tuấn mới đúng, Người dịch NTTX viết), người Hải An, Quỳnh Côi, Sơn Nam là con Hoàng giáp Phó đô ngự sử Quỳnh Châu bá Đoàn Nguyễn Thục; (Đoàn Nguyễn Tuấn) tuổi trẻ lãnh giải nguyên kỳ thi Hương, nổi tiếng văn chương, làm quan đến Lại bộ Tả thị lang thời Tây Sơn, tước Hải Phái hầu; (Nguyễn Du) tập hợp hào mục để mưu đồ báo quốc, nhưng chí không đạt được , bèn quay về quê hương, yên vui với sơn thủy, tự đặt hiệu là Hồng Sơn Liệp Hộ, lại hiệu là Nam Hải Điếu Đồ. Mùa đông năm Bính Thìn (1796) toan đi Gia Định , nhưng việc bị tiết lộ, bị tướng trấn thủ là Thận Quận công bắt giữ. Lòng trung nghĩa của ông khích phát thành thơ, có câu rằng: “Hán mạt nhất thời vô nghĩa sĩ. Chu sơ tam kỷ hữu ngoan dân”. Lại có câu: “Đản đắc kỳ tây thánh nhân xuất, Bá Di tuy tử bất vi nhân”. Thận Quận công vốn quen thân với Quế Hiên công là anh ruột của ông nên chỉ bắt giữ vài tháng rồi thả ông về. Mùa hạ năm Nhâm Tuất (1802) tháng sáu, Cao hoàng đế đến Nghệ An , ông đáp lời triệu ra yết kiến vua, phụng mệnh xuất thủ hạ hộ giá ra Bắc. Mùa thu tháng tám , được nhậm chức Tri huyện huyện Phù Dung (thuộc phủ Mục Bình, Khoái Châu, Sơn Nam) Tháng mười một thăng Tri phủ phủ Thường Tín (thuộc xứ Sơn Nam) Mùa đông năm Quý Hợi (1803), (Y sao trang đầu, còn nữa …)

(tiếp theo) sứ giả nhà Thanh đến sắc phong, ông phụng mệnh cùng đi với Tri phủ Thượng Hồng là Lý Trần Chuyên, Tri phủ Thiên Trường là Ngô Nguyễn Viên, Tri phủ Tiên Hưng là Trần Lưu, đến trấn Nam Quan nghênh tiếp, thơ từ tiễn tặng lúc sứ thần trở về đều do ông soạn thảo. Mùa thu năm Giáp Tý (1804) vì bị bệnh xin từ chức về quê, được hơn một tháng lại có lệnh triệu lên kinh. Mùa xuân năm Đinh Sửu (1805) tháng giêng thăng Đông Các học sĩ, tước Du Đức hầu. Tháng chín mùa thu năm Đinh Mão (1807) được lệnh làm giám khảo trường thi Hương ở Hải Dương . Tháng tám mùa thu năm Mậu Thìn (1808), xin phép nghỉ về quê , được vua ban một trăm quan tiền, một trăm phương thóc. Mùa hạ năm Kỷ Tỵ (1809) tháng tư, được vua chuẩn ban Cai bạ doanh Quảng Bình. Các việc công trong hạt như bình dân , kiện tựng, tiền lương, thuế má … cho phép phối hợp với lưu thủ, ký lục trong hạt bàn bạc rồi thi hành. (Nước ta thoạt đầu đặt Quảng Nam, Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Bình là Trực Lệ, mỗi doanh có một viên lưu thủ , một viên ký lu5ccu4ng như chức trấn thủ, hiệp trấn, tham hiệp… của các trấn. Nay các doanh trấn đều cải là tỉnh: Quảng Đức doanh đổi thành Thừa Thiên phủ tỉnh, đặt chức Bố chánh, Án sát. Còn chức Phủ doãn , Phủ thừa của phủ Thừa Thiên trước đều bãi bỏ. ).

Ông làm quan được bốn năm , vi chính giản dị, không cầu tiếng tăm, sĩ dân đều tin yêu. mùa thu năm Nhâm Thân (1812) tháng chín, xin nghỉ phép về quê 2 tháng xây phần mộ của Quế Hiên công (Nguyễn Đề) . Tháng 12 được chiếu lệnh triệu đến kinh. Mùa xuân năm Quý Dậu (1813) tháng hai, thăng Cần chánh điện học si4ro62i được vua ban chức Chánh sứ tuế cống bộ, cùng với Phó sứ là Lại bộ Thiêm sự Đàm Ân hầu, Phong Đăng hầu cùng đi sứ phương Bắc. Mùa hạ năm Giáp Tuất (1814) tháng tư (năm đó có trước tác tập Bắc hành tạp lục) trở về nước ông đến kinh phụng mệnh. Tháng sáu được đồng ý cho nghỉ phép sáu tháng. Tháng 12 đến kinh. Mùa hạ tháng 5 năm Ất Hợi (1815) vì được văn giai tấu cử nên được thăng Lễ bộ Hữu Tham Tri. Mùa thu tháng 8 năm Ất Mão (1819) được cử làm Đề điệu trường thi Hương ở Quảng Nam , ông cố khước từ nên được miễn. Năm Canh Thìn (1820) vua Minh Mệnh Nhân hoàng đế lên ngôi, ngự bút viết thư riêng cử ông làm Chánh sứ cầu phong bộ. Chưa kịp đi thì bị bệnh , mất tại kinh đô ngày 10 tháng tám (16.9.1820) là ngày 10 tháng tám năm Canh Thìn niên hiệu Minh Mệnh , hưởng thọ 56 tuổi. Được tin vua thương xót , ban cho thụy là Trung Thanh, cho ân tuất. Lại cho thêm 24 lạng bạc, 2 tấm gấm màu, 30 cân nến sáp, 300 cân dầu. Hoàng mẫu, hoàng đệ cùng các văn quan đều đến phúng điếu. Câu đối liễn của các quan ở kinh có những câu: “Nhất đại tài hoa, vi sứ vi khanh, sinh bất thiêm; bách niên sự nghiệp, tại gia tại quốc, tử do vinh”. Lại có câu: “Nhất viện cầm tôn nhân ký khứ, đại gia văn tự thế không truyền” (Y sao trang hai, còn nữa…)

(tiếp theo và hết) Giờ phút lâm chung , em ruột ông là Thiêm sự Sóc Nhạc hầu và cháu là Hàn lâm viện Thắng Đức bá đều có mặt ở kinh . Lễ an táng được tiến hành ngay trong tháng đó, mộ tại cánh đồng Bào Đá, xã An Ninh, huyện Quảng Điền. Mùa hạ năm Giáp Thân (1824) con trai thứ là Ngũ đến kinh xin đem về quê quy táng. Vua ban cho 300 quan tiền công và cho dời mộ về địa phận xứ Đồng Ngang thuộc giáp cũ của bản xã (có bút phê). Ông học rộng, nhớ nhiều, sở trường về thơ. Trong số được mệnh danh là “An Nam ngũ tuyệt” thì ông và người cháu là Nam Thúc đã chiếm hai ngôi rồi. Khi ở Huế những lúc rãnh việc công , ông thường tập hợp văn sĩ và học trò như Trương Đăng Quế, Nguyễn Đăng Giai, phần lớn là các danh thần. Tác phẩm của ông có Thanh Hiên tiền hậu tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lụcLê Quý kỷ sự (?) (bắt đầu từ năm Đinh Dậu niên hiệu Cảnh Hưng(1777) kết thúc năm Chiêu Thống Kỷ Dậu (1789) trước sau 13 năm). Về những kiệt tác bằng Quốc âm thì đây đó có lưu truyền, nhưng Đoạn trường tân thanh thì được khắp nước truyền tụng. Còn đến như cầm , kỳ, thư, họa… không món nào không tinh diệu. Lại thông binh pháp, giỏi võ nghệ, tính người khiêm tốn, tuy ở ngôi vị á khanh nhưng thanh bạch như hàn sĩ. Nhân hoàng đế khi duyệt thơ văn của ông, thấy trong tập thơ Bắc sứ có bài đề Hoài Âm hầu từ có câu : “Thối thực, giãi y nan bội đức. Tàng cung, phanh cẩu diệc cam tâm” thường khen ngợi lòng trung nghĩa , muốn trọng dụng ông nhưng ông đã mất. Nếu như họ Nguyễn người Bắc mà còn thì trẫm phong cho chức Hiệp biện. Quan Lễ bộ Thượng thư Hưng Nhượng hầu thường nói với mọi người rằng: Khó mà có được một người đối với đồng sự thành kính động lòng người đến như thế.

Vợ chính họ Đoàn người Quỳnh Côi, Hải An (xưa thuộc Sơn Nam, nay thuộc Thái Bình) là con thứ sáu của Đoàn công, Hoàng giáp Phó Đô ngự sử Quỳnh Châu bá, bà sinh con trai tên Tứ tự là Hạo Như có văn học. Năm Quý Dậu (1813) , bà theo ông đi sứ phương Bắc, về nước được vài năm bị bệnh mất; bà sinh được một gái , gã cho Tú tài Ngô Cảnh Trân , người ở Trảo Nha, Thạch Hà.

Nguyễn Thị Thanh Xuân (dịch)
(Tài liệu lưu trữ tại Viện Hán Nôm)

Hoàng Kim 7 tháng 11, 2016, 2018

Nguyễn Du niên biểu luận
NGUYỄN DU NHỮNG SỰ THẬT MỚI BIẾT
Hoàng Kim


Nguyễn Du những sự thật mới biết soi sáng nhiều góc khuất lịch sử. Với những phát hiện mới về cuộc đời và thời thế Nguyễn Du được chính ông dùng nhân cách và kiệt tác của mình để trao lại ngọc quý cho đời, bản đồ Hình thể đàng Trong đàng Ngoài năm 1760, khối hồ sơ chính biên của triều Nguyễn và Bang giao hảo thoại. Tài liệu nghiên cứu lịch sử này góp phần vén bức màn sự thật thời Tây Sơn. Tài liệu này cũng thêm tư liệu tương quan để thấu hiểu Bí mật kho báu trên đỉnh Tuyết Sơn, không chỉ giúp tư liệu đánh giá ba vấn đề lớn tồn nghi trong lịch sử: 1) Ngoại giao thời vua Càn Long với nhà Tây Sơn. 2) Lý Tự Thành và kho báu nhà Minh. 3) Vì sao Trung Quốc quyết không cho Tây Tạng tự trị?

(Bản đồ Hình thể Đại Việt đàng Trong đàng Ngoài năm 1760 (ảnh 1) khối hồ sơ chính biên của triều Nguyễn và Bang giao hảo thoại tiết lộ tài liệu chiếu vua Càn Long gửi Tôn Sĩ Nghị (ảnh 2) và Lê Chiêu Thống đón quân Thanh (ảnh 3)

Tôn Sĩ Nghị khi kéo sang Đại Việt, sai Lê Quýnh, Nguyễn Quốc Đống về tâu lại với Chiêu Thống. Vua bấy giờ mới biết, bèn cho Tham tri chính sự Lê Duy Đản và Hàn lâm hiệu thảo Trần Danh Án đi đường tắt lên đón quân nhà Thanh Quân Thanh tiến qua biên giới, tại Lạng Sơn, Phan Khải Đức ra hàng khi thấy quân lính dưới quyền trốn mất, còn Nguyễn Văn Diễm rút vội về Kinh Bắc hợp với Trấn thủ Nguyễn Văn Hoà chống giữ và đưa thư cáo cấp về Thăng Long . Theo thư Lê Chiêu Thống gửi cho Tôn Sỹ Nghị, tổng số quân Tây Sơn đóng ở miền Bắc khoảng 6 vạn quân, trong đó có 3 vạn quân địa phương không có lòng chiến đấu.

Ngô Văn Sở được tin quân Thanh kéo sang liền nhóm họp các văn võ quan nhà Lê Trung Hưng đưa một bức thư ký tên Giám Quốc Sùng Nhượng Công, Lê Duy Cẩn sang xin hoãn binh với Tôn Sĩ Nghị. Các tướng Tây Sơn mở cuộc thảo luận. Nhiều người bàn dùng phục binh đánh quân Thanh như Lê Lợi diệt tướng Minh là Liễu Thăng, Lương Minh trước đây, duy Ngô Thì Nhậm chủ trương kế hoạch, nhử quân Thanh vào sâu nội địa, thủy quân rút về Biện Sơn trước, lục quân kéo vào đóng giữ núi Tam Điệp rồi báo tin vào cho Bắc Bình Vương. Chiến lược này được chấp thuận, binh sĩ các đạo đều được lệnh về hội ngay dưới cờ của Tiết Chế Ngô Văn Sở tại bờ sông Nhị vào năm hôm sau. Sở bàn kế hoạch lui quân. Ngô Văn Sở phái tướng Phan Văn Lân đưa hơn 10 ngàn quân tinh nhuệ chốt giữ bến đò Xương Giang chặn quân Tôn Sĩ Nghị. Quân Tây Sơn vượt sông Nguyệt Đức đánh vào quân Thanh đang đóng ở núi Tam Tầng, bao vây doanh trại của Tôn Sĩ Nghị. Súng của quân Thanh và cung tên từ hai cánh tả hữu bắn ra như mưa, quân Tây Sơn chết rất nhiều. Tôn Sĩ Nghị lại phái một toán kỵ binh từ mạn thượng lưu vượt qua sông đánh úp lấy đồn Thị Cầu. Đồn này phát hỏa, Văn Lân cả sợ rút về.

Lê Chiêu Thống được tin quân Tây Sơn rút khỏi các trấn, bèn điều các tướng dưới quyền đi chiếm lại những nơi đó. Giữa tháng 11 năm 1788, quân Thanh tới bờ bắc sông Thương. Quân Tây Sơn rút về bờ nam nhưng chặt phá hết cầu và lấy hết thuyền bè. Theo sách Thánh vũ ký, phần “Càn Long chinh phủ An Nam ký” của Ngụy Nguyên, quân Thanh đã tổn thất khá nhiều mới bắc được cầu qua sông do đạn của quân Tây Sơn bắn sang trước khi rút hẳn. Quân Thanh tiến đến Thị Cầu, Phan Văn Lân đã chặt cầu và tận dụng bờ nam cao hơn bờ bắc mà bắn đại bác sang khiến quân Thanh mất 3 ngày (15 đến 17 – 11) không bắc nổi cầu. Nửa đêm 17 tháng 11, Phan Văn Lân mang một ngàn quân bản bộ theo khúc sông Cầu định tập kích trại Tôn Sĩ Nghị nhưng bị thiệt hại do hoả lực của quân Thanh bắn ra. Sau đó Văn Lân đụng độ tướng Thanh là Trương Triều Long ở Tam Tằng. Theo Hoàng Lê nhất thống chí, Quân Tây Sơn ít và yếu thế bại trận, nhiều người bị rét cóng hay chết đuối lúc vượt sông, quân Tây Sơn chết gần hết, phải rút lui. Trong khi đó, lục quân của Ngô Văn Sở cũng rút về tới Ninh Bình cố thủ. Ngày 20 tháng 11, quân Tây Sơn đóng đồn từ Tam Điệp tới Biện Sơn, Ngô Văn Sở cho đô đốc Tuyết vào nam cấp báo với Bắc Bình vương Nguyễn Huệ.

Tôn Sĩ Nghị từ Tam Tằng tiến vào Thăng Long. Lê Duy Kỳ từ Kinh Bắc ra đón rồi cùng theo vào kinh thành. Không lâu sau, các đạo quân Vân – Quý và Điền châu cũng tiến vào hội binh. Theo các nhà nghiên cứu[12], cuộc hành quân của Tôn Sĩ Nghị từ 28/10 tới 20/11 tức là mất 22 ngày mới tới Thăng Long, lâu hơn nhiều so với thời gian 6 ngày mà Nghị từng dự liệu với Càn Long. Ngày 21 tháng 11 năm Mậu Thân (1788), thành Thăng Long bỏ ngỏ, quân của Nghị vào đóng và tướng doanh của Nghị đặt tại Tây Long Cung. Theo lời vua Thanh dặn, Sĩ Nghị lấy xong thành này rồi trao ấn cho Duy Kỳ, tấn phong làm An Nam quốc vương lấy lòng dân Đại Việt. Ngày 22, Sĩ Nghị làm lễ ở điện Kính Thiên để làm lễ sách phong cho vua Lê Chiêu Thống. Tôn Sĩ Nghị tính chuyện truy kích Nguyễn Huệ nhưng Tôn Vĩnh Thanh tâu là Quảng Nam xa cách đô thành nhà Lê 2.000 dặm, dùng quân 1 vạn người thì phải cần 10 vạn phu vận tải, cũng bằng từ Trấn Nam Quan đến thành họ Lê. Các bề tôi văn võ nhà Lê xin Nghị cho quân tiến đánh ngay quân Nguyễn Huệ nhưng Nghị không nghe, truyền cho các cánh quân hạ trại nghỉ ngơi, định ngày mồng 6 Tết mới ra quân. Sách Cương mục viết: “Bấy giờ hào kiệt bốn phương đua nhau trổ sức để làm việc, nhưng nhà vua chủ yếu chỉ dựa vào người Thanh. Khi chia ban quan chức, nhà vua chỉ trao cho các bầy tôi đi theo hộ giá và theo hầu ở hành tại, còn cựu thần và hào kiệt đều không được bổ dùng. Các bầy tôi cũng không ai nói đến việc ra quân để phục thù. Trong kinh và ngoài các trấn thảy đều chán nản và rời rạc. Cái cơ thành hay bại chỉ một mực tùy theo người Thanh mà thôi. Thế là việc nước không thể xoay xở được nữa”.

Tôn Sĩ Nghị bố trí quân Thanh đóng ở phía nam tới phía tây thành Thăng Long, cho đạo quân Lưỡng Quảng đóng hai bên bờ sông Hồng, quân Điền châu đóng ở Khương Thượng, quân Vân Quý đóng ở Sơn Tây.Theo Hoàng Lê nhất thống chí và Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục của nhà Nguyễn, quân Thanh ở Thăng Long chểnh mảng phòng thủ, thường đi cướp bóc hãm hại dân Đại Việt nên bị oán ghét. Lê Duy Kỳ thực hiện thanh trừng những người hợp tác với Tây Sơn. Theo Đại Nam thực lục, Nguyễn Ánh ở Gia Định nghe tin quân Thanh vào Thăng Long cũng sai Phan Văn Trọng và Lâm Đồ mang thư và chở 50 vạn cân gạo ra cho quân Thanh nhưng giữa đường bị bão biển, cả người và gạo đều bị đắm hết. Tôn Sĩ Nghị lúc đầu chủ quan, nhưng sau nghe lời cảnh báo của các tướng dưới quyền Lê Duy Kỳ cũng tăng cường phòng thủ và quyết định ngày 6 tháng Giêng sẽ ra quân đánh Tây Sơn. Tôn Sỉ Nghị bố trí đồn Ngọc Hồi ở Thanh Trì (Hà Nội), đồn Hà Hồi ở Thường Tín (Hà Nội), đồn Nhật Tảo ở Duy Tiên (Hà Nam) và đồn Nguyệt Quyết huyện Thanh Liêm (Hà Nam). Quân Cần vương của Duy Kỳ do Hoàng Phùng Tứ chỉ huy cũng được điều từ Sơn Tây xuống Gián Khẩu làm tiền đồn chặn quân Tây Sơn. Quân Thanh đồng thời cũng tụ tập thêm được các Hoa Kiều sống ở phía Bắc Đại Việt được chừng một vạn người đóng thành một trại, nhóm quân này ỷ thế đi cướp phá, và hãm hiếp không kiêng sợ gì ai. Dù Tôn Sĩ Nghị có ra sắc lệnh nghiêm quân kỷ nhưng vì quân kiêu nên cũng không có tác dụng lắm.

Nguyễn Huệ ở Bình Sơn, Phú Xuân nhận được tin cấp báo của đô đốc Tuyết ngày 24 tháng 11. Ngay hôm sau 25 tháng 11, Nguyễn Huệ đã quyết định lên ngôi Hoàng Đế, đổi niên hiệu là Quang Trung, và ngay hôm ấy lập tức đưa quân lên đường tiến gấp ra Bắc. Đến Nghệ An, Nguyễn Huệ đóng lại hơn 10 ngày để tuyển thêm quân, cứ 3 suất đinh lấy 1 suất lính. Sau 1 thời gian ngắn, ông đã có thêm hơn hàng vạn người. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, số quân cũ và mới của Quang Trung là 10 vạn và hơn 100 voi chiến. Nguyễn Huệ tuyển quân Thanh Nghệ làm đạo Trung quân cùng bốn đạo Tiền, Hậu, Tả, Hữu của cựu binh Thuận Quảng gấp đường tiến ra Bắc. Về thái độ của dân chúng, sử gia Nguyễn Khắc Thuần trong sách Đại cương Lịch sử cổ trung đại Việt Nam ghi thì thanh niên địa phương nô nức gia nhập hàng ngũ Tây Sơn còn theo sử gia Tạ Chí Đại Trường trong sách Lịch sử nội chiến Việt Nam 1771- 1802 thì trích trong thư giáo sĩ Longer là người đương thời gởi cho Julliard cho biết quân Tây Sơn bắt lính “gay gắt đến nỗi người ta không biết trốn vào đâu để tránh quân dịch. Các kẻ sai nha đem chó theo để tìm người trong khu rừng bên cạnh như người ta tìm thú: người ta lấy dao xỉa vào các đống rơm dùng để đun nấu”. Vua Quang Trung tổ chức duyệt binh và tiến ra bắc. Ngày 20/12, vua Quang Trung tiến đến Tam Điệp và tán thành chủ trương rút lui của Ngô Thì Nhậm. Theo sách Lê triều dã sử, sở dĩ quân Tây Sơn hành quân nhanh chóng vì Nguyễn Huệ đã bố trí 3 người 1 tốp thay nhau 2 người cáng 1 đi suốt ngày đêm. Theo Quân doanh kỳ lược của Trần Nguyên Nhiếp (là bí thư dưới quyền Tôn Sĩ Nghị), nghe tin thám tử quân Thanh các nơi chạy về báo Nguyễn Huệ đang lấy thêm lính Thanh – Nghệ và sắp đánh ra bắc, Tôn Sĩ Nghị vội cho quân tập dượt để chuẩn bị tác chiến, sai phó tướng Hứa Thế Hanh trực tiếp chỉ huy mặt trận phía nam Thăng Long. Vua Quang Trung chia quân làm 5 đạo tiền, hậu, tả, hữu và trung quân. Ông phân quân cũ cho các tướng còn tự mình chỉ huy số quân mới tuyển. Đạo quân do Quang Trung chỉ huy có Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân làm tiên phong, có cả tượng binh và kỵ binh đánh vào chính mặt nam Thăng Long; Đạo quân do đô đốc Tuyết chỉ huy theo đường thuỷ tiến vào sông Lục Đầu, đánh đồn quân cần vương của Lê Duy Kỳ ở Hải Dương, chặn đường rút của quân Thanh bên kia sông Hồng; Đạo quân đô đốc Lộc chỉ huy cùng đạo quân đô đốc Tuyết theo đường thuỷ tiến vào sông Lục Đầu, tới đây tách ra đi gấp lên Phượng Nhãn, Lạng Giang chặn đường rút của quân Thanh phía bắc; Đạo quân đô đốc Bảo chỉ huy, cũng có tượng binh và kỵ binh theo đường Ứng Hoà (Hà Tây) ra làng Đại Áng, phối hợp với cánh quân Quang Trung đánh đồn Ngọc Hồi của Hứa Thế Hanh; Đạo quân đô đốc Long chỉ huy, (có ý kiến cho rằng là tướng Đặng Tiến Đông hoặc đô đốc Mưu…. Đạo quân này cũng có tượng binh và kỵ binh theo đường Chương Đức, hướng lên Sơn Tây nhưng sẽ rẽ quặt sang làng Nhân Mục tập kích đồn Khương Thượng của Sầm Nghi Đống và tiến vào Thăng Long từ hướng tây.

Năm Kỷ Dậu (1789). Nguyễn Du 24 tuổi

Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh. Đêm giao thừa Tết Nguyên Đán (30 Tết), từ phòng tuyến Tam Điệp, quân Tây Sơn xuất phát. Đạo quân do Quang Trung chỉ huy vượt sông Giao Thuỷ đánh đồn Gián Khẩu của quân cần vương nhà Lê. Quân Lê tan vỡ, Hoàng Phùng Tứ bỏ chạy. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, quân Quang Trung thần tốc tiến lên bắt gọn đám quân Thanh do thám và tiêu diệt các đồn bắc sông Nguyệt Quyết và đồn Nhật Tảo (Duy Tiên). Do đạo quân Tây Sơn hành quân nhanh và các đám quân do thám bị bắt, quân Thanh từ đồn Hà Hồi tới Thăng Long không biết gì về cử động của quân Tây Sơn. Ngày 3 tháng Giêng, quân Tây Sơn tiến đến Hà Hồi cách Thăng Long khoảng 20 km. Quang Trung cho quân vây chặt đồn rồi sai bắc loa kêu gọi quân Thanh đầu hàng. Quân Thanh bị bất ngờ trước sự áp sát quá nhanh của quân Tây Sơn, không kịp kháng cự, đều ra hàng.

Ngày 4 tháng Giêng, Quang Trung tiến đến đồn Ngọc Hồi. Hứa Thế Hanh ở đây nghe tin đồn Hà Hồi bị diệt vội báo về Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị vội điều Thang Hùng Nghiệp mang quân ra tăng viện, lại đặc sai 20 kỵ binh phải thay nhau chạy đi chạy lại báo cáo tình hình. Nhưng khi tiến quân tới Ngọc Hồi, Quang Trung không đánh ngay. Quân Thanh bị động cũng không dám giao tranh trước nhưng cũng không biết bị đánh khi nào. Cả ngày mùng 4, Quang Trung chỉ cho quân hư trương thanh thế để uy hiếp tinh thần quân Thanh và gây sự chú ý của quân Thanh tới đạo quân do ông chỉ huy vào mặt trận Ngọc Hồi để tạo điều kiện cho yếu tố bất ngờ của các đạo quân đô đốc Long và đô đốc Bảo. Chính Tôn Sĩ Nghị nghe báo cáo của kỵ binh cũng bị hút vào đồn Ngọc Hồi mà không nhận ra nguy cơ từ cánh quân của đô đốc Long. Khi Quang Trung diễu võ ngoài đồn Ngọc Hồi, đô đốc Long đang trên đường bắc tiến hướng đến Sơn Tây – nơi có đạo quân Vân Quý của Ô Đại Kinh – thì bất thần rẽ sang làng Nhân Mục nay thuộc xã Nhân Chính và Khương Đình và nửa đêm bất ngờ tập kích đồn Khương Thượng của Sầm Nghi Đống.

Theo Thánh vũ ký của Nguỵ Nguyên, các đội voi của Tây Sơn đều có đại bác trên lưng nã vào đồn. Quân Thanh bị đánh bất ngờ trong đêm tối, chết rất nhiều, tan vỡ bỏ chạy. Sầm Nghi Đống thấy không thể giữ được đồn bèn tự sát trên đài chỉ huy ở Loa Sơn (Khu vực phố chùa Bộc – Hà Nội hiện nay). Một số tài liệu mới mà giới nghiên cứu đưa ra gần đây lại cho thông tin khác về diễn biến trận diệt đồn Khương Thượng. Theo đó, khi quân Thanh bị diệt đáng kể, Sầm Nghi Đống bỏ chạy lên cố thủ tại đài chỉ huy ở Loa Sơn. Đô đốc Long chia quân làm hai cánh, một cánh đánh sang Nam Đồng để tiến vào Thăng Long, một ít quân tiếp tục vây hãm Loa Sơn. Sầm Nghi Đống không tự vẫn ngay mà cố thủ trên đài chờ cứu viện của Tôn Sĩ Nghị, nhưng tới ngày hôm sau không có quân cứu, Sầm mới tuyệt vọng và thắt cổ tự sát. Khu vực Khương Thượng và xung quanh, do xác quân Thanh chết quá nhiều, sau chất thành 12 gò cao, có đa mọc um tùm gọi là Gò Đống Đa. Trận diệt đồn Khương Thượng cũng còn gọi là trận Đống Đa.

Đô đốc Long ngay trong đêm mùng 4, hạ xong đồn Khương Thượng, đã tiến vào bắn phá đồn Nam Đồng ở phía tây thành Thăng Long. Khi Tôn Sĩ Nghị nhận được tin báo việc đồn Khương Thượng thất thủ thì đô đốc Long đã diệt xong đồn Nam Đồng và tiến vào đánh bản doanh của Nghị ở Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị vội vàng tháo chạy. Các tài liệu cũ đều mô tả cảnh hỗn loạn của quân Thanh. Hoàng Lê nhất thống chí viết: “Nghị lên ngựa không kịp đóng yên, quân sĩ các doanh nghe tin đều hoảng hốt tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô nhau rơi xuống nước mà chết… Lát sau cầu lại đứt, quân lính bị rơi xuống nước, sông Nhị Hà bị tắc không chảy được…” Đại Nam chính biên liệt truyện viết: “Tôn Sĩ Nghị đóng trên bãi cát, được tin bại trận vội vàng cưỡi ngựa một mình chạy về bắc. Tướng sĩ thấy vậy tranh nhau qua cầu mà chạy, cầu đứt, lăn cả xuống sông, chết đến vài vạn người, làm cho nước sông không chảy được.” Theo Thánh vũ ký của Ngụỵ Nguyên nhà Thanh: “Sĩ Nghị chạy trốn qua được bờ bắc sông Phú Lương (Tức sông Hồng) liền cắt đứt cầu phao khiến các đạo quân của Hứa Thế Hanh và Trương Triều Long bị bỏ lại ở bờ nam. Do đó hơn 1 vạn người vừa tướng vừa quân xô nhau nhảy xuống sông để bơi sang bờ bắc và đều bị chết đuối cả”

.Lê Duy Kỳ được tin Sĩ Nghị đã bỏ chạy, vội dắt gia quyến chạy theo, ra đến bờ sông thì cầu đã gãy, phải men theo bờ sông phía Nghi Tàm, lấy được chiếc thuyền đánh cá chèo sang được bên kia sông Hồng. Em Duy Kỳ là Duy Chi được sai giữ cửa ô Yên Hoa (Tức Yên Phụ ngày nay) thấy Duy Kỳ đã chạy, cũng bỏ chạy lên Tuyên Quang. Đạo quân Vân Nam – Quý châu của tướng Ô Đại Kinh đóng ở Sơn Tây, theo Thánh vũ ký, được tin các đồn thất thủ, không giao chiến trận nào đã bỏ chạy, nhờ tướng người Việt là Hoàng Văn Đồng dẫn đường chạy về Trung Quốc.

Chiều mồng 5 tết (tức 30 tháng 1 năm 1789), Quang Trung và đô đốc Bảo tiến vào Thăng Long trong sự chào đón của nhân dân, đô đốc Long ra đón rước vào thành. Đại Nam chính biên liệt truyện mô tả, áo bào của Quang Trung sạm màu khói súng.

Tôn Sĩ Nghị trên đường tháo chạy, bị hai cánh quân Tây Sơn của đô đốc Tuyết và đô đốc Lộc chặn đánh ở Hải Dương và Phượng Nhãn, tơi tả chạy về, bỏ lại cả quân ấn, kỳ bài, sắc thư. Trần Nguyên Nhiếp là bí thư dưới quyền Nghị sau này mô tả: Sĩ Nghị cùng Nguyên Nhiếp đi lạc lối, quanh co nhiều chỗ, bị đói khát 7 ngày đêm mới tới ải Nam Quan. Theo giáo sĩ De la Bissachere ở Việt Nam khi đó, số quân Thanh kịp theo Nghị qua bên kia biên giới chỉ có khoảng 50 người.

Lê Duy Kỳ vội chạy theo Nghị thoát sang bên kia biên giới. Theo Hoàng Lê nhất thống chí, quân Tây Sơn đuổi theo và rao lên rằng sẽ đuổi qua biên giới đến khi bắt được Nghị và Duy Kỳ mới thôi. Bởi thế dân Trung Quốc ở biên giới dắt nhau chạy làm cho suốt vài chục dặm không có người. Như vậy sớm hơn dự kiến, chỉ trong vòng 6 ngày, quân Tây Sơn đã đánh tan quân Thanh. Cánh quân Điền châu gần như bị diệt hoàn toàn, cánh quân Lưỡng Quảng chủ lực bị thương vong nặng và tan rã gần hết, riêng quân Vân Nam – Quý châu không giao chiến mà rút êm về nước. Quang Trung đã hẹn với ba quân mồng 7 vào ăn tết ở Thăng Long nhưng chỉ đến mồng 5, quân Tây Sơn đã khải hoàn ở kinh thành.

Theo các nhà nghiên cứu Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, chiến thuật kết hợp vừa gấp gáp vừa thư thả, giương đông kích tây, tránh chỗ mạnh nhằm chỗ yếu hơn ở Ngọc Hồi – Khương Thượng đã đạt đến đỉnh cao trong nghệ thuật quân sự của Nguyễn Huệ. Trong 3 đạo quân Thanh, cánh quân đông đảo nhất, mạnh nhất là của Tôn Sĩ Nghị và cánh quân ít nhất, yếu nhất chính là quân Điền châu của Sầm Nghi Đống. Quang Trung đã chọn mục tiêu đánh vào quân Điền châu vừa yếu nhất lại vừa dùng kỳ binh đánh bất ngờ, vào thời điểm nửa đêm nên khả năng chiến thắng rất cao. Xét trên toàn cục, với lực lượng ít hơn, quân Tây Sơn (10 vạn) thực tế chỉ đương đầu với khoảng già nửa số quân Thanh sang Đại Việt nên lực lượng tương đối cân bằng. Quang Trung đã không dàn lực lượng tác chiến cùng lúc với tất cả các cánh quân Thanh (không đụng quân Vân Quý của Ô Đại Kinh) mà vẫn có chiến thắng lớn trên toàn mặt trận, đuổi được quân Thanh ra khỏi bờ cõi.

Nguyễn Huệ ngay sau chiến thắng Kỷ Dậu 1789, đã cho ngựa chiến ruổi nhanh vào kinh thành Phú Xuân báo tiệp cho Hoàng Hậu Lê Thị Ngọc Hân: Đại phá quân Thanh gò chất xác Đào ươm nghìn nụ hé môi say Nhớ người tiễn rượu đêm ra trận Tin đẹp lồng hoa gửi tặng đây Kế đó, ông phái quân truy sát đuổi dài lực lượng chống đối, thực hiện các phương lược ngoại giao với nhà Thanh để được phong làm quốc vương, chính danh phận ở Bắc Hà, xây dựng thiết chế cai trị ổn định cho nhà Tây Sơn, sau đó trao lại binh quyền cho Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm để trở lại Phú Xuân lo việc diệt Nguyễn Ánh.

Vua Quang Trung khi truy kích quân Thanh đã bắt được chiếu thư Càn Long gửi Tôn Sĩ Nghị có đoạn viết: “…việc quân nên từ đồ, không nên hấp tấp. Hãy nên đưa hịch truyền thanh thế đi trước, và cho các quan nhà Lê về nước cũ hợp nghĩa binh, tìm Tự quân nhà Lê đem ra đứng đầu để đối địch với Nguyễn Huệ thử xem sự thể thế nào. Nếu lòng người nước Nam còn nhớ nhà Lê, có quân ta kéo đến ai chẳng gắng sức. Nguyễn Huệ tất phải tháo lui. Ta nhân dịp ấy mà sai Tự quân đuổi theo rồi đại binh của ta theo sau, như thế không khó nhọc mấy mà nên được công to. Đó là mẹo hay hơn cả. Ví bằng suốt người trong nước nửa theo đằng nọ, nửa theo đằng kia, thì Nguyễn Huệ tất không chịu lui. Vậy ta hãy đưa thư sang bảo đường họa phúc, xem nó đối đáp làm sao. Đợi khi nào thủy quân ở Mân (Phúc Kiến), Quảng đi đường bể sang Thuận Hóa và Quảng Nam rồi, bộ binh sẽ tiến lên sau. Nguyễn Huệ trước sau thụ địch thế tất phải chịu. Bấy giờ ta sẽ nhân mà làm ơn cho cả hai bên: Tự đất Thuận Hóa, Quảng Nam trở vào Nam thì cho Nguyễn Huệ; tự châu Hoan, châu Ái trở ra Bắc thì phong cho Tự quân nhà Lê. Ta đóng đại binh lại để kiềm chế cả hai bên, rồi sẽ có xử trí về sau.”

Quang Trung từ trước khi giao chiến, đã tính trước kế sách ngoại giao với nhà Thanh. Lúc Tôn Sĩ Nghị rêu rao “Ai bắt sống được Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đem nộp sẽ được công đầu” lúc sắp kéo quân sang Đại Việt, thì Ngô Văn Sở tướng Tây Sơn đã sai Nguyễn Nha đưa thư ký tên Sùng nhượng công Lê Duy Cẩn đến Tôn Sĩ Nghị xin hoãn binh, với những lời lẽ thật mềm dẻo, nhưng lại có những cảnh báo cho quân Thanh thấy rằng nếu đem quân vào, nhân dân Đại Việt đã thực hiện vườn không nhà trống; quân đội thì sẵn sàng và kiên quyết đánh giặc, được thể hiện ở những câu sau: …Hiện nay, trong nước tôi đột nhiên nghe tin quân Thiên triều sắp qua cửa ải…Lính thì sợ vướng víu vào nghịch án, nên họ bảo nhau rằng: “Không đánh lại thì bị giết sạch!” Dân thì sợ không lấy gì cung ứng cho quân lương, nên họ bảo nhau rằng: “Không trốn tránh thì bị chết hết!” Vì thế, quân các đạo đều tranh nhau đến nơi đồn lũy, dân các xứ đều xô nhau tìm vào nơi núi rừng…” Nhưng Tôn Sĩ Nghị, bác bỏ thư của Ngô Văn Sở, rồi cứ cho quân vượt trấn Nam Quan vào Đại Việt.

Tôn Sĩ Nghị lúc đã vào thành Thăng Long thì vua Quang Trung lại sai Trần Danh Bính dẫn đầu một sứ bộ gồm 18 người đến Thăng Long đưa cho Tôn Sĩ Nghị ba đạo bẩm văn: Một đạo nhân danh giám quốc Lê Duy Cẩn, một đạo nhân danh quần thần văn võ, một đạo nhân danh nhân dân xin Tôn Sĩ Nghị đóng quân ở trấn Nam Quan để tra xét nội tình nhà Lê và Tây Sơn từ trước đến giờ. Vua Quang Trung còn đem nộp cho Tôn Sĩ Nghị những tuần dương binh là nhóm Hắc Thiên Tôn gồm 40 người do Ngô Hồng Chấn, tướng Tây Sơn, bắt được từ trước.[10] Nhưng Tôn Sĩ Nghị xem bẩm văn liền xé phăng ngay đi, rồi sai đem bọn Trần Danh Bính ra giết. Sau đó, Tôn Sĩ Nghị cho truyền hịch đi các nơi kể tội quân Tây Sơn, báo cho mọi người biết, quân Thanh sẽ đánh thẳng vào Quảng Nam bắt sống “bọn Nguyễn Huệ” mới thôi.

Vua Càn Long sau thất bại nặng nề của nhà Thanh trong chiến tranh với Tây Sơn đã sai danh tướng Phúc Khang An thay thế Tôn Sĩ Nghị làm Tổng đốc Lưỡng Quảng được giao quyền tùy cơ hành xử và điều động thêm 50 vạn quân để ứng chiến vùng biên giới nhằm hư trương thanh thế. Phúc Khang An nguyên là đặc sứ phụ trách hậu cần cho đội quân của Tôn Sĩ Nghị là người mà vua Càn Long đặc biệt yêu quý và tin cẩn, dân gian cho rằng đó là con ngoài giá thú của vua với em gái của Hoàng Hậu. Năm 1789, kho vàng tại tu viện Mật Tông ở Tây Tạng đang là điểm quan tâm lớn nhất của vua Càn Long đang bị quân Khuếch Nhĩ Khách Mông Cổ dòm ngó chuẩn bị tấn công. Vua Càn Long đã 78 tuổi có tính toán riêng về người kế vị là Hoàng tử Gia Khánh và phúc tướng Phúc Khang An nên việc cơ mật này không thể ai khác chính phải là Phúc Kháng An đảm nhiệm. Lưỡng Quảng và Đại Việt cũng cần sớm an định vì điểm nóng Cam Túc đang làm vua Thanh rất lo nghĩ, trong khi Nguyễn Huệ anh dũng thiện chiến không thể xem thường nên vua Càn Long lựa ý vỗ về hơn là đem binh thảo phạt.

Phúc Khang An và Thang Hùng Nghiệp sớm biết tình thế nên đã đón ý hoặc phân vai mật trao đổi với Tây Sơn. Nguyễn Huệ thấy rõ chỗ yếu của quân Thanh và biết họ đang tìm cách để giảng hòa, trong khi ông cũng đang bận tâm xử lý phía Nam. Do vậy sau khi Nguyễn Huệ thắng trận đã sai mang nhiều vàng bạc hối lộ Phúc Khang An và Tả giang Binh bị đạo Thang Hùng Nghiệp để nghị hòa và cho cháu là Nguyễn Quang Hiển lên cửa ải Nam Quan cầu phong và xin cho Nguyễn Huệ được về Bắc Kinh triều kiến Càn Long. Mưu mẹo này thông đồng giữa hai bên với sự thách giá trả giá bên trong và cách qua mặt vua Lê Chiêu Thống cùng số cựu thần nhà Lê và hợp lý hóa trong chính sử xin xem kỹ bài viết “Ngoại giao Việt Nam thời Tây Sơn” là tư liệu quý.

Chiêu Thống lại tiếp tục xin nhà Thanh cho quân cứu viện. Nhà Thanh, phần sợ Quang Trung, phần đã ngán ngẩm việc chinh chiến, chỉ hứa hão với Chiêu Thống mà không cho quân. Thân vương nhà Thanh là Phúc Khang An hứa giúp quân cho Chiêu Thống, nhưng lại tâu với vua Thanh Càn Long rằng Chiêu Thống không còn muốn trở về. Phúc Khang An đã được hưởng lợi từ Tây Sơn và nhận rõ tình thế, nên đã dâng biểu xin hoàng đế Càn Long bãi binh, đồng thời ông cũng chỉ thị cho Thang Hùng Nghiệp gửi mật thư cho Quang Trung gợi ý nên hoà hiếu, tránh binh đao và lập các mẹo mực bang giao để giữ thể diện cho vua Càn Long mà tránh được chiến tranh. Thư ngoại giao “Trần tình biểu” của vua Quang Trung lúc đầu khá cứng rắn nhưng với sự mưu kế của Thang Hùng Nghiệp nên đã nhẹ đi rất nhiều. Tây Sơn theo phương lược vạch sẵn, với tài ngoại giao khéo léo của Ngô Thì Nhậm, đã nhanh chóng bình thường hóa bang giao với phương Bắc. Nhà Thanh đồng ý hủy bỏ việc động binh để trả thù, và tiếp nhận sứ thần của Tây Sơn. Vua Quang Trung phải dâng biểu “Nộp lòng thành”, nộp cống phẩm. Nhà Thanh đã chịu chấm dứt chiến tranh, nhưng vẫn chưa chịu thừa nhận Nguyễn Huệ làm An Nam quốc vương. Phúc Khang An viết cho vua Quang Trung một bức thư dài báo cho vua Quang Trung biết là vua Càn Long đã ban cho Quang Trung một chuỗi hạt trai, “Ơn trời cao đất dày đến thế là tốt lắm” lại báo cho vua Quang Trung biết rằng: bọn Lê Duy Kỳ đã bị róc tóc, mặc quần áo kiểu người Thanh, đã bị đưa đi an trí ở “ngoại biên” “quyết không cho về nước nữa”. Rồi sau đó Phúc Khang An đòi Tây Sơn phải làm miếu thờ Hứa Thế Hanh, Sầm Nghi Đống. Lại cho biết là khoảng tháng bảy, tháng tám năm Canh Tuất (1790) nhà Thanh sẽ làm lễ bát tuần vạn thọ vua Càn Long “Có hàng vạn nước vượt biển trèo non đem ngọc xe lễ vật đến chầu“. Phúc Khang An yêu cầu vua Quang Trung đến ngày đó cũng phải “chỉnh trang” sang chầu, và như thế phải khởi hành vào tháng tư năm Canh Tuất (1790) Đáng chú ý là sau đó, vua Càn Long xuống chỉ cho vua Quang Trung đại ý nói: do quân Thanh vượt biên giới đến Thăng Long, Nguyễn Huệ phải đem quân ra để hỏi Lê Duy Kỳ vì cớ gì cầu cứu thiên binh; vì bị quân Thanh đánh, quân Tây Sơn bất đắc dĩ phải đánh lại; gặp lúc cầu phao đứt, nên quân Thanh bị chết hại nhiều. Trong tờ chỉ Càn Long còn nhận rằng Nguyễn Huệ đã bắt và giết hết những người đã giết Hứa Thế Hanh và Sầm Nghi Đống. Ông còn cho rằng khi quân Thanh vào Thăng Long, ông đã ra lệnh cho Tôn Sĩ Nghị rút quân về nước, vì Sĩ Nghị không tuân lệnh, cho nên có trận đại bại vào đầu năm Kỷ Dậu. Ông lại đòi lập đền thờ Hứa Thế Hanh và Sầm Nghi Đống, và đòi vua Quang Trung phải đích thân sang Yên Kinh triều cận vào dịp Càn Long làm lễ bát tuần vạn thọ năm Canh Tuất. Ông lại nhắc rằng “Lê Duy Kỳ hèn lười, không tài, bỏ ấn trốn đi, chiểu theo pháp luật của Thiên triều phải tội nặng; rằng ông quyết an trí bọn chúng ở Quế Lâm, không bao giờ cho về nước nữa; rằng ông đã ra lệnh cho Phúc Khang An đưa phái đoàn Nguyễn Quang Hiển đến xem chỗ bọn Lê Duy Kỳ ở”. Nhưng rồi vua Quang Trung viện cớ là mình chưa được phong vương, sợ có điều bất tiện khi gặp các vị quốc vương các nước ở Yên Kinh. Thế là Càn Long đành phải phong cho Nguyễn Huệ làm An Nam quốc vương để có điều kiện đến Yên Kinh triều cận một cách đàng hoàng. Vua Càn Long qua Phúc Khang An lại ra điều kiện đòi triều Tây Sơn phải đúc người vàng đem cống như các triều đại trước. Ngô Thì Nhậm đã viết cho Phúc Khang An bức thư, trong đó có đoạn: “Quốc trưởng nước tôi vùng lên từ thủa áo vải, nhân thời biết việc, đối với vua Lê vốn không có danh phận vua tôi. Mất hay còn là do số trời; theo hay bỏ là do lòng người. Quốc trưởng tôi có ý cướp ngôi của nhà Lê đâu mà lại coi như kẻ thoán đoạt. Trước đây Tôn bộ đường đem quân đến, quốc trưởng nước tôi bất đắc dĩ phải đem quân ra ứng chiến, không hề có ý xâm phạm biên cảnh để mang tội. Nay đại nhân theo lệ cũ của Trần, Lê, Mạc bắt cống người vàng, như vậy chẳng hóa ra quốc trưởng nước tôi được nước một cách quang minh chính đại mà lại bị coi như hạng ngụy Mạc hay sao? Như thế thì tấm lòng kính thuận sợ trời thờ nước lớn cũng bị coi như việc nhà Trần bắt Ô Mã Nhi, nhà Lê giết Liễu Thăng hay sao?…Mong đại nhân noi theo mệnh lớn, miễn cho nước tôi lệ đúc người vàng để tiến cống…” Nguyễn Huệ trong thư này đã nói rõ rằng các vua Việt Nam thời trước sở dĩ phải cống người vàng là để chuộc một tội lỗi nào đó đối với Thiên triều còn Nguyễn Huệ tự coi không có tội gì với nhà Lê và cũng không có tội gì với nhà Thanh nên Tây Sơn không thể đúc người vàng để tiến cống. Tháng 7 năm 1789, Càn Long ra chỉ dụ phong Nguyễn Huệ làm An Nam quốc vương.

Năm Canh Tuất (1790). Nguyễn Du 25 tuổi.

Tháng 1 năm 1790, Hoàng đế Quang Trung giả (do Phạm Công Trị, cháu gọi Nguyễn Huệ bằng cậu đóng) đã sang triều kiến và dự lễ mừng thọ 80 tuổi của vua Càn Long. Đoàn sứ bộ Tây Sơn gồm 159 người có giả vương Nguyễn Huệ và Nguyễn Quang Thùy (mà vua Càn Long tưởng là hoàng thái tử của Nguyễn Huệ). Mục đích khác của đoàn sứ là thăm dò thái độ của nhà Thanh đối với vị vua lưu vong Chiêu Thống của nhà Lê. Đại quan nhà Thanh là Phúc Khang An, từng sang chiến trường Đại Việt, đứng sau lưng đoàn sứ bộ, nên nhiều tướng lĩnh nhà Thanh biết người cầm đầu sứ bộ không phải Nguyễn Huệ, nhưng ngại gây hấn nên không nói ra.

Sứ thần Tây Sơn đi đợt đó có Ngô Văn Sở, Phan Huy Ích (thượng thư, nhà ngoại giao, quê Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh, tiền bối của nhà sử học Phan Huy Lê, giáo sư nhà giáo nhân dân, là một trong những chuyên gia hàng đầu về lịch sử Việt Nam hiện đại, người có ảnh hưởng lớn đến chính sử hiện tại trong sự đánh giá nhà Nguyễn và nhà Tây Sơn), Vũ Huy Tấn ( Thị lang bộ Công, tước bá, sau khi đi sứ về ông được phong làm Thượng thư bộ Công, tước Hạo Trạch hầu. Dưới triều Cảnh Thịnh, ông được đặc cách lên hàng Thượng trụ quốc, Thị trung đãi chiếu Thượng thư). Sứ đoàn Tây Sơn lần đó cũng có Nguyễn Nể là anh cùng cha khác mẹ với Nguyễn Du và Đoàn Nguyễn Tuấn là anh vợ Nguyễn Du. Dọc đường đi, đoàn sứ giả có gặp hành tung của một số người họ Nguyễn ở Quảng Tây và sau đó cùng đi lên Yên Kinh. Người đời sau ngờ rằng đó chính là Nguyễn Du và Hà Mỗ.

Đoàn sứ thần Tây Sơn có giả vương Nguyễn Huệ làm thế nào để che mắt sứ đoàn vua Lê Chiêu Thống hiển nhiên có mặt ?. Phúc Khang An đã ngầm thông đồng mưu kế với Tây Sơn: “Tìm một người diện mạo giống quốc vương đi thay. Việc này chỉ có Công gia, Thang đại nhân, Vương đại nhân và ta là bốn người biết mà thôi. Nếu sợ Lê Duy Kỳ biết, ta bẩm ngay với Công gia đem 1000 người bọn ấy giữ kỹ không cho ra ngoài, còn ai biết được nữa”. (theo Bang giao tập, ngoại giao nhà Tây Sơn).

Mưu lược ngoại giao của nhà Tây Sơn mua chuộc Phúc Khang An và Thang Hùng Nghiệp qua các chứng cứ của Phan Huy Ích và Bang giao tập, với tình thế nhà Thanh đang rất chú tâm đến Tây Tạng, Cam Túc và chuyển giao ngai vàng. Phúc Khang An cần nhanh chóng lập được đại công quản lý Lưỡng Quảng và vỗ yên Đại Việt để tính toán vị thế đối trọng danh chính ngôn thuận với ngôi vua mà vua Càn Long cần phải chuyển giao cho Gia Khánh đang đến rất gần. Điều này đã ảnh hưởng sâu sắc tới kế sách, thái độ của vua Càn Long và Phúc Khang An đối với Lê Duy Kỳ.Vua Càn Long đã đón tiếp trọng thể đoàn sứ bộ An Nam của nhà Tây Sơn là có lý do ẩn ý riêng liên quan tới bí mật kho báu trên đỉnh Tuyế Sơn. Theo “Đại Thanh thực lục”, nhà Thanh chi phí cho sứ đoàn mỗi ngày hết 4.000 lạng bạc (tổng cộng lên đến 800.000 tính cho tới khi sứ đoàn về).[55] Ngày 11 tháng 7 năm Canh Tuất, vua Càn Long tiếp “vua” Tây Sơn ở hàng cung Nhiệt Hà, Càn Long tặng “Vua” Tây Sơn một bài thơ như sau:

Nước Phiên đến lúc ta đi tuần Mới gặp mà như đã rất thân Nước Tượng chưa từng nghe triều cận Việc cống người vàng thật đáng khinh Nhà Thanh coi trọng việc đi sứ Chín đạo thường có đạo vỗ yên Xếp võ tu văn thuận thiên đạo Đại Thanh còn mãi vạn ngàn xuân.

Đoàn sứ bộ nhà Tây Sơn tới tháng 11 năm 1790 trở về Thăng Long. Trên đường về đoàn vẫn được tiếp đón long trọng hệt như lúc đi. Phan Huy Ích có ghi lại trong Tinh sà kỷ hành của ông như sau: Chuyến đi này được nhà vua (Càn Long) đặc cách cho quan Tổng đốc đi bạn tống. Thuyền, xe, cờ, quạt quáng cả mắt người ta. Đi đến đâu quan lại phải bôn tẩu đón tiếp đến đó. Mùa thu đến hành cung ở Nhiệt Hà, lại được theo xa giá về Yên Kinh, đi Tây Uyển. Luôn luôn tiến yến hàng tuần, được ơn trời âu yếm, ưu đãi khác thường. Từ trước đến giờ, người mình đi sứ Trung Quốc chưa có lần nào lạ lùng và vẻ vang như thế.

Sách Bang giao tập viết: “Đại Hoàng đế sợ Duy Kỳ ở Quảng Tây còn có nhiều bầy tôi cũ gây ra việc, cho nên ngày 16 tháng giêng năm Canh Tuất đã cho đem gia quyến Lê Duy Kỳ lên Yên Kinh, đem 116 người tùy tùng đi an trí ở các tỉnh Triết Giang, Giang Nam, Tứ Xuyên, Hồ Quảng. Lê Quýnh bị đưa đi Ỷ Lệ cách Yên Kinh 40000 dặm”. Nhà Thanh sai phân tán các quan lại cũ của nhà Lê đi các nơi để tách biệt không liên lạc được với nhau và cô lập Lê Duy Kỳ. Bản thân Lê Duy Kỳ bị giam lỏng ở “Tây An Nam dinh” tại Yên Kinh . Nhà Tây Sơn chính thức nhận được sự công nhận của nhà Thanh.

Lê Quý Kỳ và các cựu thần nhà Lê có đối sách gì? sách Cương mục viết: “Nhà vua căm giận vì bị người Thanh lừa gạt, bèn cùng các bầy tôi là bọn Phạm Như Tùng, Hoàng Ích Hiểu, Lê Hân, Nguyễn Quốc Đống, Nguyễn Viết Triệu, Lê Quý Thích, Nguyễn Đình Miên, Lê Văn Trương, Lê Tùng và Lê Thức mười người uống máu ăn thề, làm bài biểu định đưa lên vua Thanh để xin quân cứu viện, nếu không được thì xin được đất hai châu Tuyên Quang và Thái Nguyên để quay về giữ việc thờ cúng tổ tiên hay là cùng nhau lén về Gia Định, nương nhờ triều ta (triều Nguyễn) để dần dà toan tính việc khôi phục, chứ quyết không chịu sống thừa ở đất Bắc.

”Nguyễn Du đi câu ở biển Nam (1791-1796) Nguyễn Du làm “Nam Hải Điếu Đồ” (Người đi câu ở biển Nam) trong khoảng thời gian 1791-1796 ở đền Khán Xuân cạnh Hồ Tây (Hà Nội). Nguyễn Du thời làm “Nam Hải Điếu Đồ” là tri âm tri kỷ với Hồ Xuân Hương tên thật là Hồ Phi Mai, họ đã sống chung sống chung “ba năm vẹn” ở Cổ Nguyệt Đường () cạnh chùa Kim Liên làng Nghi Tàm . Đây là đôi trai tài gái sắc Nguyễn Du Xuân Hương luận anh hùng; Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương, ‘bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn/ để lời thệ hải minh sơn/ Làm con trước phải đền ơn sinh thành”. Nguyễn Du đã bôn ba việc nước bao năm, gác bỏ tình riêng. Nguyễn Du làm nhà sư Chí Hiên đi lại ở Quảng Tây, Bắc Kinh, cung Nhiệt Hà (Trung Quốc) liên hệ với anh rể Vũ Trinh () chánh sứ của vua Lê lo việc phục quốc cho vua Hậu Lê. Nguyễn Du sau khi nhà Hậu Lê mất đã trực tiếp cùng em Nguyễn Ức xây đền thờ nghĩa sĩ nhà Hậu Lê Trung Liệt cổ tự (nay ở Thụy Khê, quận Tây Hồ, Hà Nội xem thêm Nguyễn Du và đền cổ Trung Liệt ). Nguyễn Du cũng được anh Nguyễn Nễ () giao xây dựng lại từ đường họ Nguyễn Tiên Điền ở làng Tiên Điền, đình chùa Trường Ninh, cầu Tiên ở xứ Nghệ (tên cũ của Nghệ An và Hà Tĩnh thời ấy).

(*) Cổ Nguyệt Đường cạnh chùa Kim Liên, cho nên Phạm Đình Hổ đã viết: Từ thuở làm thân khách Cố kinh. Kim Liên qua lại đã bao lần, anh chàng này từng là học trò cụ Đồ Diễn, nên biết Xuân Hương từ thuở còn thiếu nữ. Trong Vũ Trung tùy bút tr. 42, cho biết năm 1798 -1799 có dạy học tại thôn Khánh Văn, hạ lưu sông Tô Lịch không xa nhà Xuân Hương. Trong Tang Thương Ngẫu lục, q 2 tr 231 có bài ký tả cảnh chùa Kim Liên. “Mùa thu năm Đinh Tỵ (1797) tôi cùng các ông Nguyễn Thạch Hiên, Nguyễn Kính Phủ, Hoàng Hy Đỗ đến vãn cảnh chùa Kim Liên ở làng Nghi Tàm, nơi trụ trì của Hoà Thượng Huệ (nội thị của chúa Uy Vương)” Phạm Đình Hổ đến thăm Xuân Hương cùng các bạn nhân đó ra về thăm chùa Kim Liên. Qua Vũ Trung Tùy bút ta biết Phạm Đình Hổ nhà ở phố Hàng Buồm và Nguyễn Kính Phủ (Nguyễn Án) ở cạnh đền Lý Quốc Sư bên Hồ Gươm, (nay là phố Nhà Thờ). Quang cảnh chung quanh Cổ Nguyệt Đường thế nào? Theo thơ Tốn Phong, người viết tựa cho Lưu Hương Ký:Phía trước nhà có trồng một cây bàng lớn: Cội bàng trăng khuất chiếu mai đình bài 6. Chung quanh nhà có trồng nhiều cây mai (mơ) Chủ nhân trước viện trắng mai hoa Bài 5, Bên quán người hoa chỉ thích mai.Bài 9 Tiết hàn mai tự nở ngàn hoa bài 26. Nhà nàng cạnh bến trúc làng Nghi Tàm: Vàng bay lá trúc ngõ chuyền oanh. Bài 6, Phượng cầm tự khóm trúc vang thanh, bài 14, Khóm trúc đình mai ta với ta, bài 21, Bến trúc mừng vui gặp mỹ nhân bài 25 Trên bến có trồng vài cây liễu: Bến nước đìu hiu liễu rủ cành, bài 6 Trong vườn có trồng cây vông và cây mận: Ngô đồng lá cũ mơ hồn phượng, ngõ hạnh lạnh tàn chuyển bóng oanh ,bài 17.

(**) Vũ Trinh (1769-1828) là anh rể và rất thân thiết với Nguyễn Du. Vũ Trinh là Chánh Sứ phụ trách mọi công việc bang giao của nhà Lê đối với Tôn Sĩ Nghị. Suốt triều Tây Sơn, (1789- 1801) Vũ Trinh lánh thân ở Hồ Sơn vùng Hà Nam ngày nay, dạy học và soạn sách. Khi Nguyễn Ánh lên ngôi, Vũ Trinh được mời ra tham chính, nhận chức Thị Trung Học sĩ được thăng Hữu Tham Tri Bộ Hình năm 1807 làm Chánh Sứ cùng Ngô Nhân Tĩnh đi sứ nhà Thanh. Năm 1816 ông có ý bênh vực cho học trò ông là Nguyễn Văn Thuyên, con Tổng Trấn Nguyễn Văn Thành nên bị đày đi Quảng Nam 12 năm, đến năm 1828 mới được ân xá, trở về quê vài ngày thì bị bệnh mất hưởng dương 59 tuổi.

(***) Nguyễn Nể (1761-1805) là anh cùng cha khác mẹ và là người đặc biệt yêu thương của Nguyễn Du, thân thiết với Nguyễn Khản, Nguyễn Điều, Nguyễn Quýnh, Vũ Trinh, Đoàn Nguyễn Tuấn, Hà Mỗ. Họ là những anh em cùng gia tộc hoặc anh em rể hoặc là cha nuôi, tùy tướng đặc biệt tin cẩn (như với trường hợp của Hà Mỗ và Nguyễn Du). Nguyễn Nể tự là Tiến Phủ, hiệu Quế Hiên, thi đậu đầu khóa Quốc Tử Giám, đậu đầu thi hạch, đậu Tứ Trường thi Hương năm 1779, Nguyễn Nể được bổ vào Thị Nội Văn thường trực tại nhà học của con chúa Trịnh Sâm, là bạn thiết của Trịnh Tông, sau Nguyễn Nể cai quản đội quân Nhất Phẩm kiêm Trị thị nội thư tả của phủ chúa Trịnh. Năm 1783, Nguyễn Nể làm Hiệp tán quân cơ đạo quân Sơn Tây. Năm 1786 vua Lê Quý Kỳ trực tiếp nắm lại chính sự thì Lê Quýnh và Nguyễn Nể được vua Lê tin cẩn “ngày đêm cùng họ trù tính mọi công việc, ngay cả những mưu kế phải dùng đến trong lúc bối rối bất ngờ, cũng được lo toan chu đáo” (Hoàng Lê Nhất Thống Chí trang 179). Nguyễn Nễ sau khi thời gian 1788, khi Tôn Sĩ Nghị sang chiếm nước ta, vua Lê Chiêu Thống thanh trừng những người cộng tác với nhà Tây Sơn thì rất nhiều người bị đục bỏ tên trong bia tiến sĩ nhưng Nguyễn Nể không có trong danh sách những người bị tội. Năm 1789 vua Quang Trung ra Bắc đánh bại Tôn Sĩ Nghi quét sạch quân Thanh ra khỏi bờ cõi, Nguyễn Nể được vời ra bổ làm Hàn Lâm Thị Thư và làm Phó Sứ sang Trung Quốc cầu phong nhà Thanh cho Vua Quang Trung, Vũ Huy Tấn làm Chánh Sứ, sứ đoàn còn có Ngô Vi Quý, Nguyễn Đình Cử, Nguyễn Quang Hiến … Trong cuộc đi sứ, vua Càn Long mời dự yến ở Các Tứ Quang ông làm thơ chúc mừng, vua Càn Long thưởng cho một tấm đoạn, hai thỏi mực và 3 tập hoa tiên lụa. Trở về được thăng Đông Các Học Sĩ, Thái tử Tả Thị Lang, Nghi Thành Hầu, được giao việc cai trị tại Bắc Hà. Nguyễn Nể năm 1794 được nhà Tây Sơn vời vào Phú Xuân làm việc Viện Cơ Mật. Ông giao phó tiền bạc cho hai em là Nguyễn Du và Nguyễn Ức về xây dựng lại từ đường, đền thờ, cầu Tiên, chùa Trường Ninh làng Tiên Điền bị Hiệp Trấn Tây Sơn Lê Văn Dụ đốt phá nhân vụ Nguyễn Quýnh khởi nghĩa. Nguyễn Nể sau đó được phong Tả phụng Nghi Bộ Binh, hàm Tam phẩm, được cử làm Hiệp Tán Nhung vụ Quy Nhơn. Năm 1795 Nguyễn Nể được cử làm Chánh Sứ của triều Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản sang dự lễ vua Càn Long nhường ngôi cho con là vua Gia Khánh. Nguyễn Nể dâng hai bài thơ ứng chế được vua Càn Long đích thân mời uống rượu và dự yến Các Tử Quang. Nguyễn Nể được vua Càn Long khen thơ và ban thưởng : gấm đoạn, trà sen, gậy tuổi già, ngọc như ý, tứ bửu.. Cháu 24 đời Chu Văn Công tri phủ Tứ Thành tặng bốn chữ Thiên Môn Tái Đăng (hai lần lên cổng trời). Nguyễn Nể mùa thu 1796 sau khi sứ đoàn về nước được vẻ vang vì cả hai lần được vua Càn Long và triều đình nhà Thanh kính trọng. Ông là “Quế Hiên Nguyễn Nễ đỉnh núi cao thi trận nước Nam” được vua Cảnh Thịnh ban thưởng 40 mẫu ruộng, giữ chức Đông Các đại học sĩ, gia tặng Thái sử, Tả Thị Lang, tước Nghi Thành Hầu, chức vụ dâng sách cho vua Cảnh Thịnh mới lên mười hai tuổi, đọc và giảng nghĩa cho vua nghe sách Tiểu Học Diễn Nghĩa do La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp và Sùng Chính Viện vừa mới soạn xong. Ngoài ra còn các công việc giúp vua soạn các chiếu biểu, và kiêm các công việc Cơ Mật Viện, và chức vụ cuối cùng được thăng tới chức Trung Thư lĩnh hữu đồng nghị, chức vụ ngang hàng với quân sư Trần Văn Kỷ. Sau khi Nguyễn Du thăm anh cuối năm 1796, Nguyễn Nể xin về quê Nghệ An là hiệp trấn tham mưu cho Nguyễn Thận, xa dần kinh đô. Nguyễn Nể can thiệp cho Nguyễn Du ra tù sau khi toan trốn vào Nam theo Nguyễn Ánh. Theo nhà nghiên cứu Phạm Trọng Chánh “Nguyễn Du- Người đi săn núi Hồng” và “Quế Hiên Nguyễn Nể” thì lí do Nguyễn Nể năm 1797 được rời Phú Xuân là Nguyễn Nể xin đi xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô tại Nghệ An cùng Trần Quang Diệu và Trấn Thủ Nguyễn Văn Thận.

Năm Tân Hợi (1791). Nguyễn Du 26 tuổi

Lê Chiêu Thống thấy không thể mong chờ viện binh của quân Thanh nên đã trở về chiếm đất Tuyên Quang, Cao Bằng dựa vào thế lực của tù trưởng Nùng Phúc Tấn, Hoàng Văn Đồng, liên kết với Trình Cao, Quy Hợp, các vùng Trấn Ninh của Vạn Tượng mưu đánh Nghệ An. Nguyễn Huệ sai trấn tướng Nguyễn Quang Diệu và đô đốc Nguyễn Văn Uyển đem năm nghìn tinh binh theo đường thượng lộ Nghệ An tiến đánh chiếm được Trấn Ninh, diệt Trịnh Cao, Quy Hợp. Vua nước Vạn Tượng phải bỏ thành mà chạy. Quang Diệu thừa thắng đuổi dài đến tận Xiêm La, chém tướng Vạn Tượng là tả súy Phan Dung và hữu súy Phan Siêu, sau đó kéo quân về Bảo Lộc. Nùng Phúc Tấn và Hoàng Văn Đồng thế cùng không chống đỡ nổi đều bị quân Quang Diệu giết chết. Tháng mười, năm Tân Hợi (1791), anh thứ tư cùng cha khác mẹ với Nguyễn Du là Nguyễn Quýnh quay trở về Hồng Lĩnh khởi nghĩa bị bắt và bị giết năm 1791 tròn 30 tuổi, dinh cơ họ Nguyễn ở Tiên Điền Hà Tĩnh bị Tây Sơn phá hủy và đốt sạch. Vua Lê Chiêu Thống cô thế với các cựu thần trung thành lại phải về Yên Kinh.

Nguyễn Huệ sau khi đã được nhà Thanh phong làm An Nam quốc vương và truy sát đuổi dài tận diệt những mầm mống hồi phục nhà Lê và các cựu thần nhà Lê ứng nghĩa, đã đặt thể chế Hoàng Đế, lập Lê Thị Ngọc Hân làm Bắc Chính cung Hoàng hậu, phong con trưởng là Nguyễn QuangToản làm thái tử, chọn Nghệ An làm thủ đô với tên Phượng Hoàng trung đô, đắp thành đất ở núi Kỳ Lân, dựng lầu điện, chia cả nước thành các trấn để cai trị, định quan danh, làm sổ ba tịch đinh điền, phát thẻ tín lệnh (tương tự CMND ngày nay) để quan lý hộ tịch hộ khẩu. Về đối ngoại xin mở cửa ải hải quan giao thương với nhà Thanh ở Cao Bằng, Lạng Sơn để dân hai nước họp chợ thông thương, lại xin đặt phái bộ đại diện ở phủ Nam Ninh trong nội địa Trung Quốc, xin cưới công chúa nhà Thanh. Tất cả những điều Nguyễn Huệ đề đạt với vua Càn Long đều được vua Càn Long đồng ý. Quang Trung không chỉ muốn hòa hoãn với Càn Long mà còn muốn xuất quân đánh nhà Thanh. Trước khi tính chuyện đánh Thanh, nhà vua cho quấy rối nội địa Trung Quốc bằng cách lợi dụng đảng “Thiên Địa Hội” khiêu khích người Thanh. Các biên thần nhà Thanh như Phúc Khang An (mới thay Tôn Sĩ Nghị) tuy biết rõ Tây Sơn có bí mật nhúng tay, nhưng cũng chịu nhịn cho qua chuyện.

Nguyễn Ánh được người Pháp hỗ trợ trong lúc vua Quang Trung vẫn phải lo ổn định tình hình Bắc Hà và tiêu diệt tàn dư của nhà Lê còn sót lại thì Nguyễn Vương đã kéo ra đánh Bình Thuận, Bình Khang, Diên Khánh, quân của Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc liên tiếp bại trận và mất mấy thành này. Cho tới năm 1791, Nguyễn Nhạc chỉ còn cai quản Quy Nhơn, Phú Yên và Quảng Ngãi.

Năm Nhâm Tí (1792). Năm Nguyễn Du 27 tuổi.

Vua Quang Trung đầu năm 1792, lại sai sứ bộ sang Yên Kinh, mang các cống phẩm dâng Càn Long gồm: chiến lợi phẩm lấy được ở Vạn Tượng, sách binh thư của Đại Việt và một quyển sử viết về triều đại Lê Chiêu Thống. Ông cũng cầu hôn với công chúa Thanh và xin đất Lưỡng Quảng. Trong Bang giao hảo thoại mà Ngô Thì Nhậm là người chép lại vẫn còn hai văn bản ngoại giao đó. Tờ biểu chính thức đặt vấn đề xin làm con rể vị Thiên Tử nước Đại Thanh như sau: “Thần vốn là một kẻ áo vải đội ơn Thánh Hoàng cho giữ cõi Nam. Khi vào triều cận nơi cung khuyết đã được thấy rõ thiên nhan để vấn an, lại được ban thưởng rất nhiều. Phàm những việc mà ở cõi Nam Giao từ xưa đến nay chưa ai được hưởng, đều được (Thánh Hoàng). Đến khi thần lĩnh chỉ về nước, ngửa trông thánh ân đoái đến, ân chỉ ban luôn. Lồng lộng lòng nhân của Thánh Hoàng không thể tả sao cho xiết…Vua nhà Đại Thanh ta vâng chịu mệnh trời có muôn phương đất, những nơi soi đến đều nuôi nấng như con, rộng như doanh hoàn không để ra ngoài sân điện… Trộm nghĩ: Muôn vật không ẩn tình với trời đất, con cái không giấu tình với cha mẹ. Việc gia đình tâm sự đâu dám không bày tỏ với bậc chí tôn. Vừa đây thần bị vận đen, trong nhà thiếu người đơm cúng. Cơ đồ mới gây dựng, thuyền vuông ít người giúp đỡ. Cây ngọc muốn được nương nhờ, khóm dân mong được giữ vững. Ngước thấy Thanh triều gây nền từ núi Thăng Bạch, dựng nên nghiệp vua, con cháu ức muôn, đời đời phồn thịnh. Từ trước đến nay chế độ nhà trời, công chúa gả xuống, tất phải người tôn quý mới chọn đẹp duyên, không có lệ rộng ra đến các bầy tôi ở ngoài. Phận đã nghiêm chia ra trong ngoài như thế, thật khó mà với đến được. Chỉ vì một niềm tôn mến, riêng trông ngóng, trằn trọc không thôi. Trộm mong cành ngọc nhà trời rộng lan đến cả kẻ ngoại phiên ở dưới, khiến thần được ngửa đội ơn lành gần gụi gót lân…Chỉ vì quá phận cầu ơn, việc không phải là thường cách, mưu với mọi người chấp sự, không ai dám đề đạt lên cho. Muôn dặm cửa vua ngày ngày trông ngóng. Nay dám không tự lượng, mạo muội giãi bày lòng thành. Kính cẩn sai kẻ bồi thần sang chầu hầu, sau khi tâu bày rồi sẽ vì thần mà giãi bày lòng thực.Vua Quang Trung giao việc này cho Vũ Văn Dũng, một viên tướng tin cậy quê ở Hải Dương. Vũ Văn Dũng mang hai tờ biểu sang Yên Kinh trực tiếp đặt hai vấn đề trên với vua Càn Long. Vua Quang Trung đã tính đến trường hợp phải dùng lực lượng quân sự đối phó với nhà Thanh, khi vua Càn Long nổi giận. Ông đã chuẩn bị đương đầu với mọi sự bất trắc, đó là nuôi dưỡng nhóm Tề Ngỗi (Tàu Ô) và Thiên Địa Hội. Trong trường hợp chiến tranh Việt Thanh lại xảy ra các nhóm này sẽ trở thành những lực lượng hỗ trợ đắc lực. Khi vua Quang Trung trù tính việc xin đất làm đô và cầu hôn thì lúc này Vũ Văn Dũng đang nghỉ ở quê nhà trong trấn Hải Dương. Vua Quang Trung đã hạ sắc chỉ cho họ Vũ như sau: ““Sắc truyền cho Hải Dương Chiêu viễn đô đốc tướng quân dực vận công thần Vũ quốc công được gia phong chức chánh sứ đi sứ nước Thanh, được toàn quyền trong việc đối đáp tâu xin hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây để dò ý và cầu hôn một vị công chúa để chọc tức. Phải thận trọng đấy! Hình thế trong chuyến dụng binh đều ở chuyến đi này. Ngày khác làm tiên phong (đánh nước Thanh) chính là khanh đấy. Kính thay sắc này!” Câu Hình thế trong chuyến dụng binh đều ở chuyến đi này, cho thấy Vũ Văn Dũng đi sứ nước Thanh không phải chỉ có các nhiệm vụ trên mà còn phải dò xét nội tình nhà Thanh, quan sát địa hình địa vật những nơi ông đi qua để một khi chiến tranh Việt Thanh lại bùng nổ thì quân Tây Sơn có thể có một số tin tức tình báo cần thiết mà tổ chức cuộc hành quân. Theo gia phả họ Vũ, thì Vũ Văn Dũng cầm đầu sứ đoàn đã đến Yên Kinh và được vào bệ kiến vua Càn Long. Vũ Văn Dũng đã hoàn thành cả hai nhiệm vụ: cầu hôn và xin đất làm đô. Sau khi nghe lời tâu xin của Vũ Văn Dũng, vua Thanh giao vấn đề này cho đình thần bàn xét. Ngày hôm sau Vũ Văn Dũng lại được vào bệ kiến Càn Long ở Ỷ Lương các và vua Càn Long đã đồng ý trao đất Quảng Tây cho vua Quang Trung để làm đô và gả một công chúa cho vị thủ lĩnh Tây Sơn. Về việc cầu hôn, sau buổi tiếp sứ thần Đại Việt, vua Càn Long ra lệnh cho bộ lễ sửa soạn nghi lễ và định ngày cho công chúa nước Đại Thanh sang đẹp duyên cùng vua Đại Việt.

Tháng 5 năm Nhâm Tý, tức năm Càn Long thứ 57 (1792), con trai cựu hoàng Lê Chiêu Thống bị ốm chết. Các cận thần nhà Lê theo vua số thì bị giam giữ, số thì lưu tán, cơ may phục quốc không còn hi vọng, Lê Chiêu Thống ngã bệnh nặng.

Vua Quang Trung ý định cưới con vua và xin đất định đô chưa kịp trở thành hiện thực thì ông chết đột ngột vào ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (16 tháng 9 năm 1792),lúc khoảng 11-12 giờ đêm. Nguyễn Huệ qua đời, ở ngôi được 4 năm, hưởng thọ 40 tuổi, miếu hiệu là Thái Tổ Vũ hoàng đế. Bắc cung hoàng hậu Lê Ngọc Hân đã viết bài “Tế vua Quang Trung” và bài “Ai Tư Vãn” để bày tỏ nỗi đau khổ và tiếc thương cho người chồng anh hùng sớm ra đi. Thi hài Quang Trung được táng ngay tại Phú Xuân, được táng ở cung điện Đan Dương. Nguyễn Quang Toản lên nối ngôi, tức là vua Cảnh Thịnh, sai sứ sang nhà Thanh báo tang và xin tập phong. Vua Càn Long tặng tên hiệu cho Nguyễn Huệ là Trung Thuần, lại thân làm một bài thơ viếng và cho một pho tượng, 300 lạng bạc để sửa sang việc tang. Sứ nhà Thanh đến tận mộ ở Linh Đường (mộ giả) thuộc huyện Thanh Trì (Hà Nội) để viếng. Nguyên nhân cái chết của vua Quang Trung theo các tài liệu đều cho rằng ông chết vì do đột tử bởi một cơn tăng huyết áp đột ngột. Bác sĩ Bùi Minh Đức khảo cứu các nguồn tư liệu lịch sử và kết luận rằng Nguyễn Huệ “xuất huyết não dưới màng nhện; nguyên nhân tử vong: do viêm phổi sặc“.Theo Hoàng Lê nhất thống chí, thì vua Càn Long hình như đã biết trước việc này, bằng chứng là khi Quang Trung giả sang Yên Kinh gặp Càn Long, được Càn Long tặng cho chiếc áo, có thêu 7 chữ: Xa tâm chiết trục, đa điền thử (車心折軸多田鼠) Nghĩa là: Bụng xe gãy trục, nhiều chuột đồng. Theo phép chiết tự, chữ “xa” (車) và chữ “tâm” (心) ghép lại thành chữ “Huệ” (惠) là tên của Nguyễn Huệ; “chuột” nghĩa là năm tý (Nhâm tý 1792). Ý của dòng chữ trên áo là Nguyễn Huệ sẽ chết vào năm Tý.

Nguyễn Quang Toản 1783 – 1802) hay Cảnh Thịnh hoàng đế, là con trai thứ của vua Quang Trung (Nguyễn Huệ). Ông lên ngôi tháng 8 năm 1792, sau khi Nguyễn Huệ mất, năm sau đổi niên hiệu thành Cảnh Thịnh. Khi vua Quang Toản mới lên ngi thì cậu họ là Bùi Đắc Tuyên làm thái sư rất chuyên quyền, còn Ngô Văn Sở khi đó trấn giữ thành Thăng Long, coi hết việc quân dân, được thăng chức đại tổng lý, tước quận công.

Năm Quý Sửu (1793). Nguyễn Du 28 tuổi.

Lê Chiêu Thống thất vọng và chán nản, lâm bệnh rồi qua đời ngày 16 tháng 10 (âm lịch) năm 1793 tại Yên Kinh. Nhà Thanh chôn ông theo nghi thức tước công. Ngày mồng hai tháng hai năm Quý Sửu (1793), sứ đoàn Tây Sơn sang đến Bắc Kinh để báo tang vua Quang Trung mất . Vua Càn Long đã phê vào tờ biểu báo tang hai chữ đáng tiếc, rồi ông thân làm một bài thơ viếng. Ông lại sai viên án sát Quảng Tây là Thành Lâm đến Nghệ An làm lễ đọc và đốt bài thơ ấy trước “phần mộ” vua Quang Trung. Ông còn giao cho sứ đoàn Ngô Thì Nhậm một tấm lụa đại cát đạt và 3000 lạng bạc để dùng vào việc làm chay cho vua Quang Trung. Không chờ Nguyễn Quang Toản dâng biểu cầu phong, vua Càn Long lại đặc cách phong ngay cho Quang Toản làm An Nam quốc vương để chính danh phận và yên dân tâm. Vua Càn Long tỏ ra rất vui vẻ, hả hê khi được Ngô Thì Nhậm cho biết trước khi từ trần, vua Quang Trung đã dặn quần thần phải luôn luôn tôn kính Thiên triều. Vì vậy, Càn Long lấy hai chữ Trung thuần đặt tên thụy cho vua Quang Trung. Vua Càn Long cũng đã ra lệnh cho các quan của nhà Thanh đều phải cúi đầu làm lễ tưởng niệm vua Quang Trung: Thạc tào tòng sự các gia ngạch,Cá cá bất vong ngã tiên vương. Tạm dịch là: Tất cả các vị quan to (ở Thiên triều) đều cúi đầu làm lễ/ Ai ai cũng không quên An Nam quốc vương (Nguyễn Huệ) của chúng ta.

Phúc Khang An khi đó đang làm tổng chỉ huy đánh quân Khuếch Nhĩ Khách Mông Cổ tại tu viện Mật Tông ở Tây Tạng để giành lại kho vàng to lớn ở núi Tuyết. Khi trở về, Phúc Khang An đã viết cho triều đình Tây Sơn một bức thư có những câu: Bản Tước các bộ đường cùng Tiền Quốc vương (vua Quang Trung) đã từng đem lòng thành liên kết rất sâu. Nhớ khi tiến quan vào chầu, tâm sự sớm chiều, bàn soạn nửa năm, lúc cùng ngồi thuyền lúc cùng đi bộ trước khi vào chầu, thường thường đem tâm sự đàm đạo với nhau… đến lúc lên đường về nước, chia tay ở Hán Dương, cùng nhau than thở, quyến luyến nhớ thương. Bản tước các bộ đường từ tháng năm năm ngoái (1792) đốc binh tiến đánh bộ lạc Quách Nhĩ Khách… Nay nhờ Đại Hoàng Đế nghĩ đến quý quốc, che chở như trời. Bản tước các bộ đường đã nhận ủy nhiệm (của Đại Hoàng Đế làm tổng đốc Lưỡng Quảng) quý Quốc vương thỏa lòng nương tựa. Đợi khi đến tỉnh Việt (Quảng Đông), sẽ sai người đến Nghệ An làm lễ tế điệu, kính dâng bó hoa để tỏ lòng cố cựu.

Lê Chiêu Thống bị giới làm sử đời sau phê phán gay gắt. Các tác giả Ngô gia văn phái thân Tây Sơn trong tiểu thuyết Hoàng Lê nhất thống chí viết: “Tuy vua Lê đã được phong Vương, nhưng giấy tờ đưa đi các nơi, đều dùng niên hiệu Càn Long. Vì có Nghị ở đấy nên không dám dùng niên hiệu Chiêu Thống. Ngày ngày sau buổi chầu, vua lại tới chờ ở doanh của Nghị để nghe truyền việc quân, việc nước. Vua cưỡi ngựa đi trước, Lê Quýnh cưỡi ngựa đi sau, quân lính hộ vệ chỉ vài chục người. Người trong kinh có kẻ không biết là vua. Hoặc có người biết, thì họ nói riêng với nhau rằng: Nước Nam ta từ khi có đế, có vương tới nay, chưa thấy bao giờ có ông vua luồn cúi đê hèn như thế. Tiếng là làm vua, nhưng niên hiệu thì viết là Càn Long, việc gì cũng do viên tổng đốc, có khác gì phụ thuộc vào Trung Quốc?“. Tuy nhiên, nhà Nguyễn do Nguyễn Ánh thành lập ra sau đó, lại nhìn nhận khá rộng lượng với Chiêu Thống. Hoàng đế Tự Đức có lời phê về Chiêu Thống, đại ý nói: “Nhà vua bị người ta lừa gạt, bị giám buộc ở quê người đất khách, đến nỗi lo buồn phẫn uất, ôm hận mà chết, thân dẫu chết, nhưng tâm không chết, kể cũng đáng thương! Vậy nên truy đặt tên thụy là Mẫn Đế“.

Năm 1793, ở Đàng Trong, Nguyễn Ánh nhân Bắc Hà biến loạn kéo đại quân từ Gia Định kéo ra đánh vua Thái Đức (Nguyễn Nhạc) ở thành Quy Nhơn. Nguyễn Nhạc sai người đến chỗ Cảnh Thịnh xin cứu viện. Cảnh Thịnh cho Trần Quang Diệu làm Đại Tổng quản, Phạm Công Hưng, Nguyễn Văn Huấn đem quân cứu Nguyễn Nhạc. Quân của Nguyễn Ánh rút về. Các tướng của vua Quang Toản chiếm luôn thành trì của vua Thái Đức. Tháng 8 năm này, vua Thái Đức uất hận mà qua đời, con cả là Nguyễn Bảo lên nối ngôi bị các tướng của Cảnh Thịnh chia quân giữ thành và an trí ra huyện Phù Ly. Nhà Tây Sơn nhánh Nguyễn Nhạc chấm dứt từ đó.

Năm Quý Sửu (1793), Nguyễn Du về thăm quê Tiên Điền và đến cuối năm ông vào kinh đô Phú Xuân thăm anh là Nguyễn Nễ đang làm thái sử ở viện cơ mật và anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn.

Năm Giáp Dần (1794). Nguyễn Du 29 tuổi

Vua Nguyễn Quang Toản sai Vũ Văn Dũng ra coi binh mã bốn trấn Bắc Hà. Dũng đến trạm Hoàng Giang, gặp trung thư lệnh Trần Văn Kỷ phạm tội bị đày ở đó, Kỷ nói với Dũng rằng: Quan thái sư chức vị đã cao tột bực, trong tay nắm quyền làm oai làm phúc, lại đẩy ông ra ngoài, nếu có sự chẳng lợi cho nhà nước, các ông phỏng còn giữ được đầu chăng? Bây giờ chẳng sớm liệu đi, sau này ăn năn sao kịp? Dũng tin và trọng Kỷ, nên cho lời Kỷ là phải. Hôm sau, Dũng đem quân bản bộ quay về, hợp mưu với thái bảo Hóa, bắt phe đảng Đắc Tuyên bỏ ngục; lại sai người vào Quy Nhơn bắt Bùi Đắc Trụ (con Bùi Đắc Tuyên) và sai đô đốc Hài ra thành Thăng Long lập mưu bắt Ngô Văn Sở đưa về, thêu dệt thành tội trạng làm phản để dìm xuống nước cho chết hết. Sau đó, Dũng lại sai Hóa vào giữ thành Quy Nhơn. Cũng trong năm 1794, Cảnh Thịnh sai Bùi Đắc Trụ làm tán nghị, vào Quy Nhơn trấn giữ thành và lấy Quang Diệu làm thống suất, lĩnh đại quân tiến đánh thành Nha Trang. Bảy tướng từ Lê Văn Trung trở xuống đều được gia phong làm quận công quản binh và nghe theo lệnh chỉ huy của Quang Diệu. Diệu tiến sát thành Nha Trang, mà quân tuần tiễu thì đã đến địa phận Bình Thuận. Quân nhà Nguyễn hết sức chống giữ khiến Diệu không thể thắng nổi. Giai đoạn này, quân Tây Sơn luôn luôn tấn công miền Nam đã thuộc quyền Nguyễn Ánh, quân hai bên chống chọi với nhau đến hàng năm.

Trần Quang Diệu đang ở Nha Trang thì được tin cha con Bùi Đắc Tuyên và Ngô Văn Sở đều đã bị Vũ Văn Dũng giết chết, sợ vạ lây đến mình, bèn kéo quân về, họp bàn cùng bọn tướng tá, định dùng quân lực bắt Vũ Văn Dũng. Ngay lập tức Diệu giải vây cho thành Nha Trang rồi kéo quân về thành Quy Nhơn để sau đó tiếp tục về kinh đô Phú Xuân (Huế). Về tới làng Yên Cựu ở phía nam kinh thành, trên bờ sông Hương, Diệu đóng quân ở bờ nam sông. Dũng cùng bọn nội hầu Tứ đem quân bản bộ đóng ở bờ bắc sông, mượn lệnh vua để chống lại với Diệu.

Vua Quang Toản phải sai các trung sứ qua lại vỗ về hoà giải, Quang Diệu mới chịu đem tả hữu vào yết kiến Cảnh Thịnh và giảng hòa với Vũ Văn Dũng; kế đó Diệu lại xin cho gọi Hóa về và xin cho Lê Trung thay chân Hóa, trấn giữ Quy Nhơn. Khi ấy, các cận thần ở bên Cảnh Thịnh gièm pha rằng oai quyền của Diệu quá lớn, đang toan có mưu khác. Toản tin là thật, liền rút hết binh quyền của Diệu, chỉ cho giữ một chức quan vào hàng thị thần mà thôi. Quang Diệu vốn tương đắc với Lê Trung, nên gửi mật thư vào Quy Nhơn, hẹn Trung cất quân lập Nguyễn Quang Thiệu (con Nguyễn Huệ, anh Cảnh Thịnh) làm vua. Trung theo lời kéo quân về, Quang Thiệu đem quân tiếp ứng phía sau. Quân của Trung về đến Quảng Nam, vua Quang Toản sai Diệu đi bảo Trung lui quân. Trung không thông báo cho Quang Thiệu mà một mình một ngựa theo Diệu về yết kiến Cảnh Thịnh. Quang Thiệu sợ hãi phải rút quân về Quy Nhơn, đóng chặt cửa thành để cố thủ. Nguyễn Quang Toản sai tướng đến đánh liên tiếp mấy tuần không hạ được, tự mình làm tướng đem quân đi. Đến Lê Giang, thái phủ tên là Mân tâu với Toản rằng: Cuộc biến loạn Quang Thiệu thực do Lê Trung gây nên, tội không thể tha, xin giết ngay để răn kẻ khác. Cảnh Thịnh nghe theo và cho vời Trung vào dinh, sai võ sĩ trói lại đem chém. Con rể Lê Trung là đại đô đốc Lê Chất hận việc giết cha vợ nên đầu hàng Nguyễn Ánh. Sau đó, Toản tiến đánh Quy Nhơn, mười ngày sau hạ được thành, bắt Quang Thiệu cùm đưa về, dùng thuốc độc giết chết. Toản để Mân ở lại giữ thành Qu Nhơn.

Cũng năm Giáp Dần (1794), Nguyễn Nễ (Nguyễn Đề) được thăng Tả phụng nghi bộ Binh và vào Quy Nhơn giữ chức Hiệp tán nhung vụ. Đến năm 1795 Nguyễn Đề đi sứ sang Yên Kinh dự lễ nhường ngôi của vua Càn Long nhà Thanh, đến năm 1796 trở về được thăng chức Tả đồng nghị Trung thư sảnh.

Năm Ất Mẹo (1795). Nguyễn Du 30 tuổi.

Các tướng Tây Sơn lại lục đục. Vũ Văn Dũng giết Bùi Đắc Tuyên và lừa giết Ngô Văn Sở. Trần Quang Diệu cũng bị nghi ngờ nên rút quân về. Hai tướng Quang Diệu và Văn Dũng giảng hoà Sau đó Lê Chất làm phản theo Nguyễn Ánh, đem quân đánh nhau với tướng Tây Sơn là Mân (Mân Thành hầu Lê Văn Ứng?). Quân của Mân thua trận, Mân phải chạy vào núi rừng mà trốn; quân, voi, khí giới đều bị Chất thu sạch. Vua Quang Toản nghe tin, lại sai Đại Tư Vũ Tuấn (Đại Đô đốc Trần Danh Tuấn?) dẫn binh tới trấn, chiêu tập tàn quân để đóng giữ.

Năm Bính Thìn (1796). Nguyễn Du 31 tuổi.

Mùa đông năm Bính Thìn (1796), Nguyễn Du trốn vào Gia Định theo chúa Nguyễn Ánh nhưng bị Quận công Nguyễn Thận bắt giam ba tháng ở Nghệ An. sau khi được tha ông về sống ở Tiên Điền. Trong thời gian bị giam ông có làm thơ My trung mạn hứng (Cảm hứng trong tù). Nguyễn Du đến đây kết thúc 15 năm lưu lạc (1781-1796) gồm Nguyễn Du mười năm gió bụi (1781-1790) và Nguyễn Du người đi câu ở bể Nam (1791-1796).

xem tiếp Nguyễn Du trăng huyền thoại

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là nhom-k4-truong-dhnn.jpg

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim


Nhóm K4 Trường Đại Học Nông Nghiệp (GS. Vũ Mạnh Hải người đứng hàng cuối thứ 5 từ trái qua, có nhà ở gần số 124 Thụy Khê dấu tích liên quan câu chuyện “Nguyễn Du và đền cổ Trung Liệt” và Những câu thơ lưu lạc. (Ghi chú của Hoàng Kim). Thầy bạn trong đời tôi https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là co-mot-ngay-nhu-the.jpg

CÓ MỘT NGÀY NHƯ THẾ
Hoàng Kim

Có một ngày như thế Chúc mừng ngày kỷ niệm tình bạn với Hoa Nguyen Phu Hoàng, chúng tôi tin rằng tình bạn là điều thật đặc biệt. Bạn đã trở thành bạn bè trên Facebook với Hoa 4 năm trước. Chúng tôi đã tìm thấy kỷ niệm này và hy vọng các bạn thích ôn lại! Có một ngày như thế xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/co-mot-ngay-nhu-the/


NGÔI SAO MAI CHÂN TRỜI

Hoàng Kim

Em đọc lại Nhà Giả Kim em nhé
Bài ca thời gian câu chuyện cuộc đời
Một giấc mơ Người đi tìm kho báu
Theo ước mơ mình tới chốn xa xôi …

Bậc tiên tri biết nhìn sâu khát vọng
Khuyến khích em theo mơ ước tuổi hoa
Đi tới cuối con đường hạnh phúc
Hãy là chính mình, ta chính là ta.

Em thấu hiểu có ngôi sao may mắn
Luôn bên em lấp lánh phía chân trời
Nơi bảng lãng thơ tình Hồ núi Cốc
Giấc mơ đưa ta về cổ tích xa xôi  …

Lên đường đi em
Bình minh đã rạng
Vui bước tới thảnh thơi
Vui đi dưới mặt trời!

Ta hãy chăm như con ong làm mật
Cuộc đời này là hương hoa.
Ngày mới yêu thương vẫy gọi,
Ngọc cho đời vui khỏe cho ta.

Hoàng Kim

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là NLU.jpg

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Chào ngày mới 17 tháng 5


CNM365. Chào ngày mới 17 tháng 5; Nguyễn Du đĩa Trăng trong dân gian: “Nghêu ngao vui thú yên hà. Mai là bạn cũ, hạc là người quen (hình). Những câu thơ lưu lạc. Hồ Xuân Hương kiệt tác thơ Hán Nôm; Nguyễn Du và đền cổ Trung Liệt; Ngày 17 tháng 5 ngày Hiến pháp của Na UyNauru, những chọn lọc kinh nghiệm cho Việt Nam. Ngày 17 tháng 5 năm 2019 Chiến tranh thương mại Hoa Kỳ – Trung Quốc tiếp tục leo thang với những động thái quyết liệt từ hai quốc gia. Ngày 17 tháng 5 năm 1742, Chiến tranh Silesia lần thứ nhất: Nhà vua nước Phổ Friedrich II Đại Đế đánh tan tác quân Áo trong trận đánh tại Chotusitz; Bài chọn lọc ngày 17 tháng 5: Nguyễn Du đĩa Trăng trong dân gian; Những câu thơ lưu lạc; Hồ Xuân Hương kiệt tác thơ Hán Nôm; Nguyễn Du và đền cổ Trung Liệt; xem tiếp https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-17-thang-5/; Bài viết mới: Đối thoại giữa các nền văn hóa; Thơ dâng theo dấu Tagore; Ba chàng ngự lâm pháo thủ; Kỷ niệm tình bạn với Kim Loan; ; Bill Gates học để làm; Ngày mới; Châu Mỹ chuyện không quên; Đất nước Mexico ấn tượng lắng đọng; Con đường di sản Lewis và Clark; Dạy và học nghề làm vườn; Nigeria và Việt Nam xa mà gần. Nhớ châu Phi; Hoa Lúa; Hoa Đất; Anh đi về phía vùng tâm bão; Cầu trời nhớ mẹ cha ta; Thái Lan nhiều bạn tôi ở đấy; Thao thức; Đối thoại giữa các nền văn hóa; Nguyễn Khắc Viện tìm trong di sản; Thư tình Nguyễn Khắc Viện; Châu Mỹ chuyện không quên; Việt Phương ba điều nhớ mãi; Mưa tháng Năm; Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương; Võ Nguyên Giáp tự trong sâu thẳm; Hoa Lúa; Gạo Việt chất lượng và thương hiệu; Đá hát; Về nơi cát đá.Sen vào Hè. Năm tháng đó là em. 24 tiết khí lịch nhà nông.Tôi yêu mây và sóng Tagore. Tagore đại thi hào Ấn Độ. Nhà Trần trong sử Việt; Trúc Lâm thăm thẳm tầm nhìn; Lên Yên Tử nhớ đức Nhân Tông; Sóng yêu thương vỗ mãi đến vô cùng; Hoa Người; Châu Mỹ chuyện không quên; Lời vàng Albert Einstein; Nguyễn Duy từ Cát trắng đến Bụi; Hoa Người ; Linh Giang dòng sông quê hương; Hoa Đất ; Hồi Giáo và nhà tiên tri Muhammad; Nhớ ‘Nghị lực’ thơ ngày tháng cũ; Cô Nguyễn Thị Trâm người Thầy lúa lai;Châu Mỹ chuyện không quên;Lời thề trên sông Hóa 1288:Tháng năm nhớ lại và suy ngẫm; Gặp bạn ở quê nhà; Quảng Bình đất mẹ nhớ ơn Người. Bài thơ Viên đá Thời gian; Những trang văn thắp lửa; Bài ca Trường Quảng Trạch ; Nhớ châu PhiThổ Nhĩ Kỳ nông nghiệp sinh thái; Thổ Nhĩ Kỳ với ‘vành đai và con đường’ ; Thoáng chốc thời gian nhìn trở lại. Một thời để nhớ.Gạo Việt chất lượng và thương hiệu; Lúa Sắn Angkor ; Lúa sắn Cămpuchia và lúa sắn Lào; Phục sinh. Cuối một dòng sông là cửa biển. Nhân Dân và An Dân; Gạo Việt chất lượng và thương hiệu; Tô Đông Pha thơ ngoài ngàn năm; Trần Văn Trà trăng xưa hạc cũ; Trăng rằm;Minh triết cho mỗi ngày; Đêm mai là trăng rằm; Trò chuyện với Thiền sư; Cá ao xuân; Hoàng Ngọc Dộ trang thơ khát vọng; Hoàng Trung Trực dấu chân người lính. Nhớ bạn; Mảnh đạn trong người, Viếng mộ cha mẹ. Bền chí, Trò chuyện với Thiền sư; Con đường xanh yêu thương; Minh triết cho mỗi ngày;Nhà khoa học xanh người Thầy chiến sĩ; Lời vàng Albert Einstein; Nhớ lời vàng Albert Einstein Nhớ châu Phi; Vùng trời nhân văn; Thầy bạn trong đời tôi. Con đường dẫn tôi tới làm Thầy. Tắm tiên ở Chư Jang Sin; Mưa xuân; Giáo dục tinh hoa; Chiếc bàn của thầy Tôn Thất Trình; Từ Sắn Việt Nam đến Lúa Siêu Xanh;

NHỮNG CÂU THƠ LƯU LẠC
Hoàng Kim

Ai viết cho ai những câu thơ lưu lạc.
Giữa trần gian thầm lặng tháng năm dài ?
“Thập tải luân giao cầu cổ kiếm.
Nhất sinh đê thủ bái hoa mai”.

Mười năm lưu lạc tìm gươm báu
Đời ta chỉ cúi lạy hoa mai. (1)
“Nghêu ngao vui thú yên hà.
Mai là bạn cũ, hạc là người quen”. (2)

Trống lủng” (3) nghe tục giảng thanh
Cận nhân tình, như không như có.
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai” (4)
Như khói mây, giọt sương buổi sớm.

Cao vọi “Thướng sơn”“Tầm hữu vị ngộ
Núi cõng đường mòn, cha cõng con”.
Thăm thẳm những câu thơ lưu lạc
Biển là ao lớn, thuyền là con bò”. (5)

Dưỡng sinh thi“, “Sấm Trạng Trình“,
Chí thiện“, “An nhàn vô sự là tiên“. (6)
Kinh Dịch xem chơi, yêu tính sáng yêu hơn châu báu.
Sách Nhàn đọc giấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim“. (7)

——
Ghi chú:

(1) “Thập tải luân giao cầu cổ kiếm / Nhất sinh đê thủ bái hoa mai” (Mười năm lưu lạc tìm gươm báu / Đời ta chỉ cúi lạy hoa mai)  là hai câu thơ của Nguyễn Du. Trước đó, người đời cho là của Chu Thần Cao Bá Quát nhưng thực tế trong đời Cao Bá Quát không có mười năm lưu lạc “thập tải luân giao”.  Theo “Như Thanh nhật ký của Nguyễn Tử Giản thì năm Mậu Thìn (1868) phó chánh sứ Nguyễn Tử Giản được tri phủ Hán Dương là Ngải Tuấn Mỹ đón tiếp và tặng đôi câu đối trên. Hai câu thơ này không phải là do Ngãi Tuấn Mễ sáng tác mà có trên gốm sứ Hoa Bắc được Nguyễn Du lưu lại khi ông đóng vai nhà sư lưu lạc mười năm ở Trung Quốc. Ông cùng Hà Mỗ Quản Vũ Hầu Nguyễn Đăng Tiến lên Yên Kinh (Bắc Kinh) và cung Nhiệt Hà gặp Càn Long để chuyển hóa thời vận.  Nguyễn Du tính tình khoan hòa, điềm tĩnh, trọng “quân đức, dân tâm, học pháp”, có những câu thơ “thập tải luân giao”, ông chỉ bái lạy bậc hiền minh như cúi lạy trước hoa mai, “mai cốt cách, tuyết tinh thần”.

(2) “Nghêu ngao vui thú yên hà. Mai là bạn cũ, hạc là người quen” trên đĩa Mai Hạc, sản phẩm gốm sứ Quảng Tây, truyền là của Nguyễn Du khi ông ở Trung Quốc.

(3) “Trống lủng“, “Vịnh Đồ Sơn“, “Núi Kẽm Trống” là những kiệt tác thơ Hồ Xuân Hương cận nhân tình, đa ngữ nghĩa, như có như không, như khói mây, sương sớm.

(4) “Đình tiền tạc dạ nhất chi mai” thơ Mãn Giác thiền sư (tài liệu đã dẫn)

(5) “Núi cõng con đường mòn. Cha thì cõng theo con” “Biển là ao lớn. Thuyền là con bò” là thơ đồng dao của Nguyễn Sinh Cung (Nguyễn Tất Thành, tên thuở nhỏ của Hồ Chí Minh) lúc 5 tuổi, tại đèo Ngang, trong chuyện kể “Tất Đạt tự ngôn” được Sơn Tùng ghi lại.  Ngày 19 tháng 5 thành lập mặt trận Việt Minh trùng ngày khai sinh đường Hồ Chí Minh và cũng trùng ngày sinh Hồ Chí Minh.  Lời đồng dao “Biển là ao lớn, Thuyền là con bò” “Em nhìn thấy trước, Anh trông thấy sau” của cậu bé Nguyễn Sinh Cung “nói” năm 1895 mà  Sơn Tùng đã ghi lại và in trên báo Cứu Quốc lần đầu năm 1950 trùng với “đường lưỡi bò” hiện nay. Câu chuyện trẻ con đan xen những ẩn khuất lịch sử chưa được giải mã đầy đủ về Quốc Cộng hợp tác, tầm nhìn Hoàng Sa, Trường Sa của Tưởng Giới Thạch, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1424-1427, lúc mà Nguyễn Ái Quốc lấy tên là Lý Thụy làm phiên dịch cho Borodin trưởng đoàn cố vấn của chính phủ Liên Xô tới Quảng Châu giúp chính phủ Trung Hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch.

(6) “Dưỡng sinh thi“, “Sấm Trạng Trình” ,”Chí thiện“. “An nhàn vô sự là tiên …” là kiệt tác thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, xem  Ngày xuân đọc Trạng Trình.

(7) “Kinh Dịch xem chơi, yêu tính sáng yêu hơn châu báu. Sách Nhàn đọc giấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim“. Trích trong “Cư trần lạc đạo phú” thơ Trần Nhân Tông, xem Lên non thiêng Yên Tử.

HỒ XUÂN HƯƠNG KIỆT TÁC THƠ HÁN NÔM
Hoàng Kim
Đĩa cổ Hoa Mai của Nguyễn Du lưu lạc trong nhân gian gợi mở chủ đề Hồ Xuân Hương kiệt tác thơ Hán Nôm. ” Ai viết cho ai những câu thơ lưu lạc. Giữa trần gian thầm lặng tháng năm dài? “Thập tải luân giao cầu cổ kiếm. Nhất sinh đê thủ bái hoa mai”. Tập thơ LƯU HƯƠNG KÝ của Hồ Xuân Hương xuất hiện vào năm 1814, là văn bản cổ nhất và đáng tin nhất liên quan đến thơ Hồ Xuân Hương. Tập thơ này mới được phát hiện vào năm 1963 gồm Bài Tựa của Tốn Phong, người Nghệ An viết năm 1814 và 52 bài thơ của Hồ Xuân Hương với 24 bài chữ Hán và 28 bài chữ Nôm. Trong bài tựa, Tốn Phong tự nhận mình là bạn của Hồ Xuân Hương, tự Cổ Nguyệt Đường, con cháu họ Hồ ở Quỳnh Lưu, Nghệ An. Chính Hồ Xuân Hương đã nhờ ông viết lời tựa ấy: “Đây là tất cả thơ văn trong đời tôi từ trước đến nay, nhờ anh làm cho bài tựa.” (Chữ in đậm là Hoàng Kim nhấn mạnh).

Trang thơ Hồ Xuân Hương 154 bài trên Thi Viện có nhiều bài rất hay:“Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ” là kiệt tác thơ tình yêu của Hồ  Xuân Hương “Độ Hoa Phong” là cảm tác Hạ Long tuyệt bút. Bài thơ “Miếu Sầm thái thú” cao vọi tầm tư tưởng nhân hậu và khí phách đảm lược của một kỳ tài, thơ tôn vinh phụ nữ và giải phóng con người, “Cảm cựu kiêm trình Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu” tri âm tri kỹ nghĩa tình bền vững, “thơ Nôm truyền tụng” thanh tục đời thường, như có như không.

Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ”  là bài thơ ‘Tỏ ý’ của Hồ Xuân Hương đối với Nguyễn Du . Bài thơ tình xuân thiết tha, lời thơ là lời hát nói có nhạc bên trong nên câu thơ hay hiếm thấy. Bài thơ “Tỏ ý” này rút trong tập thơ “Lưu Hương Ký” thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương. Con người tác giả và tác phẩm này là nguyên mẫu người và thơ để Nguyễn Du đưa nhân vật, sự kiện và thời thế vào trong kiệt tác Truyện Kiều. Hồ Xuân Hương với kiệt tác thơ chữ Hán “Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ” là cây hồ cầm tuyệt diệu hát nói ca trù Kiều gẩy đàn cho Kim Trọng nghe “Trong như tiếng hạc bay qua. Đục như nước suối vừa sa nửa vời. Tiếng khoan như gió thoảng ngoài. Tiếu mau sầm sập như trời đổ mưa. Ngọn đèn khi tỏ khi mờ. Khiến người ngồi đấy cũng ngơ ngẫn sầu. Khi tựa gối khi cúi đầu. Khi vò chín khúc , khi chau đôi mày” (Kiều).

Truyện Thúy Kiều soi thấu những góc khuất của Lưu Hương Ký và ngược lại. “Chút riêng chọn đá thử vàng. Biết đâu mà gửi can tràng vào đâu? Còn như vào trước ra sau. Ai cho kén chọn vàng thau tại mình? Từ rằng: Lời nói hữu tình. Khiến người lại nhớ câu Bình Nguyên Quân. Lại đây xem lại cho gần. Phỏng tin được một vài phần hay không? Thưa rằng: Lượng cả bao dong. Tấn Dương được thấy mây rồng có phen …”.

Những câu thơ lưu lạccủa Mai Sơn Phủ Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc viết cho Hồ Phi Mai Hồ Xuân Hươn“Thập tải luân giao cầu cổ kiếm. Nhất sinh đê thủ bái hoa mai”. Mười năm lưu lạc tìm gươm báu  Đời ta chỉ cúi lạy hoa mai. “Nghêu ngao vui thú yên hà. Mai là bạn cũ, hạc là người quen”  giúp ta thấu hiểu.

Nguyễn Du với Hồ Xuân Hương là tri âm tri kỷ, là tiếng nói yêu thương khát vọng của con người. Tôi tập dịch bài thơ của Hồ Xuân Hương gửi Mai Sơn Phủ mà thấm thía sâu sắc câu chuyện tình cảm động bền vững với thời gian.

TỎ Ý

Hồ Xuân Hương
tặng  Mai Sơn Phủ (Nguyễn Du)

(Bản dịch của Hoàng Kim)

Hoa rung rinh,
Cây rung rinh,
Giấc mộng cô đơn nhớ hương tình,
Đêm xuân bao cảm khái.

Hươu nơi nao
Nhạn nơi nao
Mình ước trong nhau ban mai nào
Lòng em thương nhớ ai thấu sao!

Sông mênh mông
Nước dạt dào
Lòng hai chúng mình đều ao ước
Nước mắt thầm rơi mặn chát.

Thơ thương thương,
Lòng vương vương,
Ấm lạnh lòng ai thấu tỏ tường,
Bút người tả xiết chăng?

Mây lang thang
Trăng mênh mang
Trăng gió xui ai luống đoạn tràng
Đâu là gác Đằng Vương ?
Mây vương vương
Nước sương sương
Mây nước chung nhau chỉ một đường
Dặm trường cách trở  thương càng thương.

Ngày thênh thênh,
Đêm thênh thênh,
Đêm ngày khắc khoải nhớ thương anh,
Người ơi đừng lỡ hẹn sai tình.

Gió bay bay
Mưa bay bay
Mưa gió giục em viết thơ này
Bút xuân gửi đến người thương nhớ

Anh đồng lòng
Em đồng lòng
Mộng hồn tương luyến liễu hoa âm (*)
Thơ cùng ngâm
Rượu và trăng
Thăm thẳm buồn ly biệt
Vầng trăng chia hai nữa
Cung đàn ly khúc oán tri âm (**),
Thôi đành bặt tiếng hồ cầm
Núi cao biển sâu đằng đẳng
Xin chớ tủi buồn mà than cổ kim.

Chàng hẹn gì
Ta hẹn gì
Hai ta đều muộn, nói năng chi
Trà mà chi
Bút mà chi
Lời và chữ còn đó
Ai là kẻ tình si
Hiểu nhau trong dạ khó khăn gì
Hãy nên trao gửi mối duyên đi
Lòng son ai nỡ phụ.


Kiều – Nguyễn Du
Ca trù hát nói Việt Nam

Non xanh xanh

Nước xanh xanh
Sớm tình tình sớm, trưa tình tình trưa
Áy ai tháng đợi năm chờ
Mà người ngày ấy bây giờ là đây…

Hồng Hồng Tuyết Tuyết ca trù hát nói tinh hoa cổ văn chương Việt) NS Quách Thị Hồ

THƯƠNG KIỀU NGUYỄN DU

Ôi
tâm phúc tương tri
Bốn biển không nhà
Kiều Nguyễn biệt ly
Bởi Nguyễn thương Kiều
Sợ theo thêm bận.
Thương Kiều Nguyễn Du
Sao chẳng đi cùng
Để việc trăm năm
Nghìn năm di hận?
Truyện Kiều Nguyễn Du
Bài học muôn đời.

Hoàng Kim

Nguyên tác:




鹿








































Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ

Hoa phiêu phiêu,
Mộc tiêu tiêu,
Ngã mộng hương tình các tịch liêu,
Khả cảm thị xuân tiêu.

Lộc ao ao,
Nhạn ngao ngao,
Hoan thảo tương kỳ tại nhất triêu,
Bất tận ngã tâm miêu.

Giang bát bát,
Thủy hoạt hoạt,
Ngã tứ quân hoài tương khế khoát,
Lệ ngân chiêm hạ cát.

Thi tiết tiết,
Tâm thiết thiết,
Nồng đạm thốn tình tu lưỡng đạt,
Dã bằng quân bút phát.

Phong ngang ngang,
Nguyệt mang mang,
Phong nguyệt linh không khách đoạn tràng,
Hà xứ thị Đằng Vương?
Vân thương thương,
Thuỷ ương ương,
Vân thuỷ na kham vọng nhất trường,
Nhất trường dao vọng xúc hoài mang.

Nhật kỳ kỳ,
Dạ trì trì,
Nhật dạ thiên hoài lữ tứ bi,
Tứ bi ưng mạc ngộ giai kỳ.

Phong phi phi,
Vũ phi phi,
Phong vũ tần thôi thái bút huy,
Bút huy đô thị phó tình nhi.

Quân hữu tâm,
Ngã hữu tâm,
Mộng hồn tương luyến liễu hoa âm.
Thi đồng ngâm,
Nguyệt đồng châm.
Nhất tự sầu phân ly,
Hà nhân noãn bán khâm.
Mạc đàn ly khúc oán tri âm,
Trực tu khí trí thử dao cầm.
Cao sơn lưu thuỷ vãn tương tầm,
Ưng bất hận ngâm thán cổ câm.

Quân hà kì,
Ngã hà kì,
Lữ đình lai đắc lưỡng thê trì.
Dánh tần phi,
Bút tần huy,
Nhất trường đô bút thiệt,
Hà xứ thị tình nhi?
Hảo tư tâm thượng các tương tri,
Dã ưng giao thác thử duyên đề,
Phương tâm thệ bất phụ giai kỳ.

Bài từ theo điệu Ức Giang Nam.

Kể ý mình và trình bạn là Mai Sơn Phủ

Hoa xiêu xiêu
Cây xiêu xiêu
Giấc mộng tình quê thảy tịch liêu
Đêm xuân cảm khái nhiều.

Hươu ao ao
Nhạn ngao ngao
Vui sướng hẹn nhau một sớm nào
Tả hết được tình sao!

Sông bát ngát
Nước ào ạt
Ý thiếp lòng chàng cũng vu khoát
Lệ rơi thêm mặn chát.

Thơ da diết
Lòng thê thiết
Đậm nhạt tấc lòng ai thấu hết
Liệu bút chàng tả xiết?

Mây lang thang
Trăng mênh mang
Trăng gió xui ai luống đoạn tràng
Đâu là gác Đằng Vương?
Mây tơ vương
Nước như sương
Mây nước trôi đâu chỉ một đường
Một đường xa khuất rộn lòng thương

Ngày chậm rì
Đêm chậm rì
Sáng tối chạnh buồn lữ khách si
Nhớ thương đừng lỡ hẹn, sai kì.

Mưa trôi đi
Gió trôi đi
Mưa gió giục hoài cất bút thi (thơ)
Viết thi gửi tới khách “tình si”

Chàng có tâm
Thiếp có tâm
Mồng hồn lưu luyến bóng hoa râm
Thơ cùng ngâm
Rượu cùng trăng
Tự lúc buồn chia biệt
Ai người ấm nửa chăng?
Chớ đàn li khúc oán tri âm,
Đành xem như hết tiếng dao cầm
Hẹn nhau nơi non nước muộn mằn!
Chớ buồn mà than thở cổ câm (kim).

Chàng hẹn gì
Ta hẹn gì
Hai ta đều muộn, nói mà chi
Trà mà chi
Bút mà chi
Cũng là thiên lí cả
Ai là kẻ tình nhi
Hiểu nhau trong dạ khó khăn gì
Hãy nên trao gửi mối duyên đi
Lòng son ai nỡ phụ giai kì.

(Bản dịch của Đào Thái Tôn)

Tham khảo: Bản sao từ bản chép tay của Nguyễn Văn Hoàn, do Nguyễn Xuân Diện cung cấp Bài thơ Vịnh Hà Long của Hồ Xuân Hương là một tuyệt phẩm. Di sản văn hóa thế giới Hạ Long cho đến nay có lẽ chưa có tác phẩm văn chương nào viết về vịnh Hạ Long của Việt Nam và thế giới ngời sáng hơn bài thơ này:

VỊNH HẠ LONG

Hồ Xuân Hương

Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong.
Đá dựng bờ son mọc giữa dòng.
Dòng nước lần theo chân núi chuyển,
Mình lèn nghiêng để lối duyềnh thông.
Cá rồng lẩn nấp hơi thu nhạt,
Âu lộ cùng bay bóng xế hồng.
Băm sáu phòng mây cùng động ngọc,
Đâu nào là cái Thuỷ Tinh cung?(Bản dịch thơ của Hoàng Xuân Hãn)








Độ Hoa Phong

Phiến phàm vô cấp độ Hoa Phong,
Tiễu bích đan nhai xuất thủy trung.
Thủy thế mỗi tùy sơn diện chuyển,
Sơn hình tà kháo thủy môn thông.
Ngư long tạp xử thu yên bạc,
Âu lộ tề phi nhật chiếu hồng.
Ngọc động vân phòng tam bách lục
Bất tri thùy thị Thủy Tinh cung.

Dịch nghĩa

Lá buồm không vội vượt qua vũng Hoa Phong,
Vách đá đứng, sườn núi đỏ, giữa nước chỏi dựng lên.
Thế nước tuỳ chỗ theo mặt núi mà biến chuyển.
Hình núi nghiêng mình, nép tựa cửa lạch để nước thông qua.
Cá rồng lẫn lộn, tăm khuất dưới từng hơi nước mỏng mùa thu.
Âu cò cùng ban trong ánh đỏ mặt trời chiều.
Cõi Tiên có ba trăm sáu động ngọc và phòng mây,
Đây không biết chốn nào là cung Thủy Tinh.

Bài thơ Miếu Sầm Thái Thú  ở bản khắc 1922 chữ “lên” khác với chữ “ngang” ở các bản khắc sau cũng là một câu chuyện sử thi thú vị.

MIẾU SẦM THÁI THÚ

Ghé mắt trông lên thấy bảng treo
Kìa đền thái thú đứng cheo leo
Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu.

(Bản khắc 1922) chữ “lên” khác với chữ “ngang” ở các bản khắc sau.

Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

Đặc trưng nổi bật nhất trong thơ Hán Nôm của Hồ Xuân Hương là nghệ thuật thơ Hán Nôm đặc biệt điêu luyện, sánh ngang những kiệt tác thơ Trung Hoa thời Thịnh Đường. Thơ Hán Nôm của Hồ Xuân Hương hàm súc sâu sắc hiếm thấy, trong thơ có nhạc, chuyển tải sử thi văn hóa giáo dục tài tình và khiêm nhu hiền lành rất mực.

Hồ Xuân Hương kiệt tác thơ Hán Nôm ba bài tuyển chọn yêu thích nhất, đọc lại và suy ngẫm.


NGUYỄN DU VÀ ĐỀN CỔ TRUNG LIỆT

Hoàng Kim

Đền cổ Trung Liệt Hà Nội ở số cũ 124 Thụy Khuê nay không rõ còn ở đó hay đã di dời về đâu? Ngôi đền cổ này có liên quan đến Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương.Tôi đã viết bài khảo cứu Nguyễn Du đêm thiêng đọc lạiNguyễn Du với Hồ Xuân Hương sau chuyện lạ đêm mồng 4 tháng 7 năm 2012. Hôm nay việc chưa thể giải mã bất chợt nối mạch với câu chuyện “âm mưu đào phá mộ tổ của thần đồng thơ Trần Đăng Khoa và cái chết rùng rợn của những kẻ phá mộ” của nhà báo Hoàng Anh Sướng đăng trên Văn Hiến Việt Nam.

Đền Trung Liệt Hà Nội có liên quan tới gia tộc của nhà thơ Trần Đăng Khoa: “Cụ tổ sáu đời là Trần Khuê. Cụ đã cùng anh ruột là Phương Trì Hầu Trần Lương, Sùng Lĩnh Hầu Trần Thai cùng em con chú ruột là Côn Lĩnh Bá Trần Đĩnh, Thủ lệnh trấn Hải Dương và Tổng trấn Kinh Bắc Trần Quang Châu, hộ giá vua Lê Chiêu Thống khi vị vua này bôn ba ở các tỉnh phía Bắc, chưa sang cầu cứu nhà Thanh. Đến năm Tự Đức thứ 14 nhà Nguyễn (1862), các vị trên được thờ ở đền Trung Liệt, Hà Nội, cùng với ba con của Trần Đĩnh là Trần Dần, Trần Hạc và Vũ Trọng Dật (con rể)…

Nguyễn Du quan hệ gì đến đền cổ Trung Liệt ? ngôi đền này nay ở đâu, di dời về đâu? Mời bạn đọc kỹ ba bài viết trên với những điểm nhấn bàn luận thông tin mới.

Tóm tắt Nguyễn Du và đền cổ Trung Liệt.

Thầy Nguyễn Lân Dũng trong bài viết “Một khám phá độc đáo về Truyện Kiều”  ủng hộ quan điểm của  GS. NGND Ngô Quốc Quýnh (Đại học Quốc gia Hà Nội) qua tác phẩm “Thử tìm hiểu tâm sự Nguyễn Du qua Truyện Kiều” cho rằng: Nguyễn Du gửi gắm tâm sự của mình qua Truyện Kiều mà nàng Kiều là Nguyễn Du và Từ Hải chính là Nguyễn Huệ, Kim Trọng chính là Lê Chiêu Thống. Truyện Kiều viết về nàng Kiều nhưng thực chất gửi gắm tâm sự  của kẻ sĩ tinh hoa trong thời thế nhiễu loạn.

Tôi (Hoàng Kim) thoạt tiên đồng tình với quan điểm này nhưng qua ba chất vấn của cụ già Linh Nhạc Phật Ý trong câu chuyện Nguyễn Du đêm thiêng đọc lại chợt thấy đúng là có ba điều không ổn cần nghiên cứu tiếp : Một là Nguyễn Du nếu chính là nàng Kiều, Từ Hải chính là Nguyễn Huệ và Kim Trọng chính là Lê Chiêu Thống  thì tại sao Nguyễn Du lại chống Nguyễn Huệ, và Nguyễn Du chịu ra làm quan cho Nguyễn Ánh mà trước đó  kiên quyết không chịu ra làm quan cho nhà Tây Sơn như anh trai là Nguyễn Nể và anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn, thậm chí còn lại chống nhà Tây Sơn để đến nổi bị Thận Quận Công bắt và Nguyễn Du bị quản thúc nhiều tháng ở Nghệ An? Hai là Nguyễn Du là người thế nào mà dám mắng Minh Thành Tổ một vị vua danh tiếng lừng lẫy thời nhà Minh ở Trung Quốc tại bài ‘Kỳ Lân mộ’ và ngầm ý chê Nguyễn Huệ là em tiếm quyền anh, chú giết cháu rể và giành ngôi của cháu con anh ruột, để nhà Tây Sơn đổ vỡ từ bên trong? Ba là  Nguyễn Công Trứ chống đối hay ủng hộ Nguyễn Du khi trong bài “Vịnh Thúy Kiều” Nguyễn Công Trứ đã viết: “Từ Mã Giám Sinh cho đến chàng Từ Hải. Cánh hoa tàn đem bán lại chốn thanh lâu. Bấy giờ Kiều còn hiếu vào đâu. Mà bướm chán ong chường cho đến thế. Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa. Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm. Bán mình trong bấy nhiêu năm. Đố đem chữ hiếu mà làm được ai“.

Kết quả sau 5 năm tìm tòi, tôi có ba phát hiện mới: Một là Nguyễn Du không chỉ là nhà thơ lớn và danh nhân văn hóa thế giới mà còn là một danh sĩ tinh hoa, hiền tài lỗi lạc của Việt Nam. Nguyễn Du đã vượt lên vinh nhục bản thân giữa thời nhiễu loạn, vàng lầm trong cát để trao lại ngọc cho đời. Nguồn sử liệu và phân tích chi tiết qua các bài Nguyễn Du đêm thiêng đọc lại; Nguyễn Du 250 năm nhìn lạiNguyễn Du cuộc đời và thời thếHai là Nguyễn Du trong tác phẩm Truyện Kiều có hình tượng các nguyên mẫu Nguyễn Du là Từ Hải và Hồ Xuân Hương là Thúy Kiều. Nguyễn Du thương Hồ Xuân Hương đọa đày tủi nhục không được chung sống với người minh yêu “Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung” phải trãi qua ba đời chồng, cam chịu lẽ mọn, chỉ tỏa sáng bia miệng giai thoại và Lưu Hương Ký. Hồ Xuân Hương thương Nguyễn Du long đong chìm nổi bị người đời và lịch sử thị phi vì “bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn” làm một tôi trung của nhà Lê, cam chịu cảnh mười lăm năm lưu lạc, chỉ hé lộ với Bắc Hành tạp lục và Truyện Kiều chứa một trời tâm sự để trao lại ngọc cho đời. Hồ Xuân Hương khen Nguyễn Du là anh hùng “Tấn Dương được thấy mây rồng có phen” khen Tấn Văn Công bôn ba, khí phách của người quân tử chịu hoạn nạn. Nguyễn Du thương Hồ Xuân Hương “khen cho con mắt tinh đời. Anh hùng đoán giữa trần ai mới già” . Nguyễn Du đã dùng lời Thúy Kiều đánh giá “Từ Hải” và lời của Từ Hải thán phục Thúy Kiều, để thể hiện sự ý hợp tâm đầu của đôi nam nữ “trai anh hùng, gái thuyền quyên” Nguồn sử liệu và phân tích chi tiết qua các bài Nguyễn Du với Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du là bậc anh hùng;  Nguyễn Du kiệt tác thơ chữ Hán, Nguyễn Du và Hồng Sơn Liệp Hộ. Ba là Nguyễn Du cuộc đời và tác phẩm là tấm gương soi thấu nhiều uẩn khúc lịch sử . Bí mật kho báu trên đỉnh Tuyết SơnNguyễn Du Xuân Hương luận anh hùng. Nguyễn Du cuộc đời và thời thế; Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc 1781-1796; Nguyễn Du và đền cổ Trung Liệt; Hồ Xuân Hương kiệt tác thơ chữ Hán đang hé lộ tư liệu mới về bí mật ngoại giao thời Tây Sơn,  Nguyễn Du và thời đại Nguyễn Du.

Nhóm K4 Trường Đại Học Nông Nghiệp (GS. Vũ Mạnh Hải người đứng hàng cuối thứ 5 từ trái qua, có nhà ở gần số 124 Thụy Khê dấu tích liên quan câu chuyện “Nguyễn Du và đền cổ Trung Liệt” và Những câu thơ lưu lạc. (Ghi chú của Hoàng Kim).

Có một ngày như thế Chúc mừng ngày kỷ niệm tình bạn với Hoa Nguyen Phu Hoàng, chúng tôi tin rằng tình bạn là điều thật đặc biệt. Bạn đã trở thành bạn bè trên Facebook với Hoa 4 năm trước. Chúng tôi đã tìm thấy kỷ niệm này và hy vọng các bạn thích ôn lại!

Xem tiếp …

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Bài liên quan
Con đường di sản Lewis và Clark
Đất nước Mexico ấn tượng lắng đọng
Praha Goethe và lâu đài cổ
500 năm nông nghiệp Brazil
Ngày xuân đọc Trạng Trình
Nguyễn Du 250 năm nhìn lại

Tô Đông Pha vầng trăng cổ tích
Trúc Lâm thăm thẳm một góc nhìn
Video yêu thích

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Chào ngày mới 17 tháng 5


Frederic II de prusse.jpg
CNM365. Chào ngày mới 17 tháng 5. Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Hiến pháp ( Na UyNauru). Năm 1742Chiến tranh Silesia lần thứ nhất: Nhà vua nước Phổ Friedrich II Đại Đế đánh tan tác quân Áo trong trận đánh tại Chotusitz.

17 tháng 5

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày 17 tháng 5 là ngày thứ 137 (138 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 228 ngày trong năm.

« Tháng 5 năm 2015 »
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31

Mục lục

Sự kiện

Sinh

Mất

  • 1916Thái Phiên, một trong những người đầu tiên theo Tây học tham gia phong trào chống thực dân Pháp ở miền Trung
  • 1938Tào Côn, nhân vật quân sự và chính trị người Trung Quốc, tổng thống của Trung Quốc (s. 1862)
  • 2007Phạm Khắc, nhà quay phim, nhà nhiếp ảnh Việt Nam (s. 1939)
  • 2010Hữu Lộc, nghệ sĩ hài, doanh nhân người Việt Nam,

Ngày lễ và kỷ niệm

Tháng 1 | Tháng 2 | Tháng 3 | Tháng 4 | Tháng 5 | Tháng 6 | Tháng 7 | Tháng 8 | Tháng 9 | Tháng 10 | Tháng 11 | Tháng 12

Tham khảo

Na Uy

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Vương quốc Na Uy
Kongeriket Norge Bản mẫu:Nb icon
Kongeriket Noreg (tiếng Na Uy Nynorsk)
Flag of Norway.svg Coat of arms of Norway.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Na Uy
Khẩu hiệu
Alt for Norge
(Tiếng Na Uy: “Đoàn kết và trung thành cho đến khi núi Dovre sụp đổ”)
Quốc ca
Ja, vi elsker dette landet

Trình đơn
0:00
Hành chính
Chính phủ Quân chủ lập hiến
Vua Harald V
Thủ tướng Erna Solberg
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Na Uy
Thủ đô Oslo
59°56′B, 10°41′Đ
Thành phố lớn nhất Oslo
Địa lý
Diện tích 385.199 km² (hạng 61)
Diện tích nước 6% %
Múi giờ Giờ châu Âu (CET) (UTC+1); mùa hè: Giờ mùa hè châu Âu (UTC+2)
Lịch sử
Từ Vương quốc Thuỵ Điển
Ngày 17 tháng 5, 1814
• Tuyên bố
Ngày 7 tháng 626 tháng 10, 1905 • Công nhận
Dân cư
Dân số ước lượng (2009) 4,850,440 (vào thời điểm 21 tháng 12, 2009) người (hạng 114)
Dân số (2001) 4.520.947 người
Mật độ 14 người/km² (hạng 166)
Kinh tế
GDP (PPP) (2003) Tổng số: 169 tỷ Mỹ kim
HDI (2004) 0,963 cao (hạng 1)
Đơn vị tiền tệ Krone Na Uy (NOK)
Thông tin khác
Tên miền Internet .no

Na Uy (Bokmål: Norge; Nynorsk: Noreg), quốc danh hiện tại là Vương quốc Na Uy (Bokmål: Kongeriket Norge; Nynorsk: Kongeriket Noreg), là một quốc gia theo thể chế quân chủ lập hiến tại Bắc Âu chiếm phần phía tây Bán đảo Scandinavia. Nước này giáp biên giới với Thuỵ Điển, Phần Lan, và Nga. Khoảng cách từ các phần phía bắc và phía nam Na Uy lớn hơn rất nhiều so với khoảng cách từ đông sang tây. Đường bờ biển dài dọc theo Bắc Đại Tây Dương của quốc gia này là nơi có những fjord (vịnh hẹp) nổi tiếng của họ.

Vương quốc Na Uy gồm các lãnh thổ của đảo SvalbardJan Mayen tại Bắc Cực. Chủ quyền của Na Uy với Svalbard được đặt ra trên cơ sở Hiệp ước Svalbard, nhưng nó không được áp dụng cho Jan Mayen. Đảo Bouvet tại Nam Đại Tây Dương và những lời tuyên bố chủ quyền với Đảo Peter IVùng đất Nữ hoàng Maud tại Nam Cực cũng là những vùng phụ thuộc bên ngoài của quốc gia này, nhưng không phải là một phần của Vương Quốc.

Từ sau Thế chiến II, kinh tế Na Uy phát triển nhanh chóng, hai thập kỉ đầu chủ yếu nhờ vào hàng hải, từ đầu những năm 1970 chủ yếu dựa vào khai thác và chế biến lượng lớn dầu mỏ tại Biển BắcBiển Na Uy. Ngày nay, Na Uy được xếp hạng là nước thịnh vượng nhất thế giới[1][2][3] với khối lượng dự trữ vốn trên đầu người cao nhất thế giới. Tháng 8 2009, Dự trữ quốc gia Na Uy tuyên bố họ sở hữu khoảng 1% chứng khoán toàn cầu. Hiện nay Na Uy là nước xuất khẩu dầu mỏ lớn thứ bảy[4] và công nghiệp dầu khí đóng góp khoảng một phần tư cho tổng GDP.[5] Sau khủng hoảng tài chính quốc tế 2007-2009, các chuyên gia ngân hàng đã coi đồng Krone Na Uy là một trong những đồng tiền vững chắc nhất thế giới.[6]

Na Uy được xếp hạng cao nhất về phát triển con người từ năm 2001 tới năm 2006.[cần dẫn nguồn] Nước này cũng được xếp hạng là quốc gia an toàn nhất thế giới năm 2007 theo một cuộc khảo sát của Global Peace Index.[7]

Mục lục

Nguồn gốc quốc hiệu

Danh xưng “Na Uy” trong tiếng Việt bắt nguồn từ “挪威” (bính âm: Nuówēi), dịch danh Trung văn của quốc hiệu Na Uy (Norway trong tiếng Anh).

Nhiều nhà từ nguyên học tin rằng quốc hiệu Na Uy (Bokmål: Norge; Nynorsk: Noreg) bắt nguồn từ các Ngôn ngữ Bắc Germanic và nó có nghĩa là “con đường dẫn về hướng bắc”, trong tiếng Bắc Âu cổ sẽ là nor veg hay *norð vegr.[cần dẫn nguồn] Tên gọi của Na Uy trong tiếng Bắc Âu cổ và Nynorsk khá giống với từ trong tiếng Sami cổ có nghĩa “dọc theo bờ biển” hay “dọc biển” – được nhận diện trong từ nuorrek hiện tại ở tiếng Lule Sami. Sự hiện diện của dấu prosecutive case cổ (thỉnh thoảng cũng được gọi là prolative trong nghiên cứu ngôn ngữ Finno-Ugric) ủng hộ suy luận rằng từ Sami là bản xứ và không phải đã được vay mượn từ các ngôn ngữ Bắc Germanic.

Trong các ngôn ngữ bản xứ khác của Na Uy, cái tên lần lượt là: Lule Sami: Vuodna; Nam Sami: Nøørje; Tiếng Phần Lan/Kven: Norja. Tên chính thức là: tiếng Na Uy: Kongeriket Norge (bokmål), Kongeriket Noreg (nynorsk); Lule Sami: Vuona gånågisrijkka; Nam Sami: Nøørjen gånkarijhke; Tiếng Phần Lan/tiếng Kven: Norjan kuningaskunta.

Lịch sử

Bài chi tiết: Lịch sử Na Uy

Các bằng chứng khảo cổ học cho thấy con người đã có mặt tại Na Uy ngay từ Thiên niên kỷ thứ 10 trước Công Nguyên (12.000 năm trước). Nghiên cứu khảo cổ cho thấy họ hoặc tới từ những vùng phía nam (bắc Đức)[cần dẫn nguồn], hay đông bắc (bắc Phần Lan hay Nga) [cần dẫn nguồn]. Từ đó họ định cư dọc bờ biển.

thế kỷ thứ 9, dường như Na Uy gồm một số vương quốc nhỏ. Theo truyền thống, Harald Fairhair đã tập hợp các tiểu quốc nhỏ thành một vào năm 872 sau Công Nguyên sau Trận Hafrsfjord. Ông trở thành vị vua đầu tiên của nước Na Uy thống nhất.

Thời kỳ Viking (thế kỷ thứ 8 tới thế kỷ 11) là một trong những giai đoạn thống nhất và mở rộng. Người Na Uy đã lập các khu định cư tại Iceland, Quần đảo Faroe, Greenland và nhiều phần của Anh Quốc và Ireland và tìm cách định cư tại L’Anse aux MeadowsNewfoundland, Canada (“Vinland” của sử thi của Erik Thorvaldsson). Người Na Uy đã thành lập các thành phố Limerick, Dublin, và Waterford của Ireland[8] và thành lập các cộng đồng thương mại gần các khu định cư Celtic của CorkDublin[cần dẫn nguồn] sau này trở thành hai thành phố quan trọng nhất của Ireland. Sự lan tràn của Thiên chúa giáo ở Na Uy trong giai đoạn này phần lớn nhờ các vị vua truyền giáo Olav Tryggvasson (995–1000) và St. Olav (1015–1028), dù Haakon the Good là vị vua Thiên chúa giáo đầu tiên của Na Uy. Các truyền thống Norse đã dần thay thế trong các thế kỷ thứ 9 và thứ 10.

Năm 1349, nạn dịch Tử thần Đen đã giết hại khoảng 40% tới 50% dân số Na Uy,[9] khiến nước này suy sụp cả về xã hội và kinh tế. Trong cuộc suy thoái này, có lẽ Triều đại Fairhair đã kết thúc năm 1387. Bề ngoài có vẻ chính trị hoàng gia ở thời điểm ấy đã dẫn tới nhiều hiệp đoàn cá nhân giữa các quốc gia Bắc Âu, cuối cùng dẫn tới việc ngôi vua của Na Uy, Đan Mạch, và Thuỵ Điển rơi vào tay Nữ hoàng Margrethe I của Đan Mạch khi nước này gia nhập Liên minh Kalmar với Đan Mạch và Thuỵ Điển. Dù Thuỵ Điển cuối cùng đã rút lui khỏi liên minh năm 1523, Na Uy tiếp tục ở lại với Đan Mạch trong 434 năm cho tới năm 1814. Trong chủ nghĩa lãng mạn quốc gia ở thế kỷ 19, giai đoạn được một số người gọi là “Đêm trường 400 Năm”, bởi tất cả hoàng gia, giới học giả và quyền lực hành chính ở các vương quốc được tập trung tại Copenhagen, Đan Mạch. Các yếu tố khác cũng góp phần vào sự suy sụp của Na Uy trong giai đoạn này. Với sự xuất hiện của Đạo Tin Lành năm 1537, Tổng giám mục tại Trondheim bị giải tán, và các nguồn thu của nhà thờ được phân chia cho triều đình ở Copenhagen tại Đan Mạch. Na Uy mất nguồn hành hương ổn định tới thánh tích của St. Olav tại hầm mộ Nidaros, và cùng với đó, là đa phần nguồn liên hệ với đời sống văn hoá và kinh tế với phần còn lại của Châu Âu. Ngoài ra, trong thế kỷ 17 Na Uy cũng bị mất một phần diện tích lãnh thổ khi mất các tỉnh Båhuslen, Jemtland, và Herjedalen cho Thuỵ Điển, sau những cuộc chiến tranh giữa Đan Mạch-Na Uy và Thuỵ Điển.

Hội đồng hiến pháp năm 1814, tranh vẽ của Oscar Wergeland.

Sau khi Đan Mạch-Na Uy bị Anh Quốc tấn công, họ tham gia vào liên minh với Napoleon, và vào năm 1814 thấy mình đang ở bên thua cuộc trong Các cuộc chiến tranh của Napoléon và trong tình thế nguy ngập với nạn đói năm 1812. Vị vua Oldenburg của Đan Mạch Na Uy buộc phải nhường Na Uy cho Thuỵ Điển, trong khi các tỉnh cũ của Na Uy là Iceland, Greenland và Quần đảo Faroe vẫn tiếp tục thuộc về triều đình Đan Mạch. Na Uy lợi dụng cơ hội này để tuyên bố độc lập, chấp nhận một hiến pháp dựa trên mô hình hiến pháp MỹPháp, và bầu vị thái tử người Đan Mạch Christian Fredrik lên làm vua ngày 17 tháng 5 năm 1814. Tuy nhiên, quân đội Thuỵ Điển đã buộc Na Uy phải gia nhập một liên minh cá nhân với Thuỵ Điển, lập ra triều đại Bernadotte nắm quyền cai trị Na Uy. Theo thoả thuận này, Na Uy giữ hiến pháp tự do và các định chế độc lập của mình, ngoại trừ quan hệ đối ngoại. Xem thêm Na Uy năm 1814.

Giai đoạn này cũng chứng kiến sự nổi lên của phong trào văn hoá Chủ nghĩa quốc gia lãng mạn Na Uy, khi người Na Uy tìm cách định nghĩa và thể hiện một bản sắc quốc gia riêng biệt. Phong trào này liên quan tới mọi nhánh văn hoá, gồm cả văn học (Henrik Wergeland, Bjørnstjerne Bjørnson, Peter Christen Asbjørnsen, Jørgen Moe, Henrik Ibsen), hội hoạ (Hans Gude, Adolph Tidemand), âm nhạc (Edvard Grieg), và thậm chí trong cả chính sách ngôn ngữ, những nỗ lực nhằm xác định một ngôn ngữ viết bản xứ cho Na Uy đã dẫn tới các hình thức ngôn ngữ viết chính thức hiện nay cho Tiếng Na Uy: BokmålNynorsk.

Christian Michelsen, một ông trùm ngành tàu bè và là một chính khách, đã làm Thủ tướng Na Uy từ năm 1905 tới năm 1907. Michelsen nổi tiếng nhất về vai trò quan trọng của ông trong cuộc ly khai hoà bình của Na Uy với Thuỵ Điển ngày 7 tháng 7 năm 1905. Sự bất mãn ngày càng tăng của Na Uy về liên minh với Thuỵ Điển hồi cuối thế kỷ 19 cộng với chủ nghĩa quốc gia đã thúc đẩy nhanh sự tan rã của liên minh. Sau một cuộc trưng cầu dân ý xác định sự ưa chuộng của người dân với chế độ quân chủ hơn một nền cộng hoà, chính phủ Na Uy đã đề xuất trao ngôi báu Na Uy cho Hoàng tử Đan Mạch Carl và Nghị viện đã nhất trí bầu ông. Ông lấy tên Haakon VII, theo các vị vua khi Na Uy độc lập thời Trung Cổ. Năm 1898, tất cả mọi nam giới đều được trao quyền bầu cử, sau đó phụ nữ năm 1913.

Trong Thế chiến I, Na Uy là một nước trung lập. Na Uy cũng tìm cách tuyên bố trung lập trong Thế chiến II, nhưng đã bị các lực lượng Đức xâm lược Na Uy ngày 9 tháng 4 năm 1940. Na Uy không hề chuẩn bị trước cho một cuộc tấn công bất ngờ như vậy của Đức, nhưng các cuộc kháng cự quân sự vẫn diễn ra trong hai tháng, lâu hơn bất kỳ một quốc gia nào khác bị người Đức xâm lược, ngoại trừ Liên bang Xô viết. Trong Chiến dịch Na Uy, Kriegsmarine mất nhiều tàu chiến kể cả chiếc tuần dương hạm Blücher. Những trận chiến VinjesvingenHegra đã trở thành những cứ điểm kháng cự cuối cùng của người Na Uy ở phía nam nước này vào tháng 5, trong khi các lực lượng vũ trang ở phía bắc tung ra các cuộc tấn công vào các lực lượng Đức trong Các trận đánh Narvik, cho tới khi họ buộc phải đầu hàng ngày 10 tháng 6 sau khi mất sự hỗ trợ của Đồng Minh đi cùng sự thất trận của nước Pháp. Vua Haakon và chính phủ Na Uy tiếp tục cuộc chiến trong hoàn cảnh tị nạn tại Rotherhithe, Luân Đôn. Vào ngày cuộc xâm lược diễn ra, vị đồng lãnh đạo của Đảng Quốc gia-Xã hội nhỏ Nasjonal SamlingVidkun Quisling — đã tìm cách lên nắm quyền lực, nhưng đã bị quân chiếm đóng Đức gạt ra rìa. Quyền lực thực sự nằm trong tay chính quyền chiếm đóng Đức, Reichskommissar Josef Terboven. Quisling, với tư cách bộ trưởng tổng thống, sau này đã thành lập một chính phủ liên minh dưới sự quản lý của Đức. Các cơ sở tại Na Uy đã chế tạo nước nặng, một nguyên liệu chủ chốt chế tạo vũ khí hạt nhân, và cuối cùng đã bị người Đức bỏ lại sau nhiều nỗ lực phá huỷ cơ sở Vemork của người Na Uy, người Anh và người Mỹ. Trong những năm chiếm đóng của Phát xít, người Na Uy đã xây dựng một phong trào kháng chiến mạnh chống lại các lực lượng chiếm đóng Đức bằng cả chiến tranh vũ trang và bất tuân dân sự. Tuy nhiên, yếu tố quan trọng hơn với Đồng Minh, là vai trò của hải quân thương mại Na Uy. Ở thời điểm xảy ra cuộc xâm lược, Na Uy có hạm đội tàu biển thương mại đứng hàng thứ tư thế giới (cũng như có tốc độ nhanh nhất và hiệu quả nhất). Công ty tàu biển Na Uy Nortraship đã nằm dưới sự điều khiển của Đồng Minh trong suốt cuộc chiến và tham gia vào mọi chiến dịch từ việc sơ tán Dunkirk tới cuộc đổ bộ vào Normandy.

Sau cuộc chiến, những thành viên đảng Dân chủ Xã hội lên nắm quyền và lãnh đạo quốc gia trong hầu hết thời gian cuộc chiến tranh lạnh. Na Uy đã gia nhập NATO năm 1949, và trở thành một đồng minh thân cận của Hoa Kỳ. Hai cuộc trưng cầu dân ý nhằm gia nhập Liên minh Châu Âu (được gọi là Cộng đồng Châu Âu năm 1972) đã thất bại với tỷ số mong manh năm 1972 và 1994. Những nguồn dự trữ dầu mỏ và khí gas lớn đã được khám phá trong thập niên 1960, dẫn tới sự bùng nổ kinh tế sau đó.

Địa lý, Khí hậu và Môi trường

Bài chi tiết: Địa lý Na Uy

Hình vệ tính lục địa Na Uy vào mùa đông

Na Uy gồm phần phía tây của ScandinaviaBắc Âu. Bờ biển lởm chởm, bị chia cắt bởi nhiều vịnh hẹp (fjord) và khoảng 50.000 hòn đảo, trải dài hơn 2.500 km. Na Uy có 2.542 km đường biên giới trên bộ chung với Thuỵ Điển, Phần Lan, và Nga ở phía đông. Từ phía tây tới phía nam, Na Uy giáp với Biển Na Uy, Biển Bắc, và Skagerak. Biển Barents nằm ở các bờ biển phía bắc Na Uy..

Với diện tích 385.155 km² (gồm cả Jan Mayen, Svalbard), Na Uy hơi lớn hơn Đức, nhưng đa phần lãnh thổ là núi non hay vùng đất cao, với sự đa dạng lớn về địa hình tự nhiên do các dòng sông băng thời tiền sử gây nên. Đặc điểm đáng chú ý nhất là các vịnh hẹp: Những rãnh sâu cắt vào đất liền của biển sau sự chấm dứt của Thời kỳ băng hà, vịnh dài nhất là Sognefjorden. Na Uy cũng có nhiều sông băng và thác nước.

Phong cảnh đặc trưng phía tây Na Uy với làng (Geiranger)

Đất đai chủ yếu gồm đá granite cứng và đá gneiss nhưng, đá acđoa, sa thạcđá vôi cũng thường thấy, và ở những khu vực có độ cao thấp nhất thường có trầm tích biển. Vì Gulf Stream những cơn gió tây, Na Uy có nhiệt độ ấm và lượng mưa lớn hơn ở các vùng có vĩ độ bắc như vậy, đặc biệt dọc theo bờ biển. Lục địa có bốn mùa riêng biệt, với mùa đông lạnh và ít mưa hơn trong đất liền. Vùgn cực bắc chủ yếu có khí hậu cận Bắc Cực biển, trong khi Svalbard có khí hậu tundra Bắc Cực.

Có sự khác biệt theo mùa lớn trong ngày. Tại các vùng phía bắc Vòng Bắc Cực, mặt trời mùa hè có thể không bao giờ xuống dưới đường chân trời, vì thế Na Uy được miêu tả là “Vùng đất của Mặt trời lúc nửa đêm.” Trong mùa hè, người dân ở phía nam Vòng Bắc Cực có ánh sáng mặt trời trong vòng gần 20 giờ trong ngày.

Các thành phố chính

Oslo là thủ đô và cũng là thành phố lớn nhất của Na Uy hiện nay. Nằm ở phía Đông Nam Na Uy, Oslo trải dài trên nhiều triền núi và quanh các hồ. Đây cũng là một trong những thành phố có giá cả sinh hoạt đắt nhất thế giới.

Thành phố lớn thứ hai của Na Uy là Bergen. Đây là cảng biển lớn nhất vương quốc Na Uy và cũng là trung tâm công nghiệp dầu khí quan trọng hàng đầu quốc gia này.

Trondheim là thành phố lớn thứ ba và là cố đô của Na Uy. Thành phố này từng là kinh đô cả về mặt chính trị, kinh tế lẫn tôn giáo của xứ sở nghìn vịnh này. Hiện nay, Trondheim còn được biết đến là trung tâm giáo dục, khoa học kỹ thuật của Na Uy với rất nhiều trường đại học nổi tiếng đóng tại đây. Thành phố Trondheim còn là nơi tổ chức Festival Sinh viên Quốc tế lớn nhất thế giới, cứ hai năm lại được tổ chức một lần. Lần gần nhất là tháng 2 năm 2007.

Chính trị

Bài chi tiết: Chính trị Na Uy

Erna Solberg là thủ tướng chính phủ mới nhất của Na Uy sau cuộc bầu cử năm 2013.

Harald V là vua hiện tại của Na Uy.

Vương quốc Na Uy là một quốc gia quân chủ lập hiến với một chính phủ theo hệ thống nghị viện. Gia đình Hoàng gia là một nhánh của gia đình hoàng gia Glücksburg, có nguồn gốc từ Schleswig-HolsteinĐức. Vai trò của nhà Vua, Harald V, chỉ mang tính nghi lễ, nhưng ông có ảnh hưởng như một biểu tượng của sự thống nhất quốc gia. Dù hiến pháp năm 1814 trao cho nhà vua nhiều quyền hành pháp quan trọng, chúng luôn được Hội đồng nhà nước thực hiện dưới danh nghĩa của nhà vua (Hội đồng hay nội các của nhà vua). Những quyền lực được hiến pháp trao cho nhà Vua chỉ là trên danh nghĩa, nhưng trong một số trường hợp có thể là rất quan trọng như trường hợp trong Thế chiến II, khi nhà Vua tuyên bố sẽ thoái vị nếu chính phủ chấp nhận đề nghị của đức. Hội đồng Nhà nước gồm một Thủ tướng và các bộ trưởng, được chỉ định chính thức bởi đức vua. Chế độ đại nghị đã xuất hiện từ năm 1884 và đòi hỏi rằng nội các không bị sự phản đối của nghị viện, và rằng sự chỉ định của nhà vua chỉ là một thủ tục khi rõ ràng có một đa số trong nghị viện thuộc một đảng hay một liên minh. Nhưng trong trường hợp cuộc bầu cử không có sự chênh lệch rõ rệt của một đảng hay một liên minh, lãnh đạo của đảng thích hợp nhất cho việc thành lập một chính phủ sẽ là vị Thủ tướng được nhà Vua chỉ định. Na Uy từng có nhiều lần có chính phủ thiểu số. Nhà Vua họp với chính phủ vào mỗi thứ sáu tại Hoàng cung (Hội đồng Nhà nước), nhưng các quyết định của chính phủ đã được đưa ra trước đó trong những cuộc họp chính phủ, do thủ tướng lãnh đạo, vào mỗi thứ ba và thứ năm. Nhà vua khai mạc nghị viện vào mỗi tháng 9, ông tiếp nhận các đại sứ tới triều đình Na Uy, và ông là Tư lệnh tối cao danh nghĩa của Lực lượng Phòng vệ Na Uy và là Người đứng đầu Nhà thờ Na Uy.

Tòa nhà quốc hội Na Uy ở Oslo.

Nghị viện Na Uy, Stortinget, hiện có 169 thành viên (đã tăng từ 165, bắt đầu từ cuộc bầu cử ngày 12 tháng 9 năm 2005). Các thành viên được bầu ra từ mười chín hạt với nhiệm kỳ bốn năm theo hệ thống đại diện tỷ lệ. Khi bỏ phiếu về vấn đề lập pháp, Storting – cho tới cuộc bầu cử năm 2009 – tự chia làm hai viện OdelstingLagting. Trong đa số trường hợp luật được chính phủ đệ trình thông qua một Thành viên Hội đồng Nhà nước, hay trong một số trường hợp là một thành viên của Odelsting trong trường hợp có nhiều lần không đồng thuận trong Storting. Tuy nhiên, hiện nay Lagting hiếm khi có sự bất đồng, đặc biệt khi phê chuẩn các quyết định của Odelsting. Một sửa đổi hiến pháp ngày 20 tháng 2 năm 2007 sẽ bãi bỏ việc chia làm hai viện sau cuộc tổng tuyển cử năm 2009.

Những trường hợp buộc tội hiếm khi xảy ra (lần cuối cùng vào năm 1927, khi Thủ tướng Abraham Berge được tuyên bố trắng án) và có thể được đưa ra chống lại các Thành viên của Hội đồng Nhà nước, của Toà án Tối cao (Høyesterett), hay Storting về những vi phạm họ có thể đã làm trong khả năng chính thức.

Trước một sửa đổi của Hiến pháp Na Uy ngày 20 tháng 2 năm 2007 các truy tố được Odelsting đưa ra và được Lagting và các thẩm phán Toà án tối cao, như một phần của Toà án Tối cao Vương quốc, xét xử. Trong hệ thống mới các trường hợp truy tố sẽ được năm thẩm phán cấp cao nhất của Toà án Tối cao và sáu thành viên không chuyên môn khác xem xét trong một trong các phòng xét xử của Toà án Tối cao (trước kia các trường hợp được xem xét trong phòng Lagting). Các đại diện của Storting không thể là các thẩm phán không chuyên môn. Các truy tố sẽ được Storting đưa ra trong một phiên họp toàn thể. Các đảng phái chính ở Na Uy bao gồm: đảng Lao động, đảng Bảo thủ, đảng Trung tâm, đảng XHCN cánh tả, đảng Nhân dân Thiên chúa giáo, đảng Cộng sản, đảng Tiến bộ, đảng Tự do,…

Mặt khác Storting hoạt động như một nghị viện đơn viện và sau cuộc tổng tuyển cử năm 2009 việc phân chia thành Odelsting và Lagting để thông qua luật pháp sẽ bị huỷ bỏ. Lập pháp khi ấy sẽ phải tra qua hai – ba trong trường hợp bất đồng – phiên họp phê chuẩn trước khi được thông qua và gửi tới nhà Vua để chuẩn y.

Tư pháp gồm Toà án Tối cao (mười tám thẩm phán thường trực và một Chánh án tối cao), các toà phúc thẩm, các toà cấp thành phố và quận, và các hội đồng hoà giải. Các thẩm phán thuộc các toà chính quy và được Vua hội đồng chỉ định.

Để thành lập một chính phủ, hơn một nửa thành viên của Hội đồng Nhà nước phải thuộc Nhà thờ Na Uy. Hiện tại, điều này có nghĩa ít nhất mười trong số mười chín thành viên.

Vào tháng 12 mỗi năm, Na Uy tặng một cây thông Noel cho Anh Quốc, để cảm ơn sự hỗ trợ của nước này trong Thế chiến II. Một buổi lễ dựng cây diễn ra tại Quảng trường Trafalgar.[10]

Trong bản báo cáo Chỉ số Tự do Báo chí Thế giới năm 2007 của mình Phóng viên Không Biên giới xếp hạng Na Uy ở vị trí đầu tiên (cùng với Ireland) trong số 169 quốc gia.[11]

Na Uy là một thành viên của Liên Hiệp Quốc, NATO, và Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển.

Cung điện Hoàng gia Na Uy tại Oslo.

Nhà Vua

Thể chế của Na Uy theo chế độ quân chủ lập hiến đứng đầu Nhà nước là Vua. Hiến pháp Na Uy năm 1814 quy định vua theo chế độ cha truyền con nối. Nhưng hiện nay Vua chỉ mang tính chất lễ nghi, không còn quyền lực chính trị. Quyền lực chính trị thuộc về cơ quan hành pháp (Chính phủ), đứng đầu là Thủ tướng. Người nối ngôi vua sẽ là con cả, không phân biệt nam nữ.

Cơ quan lập pháp (Storting-Quốc hội)

Trước đây, Quốc hội Na Uy (Storting) gồm 2 viện: Lagting (tương đương Thượng viện) và Odelsting (tương đương Hạ viện). Kể từ năm 2009, Quốc hội Na Uy bỏ việc phân chia Quốc hội thành Thương viện và Hạ viện và theo chế độ một viện (unicameral) với 169 nghị sỹ, nhiệm kỳ 4 năm.

Chế độ bầu cử của Na Uy dựa trên nguyên tắc bỏ phiếu kín, bầu trực tiếp và theo tỷ lệ. Cả nước có 19 đơn vị bầu cử. Những người chưa có quốc tịch Na Uy thì được quyền tham gia bầu cử ở địa phương, nếu đến ngày bầu cử họ đã sống liên tục ở Na Uy được 3 năm và đáp ứng các điều kiện chung về bầu cử. Quốc hội hiện nay (nhiệm kỳ 2009- 2012) có 169 ghế, trong đó Công Đảng chiếm đa số (64 ghế tương đương 35,4%).

Cơ quan hành pháp (Chính phủ)

Chính phủ hiện nay là chính phủ đa số liên minh cánh tả (liên minh xanh – đỏ) gồm 3 đảng: Công đảng, Đảng Xã hội chủ nghĩa cánh tả (XHCN), Đảng Trung tâm do ông Jens Stoltenberg (chủ tịch Công đảng) đứng đầu. Chính phủ hiện có 17 Bộ (không bao gồm Văn phòng Thủ tướng).

Quan hệ ngoại giao

Về đối ngoại

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Na Uy điều chỉnh chính sách đối ngoại từ “trung lập hạn chế” sang liên minh quân sự và gia nhập NATO (1949) để có sự đảm bảo của MỹTây Âu cho an ninh và quốc phòng, vì Na Uy luôn luôn lo ngại ảnh hưởng của Nga. Na Uy tham gia lực lượng phản ứng nhanh của NATO ở Trung Đông, ủng hộ Mỹ trong hầu hết các vấn đề quốc tế. Cùng với các nước Bắc Âu khác, Na Uy chủ trương cải tổ Liên Hiệp Quốc, trong đó có Hội đồng bảo an nhằm đảm bảo dân chủ và quyền bình đẳng giữa các nước thành viên Liên Hiệp Quốc. Na Uy đang thực hiện kế hoạch điều chỉnh quan hệ đối ngoại, tập trung nguồn lực nhiều hơn trong quan hệ với các nước mới nổi (BRIC) gồm có Brasil, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ nhằm tận dụng nguồn lực phát triển của các nước này.

Quan hệ với Liên minh Châu Âu

Na Uy chủ trương gia nhập Liên minh châu Âu (EU) từ những năm 70 nhưng chưa được đa số người dân Na Uy ủng hộ. Na Uy vẫn tham gia vào các hoạt động của EU, tiếp tục đóng góp cho quỹ EEA để hỗ trợ giải quyết các vấn đề xã hội ở EU. Tuy nhiên, phản đối của người dân Na Uy trong việc gia nhập EU ngày càng tăng (70%) và một số quy định của EU vẫn gặp khó khăn trong việc phê chuẩn ở Na Uy.

Với Châu Á nói chung

Năm 1996, Quốc hội Na Uy thông qua “Chiến lược châu Á” nhằm tăng cường quan hệ chính trị và mở rộng hợp tác kinh tế, thương mại, văn hoá lâu dài với các nước ở khu vực này. Hiện nay, Na Uy có quan hệ thương mại nhiều với Nhật Bản, Trung Quốc và ngày càng chú trọng đến khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.

Vấn đề dân chủ, nhân quyền

Là một trong những ưu tiên hàng đầu của Na Uy hiện nay. Bộ Ngoại giao Na Uy chịu sức ép rất lớn từ Quốc hội Na Uy về vấn đề này, do đó, phía Na Uy đánh giá cao cơ chế đối thoại nhân quyền với các nước nói chung và với Việt Nam nói riêng.

Hạt và Khu vực đô thị

Xem thêm thông tin: Vùng Na Uy và Phân chia khu vực Na Uy

Một bản đồ địa lý Na Uy, thể hiện mười chín khu vực hành chính cấp một (fylker: “counties”)

Na Uy được chia thành mười chín vùng hành chính cấp một được gọi là fylker (“Hạt“, số ít fylke) và 431 kommuner cấp hai (“Khu đô thị“, số ít kommune). fylke là cấp hành chính trung gian giữa nhà nước và khu đô thị. Nhà vua có đại diện ở mọi hạt bởi một Fylkesmann.

Hiện có tranh cãi đang về việc liệu mười chín “fylker” có nên được thay thế bằng từ năm tới chín vùng lớn hơn không.[cần dẫn nguồn] Một số người hy vọng việc này sẽ xảy ra năm 2010, trong khi những người khác lại mong đợi cấp hành chính trung gian sẽ hoàn toàn bị bãi bỏ. Một lựa chọn khác có thể sẽ là củng cố các khu đô thị vào các thực thể lớn hơn và trao trách nhiệm lớn hơn cho chúng.

Các hạt Na Uy gồm:

Kinh tế

Bài chi tiết: Kinh tế Na Uy

Na Uy sở hữu mức GDP trên đầu người đứng thứ hai và GDP (sức mua tương đương) trên đầu người đứng thứ ba thế giới, và luôn duy trì được vị trí số một thế giới trong bảng Chỉ số Phát triển Con người (HDI) của UNDP trong năm năm liên tục (2006). Tuy nhiên, Iceland đã hơi vượt hơn Na Uy ở vị trí số một về chất lượng cuộc sống theo Chỉ số Phát triển Con người.

Chi phí cuộc sống tại Na Uy cao hơn ở Hoa Kỳ khoảng 30% và 25% so với Anh Quốc.

Kinh tế Na Uy là một ví dụ về nền kinh tế hỗn hợp, với đặc trưng là một sự phối hợp giữa hoạt động thị trường tự do và sự sở hữu lớn của nhà nước. Chính phủ kiểm soát các ngành chủ chốt, như lĩnh vực dầu mỏ (StatoilHydro) chiến lược, sản xuất năng lượng thuỷ điện Statkraft), chế tạo nhôm (Norsk Hydro), ngân hàng lớn nhất Na Uy (DnB NOR) và công ty cung cấp dịch vụ viễn thông (Telenor). Chính phủ kiểm soát 31.6% công ty niêm yết công chúng. Với các công ty chưa niêm yết thậm chí nhà nước còn sở hữu số vốn lớn hơn (chủ yếu là các giấy chứng nhận sở hữu dầu mỏ trực tiếp).

Các cơ cấu kiểm soát các nguồn tài nguyên dầu mỏ là sự phối hợp giữa sở hữu nhà nước với các công ty khai thác chính tại các giếng dầu Na Uy (StatoilHydro xấp xỉ 62% năm 2007) và sở hữu toàn bộ Petoro (giá trị thị trường khoảng gấp đôi Statoil) và SDFI. Cuối cùng chính phủ kiểm soát việc cấp giấy phép khai thác và sản xuất các giếng dầu.

Quốc gia này sở hữu nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú gồm dầu mỏ, thuỷ năng, đánh cá, lâm nghiệp, và khoáng chất. Na Uy là một trong những quốc gia có tiêu chuẩn cao nhất thế giới phần lớn bởi có nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên so với quy mô dân số. Thu nhập từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên gồm cả một phần quan trọng từ dầu khí và các ngành công nghiệp liên quan cũng như việc quản lý tốt các nguồn thu từ lĩnh vực này. Na Uy luôn có tỷ lệ thất nghiệp thấp, hiện ở mức dưới 2% (tháng 6 năm 2007). Mức năng suất, cũng như mức lương trung bình trên giờ tại Na Uy thuộc hàng cao nhất thế giới. Các giá trị quân bình của xã hội Na Uy[cần dẫn nguồn] đảm bảo rằng sự cách biệt về lương giữa người công nhân có mức thu nhập thấp nhất và người quản lý cao cấp nhất ở công ty thấp hơn nhiều so với tại các nền kinh tế phương tây khác.[cần dẫn nguồn]

Năm 2006, dầu mỏ và gas chiếm 58% xuất khẩu.[cần dẫn nguồn] Chỉ NgaẢ Rập Saudi, một thành viên của OPEC, xuất khẩu nhiều dầu mỏ hơn Na Uy, vốn không phải là một thành viên OPEC. Để giảm bớt sự phát triển quá nóng từ nguồn thu dầu mỏ, sự không chắc chắn của giá dầu, và để tiết kiệm tiền cho một cộng đồng dân số đang già đi, chính phủ Na Uy bắt đầu từ năm 1995 đã để dành các khoản thu (thuế, cổ tức, giấy phép, bán hàng) trong một Quỹ tài sản quốc gia (“Quỹ trợ cấp chính phủ – Toàn cầu”). Đây cũng nhằm giảm bớt vòng bùng nổ và tan vỡ đi liền với việc sản xuất nguyên liệu thô và cách ly ngành công nghiệp phi dầu khí (xem thêm Bệnh dịch Hà Lan).

Vì kích cỡ của nó nguồn vốn đã được đầu tư vào các thị trường tài chính phát triển bên ngoài Na Uy. Quy định ngân sách (“Handlingsregelen”) là chi tiêu không quá 4% quỹ mỗi năm (được cho là khoản thu trung bình hàng năm). Tới tháng 1 năm 2006, quỹ có giá trị 200 tỷ dollar Mỹ, chiếm 70% GDP Na Uy. Trong nửa đầu năm 2007, quỹ hưu trí đã trở thành lớn nhất ở Châu Âu, tổng cộng khoảng 300 tỷ dollar, tương đương hơn 62.000 dollar trên đầu người. Ở thời điểm tháng 4 năm 2007, Na Uy có mức dự trữ trên đầu người cao hơn tất cả các nước. Những con số cho thấy quỹ hưu trí của Na Uy sẽ trở thành quỹ tư bản lớn nhất thế giới. Những con số ước tính thận trọng cho rằng quỹ có thể đạt mức 800-900 tỷ dollar Mỹ vào năm 2017. Các nền kinh tế dựa trên tài nguyên thiên nhiên khác (ví dụ: Nga và Chile) đang tìm cách học tập Na Uy khi thành lập các quỹ tương tự.

Kích thước tương lai của quỹ tất nhiên liên quan mật thiết tới giá dầu và những sự phát triển trên các thị trường tài chính thế giới, nơi quỹ đầu tư.

Những cuộc trưng cầu dân ý năm 1972 và 1994 cho thấy người dân Na Uy muốn ở bên ngoài Liên minh Châu Âu (EU). Tuy nhiên, Na Uy cùng với IcelandLiechtenstein, tham gia vào thị trường chung Liên minh Châu Âu thông qua thoả thuận Vùng Kinh tế Châu Âu (EEA). Hiệp ước EEA giữa các quốc gia Liên minh Châu Âu và các quốc gia EFTA – đã được đưa vào luật pháp Na Uy thông qua “EØS-loven”[12] – miêu tả quá trình áp dụng các quy định của Liên minh Châu Âu tại Na Uy và các quốc gia EFTA. Điều này khiến Na Uy trở thành một thành viên tham gia sâu vào đa số các lĩnh vực của thị trường nội bộ Liên minh Châu Âu. Tuy nhiên, một số lĩnh vực, như nông nghiệp, dầu khí và đánh cá, không hoàn toàn phải tuân thủ Hiệp ước EEA. Na Uy cũng tham gia vào Thoả thuận Schengen và nhiều thoả thuận liên chính phủ khác giữa các quốc gia thành viên Liên minh Châu Âu.

Năm 2000, chính phủ bán một phần ba của công ty khi ấy đang là công ty sở hữu quốc gia 100% trong một đợt IPO. Năm sau đó, nhà cung cấp dịch vụ viễn thông chính, Telenor, đã được niêm yết trên Thị trường Chứng khoán Oslo. Nhà nước cũng sở hữu phần quan trọng trong ngân hàng lớn nhất Na Uy, DnB NOR và hãng hàng không SAS. Từ năm 2000, tăng trưởng kinh tế đã có bước phát triển nhanh, làm giảm tỷ lệ thất nghiệp tới mức thấp nhất kể từ đầu thập niên 1980.

Đồng tiền tệ quốc gia là Krone Na Uy.

Nhân khẩu

Bài chi tiết: Nhân khẩu Na Uy

Tới năm 2007, dân số Na Uy gồm 4.7 triệu người. Đa số người Na Uy thuộc sắc tộc Na Uy, một nhóm người Germanic Bắc. Người bản xứ người Sami theo truyền thống sống ở các vùng trung tâm và phía bắc Na Uy và Thuỵ Điển cũng như vùng bắc Phần Lan và tại Nga trên Bán đảo Kola. Một cộng đồng thiểu số quốc gia khác là người Kven có nguồn gốc từ những người nói tiếng Phần Lan đã tới miền bắc Na Uy ở thế kỷ 18 đến thế kỷ 20. Cả người Sami và người Kven đều là đối tượng của một chính sách đồng hoá mạnh của chính phủ Na Uy từ thế kỷ 19 cho tới những năm 1970.[13] Vì “quá trình Na Uy hoá” này, nhiều gia đình Sami và Kven hiện tự xác định mình thuộc sắc tộc Na Uy thậm chí họ không có nguồn gốc Germanic thuần chủng.[14] Điều này, cộng với một lịch sử chung sống dài lâu của người Sami và những người Bắc Germanic trên bán đảo Scandinave, khiến những tuyên bố về sắc tộc của dân cư ít phức tạp hơn mong đợi – đặc biệt ở vùng trung và bắc Na Uy. Các nhóm khác tự nhận là thiểu số quốc gia Na Uy gồm người Do Thái, Forest Finns, Roma/Gypsiesngười Rumani/Travellers.

Trong những năm gần đây, nhập cư chiếm hơn một nửa tăng trưởng dân số Na Uy. Năm 2006, cơ quan Thống kê Na Uy (SSB) cho biết 45.800 người đã nhập cư vào nước này – cao hơn năm 2005 30%. Đầu năm 2007, có 415.000 người Na Uy có nguồn gốc nhập cư (ví dụ người nhập cư, hay có cha mẹ là người nhập cư), chiếm 8.9% tổng dân số. 310.000 người trong số đó không phải là người phương Tây, gồm các nước cộng sản cũ theo định nghĩa do cơ quan Thống kê Na Uy sử dụng. Các nhóm nhập cư lớn nhất theo nguồn gốc, kích cỡ, là Pakistan, Thuỵ Điển, Iraq, Maroc, Đan Mạch, Nga, Ba Lanngười Việt Nam. Số dân nhập cư từ Iraq đã tăng mạnh trong những năm gần đây, và hiện là nhóm đứng thứ ba sau người Pakistan và người Thuỵ Điển. Những năm gần đây làn sóng người nhập cư từ Trung và Đông Âu cũng tăng mạnh và người Ba Lan được dự đoán sẽ trở thành nhóm nhập cư lớn nhất nếu khuynh hướng này tiếp diễn.[cần dẫn nguồn]

Có 285.000 người nhập cư hợp pháp không có nguồn gốc phương Tây tại Na Uy ở thời điểm tháng 1 năm 2006, phổ biến nhất là Pakistan, tiếp theo là Iraq, Việt Nam và Maroc.[15] Oslo có số dân nhập cư không phải gốc phương Tây lớn nhất với khoảng 99.000, hay 18% dân số. Số dân nhập cư tăng mạnh nhất năm 2006 có nguồn gốc từ Ba Lan, Nga, Đức, Iraq, Thuỵ Điển và Litva.[16] Oslo cũng là thành phố có đa dạng nhất ở Na Uy về người nhập cư và con cháu họ với khoảng một phần tư dân số.

Tôn giáo

Nhà thờ Nidaros ở Trondheim.

Nhà thờ Bắc Cực ở Tromsø được xem là biểu tượng của Kitô giáo ở Na Uy.
Bài chi tiết: Tôn giáo tại Na Uy

Tương tự như các quốc gia vùng Scandinavia khác, người Na Uy theo một hình thức ngoại giáo Germanic được gọi là ngoại giáo Na Uy. Tới cuối thế kỷ mười một, khi Na Uy đã Ki-tô hoá, việc theo và thực hiện các nghi thức tôn giáo Na Uy bị cấm. Tuy nhiên, các đạo luật chống ngoại giáo đã bị dỡ bỏ hồi đầu thế kỷ hai mươi.[cần dẫn nguồn] Nhiều tàn dư của tôn giáo bản xứ và các đức tin Na Uy vẫn còn tồn tại ngày nay, gồm những cái tên, những cái tên liên quan tới các thành phố và địa điểm, những ngày trong tuần, và nhiều phần khác trong ngôn ngữ hàng ngày.

Nhiều người trong cộng đồng thiểu số Sami vẫn giữ tôn giáo shamanistic của họ tới tận thế kỷ mười tám khi họ cải theo Thiên chúa giáo bởi các nhà truyền giáo Đan Mạch-Na Uy.

Theo thống kê hiện nay các tôn giáo ở Na Uy phân ra như sau: Kháng Cách dòng Giáo hội Luther 85.7%, Chính Thống giáo 1%, Công giáo Rôma 1%, Cơ đốc giáo khác 2.4%, Hồi giáo 1.8%, tôn giáo khác 8.1%.[17]

Trong số các tôn giáo không phải Kitô giáo, đạo Hồi là lớn nhất, chiếm khoảng 1.5% tổng dân số: Chủ yếu đạo này là thuộc các cộng đồng người Somalia, Ả Rập, người Albani, người Pakistanngười Thổ Nhĩ Kỳ. Các tôn giáo khác với chưa tới 1% dân số gồm Đạo Do Thái (xem Người Do Thái ở Na Uy), Nhà thờ Jesus Christ của các vị thánh ngày cuối, và Jehovah’s Witnesses. Những người nhập cư từ Ấn Độ đã đưa Hindu giáo tới Na Uy, nhưng chỉ chiếm 0.50% dân số. Phật giáo ở Na Uy có 11 tổ chức, được thống nhất dưới tổ chức Hội Phật Giáo Na Uy, với trên dưới 10.000 Phật tử, chiếm 0.42% dân số.[18] Khoảng 1.5% người Na Uy tham gia Hiệp hội Nhân văn Na Uy. Khoảng 5% dân số không theo đạo nào.[19]

Các ngôn ngữ

Bài chi tiết: Các ngôn ngữ Na Uy

Ngôn ngữ Na Uy Bắc Germanic có hai hình thức viết chính thức, BokmålNynorsk. Chúng được sử dụng chính thức như nhau, ví dụ chúng đều được dùng trong hành chính công cộng, trong các trường học, nhà thờ, đài và vô tuyến, nhưng Bokmål được đại đa số người sử dụng, khoảng 85-90%. Khoảng 95% dân số sử dụng tiếng Na Uy như tiếng mẹ đẻ, dù nhiều người nói các thổ ngữ có thể khác biệt rất nhiều so với ngôn ngữ viết. Nói chung các thổ ngữ Na Uy có thể hiểu lẫn nhau, dù một số thổ ngữ có thể đòi hỏi một số cố gắng. Nhiều ngôn ngữ Sami Finno-Ugric được nói và viết trên khắp đất nước, đặc biệt ở phía bắc, bởi người Sami. Nhà nước công nhận những ngôn ngữ đó là ngôn ngữ chính thức và những người sử dụng chúng có quyền được nhận giáo dục bằng ngôn ngữ Sami không cần biết nơi sinh sống, và nhận được thông tin từ chính phủ bằng nhiều ngôn ngữ Sami. Cộng đồng thiểu số Kven nói tiếng Phần Lan/ngôn ngữ Kven Finno-Ugric.

Các ngoại ngữ chính (primærfremmedspråk) được dạy tại Na Uy là tiếng Anh, tiếng Đứctiếng Pháp. Mọi người có thể liên hệ với chính quyền hay trải qua các kỳ thi bằng bất kỳ ngôn ngữ nào trong ba ngôn ngữ chính trên cũng như hai ngôn ngữ Bắc Germanic (tiếng Đan Mạchtiếng Thuỵ Điển)[cần dẫn nguồn].

Bất kỳ học sinh Na Uy nào có cha mẹ là người nhập cư đều được khuyến khích học tiếng Na Uy. Chính phủ Na Uy cung cấp các khoá học tiếng cho người nhập cư muốn có được quyền công dân Na Uy.

Tiếng Na Uy rất giống với các ngôn ngữ Bắc Germanic khác, tiếng Thuỵ Điểntiếng Đan Mạch. Cả ba ngôn ngữ đều có thể hiểu được lẫn nhau và có thể, nói chung, được sử dụng trong giao tiếp giữa người dân các nước vùng Scandinavia.

Nhân quyền

Hướng đạo sinh cầm cờ Na Uy dẫn đầu một đoàn diễu hành ngày 17 tháng 5, Ngày hiến pháp Na Uy

Na Uy hiện là nước được xếp hạng cao thứ hai thế giới về Chỉ số Phát triển Con người Liên hiệp quốc, một chỉ số được đưa ra dựa trên tỷ lệ người biết chữ, mức độ giáo dục và thu nhập trên đầu người, dù nước này từng xếp thứ nhất trên danh sách trong sáu năm từ 2001 tới 2006.

Quyền Tự do tư tưởng đã được quy định ở Điều 100 trong Hiến pháp Na Uy. Tự do tôn giáo được ghi trong Điều 2 Hiến pháp, điều này cũng quy định quốc giáo là “Lutheran Phúc âm”. Báo chí không bị kiểm duyệt. Các tổng biên tập tự mình phải thận trọng, nhằm bảo vệ bí mật cá nhân của mọi người và các quyền dân sự khác.(Vær Varsom-plakaten– Wikipedia Na Uy, xem [1] bản dịch sang tiếng Anh).

Đài phát thanh và truyền hình công cộng không bị sự can thiệp của chính phủ, dù giấy phép truyền thanh, truyền hình phụ thuộc vào tính chất của chương trình. Phát sóng quảng cáo bị quản lý, với một số giới hạn đặc biệt về các thông tin quảng cáo chính trị có trả tiền và quảng cáo trực tiếp tới trẻ em.

Hiến pháp cấm các luật có hiệu lực trong quá khứ, việc trừng phạt dựa trên các luật và các quyết định toà án, và việc sử dụng tra tấn. Tử hình với các tội nặng trong thời gian chiến tranh đã bị huỷ bỏ năm 1979.[20]

Năm 1999, các thoả ước Nhân quyền của Liên hiệp quốcHội đồng Châu Âu đã được đưa thành luật pháp ở Na Uy (menneskerettsloven) và chúng có quy chế ưu tiên chỉ sau hiến pháp.[21] Tuy nhiên, các luật sư Na Uy đã gia nhập Uỷ ban chống Tra tấn của Hội đồng Châu Âu nhằm thể hiện sự lo ngại của mình với sự giam giữ lâu ngày với những người bị kiện tụng và việc sử dụng hình phạt biệt giam ở Na Uy, coi nó là hình thức tra tấn.[22] Thời gian xử lý đơn xin nhập cư dài cũng như việc xử lý những người định cư bất hợp pháp cũng đang bị tranh cãi.

Năm 2005, các thoả ước quốc tế chống phân biệt nam nữ và dòng giống đã được đưa vào (nhưng không vượt hơn) luật pháp Na Uy. Tổ chức Ân xá Quốc tế gần đây đã chú ý tới tình trạng bạo lực chống phụ nữ ở Na Uy và sự thiếu hụt dịch vụ chăm sóc các nạn nhân bạo lực.[23]

Na Uy có chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc với nam giới. Việc thực hiện nghĩa vụ quân sự bắt đầu ở tuổi 18 cho lần phục vụ đầu tiên (førstegangstjeneste) trong thời gian sáu tới mười hai tháng (việc này có thể bắt đầu từ tuổi 17 theo sở thích cá nhân). Sau khi hoàn thành giai đoạn nghĩa vụ quân sự đầu tiên, các quân nhân được chuyển sang các đơn vị phục vụ, và có thể được triệu tập cho các đợt huấn luyện theo giai đoạn (repetisjonstjeneste) cho tới tuổi 44. Những người từ chối nghĩa vụ quân sự sẽ phải phục vụ mười hai tháng cho một hoạt động dịch vụ dân sự quốc gia. Nếu người đó từ chối thực hiện hoạt động này (sesjon), theo đó bất kỳ sự từ chối nào với nghĩa vụ quân sự tương lai được đề cập tới, anh ta có thể bị truy tố. Một người dường như thích hợp để thực hiện nghĩa vụ và không phải là một người từ chối thực hiện nghĩa vụ, nhưng vẫn từ chối thực hiện hoạt động quân sự cũng có thể bị truy tố. Những thay đổi trong cơ cấu các lực lượng vũ trang đã dẫn tới nhu cầu về nghĩa vụ quân sự bắt buộc giảm đi, và số nam giới cần thiết cũng đang sụt giảm.

Đồng tính đã chính thức bị loại bỏ khỏi tội danh hình sự năm 1972 và hôn nhân đồng giới dân sự đã được quy định năm 1993. Theo cơ quan Thống kê Na Uy (SSB), 192 cuộc hôn nhân đồng giới đã được ghi nhận từ năm 2004. Từ năm 2002, các cặp đồng giới đã có thể được nuôi con của người kia từ những cuộc hôn nhân trước, dù việc cùng nhận con nuôi mãi tới năm 2007 mới được phép.

Xếp hạng quốc tế

Tổ chức Lĩnh vực Xếp hạng
Quỹ Tiền tệ Quốc tế GDP trên đầu người 2 trên 232 (2006)
Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc Chỉ số Phát triển Con người 2 trong số 177 (2007) (1, 2001-2006)
A.T. Kearney / Chính sách Đối ngoại Globalization Index 2005 14 trên 111
Heritage Foundation / Wall Street Journal Chỉ số Tự do Kinh tế 2006 30 trên 155
Phóng viên Không Biên giới Phóng viên Không biên giới#Chỉ số Tự do Báo chí Thế giới 1 trên 168 (1st 2002-2005)
Save the Children Quốc gia các Bà mẹ của Thế giới 2004  (Trẻ em) 1 trên 119
Save the Children Quốc gia các Bà mẹ của Thế giới 2004  (Phụ nữ) 6 trên 119
Save the Children Quốc gia các Bà mẹ của Thế giới 2004  (Các bà mẹ) 6 trên 119
UNICEF Child Well-being league table 7 trên 21 quốc gia công nghiệp
Minh bạch Quốc tế Chỉ số Nhận thức Tham nhũng 2004 8 trên 145
Diễn đàn Kinh tế Thế giới Báo cáo Cạnh tranh Quốc tế 2005-2006 9 trên 117
Nationmaster Đình công 5 trên 27
The Economist Intelligence Unit Chỉ số Chất lượng Cuộc sống Thế giới, 2005 3 trên 111
Yale University/Columbia University Chỉ số Bền vững Môi trường, 2005 (pdf) 2 trên 146
The Fund for Peace Failed States Index, 2007 177 trên 177 (177 là hạng tốt nhất)
The Economist Global Peace Index 1 trên 121

Văn học

Bài chi tiết: Văn học Na Uy

Lịch sử văn học Na Uy bắt đầu với những bài thơ Eddaicthơ skaldic ngoại giáo ở thế kỷ thứ 9 và thứ 10 với những nhà thơ như Bragi BoddasonEyvindr Skáldaspillir. Sự xuất hiện của Thiên chúa giáo ở khoảng năm 1000 đã đưa Na Uy tiếp xúc với những tri thức, tiểu sử các vị thánh, và lịch sử bằng chữ viết của Châu Âu thời Trung Cổ. Hoà trộn với truyền thống khẩu ngữ địa phương và ảnh hưởng của Ireland nó đã dẫn tới giai đoạn phát triển rực rỡ của văn chương ở cuối thế kỷ 12 đầu thế kỷ 13. Các tác phẩm chính của giai đoạn này gồm Historia Norwegie, Thidreks sagaKonungs skuggsjá.

Thời kỳ Liên minh Scandinave và Liên minh Đan Mạch-Na Uy (1387—1814) có ít tác phẩm văn học Na Uy xuất hiện, ngoại trừ một số tác phẩm đáng lưu ý của Petter DassLudvig Holberg. Trong vở kịch Peer Gynt của mình, Ibsen đã gọi giai đoạn này là “Hai lần hai trăm năm bóng tối/nghiền ngẫm về cuộc đua của những chú khỉ”, dù dòng sau này thường không được trích dẫn nhiều như dòng trước. Trong thời gian liên minh với Đan Mạch, văn viết tiếng Na Uy đã thay thế bởi chữ Đan Mạch.

Hai sự kiện lớn đã thúc đẩy sự hồi sinh của văn học Na Uy. Năm 1811 một trường đại học Na Uy được thành lập tại Christiania. Với tinh thần cách mạng sau các cuộc Cách mạng Mỹ và Pháp, người Na Uy đã ký bản hiến pháp đầu tiên của mình năm 1814. Ngay sau đó, từ sự tù túng văn hoá Na Uy đã đưa lại cho thế giới một loạt các tác gia được công nhận đầu tiên ở Scandinavia, và sau đó là trên toàn thế giới; trong số đó có Henrik Wergeland, Peter Asbjørnsen, Jørgen MoeCamilla Collett.

Tới cuối thế kỷ 19, ở Thời Vàng son của văn hoá Na Uy, cái gọi là Bộ bốn Vĩ đại xuất hiện: Henrik Ibsen, Bjørnstjerne Bjørnson, Alexander Kielland, và Jonas Lie. “Các tiểu thuyết nông dân” của Bjørnson, như “En glad gutt” (Một chú bé hạnh phúc) và “Synnøve Solbakken” là kiểu chủ nghĩa lãng mạn quốc gia tiêu biểu của thời gian ấy, trong khi đó các tiểu thuyết và truyện ngắn của Kielland chủ yếu mang tính hiện thực. Dù một người đóng góp quan trọng vào chủ nghĩa lãng mạn Na Uy thời kỳ đầu (đặc biệt là tác phẩm châm biếm Peer Gynt), tên tuổi của Henrik Ibsen chủ yếu được biết tới là người tiên phong với các vở kịch hiện thực như Chú vịt hoangMột ngôi nhà búp bê, nhiều vở đã gây ra những tiếng vang về đạo đức vì nội dung của nó chính là chân dung của tầng lớp trung lưu.

Ở thế kỷ hai mươi ba tiểu thuyết gia Na Uy đã được trao Giải Nobel văn học: Bjørnstjerne Bjørnson năm 1903, Knut Hamsun cho cuốn sách “Markens grøde” (“Nhựa của đất”) năm 1920, và Sigrid Undset năm 1928. Trong thế kỷ hai mươi các tác gia như Dag Solstad, Jostein Gaarder, Jens Bjørneboe, Kjartan Fløgstad, Lars Saabye Christensen, Johan Borgen, Herbjørg Wassmo, Jan Erik Vold, Rolf Jacobsen, Olaf Bull, Jan Kjærstad, Georg Johannesen, Tarjei Vesaas, Sigurd Hoel, Arnulf ØverlandJohan Falkberget đã có những đóng góp quan trọng cho văn học Na Uy.

Xem thêm

Văn hoá, giáo dục và thể thao

Cơ sở hạ tầng

Các danh sách

Chú thích

  1. ^ World Economic Outlook Database-tháng 4 năm 2009, Gross domestic product per capita, current prices, International Monetary Fund. Truy cập 22 tháng 4, 2009.
  2. ^ World Economic Outlook Database-tháng 4 năm 2009, Gross domestic product based on purchasing-power-parity (PPP) per capita GDP, International Monetary Fund. Truy cập 22 tháng 4, 2009.
  3. ^ “Report for selected countries and subjects – current account balance, U.S. dollars, billions”. International Monetary Fund. http://www.imf.org. Tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2009.
  4. ^ “CIA — The World Factbook — Rank Order — Oil — exports”. Cia.gov. 10 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2009.
  5. ^ “UPDATE 1-Statistics Norway raises ’07 GDP outlook, cuts ’08”. Uk.reuters.com. 6 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2009.
  6. ^ “Norway: A Diamond in the Rough?”. blog.norway.com. 26 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2009.
  7. ^ BBC NEWS | Special Reports | Norway rated most peaceful nation
  8. ^ RF Foster: “The Oxford History of Ireland”, Oxford University Press, 1989
  9. ^ http://www.ncbi.nlm.nih.gov/entrez/query.fcgi?cmd=Retrieve&db=PubMed&list_uids=2197762&dopt=Abstract The Black Death in Norway
  10. ^ Aftenposten Newspaper: PM to light London tree (tiếng Anh)
  11. ^ Reporters Without Borders: Worldwide Press Freedom Index 2007 (tiếng Anh)
  12. ^ /d: LOV-1992-11-27-109:d/ EØS-loven – EØSl
  13. ^ Eivind Bråstad Jensen. 1991. Fra fornorskningspolitikk mot kulturelt mangfold. Nordkalott-Forlaget.
  14. ^ I. Bjørklund, T. Brantenberg, H. Eidheim, J.A. Kalstad and D. Storm. 2002. Australian Indigenous Law Reporter (AILR) 1 7(1)
  15. ^ Immigrant population
  16. ^ Immigrant population
  17. ^ Thế giới
  18. ^ http://www.quangduc.com/quocte/01pgkhaptg-nauy.html
  19. ^ More members in religious and philosophical communities
  20. ^ http://www.amnesty.no/web.nsf/pages/3E4F597A47A70816C1256A6900444132
  21. ^ /d: LOV-1999-05-21-30:d/ Menneskerettsloven – mnskrl
  22. ^ Isolasjon i fengsel er tortur – Aftenposten
  23. ^ http://www.amnesty.no/web.nsf/pages/71EA018C83278F58C125711D003A4239

Tham khảo

Liên kết ngoài

Nauru

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Ripublik Naoero
Flag of Nauru.svg Coat of arms of Nauru.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Nauru
Khẩu hiệu
God’s Will First
ý chí của Chúa cao vô thượng
Quốc ca
Nauru Bwiema
Nauru, Tổ quốc của chúng ta
Hành chính
Chính phủ Cộng hòa nghị viện
Tổng thống Baron Waqa
Ngôn ngữ chính thức
  • Nauru (bản địa)
  • Anh (nói rộng rãi)
Thủ đô Yaren (trên thực tế) [a]
0°32′N, 166°55′Đ
Thành phố lớn nhất Yaren
Địa lý
Diện tích 21 km² (hạng 192)
Múi giờ UTC+12
Lịch sử
Độc lập
Ngày thành lập 31 tháng 1 năm 1968
Dân cư
Dân số ước lượng (7/2011) 9.378[1] người (hạng 216)
Dân số (12/2006) 9.275 người
Mật độ 447 người/km² (hạng 23)
Kinh tế
GDP (PPP) (2006) Tổng số: 36,9 triệu USD[2]
Đơn vị tiền tệ Đô la Úc (AUD)
Thông tin khác
Tên miền Internet .nr
<^ Nauru không có thủ đô chính thức, song Yaren là khu dân cư lớn nhất và là nơi đặt trụ sở nghị viện.

Nauru (phát âm tiếng Anh /nɑːˈr/), tên chính thức là nước Cộng hòa Nauru, là một đảo quốc tại Micronesia thuộc Nam Thái Bình Dương. Với 9.378 cư dân sống trên một diện tích 21 kilômét vuông (8,1 sq mi), Nauru là quốc gia nhỏ nhất tại Nam Thái Bình Dương, nhỏ thứ ba trên thế giới về diện tích, chỉ sau Thành VaticanCông quốc Monaco, và là đảo quốc nhỏ nhất trên thế giới.[3] Ngoài ra, Nauru còn là nước cộng hòa có diện tích nhỏ nhất trên thế giới.[4]

Sau khi người Micronesia và người Polynesia định cư tại Nauru, hòn đảo bị Đế quốc Đức thôn tính và tuyên bố là một thuộc địa vào cuối thế kỷ 19. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Nauru trở thành một lãnh thổ ủy thác của Hội Quốc Liên do Úc, New Zealand, và Anh Quốc quản lý. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Nauru bị quân đội Nhật Bản chiếm đóng. Sau chiến tranh, đảo lại trở thành lãnh thổ ủy thác. Nauru giành được độc lập vào năm 1968.

Nauru là một đảo đá phosphat, giàu tài nguyên gần bề mặt, do vậy có thể dễ dàng tiến hành khai thác lộ thiên. Đảo còn lại một số trữ lượng phosphat, song không còn có hiệu quả kinh tế để tiến hành khai thác.[5] Vào cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, Nauru có thu nhập bình quân đầu người cao nhất trong số các quốc gia có chủ quyền. Khi trữ lượng phosphat cạn kiệt, và môi trường bị tổn hại nghiêm trọng do hoạt động khai thác, một quỹ được thành lập để quản lý nguồn tài sản đang dần giảm giá trị của hòn đảo. Để kiếm được thu nhập, Nauru nhanh chóng trở thành một thiên đường thuế và trung tâm rửa tiền phi pháp. Từ năm 2001 đến 2008, Nauru cho Úc đặt trung tâm giam giữ Nauru để đổi lấy viện trợ.

Tổng thống Nauru cũng là người đứng đầu nghị viện đơn viện gồm 19 thành viên. Nauru là một thành viên của Liên hiệp quốc, Khối Thịnh vượng chung, Ngân hàng Phát triển châu ÁDiễn đàn các đảo Thái Bình Dương. Nauru cũng tham gia Đại hội thể thao Thịnh vượng chungThế vận hội.

Mục lục

Lịch sử

Chiến binh người Nauru, 1880

Người Micronesia và người Polynesia là những dân tộc đầu tiên sinh sống tại Nauru, ít nhất là từ 3.000 năm trước.[6] Theo truyền thống, có 12 thị tộc hay bộ tộc tại Nauru, được đại diện bằng một sao 12 cánh trên quốc kỳ.[7] Cũng theo truyền thống, người Nauru truy nguồn gốc của họ dựa trên mẫu hệ. Các cư dân trên đảo làm nghề nuôi trồng thủy sản: họ bắt ibija còn nhỏ, cho chúng thích nghi với môi trường nước ngọt, và nuôi chúng tại phá Buada, chúng cung cấp cho người dân trên đảo một nguồn thực phẩm ổn định. Trong thành phần bữa ăn của họ có những thứ khác được nuôi trồng tại địa phương như dừa và dứa dại.[8][9] Tên gọi “Nauru” có thể bắt nguồn từ Anáoero, trong tiếng Nauru, có nghĩa là “Tôi đi đến bãi biển”.[10]

Năm 1798, thuyền trưởng người Anh John Fearn, một thợ săn cá voi, trở thành người phương Tây đầu tiên đến Nauru, ông đặt tên đảo là “Pleasant”. Từ khoảng năm 1830, người Nauru có tiếp xúc với người Âu do các tàu đánh bắt cá voi và các thương nhân bổ sung nguồn dự trữ của họ (đặc biệt là nước ngọt) tại Nauru.[9] Khoảng thời gian này, những người đào tẩu từ các tàu châu Âu bắt đầu đến sống tại đảo. Người dân trên đảo trao đổi thực phẩm lấy rượu dừa và các loại súng cầm tay.[11] Các loại súng cầm tay được sử dụng trong Chiến tranh bộ tộc Nauru bắt đầu từ năm 1878 và kéo dài 10 năm.[12]

Nauru bị Đức thôn tính vào năm 1888 và được hợp nhất vào Lãnh thổ bảo hộ Quần đảo Marshall thuộc Đức.[13] Việc người Đức đến đã kết thúc nội chiến trên đảo, và các vương được đặt làm những người cai trị của đảo. Người được biết đến rộng rãi nhất trong số họ là Vương Auweyida. Các nhà truyền giáo Ki-tô từ quần đảo Gilbert đến Nauru vào năm 1888.[14][15] Những người Đức định cư gọi đảo là Nawodo hoặc Onawero.[16] Người Đức cai trị Nauru trong gần ba thập niên. Robert Rasch là một thương nhân người Đức kết hôn với một phụ nữ Nauru, ông là quản trị viên đầu tiên của đảo, được bổ nhiệm vào năm 1890.[14]

Năm 1900, nhà thăm dò Albert Fuller Ellis phát hiện ra phosphat tại Nauru.[13] Công ty Phosphat Thái Bình Dương bắt đầu khai thác tài nguyên này vào năm 1906 theo thỏa thuận với Đức, xuất khẩu lô hàng phosphat đầu tiên vào năm 1907.[17] Năm 1914, sau khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, quân Úc chiếm Nauru. Úc, New Zealand và Anh Quốc ký Hiệp định đảo Nauru vào năm 1919, lập ra một ủy ban gọi là Ủy ban Phosphat Anh Quốc, thể chế này tiếp quản quyền khai mỏ phosphat.[18]

Nauru trải qua một đại dịch cúm vào năm 1920, với tỷ lệ tử vong là 18 phần trăm trong số người Nauru bản địa.[19] Năm 1923, Hội Quốc Liên trao cho Úc quyền quản trị ủy thác đối với Nauru, với Anh Quốc và New Zealand là đồng quản trị.[20] Ngày 6 và 7 tháng 12 năm 1940, các tuần dương hạm phụ trợ KometOrion của Đức đánh đắm năm tàu tiếp tế tại vùng biển lân cận Nauru. Komet sau đó nã pháo vào các khu vực khai mỏ phosphat, kho chứa dầu, dầm chìa bốc hàng lên tàu trên đảo.[21][22]

Không quân Hoa Kỳ oanh tạc bãi đáp của Nhật Bản tại Nauru[23]

Quân đội Nhật Bản chiếm đóng Nauru vào ngày 25 tháng 8 năm 1942.[22] Người Nhật xây dựng một sân bay, sân bay này bị Đồng Minh oanh tạc lần đầu vào ngày 25 tháng 3 năm 1943 nhằm ngăn chặn cung cấp thực phẩm được chở bằng đường không đến Nauru. Người Nhật trục xuất 1.200 người Nauru đến quần đảo Chuuk làm lao công.[23] Nauru bị quân đội Hoa Kỳ bỏ qua và bỏ lại trong các chiến dịch trên Thái Bình Dương của họ, và cuối cùng được giải phóng vào ngày 13 tháng 9 năm 1945, khi sĩ quan chỉ huy Hisayaki Soeda đầu hàng giao đảo cho quân đội Úc.[24] Các dàn xếp được tiến hành để hồi hương 737 người Nauru còn sống từ Chuuk. Họ trở về Nauru vào tháng 1 năm 1946.[25] Năm 1947, Liên Hiệp Quốc thiết lập một chế độ ủy thác tại Nauru, với Úc, New Zealand, và Anh Quốc là các ủy viên quản trị.[26]

Nauru được tự trị vào tháng 1 năm 1966, và trở thành quốc gia độc lập vào năm 1968 dưới quyền Tổng thống Hammer DeRoburt.[27] Năm 1967, nhân dân Nauru mua lại tài sản của Ủy ban Phosphat Anh Quốc, và vào tháng 6 năm 1970 quyền kiểm soát được chuyển cho Công ty Phosphat Nauru thuộc sở hữu địa phương.[17] Thu nhập từ khai mỏ giúp người Nauru trở thành một trong những nhóm dân cư có mức sống cao nhất tại Thái Bình Dương.[28] Năm 1989, Nauru thực hiện hành động pháp lý chống lại Úc tại Tòa án Công lý Quốc tế về sự quản lý của Úc đối với hòn đảo, cụ thể là thất bại của Úc trong việc khắc phục các tổn hại về môi trường do hoạt động khai mỏ gây ra. Certain Phosphate Lands: Nauru v. Australia dẫn đến một dàn xếp ngoài tòa án nhằm cải tạo các khu vực đã khai thác hết của Nauru.[26][29]

Địa lý

Một hình ảnh vệ tinh của Nauru vào năm 2002

Nauru là một đảo hình trái xoan với diện tích 21 kilômét vuông (8 sq mi)[1] tại tây nam Thái Bình Dương, cách Xích đạo 42 kilômét (26 mi) về phía nam. Bao quanh đảo là một ám tiêu san hô, lộ ra khi triều thấp và rải rác khi đỉnh triều.[30] Sự hiện diện của ám tiêu ngăn trở việc thiết lập một cảng biển, song các kênh tại ám tiêu cho phép các tàu nhỏ tiếp cận đảo.[31] Một dải duyên hải màu mỡ rộng 150 đến 300 mét (490 đến 980 ft) nằm trong nội địa xuất phát từ bãi biển, là nơi dừa mọc xum xuê.[30]

Các vách đá san hô bao quanh cao nguyên trung tâm của Nauru. Đỉnh cao nhất của cao nguyên gọi là đỉnh Chỉ huy (Command Ridge), có cao độ 71 mét (233 ft) trên mực nước biển.[32] Vùng đất quanh phá Buada nuôi dưỡng các cây chuối, dứa, rau, dứa dại, và các cây gỗ cứng bản địa như mù u.[30]

Nauru là một trong ba đảo đá phosphat lớn tại Thái Bình Dương (hai đảo còn lại là Banaba của KiribatiMakatea của Polynésie thuộc Pháp). Trữ lượng phosphat tại Nauru nay hầu như đã hoàn toàn cạn kiệt. Khai mỏ Phosphat tại cao nguyên trung tâm để lại một địa hình cằn cỗi với các đỉnh nhọn đá vôi cao đến 15 mét (49 ft). Hoạt động khai mỏ làm trơ trụi và tàn phá khoảng 80% diện tích đất liền của Nauru, và cũng ảnh hưởng đến vùng đặc quyền kinh tế xung quanh; 40% sinh vật hải dương được ước tính là đã chết do rò rỉ bùn và phosphat.[30][33]

Nauru có tài nguyên nước ngọt tự nhiên hạn chế. Các bể chứa trên nóc nhà thu thập nước mưa, song người dân trên đảo chủ yếu phụ thuộc vào ba nhà máy khử muối đặt tại Cơ quan Công ích Nauru. Khí hậu Nauru nóng và rất ẩm quanh năm vì nằm gần xích đạo và nằm giữa đại dương. Nauru chịu mưa gió mùa từ tháng 11 đến tháng 2, song không thường gặp lốc xoáy. Lượng mưa từng năm biến thiên lớn và chịu ảnh hưởng của El Niño-Dao động phương Nam, với một số hạn hán được ghi nhận có quy mô đáng kể.[6][34] Nhiệt độ tại Nauru dao động từ 26 °C (79 °F) đến 35 °C (95 °F) vào ban ngày và từ 22 °C (72 °F) đến 34 °C (93 °F) vào ban đêm.[35]

Do là một đảo, Nauru dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu và mực nước biển. Có ít nhất 80% đất liền tại Nauru có cao độ phù hợp, song các khu vực này sẽ không cư trú được cho đến khi chương trình phục hồi môi trường sau khai thác phosphat được thi hành.[33][36]

[ẩn]Dữ liệu khí hậu của khu Yaren, Nauru
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 34
(93)
37
(99)
35
(95)
35
(95)
32
(90)
32
(90)
35
(95)
33
(91)
35
(95)
34
(93)
36
(97)
35
(95)
37
(99)
Trung bình cao °C (°F) 30
(86)
30
(86)
30
(86)
30
(86)
30
(86)
30
(86)
30
(86)
30
(86)
30
(86)
31
(88)
31
(88)
31
(88)
30
(86)
Trung bình thấp, °C (°F) 25
(77)
25
(77)
25
(77)
25
(77)
25
(77)
25
(77)
25
(77)
25
(77)
25
(77)
25
(77)
25
(77)
25
(77)
25
(77)
Thấp kỉ lục, °C (°F) 21
(70)
21
(70)
21
(70)
21
(70)
20
(68)
21
(70)
20
(68)
21
(70)
20
(68)
21
(70)
21
(70)
21
(70)
20
(68)
Giáng thủy mm (inches) 280
(11.02)
250
(9.84)
190
(7.48)
190
(7.48)
120
(4.72)
110
(4.33)
150
(5.91)
130
(5.12)
120
(4.72)
100
(3.94)
120
(4.72)
280
(11.02)
2.080
(81,89)
Số ngày giáng thủy TB 16 14 13 11 9 9 12 14 11 10 13 15 152
Nguồn: [1]

Sinh vật hoang dã

Đảo có hệ động vật thưa thớt do các nguyên nhân là thiếu thảm thực vật và hệ quả của việc khai thác phosphat. Nhiều loài chim bản địa biến mất hoặc trở nên hiếm do môi trường sống của chúng bị phá hoại.[37] Chỉ có khoảng 60 loài thực vật có mạch được ghi nhận là loài bản địa của đảo, không có loài nào trong số đó là loài đặc hữu. Nông trại dừa, khai mỏ, và việc đưa đến các loài ngoại lai khiến các loài thực vật bản địa bị xâm phạm nghiêm trọng.[6] Không có loài thú đất liền bản địa nào trên đảo, song có những côn trùng, cua đất, và chim bản địa, bao gồm loài đặc hữu chích sậy Nauru. Chuột lắt, mèo, chó, lợn, và gà được các chuyền tàu đưa đến Nauru.[38] Sự đa dạng của đời sống sinh vật biển ám tiêu khiến câu cá là một hoạt động phổ biến đối với du khách thăm đảo, cùng với hoạt động lặn biển.[39]

Chính trị

Nghị viện Nauru.

Nauru là một nước cộng hòa với chính quyền có một hệ thống nghị viện.[27] Tổng thống là nguyên thủ quốc gia và chính phủ. Nghị viện đơn viện gồm 19 thành viên được bầu cử mỗi ba năm.[40] Nghị viện bầu tổng thống từ các thành viên của mình, và tổng thống bổ nhiệm một nội các gồm sáu thành viên.[41] Nauru không có bất kỳ cấu trúc chính thức nào cho các chính đảng, và các ứng cử viên thường ứng cử chức vụ với tư cách độc lập. Bốn đảng hoạt động trên chính trường Nauru là Đảng Nauru, Đảng Dân chủ, Nauru Trước tiên, và Đảng Trung tâm. Tuy nhiên, các liên minh trong chính quyền thường được hình thành dựa trên cơ sở các mối quan hệ đại gia đình thay vì đảng tịch.[42]

Từ năm 1992 đến 1999, Nauru có một hệ thống chính quyền địa phương được gọi là Hội đồng đảo Nauru (NIC) gồm chín thành viên. NIC bị bãi bỏ vào năm 1999 và toàn bộ tài sản và nợ được trao cho chính phủ quốc gia.[43] Quyền sử dụng đất tại Nauru là bất thường: toàn bộ người Nauru có các quyền nhất định đối với toàn bộ đất đai trên đảo, thứ là sở hữu của các cá nhân hoặc nhóm gia đình. Chính phủ và các đoàn thể không sử hữu bất kỳ mảnh đất nào, và họ cần phải lập hợp đồng thuê với địa chủ để sử dụng đất. Nếu không phải người Nauru thì không thể sở hữu đất đai trên đảo.[6]

Nauru có 17 thay đổi chính phủ từ năm 1989 đến năm 2003.[44] Bernard Dowiyogo mất khi đang tại vị vào tháng 3 năm 2003 và Ludwig Scotty được bầu làm tổng thống, sau đó ông tái đắc cử để phục vụ một nhiệm kỳ đầu đủ vào tháng 10 năm 2004. Sau một cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm vào ngày 19 tháng 12 năm 2007, Scotty bị Marcus Stephen thay thế. Stephen từ nhiệm vào tháng 11 năm 2011, và Freddie Pitcher trở thành tổng thống. Sprent Dabwido sau đó đệ trình kiến nghị bất tín nhiệm đối với Pitcher, kết quả là Dabwido trở thành tổng thống.[45][46] Sau cuộc bầu cử nghị viện vào năm 2013, Baron Waqa được bầu làm tổng thống.

Nauru có một hệ thống tư pháp phức tạp. Tòa án Tối cao, đứng đầu là Chánh án, là cơ quan tối cao trong các vấn đề hiến pháp. Các vụ tố tụng khác có thể kháng cáo lên Tòa Thượng tố gồm hai thẩm phán. Nghị viện không thể bác bỏ các phán quyết của tòa án, song có thể kháng cáo các quyết định của Tòa Thượng tố Nauru đến Tòa Cao đẳng Úc.[47][48] Tuy nhiên, điều này hiếm khi xảy ra trên thực tế. Các tòa án cấp thấp hơn gồm có Tòa án khu vực và Tòa án gia đình, cả hai đều do Quan tòa cư dân đứng đầu, người này cũng là hộ tịch viên (Registrar) của Tòa Tối cao. Còn có hai bán pháp viện khác: Ủy ban Thượng tố phục vụ công cộng (Public Service Appeal Board) và Ủy ban Thượng tố Cảnh sát (Police Appeal Board), cả hai đều do Chánh án nắm quyền tối cao.[30]

Hành chính

Nauru được chia thành 14 khu, chúng được nhóm lại thành tám khu vực tuyển cử.[30]

Bản đồ hành chính Nauru
STT Khu Tên cũ Diện tích
(Hecta)
Dân số
(2005)
Số làng Mật độ
người/ha
1 Aiwo Aiue 100 1.092 8 10,9
2 Anabar Anebwor 143 502 15 3,5
3 Anetan Añetañ 100 516 12 5,2
4 Anibare Anybody 314 160 17 0,5
5 Baiti Beidi 123 572 15 4,7
6 Boe Boi 66 795 4 12,0
7 Buada Arenibok 266 716 14 2,7
8 Denigomodu Denikomotu 118 2,827 17 24,0
9 Ewa Eoa 117 318 12 2,7
10 Ijuw Ijub 112 303 13 2,7
11 Meneng Meneñ 288 1.830 18 6,4
12 Nibok Ennibeck 136 432 11 3,2
13 Uaboe Ueboi 97 335 6 3,5
14 Yaren Moqua 150 820 7 5,5
Nauru Naoero 2.130 11.218 169 5,3

Quan hệ đối ngoại

Sau khi độc lập vào năm 1968, Nauru gia nhập Thịnh vượng chung các quốc gia với tư cách một thành viên đặc biệt; và trở thành một thành viên đầy đủ vào năm 2000.[49] Quốc gia này được nhận vào Ngân hàng Phát triển châu Á năm 1991 và vào Liên Hiệp Quốc năm 1999.[50] Nauru là một thành viên của Diễn đàn các đảo Thái Bình Dương, Chương trình Môi trường Khu vực Nam Thái Bình Dương, Ủy ban Nam Thái Bình Dương, và Ủy ban Khoa học Địa cầu ứng dụng Nam Thái Bình Dương.[51] Chương trình Quan trắc bức xạ khí quyển của Hoa Kỳ vận hành một cơ sở giám sát khí hậu trên đảo.[52]

Nauru không có lực lượng vũ trang, song có một lực lượng cảnh sát nhỏ nằm dưới quyền kiểm soát dân sự.[1] Úc chịu trách nhiệm về quốc phòng của Nauru theo một hiệp định không chính thức giữa hai quốc gia.[1] Tháng 9 năm 2005, Bị vong lục Thông hiểu giữa Úc và Nauru đem đến cho Nauru viện trợ tài chính và giúp đỡ kỹ thuật, bao gồm một Bộ trưởng Tài chính để chuẩn bị ngân sách, và các cố vấn về y tế và giáo dục. Sự giúp đỡ này là để đổi lấy việc cung cấp nhà ở cho những người tìm kiếm nơi trú ẩn trong lúc thỉnh cầu đến Úc của họ được xử lý.[44] Nauru sử dụng đô la Úc làm tiền tệ chính thức của mình.[30]

Nauru sử dụng tư thế một thành viên Liên Hiệp Quốc của mình để đạt được hỗ trợ tài chính từ cả Đài Loan và Trung Quốc đại lục, quốc gia này thay đổi sự công nhận của mình sang phía bên kia theo chính sách một Trung Quốc. Ngày 21 tháng 7 năm 2002, Nauru ký một thỏa thuận về việc thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, nhận được 130 triệu đô la Mỹ từ Bắc Kinh cho hành động này.[53] Nhằm phản ứng, Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) đoạn tuyệt quan hệ ngoại giao với Nauru hai ngày sau đó. Nauru sau đó tái lập liên kết với Trung Hoa Dân Quốc vào ngày 14 tháng 5 năm 2005,[54]

Năm 2008, Nauru công nhận Kosovo là một quốc gia độc lập, và vào năm 2009 Nauru công nhận AbkhaziaNam Ossetia– các khu vực ly khai của Gruzia. Nga được tường thuật là trao cho Nauru 50 triệu đô la Mỹ tiền viện trợ nhân đạo như một kết quả của sự công nhận này.[53] Ngày 15 tháng 7 năm 2008, chính phủ Nauru tuyên bố một chương trình tân trang cảng, sử dụng 9 triệu đô la Mỹ viện trợ phát triển từ Nga. Chính phủ Nauru tuyên bố rằng viện trợ này không liên quan đến việc Nauru công nhận Abkhazia và Nam Ossetia.[55]

Kinh tế

Các đỉnh đá vôi còn lại sau khi khai thác phosphat.

Kinh tế Nauru đạt đỉnh vào đầu thập niên 1980, khi nó phụ thuộc gần như hoàn toàn vào tài nguyên phosphat có nguồn gốc từ phân của các loài chim biển. Hòn đảo có ít các tài nguyên khác, và hầu hết nhu yếu phẩm phải nhập khẩu.[30][56] RONPhos, trước đây gọi là Công ty Phosphat Nauru, vẫn tiến thành khai thác quy mô nhỏ.[30] Chính quyền đưa một tỷ lệ tiền lãi của RONPhos vào trong Quỹ Hoa hồng Phosphat Nauru. Quỹ quản lý các khoản đầu tư dài hạn, mục đích là để hỗ trợ các công dân khi trữ lượng phosphat cạn kiệt.[57] Tuy nhiên, do quản lý yếu kém, các tài sản cố định và lưu động của quỹ suy giảm đáng kể, và nhiều khoản không bao giờ có thể phục hồi hoàn toàn. Các đầu tư thất bại bao gồm nhạc kịch Leonardo the Musical vào năm 1993, là một thất bại về tài chính.[58] The Mercure Hotel tại Sydney[59] và tòa nhà Nauru House tại Melbourne được bán vào năm 2004 để trả các khoản nợ và một chiếc Boeing 737– máy bay duy nhất của Air Nauru bị tái chiếm hữu vào tháng 12 năm 2005. Dịch vụ hành không bình thường được tiếp tục sau khi nó được thay thế bằng một máy bay dân đụng Boeing 737–300 vào tháng 6 năm 2006.[60] Năm 2005, Nauru bán tài sản còn lại của mình tại Melbourne, địa điểm quán Savoy, với giá 7,5 triệu đô la Mỹ.[61]

Giá trị của Quỹ Hoa hồng Phosphat Nauru ước tính giảm từ 1,3 tỷ đô la Úc vào năm 1991 xuống 138 triệu đô la Úc vào năm 2002.[62] Nauru hiện thiếu tiền tệ để thi hành nhiều chức năng cơ bản của chính quyền; ví dụ, Ngân hàng Quốc gia Nauru bị vỡ nợ. CIA World Factbook ước tính GDP bình quân đầu người của Nauru là 5.000 đô là Mỹ vào năm 2005.[1] Ngân hàng Phát triển châu Á trong báo cáo kinh tế 2007 về Nauru ước tính GDP bình quân đầu người từ 2.400 đến 2.715 đô la Mỹ[2]

Chính phủ Nauru bán Tòa nhà Nauru House tại Melbourne, Úc để trả nợ vào năm 2004.

Không có thuế cá nhân tại Nauru. Tỷ lệ thất nghiệp ước tính là 90%, và 95% trong số những người có việc làm là người làm việc cho chính quyền.[1][63] Ngân hàng Phát triển châu Á lưu ý rằng mặc dù chính quyền có chỉ thị công khai mạnh mẽ về thi hành các cải cách kinh tế, song trong khi không có nguồn thay thế cho khai thác phosphat, triển vọng trung hạn của kinh tế Nauru tiếp tục phụ thuộc vào giúp đỡ từ bên ngoài.[62]

Trong thập niên 1990, Nauru trở thành một thiên đường thuế và quốc gia này cấp hộ chiếu cho công dân ngoại quốc để thu phí.[64] Nhóm hành động tài chính chống Rửa tiền (FATF) xác định Nauru là một trong 15 quốc gia “không hợp tác” trong cuộc chiến chống rửa tiền. Trong thập niên 1990, có thể lập một ngân hàng có giấy phép tại Nauru chỉ với 25.000 đô la mà không cần đáp ứng các yêu cầu khác. Dưới áp lực của FATF, Nauru ban hành luật chống trốn thuế vào năm 2003, sau đó nguồn tiền nóng nước ngoài dời khỏi Nauru. Vào tháng 10 năm 2005, sau khi Nauru thỏa mãn yêu cầu ban hành và thực thi luật, FATF chấm dứt xác định quốc gia này là không hợp tác.[65]

Từ năm 2001 đén năm 2007, trung tâm giam giữ Nauru cung cấp một nguồn thu nhập đáng kể cho quốc gia này. Nhà cầm quyền Nauru phản ứng lo lắng trước việc Úc đóng cửa trung tâm.[66] Vào tháng 2 năm 2008, Bộ trưởng Ngoại giao Nauru Kieren Keke phát biểu rằng việc đóng cửa trung tâm sẽ dẫn đến viẹc 100 người Nauru mất việc làm, và sẽ ảnh hưởng đến 10% dân số trên đảo một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.[67] Trung tâm giam giữ được mở cửa trở lại vào tháng 8 năm 2012.[68]

Nhân khẩu

Các khu DenigomoduNibok của Nauru

Nauru có 9.378 cư dân vào tháng 7 năm 2011.[1] Dân số đảo trước đây đông hơn, song vào năm 2006 có khoảng 1.500 người dời khỏi đảo trong một chuyến hồi hương của các công nhân nhập cư đến từ Kiribati và Tuvalu. Nguyên nhân của việc hồi hương là sự giảm thiểu nhân lực quy mô lớn trong ngành công nghiệp khai thác phosphat.[2] Ngôn ngữ chính thức của Nauru là tiếng Nauru, một ngôn ngữ đảo Thái Bình Dương khác biệt, được 96% người thuộc dân tộc Nauru nói tại nhà.[2] Tiếng Anh được nói phổ biến và là ngôn ngữ của chính quyền và thương mại, do tiếng Nauru không phổ biến bên ngoài quốc gia.[1][30]

Các dân tộc đông nhất tại Nauru là người Nauru (58%), người các đảo Thái Bình Dương khác (26%), người gốc Âu (8%), và người Hoa (8%).[1] Tôn giáo chính được thực hành trên đảo là Ki-tô giáo (2/3 là Tin Lành, 1/3 là Công giáo La Mã).[30] Có một số lượng tín đồ đáng kể Bahá’í (10%) – đây là tỷ lệ cao nhất trong số các quốc gia trên thế giới[69] – Phật giáo (9%) cùng Hồi giáo (2,2%). Hiến pháp Nauru quy định quyền tự do tôn giáo. Tuy nhiên, chính quyền cản trở việc thực hành tôn giáo của Giáo hội các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giê Su Ky TôNhân Chứng Giê-hô-va, hầu hết các tín đồ này là công nhân ngoại quốc làm việc cho Công ty Phosphat Nauru thuộc sở hữu của chính quyền.[70]

Tỷ lệ biết chữ tại Nauru là 96%. Giáo dục là bắt buộc đối với trẻ em từ 6 đến 15 tuổi, và hai năm không bắt buộc được đề nghị (lớp 11 và 12).[71] Có một khu trường sở của Đại học Nam Thái Bình Dương tại Nauru. Trước khi khu trường sở này được xây dựng vào năm 1987, các sinh viên sẽ phải học tại nước ngoài.[72]

Người Nauru là những người béo phì nhất trên thế giới; 97% nam giới và 93% nữ giới bị thừa cân hoặc béo phì.[73] Kết quả là Nauru có mức độ mắc đái đường tuýp 2 cao nhất thế giới, với trên 40% dân số mắc bệnh.[74] Các vấn đề quan trọng khác liên quan đến chế dộ ăn uống tại Nauru gồm có bệnh thận và bệnh tim. Tuổi thọ tại Nauru vào năm 2009 là 60,6 năm đối với nam và 68,0 năm đối với nữ.[75]

Văn hóa

Người Nauru có nguồn gốc từ các thủy thủ người Polynesia và người Micronesia, những người này tin vào một nữ thần là Eijebong, và một vùng đất thánh là một đảo gọi là Buitani. Hai trong số 12 thị tộc ban đầu bị tuyệt chủng trong thế kỷ 20.[30] Ngày Angam được tổ chức vào 26 tháng 10 nhằm tán dương sự phục hồi của dân cư Nauru sau hai thế chiến và dịch cúm năm 1920.[76] Văn hóa thuộc địa và hiện đại phương Tây thay thế đáng kể văn hóa bản địa.[77] Chỉ một vài trong số các phong tục cổ được bảo tồn, song một số loại hình âm nhạc, nghệ thuật, thủ công nghiệp, ngư nghiệp truyền thống vẫn được thực hành.[78]

Không có nhật báo xuất bản tại Nauru, chỉ có một ấn phẩm phát hành hai tuần một lần là Mwinen Ko. Có một đài truyền hình do nhà nước sở hữu là Truyền hình Nauru (NTV), nó phát sóng các chương trình từ New Zealand và Úc, và một dài phát thanh phi thương mại thuộc sở hữu nhà nước là Phát thanh Nauru, truyền các chương trình của Đài phát thanh ÚcBBC.[79]

Bóng đá Úc là môn thể thao phổ biến nhất tại Nauru; nó và cử tạ được xem là các môn thể thao quốc gia. Nauru có một giải bóng đá Úc với tám đội tuyển.[80] Các môn thể thao phổ biến khác tại Nauru gồm có bóng chuyền, bóng lưới, câu cá, và quần vợt. Nauru tham gia Đại hội thể thao Thịnh vượng chung và Thế vận hội Mùa hè.[81]

Chú thích

  1. ^ a ă â b c d đ e ê Cơ quan Tình báo Trung ương (2011). “Nauru”. The World Factbook. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2011.
  2. ^ a ă â b “Country Economic Report: Nauru”. Asian Development Bank. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2012.
  3. ^ “Thăm 5 quốc gia nhỏ xinh trên thế giới”. Yahoo Tin tức. 7 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2014.
  4. ^ McLeish, Kathy (23 tháng 10 năm 2013). “Nauru: The world’s smallest republic”. abc.net.au. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2014.
  5. ^ Hogan, C Michael (2011). “Phosphate”. Encyclopedia of Earth. National Council for Science and the Environment. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2012.
  6. ^ a ă â b Nauru Department of Economic Development and Environment (2003). “First National Report To the United Nations Convention to Combat Desertification”. UNCCD. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2012.
  7. ^ Whyte, Brendan (2007). “On Cartographic Vexillology”. Cartographica: The International Journal for Geographic Information and Geovisualization 42 (3): 251–262. doi:10.3138/carto.42.3.251.
  8. ^ Pollock, Nancy J (1995). “5: Social Fattening Patterns in the Pacific—the Positive Side of Obesity. A Nauru Case Study”. Trong De Garine, I. Social Aspects of Obesity. Routledge. tr. 87–111.
  9. ^ a ă Spennemann, Dirk HR (tháng 1 năm 2002). “Traditional milkfish aquaculture in Nauru”. Aquaculture International 10 (6): 551–562. doi:10.1023/A:1023900601000.
  10. ^ West, Barbara A (2010). “Nauruans: nationality”. Encyclopedia of the Peoples of Asia and Oceania. Infobase Publishing. tr. 578–580. ISBN 978-1-4381-1913-7.
  11. ^ Marshall, Mac; Marshall, Leslie B (tháng 1 năm 1976). “Holy and unholy spirits: The Effects of Missionization on Alcohol Use in Eastern Micronesia”. Journal of Pacific History 11 (3): 135–166. doi:10.1080/00223347608572299.
  12. ^ Reyes, Ramon E, Jr (1996). “Nauru v. Australia”. New York Law School Journal of International and Comparative Law 16 (1–2).
  13. ^ a ă Firth, Stewart (tháng 1 năm 1978). “German labour policy in Nauru and Angaur, 1906–1914”. The Journal of Pacific History 13 (1): 36–52. doi:10.1080/00223347808572337.
  14. ^ a ă Hill, Robert A (ed) (1986). “2: Progress Comes to Nauru”. The Marcus Garvey and Universal Negro Improvement Association Papers 5. University of California Press. ISBN 978-0-520-05817-0.
  15. ^ Ellis, AF (1935). Ocean Island and Nauru – their story. Angus and Robertson Limited. tr. 29–39.
  16. ^ Hartleben, A (1895). Deutsche Rundschau für Geographie und Statistik. tr. 429.
  17. ^ a ă Manner, HI; Thaman, RR; Hassall, DC (tháng 5 năm 1985). “Plant succession after phosphate mining on Nauru”. Australian Geographer 16 (3): 185–195. doi:10.1080/00049188508702872.
  18. ^ Gowdy, John M; McDaniel, Carl N (tháng 5 năm 1999). “The Physical Destruction of Nauru”. Land Economics 75 (2): 333–338.
  19. ^ Shlomowitz, R (tháng 11 năm 1990). “Differential mortality of Asians and Pacific Islanders in the Pacific labour trade”. Journal of the Australian Population Association 7 (2): 116–127. PMID 12343016.
  20. ^ Hudson, WJ (tháng 4 năm 1965). “Australia’s experience as a mandatory power”. Australian Outlook 19 (1): 35–46. doi:10.1080/10357716508444191.
  21. ^ Waters, SD (2008). German raiders in the Pacific (ấn bản 3). Merriam Press. tr. 39. ISBN 978-1-4357-5760-8.
  22. ^ a ă Bogart, Charles H (tháng 11 năm 2008). “Death off Nauru”. CDSG Newsletter: 8–9. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2012.
  23. ^ a ă Haden, JD (2000). “Nauru: a middle ground in World War II”. Pacific Magazine. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2012.
  24. ^ Takizawa, Akira; Alsleben, Allan (1999–2000). “Japanese garrisons on the by-passed Pacific Islands 1944–1945”. Forgotten Campaign: The Dutch East Indies Campaign 1941–1942.
  25. ^ Garrett, J (1996). Island Exiles. ABC. tr. 176–181. ISBN 0-7333-0485-0.
  26. ^ a ă Highet, K; Kahale, H (1993). “Certain Phosphate Lands in Nauru”. American Journal of International Law 87: 282–288.
  27. ^ a ă Davidson, JW (tháng 1 năm 1968). “The republic of Nauru”. The Journal of Pacific History 3 (1): 145–150. doi:10.1080/00223346808572131.
  28. ^ Squires, Nick (ngày 15 tháng 3 năm 2008). “Nauru seeks to regain lost fortunes”. BBC News Online. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2008.
  29. ^ Case Concerning Certain Phosphate Lands in Nauru (Nauru v. Australia) Application: Memorial of Nauru. ICJ Pleadings, Oral Arguments, Documents. Tòa án Công lý Quốc tế Liên Hiệp Quốc. Tháng 1 năm 2004. ISBN 978-92-1-070936-1.
  30. ^ a ă â b c d đ e ê g h i “Background Note: Nauru”. State Department Bureau of East Asian and Pacific Affairs. Tháng 9 năm 2005. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2006.
  31. ^ Thaman, RR; Hassall, DC. “Nauru: National Environmental Management Strategy and National Environmental Action Plan”. Chương trình Môi trường khu vực Nam Thái Bình Dương. tr. 234.
  32. ^ Jacobson, Gerry; Hill, Peter J; Ghassemi, Fereidoun (1997). “24: Geology and Hydrogeology of Nauru Island”. Trong Vacher, H Leonard; Quinn, Terrence M. Geology and hydrogeology of carbonate islands. Elsevier. tr. 716. ISBN 978-0-444-81520-0.
  33. ^ a ă Republic of Nauru (1999). “Climate Change – Response”. First National Communication. Công ước khung của liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2009.
  34. ^ Affaire de certaines terres à phosphates à Nauru. International Court of Justice. 2003. tr. 107–109. ISBN 978-92-1-070936-1.
  35. ^ “Pacific Climate Change Science Program”. Chính phủ Úc. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2012.
  36. ^ “Current and future climate of Nauru”. Trung tâm Nghiên cứu thời tiết và khí hậu Úc. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2012.
  37. ^ NAURU Information on Government, People, History, Economy, Environment, Development
  38. ^ BirdLife International. “Important Bird Areas in Nauru”. Ban thư ký Chương trình Môi trường khu vực Thái Bình Dương. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2012.
  39. ^ Nauru Ecotourism Tours – Sustainable Tourism & Conservation Laws
  40. ^ Matau, Robert (ngày 6 tháng 6 năm 2013) “President Dabwido gives it another go”. Islands Business.
  41. ^ Levine, Stephen; Roberts, Nigel S (tháng 11 năm 2005). “The constitutional structures and electoral systems of Pacific Island States”. Commonwealth & Comparative Politics 43 (3): 276–295. doi:10.1080/14662040500304866.
  42. ^ Anckar, D; Anckar, C (2000). “Democracies without Parties”. Comparative Political Studies 33 (2): 225–247. doi:10.1177/0010414000033002003.
  43. ^ Hassell, Graham; Tipu, Feue (tháng 5 năm 2008). “Local Government in the South Pacific Islands”. Commonwealth Journal of Local Governance 1 (1): 6–30.
  44. ^ a ă “Republic of Nauru Country Brief”. Australian Department of Foreign Affairs and Trade. Tháng 11 năm 2005. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2006.
  45. ^ Connell, John (tháng 1 năm 2006). “Nauru: The first failed Pacific State?”. The Round Table 95 (383): 47–63. doi:10.1080/00358530500379205.
  46. ^ “Nauru profile”. BBC News. Ngày 24 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2012.
  47. ^ “Nauru (High Court Appeals) Act (Australia) 1976”. Australian Legal Information Institute. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2006.
  48. ^ Dale, Gregory (2007). “Appealing to Whom? Australia’s ‘Appellate Jurisdiction’ Over Nauru”. International & Comparative Law Quarterly 56 (3). doi:10.1093/iclq/lei186.
  49. ^ “Republic of Nauru Permanent Mission to the United Nations”. Liên Hiệp Quốc. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2006.
  50. ^ “Nauru in the Commonwealth”. Thịnh vượng chung các quốc gia. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2012.
  51. ^ “Nauru (04/08)”. US State Department. 2008. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2012.
  52. ^ Long, Charles N; McFarlane, Sally A (tháng 3 năm 2012). “Quantification of the Impact of Nauru Island on ARM Measurements”. Journal of Applied Meteorology and Climatology 51 (3): 628–636. doi:10.1175/JAMC-D-11-0174.1.
  53. ^ a ă Harding, Luke (ngày 14 tháng 12 năm 2009). “Tiny Nauru struts world stage by recognising breakaway republics”. Guardian. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010.
  54. ^ Su, Joy (ngày 15 tháng 5 năm 2005). “Nauru switches its allegiance back to Taiwan from China”. Taipei Times. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2012.
  55. ^ “Nauru expects to earn more from exports after port upgrade with Russian aid”. Radio New Zealand International. Ngày 15 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2010.
  56. ^ “Big tasks for a small island”. BBC. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2006.
  57. ^ Seneviratne, Kalinga (ngày 26 tháng 5 năm 1999). “Nauru turns to dust”. Asia Times. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2012.
  58. ^ Mellor, William (ngày 1 tháng 6 năm 2004). “GE Poised to Bankrupt Nauru, Island Stained by Money-Laundering”. Bloomberg. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2012.
  59. ^ Skehan, Craig (ngày 9 tháng 7 năm 2004). “Nauru, receivers start swapping legal blows”. Sydney Morning Herald. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2012.
  60. ^ “Receivers take over Nauru House”. The Age. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2012.
  61. ^ “Nauru sells last remaining property asset in Melbourne – report”. RNZI. Ngày 8 tháng 4 năm 2005. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010.
  62. ^ a ă “Asian Development Outlook 2005 – Nauru”. Ngân hàng Phát triển châu Á. 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2006.
  63. ^ “Paradise well and truly lost”. The Economist. Ngày 20 tháng 12 năm 2001. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2006.
  64. ^ “The Billion Dollar Shack”. New York Times. Ngày 10 tháng 12 năm 2000. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2011.
  65. ^ “Nauru de-listed”. FATF. Ngày 13 tháng 10 năm 2005. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2006.
  66. ^ Topsfield, Hewel (ngày 11 tháng 12 năm 2007). “Nauru fears gap when camps close”. The Age. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2012.
  67. ^ “Nauru ‘hit’ by detention centre closure”. The Age. Ngày 7 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2012.
  68. ^ “Asylum bill passes parliament”. ABC. Ngày 28 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2014.
  69. ^ “Adherent.com’s Largest Baha’i Communities”. Adherents.com. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010.
  70. ^ “International Religious Freedom Report 2003 – Nauru”. US Department of State. 2003. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2005.
  71. ^ Waqa, B (1999). “UNESCO Education for all Assessment Country report 1999 Country: Nauru”. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2006.
  72. ^ “USP Nauru Campus”. University of the South Pacific. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2012.
  73. ^ “Fat of the land: Nauru tops obesity league”. Independent. Ngày 26 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2012.
  74. ^ King, H; Rewers M (1993). “Diabetes in adults is now a Third World problem”. Ethnicity & Disease 3: S67–74.
  75. ^ “Nauru”. World health report 2005. Tổ chức Y tế Thế giới. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2006.
  76. ^ “Nauru Celebrates Angam Day”. UN. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2012.
  77. ^ Nazzal, Mary (tháng 4 năm 2005). “Nauru: an environment destroyed and international law”. lawanddevelopment.org. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2012.
  78. ^ “Culture of Nauru”. Republic of Nauru. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2012.
  79. ^ “Country Profile: Nauru”. BBC News. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2006.
  80. ^ “Nauru Australian Football Association”. Liên đoàn bóng đá [Úc] Úc. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2012.
  81. ^ “Nauru Olympic Committee History”. Nauru Olympic Committee. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2012.

Liên kết ngoài

Friedrich II của Phổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Đại Đế Friedrich II
Friedrich II., der Große
Quốc vương nước Phổ
Tuyển hầu tước xứ Brandenburg
Frederic II de prusse.jpg

Vua Friedrich II Đại Đế qua nét vẽ của họa sĩ cung đình Phổ Antoine Pesne (1683 – 1757), khoảng năm 1750.
Vua nhà Hohenzollern[1]
Trị vì 31/5/174017/8/1786
(46 năm, 18 ngày)
Tiền nhiệm Friedrich Wilhelm I Vua hoặc hoàng đế
Thủ tướng Bá tước Heinrich von Podewils
Georg Dietlof von Arnim-Boitzenburg
Bá tước Karl-Wilhelm Finck von Finckenstein
Friedrich Anton von Heinitz
Kế nhiệm Friedrich Wilhelm II Vua hoặc hoàng đế
Bá tước xứ Ostfriesland
Trị vì 1744 – 1786
Tiền nhiệm Charles Edzard (Nhà Cirksena)
Kế nhiệm Không có
Thông tin chung
Hoàng hậu
Tình nhân (?)
Hậu duệ
Tên thật Friedrich von Hohenzollern
Tước vị
Triều đại Nhà Hohenzollern
Thân phụ Friedrich Wilhelm I Vua hoặc hoàng đế
Thân mẫu Sophia Dorothea xứ Hannover
Sinh 24 tháng 1, 1712
Berlin, Phổ
Mất 17 tháng 8, 1786 (74 tuổi)
Potsdam, Phổ
An táng 17 tháng 8 năm 1991 (lần cuối)Nhà thờ Công sự, Potsdam
Nhà thờ Elisabeth, Marburg
Lâu đài Hohenzollern (gần thị trấn Hechingen)
Sanssouci, Potsdam, Đức
Nghề nghiệp Đại tá của Trung đoàn von der Goltz
Nhà triết học khu Sanssouci
Tôn giáo Kháng Cách
Hoàng gia Phổ
Nhà Hohenzollern
Wappen Deutsches Reich - Königreich Preussen (Grosses).png
Friedrich I (1701-1713)
Con cái
   Công chúa Louise Dorothea
   Hoàng tử Friedrich Wilhelm
Friedrich Wilhelm I (1713-1740)
Con cái
   Công chúa Wilhelmine
   Hoàng tử Friedrich
   Công chúa Friederike Luise
   Công chúa Philippine Charlotte
   Công chúa Sophia Dorothea
   Công chúa Louisa Ulrika
   Hoàng tử August Wilhelm
   Công chúa Anna Amalia
   Hoàng tử Heinrich
   Hoàng tử Ferdinand
Friedrich II (Đại đế, 1740-1786)
Friedrich Wilhelm II (1786-1797)
Con cái
   Hoàng tử Friedrich Wilhelm
   Hoàng tử Ludwig
   Công chúa Wilhelmine
   Công chúa Augusta
   Hoàng tử Karl
   Hoàng tử Wilhelm
Friedrich Wilhelm III (1797-1840)
   Hoàng tử Friedrich Wilhelm
   Hoàng tử Wilhelm
   Công chúa Charlotte
   Công chúa Alexandrine
   Hoàng tử Karl
   Công chúa Louise
   Hoàng tử Albrecht
Friedrich Wilhelm IV (1840-1861)

Friedrich II (phiên âm tiếng ViệtPhriđrích II[5]), còn viết là Frédéric II hay Frederic II[6] (phiên âm Frêđêrich II)[7] (24 tháng 1 năm 171217 tháng 8 năm 1786), tức Friedrich von Hohenzollern[8] là vị thống soái và nhà chính trị kiệt xuất hơn cả trong lịch sử châu Âu thời đại ông,[9] một trong những người góp phần thành lập nước Đức hiện đại.[10] Ông là một thành viên của Hoàng tộc nhà Hohenzollern, là một vị vua nổi tiếng của nước Phổ,[11] trị vì đến 46 năm trời:[12] từ ngày 31 tháng 5 năm 1740 đến khi qua đời vào ngày 17 tháng 8 năm 1786.[13] Trên cương vị Tuyển hầu tước (tiếng Đức: Kurfüst) của đế quốc La Mã Thần thánh, ông có tên gọi là Friedrich IV xứ Brandenburg. Ông cũng kiêm luôn chức Vương công xứ Neuchâtel trong liên minh cá nhân. Là vị Quốc vương được nhiều người mến mộ, ông được mệnh danh là Friedrich Đại Đế[9] (tiếng Đức: Friedrich der Große) hay Fritz Đại Đế hoặc là Frederic Đại Đế[6],[14] và thường được gọi là der alte Fritz, tức “Cụ già Fritz“, hay Ông hoàng độc đáo.[15][16] Còn được gọi là “Nhà chinh phạt của vùng Rossbach và Zorndorf” hay “Người anh hùng của vùng Rossbach và Zorndorf”,[17] năm 30 tuổi, ông là nhân vật thu hút nhiều người quan tâm nhất thời đó.[18][19]

Thời niên thiếu, Hoàng thái tử Friedrich rất đam mê nền nghệ thuật và triết học, sau còn là học trò của Thống chế Áo kiệt xuất Eugène xứ Savoie.[20][21] Là một thiên tài quân sự tàn nhẫn,[22] sau khi lên ngôi vua, ông châm ngòi những cuộc chiến tranh Silesia (một phần của Chiến tranh Kế vị Áo) với chiến thắng huy hoàng đầu tiên vào tháng 4 năm 1741,[23] tiến công đế quốc Áo của Nữ hoàng nhà Habsburg và chiếm tỉnh Silesia cùng vùng Glatz về tay Vương quốc Phổ (1740 – 1745).[24] Sau đó, dù phải chống chọi với hầu hết các nước châu Âu (Nga, Áo, Pháp, Sachsen, Ba Lan, Thụy Điển v.v…) trong cuộc chiến tranh Bảy năm,[11] ông ra tay trước với chiến thắng vang dội (1756),[25] và gần như luôn luôn là vị vua chiến thắng, để rồi giành thắng lợi cuối cùng và giữ vững nước Phổ được mở rộng đáng kể (1756 – 1763).[26][27][28][29]

Nhờ áp dụng chiến thuật “đánh lấn vào sườn” trứ danh, ông giành những chiến thắng huy hoàng như trong trận Leuthen (1757) và trận Torgau (1760).[30][31] Cho đến lúc cuối đời, Đại đế Friedrich II đã xây dựng Quân đội Phổ tinh nhuệ,[32] và thành công vang dội trong việc thống nhất các vùng lãnh thổ của đất nước, vào năm 1772 cùng với các Nữ hoàng Áo và Nga tiến hành xâm chiếm và chia cắt lãnh thổ Liên bang Ba LanLitva.[33] Người ta luôn nhớ đến ông như vị vua đã thực hiện thay đổi sâu rộng nước Phổ đến mức đưa đất nước lên hàng liệt cường, chỉ trong vòng 20 năm.[34] Là kình địch đáng gờm cản trở sự phát triển của Đế quốc Áo, thành công trong chính sách chống Áo của ông đã nâng cao uy thế của Đế quốc Phổ (1778 – 1785).[35]thế kỷ XIX, Hoàng đế Pháp Napoléon Bonaparte,[36] Hoàng tử Đức lỗi lạc Friedrich Karl và Hoàng đế Đức Wilhelm II đều hết sức ngưỡng mộ ông,[37][38] và Đại Đế Friedrich II cũng được xem là nhà ngoại giao vĩ đại.[39]

Là “Thiền Vua Attila của phương Bắc”,[40] nhưng ông cũng là người nghệ sĩ, nhà nhân đạo chủ nghĩa,[41] một trong những vị vua theo chủ nghĩa Khai Sáng chuyên chế tại lục địa châu Âu vào thế kỷ XVIII.[42] Ông từng mời Voltaire (François-Marie Arouet) – một trong những triết gia tiên phong của triết học Khai Sáng – đến Vương quốc Phổ,[7] làm “vị Quốc vương thứ hai” trong triều đình Phổ.[43] Friedrich II Đại đế ủng hộ những luận điểm của đường lối triết học đó và áp dụng triệt để những lý luận trên trong công cuộc trị quốc. Là người tổ chức vĩ đại,[39] nhà làm luật có danh tiếng[44] ông tiến hành canh tân bộ máy triều đình Phổ, thực hiện không ít cải cách về dân sự, xã hội và kinh tế, bãi bỏ hình phạt tra tấn, và ủng hộ việc dỡ bỏ rào cản tôn giáo trong toàn bộ vương quốc mình. Cũng như Nữ hoàng Nga đương thời là Ekaterina II Đại đế, ông cho phép Dòng Tên (Societas Iesu) được hoạt động tại nước Phổ.[45] Ông còn tự xem mình là một vị vua – triết gia trong thời kỳ Khai sáng,[46] người ủng hộ việc truyền bá và phát triển nghệ thuật và triết học, cải cách Viện Hàn lâm Berlin.[47]

Sau khi qua đời, Đại đế Friedrich II được an nghỉ ở Sanssouci, thành phố Potsdam, chỗ ngự mà ông đặc biệt ưa thích. Sinh thời, ông đã cho xây dựng nhiều công trình công viên Sanssouci (tiếng Pháp là thoát khỏi sự phiền muộn), trong số đó cung điện Sanssouci (Điện Vô Ưu) là nổi bật hơn cả. Việc xây cất này cho thấy nhà vua yêu thiên nhiên và mong muốn con người và thiên nhiên hòa hợp với nhau.[48] Là vị vua đồng tính luyến ái nổi tiếng,[49] do không có con nối dõi, Đại đế Friedrich II truyền ngôi Quốc vương cho người cháu gọi ông bằng bác là Friedrich Wilhelm II – con trai thứ hai của Hoàng thái đệ August Wilhelm em trai ruột ông.[50] Hậu thế ca ngợi ông như vị anh hùng dân tộc của đất nước Đức.[51]

Mục lục

 

Nhận định

Tượng Đại đế Friedrich II ở Neurebbin, Brandenburg (nước Đức). Đây là bản sao năm 1997 của bức tượng được tạc vào năm 1904, nhưng bị phá hủy sau đó.
Có lẽ ông là ví dụ hoàn hảo nhất về những Đấng Quân vương chuyên chính “Khai sáng” đáng quý đã thống trị Âu châu vào thế kỷ XVIII.
—Nhà sử học Hayes[35]
Những chiến công của ông không chỉ mang lại ý thức và niềm tự hào dân tộc cho riêng những người Phổ và giáo dân Tin Lành, mà toàn thể dân tộc Đức. Toàn dân Đức đã nhận thấy, họ có một vị Quốc vương được cả châu Âu kính trọng.
—Niebuhr[407]

Là một vị bạo chúa đầy tham vọng,[86] ông trở thành một vị nguyên thủ vô cùng lỗi lạc, và là một nhân vật lịch sử huyền thoại, sánh vai với những Hammurabi, Moses, Cyrus Đại Đế, Darius I, Julius Caesar, Charlemagne, Thành Cát Tư Hãn, Timur, Louis XIV của Pháp, Pyotr I của Nga, Otto von Bismarck, Abraham Lincoln,….[573] Ông là một trong những vị vua nổi bật của triều đại Hohenzollern, là vị “Cha già của Dân tộc” Phổ,[574] “ngôi sao của châu Âu”,[381] đồng thời là một trong những vị Quốc vương vĩ đại nhất trong lịch sử cận-hiện đại.[164] Cùng với Thủ tướng Otto von Bismarck, ông trở thành một trong những nhà chính trị kinh điển của nước Đức.[564] Là nhà nhân đạo chủ nghĩa kiêm ông hoàng chinh chiến,[41][166] không những là một vị vua uyên bác bảo trợ khoa học, vị vua anh minh bảo trợ văn hóa nghệ thuật,[575] ông còn được xem là nhà chính trị kiệt xuất nhất trong thời đại của ông.[9] Ý tướng “nhà vua là công bộc của nhân dân”, chính sách tự do tôn giáo hay công cuộc cải tổ Chính phủ và Luật pháp Phổ cận đại, v.v… chính là những khía cạnh của một tư tưởng mới về chế độ quân chủ chuyên quyền.[576] Trong cuộc chiến tranh Bảy năm, hay tin vua Phổ đại phá hàng vạn quân Pháp, Ngoại trưởng nước Pháp là Hồng y Bernis đã ca ngợi:[250]

Chúng ta không thể quên rằng chúng ta đang chạm trán với vị Quân vương, người cùng một lúc là Tổng tư lệnh Quân đội, Thủ tướng Chính phủ, người tổ chức sáng suốt, và khi cần thiết, là Trưởng Mục sư của Vương quốc Phổ… Tất cả những yếu tố đó đã khiến chúng ta – với những thủ đoạn phối hợp tệ hại và được thi hành một cách tệ hại – không thể nào giành thế thượng phong…
—Thư gửi Choiseul-Stainville

Là “vua khai quốc thật sự của Vương quốc Phổ”,[574] có ý kiến cho rằng ông còn tốt hơn các vị vua nhà Bourbon đương thời, kể cả Louis XIV của Pháp.[63] Những công trạng của ông, như thống nhất những lãnh thổ rời rạc và đưa Vương quốc Phổ lên hàng liệt cường, đã được ví von với những công trạng có điểm tương đồng của Tổng thống George Washington – vị “Cha già Dân tộc” của Hoa Kỳ.[375] Tuy nhiên, Đại đế Friedrich II không có khả năng phổ biến tư tưởng Khai sáng vào quần chúng nhân dân. Họ vẫn còn dốt nát, nghèo khổ, và cô lập ở miền thôn quê. Do đó, nước Phổ không thể phát triển một bộ luật dân sự vững mạnh trong 10 năm sau khi ông từ giã cõi đời. Trong khi đó, tầng lớp địa chủ – quý tộc Junker vẫn đóng vai trò thống trị trong xã hội phong kiến Phổ,[77] Quốc gia Phổ chỉ đơn thuần là một cỗ máy.[577]

Vị vua này giả dối và hiếu chiến như nhiều Ki-tô hữu khác.
—Voltaire (thư gửi ông Everard Fawkenden, 1742) [250]

Dù có những đánh giá khác nhau trong lịch sử, với những trận thắng đáng nhớ của ông trước các đạo quân xâm lược đất Đức (chẳng hạn như Nga và Pháp), sau này ông được tôn vinh như một biểu tượng của chủ nghĩa yêu nước Phổ,[89][145] anh hùng dân tộc của người Đức (đứng ngang hàng với Đại đế Karl I và nhà thần học Martin Luther), bất chấp một thực tế rằng ông chẳng mấy ưa thích nền văn hóa Đức.[51][578][579] Ông là vị Quân vương, người chiến binh Teuton kiệt xuất, đã thành công trong việc dẫn dắt nước Phổ trở thành một cường quốc chi phối vùng Trung Âu vào thời kỳ Khai sáng;[580] cùng với hai Nữ hoàng đương thời Maria Theresia và Ekaterina II là một trong ba vị Quân vương năng động hơn cả trên toàn cõi châu Âu.[581][582] Là vị vua lôi cuốn và đột ngột thay đổi bộ mặt của đất nước,[64] dân tộc Đức tự hào về Friedrich II Đại đế nhất trong tất cả các vị vua mà họ có được. Tác phẩm “Mein Kampf” (Cuộc tranh đấu của tôi) là một bằng chứng phong phú cho thấy trùm phát xít Đức là Adolf Hitler (1889 – 1945) ngưỡng mộ ông. Có lần, vị Quốc trưởng này gọi ông là “vị anh hùng lỗi lạc”.[583] Dưới chế độ Đức Quốc xã, ông là một biểu tượng của chủ nghĩa quân phiệt Đức, họ đề cao ông như “ông vua – triết gia vung cao bảo kiếm”, và còn viết sách giáo khoa có đoạn thơ:[584]

Muôn tâu Đức Vua Friedrich, Người đội chiếc Vương miện uy phong.
Hẳn Người chỉ mong muốn đem lại quyền lợi cho Tổ quốc thôi chứ?
Muôn tâu Đức Vua và người anh hùng của chúng con, Friedrich Đại đế
Chúng con sẽ đánh đuổi loại giặc kia ra khỏi thế giới này vì Thánh thượng.
—Sách giáo khoa Đế chế Đức

Đại Đế Friedrich II trong bảy năm chinh chiến (1757).

Nhà yêu nước Đức Heinrich von Treitschke cũng thán phục ông là vị vua xây dựng cả một dân tộc.[76] Ông là vị vua có công lớn trong việc thống nhất các dân tộc Teuton, và khi thất thế Hitler đã trốn dưới hầm và mang theo hình ảnh của ông để cố thủ cho chủ nghĩa dân tộc Đức do ông sáng lập ra hai trăm năm trước kia.[173] Tuy nhiên, không chỉ những nhà sử học người Đức mới đánh giá cao công lao của ông.[80] Thomas Bacaulay – Nam tước Bacaulay thứ nhất, nhà sử học người Anh, xem ông là một “vị Quốc vương vĩ đại nhất đã được quyền thừa kế ngai vàng trong thời kỳ cận đại”.[171] Chính những tài năng, lòng dũng cảm trên chiến trường, xây dựng một lực lượng Quân đội Phổ kỷ luật và lối suy nghĩ tự do của nhà vua nước Phổ đã khiến cho Nga hoàng Pyotr III ngưỡng mộ ông và Vương quốc Phổ đến mức biến Đế quốc Nga thù địch trở thành một đồng minh của ông.[585][586][587] Huey Pierce Long, Jr. (1893 – 1935) – vị Thống đốc dân túy chủ nghĩa tiến bộ của tiểu bang Louisiana (Hoa Kỳ) – cũng vô cùng ngưỡng mộ ông, gọi ông là “Kẻ đáng ghét vĩ đại nhất từ cổ chí kim và nhấn mạnh đến một cuộc đối thoại của vị anh hùng kính yêu này trong bản báo cáo đến thủ đô Washington (1935):[588][589][590][591]

Một lần, Đại Đế Friedrich II quyết định tiến công kinh thành Viên của nước Áo. Những vị đại thần khờ dại liền can ngăn ông: “Kính bẩm Đức Kim Thượng, Người không thể đánh thành Viên, vì tình hình châu Âu sẽ trở nên thất thường”. Tuy nhiên, nhà vua không nản chí, ông nói: “Ba quan của Trẫm sẽ chinh phạt được thành Viên, và các Khanh hãy hỏi các danh sĩ ở Heidelberg về nguyên nhân thắng lợi”.[588][589] Nhà sử học Heinrich Karl Ludolf von Sybel (1817 – 1895), một thành viên của Đảng Tự do Nhân dân nước Đức thời vua Wilhelm I, cũng vô cùng ngưỡng mộ Đại Đế Friedrich II như một vị vua vĩ đại của nước Phổ.[592] Dù được trùm phát xít khâm phục, và dù tham chiến hai cuộc chiến tranh khốc liệt nhất trên lục địa Âu châu thời bấy giờ, ông quan tâm đến việc xây dựng nước Phổ giàu mạnh bằng đường lối hòa bình, đúng như ông từng gửi thư cho Voltaire:[167]

Thưa Tiên sinh, Ngài yêu hoà bình thì Trẫm cũng yêu hoà bình vậy! Nhưng, thiết nghĩ loài người chỉ có thể hạnh phúc khi chung sống trong nền hoà bình vững chắc và đáng quý. Nếu Socrates và Platon biết tình cảnh khốn khổ của Trẫm hiện nay, có lẽ họ cũng suy nghĩ như Trẫm. Trẫm xin hỏi Tiên sinh rằng, Ngài có thể hạnh phúc khi sống trong cái cuộc sống chó má như thế này không? Bọn giặc ngoại quốc tàn sát, hãm hại những người bạn hữu của Ngài hằng ngày…, Ngài lại còn phải sống lo âu và e sợ trong suốt năm…
—Friedrich Đại đế

Và, sau khi đại phá liên quân Áo – Pháp đông gấp đôi, nhà vua cho Công chúa Wilhelmina chị ông hay: “Ngay bây giờ, Quả nhân có thể thăng hà trong hòa bình, do Dân tộc ta đã giành được vinh quang hiển hách…”. Nhìn chung, ông là một Quân vương mạnh mẽ, chuyên cần và khuyển nho, làm việc nhiều đến mức từ một thanh niên đẹp trai trở thành một ông già mỏi mệt.[593] Đại đế Friedrich II được xem như một trong ba vị vua vĩ đại nhất của chủ nghĩa Khai sáng chuyên chế, cùng với Nữ hoàng Nga Ekaterina II Đại đế và Hoàng đế Áo Joseph II.[594] Huân tước Acton xem ông là “một thần đồng thực sự tuyệt vời nhất” đã lên làm vua trong thời kỳ cận đại.[80] Ông cũng được xem là nhà kinh tế, tài chính vĩ đại;[39] theo Charles C. Savage, ông đạt được rất nhiều thành tựu đáng kính nể.[595] Trong sách Những nhân vật quân sự nổi tiếng thế giới của Kha Xuân Kiều – Hà Nhân Học, phần “Friedrich: Ông vua sáng suốt” có nhận định tổng quát như sau:[596]

Friedrich Đại Đế được coi là ông vua vĩ đại nhất của nước Phổ. Friedrich đã thể hiện tài năng nhiều mặt về chính trị, quân sự, ngoại giao. Là một nhà chính trị, ông thực hành nền chuyên chế quân chủ tiến bộ, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của nền kinh tế, nâng cao sức mạnh tổng hợp của nước Phổ. Là một nhà ngoại giao, ông biết cách khóet sâu mâu thuẫn giữa các cường quốc, tách họ ra hoặc đẩy họ gần nhau nhằm tạo cho nước Phổ một điều kiện phát triển tương đối thuận lợi….Ông ngồi trên ngai vàng trong thời gian kéo dài đến 46 năm. Trong khoảng thời gian này, ông đã mở rộng lãnh thổ lên gấp đôi. Những chính sách về nội chính, ngoại giao và quân sự mà ông đã áp dụng ở nước Phổ sau này có ảnh hưởng rất lớn, đặt nền móng vững chắc cho chủ nghĩa dân tộcchủ nghĩa quân phiệt Phổ.
—Kha Xuân Kiều – Hà Nhân Học

Vua Friedrich II Đại Đế và Tướng Ziethen trước trận thắng tại Torgau (1760), họa phẩm của Bernhard Rode (1791).

Không những thế, khi còn trẻ, lãnh tụ phong trào cách mạng vô sảnFriedrich Engels xem Đại đế Friedrich II là một nhà cải cách siêu phàm của Chính phủ Phổ – Brandenburg thời đó. Vương quốc Phổ vốn chìm đắm trong chế độ phong kiến chuyên chế trước năm 1806, và nhà vua đã “tái sinh” đất nước, với những cải cách theo xu hướng tự do của ông. Không may, phong trào cải cách của ông đã không được dài lâu, và lần “tái sinh” đầu tiên của nước Phổ kết thúc dưới các triều vua sau ông. Friedrich Engels cũng đồng ý với sách “Vua Friedrich Đại đế và những kẻ thù của Ngài” do Köppen viết,[597] sách này được tặng Karl Marx vào năm 1840, xem ông là tấm gương sáng của một Quân vương tự do chủ nghĩa, là vị vua đối lập với bọn phản động Thiên Chúa giáo phản tiến bộ tại Đức. Köppen cũng không ngại công kích nhà lãng mạn chủ nghĩa Novalis – người đã cho rằng, Kháng Cách và Quốc vương Friedrich II đã phá vỡ sự thống nhất của Đế quốc La Mã Thần thánh dân tộc Đức.[598] Ông luôn được ca ngợi trong thi ca; và, trong các chính trị gia Âu châu, ông là vị anh quân được nhiều người mến mộ chỉ sau Napoléon Bonaparte.[245]

Đại đế Friedrich II ăn cướp xứ Silesia, nhưng Ngài quả là nhân vật vĩ đại nhất mọi thời đại.
—Bismarck [599]

Hình ảnh vị vua anh dũng Friedrich II Đại Đế và những chiến công của ông – cũng là vị Quân vương đầu tiên thấm nhuần triết học Khai sáng – cũng được thể hiện qua thơ, văn ca ngợi của các danh sĩ Kleist, Gleim và Archenholz, trong khi đại thi hào Goethe cho hay, những chiến công của ông đã đánh thức dân tộc Đức sau nhiều năm ngủ vùi.[407][446] Trong văn chương, nhà thơ nước Đức là Christian Daniel Friedrich Schubart tỏ lòng mến mộ nhà vua anh minh, tấm gương sáng cho mọi thế hệ anh hùng của dân tộc Đức. Tuy nhà thơ này ca ngợi những công đức của ông, như đưa chốn kinh kỳ Berlin thành “một thủ đô Athena mới”, C. D. F. Schubart đã ví von ông như những vị anh hùng huyền thoại của dân tộc Đức – Teuton năm xưa, như WotanHermann, trong các bài thơ như “Bài thánh ca về vua Friedrich Đại Đế” về chiến công đại phá quân Áo tại Silesia (1740) của ông, hay bài thơ ca ngợi ông làm minh chủ bảo vệ quyền lợi của dòng giống Teuton trong đế quốc La Mã Thần thánh (1785).[600]

Ông là vị vua có công phá vỡ thế bá chủ Âu châu của vua Pháp vào thế kỷ XVIII, và gạt bỏ ảnh hưởng của Nga và Pháp ra khỏi đất Đức.[182] Nhưng, có ý kiến nhận định người ta đã hiểu sai vai trò của ông trong lịch sử Phổ – Đức, khi phán ông là vị vua sáng lập ra chủ nghĩa quân phiệt Phổ. Theo tài liệu này, ông còn đúng là một nhà dân tộc chủ nghĩa Phổ hơn là một nhà dân tộc chủ nghĩa Đức: ông chỉ gây chiến tranh khi cần thiết và vì những mục đích chính trị, về cuối đời chính sách của ông chủ yếu là phi quân sự.[166][600] Là vị Quân vương tham gia tích cực đến công cuộc chia cắt Ba Lan – Litva lần thứ nhất (1772), ông tin tưởng vào thành quả của mình:

Những cuộc xâm chiếm ta thi hành qua ngòi bút luôn tuyệt hảo hơn những cuộc xâm chiếm ta thi hành qua binh đao!
—Friedrich Đại Đế

Thiên tài quân sự

Tượng Friedrich II Đại đế tại Berlin, thủ đô nước Đức.
Là nhà quân sự, ông biết ông chỉ huy quân đội rất bài bản, dụng binh khéo léo, đã để lại cho đời sau những trận chiến mẫu mực như trận Rossbach và Leuthen.
—Kha Xuân Kiều, Hà Nhân Học[596]
Là một trong những vị thống soái vĩ đại trong lịch sử, vua Frederick đã gây chấn động vùng Trung Âu bằng cuộc chinh phạt Silesia vào năm 1740, nhưng ông đã dùng tài năng và chính trị và quân sự để chặn đứng bước tiến công của quân thù.
—Simon Millar – Adam Hook[317]

Tổng cộng, trong suốt 46 năm trời trị vì của ông, Vương quốc Phổ – Brandenburg đã 13 năm lâm chiến trong bốn cuộc chiến tranh,[23][245] mà các triều thần và bạn hữu cũng phải sửng sốt trước sự năng nổ của Quốc vương.[68] Đại đế Friedrich II – nhà chinh phạt của vùng Rossbach và Zorndorf[19] – đã chứng tỏ ông là một vị tướng quang vinh, vị vua – chiến binh xuất sắc nhất của nước Phổ,[601] xứng đáng là con của Friedrich Wilhelm I – vị vua đã đánh bại quân Thụy Điển và xâm chiếm tỉnh Pomerania vào năm 1720.[28] Trong bảy năm chinh chiến, ông đã đánh bại được một liên quân chống Phổ đông đảo, điều này chứng tỏ thiên tài quân sự của ông, cũng như khả năng hoàn toàn nắm bắt những nhược điểm hết thuốc chữa của những đế quốc vô địch kia, mà sự đố kỵ giữa các tướng soái Nga và Áo là một ví dụ.[271] Chính ông cũng gửi thư cho nhà văn Voltaire: “Quả nhân có việc cần làm với những tên khốn ngu xuẩn ấy: kiểu này thì chắc chắn là Trẫm sẽ giành thế thượng phong từ tay chúng”.[602] Do đó, ông được xem là một vị tướng trường hợp vô song trong lịch sử,[332] và Hoàng đế Napoléon Bonaparte có nhận định:[603]

Không phải Quân đội Phổ, mà vua Friedrich Đại đế mới là người chống chọi với ba liệt cường để bảo vệ nước Phổ trong suốt bảy năm chinh chiến.
—Napoléon Bonaparte
Chiến thuật đánh lấn vô sườn là chiến thuật thiện nghệ nhất, khoa học nhất và tuyệt hảo nhất! Vua Friedrich Đại Đế đã học hỏi chiến thuật này kỹ hơn bất cứ một ông tướng nào thời cận đại. Trong những đại đồn quân, trong những buổi duyệt binh và trong thời bình, ông đã dạy chiến thuật này cho Quân đội Phổ.
—Một bình luận viên [176]

Trong số những con chiến mã mà ông cưỡi, có sáu con đã bị trúng đạn của đối phương (chẳng hạn như hai con ngựa chết trên chiến trường Kunersdorf[178]). Ông được người đời ca ngợi như một nhà chiến lược kiệt xuất,[39] thiên tài chiến thuật vĩ đại nhất của mọi thời đại. Có được những lời khen ngợi này chủ yếu là do ông thường áp dụng phương pháp tấn công bên sườn nổi tiếng (chẳng hạn như trong trận thắng tại Soor – 1745),[176][187] thực hiện những cuộc tấn công giáp lá cà. Dù lối “tấn công bên sườn” có lẽ đã được Hoàng đế Ba Tư cổ đạiCyrus Đại Đế áp dụng trong trận Thymbra vào năm 548 TCN, nhưng Đại Đế Friedrich II là ông tướng thành công vang dội nhất của lối đánh này ở thế kỷ thứ XVIII, và cho đến ngày nay tên tuổi của ông vẫn luôn luôn gắn liền với lối đánh này.[268] Nếu trận đánh tại Kolin (1757) là một thất bại của chiến thuật “đánh lấn vào sườn”, vài tháng sau Quân đội vua Friedrich II đã giành chiến thắng tuyệt vời nhất của chiến thuật này trong trận chiến tại Leuthen, rồi lại chiến thắng huy hoàng với chiến thuật này tại Torgau (1760).[31][234][289][298] Trong khi chiến thắng lừng lẫy tại Leuthen đã đưa chiến thuật của ông trở nên trứ danh, nhà vua đã ghi nhận về chiến thuật này ngay từ tháng 3 năm 1742, trong hai tập tài liệu giảng dạy ba quân “Seelowitz” (‘Instruction für die Cavalleire’, 17 March, Oeuvres, XXX, 33; ‘Disposition für die sämmtlichen Regimenter Infanterie’, 25 March Oeuvres, XXX, 75),[604] sau làm vang danh đến cả Hoàng gia Áo.[605] Cách bố trí tuyến quân của ông được ví von với danh tướng Epimondas trong trận Leuctra thời Hy Lạp cổ đại,[295] và thể hiện xuất sắc trong các trận chiến Lobositz, Kolin, Rossbach, Leuthen, Kunersdorf, Liegnitz và Torgau.[80]

Không những thế, một yếu tố quan trọng nữa là khả năng chỉ huy các cuộc hành quân của ông, thể hiện qua việc ngăn chặn không cho các kẻ thù của mình tập hợp liên quân lại thành số đông và luôn biết chọn đúng thời điểm và địa điểm để đẩy lùi đối phương khỏi lãnh thổ Vương quốc Phổ. Trước khi dùng một Quân đội tinh nhuệ mà tổng tấn công thắng lợi, nhà vua không hề để cho đối phương biết trước mưu kế của mình.[606] Ông nói: “Nếu Trẫm biết cái chiến bào hiểu những kế hoạch của Trẫm, Trẫm sẽ xé bỏ và đốt nó” – một ý tưởng được vị tướng kiệt xuất của Quân đội Liên minh miền Nam Hoa KỳStonewall Jackson (1824 – 1863) đồng tình.[607] Ông, cùng với Stonewall Jackson và tướng Lucullus thời La Mã cổ đại là những vị thống soái đã cùng với một đội quân nhỏ giành chiến thắng huy hoàng trước những đội quân đông đảo hơn hẳn trên trận tiền.[608] Trong lá thư gửi người mẹ Maria Theresia, Hoàng đế La Mã Thần thánh Joseph II có viết về Đại đế Friedrich II:

Nhà vua nước Phổ đã nghiên cứu kỹ lưỡng về binh lược và đọc những cuốn sách binh pháp. Khi ông ấy nói về những vấn đề có liên quan tới nghệ thuật chiến tranh, mọi thứ trở nên chăm chú lắng nghe một cách lạ thường. Ông ấy không giải thích quanh co luẩn quẩn, mà chỉ nêu ra minh chứng căn cứ trên sự thật và lịch sử cho những gì mà ông ấy xác nhận là đúng – những cái đó giúp ông ấy trở thành một danh nhân lịch sử… Phải công nhận rằng ông ấy là một thiên tài có lời nói đầy sức thuyết phục. Nhưng những gì ông ấy nói có thể lừa dối một người lính hầu không hay chữ.
—Hoàng đế Joseph II[609]

Ngoài ra, nhiều tác giả (chẳng hạn như Adrian Gilbert hay Robin Cross) ghi nhận ông là vị thống soái vĩ đại nhất trong thời đại của ông.[610] [611] Trong các cuộc chiến tranh Silesia và chiến tranh Bảy năm, ông được Vương quốc Anh, và cả những cường quốc phe đối lập như Nga, Áo và Pháp ngưỡng mộ, vì năng lực phi thường của nước Phổ trên chiến trường và trong việc ngoại giao.[612] Có một lần, Quốc vương Anh là George II (1683 – 1760) – anh trai của Công chúa Sophia Dorothea mẹ Đại đế Friedrich II[613] – đã đánh giá ông như “một tên xỏ lá đáng căm ghét, một người bạn xấu xa, một đồng minh xấu xa, một người láng giềng xấu xa – nói chung là kẻ phá rối nguy hiểm nhất trên toàn cõi châu Âu này.”[167] Còn Nữ hoàng Nga Elizaveta Petrovna (từng là một người ngưỡng mộ ông)[210] – trước mối đe dọa từ Quân đội Phổ tinh nhuệ – đã gọi ông là “Quốc vương Nadir Shah thành Berlin”.[614]

Đài kỷ niệm Đại đế Friedrich II tại Marienburg. Dưới chân tượng đài có các Hiệp sĩ Teuton.
Một trong những vị tướng soái kiệt xuất nhất đã từng sinh ra.
—Thomas Carlyle [67]

Giữa bảy năm chinh chiến, ông được giáo dân Kháng Cách ở Anh Quốc và châu Mỹ mệnh danh là “vua Gustav II Adolf thứ hai”.[615] Theo tài liệu “Những nhân vật quân sự nổi tiếng thế giới” của Kha Xuân Kiều – Hà Nhân Học, “Ông mạnh dạn áp dụng phương án chủ động ra tay trước để áp đảo đối phương; tập trung binh lực, tiêu diệt dứt điểm từng đối thủ một; ông luôn quán triệt tư tưởng tấn công đến cùng, không bao giờ buông lõng quyền chủ động tấn công”.[222] Ngay cả Hoàng đế Pháp đồng thời là nhà quân sự nổi tiếng Napoléon Bonaparte (1769 – 1821) đã nghiên cứu về những cuộc chinh phạt của Friedrich II Đại đế. Napoléon cũng công nhận ông là một vị thống soái vĩ đại nhất thời cận đại, thiên tài chiến thuật kiệt xuất nhất mọi thời đại[36] và đặt một tượng nhỏ hình vị vua nước Phổ trong phòng riêng của mình.[616][617] Sau khi đánh tan tác liên quân Áo – Phổ – Nga vào năm 1807, đích thân Napoléon Bonaparte – vốn luôn đồng ý với nhiều chiến thuật của Quốc vương –[617] đã thăm viếng mộ của Friedrich II Đại đế ở thành phố Potsdam và nhận xét với các tướng tá dưới quyền:

Hỡi các Tướng sĩ, nếu vị vua này vẫn còn sống thì hẳn là Trẫm chẳng thể đến được chốn này.
—Napoléon Bonaparte[618]

Trong những năm tháng cuối đời ở chốn đày ải, cựu hoàng Napoléon đã thẳng tay bỉ bác những lời chỉ trích vị tướng soái vĩ đại Friedrich II.[617] Trong những cuộc chiến tranh dưới thời ông, những chiến thắng quyết định và lừng lẫy nhất của Đại đế Friedrich II bao gồm các trận đánh tại Hohenfriedberg (1745), Rossbach (được so sánh với chiến thắng tại Austerlitz của vua Napoléon I), Leuthen (1757) (được so sánh với chiến thắng Wagram của vua Napoléon I và chiến thắng tại Gettysburg trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ 18611865) và Torgau (1760).[289][348] Trong cuộc chiến tranh Bảy năm, Quân đội Phổ của ông liên tiếp giành chiến thắng oanh liệt tại Rossbach và Leuthen chỉ trong vòng một tháng, “điều đó thể hiện một cách hùng hồn nghệ thuật chỉ huy siêu việt cũng như kỹ xảo dụng binh nhuần nhuyễn của Friedrich” – theo hai tác giả Kha Xuân Kiều và Hà Nhân Học.[248] Chiến thắng huy hoàng đầu tiên tại Mollwitz, những trận đánh nêu trên cùng với chiến thắng tại Zorndorf trước quân Nga (được xem là chiến thắng đáng nhớ nhất của ông trong bảy năm chinh chiến, và so sánh với chiến thắng Antietam thời nội chiến Hoa Kỳ)[348] đã khiến cho toàn bộ Âu châu phải sững sờ trước sự táo bạo vị vua – chiến binh – triết gia;[23][138][619] ngay cả đế quốc Ottoman cũng phải ngưỡng mộ nhà vua khi hay tin ông đại phá liên quân, và họ hô “Đế chế Brandenburg! Đế chế Brandenburg” trên khắp đường phố Constantinopolis.[172] Trong khi tên tuổi ông nổi như sóng cồn, ông đập tan quân Pháp, quân Áo và quân Nga – ba liệt cường hùng mạnh nhất trên lục địa Âu châu thời đó – trong vòng chưa đầy một năm.[252] Napoléon Bonaparte cho rằng chỉ một trong số những trận đại thắng ấy cũng đủ cho “tên tuổi của Friedrich lưu danh thiên cổ và đứng vào hàng ngũ các danh tướng vĩ đại nhất trên thế giới”[248], còn đại văn hào Voltaire ghi nhận:[620]

Vua Gustav II Adolf cũng không thể có những chiến công vang dội như vua Friedrich II. Do đó, chúng ta hãy quên đi những thói xấu của nhà vua… Hình ảnh một ông vua tàn bạo đang biến mất trước hình ảnh một ông vua kiêu hùng (Friedrich II)!
—Voltaire

Vua Friedrich II Đại Đế cũng được xem là nhà chinh phạt vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc Phổ, nhà chinh phạt của cả châu Âu,[86] với chiến thắng kinh điển tại Leuthen, mọi tướng tá của các Quân đội khác đều đua nhau cạnh tranh với ông.[241][569] Bên cạnh đó, nhà sử học quân sự và chính trị người Đức là Hans Delbrück (1848 – 1929) đã phê phán “chiến tranh tiêu hao” trong tác phẩm Die Strategie des Perikles, điều này đồng nghĩa với việc Hans Delbrück xem ông là một chiến binh thiếu anh hùng.[621] Delbrück cho biết, nhà vua nước Phổ và danh tướng thành Athena Perikles là những nhà cầm quân tiêu biểu của “chiến tranh tiêu hao”.[622] Trong một buổi lễ đọ sức giữa các đoàn quân của các cường quốc vào năm 1867 ở thành phố Paris, đoàn quân Phổ chiến thắng và Đại Đế Friedrich II cùng Hoàng đế Napoléon được ca ngợi là “những người chiến hữu”.[623] Qua việc ông đưa nước Phổ lên làm cường quốc quân sự hàng đầu sau ba cuộc chiến tranh xứ Silesia, ông được tôn vinh là một trong 50 vị lãnh tụ quân sự đã làm thay đổi cả thế giới.[624]

Trước khi cơn bão đang ập tới, Trẫm phải suy ngẫm, sống và chết với tư cách là một Quân vương.
—Friedrich Đại đế [625]
Giờ đây, chúng ta có lẽ đang sống vào thời vua Friedrich, với những trận chiến khốc liệt và mang tính quyết định. Vua Friedrich II từng bị đánh bại thảm hại trong các trận Kolin, Hochkirch và Kunersdorf. Hậu quả của những trận này là những thảm họa kinh khủng, còn tệ hại hơn hẳn những trận đánh mấy tuần nay trên mặt trận phía Đông. Tuy nhiên, sau trận Kolin là chiến thắng Leuthen, sau các trận Hochkirch và Kunersdorf là những chiến thắng tại Liegnitz, Torgau và Burkersdorf – và cuối cùng là thắng lợi quyết định của Quân đội Phổ trong bảy năm chinh chiến
—Thông điệp của Chính phủ Đức Quốc Xã sau chiến bại Stalingrad (1943) [242]

Tượng Quốc vương Phổ cưỡi ngựa, tác phẩm của Christien Daniel Rauch.

Nhà nghiên cứu quân sự người Mỹ là Michael Lee Lanning đã xếp Đại đế Friedrich II vào nhóm 100 vị thống soái có ảnh hưởng nhất trong lịch sử, (xếp ở vị trí 11) trong cuốn “The Military 100: A Ranking of the Most Influential Military Leaders of All Time by LTC Michael Lee Lanning, USA (Ret)”.[626] Đứng ngang hàng với Vương công Eugène xứ Savoie, John Churchill, Quận công Marlborough thứ nhất, Hoàng đế Pháp Napoléon Bonaparte và Arthur Wellesley, Công tước thứ nhất của Wellington là năm vị danh tướng kiệt xuất thời cận đại, ông nổi bật giữa hàng ngũ này với tư cách là một vị vua kiên quyết đến mức bất khuất:[211] Sau này, Đế chế thứ ba của người Đức có nguy cơ sụp đổ, vị vua huyền thoại này thể hiện cho niềm hy vọng và sự lặp lại một “Phép lạ của nhà Brandenburg”. Là vị vua đã làm cho cỗ máy quân sự Phổ trở nên tuyệt hảo,[627] cách cầm chân liên quân chống Phổ mà ông không hề lung lay sau trận thảm bại tại Kunersdorf (1759) được hậu thế ca ngợi như một bài học lịch sử; trong khi tại ngôi làng nghèo Bunzelwitz, cái trại của ông đã trở nên nổi tiếng thế giới.[315] Trong giai đoạn cuối cuộc Chiến tranh thế giới thế lần thứ hai, người ta xem ông như một “minh chứng lịch sử”, rằng sự quả quyết và sức mạnh ý chí có thể giúp cho vị tướng lĩnh giữa vòng vây đến một ngày nào đó sẽ giành lấy thế thượng phong.[628] Nhưng trong 1 lần đại thắng, ông – trên tinh thần chủ nghĩa thế giới – vẫn đối xử tốt với các tù binh.[250] Ông được xem là một nhà tư tưởng quân sự lỗi lạc, trở nên lão luyện với nhiều chiến dịch lừng lẫy.[29][268]

…Những sai lầm của ông đã bị che khuất bởi những trận đánh vĩ đại, những pha đánh lừa đẹp mắt, những quyết định táo bạo và những yếu tố này đã giúp ông đánh thắng các nước thù địch trong những cuộc chiến tranh. Trước hết, Ta phải nói ông vua này thật vĩ đại trong hoàn cảnh khó khăn: đây là một điều mà người ta phải nhớ nhất khi nói đến ông.
—Napoléon (Bộ thư từ của cựu hoàng Pháp, 1816).[617][629]

Đại Đế Friedrich II trong văn hóa cận – hiện đại

Đương thời, do quá ngưỡng mộ Đại Đế Friedrich II và các danh tướng của ông, nhà tiểu luận Thomas Abbtt đã cho ra mắt tác phẩm “Người ta hy vinh vì quê cha đất tổ” (1761) để tỏ lòng kính trọng ông, sau trận đánh khốc liệt tại Kunersdorf.[407][630] Vốn đã mong muốn dựng đền tưởng niệm Đại Đế Friedrich II và các vĩ nhân người Đức, vua Ludwig I của Bayern đã cho người xây đền Walhalla vào thế kỷ XIX.[631] Người ta đã đặt tượng bán thân nhà vua nước Phổ trong ngôi đền này.[632]

Friedrich Đại Đế là một người đàn ông, một tác gia, một chiến binh và một vị vua, do đó rất cần có một cuốn tiểu sử viết về ông; có lẽ còn hơn vua Karl XII… vua Fritz dũng cảm…
—Thomas Carlyle[633]

Nhà vua nước Phổ

Vào năm 1793, nhà kiến trúc cổ điển người Đức Gottfried Shadow đã tạc bức tượng nổi tiếng nhất của ông: tượng Đại đế Friedrich II tại thành phố Stettin.[634] Vào năm 1851, để kỷ niệm vị Quốc vương lừng danh nhất của Đế quốc Phổ,[635] nhà điêu khắc Christian Rauh đã xây dựng một tượng đài “Ông già Fritz” bằng đồng trên đường phố kinh thành Berlin.[636] Vào năm 1858, nhà văn Thomas Carlyle xuất bản cuốn “History of Friedrich II of Prussia” (Tập tiểu sử Friedrich II của Phổ), thuật lại cuộc đời và sự nghiệp của “vị Quốc vương cuối cùng trong các vị Quốc vương” – người anh hùng thiên cổ của ông Carlyle.[230][637] Truyện về người anh hùng này là tác phẩm được Thomas Carlyle viết hăng say nhất, do Thomas Carlyle thích câu nói của ông:[633]

Chúng ta sẽ làm tốt hơn trong thời gian tới.
—Friedrich Đại Đế

Tài năng lãnh đạo và nghị lực của nhà vua nước Phổ luôn được Thomas Carlyle khen ngợi.[29] Vào năm 1933, tem thư in hình Đại đế Friedrich II được sản xuất ở nước Đức, nhân ngày lễ Potsdam.[638] Cùng năm đó, Đức Quốc xã cho ra mắt bộ phim đầu tiên nói về vị anh hùng dân tộc Đức: “Der Choral von Leuthen” (Bài thánh ca vùng Leuthen), theo đó ông là vị Quân vương sáng suốt vô bờ vô bến, với vốn kiến thức phong phú hết chỗ nói. Ông không nghe theo lời khuyên của tướng sĩ trong trận đánh tại Leuthen, để rồi đại phá quân Áo và bảo vệ non sông nước nhà. Đế chế Đức thứ ba đã làm không ít bộ phim nhưng chẳng nói về “Người nghệ sĩ – triết gia” thời kỳ Khai sáng, mà đề cập đến “Vị Quốc vương đáng kính… đã đưa nước Phổ lên hàng liệt cường sau chiến thắng trong vài cuộc chiến tranh – người chiến binh anh dũng nước Phổ”[639].

Vào năm 1935, bộ phim “Vị vua già và vị vua trẻ” (Der alte und der junge Konig) được phát hành ở Đức, nói về mối quan hệ giữa Hoàng tử Friedrich và bạo chúa Friedrich Wilhelm I.[640] Do vua cha quá độc ác, Friedrich có ý định thay đổi vua cha, nhưng không thành công và đi theo con đường phản nghịch. Nhưng sau đó ông thay lòng đổi dạ và quyết định sẽ trở thành người chiến binh xuất sắc, cùng cha hết lòng vì sự huy hoàng của non sông đất nước. Năm sau (1936), Johannes Meyer sáng tác phim “Đức Vua Fredericus” (hay “Ông già Fritz”), đại ý nói về việc ông bị quân Áo đánh bại, liên quân Nga – Áo vây hãm nước Phổ, nhưng sau đó ông xuất binh thắng lợi và trở về xây dựng Đế chế Phổ – Brandenburg phồn vinh phú cường. Vào năm 1942, Veit Harlan sáng tác phim “Đức Vua vĩ đại” (Der große König): Otto Gebühr vào vai ông, với nội dung là sau chiến bại Kunersdorf, Nữ hoàng Áo hay tin nước Phổ đã bị tiêu diệt, toàn bộ Quân đội và Nhân dân Phổ đều đề nghị ông tái lập hòa bình, nhưng ông từ chối, để rồi xuất binh và giành chiến thắng huy hoàng trước liên quân hùng mạnh trong trận chiến Leuthen, ai ai cũng phải thán phục ông. Tuy quân Nga thiết lập liên minh chống Áo, nhà vua nước Phổ không hề tin tưởng họ.[639]

Tượng Đại đế Friedrich II tại Sanssouci (thành phố Potsdam).

Vào năm 1884, Đại tá Quân đội Anh là Charles Booth Brackenbury cũng viết một tác phẩm được đánh giá cao, thuật lại tiểu sử của vị thống soái lỗi lạc Friedrich II Đại Đế[641]. Trong bộ phim “Der Untergang” (Sự sụp đổ) do Đức sản xuất năm 2004, Adolf Hitler ngồi trong một căn phòng tối và nhìn chằm chằm vào bức tranh vẽ Đại đế Friedrich II. Có lẽ đoạn phim này chứng tỏ niềm ao ước của nhà độc tài Đức Quốc xã về một phép lạ khác của Nhà Brandenburg. Ít lâu sau đó Adolf Hitler tự sát.

Trong bộ phim Patton sản xuất năm 1970, Tướng Hoa Kỳ George S. Patton đã trích dẫn sai rằng Đại đế Friedrich II nói: “L’audace, l’audace, toujours l’audace!” (“Táo bạo, táo bạo — thường xuyên táo bạo!”).

King of Prussia, Pennsylvania, được theo tên quán King of Prussia. Bản thân quán này cũng được đặt tên là “King of Prussia” (Nhà vua nước Phổ) để tôn vinh Đại đế Friedrich II.[642]

Đường Phổ Quốc (“Prussia Street”) tại thủ đô Dublin, Ireland được theo tên của vua Friedrich II Đại đế.[643]

Friedrich II Đại đế xuất hiện trong loạt game vi tính Civilization, các game vi tính Age of Empires III, Empire Earth II, Empire: Total War. Ông cũng là nhân vật trong các board game Friedrich và “Soldier Kings” (Những vị vua chiến binh).

Ngoài ra, nhà vua nước Phổ còn là nhân vật chính trong truyện đọc trực tuyến trên Internet (webcomic) Frederick the Great: A Most Lamentable Comedy Breaching Space and Time.

Trong manga Hetalia: Axis Powers, vua Friedrich II Đại đế được gọi là “Cụ già Fritz” – ông chủ của nhân vật Gilbert Beillschmidt (Phổ).

Không những thế, ông còn được đề cập đến vài lần trong bộ phim Barry Lyndon do Stanley Kubrick sản xuất năm 1975. Trong phim này, ông được gọi là “vua Frederick vĩ đại và lừng lẫy”. Quân đội Phổ dưới triều đại ông vừa được khen ngợi vừa bị chỉ trích. Điều này thể hiện qua một đoạn trích trong phim:

Trong suốt 5 năm cuộc chiến tranh diễn ra đến nay, vua Frederick vĩ đại và lừng lẫy đã làm kiệt quệ trai tráng trong Vương quốc của mình đến nỗi Ngài phải thuê những người tuyển mộ bất chấp thủ đoạn nào, kể cả bắt cóc, để cung cấp tân binh cho những trung đoàn khải hoàn của Ngài.
—”Barry Lyndon”

Phả hệ

Đại Đế Friedrich II là anh trai của Louise Ulrike – mẫu hậu của vua Thụy Điển Gustav III.[644] Vào thập niên 1770, vua Gustav III đến thăm thành phố Potsdam và Đại Đế Friedrich II đã chỉ dạy việc trị quốc đúng đắn cho cháu mình.[141]

Friedrich Wilhelm
Tuyển hầu tước xứ Brandenburg
Louise Henriette xứ Orange-Nassau Ernest Augustus
Tuyển hầu tước xứ Brunswick-Lüneburg
Sophia
Quận chúa vùng Rhine
George William
Vương công xứ Brunswick-Lüneburg
Eleonore d’Esmier d’Olbreuse
Friedrich I
của Phổ
Sophia Charlotte
xứ Hanover
George I
của Anh
Sophia Dorothea
xứ Celle
Friedrich Wilhelm I của Phổ Sophia Dorothea xứ Hanover
Friedrich II của Phổ

Xem thêm

xem tiếp…

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook