Chào ngày mới 19 tháng 1


CNM365. Chào ngày mới  19 tháng 1; Đào Thế Tuấn chân dung người Thầy. Giáo sư Viện sỹ Đào Thế Tuấn mất ngày 19 tháng 1 năm 2011 tại Hà Nội. Giáo sư Viện sĩ Đào Thế Tuấn là chuyên gia khoa học nông nghiệp hàng đầu Việt Nam  trong lĩnh vực kinh tế phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, là người Thầy của đông đảo cán bộ lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu, giảng dạy và học sinh, sinh viên nông học, kinh tế nông nghiệp, phát triển nông thôn Việt Nam, người bạn thân thiết của nhà nông. Ngày 19 tháng 1 năm 1974, Hải quân Trung Quốc giành chiến thắng trong Hải chiến Hoàng Sa trước Hải quân Việt Nam Cộng hòa, và bắt đầu sự chiếm đóng hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa. Ngày 19 tháng 1 năm 1990, ngày mất Osho, thiền sư và bậc thầy tâm linh nổi tiếng người Ấn Độ (sinh năm 1931). Ngày 19 tháng 1 năm 1929, ngày mất Lương Khải Siêu, (1873 – 1929),  nhà tư tưởng, giáo sư, chính khách, chủ báo và là nhà hoạt động chính trị lỗi lạc Trung Quốc thời cận đại; Bài chọn lọc ngày 19 tháng 1: Đào Thế Tuấn chân dung người ThầyTỉnh lặng với Osho; xem tiếp… https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-19-thang-1/

ĐÀO THẾ TUẤN CHÂN DUNG NGƯỜI THẦY
Mai Văn Quyền, Hoàng Kim

Giáo sư Viện sĩ Đào Thế Tuấn là chuyên gia khoa học nông nghiệp hàng đầu Việt Nam  trong lĩnh vực kinh tế hộ nông dân, kinh tế phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Thầy là người thầy người bạn thân thiết của nhà nông, của đông đảo cán bộ lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu, giảng dạy và học sinh, sinh viên nông học, kinh tế nông nghiệp, phát triển nông thôn Việt Nam. Di sản của Thầy là con người và trí tuệ minh triết phát triển nông nghiệp bền vững, sinh thái nông nghiệp, sinh lý cây lúa, chuyển đổi mùa vụ, lời tâm huyết còn mãi với thời gian. Lời của Thầy nhắc chúng ta nhớ lại những quyết sách cực kỳ quan trọng của cụ Đào Duy Từ, và những nhận định tuyệt vời của nhà sử học bách khoa toàn thư Đào Duy Anh.
Tiến sĩ Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam viết về giáo sư viện sĩ Đào Thế Tuấn: “Không còn nữa nhà trí thức tài hoa Đào Thế Tuấn; người yêu nước từ thủa ấu thơ, khi có giặc thì cầm súng bảo vệ tổ quốc, khi hoà bình thì nghiên cứu hạt lúa, củ khoai; người lãnh đạo mà tài sản quí nhất trong nhà chỉ là sách vở. Nhưng còn mãi với chúng ta giọng nói miền Trung sang sảng của giáo sư khẳng khái tranh cãi học thuật; mãi còn đó nụ cười hóm hỉnh, dí dỏm của Giáo sư khi bàn bạc về lẽ đời; nhớ mãi dáng vẻ ngơ ngác, cặm cụi tìm tòi của con người mà trí tuệ và lòng bao dung vượt qua những trăn trở đời thường. Chỉ có tương lai mới cho chúng ta biết đã mất gì khi mất đi Đào Thế Tuấn và cũng chỉ có thời gian mới cho chúng ta biết mình được gì do ông để lại. Vĩnh biệt Giáo sư Đào Thế Tuấn – Con Người tuyệt đẹp của một Gia Đình tuyệt đẹp”. Đọc tiếp … https://hoangkimlong.wordpress.com/category/dao-the-tuan-chan-dung-nguoi-thay/

Đào Thế Tuấn cuộc đời và sự nghiệp

Giáo sư Viện sĩ Đào Thế Tuấn sinh ngày 4 tháng 7 năm 1931 tại TP. Huế, nguyên quán ở Khúc Thủy, Thanh Oai, Hà Tây cũ (nay là Hà Nội). Giáo sư là con trai trưởng của cụ Đào Duy Anh, học giả bách khoa toàn thư nổi tiếng thời hiện đại, hậu duệ của một dòng họ lỗi lạc trong lịch sử. Mẹ của giáo sư là bà Trần Như Mân một nhà giáo và hoạt động xã hội.  Giáo sư Viện sỹ Đào Thế Tuấn mất ngày 19 tháng 1 năm 2011 tại Hà Nội.

Giáo sư là tiến sỹ đầu tiên của Việt Nam được Liên Xô đào tạo.Từ tháng 8/1953 đến cuối năm 1958, Thầy vừa hoàn thành chương trình kỹ sư nông học vừa học chuyển tiếp sinh và bảo vệ thành công luận án tiến sỹ nông học ở Trường Đại học Nông nghiệp Tachkent.. Cuối năm 1958 Thầy về nước và làm giảng viên sinh lý thực vật kiêm trưởng phòng khoa học của Học viện Nông Lâm. Sau nhiều năm làm việc miệt mài, với hàng trăm công trình nghiên cứu về sinh thái nông nghiệp, sinh lí cây lúa, chuyển đổi mùa vụ sản xuất nông nghiệp, hệ thống nông nghiệp, phát triển nông nghiệp bền vững, nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng,, giáo sư Đào Thế Tuấn trở thành chuyên gia khoa học hàng đầu trong lĩnh vực kinh tế phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, người Thầy của đông đảo cán bộ lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu, giảng dạy và học sinh, sinh viên nông học, kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, người bạn thân thiết của nhà nông.

Giáo sư Đào Thế Tuấn là Phó Viện trưởng (1976), Viện trưởng Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (1983). Phó Chủ nhiệm Chương trình nghiên cứu về Phát triển nông thôn KX-08 (1990), đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam trên 60 năm tuổi đảng; giáo sư năm 1985, thành viên nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Liên Xô (1985); Huân chương Công trạng nông nghiệp hạng Nhất, hạng Hai và hạng Ba, Huân chương Cành cọ Hàn lâm hạng Hai của Pháp (1991); Huân chương Chiến thắng Hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Lao động hạng Hai. Anh hùng Lao động do Đảng và Nhà nước Việt Nam phong tặng (2000); Giải thưởng quốc tế René Dumont dành cho các nhà nông học các nước đang phát triển (2003); Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ (2005); Huân chương Bắc đẩu bội tinh do Chính phủ Pháp trao tặng (2009).

Giáo sư Viện sĩ Đào Thế Tuấn là tấm gương mẫu mực của một nhà khoa học chân chính, suốt đời gắn bó với nông dân, nông nghiệp, nông thôn.

Tác phẩm chọn lọc của GS Đào Thế Tuấn bao gồm:

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn, những vấn đề không thể thiếu trong phát triển bền vững
An ninh lương thực cần một chiến lược dài hạn
1 triệu ha lúa lai chạy theo số lượng sẽ lĩnh hậu quả xấu
Hỗ trợ tổ chức sản xuất nông nghiệp miền Bắc Việt Nam (Nhà xuất bản Nông nghiệp, năm 2000)
Ứng dụng phương pháp mô hình hoá toán học để xây dựng quy trình kỹ thuật trồng lúa cho cấp huyện
Công nghệ sản xuất lúa ở ĐB sông Hồng
Hệ thống nông nghiệp phát triển bền vững
Đào Thế Tuấn 1997. Kinh tế hộ nông dân. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Đào Thế Tuấn 1986. Chiến lược phát triển nông nghiệp. NXB Nông nghiệp, 115 trang
Đào Thế Tuấn 1984. Hệ sinh thái nông nghiệp. NXB Khoa học và kỹ thuật, 174 trang
Đào Thế Tuấn, Phạm Đình Vụ 1978. Kỹ thuật trồng ngô vụ đông. NXB Nông nghiệp, 67 trang
Đào Thế Tuấn.1977. Cơ sở khoa học của việc xác định cơ cấu cây trồng hợp lý. NXB Nông nghiệp, 131 trang
Đào Thế Tuấn 1975. Cuộc cách mạng về giống cây trồng NXB Khoa học và kỹ thuật, 127 trang
Đào Thế Tuấn, 1970. Sinh lí của ruộng lúa năng suất cao. NXB Khoa học và kỹ thuật, 355 trang.
Đào Thế Tuấn 1969. Bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý ở hợp tác xã sản xuất nông nghiệp.NXB Nông thôn,75 trang
Đào Thế Tuấn 1969. Đời sống cây trồng. NXB Khoa học, 152 trang.

Tâm hương đưa tiễn có chứa đựng nhiều thông tin liên quan
Vĩnh biệt GSVS Đào Thế Tuấn: Nhà trí thức của nông nghiệp, nông dân và nông thôn (VAAS)
GS – VS Đào Thế Tuấn: Nhà tri thức lớn của nông nghiệp, nông thôn (CAND –  PGS.TS. Nguyễn Văn Bộ)
Vĩnh biệt GS.VS, anh hùng nông học Đào Thế Tuấn ( VEF- Vũ Trọng Bình)
Tưởng nhớ GS Đào Thế Tuấn, nhà khoa học nông nghiệp hàng đầu (Báo NNVN- TS. Lê Hưng Quốc)
GS. Đào Thế Tuấn – Con Người tuyệt đẹp (Báo Tia Sáng – TS. Đặng Kim Sơn)
Vĩnh biệt Thầy Đào Thế Tuấn (Blog Dạy và Học – TS Hoàng Kim)
GS-VS Đào Thế Tuấn: Anh hùng nông học giữa Hà thành (Báo Thể thao và Văn Hóa – Nguyễn Yến)

Đào Thế Tuấn trang văn gửi lại

Giáo sư Viện sĩ Đào Thế Tuấn có nhiều trước tác gửi lại nhưng theo ý chúng tôi thì có bốn tài liệu rất ngắn và rất đáng quan tâm: Một là bài viết “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn, những vấn đề không thể thiếu trong phát triển bền vững”. Hai là bài nói  “Đừng để nông dân thêm yếu thế trong cơ chế thị trường” GSVS. Đào Thế Tuấn trả lời phỏng vấn Báo VietNamNet ngày 30 tháng 3 năm 2008, Hà Yên thực hiện. Ba là  bài nói “Phải xây dựng xã hội dân sự ở nông thôn” Giáo sư viện sĩ Đào Thế Tuấn trả lời phỏng vấn Tuần Việt Nam (trích dẫn nguồn IPSARD ngày 7.7.2009, Viện Chính sách Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn, Đoan Trang thực hiện) nhân sự kiện ĐSQ Pháp ở Hà Nội đã tổ chức lễ trao Huân chương hạng nhất của Chính phủ Pháp cho Giáo sư. Bốn là  bài nói ‘Bài toán “tam nông” thời kỳ đô thị hóa’ GS-VS Đào Thế Tuấn trả lời phỏng vấn Báo Thể thao & Văn Hóa do Nguyễn Yến thực hiện trong bài viết ‘Anh hùng nông học giữa Hà thành’ ngày 2. 8. 2010.

Vì giá trị của những lời tâm huyết, chúng tôi xin dẫn nguyên văn mà không bình luận

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn – những vấn đề không thể thiếu trong phát triển bền vững

Đào Thế Tuấn
Viện sĩ, Chủ tịch Hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

“Ở nước ta, phát triển nông nghiệp có liên quan mật thiết đến tính bền vững của sự phát triển. Nếu khoảng cách giữa thành thị và nông thôn ngày càng tăng, phân hóa xã hội quá mức thì dù có đạt được sự tăng trưởng cao chưa thể coi là đã có phát triển. Hơn thế nữa, nông nghiệp, nông dân và nông thôn là ba vấn đề tuy khác nhau, nhưng nếu không cùng được giải quyết một cách đồng bộ thì không thể công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước một cách thành công được.

1 – Vấn đề nông nghiệp

Hiện nay, có ý kiến cho rằng, nông nghiệp nước ta đã phát triển tương đối tốt. Đặc biệt, chúng ta xuất khẩu được nhiều nông sản trong điều kiện giá lương thực và nông sản thế giới đang tăng. Tuy nhiên, thực tế không hẳn là như vậy, vẫn còn nhiều bất cập khiến chúng ta phải quan tâm nhiều hơn đến sự phát triển của nông nghiệp. Tỷ trọng của nông nghiệp trong sản phẩm quốc nội (GDP) giảm dần, nhưng không có nghĩa là vai trò của nông nghiệp ngày càng giảm. Thực tế cho thấy, Hoa Kỳ và Pháp, hai nước có nền công nghiệp phát triển vào bậc nhất thế giới cũng là hai nước xuất khẩu nông sản lớn nhất thế giới. Ngược lại, các nước Đông Á, vốn được coi là giải quyết tốt vấn đề nông nghiệp song song với công nghiệp hóa, thì hiện nay phải nhập khẩu lương thực và nông sản ngày càng nhiều, vì nông nghiệp đã giảm sút nghiêm trọng(1). Việc các nước đã phát triển đang phải trợ cấp cho nông nghiệp rất nhiều làm cho các nước đang phát triển gặp không ít khó khăn là cái giá phải trả cho việc đã không chú ý đến nông nghiệp trong thời kỳ công nghiệp hóa.

Các nước đang phát triển hiện nay có dư lượng lao động nông thôn quá cao, và ngày càng tăng. Chẳng hạn, ở Trung Quốc, dự báo vào năm 2020, nông nghiệp trong GDP còn 5%, lao động nông nghiệp còn 35% và lao động nông thôn còn 45%. ở nước ta, theo dự báo của chúng tôi, cũng vào năm ấy, nông nghiệp trong GDP sẽ còn 10%, lao động nông nghiệp vẫn còn 23%. Như vậy, ngay khi đã công nghiệp hóa thành công, vai trò của nông nghiệp ở các nước đang phát triển vẫn còn cao, về thực chất vẫn còn là nước công – nông nghiệp. Do vậy, chúng ta không thể sao nhãng việc phát triển nông nghiệp, mà phải coi nó như một trong những mục tiêu trọng tâm của phát triển kinh tế.

Vấn đề lớn của nông nghiệp nước ta sau thời kỳ đổi mới là chất lượng nông sản còn thấp, vì chủ yếu xuất khẩu nông sản thô, quy mô sản xuất nhỏ nên giá thành cao, năng suất lao động thấp. Muốn tăng giá trị nông sản, cần cải tiến chất lượng sản phẩm bằng cách phát triển các sản phẩm có xuất xứ địa lý, sản phẩm bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh và an toàn thực phẩm quốc tế và sản phẩm hữu cơ. Để làm được việc này, cần xây dựng một thể chế quản lý chất lượng nông sản đi đôi với việc phát triển công nghiệp chế biến nông sản.

Thể chế thị trường nông sản, nếu chủ yếu chỉ dựa vào quan hệ nông dân – doanh nghiệp theo kiểu hợp đồng nông nghiệp sẽ dẫn đến sự độc quyền của doanh nghiệp chế biến và lưu thông. Nông dân, những người sản xuất trực tiếp vẫn chịu nhiều thiệt thòi. Muốn giải quyết tình trạng này, phải phát triển các hợp tác xã bao gồm cả hoạt động chế biến và buôn bán, lưu thông thì việc phân phối thu nhập mới được công bằng. Nhà nước không thể trợ giúp nông dân thông qua các doanh nghiệp nhà nước, vì thu lợi nhuận là mục tiêu chính và trước hết của doanh nghiệp, bởi vậy, phải thực hiện các hỗ trợ của Nhà nước thông qua các dịch vụ công. Hiện nay, các dịch vụ công phục vụ phát triển nông nghiệp còn yếu, đặc biệt các hộ nghèo ít được hưởng lợi. Chúng ta đã xây dựng được một số hệ thống cung cấp dịch vụ công do các tổ chức nông dân thực hiện cùng với Nhà nước và thị trường, cho phép nâng cao hiệu quả của việc cung cấp dịch vụ cho nông dân, tới đây cần nhân rộng các mô hình này.

Một vấn đề khác là, giá đầu vào của sản xuất nông nghiệp đang tăng mạnh, giá nông sản không theo kịp, nông dân không còn hăng hái với sản xuất nông nghiệp, lao động nông thôn đang bỏ ra đô thị kiếm việc làm, lao động nông nghiệp đang bị nữ hóa, già hóa và chuyển từ thâm canh sang quảng canh, chăn nuôi và nghề phụ đang bị giảm sút… Giá một số nông sản như lúa mì, ngô, đậu tương đang tăng rất nhanh trên thị trường thế giới mà chúng ta vẫn nghĩ đến việc nhập khẩu, không nhân cơ hội này để phát triển sản xuất trong nước. Nông thôn đang có xu hướng quay trở về độc canh cây lúa, từ bỏ việc đa dạng hóa sản xuất. Trong điều kiện này, chúng ta thiếu các biện pháp để chuyển đổi cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, thiếu biện pháp để tăng năng suất lao động. Tình trạng này sẽ dẫn đến nguy cơ mất an ninh lương thực và thực phẩm như các nước công nghiệp mới ở Đông á và Đông – Nam á. Theo dự báo của các tổ chức quốc tế, trong thế kỷ XXI, thế giới sẽ thiếu lương thực, đây có phải là một thời cơ cho chúng ta phát triển nông nghiệp không?

Khoa học – kỹ thuật phục vụ nông nghiệp nước ta chưa phát triển. Các câu hỏi của công nghệ nông nghiệp thế kỷ XXI như vấn đề hướng công nghệ sinh học bảo đảm các nguy cơ đối với sức khỏe của con người và môi trường, vấn đề nông nghiệp hữu cơ với dự báo sẽ chiếm lĩnh thị trường nông sản thế giới, vấn đề phòng chống hiện tượng nóng lên của khí quyển, nước biển dâng cao làm ngập các đồng bằng – vốn được coi là những vựa lúa của nước ta, vấn đề nông nghiệp chính xác áp dụng công nghệ định vị, vấn đề nông nghiệp thẳng đứng hay không đất để giải quyết vấn đề thiếu đất và bảo vệ môi trường…., hầu hết vẫn chưa tìm được câu trả lời.

Các vấn đề biến đổi khí hậu và rủi ro trong nông nghiệp ngày càng tăng, mà chúng ta chưa có các biện pháp bảo vệ nông nghiệp, chống thiên tai và rủi ro. Hệ thống bảo hiểm chống thiên tai và rủi ro mặc dù phức tạp, nhưng không phải không có cách thực hiện được.

Chúng ta cũng chưa có một chiến lược công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn, hiện đại hóa nông nghiệp như thế nào trong điều kiện đất ít, người đông, quy mô sản xuất nhỏ, năng suất lao động thấp.

2 – Vấn đề nông dân

Một thực tế là, nông dân còn quá nghèo, việc giải quyết giảm nghèo chưa gắn liền với phát triển kinh tế nông thôn nên chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo vẫn còn rất cao. Nông dân là bộ phận công dân ít được hưởng phúc lợi xã hội, nhất là về giáo dục, y tế. Những vấn đề xã hội ở nông thôn chưa được giải quyết một cách cơ bản như: bảo hiểm thiệt hại do thiên tai và thị trường, bảo hiểm xã hội. Theo kinh nghiệm của các nước, không thể chỉ giải quyết các vấn đề xã hội của nông thôn bằng các biện pháp thị trường.

Nông dân thiếu việc làm ở nông thôn phải di cư ra thành thị để tìm việc, làm thuê với giá lao động rất thấp và bị đối xử như “công dân loại hai”, mặc dù họ là động lực chủ yếu của công cuộc đổi mới. Chưa có một quy hoạch chuyển đổi cơ cấu lao động, rút lao động ra khỏi nông thôn và nông nghiệp. Nông dân tham gia thị trường lao động nhưng không được đào tạo nghề, không được Nhà nước hỗ trợ như trước kia đã làm trong các chương trình kinh tế mới. Do vậy, cần có một hệ thống biện pháp đồng bộ giúp đào tạo nông dân, đó chính là biện pháp để xây dựng giai cấp công nhân mới. Đây cũng là giải pháp hữu hiệu giúp cho lớp người này không trở thành “vô sản lưu manh”, kéo theo đó là tội phạm và tệ nạn xã hội.

Một điều tối quan trọng là, quyền lợi của nông dân chưa được bảo vệ vì thiếu nghiệp đoàn nông dân. Nông dân là bộ phận yếu thế nhất, không có quyền mặc cả trên thị trường, nên quan hệ giữa thương nghiệp với nông dân đang diễn ra thiếu công bằng. Nông dân còn thiếu chủ quyền về đất đai, bị mất đất mà không có ai bênh vực. Việc đầu cơ ruộng đất làm giá bất động sản lên cao một cách giả tạo, nhưng nông dân cũng không được hưởng lợi gì từ việc này. Tình trạng này có nguyên nhân từ sự quản lý, kiểm soát của Nhà nước. Ngay ở một số nước có sở hữu đất tư nhân, nhà nước vẫn kiểm soát việc sử dụng đất một cách chặt chẽ.

Để phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa có hiệu quả và năng suất lao động cao, con đường đúng đắn không phải là xóa bỏ kinh tế hộ nông dân, phát triển trang trại, mà là tổ chức hợp tác xã kiểu mới có chế biến nông sản và buôn bán chung nhằm mở rộng quy mô sản xuất, thực hiện thương nghiệp công bằng. Hiện nay, chúng ta đang thiếu một hệ thống dịch vụ trợ giúp cho nông dân xây dựng các hợp tác xã kiểu mới, bắt đầu từ việc xây dựng các tổ hợp tác để tiến lên hợp tác xã. Đây là biện pháp cơ bản để tiếp tục phát triển kinh tế gia đình nông dân, bắt đầu từ “Khoán 10”, chuyển hộ nông dân thành nông trại gia đình như ở các nước tiên tiến.

Thế nhưng, hạn chế cố hữu của nông dân ở nước ta là tính thụ động, chờ đợi sự hỗ trợ, trừ một số vùng đặc biệt có vốn xã hội cao. Hiện nay, có nhiều vùng nông dân rất năng động nhưng chúng ta chưa thực hiện được việc tổ chức nghiên cứu các trường hợp ấy để có thể chuyển giao tính năng động sang các vùng khác.

3 – Vấn đề nông thôn

Trong quá trình đổi mới, khoảng cách giữa thành thị và nông thôn ngày càng xa nhau, do chưa có chiến lược đổi mới hiệu quả.

Nông nghiệp mâu thuẫn với phát triển nông thôn. Các vùng phát triển nông nghiệp mạnh thì không chuyển đổi được cơ cấu kinh tế nông thôn, không tạo thêm được việc làm và không tăng nhanh thu nhập của nông dân. Tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn không thuận lợi cho việc nâng cao năng suất lao động nông thôn và tăng thu nhập của nông dân. Việc để nông dân đi bán sức lao động ở nơi khác với giá rẻ mạt, việc không có quy hoạch lao động, đã dẫn đến nhiều vùng thiếu lao động và giá lao động tăng mạnh.

Mức đóng góp của nông dân, nông thôn cao, phúc lợi cung cấp cho nông dân lại thấp, nông dân còn ít được hưởng lợi về đầu tư kết cấu hạ tầng và các nguồn cung cấp phúc lợi của Nhà nước.

Từ các hộ nông dân đang xuất hiện nhiều doanh nghiệp nhỏ: nông trại gia đình, doanh nghiệp nông nghiệp, doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ từ các làng nghề, nhưng các doanh nghiệp này không được các chương trình doanh nghiệp nhỏ và vừa hỗ trợ. Nông thôn còn thiếu các thể chế dựa vào cộng đồng như hợp tác xã và các tổ chức nghề nghiệp của nông dân để phụ trách việc cung cấp các dịch vụ công.

Một vấn đề nữa còn gây nhiều bức xúc là môi trường nông thôn đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. Nên có các chương trình bảo vệ môi trường gắn liền Nhà nước, doanh nghiệp và các cộng đồng nông thôn cùng thực hiện việc bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường. Kinh nghiệm của các nước cho thấy, nếu giao việc bảo vệ môi trường cho các tổ chức nông dân thì có thể biến việc bảo vệ môi trường trở thành những hoạt động kinh tế tạo việc làm và thu nhập cho nông dân. Việc phát triển du lịch nông thôn cũng góp phần nâng cao được chất lượng môi trường.

Nông thôn còn thiếu mạng lưới an sinh xã hội, trong khi thu nhập tương đối giảm nhanh. Việc xây dựng hệ thống an sinh xã hội phải gắn liền với hoạt động tương trợ, với các tổ chức nông dân. Ở Pháp, từ một tổ chức bảo hiểm tương trợ đã phát triển lên thành một công ty bảo hiểm quốc tế lớn nhất châu Âu, từ một quỹ tín dụng nông nghiệp thành một ngân hàng giàu nhất châu Âu. Các tổ chức này vẫn là tổ chức tập thể của nông dân.

Các nguyên nhân gây cản trở cho việc phát triển nông nghiệp, nông thôn không thể chỉ giải quyết bằng các biện pháp tình thế, mà có thể phải thay đổi ngay từ trong đường lối cải cách kinh tế – xã hội. Có thể thấy, cuộc cải cách kinh tế của Việt Nam và Trung Quốc bị ảnh hưởng mạnh của chủ nghĩa tự do mới, quá đề cao kinh tế thị trường và sớm đồng thuận với sự rút lui của nhà nước trong quản lý, thiếu cải cách xã hội. Đó là lý do chính làm cho khoảng cách giữa thành thị và nông thôn ngày càng xa nhau. Thêm vào đó, chúng ta lại đang dựa vào ưu thế cạnh tranh trong việc phát triển công nghiệp và dịch vụ để thu hút đầu tư nước ngoài là giá lao động rẻ, giá đất rẻ và giá môi trường rẻ. Do đó, mục tiêu của việc tăng trưởng nhanh dựa vào các ưu thế cạnh tranh này đã mâu thuẫn với các mục tiêu của phát triển nông thôn. Việc thu hút quá nhiều đầu tư nước ngoài sẽ dẫn đến sự phụ thuộc chính trị và phát triển không bền vững, gây khó khăn cho các thế hệ sau vì phải gánh nợ tích lũy từ các thế hệ trước. Mặt khác, chúng ta còn thiếu một nền kinh tế mang tính xã hội, và các doanh nhân xã hội thì không thể thực hiện được việc cải cách xã hội. Không thể chỉ dựa vào việc kêu gọi các doanh nghiệp tham gia hoạt động từ thiện. Cần có một đường lối xã hội hóa công cuộc cải cách kinh tế xã hội, không lẫn lộn xã hội hóa với thị trường hóa và tư nhân hóa. Xã hội hóa là huy động sự tham gia của quần chúng. Phát triển mạnh xã hội dân sự để huy động quần chúng tham gia vào sự phát triển chính là áp dụng truyền thống quan điểm quần chúng của Đảng.

Để giải quyết các vấn đề trên, cần có một hệ thống biện pháp phát triển nông thôn có hiệu lực, theo chúng tôi, đó là:

– Nhà nước cần có chính sách phát triển nông thôn toàn diện, không chỉ tập trung vào nông nghiệp. Việc phát triển nông thôn là công việc của hầu hết các bộ chứ không phải chỉ riêng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Hiện nay, chúng ta đã có Hội Khoa học phát triển nông thôn để huy động lực lượng quần chúng giúp nhà nước và doanh nghiệp thực hiện công việc này. Chúng ta đang được các tổ chức quốc tế và trên 399 tổ chức phi chính phủ hỗ trợ việc phát triển nông thôn, nhưng chúng ta không biết họ đang làm gì để hợp tác một cách chặt chẽ. Hội Khoa học Phát triển nông thôn đang cố gắng xây dựng cơ sở khoa học cho việc phát triển nông thôn và xây dựng một trung tâm cung cấp dịch vụ phát triển nông thôn hoạt động theo nguyên tắc của một doanh nghiệp mang tính xã hội, giống như một mô hình kiểu mới chưa có ở nước ta nhưng rất phổ biến ở các nước…

– Nhà nước phải hỗ trợ việc tăng cường năng lực cho các cộng đồng nông thôn để nông dân có thể tham gia vào việc phát triển nông thôn. Xây dựng các thể chế nông thôn dựa vào cộng đồng: hợp tác xã và các tổ chức nghề nghiệp của nông dân. Cần tổng kết các sáng kiến mới đang xuất hiện ở nông thôn như việc phát triển các cụm nông nghiệp và công nghiệp, việc hình thành các doanh nghiệp nhỏ ở nông thôn, việc phát triển du lịch nông thôn, việc áp dụng công tác khuyến nông kinh tế xã hội và tư vấn quản lý nông trại, việc đào tạo nông dân, không những để sớm có những “nhà nông” chuyên nghiệp có trình độ sản xuất, kinh doanh tiên tiến, mà còn gắn bó lâu bền với nông thôn…/.”

(1) Phi-lip-pin là một nước nông nghiệp, trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đã dành quá nhiều diện tích canh tác cho phát triển đô thị và khu công nghiệp, khu chế xuất, nhất là có quá nhiều sân golf, nay đang “đau đầu” vì thiếu lương thực một cách trầm trọng.

Đừng để nông dân thêm yếu thế trong cơ chế thị trường

GSVS. Đào Thế Tuấn trả lời phỏng vấn Báo VietNamNet,30/03/2008, Hà Yên thực hiện  “Đừng để nông dân thêm yếu thế trong cơ chế thị trường”.

“Có một sự hiểu nhầm rằng, phát triển nông nghiệpphát triển nông thôn là một, và Chính phủ giao Bộ NN-PTNT lo về phát triển nông thôn. Trên thực tế, Bộ này chưa làm được gì nhiều cả. Ngày trước, việc phát triển nông thôn do Bộ máy bên Đảng làm, có Ban Nông nghiệp TƯ lo tất cả các vấn đề về nông thôn như cải cách ruộng đất, hợp tác hoá, xây dựng nông thôn như thế nào…, được cụ thể trong Chỉ thị 100, Nghị quyết TƯ 10… Bây giờ, đưa nông thôn về Bộ NN-PTNT, trong khi Bộ hầu như chỉ lo phát triển sản xuất và phòng chống thiên tai, mà lẽ ra phòng chống thiên tai là do Bộ Tài nguyên – Môi trường phải làm. Nên mỗi lần có thiên tai, Bộ trưởng Bộ NN-PTTN lại phải chạy khắp các địa phương để chỉ đạo, không có thì giờ để lo phát triển nông thôn.

Thứ hai ở Việt Nam có sự hiểu nhầm về chuyện phát triển nông nghiệp tốt thì phát triển nông thôn tốt vì nông nghiệp đi lên kéo theo nông thôn phát triển. Thực tế không phải như vậy. Nông nghiệp là ngành sản xuất còn nông thôn là lãnh thổ. Hầu như tất cả các bộ, ngành của ta đều có bộ phận lo về nông thôn, như Giáo dục, Y tế rồi LĐ-TBXH… Vậy tại sao lại giao cho một bộ phụ trách cả công việc lớn như vậy?… Hiện nay, trong phát triển nông thôn có hai vấn đề lớn: ruộng đất và lao động, nhưng Bộ NN-PTNT lại không được quản lý.”

” Giảm thủy lợi phí và nhiều khoản thuế khác tất nhiên là tốt rồi nhưng cái đó không phải là chính . Ở Trung Quốc, thu nhập của người dân thành thị cao hơn nông thôn 3,6 lần . Họ cho rằng đó là mới tính thu nhập bằng tiền chứ chưa tính phúc lợi là giáo dục và y tế . Nếu cộng cả hai yếu tố này , khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn thành thị Trung Quốc là hơn 5 lần. Con số này ở Việt Nam hiện là 2,6 lần. Nếu tình hình vẫn như hiện nay thì sẽ giống như Trung Quốc. Theo tôi muốn giải quyết được vấn đề phúc lợi không thể làm theo kiểu kinh tế thị trường. Bây giờ Việt Nam đang lẫn lộn giữa xã hội hóa, thị trường hóa và tư nhân hóa . Nếu muốn làm phúc lợi cho nông dân phải xã hội hóa . Xã hội hóa thực chất là bắt dân đóng tiền thôi. Xã hội hóa là cả xã hội phải lo công việc đó”.

Vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn hiện nay về thực chất là vấn đề phát triển bền vững . Nếu công cuộc đổi mới của nước ta dẫn đến một sự phân hóa xã hội quá mức , tăng khoảng cách giữa thành thị và nông thôn thì sự phát triển sẽ không bền vững . Nông nghiệp, nông dân và nông thôn là ba vấn đề khác nhau, song nếu không cùng được giải quyết một cách đồng bộ thì không thể CNH-HĐH đất nước một cách vững chắc được.

“Phải xây dựng xã hội dân sự ở nông thôn”

Giáo sư viện sĩ Đào Thế Tuấn trả lời phỏng vấn Tuần Việt Nam (trích dẫn nguồn IPSARD ngày 7.7.2009, Viện Chính sách Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn, Đoan Trang thực hiện) nhân sự kiện ĐSQ Pháp ở Hà Nội đã tổ chức lễ trao Huân chương hạng nhất của Chính phủ Pháp cho Giáo sư.

“Tôi không đồng ý với cách nói “phát triển nông nghiệp vì chúng ta có lợi thế về nông nghiệp”. Nông nghiệp là ngành mà chúng ta phải duy trì và phát triển, không phải vì lợi thế cạnh tranh nào cả, mà vì phát triển nông nghiệp là chuyện bắt buộc phải làm, không là chết, vậy thôi. Người ta đã tính rằng đến năm 2050, thế giới cần lương thực gấp đôi hiện nay, đến cuối thế kỷ thì nhu cầu tăng gấp ba. Nếu cung lương thực cho thế giới thiếu thì giá chắc chắn sẽ tăng lên. Nói cách khác, nếu để mất an ninh lương thực thì sẽ phải nhập khẩu để sống sót, mà nhập khẩu thì càng ngày càng đắt. Việt Nam có 86 triệu dân, con số không hề nhỏ. Phải xây dựng được nền nông nghiệp ít nhất là bảo vệ được an ninh lương thực của nước nhà, còn nếu biết làm tốt hơn thì càng có lợi về kinh tế. Nhìn từ góc độ chính trị – xã hội, nông dân Việt Nam là những người ít được hưởng lợi từ đổi mới nhất. Nông dân còn quá nghèo, ít được hưởng phúc lợi xã hội (giáo dục, y tế…), thiếu việc làm ở nông thôn và buộc phải di cư ra thành phố làm thuê với giá lao động rẻ mạt. Nông dân đang bị bần cùng hóa, và đó là nguy cơ gây bất ổn xã hội. Như ở Trung Quốc bây giờ, bạo loạn ở nông thôn xảy ra nhiều lắm, ấy là hậu quả của sự bần cùng hóa nông dân.”

“Quá trình công nghiệp hóa ở các nước không giống nhau. Thế kỷ 17-19, các nước tư bản dùng nguồn lợi bóc lột từ hệ thống thuộc địa để làm công nghiệp hóa, ví dụ Anh, Pháp là theo cách này. Nước nào không có thuộc địa, như Đức, thì gây chiến để giành lấy thuộc địa. Thế kỷ 20, Liên Xô sau khi tiến hành Cách mạng Tháng Mười, không có nguồn lực để công nghiệp hóa nên họ buộc phải dùng nông nghiệp để làm công nghiệp. Trung Quốc từ thời Mao Trạch Đông cũng vậy, bóc lột nông dân, vắt kiệt nông nghiệp để dồn lực cho công nghiệp. Và Việt Nam ta bây giờ đang diễn lại đúng kịch bản đó”. Chúng ta tuy không có một chủ trương nào nói rằng phải dùng nông nghiệp để nuôi công nghiệp nhưng thực tế đang cho thấy đúng như vậy đó. Tất cả những câu “nông dân là lực lượng cách mạng”, “nông dân là những người khởi xướng Đổi mới”, “phải biết ơn nông dân”, “phải ưu tiên phát triển hợp lý nông nghiệp”, tôi cho đều là mị dân cả. Trên thực tế, nông nghiệp đang bị lép vế, nông dân thua thiệt đủ bề. Đó là hậu quả của việc bóc lột nông nghiệp để dồn lực cho công nghiệp hóa. Tôi nói cách khác, việc nông thôn, nông nghiệp Việt Nam bây giờ kém phát triển hoàn toàn là do cơ chế, do đường lối, quyết định của lãnh đạo mà thôi.”

“Từ kinh nghiệm chung của thế giới, tôi thấy là nếu anh làm quản lý ruộng đất tốt thì còn đất nông nghiệp tăng thêm, còn thừa đất ấy chứ. Tình trạng mất đất nông nghiệp ở ta là do đầu cơ mà ra cả. Nói sâu xa hơn thì do cách quản lý của ta là quản lý để đầu cơ. Ngay xung quanh Hà Nội đây này, tôi biết có nhiều nơi, người ta xây những ngôi mộ giả để găm đấy, chờ khi nào chính quyền lấy đất thì sẽ được đền bù.Bây giờ có lắm ý kiến nói tới việc tăng hạn điền cho nông dân. Tôi thì tôi cho rằng nhiều người nói vậy vì họ có quyền lợi liên quan tới việc đầu cơ ruộng đất. Hạn điền ở nước ta không thấp. Ngay Hàn Quốc cũng chỉ có 3 hécta, Nhật Bản 10 hécta. Mở rộng thêm để làm gì, chỉ tạo điều kiện cho đầu cơ phát triển thêm”.

“Vấn đề sở hữu tư nhân về đất nông nghiệp cũng vậy, đang được đặt ra, nhưng theo tôi là không cần thiết. Ở Việt Nam, quyền sử dụng đất còn rộng hơn quyền sở hữu đất ở Pháp. Có tập trung ruộng đất trong tay địa chủ thì cũng không đẻ ra sản phẩm. Ở nhiều nước đang phát triển, phải tồn tại nông dân nghèo không ruộng đất thì mới có người làm thuê. Ví dụ như ở Brazil, nông dân biến thành thợ. Họ ở thành phố, hàng ngày về nông thôn làm việc rồi chiều tối lại lên thành phố.”

“Thu nhập thấp, mất đất, không có việc làm. Khoảng cách thu nhập, chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn là rất lớn. Nông dân ở nông thôn không được tiếp cận rộng rãi với giáo dục, y tế, bảo hiểm xã hội, không có tích lũy. Nhà có người ốm đi viện một lần là của cải mất hết, trắng tay. Thêm một đứa con đi học xa, học lên cao là cả nhà lao đao. Việc làm cho nông dân là vấn đề nghiêm trọng đối với Việt Nam và cũng là vấn đề lớn với thế giới. Nhìn chung, thế giới càng công nghiệp hóa càng thừa lao động, bởi vì công nghiệp và dịch vụ sử dụng lao động ít hơn nông nghiệp. Nói cách khác, công nghiệp và dịch vụ không thể “nuốt” hết số lao động dôi dư. Thừa lao động nông nghiệp là một trong các kết quả của quá trình phát triển. Ở ta, nông thôn thừa khoảng 50% lao động, nhưng lại không phải là kết quả của sự phát triển công nghiệp, mà do họ làm nông nghiệp thì không có đất, không làm nông nghiệp thì chẳng biết dùng họ vào việc gì. Xuất khẩu lao động cũng chỉ là giải pháp tình thế thôi. Hiện giờ Âu châu hạn chế nhận lao động nước ngoài. Trung Cận Đông, Hàn Quốc và Malaysia bình thường vẫn nhận nhiều lao động di cư vì họ đang có nhu cầu phát triển, nhưng nay khủng hoảng, họ cũng gặp khó khăn. Tóm lại, thất nghiệp đang là bài toán không giải quyết được ở nhiều nước. Nông dân đang phải chịu gánh nặng cho toàn xã hội. Tôi nhấn mạnh: Lao động thừa ở nông thôn là vấn đề của toàn xã hội, cho nên cả xã hội phải góp vào mà lo chứ không chỉ Bộ NN&PTNT hay Bộ LĐ&TBXH đâu”.

Có cách nào để nâng thu nhập, từ đó nâng mức sống cho người ở nông thôn không?

Tôi cho rằng đa dạng hóa sinh kế là chìa khóa để tăng thu nhập cho nông dân. Không thể chỉ làm nông được. Nói vui, tôi biết có làng ở Nam Sách (Hải Dương), cả làng bao nhiêu hiệu làm tóc.Thật ra, ở nông thôn, có nhiều việc lắm nhưng không ai giúp nông dân làm, không ai hướng dẫn cho họ cả. Chúng tôi đang tìm cách xây dựng một cơ chế để giúp nông dân đa dạng hóa sinh kế.Du lịch nông thôn chẳng hạn. Việt Nam cũng đã có du lịch nông thôn, nhưng triển khai chưa tốt, trong khi nếu làm tốt, thu nhập của mỗi nông dân có thể tăng gấp đôi. Ví dụ ở Sapa có nhiều các điểm du lịch bán vé, nhưng tiền bán vé chính quyền và doanh nghiệp đầu tư hưởng hết, dân địa phương chẳng được gì. Dân bị coi như kẻ ăn bám vào du lịch ở địa phương, ngày ngày sống nhờ bán đồ lặt vặt cho khách.Họ không được tham gia vào hoạt động du lịch nông thôn ở địa phương, trong khi nếu hoạt động này phát triển và thu hút họ thì sẽ bảo vệ được cả văn hóa lẫn sinh thái, môi trường địa phương.Tôi còn được biết, ở Huế, nhiều nhà vườn đóng cửa với khách du lịch, bởi vì họ chẳng thu được gì, tour du lịch lấy hết rồi.Ở Hội An, tôi hỏi dân sao không tổ chức kinh doanh du lịch bằng cách cho khách thuê nhà dân ở, kiểu “home-stay”, họ bảo không được phép. Chính quyền yêu cầu nếu dân làm “home-stay” thì phải đảm bảo trang thiết bị vệ sinh, máy điều hòa. Như thế, tiền đâu mà nông dân làm? Ở Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), có nhiều vùng cây ăn trái, tour du lịch đưa khách đi thăm, nhưng khách chỉ ngắm thôi chứ có mua về được đâu, làm sao bảo quản được mà mang về. Thế nên dân đem trái cây ra chợ bán còn thu được tiền hơn.

Ở Pháp, doanh nghiệp mua súp lơ của nông dân với giá 1 Franc (đồng nội tệ của Pháp trước khi chuyển sang sử dụng Euro), rồi đến khi vào siêu thị, giá súp lơ đã tăng lên 12 Franc. Như thế là bóc lột nông dân lắm.”Có nhiều việc để làm lắm nhưng không ai hướng dẫn nông dân làm cả”. GS.VS. Đào Thế Tuấn cho rằng phát triển xã hội dân sự chính là cơ chế để hướng dẫn người nông dân đa dạng hóa sinh kế.Nông dân Pháp bèn lập chợ nông thôn ngay giữa thủ đô Paris để bán hàng trực tiếp tới tay người tiêu dùng, tránh được hệ thống thu mua ở giữa.Tôi thấy các nước tiên tiến bây giờ người ta tẩy chay hệ thống doanh nghiệp buôn bán. HTX chiếm 50% công việc, tư thương chiếm 50% lĩnh vực phân phối nông sản là tốt nhất.Theo tôi, doanh nghiệp chỉ nên thực hiện khâu chế biến cao cấp, còn thu gom, buôn bán, nông dân tự làm được. Có như thế, doanh nghiệp mới mất thế độc quyền.Chứ như bây giờ ở ta, nông dân không có quyền mặc cả với tư thương. ĐBSCL chẳng hạn, nông dân trồng lúa chất lượng cao hơn trước nhưng giá bán ra thì vẫn như thế.

Vậy, tôi xin mượn lời một danh hài, “thế thì người nông dân phải làm gì”? Vấn đề quan trọng nhất của phát triển là phải có sự tham gia của cộng đồng, của người dân. Các tổ chức phi chính phủ đến Việt Nam đều nói rằng nông thôn Việt Nam không có cộng đồng.Tôi nghĩ không hoàn toàn như vậy. Ngày xưa, chúng ta đã có cộng đồng làng xã, thôn xóm đấy thôi, mà đại diện là những lý trưởng, xã trưởng. Bây giờ thì chỉ còn mấy ông bà cán bộ – ông bí thư, chủ tịch xã, chủ tịch hợp tác xã, bà tổ trưởng phụ nữ… Người dân chẳng được tham gia gì cả.Chúng ta cần phải hướng dẫn, phải tạo cơ chế để giúp nông dân tổ chức lại được với nhau, xây dựng các doanh nghiệp xã hội (social entrepreneur). Nhà nước không thu thuế đối với họ. Dĩ nhiên, họ cũng có một mức lãi nào đó, nhưng về bản chất, họ là một hệ thống các tổ chức chăm lo phát triển xã hội. Hệ thống đó là một phần của xã hội dân sự.Không thể chỉ dựa vào việc kêu gọi các doanh nghiệp tham gia hoạt động từ thiện, cần có một đường lối xã hội hóa công cuộc cải cách kinh tế xã hội, không lẫn lộn xã hội hóa với thị trường hóa và tư nhân hóa. Xã hội hóa là huy động sự tham gia của xã hội, của quần chúng.Tóm lại, điều quan trọng chúng ta cần làm ở nông thôn bây giờ là xây dựng xã hội dân sự.”

Bài toán “tam nông” thời kỳ đô thị hóa

GS-VS Đào Thế Tuấn trả lời phỏng vấn Báo Thể thao & Văn Hóa do Nguyễn Yến thực hiện trong bài viết ‘Anh hùng nông học giữa Hà thành’ ngày 2.8.2010

“Mô hình đô thị hóa hiện nay đang phổ biến ở châu Á không phải là phát triển các siêu đô thị (trên 8 triệu dân) mà là mô hình đô thị hóa phi tập trung bao gồm các thị trấn và thị tứ nhỏ có một vành đai nông nghiệp bao quanh. Hà Nội cần phát triển theo mô hình này”, GS-VS Đào Thế Tuấn khẳng định…Theo GS-VS Đào Thế Tuấn, việc điều chỉnh lại tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa là biện pháp hữu hiệu nhất để giải quyết các mâu thuẫn giữa thành thị và nông thôn trong vấn đề đất đai và lao động. Việc xây dựng các khu công nghiệp quá nhanh và đô thị hóa quá nhanh sẽ là một sự lãng phí lớn trong lúc chưa có một hướng công nghiệp hóa mới. Nhiều đô thị mới đang ở trong một tình trạng “giả tạo” chưa có tác dụng thúc đẩy sự phát triển toàn diện của cả nền kinh tế. Lấy đất xong, nhưng chưa chuyển đổi được cơ cấu lao động vì chưa chuyển đổi được cơ cấu kinh tế. Nông nghiệp vẫn sẽ là cứu cánh giúp các nước ra khỏi cuộc suy thoái kinh tế, nhu cầu lương thực ngày sẽ càng tăng nhanh dù có khủng hoảng kinh tế hay không. Theo dự báo, dân số thế giới hiện nay là 6,8 tỷ người, vào năm 2050 sẽ là 9,1 tỷ người và nhu cầu thực phẩm sẽ tăng gấp đôi hiện nay. Công nghiệp hóa dựa vào nông nghiệp sẽ là mô hình có ưu thế cạnh tranh ở Việt Nam, tạo được sự phát triển bền vững. Du lịch nông thôn cũng là một biện pháp trong phát triển đô thị, nó có thể tăng gấp đôi thu nhập của nông dân, tạo việc làm và thúc đẩy nâng cao chất lượng của nông nghiệp.

Thầy Tuấn trong mắt người đương thời

Giáo sư Mai Văn Quyền người gần gũi giáo sư Đào Thế Tuấn, nhớ lại:

“Tôi tựu trường Học Viện Nông Lâm làm lớp trưởng và bí thư chi bộ lớp Cây trồng 5 gồm 93 người. Tôi được kết nạp Đảng trước đó tại trường ngọai ngữ. Ở ký túc xá và vẫn được hưởng chế độ học sinh Miền Nam. Học Viện Nông Lâm thời đó thầy Đào Thế Tuấn đã là đảng ủy viên. Kinh tế thời ấy thật khó khăn, tiêu chuẩn ăn sáng được phát bằng khoai môn, khoai từ, nhưng phải xếp hàng sớm, nếu không thì không có. Mỗi lớp hàng ngày cử trực nhật đi mua, có bạn do trách nhiệm rất cao, nên đêm không ngũ được, thức dậy sớm đem gạch xếp hàng. Thế mà có lúc vẫn không có. Bị trượt các món ăn như vậy thì phải bỏ tiền ra mua xôi ở cổng trường. Mỗi hào một suất. Sống như vậy mà vẫn rất vui tươi. Hết lên lớp về phòng lại học nhóm, kèm cặp những bạn học yếu, phấn đấu hết học kỳ này qua học kỳ khác.

Khi làm luận văn tốt nghiệp, tôi được thầy Đào Thế Tuấn hướng dẫn, thầy Nguyễn Văn Uyển giúp sức. Sau này thầy Trịnh Xuân Vũ chấm luận văn của tôi. Tôi bảo vệ được đánh giá xuất sắc và đậu bằng xuất sắc, nhưng không có bìa đỏ, và cũng chẳng có được hưởng vật chất gì, chỉ được nêu gương toàn trường, nhiều người biết. Khi phân công công tác, tôi được thầy Tuấn xin về làm đệ tử.

Năm 1972, tôi nằm trong danh sách bốn người chuẩn bị đi học NCS ( Luật, Nghĩa, Quyền và Hạnh ở Nghi Kim?). Thế rồi chỉ có hai người được đi học trước (Luật và Nghĩa). Năm 1972, giải phóng Quảng Trị, trên Bộ có ý kiến điều tôi vào tiếp quản Quảng Trị, nghe có lý vì tôi là người Quảng Trị nhưng nhóm khác đa số đề nghị để đào tạo tôi về khoa học thế là đến đầu năm 1973 tôi được đi thi tuyển nghiên cứu sinh. Tôi được nằm trong danh sách đi Liên Xô nhưng khi đàm phán lại thì không có thầy vì họ chỉ nhận những người đã học Nga về. Cuối cùng rồi tôi được mặt trận giải phóng đàm phán cho sang học Bungari.”

DaoTheTuanchandungnguoiThay2

GS VS Đào Thế Tuấn, GS Nguyễn Văn Uyển, PGS Trịnh Xuân Vũ … thuộc thế hệ đầu tiên của Nông nghiệp Việt Nam nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Sau thế hệ GS Bùi Huy Đáp, GS. Lương Định Của, GS Đào Thế Tuấn, GS Vũ Tuyên Hoàng  đến thế hệ GS Nguyễn Văn Luật, GS Mai Văn Quyền, GS. Nguyễn Hữu Nghĩa, GSVS Trần Đình Long, GS. Phan Phải, GS Lương Hữu Tề, GS Trần Duy Quý, GS Lê Huy Hàm … đều là các chuyên gia đầu ngành nông nghiệp gắn bó suốt đời với cây lúa. Hình ảnh GS.VS. Đào Thế Tuấn tại buổi tọa đàm bàn tròn về lúa khảo cổ Thành Dền ở Viện Di truyền sau những ngày nắng đổ lửa tháng 5 năm 2010 có lẽ là những bức hình khoa học sau cùng minh chứng cho những cố gắng không mệt mỏi của một nhà khoa học tận tâm vì dân vì nước. Những nghiên cứu về lúa tìm thấy trong các địa điểm khảo cổ học Xóm Trại, Đồng Đậu của GS.VS. Đào Thế Tuấn hợp tác liên ngành với GS. Trần Quốc Vượng, GS. Hà Văn Tấn… đã thực sự là một bài học lớn khi soi vào cuộc đời khoa học của Thầy.

PGS TS Nguyễn Văn Bộ là người tiếp nối GSVS Đào Thế Tuấn làm Viện Trưởng Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam trong bài viết ” GSVS Đào Thế Tuấn: Nhà tri thức lớn của nông nghiệp nông thôn” đã đúc kết và tôn vinh người Thầy trong lễ tiễn đưa Thầy, cũng là bài đăng trên báo CAND ngày 23 tháng 1 năm 2011:

“Gia đình GSVS Đào Thế Tuấn là chỗ thân tín của nhà chí sỹ Phan Bội Châu. Chẳng vậy mà khi GS. Đào Thế Tuấn ra đời, cụ Phan đã tiên đoán tương lai của ông không chỉ sẽ theo được mà còn làm rạng rỡ thêm truyền thống gia đình qua bài thơ:

Hai mươi lăm triệu giống dòng ta,
Hôm trước nghe thêm một tiếng oa,
Mừng chị em mình vừa đáng mẹ,
Mong thằng bé nọ khéo in cha.
Gió đưa nam tới sen đầy hột,
Trời khiến thu về quế nở hoa.
Sinh tụ mười năm mong thế mãi,
Ấy nhà là nước, nước là nhà.         

Tháng 8/1953, GS. Đào Thế Tuấn là một trong 49 người đầu tiên được chọn đi Liên Xô và học tại Trường Đại học Nông nghiệp Tashkent. Năm 1955, khi mới là sinh viên năm thứ ba, ông đã tham gia nghiên cứu khoa học và công trình nghiên cứu đầu tiên của ông là về cây trồng nhiệt đới ở Việt Nam. May mắn cho ông, thời gian đó ông được Giáo sư Belov, một người say mê thu thập tài nguyên di truyền và nghiên cứu nguồn gốc cây trồng hướng dẫn nên ông đã có điều kiện nghiên cứu và xuất bản bằng tiếng Nga cuốn sách đầu tiên về sinh thái và nguồn gốc cây lúa. Cuối năm thứ tư, ông về thực tập ở Trạm Nghiên cứu lúa Krasnodar (sau này là Viện Nghiên cứu lúa toàn liên bang), nghiên cứu về các giai đoạn phát triển của cây lúa dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Eryghin, một nhà sinh lý nổi tiếng của Liên Xô.

Luận văn tốt nghiệp của ông được hội đồng đánh giá cao, cho kéo dài 6 tháng để viết thành luận án Phó tiến sỹ (Tiến sỹ hiện nay) và ông đã bảo vệ thành công luận án vào năm 1958. Như vậy, chỉ trong 5 năm, ông vừa hoàn thành chương trình kỹ sư nông học, vừa bảo vệ thành công luận án tiến sỹ nông học. Ông là tiến sỹ đầu tiên của Việt Nam được Liên Xô đào tạo.

Cuối năm 1958, ông về nước và làm việc tại Học viện Nông lâm với tư cách là giảng viên môn sinh lý thực vật, đồng thời kiêm Trưởng phòng khoa học của Học viện. Trong thời gian này, với sự hướng dẫn của GS. Bùi Huy Đáp, ông đã khởi xướng một hướng nghiên cứu mới về sinh lý học của năng suất để xây dựng cơ sở khoa học cho thâm canh cây lúa. Các nghiên cứu về hiện tượng lốp đổ khi cấy dày và bón nhiều phân đạm cho thấy các giống lúa cổ truyền của Việt Nam không thể cho phép đạt năng suất cao vì cao cây, dễ đổ. Đây là các gợi ý cho công tác tạo giống thâm canh sau này.

Ngoài các nghiên cứu về đạm, GS. Đào Thế Tuấn cùng các đồng nghiệp cũng đã đề xuất phương pháp biến lân thành đạm qua việc bón lân cho bèo hoa dâu và điền thanh. Kết quả này đã được trình bày ở Hội nghị khoa học Bắc Kinh năm 1963 và xuất bản trong cuốn Phân supe lân và cách sử dụng (NXB. Nông thôn, 1962) và sách Các biện pháp nâng cao hiệu suất phân hoá học (NXB Nông thôn, Hà Nội, 1965). Cũng trong thời kỳ này, ông được cử làm Trưởng bộ môn sinh lý thực vật của Học viện Nông lâm kiêm Trưởng phòng khoa học.

Năm 1963, Học viện Nông Lâm tách ra thành Viện Khoa học nông nghiệp và Trường Đại học Nông nghiệp, ông được phân công làm Trưởng ban trồng trọt kiêm Trưởng phòng sinh lý cây trồng của Viện. Ban này là tiền thân của các Viện Cây lương thực, cây công nghiệp, Viện Thổ nhưỡng nông hóa và Viện Bảo vệ thực vật sau này.

Bấy giờ bệnh vàng lụi (sau được xác định là bệnh Tungro) đang lan rộng ở miền Bắc, GS. Đào Thế Tuấn đã tổ chức nhóm nghiên cứu gồm các nhà khoa học thuộc nhiều bộ môn để xác định nguyên nhân gây bệnh và phát hiện ra rằng vàng lụi không phải là một bệnh sinh lý mà là bệnh virus do rầy xanh đuôi đen là vectơ truyền bệnh. Tại thời điểm đó, ông và cộng sự đã chú ý tìm các giống kháng bệnh, đề xuất biện pháp canh tác phù hợp như bón kali, làm cỏ sục bùn để hạn chế bệnh. Kết quả nghiên cứu đã phát hiện các giống tẻ trắng Tây Bắc, 813, I1, A10 có khả năng kháng bệnh vàng lụi.

Sau này, thông qua các chuyên gia Indonesia, ông đã đưa được về hai giống có khả năng kháng bệnh cao là I1 và A10. Từ khi có hợp tác với IRRI, Philippines, ông cũng có công đưa giống lúa IR64 về phổ biến ở vùng Điện Biên để đến hôm nay, giống lúa này đã trở thành giống phổ biến và đặc sản với tên gọi mới là “Tám Điện Biên”.

Phong trào 5 tấn/ha và việc phát triển vụ lúa xuân đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu cơ sở khoa học cho thâm canh. Do vậy, từ 1965 nhóm của GS. Đào Thế Tuấn bắt đầu nghiên cứu sinh lý của ruộng lúa năng suất cao với việc phân tích quá trình quang hợp, dinh dưỡng khoáng. Việc chuyển từ nghiên cứu cá thể sang nghiên cứu quần thể ruộng lúa là một bước phát triển mới của phương pháp tiếp cận hệ thống. Khi nghiên cứu ruộng lúa năng suất cao, cho thấy các giống lúa năng suất cao phải thấp cây, có lá gần thẳng đứng, cho phép thu được nhiều bông, bông dài, tỉ lệ lép thấp.

Trên cơ sở các luận cứ khoa học nêu trên, ông đã chỉ đạo xây dựng nhiều mô hình thâm canh tại Tân Hưng Hòa, Kiến Xương – Thái Bình, Đồng Tiến, Khoái Châu – Hưng Yên. Công trình nghiên cứu này đã đặt cơ sở cho việc thâm canh lúa đạt 10 tấn/ha vào những năm 70 của thế kỷ trước và được tổng kết trong cuốn Sinh lý của ruộng lúa năng suất cao.

Xác định giống là khâu đột phá, quyết định đến việc tăng năng suất lúa, từ năm 1970, GS. Đào Thế Tuấn đã tổ chức nghiên cứu cơ sở sinh lý của việc chọn giống năng suất cao, trong đó chọn giống lúa theo nguồn và sức chứa có vai trò quyết định. Theo hướng này, ngoài nghiên cứu chọn tạo giống cho vùng thâm canh, ông bắt đầu nghiên cứu cơ sở sinh lý của việc chọn giống chống chịu các điều kiện bất thuận như mặn, rét, hạn, ngập úng và kháng bệnh. Kết quả là nhóm nghiên cứu của ông đã chọn lọc và lai tạo được nhiều giống lúa mới như: giống lúa NN75-10 (X1) chịu bệnh bạc lá (cùng PGS. Tạ Minh Sơn); giống lúa cực ngắn CN2, cho phép làm vụ mùa sớm, mở rộng vụ đông; giống lúa CR203 chịu rầy nâu đầu tiên của nước ta (cùng PGS. Nguyễn Công Thuật chọn từ tập hợp dòng của IRRI). Ngoài ra còn có các giống lúa chịu phèn V14 và V15…

Ngoài lúa, nhóm của GS còn tạo được giống ngô số 6, giống S1 ngắn ngày và giống ngô nếp S2; các giống đậu tương AK02 và AK03 (cùng với GS. Trần Văn Lài). Cùng với giống, một số biện pháp thâm canh khác như chống rét cho mạ xuân, bón đón đòng cho lúa, bón đạm sâu để tránh mất đạm, trồng ngô bầu, trồng đậu tương đông không làm đất… cũng được nghiên cứu và đề xuất.

Năm 1967, GS. Đào Thế Tuấn được Bộ Nông nghiệp cử vào Nghệ An giúp tỉnh chỉ đạo sản xuất nông nghiệp. Tại đây, các ý tưởng về nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng tăng giá trị sản xuất đã được manh nha và tổ chức nghiên cứu. Vấn đề này được ông tổng kết trong cuốn Bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý ở hợp tác xã (NXB. Nông thôn, 1969) và sau này là cuốn Cơ sở khoa học của việc xác định cơ cấu cây trồng hợp lý (NXB. Nông thôn, 1977). 

Từ năm 1978, bộ môn Sinh thái và Canh tác do GS. Đào Thế Tuấn thành lập đã tổ chức nghiên cứu hoạt động của hệ sinh thái nông nghiệp, triển khai việc nghiên cứu hệ thống canh tác của các vùng sinh thái khác nhau, nhất là các vùng sinh thái khó khăn như vùng chiêm trũng, vùng phèn mặn, vùng lúa nước trời thường gặp hạn. Tuy nhiên, khi nghiên cứu hệ thống nông nghiệp mà chỉ đề cập đến các thành phần tự nhiên và kỹ thuật thì không đầy đủ vì trong thực tế, các yếu tố về kinh tế – xã hội có ý nghĩa quyết định sự phát triển của hệ thống. Vì vậy, năm 1988, ông đã lập bộ môn Hệ thống nông nghiệp để kết hợp việc nghiên cứu kỹ thuật và kinh tế – xã hội, nghiên cứu về các thể chế nông thôn, nhất là thể chế kinh tế hộ nông dân. (Hiện nay bộ môn đã nâng cấp thành Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển hệ thống nông nghiệp).

Ông cũng là người khởi xướng và chủ trì hợp tác với Viện Khoa học nông nghiệp Pháp trong chương trình Hệ thống nông nghiệp lưu vực sông Hồng. Các kết quả nghiên cứu về lĩnh vực này đã được tổng kết trong cuốn Hệ sinh thái nông nghiệp (NXB. Khoa học Kỹ thuật, 1983) là sách giáo khoa đầu tiên về sinh thái học nông nghiệp.

Từ đầu năm 1980, GS. Đào Thế Tuấn đã quan tâm đến tiếp cận hệ thống trong khoa học nông nghiệp. Từ việc nghiên cứu hệ thống ruộng lúa tiến đến nghiên cứu hệ thống cây trồng rồi hệ thống nông nghiệp. Để phát triển hướng nghiên cứu này, ông đã thành lập nhóm nghiên cứu sau này trở thành bộ môn Toán máy tính, đặt ở Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, chuyên nghiên cứu về các mô hình phát triển nông nghiệp trong mối quan hệ với các mô hình kinh tế chung của cả nước.

Trên cơ sở các nghiên cứu về nông nghiệp của nước ngoài, GS. Đào Thế Tuấn đặc biệt quan tâm đến việc áp dụng các đòn bẩy kinh tế trong việc tổ chức nghiên cứu khoa học và đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất cũng như cải cách kinh tế của các nước, mô hình tổ chức sản xuất trong nông nghiệp. Năm 1987, ông viết tài liệu Cải cách kinh tế ở Trung Quốc được UBKHKTNN xuất bản và có đóng góp tích cực trong việc ra đời Nghị quyết 10 năm 1988.

Sau này, khi đã nghỉ điều hành rồi nghỉ hưu, GS. Đào Thế Tuấn vẫn miệt mài nghiên cứu các vấn đề kinh tế hộ, chuỗi giá trị, thể chế trong phát triển nông thôn… Với mong muốn tìm hướng cho nông thôn phát triển, ông đã đề xuất và lãnh đạo Hội Khoa học Phát triển nông thôn. Các kết quả nghiên cứu sau này của ông được xuất bản trong cuốn sách Kinh tế hộ nông dân (NXB. CTQG, 1997).

Ngoài tư cách là một nhà khoa học hàng đầu, GS. Đào Thế Tuấn cũng được tin tưởng giao nhiều trọng trách: Phó viện trưởng (1976) rồi Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam (1983). Năm 1990, ông đảm đương vai trò Phó chủ nhiệm Chương trình nghiên cứu về phát triển nông thôn KX-08.

GS. Đào Thế Tuấn còn là một đảng viên trung kiên với trên 60 năm tuổi Đảng. Ông được Nhà nước phong học hàm Giáo sư và năm 1985, được bầu làm thành viên nước ngoài của Viện hàn lâm Khoa học nông nghiệp Liên Xô, sau này là Viện hàn lâm Khoa học nông nghiệp Liên bang Nga…”

GS Nguyễn Tư Siêm ngày 20/11/2017, trong bài viết ” GS VS Đào Thế Tuấn nhà nông học uyên bác, người thầy mẫu mực” đã kể lại những mẫu chuyện đời thường về thầy.

1. Những buổi lên lớp ấn tượng

Lứa sinh viên khóa 5 Học viện Nông lâm Hà Nội chúng tôi (1960-63) vừa học xong các môn đại cương chuyển sang các phần chuyên sâu nông nghiệp thì được học các thầy tốt nghiệp từ nước ngoài trở về. Các môn khoa học cơ bản tuy khó, nhưng dù sao cũng là sự tiếp nối và nâng cao các kiến thức từ bậc phổ thông nên có phần quen thuộc. Bước sang các học phần hướng nghiệp là một bước ngoặt, bắt đầu những chờ đợi, băn khoăn, bởi trước đó chưa có khóa nào tốt nghiệp ra hành nghề để tìm hiểu nghề nông là thế nào và một kỹ sư canh nông hành nghề ra sao. Mỗi thầy lên lớp là tâm trạng mong ngóng, quan sát.

Hầu hết các thầy từ Liên Xô và Trung Quốc về, trong số đó thầy Đào Thế Tuấn để lại một ấn tượng đặc biệt. Từ một anh bộ đội chưa biết tiếng Nga, đã đỗ kỹ sư xuất sắc và lấy bằng Phó bác sĩ nông học (nay gọi là tiến sĩ nông nghiệp) chỉ trong 5 năm, trong khi bình thường phải mất 9 -10 năm. Thầy là người Việt Nam đầu tiên nhận bằng này ở Liên Xô vào năm 1958 và cũng là giảng viên có học vị cao nhất của Học viện Nông lâm Hà Nội lúc bấy giờ.

Môn “Sinh lý thực vật” mới mẻ đã đành, cái cách lên lớp của thầy vừa chuẩn mực hàn lâm, vừa sinh động tạo nên một không khí hấp dẫn khó cưỡng; giảng đường im lặng, sinh viên chăm chú có thể nói không ai muốn bỏ qua một ý, nghe sót một lời. Nếu muốn nói “dạy ra dạy, học ra học” thì có lẽ đây là một ví dụ.

Đã 55 năm qua, chắc các bạn lớp tôi hẳn còn nhớ một tiết học đặc biệt có đoàn nước ngoài dự. Đó là đoàn đến từ Mali, do BT Mareida Keita dẫn đầu. Sau mấy lời giới thiệu bằng tiếng Pháp, thầy bắt đầu giảng bằng tiếng Việt. Giáo trình có trên bục, nhưng gần như không ngó tới, và bài giảng cứ như đã được lập trình trong bộ nhớ để kể một câu chuyện về sinh lý cây lúa gắn với nghề trồng lúa. Giấy viết hiếm lắm, chúng tôi nhớ là chính, chỉ ghi vắn tắt vào các vòng tròn, hình vuông, mũi tên, và các thuật ngữ mới mẻ vào quyển vở.

Có đại biểu xem giáo trình, có người xem vở ghi của sinh viên. Rất tinh ý, đôi lần thầy đỡ lời cho người phiên dịch khi gặp những từ khó. Tiết học kết thúc, Đoàn còn nán lại trao đổi và điều tâm đắc nhất là bậc Đại học Việt Nam đã giảng giải những kiến thức rất hàn lâm bằng tiếng Việt, trong khi nước bạn vẫn chưa thể dùng tiếng bản địa. Đáp lại câu hỏi cái gì cần và khó, thầy nói đại ý phải chuẩn bị khái niệm, thuật ngữ bằng tiếng mẹ đẻ từ sớm trước khi vào bậc đại học. Tôi chắc thầy nghĩ tới những tác phẩm của các bậc tiền bối như “Từ điển Hán-Việt”, “Từ điển Pháp-Việt” của cụ thân sinh Đào Duy Anh, “Danh từ khoa học” của Hoàng Xuân Hãn, các giáo trình Trung cấp Canh nông, các lớp dự bị Đại học trong kháng chiến chống Pháp, nhờ đó giảng dạy bằng tiếng mẹ đẻ ở bậc đại học mới thuận lợi hơn so với các nước bị thuộc địa khác.

2. Giáo dục gia đình – chuẩn bị cho một tài năng.

GS VS Đào Thế Tuấn là con cả của vợ chồng nhà trí thức cách mạng: cụ Đào Duy Anh và Trần Như Mân, những học giả và những nhà hoạt động xã hội, vận động cách tân nổi tiếng.

Thầy kể thầy sinh ngày 4/7/1931 ở Huế. Biết tin vui, cụ Phan Bội Châu có thơ gửi mừng gia đình (xem bản trích dẫn ở phần trên). Cả cuộc đời 80 năm của thầy cho đến khi từ trần (19/1/2011) đã minh chứng lời tiên đoán và đáp ứng mong đợi của nhà yêu nước, cách mạng Phan Bội Châu.

Lên 5 tuổi thầy bắt đầu đi học mẫu giáo rồi sau đấy vào học lớp đồng ấu ở trường Jeanne d’Arc là một trường nhà dòng do các bà xơ dạy, học toàn bằng tiếng Pháp. Năm 1942 lên lớp 6 trường Quốc học Khải Định thì bắt đầu học thêm tiếng Anh và tiếng Latin. Còn trong gia đình thầy được cụ thân sinh dạy chữ Hán và bà mẹ dạy tiếng Việt. Như vậy chỉ trong mười năm đầu đời đã được làm quen và sử dụng tới 5 ngoại ngữ, học một cách tự nhiên và dùng một cách hào hứng.

Thầy kể: “Tam quốc chí, Thuỷ hử, Đông chu liệt quốc và các tiểu thuyết Trung Quốc, kể cả truyện kiếm hiệp tôi đều đọc hết. Ngoài ra tôi con đọc rất nhiều tiểu thuyết Pháp do đấy vốn văn học của tôi không đến nỗi nào”.

Tuổi niên thiếu thầy đã được hướng vào các hoạt động xã hội: 6 tuổi tham gia vào tổ chức Hướng đạo sinh; đi du lịch, điền dã, thăm các danh lam thắng cảnh vùng Huế và các tỉnh miền Trung; được nghe các cuộc thảo luận về lịch sử, văn hoá giữa các nhà nghiên cứu, bắt đầu học thói quen nghiên cứu. Khi chỉ hơn 15 tuổi thầy tình nguyện tham gia Đội Tuyên truyền Xung phong Trung Bộ là đội viên ít tuổi nhất trong đội. Tiếp theo là thời học trung học trong Kháng chiến chống Pháp. Tránh giặc càn, toàn đi bộ tìm trường để học, rong ruổi từ trường Huỳnh Thúc Kháng (Hà Tĩnh), sang trường Nguyễn Xuân Ôn (Nghệ An), rồi
trường Nguyễn Thượng Hiền (Thanh Hóa) rồi Cấp 3 Liên khu 3 (Ninh Bình).

Nhớ về giáo dục gia đình và những trải nghiệm thuở thiếu thời, thầy viết: “Tất cả sự giáo dục này được tính toán một cách toàn diện nhằm đào tạo một người làm việc nghiên cứu sau này. Chính sự chuẩn bị ấy về sau đã giúp tôi trong việc học tập và làm việc”.

3. ‘Xếp bút nghiên theo việc binh đao’

Năm 1950, ở tuổi 19, anh thanh niên Đào Thế Tuấn tòng quân và lên đường hành quân hướng về chiến khu Việt Bắc. TX Ninh Bình, Hòa Bình bị Pháp chiếm, phải đi vòng, xuyên rừng Hồi Xuân, La Hán, Suối Rút, vượt núi sang Phú Thọ lên An toàn khu (ATK) Tuyên Quang, Thái Nguyên. Trong năm ấy, thầy tham gia các chiến dịch Trần Hưng Đạo ở Trung Du và chiến dịch Hoàng Hoa Thám ở Đông Bắc, ở bộ phận tham mưu tiền phương. Hành quân liên miên, nhưng thầy vẫn tự đặt ra cho mình và thục hiện một chương trình tự học khoa học quân sự.

Sang năm sau, thầy được cử đi học lớp Trung cấp quân sự ở trường Lục quân Việt Nam, bấy giờ đặt ở Vân Nam, Trung Quốc. Đây là lớp đào tạo cán bộ chỉ huy đại đội, tiểu đoàn và trung đoàn do chuyên gia Trung Quốc dạy. Năm 1952 thì tốt nghiệp về nước được điều về Tổng cục Hậu cần tham gia chiến dịch Tây Bắc đánh Nghĩa Lộ và giải phóng Sơn La.

4. “Đại học = Tự học”

‘Phương trình’ này đã được học giả Đào Duy Anh viết lên bảng trong buổi học Sử đầu tiên ở trường Dự bị đại học tại Thanh Hoá trong thời kỳ Kháng chiến chống Pháp (theo lời kể của GS Trần Quốc Vượng – sinh viên lớp đó).

Sau chiến dịch Tây Bắc, tháng 8/1953 thầy được cử đi học Liên Xô. Đoàn 50 anh chị em đi bộ lên Lạng Sơn, vượt biên giới sang Trung Quốc để đi Liên Xô bằng xe lửa. Hành trình từ Việt Bắc mất cả tháng mới tới Maskva. Một nhóm gồm 10 người được cử về Uzbekistan để học nông nghiệp. Trường Đại học Nông nghiệp Tachkent sắp xếp 1 lớp riêng, dự tính 1 năm cho sinh viên Việt Nam học tiếng Nga và các môn khoa học cơ bản; nhưng chỉ sang học kỳ hai là nhóm VN của thầy đã vào cùng học chung với các sinh viên Liên Xô.

Lên năm thứ ba, thầy tham gia nhóm nghiên cứu của sinh viên ở khoa Nông học và trình bày một báo cáo khoa học về cây trồng ở Việt Nam. Cuối năm đó thầy xin về Trạm nghiên cứu lúa Uzbekistan để nghiên cứu về cây lúa. Thực ra thì giáo sư hướng dẫn không thạo về lúa nên để thầy tự đọc sách và tìm lấy đề tài. Thu thập các kiến thức đã có hồi bấy giờ thầy viết một tài liệu về sinh thái và nguồn gốc cây lúa; được Giáo sư Belov biên tập lại và được Viện hàn lâm Nông nghiệp xuất bản bằng tiếng Nga, sách có tên “Nguồn gốc và sinh thái cây lúa’, Tashkent, 1957.

Cuối năm thứ tư thầy về thực tập ở Trạm Nghiên cứu lúa Krasnodar, dưới sự hướng dẫn của giáo sư Eryghin, một nhà sinh lý thực vật nổi tiếng ở Liên xô. Sinh viên Đào Thế Tuấn nghiên cứu về sự phát triển giai đoạn của cây lúa trong hai vụ để làm luận văn tốt nghiệp. Luận văn được đánh giá xuất sắc và tác giả được cho tiếp tục thêm 6 tháng nghiên cứu để trình bày luận văn tiến sĩ. Sau một vụ thí nghiệm nữa đông thời thi các môn tối thiểu thầy đã bảo về luận văn tiến sỹ vào năm 1958. Như vậy là trong 5 năm vừa hoàn thành chương trình kỹ sư nông học và tiến sỹ nông học, tiết kiệm được 3 năm, thầy là tiến sỹ đầu tiên của Việt Nam được Liên xô đào tạo.

5. Người khai mở các cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Ra trường, tôi được phân công về công tác tại Bộ Nông trường nên không có cơ may làm việc gần gũi với thầy Đào Thế Tuấn, song luôn tìm đọc các bài báo khoa học và những cuốn sách của thầy vừa cơ bản về lý luận vừa thiết thực trong ứng dụng vào sản xuất. Cuốn tôi thường đọc nhiều hơn cả là “Phương pháp thí nghiệm trồng trọt” của thầy. Các sơ đồ thiết kế thí nghiệm tương đối đơn giản: như so sánh cặp đôi ô cơ bản, tuần tự bậc thang, ít công thức, diện tích ô nhỏ, phù hợp với cây ngắn ngày, mật độ dầy, cho phép ô nhỏ cũng có thể lấy được đủ cá thể để quan trắc. Tôi nghĩ kiểu này thích hợp với nghiên cứu trên đất bằng, độ phì nhiêu đồng đều, số lần lặp lại ít khi bị hạn chế.

Trạm Thí nghiệm Cây nhiệt đới Tây Hiếu, nơi tôi làm việc, cần nghiên cứu nhiều về cây lâu năm trên đất đồi. Vào những năm 1960, thiết kế thí nghiệm chính qui, dài hạn với cà phê, cao su và các cây ăn quả là một thử thách lớn. Đất đồi dốc, độ phì nhiên biến thiên rất mạnh theo không gian. Các cây trồng khoảng cách rộng, lấy đủ số cây để quan trắc thì diện tích thí nghiệm sẽ tăng lớn và sự biến động độ phì nhiêu đất tăng theo, sai số ngẫu nhiên tăng vọt; có nguy cơ không thể kết luận chênh lệch giữa các công thức so sánh là do cái gì quyết định: yếu tố nghiên cứu hay sai số ngẫu nhiên.

Vì tài liệu trong nước chưa có, các bậc đàn anh ra sức tìm kiếm. Kỹ sư Đoàn Triệu Nhạn tham khảo giáo trình “Sinh trắc học” của Hoa Nam Nông học viện. Kỹ sư Ngô Văn Hoàng qua một vài seminar với chuyên gia CHDC Đức, tự mình soạn sách “Giản yếu thống kê sinh vật”. Lần đầu tiên giới thiệu các kiểu thiêt kế thí nghiệm so sánh nhiều nhân tố (factorial trial design), như ô vuông Latin (Latin square), ô phụ (split-plot), song trùng (confounding), v.v. Hướng đi đã có là thí nghiệm tương tác nhiều yếu tố, nhưng áp dụng thật gian nan; nghiên cứu 3 yếu tố, chỉ cần nhắc lại tối thiểu 3 lần thì số ô cơ sở đã lên tới 81. Thời nay, phương pháp nghiên cứu nông học phát triển, các thuật toán ứng dụng được lập trình, máy tính phổ biến, chứ hơn nửa thế kỷ trước tính sai số cho 1 thí nghiệm như vậy bằng máy tính cơ quay tay (Nisa hay Flying Fish) mất cả tuần. Nếu chỉ vào sai 1 con số là công sức tính toàn mấy ngày coi bằng bỏ.

Những năm bắt đầu nghiên cứu về canh tác học, hệ thống nông nghiệp một cách chính qui, sự đóng góp về các nguyên lý và phương pháp của các bậc đàn anh như GS VS Đào Thế Tuấn, PGS Ngô Văn Hoàng, ThS Đoàn Triệu Nhạn, … có ý nghĩa khai phá. Chỉ dẫn của các thầy giúp cho thế hệ trẻ thực hiện một cách bài bản đưa lại hiệu quả và nhanh chóng. Tham gia vào quá trình đó, cánh trẻ chúng tôi học hỏi được rất nhiều, lấp những lỗ hổng kiến thức mà nhà trường không dạy.

Tuy nhiên, bối cảnh và đối tượng khác nhau dẫn đến giải pháp khác nhau cũng là thường và được trao đổi rất minh bạch. Tôi vẫn còn nhớ một lần trao đổi như vậy. Trong bài: “Bàn về phương pháp thí nghiệm đồng ruộng” trên tạp chí “Tin tức Hoạt động Khoa học”, thầy Ngô Văn Hoàng viết hài hước rằng với đất đồi biến thiên, trong khi thuật toán có thể giải quyết được thì các phương pháp mà Phó bác sĩ Đào Thế Tuấn đưa ra giống như “một tiểu thơ chân bó, ngập ngừng và khập khiễng trước đồng ruộng muôn mầu muôn vẻ của sản xuất đại trà”. Trong bài: “Lại bàn về phương pháp thí nghiệm đồng ruộng”, thầy Đào Thế Tuấn trả lời cái cần là thiết kế đơn giản sao cho đỡ tốn công tốn của mà vẫn rút ra được kết luận xác đáng chứ đâu cứ phải ứng dụng toán học. Ngoài đời, các thầy là những đồng nghiệp thân thiết, nhưng trong hoạt động khoa học, cần tranh luận là vừa sòng phẳng vừa hài hước, thật thú vị.

6. Xây dựng nền móng cho các nghiên cứu hệ thống nông nghiệp

Bẵng đi một thời gian cho đến khi về lại Bộ Nông nghiệp tôi mới có dịp gặp lại thầy Đào Thế Tuấn trong chương trình hợp tác khoa học kỹ thuật với Viện Khoa học Nông nghiệp Pháp trong “Chương trình Nghiên cứu Hệ thống Nông nghiệp lưu vực sông Hồng”. Chương trình gồm 2 phần: vùng đồng bằng và vùng đồi. GS Đào Thế Tuấn chủ trì nghiên cứu vùng đồng bằng; còn Viện Thổ nhưỡng Nông hóa chúng tôi chịu trách nhiệm vùng đồi. Phía Pháp, có chương trình đối tác là “Nghiên cứu hệ thống nông nghiệp vùng Casamance” của Viện Nghiên cứu Nông học Pháp (INRA Montpellier) do GS Conessa chủ trì.

Nghiên cứu so sánh, tương tác là sở trường rất mạnh của trường phái Pháp, đây là dịp tốt cho cả 2 phía. Song tiếc rằng về phía ta, những năm 1980 ấy còn quá nhiều trở ngại về thủ tục hành chính, có lúc tưởng như phải dừng lại. Bên cạnh uy tín về học thuật, sự kiên trì và bền bỉ của GS Đào Thế Tuấn đã góp phần rất lớn trong việc duy trì mối quan hệ hợp tác song phương và nhờ vậy, các nghiên cứu so sánh về hệ thống nông nghiệp được tiếp tục không những ở phạm vi sinh thái tự nhiên, mà còn mở rộng sang các lĩnh vực cư dân nông thôn, cơ chế, chính sách, … Kết quả nghiên cứu tổng kết trong cuốn “Hệ sinh thái nông nghiệp, NXB khoa học kỹ thuật, 1983 ” là sách giáo khoa đầu tiên về Sinh thái học Nông nghiệp. Hàng loạt cán bộ trẻ được đào tạo bài bản để kế thừa các nghiên cứu phát triển nông thôn vốn là khâu yếu trong hệ thống nghiên cứu và khuyến nông của ta trong nhiều năm.

7. Người dẫn đầu trong nghiên cứu phát triển nông thôn

Nông học nước ta mang ít nhất 2 trọng trách là nghiên cứu chuỗi sản xuất sinh học và xã hội nông thôn mới có cơ sở cho phát triển nông thôn, cải thiện đời sống cho cộng đồng cư dân to lớn này. Tiếc thay, trong một thời gian dài, ám ảnh bởi nạn đói, thiếu ăn và chiến tranh, chúng ta chỉ chăm chú vào phân khúc sản xuất, lấy diện tích số lượng lương thực làm đầu, xem nhẹ xã hội nông thôn. Đến lúc đủ lương thực, thậm chí thừa không biết bán đi đâu, mới lộ ra những điểm yếu ‘chết người’ trong các cơ chế, chính sách dẫn đến được mùa rớt giá, hiệu quả kém, nông dân bỏ ruộng, v.v.

Đọc các quyển của thầy như “Kinh tế hộ nông dân, NXBCTQG, 1997″. Cuốn sách này có tác dụng mở ra một hướng nghiên cứu mới phục vụ việc phát triển kinh tế hộ nông dân. Tôi tin rằng thầy là một trong những chuyên gia đi tiên phong trong nghiên cứu nông nghiệp gắn liền với phát triển nông thôn. Cách tiêp cận do thầy khai mở, đã lôi cuốn các khoa học xã hội vào cuộc, các nhà làm chính sách phải lắng nghe và bớt đi kiểu tư duy áp đặt, làm mất động lực phát triển …”

HoiKhoahocDatVietNam

GS Trần Thế Thông, cựu Viên trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam đánh giá ngắn gọn mà sâu sắc về thầy Tuấn:  Đời tôi, trong những người cùng làm việc, anh Đào Thế Tuấn là người mà mỗi lần trao đổi phát biểu, tôi đều tìm thấy những ý mới, những đóng góp mới.
Thầy Đào Thế Tuấn trong lòng tôi.

Trong ký ức của tôi lắng đọng lời dặn tâm huyết sâu sắc nhất của thầy đã thành tên sách ‘Kinh tế hộ nông dân’ . Tôi đã viết Đào Thế Tuấn chân dung người thầy  và tôi sẽ còn trở lại cày xới nhiều lần trên mảnh đất này ‘học để làm’, ‘học bởi làm’ (Learning to Doing, Learning by Doing) để chiêm nghiệm về tư duy,  tầm nhìn hệ thống, kinh tế hộ nông dân để tìm cách khai mở những  tiềm năng thực tế và khả thi của nông hộ.

Tôi bảo vệ luận án tiến sĩ đúng dịp Đại hội thành lập Hội Khoa học Đất Việt Nam 30 tháng 8 năm 1991.  Đặng Kim Sơn, Mai Thành Phụng, Nguyễn Đăng Nghĩa và tôi đều là nghiên cứu sinh cùng học khóa đào tạo chính quy 1988- 1991 ở VAAS (lúc đó tên gọi là VASI). Đặng Kim Sơn và tôi bảo vệ có sớm hơn một chút so với các bạn cùng trang lứa. Thầy Đào Thế Tuấn trực tiếp giúp cho Đặng Kim Sơn, thầy Mai Văn Quyền hướng dẫn tôi. Hôm tôi bảo vệ thầy Đỗ Ánh là Chủ tịch Hội đồng, thầy Đào Thế Tuấn là Viện trưởng Viện VASI, GS Trần Thế Thông là Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam có tới dự.

NhoThay2

Thầy Đào Thế Tuấn đã chúc mừng tôi bảo vệ luận án thành công, chúc mừng thầy Quyền và tôi đã có cách làm hay, sáng tạo theo giải pháp tiếp cận hệ thống, xây dựng được phương pháp nghiên cứu trên ruộng nông dân và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật thật tốt . Thầy khen ngợi về ba bài báo tiếng Anh, về lạc giống mới HL25 , đậu xanh HL89-E3 giống mới, đậu rồng Bình Minh, Chim Bu, Long Khánh giống mới xen sắn giống mới KM60 và kỹ thuật canh tác trồng xen lạc, đậu xanh, đậu rồng với sắn, sử dụng ngô sắn làm cây choái tự nhiên cho đậu rồng leo trong sự hợp tác hiệu quả Việt Tiệp. Thầy nói rất hay rất cảm động về cây lương thực trong hệ thống cây trồng cạn.

Theo thầy Tuấn, “Nghiên cứu phát triển hệ thống nông nghiệp Việt Nam thích hợp bền vững, Nghiên cứu chọn tạo giống và những giải pháp tiến bộ kỹ thuật chính để tăng năng suất, chất lượng nông sản, thu nhập đời sống, sinh kế người lao động, phát triển kinh tế hộ nông dân. Tôi thích cách làm kiểu làm này và kết quả thực tiễn tốt đẹp này. Cách nghiên cứu hệ thống nông nghiệp ‘kiểu Mai Văn Quyền Hoàng Kim’ là “hứa hẹn mở ra một tương lai tốt đẹp cho các kết quả nghiên cứu chọn giống và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật canh tác thành công tiếp nối”, giáo sư Đào Thế Tuấn nói.

Thầy truyền cho chúng tôi nhiệt huyết để dấn thân suốt đời. Tôi lặng người xúc động.

Kieu Nghien cuu He thong Nong nghiep

Thấy Tuấn khen hình 1 (thầy tiếp cận thông tin gốc sớm hơn đăng báo) và khuyến khích việc ba bài báo nước ngoài của tôi đã đăng trước khi bảo vệ. Thầy nêu nhiều ý hay cho các nghiên cúu sinh tham dự (Hình 1 đó là (hình trên): Hoang Kim, Tran Ngoc Quyen, Nguyen Dang Mai and Co Van Tuan 1996. On farm research and transfer of technology for cassava production in South Vietnam. In Centro Internacional de Agricultura Tropical (CIAT) A Benchmark Study on Cassava Production , Processing and Marketing in Vietnam. Proceedings of a Workshop held in Hanoi, Vietnam, Oct 29-31, 1992 R.H.Howeler (Ed.). Bangkok, Thailand) . Ba bài báo “đăng ở nước ngoài’ là (1) Kim H.; Buresova, M, 1986. Growing winged bean on natural supports under the conditions of South Vietnam. In: Agricultura Tropica et Subtropica, Universitas Agriculturae Praga, No. 19; p. 225 – 236 En. Sum. En. 14 Ref. In CIAT 1990 National Bibliographies Cassava in Asia East and Southeast Asia, p. 416 ;  2)  Buresova, M.; Kim, H.; Quyen, T.N.,1987. The economics og winged bean on manioc as natural supports under the conditions of South Vietnam. In: Agricultura Tropica et Subtropica, Universitas Agriculturae Praga, No. 20; p. 101 – 114 En. Sum. En.; Sk., Ru.,8 Ref. In: CIAT 1990 National Bibliographies Cassava in Asia East and Southeast Asia, p. 416; 3) Hoang Kim, M. Buresova, Tran Ngoc Quyen and Nguyen Van Chuong, 1988 Economic of Winged bean on Maize as natural support in South Vietnam. In: Agricultura Tropica et Subtropica, Universitas Agriculturae Praga, No. 21; p. 45 – 59 En. Sum. En.; Sk., Ru.,9 Ref.)

ThayDaoTheTuan taiHARC

Thầy Đào Thế Tuấn bình dị giữa đời thường, thầy ngồi thoải mái giữa anh em trẻ.

Khoảng năm 1993, thầy Đào Thế Tuấn đến thăm và làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc đã hóm hỉnh hỏi đùa  khi tôi đang làm giám đốc Trung tâm ở đấy: Cậu Hoàng Kim định học và làm gì với mình khi cậu là lính của Giáo sư Trần Thế Thông và cậu đang phối hợp với CIAT, CIP, CIMMYT, Tiệp, Nga với Giáo sư Mai Văn Quyền làm đề tài về cây lương thực và hệ thống canh tác đã rất thành công? Sự nghiên cứu trên ruộng nông dân và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật sản xuất sắn ở phía Nam đã đạt được những tiến bộ mới nào nổi bật trong thực tiễn? Sắn Việt Nam trong hệ thống canh tác hiện nay như thế nào? Thầy Đào Thế Tuấn trong mắt tôi là người Thầy của tư duy hệ thống, có tính thực tiễn rất cao độ, các câu hỏi của Thầy hầu hết đều xoáy vào chuyển giao tiến bộ kỹ thuật thành công và kinh tế hộ nông dân. Tôi thưa với Thầy đó là điều tôi thích nhất, dẫu tôi không được trực tiếp học và làm với Thầy nhưng đó là điều ai cũng nhận thấy và học được. Nói theo cách nói của giáo sư Trần Thế Thông là “thầy Đào Thế Tuấn là người mà mỗi lần trao đổi phát biểu, đều có những ý mới, những đóng góp mới”.

Tôi cũng lém lĩnh chất vấn thầy:  Vì sao thầy ít làm đề tài hệ thống canh tác hoặc đề tài kinh tế hộ cho các tỉnh phía Nam. Thầy Đào Thế Tuấn đã trả lời thật dí dỏm là nguồn lực thầy có hạn và thầy cần tập trung nhiều hơn cho vùng đồng bằng sông Hồng và vùng núi trung du phía Bắc là vùng nghiên cứu chìa khóa của thầy. Với nữa, thầy nói vui:  Ở trong Nam thì anh Thông, anh Quyền, anh Luật, anh Xuân và các cậu làm hay hơn tôi. Phải tự lượng sức mình, cậu ạ.  Đó là minh triết và câu trả lời khéo. Thật phúc hậu những lời Thầy nói.

Tôi thưa với thầy Đào Thế Tuấn là truyền nhân lãnh đạo của Thầy thì đã có anh Nguyễn Văn Bộ nhưng truyền nhân nghề nghiệp của Thầy thì có Đặng Kim Sơn và Đào Thế Anh. Em học và làm theo thầy là học tư duy hệ thống, học tính thực tiễn cao độ, dạy và học chuyển giao tiến bộ kỹ thuật thành công,  dạy và học giáo dục văn hóa du lịch sinh thái tiếp cận kinh tế cây lương thực và kinh tế vùng . Riêng kinh tế hộ nông dân và kinh tế học đô thị thì em chỉ biết và học vận dụng thôi. Thầy cười hồn hậu.

Những ngày đi thực tế của thầy Đào Thế Tuấn ở phía Nam đã tận mắt chứng kiến những thành tựu khoa học kỹ thuật của học trò thầy đất phương Nam bén duyên ‘sâu rễ bền gốc’ trên đồng ruộng  và loang nhanh vào sản xuất . Thầy nhắc lại lời khen về ba bài báo tiếng Anh về  giống sắn mới, kỹ thuật canh tác thích hợp và giải pháp nghiên cứu cùng nông dân và chuyển giao kỹ thuật canh tác sắn. Sau này chúng tôi đã giới thiệu và phát triển rộng rộng trong sản xuất 27 giống cây trồng tốt và 5 kỹ thuật canh tác tiến bộ đều đi theo nguyên lý và cách làm này. Định hướng quan trọng hơn tốc độ. Giáo sư Đào Thế Tuấn, Giáo sư Vũ Tuyên Hoàng và nhiều chuyên gia giỏi Quốc tế đã truyền nghề và lắng đọng trong lòng tôi những cẩm nang nghề nghiệp thật quý giá.  May mắn thay cho tôi đã được học từ Thầy  những bài học vô giá này.  Hôm nay, sau 26 năm đọc lại bài viết cuả thầy: ‘Vai trò cây sắn trong hệ thống canh tác vùng đồi núi’ tôi vẫn nóng hổi tính thời sự. Con người đó, tầm vóc đó thật lớn biết bao ( Đào Thế Tuấn 1992. The role of cassava in farming systems of hilly and mountainous areas; Sách đọc tại đây. A Benchmark Study on Cassava Production, Processing and Marketing in Vietnam. Proceedings of a Workshop held in Hanoi, Vietnam Oct 29-31, 1992. R.H. Howeler (Ed). Bangkok, Thailan, p. 200- 202. )

Thời gia trôi qua, nhớ về thầy Đào Thế Tuấn , tôi vẫn thích nhất lời tiễn thầy của Tiến sĩ Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, người bạn thân thiết của tôi: “Không còn nữa nhà trí thức tài hoa Đào Thế Tuấn; người yêu nước từ thủa ấu thơ, khi có giặc thì cầm súng bảo vệ tổ quốc, khi hoà bình thì nghiên cứu hạt lúa, củ khoai; người lãnh đạo mà tài sản quí nhất trong nhà chỉ là sách vở. Nhưng còn mãi với chúng ta giọng nói miền Trung sang sảng của giáo sư khẳng khái tranh cãi học thuật; mãi còn đó nụ cười hóm hỉnh, dí dỏm của Giáo sư khi bàn bạc về lẽ đời; nhớ mãi dáng vẻ ngơ ngác, cặm cụi tìm tòi của con người mà trí tuệ và lòng bao dung vượt qua những trăn trở đời thường. Chỉ có tương lai mới cho chúng ta biết đã mất gì khi mất đi Đào Thế Tuấn và cũng chỉ có thời gian mới cho chúng ta biết mình được gì do ông để lại. Vĩnh biệt Giáo sư Đào Thế Tuấn – Con Người tuyệt đẹp của một Gia Đình tuyệt đẹp”.

TĨNH LẶNG VỚI OSHO
Hoàng Kim
thực hành đối thoại với Osho người Thầy thiền định lỗi lạc. Osho dẫn ta đi vào thế giới tịch lặng, thiền định sâu, chỉ dẫn cho ta bí quyết thiết yếu Năng lượng tích tụ và giải phóng giúp ta tâm thế tỉnh lặng, an nhiên tự tại, thung dung. Ta chạm đáy sự thật, về nơi tịch lặng, đến chốn thung dung thấu hiểu sự sống.

Năng lượng tích tụ là hiểm họa tiềm ẩm:
Hồ tích nhiều nước dễ vỡ bờ.
Người trầm cảm u uất dễ stress.
Xã hội kiểm soát chặt dễ kích động.

Năng lượng biển tích tụ gây nên sóng thần.
Năng lượng trời tích tụ gây nên bão.
Đồng cỏ khô hạn dễ bắt lửa
Năng lượng người tích tụ gây nên cách mạng xã hội.

Xả năng lượng là bài học vô giá.
Lời Phật dạy Từ Bi Hỷ Xả
Cười là Xả. Buông bỏ là Xả.
Giải phóng năng lượng con người.

Năng lượng giải phóng cần sáng tạo và vô hại.
Thiền giúp bạn trút bỏ gánh nặng.
Vất bỏ ngoài tai mọi chuyện đời
Lòng không vướng bận, dạ an thôi … (1)

(1) Tâm sự với Thiền sư  by Hoàng Trung Trực

Hoàng Kim

Video yêu thích
Vietnamese food paradiseKimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam 


Chào ngày mới 19 tháng 1


BienDong

CNM365. Chào ngày mới  19 tháng 1; Giáo sư Viện sỹ Đào Thế Tuấn mất ngày 19 tháng 1 năm 2011 tại Hà Nội. Ngày này năm xưa. Ngày 19 tháng 1 năm 1974, Hải quân Trung Quốc giành chiến thắng trong Hải chiến Hoàng Sa trước Hải quân Việt Nam Cộng hòa, bắt đầu chiếm đóng hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa. Ngày 19 tháng 1 năm 1990, ngày mất Osho, thiền sư và bậc thầy tâm linh nổi tiếng người Ấn Độ (sinh năm 1931). Ngày 19 tháng 1 năm 1929, ngày mất Lương Khải Siêu, (1873 – 1929),  nhà tư tưởng, giáo sư, chính khách, chủ báo và là nhà hoạt động chính trị lỗi lạc Trung Quốc thời cận đại; Bài chọn lọc: Chấn hưng giáo dục bài tuyển chọn; Tỉnh lặng với Osho; xem tiếp… https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-19-thang-1/


ĐÀO THẾ TUẤN CHÂN DUNG NGƯỜI THẦY

Mai Văn Quyền, Hoàng Kim

Giáo sư Viện sĩ Đào Thế Tuấn là chuyên gia khoa học nông nghiệp hàng đầu Việt Nam  trong lĩnh vực kinh tế phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, là người Thầy của đông đảo cán bộ lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu, giảng dạy và học sinh, sinh viên nông học, kinh tế nông nghiệp, phát triển nông thôn Việt Nam, là người bạn thân thiết của nhà nông. Di sản của Thầy là con người và trí tuệ minh triết phát triển nông nghiệp bền vững, sinh thái nông nghiệp, sinh lý cây lúa, chuyển đổi mùa vụ, lời tâm huyết còn mãi với thời gian. Lời của Thầy nhắc chúng ta nhớ lại những quyết sách cực kỳ quan trọng của cụ Đào Duy Từ, và những nhận định tuyệt vời của nhà sử học bách khoa toàn thư Đào Duy Anh. 

Tiến sĩ Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam viết về giáo sư viện sĩ Đào Thế Tuấn: “Không còn nữa nhà trí thức tài hoa Đào Thế Tuấn; người yêu nước từ thủa ấu thơ, khi có giặc thì cầm súng bảo vệ tổ quốc, khi hoà bình thì nghiên cứu hạt lúa, củ khoai; người lãnh đạo mà tài sản quí nhất trong nhà chỉ là sách vở. Nhưng còn mãi với chúng ta giọng nói miền Trung sang sảng của giáo sư khẳng khái tranh cãi học thuật; mãi còn đó nụ cười hóm hỉnh, dí dỏm của Giáo sư khi bàn bạc về lẽ đời; nhớ mãi dáng vẻ ngơ ngác, cặm cụi tìm tòi của con người mà trí tuệ và lòng bao dung vượt qua những trăn trở đời thường. Chỉ có tương lai mới cho chúng ta biết đã mất gì khi mất đi Đào Thế Tuấn và cũng chỉ có thời gian mới cho chúng ta biết mình được gì do ông để lại. Vĩnh biệt Giáo sư Đào Thế Tuấn – Con Người tuyệt đẹp của một Gia Đình tuyệt đẹp”. Đọc tiếp … https://hoangkimlong.wordpress.com/category/dao-the-tuan-chan-dung-nguoi-thay/

Đào Thế Tuấn cuộc đời và sự nghiệp

Giáo sư Viện sĩ Đào Thế Tuấn sinh ngày 4 tháng 7 năm 1931 tại TP. Huế, nguyên quán ở Khúc Thủy, Thanh Oai, Hà Tây cũ (nay là Hà Nội). Giáo sư là con trai trưởng của cụ Đào Duy Anh, học giả bách khoa toàn thư nổi tiếng thời hiện đại, hậu duệ của một dòng họ lỗi lạc trong lịch sử. Mẹ của giáo sư là bà Trần Như Mân một nhà giáo và hoạt động xã hội.  Giáo sư Viện sỹ Đào Thế Tuấn mất ngày 19 tháng 1 năm 2011 tại Hà Nội.

Giáo sư là tiến sỹ đầu tiên của Việt Nam được Liên Xô đào tạo.Từ tháng 8/1953 đến cuối năm 1958, Thầy vừa hoàn thành chương trình kỹ sư nông học vừa học chuyển tiếp sinh và bảo vệ thành công luận án tiến sỹ nông học ở Trường Đại học Nông nghiệp Tachkent.. Cuối năm 1958 Thầy về nước và làm giảng viên sinh lý thực vật kiêm trưởng phòng khoa học của Học viện Nông Lâm. Sau nhiều năm làm việc miệt mài, với hàng trăm công trình nghiên cứu về sinh thái nông nghiệp, sinh lí cây lúa, chuyển đổi mùa vụ sản xuất nông nghiệp, hệ thống nông nghiệp, phát triển nông nghiệp bền vững, nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng,, giáo sư Đào Thế Tuấn trở thành chuyên gia khoa học hàng đầu trong lĩnh vực kinh tế phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, người Thầy của đông đảo cán bộ lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu, giảng dạy và học sinh, sinh viên nông học, kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, người bạn thân thiết của nhà nông.

Giáo sư Đào Thế Tuấn là Phó Viện trưởng (1976), Viện trưởng Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (1983). Phó Chủ nhiệm Chương trình nghiên cứu về Phát triển nông thôn KX-08 (1990), đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam trên 60 năm tuổi đảng; giáo sư năm 1985, thành viên nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Liên Xô (1985); Huân chương Công trạng nông nghiệp hạng Nhất, hạng Hai và hạng Ba, Huân chương Cành cọ Hàn lâm hạng Hai của Pháp (1991); Huân chương Chiến thắng Hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Lao động hạng Hai. Anh hùng Lao động do Đảng và Nhà nước Việt Nam phong tặng (2000); Giải thưởng quốc tế René Dumont dành cho các nhà nông học các nước đang phát triển (2003); Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ (2005); Huân chương Bắc đẩu bội tinh do Chính phủ Pháp trao tặng (2009).

Giáo sư Viện sĩ Đào Thế Tuấn là tấm gương mẫu mực của một nhà khoa học chân chính, suốt đời gắn bó với nông dân, nông nghiệp, nông thôn.

Tác phẩm chọn lọc của GS Đào Thế Tuấn bao gồm:

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn, những vấn đề không thể thiếu trong phát triển bền vững
An ninh lương thực cần một chiến lược dài hạn
1 triệu ha lúa lai chạy theo số lượng sẽ lĩnh hậu quả xấu
Hỗ trợ tổ chức sản xuất nông nghiệp miền Bắc Việt Nam (Nhà xuất bản Nông nghiệp, năm 2000)
Ứng dụng phương pháp mô hình hoá toán học để xây dựng quy trình kỹ thuật trồng lúa cho cấp huyện
Công nghệ sản xuất lúa ở ĐB sông Hồng
Hệ thống nông nghiệp phát triển bền vững
Đào Thế Tuấn 1997. Kinh tế hộ nông dân. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Đào Thế Tuấn 1986. Chiến lược phát triển nông nghiệp. NXB Nông nghiệp, 115 trang
Đào Thế Tuấn 1984. Hệ sinh thái nông nghiệp. NXB Khoa học và kỹ thuật, 174 trang
Đào Thế Tuấn, Phạm Đình Vụ 1978. Kỹ thuật trồng ngô vụ đông. NXB Nông nghiệp, 67 trang
Đào Thế Tuấn.1977. Cơ sở khoa học của việc xác định cơ cấu cây trồng hợp lý. NXB Nông nghiệp, 131 trang
Đào Thế Tuấn 1975. Cuộc cách mạng về giống cây trồng NXB Khoa học và kỹ thuật, 127 trang
Đào Thế Tuấn, 1970. Sinh lí của ruộng lúa năng suất cao. NXB Khoa học và kỹ thuật, 355 trang.
Đào Thế Tuấn 1969. Bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý ở hợp tác xã sản xuất nông nghiệp.NXB Nông thôn,75 trang
Đào Thế Tuấn 1969. Đời sống cây trồng. NXB Khoa học, 152 trang.

Tâm hương đưa tiễn có chứa đựng nhiều thông tin liên quan

Vĩnh biệt GSVS Đào Thế Tuấn: Nhà trí thức của nông nghiệp, nông dân và nông thôn (VAAS)
GS – VS Đào Thế Tuấn: Nhà tri thức lớn của nông nghiệp, nông thôn (CAND –  PGS.TS. Nguyễn Văn Bộ)
Vĩnh biệt GS.VS, anh hùng nông học Đào Thế Tuấn ( VEF- Vũ Trọng Bình)
Tưởng nhớ GS Đào Thế Tuấn, nhà khoa học nông nghiệp hàng đầu (Báo NNVN- TS. Lê Hưng Quốc)
GS. Đào Thế Tuấn – Con Người tuyệt đẹp (Báo Tia Sáng – TS. Đặng Kim Sơn)
Vĩnh biệt Thầy Đào Thế Tuấn (Blog Dạy và Học – TS Hoàng Kim)
GS-VS Đào Thế Tuấn: Anh hùng nông học giữa Hà thành (Báo Thể thao và Văn Hóa – Nguyễn Yến)

Đào Thế Tuấn trang văn gửi lại

Giáo sư Viện sĩ Đào Thế Tuấn có nhiều trước tác gửi lại nhưng theo ý chúng tôi thì có bốn tài liệu rất ngắn và rất đáng quan tâm: Một là bài viết “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn, những vấn đề không thể thiếu trong phát triển bền vững”. Hai là bài nói  “Đừng để nông dân thêm yếu thế trong cơ chế thị trường” GSVS. Đào Thế Tuấn trả lời phỏng vấn Báo VietNamNet ngày 30 tháng 3 năm 2008, Hà Yên thực hiện. Ba là  bài nói “Phải xây dựng xã hội dân sự ở nông thôn” Giáo sư viện sĩ Đào Thế Tuấn trả lời phỏng vấn Tuần Việt Nam (trích dẫn nguồn IPSARD ngày 7.7.2009, Viện Chính sách Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn, Đoan Trang thực hiện) nhân sự kiện ĐSQ Pháp ở Hà Nội đã tổ chức lễ trao Huân chương hạng nhất của Chính phủ Pháp cho Giáo sư. Bốn là  bài nói ‘Bài toán “tam nông” thời kỳ đô thị hóa’ GS-VS Đào Thế Tuấn trả lời phỏng vấn Báo Thể thao & Văn Hóa do Nguyễn Yến thực hiện trong bài viết ‘Anh hùng nông học giữa Hà thành’ ngày 2. 8. 2010.

Vì giá trị của những lời tâm huyết, chúng tôi xin dẫn nguyên văn mà không bình luận

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn, những vấn đề không thể thiếu trong phát triển bền vững

Đào Thế Tuấn
Viện sĩ, Chủ tịch Hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

“Ở nước ta, phát triển nông nghiệp có liên quan mật thiết đến tính bền vững của sự phát triển. Nếu khoảng cách giữa thành thị và nông thôn ngày càng tăng, phân hóa xã hội quá mức thì dù có đạt được sự tăng trưởng cao chưa thể coi là đã có phát triển. Hơn thế nữa, nông nghiệp, nông dân và nông thôn là ba vấn đề tuy khác nhau, nhưng nếu không cùng được giải quyết một cách đồng bộ thì không thể công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước một cách thành công được.

1 – Vấn đề nông nghiệp

Hiện nay, có ý kiến cho rằng, nông nghiệp nước ta đã phát triển tương đối tốt. Đặc biệt, chúng ta xuất khẩu được nhiều nông sản trong điều kiện giá lương thực và nông sản thế giới đang tăng. Tuy nhiên, thực tế không hẳn là như vậy, vẫn còn nhiều bất cập khiến chúng ta phải quan tâm nhiều hơn đến sự phát triển của nông nghiệp. Tỷ trọng của nông nghiệp trong sản phẩm quốc nội (GDP) giảm dần, nhưng không có nghĩa là vai trò của nông nghiệp ngày càng giảm. Thực tế cho thấy, Hoa Kỳ và Pháp, hai nước có nền công nghiệp phát triển vào bậc nhất thế giới cũng là hai nước xuất khẩu nông sản lớn nhất thế giới. Ngược lại, các nước Đông Á, vốn được coi là giải quyết tốt vấn đề nông nghiệp song song với công nghiệp hóa, thì hiện nay phải nhập khẩu lương thực và nông sản ngày càng nhiều, vì nông nghiệp đã giảm sút nghiêm trọng(1). Việc các nước đã phát triển đang phải trợ cấp cho nông nghiệp rất nhiều làm cho các nước đang phát triển gặp không ít khó khăn là cái giá phải trả cho việc đã không chú ý đến nông nghiệp trong thời kỳ công nghiệp hóa.

Các nước đang phát triển hiện nay có dư lượng lao động nông thôn quá cao, và ngày càng tăng. Chẳng hạn, ở Trung Quốc, dự báo vào năm 2020, nông nghiệp trong GDP còn 5%, lao động nông nghiệp còn 35% và lao động nông thôn còn 45%. ở nước ta, theo dự báo của chúng tôi, cũng vào năm ấy, nông nghiệp trong GDP sẽ còn 10%, lao động nông nghiệp vẫn còn 23%. Như vậy, ngay khi đã công nghiệp hóa thành công, vai trò của nông nghiệp ở các nước đang phát triển vẫn còn cao, về thực chất vẫn còn là nước công – nông nghiệp. Do vậy, chúng ta không thể sao nhãng việc phát triển nông nghiệp, mà phải coi nó như một trong những mục tiêu trọng tâm của phát triển kinh tế.

Vấn đề lớn của nông nghiệp nước ta sau thời kỳ đổi mới là chất lượng nông sản còn thấp, vì chủ yếu xuất khẩu nông sản thô, quy mô sản xuất nhỏ nên giá thành cao, năng suất lao động thấp. Muốn tăng giá trị nông sản, cần cải tiến chất lượng sản phẩm bằng cách phát triển các sản phẩm có xuất xứ địa lý, sản phẩm bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh và an toàn thực phẩm quốc tế và sản phẩm hữu cơ. Để làm được việc này, cần xây dựng một thể chế quản lý chất lượng nông sản đi đôi với việc phát triển công nghiệp chế biến nông sản.

Thể chế thị trường nông sản, nếu chủ yếu chỉ dựa vào quan hệ nông dân – doanh nghiệp theo kiểu hợp đồng nông nghiệp sẽ dẫn đến sự độc quyền của doanh nghiệp chế biến và lưu thông. Nông dân, những người sản xuất trực tiếp vẫn chịu nhiều thiệt thòi. Muốn giải quyết tình trạng này, phải phát triển các hợp tác xã bao gồm cả hoạt động chế biến và buôn bán, lưu thông thì việc phân phối thu nhập mới được công bằng. Nhà nước không thể trợ giúp nông dân thông qua các doanh nghiệp nhà nước, vì thu lợi nhuận là mục tiêu chính và trước hết của doanh nghiệp, bởi vậy, phải thực hiện các hỗ trợ của Nhà nước thông qua các dịch vụ công. Hiện nay, các dịch vụ công phục vụ phát triển nông nghiệp còn yếu, đặc biệt các hộ nghèo ít được hưởng lợi. Chúng ta đã xây dựng được một số hệ thống cung cấp dịch vụ công do các tổ chức nông dân thực hiện cùng với Nhà nước và thị trường, cho phép nâng cao hiệu quả của việc cung cấp dịch vụ cho nông dân, tới đây cần nhân rộng các mô hình này.

Một vấn đề khác là, giá đầu vào của sản xuất nông nghiệp đang tăng mạnh, giá nông sản không theo kịp, nông dân không còn hăng hái với sản xuất nông nghiệp, lao động nông thôn đang bỏ ra đô thị kiếm việc làm, lao động nông nghiệp đang bị nữ hóa, già hóa và chuyển từ thâm canh sang quảng canh, chăn nuôi và nghề phụ đang bị giảm sút… Giá một số nông sản như lúa mì, ngô, đậu tương đang tăng rất nhanh trên thị trường thế giới mà chúng ta vẫn nghĩ đến việc nhập khẩu, không nhân cơ hội này để phát triển sản xuất trong nước. Nông thôn đang có xu hướng quay trở về độc canh cây lúa, từ bỏ việc đa dạng hóa sản xuất. Trong điều kiện này, chúng ta thiếu các biện pháp để chuyển đổi cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, thiếu biện pháp để tăng năng suất lao động. Tình trạng này sẽ dẫn đến nguy cơ mất an ninh lương thực và thực phẩm như các nước công nghiệp mới ở Đông á và Đông – Nam á. Theo dự báo của các tổ chức quốc tế, trong thế kỷ XXI, thế giới sẽ thiếu lương thực, đây có phải là một thời cơ cho chúng ta phát triển nông nghiệp không?

Khoa học – kỹ thuật phục vụ nông nghiệp nước ta chưa phát triển. Các câu hỏi của công nghệ nông nghiệp thế kỷ XXI như vấn đề hướng công nghệ sinh học bảo đảm các nguy cơ đối với sức khỏe của con người và môi trường, vấn đề nông nghiệp hữu cơ với dự báo sẽ chiếm lĩnh thị trường nông sản thế giới, vấn đề phòng chống hiện tượng nóng lên của khí quyển, nước biển dâng cao làm ngập các đồng bằng – vốn được coi là những vựa lúa của nước ta, vấn đề nông nghiệp chính xác áp dụng công nghệ định vị, vấn đề nông nghiệp thẳng đứng hay không đất để giải quyết vấn đề thiếu đất và bảo vệ môi trường…., hầu hết vẫn chưa tìm được câu trả lời.

Các vấn đề biến đổi khí hậu và rủi ro trong nông nghiệp ngày càng tăng, mà chúng ta chưa có các biện pháp bảo vệ nông nghiệp, chống thiên tai và rủi ro. Hệ thống bảo hiểm chống thiên tai và rủi ro mặc dù phức tạp, nhưng không phải không có cách thực hiện được.

Chúng ta cũng chưa có một chiến lược công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn, hiện đại hóa nông nghiệp như thế nào trong điều kiện đất ít, người đông, quy mô sản xuất nhỏ, năng suất lao động thấp.

2 – Vấn đề nông dân

Một thực tế là, nông dân còn quá nghèo, việc giải quyết giảm nghèo chưa gắn liền với phát triển kinh tế nông thôn nên chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo vẫn còn rất cao. Nông dân là bộ phận công dân ít được hưởng phúc lợi xã hội, nhất là về giáo dục, y tế. Những vấn đề xã hội ở nông thôn chưa được giải quyết một cách cơ bản như: bảo hiểm thiệt hại do thiên tai và thị trường, bảo hiểm xã hội. Theo kinh nghiệm của các nước, không thể chỉ giải quyết các vấn đề xã hội của nông thôn bằng các biện pháp thị trường.

Nông dân thiếu việc làm ở nông thôn phải di cư ra thành thị để tìm việc, làm thuê với giá lao động rất thấp và bị đối xử như “công dân loại hai”, mặc dù họ là động lực chủ yếu của công cuộc đổi mới. Chưa có một quy hoạch chuyển đổi cơ cấu lao động, rút lao động ra khỏi nông thôn và nông nghiệp. Nông dân tham gia thị trường lao động nhưng không được đào tạo nghề, không được Nhà nước hỗ trợ như trước kia đã làm trong các chương trình kinh tế mới. Do vậy, cần có một hệ thống biện pháp đồng bộ giúp đào tạo nông dân, đó chính là biện pháp để xây dựng giai cấp công nhân mới. Đây cũng là giải pháp hữu hiệu giúp cho lớp người này không trở thành “vô sản lưu manh”, kéo theo đó là tội phạm và tệ nạn xã hội.

Một điều tối quan trọng là, quyền lợi của nông dân chưa được bảo vệ vì thiếu nghiệp đoàn nông dân. Nông dân là bộ phận yếu thế nhất, không có quyền mặc cả trên thị trường, nên quan hệ giữa thương nghiệp với nông dân đang diễn ra thiếu công bằng. Nông dân còn thiếu chủ quyền về đất đai, bị mất đất mà không có ai bênh vực. Việc đầu cơ ruộng đất làm giá bất động sản lên cao một cách giả tạo, nhưng nông dân cũng không được hưởng lợi gì từ việc này. Tình trạng này có nguyên nhân từ sự quản lý, kiểm soát của Nhà nước. Ngay ở một số nước có sở hữu đất tư nhân, nhà nước vẫn kiểm soát việc sử dụng đất một cách chặt chẽ.

Để phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa có hiệu quả và năng suất lao động cao, con đường đúng đắn không phải là xóa bỏ kinh tế hộ nông dân, phát triển trang trại, mà là tổ chức hợp tác xã kiểu mới có chế biến nông sản và buôn bán chung nhằm mở rộng quy mô sản xuất, thực hiện thương nghiệp công bằng. Hiện nay, chúng ta đang thiếu một hệ thống dịch vụ trợ giúp cho nông dân xây dựng các hợp tác xã kiểu mới, bắt đầu từ việc xây dựng các tổ hợp tác để tiến lên hợp tác xã. Đây là biện pháp cơ bản để tiếp tục phát triển kinh tế gia đình nông dân, bắt đầu từ “Khoán 10”, chuyển hộ nông dân thành nông trại gia đình như ở các nước tiên tiến.

Thế nhưng, hạn chế cố hữu của nông dân ở nước ta là tính thụ động, chờ đợi sự hỗ trợ, trừ một số vùng đặc biệt có vốn xã hội cao. Hiện nay, có nhiều vùng nông dân rất năng động nhưng chúng ta chưa thực hiện được việc tổ chức nghiên cứu các trường hợp ấy để có thể chuyển giao tính năng động sang các vùng khác.

3 – Vấn đề nông thôn

Trong quá trình đổi mới, khoảng cách giữa thành thị và nông thôn ngày càng xa nhau, do chưa có chiến lược đổi mới hiệu quả.

Nông nghiệp mâu thuẫn với phát triển nông thôn. Các vùng phát triển nông nghiệp mạnh thì không chuyển đổi được cơ cấu kinh tế nông thôn, không tạo thêm được việc làm và không tăng nhanh thu nhập của nông dân. Tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn không thuận lợi cho việc nâng cao năng suất lao động nông thôn và tăng thu nhập của nông dân. Việc để nông dân đi bán sức lao động ở nơi khác với giá rẻ mạt, việc không có quy hoạch lao động, đã dẫn đến nhiều vùng thiếu lao động và giá lao động tăng mạnh.

Mức đóng góp của nông dân, nông thôn cao, phúc lợi cung cấp cho nông dân lại thấp, nông dân còn ít được hưởng lợi về đầu tư kết cấu hạ tầng và các nguồn cung cấp phúc lợi của Nhà nước.

Từ các hộ nông dân đang xuất hiện nhiều doanh nghiệp nhỏ: nông trại gia đình, doanh nghiệp nông nghiệp, doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ từ các làng nghề, nhưng các doanh nghiệp này không được các chương trình doanh nghiệp nhỏ và vừa hỗ trợ. Nông thôn còn thiếu các thể chế dựa vào cộng đồng như hợp tác xã và các tổ chức nghề nghiệp của nông dân để phụ trách việc cung cấp các dịch vụ công.

Một vấn đề nữa còn gây nhiều bức xúc là môi trường nông thôn đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. Nên có các chương trình bảo vệ môi trường gắn liền Nhà nước, doanh nghiệp và các cộng đồng nông thôn cùng thực hiện việc bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường. Kinh nghiệm của các nước cho thấy, nếu giao việc bảo vệ môi trường cho các tổ chức nông dân thì có thể biến việc bảo vệ môi trường trở thành những hoạt động kinh tế tạo việc làm và thu nhập cho nông dân. Việc phát triển du lịch nông thôn cũng góp phần nâng cao được chất lượng môi trường.

Nông thôn còn thiếu mạng lưới an sinh xã hội, trong khi thu nhập tương đối giảm nhanh. Việc xây dựng hệ thống an sinh xã hội phải gắn liền với hoạt động tương trợ, với các tổ chức nông dân. Ở Pháp, từ một tổ chức bảo hiểm tương trợ đã phát triển lên thành một công ty bảo hiểm quốc tế lớn nhất châu Âu, từ một quỹ tín dụng nông nghiệp thành một ngân hàng giàu nhất châu Âu. Các tổ chức này vẫn là tổ chức tập thể của nông dân.

Các nguyên nhân gây cản trở cho việc phát triển nông nghiệp, nông thôn không thể chỉ giải quyết bằng các biện pháp tình thế, mà có thể phải thay đổi ngay từ trong đường lối cải cách kinh tế – xã hội. Có thể thấy, cuộc cải cách kinh tế của Việt Nam và Trung Quốc bị ảnh hưởng mạnh của chủ nghĩa tự do mới, quá đề cao kinh tế thị trường và sớm đồng thuận với sự rút lui của nhà nước trong quản lý, thiếu cải cách xã hội. Đó là lý do chính làm cho khoảng cách giữa thành thị và nông thôn ngày càng xa nhau. Thêm vào đó, chúng ta lại đang dựa vào ưu thế cạnh tranh trong việc phát triển công nghiệp và dịch vụ để thu hút đầu tư nước ngoài là giá lao động rẻ, giá đất rẻ và giá môi trường rẻ. Do đó, mục tiêu của việc tăng trưởng nhanh dựa vào các ưu thế cạnh tranh này đã mâu thuẫn với các mục tiêu của phát triển nông thôn. Việc thu hút quá nhiều đầu tư nước ngoài sẽ dẫn đến sự phụ thuộc chính trị và phát triển không bền vững, gây khó khăn cho các thế hệ sau vì phải gánh nợ tích lũy từ các thế hệ trước. Mặt khác, chúng ta còn thiếu một nền kinh tế mang tính xã hội, và các doanh nhân xã hội thì không thể thực hiện được việc cải cách xã hội. Không thể chỉ dựa vào việc kêu gọi các doanh nghiệp tham gia hoạt động từ thiện. Cần có một đường lối xã hội hóa công cuộc cải cách kinh tế xã hội, không lẫn lộn xã hội hóa với thị trường hóa và tư nhân hóa. Xã hội hóa là huy động sự tham gia của quần chúng. Phát triển mạnh xã hội dân sự để huy động quần chúng tham gia vào sự phát triển chính là áp dụng truyền thống quan điểm quần chúng của Đảng.

Để giải quyết các vấn đề trên, cần có một hệ thống biện pháp phát triển nông thôn có hiệu lực, theo chúng tôi, đó là:

– Nhà nước cần có chính sách phát triển nông thôn toàn diện, không chỉ tập trung vào nông nghiệp. Việc phát triển nông thôn là công việc của hầu hết các bộ chứ không phải chỉ riêng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Hiện nay, chúng ta đã có Hội Khoa học phát triển nông thôn để huy động lực lượng quần chúng giúp nhà nước và doanh nghiệp thực hiện công việc này. Chúng ta đang được các tổ chức quốc tế và trên 399 tổ chức phi chính phủ hỗ trợ việc phát triển nông thôn, nhưng chúng ta không biết họ đang làm gì để hợp tác một cách chặt chẽ. Hội Khoa học Phát triển nông thôn đang cố gắng xây dựng cơ sở khoa học cho việc phát triển nông thôn và xây dựng một trung tâm cung cấp dịch vụ phát triển nông thôn hoạt động theo nguyên tắc của một doanh nghiệp mang tính xã hội, giống như một mô hình kiểu mới chưa có ở nước ta nhưng rất phổ biến ở các nước…

– Nhà nước phải hỗ trợ việc tăng cường năng lực cho các cộng đồng nông thôn để nông dân có thể tham gia vào việc phát triển nông thôn. Xây dựng các thể chế nông thôn dựa vào cộng đồng: hợp tác xã và các tổ chức nghề nghiệp của nông dân. Cần tổng kết các sáng kiến mới đang xuất hiện ở nông thôn như việc phát triển các cụm nông nghiệp và công nghiệp, việc hình thành các doanh nghiệp nhỏ ở nông thôn, việc phát triển du lịch nông thôn, việc áp dụng công tác khuyến nông kinh tế xã hội và tư vấn quản lý nông trại, việc đào tạo nông dân, không những để sớm có những “nhà nông” chuyên nghiệp có trình độ sản xuất, kinh doanh tiên tiến, mà còn gắn bó lâu bền với nông thôn…/.”

(1) Phi-lip-pin là một nước nông nghiệp, trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đã dành quá nhiều diện tích canh tác cho phát triển đô thị và khu công nghiệp, khu chế xuất, nhất là có quá nhiều sân golf, nay đang “đau đầu” vì thiếu lương thực một cách trầm trọng.

Đừng để nông dân thêm yếu thế trong cơ chế thị trường

GSVS. Đào Thế Tuấn trả lời phỏng vấn Báo VietNamNet, 30/03/2008, Hà Yên thực hiện  “Đừng để nông dân thêm yếu thế trong cơ chế thị trường”.

“Có một sự hiểu nhầm rằng, phát triển nông nghiệpphát triển nông thôn là một, và Chính phủ giao Bộ NN-PTNT lo về phát triển nông thôn. Trên thực tế, Bộ này chưa làm được gì nhiều cả. Ngày trước, việc phát triển nông thôn do Bộ máy bên Đảng làm, có Ban Nông nghiệp TƯ lo tất cả các vấn đề về nông thôn như cải cách ruộng đất, hợp tác hoá, xây dựng nông thôn như thế nào…, được cụ thể trong Chỉ thị 100, Nghị quyết TƯ 10… Bây giờ, đưa nông thôn về Bộ NN-PTNT, trong khi Bộ hầu như chỉ lo phát triển sản xuất và phòng chống thiên tai, mà lẽ ra phòng chống thiên tai là do Bộ Tài nguyên – Môi trường phải làm. Nên mỗi lần có thiên tai, Bộ trưởng Bộ NN-PTTN lại phải chạy khắp các địa phương để chỉ đạo, không có thì giờ để lo phát triển nông thôn.

Thứ hai ở Việt Nam có sự hiểu nhầm về chuyện phát triển nông nghiệp tốt thì phát triển nông thôn tốt vì nông nghiệp đi lên kéo theo nông thôn phát triển. Thực tế không phải như vậy. Nông nghiệp là ngành sản xuất còn nông thôn là lãnh thổ. Hầu như tất cả các bộ, ngành của ta đều có bộ phận lo về nông thôn, như Giáo dục, Y tế rồi LĐ-TBXH… Vậy tại sao lại giao cho một bộ phụ trách cả công việc lớn như vậy?… Hiện nay, trong phát triển nông thôn có hai vấn đề lớn: ruộng đất và lao động, nhưng Bộ NN-PTNT lại không được quản lý.”

“Giảm thủy lợi phí và nhiều khoản thuế khác tất nhiên là tốt rồi nhưng cái đó không phải là chính . Ở Trung Quốc, thu nhập của người dân thành thị cao hơn nông thôn 3,6 lần . Họ cho rằng đó là mới tính thu nhập bằng tiền chứ chưa tính phúc lợi là giáo dục và y tế . Nếu cộng cả hai yếu tố này , khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn thành thị Trung Quốc là hơn 5 lần. Con số này ở Việt Nam hiện là 2,6 lần. Nếu tình hình vẫn như hiện nay thì sẽ giống như Trung Quốc. Theo tôi muốn giải quyết được vấn đề phúc lợi không thể làm theo kiểu kinh tế thị trường. Bây giờ Việt Nam đang lẫn lộn giữa xã hội hóa, thị trường hóa và tư nhân hóa . Nếu muốn làm phúc lợi cho nông dân phải xã hội hóa . Xã hội hóa thực chất là bắt dân đóng tiền thôi. Xã hội hóa là cả xã hội phải lo công việc đó”.

Vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn hiện nay về thực chất là vấn đề phát triển bền vững . Nếu công cuộc đổi mới của nước ta dẫn đến một sự phân hóa xã hội quá mức , tăng khoảng cách giữa thành thị và nông thôn thì sự phát triển sẽ không bền vững . Nông nghiệp, nông dân và nông thôn là ba vấn đề khác nhau, song nếu không cùng được giải quyết một cách đồng bộ thì không thể CNH-HĐH đất nước một cách vững chắc được.”

“Phải xây dựng xã hội dân sự ở nông thôn”

Giáo sư viện sĩ Đào Thế Tuấn trả lời phỏng vấn Tuần Việt Nam (trích dẫn nguồn IPSARD ngày 7.7.2009, Viện Chính sách Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn, Đoan Trang thực hiện) nhân sự kiện ĐSQ Pháp ở Hà Nội đã tổ chức lễ trao Huân chương hạng nhất của Chính phủ Pháp cho Giáo sư.

“Tôi không đồng ý với cách nói “phát triển nông nghiệp vì chúng ta có lợi thế về nông nghiệp”. Nông nghiệp là ngành mà chúng ta phải duy trì và phát triển, không phải vì lợi thế cạnh tranh nào cả, mà vì phát triển nông nghiệp là chuyện bắt buộc phải làm, không là chết, vậy thôi. Người ta đã tính rằng đến năm 2050, thế giới cần lương thực gấp đôi hiện nay, đến cuối thế kỷ thì nhu cầu tăng gấp ba. Nếu cung lương thực cho thế giới thiếu thì giá chắc chắn sẽ tăng lên. Nói cách khác, nếu để mất an ninh lương thực thì sẽ phải nhập khẩu để sống sót, mà nhập khẩu thì càng ngày càng đắt. Việt Nam có 86 triệu dân, con số không hề nhỏ. Phải xây dựng được nền nông nghiệp ít nhất là bảo vệ được an ninh lương thực của nước nhà, còn nếu biết làm tốt hơn thì càng có lợi về kinh tế. Nhìn từ góc độ chính trị – xã hội, nông dân Việt Nam là những người ít được hưởng lợi từ đổi mới nhất. Nông dân còn quá nghèo, ít được hưởng phúc lợi xã hội (giáo dục, y tế…), thiếu việc làm ở nông thôn và buộc phải di cư ra thành phố làm thuê với giá lao động rẻ mạt. Nông dân đang bị bần cùng hóa, và đó là nguy cơ gây bất ổn xã hội. Như ở Trung Quốc bây giờ, bạo loạn ở nông thôn xảy ra nhiều lắm, ấy là hậu quả của sự bần cùng hóa nông dân.”

“Quá trình công nghiệp hóa ở các nước không giống nhau. Thế kỷ 17-19, các nước tư bản dùng nguồn lợi bóc lột từ hệ thống thuộc địa để làm công nghiệp hóa, ví dụ Anh, Pháp là theo cách này. Nước nào không có thuộc địa, như Đức, thì gây chiến để giành lấy thuộc địa. Thế kỷ 20, Liên Xô sau khi tiến hành Cách mạng Tháng Mười, không có nguồn lực để công nghiệp hóa nên họ buộc phải dùng nông nghiệp để làm công nghiệp. Trung Quốc từ thời Mao Trạch Đông cũng vậy, bóc lột nông dân, vắt kiệt nông nghiệp để dồn lực cho công nghiệp. Và Việt Nam ta bây giờ đang diễn lại đúng kịch bản đó”. Chúng ta tuy không có một chủ trương nào nói rằng phải dùng nông nghiệp để nuôi công nghiệp nhưng thực tế đang cho thấy đúng như vậy đó. Tất cả những câu “nông dân là lực lượng cách mạng”, “nông dân là những người khởi xướng Đổi mới”, “phải biết ơn nông dân”, “phải ưu tiên phát triển hợp lý nông nghiệp”, tôi cho đều là mị dân cả. Trên thực tế, nông nghiệp đang bị lép vế, nông dân thua thiệt đủ bề. Đó là hậu quả của việc bóc lột nông nghiệp để dồn lực cho công nghiệp hóa. Tôi nói cách khác, việc nông thôn, nông nghiệp Việt Nam bây giờ kém phát triển hoàn toàn là do cơ chế, do đường lối, quyết định của lãnh đạo mà thôi.”

“Từ kinh nghiệm chung của thế giới, tôi thấy là nếu anh làm quản lý ruộng đất tốt thì còn đất nông nghiệp tăng thêm, còn thừa đất ấy chứ. Tình trạng mất đất nông nghiệp ở ta là do đầu cơ mà ra cả. Nói sâu xa hơn thì do cách quản lý của ta là quản lý để đầu cơ. Ngay xung quanh Hà Nội đây này, tôi biết có nhiều nơi, người ta xây những ngôi mộ giả để găm đấy, chờ khi nào chính quyền lấy đất thì sẽ được đền bù.Bây giờ có lắm ý kiến nói tới việc tăng hạn điền cho nông dân. Tôi thì tôi cho rằng nhiều người nói vậy vì họ có quyền lợi liên quan tới việc đầu cơ ruộng đất. Hạn điền ở nước ta không thấp. Ngay Hàn Quốc cũng chỉ có 3 hécta, Nhật Bản 10 hécta. Mở rộng thêm để làm gì, chỉ tạo điều kiện cho đầu cơ phát triển thêm”.

“Vấn đề sở hữu tư nhân về đất nông nghiệp cũng vậy, đang được đặt ra, nhưng theo tôi là không cần thiết. Ở Việt Nam, quyền sử dụng đất còn rộng hơn quyền sở hữu đất ở Pháp. Có tập trung ruộng đất trong tay địa chủ thì cũng không đẻ ra sản phẩm. Ở nhiều nước đang phát triển, phải tồn tại nông dân nghèo không ruộng đất thì mới có người làm thuê. Ví dụ như ở Brazil, nông dân biến thành thợ. Họ ở thành phố, hàng ngày về nông thôn làm việc rồi chiều tối lại lên thành phố.”

“Thu nhập thấp, mất đất, không có việc làm. Khoảng cách thu nhập, chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn là rất lớn. Nông dân ở nông thôn không được tiếp cận rộng rãi với giáo dục, y tế, bảo hiểm xã hội, không có tích lũy. Nhà có người ốm đi viện một lần là của cải mất hết, trắng tay. Thêm một đứa con đi học xa, học lên cao là cả nhà lao đao. Việc làm cho nông dân là vấn đề nghiêm trọng đối với Việt Nam và cũng là vấn đề lớn với thế giới. Nhìn chung, thế giới càng công nghiệp hóa càng thừa lao động, bởi vì công nghiệp và dịch vụ sử dụng lao động ít hơn nông nghiệp. Nói cách khác, công nghiệp và dịch vụ không thể “nuốt” hết số lao động dôi dư. Thừa lao động nông nghiệp là một trong các kết quả của quá trình phát triển. Ở ta, nông thôn thừa khoảng 50% lao động, nhưng lại không phải là kết quả của sự phát triển công nghiệp, mà do họ làm nông nghiệp thì không có đất, không làm nông nghiệp thì chẳng biết dùng họ vào việc gì. Xuất khẩu lao động cũng chỉ là giải pháp tình thế thôi. Hiện giờ Âu châu hạn chế nhận lao động nước ngoài. Trung Cận Đông, Hàn Quốc và Malaysia bình thường vẫn nhận nhiều lao động di cư vì họ đang có nhu cầu phát triển, nhưng nay khủng hoảng, họ cũng gặp khó khăn. Tóm lại, thất nghiệp đang là bài toán không giải quyết được ở nhiều nước. Nông dân đang phải chịu gánh nặng cho toàn xã hội. Tôi nhấn mạnh: Lao động thừa ở nông thôn là vấn đề của toàn xã hội, cho nên cả xã hội phải góp vào mà lo chứ không chỉ Bộ NN&PTNT hay Bộ LĐ&TBXH đâu”.

Có cách nào để nâng thu nhập, từ đó nâng mức sống cho người ở nông thôn không?

Tôi cho rằng đa dạng hóa sinh kế là chìa khóa để tăng thu nhập cho nông dân. Không thể chỉ làm nông được. Nói vui, tôi biết có làng ở Nam Sách (Hải Dương), cả làng bao nhiêu hiệu làm tóc.Thật ra, ở nông thôn, có nhiều việc lắm nhưng không ai giúp nông dân làm, không ai hướng dẫn cho họ cả. Chúng tôi đang tìm cách xây dựng một cơ chế để giúp nông dân đa dạng hóa sinh kế.Du lịch nông thôn chẳng hạn. Việt Nam cũng đã có du lịch nông thôn, nhưng triển khai chưa tốt, trong khi nếu làm tốt, thu nhập của mỗi nông dân có thể tăng gấp đôi. Ví dụ ở Sapa có nhiều các điểm du lịch bán vé, nhưng tiền bán vé chính quyền và doanh nghiệp đầu tư hưởng hết, dân địa phương chẳng được gì. Dân bị coi như kẻ ăn bám vào du lịch ở địa phương, ngày ngày sống nhờ bán đồ lặt vặt cho khách.Họ không được tham gia vào hoạt động du lịch nông thôn ở địa phương, trong khi nếu hoạt động này phát triển và thu hút họ thì sẽ bảo vệ được cả văn hóa lẫn sinh thái, môi trường địa phương.Tôi còn được biết, ở Huế, nhiều nhà vườn đóng cửa với khách du lịch, bởi vì họ chẳng thu được gì, tour du lịch lấy hết rồi.Ở Hội An, tôi hỏi dân sao không tổ chức kinh doanh du lịch bằng cách cho khách thuê nhà dân ở, kiểu “home-stay”, họ bảo không được phép. Chính quyền yêu cầu nếu dân làm “home-stay” thì phải đảm bảo trang thiết bị vệ sinh, máy điều hòa. Như thế, tiền đâu mà nông dân làm? Ở Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), có nhiều vùng cây ăn trái, tour du lịch đưa khách đi thăm, nhưng khách chỉ ngắm thôi chứ có mua về được đâu, làm sao bảo quản được mà mang về. Thế nên dân đem trái cây ra chợ bán còn thu được tiền hơn.

Ở Pháp, doanh nghiệp mua súp lơ của nông dân với giá 1 Franc (đồng nội tệ của Pháp trước khi chuyển sang sử dụng Euro), rồi đến khi vào siêu thị, giá súp lơ đã tăng lên 12 Franc. Như thế là bóc lột nông dân lắm.”Có nhiều việc để làm lắm nhưng không ai hướng dẫn nông dân làm cả”. GS.VS. Đào Thế Tuấn cho rằng phát triển xã hội dân sự chính là cơ chế để hướng dẫn người nông dân đa dạng hóa sinh kế.Nông dân Pháp bèn lập chợ nông thôn ngay giữa thủ đô Paris để bán hàng trực tiếp tới tay người tiêu dùng, tránh được hệ thống thu mua ở giữa.Tôi thấy các nước tiên tiến bây giờ người ta tẩy chay hệ thống doanh nghiệp buôn bán. HTX chiếm 50% công việc, tư thương chiếm 50% lĩnh vực phân phối nông sản là tốt nhất.Theo tôi, doanh nghiệp chỉ nên thực hiện khâu chế biến cao cấp, còn thu gom, buôn bán, nông dân tự làm được. Có như thế, doanh nghiệp mới mất thế độc quyền.Chứ như bây giờ ở ta, nông dân không có quyền mặc cả với tư thương. ĐBSCL chẳng hạn, nông dân trồng lúa chất lượng cao hơn trước nhưng giá bán ra thì vẫn như thế.

Vậy, tôi xin mượn lời một danh hài, “thế thì người nông dân phải làm gì”? Vấn đề quan trọng nhất của phát triển là phải có sự tham gia của cộng đồng, của người dân. Các tổ chức phi chính phủ đến Việt Nam đều nói rằng nông thôn Việt Nam không có cộng đồng.Tôi nghĩ không hoàn toàn như vậy. Ngày xưa, chúng ta đã có cộng đồng làng xã, thôn xóm đấy thôi, mà đại diện là những lý trưởng, xã trưởng. Bây giờ thì chỉ còn mấy ông bà cán bộ – ông bí thư, chủ tịch xã, chủ tịch hợp tác xã, bà tổ trưởng phụ nữ… Người dân chẳng được tham gia gì cả.Chúng ta cần phải hướng dẫn, phải tạo cơ chế để giúp nông dân tổ chức lại được với nhau, xây dựng các doanh nghiệp xã hội (social entrepreneur). Nhà nước không thu thuế đối với họ. Dĩ nhiên, họ cũng có một mức lãi nào đó, nhưng về bản chất, họ là một hệ thống các tổ chức chăm lo phát triển xã hội. Hệ thống đó là một phần của xã hội dân sự.Không thể chỉ dựa vào việc kêu gọi các doanh nghiệp tham gia hoạt động từ thiện, cần có một đường lối xã hội hóa công cuộc cải cách kinh tế xã hội, không lẫn lộn xã hội hóa với thị trường hóa và tư nhân hóa. Xã hội hóa là huy động sự tham gia của xã hội, của quần chúng. Tóm lại, điều quan trọng chúng ta cần làm ở nông thôn bây giờ là xây dựng xã hội dân sự.”

Bài toán “tam nông” thời kỳ đô thị hóa

GS-VS Đào Thế Tuấn trả lời phỏng vấn Báo Thể thao & Văn Hóa do Nguyễn Yến thực hiện trong bài viết ‘Anh hùng nông học giữa Hà thành’ ngày 2.8.2010

“Mô hình đô thị hóa hiện nay đang phổ biến ở châu Á không phải là phát triển các siêu đô thị (trên 8 triệu dân) mà là mô hình đô thị hóa phi tập trung bao gồm các thị trấn và thị tứ nhỏ có một vành đai nông nghiệp bao quanh. Hà Nội cần phát triển theo mô hình này”, GS-VS Đào Thế Tuấn khẳng định…Theo GS-VS Đào Thế Tuấn, việc điều chỉnh lại tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa là biện pháp hữu hiệu nhất để giải quyết các mâu thuẫn giữa thành thị và nông thôn trong vấn đề đất đai và lao động. Việc xây dựng các khu công nghiệp quá nhanh và đô thị hóa quá nhanh sẽ là một sự lãng phí lớn trong lúc chưa có một hướng công nghiệp hóa mới. Nhiều đô thị mới đang ở trong một tình trạng “giả tạo” chưa có tác dụng thúc đẩy sự phát triển toàn diện của cả nền kinh tế. Lấy đất xong, nhưng chưa chuyển đổi được cơ cấu lao động vì chưa chuyển đổi được cơ cấu kinh tế. Nông nghiệp vẫn sẽ là cứu cánh giúp các nước ra khỏi cuộc suy thoái kinh tế, nhu cầu lương thực ngày sẽ càng tăng nhanh dù có khủng hoảng kinh tế hay không. Theo dự báo, dân số thế giới hiện nay là 6,8 tỷ người, vào năm 2050 sẽ là 9,1 tỷ người và nhu cầu thực phẩm sẽ tăng gấp đôi hiện nay. Công nghiệp hóa dựa vào nông nghiệp sẽ là mô hình có ưu thế cạnh tranh ở Việt Nam, tạo được sự phát triển bền vững. Du lịch nông thôn cũng là một biện pháp trong phát triển đô thị, nó có thể tăng gấp đôi thu nhập của nông dân, tạo việc làm và thúc đẩy nâng cao chất lượng của nông nghiệp.

Thầy Tuấn trong mắt người đương thời

Giáo sư Mai Văn Quyền người gần gũi giáo sư Đào Thế Tuấn, nhớ lại:

“Tôi tựu trường Học Viện Nông Lâm làm lớp trưởng và bí thư chi bộ lớp Cây trồng 5 gồm 93 người. Tôi được kết nạp Đảng trước đó tại trường ngọai ngữ. Ở ký túc xá và vẫn được hưởng chế độ học sinh Miền Nam. Học Viện Nông Lâm thời đó thầy Đào Thế Tuấn đã là đảng ủy viên. Kinh tế thời ấy thật khó khăn, tiêu chuẩn ăn sáng được phát bằng khoai môn, khoai từ, nhưng phải xếp hàng sớm, nếu không thì không có. Mỗi lớp hàng ngày cử trực nhật đi mua, có bạn do trách nhiệm rất cao, nên đêm không ngũ được, thức dậy sớm đem gạch xếp hàng. Thế mà có lúc vẫn không có. Bị trượt các món ăn như vậy thì phải bỏ tiền ra mua xôi ở cổng trường. Mỗi hào một suất. Sống như vậy mà vẫn rất vui tươi. Hết lên lớp về phòng lại học nhóm, kèm cặp những bạn học yếu, phấn đấu hết học kỳ này qua học kỳ khác.

Khi làm luận văn tốt nghiệp, tôi được thầy Đào Thế Tuấn hướng dẫn, thầy Nguyễn Văn Uyển giúp sức. Sau này thầy Trịnh Xuân Vũ chấm luận văn của tôi. Tôi bảo vệ được đánh giá xuất sắc và đậu bằng xuất sắc, nhưng không có bìa đỏ, và cũng chẳng có được hưởng vật chất gì, chỉ được nêu gương toàn trường, nhiều người biết. Khi phân công công tác, tôi được thầy Tuấn xin về làm đệ tử.

Năm 1972, tôi nằm trong danh sách bốn người chuẩn bị đi học NCS ( Luật, Nghĩa, Quyền và Hạnh ở Nghi Kim?). Thế rồi chỉ có hai người được đi học trước (Luật và Nghĩa). Năm 1972, giải phóng Quảng Trị, trên Bộ có ý kiến điều tôi vào tiếp quản Quảng Trị, nghe có lý vì tôi là người Quảng Trị nhưng nhóm khác đa số đề nghị để đào tạo tôi về khoa học thế là đến đầu năm 1973 tôi được đi thi tuyển nghiên cứu sinh. Tôi được nằm trong danh sách đi Liên Xô nhưng khi đàm phán lại thì không có thầy vì họ chỉ nhận những người đã học Nga về. Cuối cùng rồi tôi được mặt trận giải phóng đàm phán cho sang học Bungari.”

DaoTheTuanchandungnguoiThay2GS VS Đào Thế Tuấn, GS Nguyễn Văn Uyển, PGS Trịnh Xuân Vũ … thuộc thế hệ đầu tiên của Nông nghiệp Việt Nam nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Sau thế hệ GS Bùi Huy Đáp, GS. Lương Định Của, GS Đào Thế Tuấn, GS Vũ Tuyên Hoàng  đến thế hệ GS Nguyễn Văn Luật, GS Mai Văn Quyền, GS. Nguyễn Hữu Nghĩa, GSVS Trần Đình Long, GS. Phan Phải, GS Lương Hữu Tề, GS Trần Duy Quý, GS Lê Huy Hàm … đều là các chuyên gia đầu ngành nông nghiệp gắn bó suốt đời với cây lúa. Hình ảnh GS.VS. Đào Thế Tuấn tại buổi tọa đàm bàn tròn về lúa khảo cổ Thành Dền ở Viện Di truyền sau những ngày nắng đổ lửa tháng 5 năm 2010 có lẽ là những bức hình khoa học sau cùng minh chứng cho những cố gắng không mệt mỏi của một nhà khoa học tận tâm vì dân vì nước. Những nghiên cứu về lúa tìm thấy trong các địa điểm khảo cổ học Xóm Trại, Đồng Đậu của GS.VS. Đào Thế Tuấn hợp tác liên ngành với GS. Trần Quốc Vượng, GS. Hà Văn Tấn… đã thực sự là một bài học lớn khi soi vào cuộc đời khoa học của Thầy.

PGS TS Nguyễn Văn Bộ là người tiếp nối GSVS Đào Thế Tuấn làm Viện Trưởng Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam trong bài viết ” GSVS Đào Thế Tuấn: Nhà tri thức lớn của nông nghiệp nông thôn” đã đúc kết và tôn vinh người Thầy trong lễ tiễn đưa Thầy, cũng là bài đăng trên báo CAND ngày 23 tháng 1 năm 2011:

“Gia đình GSVS Đào Thế Tuấn là chỗ thân tín của nhà chí sỹ Phan Bội Châu. Chẳng vậy mà khi GS. Đào Thế Tuấn ra đời, cụ Phan đã tiên đoán tương lai của ông không chỉ sẽ theo được mà còn làm rạng rỡ thêm truyền thống gia đình qua bài thơ:

Hai mươi lăm triệu giống dòng ta,
Hôm trước nghe thêm một tiếng oa,
Mừng chị em mình vừa đáng mẹ,
Mong thằng bé nọ khéo in cha.
Gió đưa nam tới sen đầy hột,
Trời khiến thu về quế nở hoa.
Sinh tụ mười năm mong thế mãi,
Ấy nhà là nước, nước là nhà.         

Tháng 8/1953, GS. Đào Thế Tuấn là một trong 49 người đầu tiên được chọn đi Liên Xô và học tại Trường Đại học Nông nghiệp Tashkent. Năm 1955, khi mới là sinh viên năm thứ ba, ông đã tham gia nghiên cứu khoa học và công trình nghiên cứu đầu tiên của ông là về cây trồng nhiệt đới ở Việt Nam. May mắn cho ông, thời gian đó ông được Giáo sư Belov, một người say mê thu thập tài nguyên di truyền và nghiên cứu nguồn gốc cây trồng hướng dẫn nên ông đã có điều kiện nghiên cứu và xuất bản bằng tiếng Nga cuốn sách đầu tiên về sinh thái và nguồn gốc cây lúa. Cuối năm thứ tư, ông về thực tập ở Trạm Nghiên cứu lúa Krasnodar (sau này là Viện Nghiên cứu lúa toàn liên bang), nghiên cứu về các giai đoạn phát triển của cây lúa dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Eryghin, một nhà sinh lý nổi tiếng của Liên Xô.

Luận văn tốt nghiệp của ông được hội đồng đánh giá cao, cho kéo dài 6 tháng để viết thành luận án Phó tiến sỹ (Tiến sỹ hiện nay) và ông đã bảo vệ thành công luận án vào năm 1958. Như vậy, chỉ trong 5 năm, ông vừa hoàn thành chương trình kỹ sư nông học, vừa bảo vệ thành công luận án tiến sỹ nông học. Ông là tiến sỹ đầu tiên của Việt Nam được Liên Xô đào tạo.

Cuối năm 1958, ông về nước và làm việc tại Học viện Nông lâm với tư cách là giảng viên môn sinh lý thực vật, đồng thời kiêm Trưởng phòng khoa học của Học viện. Trong thời gian này, với sự hướng dẫn của GS. Bùi Huy Đáp, ông đã khởi xướng một hướng nghiên cứu mới về sinh lý học của năng suất để xây dựng cơ sở khoa học cho thâm canh cây lúa. Các nghiên cứu về hiện tượng lốp đổ khi cấy dày và bón nhiều phân đạm cho thấy các giống lúa cổ truyền của Việt Nam không thể cho phép đạt năng suất cao vì cao cây, dễ đổ. Đây là các gợi ý cho công tác tạo giống thâm canh sau này.

Ngoài các nghiên cứu về đạm, GS. Đào Thế Tuấn cùng các đồng nghiệp cũng đã đề xuất phương pháp biến lân thành đạm qua việc bón lân cho bèo hoa dâu và điền thanh. Kết quả này đã được trình bày ở Hội nghị khoa học Bắc Kinh năm 1963 và xuất bản trong cuốn Phân supe lân và cách sử dụng (NXB. Nông thôn, 1962) và sách Các biện pháp nâng cao hiệu suất phân hoá học (NXB Nông thôn, Hà Nội, 1965). Cũng trong thời kỳ này, ông được cử làm Trưởng bộ môn sinh lý thực vật của Học viện Nông lâm kiêm Trưởng phòng khoa học.

Năm 1963, Học viện Nông Lâm tách ra thành Viện Khoa học nông nghiệp và Trường Đại học Nông nghiệp, ông được phân công làm Trưởng ban trồng trọt kiêm Trưởng phòng sinh lý cây trồng của Viện. Ban này là tiền thân của các Viện Cây lương thực, cây công nghiệp, Viện Thổ nhưỡng nông hóa và Viện Bảo vệ thực vật sau này.

Bấy giờ bệnh vàng lụi (sau được xác định là bệnh Tungro) đang lan rộng ở miền Bắc, GS. Đào Thế Tuấn đã tổ chức nhóm nghiên cứu gồm các nhà khoa học thuộc nhiều bộ môn để xác định nguyên nhân gây bệnh và phát hiện ra rằng vàng lụi không phải là một bệnh sinh lý mà là bệnh virus do rầy xanh đuôi đen là vectơ truyền bệnh. Tại thời điểm đó, ông và cộng sự đã chú ý tìm các giống kháng bệnh, đề xuất biện pháp canh tác phù hợp như bón kali, làm cỏ sục bùn để hạn chế bệnh. Kết quả nghiên cứu đã phát hiện các giống tẻ trắng Tây Bắc, 813, I1, A10 có khả năng kháng bệnh vàng lụi.

Sau này, thông qua các chuyên gia Indonesia, ông đã đưa được về hai giống có khả năng kháng bệnh cao là I1 và A10. Từ khi có hợp tác với IRRI, Philippines, ông cũng có công đưa giống lúa IR64 về phổ biến ở vùng Điện Biên để đến hôm nay, giống lúa này đã trở thành giống phổ biến và đặc sản với tên gọi mới là “Tám Điện Biên”.

Phong trào 5 tấn/ha và việc phát triển vụ lúa xuân đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu cơ sở khoa học cho thâm canh. Do vậy, từ 1965 nhóm của GS. Đào Thế Tuấn bắt đầu nghiên cứu sinh lý của ruộng lúa năng suất cao với việc phân tích quá trình quang hợp, dinh dưỡng khoáng. Việc chuyển từ nghiên cứu cá thể sang nghiên cứu quần thể ruộng lúa là một bước phát triển mới của phương pháp tiếp cận hệ thống. Khi nghiên cứu ruộng lúa năng suất cao, cho thấy các giống lúa năng suất cao phải thấp cây, có lá gần thẳng đứng, cho phép thu được nhiều bông, bông dài, tỉ lệ lép thấp.

Trên cơ sở các luận cứ khoa học nêu trên, ông đã chỉ đạo xây dựng nhiều mô hình thâm canh tại Tân Hưng Hòa, Kiến Xương – Thái Bình, Đồng Tiến, Khoái Châu – Hưng Yên. Công trình nghiên cứu này đã đặt cơ sở cho việc thâm canh lúa đạt 10 tấn/ha vào những năm 70 của thế kỷ trước và được tổng kết trong cuốn Sinh lý của ruộng lúa năng suất cao.

Xác định giống là khâu đột phá, quyết định đến việc tăng năng suất lúa, từ năm 1970, GS. Đào Thế Tuấn đã tổ chức nghiên cứu cơ sở sinh lý của việc chọn giống năng suất cao, trong đó chọn giống lúa theo nguồn và sức chứa có vai trò quyết định. Theo hướng này, ngoài nghiên cứu chọn tạo giống cho vùng thâm canh, ông bắt đầu nghiên cứu cơ sở sinh lý của việc chọn giống chống chịu các điều kiện bất thuận như mặn, rét, hạn, ngập úng và kháng bệnh. Kết quả là nhóm nghiên cứu của ông đã chọn lọc và lai tạo được nhiều giống lúa mới như: giống lúa NN75-10 (X1) chịu bệnh bạc lá (cùng PGS. Tạ Minh Sơn); giống lúa cực ngắn CN2, cho phép làm vụ mùa sớm, mở rộng vụ đông; giống lúa CR203 chịu rầy nâu đầu tiên của nước ta (cùng PGS. Nguyễn Công Thuật chọn từ tập hợp dòng của IRRI). Ngoài ra còn có các giống lúa chịu phèn V14 và V15…

Ngoài lúa, nhóm của GS còn tạo được giống ngô số 6, giống S1 ngắn ngày và giống ngô nếp S2; các giống đậu tương AK02 và AK03 (cùng với GS. Trần Văn Lài). Cùng với giống, một số biện pháp thâm canh khác như chống rét cho mạ xuân, bón đón đòng cho lúa, bón đạm sâu để tránh mất đạm, trồng ngô bầu, trồng đậu tương đông không làm đất… cũng được nghiên cứu và đề xuất.

Năm 1967, GS. Đào Thế Tuấn được Bộ Nông nghiệp cử vào Nghệ An giúp tỉnh chỉ đạo sản xuất nông nghiệp. Tại đây, các ý tưởng về nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng tăng giá trị sản xuất đã được manh nha và tổ chức nghiên cứu. Vấn đề này được ông tổng kết trong cuốn Bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý ở hợp tác xã (NXB. Nông thôn, 1969) và sau này là cuốn Cơ sở khoa học của việc xác định cơ cấu cây trồng hợp lý (NXB. Nông thôn, 1977). 

Từ năm 1978, bộ môn Sinh thái và Canh tác do GS. Đào Thế Tuấn thành lập đã tổ chức nghiên cứu hoạt động của hệ sinh thái nông nghiệp, triển khai việc nghiên cứu hệ thống canh tác của các vùng sinh thái khác nhau, nhất là các vùng sinh thái khó khăn như vùng chiêm trũng, vùng phèn mặn, vùng lúa nước trời thường gặp hạn. Tuy nhiên, khi nghiên cứu hệ thống nông nghiệp mà chỉ đề cập đến các thành phần tự nhiên và kỹ thuật thì không đầy đủ vì trong thực tế, các yếu tố về kinh tế – xã hội có ý nghĩa quyết định sự phát triển của hệ thống. Vì vậy, năm 1988, ông đã lập bộ môn Hệ thống nông nghiệp để kết hợp việc nghiên cứu kỹ thuật và kinh tế – xã hội, nghiên cứu về các thể chế nông thôn, nhất là thể chế kinh tế hộ nông dân. (Hiện nay bộ môn đã nâng cấp thành Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển hệ thống nông nghiệp).

Ông cũng là người khởi xướng và chủ trì hợp tác với Viện Khoa học nông nghiệp Pháp trong chương trình Hệ thống nông nghiệp lưu vực sông Hồng. Các kết quả nghiên cứu về lĩnh vực này đã được tổng kết trong cuốn Hệ sinh thái nông nghiệp (NXB. Khoa học Kỹ thuật, 1983) là sách giáo khoa đầu tiên về sinh thái học nông nghiệp.

Từ đầu năm 1980, GS. Đào Thế Tuấn đã quan tâm đến tiếp cận hệ thống trong khoa học nông nghiệp. Từ việc nghiên cứu hệ thống ruộng lúa tiến đến nghiên cứu hệ thống cây trồng rồi hệ thống nông nghiệp. Để phát triển hướng nghiên cứu này, ông đã thành lập nhóm nghiên cứu sau này trở thành bộ môn Toán máy tính, đặt ở Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, chuyên nghiên cứu về các mô hình phát triển nông nghiệp trong mối quan hệ với các mô hình kinh tế chung của cả nước.

Trên cơ sở các nghiên cứu về nông nghiệp của nước ngoài, GS. Đào Thế Tuấn đặc biệt quan tâm đến việc áp dụng các đòn bẩy kinh tế trong việc tổ chức nghiên cứu khoa học và đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất cũng như cải cách kinh tế của các nước, mô hình tổ chức sản xuất trong nông nghiệp. Năm 1987, ông viết tài liệu Cải cách kinh tế ở Trung Quốc được UBKHKTNN xuất bản và có đóng góp tích cực trong việc ra đời Nghị quyết 10 năm 1988.

Sau này, khi đã nghỉ điều hành rồi nghỉ hưu, GS. Đào Thế Tuấn vẫn miệt mài nghiên cứu các vấn đề kinh tế hộ, chuỗi giá trị, thể chế trong phát triển nông thôn… Với mong muốn tìm hướng cho nông thôn phát triển, ông đã đề xuất và lãnh đạo Hội Khoa học Phát triển nông thôn. Các kết quả nghiên cứu sau này của ông được xuất bản trong cuốn sách Kinh tế hộ nông dân (NXB. CTQG, 1997).

Ngoài tư cách là một nhà khoa học hàng đầu, GS. Đào Thế Tuấn cũng được tin tưởng giao nhiều trọng trách: Phó viện trưởng (1976) rồi Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam (1983). Năm 1990, ông đảm đương vai trò Phó chủ nhiệm Chương trình nghiên cứu về phát triển nông thôn KX-08.

GS. Đào Thế Tuấn còn là một đảng viên trung kiên với trên 60 năm tuổi Đảng. Ông được Nhà nước phong học hàm Giáo sư và năm 1985, được bầu làm thành viên nước ngoài của Viện hàn lâm Khoa học nông nghiệp Liên Xô, sau này là Viện hàn lâm Khoa học nông nghiệp Liên bang Nga…”

GS Nguyễn Tư Siêm ngày 20/11/2017, trong bài viết ” GS VS Đào Thế Tuấn nhà nông học uyên bác, người thầy mẫu mực” đã kể lại những mẫu chuyện đời thường về thầy.

1. Những buổi lên lớp ấn tượng

Lứa sinh viên khóa 5 Học viện Nông lâm Hà Nội chúng tôi (1960-63) vừa học xong các môn đại cương chuyển sang các phần chuyên sâu nông nghiệp thì được học các thầy tốt nghiệp từ nước ngoài trở về. Các môn khoa học cơ bản tuy khó, nhưng dù sao cũng là sự tiếp nối và nâng cao các kiến thức từ bậc phổ thông nên có phần quen thuộc. Bước sang các học phần hướng nghiệp là một bước ngoặt, bắt đầu những chờ đợi, băn khoăn, bởi trước đó chưa có khóa nào tốt nghiệp ra hành nghề để tìm hiểu nghề nông là thế nào và một kỹ sư canh nông hành nghề ra sao. Mỗi thầy lên lớp là tâm trạng mong ngóng, quan sát.

Hầu hết các thầy từ Liên Xô và Trung Quốc về, trong số đó thầy Đào Thế Tuấn để lại một ấn tượng đặc biệt. Từ một anh bộ đội chưa biết tiếng Nga, đã đỗ kỹ sư xuất sắc và lấy bằng Phó bác sĩ nông học (nay gọi là tiến sĩ nông nghiệp) chỉ trong 5 năm, trong khi bình thường phải mất 9 -10 năm. Thầy là người Việt Nam đầu tiên nhận bằng này ở Liên Xô vào năm 1958 và cũng là giảng viên có học vị cao nhất của Học viện Nông lâm Hà Nội lúc bấy giờ.

Môn “Sinh lý thực vật” mới mẻ đã đành, cái cách lên lớp của thầy vừa chuẩn mực hàn lâm, vừa sinh động tạo nên một không khí hấp dẫn khó cưỡng; giảng đường im lặng, sinh viên chăm chú có thể nói không ai muốn bỏ qua một ý, nghe sót một lời. Nếu muốn nói “dạy ra dạy, học ra học” thì có lẽ đây là một ví dụ.

Đã 55 năm qua, chắc các bạn lớp tôi hẳn còn nhớ một tiết học đặc biệt có đoàn nước ngoài dự. Đó là đoàn đến từ Mali, do BT Mareida Keita dẫn đầu. Sau mấy lời giới thiệu bằng tiếng Pháp, thầy bắt đầu giảng bằng tiếng Việt. Giáo trình có trên bục, nhưng gần như không ngó tới, và bài giảng cứ như đã được lập trình trong bộ nhớ để kể một câu chuyện về sinh lý cây lúa gắn với nghề trồng lúa. Giấy viết hiếm lắm, chúng tôi nhớ là chính, chỉ ghi vắn tắt vào các vòng tròn, hình vuông, mũi tên, và các thuật ngữ mới mẻ vào quyển vở.

Có đại biểu xem giáo trình, có người xem vở ghi của sinh viên. Rất tinh ý, đôi lần thầy đỡ lời cho người phiên dịch khi gặp những từ khó. Tiết học kết thúc, Đoàn còn nán lại trao đổi và điều tâm đắc nhất là bậc Đại học Việt Nam đã giảng giải những kiến thức rất hàn lâm bằng tiếng Việt, trong khi nước bạn vẫn chưa thể dùng tiếng bản địa. Đáp lại câu hỏi cái gì cần và khó, thầy nói đại ý phải chuẩn bị khái niệm, thuật ngữ bằng tiếng mẹ đẻ từ sớm trước khi vào bậc đại học. Tôi chắc thầy nghĩ tới những tác phẩm của các bậc tiền bối như “Từ điển Hán-Việt”, “Từ điển Pháp-Việt” của cụ thân sinh Đào Duy Anh, “Danh từ khoa học” của Hoàng Xuân Hãn, các giáo trình Trung cấp Canh nông, các lớp dự bị Đại học trong kháng chiến chống Pháp, nhờ đó giảng dạy bằng tiếng mẹ đẻ ở bậc đại học mới thuận lợi hơn so với các nước bị thuộc địa khác.

2. Giáo dục gia đình – chuẩn bị cho một tài năng.

GS VS Đào Thế Tuấn là con cả của vợ chồng nhà trí thức cách mạng: cụ Đào Duy Anh và Trần Như Mân, những học giả và những nhà hoạt động xã hội, vận động cách tân nổi tiếng.

Thầy kể thầy sinh ngày 4/7/1931 ở Huế. Biết tin vui, cụ Phan Bội Châu có thơ gửi mừng gia đình (xem bản trích dẫn ở phần trên). Cả cuộc đời 80 năm của thầy cho đến khi từ trần (19/1/2011) đã minh chứng lời tiên đoán và đáp ứng mong đợi của nhà yêu nước, cách mạng Phan Bội Châu.

Lên 5 tuổi thầy bắt đầu đi học mẫu giáo rồi sau đấy vào học lớp đồng ấu ở trường Jeanne d’Arc là một trường nhà dòng do các bà xơ dạy, học toàn bằng tiếng Pháp. Năm 1942 lên lớp 6 trường Quốc học Khải Định thì bắt đầu học thêm tiếng Anh và tiếng Latin. Còn trong gia đình thầy được cụ thân sinh dạy chữ Hán và bà mẹ dạy tiếng Việt. Như vậy chỉ trong mười năm đầu đời đã được làm quen và sử dụng tới 5 ngoại ngữ, học một cách tự nhiên và dùng một cách hào hứng.

Thầy kể: “Tam quốc chí, Thuỷ hử, Đông chu liệt quốc và các tiểu thuyết Trung Quốc, kể cả truyện kiếm hiệp tôi đều đọc hết. Ngoài ra tôi con đọc rất nhiều tiểu thuyết Pháp do đấy vốn văn học của tôi không đến nỗi nào”.

Tuổi niên thiếu thầy đã được hướng vào các hoạt động xã hội: 6 tuổi tham gia vào tổ chức Hướng đạo sinh; đi du lịch, điền dã, thăm các danh lam thắng cảnh vùng Huế và các tỉnh miền Trung; được nghe các cuộc thảo luận về lịch sử, văn hoá giữa các nhà nghiên cứu, bắt đầu học thói quen nghiên cứu. Khi chỉ hơn 15 tuổi thầy tình nguyện tham gia Đội Tuyên truyền Xung phong Trung Bộ là đội viên ít tuổi nhất trong đội. Tiếp theo là thời học trung học trong Kháng chiến chống Pháp. Tránh giặc càn, toàn đi bộ tìm trường để học, rong ruổi từ trường Huỳnh Thúc Kháng (Hà Tĩnh), sang trường Nguyễn Xuân Ôn (Nghệ An), rồi
trường Nguyễn Thượng Hiền (Thanh Hóa) rồi Cấp 3 Liên khu 3 (Ninh Bình).

Nhớ về giáo dục gia đình và những trải nghiệm thuở thiếu thời, thầy viết: “Tất cả sự giáo dục này được tính toán một cách toàn diện nhằm đào tạo một người làm việc nghiên cứu sau này. Chính sự chuẩn bị ấy về sau đã giúp tôi trong việc học tập và làm việc”.

3. ‘Xếp bút nghiên theo việc binh đao’

Năm 1950, ở tuổi 19, anh thanh niên Đào Thế Tuấn tòng quân và lên đường hành quân hướng về chiến khu Việt Bắc. TX Ninh Bình, Hòa Bình bị Pháp chiếm, phải đi vòng, xuyên rừng Hồi Xuân, La Hán, Suối Rút, vượt núi sang Phú Thọ lên An toàn khu (ATK) Tuyên Quang, Thái Nguyên. Trong năm ấy, thầy tham gia các chiến dịch Trần Hưng Đạo ở Trung Du và chiến dịch Hoàng Hoa Thám ở Đông Bắc, ở bộ phận tham mưu tiền phương. Hành quân liên miên, nhưng thầy vẫn tự đặt ra cho mình và thục hiện một chương trình tự học khoa học quân sự.

Sang năm sau, thầy được cử đi học lớp Trung cấp quân sự ở trường Lục quân Việt Nam, bấy giờ đặt ở Vân Nam, Trung Quốc. Đây là lớp đào tạo cán bộ chỉ huy đại đội, tiểu đoàn và trung đoàn do chuyên gia Trung Quốc dạy. Năm 1952 thì tốt nghiệp về nước được điều về Tổng cục Hậu cần tham gia chiến dịch Tây Bắc đánh Nghĩa Lộ và giải phóng Sơn La.

4. “Đại học = Tự học”

‘Phương trình’ này đã được học giả Đào Duy Anh viết lên bảng trong buổi học Sử đầu tiên ở trường Dự bị đại học tại Thanh Hoá trong thời kỳ Kháng chiến chống Pháp (theo lời kể của GS Trần Quốc Vượng – sinh viên lớp đó).

Sau chiến dịch Tây Bắc, tháng 8/1953 thầy được cử đi học Liên Xô. Đoàn 50 anh chị em đi bộ lên Lạng Sơn, vượt biên giới sang Trung Quốc để đi Liên Xô bằng xe lửa. Hành trình từ Việt Bắc mất cả tháng mới tới Maskva. Một nhóm gồm 10 người được cử về Uzbekistan để học nông nghiệp. Trường Đại học Nông nghiệp Tachkent sắp xếp 1 lớp riêng, dự tính 1 năm cho sinh viên Việt Nam học tiếng Nga và các môn khoa học cơ bản; nhưng chỉ sang học kỳ hai là nhóm VN của thầy đã vào cùng học chung với các sinh viên Liên Xô.

Lên năm thứ ba, thầy tham gia nhóm nghiên cứu của sinh viên ở khoa Nông học và trình bày một báo cáo khoa học về cây trồng ở Việt Nam. Cuối năm đó thầy xin về Trạm nghiên cứu lúa Uzbekistan để nghiên cứu về cây lúa. Thực ra thì giáo sư hướng dẫn không thạo về lúa nên để thầy tự đọc sách và tìm lấy đề tài. Thu thập các kiến thức đã có hồi bấy giờ thầy viết một tài liệu về sinh thái và nguồn gốc cây lúa; được Giáo sư Belov biên tập lại và được Viện hàn lâm Nông nghiệp xuất bản bằng tiếng Nga, sách có tên “Nguồn gốc và sinh thái cây lúa’, Tashkent, 1957.

Cuối năm thứ tư thầy về thực tập ở Trạm Nghiên cứu lúa Krasnodar, dưới sự hướng dẫn của giáo sư Eryghin, một nhà sinh lý thực vật nổi tiếng ở Liên xô. Sinh viên Đào Thế Tuấn nghiên cứu về sự phát triển giai đoạn của cây lúa trong hai vụ để làm luận văn tốt nghiệp. Luận văn được đánh giá xuất sắc và tác giả được cho tiếp tục thêm 6 tháng nghiên cứu để trình bày luận văn tiến sĩ. Sau một vụ thí nghiệm nữa đông thời thi các môn tối thiểu thầy đã bảo về luận văn tiến sỹ vào năm 1958. Như vậy là trong 5 năm vừa hoàn thành chương trình kỹ sư nông học và tiến sỹ nông học, tiết kiệm được 3 năm, thầy là tiến sỹ đầu tiên của Việt Nam được Liên xô đào tạo.

5. Người khai mở các cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Ra trường, tôi được phân công về công tác tại Bộ Nông trường nên không có cơ may làm việc gần gũi với thầy Đào Thế Tuấn, song luôn tìm đọc các bài báo khoa học và những cuốn sách của thầy vừa cơ bản về lý luận vừa thiết thực trong ứng dụng vào sản xuất. Cuốn tôi thường đọc nhiều hơn cả là “Phương pháp thí nghiệm trồng trọt” của thầy. Các sơ đồ thiết kế thí nghiệm tương đối đơn giản: như so sánh cặp đôi ô cơ bản, tuần tự bậc thang, ít công thức, diện tích ô nhỏ, phù hợp với cây ngắn ngày, mật độ dầy, cho phép ô nhỏ cũng có thể lấy được đủ cá thể để quan trắc. Tôi nghĩ kiểu này thích hợp với nghiên cứu trên đất bằng, độ phì nhiêu đồng đều, số lần lặp lại ít khi bị hạn chế.

Trạm Thí nghiệm Cây nhiệt đới Tây Hiếu, nơi tôi làm việc, cần nghiên cứu nhiều về cây lâu năm trên đất đồi. Vào những năm 1960, thiết kế thí nghiệm chính qui, dài hạn với cà phê, cao su và các cây ăn quả là một thử thách lớn. Đất đồi dốc, độ phì nhiên biến thiên rất mạnh theo không gian. Các cây trồng khoảng cách rộng, lấy đủ số cây để quan trắc thì diện tích thí nghiệm sẽ tăng lớn và sự biến động độ phì nhiêu đất tăng theo, sai số ngẫu nhiên tăng vọt; có nguy cơ không thể kết luận chênh lệch giữa các công thức so sánh là do cái gì quyết định: yếu tố nghiên cứu hay sai số ngẫu nhiên.

Vì tài liệu trong nước chưa có, các bậc đàn anh ra sức tìm kiếm. Kỹ sư Đoàn Triệu Nhạn tham khảo giáo trình “Sinh trắc học” của Hoa Nam Nông học viện. Kỹ sư Ngô Văn Hoàng qua một vài seminar với chuyên gia CHDC Đức, tự mình soạn sách “Giản yếu thống kê sinh vật”. Lần đầu tiên giới thiệu các kiểu thiêt kế thí nghiệm so sánh nhiều nhân tố (factorial trial design), như ô vuông Latin (Latin square), ô phụ (split-plot), song trùng (confounding), v.v. Hướng đi đã có là thí nghiệm tương tác nhiều yếu tố, nhưng áp dụng thật gian nan; nghiên cứu 3 yếu tố, chỉ cần nhắc lại tối thiểu 3 lần thì số ô cơ sở đã lên tới 81. Thời nay, phương pháp nghiên cứu nông học phát triển, các thuật toán ứng dụng được lập trình, máy tính phổ biến, chứ hơn nửa thế kỷ trước tính sai số cho 1 thí nghiệm như vậy bằng máy tính cơ quay tay (Nisa hay Flying Fish) mất cả tuần. Nếu chỉ vào sai 1 con số là công sức tính toàn mấy ngày coi bằng bỏ.

Những năm bắt đầu nghiên cứu về canh tác học, hệ thống nông nghiệp một cách chính qui, sự đóng góp về các nguyên lý và phương pháp của các bậc đàn anh như GS VS Đào Thế Tuấn, PGS Ngô Văn Hoàng, ThS Đoàn Triệu Nhạn, … có ý nghĩa khai phá. Chỉ dẫn của các thầy giúp cho thế hệ trẻ thực hiện một cách bài bản đưa lại hiệu quả và nhanh chóng. Tham gia vào quá trình đó, cánh trẻ chúng tôi học hỏi được rất nhiều, lấp những lỗ hổng kiến thức mà nhà trường không dạy.

Tuy nhiên, bối cảnh và đối tượng khác nhau dẫn đến giải pháp khác nhau cũng là thường và được trao đổi rất minh bạch. Tôi vẫn còn nhớ một lần trao đổi như vậy. Trong bài: “Bàn về phương pháp thí nghiệm đồng ruộng” trên tạp chí “Tin tức Hoạt động Khoa học”, thầy Ngô Văn Hoàng viết hài hước rằng với đất đồi biến thiên, trong khi thuật toán có thể giải quyết được thì các phương pháp mà Phó bác sĩ Đào Thế Tuấn đưa ra giống như “một tiểu thơ chân bó, ngập ngừng và khập khiễng trước đồng ruộng muôn mầu muôn vẻ của sản xuất đại trà”. Trong bài: “Lại bàn về phương pháp thí nghiệm đồng ruộng”, thầy Đào Thế Tuấn trả lời cái cần là thiết kế đơn giản sao cho đỡ tốn công tốn của mà vẫn rút ra được kết luận xác đáng chứ đâu cứ phải ứng dụng toán học. Ngoài đời, các thầy là những đồng nghiệp thân thiết, nhưng trong hoạt động khoa học, cần tranh luận là vừa sòng phẳng vừa hài hước, thật thú vị.

6. Xây dựng nền móng cho các nghiên cứu hệ thống nông nghiệp

Bẵng đi một thời gian cho đến khi về lại Bộ Nông nghiệp tôi mới có dịp gặp lại thầy Đào Thế Tuấn trong chương trình hợp tác khoa học kỹ thuật với Viện Khoa học Nông nghiệp Pháp trong “Chương trình Nghiên cứu Hệ thống Nông nghiệp lưu vực sông Hồng”. Chương trình gồm 2 phần: vùng đồng bằng và vùng đồi. GS Đào Thế Tuấn chủ trì nghiên cứu vùng đồng bằng; còn Viện Thổ nhưỡng Nông hóa chúng tôi chịu trách nhiệm vùng đồi. Phía Pháp, có chương trình đối tác là “Nghiên cứu hệ thống nông nghiệp vùng Casamance” của Viện Nghiên cứu Nông học Pháp (INRA Montpellier) do GS Conessa chủ trì.

Nghiên cứu so sánh, tương tác là sở trường rất mạnh của trường phái Pháp, đây là dịp tốt cho cả 2 phía. Song tiếc rằng về phía ta, những năm 1980 ấy còn quá nhiều trở ngại về thủ tục hành chính, có lúc tưởng như phải dừng lại. Bên cạnh uy tín về học thuật, sự kiên trì và bền bỉ của GS Đào Thế Tuấn đã góp phần rất lớn trong việc duy trì mối quan hệ hợp tác song phương và nhờ vậy, các nghiên cứu so sánh về hệ thống nông nghiệp được tiếp tục không những ở phạm vi sinh thái tự nhiên, mà còn mở rộng sang các lĩnh vực cư dân nông thôn, cơ chế, chính sách, … Kết quả nghiên cứu tổng kết trong cuốn “Hệ sinh thái nông nghiệp, NXB khoa học kỹ thuật, 1983 ” là sách giáo khoa đầu tiên về Sinh thái học Nông nghiệp. Hàng loạt cán bộ trẻ được đào tạo bài bản để kế thừa các nghiên cứu phát triển nông thôn vốn là khâu yếu trong hệ thống nghiên cứu và khuyến nông của ta trong nhiều năm.

7. Người dẫn đầu trong nghiên cứu phát triển nông thôn

Nông học nước ta mang ít nhất 2 trọng trách là nghiên cứu chuỗi sản xuất sinh học và xã hội nông thôn mới có cơ sở cho phát triển nông thôn, cải thiện đời sống cho cộng đồng cư dân to lớn này. Tiếc thay, trong một thời gian dài, ám ảnh bởi nạn đói, thiếu ăn và chiến tranh, chúng ta chỉ chăm chú vào phân khúc sản xuất, lấy diện tích số lượng lương thực làm đầu, xem nhẹ xã hội nông thôn. Đến lúc đủ lương thực, thậm chí thừa không biết bán đi đâu, mới lộ ra những điểm yếu ‘chết người’ trong các cơ chế, chính sách dẫn đến được mùa rớt giá, hiệu quả kém, nông dân bỏ ruộng, v.v.

Đọc các quyển của thầy như “Kinh tế hộ nông dân, NXBCTQG, 1997″. Cuốn sách này có tác dụng mở ra một hướng nghiên cứu mới phục vụ việc phát triển kinh tế hộ nông dân. Tôi tin rằng thầy là một trong những chuyên gia đi tiên phong trong nghiên cứu nông nghiệp gắn liền với phát triển nông thôn. Cách tiêp cận do thầy khai mở, đã lôi cuốn các khoa học xã hội vào cuộc, các nhà làm chính sách phải lắng nghe và bớt đi kiểu tư duy áp đặt, làm mất động lực phát triển …”

GS Trần Thế Thông, cựu Viên trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam đánh giá ngắn gọn mà sâu sắc về thầy Tuấn:  Đời tôi, trong những người cùng làm việc, anh Đào Thế Tuấn là người mỗi lần trao đổi phát biểu, tôi đều tìm thấy những ý mới, những đóng góp mới.

Đào Thế Tuấn chân dung người Thầy
đọc tiếp tại  https://hoangkimlong.wordpress.com/…/dao-the-tuan-chan-dun…/

— cùng với To Le Van5 người khác.

CHẤN HƯNG GIÁO DỤC BÀI TUYỂN CHỌN

CNM365. Chấn hưng giáo dục bài tuyển chọn: Một sự nghiệp lớn và cấp thiết (Nguyên Ngọc); Con người tự chủ để xây dựng một đất nước tự chủ (Nguyễn Thị Bình); Nhớ một thời giáo dục thanh khiết; Mở cửa nhìn thiên hạ làm giáo dục (Trần Đăng Khoa); Thay đổi tư duy giáo dục (Hoàng Tụy).

Một sự nghiệp lớn và cấp thiết
Nguyên Ngọc
bài phát biểu của nhà văn Nguyên Ngọc tại lễ ra mắt Quĩ Dịch thuật Phan Chu Trinh – thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam – ngày 9/1/2007 tại Hà Nội,. Bài đã đăng trên trang HỌCMỖI NGÀY https://hocmoingay.blogspot.com/2013/01/chan-hung-giao-duc-bai-tuyen-chon.html.

Tôi xin cảm ơn ban tổ chức đã dành cho tôi vinh dự được nói vài lời trong buổi gặp gỡ trang trọng này, buổi gặp gỡ, tôi tin vậy, mở đầu cho một công việc rồi về sau hẳn sẽ được ghi nhớ như một cái mốc quan trọng trong đời sống văn hóa của chúng ta.

Tôi muốn mở đầu bằng một câu chuyện và mấy con số. Đó là chuyện cuốn Bàn về tự do của John Stuart Mill, từ lâu đã được coi là kinh điển không chỉ ở châu Âu mà trên toàn thế giới. Cuốn sách này được xuất bản lần đầu ở Anh năm 1859. Không đầy 10 năm sau, năm 1868, nó đã được dịch ở Nhật Bản, số phát hành lên đến 2 triệu bản, trong khi dân số Nhật lúc bấy giờ chỉ 36 triệu người. Có thể nói chắc chắn điều này gắn liền sâu sắc với công cuộc duy tân nổi tiếng của Nhật cách đây mấy thế kỉ, cuộc lựa chọn vĩ đại đã đưa nước Nhật vào một con đường và đến một số phận khác hẳn các nước châu Á bấy giờ hầu như đều ở trong hoàn cảnh và đứng trước những thách thức sống còn tương tự. Nước Nhật ngày nay cũng đang đứng đầu thế giới về số người đọc và về số sách dịch. Tôi nghĩ sẽ không quá đáng khi nói rằng tình hình đặc biệt đó không phải không có liên quan gì đến điều mà ta vẫn gọi là “sự thần kì Nhật Bản”. Có lẽ cũng nên biết rằng hầu hết các thuật ngữ về xã hội học, triết học, chính trị học, và nhiều khoa học khác đang được sử dụng ngày nay ở ta chính là xuất phát trước tiên từ Nhật, chính người Nhật là những người đầu tiên đã sáng tạo ra các thuật ngữ ấy để dịch các khái niệm du nhập từ phương Tây trong quá trình duy tân và hiện đại hoá của họ, các thuật ngữ này sau đó được các nhà cách mạng Trung Hoa đưa vào tiếng Trung, rồi mới chuyển sang Việt Nam. Và như ai cũng hiểu, một khái niệm mới chỉ có thể hình thành, định hình trong một xã hội, trong đời sống một dân tộc khi trong ngôn ngữ của xã hội và dân tộc đó đã chính thức xuất hiện những thuật diễn đạt những khái niệm ấy. Chính những khái niệm mới được định hình tạo ra những chuyển động xã hội, thậm chí những cuộc cách mạng xã hội rộng lớn, quyết định số phận các dân tộc.

Một ví dụ Nhật Bản thôi hẳn cũng đã khá đủ để cho ta thấy vai trò của dịch thuật trong đời sống và phát triển của các dân tộc. Đúng ra đấy là một quy luật phổ biến: một dân tộc, một đất nước chỉ có thể phát triển – thậm chí tồn tại mà không bị mỏi mòn, mai một – qua việc trao đổi liên tục với những nền văn hóa khác mình, trong đó dịch – “dịch” bằng cách này hay cách khác – là một phương tiện quan trọng nhất; và những biến đổi quan trọng nhất của đời sống một dân tộc thường gắn với những công cuộc tiếp nhận những ảnh hưởng văn hóa bên ngoài, càng xa và mới lạ thì tác động càng mạnh và càng quyết định, và cũng thường chủ yếu thông qua dịch thuật.

Ngay lịch sử ta cũng từng chứng minh khá rõ điều này: tiếp nhận văn hóa Phật giáo Ấn Độ thông qua dịch kinh Phật rất sớm ngay từ vài thế kỉ trước Công nguyên, tạo nên một nền văn hóa Việt rất độc đáo kết hợp văn hóa bản địa với văn hóa Phật giáo, đủ sức chống lại đồng hoá một nghìn năm của văn hóa xâm lược phương bắc; tiếp nhận văn hóa Trung Hoa Nho giáo bằng một lối “dịch” rất đặc biệt, qua một ngôn ngữ Hán Việt, viết Hán đọc Việt, cũng tạo sức mạnh văn hóa đủ để tồn tại một nghìn năm tiếp theo độc lập bên cạnh một đế quốc khổng lồ, và hơn thế nữa còn nhân đôi lãnh thổ về phương Nam; tiếp nhận văn hóa phương Tây, trước tiên bằng đọc trực tiếp, rồi bằng dịch, để tạo nên xã hội Việt Nam, văn hóa và văn học Việt Nam hiện đại …

Tuy nhiên cũng phải nói rằng, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, trong thời kì cận đại và hiện đại, việc tiếp cận và dịch thuật những tri thức tinh hoa của nhân loại ở ta khá chậm trễ và phiến diện. Các tác phẩm văn học thế giới được giới thiệu và dịch khá hơn, nhưng cũng chưa thật có hệ thống; đặc biệt từ khi có tác động của kinh tế thị trường thì vừa có mặt phong phú, đa dạng hơn, lại vừa có mặt hỗn độn hơn, chất lượng dịch nhiều khi rất kém. Còn những tác phẩm tinh hoa thuộc các ngành khoa học xã hội và nhân văn thì rất vắng bóng. Trước Cách mạng Tháng Tám, có thể nói ở Việt Nam hoàn toàn không có một tác phẩm triết học quan trọng nào của phương Tây được dịch ra tiếng Việt. Sau năm 1945, đặc biệt sau năm 1954, một số tác phẩm triết học đã được dịch khá công phu, nhưng cũng chỉ tập trung trong hệ tư tưởng Mác-Lênin. Có thể nói, không hề quá đáng, chúng ta hầu như bị đứt mất hàng trăm năm với tinh hoa của tri thức toàn diện của nhân loại. Chỉ một ví dụ này thôi cũng đã quá hùng hồn: Cuốn sách kinh điển “Bàn về tự do” của John Stuart Mill vừa nói đến trên kia mãi đến năm 2004 mới được dịch lần đầu tiên ở ta, và cũng chỉ in lèo tèo có một 1.000 bản, tức chậm hơn Nhật một thế kỉ rưởi và số lượng in thì ít hơn họ 2.000 lần! Có phải chỉ qua một điều này thôi đã có thể cắt nghĩa được sự chậm trễ hàng trăm năm của ta so với cái đất nước cách đây nghiệp phục hưng dân tộc. Tôi muốn đề nghị trong buổi họp mặt hôm nay, ít nhất và trước hết vài thế kỉ hoàn cảnh cũng chẳng hơn gì ta, và ngày nay ta thật sự chẳng biết đến bao giờ mới đuổi theo cho kịp. Quả thật cho đến hôm nay, ta vẫn còn là một ốc đảo cách biệt rất xa với đại dương mênh mông của tri thức nhân loại, cả cổ điển lẫn đương đại, đó là điều không thể và cũng không nên cố tìm cách chối cãi.

Cho nên sẽ hoàn toàn không đầy đủ, sẽ là phiến diện và thậm chí nguy hiểm, nếu trong chiến lược phát triển trước mắt và lâu dài của đất nước không thật sự có kế hoạch toàn diện, nghiêm túc, có hệ thống, và cả bức bách nữa, dịch thuật tinh hoa tri thức thế giới như một trong những chiến lược then chốt của phát triển, hoặc cũng có thể nói cách khác, trong sự trong những người tâm huyết chúng ta, thống nhất với nhau về nhận thức ấy, để rồi từ đó mới bàn đến những kế hoạch, những công việc cụ thể, và cũng từ đây loan nhận thức này ra toàn xã hội. Dự án Tủ sách tinh hoa tri thức thế giới, với Nhà xuất bản Tri Thức làm trung tâm đầu tiên, chỉ có thể thành công nếu chúng ta thật sự nhận ra tình hình nghiêm trọng này, và từ đó thống với nhau nhận thức này.

Cách đây hơn một thế kỉ có một người Việt Nam đã giật mình hiểu ra tình hình này, nhận ra sự lạc hậu chết người của xã hội ta về văn hóa và tri thức giữa một thế giới đang biến động dữ dội, đang “toàn cầu hoá” như cách nói của chúng ta ngày nay, cuộc toàn cầu hoá lần thứ nhất; và biết rằng Việt Nam chỉ có thể sống còn nếu quyết mạnh dạn hoà nhập cùng toàn thế giới, ra sức học thế giới. Người đó là Phan Châu Trinh, người Việt Nam sáng suốt nhất trong thời của ông. Về sau Huỳnh thúc Kháng có một đánh giá thoạt nghe có thể rất lạ về Phan Châu Trinh, ông gọi Phan Châu Trinh là “nhà cách mạng đầu tiên của Việt Nam”. Nhà cách mạng là người không chỉ chống ngoại xâm, mà là người muốn làm thay đổi xã hội, thay đổi một cách căn bản. Phan Châu Trinh chủ trương muốn cứu nước ra khỏi tình trang nô lệ thảm khốc thì phải làm thay đổi xã hội, khắc phục sự lạc hậu về văn hóa xã hội của đất nước, rút ngắn khoảng cách chết người giữa chúng ta với thế giới đang chuyển động như vũ bão. Và khẩu hiệu của ông ngắn gọn, súc tích, quyết đoán: “Chi bằng học!”. Chiến lược hàng đầu của ông là khai dân trí, tức khai hoá dân tộc, khai hoá cho dân tộc đang chìm đắm trong vòng u tối. Phan Châu Trinh đã tìm sang Nhật, và kết luận của ông sau chuyến khảo sát tận nơi ấy rất rõ ràng. Ông nói, đau đớn: “Xem dân trí nước Nhật rồi đem dân trí ta so sánh thật không khác gì đem con gà đọ với con chim cắt già… Trình độ quốc dân Nhật như thế, trình độ quốc dân ta như thế, không nô lệ làm sao được”. Trở về, ông phát động phong trào Duy Tân nổi tiếng. Hoàng Xuân Hãn đánh giá phong trào đó như sau: “Phan Châu Trinh đã chủ trương một cuộc cách mạng tân văn hóa”… Tiếc thay, vì những éo le của lịch sử, sự nghiệp tâm huyết và sáng suốt của Phan Châu Trinh đã phải dở dang. Độc lập dân tộc đã được dành lại bằng mấy cuộc chiến tranh khốc liệt và anh hùng. Song, như một nhà sử học đã nói, những nan đề do Phan Châu Trinh đã nhận thức và nêu ra cho đất nước, về nhiều mặt, vẫn còn nguyên đấy. Công cuộc khai hoá bị chậm trễ vì những uẩn khúc của lịch sử nhất định phải được tiếp tục, một cách ráo riết, cơ bản, có hệ thống. Phải đưa xã hội, dân tộc ta hoà nhập được với nền tảng tri thức cả cơ bản lẫn cập nhật của nhân loại. Đây phải là sự nghiệp của toàn dân, của tất cả những người tâm huyết với sự phát triển của dân tộc. Hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà quĩ dịch thuật như là một công cụ hữu hiệu để góp phần thực hiện sự nghiệp này mang tên là Quỹ dịch thuật Phan Châu Trinh. Và cũng thật đẹp khi đứng đầu Quĩ này là nguyên phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, người cháu ngoại yêu quí của cụ.

Công việc ắt sẽ rất nhiều và rất nặng nề. Cần có kế hoạch tổng thể có tầm nhìn xa và lớn, đồng thời thiết thực từng bước. Cần huy động được tối đa trí tuệ, tài năng của nhiều người từng trải, đồng thời lại cần có chương trình đào tạo lực lượng dịch mạnh cho tương lai.

Hoàn cảnh mới của đất nước đang tạo cho chúng ta những điều kiện tốt hơn bao giờ hết để tiếp nối khai sáng cuộc được Phan Châu Trinh bắt đầu từ một 100 năm trước. Và cũng chính hoàn cảnh ấy, với quyết đoán của đất nước chủ động mạnh mẽ đi vào trào lưu toàn cầu hoá, buộc chúng ta phải quyết tâm thực hiện cho kì được sự nghiệp này. Chúng ta đã chậm trễ mất hàng trăm năm, quyết không thể chần chừ nữa. Mong cuộc gặp hôm nay, khiêm tốn, song sẽ là sự bắt đầu, bắt đầu lại con đường khai sáng rất đáng để tất cả chúng ta dồn hết tâm huyết và trí tuệ.

Con người tự chủ để xây dựng một đất nước tự chủ

Nguyễn Thị Bình
Nguyên Phó Chủ Tịch Nước
http://www.Giáo dục.net Thứ hai 14/01/2013

Đề án Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo (GD-ĐT) đã được Hội nghị lần thứ 6 của BCH TƯ Đảng khóa XI thảo luận, cho ý kiến. BCH TƯ cho rằng đây là vấn đề lớn, hệ trọng và phức tạp, còn nhiều ý kiến khác nhau, do đó cần tiếp tục nghiên cứu, tổng kết, bàn bạc một cách thấu đáo, cẩn trọng, tạo sự thống nhất cao để ban hành nghị quyết vào thời điểm thích hợp.

– Vừa qua Hội nghị TƯ 6 chưa thông qua Đề án Đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT. Theo bà, đề án này cần tiếp tục hoàn thiện thêm những nội dung gì để được kỳ vọng về đổi mới giáo dục hiện nay?

Nguyên PCT nước Nguyễn Thị Bình: Vừa rồi đề án chưa được thông qua, chứng tỏ sự chuẩn bị chưa tốt. Tôi cũng tham gia đóng góp ý kiến cho đề án nhưng có nhiều nội dung đóng góp của các chuyên gia, nhà khoa học chưa được tiếp thu đầy đủ. Trong xây dựng đất nước, lĩnh vực nào cũng quan trọng, có nhiều điều mới mẻ nên còn nhiều khó khăn. Nhưng điều quan trọng là người lãnh đạo phải khách quan, phải biết lắng nghe. Tôi cho là ngành giáo dục hiện nay không biết lắng nghe.

Trong 5 – 7 năm qua, trong và ngoài nước, các ý kiến đóng góp rất nhiều cho giáo dục, tất nhiên trong đó có những ý kiến không phù hợp nhưng ý kiến tốt rất nhiều. Nhưng tôi thấy lãnh đạo ngành giáo dục không tiếp nhận các ý kiến đó. Lĩnh vực giáo dục rất khó, là vấn đề khoa học tổng hợp về con người, tự nhiên, xã hội, cho nên càng phải có sự nghiên cứu nghiêm chỉnh và phải biết lắng nghe ý kiến các nhà khoa học, nhà giáo dục. Nhưng hiện nay, khuyết điểm là chúng ta chưa huy động được trí tuệ tập thể, chưa lắng nghe nhiều. Tôi mong sắp tới phải giải quyết được điều này.

Đề án đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục phải là trí tuệ tập thể của đất nước chứ không phải chỉ của ngành giáo dục. Thậm chí, chỉ vài đồng chí phụ trách đề án này là không được đâu. Giáo dục nhằm đào tạo ra một lớp người toàn diện nên một ngành không thể nghĩ ra hết. Thế nên, tới đây phải biết huy động trí tuệ của tập thể thì chúng ta mới làm được. Tôi cho vấn đề giáo dục bức xúc lắm rồi, nó quyết định hết tất cả, vì thế cần phải cấp bách đổi mới.

Một vấn đề xã hội nhức nhối vừa qua là nhiều thanh niên vướng vào tệ nạn xã hội chẳng hạn. Vấn đề này có nhiều nguyên nhân, nhưng có nguyên nhân từ giáo dục. Không phải chúng ta quy tất cả nguyên nhân cho nhà trường, nhưng phải thấy tất cả trẻ em đều qua nhà trường, qua ngành giáo dục. Dĩ nhiên, ở đây gia đình cũng có vấn đề do không quan tâm con em đầy đủ. Đổi mới giáo dục phải giải quyết được những vấn đề này.

Theo bà, có nên thành lập ủy ban cải cách giáo dục?

Nguyên PCT nước Nguyễn Thị Bình: Trong tình hình hiện nay theo tôi phải có một ủy ban chỉ đạo vấn đề cải cách giáo dục. Ủy ban này không chỉ có ngành giáo dục mà phải có cả các nhà khoa học, nhà giáo dục trong và ngoài ngành để nghiên cứu một đề án tổng thể cả về giáo dục phổ thông, dạy nghề, giáo dục đại học. Đề án này phải được trình ra Trung ương, ra Quốc hội, với sự tham gia của các nhà chuyên môn, với những quan điểm đổi mới giáo dục rõ ràng. Phải hết sức quyết tâm, còn nếu cứ lơ mơ thế này rất khó thành công. Cần hiểu rằng, giáo dục chậm 1 năm là đất nước trễ hàng chục năm, ảnh hưởng đến cả một lớp người. Tôi rất quan tâm đến đề án này và mong đề án sớm được xây dựng một cách hoàn thiện. Tôi cũng mong muốn xã hội quan tâm hơn nữa đến giáo dục. Xã hội phải thấy giáo dục quyết định sự phát triển của chúng ta về tất cả các mặt.

– Lần này, bà mong muốn cải cách giáo dục Việt Nam theo hướng nào?

Nguyên PCT nước Nguyễn Thị Bình: Trước đây, nhiệm vụ độc lập, giải phóng đất nước là mục tiêu, mọi người đều theo hướng đó. Ngày nay, với nhiệm vụ phát triển, từng người phải phát triển tiềm năng của mình. Những tiềm năng đó sẽ được phát huy trong từng lĩnh vực, giúp tạo ra những sản phẩm một cách sáng tạo hơn, khoa học hơn. Chúng ta phải hình thành ra những lớp người tự chủ thì mới có một đất nước tự chủ. Tôi muốn giáo dục sẽ đổi mới theo hướng làm cho lớp thanh niên của Việt Nam có tự chủ. Con người tự chủ để xây dựng một đất nước tự chủ, chứ không thụ động. Còn hiện nay, giáo dục của chúng ta còn quá thụ động, chưa tự chủ.

Nhớ một thời giáo dục thanh khiết

Trần Đăng Khoa

Những nan giải của giáo dục ngày nay, các thầy cô ở trường quê Nam Sách đã giải quyết ổn thỏa từ những năm 60, 70 của … thế kỷ trước. Học sinh lớp 4 đội mũ rơm chống bom bi, dưới chiến hào nơi sơ tán (ảnh: http://bvbong.blogspot.de/2012/12/tran-ang-khoa-nho-mot-thoi-giao-duc_31.html)

Trong Blog tuần trước, tôi cùng với nhà khoa học Trần Thanh Thu bàn về việc dạy và học ở Bỉ. Có bạn đọc bảo: Quả là một Thiên đường Giáo dục. Không biết tới bao giờ, chúng ta mới lên tới đó? Xin thưa, cái Thiên đường đó không xa. Đã có thời, chúng ta cũng đã đi qua ngõ cái Thiên đường ấy rồi đấy. Ngay trong mái trường quê của tôi. Bởi vậy, trước khi bàn tiếp về việc dạy và học ở Bỉ, tôi muốn cùng bạn đọc ngoái lại gần nửa thế kỷ, nhìn lại ngành giáo dục quê nhà, ở một góc rất hẹp. Những năm tháng đẹp nhất của tuổi thơ tôi trôi qua trong mái trường quê đó.

Lớp học ban đêm (Ảnh: http://hoabinh.edu.vn/vn)

Đấy là Trường cấp III Nam Sách, nay là Trường THPT Nam Sách. Trường được thành lập từ năm 1962. Mười năm sau, tôi vinh hạnh được là học sinh của trường. Học sinh lớp 8G.

Tôi còn nhớ mãi buổi khai giảng năm ấy. Đó là 7h sáng ngày 1/9/1972. Khi đó, cuộc chiến tranh xâm lược của giặc Mỹ bằng không quân, mở rộng ra Miền Bắc đang vào thời điểm khốc liệt nhất. Bom đạn mù mịt suốt ngày đêm. Chỉ ít thời gian sau, Mỹ dùng máy bay chiến lược B52 rải thảm Hà Nội, Hải Phòng. Nam Sách là mảnh đất kiên cường, ở giữa hai thành phố lớn ấy, lại nằm bên Đường 5, con đường huyết mạch nối Thành phố Cảng với Thủ đô Hà Nội. Một trong những trọng điểm hủy diệt của Không quân Mỹ là hai cây cầu Phú Lương và Lai Vu.

Nam Sách thành trận địa sinh tử, quyết liệt bảo vệ hai cây cầu chiến lược ấy. Xã Ái Quốc và nhiều xã lân cận hóa thành “túi bom” của giặc. Chúng tàn phá bất kỳ lúc nào. Mảnh đất hậu phương, cung cấp người và của cho chiến trường Miền Nam “Thóc không thiếu một cân, Quân không thiếu một người”, giờ cũng đã thành một chiến trường khốc liệt.

Trường cấp III Nam Sách xé lẻ ra thành từng lớp, sơ tán về các làng quê. Có lớp học trong Chùa. Có lớp học ở Nhà thờ Thiên chúa giáo.

Lớp 8G của tôi sơ tán về xã Thanh Lâm. Ngày Khai giảng là buổi lao động tát nước ở giao thông hào và đắp lại những căn hầm kèo bị sạt lở sau một trận mưa lớn đêm trước. Thày Chủ nhiệm Vũ Đình Sâm đứng trên nóc hầm điểm danh học sinh và thông báo lịch trình học tập.

Buổi khai giảng đầu tiên của đời tôi khi mới lẫm chẫm bước chân vào lớp Một cũng là một buổi học độc đáo như vậy. Sau giờ khai giảng, học sinh tỏa về từng lớp để thầy trò làm quen với nhau. “Hôm nay, thầy sẽ dạy các em bài học đầu tiên…”. Bài học đầu tiên của chúng tôi đây: “Ngày khai trường”, rồi “Tổ Quốc Việt Nam”. “Tổ Quốc em đẹp lắm – Cong cong hình lưỡi liềm…”. “Không, các em gập sách lại đi. – Thầy bảo – Bài học này chưa kịp có trong sách Giáo khoa đâu…”.

Hồi hộp quá. Không chỉ trò, mà cả thầy cũng hồi hộp. Thầy dạy và rồi chính thầy cũng phải học. Bài học đầu tiên trong đời. Đó là cách tránh bom. Thầy giúp chúng tôi phân biệt từng hướng rơi của bom. Nhìn hình dạng và đường bay của bom mà biết quả bom ấy sẽ lao xuống đâu. Lúc nào thì thì ngồi in, chụp mũ rơm lên đầu. Lúc nào thì phải chạy. Chạy theo hướng nào để có độ an toàn cao nhất. Rồi thầy dạy chúng tôi cách cứu thương và băng bó vết thương, “ để khi không có thầy bên cạnh, các em còn biết cách cứu bạn và tự cứu mình”. Chúng tôi bắt đầu tập băng bó. Một lũ trẻ lau nhau, trứng gà trứng vịt mà làm rất thuần thục. Vừa làm vừa cười đùa như chơi trò trận giả. Chúng tôi cười vui. Nhưng thầy lại khóc. Khóc thầm. Nhưng nước mắt không giấu được, cứ ầng ậng sau hai hàng mi. Và tôi hiểu một điều rất hệ trọng. Chiến tranh không bao giờ là một trò đùa.

Khi tôi thành học sinh trường Cấp III Nam Sách, chiến tranh đã lên đến đỉnh điểm. Bom đạn mù mịt. Có thể chết bất cứ lúc nào. Nhưng đời sống tinh thần lại ấm áp, bình thản. Lạ thế! Một xã hội trong vắt. Không có tham nhũng. Không có kẻ cướp, đĩ điếm, trấn lột. Và đẹp nhất trong bầu khí quyển trong lành ấy là người lính và người thày. Đó là hai chiến sĩ kiên cường trên hai mặt trận: Chống giặc dốt và giặc ngoại xâm.

Chúng tôi cắp sách đến trường, tiếp nhận cùng một lúc hai nguồn kiến thức lớn. Một nguồn từ sách vở. Đó là những bài học, đúc rút kinh nghiệm sống, là trí khôn của cha ông và của cả loài người, thành nguồn sáng trong lành, tinh lọc qua tâm hồn thày cô rồi tỏa xuống mỗi học sinh. Còn nguồn kiến thức thứ hai, cũng rất quan trọng, mảng kiến thức này không nằm trong giáo án, cũng không có trong sách giáo khoa, nhưng lại tác động đến học trò rất mãnh liệt. Đó là cuộc đời các thày cô. Tấm gương các thày cô. Chính các thày cô đã thành giáo cụ trực quan, dạy chúng tôi làm người.

Thầy nào thì trò ấy. Khi thầy không gương mẫu, không còn là một vẻ đẹp, thì mọi lời giảng, dù có hay đến đâu cũng thành vô nghĩa.

May mắn cho lũ học trò nhà quê chúng tôi trong những năm tháng gian nan, vất vả ấy mà vẫn có được một ngôi trường nề nếp, quy củ. Nhờ chính sách “hạ phóng” của Bộ Giáo dục, nhiều thầy cô ở thành phố lại tỏa về các miền quê và những vùng sâu vùng xa. Trường Cấp III Nam Sách là một ngôi trường quê, học trò đều là con em nông dân ở mấy làng quê nghèo lam lũ, nhưng nhà trường lại có một đội ngũ giáo viên rất giỏi. Nhiều thầy cô người Hà Nội gốc nhưng lại về bám trụ ở đây, như thầy Độ đường Quán Thánh, cô Nga phố Hàn Thuyên, thầy Tuấn phố Quang Trung, thày Bản phố Hàng Bạc, cô Hằng đường Cầu Giấy.

Tôi không sao quên được thày Độ. Thầy dạy toán. Lên bục giảng, thầy không mang giáo án, chỉ ve vảy hai bàn tay không. Nhưng xin bạn đọc chớ hiểu lầm thầy lười nhác hay cẩu thả. Giáo án nằm hết trong đầu thầy. Cả cuốn sách Giáo khoa toán dày cộp cũng ở trong đầu thầy. Thầy chép bài tập lên bảng mà đâu có nhìn sách giáo khoa. Thầy bảo: “Nếu thầy nhớ nhầm, các em nhắc thầy nhé!”.

Nhưng chẳng bao giờ thầy nhầm. Cái tài lớn nhất của thầy mà tôi rất phục là khả năng biến những gì phức tạp thành đơn giản dễ hiểu. Tôi nghiệm thấy những người giỏi đều thế cả. Họ có khả năng đơn giản hóa những gì phức tạp. Còn người kém thì ngược lại, ngay cả điều đơn giản, qua họ, cũng thành phức tạp, rối mù. Thày Độ giảng rất thoải mái, nhưng học sinh nào cũng hiểu được. Tôi là một học trò cá biệt, rất dốt toán, mà cũng nắm được bài ngay tại lớp. Còn thầy Tuấn lại có một biệt tài khác mà chúng tôi phục lăn. Thầy dựng Hình, chẳng cần com-pa, thước kẻ, mà hình nào cũng đẹp. Có khi thầy vừa giảng, vừa quài tay ra sau lưng, khoanh một nét thành một Đường tròn tâm O, chuẩn đến mức kinh ngạc.

Trong con mắt chúng tôi, các thầy cô như những vị thánh sống. Cao cả và tinh khiết. Hồi đó có chuyện dạy thêm không? Có! Thời nào chả có những học sinh kém. Với những cô cậu học trò cá biệt ấy, sau buổi học, các thầy cô thường mời ở lại để phụ đạo thêm. Thảng hoặc, có học sinh, do hoàn cảnh khó khăn, vào các buổi tối, thầy còn đạp xe đến tận nhà phụ đạo. Thầy dạy mà không lấy tiền. Có thày còn sẻ cả một phần lương đạm bạc của mình cho học trò mua sắm quần áo hay dụng cụ học tập. Ngày Tết, hay ngày 20-11, học sinh ríu rít đến thăm thầy chỉ có hai bàn tay trắng. Phong bì không và hoa cũng không. Ở làng quê khoai lúa, muốn tặng hoa thầy cũng chẳng có để tặng. Nhưng cả thầy và trò đều vui. Một niềm vui chan hòa, ấm cúng và tinh khiết.

Bây giờ chúng ta hay kêu về nền giáo dục xuống cấp trầm trọng với bao nhiêu vấn nạn. Trong đó có cả những vấn nạn thuộc về nghiệp vụ giảng dạy, như nạn “văn mẫu”, nạn “đọc chép”. Thày đọc và trò chép. Nhà trường đã biến học sinh thành những con vẹt. Đó là những phương pháp giáo dục phản giáo dục tệ hại nhất. Những vấn đề nan giải này, các thày cô ở mái trường quê Nam Sách đã giải quyết rất ổn thỏa từ những năm 60, 70 của …thế kỷ trước.

Tôi rất phục cách dạy văn của thầy Vũ Đình Sâm, chủ nhiệm các lớp 8G, 9G, 10G mà tôi theo học. Dù những năm tháng ấy, trong mái trường này, thầy chỉ là một tên tuổi rất khiêm nhường. Khi nhắc đến những giáo viên giỏi, người ta thường nhắc đến thầy Tham, thầy Soa, thầy Hoạch, thầy Độ, thầy Tuấn, cô Nga, cô Hằng, thầy Đức, cô Thanh, cô Thu…

Và còn rất nhiều thầy cô khác nữa. Thầy Sâm thường khuất trong bóng tối. Bản thân thầy cũng tự giấu mình đi. Nhưng trong con mắt của tôi, thầy là một tấm gương sáng, không chỉ với học trò, mà còn với cả ngành giáo dục. Cách dạy của thầy theo tôi là mẫu mực, đáng để Ngành Giáo dục hôm nay tham khảo. Thầy không biến học trò thành con vẹt, cũng không tự biến mình thành Rô-bốt cứng nhắc. Mọi quy chế, hướng dẫn, quy định của ngành chỉ có ý nghĩa tham khảo quan trọng, còn Giáo viên phải có những sáng tạo riêng, nhằm đổi mới mỗi tiết giảng, truyền đạt kiến thức đến học trò một cách hiệu quả nhất, nhưng lại gợi mở cho các em sự độc lập suy nghĩ và sáng tạo.

Trong tiết giảng, thầy không đọc lại đoạn văn trích. Đấy là việc học sinh tự đọc ở nhà. Thay cho thời gian đọc tác phẩm, thầy tóm tắt cả cuốn sách, để học sinh nắm được nội dung, biết đoạn trích học nằm ở đâu. Thầy biến bài giảng thành buổi Xê-mi-na để học sinh cùng thảo luận. Có buổi học thành cuộc tranh luận rất sôi nổi. Thầy gợi mở, xới lên các vấn đề để học sinh bàn. Rồi thầy tổng kết. Có vấn đề thầy kết luận ngay, có vấn đề thầy bỏ ngỏ, để học sinh nghĩ tiếp.

Trong phần tổng kết, ngoài biểu dương những ý kiến có tính khám phá của học trò, thầy nói ba vấn đề. Một là thầy tóm tắt phần hướng dẫn giảng dạy dành cho giáo viên của Bộ Giáo dục về đoạn văn trích. Hai là thầy tóm tắt ý kiến của các nhà phê bình nghiên cứu về tác phẩm đã được in trên các báo và tạp chí từ trước đến nay, đặc biệt là những kiến giải xuất sắc có tính phát hiện. Phần thứ ba, là ý kiến riêng của thầy. Tôi thích phần thứ ba này nhất. Bởi đó là những ý kiến tôi không tìm thấy ở bất cứ tài liệu nào trên sách báo. Như vậy, một bài học, được chiếu rọi từ nhiều góc độ khác nhau. Một giờ lên lớp của thầy, bằng học sinh lục lọi hàng tháng trong thư viện với hàng đống sách vở.

Bây giờ, trong các thầy cô dạy phổ thông, có ai làm được như thầy không?

Thầy nào trò nấy. Thầy phải giỏi thì trò mới có thể giỏi được. Nhờ có một đội ngũ thầy giỏi như thế, mà trường có được một đội ngũ học sinh làm rạng danh trang sử nhà trường. Có người rất nổi tiếng, được thế giới biết đến, như nhà địa chất Tạ Phương, người được mang tên cho một loại quặng quý trong một cuốn sách khoa học về địa chất ở nước Nga. Rồi những tên tuổi được cả nước biết đến như anh hùng quân đội Vũ Ngọc Diệu, anh hùng Liệt sĩ Đỗ Chu Bỉ, Phó Giáo sư Tiến sĩ Trịnh Bá Đính, nhà báo Trịnh Bá Ninh, rồi các nhà quản lý Hoàng Bình, Nguyễn Thu Hằng, Nguyễn Thị Dung, các nhà kinh tế Vũ Văn An, Nguyễn Hữu Thắng…Và còn rất nhiều các anh các chị khác nữa.

Tôi muốn nói thêm đôi điều về hai học sinh của trường, anh hùng quân đội Vũ Ngọc Diệu và anh hùng Liệt sĩ Đỗ Chu Bỉ. Cả hai anh đều lên đường nhập ngũ khi còn đang học phổ thông. Trong trận “Điện Biên phủ trên không”, với 12 ngày đêm đánh B52 ở Hà Nội năm 1972, Vũ Ngọc Diệu là lính ra đa bảo vệ Hà Nội. B52 là vũ khí chiến lược của Mỹ, là sức mạnh tàn bạo của không lực Hoa kỳ. B52 có nhiều máy bay phản lực yểm trợ, bảo vệ, lại bay ở tầm cao, lại có hệ thống phá sóng ra đa, tung nhiễu mù mịt nên rất khó phát hiện. Kỳ tích của Vũ Ngọc Diệu cùng các cộng sự của anh là sự mày mò nghiên cứu, phát hiện chính xác B52. Sau nhiều lần tác nghiệp, anh nhận ra rằng, khi B52 cắt bom, và chỉ khi chúng cắt bom, trên màn huỳnh quang ra đa xuất hiện những điểm lóe bất ngờ giữa vô vàn những đốm sáng của những mục tiêu giả. Nhờ thế, chúng ta tiêu diệt được B52. Có ngày rụng đến cả chục chiếc.

Còn Đỗ Chu Bỉ cùng thế hệ tôi. Chúng tôi nhập ngũ khi còn học dang dở. Tổ Quốc gọi và chúng tôi ra đi. Con trai đi. Con gái cũng đi. Sau Tổng động viên, trường vắng hẳn. Phải nhiều lớp gom lại mới đủ sĩ số một lớp. Trong bài thơ gửi em gái mình, khi ở chiến trường Tây Nam, nghe tin em vào Đại học Sư phạm, tôi viết: Hôm nay em đến Giảng đường/ Anh hằng khao khát/ Thế hệ anh, mấy lớp người đi cứu nước/ Có bao anh chưa tới được lớp mười/ Có bao anh nằm lại dọc đường rồi/ Những con suối không tên. Những ngọn đồi không tuổi/ Có thể sau này, em dẫn học trò tới/ Chỉ thấy im lìm rừng xanh với núi xanh…/ Ước mong sao ngày đất nước yên lành/ Anh lại trở về, cùng em, vui chơi như thuở nhỏ/ Trên góc sân nhà, em là cô giáo nhé/ Anh làm chú học trò. Và bài học đầu tiên…

Thật bất ngờ khi Đỗ Chu Bỉ cũng nghĩ như tôi nghĩ trong những khoảnh khắc cuối cùng của cuộc đời mình về một thế hệ học trò chúng tôi. Anh là người lính dũng cảm, đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng bảo vệ từng tấc đất biên cương Phía Bắc Tổ Quốc. Hết đạn thì dùng dao găm và lưỡi lê. Một cuộc chiến đấu không cân sức. Mình anh đẩy lùi nhiều cuộc tấn công của địch.

Khi đồng đội tìm đến chi viện, anh đã hy sinh. Trên người anh là mười chín vết dao và vết đạn bắn. Trong túi áo ngực đẫm máu là bức thư anh viết dở cho mẹ: “Mẹ ơi, con không thể chết được đâu, dù kẻ thù tàn bạo đến thế nào. Bởi con còn có mẹ. Mẹ mỗi ngày một già yếu, ai sẽ chăm sóc mẹ nếu không phải là con? Mẹ hãy tha tội cho thằng con trai bất hiếu này. Mẹ ơi, rồi con sẽ trở về nếu biên giới im tiếng súng. Con sẽ trở về cho tuổi già mẹ không còn hưu hắt. Rồi con sẽ tiếp tục trở về ngôi trường thân yêu của con. Con sẽ tiếp tục học để mẹ không phải xấu hổ vì có một thằng con thất học. Mẹ ơi, con sẽ về. Không kẻ thù nào giết nổi con đâu…”

Cũng như 217 liệt sĩ, những học sinh ưu tú nhất của trường, Đỗ Chu Bỉ không còn trở về. Anh đã nằm lại trên điểm chốt Bình Liêu. Nhưng các em của anh, những học sinh thế hệ sau anh đã quyên góp tổ chức tạc tượng anh, rồi đưa anh trở về ngôi trường thân yêu mà anh hằng khao khát được học tiếp. Bức tượng ấy hiện đang nằm trong Phòng Truyền thống của nhà trường.

Và như thế, có một Trường Cấp III – Trường Trung học Phổ thông Nam Sách bám trụ ở quê nhà, thành một địa chỉ văn hóa, một di tích lịch sử thiêng liêng với rất nhiều thế hệ. Lại còn có những trường cấp III – Trường Trung học Phổ thông Nam sách ở những miền xa. Đấy là các thế hệ học sinh của trường, trong suốt nửa thế kỷ qua, đã mang theo hình bóng thày cô, vóc dáng mái trường đến mọi miền Tổ Quốc, và làm nên những chiến công mới, những kỳ tích mới. Đó cũng là những vẻ đẹp của trường mà đâu phải ai cũng nhận ra…./.

Mở cửa nhìn thiên hạ làm giáo dục


Trần Đăng Khoa
(VOV) – Đối thoại của Trần Đăng Khoa với một người bạn về hệ thống giáo dục ở Bỉ nêu nhiều khía cạnh để học tập. Giáo dục phổ thông ở Bỉ là phổ cập bắt buộc. Nhà «hàng xóm» ấy là nước Bỉ. Một đất nước ít nhiều cũng còn xa lạ với không ít bạn đọc chúng ta. Nước Bỉ dạy dỗ, giáo dục con em mình như thế nào? Ta chỉ ngắm họ ở một góc hẹp trong lĩnh vực giáo dục thôi.Tôi có người bạn thân là Trần Thanh Thu. Chị là nhà khoa học, tốt nghiệp xuất sắc tại Nga. Nhiều năm làm việc ở Viện Sinh học – Bộ Khoa học và Công nghệ. Hiện nay chị đang sống và công tác tại Bỉ. Con trai chị cũng đang theo học phổ thông ở đây. Vì thế, với nền Giáo dục Bỉ, chị là nhà quan sát, cũng là người trong cuộc, một phụ huynh học sinh. Bởi thế, tôi muốn qua chị, cùng với bạn đọc, thử tìm hiểu xem cái ông bạn láng giềng xa ngái này đã giáo dục con em mình ra sao.– Thưa bà Trần Thanh Thu quý mến, trước khi bàn cụ thể về giáo dục Bỉ, xin bà nói cho bạn đọc hiểu một cách tổng quát về nước Bỉ, cũng xin bà chỉ khoanh lại ở những nét vắn tắt chung nhất có liên quan đến Giáo dục mà thôi.

Trần Thanh Thu: Nước Bỉ tuy nhỏ nhưng là một liên bang với hệ thống chính phủ liên bang, dưới nó là chính phủ Flamant (vùng nói tiếng Hà lan), chính phủ Walonie (nói tiếng Pháp) chính phủ vùng nói tiếng Đức và chính phủ Brussel.

Về mặt điạ lý, Brussels thuộc vùng đất Flamant và đồng thời là thủ phủ của vùng Flamant nhưng có tới hơn 80% dân số nói tiếng Pháp. Xin mở ngoặc thêm một tý: Dân chúng bảo chính vì nhờ cái anh Brussels này nên mới có nước Bỉ như ngày nay, nếu không thì đã có hai nước Bỉ. Hệ thống giáo dục của Bỉ không theo cơ cấu chính phủ mà theo ngôn ngữ sử dụng. Tất cả các cơ sở dạy tiếng Hà Lan chịu sự quản lý của Bộ giáo dục Flamant, cơ sở dạy tiếng Pháp do Bộ Giáo dục Walonie quản lý dù cơ sở nằm ở vùng đất nào. Về cơ bản thì không có sự khác biệt trong hệ thống giảng dạy, trừ môn tiếng mẹ đẻ, văn học và ngôn ngữ.

– Một đất nước mà có đến mấy Bộ Giáo dục. Vậy Hệ thống Giáo dục của họ thế nào?

Trần Thanh Thu: Ở Bỉ giáo dục phổ thông gồm có hai cấp: Tiểu học và trung học. Tiểu học từ 6 đến 12 tuổi; trung học từ 12-18 tuổi. Giáo dục phổ thông ở Bỉ là phổ cập bắt buộc. Khi đã bắt buộc nghĩa là nếu bạn không thực hiện tức là bạn đã phạm pháp, và nếu là phạm pháp thì bạn sẽ bị xử lý, từ phạt hành chính đến vào tù.

Trẻ con ở đây, 6 tuổi là phải đến trường, bố mẹ nào không thực hiện điều này, pháp luật sẽ sờ đến ngay. Ngay cả đối với người nước ngoài, nếu đem con đang độ tuổi đi học vào Bỉ mà không cho con đến lớp cũng sẽ bị pháp luật hỏi thăm. Tất nhiên khi đã bắt người ta thực hiện thì trước hết xã hội phải tạo điều kiện tối ưu nhất để cho người dân dễ dàng thực hiện.

Và đối với việc cho con đi học (một cách bắt buộc) ở đây ít nhất phải có hai điều kiện: Học tập miễn phí hoàn toàn, để bất cứ thành phần xã hội nào cũng có thể thực hiện được nghĩa vụ đi học này. Và trẻ con phải được an toàn và vui sướng nhất khi đi học. Có thế chúng mới tự nguyện đến trường. Cấp tiểu học ở đây hoàn toàn được chuẩn hóa. Đơn vị hành chính quan trọng nhất là cấp quận, họ phải lo đầy đủ chỗ học, chỗ chơi, khu thể thao, thư viện… theo đúng chuẩn. Tất cả sách giáo khoa, từ bài tập đến tài liệu học tập đều do nhà trường cung cấp.

Mỗi lớp ở tiểu học thường chỉ từ 15-20 cháu. Nếu quá số này phải mở thêm lớp. Nếu bạn xin học tiểu học cho con bạn ở tại quận bạn đang sinh sống thì họ bắt buộc phải nhận dù lúc đó đang là thời điểm nào của năm học. Khi tôi làm xong giấy tờ để đưa con sang đây thì đã là đầu tháng 4. Lúc đó cháu đang học lớp 1. Chỉ hai ngày sau khi cháu đến Bỉ, cháu đã bắt đầu đi học lại mặc dù cháu không biết một chữ tiếng Pháp nào.

Tại nơi tôi sống lúc đó (ngoại ô Brusela), có xe bus để chở các cháu đi học. Nếu bạn cho con đi học theo xe bus thì bạn sẽ phải đóng tiền nhưng không đáng là bao, kể cả so với học bổng của sinh viên. Và họ quy định, không một cháu bé nào phải đi bộ quá 5 phút từ nhà ra đến bến xe, vì thế khi có một «hành khách» mới họ sẽ xem địa chỉ nhà ở đâu để chỉnh lại bến.

Trước khi cháu nhà tôi đi học, gần đấy không có bạn nào đi xe bus (vì có bố mẹ chở đi học bằng xe riêng) nên không có bến gần nhà. Khi con tôi đăng ký đi học, họ mở thêm một bến ở ngay cửa nhà tôi để đón duy nhất một học sinh, lại là người nước ngoài, không có quốc tịch Bỉ. Điều này làm phụ huynh an tâm về sự an toàn cho con cái mình nhưng cũng có điều bất tiện chút ít là các cháu ở bến đầu phải đi khá sớm vì xe bus đi loanh quanh khá lâu để gom học sinh.

Để các cháu không mệt mỏi và buồn chán, trên xe bus này có trang bị màn hình và ngày nào cũng chiếu phim hoạt hình. Trên xe bus ngoài lái xe còn có một người phụ trách thu gom các cháu. Thường là những người phụ nữ trung niên làm việc bán thời gian hoặc tự nguyện cho quận. Họ nhớ cháu nào lên xuống bến nào, ai sẽ đón ở bến xuống. Nhiều gia đình cho cả con đang học mẫu giáo đi xe bus.

Suốt 6 năm con tôi học tiểu học tôi không phải đóng một euro tiền trường lớp nào, không phải mua một quyển sách quyển vở nào cho con. Duy nhất đầu năm học sinh được phát một tờ giấy cỡ nửa tờ A4 có ghi một số thứ cần mua cho cả 6 năm học, hình như khoảng 10 thứ: Cặp sách (loại nào tùy thích), compa, thước kẻ, hộp chì màu, 1 cái bút chì 2B, một quyển từ điển bỏ túi Pháp –Hà Lan, một quyển chia động từ.

Những cái này tiết kiệm thì mua một lần dùng cả sáu năm luôn, không có chuyện đầu năm phải mua các thứ mới. Cũng vì những thứ này là đồ bắt buộc phải mua nên đầu năm siêu thị luôn bán hạ giá để phục vụ ngày khai trường. Giá rất rẻ, dường như không đáng kể.

Còn ở Trung học thì mỗi năm học sinh phải đóng 80 euro tiền sử dụng sách giáo khoa, giáo cụ học tập và thuê một ngăn tủ để đồ. Việc học tập của học sinh không được để gián đoạn vì bất cứ lý do gì. Nếu các cháu bị bệnh hay tai nạn phải nằm điều trị dài ngày sẽ có giáo viên đến tận bệnh viện hoặc đến nhà để giúp các cháu theo kịp chương trình. Gia đình không phải trả lệ phí.

Hai vợ chồng sếp tôi đều là giáo sư đại học. Họ có một con trai. Cách đây vài năm khi con họ đang học tiểu học, họ có tham gia chương trình hợp tác nghiên cứu và giảng dạy với Cuba. Năm ấy họ phải sang dạy cho lớp cao học ở Cuba trong thời gian đang là năm học và họ cũng không gửi được con cho ai. Họ phải làm đơn xin cho cháu đi theo bố mẹ và họ phải bảo đảm là cháu vẫn phải học hành đầy đủ theo đúng chương trình. Thế là ngày nào bố mẹ cũng phải thay nhau dạy con học để cháu không bị gián đoạn. Việc học sinh không được bỏ học kéo theo hệ lụy là tất cả các công ty du lịch đều «ăn theo» thời khóa biểu của trường học. Cứ đến thời điểm học sinh được nghỉ học, giá vé máy bay, tàu xe du lịch, khách sạn tăng như «pháo thăng thiên».

– Vậy việc tổ chức trường lớp cho các cháu ra sao, trước hết là ở bậc tiểu học?

Trần Thanh Thu: Như tôi đã nói với ông ở trên. Mỗi lớp tiểu học chỉ khoảng từ 15-20 cháu. Nếu đông hơn số đó phải mở lớp mới hoặc học ghép với lớp khác.

Lớp học khá rộng rãi. Ngoài số bàn ghế để cho các cháu có thể ngồi học thoải mái, lớp còn có các góc cho các cháu ngồi nghỉ, đọc sách, chơi với nhau trong giờ nghỉ trưa vì các cháu học ở trường cả ngày. Bàn ghế nhẹ nhàng dễ di chuyển, bàn liền với ghế, để các cháu có thể thay đổi vị trí tùy theo bài học và cũng tùy theo ý thích. Ngoài cửa lớp có giá treo áo khoác của các cháu. Nói chung các trường tiểu học ở đây chỉ có một lối vào khu học tập, có bảo vệ, chỉ có thầy cô giáo và học sinh mới được vào khu vực này trong năm học.

Bên cạnh phòng bảo vệ có phòng rộng để trông các cháu ngoài giờ vì giờ tan học thường là 16h30. Nhà trường nhận trông các cháu đến 19h tối, tiền trông trẻ ngoài giờ là 20 cent/giờ. Phòng trông trẻ ngoài giờ nằm ngoài khu lớp học, nối với sân chơi. Trong năm học nếu phụ huynh có cần gì thì liên hệ với hiệu trưởng chứ không bao giờ liên hệ với cô giáo phụ trách lớp.

Cuối năm có buổi gặp gỡ phụ huynh. Cô giáo gặp từng phụ huynh một theo giờ hẹn chứ không họp chung. Bạn nhận được thư hẹn, đến phòng họp sẽ thấy học bạ của con mình trên bàn. Trước khi gặp trao đổi với giáo viên, bạn có thời gian đọc học bạ để có thể thảo luận với giáo viên. Con tôi học rất giỏi và không có vấn đề gì ở trường, từ năm lớp hai nhà trường cuối năm đều gửi thư nói: «cháu P học tốt, nếu ông bà không có thắc mắc gì cần trao đổi thì không cần phải có mặt tại buổi họp. Còn nếu ông bà muốn thì có thể đến vào lúc… ». Vì thế suốt 6 năm con tôi học tiểu học tôi gặp giáo viên duy nhất có một lần và không hề có một món quà cáp nào cho cô. Mà nếu có biếu, họ cũng không nhận./.

Trần Đăng Khoa/VOV

Thay đổi tư duy giáo dục

Hoàng Tụy

Giáo dục đang trong tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Chỉ có cải cách giáo dục toàn diện, triệt để mới đáp ứng yêu cầu khẩn thiết của cuộc sống, chứ không thể tiêp tục đổi mới liên miên nhưng vụn vặt, chắp vá, hao tốn tiền của, công sức mà rốt cục gần như quay về điểm xuất phát, với triền miên những khó khăn, bế tắc kéo dài không dứt.

Trước hết, cần tìm ra cho được căn bệnh gì là gốc đang tàn phá giáo dục ngấm ngầm nhưng khốc liệt, từ đó mới mong có biện pháp sửa chữa căn bản và mở con đường ra cho giáo dục.

Dù dễ dãi và lạc quan đến đâu, ai cũng phải thừa nhận sự lạc hậu của giáo dục. Nhưng điều nguy hiểm khó thấy hơn là giáo dục của ta đang đi lạc hướng ra xa con đường chung của nhân loại, đang phát triển lạc điệu với thế giới văn minh. Đã đi lạc hướng, đã phát triển lạc điệu thì làm sao đuổi kịp được người ta, làm sao hội nhập được với thế giới văn minh. Mà trong thời đại này, với xu thế toàn cầu hóa không thể đảo ngược, nước nào không hội nhập được, không thich nghi được, tất sẽ bị cô lập, bị bỏ rơi lại sau, “chết lâm sàng” rồi từ từ bị đào thải, nếu không sớm tỉnh ngộ.

Cho nên có thể khẳng định sự lạc hướng, lạc điệu, không giống ai đó của giáo dục là cái căn bệnh gốc, cái nguyên nhân sâu xa từ đó đẻ ra mọi khó khăn, sai lầm của giáo dục.

Mà lạc hướng, lạc điệu trước hết từ tư duy cơ bản về mục tiêu, đường lối, phương pháp giáo dục, nói gọn lại, từ triết lý giáo dục. Đánh giá sự sa sút trầm trọng của chất lượng giáo dục, nhiều ý kiến thường nhấn mạnh khuyết điểm lớn nhất của nhà trường là chỉ chú ý dạy chữ (dạy kiến thức) mà lơ là dạy người. Điều đó theo tôi có lẽ chỉ mới đúng một nửa. Trên thực tế nhà trường của ta dạy người có khi còn chặt chẽ, quyết liệt hơn ai hết. Chỉ có điều cái nội dung và cách dạy người của ta sai, lệch hướng. Sai, lệch hướng vì chỉ nhằm đào tạo ra những mẫu người hoàn toàn không phù hợp với yêu cầu cuộc sống hiện đại, thiếu những tố chất cơ bản để có thể thành công trong thế giới hiện đại: tự do, trung thực và sáng tạo.
Một thời gian dài trước đây chúng ta sống trong chế đô quản lý tập trung bao cấp. Tuy về kinh tế chế độ này đã chấm dứt với công cuộc đổi mới từ giữa thập niên 80, nhưng cho đến nay tàn tích của nó còn ngự trị trong hầu hết mọi lĩnh vực hoạt động thiết yếu của xã hôi, đặc biệt trong các lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, giáo dục.

Cứ kiểm điểm lại kỹ, chúng ta sẽ dễ thấy dấu vết chế độ bao cấp tư tưởng hiển hiện ở hầu khắp các khâu giáo dục, từ chương trình, phương pháp giảng dạy, cách thức thi cử, cho đến tổ chức giáo dục, các chính sách tuyển chọn, bồi dưỡng, sử dung cán bộ, v.v.

Đặc điểm của chế độ quản lý tập trung bao cấp là từ tư duy cho đến hành động mỗi thành viên của hệ thống chủ yếu đều trông chờ, dựa dẫm vào cấp trên. It cần suy nghĩ, it cần sáng kiến. Chỉ cần lĩnh hội, và thực hiện, chấp hành. Hệ lụy rõ nhất của chế độ bao cấp tư duy ấy là thủ tiêu ý thức tự chủ, tinh thần chủ động và khả năng độc lập suy nghĩ, tư duy phê phán, đầu óc sáng tạo. Ngược lại khuyến khich ỷ lại, lười suy nghĩ, chỉ quen nghĩ theo, tin theo, làm theo một cách máy móc, mất dần ý thức trách nhiệm đối với cộng đồng, chỉ còn lại trách nhiệm đối với cấp trên. Con người thay vì là một chủ thể tự do biến thành một phương tiện, một công cụ thực hiện một lý tưởng không phải do mình lựa chọn, tin tưởng và tự chịu trách nhiệm về sự lựa chọn ấy.

Trong thời kháng chiến giành độc lập thống nhất, chế độ bao cấp khó tránh khỏi về kinh tế, mà về các mặt tư tưởng, văn hóa nó cũng có lý do chính đáng vì phải tập trung mọi cố gắng giành chiến thắng. Nhưng trong thời bình, đời sống có vô vàn nhu cầu đa dạng, thế giới cũng đã thay đổi nhiều, đất nước đã bước sang một giai đoạn lịch sử mới, với biết bao vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội chưa từng gặp trước đây. Nhiều điều mới hôm qua còn cho là đúng, là chân lý bất khả tranh luận, thì nay đều phải xem xét lại, phải nhìn nhận lại với đôi mắt khác. Ngược lại có những điều trước đây bị phê phán, bây giờ phải chấp nhận.

Kinh nghiệm khắp nơi trên thế giới đêu cho thấy trong những điều kiện ấy mà dạy người theo cách áp đặt, ưc chế tư duy một chiều trong khi giáo lý giảng dạy trong nhà trường trái ngược với thực tế phũ phàng ngoài xã hội thì hệ lụy tất yếu dẫn đến phát sinh và nuôi dưỡng gian dối, đạo đức giả và bạo lực, cuối cùng gây ra bất ổn trầm trọng trong xã hội. Những điều đang diễn ra trong xã hội ta không phải là ngoại lệ.

Cho nên phải từ bỏ những quan niệm, tập quán, cách suy nghĩ về giáo dục đã quen thuôc một thời, can đảm tiến lên thực hiện một nền giáo dục khai phóng, như ở mọi nước văn minh hiện nay, dạy người nhằm rèn luyện nhân cách, phẩm chất trí tuệ, năng lực cảm thụ, ý thức cộng đồng, hướng theo thang giá trị phổ quát của nhân loại đương thời.

Đặc biệt, giáo dục phải hướng tới đào tạo con người hiện đại có cá tính nhưng bao dung, biết giao tiếp và hợp tác, biết làm việc có hiệu quả, có tư duy cởi mở với cái mới, thích dấn thân, không ngại đương đầu với thách thức, khó khăn, sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm vì mục đích lớn và nhất là lương thiện, trung thực và có đầu óc sáng tạo, là những đức tính tối cần thiết trong đời sống xã hội hiện đại. Đó mới thật sự là dạy người theo nghĩa cao quý nhất. Đó mới thật sự là sứ mạng của giáo dục tiên tiến thời nay.

Giáo dục hiện đang đứng ở ngã ba đường, giống như kinh tế những năm giữa thập kỷ 80. Nếu lúc bấy giờ ta cứ kiên trì chế độ kinh tế tập trung bao cấp mà không nhìn thẳng vào thực tế cuộc sống, kịp thời nhận ra nguồn gốc bế tắc của xã hội để có can đảm thay đổi tư duy, chấp nhận chính cái cơ chế thị trưởng đã từng một thời bị phê phán trước đây, thì làm sao có đường lối đổi mới đã cứu đất nước khỏi sự sụp đổ nhãn tiền.

Ngày nay, sau mấy chục năm chìm đắm trong khủng hoảng triền miên bởi các ràng buộc ý thức hệ cứng nhắc, cũng đã đến lúc giáo dục phải có sự lựa chọn: hoặc là tiếp tục con đường cũ, khác biệt với thế giới văn minh, để ngày càng tụt hậu xa hơn, hoặc là cương quyết thay đổi tư duy, thực hiện bước ngoặc cơ bản, mở đường cho một giai đoạn giáo dục khai phóng phát triển, phù hợp với trào lưu tiến hóa chung của nhân loại, và đáp ứng lợi ích tôi cao của dân tộc.

Để kết thúc câu chuyện triết lý giáo dục này xin kể một kinh nghiệm. Có lần báo Tin tức của TTX Việt Nam đăng tin: theo kết quả khảo sát công bố trên một tạp chí Đức thì trình độ học vấn của học sinh tiểu học ở Hà Nội cao hơn ở Munich. Theo nhận đinh của nhóm nghiên cứu đó, học sinh Đức có phần thông minh hơn, nhưng học sinh VN vượt trội về khả năng tập trung chú ý, đặc biệt về môn toán, về tinh thần kỷ luật, kính trọng thầy cô, v.v.” Cứ theo đánh giá này, nếu là người Đức, tôi chẳng có gì phải lo lắng, còn là người VN thì tôi không cảm thấy hãnh diện, trái lại có phần cảm thấy lo lắng cho tương lai đất nước. Tôi lo lắng vì trẻ em ta vượt trội ở những đức tính mà ở các nước phát triển người ta không đặt yêu cầu quá cao cho lứa tuổi tiểu học vì muốn gìn giữ cho trẻ em tính hồn nhiên trong sáng của tuổi thơ. Nhưng trẻ em ta lại có vẻ kém trẻ em Đức về thông minh, nếu quả thật như vây thì cần suy nghĩ nguyên nhân tại sao ? Một sự quan sát kỹ hơn ở bậc đại học cũng cho thấy hình như sinh viên VN du học ở các nước phát triển thường học tốt ở vài năm đầu, nhưng càng học lên cao càng mau đuối sức khi phải cạnh tranh về sức sáng tạo. Chắc chắn cách giáo dục của ta có vấn đề gì đây, chứ không lẽ bản chất người Việt chúng ta kém thông minh, sáng tạo so với thiên hạ. Cái vấn đề ấy chính là cái triết lý giáo dục lạc hậu của chúng ta.

Nguồn: HỌC MỖI NGÀY theo viet-studies 19-10-2012

Bài viết cùng chuyên mục:
Hoàng Kim: Đêm trắng và Bình minh
Hoàng Kim: Người Thầy với Dạy và Học

 

Bảy ngày đêm tĩnh lặng
Hoàng Kim

nhớ về ký ức Bảy ngày đêm tỉnh lặng.
Đời người là một chuỗi trãi nghiệm.
Trãi nghiệm sự sống chính là hiện tại.
Tỉnh lặng là sự chứng ngộ ám ảnh nhất.

Bạn đã bao giờ về trong tịch lặng, xuống đáy địa ngục, đối diện sinh tử, lạc vào thế giới vô thức, hoàn toàn khác thế giới thường nhật, trút bỏ toàn bô sự bận tâm, lo âu phiền muộn, danh vị chức phận, không trò chuyện, không điện thoại, không email,  chỉ với nổ lực duy nhất là bảo tồn sự sống.

Tôi đã từng Dạo chơi non nước Việt: về Nghĩa Lĩnh đền Hùng ở Việt Trì, Phú Thọ; lên non thiêng Yên Tử viếng mộ đức Nhân Tông; về thủ đô Hà Nội thăm dấu xưa đức Trần Hưng Đạo và chùa Thắng Nghiêm; đến Kiếp Bạc Côn Sơn ngưỡng vọng đức thánh Trần và thấu hiểu sâu sắc hơn Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi; vào Tràng An Thần Phù Ninh Bình “Lênh đênh trên cửa Thần Phù, khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm“, Ngày xuân đọc Trạng Trình, tìm về chốn xưa Nhớ Đào Duy Từ; nhớ đức thánh Nguyễn Minh Không huyền thoại Bái Đính ; trọn đời làm nhà khoa học xanh người thầy chiến sĩ;  Lương Định Của con đường lúa gạo; Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời; Con theo Người nguyện làm hoa lúa, …

Tôi đã từng đi nước ngoài: Praha, Goethe và lâu đài cổ, Dạo chơi cùng Goethe; Học để làm ở Ấn Độ; Đến Neva nhớ Pie Đại Đế; Đến Thái Sơn; Thăm Borlaug và Hemingway ở CIANO; Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương; Thăm Di sản Walter Scott; Những người Việt lỗi lạc ở FAO; Qua Ghent nhớ … Đêm trắng và bình minh; Đến với các nước châu Phi; Vua Solomon và sách Khôn ngoanSông Nin và hồ Victoria; Mười hai ngày ở Ghana; …

Tôi cũng đã Câu cá bên dòng Sêrêpok, nhưng Bảy ngày đêm tỉnh lặng là sâu đậm nhất

BanMaiTinhLangSau tĩnh lặng tôi nhìn cuộc đời dường như mới hơn, nhẹ nhàng hơn, thanh thản hơn…

Cám ơn đời, hôm nay là ngày mới.

(*)  Osho (11/12/1931- 19/1/1990) là vị thiền sư nổi tiếng người Án Độ, được nhắc tới nhiều nhất và gây ra nhiều tranh luận nhất trong thời hiện đại,  với bài giảng nổi tiếng “Con đường hoàn hảo”  thuật lại câu chuyện của chính ông bảy ngày đêm tỉnh lặng với những bạn đồng hành.

(**) “Hạnh phúc tại tâm” bản chất sự sống, khả năng hạnh phúc và hạnh phúc chân thật của con người là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ những tác phẩm của Osho.

(***) “Osho là bậc thầy chứng ngộ đang làm việc với tất cả mọi khả năng để giúp cho nhân loại vượt qua giai đoạn khó khăn trong sự phát triển tâm thức“. Dailai Latma đã viết như vậy về người thầy lỗi lạc này cuối trang bìa của tác phẩm Osho “Con đường của nhà huyền môn“.

Bien

Tĩnh lặng với Osho
Hoàng Kim

thực hành và đối thoại với Osho người Thầy thiền định lỗi lạc. Osho dẫn ta đi vào thế giới tịch lặng, thiền định sâu, chỉ dẫn cho ta bí quyết thiết yếu Năng lượng tích tụ và giải phóng giúp ta tâm thế tỉnh lặng, an nhiên tự tại, thung dung. Ta chạm đáy sự thật, về nơi tịch lặng, đến chốn thung dung thấu hiểu sự sống.

Năng lượng tích tụ là hiểm họa tiềm ẩm:
Hồ tích nhiều nước dễ vỡ bờ.
Người trầm cảm u uất dễ stress.
Xã hội kiểm soát chặt dễ kích động.

Năng lượng biển tích tụ gây nên sóng thần.
Năng lượng trời tích tụ gây nên bão.
Đồng cỏ khô hạn dễ bắt lửa
Năng lượng người tích tụ gây nên cách mạng xã hội.

Xả năng lượng là bài học vô giá.
Lời Phật dạy Từ Bi Hỷ Xả
Cười là Xả. Buông bỏ là Xả.
Giải phóng năng lượng con người

Năng lượng giải phóng cần sáng tạo và vô hại.
Thiền giúp bạn trút bỏ gánh nặng.
Vất bỏ ngoài tai mọi chuyện đời
Lòng không vướng bận, dạ an thôi … (1)

(1) Tâm sự với Thiền sư  by Hoàng Trung Trực

Hoàng Kim

Video yêu thích
Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam 

Chào ngày mới 19 tháng 1


Rate This

 

BienDong

CNM365. Chào ngày mới  19 tháng 1: Năm 1974Hải quân Trung Quốc giành chiến thắng trong Hải chiến Hoàng Sa trước Hải quân Việt Nam Cộng hòa, bắt đầu chiếm đóng hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa. Năm 1990 – ngày mất Osho, thiền sư và bậc thầy tâm linh nổi tiếng người Ấn Độ (sinh năm 1931). Năm 1929 – ngày mất Lương Khải Siêu, (18731929),  nhà tư tưởng, giáo sư, chính khách, chủ báo và là nhà hoạt động chính trị Trung Quốc thời cận đại. xem tiếp…

Chào ngày mới 19 tháng 1


BienDong

CNM365. Chào ngày mới  19 tháng 1: Năm 1974Hải quân Trung Quốc giành chiến thắng trong Hải chiến Hoàng Sa trước Hải quân Việt Nam Cộng hòa, bắt đầu chiếm đóng hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa (hình đảo Quang Hòa). Năm 1990 – ngày mất Osho, thiền sư và bậc thầy tâm linh nổi tiếng người Ấn Độ (sinh năm 1931). Năm 1929 – ngày mất Lương Khải Siêu, (18731929),  nhà tư tưởng, giáo sư, chính khách, chủ báo và là nhà hoạt động chính trị Trung Quốc thời cận đại.

19 tháng 1

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày 19 tháng 1 là ngày thứ 19 trong lịch Gregory. Còn 346 ngày trong năm (347 ngày trong năm nhuận).

« Tháng 1 năm 2016 »
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31

Mục lục

Sự kiện

Sinh

Mất

Những ngày lễ và kỷ niệm

Tháng 1 | Tháng 2 | Tháng 3 | Tháng 4 | Tháng 5 | Tháng 6 | Tháng 7 | Tháng 8 | Tháng 9 | Tháng 10 | Tháng 11 | Tháng 12

Tham khảo

Hải chiến Hoàng Sa 1974

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hải chiến Hoàng Sa
Paracel Islands-CIA WFB Map-2.JPGSơ đồ diễn biến trận hải chiến
.
Thời gian 19 tháng 1 năm 1974
Địa điểm Quần đảo Hoàng Sa
Kết quả Hải quân Trung Quốc chiến thắng

  • Hải quân Trung Quốc chiếm đóng Hoàng Sa
  • Mâu thuẫn tiếp diễn giữa Trung QuốcViệt Nam về vấn đề biển Đông
Tham chiến
Naval Ensign of the People's Republic of China.svg Hải quân Quân đội giải phóng nhân dân Trung hoa Flag of South Vietnam Navy.png Hải quân Việt Nam Cộng hòa
Chỉ huy
Nguỵ Minh Sâm Đề đốc Lâm Ngươn Tánh
Lực lượng
2 tàu quét lôi
4 tàu chống ngầm lớp Krondstadt (2 chiếc không tham chiến)
2 chiến hạm chở quân cùng 4 tiểu đoàn thủy quân lục chiến
2 tuần dương hạm
1 hộ tống hạm
1 khu trục hạm
1 đại đội hải kích
1 nhóm biệt kích quân
1 trung đội địa phương quân
Tổn thất
4 tàu bị hư hại nặng
18 thủy thủ chết
Số lính thủy bị thương không rõ
1 hộ tống hạm chìm, 3 tàu hư hỏng nặng
74 thủy thủ chết
16 người bị thương
48 bị bắt làm tù binh
.

Hải chiến Hoàng Sa là một trận chiến giữa Hải quân Việt Nam Cộng hòaHải quân Trung Quốc xảy ra vào ngày 19 tháng 1 năm 1974 trên quần đảo Hoàng Sa.

Năm 1951, Tại Hội nghị San Francisco về Hiệp ước Hoà bình với Nhật Bản, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu tuyên bố cả hai quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa đều thuộc lãnh thổ Việt Nam, và không gặp phải kháng nghị hay bảo lưu nào từ 51 nước tham dự hội nghị.

Sau khi Pháp rút khỏi Đông Dương, Việt Nam Cộng hòa thừa hưởng chủ quyền toàn bộ quần đảo này từ Quốc gia Việt Nam nhưng một phần quần đảo đã bị Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chiếm giữ năm 1956 khi người Pháp rút đi còn quân đội Việt Nam Cộng hòa chưa kịp trấn giữ. Việt Nam Cộng hòa chỉ chiếm giữ và thực hiện chủ quyền được một phần quần đảo cho đến khi cuộc hải chiến xảy ra. Sau trận chiến, Trung Quốc đã chiếm đóng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa cho đến nay.

Mục lục

Bối cảnh

HoangSa-thu-dedoc-tranvanchon.jpg

Quần đảo Hoàng Sa gồm hai nhóm đảo. Nhóm đảo mà Việt Nam Cộng hòa bảo vệ và thực hiện được chủ quyền là nhóm Nguyệt Thiềm hay Trăng Khuyết, Lưỡi Liềm (Crescent Group); nhóm còn lại là nhóm An Vĩnh hay nhóm Bắc đảo (Amphitrite Group) (bấy giờ quen gọi là “Tuyên Đức”-tên Trung Quốc của nhóm An Vĩnh). Dưới thời Việt Nam Cộng hòa đã có đài khí tượng trên đảo Hoàng Sa do Pháp xây, trực thuộc ty khí tượng Đà Nẵng và được bảo vệ bởi một tiểu đoàn thủy quân lục chiến.

Năm 1956, Hải quân Trung Quốc chiếm đóng nhóm đảo phía Đông quần đảo Hoàng Sa (nhóm An Vĩnh) trong đó có đảo Phú Lâm (Woody Island) và đảo Linh Côn.

Năm 1958, Trung Quốc cho công bố bản Tuyên ngôn Lãnh hải 4 điểm về việc mở rộng vùng lãnh hải lên 12 hải lí, tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với các quần đảo và phạm vi 12 lãnh hải biển tương ứng với các đảo này, bao gồm Nam Sa (tức Trường Sa), Đài Loan, Tây Sa (tức Hoàng Sa), Trung Sa (tức bãi Macclesfield), quần đảo Bành Hồ (Pescadores)[1]. Vào thời điểm này, Trung Quốc là đồng minh hậu thuẫn cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiến hành cuộc Chiến tranh Việt Nam chống lại Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ.

Ngày 22 tháng 9 năm 1958, báo Nhân Dân đăng công hàm của Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Quốc vụ Viện Trung Quốc, ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ Trung Quốc quyết định về hải phận 12 hải lí của Trung Quốc[1].

Năm 1961, chính phủ Việt Nam Cộng hòa ban hành sắc lệnh khẳng định chủ quyền Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam của Việt Nam Cộng hòa.

Trong thời gian 19641970, Hải quân Trung Quốc và Hải quân Việt Nam Cộng hòa chạm súng liên tục trên hải phận Hoàng Sa, nhưng không đưa đến thương vong[2]. Trong thời điểm đó, Việt Nam Cộng hòa cũng thiết lập một sân bay nhỏ tại đảo Hoàng Sa.

Theo giáo sư Lý Hiểu Binh (Xiaobing Li), Đại học Central Oklahoma trong bài viết gửi BBC cho rằng vào tháng 3/1969, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc bắt đầu rút khỏi lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, giảm dần từ 16 sư đoàn, gồm 150 nghìn quân xuống không còn đơn vị nào vào tháng 7/1970, đồng thời Trung Quốc giảm viện trợ quân sự và dân sự cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Liên Xô thay thế Trung Quốc trở thành quốc gia hỗ trợ kinh tế, quân sự nhiều nhất cho Bắc Việt Nam. Điều này khiến quan hệ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Trung Quốc ngày càng lạnh nhạt, thay vào đó Bắc Việt Nam xem Liên Xô là đồng minh quan trọng nhất.Cùng thời điểm này, mối quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc xấu đi. Trung Quốc xem Hoa Kỳ là cường quốc đang mất dần ảnh hưởng vì thất bại của họ tại Việt Nam còn Liên Xô bị Trung Quốc xem là “chủ nghĩa đế quốc Xô Viết” nổi lên thành mối đe dọa hàng đầu đối với Trung Quốc. Một tài liệu của CIA ngày 12/8/1969 nhận định: “Gần như căng thẳng Trung – Xô sẽ không thể nào giảm trong vòng hai ba năm tới. Vì quyền lợi quốc gia xung đột nhau, vì sự cạnh tranh nhằm lãnh đạo phong trào cộng sản quốc tế, và sự lo sợ có thực về ý định của nhau sẽ khiến việc tiếp cận gần gũi không thể xảy ra. Vấn đề biên giới cũng sẽ không dễ giải quyết.”Từ đầu tháng 3/1969 bắt đầu có nhiều cuộc xung đột quân sự quy mô nhỏ dọc biên giới Trung – Xô. Cả hai nước ở tình trạng chiến tranh có thể nổ ra bất cứ lúc nào. Sang đầu năm 1970, Liên Xô triển khai tới 48 sư đoàn, tương đương gần một triệu quân dọc biên giới Trung Quốc. Còn Trung Quốc tập trung sáu triệu quân tại biên giới với Liên Xô. Thậm chí còn có nguồn tin cho rằng lãnh đạo Liên Xô đã tính đến việc dùng vũ khí nguyên tử tấn công Trung Quốc nếu cần. Mối đe dọa từ Liên Xô đã thúc đẩy lãnh đạo Trung Quốc bình thường hóa quan hệ Mỹ – Trung vào năm 1973.[3]

Năm 1970, Hoa KỳNhật BảnHiệp ước trao trả Okinawa (Okinawa Reversion Treaty) trao trả quần đảo Senkaku (Sento Shosho hay Senkaku Retto của Nhật Bản) về dưới chủ quyền của Nhật Bản với sự phản đối của Đài Loan và Trung Quốc; và cùng năm Đô đốc Elmo Zumwalt, cựu Tham mưu trưởng Hải quân Hoa Kỳ họp báo tuyên bố tại Guam rằng Hoàng Sa và Trường Sa không nằm trong chiến lược triển khai các hải đảo tiền đồn của Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ. Theo nhận định của Hải quân Việt Nam Cộng hòa thì đây là sự kiện trao đổi giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, và là nguy cơ cho Việt Nam Cộng hòa trong việc bảo vệ Hoàng Sa.[4].

Năm 1971, Hải quân Trung Quốc và Hải quân Việt Nam Cộng hòa tiếp tục chạm súng trên hải phận Hoàng Sa.[2] Những năm cuối của cuộc Chiến tranh Việt Nam, vì nhu cầu chiến trường, tiểu đoàn thủy quân lục chiến của Việt Nam Cộng hòa tại Hoàng Sa được đưa vào đất liền, chỉ còn một trung đội địa phương quân trấn giữ nhóm Nguyệt Thiềm. Sau này, ông Hoàng Đức Nhã giải thích việc Việt Nam Cộng hòa không chú trọng bảo vệ Hoàng Sa là do lúc đó nhà nước này ưu tiên chống đỡ sự tấn công của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hơn bảo vệ Hoàng Sa.[5]

Tháng 2 năm 1972, Tổng thống Mỹ Richard Nixon tới Trung Quốc hội kiến Mao Trạch Đông. Mỹ và Trung Quốc đưa ra tuyên bố chung phản đối “bá quyền” tại châu Á và Thái Bình Dương. Năm 1973, Trung Quốc và Mỹ mở văn phòng liên lạc ở thủ đô mỗi nước mở đầu cho việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.[6]

Năm 1973, với Hiệp định Paris, Hoa Kỳ và Hạm đội 7 rút quân và thiết bị của Hoa Kỳ ra khỏi khu vực quần đảo Hoàng Sa. Như vậy Hoa Kỳ đã xem việc bảo vệ quần đảo này là việc riêng của Việt Nam Cộng hòa.

Ngày 11/1/1974 Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra tuyên bố Hoàng Sa, Trường Sa là lãnh thổ của Trung Quốc và tố cáo Việt Nam Cộng hòa chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.[7] Sau đó, Việt Nam Cộng hòa ra tuyên bố khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam và bác bỏ những cáo buộc của Trung Quốc.[7]

Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh Hải quân Việt Nam Cộng hòa quyết định thiết lập một phi trường trên đảo Hoàng Sa có khả năng chuyên chở vận tải cơ hạng nặng C-7 Caribou để chuyển quân nhanh ra nhóm Nguyệt Thiềm. Ngày 16 tháng 1 năm 1974, khi một phái đoàn của Quân lực Việt Nam Cộng hòa thăm dò một số đảo Hoàng Sa trong việc chuẩn bị thiết lập phi trường nói trên thì khám phá ra sự hiện diện của Hải quân Trung Quốc, và giao tranh xảy ra sau đó.

Tương quan lực lượng

Phía Việt Nam Cộng hòa có 4 chiến hạm là Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16), Hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10), Tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5), Khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4), 1 đại đội hải kích thuộc Hải quân Việt Nam Cộng hòa, một số biệt hải (biệt kích hải quân) và 1 trung đội địa phương quân đang trú phòng tại đảo Hoàng Sa.[8]

Phía Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có 4 chiếm hạm trực tiếp tham gia trận chiến là Liệp tiềm đĩnh (tàu chống ngầm) số 274, Liệp tiềm đĩnh số 271, Tảo lôi hạm số 389, Tảo lôi hạm số 396, 2 ngư thuyền ngụy trang số 402 và số 407.[8] Ngoài ra, phía Trung Quốc còn có lực lượng thuộc Trung đoàn 10 Hải quân lục chiến, trinh sát (không rõ số lượng). Sau khi trận chiến đã kết thúc, thì Liệp tiềm đĩnh số 282, Liệp tiềm đĩnh số 281 mới đến tăng viện.

Về vũ khí trên các tàu, 2 chiếc Tuần Dương hạm của Việt Nam Cộng hòa trang bị 1 khẩu pháo 127 ly (5 inch) đặt tại sân trước, đằng sau của khẩu đại pháo là giàn pháo 40 ly 2 nòng nằm một tầng cao hơn ngay dưới đài chỉ huy. Hai bên hông đài chỉ huy là các khẩu đại bác 20 ly đôi (2 nòng). Tại sân sau có các khẩu đại bác 40 ly đơn, một bên tả hạm, một bên hữu hạm. Vũ khí chính của HQ-10 là khẩu pháo 76,2 ly đặt tại sân trước, 2 đại bác 40 ly đơn tại sân giữa và 4 đại bác 20 ly đặt hai bên hông đài chỉ huy và sân sau. Còn tàu khu trục HQ-4 được trang bị radar trinh sát (DER – Destroyer Escort Radar) và hai giàn đại pháo 76,2 ly nạp đạn tự động và có radar điều khiển (radar control) với khả năng tự dò tìm góc độ và tầm xa để “khóa chặt” (lock on) mục tiêu. Trong khi đó, tàu chống ngầm lớp Krondstadt (Kronshtadt class submarine chaser) của Trung Quốc trang bị 1 pháo 85 ly và 2 pháo 37 ly, tất cả đều điều khiển, ngắm bắn và nạp đạn thủ công bằng tay.[9]

Như vậy, xét tương quan lực lượng, mỗi bên có 4 chiến hạm trực tiếp tham chiến. Việt Nam Cộng hòa có ưu thế là các chiến hạm lớn và hiện đại hơn, được trang bị radar tự phát hiện mục tiêu, đồng thời gắn hải pháo lớn hơn, mạnh hơn, nhiều hơn so với tàu của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Tuy nhiên, nhược điểm của các tàu này là cồng kềnh, vận chuyển chậm. Các chỉ huy Việt Nam Cộng hòa cũng không lập sẵn kế hoạch cơ động tác chiến nếu có nổ súng, dẫn đến việc tác chiến bị động và 2 tàu trong đội hình (HQ-5 và HQ-16) còn bắn nhầm vào nhau.

Diễn biến

Phát hiện hải quân Trung Quốc và chiếm lại các đảo

Ngày 16 tháng 1 năm 1974, Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16) sau khi đưa một phái đoàn công binh Quân đoàn I Quân lực Việt Nam Cộng hòa do Thiếu tá Hồng dẫn đầu (trong đó có một người Mỹ tên Kosh thuộc Văn phòng Tùy viên Quân sự Hoa Kỳ tại Ðà Nẵng) thăm dò một số đảo Hoàng Sa để thiết lập một phi đạo ngắn đã phát hiện hai ngư thuyền ngụy trang số 402 và số 407 của Hải quân Trung Quốc gần đảo Hữu Nhật (còn được gọi không chính xác là “đảo Cam Tuyền”), đồng thời phát hiện quân Trung Quốc chiếm đóng đảo Quang Hòa và cắm cờ Trung Quốc tại các đảo Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Ảnh (còn được gọi không chính xác là “đảo Vĩnh Lạc”).

Bích chương “Tây sa chiến ca” của Trung Quốc nói về trận chiến ở Hoàng Sa

Sau khi cấp báo về Bộ tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải tại Đà Nẵng, HQ-16 dùng quang hiệu yêu cầu các chiến hạm Trung Quốc rời lãnh hải Việt Nam. Các chiến hạm Trung Quốc không chấp thuận yêu cầu, và cũng dùng quang hiệu yêu cầu phía Việt Nam Cộng hòa rời lãnh hải Trung Quốc.

Ngay sau đó, trong ngày 16 tháng 1 năm 1974, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa Vương Văn Bắc tổ chức họp báo tố cáo tàu chiến Cộng hòa Nhân dân Trung hoa xâm phạm lãnh hải quanh các đảo Hữu Nhật, Quang Ảnh, Quang Hoà, Duy Mộng và đổ quân lên các đảo này.[10]

Ngày 17 tháng 1 năm 1974, Khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4) đến Hoàng Sa chở theo một toán người nhái (biệt hải) và một đội hải kích đổ bộ xuống Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Ảnh để nhổ cờ Trung Quốc, dựng cờ Việt Nam Cộng hoà. Sau đó lính Việt Nam Cộng hòa rút trở lên tàu. Theo hạm trưởng HQ-16, Trung tá Lê Văn Thự, toán biệt hải rời HQ-4 bằng xuồng cao su để lên HQ-16. Cùng trong ngày hai Liệp tiềm đĩnh loại Kronstad số 274 và 271 của Trung Quốc xuất hiện.

Trung Quốc quyết định dùng vũ lực

Đêm 17 tháng 1 năm 1974, Chu Ân Lai nhận báo cáo tình hình Hoàng Sa từ Trường Lý Lực, Cục phó Cục tác chiến Bộ Tổng tham mưu Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Sau đó Chu Ân Lai cùng với Diệp Kiếm Anh viết báo cáo gửi Mao Trạch Đông đề nghị phái quân ra quần đảo Hoàng Sa.[7]

Mao Trạch Đông phê vào bản báo cáo của Chu Ân Lai, Diệp Kiếm Anh: “Đồng ý !“, và nói rằng, “trận này không thể không đánh“. Mao Trạch Đông giao cho Diệp Kiếm Anh và Đặng Tiểu Bình trực tiếp chỉ huy trận đánh tại quần đảo Hoàng Sa.[7] Đây là trận đánh đầu tiên của Đặng Tiểu Bình khi mới được phục chức sau 7 năm đi “cải tạo”.[7]

Ngày 18/1/1974, Chu Ân Lai triệu tập cuộc họp Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc để thảo luận về tình hình Hoàng Sa và lập ra ban chuyên trách năm người để đối phó với các diễn biến có thể xảy ra tại Hoàng Sa. Ban chuyên trách gồm: Diệp Kiếm Anh (chủ nhiệm ban chuyên trách), Vương Hồng Văn, Trương Xuân Kiều, Đặng Tiểu Bình và Trần Tích Liên. Ban chuyên trách nghe Phó Tư lệnh Hải quân Trung Quốc Tô Chấn Hoa báo cáo sau đó quyết định tấn công hạm đội Việt Nam Cộng hòa. Đồng thời, ban chuyên trách công bố bản hướng dẫn nhằm đánh lại các tuần dương hạm của Việt Nam Cộng hòa. Căn cứ vào bản hướng dẫn này, hải quân Trung Quốc lập kế hoạch chuẩn bị cho chiến dịch.[3]

Thành lập và phô trương lực lượng đối phó với Trung Quốc

Ngày 18 tháng 1 năm 1974, Đề đốc Lâm Ngươn Tánh, Tư lệnh phó Hải quân Việt Nam Cộng hòa bay ra Bộ tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải tại Đà Nẵng để chỉ huy toàn bộ lực lượng tham chiến tại Hoàng Sa. Cũng trong sáng ngày 18 tháng 1 năm 1974, lực lượng tăng cường cho Hoàng Sa bao gồm Tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5) và Hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10) có mặt tại trận địa. Do hải hành lâu ngày chưa kịp tu bổ, HQ-10 tham chiến với một máy không dùng được, chỉ còn một máy hoạt động. HQ-5 do Trung tá Phạm Trọng Quỳnh chỉ huy là soái hạm của Hải đoàn đặc nhiệm bao gồm 4 chiến hạm HQ-4,HQ-5,HQ-10,HQ-16. Đại tá Hải quân Hà Văn Ngạc ở trên HQ-5 là người trực tiếp chỉ huy Hải đoàn.

Khoảng xế trưa ngày 18 tháng 1, Đại tá Ngạc quyết định hải đoàn sẽ phô trương lực lượng bằng một cuộc thao diễn chiến thuật để tiến về phía đảo Quang Hòa với hy vọng có thể đổ bộ chiếm lại đảo một cách hoà bình như đã làm trước đây. Bốn chiến hạm theo đội hình hàng dọc, dẫn đầu là khu trục hạm HQ-4, theo sau là tuần dương hạm HQ-5 trương hiệu kỳ hải đội, thứ ba là tuần dương hạm HQ-16 và sau cùng là hộ tống hạm HQ-10, khởi hành từ nam đảo Hoàng Sa để tiến về đảo Quang Hòa,tốc độ chừng 6 gút. Khoảng cách giữa các chiến hạm là hai lần khoảng cách tiêu chuẩn (1000 yard). Trên đường đến đảo Quang Hòa, Hải đoàn bị 2 chiến hạm Kronstad của Trung Quốc mang số hiệu 271 và 274 chặn đường. Hai chiếc chiến hạm khác nhỏ hơn mang số 389 và 396 vẫn ở sát bờ bắc đảo Quang Hòa. Chiến hạm 271 của trung Quốc và soái hạm HQ-5 trao đổi với nhau bằng quang hiệu. Cả hai đều khẳng định đây là lãnh thổ của mình và yêu cầu đối phương rút lui. Để tránh đụng tàu đại tá Ngạc đưa Hải đoàn trở về phía nam đảo Hoàng Sa để theo dõi các chiến hạm Trung Quốc khi đó quay về đóng tại phía bắc và tây bắc đảo Quang Hòa.

Đổ bộ thất bại

Theo hạm trưởng HQ-16, Trung tá Lê Văn Thự, khoảng 10 giờ sáng ngày 18 tháng 1, Đại tá Hà Văn Ngạc ra lệnh cho ông đưa viên cố vấn Mỹ lên đảo Hoàng Sa sau đó cho toán biệt hải đổ bộ lên đảo Quang Hoà và một toán của HQ-16 lên giữ đảo Quang Ảnh. Sau khi đưa viên cố vấn Mỹ lên đảo Hoàng Sa, HQ-16 tiến đến gần đảo Quang Hòa đổ bộ toán biệt hải lên đảo thì một tàu Trung Quốc xuất hiện, cản trước mũi, không cho HQ-16 tiến gần đến đảo. Hai tàu cọ vào nhau làm tàu Trung Quốc hư hại nhẹ. Theo Trung tá Thự, tàu Trung Quốc mang số hiệu 271, dài chừng 70 mét, có súng tương đương với súng 76.2 ly, 40 ly, 20 ly và đại liên 12.7 của HQ-16. HQ-16 chuyển hướng sau đó cho biệt hải dùng xuồng cao su tấn công từ mặt Nam của đảo Quang Hoà từ khoảng cách 1-2 hải lý. Cuộc đổ bộ thất bại. Một thiếu úy biệt hải bị bắn chết. Toán biệt hải trở về HQ-16. Chiều ngày 18 tháng 1, khoảng 6 giờ, Đại tá Ngạc gọi máy cho Trung tá Lê Văn Thự và ra lệnh cho ông chỉ huy HQ-10, bằng mọi giá phải đổ bộ cho được toán biệt hải lên đảo Quang Hoà. Sau khi nhận lệnh này, HQ-16 không còn liên lạc được với đại tá Ngạc trên soái hạm HQ-5, tàu HQ-4 hay Bộ Tư lệnh Hải quân Vùng I Duyên Hải do máy liên lạc âm thoại giai tần đơn bị Trung Quốc phá sóng. HQ-16 chỉ còn liên lạc được với HQ-10. Những ngày sau đó do bị thương khi hải chiến với tàu Trung Quốc, HQ-16 không thể chấp hành lệnh đổ bộ của đại tá Ngạc.[9]

Vào khoảng 23 giờ ngày 18, Đề đốc Lâm Ngươn Tánh ban hành Lệnh hành quân Hoàng Sa 1 nhằm chiếm lại một cách hòa bình các đảo Hữu Nhật, Quang Hòa, Duy Mộng, Quang Ảnh. Đại tá Hà Văn Ngạc chia lực lượng tham chiến thành hai phân đoàn đặc nhiệm: phân đoàn I là chủ lực gồm khu trục hạm HQ-4 và tuần dương hạm HQ-5 do hạm trưởng khu trục hạm HQ-4 chỉ huy; phân đoàn II có nhiệm vụ yểm trợ gồm tuần dương hạm HQ-16 và hộ tống hạm HQ-10 do hạm trưởng tuần dương hạm HQ-16 chỉ huy.

Theo tài liệu của Tổng cục Chiến tranh Chính trị và tường thuật của Đại tá Hà Văn Ngạc, 8 giờ 30 ngày 19 tháng 1, hai nhóm Biệt hải của Việt Nam Cộng hòa gồm 74 người do Ðại úy Nguyễn Minh Cảnh chỉ huy tiếp tục đổ quân vào đảo Quang Hòa. Đại tá Ngạc chỉ thị lực lượng này không được nổ súng trước và có nhiệm vụ yên cầu toán quân Trung Quốc rời đảo. Trên đảo đang có một đại đội của Hải quân Trung Quốc trấn giữ. Theo báo cáo của Biệt đội trưởng, chiến sĩ Ðỗ Văn Long là người đầu tiên tiến vào đảo và vừa nổ súng vừa tiến vào trong nên đã bị hỏa lực trong bờ bắn tử thương ngay tại bãi biển. Sau đó Trung úy Lê Văn Ðơn cũng tử thương. Việc đổ bộ thất bại. Hai toán Biệt hải được lệnh rút về HQ-5. Tổng số thương vong của Hải quân Việt Nam Cộng hòa gồm 2 người chết và 2 bị thương.[11]

Việt Nam Cộng hoà khai chiến

Việc đổ bộ thất bại được báo cáo ngay về Bộ tư lệnh Hải quân vùng I duyên hải. Chừng ít phút sau đó (vào khoảng 9 giờ 30 sáng) phó đô đốc Hải quân Việt nam Cộng hòa Hồ Văn Kỳ Thoại theo chỉ thị của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu[12][13] ra khẩu lệnh vắn tắt “khai hỏa” cho Đại tá Ngạc trên băng siêu tần số SSB (single side band) và không có chi tiết gì khác hơn.[8]

Ban đầu đại tá Ngạc dự định cho hạm đội bắn pháo lên đảo để dọn đường cho lính thủy đổ bộ. Sau đó do các hạm trưởng khác phản đối, đại tá Ngạc quyết định tiêu diệt các tàu Trung Quốc trước. Lúc 10 giờ 22 cùng ngày, 2 chiến hạm của phía Việt Nam Cộng hòa là HQ-16 và HQ-10 tiến vào lòng chảo Hoàng Sa theo thế gọng kìm, nổ súng trước vào các tàu chiến Trung Quốc đang neo đậu trong khu vực này. Các tàu Trung Quốc tích cực di chuyển và phản kích dữ dội. Hai chiến hạm còn lại của Việt Nam Cộng hòa là HQ-4 và HQ-5 cũng tiến vào lòng chảo, tham chiến từ phía tây nam. Vì tầm quan sát rất hạn chế, nên từ Tuần dương hạm HQ-5 không quan sát được Tuần dương hạm HQ-16 và Hộ tống hạm HQ-10. Do máy liên lạc âm thoại giai tần đơn bị Trung Quốc phá sóng nên Soái hạm chỉ có thể liên lạc với các chiến hạm còn lại bằng máy PRC 25 nên việc liên lạc giữa các chiến hạm không liên tục và ổn định.

Tình hình chiến sự

Sau vài phút hải chiến HQ-4 chỉ bị thiệt hại nhẹ nhưng do trở ngại tác xạ nên không phát huy được hoả lực nên buộc phải lùi ra xa và không tham chiến tiếp. Sau khoảng 15 phút giao chiến, HQ-10 bốc cháy tại chỗ rồi chìm, HQ-16 trúng đạn pháo 127 ly của HQ-5 bắn nhầm, viên đạn xuyên thủng hầm máy khiến tàu bị nghiêng trên 10 độ và phải rút lui về phía tây. Theo trưởng khối hành quân HQ-5, Bùi Ngọc Nở, HQ-5 sau 15 phút chiến đấu bị trúng đạn đại bác của địch khiến các khẩu pháo 127 ly và 40 ly bị vô hiệu hoá.[14]

Khoảng 11 giờ 25, sau khi nhận được tin HQ-16 trúng đạn và mất liên lạc với HQ-10, đồng thời phát hiện một chiến hạm của Trung Quốc loại có trang bị mỗi bên một dàn phóng hỏa tiễn kép loại hải hải cách xa chừng 8 đến 10 hải lý đang tiến vào vùng giao tranh với một tốc độ cao, Đại tá Ngạc ra lệnh cho HQ-4 và HQ-5, rút lui về phía đông nam, hướng về vịnh Subic, Philippines vì ông nghĩ rằng Hải đội không thể để bị thiệt hại một khu trục hạm trong khi Hải quân Việt Nam Cộng hòa chỉ có tổng cộng 2 chiếc.[8]

Nhưng theo trung tá Thự, đại tá Ngạc ra lệnh rút lui vì “lo sợ cả phản lực cơ và tiềm thủy đĩnh Trung cộng” “nên không còn tinh thần để chiến đấu nữa”. Ông cho rằng chuyện phía đông xuất hiện một chiến hạm Trung Quốc có trang bị hỏa tiễn chỉ là tưởng tượng vì “cách xa chừng 8 đến 10 hải lý khó mà thấy được mỗi bên một giàn phóng hỏa tiễn”.[9] Các tàu phía Trung Quốc cũng bị hư hại nặng, một tàu phải ủi bãi, một tàu bốc cháy, không đủ sức đuổi theo.

Việt Nam Cộng hoà rút lui

Trong thời gian xảy ra chiến sự, Bộ tư lệnh Hải quân Việt Nam Cộng hòa nhận được thông báo của Văn phòng Tùy viên Quân sự Hoa Kỳ (DAO) tại Sài Gòn, cho biết radar Đệ thất Hạm đội ghi nhận một số tàu chiến và chiến đấu cơ từ Hải Nam đang tiến về phía Hoàng Sa. Số tàu chiến chi viện của Trung Quốc vẫn chưa được xác định chính xác nhưng có thể bao gồm 2 tàu chống ngầm số hiệu 281 và 282 thuộc lớp tàu Hải Nam. Phó đô đốc Hải quân Việt Nam Cộng hòa Hồ Văn Kỳ Thoại cho biết họ phải quyết định rút lui khi cố vấn Hoa Kỳ cho biết 17 chiến hạm của Trung Quốc trong đó có 4 tàu ngầm đang trên đường tới khu vực và khả năng là sẽ có phi cơ phản lực tới từ đảo Hải Nam nếu Việt Nam Cộng hòa quyết định tăng viện 2 chiến hạm cho Hoàng Sa, nhưng phía Việt Nam Cộng hòa chỉ có phi cơ khu trục F5 thuộc Sư đoàn 1 Không quân tuy đang sẵn sàng hỗ trợ cho hải đội tại Hoàng Sa nhưng lại không đủ sức hoạt động lâu tại đây.[13]. Bộ tư lệnh Hải quân Việt Nam Cộng hòa sau đó yêu cầu Hạm đội 7 trợ giúp, nhưng phía Mỹ từ chối,[12] thậm chí Hạm đội 7 từ chối cả việc cứu những thủy thủ của tàu HQ-10 đang trôi dạt trên biển.[15] Sau khi Bộ tư lệnh cân nhắc tương quan lực lượng, các chiến hạm Việt Nam Cộng hòa được lệnh rút bỏ quần đảo Hoàng Sa[16].

Khoảng 14 giờ 30 ngày 19/01/1974 khi ngang qua đảo Tri Tôn thì HQ-5 được lệnh của Tư lệnh hải quân từ Ðà Nẵng: “HQ-4 và HQ-5 phải quay trở lại Hoàng Sa, nếu cần thì ủi bãi”. Nhưng không lâu sau đó có một lệnh tiếp theo từ Ðà Nẳng, cho HQ-4 và HQ-5 trở về lại Ðà Nẵng. Trên đường rút lui, HQ-16 đưa 8 quân nhân lên giữ đảo Hoàng Sa.

Kết thúc chiến sự

Đêm hôm đó, 3 chiến hạm Việt Nam Cộng hòa bị hư hại được lệnh rút về căn cứ. Về đến Đà Nẵng, khi kiểm tra thì mới biết HQ-16 trúng một viên đạn bắn cầu vồng từ HQ-5 rơi xuống nước gặp sức cản của nước bị lệch hướng rồi đâm vào lườn tàu HQ-16 dưới mặt nước. Theo tường thuật của Trung tá Lê Văn Thự: “Viên đạn xước qua một góc máy điện, xuyên đứt cánh tay Trung sĩ Điện khí Xuân kế đó rồi chui vào kho điện khí ở một góc hầm máy và nằm ở đó”.[9] Còn hộ tống hạm HQ-10 trong ngày 19 đã bị trúng đạn và chìm. HQ-4 rút lui từ đầu do trở ngại tác xạ nên chỉ bị thiệt hại nhẹ. Theo sĩ quan Bùi Ngọc Nở HQ-5 thiệt hại rất nặng: “đếm được tất cả là 102 lỗ đạn đại bác 100 ly, còn đạn đại bác 37 ly lỗ nhỏ hơn và nhiều không đếm được, riêng đài chỉ huy trúng mười mấy trái đại bác 100 ly nhưng may mắn là nhờ hai lớp thép bảo vệ nên khi xuyên qua hai lớp thép này thì hết tầm”.[14]

Trung Quốc chiếm toàn bộ Hoàng Sa

Trong khi chiến sự đang diễn ra tại Hoàng Sa, Diệp Kiếm Anh, Đặng Tiểu Bình và Tô Chấn Hoa báo cáo lên Mao Trạch Đông đề nghị cho phép quân đội Trung Quốc chiếm tất cả các đảo do Việt Nam Cộng hòa kiểm soát. Mao đã chấp thuận đề nghị này.[3] Khi hải chiến Hoàng Sa kết thúc, sau khi nghe báo cáo, Đặng Tiểu Bình đã chỉ thị cho quân khu Quảng Châu tiếp tục đánh chiếm các đảo Hoàng Sa, Hữu Nhật và Quang Ảnh.[7] Ngày 20 tháng 1, 4 phi cơ MiG-21 của Trung Quốc oanh tạc các đảo Hữu Nhật, Quang Ảnh và Hoàng Sa. Tiếp đó, quân Trung Quốc đổ bộ tấn công các đơn vị đồn trú của Việt Nam Cộng hòa trên các đảo này. Sau 20 phút, lực lượng của Việt Nam Cộng hòa trên các đảo bị mất liên lạc[17]. Theo tiến sĩ Balazs Szalontai – một nhà nghiên cứu độc lập ở Hungary, Trung Quốc quyết định chiếm quần đảo Hoàng Sa trước khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ – nghĩa là trước khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có thể chiếm quần đảo.[18]

Kết quả

Theo tài liệu của Việt Nam Cộng hòa thì 274 trúng đạn, không thể điều khiển phải ủi vào bãi san hô để thủy thủ đoàn đào thoát, 271 và 389 bị chìm tại trận hoặc hư hại nặng, 396 bị hư hại nặng. HQ-10 trúng đạn vào pháo tháp và bị chìm sau đó, HQ-16 bị hư hại nặng nghiêng trên 10 độ, HQ-4 bị hư nhẹ. Có nhân chứng khẳng định HQ-5 hư nhẹ còn nhân chứng khác khẳng định HQ-5 hư nặng.

Hải quân Việt Nam Cộng hoà có 75 binh sỹ tử vong trong đó HQ-10 có 63 người chết bao gồm hạm trưởng Ngụy Văn Thà, HQ-4 có 3 người chết, HQ-5 có 3 quân nhân tử vong và 16 bị thương, HQ-16 có 2 người chết, lực lượng người nhái có 4 người chết.[19][20]

Hai ngày sau trận hải chiến, ngày 20 tháng 1, tàu chở dầu Hòa Lan “Kopionella” vớt được 23 người thuộc thủy thủ đoàn của HQ-10 đang trôi dạt trên biển. Đến mười ngày sau, ngày 29 tháng 1, ngư dân Việt Nam vớt được một toán quân nhân Việt Nam Cộng hòa gần Mũi Yến (Qui Nhơn), gồm 1 sĩ quan, 2 hạ sĩ quan và 12 quân nhân thuộc lực lượng đổ bộ lên đảo Quang Hòa, đã dùng bè vượt thoát đảo sau trận hải chiến[21]

Những năm gần đây, một số ý kiến trong nước đề nghị nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận các binh sĩ Việt Nam Cộng hoà hy sinh trong trận hải chiến này là liệt sĩ.

Theo tài liệu của Trung Quốc thì 274, 271, 389, 396 đều trúng đạn, 281, 282 và 402, 407 bị hư hại trung bình, HQ-10 bị chìm tại trận. Trung Quốc bắt giữ một sỹ quan chỉ huy hàng đầu ở đảo (bị bắt ở trong rừng) Phạm Văn Hồng, 48 tù binh khác, cộng với một người Mỹ là liên lạc ở lãnh sự quán Mỹ tại Đà Nẵng[22][23]. Trung Quốc có trao trả tù binh sau đó ngày 27 tháng 2 tại Hồng Kông qua Hội Chữ thập đỏ. Một tài liệu khác của Trung Quốc thì cho là đánh chìm 1 tàu khu trục, làm hư hại 3 tàu khu trục khác, làm chết và bị thương hơn 100 người của Việt Nam Cộng hòa, bên phía Trung Quốc 1 tàu khu trục nhỏ bị thương, 18 binh lính chết và 67 binh lính bị thương[23]

Phía Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có 18 binh sĩ thiệt mạng, 67 binh sĩ bị thương và 3 người bị xây xát nhẹ. Một trong những binh sĩ trở về từ cuộc chiến là Ngô Tiên Phong, đã được nhà nước và quân đội Trung Quốc phong làm anh hùng và được tặng huân chương hạng nhất.[24]

Trung Quốc chiếm đóng toàn phần quần đảo Hoàng Sa từ thời điểm này cho đến tận ngày nay.

Kế hoạch tái chiếm Hoàng Sa

Sau khi chiếm được Hoàng Sa, Trung Quốc tập trung 43 chiến hạm tại quần đảo này để đề phòng Việt Nam Cộng hòa phản công tái chiếm.[25]

Theo Nguyễn Thành Trung – nguyên là phi công Không lực Việt Nam Cộng hòa, ngày 19/1/1974, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu điều 5 phi đoàn F-5 bao gồm 120 máy bay và 150 phi công (mỗi phi đoàn có 24 máy bay), 4 phi đoàn ở sân bay Biên Hoà, 1 ở sân bay Đà Nẵng, ra Đà Nẵng chuẩn bị tái chiếm quần đảo Hoàng Sa.[25] Nhưng phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại khi được hỏi về kế hoạch dùng không quân tái chiếm Hoàng Sa lại cho biết “Riêng tôi thì tôi không được biết. Những gì trao đổi ở Sài Gòn, nếu có xảy ra, thì không được thông báo… tôi không được nghe biết và tôi cũng không nhớ rằng tôi có nghe những kế hoạch nào từ trong Sài Gòn dùng không quân để tái chiếm lại Hoàng Sa. Quyết định đó có thể có và cũng có thể không.[13] Còn theo ông Hoàng Đức Nhã, thư ký Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và các tướng lĩnh có một số kế hoạch tái chiếm Hoàng Sa nhưng không được thực hiện do ưu tiên lúc đó không phải là tái chiếm Hoàng Sa mà là bảo vệ lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa trước sự tấn công của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[5] Ông Nhã cho rằng Việt Nam Cộng hòa đã không có liên hệ nào nhằm phối hợp với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên phương diện ngoại giao cũng như quân sự nhằm tái chiếm Hoàng Sa do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có thái độ im lặng khi Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa, họ cũng không giảm cường độ quân sự để Việt Nam Cộng hòa có thể huy động lực lượng tái chiếm Hoàng Sa. Mặt khác, ông Nhã nói Nguyễn Văn Thiệu đã tìm hiểu thái độ và lập trường của Mỹ qua điện thoại, nhưng chỉ nhận được lời trả lời “khó tin” rằng người Mỹ “không hề hay biết gì”. Dùng từ ngữ “dối trá chính trị”, ông Nhã khẳng định Hoa Kỳ đã có sự thông đồng với chính quyền Bắc Kinh khi đó[5].

Đồng thời hải quân Việt nam Cộng hòa thành lập một Hải đoàn đặc nhiệm mới để chuẩn bị tái chiếm Hoàng Sa. Hải đoàn này bao gồm tàu HQ-6, HQ-17 điều động từ Trường Sa và HQ-5 từng tham chiến tại Hoàng Sa trước đó. Đại tá Hà Văn Ngạc tiếp tục được chỉ định làm chỉ huy Hải đoàn này. Hải đoàn thực hiện một cuộc thao dượt chiến thuật và thực tập tác xạ trong một ngày tại một đảo nhỏ nằm về phía bắc vùng cù lao Chàm phía đông nam Ðà Nẵng. Nhưng cuối cùng việc tái chiếm Hoàng Sa bị hủy bỏ.

Đại tá Ngạc tin rằng “cuộc phản kích tái chiếm sẽ thất bại ngoại trừ đó là một chiến thuật thí quân nằm trong một chiến lược cao hơn”. Các tàu chiến của Việt nam Cộng hoà là các tuần dương hạm cũ (WHEC) sử dụng trong lực lượng phòng vệ duyên hải Mỹ (US Coast guard) từ lâu, thích hợp cho công tác tuần tiễu hơn là để chiến đấu, vừa chậm chạp vừa nặng nề nên khó chống trả lại với các chiến hạm chiến đấu tối tân hơn. Loại này chỉ có một hải pháo 127 ly, còn 2 hải pháo 40 ly đã được Hải quân Việt Nam Cộng hòa đặt thêm vào lái tàu là nơi đã được dùng làm sàn đáp trực thăng.[8]

Ông Hoàng Đức Nhã, Bí thư kiêm Tham vụ Báo chí của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho rằng Việt Nam Cộng hoà “không đủ lực tái chiếm Hoàng Sa”. Hơn nữa Việt Nam Cộng hoà phải bảo toàn lực lượng hải quân để bảo vệ duyên hải (vùng biển gần bờ) và chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hoà “đang tập trung lực lượng chuẩn bị tiêu diệt Việt Nam Cộng hoà“. Việc tái chiếm Hoàng Sa tạm gác lại để ưu tiên cho các mục tiêu trước mắt quan trọng hơn. Sau khi các mục tiêu này được giải quyết, Việt Nam Cộng hoà “sẽ dùng các biện pháp quân sự kết hợp ngoại giao thu hồi Hoàng Sa”.[26]

Theo phi công Nguyễn Thành Trung, việc tái chiếm Hoàng Sa là hoàn toàn khả thi vì với sức mạnh áp đảo của không quân bao gồm 120 chiếc F-5 đang chờ lệnh ở Đà Nẵng. Thời điểm năm 1974, không quân Trung Quốc chỉ có MiG-21 là loại máy bay có tầm bay ngắn, không đủ nhiên liệu bay ra Hoàng Sa, còn hải quân Trung Quốc chỉ có khoảng 40 tàu ở Hoàng Sa (phần lớn là tàu loại nhỏ). Trong khi đó, mỗi máy bay F-5 đủ sức không chiến tại Hoàng Sa trong 20 phút thì chỉ cần sau 1 ngày là có thể đánh chìm toàn bộ, Nguyễn Thành Trung tin rằng “phần thắng là chắc chắn 100%, vì tàu địch không thể chạy nổi (vì máy bay nhanh hơn rất nhiều)… Trung Quốc đi ra Hoàng Sa là bằng tàu thôi, nếu mà diệt hạm đội này là họ cụt ngòi”. Cũng theo lời thuật của Nguyễn Thành Trung, kế hoạch này cuối cùng đã không được thực hiện do “Mỹ đã cảnh báo Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu không được hành động”. Ông cho rằng “Nếu ngày đó chiến dịch diễn ra đúng kế hoạch thì bây giờ và các thế hệ con cháu đỡ biết bao nhiêu. Bây giờ Trung Quốc đã chiếm đóng bất hợp pháp ở Hoàng Sa rồi, cái di sản, cái gánh nặng để lại cho các thế hệ con cháu Việt Nam thật là quá nặng nề”[27].

Phản ứng ngoại giao

Từ sau trận chiến cho đến sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, Việt Nam Cộng hòa đã ra nhiều tuyên bố cũng như trưng ra các chứng cớ lịch sử về chủ quyền của mình như:

  • “Tuyên cáo của Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Cộng Hòa về những hành động gây hấn của Trung Quốc trong khu vực đảo Hoàng Sa” số 015/BNG/TTBC/TT ngày 19/1/1974
  • “Tuyên cáo của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa về chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên những đảo ở ngoài khơi bờ biển Việt Nam Cộng Hòa” ngày 14/2/1974
  • Tài liệu “Thế giới lên án Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa của Việt Nam Cộng hòa”, Tổng cục chiến tranh chính trị, Cục tâm lý chiến, Quân lực Việt Nam Cộng hòa, 1974.
  • “Sách trắng về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, Bộ ngoại giao Việt Nam Cộng hòa, 1975

Việt Nam Cộng hòa cũng tổ chức nhiều cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa, phản đối hành động của Trung Quốc trước Liên hiệp Quốc, huy động các quốc gia đồng minh đưa vấn đề Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa ra Hội đồng Bảo an Liên hiệp Quốc.[5]

Chính sách nhất quán của Việt Nam Cộng hoà là bảo vệ đến cùng sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam trên bộ cũng như trên biển. Việt Nam Cộng hoà không bao giờ thừa nhận Hoàng Sa thuộc về Trung Quốc bằng hành động vũ lực cưỡng chiếm lãnh thổ Việt Nam[26].

Ngày 20/1/1974, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ra bản Tuyên bố phản đối hành động này của phía Trung Quốc.[28] Ngày 26/1/1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tuyên bố lập trường 3 điểm về việc giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ. Ngày 14/2/1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam.

Báo chí Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không đề cập gì đến việc Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa[18]. Nhà sử học Nguyễn Đình Đầu nhận định về phản ứng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa: “Một điều lạ, là trong khi dư luận phản ứng như thế ở miền Nam, mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không có phản ứng gì.[29]. Theo tiến sĩ Balazs Szalontai “sự im lặng của miền Bắc chủ yếu là do cân nhắc chiến thuật ngắn hạn của Hà Nội, chứ không phải vì sự đồng ý về pháp lý giữa Trung Quốc và Việt Nam[18]. Đây là vấn đề của cả hai miền Nam Bắc Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ họp với Trung Quốc để làm rõ vấn đề. Theo ông Dương Danh DyViệc không nói để không ảnh hưởng tới sự nghiệp thống nhất đất nước thì rõ rồi. Nhưng việc không nói còn làm cho Ban Lãnh đạo Trung Quốc chủ quan, nghĩ rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa coi nhẹ vấn đề biển đảo mà không tìm cách đánh chiếm luôn quần đảo Trường Sa nữa.“.[30] Ngay sau khi Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu gây khó khăn cho Hoa kiều khi muốn thăm thân nhân ở Trung Quốc, và cũng không cho nhiều người Trung Quốc sang miền Bắc thăm người thân.[18]

Trên thực tế, ngày 21 tháng 1 năm 1974, đại diện ngoại giao của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khi trả lời hãng tin AFP đã khẳng định: “Việc bảo vệ chủ quyền của mọi quốc gia là một điều hết sức thiêng liêng. Các vấn đề về lãnh thổ và biên giới giữa các quốc gia láng giềng thường là những tranh cãi phức tạp, cần phải có những kiến giải thận trọng. Các quốc gia liên quan cần thương lượng dựa trên sự bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, dựa trên tinh thần hữu nghị và láng giềng thân thiện để giải quyết tranh chấp”.[31]. Bên cạnh đó, trong cuộc trao đổi với Đại sứ Hungary tại Hà Nội khi đó, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch đã tuyên bố: “Có rất nhiều hồ sơ và tài liệu cho thấy quần đảo đang tranh cãi (tức quần đảo Hoàng Sa) là của Việt Nam”[32].

Chính phủ Mỹ không có tuyên bố ngoại giao nào lên án việc Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa mà chỉ tỏ thái độ thông cảm với đồng minh Việt Nam Cộng hoà.[26] Hoa Kỳ cũng từ chối yêu cầu của Việt Nam Cộng hòa giúp đưa vấn đề này ra Liên hiệp Quốc.[5] Ông Hoàng Đức Nhã, cựu Bí thư kiêm Tham vụ Báo chí của Việt Nam Cộng hoà, đã gọi điện cho đại sứ Hoa Kỳ để hỏi vì sao Hoa Kỳ không thông báo cho Việt Nam Cộng hòa biết việc Trung Quốc điều quân đến Hoàng Sa để chủ động đối phó, đại sứ Graham Martin trả lời rằng họ “không thể thấy được”. Ông Nhã liền chất vấn Đại sứ Martin rằng chuyện cả một hạm đội di chuyển mà người Mỹ “không thấy” thì quả là khó tin.[26] Tuy nhiên, trái với lời giải thích của đại sứ Mỹ, cơ quan tình báo CIA của Mỹ vẫn theo dõi sát tất cả diễn biến tại quần đảo Hoàng Sa từ lúc Trung Quốc đưa quân đến Hoàng Sa cho đến lúc Trung Quốc chiếm toàn bộ quần đảo này để báo cáo cho Tổng thống Mỹ[33] nhưng Mỹ quyết định không can thiệp vào Hoàng Sa[34]. Chính phủ Mỹ giải thích rằng Quốc hội Mỹ đã ra luật cấm Chính phủ tiếp tục hỗ trợ quân sự cho Việt Nam Cộng hòa nên họ không thể nào giúp Việt Nam Cộng hòa bảo vệ Hoàng Sa trước sự tấn công của Trung Quốc.[5]

Theo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, hành động của Trung Quốc là có tính toán từ trước và nhận được sự làm ngơ của Mỹ. Vì vậy, khi đó đại sứ Mỹ Graham Martin ở Sài Gòn đã bác bỏ yêu cầu cứu viện của chính quyền Việt Nam Cộng hòa và hạm đội Mỹ ở Thái Bình Dương đã được lệnh tránh xa quần đảo Hoàng Sa. Đặc biệt, hành động của Trung Quốc diễn ra chỉ một ngày sau khi họ chấp nhận đàm phán với phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về vấn đề vịnh Bắc Bộ, trong đó Trung Quốc yêu cầu được đặc quyền thăm dò trong một khu vực rộng 20.000 km2 trong vịnh Bắc Bộ do họ tự ý định ra (yêu cầu này sau đó bị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bác bỏ và đàm phán lâm vào bế tắc).[35] Bởi một chuỗi các sự kiện trên, năm 1975, khi Quân đội Nhân dân Việt Nam mở chiến dịch Trường Sa và các đảo trên Biển Đông để thu hồi Trường Sa, họ đã ra công điện chỉ thị phải tiến hành khẩn trương để đề phòng “quân đội nước ngoài” có ý định chiếm quần đảo[36].

Sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc, Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền đối với cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tháng 9 năm 1975, Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn nêu vấn đề Hoàng Sa trong chuyến thăm Trung Quốc. Phản ứng không nhượng bộ của Trung Quốc làm lãnh đạo Việt Nam khó chịu.[18] Ngày 15-3-1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Bị vong lục về vấn đề biên giới Việt -Trung, trong đó lên án việc Trung Quốc đánh chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Ngày 28-9-1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Sách trắng, giới thiệu 19 tài liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa[37].

Việc này đã khiến Trung Quốc bất bình và bắt đầu một thời kỳ quan hệ căng thẳng giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc[38]. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay vẫn khẳng định chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và vùng lãnh hải liên quan trên Biển Đông.

Đánh giá

Chiến thuật

Trả lời câu hỏi của các sĩ quan khác về Hải chiến Hoàng Sa tại Khóa Chỉ huy tham mưu đặc biệt tại Long Bình, đại tá Hà Văn Ngạc, chỉ huy trận hải chiến Hoàng Sa, nhận định Hoàng Sa cũng gần tương tự trận Ấp Bắc là nơi quân lực Việt nam Cộng hòa đã “bị bất ngờ về chiến thuật của địch, có sự sai lầm về ước tính tình báo và nhầm lẫn về chiến thuật điều quân”.[8]

Trung tá Lê Văn Thự, chỉ huy chiến hạm HQ-16, nhận định về trận hải chiến như sau:

  • Trong trận Hải chiến Hoàng Sa, Hải Quân Việt Nam không có loại tàu thích hợp cho trận chiến. HQ-5, HQ-16, HQ-10 là loại tàu cồng kềnh, vận chuyển chậm, súng quay bằng tay nên theo dõi mục tiêu khó khăn cũng như nhịp bắn chậm. Chỉ có HQ-4 là tối tân nhất, các súng đều điều khiển bằng điện, tốc độ bắn nhanh, radar có tầm xa, vận tốc chiến hạm cao. Nhưng HQ-4 lại gặp trở ngại kỹ thuật nên rút lui ngay từ đầu[9]
  • Hải đội của Việt Nam Cộng hòa tham chiến trận Hoàng Sa không có kế hoạch hành quân. Chỉ huy HQ-16 chỉ nhận được một lệnh duy nhất từ đại tá Ngạc đổ quân lên đảo Quang Hòa bằng bất cứ giá nào. Ngoài ra ông không biết gì về hoạt động của HQ-4 và HQ-5 cũng như nhiệm vụ của họ. Khi trận chiến diễn ra, ông cũng không biết đại tá Ngạc đã chia Hải đoàn thành 2 phân đoàn: phân đoàn I gồm HQ-4 và HQ-5, phân đoàn 2 gồm HQ-10 và HQ-16. Vì không có kế hoạch hành quân nên máy truyền tin bị Trung Quốc phá sóng không liên lạc được mà không có tần số dự trù thay thế nên hạm đội phải dùng máy PRC-25 liên lạc với nhau vì thế việc liên lạc không được liên tục, ổn định.[9]
  • Phân đoàn I được phân công là chủ lực nhưng không tích cực chiến đấu mà chỉ ở bên ngoài chờ đợi rồi “bắn vào lòng chảo 5 – 7 phát trước khi rút lui”. Chỉ có phân đoàn II mang vai trò yểm trợ lại phải giao chiến với 4 tàu Trung Quốc nên thiệt hại nặng.[9]
  • Số quân HQ-16 đổ bộ để giành lại đảo Quang Hòa và giữ đảo Hoàng Sa quá ít, không có kinh nghiệm tác chiến trên bộ lại không được tiếp tế đạn dược, lương thực, nước uống và vật dụng.[2]
  • Không có bác sĩ trên chiến hạm, chỉ có y tá không kinh nghiệm cứu thương cũng như ngoài khả năng của họ nên ai bị thương thì khó mà sống sót.[9]

Theo Trung tá Lê Văn Thự, sau trận chiến, Bộ tư lệnh Hải quân đã không tổ chức thảo luận giữa chỉ huy các đơn vị tham chiến để rút kinh nghiệm học hỏi mà để “mọi chuyện đều cho trôi xuôi luôn”.[9]

Trong trận hải chiến Hoàng Sa, hải quân Việt Nam Cộng hoà gặp bất lợi rất lớn là hai khẩu hải pháo 76 ly tự động trên khu trục hạm HQ-4 bị trở ngại kỹ thuật nên HQ-4 phải rút lui ngay từ đầu. HQ-16 chiến đấu một thời gian ngắn thì bị trúng đạn pháo 127 ly của tàu bạn là HQ-5 bắn nhầm, xuyên thủng hầm máy do đó bị loại ra khỏi trận chiến. Điều này cho thấy hải quân Việt Nam Cộng hoà chiến đấu trong thế bị động, không có sẵn kế hoạch tác chiến nên việc phối hợp giữa các chiến hạm kém dẫn đến HQ-5 bắn trúng HQ-16. Chỉ có HQ-10 và HQ-5 chiến đấu từ đầu đến cuối trận chiến. Như vậy lực lượng hải quân Việt Nam Cộng hoà thiếu sự phối hợp giữa các chiến hạm do không có kế hoạch tác chiến và mất ưu thế về hoả lực ngay từ đầu trận chiến, trong khi Trung Quốc đã lên kế hoạch chu đáo ở cấp cao nhất là Bộ Chính trị Đảng cộng sản Trung Quốc cho việc chiếm đóng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.

Chiến lược

Đại tá Hà Văn Ngạc nhận định dù Hải quân Việt nam Cộng hoà có thắng được trận đầu thì cũng khó lường trước tổn thất khi đối đầu với lực lượng tiếp viện của Trung Quốc nếu còn ở lại cố thủ tại Hoàng Sa. Vào thời điểm đó Quân đội Nhân dân Việt Nam đang tập trung quân tại miền Nam, Hải quân Việt Nam cộng hoà phải dồn lực lượng chống Quân đội Nhân dân Việt Nam nên không thể chi viện tối đa cho Hoàng Sa. Theo Đại tá Ngạc, Quân lực Việt Nam cộng hoà đã kiềm chế không tiếp tục mở rộng chiến sự tại Hoàng Sa vì sợ châm ngòi cho một cuộc chiến mới giữa Việt Nam Cộng hoà và Trung Quốc.[8]

Tóm lại, về lâu dài, với lực lượng khi đó, Đại tá Hà Văn Ngạc cho rằng Việt Nam Cộng hoà không thể giữ được chủ quyền tại Hoàng Sa trước kế hoạch bành trướng của Trung Quốc.[8]

Xem thêm

Nguồn tham khảo

  1. ^ Báo Nhân Dân số 1653, 22 tháng 9 năm 1958
  2. ^ a ă Dyadic Militarized Interstate Disputes Data (DyMID), phiên bản 2.0 tabulations
  3. ^ a ă â Quan hệ Trung Việt trước trận Hoàng Sa, Lý Hiểu Bình, BBC
  4. ^ Hải Chiến Hoàng Sa, Bão biển Đệ Nhị Hải Sư, tác giả xuất bản, Australia, 1989, trang 101
  5. ^ a ă â b c d Hoàng Sa: Góc nhìn từ dinh ông Thiệu, BBC online, 17 tháng 1, 2014
  6. ^ NHỮNG SỰ KIỆN QUAN TRỌNG TRONG QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ (1900-2001), Nixon ở Trung Quốc: Bước ngoặt trong lịch sử thế giới, Warren I.Cohen, Đại sứ quán Hoa Kỳ
  7. ^ a ă â b c d Tân Hoa Xã: Mao Trạch Đông chỉ đạo đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974, Báo Giáo dục Việt Nam
  8. ^ a ă â b c d đ e Tường thuật trận hải chiến lịch sử Hoàng Sa, Hà Văn Ngạc, Nguyệt San Đoàn Kết, Austin, Texas
  9. ^ a ă â b c d đ e ê Sự Thật Về Trận Hải Chiến Hoàng Sa, Lê Văn Thự, báo Thời Luận, Los Angeles, 3/2004
  10. ^ Ts Trần Công Trục: 3 lần Trung Quốc thừa cơ thôn tính Hoàng Sa, 19/12/13, Báo Giáo dục Việt Nam
  11. ^ Thế giới lên án Trung-Cộng xâm lăng Hoàng-Sa của Việt Nam Cộng hòa, Tổng cục chiến tranh chánh trị, Cục tâm lý chiến, Quân lực Việt Nam Cộng hòa, 1974, trang 8
  12. ^ a ă Trận hải chiến Hoàng Sa, BBC, 15 Tháng 12 2007 – Cập nhật 12h46 GMT
  13. ^ a ă â Tổng thống Thiệu ‘đồng ý dùng vũ lực’, BBC online, 19 tháng 1, 2014
  14. ^ a ă Soái hạm HQ5 và trận hải chiến Hoàng Sa, Bùi Ngọc Nở, Website Ủy ban Hoàng Sa
  15. ^ Nhìn lại kinh nghiệm đối lập thời VNCH, Trần Bình Nam, BBC, thứ năm, 14 tháng 6, 2012
  16. ^ Counterpart, A South Vietnamese Naval Officer’s War Kiem Do and Julie Kane, Naval Institute, Press, Annapolis, Maryland, 1998, chương 10
  17. ^ Thế giới lên án Trung-Cộng xâm lăng Hoàng-Sa của Việt Nam Cộng hòa, Tổng cục chiến tranh chánh trị, Cục tâm lý chiến, Quân lực Việt Nam Cộng hòa, 1974, trang 10
  18. ^ a ă â b c Im lặng nhưng không đồng tình , Balazs Szalontai, 24 tháng 3, 2009, BBC online
  19. ^ Danh sách tử sĩ quân đội VNCH trong trận hải chiến Hoàng Sa ngày 19 tháng 1 năm 1974
  20. ^ Danh sách các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa hi sinh trong Hải chiến Hoàng Sa 1974, Thanh Niên Online, 09/01/2014
  21. ^ Thế giới lên án Trung-Cộng xâm lăng Hoàng-Sa của Việt Nam Cộng hòa, Tổng cục chiến tranh chánh trị, Cục tâm lý chiến, Quân lực Việt Nam Cộng hòa, 1974, trang 11
  22. ^ Tây Sa Hải Chiến—Thống Kích Nam Việt Hải Quân (西沙海战――痛击南越海军) Tân Hoa Xã 2003-01-20
  23. ^ a ă 中越南海之戰:你爭我奪的1974年【4】
  24. ^ “前全国人大常委因重病贫困流落街头打工(图)” (bằng tiếng Trung). Sina. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2011.
  25. ^ a ă Có một giờ G khác vào năm 1974, Vietnamnet, 29/04/2013 02:00 GMT+7
  26. ^ a ă â b Di sản cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, BBC, Cập nhật: 17:10 GMT – thứ sáu, 23 tháng 9, 2011
  27. ^ Đỗ Hùng – Tấn Trung. “Hải chiến Hoàng Sa – 40 năm nhìn lại – Kỳ 6: Không quân Việt Nam Cộng Hòa lên kế hoạch giành lại Hoàng Sa”. Thanh niên online. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2014.
  28. ^ Một số câu hỏi – đáp về biển, đảo Việt Nam – Biển đảo Việt Nam
  29. ^ Hoàng Sa, Trường Sa thời VNCH, BBC, Cập nhật: 08:23 GMT – thứ năm, 29 tháng 4, 2010
  30. ^ Sau 40 năm nhìn lại hải chiến Hoàng Sa, Tuần Việt Nam, 06/01/2014
  31. ^ China’s Policy Towards Territorial Disputes: The Case of the South China Sea Islands by Chi-kin Lo
  32. ^ https://www.academia.edu/6212210/Silence_But_No_Consent_Hanoi_and_the_Chinese_Invasion_of_the_Paracel_Islands_1974
  33. ^ CIA theo dõi sát trận Hoàng Sa 1974, Vũ Quí Hạo Nhiên, 30 tháng 12, 2013, BBC online
  34. ^ Thái độ của Mỹ sau trận Hoàng Sa 1974, 3 tháng 10, 2011, BBC online
  35. ^ Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc 30 năm qua. NXB Sự Thật 1979. Chương IV – Thời kỳ 1973-1975. Mục 2: Xâm chiếm lãnh thổ của Việt Nam, gây căng thẳng ở biên giới
  36. ^ Nguyễn Văn Đấu – Dương Thảo – Đặng Văn Tới. Bộ Tham mưu Hải quân – Biên niên sự kiện (1959-2004). NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2004. trang 38.
  37. ^ Bộ ngoại giao Việt Nam (xuất bản tháng 10, năm 1979). Văn kiện: Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc 30 năm qua (bằng tiếng Việt). Việt Nam: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật. tr. 72.
  38. ^ Nayan Chanda, Brother Enemy. Wars after war, Harcourt Brace Jovanovich Publisher, 1986, trang 21

Liên kết ngoài