Chào ngày mới 17 tháng 5


Frederic II de prusse.jpg
CNM365. Chào ngày mới 17 tháng 5. Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Hiến pháp ( Na UyNauru). Năm 1742Chiến tranh Silesia lần thứ nhất: Nhà vua nước Phổ Friedrich II Đại Đế đánh tan tác quân Áo trong trận đánh tại Chotusitz.

17 tháng 5

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày 17 tháng 5 là ngày thứ 137 (138 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 228 ngày trong năm.

« Tháng 5 năm 2015 »
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31

Mục lục

Sự kiện

Sinh

Mất

  • 1916Thái Phiên, một trong những người đầu tiên theo Tây học tham gia phong trào chống thực dân Pháp ở miền Trung
  • 1938Tào Côn, nhân vật quân sự và chính trị người Trung Quốc, tổng thống của Trung Quốc (s. 1862)
  • 2007Phạm Khắc, nhà quay phim, nhà nhiếp ảnh Việt Nam (s. 1939)
  • 2010Hữu Lộc, nghệ sĩ hài, doanh nhân người Việt Nam,

Ngày lễ và kỷ niệm

Tháng 1 | Tháng 2 | Tháng 3 | Tháng 4 | Tháng 5 | Tháng 6 | Tháng 7 | Tháng 8 | Tháng 9 | Tháng 10 | Tháng 11 | Tháng 12

Tham khảo

Na Uy

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Vương quốc Na Uy
Kongeriket Norge Bản mẫu:Nb icon
Kongeriket Noreg (tiếng Na Uy Nynorsk)
Flag of Norway.svg Coat of arms of Norway.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Na Uy
Khẩu hiệu
Alt for Norge
(Tiếng Na Uy: “Đoàn kết và trung thành cho đến khi núi Dovre sụp đổ”)
Quốc ca
Ja, vi elsker dette landet

Trình đơn
0:00
Hành chính
Chính phủ Quân chủ lập hiến
Vua Harald V
Thủ tướng Erna Solberg
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Na Uy
Thủ đô Oslo
59°56′B, 10°41′Đ
Thành phố lớn nhất Oslo
Địa lý
Diện tích 385.199 km² (hạng 61)
Diện tích nước 6% %
Múi giờ Giờ châu Âu (CET) (UTC+1); mùa hè: Giờ mùa hè châu Âu (UTC+2)
Lịch sử
Từ Vương quốc Thuỵ Điển
Ngày 17 tháng 5, 1814
• Tuyên bố
Ngày 7 tháng 626 tháng 10, 1905 • Công nhận
Dân cư
Dân số ước lượng (2009) 4,850,440 (vào thời điểm 21 tháng 12, 2009) người (hạng 114)
Dân số (2001) 4.520.947 người
Mật độ 14 người/km² (hạng 166)
Kinh tế
GDP (PPP) (2003) Tổng số: 169 tỷ Mỹ kim
HDI (2004) 0,963 cao (hạng 1)
Đơn vị tiền tệ Krone Na Uy (NOK)
Thông tin khác
Tên miền Internet .no

Na Uy (Bokmål: Norge; Nynorsk: Noreg), quốc danh hiện tại là Vương quốc Na Uy (Bokmål: Kongeriket Norge; Nynorsk: Kongeriket Noreg), là một quốc gia theo thể chế quân chủ lập hiến tại Bắc Âu chiếm phần phía tây Bán đảo Scandinavia. Nước này giáp biên giới với Thuỵ Điển, Phần Lan, và Nga. Khoảng cách từ các phần phía bắc và phía nam Na Uy lớn hơn rất nhiều so với khoảng cách từ đông sang tây. Đường bờ biển dài dọc theo Bắc Đại Tây Dương của quốc gia này là nơi có những fjord (vịnh hẹp) nổi tiếng của họ.

Vương quốc Na Uy gồm các lãnh thổ của đảo SvalbardJan Mayen tại Bắc Cực. Chủ quyền của Na Uy với Svalbard được đặt ra trên cơ sở Hiệp ước Svalbard, nhưng nó không được áp dụng cho Jan Mayen. Đảo Bouvet tại Nam Đại Tây Dương và những lời tuyên bố chủ quyền với Đảo Peter IVùng đất Nữ hoàng Maud tại Nam Cực cũng là những vùng phụ thuộc bên ngoài của quốc gia này, nhưng không phải là một phần của Vương Quốc.

Từ sau Thế chiến II, kinh tế Na Uy phát triển nhanh chóng, hai thập kỉ đầu chủ yếu nhờ vào hàng hải, từ đầu những năm 1970 chủ yếu dựa vào khai thác và chế biến lượng lớn dầu mỏ tại Biển BắcBiển Na Uy. Ngày nay, Na Uy được xếp hạng là nước thịnh vượng nhất thế giới[1][2][3] với khối lượng dự trữ vốn trên đầu người cao nhất thế giới. Tháng 8 2009, Dự trữ quốc gia Na Uy tuyên bố họ sở hữu khoảng 1% chứng khoán toàn cầu. Hiện nay Na Uy là nước xuất khẩu dầu mỏ lớn thứ bảy[4] và công nghiệp dầu khí đóng góp khoảng một phần tư cho tổng GDP.[5] Sau khủng hoảng tài chính quốc tế 2007-2009, các chuyên gia ngân hàng đã coi đồng Krone Na Uy là một trong những đồng tiền vững chắc nhất thế giới.[6]

Na Uy được xếp hạng cao nhất về phát triển con người từ năm 2001 tới năm 2006.[cần dẫn nguồn] Nước này cũng được xếp hạng là quốc gia an toàn nhất thế giới năm 2007 theo một cuộc khảo sát của Global Peace Index.[7]

Mục lục

Nguồn gốc quốc hiệu

Danh xưng “Na Uy” trong tiếng Việt bắt nguồn từ “挪威” (bính âm: Nuówēi), dịch danh Trung văn của quốc hiệu Na Uy (Norway trong tiếng Anh).

Nhiều nhà từ nguyên học tin rằng quốc hiệu Na Uy (Bokmål: Norge; Nynorsk: Noreg) bắt nguồn từ các Ngôn ngữ Bắc Germanic và nó có nghĩa là “con đường dẫn về hướng bắc”, trong tiếng Bắc Âu cổ sẽ là nor veg hay *norð vegr.[cần dẫn nguồn] Tên gọi của Na Uy trong tiếng Bắc Âu cổ và Nynorsk khá giống với từ trong tiếng Sami cổ có nghĩa “dọc theo bờ biển” hay “dọc biển” – được nhận diện trong từ nuorrek hiện tại ở tiếng Lule Sami. Sự hiện diện của dấu prosecutive case cổ (thỉnh thoảng cũng được gọi là prolative trong nghiên cứu ngôn ngữ Finno-Ugric) ủng hộ suy luận rằng từ Sami là bản xứ và không phải đã được vay mượn từ các ngôn ngữ Bắc Germanic.

Trong các ngôn ngữ bản xứ khác của Na Uy, cái tên lần lượt là: Lule Sami: Vuodna; Nam Sami: Nøørje; Tiếng Phần Lan/Kven: Norja. Tên chính thức là: tiếng Na Uy: Kongeriket Norge (bokmål), Kongeriket Noreg (nynorsk); Lule Sami: Vuona gånågisrijkka; Nam Sami: Nøørjen gånkarijhke; Tiếng Phần Lan/tiếng Kven: Norjan kuningaskunta.

Lịch sử

Bài chi tiết: Lịch sử Na Uy

Các bằng chứng khảo cổ học cho thấy con người đã có mặt tại Na Uy ngay từ Thiên niên kỷ thứ 10 trước Công Nguyên (12.000 năm trước). Nghiên cứu khảo cổ cho thấy họ hoặc tới từ những vùng phía nam (bắc Đức)[cần dẫn nguồn], hay đông bắc (bắc Phần Lan hay Nga) [cần dẫn nguồn]. Từ đó họ định cư dọc bờ biển.

thế kỷ thứ 9, dường như Na Uy gồm một số vương quốc nhỏ. Theo truyền thống, Harald Fairhair đã tập hợp các tiểu quốc nhỏ thành một vào năm 872 sau Công Nguyên sau Trận Hafrsfjord. Ông trở thành vị vua đầu tiên của nước Na Uy thống nhất.

Thời kỳ Viking (thế kỷ thứ 8 tới thế kỷ 11) là một trong những giai đoạn thống nhất và mở rộng. Người Na Uy đã lập các khu định cư tại Iceland, Quần đảo Faroe, Greenland và nhiều phần của Anh Quốc và Ireland và tìm cách định cư tại L’Anse aux MeadowsNewfoundland, Canada (“Vinland” của sử thi của Erik Thorvaldsson). Người Na Uy đã thành lập các thành phố Limerick, Dublin, và Waterford của Ireland[8] và thành lập các cộng đồng thương mại gần các khu định cư Celtic của CorkDublin[cần dẫn nguồn] sau này trở thành hai thành phố quan trọng nhất của Ireland. Sự lan tràn của Thiên chúa giáo ở Na Uy trong giai đoạn này phần lớn nhờ các vị vua truyền giáo Olav Tryggvasson (995–1000) và St. Olav (1015–1028), dù Haakon the Good là vị vua Thiên chúa giáo đầu tiên của Na Uy. Các truyền thống Norse đã dần thay thế trong các thế kỷ thứ 9 và thứ 10.

Năm 1349, nạn dịch Tử thần Đen đã giết hại khoảng 40% tới 50% dân số Na Uy,[9] khiến nước này suy sụp cả về xã hội và kinh tế. Trong cuộc suy thoái này, có lẽ Triều đại Fairhair đã kết thúc năm 1387. Bề ngoài có vẻ chính trị hoàng gia ở thời điểm ấy đã dẫn tới nhiều hiệp đoàn cá nhân giữa các quốc gia Bắc Âu, cuối cùng dẫn tới việc ngôi vua của Na Uy, Đan Mạch, và Thuỵ Điển rơi vào tay Nữ hoàng Margrethe I của Đan Mạch khi nước này gia nhập Liên minh Kalmar với Đan Mạch và Thuỵ Điển. Dù Thuỵ Điển cuối cùng đã rút lui khỏi liên minh năm 1523, Na Uy tiếp tục ở lại với Đan Mạch trong 434 năm cho tới năm 1814. Trong chủ nghĩa lãng mạn quốc gia ở thế kỷ 19, giai đoạn được một số người gọi là “Đêm trường 400 Năm”, bởi tất cả hoàng gia, giới học giả và quyền lực hành chính ở các vương quốc được tập trung tại Copenhagen, Đan Mạch. Các yếu tố khác cũng góp phần vào sự suy sụp của Na Uy trong giai đoạn này. Với sự xuất hiện của Đạo Tin Lành năm 1537, Tổng giám mục tại Trondheim bị giải tán, và các nguồn thu của nhà thờ được phân chia cho triều đình ở Copenhagen tại Đan Mạch. Na Uy mất nguồn hành hương ổn định tới thánh tích của St. Olav tại hầm mộ Nidaros, và cùng với đó, là đa phần nguồn liên hệ với đời sống văn hoá và kinh tế với phần còn lại của Châu Âu. Ngoài ra, trong thế kỷ 17 Na Uy cũng bị mất một phần diện tích lãnh thổ khi mất các tỉnh Båhuslen, Jemtland, và Herjedalen cho Thuỵ Điển, sau những cuộc chiến tranh giữa Đan Mạch-Na Uy và Thuỵ Điển.

Hội đồng hiến pháp năm 1814, tranh vẽ của Oscar Wergeland.

Sau khi Đan Mạch-Na Uy bị Anh Quốc tấn công, họ tham gia vào liên minh với Napoleon, và vào năm 1814 thấy mình đang ở bên thua cuộc trong Các cuộc chiến tranh của Napoléon và trong tình thế nguy ngập với nạn đói năm 1812. Vị vua Oldenburg của Đan Mạch Na Uy buộc phải nhường Na Uy cho Thuỵ Điển, trong khi các tỉnh cũ của Na Uy là Iceland, Greenland và Quần đảo Faroe vẫn tiếp tục thuộc về triều đình Đan Mạch. Na Uy lợi dụng cơ hội này để tuyên bố độc lập, chấp nhận một hiến pháp dựa trên mô hình hiến pháp MỹPháp, và bầu vị thái tử người Đan Mạch Christian Fredrik lên làm vua ngày 17 tháng 5 năm 1814. Tuy nhiên, quân đội Thuỵ Điển đã buộc Na Uy phải gia nhập một liên minh cá nhân với Thuỵ Điển, lập ra triều đại Bernadotte nắm quyền cai trị Na Uy. Theo thoả thuận này, Na Uy giữ hiến pháp tự do và các định chế độc lập của mình, ngoại trừ quan hệ đối ngoại. Xem thêm Na Uy năm 1814.

Giai đoạn này cũng chứng kiến sự nổi lên của phong trào văn hoá Chủ nghĩa quốc gia lãng mạn Na Uy, khi người Na Uy tìm cách định nghĩa và thể hiện một bản sắc quốc gia riêng biệt. Phong trào này liên quan tới mọi nhánh văn hoá, gồm cả văn học (Henrik Wergeland, Bjørnstjerne Bjørnson, Peter Christen Asbjørnsen, Jørgen Moe, Henrik Ibsen), hội hoạ (Hans Gude, Adolph Tidemand), âm nhạc (Edvard Grieg), và thậm chí trong cả chính sách ngôn ngữ, những nỗ lực nhằm xác định một ngôn ngữ viết bản xứ cho Na Uy đã dẫn tới các hình thức ngôn ngữ viết chính thức hiện nay cho Tiếng Na Uy: BokmålNynorsk.

Christian Michelsen, một ông trùm ngành tàu bè và là một chính khách, đã làm Thủ tướng Na Uy từ năm 1905 tới năm 1907. Michelsen nổi tiếng nhất về vai trò quan trọng của ông trong cuộc ly khai hoà bình của Na Uy với Thuỵ Điển ngày 7 tháng 7 năm 1905. Sự bất mãn ngày càng tăng của Na Uy về liên minh với Thuỵ Điển hồi cuối thế kỷ 19 cộng với chủ nghĩa quốc gia đã thúc đẩy nhanh sự tan rã của liên minh. Sau một cuộc trưng cầu dân ý xác định sự ưa chuộng của người dân với chế độ quân chủ hơn một nền cộng hoà, chính phủ Na Uy đã đề xuất trao ngôi báu Na Uy cho Hoàng tử Đan Mạch Carl và Nghị viện đã nhất trí bầu ông. Ông lấy tên Haakon VII, theo các vị vua khi Na Uy độc lập thời Trung Cổ. Năm 1898, tất cả mọi nam giới đều được trao quyền bầu cử, sau đó phụ nữ năm 1913.

Trong Thế chiến I, Na Uy là một nước trung lập. Na Uy cũng tìm cách tuyên bố trung lập trong Thế chiến II, nhưng đã bị các lực lượng Đức xâm lược Na Uy ngày 9 tháng 4 năm 1940. Na Uy không hề chuẩn bị trước cho một cuộc tấn công bất ngờ như vậy của Đức, nhưng các cuộc kháng cự quân sự vẫn diễn ra trong hai tháng, lâu hơn bất kỳ một quốc gia nào khác bị người Đức xâm lược, ngoại trừ Liên bang Xô viết. Trong Chiến dịch Na Uy, Kriegsmarine mất nhiều tàu chiến kể cả chiếc tuần dương hạm Blücher. Những trận chiến VinjesvingenHegra đã trở thành những cứ điểm kháng cự cuối cùng của người Na Uy ở phía nam nước này vào tháng 5, trong khi các lực lượng vũ trang ở phía bắc tung ra các cuộc tấn công vào các lực lượng Đức trong Các trận đánh Narvik, cho tới khi họ buộc phải đầu hàng ngày 10 tháng 6 sau khi mất sự hỗ trợ của Đồng Minh đi cùng sự thất trận của nước Pháp. Vua Haakon và chính phủ Na Uy tiếp tục cuộc chiến trong hoàn cảnh tị nạn tại Rotherhithe, Luân Đôn. Vào ngày cuộc xâm lược diễn ra, vị đồng lãnh đạo của Đảng Quốc gia-Xã hội nhỏ Nasjonal SamlingVidkun Quisling — đã tìm cách lên nắm quyền lực, nhưng đã bị quân chiếm đóng Đức gạt ra rìa. Quyền lực thực sự nằm trong tay chính quyền chiếm đóng Đức, Reichskommissar Josef Terboven. Quisling, với tư cách bộ trưởng tổng thống, sau này đã thành lập một chính phủ liên minh dưới sự quản lý của Đức. Các cơ sở tại Na Uy đã chế tạo nước nặng, một nguyên liệu chủ chốt chế tạo vũ khí hạt nhân, và cuối cùng đã bị người Đức bỏ lại sau nhiều nỗ lực phá huỷ cơ sở Vemork của người Na Uy, người Anh và người Mỹ. Trong những năm chiếm đóng của Phát xít, người Na Uy đã xây dựng một phong trào kháng chiến mạnh chống lại các lực lượng chiếm đóng Đức bằng cả chiến tranh vũ trang và bất tuân dân sự. Tuy nhiên, yếu tố quan trọng hơn với Đồng Minh, là vai trò của hải quân thương mại Na Uy. Ở thời điểm xảy ra cuộc xâm lược, Na Uy có hạm đội tàu biển thương mại đứng hàng thứ tư thế giới (cũng như có tốc độ nhanh nhất và hiệu quả nhất). Công ty tàu biển Na Uy Nortraship đã nằm dưới sự điều khiển của Đồng Minh trong suốt cuộc chiến và tham gia vào mọi chiến dịch từ việc sơ tán Dunkirk tới cuộc đổ bộ vào Normandy.

Sau cuộc chiến, những thành viên đảng Dân chủ Xã hội lên nắm quyền và lãnh đạo quốc gia trong hầu hết thời gian cuộc chiến tranh lạnh. Na Uy đã gia nhập NATO năm 1949, và trở thành một đồng minh thân cận của Hoa Kỳ. Hai cuộc trưng cầu dân ý nhằm gia nhập Liên minh Châu Âu (được gọi là Cộng đồng Châu Âu năm 1972) đã thất bại với tỷ số mong manh năm 1972 và 1994. Những nguồn dự trữ dầu mỏ và khí gas lớn đã được khám phá trong thập niên 1960, dẫn tới sự bùng nổ kinh tế sau đó.

Địa lý, Khí hậu và Môi trường

Bài chi tiết: Địa lý Na Uy

Hình vệ tính lục địa Na Uy vào mùa đông

Na Uy gồm phần phía tây của ScandinaviaBắc Âu. Bờ biển lởm chởm, bị chia cắt bởi nhiều vịnh hẹp (fjord) và khoảng 50.000 hòn đảo, trải dài hơn 2.500 km. Na Uy có 2.542 km đường biên giới trên bộ chung với Thuỵ Điển, Phần Lan, và Nga ở phía đông. Từ phía tây tới phía nam, Na Uy giáp với Biển Na Uy, Biển Bắc, và Skagerak. Biển Barents nằm ở các bờ biển phía bắc Na Uy..

Với diện tích 385.155 km² (gồm cả Jan Mayen, Svalbard), Na Uy hơi lớn hơn Đức, nhưng đa phần lãnh thổ là núi non hay vùng đất cao, với sự đa dạng lớn về địa hình tự nhiên do các dòng sông băng thời tiền sử gây nên. Đặc điểm đáng chú ý nhất là các vịnh hẹp: Những rãnh sâu cắt vào đất liền của biển sau sự chấm dứt của Thời kỳ băng hà, vịnh dài nhất là Sognefjorden. Na Uy cũng có nhiều sông băng và thác nước.

Phong cảnh đặc trưng phía tây Na Uy với làng (Geiranger)

Đất đai chủ yếu gồm đá granite cứng và đá gneiss nhưng, đá acđoa, sa thạcđá vôi cũng thường thấy, và ở những khu vực có độ cao thấp nhất thường có trầm tích biển. Vì Gulf Stream những cơn gió tây, Na Uy có nhiệt độ ấm và lượng mưa lớn hơn ở các vùng có vĩ độ bắc như vậy, đặc biệt dọc theo bờ biển. Lục địa có bốn mùa riêng biệt, với mùa đông lạnh và ít mưa hơn trong đất liền. Vùgn cực bắc chủ yếu có khí hậu cận Bắc Cực biển, trong khi Svalbard có khí hậu tundra Bắc Cực.

Có sự khác biệt theo mùa lớn trong ngày. Tại các vùng phía bắc Vòng Bắc Cực, mặt trời mùa hè có thể không bao giờ xuống dưới đường chân trời, vì thế Na Uy được miêu tả là “Vùng đất của Mặt trời lúc nửa đêm.” Trong mùa hè, người dân ở phía nam Vòng Bắc Cực có ánh sáng mặt trời trong vòng gần 20 giờ trong ngày.

Các thành phố chính

Oslo là thủ đô và cũng là thành phố lớn nhất của Na Uy hiện nay. Nằm ở phía Đông Nam Na Uy, Oslo trải dài trên nhiều triền núi và quanh các hồ. Đây cũng là một trong những thành phố có giá cả sinh hoạt đắt nhất thế giới.

Thành phố lớn thứ hai của Na Uy là Bergen. Đây là cảng biển lớn nhất vương quốc Na Uy và cũng là trung tâm công nghiệp dầu khí quan trọng hàng đầu quốc gia này.

Trondheim là thành phố lớn thứ ba và là cố đô của Na Uy. Thành phố này từng là kinh đô cả về mặt chính trị, kinh tế lẫn tôn giáo của xứ sở nghìn vịnh này. Hiện nay, Trondheim còn được biết đến là trung tâm giáo dục, khoa học kỹ thuật của Na Uy với rất nhiều trường đại học nổi tiếng đóng tại đây. Thành phố Trondheim còn là nơi tổ chức Festival Sinh viên Quốc tế lớn nhất thế giới, cứ hai năm lại được tổ chức một lần. Lần gần nhất là tháng 2 năm 2007.

Chính trị

Bài chi tiết: Chính trị Na Uy

Erna Solberg là thủ tướng chính phủ mới nhất của Na Uy sau cuộc bầu cử năm 2013.

Harald V là vua hiện tại của Na Uy.

Vương quốc Na Uy là một quốc gia quân chủ lập hiến với một chính phủ theo hệ thống nghị viện. Gia đình Hoàng gia là một nhánh của gia đình hoàng gia Glücksburg, có nguồn gốc từ Schleswig-HolsteinĐức. Vai trò của nhà Vua, Harald V, chỉ mang tính nghi lễ, nhưng ông có ảnh hưởng như một biểu tượng của sự thống nhất quốc gia. Dù hiến pháp năm 1814 trao cho nhà vua nhiều quyền hành pháp quan trọng, chúng luôn được Hội đồng nhà nước thực hiện dưới danh nghĩa của nhà vua (Hội đồng hay nội các của nhà vua). Những quyền lực được hiến pháp trao cho nhà Vua chỉ là trên danh nghĩa, nhưng trong một số trường hợp có thể là rất quan trọng như trường hợp trong Thế chiến II, khi nhà Vua tuyên bố sẽ thoái vị nếu chính phủ chấp nhận đề nghị của đức. Hội đồng Nhà nước gồm một Thủ tướng và các bộ trưởng, được chỉ định chính thức bởi đức vua. Chế độ đại nghị đã xuất hiện từ năm 1884 và đòi hỏi rằng nội các không bị sự phản đối của nghị viện, và rằng sự chỉ định của nhà vua chỉ là một thủ tục khi rõ ràng có một đa số trong nghị viện thuộc một đảng hay một liên minh. Nhưng trong trường hợp cuộc bầu cử không có sự chênh lệch rõ rệt của một đảng hay một liên minh, lãnh đạo của đảng thích hợp nhất cho việc thành lập một chính phủ sẽ là vị Thủ tướng được nhà Vua chỉ định. Na Uy từng có nhiều lần có chính phủ thiểu số. Nhà Vua họp với chính phủ vào mỗi thứ sáu tại Hoàng cung (Hội đồng Nhà nước), nhưng các quyết định của chính phủ đã được đưa ra trước đó trong những cuộc họp chính phủ, do thủ tướng lãnh đạo, vào mỗi thứ ba và thứ năm. Nhà vua khai mạc nghị viện vào mỗi tháng 9, ông tiếp nhận các đại sứ tới triều đình Na Uy, và ông là Tư lệnh tối cao danh nghĩa của Lực lượng Phòng vệ Na Uy và là Người đứng đầu Nhà thờ Na Uy.

Tòa nhà quốc hội Na Uy ở Oslo.

Nghị viện Na Uy, Stortinget, hiện có 169 thành viên (đã tăng từ 165, bắt đầu từ cuộc bầu cử ngày 12 tháng 9 năm 2005). Các thành viên được bầu ra từ mười chín hạt với nhiệm kỳ bốn năm theo hệ thống đại diện tỷ lệ. Khi bỏ phiếu về vấn đề lập pháp, Storting – cho tới cuộc bầu cử năm 2009 – tự chia làm hai viện OdelstingLagting. Trong đa số trường hợp luật được chính phủ đệ trình thông qua một Thành viên Hội đồng Nhà nước, hay trong một số trường hợp là một thành viên của Odelsting trong trường hợp có nhiều lần không đồng thuận trong Storting. Tuy nhiên, hiện nay Lagting hiếm khi có sự bất đồng, đặc biệt khi phê chuẩn các quyết định của Odelsting. Một sửa đổi hiến pháp ngày 20 tháng 2 năm 2007 sẽ bãi bỏ việc chia làm hai viện sau cuộc tổng tuyển cử năm 2009.

Những trường hợp buộc tội hiếm khi xảy ra (lần cuối cùng vào năm 1927, khi Thủ tướng Abraham Berge được tuyên bố trắng án) và có thể được đưa ra chống lại các Thành viên của Hội đồng Nhà nước, của Toà án Tối cao (Høyesterett), hay Storting về những vi phạm họ có thể đã làm trong khả năng chính thức.

Trước một sửa đổi của Hiến pháp Na Uy ngày 20 tháng 2 năm 2007 các truy tố được Odelsting đưa ra và được Lagting và các thẩm phán Toà án tối cao, như một phần của Toà án Tối cao Vương quốc, xét xử. Trong hệ thống mới các trường hợp truy tố sẽ được năm thẩm phán cấp cao nhất của Toà án Tối cao và sáu thành viên không chuyên môn khác xem xét trong một trong các phòng xét xử của Toà án Tối cao (trước kia các trường hợp được xem xét trong phòng Lagting). Các đại diện của Storting không thể là các thẩm phán không chuyên môn. Các truy tố sẽ được Storting đưa ra trong một phiên họp toàn thể. Các đảng phái chính ở Na Uy bao gồm: đảng Lao động, đảng Bảo thủ, đảng Trung tâm, đảng XHCN cánh tả, đảng Nhân dân Thiên chúa giáo, đảng Cộng sản, đảng Tiến bộ, đảng Tự do,…

Mặt khác Storting hoạt động như một nghị viện đơn viện và sau cuộc tổng tuyển cử năm 2009 việc phân chia thành Odelsting và Lagting để thông qua luật pháp sẽ bị huỷ bỏ. Lập pháp khi ấy sẽ phải tra qua hai – ba trong trường hợp bất đồng – phiên họp phê chuẩn trước khi được thông qua và gửi tới nhà Vua để chuẩn y.

Tư pháp gồm Toà án Tối cao (mười tám thẩm phán thường trực và một Chánh án tối cao), các toà phúc thẩm, các toà cấp thành phố và quận, và các hội đồng hoà giải. Các thẩm phán thuộc các toà chính quy và được Vua hội đồng chỉ định.

Để thành lập một chính phủ, hơn một nửa thành viên của Hội đồng Nhà nước phải thuộc Nhà thờ Na Uy. Hiện tại, điều này có nghĩa ít nhất mười trong số mười chín thành viên.

Vào tháng 12 mỗi năm, Na Uy tặng một cây thông Noel cho Anh Quốc, để cảm ơn sự hỗ trợ của nước này trong Thế chiến II. Một buổi lễ dựng cây diễn ra tại Quảng trường Trafalgar.[10]

Trong bản báo cáo Chỉ số Tự do Báo chí Thế giới năm 2007 của mình Phóng viên Không Biên giới xếp hạng Na Uy ở vị trí đầu tiên (cùng với Ireland) trong số 169 quốc gia.[11]

Na Uy là một thành viên của Liên Hiệp Quốc, NATO, và Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển.

Cung điện Hoàng gia Na Uy tại Oslo.

Nhà Vua

Thể chế của Na Uy theo chế độ quân chủ lập hiến đứng đầu Nhà nước là Vua. Hiến pháp Na Uy năm 1814 quy định vua theo chế độ cha truyền con nối. Nhưng hiện nay Vua chỉ mang tính chất lễ nghi, không còn quyền lực chính trị. Quyền lực chính trị thuộc về cơ quan hành pháp (Chính phủ), đứng đầu là Thủ tướng. Người nối ngôi vua sẽ là con cả, không phân biệt nam nữ.

Cơ quan lập pháp (Storting-Quốc hội)

Trước đây, Quốc hội Na Uy (Storting) gồm 2 viện: Lagting (tương đương Thượng viện) và Odelsting (tương đương Hạ viện). Kể từ năm 2009, Quốc hội Na Uy bỏ việc phân chia Quốc hội thành Thương viện và Hạ viện và theo chế độ một viện (unicameral) với 169 nghị sỹ, nhiệm kỳ 4 năm.

Chế độ bầu cử của Na Uy dựa trên nguyên tắc bỏ phiếu kín, bầu trực tiếp và theo tỷ lệ. Cả nước có 19 đơn vị bầu cử. Những người chưa có quốc tịch Na Uy thì được quyền tham gia bầu cử ở địa phương, nếu đến ngày bầu cử họ đã sống liên tục ở Na Uy được 3 năm và đáp ứng các điều kiện chung về bầu cử. Quốc hội hiện nay (nhiệm kỳ 2009- 2012) có 169 ghế, trong đó Công Đảng chiếm đa số (64 ghế tương đương 35,4%).

Cơ quan hành pháp (Chính phủ)

Chính phủ hiện nay là chính phủ đa số liên minh cánh tả (liên minh xanh – đỏ) gồm 3 đảng: Công đảng, Đảng Xã hội chủ nghĩa cánh tả (XHCN), Đảng Trung tâm do ông Jens Stoltenberg (chủ tịch Công đảng) đứng đầu. Chính phủ hiện có 17 Bộ (không bao gồm Văn phòng Thủ tướng).

Quan hệ ngoại giao

Về đối ngoại

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Na Uy điều chỉnh chính sách đối ngoại từ “trung lập hạn chế” sang liên minh quân sự và gia nhập NATO (1949) để có sự đảm bảo của MỹTây Âu cho an ninh và quốc phòng, vì Na Uy luôn luôn lo ngại ảnh hưởng của Nga. Na Uy tham gia lực lượng phản ứng nhanh của NATO ở Trung Đông, ủng hộ Mỹ trong hầu hết các vấn đề quốc tế. Cùng với các nước Bắc Âu khác, Na Uy chủ trương cải tổ Liên Hiệp Quốc, trong đó có Hội đồng bảo an nhằm đảm bảo dân chủ và quyền bình đẳng giữa các nước thành viên Liên Hiệp Quốc. Na Uy đang thực hiện kế hoạch điều chỉnh quan hệ đối ngoại, tập trung nguồn lực nhiều hơn trong quan hệ với các nước mới nổi (BRIC) gồm có Brasil, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ nhằm tận dụng nguồn lực phát triển của các nước này.

Quan hệ với Liên minh Châu Âu

Na Uy chủ trương gia nhập Liên minh châu Âu (EU) từ những năm 70 nhưng chưa được đa số người dân Na Uy ủng hộ. Na Uy vẫn tham gia vào các hoạt động của EU, tiếp tục đóng góp cho quỹ EEA để hỗ trợ giải quyết các vấn đề xã hội ở EU. Tuy nhiên, phản đối của người dân Na Uy trong việc gia nhập EU ngày càng tăng (70%) và một số quy định của EU vẫn gặp khó khăn trong việc phê chuẩn ở Na Uy.

Với Châu Á nói chung

Năm 1996, Quốc hội Na Uy thông qua “Chiến lược châu Á” nhằm tăng cường quan hệ chính trị và mở rộng hợp tác kinh tế, thương mại, văn hoá lâu dài với các nước ở khu vực này. Hiện nay, Na Uy có quan hệ thương mại nhiều với Nhật Bản, Trung Quốc và ngày càng chú trọng đến khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.

Vấn đề dân chủ, nhân quyền

Là một trong những ưu tiên hàng đầu của Na Uy hiện nay. Bộ Ngoại giao Na Uy chịu sức ép rất lớn từ Quốc hội Na Uy về vấn đề này, do đó, phía Na Uy đánh giá cao cơ chế đối thoại nhân quyền với các nước nói chung và với Việt Nam nói riêng.

Hạt và Khu vực đô thị

Xem thêm thông tin: Vùng Na Uy và Phân chia khu vực Na Uy

Một bản đồ địa lý Na Uy, thể hiện mười chín khu vực hành chính cấp một (fylker: “counties”)

Na Uy được chia thành mười chín vùng hành chính cấp một được gọi là fylker (“Hạt“, số ít fylke) và 431 kommuner cấp hai (“Khu đô thị“, số ít kommune). fylke là cấp hành chính trung gian giữa nhà nước và khu đô thị. Nhà vua có đại diện ở mọi hạt bởi một Fylkesmann.

Hiện có tranh cãi đang về việc liệu mười chín “fylker” có nên được thay thế bằng từ năm tới chín vùng lớn hơn không.[cần dẫn nguồn] Một số người hy vọng việc này sẽ xảy ra năm 2010, trong khi những người khác lại mong đợi cấp hành chính trung gian sẽ hoàn toàn bị bãi bỏ. Một lựa chọn khác có thể sẽ là củng cố các khu đô thị vào các thực thể lớn hơn và trao trách nhiệm lớn hơn cho chúng.

Các hạt Na Uy gồm:

Kinh tế

Bài chi tiết: Kinh tế Na Uy

Na Uy sở hữu mức GDP trên đầu người đứng thứ hai và GDP (sức mua tương đương) trên đầu người đứng thứ ba thế giới, và luôn duy trì được vị trí số một thế giới trong bảng Chỉ số Phát triển Con người (HDI) của UNDP trong năm năm liên tục (2006). Tuy nhiên, Iceland đã hơi vượt hơn Na Uy ở vị trí số một về chất lượng cuộc sống theo Chỉ số Phát triển Con người.

Chi phí cuộc sống tại Na Uy cao hơn ở Hoa Kỳ khoảng 30% và 25% so với Anh Quốc.

Kinh tế Na Uy là một ví dụ về nền kinh tế hỗn hợp, với đặc trưng là một sự phối hợp giữa hoạt động thị trường tự do và sự sở hữu lớn của nhà nước. Chính phủ kiểm soát các ngành chủ chốt, như lĩnh vực dầu mỏ (StatoilHydro) chiến lược, sản xuất năng lượng thuỷ điện Statkraft), chế tạo nhôm (Norsk Hydro), ngân hàng lớn nhất Na Uy (DnB NOR) và công ty cung cấp dịch vụ viễn thông (Telenor). Chính phủ kiểm soát 31.6% công ty niêm yết công chúng. Với các công ty chưa niêm yết thậm chí nhà nước còn sở hữu số vốn lớn hơn (chủ yếu là các giấy chứng nhận sở hữu dầu mỏ trực tiếp).

Các cơ cấu kiểm soát các nguồn tài nguyên dầu mỏ là sự phối hợp giữa sở hữu nhà nước với các công ty khai thác chính tại các giếng dầu Na Uy (StatoilHydro xấp xỉ 62% năm 2007) và sở hữu toàn bộ Petoro (giá trị thị trường khoảng gấp đôi Statoil) và SDFI. Cuối cùng chính phủ kiểm soát việc cấp giấy phép khai thác và sản xuất các giếng dầu.

Quốc gia này sở hữu nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú gồm dầu mỏ, thuỷ năng, đánh cá, lâm nghiệp, và khoáng chất. Na Uy là một trong những quốc gia có tiêu chuẩn cao nhất thế giới phần lớn bởi có nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên so với quy mô dân số. Thu nhập từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên gồm cả một phần quan trọng từ dầu khí và các ngành công nghiệp liên quan cũng như việc quản lý tốt các nguồn thu từ lĩnh vực này. Na Uy luôn có tỷ lệ thất nghiệp thấp, hiện ở mức dưới 2% (tháng 6 năm 2007). Mức năng suất, cũng như mức lương trung bình trên giờ tại Na Uy thuộc hàng cao nhất thế giới. Các giá trị quân bình của xã hội Na Uy[cần dẫn nguồn] đảm bảo rằng sự cách biệt về lương giữa người công nhân có mức thu nhập thấp nhất và người quản lý cao cấp nhất ở công ty thấp hơn nhiều so với tại các nền kinh tế phương tây khác.[cần dẫn nguồn]

Năm 2006, dầu mỏ và gas chiếm 58% xuất khẩu.[cần dẫn nguồn] Chỉ NgaẢ Rập Saudi, một thành viên của OPEC, xuất khẩu nhiều dầu mỏ hơn Na Uy, vốn không phải là một thành viên OPEC. Để giảm bớt sự phát triển quá nóng từ nguồn thu dầu mỏ, sự không chắc chắn của giá dầu, và để tiết kiệm tiền cho một cộng đồng dân số đang già đi, chính phủ Na Uy bắt đầu từ năm 1995 đã để dành các khoản thu (thuế, cổ tức, giấy phép, bán hàng) trong một Quỹ tài sản quốc gia (“Quỹ trợ cấp chính phủ – Toàn cầu”). Đây cũng nhằm giảm bớt vòng bùng nổ và tan vỡ đi liền với việc sản xuất nguyên liệu thô và cách ly ngành công nghiệp phi dầu khí (xem thêm Bệnh dịch Hà Lan).

Vì kích cỡ của nó nguồn vốn đã được đầu tư vào các thị trường tài chính phát triển bên ngoài Na Uy. Quy định ngân sách (“Handlingsregelen”) là chi tiêu không quá 4% quỹ mỗi năm (được cho là khoản thu trung bình hàng năm). Tới tháng 1 năm 2006, quỹ có giá trị 200 tỷ dollar Mỹ, chiếm 70% GDP Na Uy. Trong nửa đầu năm 2007, quỹ hưu trí đã trở thành lớn nhất ở Châu Âu, tổng cộng khoảng 300 tỷ dollar, tương đương hơn 62.000 dollar trên đầu người. Ở thời điểm tháng 4 năm 2007, Na Uy có mức dự trữ trên đầu người cao hơn tất cả các nước. Những con số cho thấy quỹ hưu trí của Na Uy sẽ trở thành quỹ tư bản lớn nhất thế giới. Những con số ước tính thận trọng cho rằng quỹ có thể đạt mức 800-900 tỷ dollar Mỹ vào năm 2017. Các nền kinh tế dựa trên tài nguyên thiên nhiên khác (ví dụ: Nga và Chile) đang tìm cách học tập Na Uy khi thành lập các quỹ tương tự.

Kích thước tương lai của quỹ tất nhiên liên quan mật thiết tới giá dầu và những sự phát triển trên các thị trường tài chính thế giới, nơi quỹ đầu tư.

Những cuộc trưng cầu dân ý năm 1972 và 1994 cho thấy người dân Na Uy muốn ở bên ngoài Liên minh Châu Âu (EU). Tuy nhiên, Na Uy cùng với IcelandLiechtenstein, tham gia vào thị trường chung Liên minh Châu Âu thông qua thoả thuận Vùng Kinh tế Châu Âu (EEA). Hiệp ước EEA giữa các quốc gia Liên minh Châu Âu và các quốc gia EFTA – đã được đưa vào luật pháp Na Uy thông qua “EØS-loven”[12] – miêu tả quá trình áp dụng các quy định của Liên minh Châu Âu tại Na Uy và các quốc gia EFTA. Điều này khiến Na Uy trở thành một thành viên tham gia sâu vào đa số các lĩnh vực của thị trường nội bộ Liên minh Châu Âu. Tuy nhiên, một số lĩnh vực, như nông nghiệp, dầu khí và đánh cá, không hoàn toàn phải tuân thủ Hiệp ước EEA. Na Uy cũng tham gia vào Thoả thuận Schengen và nhiều thoả thuận liên chính phủ khác giữa các quốc gia thành viên Liên minh Châu Âu.

Năm 2000, chính phủ bán một phần ba của công ty khi ấy đang là công ty sở hữu quốc gia 100% trong một đợt IPO. Năm sau đó, nhà cung cấp dịch vụ viễn thông chính, Telenor, đã được niêm yết trên Thị trường Chứng khoán Oslo. Nhà nước cũng sở hữu phần quan trọng trong ngân hàng lớn nhất Na Uy, DnB NOR và hãng hàng không SAS. Từ năm 2000, tăng trưởng kinh tế đã có bước phát triển nhanh, làm giảm tỷ lệ thất nghiệp tới mức thấp nhất kể từ đầu thập niên 1980.

Đồng tiền tệ quốc gia là Krone Na Uy.

Nhân khẩu

Bài chi tiết: Nhân khẩu Na Uy

Tới năm 2007, dân số Na Uy gồm 4.7 triệu người. Đa số người Na Uy thuộc sắc tộc Na Uy, một nhóm người Germanic Bắc. Người bản xứ người Sami theo truyền thống sống ở các vùng trung tâm và phía bắc Na Uy và Thuỵ Điển cũng như vùng bắc Phần Lan và tại Nga trên Bán đảo Kola. Một cộng đồng thiểu số quốc gia khác là người Kven có nguồn gốc từ những người nói tiếng Phần Lan đã tới miền bắc Na Uy ở thế kỷ 18 đến thế kỷ 20. Cả người Sami và người Kven đều là đối tượng của một chính sách đồng hoá mạnh của chính phủ Na Uy từ thế kỷ 19 cho tới những năm 1970.[13] Vì “quá trình Na Uy hoá” này, nhiều gia đình Sami và Kven hiện tự xác định mình thuộc sắc tộc Na Uy thậm chí họ không có nguồn gốc Germanic thuần chủng.[14] Điều này, cộng với một lịch sử chung sống dài lâu của người Sami và những người Bắc Germanic trên bán đảo Scandinave, khiến những tuyên bố về sắc tộc của dân cư ít phức tạp hơn mong đợi – đặc biệt ở vùng trung và bắc Na Uy. Các nhóm khác tự nhận là thiểu số quốc gia Na Uy gồm người Do Thái, Forest Finns, Roma/Gypsiesngười Rumani/Travellers.

Trong những năm gần đây, nhập cư chiếm hơn một nửa tăng trưởng dân số Na Uy. Năm 2006, cơ quan Thống kê Na Uy (SSB) cho biết 45.800 người đã nhập cư vào nước này – cao hơn năm 2005 30%. Đầu năm 2007, có 415.000 người Na Uy có nguồn gốc nhập cư (ví dụ người nhập cư, hay có cha mẹ là người nhập cư), chiếm 8.9% tổng dân số. 310.000 người trong số đó không phải là người phương Tây, gồm các nước cộng sản cũ theo định nghĩa do cơ quan Thống kê Na Uy sử dụng. Các nhóm nhập cư lớn nhất theo nguồn gốc, kích cỡ, là Pakistan, Thuỵ Điển, Iraq, Maroc, Đan Mạch, Nga, Ba Lanngười Việt Nam. Số dân nhập cư từ Iraq đã tăng mạnh trong những năm gần đây, và hiện là nhóm đứng thứ ba sau người Pakistan và người Thuỵ Điển. Những năm gần đây làn sóng người nhập cư từ Trung và Đông Âu cũng tăng mạnh và người Ba Lan được dự đoán sẽ trở thành nhóm nhập cư lớn nhất nếu khuynh hướng này tiếp diễn.[cần dẫn nguồn]

Có 285.000 người nhập cư hợp pháp không có nguồn gốc phương Tây tại Na Uy ở thời điểm tháng 1 năm 2006, phổ biến nhất là Pakistan, tiếp theo là Iraq, Việt Nam và Maroc.[15] Oslo có số dân nhập cư không phải gốc phương Tây lớn nhất với khoảng 99.000, hay 18% dân số. Số dân nhập cư tăng mạnh nhất năm 2006 có nguồn gốc từ Ba Lan, Nga, Đức, Iraq, Thuỵ Điển và Litva.[16] Oslo cũng là thành phố có đa dạng nhất ở Na Uy về người nhập cư và con cháu họ với khoảng một phần tư dân số.

Tôn giáo

Nhà thờ Nidaros ở Trondheim.

Nhà thờ Bắc Cực ở Tromsø được xem là biểu tượng của Kitô giáo ở Na Uy.
Bài chi tiết: Tôn giáo tại Na Uy

Tương tự như các quốc gia vùng Scandinavia khác, người Na Uy theo một hình thức ngoại giáo Germanic được gọi là ngoại giáo Na Uy. Tới cuối thế kỷ mười một, khi Na Uy đã Ki-tô hoá, việc theo và thực hiện các nghi thức tôn giáo Na Uy bị cấm. Tuy nhiên, các đạo luật chống ngoại giáo đã bị dỡ bỏ hồi đầu thế kỷ hai mươi.[cần dẫn nguồn] Nhiều tàn dư của tôn giáo bản xứ và các đức tin Na Uy vẫn còn tồn tại ngày nay, gồm những cái tên, những cái tên liên quan tới các thành phố và địa điểm, những ngày trong tuần, và nhiều phần khác trong ngôn ngữ hàng ngày.

Nhiều người trong cộng đồng thiểu số Sami vẫn giữ tôn giáo shamanistic của họ tới tận thế kỷ mười tám khi họ cải theo Thiên chúa giáo bởi các nhà truyền giáo Đan Mạch-Na Uy.

Theo thống kê hiện nay các tôn giáo ở Na Uy phân ra như sau: Kháng Cách dòng Giáo hội Luther 85.7%, Chính Thống giáo 1%, Công giáo Rôma 1%, Cơ đốc giáo khác 2.4%, Hồi giáo 1.8%, tôn giáo khác 8.1%.[17]

Trong số các tôn giáo không phải Kitô giáo, đạo Hồi là lớn nhất, chiếm khoảng 1.5% tổng dân số: Chủ yếu đạo này là thuộc các cộng đồng người Somalia, Ả Rập, người Albani, người Pakistanngười Thổ Nhĩ Kỳ. Các tôn giáo khác với chưa tới 1% dân số gồm Đạo Do Thái (xem Người Do Thái ở Na Uy), Nhà thờ Jesus Christ của các vị thánh ngày cuối, và Jehovah’s Witnesses. Những người nhập cư từ Ấn Độ đã đưa Hindu giáo tới Na Uy, nhưng chỉ chiếm 0.50% dân số. Phật giáo ở Na Uy có 11 tổ chức, được thống nhất dưới tổ chức Hội Phật Giáo Na Uy, với trên dưới 10.000 Phật tử, chiếm 0.42% dân số.[18] Khoảng 1.5% người Na Uy tham gia Hiệp hội Nhân văn Na Uy. Khoảng 5% dân số không theo đạo nào.[19]

Các ngôn ngữ

Bài chi tiết: Các ngôn ngữ Na Uy

Ngôn ngữ Na Uy Bắc Germanic có hai hình thức viết chính thức, BokmålNynorsk. Chúng được sử dụng chính thức như nhau, ví dụ chúng đều được dùng trong hành chính công cộng, trong các trường học, nhà thờ, đài và vô tuyến, nhưng Bokmål được đại đa số người sử dụng, khoảng 85-90%. Khoảng 95% dân số sử dụng tiếng Na Uy như tiếng mẹ đẻ, dù nhiều người nói các thổ ngữ có thể khác biệt rất nhiều so với ngôn ngữ viết. Nói chung các thổ ngữ Na Uy có thể hiểu lẫn nhau, dù một số thổ ngữ có thể đòi hỏi một số cố gắng. Nhiều ngôn ngữ Sami Finno-Ugric được nói và viết trên khắp đất nước, đặc biệt ở phía bắc, bởi người Sami. Nhà nước công nhận những ngôn ngữ đó là ngôn ngữ chính thức và những người sử dụng chúng có quyền được nhận giáo dục bằng ngôn ngữ Sami không cần biết nơi sinh sống, và nhận được thông tin từ chính phủ bằng nhiều ngôn ngữ Sami. Cộng đồng thiểu số Kven nói tiếng Phần Lan/ngôn ngữ Kven Finno-Ugric.

Các ngoại ngữ chính (primærfremmedspråk) được dạy tại Na Uy là tiếng Anh, tiếng Đứctiếng Pháp. Mọi người có thể liên hệ với chính quyền hay trải qua các kỳ thi bằng bất kỳ ngôn ngữ nào trong ba ngôn ngữ chính trên cũng như hai ngôn ngữ Bắc Germanic (tiếng Đan Mạchtiếng Thuỵ Điển)[cần dẫn nguồn].

Bất kỳ học sinh Na Uy nào có cha mẹ là người nhập cư đều được khuyến khích học tiếng Na Uy. Chính phủ Na Uy cung cấp các khoá học tiếng cho người nhập cư muốn có được quyền công dân Na Uy.

Tiếng Na Uy rất giống với các ngôn ngữ Bắc Germanic khác, tiếng Thuỵ Điểntiếng Đan Mạch. Cả ba ngôn ngữ đều có thể hiểu được lẫn nhau và có thể, nói chung, được sử dụng trong giao tiếp giữa người dân các nước vùng Scandinavia.

Nhân quyền

Hướng đạo sinh cầm cờ Na Uy dẫn đầu một đoàn diễu hành ngày 17 tháng 5, Ngày hiến pháp Na Uy

Na Uy hiện là nước được xếp hạng cao thứ hai thế giới về Chỉ số Phát triển Con người Liên hiệp quốc, một chỉ số được đưa ra dựa trên tỷ lệ người biết chữ, mức độ giáo dục và thu nhập trên đầu người, dù nước này từng xếp thứ nhất trên danh sách trong sáu năm từ 2001 tới 2006.

Quyền Tự do tư tưởng đã được quy định ở Điều 100 trong Hiến pháp Na Uy. Tự do tôn giáo được ghi trong Điều 2 Hiến pháp, điều này cũng quy định quốc giáo là “Lutheran Phúc âm”. Báo chí không bị kiểm duyệt. Các tổng biên tập tự mình phải thận trọng, nhằm bảo vệ bí mật cá nhân của mọi người và các quyền dân sự khác.(Vær Varsom-plakaten– Wikipedia Na Uy, xem [1] bản dịch sang tiếng Anh).

Đài phát thanh và truyền hình công cộng không bị sự can thiệp của chính phủ, dù giấy phép truyền thanh, truyền hình phụ thuộc vào tính chất của chương trình. Phát sóng quảng cáo bị quản lý, với một số giới hạn đặc biệt về các thông tin quảng cáo chính trị có trả tiền và quảng cáo trực tiếp tới trẻ em.

Hiến pháp cấm các luật có hiệu lực trong quá khứ, việc trừng phạt dựa trên các luật và các quyết định toà án, và việc sử dụng tra tấn. Tử hình với các tội nặng trong thời gian chiến tranh đã bị huỷ bỏ năm 1979.[20]

Năm 1999, các thoả ước Nhân quyền của Liên hiệp quốcHội đồng Châu Âu đã được đưa thành luật pháp ở Na Uy (menneskerettsloven) và chúng có quy chế ưu tiên chỉ sau hiến pháp.[21] Tuy nhiên, các luật sư Na Uy đã gia nhập Uỷ ban chống Tra tấn của Hội đồng Châu Âu nhằm thể hiện sự lo ngại của mình với sự giam giữ lâu ngày với những người bị kiện tụng và việc sử dụng hình phạt biệt giam ở Na Uy, coi nó là hình thức tra tấn.[22] Thời gian xử lý đơn xin nhập cư dài cũng như việc xử lý những người định cư bất hợp pháp cũng đang bị tranh cãi.

Năm 2005, các thoả ước quốc tế chống phân biệt nam nữ và dòng giống đã được đưa vào (nhưng không vượt hơn) luật pháp Na Uy. Tổ chức Ân xá Quốc tế gần đây đã chú ý tới tình trạng bạo lực chống phụ nữ ở Na Uy và sự thiếu hụt dịch vụ chăm sóc các nạn nhân bạo lực.[23]

Na Uy có chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc với nam giới. Việc thực hiện nghĩa vụ quân sự bắt đầu ở tuổi 18 cho lần phục vụ đầu tiên (førstegangstjeneste) trong thời gian sáu tới mười hai tháng (việc này có thể bắt đầu từ tuổi 17 theo sở thích cá nhân). Sau khi hoàn thành giai đoạn nghĩa vụ quân sự đầu tiên, các quân nhân được chuyển sang các đơn vị phục vụ, và có thể được triệu tập cho các đợt huấn luyện theo giai đoạn (repetisjonstjeneste) cho tới tuổi 44. Những người từ chối nghĩa vụ quân sự sẽ phải phục vụ mười hai tháng cho một hoạt động dịch vụ dân sự quốc gia. Nếu người đó từ chối thực hiện hoạt động này (sesjon), theo đó bất kỳ sự từ chối nào với nghĩa vụ quân sự tương lai được đề cập tới, anh ta có thể bị truy tố. Một người dường như thích hợp để thực hiện nghĩa vụ và không phải là một người từ chối thực hiện nghĩa vụ, nhưng vẫn từ chối thực hiện hoạt động quân sự cũng có thể bị truy tố. Những thay đổi trong cơ cấu các lực lượng vũ trang đã dẫn tới nhu cầu về nghĩa vụ quân sự bắt buộc giảm đi, và số nam giới cần thiết cũng đang sụt giảm.

Đồng tính đã chính thức bị loại bỏ khỏi tội danh hình sự năm 1972 và hôn nhân đồng giới dân sự đã được quy định năm 1993. Theo cơ quan Thống kê Na Uy (SSB), 192 cuộc hôn nhân đồng giới đã được ghi nhận từ năm 2004. Từ năm 2002, các cặp đồng giới đã có thể được nuôi con của người kia từ những cuộc hôn nhân trước, dù việc cùng nhận con nuôi mãi tới năm 2007 mới được phép.

Xếp hạng quốc tế

Tổ chức Lĩnh vực Xếp hạng
Quỹ Tiền tệ Quốc tế GDP trên đầu người 2 trên 232 (2006)
Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc Chỉ số Phát triển Con người 2 trong số 177 (2007) (1, 2001-2006)
A.T. Kearney / Chính sách Đối ngoại Globalization Index 2005 14 trên 111
Heritage Foundation / Wall Street Journal Chỉ số Tự do Kinh tế 2006 30 trên 155
Phóng viên Không Biên giới Phóng viên Không biên giới#Chỉ số Tự do Báo chí Thế giới 1 trên 168 (1st 2002-2005)
Save the Children Quốc gia các Bà mẹ của Thế giới 2004  (Trẻ em) 1 trên 119
Save the Children Quốc gia các Bà mẹ của Thế giới 2004  (Phụ nữ) 6 trên 119
Save the Children Quốc gia các Bà mẹ của Thế giới 2004  (Các bà mẹ) 6 trên 119
UNICEF Child Well-being league table 7 trên 21 quốc gia công nghiệp
Minh bạch Quốc tế Chỉ số Nhận thức Tham nhũng 2004 8 trên 145
Diễn đàn Kinh tế Thế giới Báo cáo Cạnh tranh Quốc tế 2005-2006 9 trên 117
Nationmaster Đình công 5 trên 27
The Economist Intelligence Unit Chỉ số Chất lượng Cuộc sống Thế giới, 2005 3 trên 111
Yale University/Columbia University Chỉ số Bền vững Môi trường, 2005 (pdf) 2 trên 146
The Fund for Peace Failed States Index, 2007 177 trên 177 (177 là hạng tốt nhất)
The Economist Global Peace Index 1 trên 121

Văn học

Bài chi tiết: Văn học Na Uy

Lịch sử văn học Na Uy bắt đầu với những bài thơ Eddaicthơ skaldic ngoại giáo ở thế kỷ thứ 9 và thứ 10 với những nhà thơ như Bragi BoddasonEyvindr Skáldaspillir. Sự xuất hiện của Thiên chúa giáo ở khoảng năm 1000 đã đưa Na Uy tiếp xúc với những tri thức, tiểu sử các vị thánh, và lịch sử bằng chữ viết của Châu Âu thời Trung Cổ. Hoà trộn với truyền thống khẩu ngữ địa phương và ảnh hưởng của Ireland nó đã dẫn tới giai đoạn phát triển rực rỡ của văn chương ở cuối thế kỷ 12 đầu thế kỷ 13. Các tác phẩm chính của giai đoạn này gồm Historia Norwegie, Thidreks sagaKonungs skuggsjá.

Thời kỳ Liên minh Scandinave và Liên minh Đan Mạch-Na Uy (1387—1814) có ít tác phẩm văn học Na Uy xuất hiện, ngoại trừ một số tác phẩm đáng lưu ý của Petter DassLudvig Holberg. Trong vở kịch Peer Gynt của mình, Ibsen đã gọi giai đoạn này là “Hai lần hai trăm năm bóng tối/nghiền ngẫm về cuộc đua của những chú khỉ”, dù dòng sau này thường không được trích dẫn nhiều như dòng trước. Trong thời gian liên minh với Đan Mạch, văn viết tiếng Na Uy đã thay thế bởi chữ Đan Mạch.

Hai sự kiện lớn đã thúc đẩy sự hồi sinh của văn học Na Uy. Năm 1811 một trường đại học Na Uy được thành lập tại Christiania. Với tinh thần cách mạng sau các cuộc Cách mạng Mỹ và Pháp, người Na Uy đã ký bản hiến pháp đầu tiên của mình năm 1814. Ngay sau đó, từ sự tù túng văn hoá Na Uy đã đưa lại cho thế giới một loạt các tác gia được công nhận đầu tiên ở Scandinavia, và sau đó là trên toàn thế giới; trong số đó có Henrik Wergeland, Peter Asbjørnsen, Jørgen MoeCamilla Collett.

Tới cuối thế kỷ 19, ở Thời Vàng son của văn hoá Na Uy, cái gọi là Bộ bốn Vĩ đại xuất hiện: Henrik Ibsen, Bjørnstjerne Bjørnson, Alexander Kielland, và Jonas Lie. “Các tiểu thuyết nông dân” của Bjørnson, như “En glad gutt” (Một chú bé hạnh phúc) và “Synnøve Solbakken” là kiểu chủ nghĩa lãng mạn quốc gia tiêu biểu của thời gian ấy, trong khi đó các tiểu thuyết và truyện ngắn của Kielland chủ yếu mang tính hiện thực. Dù một người đóng góp quan trọng vào chủ nghĩa lãng mạn Na Uy thời kỳ đầu (đặc biệt là tác phẩm châm biếm Peer Gynt), tên tuổi của Henrik Ibsen chủ yếu được biết tới là người tiên phong với các vở kịch hiện thực như Chú vịt hoangMột ngôi nhà búp bê, nhiều vở đã gây ra những tiếng vang về đạo đức vì nội dung của nó chính là chân dung của tầng lớp trung lưu.

Ở thế kỷ hai mươi ba tiểu thuyết gia Na Uy đã được trao Giải Nobel văn học: Bjørnstjerne Bjørnson năm 1903, Knut Hamsun cho cuốn sách “Markens grøde” (“Nhựa của đất”) năm 1920, và Sigrid Undset năm 1928. Trong thế kỷ hai mươi các tác gia như Dag Solstad, Jostein Gaarder, Jens Bjørneboe, Kjartan Fløgstad, Lars Saabye Christensen, Johan Borgen, Herbjørg Wassmo, Jan Erik Vold, Rolf Jacobsen, Olaf Bull, Jan Kjærstad, Georg Johannesen, Tarjei Vesaas, Sigurd Hoel, Arnulf ØverlandJohan Falkberget đã có những đóng góp quan trọng cho văn học Na Uy.

Xem thêm

Văn hoá, giáo dục và thể thao

Cơ sở hạ tầng

Các danh sách

Chú thích

  1. ^ World Economic Outlook Database-tháng 4 năm 2009, Gross domestic product per capita, current prices, International Monetary Fund. Truy cập 22 tháng 4, 2009.
  2. ^ World Economic Outlook Database-tháng 4 năm 2009, Gross domestic product based on purchasing-power-parity (PPP) per capita GDP, International Monetary Fund. Truy cập 22 tháng 4, 2009.
  3. ^ “Report for selected countries and subjects – current account balance, U.S. dollars, billions”. International Monetary Fund. http://www.imf.org. Tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2009.
  4. ^ “CIA — The World Factbook — Rank Order — Oil — exports”. Cia.gov. 10 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2009.
  5. ^ “UPDATE 1-Statistics Norway raises ’07 GDP outlook, cuts ’08”. Uk.reuters.com. 6 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2009.
  6. ^ “Norway: A Diamond in the Rough?”. blog.norway.com. 26 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2009.
  7. ^ BBC NEWS | Special Reports | Norway rated most peaceful nation
  8. ^ RF Foster: “The Oxford History of Ireland”, Oxford University Press, 1989
  9. ^ http://www.ncbi.nlm.nih.gov/entrez/query.fcgi?cmd=Retrieve&db=PubMed&list_uids=2197762&dopt=Abstract The Black Death in Norway
  10. ^ Aftenposten Newspaper: PM to light London tree (tiếng Anh)
  11. ^ Reporters Without Borders: Worldwide Press Freedom Index 2007 (tiếng Anh)
  12. ^ /d: LOV-1992-11-27-109:d/ EØS-loven – EØSl
  13. ^ Eivind Bråstad Jensen. 1991. Fra fornorskningspolitikk mot kulturelt mangfold. Nordkalott-Forlaget.
  14. ^ I. Bjørklund, T. Brantenberg, H. Eidheim, J.A. Kalstad and D. Storm. 2002. Australian Indigenous Law Reporter (AILR) 1 7(1)
  15. ^ Immigrant population
  16. ^ Immigrant population
  17. ^ Thế giới
  18. ^ http://www.quangduc.com/quocte/01pgkhaptg-nauy.html
  19. ^ More members in religious and philosophical communities
  20. ^ http://www.amnesty.no/web.nsf/pages/3E4F597A47A70816C1256A6900444132
  21. ^ /d: LOV-1999-05-21-30:d/ Menneskerettsloven – mnskrl
  22. ^ Isolasjon i fengsel er tortur – Aftenposten
  23. ^ http://www.amnesty.no/web.nsf/pages/71EA018C83278F58C125711D003A4239

Tham khảo

Liên kết ngoài

Nauru

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Ripublik Naoero
Flag of Nauru.svg Coat of arms of Nauru.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Nauru
Khẩu hiệu
God’s Will First
ý chí của Chúa cao vô thượng
Quốc ca
Nauru Bwiema
Nauru, Tổ quốc của chúng ta
Hành chính
Chính phủ Cộng hòa nghị viện
Tổng thống Baron Waqa
Ngôn ngữ chính thức
  • Nauru (bản địa)
  • Anh (nói rộng rãi)
Thủ đô Yaren (trên thực tế) [a]
0°32′N, 166°55′Đ
Thành phố lớn nhất Yaren
Địa lý
Diện tích 21 km² (hạng 192)
Múi giờ UTC+12
Lịch sử
Độc lập
Ngày thành lập 31 tháng 1 năm 1968
Dân cư
Dân số ước lượng (7/2011) 9.378[1] người (hạng 216)
Dân số (12/2006) 9.275 người
Mật độ 447 người/km² (hạng 23)
Kinh tế
GDP (PPP) (2006) Tổng số: 36,9 triệu USD[2]
Đơn vị tiền tệ Đô la Úc (AUD)
Thông tin khác
Tên miền Internet .nr
<^ Nauru không có thủ đô chính thức, song Yaren là khu dân cư lớn nhất và là nơi đặt trụ sở nghị viện.

Nauru (phát âm tiếng Anh /nɑːˈr/), tên chính thức là nước Cộng hòa Nauru, là một đảo quốc tại Micronesia thuộc Nam Thái Bình Dương. Với 9.378 cư dân sống trên một diện tích 21 kilômét vuông (8,1 sq mi), Nauru là quốc gia nhỏ nhất tại Nam Thái Bình Dương, nhỏ thứ ba trên thế giới về diện tích, chỉ sau Thành VaticanCông quốc Monaco, và là đảo quốc nhỏ nhất trên thế giới.[3] Ngoài ra, Nauru còn là nước cộng hòa có diện tích nhỏ nhất trên thế giới.[4]

Sau khi người Micronesia và người Polynesia định cư tại Nauru, hòn đảo bị Đế quốc Đức thôn tính và tuyên bố là một thuộc địa vào cuối thế kỷ 19. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Nauru trở thành một lãnh thổ ủy thác của Hội Quốc Liên do Úc, New Zealand, và Anh Quốc quản lý. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Nauru bị quân đội Nhật Bản chiếm đóng. Sau chiến tranh, đảo lại trở thành lãnh thổ ủy thác. Nauru giành được độc lập vào năm 1968.

Nauru là một đảo đá phosphat, giàu tài nguyên gần bề mặt, do vậy có thể dễ dàng tiến hành khai thác lộ thiên. Đảo còn lại một số trữ lượng phosphat, song không còn có hiệu quả kinh tế để tiến hành khai thác.[5] Vào cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, Nauru có thu nhập bình quân đầu người cao nhất trong số các quốc gia có chủ quyền. Khi trữ lượng phosphat cạn kiệt, và môi trường bị tổn hại nghiêm trọng do hoạt động khai thác, một quỹ được thành lập để quản lý nguồn tài sản đang dần giảm giá trị của hòn đảo. Để kiếm được thu nhập, Nauru nhanh chóng trở thành một thiên đường thuế và trung tâm rửa tiền phi pháp. Từ năm 2001 đến 2008, Nauru cho Úc đặt trung tâm giam giữ Nauru để đổi lấy viện trợ.

Tổng thống Nauru cũng là người đứng đầu nghị viện đơn viện gồm 19 thành viên. Nauru là một thành viên của Liên hiệp quốc, Khối Thịnh vượng chung, Ngân hàng Phát triển châu ÁDiễn đàn các đảo Thái Bình Dương. Nauru cũng tham gia Đại hội thể thao Thịnh vượng chungThế vận hội.

Mục lục

Lịch sử

Chiến binh người Nauru, 1880

Người Micronesia và người Polynesia là những dân tộc đầu tiên sinh sống tại Nauru, ít nhất là từ 3.000 năm trước.[6] Theo truyền thống, có 12 thị tộc hay bộ tộc tại Nauru, được đại diện bằng một sao 12 cánh trên quốc kỳ.[7] Cũng theo truyền thống, người Nauru truy nguồn gốc của họ dựa trên mẫu hệ. Các cư dân trên đảo làm nghề nuôi trồng thủy sản: họ bắt ibija còn nhỏ, cho chúng thích nghi với môi trường nước ngọt, và nuôi chúng tại phá Buada, chúng cung cấp cho người dân trên đảo một nguồn thực phẩm ổn định. Trong thành phần bữa ăn của họ có những thứ khác được nuôi trồng tại địa phương như dừa và dứa dại.[8][9] Tên gọi “Nauru” có thể bắt nguồn từ Anáoero, trong tiếng Nauru, có nghĩa là “Tôi đi đến bãi biển”.[10]

Năm 1798, thuyền trưởng người Anh John Fearn, một thợ săn cá voi, trở thành người phương Tây đầu tiên đến Nauru, ông đặt tên đảo là “Pleasant”. Từ khoảng năm 1830, người Nauru có tiếp xúc với người Âu do các tàu đánh bắt cá voi và các thương nhân bổ sung nguồn dự trữ của họ (đặc biệt là nước ngọt) tại Nauru.[9] Khoảng thời gian này, những người đào tẩu từ các tàu châu Âu bắt đầu đến sống tại đảo. Người dân trên đảo trao đổi thực phẩm lấy rượu dừa và các loại súng cầm tay.[11] Các loại súng cầm tay được sử dụng trong Chiến tranh bộ tộc Nauru bắt đầu từ năm 1878 và kéo dài 10 năm.[12]

Nauru bị Đức thôn tính vào năm 1888 và được hợp nhất vào Lãnh thổ bảo hộ Quần đảo Marshall thuộc Đức.[13] Việc người Đức đến đã kết thúc nội chiến trên đảo, và các vương được đặt làm những người cai trị của đảo. Người được biết đến rộng rãi nhất trong số họ là Vương Auweyida. Các nhà truyền giáo Ki-tô từ quần đảo Gilbert đến Nauru vào năm 1888.[14][15] Những người Đức định cư gọi đảo là Nawodo hoặc Onawero.[16] Người Đức cai trị Nauru trong gần ba thập niên. Robert Rasch là một thương nhân người Đức kết hôn với một phụ nữ Nauru, ông là quản trị viên đầu tiên của đảo, được bổ nhiệm vào năm 1890.[14]

Năm 1900, nhà thăm dò Albert Fuller Ellis phát hiện ra phosphat tại Nauru.[13] Công ty Phosphat Thái Bình Dương bắt đầu khai thác tài nguyên này vào năm 1906 theo thỏa thuận với Đức, xuất khẩu lô hàng phosphat đầu tiên vào năm 1907.[17] Năm 1914, sau khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, quân Úc chiếm Nauru. Úc, New Zealand và Anh Quốc ký Hiệp định đảo Nauru vào năm 1919, lập ra một ủy ban gọi là Ủy ban Phosphat Anh Quốc, thể chế này tiếp quản quyền khai mỏ phosphat.[18]

Nauru trải qua một đại dịch cúm vào năm 1920, với tỷ lệ tử vong là 18 phần trăm trong số người Nauru bản địa.[19] Năm 1923, Hội Quốc Liên trao cho Úc quyền quản trị ủy thác đối với Nauru, với Anh Quốc và New Zealand là đồng quản trị.[20] Ngày 6 và 7 tháng 12 năm 1940, các tuần dương hạm phụ trợ KometOrion của Đức đánh đắm năm tàu tiếp tế tại vùng biển lân cận Nauru. Komet sau đó nã pháo vào các khu vực khai mỏ phosphat, kho chứa dầu, dầm chìa bốc hàng lên tàu trên đảo.[21][22]

Không quân Hoa Kỳ oanh tạc bãi đáp của Nhật Bản tại Nauru[23]

Quân đội Nhật Bản chiếm đóng Nauru vào ngày 25 tháng 8 năm 1942.[22] Người Nhật xây dựng một sân bay, sân bay này bị Đồng Minh oanh tạc lần đầu vào ngày 25 tháng 3 năm 1943 nhằm ngăn chặn cung cấp thực phẩm được chở bằng đường không đến Nauru. Người Nhật trục xuất 1.200 người Nauru đến quần đảo Chuuk làm lao công.[23] Nauru bị quân đội Hoa Kỳ bỏ qua và bỏ lại trong các chiến dịch trên Thái Bình Dương của họ, và cuối cùng được giải phóng vào ngày 13 tháng 9 năm 1945, khi sĩ quan chỉ huy Hisayaki Soeda đầu hàng giao đảo cho quân đội Úc.[24] Các dàn xếp được tiến hành để hồi hương 737 người Nauru còn sống từ Chuuk. Họ trở về Nauru vào tháng 1 năm 1946.[25] Năm 1947, Liên Hiệp Quốc thiết lập một chế độ ủy thác tại Nauru, với Úc, New Zealand, và Anh Quốc là các ủy viên quản trị.[26]

Nauru được tự trị vào tháng 1 năm 1966, và trở thành quốc gia độc lập vào năm 1968 dưới quyền Tổng thống Hammer DeRoburt.[27] Năm 1967, nhân dân Nauru mua lại tài sản của Ủy ban Phosphat Anh Quốc, và vào tháng 6 năm 1970 quyền kiểm soát được chuyển cho Công ty Phosphat Nauru thuộc sở hữu địa phương.[17] Thu nhập từ khai mỏ giúp người Nauru trở thành một trong những nhóm dân cư có mức sống cao nhất tại Thái Bình Dương.[28] Năm 1989, Nauru thực hiện hành động pháp lý chống lại Úc tại Tòa án Công lý Quốc tế về sự quản lý của Úc đối với hòn đảo, cụ thể là thất bại của Úc trong việc khắc phục các tổn hại về môi trường do hoạt động khai mỏ gây ra. Certain Phosphate Lands: Nauru v. Australia dẫn đến một dàn xếp ngoài tòa án nhằm cải tạo các khu vực đã khai thác hết của Nauru.[26][29]

Địa lý

Một hình ảnh vệ tinh của Nauru vào năm 2002

Nauru là một đảo hình trái xoan với diện tích 21 kilômét vuông (8 sq mi)[1] tại tây nam Thái Bình Dương, cách Xích đạo 42 kilômét (26 mi) về phía nam. Bao quanh đảo là một ám tiêu san hô, lộ ra khi triều thấp và rải rác khi đỉnh triều.[30] Sự hiện diện của ám tiêu ngăn trở việc thiết lập một cảng biển, song các kênh tại ám tiêu cho phép các tàu nhỏ tiếp cận đảo.[31] Một dải duyên hải màu mỡ rộng 150 đến 300 mét (490 đến 980 ft) nằm trong nội địa xuất phát từ bãi biển, là nơi dừa mọc xum xuê.[30]

Các vách đá san hô bao quanh cao nguyên trung tâm của Nauru. Đỉnh cao nhất của cao nguyên gọi là đỉnh Chỉ huy (Command Ridge), có cao độ 71 mét (233 ft) trên mực nước biển.[32] Vùng đất quanh phá Buada nuôi dưỡng các cây chuối, dứa, rau, dứa dại, và các cây gỗ cứng bản địa như mù u.[30]

Nauru là một trong ba đảo đá phosphat lớn tại Thái Bình Dương (hai đảo còn lại là Banaba của KiribatiMakatea của Polynésie thuộc Pháp). Trữ lượng phosphat tại Nauru nay hầu như đã hoàn toàn cạn kiệt. Khai mỏ Phosphat tại cao nguyên trung tâm để lại một địa hình cằn cỗi với các đỉnh nhọn đá vôi cao đến 15 mét (49 ft). Hoạt động khai mỏ làm trơ trụi và tàn phá khoảng 80% diện tích đất liền của Nauru, và cũng ảnh hưởng đến vùng đặc quyền kinh tế xung quanh; 40% sinh vật hải dương được ước tính là đã chết do rò rỉ bùn và phosphat.[30][33]

Nauru có tài nguyên nước ngọt tự nhiên hạn chế. Các bể chứa trên nóc nhà thu thập nước mưa, song người dân trên đảo chủ yếu phụ thuộc vào ba nhà máy khử muối đặt tại Cơ quan Công ích Nauru. Khí hậu Nauru nóng và rất ẩm quanh năm vì nằm gần xích đạo và nằm giữa đại dương. Nauru chịu mưa gió mùa từ tháng 11 đến tháng 2, song không thường gặp lốc xoáy. Lượng mưa từng năm biến thiên lớn và chịu ảnh hưởng của El Niño-Dao động phương Nam, với một số hạn hán được ghi nhận có quy mô đáng kể.[6][34] Nhiệt độ tại Nauru dao động từ 26 °C (79 °F) đến 35 °C (95 °F) vào ban ngày và từ 22 °C (72 °F) đến 34 °C (93 °F) vào ban đêm.[35]

Do là một đảo, Nauru dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu và mực nước biển. Có ít nhất 80% đất liền tại Nauru có cao độ phù hợp, song các khu vực này sẽ không cư trú được cho đến khi chương trình phục hồi môi trường sau khai thác phosphat được thi hành.[33][36]

[ẩn]Dữ liệu khí hậu của khu Yaren, Nauru
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 34
(93)
37
(99)
35
(95)
35
(95)
32
(90)
32
(90)
35
(95)
33
(91)
35
(95)
34
(93)
36
(97)
35
(95)
37
(99)
Trung bình cao °C (°F) 30
(86)
30
(86)
30
(86)
30
(86)
30
(86)
30
(86)
30
(86)
30
(86)
30
(86)
31
(88)
31
(88)
31
(88)
30
(86)
Trung bình thấp, °C (°F) 25
(77)
25
(77)
25
(77)
25
(77)
25
(77)
25
(77)
25
(77)
25
(77)
25
(77)
25
(77)
25
(77)
25
(77)
25
(77)
Thấp kỉ lục, °C (°F) 21
(70)
21
(70)
21
(70)
21
(70)
20
(68)
21
(70)
20
(68)
21
(70)
20
(68)
21
(70)
21
(70)
21
(70)
20
(68)
Giáng thủy mm (inches) 280
(11.02)
250
(9.84)
190
(7.48)
190
(7.48)
120
(4.72)
110
(4.33)
150
(5.91)
130
(5.12)
120
(4.72)
100
(3.94)
120
(4.72)
280
(11.02)
2.080
(81,89)
Số ngày giáng thủy TB 16 14 13 11 9 9 12 14 11 10 13 15 152
Nguồn: [1]

Sinh vật hoang dã

Đảo có hệ động vật thưa thớt do các nguyên nhân là thiếu thảm thực vật và hệ quả của việc khai thác phosphat. Nhiều loài chim bản địa biến mất hoặc trở nên hiếm do môi trường sống của chúng bị phá hoại.[37] Chỉ có khoảng 60 loài thực vật có mạch được ghi nhận là loài bản địa của đảo, không có loài nào trong số đó là loài đặc hữu. Nông trại dừa, khai mỏ, và việc đưa đến các loài ngoại lai khiến các loài thực vật bản địa bị xâm phạm nghiêm trọng.[6] Không có loài thú đất liền bản địa nào trên đảo, song có những côn trùng, cua đất, và chim bản địa, bao gồm loài đặc hữu chích sậy Nauru. Chuột lắt, mèo, chó, lợn, và gà được các chuyền tàu đưa đến Nauru.[38] Sự đa dạng của đời sống sinh vật biển ám tiêu khiến câu cá là một hoạt động phổ biến đối với du khách thăm đảo, cùng với hoạt động lặn biển.[39]

Chính trị

Nghị viện Nauru.

Nauru là một nước cộng hòa với chính quyền có một hệ thống nghị viện.[27] Tổng thống là nguyên thủ quốc gia và chính phủ. Nghị viện đơn viện gồm 19 thành viên được bầu cử mỗi ba năm.[40] Nghị viện bầu tổng thống từ các thành viên của mình, và tổng thống bổ nhiệm một nội các gồm sáu thành viên.[41] Nauru không có bất kỳ cấu trúc chính thức nào cho các chính đảng, và các ứng cử viên thường ứng cử chức vụ với tư cách độc lập. Bốn đảng hoạt động trên chính trường Nauru là Đảng Nauru, Đảng Dân chủ, Nauru Trước tiên, và Đảng Trung tâm. Tuy nhiên, các liên minh trong chính quyền thường được hình thành dựa trên cơ sở các mối quan hệ đại gia đình thay vì đảng tịch.[42]

Từ năm 1992 đến 1999, Nauru có một hệ thống chính quyền địa phương được gọi là Hội đồng đảo Nauru (NIC) gồm chín thành viên. NIC bị bãi bỏ vào năm 1999 và toàn bộ tài sản và nợ được trao cho chính phủ quốc gia.[43] Quyền sử dụng đất tại Nauru là bất thường: toàn bộ người Nauru có các quyền nhất định đối với toàn bộ đất đai trên đảo, thứ là sở hữu của các cá nhân hoặc nhóm gia đình. Chính phủ và các đoàn thể không sử hữu bất kỳ mảnh đất nào, và họ cần phải lập hợp đồng thuê với địa chủ để sử dụng đất. Nếu không phải người Nauru thì không thể sở hữu đất đai trên đảo.[6]

Nauru có 17 thay đổi chính phủ từ năm 1989 đến năm 2003.[44] Bernard Dowiyogo mất khi đang tại vị vào tháng 3 năm 2003 và Ludwig Scotty được bầu làm tổng thống, sau đó ông tái đắc cử để phục vụ một nhiệm kỳ đầu đủ vào tháng 10 năm 2004. Sau một cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm vào ngày 19 tháng 12 năm 2007, Scotty bị Marcus Stephen thay thế. Stephen từ nhiệm vào tháng 11 năm 2011, và Freddie Pitcher trở thành tổng thống. Sprent Dabwido sau đó đệ trình kiến nghị bất tín nhiệm đối với Pitcher, kết quả là Dabwido trở thành tổng thống.[45][46] Sau cuộc bầu cử nghị viện vào năm 2013, Baron Waqa được bầu làm tổng thống.

Nauru có một hệ thống tư pháp phức tạp. Tòa án Tối cao, đứng đầu là Chánh án, là cơ quan tối cao trong các vấn đề hiến pháp. Các vụ tố tụng khác có thể kháng cáo lên Tòa Thượng tố gồm hai thẩm phán. Nghị viện không thể bác bỏ các phán quyết của tòa án, song có thể kháng cáo các quyết định của Tòa Thượng tố Nauru đến Tòa Cao đẳng Úc.[47][48] Tuy nhiên, điều này hiếm khi xảy ra trên thực tế. Các tòa án cấp thấp hơn gồm có Tòa án khu vực và Tòa án gia đình, cả hai đều do Quan tòa cư dân đứng đầu, người này cũng là hộ tịch viên (Registrar) của Tòa Tối cao. Còn có hai bán pháp viện khác: Ủy ban Thượng tố phục vụ công cộng (Public Service Appeal Board) và Ủy ban Thượng tố Cảnh sát (Police Appeal Board), cả hai đều do Chánh án nắm quyền tối cao.[30]

Hành chính

Nauru được chia thành 14 khu, chúng được nhóm lại thành tám khu vực tuyển cử.[30]

Bản đồ hành chính Nauru
STT Khu Tên cũ Diện tích
(Hecta)
Dân số
(2005)
Số làng Mật độ
người/ha
1 Aiwo Aiue 100 1.092 8 10,9
2 Anabar Anebwor 143 502 15 3,5
3 Anetan Añetañ 100 516 12 5,2
4 Anibare Anybody 314 160 17 0,5
5 Baiti Beidi 123 572 15 4,7
6 Boe Boi 66 795 4 12,0
7 Buada Arenibok 266 716 14 2,7
8 Denigomodu Denikomotu 118 2,827 17 24,0
9 Ewa Eoa 117 318 12 2,7
10 Ijuw Ijub 112 303 13 2,7
11 Meneng Meneñ 288 1.830 18 6,4
12 Nibok Ennibeck 136 432 11 3,2
13 Uaboe Ueboi 97 335 6 3,5
14 Yaren Moqua 150 820 7 5,5
Nauru Naoero 2.130 11.218 169 5,3

Quan hệ đối ngoại

Sau khi độc lập vào năm 1968, Nauru gia nhập Thịnh vượng chung các quốc gia với tư cách một thành viên đặc biệt; và trở thành một thành viên đầy đủ vào năm 2000.[49] Quốc gia này được nhận vào Ngân hàng Phát triển châu Á năm 1991 và vào Liên Hiệp Quốc năm 1999.[50] Nauru là một thành viên của Diễn đàn các đảo Thái Bình Dương, Chương trình Môi trường Khu vực Nam Thái Bình Dương, Ủy ban Nam Thái Bình Dương, và Ủy ban Khoa học Địa cầu ứng dụng Nam Thái Bình Dương.[51] Chương trình Quan trắc bức xạ khí quyển của Hoa Kỳ vận hành một cơ sở giám sát khí hậu trên đảo.[52]

Nauru không có lực lượng vũ trang, song có một lực lượng cảnh sát nhỏ nằm dưới quyền kiểm soát dân sự.[1] Úc chịu trách nhiệm về quốc phòng của Nauru theo một hiệp định không chính thức giữa hai quốc gia.[1] Tháng 9 năm 2005, Bị vong lục Thông hiểu giữa Úc và Nauru đem đến cho Nauru viện trợ tài chính và giúp đỡ kỹ thuật, bao gồm một Bộ trưởng Tài chính để chuẩn bị ngân sách, và các cố vấn về y tế và giáo dục. Sự giúp đỡ này là để đổi lấy việc cung cấp nhà ở cho những người tìm kiếm nơi trú ẩn trong lúc thỉnh cầu đến Úc của họ được xử lý.[44] Nauru sử dụng đô la Úc làm tiền tệ chính thức của mình.[30]

Nauru sử dụng tư thế một thành viên Liên Hiệp Quốc của mình để đạt được hỗ trợ tài chính từ cả Đài Loan và Trung Quốc đại lục, quốc gia này thay đổi sự công nhận của mình sang phía bên kia theo chính sách một Trung Quốc. Ngày 21 tháng 7 năm 2002, Nauru ký một thỏa thuận về việc thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, nhận được 130 triệu đô la Mỹ từ Bắc Kinh cho hành động này.[53] Nhằm phản ứng, Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) đoạn tuyệt quan hệ ngoại giao với Nauru hai ngày sau đó. Nauru sau đó tái lập liên kết với Trung Hoa Dân Quốc vào ngày 14 tháng 5 năm 2005,[54]

Năm 2008, Nauru công nhận Kosovo là một quốc gia độc lập, và vào năm 2009 Nauru công nhận AbkhaziaNam Ossetia– các khu vực ly khai của Gruzia. Nga được tường thuật là trao cho Nauru 50 triệu đô la Mỹ tiền viện trợ nhân đạo như một kết quả của sự công nhận này.[53] Ngày 15 tháng 7 năm 2008, chính phủ Nauru tuyên bố một chương trình tân trang cảng, sử dụng 9 triệu đô la Mỹ viện trợ phát triển từ Nga. Chính phủ Nauru tuyên bố rằng viện trợ này không liên quan đến việc Nauru công nhận Abkhazia và Nam Ossetia.[55]

Kinh tế

Các đỉnh đá vôi còn lại sau khi khai thác phosphat.

Kinh tế Nauru đạt đỉnh vào đầu thập niên 1980, khi nó phụ thuộc gần như hoàn toàn vào tài nguyên phosphat có nguồn gốc từ phân của các loài chim biển. Hòn đảo có ít các tài nguyên khác, và hầu hết nhu yếu phẩm phải nhập khẩu.[30][56] RONPhos, trước đây gọi là Công ty Phosphat Nauru, vẫn tiến thành khai thác quy mô nhỏ.[30] Chính quyền đưa một tỷ lệ tiền lãi của RONPhos vào trong Quỹ Hoa hồng Phosphat Nauru. Quỹ quản lý các khoản đầu tư dài hạn, mục đích là để hỗ trợ các công dân khi trữ lượng phosphat cạn kiệt.[57] Tuy nhiên, do quản lý yếu kém, các tài sản cố định và lưu động của quỹ suy giảm đáng kể, và nhiều khoản không bao giờ có thể phục hồi hoàn toàn. Các đầu tư thất bại bao gồm nhạc kịch Leonardo the Musical vào năm 1993, là một thất bại về tài chính.[58] The Mercure Hotel tại Sydney[59] và tòa nhà Nauru House tại Melbourne được bán vào năm 2004 để trả các khoản nợ và một chiếc Boeing 737– máy bay duy nhất của Air Nauru bị tái chiếm hữu vào tháng 12 năm 2005. Dịch vụ hành không bình thường được tiếp tục sau khi nó được thay thế bằng một máy bay dân đụng Boeing 737–300 vào tháng 6 năm 2006.[60] Năm 2005, Nauru bán tài sản còn lại của mình tại Melbourne, địa điểm quán Savoy, với giá 7,5 triệu đô la Mỹ.[61]

Giá trị của Quỹ Hoa hồng Phosphat Nauru ước tính giảm từ 1,3 tỷ đô la Úc vào năm 1991 xuống 138 triệu đô la Úc vào năm 2002.[62] Nauru hiện thiếu tiền tệ để thi hành nhiều chức năng cơ bản của chính quyền; ví dụ, Ngân hàng Quốc gia Nauru bị vỡ nợ. CIA World Factbook ước tính GDP bình quân đầu người của Nauru là 5.000 đô là Mỹ vào năm 2005.[1] Ngân hàng Phát triển châu Á trong báo cáo kinh tế 2007 về Nauru ước tính GDP bình quân đầu người từ 2.400 đến 2.715 đô la Mỹ[2]

Chính phủ Nauru bán Tòa nhà Nauru House tại Melbourne, Úc để trả nợ vào năm 2004.

Không có thuế cá nhân tại Nauru. Tỷ lệ thất nghiệp ước tính là 90%, và 95% trong số những người có việc làm là người làm việc cho chính quyền.[1][63] Ngân hàng Phát triển châu Á lưu ý rằng mặc dù chính quyền có chỉ thị công khai mạnh mẽ về thi hành các cải cách kinh tế, song trong khi không có nguồn thay thế cho khai thác phosphat, triển vọng trung hạn của kinh tế Nauru tiếp tục phụ thuộc vào giúp đỡ từ bên ngoài.[62]

Trong thập niên 1990, Nauru trở thành một thiên đường thuế và quốc gia này cấp hộ chiếu cho công dân ngoại quốc để thu phí.[64] Nhóm hành động tài chính chống Rửa tiền (FATF) xác định Nauru là một trong 15 quốc gia “không hợp tác” trong cuộc chiến chống rửa tiền. Trong thập niên 1990, có thể lập một ngân hàng có giấy phép tại Nauru chỉ với 25.000 đô la mà không cần đáp ứng các yêu cầu khác. Dưới áp lực của FATF, Nauru ban hành luật chống trốn thuế vào năm 2003, sau đó nguồn tiền nóng nước ngoài dời khỏi Nauru. Vào tháng 10 năm 2005, sau khi Nauru thỏa mãn yêu cầu ban hành và thực thi luật, FATF chấm dứt xác định quốc gia này là không hợp tác.[65]

Từ năm 2001 đén năm 2007, trung tâm giam giữ Nauru cung cấp một nguồn thu nhập đáng kể cho quốc gia này. Nhà cầm quyền Nauru phản ứng lo lắng trước việc Úc đóng cửa trung tâm.[66] Vào tháng 2 năm 2008, Bộ trưởng Ngoại giao Nauru Kieren Keke phát biểu rằng việc đóng cửa trung tâm sẽ dẫn đến viẹc 100 người Nauru mất việc làm, và sẽ ảnh hưởng đến 10% dân số trên đảo một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.[67] Trung tâm giam giữ được mở cửa trở lại vào tháng 8 năm 2012.[68]

Nhân khẩu

Các khu DenigomoduNibok của Nauru

Nauru có 9.378 cư dân vào tháng 7 năm 2011.[1] Dân số đảo trước đây đông hơn, song vào năm 2006 có khoảng 1.500 người dời khỏi đảo trong một chuyến hồi hương của các công nhân nhập cư đến từ Kiribati và Tuvalu. Nguyên nhân của việc hồi hương là sự giảm thiểu nhân lực quy mô lớn trong ngành công nghiệp khai thác phosphat.[2] Ngôn ngữ chính thức của Nauru là tiếng Nauru, một ngôn ngữ đảo Thái Bình Dương khác biệt, được 96% người thuộc dân tộc Nauru nói tại nhà.[2] Tiếng Anh được nói phổ biến và là ngôn ngữ của chính quyền và thương mại, do tiếng Nauru không phổ biến bên ngoài quốc gia.[1][30]

Các dân tộc đông nhất tại Nauru là người Nauru (58%), người các đảo Thái Bình Dương khác (26%), người gốc Âu (8%), và người Hoa (8%).[1] Tôn giáo chính được thực hành trên đảo là Ki-tô giáo (2/3 là Tin Lành, 1/3 là Công giáo La Mã).[30] Có một số lượng tín đồ đáng kể Bahá’í (10%) – đây là tỷ lệ cao nhất trong số các quốc gia trên thế giới[69] – Phật giáo (9%) cùng Hồi giáo (2,2%). Hiến pháp Nauru quy định quyền tự do tôn giáo. Tuy nhiên, chính quyền cản trở việc thực hành tôn giáo của Giáo hội các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giê Su Ky TôNhân Chứng Giê-hô-va, hầu hết các tín đồ này là công nhân ngoại quốc làm việc cho Công ty Phosphat Nauru thuộc sở hữu của chính quyền.[70]

Tỷ lệ biết chữ tại Nauru là 96%. Giáo dục là bắt buộc đối với trẻ em từ 6 đến 15 tuổi, và hai năm không bắt buộc được đề nghị (lớp 11 và 12).[71] Có một khu trường sở của Đại học Nam Thái Bình Dương tại Nauru. Trước khi khu trường sở này được xây dựng vào năm 1987, các sinh viên sẽ phải học tại nước ngoài.[72]

Người Nauru là những người béo phì nhất trên thế giới; 97% nam giới và 93% nữ giới bị thừa cân hoặc béo phì.[73] Kết quả là Nauru có mức độ mắc đái đường tuýp 2 cao nhất thế giới, với trên 40% dân số mắc bệnh.[74] Các vấn đề quan trọng khác liên quan đến chế dộ ăn uống tại Nauru gồm có bệnh thận và bệnh tim. Tuổi thọ tại Nauru vào năm 2009 là 60,6 năm đối với nam và 68,0 năm đối với nữ.[75]

Văn hóa

Người Nauru có nguồn gốc từ các thủy thủ người Polynesia và người Micronesia, những người này tin vào một nữ thần là Eijebong, và một vùng đất thánh là một đảo gọi là Buitani. Hai trong số 12 thị tộc ban đầu bị tuyệt chủng trong thế kỷ 20.[30] Ngày Angam được tổ chức vào 26 tháng 10 nhằm tán dương sự phục hồi của dân cư Nauru sau hai thế chiến và dịch cúm năm 1920.[76] Văn hóa thuộc địa và hiện đại phương Tây thay thế đáng kể văn hóa bản địa.[77] Chỉ một vài trong số các phong tục cổ được bảo tồn, song một số loại hình âm nhạc, nghệ thuật, thủ công nghiệp, ngư nghiệp truyền thống vẫn được thực hành.[78]

Không có nhật báo xuất bản tại Nauru, chỉ có một ấn phẩm phát hành hai tuần một lần là Mwinen Ko. Có một đài truyền hình do nhà nước sở hữu là Truyền hình Nauru (NTV), nó phát sóng các chương trình từ New Zealand và Úc, và một dài phát thanh phi thương mại thuộc sở hữu nhà nước là Phát thanh Nauru, truyền các chương trình của Đài phát thanh ÚcBBC.[79]

Bóng đá Úc là môn thể thao phổ biến nhất tại Nauru; nó và cử tạ được xem là các môn thể thao quốc gia. Nauru có một giải bóng đá Úc với tám đội tuyển.[80] Các môn thể thao phổ biến khác tại Nauru gồm có bóng chuyền, bóng lưới, câu cá, và quần vợt. Nauru tham gia Đại hội thể thao Thịnh vượng chung và Thế vận hội Mùa hè.[81]

Chú thích

  1. ^ a ă â b c d đ e ê Cơ quan Tình báo Trung ương (2011). “Nauru”. The World Factbook. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2011.
  2. ^ a ă â b “Country Economic Report: Nauru”. Asian Development Bank. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2012.
  3. ^ “Thăm 5 quốc gia nhỏ xinh trên thế giới”. Yahoo Tin tức. 7 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2014.
  4. ^ McLeish, Kathy (23 tháng 10 năm 2013). “Nauru: The world’s smallest republic”. abc.net.au. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2014.
  5. ^ Hogan, C Michael (2011). “Phosphate”. Encyclopedia of Earth. National Council for Science and the Environment. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2012.
  6. ^ a ă â b Nauru Department of Economic Development and Environment (2003). “First National Report To the United Nations Convention to Combat Desertification”. UNCCD. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2012.
  7. ^ Whyte, Brendan (2007). “On Cartographic Vexillology”. Cartographica: The International Journal for Geographic Information and Geovisualization 42 (3): 251–262. doi:10.3138/carto.42.3.251.
  8. ^ Pollock, Nancy J (1995). “5: Social Fattening Patterns in the Pacific—the Positive Side of Obesity. A Nauru Case Study”. Trong De Garine, I. Social Aspects of Obesity. Routledge. tr. 87–111.
  9. ^ a ă Spennemann, Dirk HR (tháng 1 năm 2002). “Traditional milkfish aquaculture in Nauru”. Aquaculture International 10 (6): 551–562. doi:10.1023/A:1023900601000.
  10. ^ West, Barbara A (2010). “Nauruans: nationality”. Encyclopedia of the Peoples of Asia and Oceania. Infobase Publishing. tr. 578–580. ISBN 978-1-4381-1913-7.
  11. ^ Marshall, Mac; Marshall, Leslie B (tháng 1 năm 1976). “Holy and unholy spirits: The Effects of Missionization on Alcohol Use in Eastern Micronesia”. Journal of Pacific History 11 (3): 135–166. doi:10.1080/00223347608572299.
  12. ^ Reyes, Ramon E, Jr (1996). “Nauru v. Australia”. New York Law School Journal of International and Comparative Law 16 (1–2).
  13. ^ a ă Firth, Stewart (tháng 1 năm 1978). “German labour policy in Nauru and Angaur, 1906–1914”. The Journal of Pacific History 13 (1): 36–52. doi:10.1080/00223347808572337.
  14. ^ a ă Hill, Robert A (ed) (1986). “2: Progress Comes to Nauru”. The Marcus Garvey and Universal Negro Improvement Association Papers 5. University of California Press. ISBN 978-0-520-05817-0.
  15. ^ Ellis, AF (1935). Ocean Island and Nauru – their story. Angus and Robertson Limited. tr. 29–39.
  16. ^ Hartleben, A (1895). Deutsche Rundschau für Geographie und Statistik. tr. 429.
  17. ^ a ă Manner, HI; Thaman, RR; Hassall, DC (tháng 5 năm 1985). “Plant succession after phosphate mining on Nauru”. Australian Geographer 16 (3): 185–195. doi:10.1080/00049188508702872.
  18. ^ Gowdy, John M; McDaniel, Carl N (tháng 5 năm 1999). “The Physical Destruction of Nauru”. Land Economics 75 (2): 333–338.
  19. ^ Shlomowitz, R (tháng 11 năm 1990). “Differential mortality of Asians and Pacific Islanders in the Pacific labour trade”. Journal of the Australian Population Association 7 (2): 116–127. PMID 12343016.
  20. ^ Hudson, WJ (tháng 4 năm 1965). “Australia’s experience as a mandatory power”. Australian Outlook 19 (1): 35–46. doi:10.1080/10357716508444191.
  21. ^ Waters, SD (2008). German raiders in the Pacific (ấn bản 3). Merriam Press. tr. 39. ISBN 978-1-4357-5760-8.
  22. ^ a ă Bogart, Charles H (tháng 11 năm 2008). “Death off Nauru”. CDSG Newsletter: 8–9. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2012.
  23. ^ a ă Haden, JD (2000). “Nauru: a middle ground in World War II”. Pacific Magazine. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2012.
  24. ^ Takizawa, Akira; Alsleben, Allan (1999–2000). “Japanese garrisons on the by-passed Pacific Islands 1944–1945”. Forgotten Campaign: The Dutch East Indies Campaign 1941–1942.
  25. ^ Garrett, J (1996). Island Exiles. ABC. tr. 176–181. ISBN 0-7333-0485-0.
  26. ^ a ă Highet, K; Kahale, H (1993). “Certain Phosphate Lands in Nauru”. American Journal of International Law 87: 282–288.
  27. ^ a ă Davidson, JW (tháng 1 năm 1968). “The republic of Nauru”. The Journal of Pacific History 3 (1): 145–150. doi:10.1080/00223346808572131.
  28. ^ Squires, Nick (ngày 15 tháng 3 năm 2008). “Nauru seeks to regain lost fortunes”. BBC News Online. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2008.
  29. ^ Case Concerning Certain Phosphate Lands in Nauru (Nauru v. Australia) Application: Memorial of Nauru. ICJ Pleadings, Oral Arguments, Documents. Tòa án Công lý Quốc tế Liên Hiệp Quốc. Tháng 1 năm 2004. ISBN 978-92-1-070936-1.
  30. ^ a ă â b c d đ e ê g h i “Background Note: Nauru”. State Department Bureau of East Asian and Pacific Affairs. Tháng 9 năm 2005. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2006.
  31. ^ Thaman, RR; Hassall, DC. “Nauru: National Environmental Management Strategy and National Environmental Action Plan”. Chương trình Môi trường khu vực Nam Thái Bình Dương. tr. 234.
  32. ^ Jacobson, Gerry; Hill, Peter J; Ghassemi, Fereidoun (1997). “24: Geology and Hydrogeology of Nauru Island”. Trong Vacher, H Leonard; Quinn, Terrence M. Geology and hydrogeology of carbonate islands. Elsevier. tr. 716. ISBN 978-0-444-81520-0.
  33. ^ a ă Republic of Nauru (1999). “Climate Change – Response”. First National Communication. Công ước khung của liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2009.
  34. ^ Affaire de certaines terres à phosphates à Nauru. International Court of Justice. 2003. tr. 107–109. ISBN 978-92-1-070936-1.
  35. ^ “Pacific Climate Change Science Program”. Chính phủ Úc. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2012.
  36. ^ “Current and future climate of Nauru”. Trung tâm Nghiên cứu thời tiết và khí hậu Úc. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2012.
  37. ^ NAURU Information on Government, People, History, Economy, Environment, Development
  38. ^ BirdLife International. “Important Bird Areas in Nauru”. Ban thư ký Chương trình Môi trường khu vực Thái Bình Dương. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2012.
  39. ^ Nauru Ecotourism Tours – Sustainable Tourism & Conservation Laws
  40. ^ Matau, Robert (ngày 6 tháng 6 năm 2013) “President Dabwido gives it another go”. Islands Business.
  41. ^ Levine, Stephen; Roberts, Nigel S (tháng 11 năm 2005). “The constitutional structures and electoral systems of Pacific Island States”. Commonwealth & Comparative Politics 43 (3): 276–295. doi:10.1080/14662040500304866.
  42. ^ Anckar, D; Anckar, C (2000). “Democracies without Parties”. Comparative Political Studies 33 (2): 225–247. doi:10.1177/0010414000033002003.
  43. ^ Hassell, Graham; Tipu, Feue (tháng 5 năm 2008). “Local Government in the South Pacific Islands”. Commonwealth Journal of Local Governance 1 (1): 6–30.
  44. ^ a ă “Republic of Nauru Country Brief”. Australian Department of Foreign Affairs and Trade. Tháng 11 năm 2005. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2006.
  45. ^ Connell, John (tháng 1 năm 2006). “Nauru: The first failed Pacific State?”. The Round Table 95 (383): 47–63. doi:10.1080/00358530500379205.
  46. ^ “Nauru profile”. BBC News. Ngày 24 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2012.
  47. ^ “Nauru (High Court Appeals) Act (Australia) 1976”. Australian Legal Information Institute. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2006.
  48. ^ Dale, Gregory (2007). “Appealing to Whom? Australia’s ‘Appellate Jurisdiction’ Over Nauru”. International & Comparative Law Quarterly 56 (3). doi:10.1093/iclq/lei186.
  49. ^ “Republic of Nauru Permanent Mission to the United Nations”. Liên Hiệp Quốc. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2006.
  50. ^ “Nauru in the Commonwealth”. Thịnh vượng chung các quốc gia. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2012.
  51. ^ “Nauru (04/08)”. US State Department. 2008. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2012.
  52. ^ Long, Charles N; McFarlane, Sally A (tháng 3 năm 2012). “Quantification of the Impact of Nauru Island on ARM Measurements”. Journal of Applied Meteorology and Climatology 51 (3): 628–636. doi:10.1175/JAMC-D-11-0174.1.
  53. ^ a ă Harding, Luke (ngày 14 tháng 12 năm 2009). “Tiny Nauru struts world stage by recognising breakaway republics”. Guardian. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010.
  54. ^ Su, Joy (ngày 15 tháng 5 năm 2005). “Nauru switches its allegiance back to Taiwan from China”. Taipei Times. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2012.
  55. ^ “Nauru expects to earn more from exports after port upgrade with Russian aid”. Radio New Zealand International. Ngày 15 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2010.
  56. ^ “Big tasks for a small island”. BBC. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2006.
  57. ^ Seneviratne, Kalinga (ngày 26 tháng 5 năm 1999). “Nauru turns to dust”. Asia Times. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2012.
  58. ^ Mellor, William (ngày 1 tháng 6 năm 2004). “GE Poised to Bankrupt Nauru, Island Stained by Money-Laundering”. Bloomberg. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2012.
  59. ^ Skehan, Craig (ngày 9 tháng 7 năm 2004). “Nauru, receivers start swapping legal blows”. Sydney Morning Herald. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2012.
  60. ^ “Receivers take over Nauru House”. The Age. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2012.
  61. ^ “Nauru sells last remaining property asset in Melbourne – report”. RNZI. Ngày 8 tháng 4 năm 2005. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010.
  62. ^ a ă “Asian Development Outlook 2005 – Nauru”. Ngân hàng Phát triển châu Á. 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2006.
  63. ^ “Paradise well and truly lost”. The Economist. Ngày 20 tháng 12 năm 2001. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2006.
  64. ^ “The Billion Dollar Shack”. New York Times. Ngày 10 tháng 12 năm 2000. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2011.
  65. ^ “Nauru de-listed”. FATF. Ngày 13 tháng 10 năm 2005. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2006.
  66. ^ Topsfield, Hewel (ngày 11 tháng 12 năm 2007). “Nauru fears gap when camps close”. The Age. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2012.
  67. ^ “Nauru ‘hit’ by detention centre closure”. The Age. Ngày 7 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2012.
  68. ^ “Asylum bill passes parliament”. ABC. Ngày 28 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2014.
  69. ^ “Adherent.com’s Largest Baha’i Communities”. Adherents.com. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010.
  70. ^ “International Religious Freedom Report 2003 – Nauru”. US Department of State. 2003. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2005.
  71. ^ Waqa, B (1999). “UNESCO Education for all Assessment Country report 1999 Country: Nauru”. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2006.
  72. ^ “USP Nauru Campus”. University of the South Pacific. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2012.
  73. ^ “Fat of the land: Nauru tops obesity league”. Independent. Ngày 26 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2012.
  74. ^ King, H; Rewers M (1993). “Diabetes in adults is now a Third World problem”. Ethnicity & Disease 3: S67–74.
  75. ^ “Nauru”. World health report 2005. Tổ chức Y tế Thế giới. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2006.
  76. ^ “Nauru Celebrates Angam Day”. UN. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2012.
  77. ^ Nazzal, Mary (tháng 4 năm 2005). “Nauru: an environment destroyed and international law”. lawanddevelopment.org. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2012.
  78. ^ “Culture of Nauru”. Republic of Nauru. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2012.
  79. ^ “Country Profile: Nauru”. BBC News. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2006.
  80. ^ “Nauru Australian Football Association”. Liên đoàn bóng đá [Úc] Úc. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2012.
  81. ^ “Nauru Olympic Committee History”. Nauru Olympic Committee. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2012.

Liên kết ngoài

Friedrich II của Phổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Đại Đế Friedrich II
Friedrich II., der Große
Quốc vương nước Phổ
Tuyển hầu tước xứ Brandenburg
Frederic II de prusse.jpg

Vua Friedrich II Đại Đế qua nét vẽ của họa sĩ cung đình Phổ Antoine Pesne (1683 – 1757), khoảng năm 1750.
Vua nhà Hohenzollern[1]
Trị vì 31/5/174017/8/1786
(46 năm, 18 ngày)
Tiền nhiệm Friedrich Wilhelm I Vua hoặc hoàng đế
Thủ tướng Bá tước Heinrich von Podewils
Georg Dietlof von Arnim-Boitzenburg
Bá tước Karl-Wilhelm Finck von Finckenstein
Friedrich Anton von Heinitz
Kế nhiệm Friedrich Wilhelm II Vua hoặc hoàng đế
Bá tước xứ Ostfriesland
Trị vì 1744 – 1786
Tiền nhiệm Charles Edzard (Nhà Cirksena)
Kế nhiệm Không có
Thông tin chung
Hoàng hậu
Tình nhân (?)
Hậu duệ
Tên thật Friedrich von Hohenzollern
Tước vị
Triều đại Nhà Hohenzollern
Thân phụ Friedrich Wilhelm I Vua hoặc hoàng đế
Thân mẫu Sophia Dorothea xứ Hannover
Sinh 24 tháng 1, 1712
Berlin, Phổ
Mất 17 tháng 8, 1786 (74 tuổi)
Potsdam, Phổ
An táng 17 tháng 8 năm 1991 (lần cuối)Nhà thờ Công sự, Potsdam
Nhà thờ Elisabeth, Marburg
Lâu đài Hohenzollern (gần thị trấn Hechingen)
Sanssouci, Potsdam, Đức
Nghề nghiệp Đại tá của Trung đoàn von der Goltz
Nhà triết học khu Sanssouci
Tôn giáo Kháng Cách
Hoàng gia Phổ
Nhà Hohenzollern
Wappen Deutsches Reich - Königreich Preussen (Grosses).png
Friedrich I (1701-1713)
Con cái
   Công chúa Louise Dorothea
   Hoàng tử Friedrich Wilhelm
Friedrich Wilhelm I (1713-1740)
Con cái
   Công chúa Wilhelmine
   Hoàng tử Friedrich
   Công chúa Friederike Luise
   Công chúa Philippine Charlotte
   Công chúa Sophia Dorothea
   Công chúa Louisa Ulrika
   Hoàng tử August Wilhelm
   Công chúa Anna Amalia
   Hoàng tử Heinrich
   Hoàng tử Ferdinand
Friedrich II (Đại đế, 1740-1786)
Friedrich Wilhelm II (1786-1797)
Con cái
   Hoàng tử Friedrich Wilhelm
   Hoàng tử Ludwig
   Công chúa Wilhelmine
   Công chúa Augusta
   Hoàng tử Karl
   Hoàng tử Wilhelm
Friedrich Wilhelm III (1797-1840)
   Hoàng tử Friedrich Wilhelm
   Hoàng tử Wilhelm
   Công chúa Charlotte
   Công chúa Alexandrine
   Hoàng tử Karl
   Công chúa Louise
   Hoàng tử Albrecht
Friedrich Wilhelm IV (1840-1861)

Friedrich II (phiên âm tiếng ViệtPhriđrích II[5]), còn viết là Frédéric II hay Frederic II[6] (phiên âm Frêđêrich II)[7] (24 tháng 1 năm 171217 tháng 8 năm 1786), tức Friedrich von Hohenzollern[8] là vị thống soái và nhà chính trị kiệt xuất hơn cả trong lịch sử châu Âu thời đại ông,[9] một trong những người góp phần thành lập nước Đức hiện đại.[10] Ông là một thành viên của Hoàng tộc nhà Hohenzollern, là một vị vua nổi tiếng của nước Phổ,[11] trị vì đến 46 năm trời:[12] từ ngày 31 tháng 5 năm 1740 đến khi qua đời vào ngày 17 tháng 8 năm 1786.[13] Trên cương vị Tuyển hầu tước (tiếng Đức: Kurfüst) của đế quốc La Mã Thần thánh, ông có tên gọi là Friedrich IV xứ Brandenburg. Ông cũng kiêm luôn chức Vương công xứ Neuchâtel trong liên minh cá nhân. Là vị Quốc vương được nhiều người mến mộ, ông được mệnh danh là Friedrich Đại Đế[9] (tiếng Đức: Friedrich der Große) hay Fritz Đại Đế hoặc là Frederic Đại Đế[6],[14] và thường được gọi là der alte Fritz, tức “Cụ già Fritz“, hay Ông hoàng độc đáo.[15][16] Còn được gọi là “Nhà chinh phạt của vùng Rossbach và Zorndorf” hay “Người anh hùng của vùng Rossbach và Zorndorf”,[17] năm 30 tuổi, ông là nhân vật thu hút nhiều người quan tâm nhất thời đó.[18][19]

Thời niên thiếu, Hoàng thái tử Friedrich rất đam mê nền nghệ thuật và triết học, sau còn là học trò của Thống chế Áo kiệt xuất Eugène xứ Savoie.[20][21] Là một thiên tài quân sự tàn nhẫn,[22] sau khi lên ngôi vua, ông châm ngòi những cuộc chiến tranh Silesia (một phần của Chiến tranh Kế vị Áo) với chiến thắng huy hoàng đầu tiên vào tháng 4 năm 1741,[23] tiến công đế quốc Áo của Nữ hoàng nhà Habsburg và chiếm tỉnh Silesia cùng vùng Glatz về tay Vương quốc Phổ (1740 – 1745).[24] Sau đó, dù phải chống chọi với hầu hết các nước châu Âu (Nga, Áo, Pháp, Sachsen, Ba Lan, Thụy Điển v.v…) trong cuộc chiến tranh Bảy năm,[11] ông ra tay trước với chiến thắng vang dội (1756),[25] và gần như luôn luôn là vị vua chiến thắng, để rồi giành thắng lợi cuối cùng và giữ vững nước Phổ được mở rộng đáng kể (1756 – 1763).[26][27][28][29]

Nhờ áp dụng chiến thuật “đánh lấn vào sườn” trứ danh, ông giành những chiến thắng huy hoàng như trong trận Leuthen (1757) và trận Torgau (1760).[30][31] Cho đến lúc cuối đời, Đại đế Friedrich II đã xây dựng Quân đội Phổ tinh nhuệ,[32] và thành công vang dội trong việc thống nhất các vùng lãnh thổ của đất nước, vào năm 1772 cùng với các Nữ hoàng Áo và Nga tiến hành xâm chiếm và chia cắt lãnh thổ Liên bang Ba LanLitva.[33] Người ta luôn nhớ đến ông như vị vua đã thực hiện thay đổi sâu rộng nước Phổ đến mức đưa đất nước lên hàng liệt cường, chỉ trong vòng 20 năm.[34] Là kình địch đáng gờm cản trở sự phát triển của Đế quốc Áo, thành công trong chính sách chống Áo của ông đã nâng cao uy thế của Đế quốc Phổ (1778 – 1785).[35]thế kỷ XIX, Hoàng đế Pháp Napoléon Bonaparte,[36] Hoàng tử Đức lỗi lạc Friedrich Karl và Hoàng đế Đức Wilhelm II đều hết sức ngưỡng mộ ông,[37][38] và Đại Đế Friedrich II cũng được xem là nhà ngoại giao vĩ đại.[39]

Là “Thiền Vua Attila của phương Bắc”,[40] nhưng ông cũng là người nghệ sĩ, nhà nhân đạo chủ nghĩa,[41] một trong những vị vua theo chủ nghĩa Khai Sáng chuyên chế tại lục địa châu Âu vào thế kỷ XVIII.[42] Ông từng mời Voltaire (François-Marie Arouet) – một trong những triết gia tiên phong của triết học Khai Sáng – đến Vương quốc Phổ,[7] làm “vị Quốc vương thứ hai” trong triều đình Phổ.[43] Friedrich II Đại đế ủng hộ những luận điểm của đường lối triết học đó và áp dụng triệt để những lý luận trên trong công cuộc trị quốc. Là người tổ chức vĩ đại,[39] nhà làm luật có danh tiếng[44] ông tiến hành canh tân bộ máy triều đình Phổ, thực hiện không ít cải cách về dân sự, xã hội và kinh tế, bãi bỏ hình phạt tra tấn, và ủng hộ việc dỡ bỏ rào cản tôn giáo trong toàn bộ vương quốc mình. Cũng như Nữ hoàng Nga đương thời là Ekaterina II Đại đế, ông cho phép Dòng Tên (Societas Iesu) được hoạt động tại nước Phổ.[45] Ông còn tự xem mình là một vị vua – triết gia trong thời kỳ Khai sáng,[46] người ủng hộ việc truyền bá và phát triển nghệ thuật và triết học, cải cách Viện Hàn lâm Berlin.[47]

Sau khi qua đời, Đại đế Friedrich II được an nghỉ ở Sanssouci, thành phố Potsdam, chỗ ngự mà ông đặc biệt ưa thích. Sinh thời, ông đã cho xây dựng nhiều công trình công viên Sanssouci (tiếng Pháp là thoát khỏi sự phiền muộn), trong số đó cung điện Sanssouci (Điện Vô Ưu) là nổi bật hơn cả. Việc xây cất này cho thấy nhà vua yêu thiên nhiên và mong muốn con người và thiên nhiên hòa hợp với nhau.[48] Là vị vua đồng tính luyến ái nổi tiếng,[49] do không có con nối dõi, Đại đế Friedrich II truyền ngôi Quốc vương cho người cháu gọi ông bằng bác là Friedrich Wilhelm II – con trai thứ hai của Hoàng thái đệ August Wilhelm em trai ruột ông.[50] Hậu thế ca ngợi ông như vị anh hùng dân tộc của đất nước Đức.[51]

Mục lục

 

Nhận định

Tượng Đại đế Friedrich II ở Neurebbin, Brandenburg (nước Đức). Đây là bản sao năm 1997 của bức tượng được tạc vào năm 1904, nhưng bị phá hủy sau đó.
Có lẽ ông là ví dụ hoàn hảo nhất về những Đấng Quân vương chuyên chính “Khai sáng” đáng quý đã thống trị Âu châu vào thế kỷ XVIII.
—Nhà sử học Hayes[35]
Những chiến công của ông không chỉ mang lại ý thức và niềm tự hào dân tộc cho riêng những người Phổ và giáo dân Tin Lành, mà toàn thể dân tộc Đức. Toàn dân Đức đã nhận thấy, họ có một vị Quốc vương được cả châu Âu kính trọng.
—Niebuhr[407]

Là một vị bạo chúa đầy tham vọng,[86] ông trở thành một vị nguyên thủ vô cùng lỗi lạc, và là một nhân vật lịch sử huyền thoại, sánh vai với những Hammurabi, Moses, Cyrus Đại Đế, Darius I, Julius Caesar, Charlemagne, Thành Cát Tư Hãn, Timur, Louis XIV của Pháp, Pyotr I của Nga, Otto von Bismarck, Abraham Lincoln,….[573] Ông là một trong những vị vua nổi bật của triều đại Hohenzollern, là vị “Cha già của Dân tộc” Phổ,[574] “ngôi sao của châu Âu”,[381] đồng thời là một trong những vị Quốc vương vĩ đại nhất trong lịch sử cận-hiện đại.[164] Cùng với Thủ tướng Otto von Bismarck, ông trở thành một trong những nhà chính trị kinh điển của nước Đức.[564] Là nhà nhân đạo chủ nghĩa kiêm ông hoàng chinh chiến,[41][166] không những là một vị vua uyên bác bảo trợ khoa học, vị vua anh minh bảo trợ văn hóa nghệ thuật,[575] ông còn được xem là nhà chính trị kiệt xuất nhất trong thời đại của ông.[9] Ý tướng “nhà vua là công bộc của nhân dân”, chính sách tự do tôn giáo hay công cuộc cải tổ Chính phủ và Luật pháp Phổ cận đại, v.v… chính là những khía cạnh của một tư tưởng mới về chế độ quân chủ chuyên quyền.[576] Trong cuộc chiến tranh Bảy năm, hay tin vua Phổ đại phá hàng vạn quân Pháp, Ngoại trưởng nước Pháp là Hồng y Bernis đã ca ngợi:[250]

Chúng ta không thể quên rằng chúng ta đang chạm trán với vị Quân vương, người cùng một lúc là Tổng tư lệnh Quân đội, Thủ tướng Chính phủ, người tổ chức sáng suốt, và khi cần thiết, là Trưởng Mục sư của Vương quốc Phổ… Tất cả những yếu tố đó đã khiến chúng ta – với những thủ đoạn phối hợp tệ hại và được thi hành một cách tệ hại – không thể nào giành thế thượng phong…
—Thư gửi Choiseul-Stainville

Là “vua khai quốc thật sự của Vương quốc Phổ”,[574] có ý kiến cho rằng ông còn tốt hơn các vị vua nhà Bourbon đương thời, kể cả Louis XIV của Pháp.[63] Những công trạng của ông, như thống nhất những lãnh thổ rời rạc và đưa Vương quốc Phổ lên hàng liệt cường, đã được ví von với những công trạng có điểm tương đồng của Tổng thống George Washington – vị “Cha già Dân tộc” của Hoa Kỳ.[375] Tuy nhiên, Đại đế Friedrich II không có khả năng phổ biến tư tưởng Khai sáng vào quần chúng nhân dân. Họ vẫn còn dốt nát, nghèo khổ, và cô lập ở miền thôn quê. Do đó, nước Phổ không thể phát triển một bộ luật dân sự vững mạnh trong 10 năm sau khi ông từ giã cõi đời. Trong khi đó, tầng lớp địa chủ – quý tộc Junker vẫn đóng vai trò thống trị trong xã hội phong kiến Phổ,[77] Quốc gia Phổ chỉ đơn thuần là một cỗ máy.[577]

Vị vua này giả dối và hiếu chiến như nhiều Ki-tô hữu khác.
—Voltaire (thư gửi ông Everard Fawkenden, 1742) [250]

Dù có những đánh giá khác nhau trong lịch sử, với những trận thắng đáng nhớ của ông trước các đạo quân xâm lược đất Đức (chẳng hạn như Nga và Pháp), sau này ông được tôn vinh như một biểu tượng của chủ nghĩa yêu nước Phổ,[89][145] anh hùng dân tộc của người Đức (đứng ngang hàng với Đại đế Karl I và nhà thần học Martin Luther), bất chấp một thực tế rằng ông chẳng mấy ưa thích nền văn hóa Đức.[51][578][579] Ông là vị Quân vương, người chiến binh Teuton kiệt xuất, đã thành công trong việc dẫn dắt nước Phổ trở thành một cường quốc chi phối vùng Trung Âu vào thời kỳ Khai sáng;[580] cùng với hai Nữ hoàng đương thời Maria Theresia và Ekaterina II là một trong ba vị Quân vương năng động hơn cả trên toàn cõi châu Âu.[581][582] Là vị vua lôi cuốn và đột ngột thay đổi bộ mặt của đất nước,[64] dân tộc Đức tự hào về Friedrich II Đại đế nhất trong tất cả các vị vua mà họ có được. Tác phẩm “Mein Kampf” (Cuộc tranh đấu của tôi) là một bằng chứng phong phú cho thấy trùm phát xít Đức là Adolf Hitler (1889 – 1945) ngưỡng mộ ông. Có lần, vị Quốc trưởng này gọi ông là “vị anh hùng lỗi lạc”.[583] Dưới chế độ Đức Quốc xã, ông là một biểu tượng của chủ nghĩa quân phiệt Đức, họ đề cao ông như “ông vua – triết gia vung cao bảo kiếm”, và còn viết sách giáo khoa có đoạn thơ:[584]

Muôn tâu Đức Vua Friedrich, Người đội chiếc Vương miện uy phong.
Hẳn Người chỉ mong muốn đem lại quyền lợi cho Tổ quốc thôi chứ?
Muôn tâu Đức Vua và người anh hùng của chúng con, Friedrich Đại đế
Chúng con sẽ đánh đuổi loại giặc kia ra khỏi thế giới này vì Thánh thượng.
—Sách giáo khoa Đế chế Đức

Đại Đế Friedrich II trong bảy năm chinh chiến (1757).

Nhà yêu nước Đức Heinrich von Treitschke cũng thán phục ông là vị vua xây dựng cả một dân tộc.[76] Ông là vị vua có công lớn trong việc thống nhất các dân tộc Teuton, và khi thất thế Hitler đã trốn dưới hầm và mang theo hình ảnh của ông để cố thủ cho chủ nghĩa dân tộc Đức do ông sáng lập ra hai trăm năm trước kia.[173] Tuy nhiên, không chỉ những nhà sử học người Đức mới đánh giá cao công lao của ông.[80] Thomas Bacaulay – Nam tước Bacaulay thứ nhất, nhà sử học người Anh, xem ông là một “vị Quốc vương vĩ đại nhất đã được quyền thừa kế ngai vàng trong thời kỳ cận đại”.[171] Chính những tài năng, lòng dũng cảm trên chiến trường, xây dựng một lực lượng Quân đội Phổ kỷ luật và lối suy nghĩ tự do của nhà vua nước Phổ đã khiến cho Nga hoàng Pyotr III ngưỡng mộ ông và Vương quốc Phổ đến mức biến Đế quốc Nga thù địch trở thành một đồng minh của ông.[585][586][587] Huey Pierce Long, Jr. (1893 – 1935) – vị Thống đốc dân túy chủ nghĩa tiến bộ của tiểu bang Louisiana (Hoa Kỳ) – cũng vô cùng ngưỡng mộ ông, gọi ông là “Kẻ đáng ghét vĩ đại nhất từ cổ chí kim và nhấn mạnh đến một cuộc đối thoại của vị anh hùng kính yêu này trong bản báo cáo đến thủ đô Washington (1935):[588][589][590][591]

Một lần, Đại Đế Friedrich II quyết định tiến công kinh thành Viên của nước Áo. Những vị đại thần khờ dại liền can ngăn ông: “Kính bẩm Đức Kim Thượng, Người không thể đánh thành Viên, vì tình hình châu Âu sẽ trở nên thất thường”. Tuy nhiên, nhà vua không nản chí, ông nói: “Ba quan của Trẫm sẽ chinh phạt được thành Viên, và các Khanh hãy hỏi các danh sĩ ở Heidelberg về nguyên nhân thắng lợi”.[588][589] Nhà sử học Heinrich Karl Ludolf von Sybel (1817 – 1895), một thành viên của Đảng Tự do Nhân dân nước Đức thời vua Wilhelm I, cũng vô cùng ngưỡng mộ Đại Đế Friedrich II như một vị vua vĩ đại của nước Phổ.[592] Dù được trùm phát xít khâm phục, và dù tham chiến hai cuộc chiến tranh khốc liệt nhất trên lục địa Âu châu thời bấy giờ, ông quan tâm đến việc xây dựng nước Phổ giàu mạnh bằng đường lối hòa bình, đúng như ông từng gửi thư cho Voltaire:[167]

Thưa Tiên sinh, Ngài yêu hoà bình thì Trẫm cũng yêu hoà bình vậy! Nhưng, thiết nghĩ loài người chỉ có thể hạnh phúc khi chung sống trong nền hoà bình vững chắc và đáng quý. Nếu Socrates và Platon biết tình cảnh khốn khổ của Trẫm hiện nay, có lẽ họ cũng suy nghĩ như Trẫm. Trẫm xin hỏi Tiên sinh rằng, Ngài có thể hạnh phúc khi sống trong cái cuộc sống chó má như thế này không? Bọn giặc ngoại quốc tàn sát, hãm hại những người bạn hữu của Ngài hằng ngày…, Ngài lại còn phải sống lo âu và e sợ trong suốt năm…
—Friedrich Đại đế

Và, sau khi đại phá liên quân Áo – Pháp đông gấp đôi, nhà vua cho Công chúa Wilhelmina chị ông hay: “Ngay bây giờ, Quả nhân có thể thăng hà trong hòa bình, do Dân tộc ta đã giành được vinh quang hiển hách…”. Nhìn chung, ông là một Quân vương mạnh mẽ, chuyên cần và khuyển nho, làm việc nhiều đến mức từ một thanh niên đẹp trai trở thành một ông già mỏi mệt.[593] Đại đế Friedrich II được xem như một trong ba vị vua vĩ đại nhất của chủ nghĩa Khai sáng chuyên chế, cùng với Nữ hoàng Nga Ekaterina II Đại đế và Hoàng đế Áo Joseph II.[594] Huân tước Acton xem ông là “một thần đồng thực sự tuyệt vời nhất” đã lên làm vua trong thời kỳ cận đại.[80] Ông cũng được xem là nhà kinh tế, tài chính vĩ đại;[39] theo Charles C. Savage, ông đạt được rất nhiều thành tựu đáng kính nể.[595] Trong sách Những nhân vật quân sự nổi tiếng thế giới của Kha Xuân Kiều – Hà Nhân Học, phần “Friedrich: Ông vua sáng suốt” có nhận định tổng quát như sau:[596]

Friedrich Đại Đế được coi là ông vua vĩ đại nhất của nước Phổ. Friedrich đã thể hiện tài năng nhiều mặt về chính trị, quân sự, ngoại giao. Là một nhà chính trị, ông thực hành nền chuyên chế quân chủ tiến bộ, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của nền kinh tế, nâng cao sức mạnh tổng hợp của nước Phổ. Là một nhà ngoại giao, ông biết cách khóet sâu mâu thuẫn giữa các cường quốc, tách họ ra hoặc đẩy họ gần nhau nhằm tạo cho nước Phổ một điều kiện phát triển tương đối thuận lợi….Ông ngồi trên ngai vàng trong thời gian kéo dài đến 46 năm. Trong khoảng thời gian này, ông đã mở rộng lãnh thổ lên gấp đôi. Những chính sách về nội chính, ngoại giao và quân sự mà ông đã áp dụng ở nước Phổ sau này có ảnh hưởng rất lớn, đặt nền móng vững chắc cho chủ nghĩa dân tộcchủ nghĩa quân phiệt Phổ.
—Kha Xuân Kiều – Hà Nhân Học

Vua Friedrich II Đại Đế và Tướng Ziethen trước trận thắng tại Torgau (1760), họa phẩm của Bernhard Rode (1791).

Không những thế, khi còn trẻ, lãnh tụ phong trào cách mạng vô sảnFriedrich Engels xem Đại đế Friedrich II là một nhà cải cách siêu phàm của Chính phủ Phổ – Brandenburg thời đó. Vương quốc Phổ vốn chìm đắm trong chế độ phong kiến chuyên chế trước năm 1806, và nhà vua đã “tái sinh” đất nước, với những cải cách theo xu hướng tự do của ông. Không may, phong trào cải cách của ông đã không được dài lâu, và lần “tái sinh” đầu tiên của nước Phổ kết thúc dưới các triều vua sau ông. Friedrich Engels cũng đồng ý với sách “Vua Friedrich Đại đế và những kẻ thù của Ngài” do Köppen viết,[597] sách này được tặng Karl Marx vào năm 1840, xem ông là tấm gương sáng của một Quân vương tự do chủ nghĩa, là vị vua đối lập với bọn phản động Thiên Chúa giáo phản tiến bộ tại Đức. Köppen cũng không ngại công kích nhà lãng mạn chủ nghĩa Novalis – người đã cho rằng, Kháng Cách và Quốc vương Friedrich II đã phá vỡ sự thống nhất của Đế quốc La Mã Thần thánh dân tộc Đức.[598] Ông luôn được ca ngợi trong thi ca; và, trong các chính trị gia Âu châu, ông là vị anh quân được nhiều người mến mộ chỉ sau Napoléon Bonaparte.[245]

Đại đế Friedrich II ăn cướp xứ Silesia, nhưng Ngài quả là nhân vật vĩ đại nhất mọi thời đại.
—Bismarck [599]

Hình ảnh vị vua anh dũng Friedrich II Đại Đế và những chiến công của ông – cũng là vị Quân vương đầu tiên thấm nhuần triết học Khai sáng – cũng được thể hiện qua thơ, văn ca ngợi của các danh sĩ Kleist, Gleim và Archenholz, trong khi đại thi hào Goethe cho hay, những chiến công của ông đã đánh thức dân tộc Đức sau nhiều năm ngủ vùi.[407][446] Trong văn chương, nhà thơ nước Đức là Christian Daniel Friedrich Schubart tỏ lòng mến mộ nhà vua anh minh, tấm gương sáng cho mọi thế hệ anh hùng của dân tộc Đức. Tuy nhà thơ này ca ngợi những công đức của ông, như đưa chốn kinh kỳ Berlin thành “một thủ đô Athena mới”, C. D. F. Schubart đã ví von ông như những vị anh hùng huyền thoại của dân tộc Đức – Teuton năm xưa, như WotanHermann, trong các bài thơ như “Bài thánh ca về vua Friedrich Đại Đế” về chiến công đại phá quân Áo tại Silesia (1740) của ông, hay bài thơ ca ngợi ông làm minh chủ bảo vệ quyền lợi của dòng giống Teuton trong đế quốc La Mã Thần thánh (1785).[600]

Ông là vị vua có công phá vỡ thế bá chủ Âu châu của vua Pháp vào thế kỷ XVIII, và gạt bỏ ảnh hưởng của Nga và Pháp ra khỏi đất Đức.[182] Nhưng, có ý kiến nhận định người ta đã hiểu sai vai trò của ông trong lịch sử Phổ – Đức, khi phán ông là vị vua sáng lập ra chủ nghĩa quân phiệt Phổ. Theo tài liệu này, ông còn đúng là một nhà dân tộc chủ nghĩa Phổ hơn là một nhà dân tộc chủ nghĩa Đức: ông chỉ gây chiến tranh khi cần thiết và vì những mục đích chính trị, về cuối đời chính sách của ông chủ yếu là phi quân sự.[166][600] Là vị Quân vương tham gia tích cực đến công cuộc chia cắt Ba Lan – Litva lần thứ nhất (1772), ông tin tưởng vào thành quả của mình:

Những cuộc xâm chiếm ta thi hành qua ngòi bút luôn tuyệt hảo hơn những cuộc xâm chiếm ta thi hành qua binh đao!
—Friedrich Đại Đế

Thiên tài quân sự

Tượng Friedrich II Đại đế tại Berlin, thủ đô nước Đức.
Là nhà quân sự, ông biết ông chỉ huy quân đội rất bài bản, dụng binh khéo léo, đã để lại cho đời sau những trận chiến mẫu mực như trận Rossbach và Leuthen.
—Kha Xuân Kiều, Hà Nhân Học[596]
Là một trong những vị thống soái vĩ đại trong lịch sử, vua Frederick đã gây chấn động vùng Trung Âu bằng cuộc chinh phạt Silesia vào năm 1740, nhưng ông đã dùng tài năng và chính trị và quân sự để chặn đứng bước tiến công của quân thù.
—Simon Millar – Adam Hook[317]

Tổng cộng, trong suốt 46 năm trời trị vì của ông, Vương quốc Phổ – Brandenburg đã 13 năm lâm chiến trong bốn cuộc chiến tranh,[23][245] mà các triều thần và bạn hữu cũng phải sửng sốt trước sự năng nổ của Quốc vương.[68] Đại đế Friedrich II – nhà chinh phạt của vùng Rossbach và Zorndorf[19] – đã chứng tỏ ông là một vị tướng quang vinh, vị vua – chiến binh xuất sắc nhất của nước Phổ,[601] xứng đáng là con của Friedrich Wilhelm I – vị vua đã đánh bại quân Thụy Điển và xâm chiếm tỉnh Pomerania vào năm 1720.[28] Trong bảy năm chinh chiến, ông đã đánh bại được một liên quân chống Phổ đông đảo, điều này chứng tỏ thiên tài quân sự của ông, cũng như khả năng hoàn toàn nắm bắt những nhược điểm hết thuốc chữa của những đế quốc vô địch kia, mà sự đố kỵ giữa các tướng soái Nga và Áo là một ví dụ.[271] Chính ông cũng gửi thư cho nhà văn Voltaire: “Quả nhân có việc cần làm với những tên khốn ngu xuẩn ấy: kiểu này thì chắc chắn là Trẫm sẽ giành thế thượng phong từ tay chúng”.[602] Do đó, ông được xem là một vị tướng trường hợp vô song trong lịch sử,[332] và Hoàng đế Napoléon Bonaparte có nhận định:[603]

Không phải Quân đội Phổ, mà vua Friedrich Đại đế mới là người chống chọi với ba liệt cường để bảo vệ nước Phổ trong suốt bảy năm chinh chiến.
—Napoléon Bonaparte
Chiến thuật đánh lấn vô sườn là chiến thuật thiện nghệ nhất, khoa học nhất và tuyệt hảo nhất! Vua Friedrich Đại Đế đã học hỏi chiến thuật này kỹ hơn bất cứ một ông tướng nào thời cận đại. Trong những đại đồn quân, trong những buổi duyệt binh và trong thời bình, ông đã dạy chiến thuật này cho Quân đội Phổ.
—Một bình luận viên [176]

Trong số những con chiến mã mà ông cưỡi, có sáu con đã bị trúng đạn của đối phương (chẳng hạn như hai con ngựa chết trên chiến trường Kunersdorf[178]). Ông được người đời ca ngợi như một nhà chiến lược kiệt xuất,[39] thiên tài chiến thuật vĩ đại nhất của mọi thời đại. Có được những lời khen ngợi này chủ yếu là do ông thường áp dụng phương pháp tấn công bên sườn nổi tiếng (chẳng hạn như trong trận thắng tại Soor – 1745),[176][187] thực hiện những cuộc tấn công giáp lá cà. Dù lối “tấn công bên sườn” có lẽ đã được Hoàng đế Ba Tư cổ đạiCyrus Đại Đế áp dụng trong trận Thymbra vào năm 548 TCN, nhưng Đại Đế Friedrich II là ông tướng thành công vang dội nhất của lối đánh này ở thế kỷ thứ XVIII, và cho đến ngày nay tên tuổi của ông vẫn luôn luôn gắn liền với lối đánh này.[268] Nếu trận đánh tại Kolin (1757) là một thất bại của chiến thuật “đánh lấn vào sườn”, vài tháng sau Quân đội vua Friedrich II đã giành chiến thắng tuyệt vời nhất của chiến thuật này trong trận chiến tại Leuthen, rồi lại chiến thắng huy hoàng với chiến thuật này tại Torgau (1760).[31][234][289][298] Trong khi chiến thắng lừng lẫy tại Leuthen đã đưa chiến thuật của ông trở nên trứ danh, nhà vua đã ghi nhận về chiến thuật này ngay từ tháng 3 năm 1742, trong hai tập tài liệu giảng dạy ba quân “Seelowitz” (‘Instruction für die Cavalleire’, 17 March, Oeuvres, XXX, 33; ‘Disposition für die sämmtlichen Regimenter Infanterie’, 25 March Oeuvres, XXX, 75),[604] sau làm vang danh đến cả Hoàng gia Áo.[605] Cách bố trí tuyến quân của ông được ví von với danh tướng Epimondas trong trận Leuctra thời Hy Lạp cổ đại,[295] và thể hiện xuất sắc trong các trận chiến Lobositz, Kolin, Rossbach, Leuthen, Kunersdorf, Liegnitz và Torgau.[80]

Không những thế, một yếu tố quan trọng nữa là khả năng chỉ huy các cuộc hành quân của ông, thể hiện qua việc ngăn chặn không cho các kẻ thù của mình tập hợp liên quân lại thành số đông và luôn biết chọn đúng thời điểm và địa điểm để đẩy lùi đối phương khỏi lãnh thổ Vương quốc Phổ. Trước khi dùng một Quân đội tinh nhuệ mà tổng tấn công thắng lợi, nhà vua không hề để cho đối phương biết trước mưu kế của mình.[606] Ông nói: “Nếu Trẫm biết cái chiến bào hiểu những kế hoạch của Trẫm, Trẫm sẽ xé bỏ và đốt nó” – một ý tưởng được vị tướng kiệt xuất của Quân đội Liên minh miền Nam Hoa KỳStonewall Jackson (1824 – 1863) đồng tình.[607] Ông, cùng với Stonewall Jackson và tướng Lucullus thời La Mã cổ đại là những vị thống soái đã cùng với một đội quân nhỏ giành chiến thắng huy hoàng trước những đội quân đông đảo hơn hẳn trên trận tiền.[608] Trong lá thư gửi người mẹ Maria Theresia, Hoàng đế La Mã Thần thánh Joseph II có viết về Đại đế Friedrich II:

Nhà vua nước Phổ đã nghiên cứu kỹ lưỡng về binh lược và đọc những cuốn sách binh pháp. Khi ông ấy nói về những vấn đề có liên quan tới nghệ thuật chiến tranh, mọi thứ trở nên chăm chú lắng nghe một cách lạ thường. Ông ấy không giải thích quanh co luẩn quẩn, mà chỉ nêu ra minh chứng căn cứ trên sự thật và lịch sử cho những gì mà ông ấy xác nhận là đúng – những cái đó giúp ông ấy trở thành một danh nhân lịch sử… Phải công nhận rằng ông ấy là một thiên tài có lời nói đầy sức thuyết phục. Nhưng những gì ông ấy nói có thể lừa dối một người lính hầu không hay chữ.
—Hoàng đế Joseph II[609]

Ngoài ra, nhiều tác giả (chẳng hạn như Adrian Gilbert hay Robin Cross) ghi nhận ông là vị thống soái vĩ đại nhất trong thời đại của ông.[610] [611] Trong các cuộc chiến tranh Silesia và chiến tranh Bảy năm, ông được Vương quốc Anh, và cả những cường quốc phe đối lập như Nga, Áo và Pháp ngưỡng mộ, vì năng lực phi thường của nước Phổ trên chiến trường và trong việc ngoại giao.[612] Có một lần, Quốc vương Anh là George II (1683 – 1760) – anh trai của Công chúa Sophia Dorothea mẹ Đại đế Friedrich II[613] – đã đánh giá ông như “một tên xỏ lá đáng căm ghét, một người bạn xấu xa, một đồng minh xấu xa, một người láng giềng xấu xa – nói chung là kẻ phá rối nguy hiểm nhất trên toàn cõi châu Âu này.”[167] Còn Nữ hoàng Nga Elizaveta Petrovna (từng là một người ngưỡng mộ ông)[210] – trước mối đe dọa từ Quân đội Phổ tinh nhuệ – đã gọi ông là “Quốc vương Nadir Shah thành Berlin”.[614]

Đài kỷ niệm Đại đế Friedrich II tại Marienburg. Dưới chân tượng đài có các Hiệp sĩ Teuton.
Một trong những vị tướng soái kiệt xuất nhất đã từng sinh ra.
—Thomas Carlyle [67]

Giữa bảy năm chinh chiến, ông được giáo dân Kháng Cách ở Anh Quốc và châu Mỹ mệnh danh là “vua Gustav II Adolf thứ hai”.[615] Theo tài liệu “Những nhân vật quân sự nổi tiếng thế giới” của Kha Xuân Kiều – Hà Nhân Học, “Ông mạnh dạn áp dụng phương án chủ động ra tay trước để áp đảo đối phương; tập trung binh lực, tiêu diệt dứt điểm từng đối thủ một; ông luôn quán triệt tư tưởng tấn công đến cùng, không bao giờ buông lõng quyền chủ động tấn công”.[222] Ngay cả Hoàng đế Pháp đồng thời là nhà quân sự nổi tiếng Napoléon Bonaparte (1769 – 1821) đã nghiên cứu về những cuộc chinh phạt của Friedrich II Đại đế. Napoléon cũng công nhận ông là một vị thống soái vĩ đại nhất thời cận đại, thiên tài chiến thuật kiệt xuất nhất mọi thời đại[36] và đặt một tượng nhỏ hình vị vua nước Phổ trong phòng riêng của mình.[616][617] Sau khi đánh tan tác liên quân Áo – Phổ – Nga vào năm 1807, đích thân Napoléon Bonaparte – vốn luôn đồng ý với nhiều chiến thuật của Quốc vương –[617] đã thăm viếng mộ của Friedrich II Đại đế ở thành phố Potsdam và nhận xét với các tướng tá dưới quyền:

Hỡi các Tướng sĩ, nếu vị vua này vẫn còn sống thì hẳn là Trẫm chẳng thể đến được chốn này.
—Napoléon Bonaparte[618]

Trong những năm tháng cuối đời ở chốn đày ải, cựu hoàng Napoléon đã thẳng tay bỉ bác những lời chỉ trích vị tướng soái vĩ đại Friedrich II.[617] Trong những cuộc chiến tranh dưới thời ông, những chiến thắng quyết định và lừng lẫy nhất của Đại đế Friedrich II bao gồm các trận đánh tại Hohenfriedberg (1745), Rossbach (được so sánh với chiến thắng tại Austerlitz của vua Napoléon I), Leuthen (1757) (được so sánh với chiến thắng Wagram của vua Napoléon I và chiến thắng tại Gettysburg trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ 18611865) và Torgau (1760).[289][348] Trong cuộc chiến tranh Bảy năm, Quân đội Phổ của ông liên tiếp giành chiến thắng oanh liệt tại Rossbach và Leuthen chỉ trong vòng một tháng, “điều đó thể hiện một cách hùng hồn nghệ thuật chỉ huy siêu việt cũng như kỹ xảo dụng binh nhuần nhuyễn của Friedrich” – theo hai tác giả Kha Xuân Kiều và Hà Nhân Học.[248] Chiến thắng huy hoàng đầu tiên tại Mollwitz, những trận đánh nêu trên cùng với chiến thắng tại Zorndorf trước quân Nga (được xem là chiến thắng đáng nhớ nhất của ông trong bảy năm chinh chiến, và so sánh với chiến thắng Antietam thời nội chiến Hoa Kỳ)[348] đã khiến cho toàn bộ Âu châu phải sững sờ trước sự táo bạo vị vua – chiến binh – triết gia;[23][138][619] ngay cả đế quốc Ottoman cũng phải ngưỡng mộ nhà vua khi hay tin ông đại phá liên quân, và họ hô “Đế chế Brandenburg! Đế chế Brandenburg” trên khắp đường phố Constantinopolis.[172] Trong khi tên tuổi ông nổi như sóng cồn, ông đập tan quân Pháp, quân Áo và quân Nga – ba liệt cường hùng mạnh nhất trên lục địa Âu châu thời đó – trong vòng chưa đầy một năm.[252] Napoléon Bonaparte cho rằng chỉ một trong số những trận đại thắng ấy cũng đủ cho “tên tuổi của Friedrich lưu danh thiên cổ và đứng vào hàng ngũ các danh tướng vĩ đại nhất trên thế giới”[248], còn đại văn hào Voltaire ghi nhận:[620]

Vua Gustav II Adolf cũng không thể có những chiến công vang dội như vua Friedrich II. Do đó, chúng ta hãy quên đi những thói xấu của nhà vua… Hình ảnh một ông vua tàn bạo đang biến mất trước hình ảnh một ông vua kiêu hùng (Friedrich II)!
—Voltaire

Vua Friedrich II Đại Đế cũng được xem là nhà chinh phạt vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc Phổ, nhà chinh phạt của cả châu Âu,[86] với chiến thắng kinh điển tại Leuthen, mọi tướng tá của các Quân đội khác đều đua nhau cạnh tranh với ông.[241][569] Bên cạnh đó, nhà sử học quân sự và chính trị người Đức là Hans Delbrück (1848 – 1929) đã phê phán “chiến tranh tiêu hao” trong tác phẩm Die Strategie des Perikles, điều này đồng nghĩa với việc Hans Delbrück xem ông là một chiến binh thiếu anh hùng.[621] Delbrück cho biết, nhà vua nước Phổ và danh tướng thành Athena Perikles là những nhà cầm quân tiêu biểu của “chiến tranh tiêu hao”.[622] Trong một buổi lễ đọ sức giữa các đoàn quân của các cường quốc vào năm 1867 ở thành phố Paris, đoàn quân Phổ chiến thắng và Đại Đế Friedrich II cùng Hoàng đế Napoléon được ca ngợi là “những người chiến hữu”.[623] Qua việc ông đưa nước Phổ lên làm cường quốc quân sự hàng đầu sau ba cuộc chiến tranh xứ Silesia, ông được tôn vinh là một trong 50 vị lãnh tụ quân sự đã làm thay đổi cả thế giới.[624]

Trước khi cơn bão đang ập tới, Trẫm phải suy ngẫm, sống và chết với tư cách là một Quân vương.
—Friedrich Đại đế [625]
Giờ đây, chúng ta có lẽ đang sống vào thời vua Friedrich, với những trận chiến khốc liệt và mang tính quyết định. Vua Friedrich II từng bị đánh bại thảm hại trong các trận Kolin, Hochkirch và Kunersdorf. Hậu quả của những trận này là những thảm họa kinh khủng, còn tệ hại hơn hẳn những trận đánh mấy tuần nay trên mặt trận phía Đông. Tuy nhiên, sau trận Kolin là chiến thắng Leuthen, sau các trận Hochkirch và Kunersdorf là những chiến thắng tại Liegnitz, Torgau và Burkersdorf – và cuối cùng là thắng lợi quyết định của Quân đội Phổ trong bảy năm chinh chiến
—Thông điệp của Chính phủ Đức Quốc Xã sau chiến bại Stalingrad (1943) [242]

Tượng Quốc vương Phổ cưỡi ngựa, tác phẩm của Christien Daniel Rauch.

Nhà nghiên cứu quân sự người Mỹ là Michael Lee Lanning đã xếp Đại đế Friedrich II vào nhóm 100 vị thống soái có ảnh hưởng nhất trong lịch sử, (xếp ở vị trí 11) trong cuốn “The Military 100: A Ranking of the Most Influential Military Leaders of All Time by LTC Michael Lee Lanning, USA (Ret)”.[626] Đứng ngang hàng với Vương công Eugène xứ Savoie, John Churchill, Quận công Marlborough thứ nhất, Hoàng đế Pháp Napoléon Bonaparte và Arthur Wellesley, Công tước thứ nhất của Wellington là năm vị danh tướng kiệt xuất thời cận đại, ông nổi bật giữa hàng ngũ này với tư cách là một vị vua kiên quyết đến mức bất khuất:[211] Sau này, Đế chế thứ ba của người Đức có nguy cơ sụp đổ, vị vua huyền thoại này thể hiện cho niềm hy vọng và sự lặp lại một “Phép lạ của nhà Brandenburg”. Là vị vua đã làm cho cỗ máy quân sự Phổ trở nên tuyệt hảo,[627] cách cầm chân liên quân chống Phổ mà ông không hề lung lay sau trận thảm bại tại Kunersdorf (1759) được hậu thế ca ngợi như một bài học lịch sử; trong khi tại ngôi làng nghèo Bunzelwitz, cái trại của ông đã trở nên nổi tiếng thế giới.[315] Trong giai đoạn cuối cuộc Chiến tranh thế giới thế lần thứ hai, người ta xem ông như một “minh chứng lịch sử”, rằng sự quả quyết và sức mạnh ý chí có thể giúp cho vị tướng lĩnh giữa vòng vây đến một ngày nào đó sẽ giành lấy thế thượng phong.[628] Nhưng trong 1 lần đại thắng, ông – trên tinh thần chủ nghĩa thế giới – vẫn đối xử tốt với các tù binh.[250] Ông được xem là một nhà tư tưởng quân sự lỗi lạc, trở nên lão luyện với nhiều chiến dịch lừng lẫy.[29][268]

…Những sai lầm của ông đã bị che khuất bởi những trận đánh vĩ đại, những pha đánh lừa đẹp mắt, những quyết định táo bạo và những yếu tố này đã giúp ông đánh thắng các nước thù địch trong những cuộc chiến tranh. Trước hết, Ta phải nói ông vua này thật vĩ đại trong hoàn cảnh khó khăn: đây là một điều mà người ta phải nhớ nhất khi nói đến ông.
—Napoléon (Bộ thư từ của cựu hoàng Pháp, 1816).[617][629]

Đại Đế Friedrich II trong văn hóa cận – hiện đại

Đương thời, do quá ngưỡng mộ Đại Đế Friedrich II và các danh tướng của ông, nhà tiểu luận Thomas Abbtt đã cho ra mắt tác phẩm “Người ta hy vinh vì quê cha đất tổ” (1761) để tỏ lòng kính trọng ông, sau trận đánh khốc liệt tại Kunersdorf.[407][630] Vốn đã mong muốn dựng đền tưởng niệm Đại Đế Friedrich II và các vĩ nhân người Đức, vua Ludwig I của Bayern đã cho người xây đền Walhalla vào thế kỷ XIX.[631] Người ta đã đặt tượng bán thân nhà vua nước Phổ trong ngôi đền này.[632]

Friedrich Đại Đế là một người đàn ông, một tác gia, một chiến binh và một vị vua, do đó rất cần có một cuốn tiểu sử viết về ông; có lẽ còn hơn vua Karl XII… vua Fritz dũng cảm…
—Thomas Carlyle[633]

Nhà vua nước Phổ

Vào năm 1793, nhà kiến trúc cổ điển người Đức Gottfried Shadow đã tạc bức tượng nổi tiếng nhất của ông: tượng Đại đế Friedrich II tại thành phố Stettin.[634] Vào năm 1851, để kỷ niệm vị Quốc vương lừng danh nhất của Đế quốc Phổ,[635] nhà điêu khắc Christian Rauh đã xây dựng một tượng đài “Ông già Fritz” bằng đồng trên đường phố kinh thành Berlin.[636] Vào năm 1858, nhà văn Thomas Carlyle xuất bản cuốn “History of Friedrich II of Prussia” (Tập tiểu sử Friedrich II của Phổ), thuật lại cuộc đời và sự nghiệp của “vị Quốc vương cuối cùng trong các vị Quốc vương” – người anh hùng thiên cổ của ông Carlyle.[230][637] Truyện về người anh hùng này là tác phẩm được Thomas Carlyle viết hăng say nhất, do Thomas Carlyle thích câu nói của ông:[633]

Chúng ta sẽ làm tốt hơn trong thời gian tới.
—Friedrich Đại Đế

Tài năng lãnh đạo và nghị lực của nhà vua nước Phổ luôn được Thomas Carlyle khen ngợi.[29] Vào năm 1933, tem thư in hình Đại đế Friedrich II được sản xuất ở nước Đức, nhân ngày lễ Potsdam.[638] Cùng năm đó, Đức Quốc xã cho ra mắt bộ phim đầu tiên nói về vị anh hùng dân tộc Đức: “Der Choral von Leuthen” (Bài thánh ca vùng Leuthen), theo đó ông là vị Quân vương sáng suốt vô bờ vô bến, với vốn kiến thức phong phú hết chỗ nói. Ông không nghe theo lời khuyên của tướng sĩ trong trận đánh tại Leuthen, để rồi đại phá quân Áo và bảo vệ non sông nước nhà. Đế chế Đức thứ ba đã làm không ít bộ phim nhưng chẳng nói về “Người nghệ sĩ – triết gia” thời kỳ Khai sáng, mà đề cập đến “Vị Quốc vương đáng kính… đã đưa nước Phổ lên hàng liệt cường sau chiến thắng trong vài cuộc chiến tranh – người chiến binh anh dũng nước Phổ”[639].

Vào năm 1935, bộ phim “Vị vua già và vị vua trẻ” (Der alte und der junge Konig) được phát hành ở Đức, nói về mối quan hệ giữa Hoàng tử Friedrich và bạo chúa Friedrich Wilhelm I.[640] Do vua cha quá độc ác, Friedrich có ý định thay đổi vua cha, nhưng không thành công và đi theo con đường phản nghịch. Nhưng sau đó ông thay lòng đổi dạ và quyết định sẽ trở thành người chiến binh xuất sắc, cùng cha hết lòng vì sự huy hoàng của non sông đất nước. Năm sau (1936), Johannes Meyer sáng tác phim “Đức Vua Fredericus” (hay “Ông già Fritz”), đại ý nói về việc ông bị quân Áo đánh bại, liên quân Nga – Áo vây hãm nước Phổ, nhưng sau đó ông xuất binh thắng lợi và trở về xây dựng Đế chế Phổ – Brandenburg phồn vinh phú cường. Vào năm 1942, Veit Harlan sáng tác phim “Đức Vua vĩ đại” (Der große König): Otto Gebühr vào vai ông, với nội dung là sau chiến bại Kunersdorf, Nữ hoàng Áo hay tin nước Phổ đã bị tiêu diệt, toàn bộ Quân đội và Nhân dân Phổ đều đề nghị ông tái lập hòa bình, nhưng ông từ chối, để rồi xuất binh và giành chiến thắng huy hoàng trước liên quân hùng mạnh trong trận chiến Leuthen, ai ai cũng phải thán phục ông. Tuy quân Nga thiết lập liên minh chống Áo, nhà vua nước Phổ không hề tin tưởng họ.[639]

Tượng Đại đế Friedrich II tại Sanssouci (thành phố Potsdam).

Vào năm 1884, Đại tá Quân đội Anh là Charles Booth Brackenbury cũng viết một tác phẩm được đánh giá cao, thuật lại tiểu sử của vị thống soái lỗi lạc Friedrich II Đại Đế[641]. Trong bộ phim “Der Untergang” (Sự sụp đổ) do Đức sản xuất năm 2004, Adolf Hitler ngồi trong một căn phòng tối và nhìn chằm chằm vào bức tranh vẽ Đại đế Friedrich II. Có lẽ đoạn phim này chứng tỏ niềm ao ước của nhà độc tài Đức Quốc xã về một phép lạ khác của Nhà Brandenburg. Ít lâu sau đó Adolf Hitler tự sát.

Trong bộ phim Patton sản xuất năm 1970, Tướng Hoa Kỳ George S. Patton đã trích dẫn sai rằng Đại đế Friedrich II nói: “L’audace, l’audace, toujours l’audace!” (“Táo bạo, táo bạo — thường xuyên táo bạo!”).

King of Prussia, Pennsylvania, được theo tên quán King of Prussia. Bản thân quán này cũng được đặt tên là “King of Prussia” (Nhà vua nước Phổ) để tôn vinh Đại đế Friedrich II.[642]

Đường Phổ Quốc (“Prussia Street”) tại thủ đô Dublin, Ireland được theo tên của vua Friedrich II Đại đế.[643]

Friedrich II Đại đế xuất hiện trong loạt game vi tính Civilization, các game vi tính Age of Empires III, Empire Earth II, Empire: Total War. Ông cũng là nhân vật trong các board game Friedrich và “Soldier Kings” (Những vị vua chiến binh).

Ngoài ra, nhà vua nước Phổ còn là nhân vật chính trong truyện đọc trực tuyến trên Internet (webcomic) Frederick the Great: A Most Lamentable Comedy Breaching Space and Time.

Trong manga Hetalia: Axis Powers, vua Friedrich II Đại đế được gọi là “Cụ già Fritz” – ông chủ của nhân vật Gilbert Beillschmidt (Phổ).

Không những thế, ông còn được đề cập đến vài lần trong bộ phim Barry Lyndon do Stanley Kubrick sản xuất năm 1975. Trong phim này, ông được gọi là “vua Frederick vĩ đại và lừng lẫy”. Quân đội Phổ dưới triều đại ông vừa được khen ngợi vừa bị chỉ trích. Điều này thể hiện qua một đoạn trích trong phim:

Trong suốt 5 năm cuộc chiến tranh diễn ra đến nay, vua Frederick vĩ đại và lừng lẫy đã làm kiệt quệ trai tráng trong Vương quốc của mình đến nỗi Ngài phải thuê những người tuyển mộ bất chấp thủ đoạn nào, kể cả bắt cóc, để cung cấp tân binh cho những trung đoàn khải hoàn của Ngài.
—”Barry Lyndon”

Phả hệ

Đại Đế Friedrich II là anh trai của Louise Ulrike – mẫu hậu của vua Thụy Điển Gustav III.[644] Vào thập niên 1770, vua Gustav III đến thăm thành phố Potsdam và Đại Đế Friedrich II đã chỉ dạy việc trị quốc đúng đắn cho cháu mình.[141]

Friedrich Wilhelm
Tuyển hầu tước xứ Brandenburg
Louise Henriette xứ Orange-Nassau Ernest Augustus
Tuyển hầu tước xứ Brunswick-Lüneburg
Sophia
Quận chúa vùng Rhine
George William
Vương công xứ Brunswick-Lüneburg
Eleonore d’Esmier d’Olbreuse
Friedrich I
của Phổ
Sophia Charlotte
xứ Hanover
George I
của Anh
Sophia Dorothea
xứ Celle
Friedrich Wilhelm I của Phổ Sophia Dorothea xứ Hanover
Friedrich II của Phổ

Xem thêm

xem tiếp…

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Advertisements