Chào ngày mới 26 tháng 12


PhanBoiChau
CNM365. Chào ngày mới 26 tháng 12. Wikipedia Ngày này năm xưa. Năm 1867 –ngày sinh Phan Bội Châu, nhà hoạt động chính trị người Việt Nam (mất năm 1940). Năm  1893 – ngày sinh Mao Trạch Đông, chỉ huy quân sự, chính trị gia người Trung Quốc (mất năm 1976). Năm 1982 – Trong số các nhân vật của năm của Tạp chí Time, lần đầu tiên xuất hiện một thứ không phải con người, đó là máy tính cá nhân.

26 tháng 12

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày 26 tháng 12 là ngày thứ 360 (361 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 5 ngày trong năm.

« Tháng 12 năm 2015 »
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31

Mục lục

Sự kiện

Sinh

Mất

Ngày lễ và kỷ niệm

Tham khảo

Tháng 1 | Tháng 2 | Tháng 3 | Tháng 4 | Tháng 5 | Tháng 6 | Tháng 7 | Tháng 8 | Tháng 9 | Tháng 10 | Tháng 11 | Tháng 12

Mao Trạch Đông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Mao Trạch Đông
毛泽东
{{{caption}}}
Mao Trạch Đông
Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc
Nhiệm kỳ 20 tháng 3, 1943 – 9 tháng 9, 1976
Kế nhiệm Hoa Quốc Phong
Phó Chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ
Lâm Bưu
Chu Ân Lai
Hoa Quốc Phong
Chủ tịch Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Nhiệm kỳ 27 tháng 9, 1954 – 27 tháng 4, 1959
Kế nhiệm Lưu Thiếu Kỳ
Phó Chủ tịch Chu Đức
Chủ tịch Quân ủy Trung ương
Nhiệm kỳ 8 tháng 9, 1954 – 9 tháng 9, 1976
Kế nhiệm Hoa Quốc Phong
Chủ tịch Hiệp Chính
Nhiệm kỳ 1 tháng 10, 1949 – 25 tháng 12, 1976
Kế nhiệm Chu Ân Lai
Ủy viên Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc
Đại diện Khu vực Bắc Kinh (54 – 59; 64 – 76)
Đảng Danghui.svg Đảng Cộng sản
Sinh 26 tháng 12, 1893
Thiều Sơn, Tương Đàm, Hồ Nam, Đại Thanh Quốc
Mất 9 tháng 9, 1976 (82 tuổi)
Bắc Kinh, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Dân tộc Hán
Tôn giáo Không
Phu nhân La Thị (罗一秀)
Dương Khai Tuệ (杨开慧)
Hạ Tử Trân (贺子珍)
Giang Thanh (江青)
Con cái Mao Ngạn Anh (毛岸英)
Mao Ngạn Thanh (毛岸青)
Mao Ngạn Long
Lý Mẫn (李敏)
Lý Nạp (李讷)
Chữ kí Mao Zedong Signature.svg

(Trung văn phồn thể: 毛澤東; giản thể: 毛泽东; phanh âm: Máo Zédōng; 26 tháng 12 năm 18939 tháng 9 năm 1976), tự Nhuận Chi (潤之) [ban đầu là Vịnh Chi (詠芝), sau đổi là Nhuận Chi (潤芝, chữ “chi” 之 có thêm đầu chữ thảo 艹], bút danh: Tử Nhậm (子任) là Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc từ năm 1943 đến khi qua đời. Dưới sự lãnh đạo của ông, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã giành thắng lợi trong cuộc nội chiến với Quốc Dân Đảng, lập nên nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) năm 1949 và trở thành đảng cầm quyền ở Trung Quốc.

Ông đã tạo ra một chủ nghĩa Mác-Lênin được Trung Quốc hóa có tên là chủ nghĩa Mao mà ngày nay ban lãnh đạo Trung Quốc gọi là tư tưởng Mao Trạch Đông (Những người theo chủ nghĩa này gọi là những người Mao-ít (Maoist), tương tự như Marxist, Leninist)

Mao Trạch Đông là người có công trong việc gần như thống nhất được Trung Quốc, đưa Trung Quốc thoát khỏi ách áp bức của ngoại quốc kể từ cuộc Chiến tranh Nha phiến cuối thế kỷ 19, nhưng cũng bị phê phán về trách nhiệm của ông trong nạn đói 1959–1961 và những tai họa của Cách mạng văn hóa. Dưới thời ông, nông nghiệp Trung Quốc được tập thể hóa dưới hình thức công xã nhân dân. Chính sách Đại nhảy vọt) trong kinh tế đã để lại những hậu quả tai hại. Mao Trạch Đông cũng là người phát động Đại Cách mạng văn hóa vô sản, thường gọi là Cách mạng văn hóa. Theo một số liệu thống kê[1], các chính sách sai lầm của Mao Trạch Đông đã trực tiếp hay gián tiếp gây ra cái chết cho khoảng 1 triệu người.[2]

Mao Trạch Đông thường được gọi một cách tôn kính tại Cộng hòa Nhân dân Trung HoaMao Chủ tịch (毛主席). Vào thời đỉnh cao của sự sùng bái cá nhân, ông được tôn là người có bốn cái “vĩ đại”: Người thầy vĩ đại, Lãnh tụ vĩ đại, Thống soái vĩ đại, Người cầm lái vĩ đại (伟大导师,伟大领袖,伟大统帅,伟大舵手 vĩ đại đạo sư, vĩ đại lãnh tụ, vĩ đại thống soái, vĩ đại đà thủ).

Theo một cuộc thăm dò dư luận quần chúng năm 1994 được phối hợp tiến hành bởi Ban Tuyên truyền Trung ương ĐCSTQ, Phòng Nghiên cứu chính trị Trung ương, Phòng Nghiên cứu chính sách Viện Khoa học Xã hội và Uỷ ban Giáo dục quốc gia, sai lầm của Mao được cho là lớn hơn công lao.[3]

Mục lục

Những năm đầu

Là con út trong một gia đình trung nông, Mao Trạch Đông sinh giờ Thìn ngày 19 tháng 11 năm Quý Tị (năm Quang Tự thứ 19) theo âm lịch, tức 26 tháng 12 năm 1893 tại làng Thiều Sơn, huyện Tương Đàm (湘潭縣), tỉnh Hồ Nam. Dòng tộc của ông vào thời nhà Minh đã di cư từ tỉnh Giang Tây đến đây và nhiều đời làm nghề nông.

Trong cuộc Cách mạng Tân Hợi (1911), lúc này Mao còn là một học sinh 18 tuổi, triều nhà Thanh bị lật đổ, Trung Quốc tuyên bố thành lập chế độ cộng hòa; người lãnh đạo Cách mạng không thành lập được một chính phủ thống nhất và vững vàng, dẫn đến cuộc nội chiến trong một thời gian dài. Khi Mao đang phục vụ trong quân đội tỉnh Hồ Nam. Sau đó Mao trở về trường học. Sau khi tốt nghiệp Trường Sư phạm số 1 tỉnh Hồ Nam vào năm 1918, Mao cùng với người thầy học và là cha vợ tương lai, giáo sư Dương Xương Tế (杨昌济), lên Bắc Kinh, nơi giáo sư Dương nhận một chân giảng dạy tại Đại học Bắc Kinh. Nhờ sự giới thiệu của giáo sư Dương, Mao được vào làm nhân viên thư viện của trường đại học (thư viện do Lý Đại Chiêu phụ trách). Đồng thời Mao học tại chức tại Đại học Bắc Kinh, nghe nhiều học giả hàng đầu như Trần Độc Tú, Hồ Thích (胡適) và Tiền Huyền Đồng (錢玄同) giảng bài. Sau này Mao kết hôn với Dương Khai Tuệ, con gái giáo sư Dương và cũng là sinh viên Đại học Bắc Kinh. (Khi Mao 14 tuổi, bố ông đã sắp xếp cho ông lấy một cô gái cùng làng là La thị (羅氏), nhưng Mao không công nhận cuộc hôn nhân ép buộc này.)

Bức truyền thần Chủ tịch Mao Trạch Đông

Sau phong trào Ngũ Tứ, Mao về Hồ Nam tổ chức đoàn thanh niên, ra hai tờ báo tuyên truyền cách mạng là Tương Giang bình luậnTân Hồ Nam. Hai tờ báo này bị đóng cửa và Mao bị trục xuất khỏi Hồ Nam. Năm 1920, Mao đã tham gia tiểu tổ cộng sản ở Trường Sa (Hồ Nam).

Ngày 23 tháng 7 năm 1921, Mao đã tham gia Đại hội lần thứ nhất thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Thượng Hải. Hai năm sau, tại Đại hội lần thứ ba (1923), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương của Đảng chỉ gồm 5 người. Tháng 1 năm 1924, theo chủ trương Quốc – Cộng hợp tác, Mao Trạch Đông tham dự Đại hội lần thứ nhất Quốc dân Đảng họp ở Quảng Châu và được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Quốc dân Đảng. Sau đó ông lên đường đi Thượng Hải làm việc tại cơ quan Ban chấp hành Quốc dân Đảng, rồi sang năm sau lại về Quảng Châu làm quyền trưởng Ban tuyên truyền của Quốc dân Đảng, rồi kiêm thêm một chân trong Ủy ban vận động nông dân của đảng này. Lúc này ông đã bị Trần Độc Tú đẩy ra khỏi Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản tại Đại hội 4 họp vắng mặt ông vào tháng 1 năm 1925. Tại Đại hội lần thứ hai Quốc dân Đảng (tháng 1 năm 1926), ông lại được bầu làm ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Quốc dân Đảng và làm quyền Trưởng ban Tuyên truyền đến tháng 5 năm 1926.

Sau khi Tưởng Giới Thạch quay sang đàn áp Đảng Cộng sản, Mao Trạch Đông chủ trương đấu tranh vũ trang với Tưởng nhưng không được Trần Độc Tú chấp nhận và bị thất sủng. Mao Trạch Đông bèn lui về quê cho ra đời Báo cáo khảo sát phong trào nông dân Hồ Nam, tác phẩm quan trọng đầu tiên của chủ nghĩa Mao.

Chiến tranh và cách mạng

Mao thoát được bạch sắc khủng bố vào năm 1927 và lãnh đạo Cuộc khởi nghĩa Vụ gặt Mùa thuTrường Sa, Hồ Nam nhưng thất bại. Tàn quân du kích chưa đầy 1.000 người của Mao tìm nơi ẩn náu ở vùng núi Tỉnh Cương Sơn, nơi giáp giới giữa hai tỉnh Hồ Nam và Giang Tây. Năm 1928 đội quân này hợp nhất với quân của Chu Đức, lập ra Quân đoàn 4 công nông, do Chu Đức làm Quân đoàn trưởng. Mao đã góp phần xây dựng căn cứ, chính quyền và một quân đội tiến hành chiến tranh du kích có hiệu quả, thực hiện cải cách ruộng đất. Chính tại nơi đây từ 1931 đến 1934, nhà nước Cộng hòa Xô-viết Trung Hoa được lập ra và Mao được bầu làm Chủ tịch Chính phủ Trung ương lâm thời. Vào thời kỳ này, Mao kết hôn với Hạ Tử Trân, sau khi Dương Khai Tuệ bị lực lượng Quốc dân Đảng giết chết.

Khu Xô-viết này trở thành nơi trú ngụ của Ban Lãnh đạo Đảng Cộng sản chạy trốn sự khủng bố của Tưởng Giới Thạch ở các thành phố lớn, chủ yếu là Thượng Hải. Dưới áp lực của các chiến dịch bao vây càn quét của Quốc dân Đảng, trong nội bộ Ban Lãnh đạo Đảng Cộng sản diễn ra cuộc tranh giành quyền lực và đấu tranh về đường lối và chiến thuật. Phe theo đường lối chính thống của Moskva, mà đại diện là nhóm 28 người Bolshevik, đã thắng thế và Mao dần dần bị gạt ra khỏi các chức vụ quan trọng.

Mao năm 1931

Với quyết tâm tiêu diệt bằng được những người cộng sản, tháng 10 năm 1934 Tưởng Giới Thạch trực tiếp chỉ huy 50 vạn quân bao vây tấn công khu Xô-viết trung ương, buộc Hồng quân phải mở đường máu rời bỏ nơi đây, tiến hành cuộc Vạn lý trường chinh cực kỳ gian khổ, vượt 9.600 km trong suốt một năm trời để đến tỉnh Thiểm Tây xây dựng căn cứ mới. Trên đường trường chinh Mao Trạch Đông đã bước lên nắm quyền lãnh đạo từ Hội nghị Tuân Nghĩa họp vào tháng 1 năm 1935. Tại hội nghị này, Chu Ân Lai ngả về phía Mao, Tổng Bí thư Bác Cổcố vấn quân sự Otto Braun (tên Trung Quốc là Lý Đức) bị hạ bệ, Mao vào Ban thường vụ Bộ Chính trị, nắm quyền thực tế và năm 1943 được bầu làm Chủ tịch Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Từ căn cứ mới ở Diên An, Mao đã lãnh đạo những người cộng sản tiến hành cuộc kháng chiến chống Nhật (19371945) thông qua hợp tác Quốc–Cộng lần thứ hai. Tại đây, Mao đã củng cố quyền lực trong Đảng Cộng sản bằng cách mở cuộc vận động chỉnh phong. Tại Đại hội lần thứ 7 của Đảng Cộng sản Trung Quốc họp tại Diên An tháng 6 năm 1945, Mao được bầu làm Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Đảng. Cũng tại Diên An, Mao ly thân với Hạ Tử Trân và lấy Lam Bình, một diễn viên mới tới Diên An mà sau này khuynh đảo chính trường Trung Quốc với tên gọi là Giang Thanh.

Ngay sau khi Chiến tranh Trung-Nhật kết thúc, nội chiến đã diễn ra giữa Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản, kết thúc bằng thắng lợi của Đảng Cộng sản vào năm 1949.

Lãnh đạo Trung Quốc

Mao Trạch Đông thuộc phái tả kiên định, năm 1920, Mao trở thành người Mác xít. Năm 1921, là một trong 21 người sáng lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhưng mãi đến năm 1935, Mao mới trở thành người lãnh đạo của Đảng. Đảng Cộng sản Trung Quốc sau hai lần thất bại vào năm 1927 và 1934, nhưng cuối cùng cũng vượt qua được nhờ Mao Trạch Đông lên nắm quyền lãnh đạo Đảng, lực lượng của Đảng dần được củng cố mạnh lên. Đến năm 1947, Mao Trạch Đông đã chuẩn bị phát động cuộc tấn công toàn diện vào Chính phủ Quốc Dân Đảng do Tưởng Giới Thạch đứng đầu.

Mao Trạch Đông lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc giành chính quyền năm 1949 và giải phóng toàn bộ đại lục Trung Quốc; trong suốt 27 năm, ông đã kiên trì thực hiện công cuộc cải cách vĩ đại mang ý nghĩa sâu xa trên đất nước Trung Quốc. Sau khi đánh bại Trung Hoa Dân Quốc, Mao cho thiết quân luật ở Trung Quốc. Vấp phải sự phản đối của một số tướng lĩnh then chốt trong guồng máy cộng sản, Mao cho ám sát và đưa đi an trí một số người như: Đặng Tiểu Bình, Chu Đức,…

Từ năm 1949 đến 1976, Mao Trạch Đông luôn là nhân vật quan trọng nhất trong Chính quyền Trung ương Trung Quốc. Mao đã lái Trung Quốc theo con đường chủ nghĩa xã hội không tưởng dựa vào bạo lực. Tiếp đó Mao phát động phong trào Đại nhảy vọt và Công xã hoá, vào thời kỳ cuối những năm 50 của thế kỷ XX – Đây là kế hoạch với ý đồ nhấn mạnh biện pháp sản xuất quy mô nhỏ, sản xuất thủ công, tiến hành cuộc thực nghiệm chủ nghĩa xã hội không tưởng lớn chưa từng thấy nhưng cuối cùng bị thất bại và phải hủy bỏ. Nó gây ra tấn thảm kịch lớn chưa từng thấy trong lịch sử loài người: 37,55 triệu người chết đói.[4]

Kế hoạch tiếp theo mà Mao ủng hộ là cuộc “Đại Cách mạng văn hóa vô sản” vào những năm 60 của thế kỷ XX.

Có điều đặc biệt là khi phát động “Đại nhảy vọt”, Mao Trạch Đông đã hơn 60 tuổi; còn “Đại Cách mạng văn hóa” diễn ra lúc ông gần 70 tuổi; và khi quyết định thiết lập ngoại giao với Hoa Kỳ thì Mao đã gần 80 tuổi.

Qua đời

Mao Trạch Đông qua đời ngày 9 tháng 9 năm 1976, 10 phút sau nửa đêm ở thủ đô Bắc Kinh. [5]

Ông chết vì bệnh xơ cứng teo cơ (tên khoa học amyotrophic lateral sclerosis), ở Hoa Kỳ bệnh này thường được gọi là Lou Gehrig’s hoặc Motor Neurone, cùng một căn bệnh với Stephen Hawking. Sức khỏe của Mao Trạch Đông đã rất kém trong nhiều năm và suy giảm rất rõ rệt trong thời gian vài tháng trước khi chết. Thi hài ông được an táng tại Đại lễ đường nhân dân. Lễ tưởng niệm ông cử hành vào ngày 18 tháng 9 năm 1976 tại quảng trường Thiên An Môn. Trong lễ tưởng niệm có 3 phút mặc niệm. Sau đó thi hài ông được đặt trong Lăng Mao Trạch Đông, mặc dù ông muốn được hỏa táng và là nhà lãnh đạo cấp cao đầu tiên ký văn bản chính thức vào tháng 11 năm 1956 quy định tất cả những người lãnh đạo cấp trung ương sau khi chết sẽ được an táng theo nghi thức hỏa táng. [6]

Đánh giá

Theo cuốn Mao Trạch Đông ngàn năm công tội, của Tân Tử Lăng, do nhà xuất bản Thư Tác Phường ấn hành tháng 7 năm 2007 viết:

Nhân dân đã thức tỉnh. Việc tiếp tục treo ảnh Mao trên Thiên An Môn, tiếp tục để thi hài Mao ở nhà kỷ niệm là lạc hậu so với quần chúng rồi, cần xử lý thỏa đáng đất nước ta triệt để bóng đen Mao Trạch Đông.
— Tân Tử Lăng
Đánh giá một nhà chính trị thời kỳ cận đại là rất khó khăn; Có thể so sánh Mao Trạch Đông với Tần Thủy Hoàng; vì họ đều là người Trung Quốc, đều là các nhà cải cách. Nếu so sánh Mao Trạch Đông với Lê Nin cũng là xác đáng, họ đều sống ở thế kỷ 20, Mao Trạch Đông là người kiến tạo Chủ nghĩa Marx ở Trung Quốc, cũng như Lê Nin là người đặt nền móng cho Chủ nghĩa Marx ở nước Nga. Mới nhìn ta thấy Mao Trạch Đông gần như nổi bật hơn Lê Nin vì Trung Quốc có số dân gấp ba lần Liên Xô, nhưng Lê Nin có trước và đã là một tấm gương cho Mao Trạch Đông, có ảnh hưởng đối với Mao Trạch Đông.
— NXB CTQG

Gia đình

Những người vợ

  • La Thị (羅氏) (1889–1910), do gia đình sắp đặt nhưng Mao không công nhận và hai người chưa hề ăn ở với nhau. Kết hôn năm 1907. Không có con.
  • Dương Khai Tuệ (杨开慧, 1901–1930) ở Trường Sa, kết hôn năm 1921, sống với nhau đến năm 1927, bị Quốc dân Đảng hành quyết năm 1930. Bà sinh được 3 người con trai.
  • Hạ Tử Trân (贺子珍, 1909? / tháng 8 năm 1910 – 19 tháng 4 năm 1984) người Vĩnh Tân, tỉnh Giang Tây, kết hôn từ tháng 5 năm 1928, đến năm 1937 thì bà sang Liên Xô chữa bệnh. Bà sinh nở 6 lần nhưng 5 con chết non hoặc mất tích và chỉ có Lý Mẫn trưởng thành.
  • Giang Thanh (江青): kết hôn từ năm 1938 đến lúc Mao mất. Có 1 con gái là Lý Nạp.
  • Theo hồi ký của Lý Chí Thỏa, bác sĩ riêng của ông, Mao đã làm tình với cả trăm người phụ nữ khác. Qua đó ông ta chấp nhận là họ có thể bị lây bệnh hoa liễu, bởi vì chính ông đã bị mắc bệnh này mà không thể chữa khỏi được.[7] Tuy nhiên, một số học giả, những người thân và những người từng làm việc với Mao đã lên tiếng chỉ trích về tính chính xác của những nguồn hồi ký cá nhân như vậy.[8] Một nhóm nghiên cứu gồm ba tác giả đã dẫn những hồ sơ y tế cũ của Mao cho thấy Lý Chí Thỏa chỉ chăm sóc Mao có 1 ngày duy nhất (ngày 3 tháng 6 năm 1957). Như vậy, Lý Chí Thỏa không phải là bác sĩ thường trực của Mao Trạch Đông và vì thế không có khả năng có được những thông tin “riêng tư, bí mật” mà ông viết ra trên sách[9].

Ông nội, cụ và bố mẹ

Anh chị em

Bố mẹ Mao Trạch Đông có cả thảy 5 con trai và 2 con gái. Hai người con trai và cả 2 con gái chết sớm, còn lại 3 anh em Mao Trạch Đông, Mao Trạch Dân, Mao Trạch Đàm. Cũng như Dương Khai Tuệ, Mao Trạch Dân và Mao Trạch Đàm đều bị Quốc dân Đảng giết hại trong thời kỳ nội chiến.

Ngoài ra Mao Trạch Kiến (毛泽建, 19051929) tức Mao Trạch Hồng là chị họ, bị Quốc dân Đảng giết hại năm 1930

Những người con

Lưu ý là tên đệm trong từng thế hệ gia đình Mao là giống nhau, tuần tự các đời là Tổ-Ân-Di-Trạch-Ngạn. Các con của Mao Trạch Dân và Mao Trạch Đàm có tên đệm là Viễn.

Các tác phẩm

  • Thực tiễn luận (Luận về vấn đề “thực tiễn”)
  • Mâu thuẫn luận (Luận về vấn đề “mâu thuẫn”)
  • Luận trì cửu chiến (Luận về đánh lâu dài)
  • Tân dân chủ chủ nghĩa luận (Luận về chủ nghĩa dân chủ mới)
  • Mao Trạch Đông ngữ lục (Tổng hợp các câu nói ấn tượng của Mao Trạch Đông)
  • Hồng bảo thư

Những câu nói nổi tiếng

Chính trị là chiến tranh không có đổ máu, chiến tranh là chính trị có đổ máu
Súng đẻ ra chính quyền
Nông thôn bao vây thành thị
trí thức không bằng cục phân

[10]

Báo chí Việt Nam và Mao Trạch Đông

Các bài trên báo Cứu quốc của Mặt trận Liên Việt và báo Nhân dân:

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Các Mác – Lênin – Xíttalin và tư tưởng Mao Trạch Đông, nhân loại tiến bộ nhất định thắng lợi hoàn toàn trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập quốc gia, bảo vệ dân chủ, bảo vệ hòa bình chống đế quốc gây chiến[11]
Chủ tịch Mao Trạch Đông đã áp dụng tài tình chủ nghĩa Mác- Ăngghen – Lênin – Stalin vào hoàn cảnh Trung Quốc, hoàn cảnh một nước nông nghiệp nửa thuộc địa, lãnh đạo nhân dân Trung Quốc đánh tan thế lực phản động, lập nên nước Trung Hoa cộng hòa nhân dân vĩ đại, cùng với Liên Xô làm một thành trì vô cùng vững mạnh cho phong trào hòa bình thế giới, mở đường cho nhân dân các nước nhỏ yếu đứng dậy đấu tranh đòi độc lập và hòa bình. Đặc biệt đối với Việt Nam, Trung Quốc đã giúp đỡ mọi mặt và là một hậu phương chắc chắn cho cuộc kháng chiến của Việt Nam…Kính yêu và tin tưởng vào Đại nguyên soái Stalin và Mao chủ tịch, nhân dân thế giới học tập và quyết tâm thực hiện mỗi lời nói của hai vị lãnh tụ. Vui mừng sinh nhật Đại nguyên soái Stalin, vị lãnh tụ tối cao của nhân loại tiến bộ, và sinh nhật Chủ tịch Mao Trạch Đông, lãnh tụ tối cao của nhân dân châu Á, nhân dân châu Á và thế giới hướng về Liên Xô và Trung Quốc lấy lời nói của hai vị lãnh tụ làm phương châm…Nhân dân Việt Nam kính yêu Đại nguyên soái Stalin và Chủ tịch Mao Trạch Đông và tỏ lòng biết ơn công lao vĩ đại của hai vị lãnh tụ đối với Cách mạng thế giới và Cách mạng Việt Nam.[12]
Đại tướng rút ra mấy kinh nghiệm và bài học lớn mà chiến dịch này đã đem lại: 1/Tác dụng quyết định của sự chỉ đạo sáng suốt của Hồ Chủ tịch, Chính phủ và Trung ương Đảng Lao động trong sự nhận định tình hình ngay lúc ban đầu. Nhận định này đã căn cứ trên những phân tách dựa theo lý luận Mác – Lênin và tư tưởng Mao Trạch Đông áp dụng vào chiến tranh ở Việt Nam…[13]
Đại gia đình hòa bình và dân chủ do Liên Xô lãnh đạo đầy tình thân yêu và có một sức mạnh vĩ đại. Chúng tôi tin rằng tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc sẽ cao như núi, sâu như bể…Chúng ta hãy nâng cốc chúc sức khỏe của Mao Chủ tịch, Mặt Trời vĩ đại của phương đông…[14]
Đứng bên cạnh Liên Xô, công ơn của Trung Quốc với chúng ta thật không sao kể xiết. Tỏ lòng biết ơn Trung Quốc, biết ơn Mao Chủ tịch, chúng ta nguyện ra sức học tập Trung Quốc. Trong những điều mà cách mạng Trung Quốc dạy chúng ta, quý báu nhất là kinh nghiệm áp dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác – Ăngghen – Lênin-Stalin vào hoàn cảnh một nước phong kiến lạc hậu thuộc địa, nửa thuộc địa. Đó là tư tưởng Mao Trạch Đông, là kinh nghiệm xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất, đấu tranh vũ trang và xây dựng Đảng lãnh đạo. Đó là ba pháp bảo đã đưa cách mạng Trung Quốc đến thành công rực rỡ, và đã được Hồ Chủ tịch và Đảng Lao động Việt Nam vận dụng vào hoàn cảnh Việt Nam khiến công cuộc kháng chiến và kiến quốc của ta đã thu được nhiều thắng lợi lớn.[15]
Với tư tưởng Mao Trạch Đông kết tinh của chủ nghĩa Mác-Lênin-Stalin áp dụng vào thực tiễn phương Đông, Trung Quốc đang soi đường cho các dân tộc châu Á cùng tiến, để cùng nhân dân thế giới đấu tranh giành độc lập dân tộc và một nền hòa bình, hạnh phúc lâu dài.[16]
Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc như Mao Chủ tịch nói “đã phát triển từ chỗ không đến chỗ có“…Nhưng nắm vững đường lối “đoàn kết toàn dân, tự lực cánh sinh, trường kỳ kháng chiến” của Mao Chủ tịch và Đảng Cộng sản Trung Quốc, quân đội của nhân dân Trung Quốc càng ngày càng giành được nhiều thắng lợi lớn…Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, trong ngót ba chục năm lịch sử chiến đấu vĩ đại đã chứng tỏ rằng một quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu thì dù phải đương đầu với những kẻ thù hung ác thế nào, nhất định sẽ chiến thắng[16]
Nhờ có Mao Chủ tịch và Đảng Cộng sản lãnh đạo, áp dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin- Stalin vào hoàn cảnh Trung Quốc, nhờ quân và dân đoàn kết nhất trí, một lòng một dạ tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng, Quân đội giải phóng và nhân dân Trung Quốc đã chiến thắng phát xít Nhật, bè lũ Tưởng Giới Thạch do Mỹ vũ trang và chỉ huy…Mao Chủ tịch và Đảng Cộng sản đã phát động phong trào “chống Mỹ, giúp Triều, giữ nhà, giữ nước“…Sau ba năm chiến đấu anh dũng, quân dân Trung – Triều đã đánh bại đế quốc Mỹ, buộc chúng phải ký kết đình chiến ở Triều Tiên. Đó là một thắng lợi lớn lao của nhân dân Trung – Triều và của phe hòa bình và dân chủ trên thế giới.[15]

.

Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chủ tịch và Đảng Lao động Việt Nam, nhân dân Việt Nam quyết học tập tư tưởng Mao Trạch Đông, học tập kinh nghiệm Trung Quốc, ra sức tiêu diệt thực dân Pháp và can thiệp Mỹ[17]
Mỗi lần lên diễn đài, việc đầu tiên của chúng tôi là chuyển lời chào cùng lời chúc thắng lợi của Mao chủ tịch và nhân dân Trung Quốc. Thế là hàng vạn con người đứng cả dậy, tiếng hô Mao Chủ tịch muôn năm, Hồ Chủ tịch muôn năm, tình đoàn kết Việt – Hoa vang lên như sấm[17]

.

Phong độ nhân từ, lời nói thấm thía của Người cho chúng tôi cái cảm giác như đứng trước Hồ Chủ tịch thân yêu của chúng ta[18]
Nhân dân Việt Nam tin chắc rằng lực lượng hùng cường và trái tim sắt đá của 600 triệu nhân dân Trung Quốc, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Mao Chủ tịch và Đảng Cộng sản Trung Quốc và được nhân dân châu Á cùng nhân dân thế giới nhiệt liệt đồng tình, nhất định sẽ giành được thắng lợi hoàn toàn, nhất định giải phóng được Đài Loan[19]
Phổ biến kinh nghiệm đấu tranh của nhân dân Trung Quốc, Mao Chủ tịch, lãnh tụ tối cao của nhân dân Trung Quốc và nhân dân châu Á, đã nêu rõ cho nhân dân ta thấy con đường đấu tranh trường kỳ, kiên quyết và bền bỉ chống đế quốc là con đường đi tới thành công hoàn toàn [20]

.

Kính yêu và tin tưởng vào Đại nguyên soái Stalin và Mao Chủ tịch, nhân dân thế giới học tập và quyết tâm thực hiện mỗi lời nói của hai vị lãnh tụ[12]

.

Thể hiện tình cảm cách mạng cao cả của Chủ tịch Mao Trạch Đông kính mến: “700 triệu nhân dân Trung Quốc là hậu thuẫn vững mạnh của nhân dân Việt Nam, đất nước Trung Quốc bao la là hậu phương đáng tin cậy của nhân dân Việt Nam“, Đảng Cộng sản, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc đã luôn luôn dành cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của nhân dân miền Nam Việt Nam sự đồng tình sâu sắc…[21]

Kể từ sau năm 1972, khi quan hệ với Trung Quốc xấu đi, báo chí Việt Nam chỉ trích Mao Trạch Đông vì “tư tưởng bá quyền Trung Quốc”. Văn kiện quan trọng “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua” của Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố ngày 4/10/1979 viết:

Những người lãnh đạo Trung Quốc coi Việt Nam là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu đối với chiến lược của họ, luôn luôn tìm cách nắm Việt Nam… một nước Việt Nam độc lập, thống nhất và giàu mạnh, có đường lối độc lập tự chủ và đường lối quốc tế đúng đắn là một cản trở lớn cho chiến lược toàn cầu của những người lãnh đạo Trung Quốc, trước hết là cho chính sách bành trướng của họ ở Đông nam châu Á… Họ tập trung mọi cố gắng để dấy lên một cuộc “thập tự chinh quốc tế” của các lực lượng đế quốc và phản động chống Liên Xô dưới chiêu bài “chống bá quyền” theo công thức của chủ tịch Mao Trạch Đông: “Ngồi trên núi xem hổ đánh nhau”.[22]

Chú thích

  1. ^ 1900-2000: A century of genocides
  2. ^ HOW MANY DID COMMUNIST REGIMES MURDER? – By R.J. Rummel
  3. ^ Mao Trạch Đông ngàn năm công tội, Tr.5, Nhà xuất bản Thư tác bảng, Hồng Công 2007, Thông tấn xã Việt Nam dịch và in 2009
  4. ^ Mao Trạch Đông ngàn năm công tội, Tr.7, Nhà xuất bản Thư tác bảng, Hồng Công 2007, Thông tấn xã Việt Nam dịch và in 2009
  5. ^ Những năm cuối đời của Mao Trạch Đông qua lời kể
  6. ^ Những bí mật về việc bảo quản thi hài Mao Trạch Đông
  7. ^ Jonathan Mirsky: Unmasking the Monster, The New York Review of Books, Nov 17, 1994, S. 22-28 (Rezension zur englischen Ausgabe von Li Zhisui: Ich war Maos Leibarzt. Die persönlichen Erinnerungen des Dr. Li Zhisui an den Vorsitzenden. Lübbe, Bergisch Gladbach 1994).
  8. ^ DeBorja, Q.M. and Xu L. Dong (eds) (1996). Manufacturing History: Sex, Lies and Random House’s Memoirs of Mao’s Physician. New York: China Study Group. p. 04
  9. ^ Lin Ke, Xu Tao and Wu Xujun (1995). Lishi de Zhenshi: Mao Zedong Shenbian Gongzuo Renyuan de Zhengyan (The Truth of History: Testimony of the personnel who had worked with Mao Zedong). Hong Kong: Liwen Chubanshe. Page 150
  10. ^ [1]
  11. ^ Báo Cứu Quốc ngày 17 Tháng Ba 1952
  12. ^ a ă Cứu Quốc ngày 23 Tháng Mười Hai 1952
  13. ^ Tường thuật Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói chuyện về chiến thắng Hòa Bình, Báo Cứu Quốc ngày 9 Tháng Ba 1952
  14. ^ Nhân Dân ngày 9 Tháng Tám 1954
  15. ^ a ă Cứu Quốc ngày 2 Tháng Hai 1954
  16. ^ a ă Cứu Quốc 2 Tháng Hai 1954
  17. ^ a ă Cứu Quốc ngày 1 Tháng Mười 1952
  18. ^ Cứu Quốc ngày 19 Tháng Một 1952
  19. ^ Nhân Dân 21 Tháng Tám 1954
  20. ^ Cứu Quốc 16 Tháng Hai 1952
  21. ^ Nhân Dân ngày 13 Tháng Ba 1971
  22. ^ “Kỳ 75: Mao Trạch Đông – ‘Hoàng đế đỏ’ của Trung Hoa cộng sản!”. Một Thế Giới. Truy cập 24 tháng 9 năm 2015.

Đọc thêm

Liên kết ngoài

Nhân vật của năm (tạp chí Time)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Nhân vật của năm (Person of the Year, trước năm 1999 là Man of the Year [1]) là danh hiệu được tạp chí Time của Hoa Kỳ bình chọn hàng năm. Đây được xem là cuộc bình chọn có uy tín và được chờ đợi nhất trên thế giới.

Mục lục

Lịch sử

Truyền thống bình chọn Nhân vật của năm được tạp chí Time bắt đầu từ năm 1927, khi các biên tập viên của tờ tạp chí này trăn trở về việc làm thế nào để có những câu chuyện hấp dẫn người đọc trong một tuần lễ “đói” tin tức. Ý tưởng tổ chức bình chọn “Nhân vật của năm” cũng là một nỗ lực nhằm “chữa cháy” cho sai lầm của tạp chí này, khi không đưa Charles Lindbergh lên trang bìa dù ông đã thực hiện được chuyến bay lịch sử xuyên Đại Tây Dương vào đầu năm 1927. Và vì thế, Lindbergh chính là Nhân vật của năm đầu tiên xuất hiện trên trang bìa của Time, việc làm được coi là “một mũi tên trúng hai đích”.

Các biên tập viên của Time luôn chịu trách nhiệm là “ban giám khảo” trong cuộc bình chọn được đánh giá là có uy tín bậc nhất trên toàn cầu. Cứ mỗi năm, tạp chí Time lại đưa ra một danh sách các ứng viên có thể trở thành “Nhân vật của năm”. Kết quả chính thức sẽ được công bố vào cuối năm.[2]

Nhân vật của năm

Năm Chân dung Lựa chọn Năm sinh-năm mất Ghi chú
1927 LindberghStLouis.jpg Charles Lindbergh  Hoa Kỳ 1902–1974
1928 Walter P. Chrysler at White House (cropped).png Walter Chrysler  Hoa Kỳ 1875–1940
1929 Owen D. Young.jpg Owen D. Young  Hoa Kỳ 1874–1962
1930 Portrait Gandhi.jpg Mohandas Karamchand Gandhi  Ấn Độ 1869–1948
1931 Laval 1931.jpg Pierre Laval  Pháp 1883–1945
1932 Franklin D. Roosevelt TIME Man of the Year 1933 color photo.jpg Franklin D. Roosevelt  Hoa Kỳ 1882–1945
1933 1933 Time Man of the Year cover.jpg Hugh Samuel Johnson  Hoa Kỳ 1882–1942
1934 FDR in 1933.jpg Franklin D. Roosevelt  Hoa Kỳ 1882–1945
1935 Selassie restored.jpg Hoàng đế Haile Selassie I  Ethiopia 1892–1975
1936 Wallis Simpson -1936.JPG Wallis Simpson  Hoa Kỳ 1896–1986
1937 Chiang Kai-shek(蔣中正).jpg Tưởng Giới Thạch  Trung Hoa Dân Quốc 1887–1975
Tống Mỹ Linh  Trung Hoa Dân Quốc 1898–2003
1938 Bundesarchiv Bild 183-S33882, Adolf Hitler retouched.jpg Adolf Hitler  Đức Quốc Xã 1889–1945
1939 CroppedStalin1943.jpg Joseph Stalin  Liên Xô 1878–1953
1940 Churchill portrait NYP 45063.jpg Winston Churchill  Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland 1874–1965
1941 Franklin Roosevelt signing declaration of war against Japan.jpg Franklin D. Roosevelt  Hoa Kỳ 1882–1945
1942 JStalin Secretary general CCCP 1942.jpg Joseph Stalin  Liên Xô 1878–1953
1943 General George C. Marshall, official military photo, 1946.JPEG George Marshall  Hoa Kỳ 1880–1959
1944 General Dwight D. Eisenhower.jpg Dwight D. Eisenhower  Hoa Kỳ 1890–1969
1945 Harry S. Truman.jpg Harry S. Truman  Hoa Kỳ 1884–1972
1946 James Francis Byrnes, at his desk, 1943.jpg James F. Byrnes  Hoa Kỳ 1879–1972
1947 General George C. Marshall, official military photo, 1946.JPEG George Marshall  Hoa Kỳ 1880–1959
1948 Truman initiating Korean involvement.jpg Harry S. Truman  Hoa Kỳ 1884–1972
1949 Sir Winston S Churchill.jpg Winston Churchill  Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland 1874–1965 Man of the half-century
1950 Những người lính Quân đội Hoa Kỳ  Hoa Kỳ Trong Chiến tranh Triều Tiên
1951 Mossadegh US04.jpg Mohammed Mossadegh  Iran 1882–1967
1952 Elizabeth and Philip 1953.jpg Nữ hoàng Elizabeth II [n 1] 1926–
1953 Bundesarchiv B 145 Bild-F078072-0004, Konrad Adenauer.jpg Konrad Adenauer  Tây Đức 1876–1967
1954 JohnFosterDulles.jpeg John Foster Dulles  Hoa Kỳ 1888–1959
1955 Mr. Harlow H. Curtice, General Manager. Buick Motor Division.jpg Harlow Curtice  Hoa Kỳ 1893–1962
1956 Những người đấu tranh cho tự do ở Hungary  Hungary
1957 Bundesarchiv Bild 183-B0628-0015-035, Nikita S. Chruschtschow.jpg Nikita Khrushchev  Liên Xô 1894–1971
1958 Bundesarchiv B 145 Bild-F010324-0002, Flughafen Köln-Bonn, Adenauer, de Gaulle-cropped.jpg Charles de Gaulle  Pháp 1890–1970
1959 Dwight D. Eisenhower, official photo portrait, May 29, 1959.jpg Dwight D. Eisenhower  Hoa Kỳ 1890–1969
1960 Các nhà khoa học Hoa Kỳ  Hoa Kỳ Đại diện bởi George Beadle, Charles Draper, John Enders, Donald A. Glaser, Joshua Lederberg, Willard Libby, Linus Pauling, Edward Purcell, Isidor Rabi, Emilio Segrè, William Shockley, Edward Teller, Charles Townes, James Van Allen, và Robert Woodward
1961 John F. Kennedy, White House color photo portrait.jpg John F. Kennedy  Hoa Kỳ 1917–1963
1962 Pope John XXIII - 1959.jpg Giáo hoàng Gioan XXIII  Thành Vatican/ Italia 1881–1963 Là người đứng đầu Giáo hội Công giáo từ 1958 tới 1963. Ông cũng tình nguyện đóng vai trò trung gian hòa giải trong cuộc Khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962.
1963 Martin Luther King Jr NYWTS.jpg Martin Luther King, Jr.  Hoa Kỳ 1929–1968
1964 37 Lbj2 3x4.jpg Lyndon B. Johnson  Hoa Kỳ 1908–1973
1965 Gen William C Westmoreland.jpg William Westmoreland  Hoa Kỳ 1914–2005
1966 Những đứa trẻ trong thời bùng nổ dân số (Baby boomers) Những đứa trẻ sinh ra vào thời kì bùng nổ dân số sau Chiến tranh thế giới thứ hai, lớn lên giữa những năm 1946 – 1964
1967 37 Lbj2 3x4.jpg Lyndon B. Johnson  Hoa Kỳ 1908–1973
1968 Apollo 8 Crewmembers - GPN-2000-001125.jpg Các nhà du hành chuyến bay Apollo 8  Hoa Kỳ William Anders, Frank Borman, và Jim Lovell
1969 Tầng lớp trung lưu Hoa Kỳ  Hoa Kỳ
1970 Bundesarchiv B 145 Bild-F057884-0009, Willy Brandt.jpg Willy Brandt  Tây Đức 1913–1992
1971 Richard M. Nixon, ca. 1935 - 1982 - NARA - 530679.jpg Richard Nixon  Hoa Kỳ 1913–1994
1972 Richard M. Nixon, ca. 1935 - 1982 - NARA - 530679.jpg Richard Nixon  Hoa Kỳ 1913–1994
Henry Kissinger.jpg Henry Kissinger  Hoa Kỳ 1923–
1973 John Sirica  Hoa Kỳ 1904–1992
1974 Faisal of Saudi Arabia - 1941.jpg Quốc vương Faisal  Ả Rập Saudi 1906–1975
1975 Phụ nữ Hoa Kỳ  Hoa Kỳ Đại diện bởi SHoa Kỳn Brownmiller, Kathleen Byerly, Alison Cheek, Jill Conway, Betty Ford, Ella Grasso, Carla Hills, Barbara Jordan, Billie Jean King, Carol Sutton, Susie Sharp, and Addie Wyatt
1976 JimmyCarterPortrait2.jpg Jimmy Carter  Hoa Kỳ 1924–
1977 Anwar Sadat cropped.jpg Anwar Sadat  Ai Cập 1918–1981
1978 DengXiaoping.jpg Đặng Tiểu Bình  Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 1904–1997
1979 خمینی و تکبیر.JPG Ruhollah Khomeini  Iran 1902–1989
1980 Official Portrait of President Reagan 1981.jpg Ronald Reagan  Hoa Kỳ 1911–2004
1981 Lech walesa prezydent RP.gif Lech Wałęsa  Ba Lan 1943–
1982 Máy tính cá nhân Máy móc của năm
1983 Official Portrait of President Reagan 1981.jpg Ronald Reagan  Hoa Kỳ 1911–2004
Jurij Andropov (Bundesarchiv).JPG Yuri Andropov  Liên Xô 1914–1984
1984 Peter Ueberroth.jpg Peter Ueberroth  Hoa Kỳ 1937–
1985 DengXiaoping.jpg Đặng Tiểu Bình  Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 1904–1997
1986 Corazon Aquino 1986.jpg Corazon C. Aquino  Philippines 1933–2009
1987 Mikhail Gorbachev 1987 Cropped.jpg Mikhail Gorbachev  Liên Xô 1931–
1988 Earth Eastern Hemisphere.jpg Trái Đất bị thương tổn Hành tinh của năm
1989 Mikhail Gorbachev 1987 Cropped.jpg Mikhail Gorbachev  Liên Xô 1931– Người của thập kỷ
1990 George H. W. Bush, President of the United States, 1989 official portrait.jpg George H. W. Bush  Hoa Kỳ 1924–
1991 Ted Turner LF.JPG Ted Turner  Hoa Kỳ 1938–
1992 Bill Clinton.jpg Bill Clinton  Hoa Kỳ 1946–
1993 Những người kiến tạo hòa bình (The Peacemakers)  Palestine
 Cộng hòa Nam Phi
 Israel
Đại diện bởi Yasser Arafat, F.W. de Klerk, Nelson Mandela, and Yitzhak Rabin
1994 JohannesPaul2-portrait.jpg Giáo hoàng Gioan Phaolô II  Thành Vatican/ Ba Lan 1920–2005
1995 Newt Gingrich by Gage Skidmore 2.jpg Newt Gingrich  Hoa Kỳ 1943–
1996 David Ho in lab.JPG David Ho  Trung Hoa Dân Quốc/ Hoa Kỳ 1952–
1997 Andrew Grove.jpg Andrew Grove  Hungary/ Hoa Kỳ 1936–
1998 Bill Clinton.jpg Bill Clinton  Hoa Kỳ 1946–
Starr-large (1).jpg Kenneth Starr  Hoa Kỳ 1946–
1999 Jeff Bezos 2005.jpg Jeffrey P. Bezos  Hoa Kỳ 1964–
2000 George-W-Bush.jpeg George W. Bush  Hoa Kỳ 1946–
2001 Rudy Giuliani.jpg Rudolph Giuliani  Hoa Kỳ 1944–
2002 The Whistleblowers  Hoa Kỳ Đại diện bởi Cynthia Cooper (WorldCom), Coleen Rowley (FBI) and Sherron Watkins (Enron)
2003 Những người lính Quân đội Hoa Kỳ  Hoa Kỳ
2004 George-W-Bush.jpeg George W. Bush  Hoa Kỳ 1946–
2005 Những người Samaria nhân lành  Ireland
 Hoa Kỳ
Đại diện bởi Bono, Bill Gates, and Melinda Gates
2006 Các bạn Hàm ý tôn vinh hàng triệu người có những đóng góp cho các mạng xã hội, những trang bách khoa toàn thư điện tử hữu ích và những phần mềm mã nguồn mở.[2] Đại diện bởi cá nhân người phát minh World Wide Web
2007 Vladimir Putin official portrait.jpg Vladimir Putin[3]  Nga 1952–
2008 Official portrait of Barack Obama.jpg Barack Obama[4]  Hoa Kỳ 1961–
2009 Ben Bernanke official portrait.jpg Ben Bernanke[5]  Hoa Kỳ 1953–
2010 Mark Zuckerberg at the 37th G8 Summit in Deauville 037.jpg Mark Zuckerberg[6]  Hoa Kỳ 1984–
2011 Acampadasol20110522.jpg Người Biểu tình [7][8] Đại diện cho phong trào phản kháng toàn cầu – ví dụ Mùa xuân Ả Rập, Phong trào nổi giận, Phong trào Tea Party and Phong trào chiếm đóng – cũng như những cuộc biểu tình tại Hy Lạp, Ấn ĐộNga, và những nơi khác
2012 Official portrait of Barack Obama.jpg Barack Obama[9][10][11]  USA 1961– Năm 2012, Obama tái đắc cử Tổng thống
2013 Pope Francis in March 2013 (cropped).jpg Giáo hoàng Phanxicô[12]  Thành Vatican/ Argentina 1936– Được bầu làm người đứng đầu Giáo hội Công giáo sau khi Giáo hoàng Biển Đức XVI từ chức.
2014 7042 lores-Ebola-Zaire-CDC Photo.jpg Những Dũng sĩ Ebola[13][14] Vinh danh những người chiến đấu chống căn bệnh Ebola
2015 Angela Merkel Juli 2010 - 3zu4.jpg Angela Merkel[15]  Đức 1954– Với vai trò lãnh đạo của bà trong cuộc khủng hoảng nợ công, khủng hoảng người nhập cư châu Âu cũng như cuộc khủng hoảng tại Ukraine.
  1. ^ Ở đây không thể hiện quốc kì vì lúc đó Nữ hoàng Elizabeth II cai trị nhiều quốc gia: Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, Canada, Australia, New Zealand, Ceylon, Pakistan and Cộng hòa Nam Phi

Chú thích

  1. ^ Người đầu tiên được chọn là “Person” of the Year (thay vì “Man” of the Year) là Jeff Bezos của amazon.com.
  2. ^ a ă “Time và cuộc bình chọn Nhân vật của năm”. VnExpress. 21 tháng 11 năm 2011.
  3. ^ “Person of the Year 2007”. Time. 2007. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2012.
  4. ^ “Person of the Year 2008”. Time. 17 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2012.
  5. ^ Grunwald, Michael (ngày 16 tháng 12 năm 2009). “Person of the Year 2009”. Time. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2012.
  6. ^ Grossman, Lev (ngày 15 tháng 12 năm 2010). “Person of the Year 2010”. Time. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2012.
  7. ^ Anh Ngọc (ngày 16 tháng 12 năm 2011). “Chân dung ‘Người biểu tình’ – Nhân vật năm của Time”. VnExpress. Truy cập 16 tháng 12 năm 2014.
  8. ^ Grunwald, Michael (ngày 14 tháng 12 năm 2011). “Person of the Year 2011”. Time. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2012.
  9. ^ Scherer, Michael. “2012 Person of the Year: Barack Obama, the President”. Time Magazine. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2012.
  10. ^ Tổng thống Obama: Nhân vật trong năm của báo Time VOA 19/12/2012
  11. ^ Obama lần thứ hai là ‘Nhân vật của năm’ Anh Ngọc VnExpress 19/12/2012, 21:35 GMT+7
  12. ^ “Pope Francis, The People’s Pope”. Time. 11 tháng 12 năm 2013. Truy cập 11 tháng 12 năm 2013.
  13. ^ “Những dũng sĩ Ebola được bình chọn là Nhân vật của năm”.
  14. ^ “Nhân vật của năm 2014: Vinh danh những người chiến đấu chống Ebola”.
  15. ^ “Angela Merkel”. Time. 9 tháng 12 năm 2015. Truy cập 9 tháng 12 năm 2015.

Liên kết ngoài

 

Bài viết mới trên Tình yêu cuộc sống

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook