Chào ngày mới 29 tháng 8


CHÀO NGÀY MỚI 29 THÁNG 8
Hoàng Kim
CNM365 Tiếng Việt thuyền và biển; Vùng trời nhân văn; Minh triết cho mỗi ngày; Yên Tử Trần Nhân Tông;Lời dặn của Thánh Trần; Thầy Tuệ Trung Thượng Sĩ; Ngày 29 tháng 8 năm 1831, Michael Faraday khám phá hiện tượng cảm ứng điện khi tiến hành thí nghiệm. Ngày 29 tháng 8 năm 1988 ngày mất Lưu Quang Vũ, nhà soạn kịch, nhà thơ và nhà văn hiện đại Việt Nam (sinh năm 1948) và Xuân Quỳnh, nhà thơ Việt Nam (sinh năm 1942). Ngày 29 tháng 8 năm 2003 ,ngày mất Nguyễn Xuân Oánh, trí thức Việt Nam yêu nước, nhà nhân sĩ được cả hai chế độ trọng dụng. Bài chọn lọc ngày 29 tháng 8: Tiếng Việt thuyền và biển; Vùng trời nhân văn; Minh triết cho mỗi ngày; Yên Tử Trần Nhân Tông;Lời dặn của Thánh Trần; Thầy Tuệ Trung Thượng Sĩ; Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-29-thang-8/

TIẾNG VIỆT THUYỀN VÀ BIỂN
Hoàng Kim

Tiếng Việt thuyền và biển
Lưu Quang Vũ Xuân Quỳnh
Hai bài thơ kiệt tác
Một chuyện tình không quên.

Tổ Quốc và Tình yêu
Thiên nhiên với Gia đình
Tím một trời yêu thương
Thăm thẳm lời cảm mến..

Sớm Thu thơ giữa lòng.

Tiếng Việt
Lưu Quang Vũ

Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm
Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về
Có con nghé trên lưng bùn ướt đẫm
Nghe xạc xào gió thổi giữa cau tre.

Tiếng kéo gỗ nhọc nhằn trên bãi nắng
Tiếng gọi đò sông vắng bến lau khuya
Tiếng lụa xé đau lòng thoi sợi trắng
Tiếng dập dồn nước lũ xoáy chân đê.

Tiếng cha dặn khi vun cành nhóm lửa
Khi hun thuyền, gieo mạ, lúc đưa nôi
Tiếng mưa dội ào ào trên mái cọ
Nón ai xa thăm thẳm ở bên trời.

“Ðá cheo leo trâu trèo trâu trượt…”
Ði mòn đàng dứt cỏ đợi người thương
Ðây muối mặn gừng cay lòng khế xót
Ta như chim trong tiếng Việt như rừng.

Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói
Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ
Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa
Óng tre ngà và mềm mại như tơ.

Tiếng tha thiết, nói thường nghe như hát
Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh
Như gió nước không thể nào nắm bắt
Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh.

Dấu hỏi dựng suốt ngàn đời lửa cháy
Một tiếng vườn rợp bóng lá cành vươn
Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối
Tiếng heo may gợi nhớ những con đường.

Một đảo nhỏ ngoài khơi nhiều kẻ nhận
Vẫn tiếng làng tiếng nước của riêng ta
Tiếng chẳng mất khi Loa thành đã mất
Nàng Mỵ Châu quỳ xuống lạy cha già.

Tiếng thao thức lòng trai ôm ngọc sáng
Dưới cát vùi sóng dập chẳng hề nguôi
Tiếng tủi cực kẻ ăn cầu ngủ quán
Thành Nguyễn Du vằng vặc nỗi thương đời.

Trái đất rộng giàu sang bao thứ tiếng
Cao quý thâm trầm rực rỡ vui tươi
Tiếng Việt rung rinh nhịp đập trái tim người
Như tiếng sáo như dây đàn máu nhỏ.

Buồm lộng sóng xô, mai về trúc nhớ
Phá cũi lồng vời vợi cánh chim bay
Tiếng nghẹn ngào như đời mẹ đắng cay
Tiếng trong trẻo như hồn dân tộc Việt.

Mỗi sớm dậy nghe bốn bề thân thiết
Người qua đường chung tiếng Việt cùng tôi
Như vị muối chung lòng biển mặn
Như dòng sông thương mến chảy muôn đời.

Ai thuở trước nói những lời thứ nhất
Còn thô sơ như mảnh đá thay rìu
Ðiều anh nói hôm nay, chiều sẽ tắt
Ai người sau nói tiếp những lời yêu?

Ai phiêu bạt nơi chân trời góc biển
Có gọi thầm tiếng Việt mỗi đêm khuya?
Ai ở phía bên kia cầm súng khác
Cùng tôi trong tiếng Việt quay về.

Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ
Quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn
Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá
Tiếng Việt ơi tiếng Việt xót xa tình…
Đây là một bài thơ hiếm hoi của Lưu Quang Vũ được đăng báo trong những năm người ta từ chối thơ anh. Để đăng được trên báo Văn nghệ, nhà thơ Phạm Tiến Duật khi đó đã phải biên tập sửa ba chỗ như chú thích trong bài. Bản được công bố được coi là bản chính nên các tuyển thơ Lưu Quang Vũ về sau đều in theo bản này. Bản ở đây được chép căn cứ theo bản thảo viết tay gốc của tác giả và được công bố sau này.

Trích đoạn bài thơ này được sử dụng trong đề thi tốt nghiệp THPT quốc gia môn Ngữ văn năm 2016.

Nguồn: Trích dẫn từ Thi Viện.
1. Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, NXB Hội nhà văn, 2010
2. Lưu Quang Vũ, thơ tình, NXB Văn học, 2002
3. Lưu Quang Vũ – thơ và đời, NXB Văn hoá – Thông tin, 1999
4. Thơ Việt Nam 1945-1985, NXB Giáo dục, 1985

Thuyền và biển
Xuân Quỳnh

Em sẽ kể anh nghe
Chuyện con thuyền và biển:

“Từ ngày nào chẳng biết
Thuyền nghe lời biển khơi
Cánh hải âu, sóng biếc
Đưa thuyền đi muôn nơi

Lòng thuyền nhiều khát vọng
Và tình biển bao la
Thuyền đi hoài không mỏi
Biển vẫn xa… còn xa

Những đêm trăng hiền từ
Biển như cô gái nhỏ
Thầm thì gửi tâm tư
Quanh mạn thuyền sóng vỗ

Cũng có khi vô cớ
Biển ào ạt xô thuyền
(Vì tình yêu muôn thuở
Có bao giờ đứng yên?)

Chỉ có thuyền mới hiểu
Biển mênh mông nhường nào
Chỉ có biển mới biết
Thuyền đi đâu, về đâu

Những ngày không gặp nhau
Biển bạc đầu thương nhớ
Những ngày không gặp nhau
Lòng thuyền đau – rạn vỡ

Nếu từ giã thuyền rồi
Biển chỉ còn sóng gió”

Nếu phải cách xa anh
Em chỉ còn bão tố
4-1963

Bài thơ này đã được các nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu, Hữu Xuân phổ nhạc thành các bài hát cùng tên.

Nguồn: Xuân Quỳnh, Chồi biếc, NXB Văn học, 1963, trích dẫn và bảo tồn bởi Thi Viện

VÙNG TRỜI NHÂN VĂN
Bên lề chính sử xưa nay
Hoàng Kim

Gương trời lồng lộng ban mai
Thung dung ta đến vùng trời nhân văn
Thịnh suy thế nước ngàn năm
Anh hùng là kẻ vì dân vì đời.

Bên lề chính sử dạo chơi
Rùa ơi thương Cụ biết nơi chọn về.
Kỳ Lân mộ, Tháp Rùa bia
Bia đời, bia miệng khắc ghi lòng người.

Tìm nơi tỉnh lặng ta ngồi
Tình yêu cuộc sống là nơi thư nhàn
Câu thơ lưu lạc trần gian.
Hoàng Thành Cổ Kiếm Hồ Gươm gọi về.

Vị trí Hồ Gươm trong bản đồ đời Nguyễn và Rùa Hồ Gươm

(*) Vùng trời nhân văn :Nguyễn Du thơ ‘Kỳ Lân Mộ” tại “Bắc Hành tạp lục” là kiệt tác văn chương, thấu tình đạt lý, sức mạnh như một đạo quân, đã làm thay đổi chính sách của  vua Thanh và danh tướng Phúc Khang An tổng đốc Lưỡng Quảng, thay vì báo thù rửa hận cho Tôn Sĩ Nghị, đã giữ hòa hiếu lâu dài với Việt Nam. Nguyễn Du là bậc anh hùng quốc sĩ, kỳ tài hiếm có của dân tộc Việt. Nguyễn Du là bậc anh hùng

KỲ LÂN MỘ
Nguyễn Du

Phương Chi Yên Đệ người thế nào?
Cướp ngôi của cháu, đồ bất nhân.
Mỗi khi nổi giận giết mười họ,
Cổn to vạc lớn hại trung thần
Năm năm giết người hơn trăm vạn
Xương chất thành núi máu chảy tràn
Nếu bảo thánh nhân Kỳ Lân xuất
Buổi ấy sao không đi về Nam?

Nguyên văn chữ Hán

Hà huống Yên Đệ hà như nhân
Đoạt điệt tự lập phi nhân quân
Bạo nộ nhân sinh di thập tộc
Đại bỗng cự hoạch phanh trung thần
Ngũ niên sở sát bách dư vạn
Bạch cốt thành sơn địa huyết ân
Nhược đạo năng vị Thánh nhân xuất
Đương thế hà bất Nam du tường?

BÊN LỀ CHÍNH SỬ XƯA NAY
Hoàng Kim

Bên lề chính sử xưa
Sự tích hồ Gươm và điềm báo quốc biến thời Lê Trịnh SỰ TÍCH HỒ GƯƠM. (Theo) Trần Ngọc Đông: Nhân chuyện cả nước xôn xao khi rùa Hồ Gươm chết nhằm ngày mùng 10 tháng Chạp năm nay. Nhiều người vẫn cứ cho rằng đây là con rùa có từ thời Lê Lợi đã cắp gươm báu mang đi. Nên đánh máy và trích chép lại hai câu chuyện ở trong sách ‘Tang Thương Ngẫu Lục’ của đôi bạn Phạm Đình Hổ- Nguyễn Án viết trong khoảng cuối Tây Sơn đầu đời Nguyễn nói về Hồ Gươm và rùa ở nơi đây.

HoGuom1

Đánh máy lại theo bản khắc in năm Bính Thân 1896 triều Nguyễn. Bản dịch nghĩa của GS Trương Chính-2012 Kết luận: Gươm báu đã bỏ hồ bay đi năm Bính Ngọ 1786, cách đây đã 230 năm. Năm ấy nước nhà có biến lớn, chúa Trịnh đại bại, ít lâu sau thì triều Lê mất.

SỰ TÍCH HỒ GƯƠM
Trích: Tang Thương Ngẫu Lục (Phạm Đình Hổ- Nguyễn Án)

Truyện 1: HOÀN KIẾM HỒ 

Hồ Hoàn Kiếm Thành Thăng Long ở bên cạnh phường Báo Thiên, thông với nước ngoài sông, hình thế rất to rộng. Ấy là nơi Đức Thái Tổ Hoàng Đế tiên triều đánh rơi kiếm. Hồi Thái Tổ khởi nghĩa, ngài bắt được một thanh kiếm cổ, sau khi lên làm vua thường vẫn đeo ở bên mình. Một hôm chơi thuyền ở trong hồ, bỗng một con rùa rất lớn nổi lên mặt nước, bắn không trúng, vua lấy thanh kiếm mà chỉ. Bất đồ thanh kiếm rơi xuống nước, con rùa cũng lặn theo. Vua giận, sai lấp cửa hồ lại, đắp bờ ngang tát hết nước để tìm nhưng chẳng thấy đâu cả. Đời sau, nhân cái bờ ấy chia làm hai hồ Tả Vọng và Hữu Vọng. Cuối đời Cảnh Hưng, có một vật gì mọc lên từ cái đảo trong hồ, sáng rực rỡ rồi tắt. Người ta cho là thanh bảo kiếm đã bay đi.

Phiên âm: Thăng Long Hoàn Kiếm Hồ tại Báo Thiên phường. Tắc dữ giang thủy thông, thế thậm quảng. Hồi tiên triều hoàng Thái Tổ Hoàng Đế Trụy kiếm xứ dã. Sơ Thái Tổ khởi nghĩa thời đắc cổ kiếm nhất khẩu. Đắc quốc hậu thưởng dĩ tự bội. Nhất nhật phiếm chu hồ trung. Cự quy phiếm thủy thượng xạ chi bất trúng dĩ kiếm chi trụy thủy một. Quy tùy kiếm khứ. Đế nộ. Mệnh tắc hồ khẩu, trúc đê kiệt thủy cầu chi bất đắc. Hậu thế nhân kỳ tích phân vi nhị: Tả Vọng, Hữu Vọng. Cảnh Hưng mạt hữu vật tòng đảo khởi quang tán nhi diệt. Nhân dĩ vi bảo kiếm phi.

Truyện 2: KIẾM HỒ (Hồ Gươm)

Mùa hạ năm Bính Ngọ, niên hiệu Cảnh Hưng (1786) đương nửa đêm, giữa hồ Hoàn Kiếm, bỗng có những vật đỏ ối hiện ra trên đảo, tia sáng nhoáng tỏa ra bốn phía, bay về bờ phía Nam rồi biến mất. Sau đó sóng gió ầm ầm nổi lên. Sáng hôm sau thấy xác tôm cá nổi trên mặt nước không biết bao nhiêu mà kể. Có người nói, ở trên nóc nhà Trung Hòa Đường trong phủ Chúa cũng hiện ra những vật tương tự, ánh sáng tỏa ra bốn phía rồi tự nhiên tắt ngấm. Chưa bao lâu xảy ra việc quốc biến (*). Phiên âm: Lê Cảnh Hưng Bính Ngọ niên hạ. Kiếm Hồ dạ bán hữu vật tòng đảo khởi tứ tán phi nam ngạn nhi diệt. Ba đào hỗn dũng . Lạp nhật ngư hà phù thủy thượng bát khả thắng số. Hữu vân vương phủ Trung Hòa Đường hữu vật tòng khởi quang tán nhi diệt diệc như chi. Vị kỷ quốc biến.

(*) Quốc biến: Nguyễn Huệ ra bắc đánh nhà Trịnh

Bên lề chính sử nay

Rua oi


RÙA ƠI
Hoàng Gia Cương

Rùa ơi quá nặng phải không
Cõng bia Tiến sĩ lưng còng vậy ư?
Mấy trăm năm gội nắng mưa
Dẫu cho mòn đá cũng chưa xao lòng!

Hoa đời như sắc phù dung
Đổi thay sớm tối, khôn lường thịnh suy
Ngàn năm còn mất những gì?
Mà hàng bia vẫn rạng ghi tên người!

Biết ơn rùa lắm, rùa ơi
Giữ cho ta một khoảng trời nhân văn
Để tôn vinh bậc trí nhân
Để nền văn hiến ngàn năm không nhoà!

Rùa ơi, ta chẳng là ta
Nếu như đạo học lìa xa đất này!

Nguồn: Hoàng Gia Cương thơ hiền có bài thơ “Rùa ơi”
(Nhà xuất bản Giáo dục, 2005)

Đồng chí ấy là ai?

Khi đồng chí ấy là ủy viên Trung ương Đảng mà vẫn rụt rè gửi người bạn học tập hồ sơ xin việc cho con, dù bằng cấp, trình độ đào tạo của con mình hoàn toàn đầy đủ. Rồi ngay cả khi con không được tiếp nhận, ông vẫn khiêm nhường cảm ơn, thậm chí cáo lỗi với người bạn được nhờ. Khi đồng chí ấy là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội nhưng về thăm ngôi trường cấp 3 Nguyễn Gia Thiều, ông vẫn xin được đứng sau khi chụp ảnh, nhường ghế ngồi hàng đầu cho các thầy cô, bạn học lớn tuổi hơn. Khi đồng chí ấy là người đứng đầu Thủ đô vẫn lặng lẽ một mình đi xe máy về thăm Trường Đại học Tổng hợp trong sự ngỡ ngàng của cô thầy bè bạn. Không xe đưa rước, không trống rong cờ mở, không võng lọng nghênh ngang, chỉ là một người đàn ông cao tuổi tự đi xe về trường. Khi đồng chí ấy là Chủ tịch Quốc hội, tứ trụ triều đình, đám cưới con gái ông ấy hầu như không ai biết. Sau đó một số bạn bè thân lắm mới nhận được thiếp báo hỷ mà thôi. Và khi đồng chí ấy là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, đi dự gặp mặt lớp cũ ông ấy đã nói: Xin cho em, cho tôi bỏ mọi chức tước bên ngoài căn phòng này. Em đến đây mãi mãi là học trò của các thầy các cô ngày nào. Tôi đến đây mãi mãi là bạn học của các bạn… Chức tước như phù vân !

Hôm vừa rồi lại có bạn đồng nghiệp nói về chị N, con ông ấy, tôi hỏi mãi mới ra, chị ấy giờ cũng chỉ là cán bộ bình thường ở một tạp chí. Đấy chẳng phải đâu xa, đồng chí ấy là một vị quan đương chức đang hiển hiện trước mắt chúng ta. Một người đàn ông gần 80 tuổi có gương mặt hiền hòa, mái tóc trắng tinh thường mặc chiếc áo rét màu cánh gián đã cũ rất nhiều năm. Bạn có biết, người đàn ông đang được nhắc đến đã, đang là: – Ủy viên Trung ương Đảng 6 khóa (hơn 26 năm); Đại biểu Quốc hội 4 khóa (hơn 18 năm); Ủy viên Bộ Chính trị 5 khóa (hơn 22 năm); Đảm nhiệm 3 chức vụ cao nhất. Thế nhưng… – Đồng chí ấy vẫn đang sử dụng xe công vụ là một chiếc Toyota Crown 1998 có tuổi đời đã hơn 20 năm. Phu nhân của ông ấy vẫn đi một chiếc xe Cub bình thường; các con ông ấy đều là những công chức nhỏ bé.

Nếu chúng ta để ý, có lẽ ngoài dịp thực hiện nghi lễ, hay gặp đoàn lãnh đạo cấp cao, ông ấy mới mặc vest. Còn lại với những hoạt động bình thường ông chỉ mặc những bộ quần áo giản dị, có những chiếc áo cũ đến sờn vai. Một cuộc sống giản dị xuất phát từ đạo đức của con người biết giữ gìn sự liêm sỉ cá nhân, hòa chung với cuộc sống của quần chúng nhân dân. Đồng chí ấy là Nguyễn Phú Trọng – Một con người, một nhân cách lớn, có Tầm, có Tâm, và có đạo đức. Ông ấy chính là một “vị quan” biết con đường để tu dưỡng của mình, vì đạo đức của vị quan đứng đầu bộ máy ảnh hưởng lên cuộc đời, sự nghiệp của nhiều người khác. Người làm quan mà lòng tham không kiềm chế được thì ảnh hưởng của họ sẽ đè lên công chúng vô cùng lớn và còn gây hại tới tiềm lực quốc gia.

Thơ Lưu Quang Vũ nguồn Hoài Vân
Có những trang viết không nỡ để quên lãng

NÓI VỚI MÌNH VÀ CÁC BẠN
Lưu Quang Vũ
1
Chúng ta tụm năm tụm ba
Họp hành, giễu nhau, uống trà, đọc thơ, đi thực tế
Ta viết những suy tư ngây ngô vờ là trí tuệ
Những câu nhạt phèo chiếu lệ
Những lời nhàm tai ai cũng quen rồi
Mọi người quanh ta mang nỗi khổ oằn vai
Ngược đất nước tai ương xé rách
Ta viết mãi những điều vô ích
Vô duyên sao ta cứ nhoẻn miệng cười
Như phường bát âm thánh thót
Mong cuộc đời xuôi tai.Tôi không muốn viết những lời như thế
Tôi không thể viết những lời như thế
Chẳng muốn ai vui lòng khi đọc thơ tôi
Tôi viết những bài thơ chống lại chính tôi
Chống lại bóng đen trì trệ của đời
Chống lại những bài thơ tôi đã viết cùng những ai ưa thích nó
Làm sao đọc thơ tôi anh giận dữ băn khoăn xấu hổ
Cãi lại tôi hay ghét tôi đi nữa
Nhưng anh thôi hờ hững sống bình yên
Tôi xé đi vòng hoa giấy bức màn sương
Những niềm vui dại khờ những nỗi buồn yếu đuối
Cuộc sống còn dở dang
Cần đóng góp không cần ngồi ca ngợi.

2
Thơ không phải là chứng minh
Không phải hào quang phản chiếu của tấm gương
Thơ là bó đuốc đốt thiêu là bàn tay thắp lửa
Thơ sinh sự với cuộc đời không cho ai dừng bước cả
Càng thương yêu càng không vừa ý với mọi điều
Đã qua cái thời nhà thơ nhìn đời bằng con mắt trong veo
Con mắt xanh non ngỡ ngàng như mắt trẻ
Hát cái lá mùa xuân ca lời chim son sẻ
Thơ tươi mát cuộc đời và an ủi lòng ta
Nhưng đến nay tất cả đã vỡ ra
Giữa tàn bạo hư vô giữa đấu tranh khốc liệt
Thơ phải dạy ta nhìn bằng con mắt thật
Đập vào ngực ta không cho ta cúi mặt
Không cho ta lảng tránh
Đập cửa mọi nhà
Đứng ở mọi ngã ba
Không hát ta say mà lay ta thức
Dù ngày mai đời có trăm lần đẹp
Thơ vẫn gọi mọi người vươn đến tương lai.

3
Ta đã làm gì? như lũ viết thuê
Chạy theo những biển hàng ngắn ngủi
Những khuôn phép những trang in những hư danh một buổi
Ta nịnh người để người lại khinh ta
Sớm già cỗi, cố quên đi phẩm cách
Muốn yên thân ta trở thành hèn nhát
Nhân dân có cần thơ của ta đâu ?
Các bạn tôi hiền lành trong sạch
Là bạn nhau thôi chắc là bạn tốt
Nhưng bạn ơi ta là những nhà thơ
Lòng tốt ở đây chẳng đáng một xu
Càng có tài lộc lọc lừa càng nặng
Để yên ổn lương tâm ta tìm đến nhau thở than bực dọc
Rồi lại về cần cù ngồi viết nhảm
Ta an ủi mình đang thời buổi khó khăn
Nhưng nào có thời buổi nào không khó
Và nếu dễ, cần gì thơ ta nữa ?
Nhân dân quá hiền, nhân dân chưa xé bỏ
Những ngọt ngào hoa cỏ của ta
Những nụ cười ngộ nghĩnh của ta
Những trầm tư về thế kỷ của ta
Lắm kiểu nói mà giống nhau đến thế
Nịnh đời dễ, chửi đời cũng dễ
Chỉ dựng xây đời là khó khăn thôi.Đừng hiểu sai lòng tôi
Làm việc cô đơn thật là quá sức
Sau những lúc bông phèn bên các bạn
Tôi càng thêm buồn chán đến rùng mình
Đã quá nhiều người làm tôi thất vọng
Tôi chỉ còn các bạn nữa thôi.
Hạnh phúc của tôi là được các bạn mến yêu
Là được mến yêu và tin các bạn
Thế hệ mình cần những người dũng cảm
Dũng cảm yêu thương dũng cảm căm thù
Ta đã hẹn cũng nhau đi tới đích
Nay rất buồn nếu phải chia xa.Nước lũ qua sẽ còn lại phù xa
Những tình yêu những ước vọng thiết tha
Dẫu bay đi không một lời đáp lại
Dẫu trơ trọi trong lạnh lùng bóng tối
Dẫu đường dài xa ngái
Đừng phút nào mệt mỏi, thơ ta ơi.

ĐÊM ĐÔNG CHÍ UỐNG RƯỢU VỚI BÁC LÂM VÀ BÁC KHÁNH
NÓI VỀ NHỮNG CUỘC CHIA TAY THỜI LOẠN
Lưu Quang Vũ

(“Bác Lâm” là Nguyễn Lâm, có biệt danh là “Lâm đầu bạc”, người đã cưu mang anh Vũ trong những ngày khốn khó và khốn khổ nhất của anh thời tuổi trẻ trước 1975. “Bác Khánh” là nghệ sĩ nhân dân, đạo diễn điện ảnh Đào Trọng Khánh ở Hải Phòng. Bối cảnh bài thơ là bác Khánh từ Hải Phòng lên Hà Nội vào một đêm đông đầu thập niên 1970 và đã diễn ra một cuộc rượu như tên bài thơ đã nói.)

Nhang tàn lả tả rơi lưng cốc
Nhà lạnh trần cao ngọn nến gầy
Chăn rách chiếu manh quần áo lạ
Chuyện dài đêm vắng rượu buồn say

Gió hú ầm ào qua gạch vỡ
Người chết vùi thân dưới hố bom
Kẻ sống vật vờ không chốn ở
Lang thang trẻ ốm ngủ bên đường

Cơ sự làm sao đến nỗi này
Mông lung không đoán được ngày mai
Máu chảy thành sông thây chất núi
Bè bạn tan hoang mình rã rời

Thơ Khánh buồn như lòng đất nước
Thơ hay đời loạn chẳng đâu dùng
Vườn cũ cây tàn chim chết cả
Người chơi đàn nguyệt có còn không

Mọi chuyện thiêng liêng thành nhảm nhí
Khắp nơi trí trá lọc lừa nhau
Nước Pháp khôn ngoan nước Nhật giàu
Nước Mỹ lắm bom mà cực ác

Nước Nga hiềm khích với nước Tàu
Nước Việt đói nghèo thân cơ cực
Đất hẹp trụi trần vạn khổ đau
Tối đen thành phố đêm lưu lạc

Máy bay giặc rít ở trên đầu
Ba đứa da vàng ngồi uống rượu
Mặt buồn như sỏi dưới hang sâu
Chúng mình không có bom nguyên tử

Chỉ có thuốc lào hút với nhau
Thương nhà thương nước thương cho bạn
Không khóc mà sao cổ nghẹn ngào
Thôi nhé mai này tiễn Khánh đi

Đường xa bom phá tàu không về
Lênh đênh ai hát ngoài song cửa
Bài ca thanh bình đêm cũ
“Hoa lá quên giờ tàn
Mây trắng bay tìm đàn”

Ngày xưa yên ấm quá
Trẻ hát đồng dao trên phố
Con trai xách điếu đi cày
Con gái quang liềm gặt lúa

Bao giờ hết loạn người ơi
Cạn cùng nhau chén nữa
Tàn canh là xa xôi
Lòng như vầng trăng nhọn
Chém giữa trời không nguôi.

Nguồn: Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, NXB Hội nhà văn, 2010

GỬI MỘT NGƯỜI BẠN GÁI
Lưu Quang Vũ

Ta lớn lên cửa sổ thay màu
Nghe tiếng chim không thấy mùa nắng nữa
Con thuyền giấy nát nhàu sau trận gió
Thành phố nghèo hơn và cũng buồn hơn.

Mưa không mơ hồ mà tàn nhẫn từng cơn
Quyển sách cũ bài thơ nhoè nét chữ
Em đã tin trời xanh ngoài cửa sổ
Trời đen sầm cửa sập nát vai em.

Tưởng hoa hồng là hương của đêm
Hoa đã rụng và em không khóc được
Những câu hỏi ban đầu đơn giản nhất
Ngỡ giải đáp rồi nay vẫn xé lòng em.

Trang sách tình yêu có ngôi sao lên
Không giống với cuộc đời thô bạo
Vì ta lầm đường hay vì trời nổi bão
Thương bạn bè ngơ ngác ngóng tin nhau.

Ngày xưa anh có hẹn hò đâu
Thư em viết anh chẳng hề đáp lại
Em nông nổi như một dòng suối chảy
Tin bình minh nhưng chỉ gặp sương chiều.

Giữa chiến tranh hiểu đời thực hơn nhiều
Rách tan cả những làn sương đẹp phủ
Chỉ còn lại nỗi buồn trơ núi đá
Điều em tin là nhảm nhí mà thôi.

Nơi xa xôi lầy lội mưa dài
Ngôi trường nhỏ một ngọn đèn khuya khuắt
Em có nghĩ về ngôi sao đã mất
Khi mùa hè vẫn trời thẳm như xưa.

Đường về em lận đận chuyến tàu trưa
Ga vắng vẻ chỉ có mùi đá khét
Chiếc cốc rơi, mọi điều tan vỡ hết
Em có còn mong ước nữa không em ?

Lưu Quang Vũ Xuân Quỳnh

SỰ THẬT VỀ CÁI CHẾT CỦA GIA ĐÌNH NHÀ SOẠN KỊCH TÀI BA LƯU QUANG VŨ ! TỔNG CỤC 2 CÓ LIÊN QUAN?

Vì An Ninh Tổ Quốc 2 Tháng 5, 2013

Nguyễn Văn Hoàn, công an thuộc Tổng Cục 2 đã xác nhận với nhà văn Nguyễn Xuân Nghiã như sau “Anh có biết vụ tai nạn giao thông của Lưu quang Vũ không? So với Lưu quang Vũ, anh thuộc loại vô danh tiểu tốt. Vụ tai nạn ấy cũng chìm đi. Còn anh chỉ là vô danh tiểu tốt thôi! ” Chúng tôi trích lại bài tường thuật cái chết của Lưu Quang Vũ, vợ và con năm 1988 để rộng đường dư luận

Cái chết của vợ chồng Lưu Quang Vũ – Xuân Quỳnh và đứa con nhỏ đã trở thành nỗi ám ảnh không thể nào nguôi đối với thân nhân của họ và nhiều người khác. Riêng đối với gia đình hoạ sĩ Doãn Châu – những người cùng ngồi trên chiếc xe bị nạn – thì cái ngày kinh hoàng đó lúc nào cũng như chỉ mới hôm qua. (Nguồn: Lê Bảo Trung – Dân Trí)

Tường thuật của những nhân chứng sống

Chúng tôi tìm tới hoạ sĩ Doãn Châu ở khu tập thể nhà hát Kịch Việt Nam. Ông Châu (hiện đã 64 tuổi) cùng vợ sống trong một căn hộ chật hẹp phía sau Nhà hát Lớn. Riêng ông Châu thì có một xưởng vẽ nhỏ. Đã mấy năm nay, ông thường sống khép mình trong xưởng, hàng ngày chỉ chuyên tâm sáng tác.

Đã 18 năm trôi qua, kể từ ngày vợ chồng Lưu Quang Vũ ra đi, trong ký ức của đôi vợ chồng nghệ sĩ Doãn Châu – Bích Thu (nguyên diễn viên Nhà hát Kịch Việt Nam), những hìnhh ảnh về chuyến xe định mệnh vẫn không hề phai nhòa ngay cả từng chi tiết nhỏ.

Nghệ sĩ Doãn Châu là người bạn thân (hai người kết giao với nhau từ năm 1976) và cũng là người cộng tác trong hầu hết các vở kịch nói do Lưu Quang Vũ viết. “Trong số hơn 50 tác phẩm kịch Lưu Quang Vũ viết thì tôi làm sân khấu tới hơn 30 vở, như Hồn Trương Ba da hàng thịt, Sống mãi tuổi 17, Ông không phải là bố tôi, Chết cho điều chưa có… Phải 2 – 3 năm nau khi Vũ mất, tôi mới làm việc trở lại”, ông Doãn Châu nói.

Với ông Châu, vụ tai nạn là một kỷ niệm buồn, không muốn nhắc tới. Nhưng rồi một hồi lâu, sau khi dồn nén những xúc động vào lòng, ông kể: “Mùa hè năm 1988, tôi và Vũ bàn nhau kế hoạch đưa cả hai gia đình đi nghỉ. Nhưng mãi đến tận đầu tháng 8 vẫn chưa thực hiện được dự định. Nhân chuyện tôi và Vũ làm vở Hai nghìn ngày oan trái với Đoàn kịch Hải Phòng, đoàn mời cả hai gia đình chúng tôi về Đồ Sơn tắm biển và kết hợp đọc vở. Chúng tôi dự định ngày 16/7 âm lịch sẽ khởi hành”.

Tuy nhiên, khi đưa ý định đó ra thì bà Bích Thu đã ngăn cản. Bà Thu nhớ lại: “Không hiểu sao lúc đầu, tôi ngăn cản chuyến đi rất kịch liệt, nhưng sau cùng lại đồng ý, cũng là chiều lòng mọi người. Tôi bảo: Nếu đi thì để sau rằm”.

Trước đó một ngày, rằm tháng bảy – ngày xá tội vong nhân, gia đình Doãn Châu làm cơm mời cả nhà Lưu Quang Vũ sang ăn. Bữa cơm rất vui. Sau bữa ăn, cả nhà rôm rả bàn bạc về chuyến đi ngày hôm sau. Xuân Quỳnh vốn tính chu đáo, cẩn thận, lo mang theo cả bếp điện, nồi, phin cà phê, đồ ăn thức uống…

Chiều 27/8, hai gia đình về đến Đồ Sơn, đi bằng chiếc com-măng-ca thuê từ Hà Nội. “Nói là đi nghỉ nhưng thật ra chỉ có nhà tôi, chị Quỳnh và hai cháu được thảnh thơi, còn tôi và Vũ vẫn phải bận bịu vì công việc. Ngay đêm đó, khi mọi người đi nghỉ, tôi và Vũ kéo nhau ra hành lang uống nước chè, hút thuốc lào và trao đổi công việc ngày hôm sau.

Sáng 28/8, Vũ đọc kịch bản Hai nghìn ngày oan trái cho Đoàn kịch Hải Phòng, công việc diễn ra hết sức suôn sẻ. Sau bữa cơm chiều, cả hai gia đình kéo nhau ra bờ biển. Đã lâu lắm chúng tôi mới có một đêm thư giãn như thế này.

Vũ kể rất cởi mở với tôi quãng đời đã qua của mình. Cả một quá khứ bị đánh thức. Có những chuyện mãi mãi là của Vũ, tôi không đủ đồng cảm để sẻ chia. Với những chuyện ấy, tôi chỉ biết thương Vũ, dành cho Vũ những lời an ủi, lời khuyên của một người bạn” – Ông Châu trầm tư bên làn khói thuốc.

“Hai nghìn ngày oan nghiệt” hay chuyến đi oan nghiệt

Rất tình cờ, ông Doãn Châu thoát chết trong thảm kịch ấy. “Ở Đồ Sơn đến ngày thứ ba thì Vũ nhớ hẹn với anh Hoàng Quân Tạo ở Đoàn kịch Hà Nội. Ăn trưa xong, Vũ cứ bồn chồn, đứng ngồi không yên. Vũ giục về luôn, nhưng đã hẹn chờ anh Lân ở Đoàn Hải Phòng để cùng về Hà Nội nên cứ nấn ná mãi”, ông Châu kể.

Chiều 29/8, chiếc xe chở hai gia đình về Hà Nội. Dọc đường đến cầu Lai Vu, xe đỗ, mấy phụ nữ xuống mua một rổ ổi. Lúc đó Mí và Vinh ngồi đánh cờ phía băng ghế bên phải. Ông Châu và Lưu Quang Vũ kẻ nằm người ngồi dưới sàn xe còn Xuân Quỳnh và bà Bích Thu ngồi phía băng ghế đối diện.

Khoảnh khắc xảy ra tai nạn nhanh đến khó tả. Đến gần cầu Phú Lương, Vinh và Mí buồn ngủ. Xuân Quỳnh đổi chỗ cho Vinh để giữ Mí. Vinh chuyển sang băng ghế bên trái nằm gối đầu lên bà Thu. Ông Châu đang nằm dưới sàn xe cũng chuyển lên ngồi băng ghế bên trái, giữ chân con trai.

Lúc này Lưu Quang Vũ nói tếu: “Thôi, tôi về chỗ tôi đây”, và ông chuyển về ngồi ghế “thủ trưởng” bên cạnh lái xe. Xe qua cầu Phú Lương, đi trên đường vừa hẹp vừa xuống dốc. Trước mặt có chiếc xe Kamaz đang đi chầm chậm. Đường dốc nên xe nào qua đây cũng phải thận trọng.

Bất chợt, có hai phụ nữ đội nón đèo nhau trên xe đạp, lao từ đê xuống đường, cắt qua mặt xe Kamaz, chiếc xe này phanh khựng lại. Người lái chiếc xe com-măng-ca đang bám sau định đánh tay lái vượt lên. Và chỉ trong tích tắc ấy, một chiếc xe ben phía sau đã mất phanh đâm sầm vào đuôi chiếc com-măng-ca, đẩy xe này vào gầm xe Kamaz phía trước.

Cả gia đình Lưu Quang Vũ ngồi phía bên phải bị văng xuống đường. Ông Châu xác nhận đó là khoảng 14h40 phút ngày 29/8/1988 (trước đây nhiều nguồn tin nói là 15h30 phút).

“Hoa vàng ở lại”… mây trắng về trời

Cho tới tận bây giờ, bà Bích Thu vẫn không thôi bị ám ảm mỗi khi ngồi sau xe bất cứ ai. Bà sợ cảm giác sẽ bị ai đó đâm lên từ đằng sau giống như vụ tai nạn cách đây 18 năm: “Tôi đang ngồi thì bỗng rầm một tiếng, rồi tôi thấy một cơn mưa trắng xoá ở đâu quất đầy lên mặt”. Cái mà bà Thu miêu tả – cơn mưa trắng – chính là kính xe bị vỡ vụn.

Ông Châu lúc đó đang ngồi gà gật thì chỉ nghe thấy một tiếng “rầm”, cả chiếc xe nẩy tung: “Khi tôi mở mắt ra thì cảnh tượng thật hãi hùng. Quỳnh và cháu Mí nằm im không nhúc nhích. Vũ chỉ còn khe khẽ thở. Tôi cởi áo may ô gối lên đầu cho Vũ. Vũ thều thào: “Thằng Mí đâu rồi?”.

Đó là câu cuối cùng Lưu Quang Vũ còn nói được. Xuân Quỳnh và Mí thì đã chết ngay sau cú đâm xe. Bà Thu dập tay phải, ông Doãn Châu găy xương sườn số 11, rách trán. Duy nhất một người không hề xây xát là Doãn Vinh – con trai ông Châu.

Sau một hồi van vỉ các xe qua đường nhờ đưa người đi cấp cứu, cuối cùng ông Châu cõng Lưu Quang Vũ lên một chiếc xe tải đến bệnh viện: “Cách thị xã Hải Dương 3km thì cảnh sát giao thông chặn lại không cho đi tiếp.

Tôi nói: Đây là Lưu Quang Vũ, nhân tài của đất nước. Cảnh sát nói: “Tôi biết nhưng chiếc xe đã gãy nhíp, đi tiếp rất nguy hiểm”. Tôi đành bế Vũ xuống, vẫy xe khác. Đến bệnh viện Hải Dương, đầu Vũ ngoẹo sang một bên. Mấy cô y tá, hộ lý nhìn thấy tôi cõng Vũ thì hỏi luôn: “Đánh nhau hả?”. “Không, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ bị tai nạn xe”.

Các bác sĩ nghe thế thì nhiệt tình cứu chữa, nhưng không kịp… Vũ trút hơi thở cuối cùng lúc 15h20 phút. Cho đến giờ, mỗi khi nhớ lại khoảnh khắc ác nghiệt ấy, tôi vẫn cứ nghĩ: nếu hôm đó xe xuất phát sớm hơn hoặc muộn hơn một chút liệu tai nạn có xảy ra không?…

Sau khi xảy ra tai nạn, dư luận xôn xao, rằng liệu đó có phải là một vụ mưu sát. Nhưng những diễn biến trước khi vụ tai nạn xảy ra cho thấy: Nếu có một bàn tay nào đó sắp đặt thì đó chính là số mệnh. Vụ án sau đó được xử tại toà án Hải Dương. Lái xe gây tai nạn bị xét xử tù giam 10 năm.

Nhiều năm đi qua, kể từ ngày xảy ra vụ tai nạn, song nhắc đến Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ, không ai cầm nổi nỗi xót thương. Với họ, Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ chỉ như đang đi xa, một chuyến công tác dài…

Hoàng Kim tư liệu sưu tầm bên lề chính sử

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook; Kim on Twitter

Chào ngày mới 29 tháng 8



CNM365. Chào ngày mới 29 tháng 8. Wikipedia Ngày này năm xưa. Năm 1831 Michael Faraday khám phá hiện tượng cảm ứng điện khi tiến hành thí nghiệm. Năm 1988 – ngày mất Lưu Quang Vũ, nhà soạn kịch, nhà thơ và nhà văn hiện đại Việt Nam (sinh năm 1948) và Xuân Quỳnh, nhà thơ Việt Nam (sinh năm 1942). Năm 2003 – ngày mất Nguyễn Xuân Oánh, trí thức Việt Nam yêu nước, nhà nhân sĩ được cả hai chế độ trọng dụng.

29 tháng 8

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày 29 tháng 8 là ngày thứ 241 (242 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 124 ngày trong năm.

« Tháng 8 năm 2015 »
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28 29
30 31

Mục lục

Sự kiện

Sinh

Mất

Những ngày lễ và kỷ niệm

Tháng 1 | Tháng 2 | Tháng 3 | Tháng 4 | Tháng 5 | Tháng 6 | Tháng 7 | Tháng 8 | Tháng 9 | Tháng 10 | Tháng 11 | Tháng 12

Tham khảo