Chuyện vỉa hè


Caphe
Chuyện hy hữu, trước dư luận ồn ào rồi, nay lại nghe kiện, không rõ Tòa xử thế nào? Ông Cù Huy Hà Vũ ngày 14 tháng 10 năm 2015 đã gửi đơn tới Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ đạo UBND thành phố Hà Nội cưỡng đoạt đất ở của ông Cù Huy Hà Vũ đang sử dụng với tư cách là người thừa kế duy nhất di sản của Nhà thơ để giao cho bà Trần Lệ Thu mà không vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia công cộng là trái pháp luật.

Vì theo điều 53 của luật Đất đai về Giao đất, cho thuê đất đối với đất đang có người sử dụng cho người khác (Việc Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất đối với đất đang có người sử dụng cho người khác chỉ được thực hiện sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thu hồi đất theo quy định của Luật này và phải thực hiện xong việc bồi thường hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật đối với trường hợp phải giải phóng mặt bằng) và khoản 1 điều 16 Luật đất đai về nhà nước quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất (Nhà nước quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây: Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia công cộng).

Đây là lần thứ ba Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ khởi kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về hành vi trái Hiến pháp và pháp luật. Trước đó, ngày 11 tháng 6 năm 2010, ông Vũ đã khởi kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng do đã ban hành trái pháp luật Quyết định phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm do, khai thác, chế biến, sử dung quặng bauxite tại Tây Nguyên, xâm phạm môi trường, an ninh quốc gia và văn hóa bản địa. Ngày 21 tháng 10 năm 2010, ông Vũ tiếp tục khởi kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về ban hành trái Hiến pháp và pháp luật Nghị định cấm công dân khiếu nại tập thể. Cho đến nay, Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ là người Việt Nam duy nhất kiện một lãnh đạo Nhà nước và Đảng cộng sản Việt Nam ra tòa án Việt Nam.

ÔNG CÙ HUY HÀ VŨ KHỞI KIỆN TT NGUYỄN TẤN DŨNG VÀ UBND TP HÀ NỘI

H1

H2

H1 (2)

H4H5H6H7H8H1 (2)

H2 (2)H3 (2)

H4 (2)H5 (2)H6 (2)H7 (2)H8 (2)

H1

H2

H3

H4

H1

H2

H3

H1

H5Nguồn: ABS

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

Chuyện vỉa hè


VisaoNamTuTÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Tại sao Nam Tư ? Hoàng Kim. Nghe chuyện vỉa hè “Tại sao Stalin?” suy ngẫm cuộc đối thoại của Stalin và Tưởng Kinh Quốc về Mông Cổ, nhớ lại các cuộc đối thoại của Stalin và Josip Broz Tito. Họ đều là những nhân vật lịch sử lưu lại những dấu ấn khó phai mờ, và sự thiếu vắng họ đều dẫn đến kết cục thay đổi. Tại sao Nam Tư hợp rồi tan? Tại sao Serbia lại như hiện nay? Nghiên cứu lịch sử sẽ tìm thấy câu trả lời.

Nam Tư dưới sự lãnh đạo của Josip Broz Tito đã chuyển từ Vương quốc Nam Tư thành chính thể cộng hòa liên bang Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư đứng về  khối phía đông vào lúc bắt đầu Chiến tranh Lạnh, tuy nhiên sau chia rẽ Tito-Stalin năm 1948 thì liên bang này đã theo đuổi một chính sách trung lập, và trở thành một trong những thành viên sáng lập của Phong trào không liên kết. Sau cái chết của Tito năm 1980, sự chia rẽ giữa các dân tộc trong các nước cộng hòa thành viên, tiếp theo là các cuộc đàm phán bất thành giữa các nước cộng hòa kèm theo sự công nhận độc lập của một số quốc gia châu Âu năm 1991 đã  khiến cho nhà nước Nam Tư sụp đổ và khởi đầu Chiến tranh Nam Tư.

Chép lại một phần câu chuyện vỉa hè về tư liệu “đối thoại của Stalin và Tưởng Kinh Quốc về Mông Cổ” đã đọc ở “Điếu Ngư Đài Quốc Sự Phong Vân”, lược bớt lời bình.
Ghi chú thêm về Nam Tư để thấu hiểu tình hình hiện tại. “Hoạ phúc hữu môi phi nhất nhật, Anh hùng di hận kỉ thiên niên”. Họa phúc có nguồn, đâu bỗng chốc? Anh hùng để hận dễ gì nguôi ? (Quan hải- Nguyễn Trãi).

Đọc lại và suy ngẫm.

Hoàng Kim học để làm ở Ấn Độ

xem thêm

ĐỐI THOẠI CỦA STALIN VÀ TƯỞNG KINH QUỐC VỀ MÔNG CỔ

Tưởng Kinh Quốc bí mật gặp Stalin, cố gắng đấu lý

Hôm sau Tống Tử Văn gửi điện cho Tưởng Giới Thạch, báo cáo tình hình hội đàm và đề nghị Tưởng xem xét mấy phương án như sau:

Thứ nhất, Trung Quốc ký hiệp định liên minh với Liên Xô, cho phép Liên Xô đóng quân tại Mông Cổ; thứ hai, để Ngoại Mông Cổ thực hiện “tự trị cao độ”; thứ ba, Ngoại Mông Cổ có quyền tự chủ về quân sự, nội chính và ngoại giao, nhưng không có tính chất là một nước cộng hòa liên bang Xô Viết.

Người Mỹ rất quan tâm tới cuộc đàm phán Trung Quốc-Liên Xô. Tổng thống Truman bảo Bộ trưởng Ngoại giao Byrnes chuyển tới Chính phủ Trung Quốc ý kiến như sau: “Chưa thảo luận cách giải thích về địa vị của Ngoại Mông Cổ trong hiệp định Yalta; Chính phủ Mỹ cho rằng tuy về pháp lý thì chủ quyền Ngoại Mông Cổ vẫn thuộc Trung Quốc, nhưng trên thực tế chủ quyền ấy chưa được hành xử.”

Tống Tử Văn nắm lấy lời văn “phải duy trì hiện trạng của Ngoại Mông Cổ” trong hiệp định Yalta để đấu lý. Ông kiên trì nói hiện trạng đó tức là chủ quyền của Ngoại Mông Cổ vẫn thuộc về Trung Quốc. Còn Stalin thì nói rõ Liên Xô yêu cầu Trung Quốc thừa nhận Ngoại Mông Cổ độc lập. Hai cách nói này tuy diễn tả cùng một sự thật nhưng ảnh hưởng thì lại khác nhau xa.

Dĩ nhiên Tưởng Giới Thạch hiểu rõ sự hơn thiệt trong đó. Thấy trên bàn đàm phán đã tạm thời bất đồng, Tưởng Giới Thạch bèn điện cho Tưởng Kinh Quốc, bảo Quốc lấy danh nghĩa cá nhân gặp riêng Stalin.

Tưởng Kinh Quốc nhớ lại:

Khi gặp nhau tại nhà riêng của Stalin, lúc đó tôi có nói: “Người Trung Quốc chúng tôi kiên trì kháng chiến chống Nhật là để thu hồi lãnh thổ đã bị mất. Hiện giờ Nhật còn chưa thua mà [chúng tôi] đã cắt nhượng một vùng đất rộng như Ngoại Mông Cổ thì cuộc kháng chiến của chúng tôi còn có ý nghĩa gì? Quốc dân Trung Quốc nhất định sẽ chửi chúng tôi là đồ bán nước.”

Vì đã là chỗ gặp riêng nên Stalin cũng bớt dùng các lời lẽ ngoại giao mà nói thẳng thừng với Tưởng Kinh Quốc: “Ông nói rất có lý, nhưng có điều ông cần biết rằng hôm nay không phải là tôi cầu xin ông mà là ông đến xin tôi giúp. Nếu các ông có đủ sức đánh bại người Nhật thì dĩ nhiên tôi sẽ không nói gì. Nhưng các ông không đủ sức thì những lời vừa rồi ông nói là vô ích.”

Tưởng Kinh Quốc nói: “Ngài chẳng cần lo ngại Ngoại Mông Cổ đe dọa sự an toàn của Liên Xô. Sau khi Nhật thua trận, nước Nhật sẽ không còn ngoi dậy được nữa. Chỉ Trung Quốc mới có thể tấn công Liên Xô từ Ngoại Mông Cổ, nhưng bây giờ hai nước chúng ta có thể liên minh với nhau, Trung Quốc bảo đảm ít nhất hữu hảo với Liên Xô trong ba chục năm. Ngài cũng biết đấy, cứ cho là Trung Quốc muốn đánh Liên Xô thì cũng chẳng có sức mà đánh.”

Stalin lắc đầu: “Ông nhầm rồi. Thứ nhất, cứ cho là Nhật thua thì dân tộc ấy cũng không bị tiêu diệt. Nếu người Mỹ tiếp quản nước Nhật thì không quá 5 năm sau Nhật sẽ bò dậy.”

Tưởng Kinh Quốc nói xen vào: “Nếu Liên Xô tiếp quản nước Nhật thì sao?”

“Tôi tiếp quản ấy à, cũng chẳng qua lui lại thêm 5 năm thôi.” Stalin nói tiếp: “Thứ hai, hiện nay Trung Quốc không đủ sức đánh chúng tôi, nhưng chỉ cần Trung Quốc thống nhất thì các ông sẽ tiến nhanh hơn bất cứ nước nào. ÔNG NÓI LIÊN MINH VỚI NHAU, BÂY GIỜ VÌ TÔI KHÔNG COI ÔNG LÀ NHÀ NGOẠI GIAO NÊN TÔI NÓI THẬT VỚI ÔNG NHÉ: HIỆP ƯỚC LÀ THỨ KHÔNG ĐÁNG TIN ĐÂU”.

Tưởng Kinh Quốc không biết nói gì nữa.

Stalin nói tiếp: “Còn có nguyên nhân thứ ba, cứ cho là Nhật và Trung Quốc không đủ sức qua Ngoại Mông Cổ đánh Liên Xô, điều đó không có nghĩa là không có những lực lượng khác tấn công Liên Xô.”

“Mỹ chăng?” Tưởng Kinh Quốc hỏi.

“Dĩ nhiên rồi.” Stalin nói không chút do dự.

Tưởng Kinh Quốc nghĩ bụng, ông vừa mới ký hiệp định Yalta với người Mỹ xong, được hời lớn như thế [4] mà ông còn coi người Mỹ là kẻ địch. Trung Quốc trong mắt ông lại càng là đối thủ tiềm tàng. Với tâm trạng như thế, thật sự chẳng còn lý lẽ gì để nói nữa.

NAM TƯ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Địa điểm chung của các thực thể chính trị được gọi là Nam Tư. Các biên giới chính xác thay đổi tuỳ thuộc thời gian

Nam Tư (Jugoslavija trong tiếng Serbia-Croatia (ký tự Latin) và tiếng Slovenia; Југославија trong tiếng Serbia-Croatia (ký tự Cirill) và tiếng Macedonia😉 miêu tả ba thực thể chính trị tồn tại nối tiếp nhau trên Bán đảo BalkanChâu Âu, trong hầu hết thế kỷ 20.

Quốc gia đầu tiên được biết với cái tên Nam Tư là Vương quốc Nam Tư, vốn trước ngày 3 tháng 10 năm 1929 từng được gọi là “Vương quốc của người Serbia, người Croatia và người Slovenia”. Quốc gia này được thành lập ngày 1 tháng 12 năm 1918 bởi liên minh Nhà nước của người Slovenia, Croatia và SerbiaVương quốc Serbia. Nước này bị phe Trục xâm chiếm năm 1941, và bởi các sự kiện diễn ra tiếp sau đó, đã chính thức bị xoá bỏ năm 1945.

Quốc gia với tên này từng là “Liên bang Dân chủ Nam Tư”, tuyên bố năm 1943 bởi những người cộng sản thuộc phong trào kháng chiến trong Thế chiến thứ hai. Nó được đổi tên thành “Liên bang Cộng hòa Nhân dân Nam Tư” năm 1946, khi một chính phủ cộng sản được thành lập. Năm 1963, nó lại được đổi tên thành “Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư” (SFRY). Những nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa hợp thành nhà nước này, từ bắc xuống nam, gồm: Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Slovenia, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Croatia, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Bosna và Hercegovina, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Montenegro, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Serbia (gồm cả các tỉnh tự trị VojvodinaKosovo, sau này được gọi đơn giản là Kosovo) và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Macedonia. Bắt đầu từ năm 1991, Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư tan rã trong những cuộc chiến tranh Nam Tư kéo theo sự ly khai của hầu hết các thực thể cộng hòa.

Quốc gia cuối cùng mang tên này là “Cộng hòa Liên bang Nam Tư” (FRY) được thành lập ngày 27 tháng 3 năm 1992. Đây là một liên bang trên lãnh thổ của hai nước cộng hòa (chưa ly khai) là Serbia (gồm cả các tỉnh tự trị VojvodinaKosovo) và Montenegro. Ngày 4 tháng 2 năm 2003, nó được đổi tên lại thành “Liên bang Serbia và Montenegro“, và chính thức xoá bỏ cái tên “Nam Tư”. Ngày 3 tháng 65 tháng 6 năm 2006, MontenegroSerbia lần lượt tuyên bố độc lập, vì thế chấm dứt những tàn tích cuối cùng của một nhà nước Nam Tư.

Mục lục

Tên gọi

Danh xưng “Nam Tư” trong tiếng Việt là giản xưng của Nam Tư Lạp Phu (南斯拉夫, Nánsīlāfū), dịch danh Trung văn của quốc hiệu Nam Tư, trong đó “Nam” là dịch nghĩa từ “jugo” trong tiếng Serbi/Croatia trong tên hiệu (Jugoslavija), “Tư Lạp Phu” là phiên âm của từ Slav.

Bối cảnh

Bài chi tiết: Thành lập Nam Tư

Ý tưởng về một nhà nước duy nhất cho mọi thực thể Nam Slav xuất hiện hồi cuối thế kỷ 17 và bắt đầu được quan tâm ở thế kỷ 19 trong Phong trào Illyrian nhưng chưa bao giờ thành hình.

Giai đoạn đầu Thế chiến thứ nhất, một số nhân vật chính trị có ảnh hưởng tại các vùng Nam Slavơ thuộc Habsburg Đế chế Áo-Hung đã bỏ chạy tới Luân Đôn, nơi họ bắt đầu thành lập Ủy ban Nam Tư để đại diện cho những thực thể Nam Slavơ thuộc Áo-Hung. Những thực thể “Nam Tư” này gồm người Serbia, người Croatiangười Slovenia những người tự cho mình thuộc phong trào vì mục tiêu một nhà nước Nam Tư duy nhất hay nhà nước Nam Slavơ và mục tiêu căn bản của ủy ban là sự thống nhất các vùng đất Nam Slavơ với Vương quốc Serbia (đang có độc lập dù đã bị Áo-Hung xâm chiếm ở thời điểm ấy).

Với thất bại của Phe Liên minh Trung tâm trong Thế chiến thứ nhất và sự tan rã của Đế chế Áo-Hung sau chiến tranh, nhiều lãnh thổ Nam Slavơ nhanh chóng tập hợp với nhau để hình thành Vương quốc của người Serbia, người Croatia và người Slovenia, được tuyên bố ngày 1 tháng 12 năm 1918Beograd.

Vương quốc mới được hình thành từ các vương quốc từng có độc lập trước kia gồm Serbia và Montenegro (đã thống nhất với nhau trong tháng trước đó), cũng như một số vùng lãnh thổ trước kia thuộc Áo-Hung, Nhà nước của người Slovenia, Croatia và Serbia. Những vùng đất trước kia thuộc Áo-Hung đã hình thành nên nhà nước mới gồm Croatia, SlavoniaVojvodina từ Hungary một phần của Đế chế, Carniola, một phần của Styria và đa phần Dalmatia từ Áo, và tỉnh hoàng gia (crown province) Bosna và Hercegovina.

Vương quốc của người Serbia, Croatia và Slovenia

Bài chi tiết: Vương quốc Nam Tư

1918-1928

Bản đồ Nam Tư năm 1919 thể hiện các biên giới tạm thời thời hậu Thế chiến I trước các hiệp ước Neuilly, TrianonRapallo

Nam Tư 1936

Giai đoạn Vua Alexander

Vua Alexander I đã cấm các đảng chính trị quốc gia năm 1929, nắm quyền hành pháp và đổi tên nước thành Nam Tư. Ông hy vọng kìm chế các khuynh hướng ly khai và giảm bớt các phong trào quốc gia. Tuy nhiên, các chính sách của Alexander nhanh chóng gặp phải sự chống đối từ các cường quốc Châu Âu nổi lên nhờ sự phát triển tại ÝĐức, nơi những người theo chủ nghĩa Phát xítĐảng quốc xã nổi lên nắm quyền lực, và Liên bang Xô viết, nơi Stalin đã trở thành lãnh tụ tuyệt đối. Không một chế độ nào ở trên tán thành chính sách của Alexander I. Trên thực tế, Ý và Đức muốn khôi phục các hiệp ước quốc tế được ký kết sau Thế chiến thứ nhất, và người Xô viết quyết tâm giành lại vị trí của mình ở châu Âu và theo đuổi một chính sách quốc tế tích cực hơn.

Alexander đã tìm cách tạo lập một nhà nước Nam Tư đích thực. Ông quyết định xóa bỏ các vùng lịch sử Nam Tư, và các biên giới mới bên trong được vẽ lại cho các tỉnh hay các banovina. Các banovina được đặt tên theo các con sông. Nhiều chính trị gia bị bỏ tù hay bị quản thúc chặt chẽ. Hiệu ứng của sự cầm quyền độc tài của Alexander càng khiến những người không phải người Serbia căm ghét ý tưởng thống nhất.

Nhà vua bị ám sát tại Marseille trong một chuyến thăm chính thức tới Pháp năm 1934 bởi một tay thiện xạ thuộc Tổ chức Cách mạng Nội địa Macedonia của Ivan Mihailov cùng sự phối hợp của Ustaše, một tổ chức ly khai Croatia. Người con trai 11 tuổi của Alexsander Peter II lên nối ngôi với một hội đồng nhiếp chính đứng đầu bởi người chú là Hoàng tử Paul.

Nam Tư những năm 1930

Bối cảnh chính trị quốc tế hồi cuối thập niên 1930 đáng chú ý bởi tính không khoan nhượng ngày càng lớn giữa các nhân vật chính trị chủ chốt, bởi quan điểm gây hấn của các chế độ độc tài và bởi sự chắc chắn mà sự trật tự được thiết lập sau Thế chiến thứ nhất đã mất đi những thành trì và những người tham gia đã mất đi sức mạnh. Được ủng hộ và gây áp lực bởi Phát xít ÝPhát xít Đức, nhà lãnh đạo người Croatia Vlatko Maček cùng đảng của mình đã tìm cách thành lập Banovina Croatia (tỉnh hành chính) năm 1939. Thỏa thuận chỉ rõ rằng Croatia vẫn là một phần của Nam Tư, nhưng thực thể này nhanh chóng xây dựng một vị thế chính trị độc lập trong các mối quan hệ quốc tế.

Hoàng tử Paul lùi bước trước sức ép của phe Phát xít và đã ký Hiệp ước Tripartite tại Viên ngày 25 tháng 3 năm 1941, hy vọng giữ được Nam Tư đứng bên ngoài cuộc chiến tranh. Nhưng hành động này đã khiến sự ủng hộ của dân chúng dành cho nhiếp chính Paul mất đi. Các quan chức quân sự cao cấp cũng phản đối hiệp ước này và tiến hành một cuộc đảo chính khi nhà vua quay trở về ngày 27 tháng 3. Vị tướng quân đội Dušan Simović lên nắm quyền và bắt giữ đoàn đại biểu Wien, trục xuất Paul, và chấm dứt chế độ nhiếp chính, trao toàn bộ quyền lực cho Vua Peter khi ấy 17 tuổi.

Sự khởi đầu của Thế chiến II tại Nam Tư

Hitler sau đó quyết định tấn công Nam Tư ngày 6 tháng 4 năm 1941, ngay lập tức sau đó là cuộc tấn công xâm lược Hy Lạp nơi Mussolini từng bị đẩy lùi. (Vì thế, Chiến dịch Barbarossa đã phải chậm lại bốn tuần, chứng minh đó là một quyết định đắt giá.)[cần dẫn nguồn]

Nam Tư trong Thế chiến II

Cuộc xâm lược Nam Tư

Fascist occupation of yugoslavia.png

Axis occupation of Yugoslavia, 1943-44.png

Lúc 5:12 sáng ngày 6 tháng 4 năm 1941, các lực lượng Đức, Ý, HungaryBulgaria tấn công Nam Tư. Không quân Đức (Luftwaffe) ném bom Belgrade và các thành phố chính khác của Nam Tư. Ngày 17 tháng 4, các đại diện từ nhiều vùng của Nam Tư đã ký một thỏa thuận đình chiến với Đức tại Belgrade, chấm dứt 11 ngày kháng chiến chống quân xâm lược Đức (Wehrmacht Heer). Hơn ba trăm ngàn sĩ quan và binh lính Nam Tư bị bắt.

Các nước phe Trục chiếm Nam Tư và chia nhỏ nó. Nhà nước Độc lập Croatia được thành lập như một nhà nước bù nhìn của Phát xít, do một nhóm du kích phát xít được gọi là Ustaše, bắt đầu xuất hiện từ năm 1929 nắm quyền, nhưng chỉ hoạt động hạn chế cho tới năm 1941. Quân đội Đức chiếm BosnaHercegovina cũng như một phần của SerbiaSlovenia, trong khi những phần khác của nước này bị Bulgaria, Hungary và Ý chiếm. Trong thời gian này Nhà nước Độc lập Croatia đã lập ra các trại tập trung cho những người chống phát xít, cộng sản, người Serbia, Gypsyngười Do Thái. Một trong những trại đó là Jasenovac. Một số lớn nam giới, phụ nữ và trẻ em, chủ yếu là người Serbia, đã bị hành quyết tại các trại này[1].

Các phong trào kháng chiến

Những người Nam Tư phản đối Phát xít đã tổ chức một phong trào kháng chiến. Họ có khuynh hướng ủng hộ Vương quốc Nam Tư cũ gia nhập Quân đội Nam Tư tại Tổ quốc, cũng được gọi là đội quân du kích trung thành Chetniks, Serbia do Dragoljub “Draža” Mihailović lãnh đạo. Những người ủng hộ Đảng Cộng sản (Komunistička partija), và chống lại nhà Vua, gia nhập Quân đội Giải phóng Quốc gia Nam Tư (Narodno Oslobodilačka Vojska hay NOV), do Josip Broz Tito, một người Croatia theo chủ nghĩa quốc gia lãnh đạo. Chetniks là đồng minh của Hoa Kỳ tại Châu Âu và họ đã cứu thoát hơn 150 phi công Mỹ trong Chiến dịch: “Vazdušni Most”.

Quân đội Giải phóng Quốc gia Nam Tư đã tung ra một chiến dịch chiến tranh du kích được phát triển thành đội quân kháng chiến lớn nhất trên lãnh thổ Đông và Trung Âu bị chiếm đóng. Ban đầu Chetniks tung ra những cuộc tấn công đáng chú ý và được ủng hộ bởi chính phủ hoàng gia lưu vong cũng như Đồng Minh, nhưng nhanh chóng phải giảm bớt quy mô hành động bởi những cuộc trả đũa vào dân thường Serbia của Đức.

Với mỗi lính thiệt mạng, quân Đức sẽ hành quyết 100 thường dân, và với mỗi lính bị thương, họ giết 50 người. Vì cái giá nhân mạng quá đắt, Chetniks đã phải chấm dứt các hoạt động chống Đức và Đồng Minh chuyển sang ủng hộ Quân đội Giải phóng Quốc gia Nam Tư.

Tuy nhiên, Quân đội Giải phóng Quốc gia Nam Tư vẫn tiến hành cuộc chiến tranh du kích của mình. Thiệt hại nhân mạng được Vladimir ZerjavicBogoljub Kočović, ước tính là 1.027.000 người, con số này được Liên hiệp quốc chấp nhận, trong khi cơ quan chức năng Nam Tư cho rằng có 1.700.000 người chết. Chủ yếu là người Serbia sống tại Bosna và Croatia, cũng như người Do Thái và các cộng đồng thiểu số Roma cao hơn nhiều so với những sắc dân bất hợp tác.

Khoảng 70.000 Hồng quân Xô viết và Quân đội nhân dân Nam Tư đã được trao huy chương này khi tham gia giải phóng Belgrade từ 19 tháng 6 năm 1945.

Trong cuộc chiến, quân du kích do những người cộng sản lãnh đạo trên thực tế cầm quyền tại các lãnh thổ giải phóng, và các hội đồng nhân dân do Quân đội Giải phóng Quốc gia Nam Tư lập ra hoạt động như những cơ quan quản lý dân sự. Mùa thu năm 1941, quân du kích thành lập Cộng hòa Užice tại lãnh thổ giải phóng ở phía tây Serbia. Tháng 11 năm 1941, quân đội Đức chiếm lại lãnh thổ này, trong khi đa số các lực lượng du kích phải bỏ chạy về phía Bosna.

Ngày 25 tháng 11 năm 1942, Hội đồng Chống Phát xít của Phong trào Giải phóng Quốc gia Nam Tư (Antifašističko Vijeće Narodnog Oslobođenja Jugoslavije) được nhóm họp tại Bihać, Bosna. Hội đồng tái họp ngày 29 tháng 11 năm 1943, tại Jajce, cũng thuộc Bosna và lập ra các căn bản cho việc tổ chức đất nước thời hậu chiến, thành lập một liên bang (ngày nay sau chiến tranh đã được gọi là Ngày Cộng hòa).

Giải phóng Nam Tư

Quân đội Giải phóng Quốc gia Nam Tư đẩy lùi được Phe trục ra khỏi Serbia năm 1944 và phần còn lại của Nam Tư năm 1945. Hồng quân giúp giải phóng Belgrade và một số lãnh thổ khác, nhưng đã rút lui sau khi chiến tranh chấm dứt. Tháng 5 năm 1945, Quân đội Giải phóng Quốc gia Nam Tư gặp các lực lượng Đồng Minh bên ngoài các biên giới cũ của Nam Tư, sau khi chiếm Trieste và nhiều vùng thuộc các tỉnh StyriaCarinthia phía nam nước Áo. Đây là vùng lãnh thổ có đa số dân là người Ýngười Slovenia. Tuy nhiên, Quân đội Giải phóng Quốc gia Nam Tư đã phải rút khỏi Trieste trong cùng năm ấy.

Những nỗ lực của phương Tây nhằm thống nhất các nhóm du kích, họ từ chối quyền lãnh đạo của chính phủ cũ của Vương quốc Nam Tư, và sự hồi hương của vị vua, dẫn tới Thỏa thuận Tito-Šubašić vào tháng 6 năm 1944, tuy nhiên Tito được các công dân coi là một anh hùng quốc gia, vì thế ông giành được quyền lãnh đạo ở nhà nước cộng sản độc lập thời hậu chiến, bắt đầu với chức vụ thủ tướng.

Nam Tư thứ hai

Tập tin:SFRYugoslaviaNumbered.png

Bản đồ đánh số các nước cộng hòa và các tỉnh Nam Tư

Ngày 31 tháng 1 năm 1946, hiến pháp mới của Liên bang Cộng hòa Nhân dân Nam Tư, theo hình thức hiến pháp Liên bang Xô viết, thành lập sáu nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa, một Tỉnh Xã hội Chủ nghĩa Tự trị và một Quận Xã hội Chủ nghĩa Tự trị từng là một phần của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Serbia. Thủ đô liên bang đặt tại Belgrade. Các nước Cộng hòa và các Tỉnh gồm (theo thứ tự chữ cái):

Tên gọi Thủ đô Quốc kỳ Vị trí
1.Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Bosna và Hercegovina Sarajevo Flag of SR Bosnia and Herzegovina.svg Locator map Bosnia and Herzegovina in Yugoslavia.svg
2.Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Croatia Zagreb Flag of SR Croatia.svg Locator map Croatia in Yugoslavia.svg
3.Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Macedonia Skopje Flag of the SR Macedonia.svg Locator map Macedonia in Yugoslavia.svg
4.Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Montenegro Titograd* Flag of SR Montenegro.svg Locator map Montenegro in Yugoslavia.svg
5.Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Serbia

5a.Tỉnh Xã hội Chủ nghĩa Tự trị Kosovo
5b.Tỉnh Xã hội Chủ nghĩa Tự trị Vojvodina
Belgrade

Priština
Novi Sad
Flag of SR Serbia.svg Locator map Serbia in Yugoslavia.svg
6.Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Slovenia Ljubljana Flag of SR Slovenia.svg Locator map Slovenia in Yugoslavia.svg

(* hiện là Podgorica)

Năm 1974, hai tỉnh Vojvodina và Kosovo-Metohija (tỉnh sau khi ấy đã được nâng cấp lên vị thế một tỉnh), cũng như các nước cộng hòa Bosna và Hercegovina và Montenegro, được trao quyền tự trị lớn hơn tới mức tiếng Albaniatiếng Hungary đã được chính thức công nhận là các ngôn ngữ thiểu số và tiếng Serbo-Croat của Bosna và Montenegro đã biến đổi thành một hình thức dựa trên kiểu nói của người dân địa phương mà không phải là các ngôn ngữ tiêu chuẩn của Zagreb và Belgrade.

VojvodinaKosovo-Metohija là một phần của nước Cộng hòa Serbia. Nước này đã giữ khoảng cách với Liên bang Xô viết năm 1948 (cf. CominformInformbiro) và đã bắt đầu con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của riêng mình dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của Josip Broz Tito. Nhà nước này chỉ trích cả Khối phương Đông và các quốc gia NATO, và đã cùng các nước khác lập ra Phong trào không liên kết năm 1961, và liên tục là thành viên của tổ chức này cho tới khi bị giải tán.

Nhân khẩu

Nam Tư luôn có sự đa dạng về dân cư, không chỉ trên mặt sắc tộc, mà còn ở khía cạnh tôn giáo. Hồi giáo, Công giáo La Mã, Do Thái giáo và Tin Lãnh cùng nhiều đức tin Kitô giáo Đông phương hiện diện tại Nam Tư, tổn cộng có 40 tôn giáo. Nhân khẩu các tôn giáo tại Nam Tư đã thay đổi nhiều kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai. Các cuộc điều tra dân số được thực hiện vào năm 1921 và năm 1948 cho thấy rằng 99% dân cư tham gia sâu vào việc hành đạo. Cùng với các chương trình hiện đại hóa và đô thị hóa của chính phủ sau chiến tranh, tỉ lệ tín hữu các tôn giáo đã sụt giảm đáng kể. Kết nối giữa niềm tin tôn giáo và sắc tộc đã đặt ra một mối đe dọa nghiêm trọng cho các chính sách hậu chiến của chính phủ cộng sản.[2]

Sau khi trở thành một quốc gia cộng sản, một cuộc khảo sát vào năm 1964 đã cho thấy rằng chỉ có hơn 70% tổng dân số Nam Tư tự xem mình là tín đồ của một tôn giáo. Những nơi có tính tôn giáo mạnh nhất là Kosovo với 91% và Bosna và Hercegovina với 83,8%. Những nơi có tính tôn giáo thấp nhất là Slovenia 65,4%, Serbia với 63,7% và Croatia với 63,6%. Khác biệt tôn giáo giữa người Serbia theo Chính Thống giáo, người Croatia theo Công giáo, và người Bosnia theo Hồi giáo và sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc đã góp phần vào sự sụp đổ của Nam Tư năm 1991.[2]

Chính phủ

Ngày 7 tháng 4 năm 1963 nước này đổi tên chính thức thành Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam TưTito được phong làm Tổng thống trọn đời.

Tại Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư, mỗi nước cộng hòa và tỉnh có hiến pháp, tòa án tối cao, nghị viện, tổng thống và thủ tướng riêng. Lãnh đạo tối cao của chính phủ Nam Tư là Tổng thống (Tito), Thủ tướng liên bang và Nghị viện liên bang (một chức vụ Tổng thống tập thể được lập ra sau khi Tito chết năm 1980).

Các chức vụ quan trọng khác là các tổng thư ký Đảng Cộng sản tại mỗi nước cộng hòa và mỗi tỉnh, và tổng thư ký Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản.

Josip Broz Tito là nhân vật quyền lực nhất đất nước, tiếp theo là các chủ tịch và thủ tướng nước cộng hòa và tỉnh, và các chủ tịch Đảng Cộng sản. Rất nhiều người đã phải khốn khổ khi bị ông ghét. Slobodan Penezić Krcun, lãnh đạo cảnh sát mật của Tito tại Serbia, trở thành nạn nhân của một vụ tai nạn giao thông đáng ngờ khi ông ta bắt đầu phàn nàn về chính sách của Tito. Bộ trưởng nội vụ Aleksandar Ranković bị tước toàn bộ danh hiệu và quyền lợi sau khi bất đồng với Tito về đường lối chính trị đất nước. Thỉnh thoảng, các vị bộ trưởng trong chính phủ, như Edvard Kardelj hay Stane Dolanc, còn quan trọng hơn thủ tướng.

Sự đàn áp bất đồng leo thang với cái gọi là Mùa xuân Croatia năm 1970-1971, khi sinh viên tại Zagreb tổ chức các cuộc tuần hành đòi quyền tự do dân sự lớn hơn và quyền tự trị cao hơn cho Croatia. Chính quyền đàn áp cuộc phản kháng và tống giam những người lãnh đạo, nhưng nhiều nhân vật đại diện quan trọng của Croatia trong Đảng bí mật ủng hộ cuộc đấu tranh này, vì thế một hiến pháp mới đã được phê chuẩn năm 1974 trao thêm nhiều quyền cho các nước cộng hòa tại Nam Tư và các tỉnh tại Serbia.

Căng thẳng sắc tộc và khủng hoảng kinh tế

Nam Tư thời hậu Thế chiến thứ hai ở nhiều mặt là một hình mẫu tìm kiếm cách xây dựng một nhà nước đa quốc gia. Liên bang được xây dựng trên một nền tảng kép: một nhà nước Nam Tư thời giữa hai cuộc chiến với ưu thế của tầng lớp cầm quyền người Serbia; và một sự phân chia quốc gia thời chiến, khi Ý và Đức Phát xít phân chia nước này và ủng hộ một phái quốc gia Croatia cực đoan được gọi là Ustashe nắm quyền và đã thực hiện thảm sát chống lại người Serbia. Một số nhân vật quốc gia Bosna đã gia nhập các lực lượng phe Trục và tấn công người Serbia. Để trả đũa, những người Serbia quốc gia cực đoan tung ra những cuộc tấn công trả thù và người Bosna và người Croatia.

Bạo lực sắc tộc chỉ chấm dứt khi đội quân Du kích Nam Tư đa sắc tộc kiểm soát đất nước thời hậu chiến và cấm ủng hộ chủ nghĩa quốc gia. Sự hoà bình bên ngoài được giữ trong suốt thời cầm quyền của Tito, dù những cuộc phản kháng mang tính chất quốc gia vẫn diễn ra, nhưng chúng nhanh chóng bị đàn áp và những người lãnh đạo bị bỏ tù hay bị hành quyết. Tuy nhiên, một cuộc phản kháng đã xảy ra tại Croatia trong thập niên 1970, được gọi là “Mùa xuân Croatia” với sự ủng hộ của phần đông người Croat cho rằng nam Tư là một sự bá quyền của người Serbia và yêu cầu giảm bớt quyền lực của Serbia. Tito, vốn là người Croatia, lo ngại về sự ổn định của đất nước và đã hành động theo hướng xoa dịu cả người Croatia và người Serbia, ông ra lệnh bắt giữ những người Croatia phản kháng, trong khi chấp nhận một số yêu cầu của họ. Năm 1974, ảnh hưởng của Serbia trong liên bang đã bị giảm bớt khá nhiều khi các tỉnh tự trị được thành lập tại vùng Kosovo với đa số người Albania và Vojvodina với các sắc tộc pha trộn. Các tỉnh tự trị này có quyền bỏ phiếu như các nước cộng hòa nhưng không như những nước cộng hòa, họ không được phép ly khai khỏi Nam Tư. Sự lùi bước này làm Croatia và Slovenia hài lòng, nhưng tại Serbia và tại tỉnh tự trị Kosovo mới thành lập, sự phản ứng khác biệt nhau. Người Serbia coi hiến pháp mới là sự thua cuộc trước người Croatia và những người quốc gia Albania. Người Albania tại Kosovo coi việc thành lập tỉnh tự trị là chưa đủ, và yêu cầu Kosovo phải trở thành một nhà nước cộng hòa với quyền ly khai khỏi Nam Tư. Việc này khiến căng thẳng trong giới lãnh đạo cộng sản gia tăng, đặc biệt trong số các quan chức người Serbia vốn bực tức vì cho rằng hiến pháp năm 1974 làm suy yếu ảnh hưởng của Serbia và làm tổn hại tới sự thống nhất quốc gia khi cho các nước cộng hòa quyền ly khai.

Một cuộc khủng hoảng kinh tế bùng phát trong thập niên 1970 là sản phẩm của những sai lầm nghiêm trọng của các chính phủ Nam Tư, như vay mượn các khoản tín dụng khổng lồ từ phương Tây nhằm thúc đẩy phát triển qua xuất khẩu. Các nền kinh tế Châu Âu lúc ấy đang ở giai đoạn giảm phát, làm xuất khẩu của Nam Tư ngưng trệ và tạo ra các khoản nợ lớn. Chính phủ Nam Tư khi ấy phải chấp nhận các điều kiện của Quỹ Tiền tệ Quốc tế nhằm xoa dịu gánh nặng khủng hoảng với tầng lớp lao động. Đồng thời, các nhóm xã hội mạnh xuất hiện bên trong Đảng Cộng sản Nam Tư, liên minh với các nhóm lợi ích kinh doanh, ngân hàng và nhà nước phương tây và bắt đầu thúc đẩy chủ nghĩa tân tự do, với sự ủng hộ của Hoa Kỳ. Chính chính quyền Reagan, vào năm 1984, đã thông qua một đề xuất “Liệu pháp sốc” để thúc đẩy Nam Tư theo hướng phục hồi tư bản.

Năm 1989 Jeffrey Sachs tới Nam Tư để giúp chính phủ liên bang của Ante Marković chuẩn bị gói “Liệu pháp Sốc” của IMF/Ngân hàng Thế giới, sau đó được đưa ra năm 1990 ngay ở thời điểm các cuộc bầu cử nghị viện đang được tổ chức ở nhiều nước cộng hòa.

Chương trình “Liệu pháp sốc” dành Nam Tư vừa là duy nhất trong vùng vừa có tầm ảnh hưởng chính trị quan trọng trong giai đoạn 1989-90. Luật phá sản để thanh lý các doanh nghiệp nhà nước có hiệu lực từ Luật các Hoạt động Tài chính năm 1989 yêu cầu rằng nếu một doanh nghiệp không trả được nợ trong 30 ngày liên tiếp, hay trong 30 ngày của một giai đoạn 45 ngày, nó phải đàm phán với các chủ nợ hoặc phải trao quyền sở hữu cho họ hay sẽ bị thanh lý, trong trường hợp đó các công nhân sẽ bị sa thải, thông thường không được nhận tiền công.

Năm 1989, theo các nguồn tin chính thức, 248 công ty tuyên bố phá sản hay bị thanh lý và 89.400 công nhân bị sa thải. Trong chín tháng đầu năm 1990 sau khi chương trình của IMF được thông qua, 889 doanh nghiệp khác với 525.000 công nhân phải chịu chung số phận. Nói theo cách khác, trong vòng chưa tới hai năm “cơ cấu khởi động” (theo Đạo luật các Hoạt động Tài chính) hơn 600.000 công nhân trong tổng số 2.7 triệu công nhân trong lĩnh vực công nghiệp đã bị sa thải. Thêm khoảng 20% nguồn nhân lực, hay một nửa triệu người không được trả lương trong những tháng đầu năm 1990 khi cách doanh nghiệp phải tìm cách tránh phá sản. Nơi tập trung đông nhất các doanh nghiệp phá sản và sa thải công nhân là Serbia, Bosna và Hercegovina, MacedoniaKosovo. Thu nhập thực tế rơi tự do, các chương trình xã hội đã sụp đổ tạo nên một không khí bất mãn xã hội và vô hi vọng. Đây là một điểm chuyển đổi quan trọng dẫn tới những sự kiện diễn ra tiếp theo.

Mùa xuân năm 1990, Marković vẫn là chính trị gia có nhiều ảnh hưởng nhất, không chỉ với toàn bộ Nam Tư, mà cả ở mỗi nước cộng hòa tạo thành liên bang này. Đúng ra ông đã phải tổ chức những cuộc tuần hành dân chúng ủng hộ nhà nước Nam Tư chống lại những nhân vật quốc gia như Milošević tại Serbia hay Tuđman tại Croatia và ông đã có thể nhờ cậy vào sự trung thành của các lực lượng vũ trang. Ông được 83% dân số Croatia, 81% dân số Serbia và 59% dân số Slovenia cùng 79% dân số trong toàn bộ Nam Tư ủng hộ. Mức độ ủng hộ này cho thấy người dân Nam Tư vẫn kiên quyết duy trì quốc gia như thế nào.

Nhưng Marković đã gắn liền Chủ nghĩa Nam Tư của mình với chương trình “Liệu pháp Sốc” có điều kiện của IMF và EU và việc này đã khiến những người theo chủ nghĩa ly khai ở Tây Bắc và những người theo chủ nghĩa quốc gia ở Serbia có cơ hội trỗi dậy. Những người theo chủ nghia ly khai tại Slovenia và Croatia kêu gọi các cử tri bác bỏ chương trình kinh tế khổ hạnh của Marković-IMF và bằng cách đó sẽ giúp những nước cộng hòa của họ chuẩn bị rời bỏ Nam Tư và “gia nhập Châu Âu”. Lời kêu gọi của Milošević tại Serbia dựa trên ý tưởng rằng phương Tây đang hành động chống lại những lợi ích của người Serbia. Những lời kêu gọi mang tính chủ nghĩa quốc gia đó cuối cùng đã thành công: ở tất cả các nước cộng hòa, bắt đầu bằng Slovenia và Croatia vào mùa xuân, các chính phủ bỏ qua các quy định giới hạn tièn tệ của chương trình ổn định của Marković để giành lấy số phiếu bầu.

Chính phủ cấp vùng mới được bầu ra sau đó tập trung nỗ lực vào việc phá vỡ đất nước. Họ được chính phủ Hoa Kỳ ủng hộ bằng lập trường muốn phá bỏ kết cấu quốc gia Nam Tư nhằm đẩy nhanh hơn nữa chương trình “Liệu pháp Sốc”. Một số ít quốc gia Châu Âu có các lợi ích chiến lược tại Nam Tư có ý muốn thúc đẩy sự tan rã.

Cũng có một số thiếu sót, đặc biệt là trong cơ cấu của Nam Tư khiến việc sụp đổ diễn ra nhanh chóng hơn. Ví dụ, nhiều người cho rằng[cần dẫn nguồn] sự phi tập trung hóa Thị trường Chủ nghĩa xã hội là một thí nghiệm sai lầm cho tình hình địa chính trị của nhà nước Nam Tư. Hiến pháp năm 1974 dù tốt hơn cho người Albani tại Kosovo, đã khiến các nước cộng hòa có nhiều quyền lực hơn, vì thế làm ảnh hưởng tới quyền lực thể chế và hữu hình của chính phủ liên bang. Chính quyền Tito đã thay đổi sự suy yếu này cho tới tận khi ông qua đời năm 1980, sau đó nhà nước và Đảng Cộng sản dần tê liệt và rơi vào khủng hoảng.

Tan vỡ

Bài chi tiết: Giải tán Nam Tư
Breakup of Yugoslavia.gif

Sau cái chết của Tito ngày 4 tháng 5 năm 1980, căng thẳng sắc tộc gia tăng ở Nam Tư. Di sản của Hiến pháp năm 1974 đã được dùng để đưa hệ thống ra quyết định thành một nhà nước tê liệt, khiến toàn bộ rơi vào tình trạng vô vọng khi xung đột lợi ích đã trở nên không thể hòa giải. Khủng hoảng hiến pháp không thể tránh khỏi diễn ra sau đó đã dẫn tới sự trỗi dậy của chủ nghĩa quốc gia tại tất cả các nước cộng hòa: Slovenia và Croatia đưa ra những yêu cầu nới lỏng quan hệ bên trong liên bang, sắc tộc người Albania đa số tại Kosovo yêu cầu được trở thành một nước cộng hòa, Serbia tìm cách có được quyền kiểm soát tuyệt đối với Nam Tư. Thêm vào đó, hành trình tìm kiếm độc lập của người Croatia khiến các cộng đồng người Serbia lớn bên trong Croatia nổi dậy và tìm cách ly khai khỏi nước cộng hòa Croatia.

Năm 1986, Viện hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Serbia phác thảo một bản ghi nhớ đề cập tới một số vấn đề quan trọng liên quan tới vị thế của người Serbia là nhóm người đông đảo nhất tại Nam Tư. Nước cộng hòa lớn nhất về lãnh thổ và dân số trong Liên bang Nam Tư là Serbia với các ảnh hưởng trên các vùng Kosovo và Vojvodina đã bị giảm bớt trong Hiến pháp năm 1974. Vì hai tỉnh tự trị của họ trên thực tế có đặc quyền như những nước cộng hòa đầy đủ, Serbia thấy rằng họ đã bị trói tay trước các chính phủ tại các nước cộng hòa trong việc đưa ra và thực hiện các quyết định đối với những vùng này. Bởi các tỉnh có phiếu bầu bên trong Hội đồng Tổng thống Liên bang (một hội đồng có tám thành viên gồm các đại diện từ sáu nước cộng hòa và hai tỉnh tự trị), họ thỉnh thoảng còn thậm chí tham gia vào liên minh với các nước cộng hòa khác, vì vậy lấn át được Serbia. Sự bất lực chính trị của Serbia khiến các nước cộng hòa có thể gây áp lực với 2 triệu người Serbia (20% tổng dân số Serbia) sống bên ngoài nước cộng hòa này.

Lãnh đạo cộng sản của Serbia Slobodan Milošević tìm cách tái lập chủ quyền Serbia như hồi trước năm 1974. Các nước cộng hòa khác, đặc biệt là Slovenia và Croatia, bác bỏ động thái này coi đó là sự phục hồi của chủ nghía bá chủ Serbia. Milošević đã thành công trong việc giảm bớt quyền tự trị của VojvodinaKosovo và Metohija, nhưng cả hai thực thể này vẫn giữ được một phiếu bầu bên trong Hội đồng Tổng thống Nam Tư. Công cụ đã được sử dụng để giảm bớt ảnh hưởng của Serbia thì nay lại được dùng để tăng ảnh hưởng đó: trong hội đồng tám thành viên, Serbia khi ấy ít nhất đã có bốn phiếu bầu – của Serbia, sau đó của thực thể trung thành Montenegro, và Vojvodina và Kosovo.

Như một hậu quả của những sự kiện đó, người thiểu số Albania tại Kosovo tổ chức những cuộc biểu tình, phát triển lên thành cuộc xung đột sắc tộc giữa người Albania và những người không phải Albania ở tỉnh này. Với tỷ lệ 87% dân số Kosovo trong thập niên 1980, sắc tộc Albania chiếm đa số dân. Số lượng người Slav tại Kosovo (chủ yếu là người Serbia) nhanh chóng giảm sút vì nhiều lý do, trong số đó có lý do từ những căng thẳng sắc tộc gia tăng và cuộc di cư diễn ra sau đó khỏi vùng này. Tới năm 1999 người Slav chỉ còn chiếm 10% số dân tại Kosovo.

Trong lúc ấy Slovenia, dưới sự lãnh đạo của Milan Kučan, và Croatia ủng hộ người thiểu số Albania và cuộc đấu tranh đòi được công nhận chính thức của họ[cần dẫn nguồn]. Những cuộc đình công ban đầu đã trở thành các cuộc tuần hành rộng lớn yêu cầu thành lập một nhà nước Kosovo. Điều này làm giới lãnh đạo Serbia bực tức theo đuổi biện pháp vũ lực, và dẫn tới sự kiện sau đó khi Quân đội Liên bang được gửi tới tỉnh này theo lệnh của Hội đồng Tổng thống Nam Tư với đa số của người Serbia.

Tháng 1 năm 1990, Đại hội bất thường lần thứ 14 của Liên đoàn Cộng sản Nam Tư được nhóm họp. Trong hầu hết thời gian, các đại biểu người Slovenia và người Serbia tranh luận với nhau về tương lai Liên đoàn Cộng sản Nam Tư. Đoàn đại biểu Serbia, dưới sự lãnh đạo của Milošević, nhấn mạnh vào một chính sách “một người, một phiếu”, sẽ làm tăng quyền lực cho sắc dân chiếm đa số, người Serbia. Trái lại, người Slovenia, được người Croatia hậu thuẫn, tìm cách sửa đổi Nam Tư bằng cách trao thêm quyền cho các nước cộng hòa, nhưng đều bị bỏ phiếu bác bỏ. Vì thế, phái đoàn Slovenia, và cuối cùng cả phái đoàn Croatia rời bỏ Đại hội, và Đảng cộng sản toàn Nam Tư bị giải tán.

Sau sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản tại những phần còn lại của Đông Âu, mỗi nước cộng hòa đều tổ chức các cuộc tuyển cử đa đảng năm 1990. Slovenia và Croatia tổ chức bầu cử vào tháng 4 bởi các đảng cộng sản của họ tìm cách rút lui khỏi quyền lực một cách hòa bình. Các nước cộng hòa khác thuộc Nam Tư – đặc biệt là Serbia – ít nhiều bất bình với quá trình dân chủ hóa tại hai nước cộng hòa kia và đề xuất các biện pháp trừng phạt khác nhau (ví dụ “thuế hải quan” của Serbia với các sản phẩm của Slovenia) chống lại hai nước kia nhưng khi thời gian trôi qua các đảng cộng sản tại các nước cộng hòa khác thấy quá trình dân chủ hóa là không thể tránh khỏi và vào tháng 12 khi thành viên cuối cùng của liên bang – Serbia tổ chức cuộc bầu cử nghị viện xác nhận sự cầm quyền của những người cộng sản tại nước cộng hòa này. Tuy nhiên, các vấn đề chưa được giải quyết vẫn tồn tại. Đặc biệt, Slovenia và Croatia bầu ra các chính phủ với khuynh hướng các nước cộng hòa tự trị lớn hơn (dưới sự lãnh đạo của Milan KučanFranjo Tuđman), bởi mọi việc đã trở nên rõ ràng rằng các nỗ lực duy trì thống trị của Serbia và các mức độ tiêu chuẩn dân chủ khác nhau đang ngày càng không còn thích hợp. Serbia và Montenegro lựa chọn các ứng cử viên ủng hộ sự thống nhất của Nam Tư. Người Seriba tại Croatia không chấp nhận một tình trạng thiểu số trong một nhà nước Croatia có chủ quyền, bởi điều này làm họ mất vị thế và giảm bớt quyền lực tại nhà nước Croatia.

Cuộc chiến

Chiến tranh bùng nổ khi những chính quyền mới tìm cách thay thế các lực lượng quân sự và dân sự của Nam Tư bằng những lực lượng ủng hộ ly khai. Vào tháng 8 năm 1990 khi Croatia tìm cách thay thế cảnh sát tại vùng Croat Krajina có đông người Serbia sinh sống bằng vũ lực, ban đầu dân chúng tại đó đi tới trốn tránh trong những doanh trại Quân đội Liên bang Nam Tư, trong khi quân đội vẫn thờ ơ. Sau đó dân chúng tổ chức các đội kháng chiến vũ trang. Những cuộc xung đột vũ trang giữa các lực lượng Croatia (“cảnh sát”) và dân thường đã đánh dấu sự khởi đầu của chiến tranh Nam Tư làm ảnh hưởng cả vùng. Tương tự, nỗ lực thay thế cảnh sát biên phòng của Nam Tư bằng cảnh sát Slovenia đã gây ra những cuộc xung đột vũ trang địa phương và kết thúc với số lượng nạn nhân tối thiểu. Một nỗ lực tương tự tại Bosna và Hercegovina đã dẫn tới một cuộc chiến chỉ chấm dứt sau hơn 3 năm (xem bên dưới). Kết quả của những cuộc xung đột đó là sự di cư của hầu như toàn bộ người Serbia khỏi cả ba vùng đó, những cuộc di dân lớn tại Bosna và Hercegovina và sự thành lập ba nước độc lập mới. Sự ly khai khỏi Cộng hòa Nam Tư của Macedonia diễn ra trong hòa bình.

Những cuộc nổi dậy của người Serbia tại Croatia bắt đầu vào tháng8 năm 1990 bằng hành động phong tỏa đường xá từ bờ biển Dalmatian vào trong lục địa hầu như đã diễn ra một năm trước khi giới lãnh đạo Croatia có bất kỳ hành động hướng tới độc lập nào. Những cuộc nổi dậy ấy được ủng hộ công khai hay bí mật của Quân đội Liên bang Nam Tư (JNA). Người Serbia tuyên bố sự xuất hiện của các Vùng Tự trị Serbia (sau này được gọi là Cộng hòa Serb Krajina) tại Croatia. Quân đội Liên bang tìm cách giải giới các lực lượng phòng vệ lãnh thổ của các nước cộng hòa Slovenia (các nước cộng hòa có các lực lượng phòng vệ địa phương riêng tương tự như Home guard) vào năm 1990 nhưng không hoàn toàn thành công. Slovenia bắt đầu nhập khẩu vũ khí để tăng cường sức mạnh của mình. Croatia cũng tham gia các hoạt động nhập lậu vũ khí, (sau khi lực lượng vũ trang các nước cộng hòa bị Quân đội Liên bang giải giới), chủ yếu từ Hungary, và đã bị phát hiện khi Cơ quan Phản gián Nam Tư (KOS, Kontra-obavještajna Služba) trưng ra một băng video về một cuộc gặp gỡ bí mật giữa Bộ trường Quốc phòng Croatia Martin Špegelj và hai người đàn ông. Špegelj thông báo họ đang ở tình trạng chiến tranh với quân đội và ra các chỉ thị về việc buôn lậu vũ khí cũng như các biện pháp đối đầu với các quan chức quân đội Nam Tư đồn trú tại các thành phố Croatia. Serbia và quân đội Liên bang đã sử dụng bắng chứng tái vũ trang này của Croatia cho các mục đích tuyên truyền.

Tháng 3 năm 1990, trong những cuộc tuần hành tại Split, Croatia, một lính trẻ người Nam Tư đã bỏ chạy khỏi xe tăng sau khi lao vào một đám đông[cần dẫn nguồn]. Tương tự, súng đã nổ tại các căn cứ quân sự trên khắp Croatia. Ở những nơi khác, căng thẳng cũng leo thang.

Cùng trong tháng ấy, Quân đội Nhân dân Nam Tư (Jugoslovenska Narodna Armija, JNA) gặp gỡ ban lãnh đạo Nam Tư trong một nỗ lực nhằm buộc họ tuyên bố tình trạng khẩn cấp cho phép quân đội nắm quyền kiểm soát đất nước. Ở thời điểm ấy quân đội bị coi là một lực lượng của Serbia nên các nước cộng hòa khác sợ rằng họ sẽ bị thống trị của Serbia trong liên minh. Các đại diện của Serbia, Montenegro, Kosovo và MetohijaVojvodina bỏ phiếu ủng hộ, trong khi tất cả các nước cộng hòa khác, Croatia (Stipe Mesić), Slovenia (Janez Drnovšek), Macedonia (Vasil Tupurkovski) và Bosna và Hercegovina (Bogić Bogićević), bỏ phiếu chống. Mối quan hệ vẫn giữ cho những sự xung đột chưa leo thang, nhưng không kéo dài.

Sau những kết quả của cuộc bầu cử đa đảng đầu tiên, vào mùa thu năm 1990, các nước cộng hòa Slovenia và Croatia đề nghị chuyển đổi Nam Tư sang hình thức một nhà nước liên bang lỏng lẻo hơn với sáu nước cộng hòa. Bằng đề nghị này các nước cộng hòa sẽ có quyền tự quyết. Tuy nhiên Milošević phản đối mọi đề nghị như vậy, cho rằng giống như người Slovenia và người Croatia, người Serbia (nên nhớ là có người Serbia tại Croatia) cũng phải có quyền tự quyết.

Ngày 9 tháng 3 năm 1991, những cuộc tuần hành phản đối Slobodan Milošević được tổ chức ở Belgrade, nhưng cảnh sát và quân đội đã được triển khai trên các đường phố để giữ gìn trật tự, giết hại hai người. Cuối tháng 3 năm 1991, Vụ việc Plitvice Lakes là một trong những tia lửa đầu tiên nhóm lên cuộc chiến tại Croatia. Quân đội Nhân dân Nam Tư (JNA), với các tướng lĩnh cao cấp chủ yếu là người Seriba, duy trì lập trường trung lập, nhưng khi thời gian trôi đi, họ ngày càng can thiệp sâu vào chính trị trong nước.

Ngày 25 tháng 6 năm 1991, Slovenia và Croatia trở thành hai nước cộng hòa đầu tiên tuyên bố độc lập khỏi Nam Tư. Các quan chức hải quan liên bang tại Slovenia trên vùng biên giới với Ý, Áo và Hungary chủ yếu chỉ thay đổi đồng phục bởi đa số họ là người Slovenia địa phương. Cảnh sát biên giới cũng đã là người Slovenia trước khi nước này tuyên bố độc lập. Ngày hôm sau (26 tháng 6), Hội đồng Hành pháp Liên bang ra lệnh đặc biệt cho quân đội nắm quyền kiểm soát “các đường biên giới đã được quốc tế công nhận”. Xem Cuộc chiến mười ngày.

Các lực lượng Quân đội Nhân dân Nam Tư, dựa vào các đơn vị đồn trú tại Slovenia và Croatia, muốn thực hiện nhiệm vụ này trong vòng 48 giờ sau đó. Tuy nhiên, vì Quân đội Nam Tư thông tin sai lệnh nên Liên bang nằm dưới sự tấn công của các lực lượng nước ngoài, và trên thực tế đa số họ không muốn tham gia vào một cuộc chiến trên bộ nơi họ đang làm nhiệm vụ, các lực lượng phòng vệ Slovenia nhanh chóng giành lại hầu hết các vị trí trong vòng vài ngày với tổn thất nhân sự nhỏ nhất cho cả hai phía. Có một vụ việc bị coi là một tội ác chiến tranh, khi kênh ORF TV station của Áo phát sóng đoạn phim tư liệu về ba binh lính Quân đội Nam Tư đầu hàng lực lượng phòng vệ, trước khi có tiếng súng và những người lính ngã xuống. Tuy nhiên, không ai thiệt mạng trong vụ việc này. Tuy vậy đã có những vụ việc phá hủy tài sản và sinh mạng cá nhân bởi Quân đội Nhân dân Nam Tư – các ngôi nhà, một nhà thờ, sân bay dân sự đã bị ném bom, các tài xế xe tải trên đường Ljubljana – Zagreb và các nhà báo Áo tại Sân bay Ljubljana đã bị thiệt mạng. Lúc ấy thỏa thuận ngừng bắn được đưa ra. Theo Thỏa thuận Brioni, được công nhận bởi tất cả các đại diện của các nước cộng hòa, cộng đồng quốc tế gây áp lực với Slovenia và Croatia để đặt ra một thời hạn trì hoãn ba tháng tuyên bố độc lập của họ. Trong ba tháng này, Quân đội Nam Tư đã hoàn thành việc rút khỏi Slovenia, nhưng tại Croatia, một cuộc chiến tranh bùng phát vào mùa thu năm 1991. Sắc tộc Serbia, đã tạo ra quốc gia Cộng hòa Serbian Krajina của riêng họ tại các vùng có đa số người Serbia sinh sống chống lại các lực lượng của Cộng hòa Croatia đang tìm cách đưa vùng ly khai này trở lại dưới quyền cai quản của Croatia. Tại một số vùng chiến lược, Quân đội Nam Tư hành động như một vùng đệm, ở hầu hết những nơi khác quân đội bảo vệ hay giúp đỡ những người Serbia bằng các nguồn lực và cả nhân lực trong cuộc chiến của họ với quân đội và cảnh sát Croatia.

Chiến tranh tại Nam Tư cũ

Các nước thuộc Nam Tư cũ

Tháng 9 năm 1991, Cộng hòa Macedonia cũng tuyên bố độc lập, trở thành nước cộng hòa cũ duy nhất giành được chủ quyền mà không gặp phải sự chống đối của chính quyền Nam Tư tại Belgrade. Năm trăm binh sĩ Mỹ sau đó đã được triển khai dưới danh nghĩa Liên hiệp quốc để giám sát các biên giới phía bắc của Marcedonia với Cộng hòa Serbia, Nam Tư. Tổng thống đầu tiên của Macedonia, Kiro Gligorov, vẫn duy trì được quan hệ tốt với Belgrade và các nước cộng hòa ly khai khác và tới thời điểm ấy vẫn không hề có vấn đề gì giữa Macedonian và cảnh sát biên giới Serbia thậm chí với cả các vùng nhỏ là Kosovo và Preševo là nơi lịch sử được biết là Macedonia, điều có thể gây ra tranh cãi biên giới khi những người Macedonia theo chủ nghĩa quốc gia có thể đặt lại vấn đề (xem IMORO).

Vì cuộc xung đột này, Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc đã đơn phương thông au Nghị quyết số 721 của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc ngày 27 tháng 11 năm 1991, tạo đường cho sự thành lập các chiến dịch gìn giữ hòa bình tại Nam Tư[3].

Tại Bosna và Hercegovina tháng 11 năm 1991, người Serbia tại Bosna đã tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý với đại đa số ủng hộ thành lập cộng hòa Serbia trong các biên giới của Bosna và Hercegovina và ở trong một nhà nước chung với SerbiaMontenegro. Ngày 9 tháng 1 năm 1992, quốc hội của nước Serbia Bosna tự phong tuyên bố một nước “Cộng hòa của người Serbia tại Bosna và Hercegovina” riêng biệt. Cuộc trưng cầu dân ý và việc thành lập SARs được tuyên bố một cách bất hợp hiến bởi chính phủ Bosna và Hercegovina, và không hợp pháp cũng như không có giá trị. Tuy nhiên, vào tháng 2 và tháng 3 năm 1992 chính phủ đã tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý quốc gia về nền độc lập của Bosna khỏi Nam Tư. Cuộc trưng cầu dân ý này cũng được tuyên bố trái ngược với BiH và hiến pháp Liên bang của Tòa án hiến pháp liên bang tại Belgrade và chính phủ mới được thành lập của Serbia Bosna. Cuộc trưng cầu này bị tẩy chay mạnh mẽ bởi người Serbia tại Bosna. Đáng chú ý là Tòa án Liên bang tại Belgrade không quyết định về vấn đề trưng cầu dân ý của người Serbia tại Bosna. Kết quả là khoảng 64-67% trong 98% người tham gia ủng hộ độc lập. Không rõ rằng hai phần ba số phiếu cần thiết trên thực tế có ý nghĩa không và kết quả có đạt yêu cầu này không[cần dẫn nguồn]. Chính phủ nước cộng hòa tuyên bố nền độc lập của mình ngày 5 tháng 4, và người Serbia ngay lập tức tuyên bố nền độc lập của Cộng hòa Srpska. Cuộc chiến tại Bosna bùng nổ ngay sau đó.

Sự chấm dứt của Nam Tư thứ hai

Nhiều ngày được coi là ngày chấm dứt của Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Nam Tư:

Cộng hòa Liên bang Nam Tư

Cộng hòa Liên bang Nam Tư gồm Serbia và Montenegro

Cộng hòa Liên bang Nam Tư (FRY) được thành lập ngày 28 tháng 4 năm 1992, gồm nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Serbia và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Montenegro cũ. Hiến pháp mới của Nam Tư được các đại biểu quốc hội, được bầu trong cuộc tuyển cử một đảng năm 1986 bỏ phiếu thông qua.

Cuộc chiến ở những vùng phía tây Nam Tư cũ chấm dứt năm 1995 với những cuộc đàm phán hòa bình được Hoa Kỳ bảo trợ tại Dayton, Ohio, dẫn tới cái gọi là Thỏa thuận Dayton.

Tại Kosovo, trong suốt thập niên 1990, giới lãnh đạo sắc tộc Albania đã theo đuổi các chiến thuật phản kháng phi bạo lực nhằm giành độc lập cho tỉnh này. Năm 1996, người Albania thành lập Quân đội Giải phóng Kosovo. Phản ứng của Nam Tư là sự sử dụng vũ lực bừa bãi chống lại dân thường, và buộc nhiều sắc tộc Albania phải bỏ chạy khỏi nhà cửa. Sau vụ Racak và sự bất thành của Thỏa thuận Rambouillet trong những tháng đầu năm 1999, NATO ném bom Serbia và Montenegro trong thời gian hơn hai tháng, cho tới khi một thỏa thuận đạt được giữa NATO và chính phủ Milošević, với sự trung gian của Nga. Nam Tư rút các lực lượng của mình khỏi Kosovo, đổi lại NATO rút lại yêu cầu ở trước cuộc chiến đòi các lực lượng NATO vào Serbia, khiến 250.000 người Serbia và các sắc tộc không Albania khác rơi vào cảnh tị nạn. Xem Chiến tranh Kosovo để biết thêm thông tin. Từ tháng 6 năm 1999, tỉnh này thuộc quyền quản lý của các lực lượng gìn giữ hòa bình NATO và Nga, dù tất cả các bên tiếp tục công nhận nó là một phần của Serbia.

Việc Milošević từ chối các tuyên bố thắng cử trong vòng đầu tiên của phe đối lập trong cuộc bầu cử tổng thống liên bang vào tháng 9 năm 2000 đã dẫn tới những cuộc tuần thành lớn ở Belgrade ngày 5 tháng 10 và sự sụp đổ của chính quyền. Ứng cử viên đối lập, Vojislav Koštunica lên nắm quyền tổng thống Nam Tư ngày 6 tháng 10 năm 2000.

Thứ bảy ngày 31 tháng 3 năm 2001, Milošević đầu hàng các lực lượng an ninh của chính quyền tại nhà ở Belgrade, với một lệnh bắt mới được ban hành về các trách nhiệm lạm dụng quyền lực và tham nhũng. Ngày 28 tháng 6 ông bị đưa tới biên giới Nam Tư-Bosna và ngay lập tức sau đó bị đặt dưới sự giám sát của các quan chức SFOR, và tiếp tục bị gửi ra trước Tòa án Tội phạm Quốc tế về Nam Tư cũ của Liên hiệp quốc. Phiên tòa xử ông về các trách nhiệm trong cuộc thảm sát tại Bosna và những tội ác chiến tranh tại Croatia và tại Kosovo cùng Metohija bắt đầu tại The Hague ngày 12 tháng 2 năm 2002, ông qua đời tại đó ngày 11 tháng 3 năm 2006, khi phiên tòa vẫn đang diễn ra. Ngày 11 tháng 4 năm 2002, nghị viện Nam Tư thông qua một điều luật cho phép trục xuất tất cả những người bị Tòa án Tội phạm Quốc tế buộc các tội ác chiến tranh.

Tháng 3 năm 2002, chính phủ Serbia và Montenegro đồng ý cải cách Cộng hòa Liên bang Nam Tư thành một hình thức liên minh mới, lỏng lẻo hơn, được gọi là Serbia và Montenegro. Theo nghị quyết của Nghị viện Liên bang Nam Tư ngày 4 tháng 2 năm 2003, Nam Tư, ít nhất trên hình thức, đã ngừng tồn tại. Một chính phủ Liên bang vẫn tồn tại ở Belgrade nhưng chủ yếu chỉ có quyền lực nghi thức. Các chính phủ riêng của Serbia và của Montenegro tiến hành các công việc riêng của mình như thể đó là hai nước cộng hòa độc lập. Hơn nữa, các hình thức hải quan đã được thiết lập dọc theo biên giới cũ giữa hai nước cộng hòa.

Ngày 21 tháng 5 năm 2006, 86% người dân Montenegro đã tham gia một cuộc trưng cầu dân ý đặc biệt về nền độc lập của Montenegro ra khỏi liên minh với Serbia. 55.5% đã bỏ phiếu giành độc lập, được công nhận là trên 55% ngưỡng giới hạn do Liên minh Châu Âu đặt ra để chính thức công nhận nền độc lập của Montenegro. Ngày 3 tháng 6 năm 2006, Montenegro chính thức tuyên bố độc lập, Serbia cũng tuyên bố hai ngày sau đó, chính thức giải tán di sản cuối cùng của Nam Tư cũ.

Kosovo tuyên bố độc lập vào tháng 2 năm 2008, nhưng nó vẫn chưa phải là một thành viên của Liên hiệp Quốc và chỉ được 41 chính phủ công nhận.

Di sản

Các quốc gia mới

Các quốc gia ngày nay được thành lập từ những phần cũ của Nam Tư gồm:

cũng như nhà nước Kosovo được công nhận một phần.

Nước cộng hòa đầu tiên thuộc Nam Tư cũ gia nhập Liên minh Châu Âu là Slovenia, nộp đơn năm 1996 và trở thành một thành viên năm 2004. Croatia đã nộp đơn xin gia nhập năm 2003, và trở thành thành viên tháng 7 năm 2013. Cộng hòa Macedonia nộp đơn năm 2004, và có thể gia nhập trong giai đoạn 2010–2015. Bốn nước cộng hòa còn lại còn chưa nộp đơn gia nhập nên nói chung họ khó có thể trở thành thành viên trước năm 2015. Các quốc gia này tham gia nhiều thỏa thuận đối tác với Liên minh Châu Âu. Từ ngày 1 tháng 1 năm 2007, các nước này cùng Albania đã bị bao quanh bởi các quốc gia thành viên EU. Xem thêm: Mở rộng Liên minh Châu Âu.

Các mối liên hệ văn hóa và sắc tộc còn lại

Sự tương đồng của các ngôn ngữ và lịch sử liên kết dài lâu đã để lại nhiều mối quan hệ trong các dân tộc của các quốc gia mới, thậm chí khi các chính sách riêng của các quốc gia mới thành lập muốn tạo lập sự khác biệt, đặc biệt trong ngôn ngữ. Tiếng Serbo-Croatian về mặt ngôn ngữ học là một ngôn ngữ duy nhất, với nhiều biến thể nói và viết và cũng từng là phương tiện giao tiếp tại những nơi khi các ngôn ngữ khác chiếm ưu thế (Slovenia, Macedonia). Hiện tại các tiêu chuẩn ngôn ngữ khác nhau đang tồn tại cho tiếng Bosna, tiếng Croatiatiếng Serbia. Về mặt kỹ thuật Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Nam Tư có ba ngôn ngữ chính thức, cùng với các ngôn ngữ nhỏ được sử dụng chính thức tại các cộng đồng đó, nhưng tại các cơ quan liên bang chỉ tiếng Serbo-Croatian được sử dụng.

Ký ức về thời cùng sống chung và những khía cạnh tốt đẹp của thời gian ấy được gọi là Yugonostalgy (Jugonostalgija). Rất nhiều khía cạnh của Yugonostalgia liên quan tới hệ thống xã hội chủ nghĩa và cảm giác an toàn an sinh xã hội được cung cấp và những sự trì trệ của nó.

Linh tinh

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ “Jasenovac”. Truy cập 10 tháng 2 năm 2015.
  2. ^ a ă http://atheism.about.com/library/world/KZ/bl_YugoReligionDemography.htm
  3. ^ “Resolution 721”. N.A.T.O. ngày 25 tháng 9 năm 1991. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2006. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)

Đọc thêm

  • Allcock, John B.: Explaining Yugoslavia. New York: Columbia University Press, 2000
  • Anne Marie du Preez Bezdrob: Sarajevo Roses: War Memoirs of a Peacekeeper. Oshun, 2002. ISBN 177007031
  • Chan, Adrian: Free to Choose: A Teacher’s Resource and Activity Guide to Revolution and Reform in Eastern Europe. Stanford, CA: SPICE, 1991. ED 351 248
  • Cigar, Norman,: Genocide in Bosina: The Policy of Ethnic-Cleansing. College Station: Texas A&M University Press, 1995
  • Cohen, Lenard J.: Broken Bonds: The Disintegration of Yugoslavia. Boulder, CO: Westview Press, 1993
  • Conversi, Daniele: German -Bashing and the Breakup of Yugoslavia, The Donald W. Treadgold Papers in Russian, East European and Central Asian Studies, no. 16, March 1998 (University of Washington: HMJ School of International Studies) http://easyweb.easynet.co.uk/conversi/german.html
  • Dragnich, Alex N.: Serbs and Croats. The Struggle in Yugoslavia. New York: Harcourt Brace Jovanovich, 1992
  • Fisher, Sharon: Political Change in Post-Communist Slovakia and Croatia: From Nationalist to Europeanist. New York: Palgrave Macmillan, 2006 ISBN 1-4039-7286-9
  • Glenny, Mischa: The Balkans: Nationalism, War and the Great Powers, 1804-1999 (London: Penguin Books Ltd, 2000)
  • Glenny, Mischa: The fall of Yugoslavia: The Third Balkan War, ISBN 0-14-026101-X
  • Gutman, Roy.: A Witness to Genocide. The 1993 Pulitzer Prize-winning Dispatches on the “Ethnic Cleansing” of Bosnia. New York: Macmillan, 1993
  • Hall, Brian: The Impossible Country: A Journey Through the Last Days of Yugoslavia. Penguin Books. New York, 1994
  • Harris, Judy J.: Yugoslavia Today. Southern Social Studies Journal 16 (Fall 1990): 78-101. EJ 430 520
  • Hayden, Robert M.: Blueprints for a House Divided: The Constitutional Logic of the Yugoslav Conflicts. Ann Arbor: University of Michigan Press, 2000
  • Hoare, Marko A., A History of Bosnia: From the Middle Ages to the Present Day. London: Saqi, 2007
  • Jelavich, Barbara: History of the Balkans: Eighteenth and Nineteenth Centuries, Volume 1. New York: American Council of Learned Societies, 1983 ED 236 093
  • Jelavich, Barbara: History of the Balkans: Twentieth Century, Volume 2. New York: American Council of Learned Societies, 1983. ED 236 094
  • Kohlmann, Evan F.: Al-Qaida’s Jihad in Europe: The Afghan-Bosnian Network Berg, New York 2004, ISBN 1-85973-802-8; ISBN 1-85973-807-9
  • Lampe, John R: Yugoslavia As History: Twice There Was a Country Great Britain, Cambridge, 1996, ISBN 0-521-46705-5
  • Owen, David: Balkan Odyssey Harcourt (Harvest Book), 1997
  • Ramet, Sabrina: The Three Yugoslavias: State-building and Legitimation, 1918-2003. Bloomington: Đại học Indiana Press, 2006
  • Sacco, Joe: Safe Area Gorazde: The War in Eastern Bosnia 1992-1995. Fantagraphics Books, January 2002
  • Silber, Laura and Allan Little:Yugoslavia: Death of a Nation. New York: Penguin Books, 1997
  • West, Rebecca: Black Lamb and Gray Falcon: A Journey Through Yugoslavia. Viking, 1941
  • White, T.: Another fool in the Balkans – in the footsteps of Rebbecca West. Cadogan Guides, London, 2006
  • Time homepage: New Power

Liên kết ngoài

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

Chuyện vỉa hè


TruocDen
TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Chuyện vỉa hè 4 điểm tin về bốn bài viết đáng lưu ý: Bài một là Cẩn trọng với hiệu ứng “độc quyền bán” lẫn “độc quyền mua” trên Blog VOA của tác giả Cao Huy Huân ngày 10 tháng 11 năm 2015. Bài báo đưa ra những con số nhập siêu Việt Trung tăng vọt đáng lo ngại thời gian gần đây, kéo theo hệ lụy hàng hóa nhập kém chất lượng và lạc hậu cùng với sự tăng trưởng kinh tế không bền vững, phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc. Bài hai là “Quan hệ Việt Trung: chưa li hôn đã chia tài sản” trên blog anhbasam của tác giả Người buôn gió ngày 6 tháng 11 năm 2015. Thông tin tổng hợp của bài báo đúc kết tình hình thế giới biến chuyển và quan hệ Việt Trung từng bước biến đổi “đã không mang lại sự thuần phục của Việt Nam đối với Trung Quốc như trước đây. Tuy nhiên dự liệu trước sự xa dần của Việt Nam khỏi vòng tay mình, Trung Quốc đã thành công trong việc bắt Việt Nam chấp nhận những gì mà người Trung Quốc đã chiếm đoạt của Việt Nam. Quần đảo Hoàng Sa và một số đảo ở Trường Sa mà Trung Quốc chiếm giữ đã không được nhắc tới trong hội đàm,  phần lớn thác Bản Giốc chính thức được hiệp định hoá công nhận quyền sở hữu của Trung Quốc. Việt Nam tiếp tục phải thực hiện những tuyên bố, cam kết, hiệp định đã ký với Trung Quốc trước đây trên nhiều lãnh vực văn hoá, kinh tế, quốc phòng, quan điểm về Đài Loan. Cả hai bên Trung Việt dường như đã tính ngầm đến một cuộc ly hôn ở tương lai. Chuyến đi của Tập đến Việt Nam là để xác nhận lại tài sản, quyền lợi của của Trung Quốc ở Việt Nam.  Nếu như sau này Việt Nam rất khoát thoát khỏi ảnh hưởng Trung Quốc, Việt Nam phải bằng lòng chấp nhận những gì Trung Quốc đã chiếm giữ, đồng thời sau này phải bảo đảm cho quyền lợi kinh tế, an ninh của Trung Quốc trên đất Việt Nam, ở những nơi mà tập đoàn kinh tế Trung Quốc đã đầu tư.” Bài thứ ba là ” Hệ thống phát thanh bí mật của Bắc Kinh truyền tải tin tức thân Trung Quốc khắp Washington và thế giới ” (Beijing’s covert radio network airs China-friendly news across Washington, and the world) đăng trên Reuters của tác giả  Koh Gui Qing và John Shiffman, dịch giả Trần Văn Minh trên ABS ngày 2 tháng 11 năm 2015.  Đài phát thanh Quốc tế Trung Quốc (CRI) bị các phóng viên Reuters khám phá là do những người Mỹ gốc Trung Quốc đứng tên, làm chủ cổ phần của các công ty phát thanh Mỹ, là hệ thống phát thanh bí mật của Trung Quốc trên đất Mỹ, truyền tải những tin tức thân Trung Quốc khắp Washington và thế giới, để gây ảnh hưởng đến chính phủ và công chúng Mỹ. Thông tin mạng và chiến tranh thông tin là một phần trong cuộc tranh giành quyền lực mềm của các siêu cường trên thế giới. Ủy ban Truyền thông Liên bang (FCC) và Bộ Tư pháp Mỹ lần này chắc sẽ vào cuộc điều tra. Bài cuối cùng nhưng cũng có thể là một trong những bài đáng để ý nhất: Tại sao Tổng thống Obama không thăm Việt Nam? đăng trên Blog VOA của tác giả Nguyễn Hưng Quốc ngày 11 tháng 11 năm 2015. “Từ gần nửa năm nay, sau chuyến thăm Mỹ của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, rất nhiều người Việt Nam tin tưởng giới lãnh đạo Việt Nam, hoặc ít nhất, một phần khá lớn trong giới lãnh đạo Việt Nam, quyết định ngả theo Mỹ để thoát khỏi những ảnh hưởng nặng nề từ Trung Quốc và để bảo vệ Biển Đông. Tuy nhiên, việc Tổng thống Mỹ từ chối đến Việt Nam năm nay cho thấy con đường theo Mỹ vẫn còn lắm chông chênh. Bức tranh chính trị Việt Nam, tôi nghĩ, sẽ rõ hơn, sau kỳ đại hội đảng vào đầu năm tới “. TS. Nguyễn Hưng Quốc kết luận.

Chuyện vỉa hè 4 xin dừng tại đây. Chúng ta hãy tự cũng cố và trầm tĩnh theo dõi.

Hoàng Kim

Tài liệu dẫn:

CẨN TRỌNG VỚI HIỆU ỨNG “ĐỘC QUYỀN BÁN” LẪN “ĐỘC QUYỀN MUA”

Blog VOA

Cao Huy Huân

10-11-2015

Thực phẩm giả bị nhà chức trách Trung Quốc phát hiện. Tất cả đều là thực phẩm độc hại: giá đỗ độc, dầu bẩn, thịt lợn nhiễm thuốc. (ảnh tư liệu ngày 24 tháng 5, 2011). Photo: AFP

Thực phẩm giả bị nhà chức trách Trung Quốc phát hiện. Tất cả đều là thực phẩm độc hại: giá đỗ độc, dầu bẩn, thịt lợn nhiễm thuốc. (ảnh tư liệu ngày 24 tháng 5, 2011). Photo: AFP

Trong cuộc hội kiến với Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ngày 5-11, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị hai bên thúc đẩy thương mại hai nước tăng trưởng bền vững, từng bước giảm nhanh nhập siêu của Việt Nam. Giảm nhập siêu là một hướng đi đúng, đặc biệt nhập siêu từ Trung Quốc – một địa chỉ đáng lo ngại về hàng hóa kém chất lượng và lạc hậu. Giảm nhập siêu sẽ giúp Việt Nam tránh được hiệu ứng, đúng hơn là thoát khỏi hiệu ứng “độc quyền bán” của Trung Quốc. Tuy nhiên nhìn một cách toàn diện, quan hệ thương mại Việt-Trung dường như cũng đang mắc phải hiệu ứng “độc quyền mua” ở một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực đã cứu cán cân thương mại Việt Nam.

Tại sao phải lo nhập siêu từ Trung Quốc?

Ngày 29-9, Tổng cục Thống kê công bố tình hình kinh tế xã hội 8 tháng đầu năm. Theo đó, trong tổng số 109,9 tỉ USD nhập siêu cả nước, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu rất cao với 44,7 tỉ USD (tăng 7,7% so với cùng kỳ năm ngoái), khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) xuất siêu 11,9 tỉ USD (con số này cùng kỳ năm ngoái chỉ 3,7 tỉ USD). Riêng nhập siêu từ Trung Quốc 9 tháng là 24,3 tỉ USD, tăng mạnh 21,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Một số chuyên gia kinh tế cũng dự báo nhập siêu từ Trung Quốc từ nay đến cuối năm có thể tăng cao, chưa có dấu hiệu giảm. Không chỉ các chuyên gia, ngay cả những người dân bình thường cũng có thể hình dung tình thế phụ thuộc rất nhiều vào thị trường Trung Quốc hiện nay của Việt Nam khi nhìn vào những con số nhập siêu tăng như diều gặp gió, bất chấp Việt-Trung xảy ra nhiều căng thẳng trong thời gian vừa qua do vấn đề tranh chấp biển Đông xuất phát từ những hành động của Bắc Kinh. Người ta có thể ví von rằng hiện tượng “độc quyền bán” đang hiện diện trong quan hệ Việt-Trung. Có nhiều lý do khiến việc nhập siêu từ Trung Quốc trở nên đáng lo ngại hơn bao giờ hết.

Thứ nhất, chất lượng hàng hóa Trung Quốc vẫn luôn là câu hỏi lớn, thách thức lớn với Việt Nam, thậm chí ngay cả với các thị trường châu Âu, Mỹ. Giá cả rẻ, thậm chí là rất rẻ hàm ý cạnh tranh mạnh đặt ra các khoảng trống rủi ro về chất lượng hàng hóa nhập từ Trung Quốc. Các công bố gần đây của Mỹ về hệ thống sản xuất “sao chép” của Bắc Kinh, ngay cả với các mặt hàng cao cấp như vũ khí, Bắc Kinh cũng bị tình nghi dính líu đến các vụ tấn công sở hữu trí tuệ của các quốc gia khác, đặc biệt là Mỹ. Điều này càng thuyết phục khi trong tốp 10 ngành nhập khẩu nhiều nhất từ Trung Quốc vào Việt Nam, các mặt hàng nhập chủ yếu liên quan về thiết bị, khoa học kỹ thuật nặng tính “chất xám”. Điển hình như máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, điện thoại các loại kèm linh kiện, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện. Nếu không cẩn thận, Bắc Kinh có thể chuyển hệ thống lạc hậu hơn sang Việt Nam.

Thứ hai, quan hệ Việt-Trung vốn ngày càng căng thẳng và vẫn chưa dịu đi bởi hàng loạt hành động bạo lực của Trung Quốc tại khu vực ngày càng có xu hướng tăng dần. Sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế là động lực để giải quyết các vấn đề về chính trị; tuy nhiên nếu quan hệ một chiều, ví dụ như Việt Nam phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu của Trung Quốc, sẽ dễ đưa Việt Nam vào thế chịu trận nếu có những va chạm, hay các cuộc chạm trán về mặt lợi ích trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Quan trọng không kém chính là khả năng tồn tại của các doanh nghiệp Việt Nam, vốn vẫn còn quá non yếu để đối phó với các chiêu trò của doanh nhân Trung Quốc, vốn có thế mạnh về vốn, nhân lực, giá hàng hóa rẻ hơn bao giờ hết. Nền kinh tế thị trường, trong bối cảnh hội nhập các hiệp định mậu dịch tự do với các quốc gia khác (như AEC, TPP…), nếu thiếu doanh nghiệp nội địa, tức nền kinh tế bằng không (0).

Phụ thuộc xuất khẩu cũng… thua

Mặc dù hiện nay Việt Nam chịu nhập siêu từ Trung Quốc, nhưng cơ cấu xuất nhập khẩu, hoạt động thương mại của Việt Nam – Trung Quốc dường như không đều ở nhiều ngành, nhiều mặt hàng khác nhau. Chỉ trong 9 tháng đầu năm 2015, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc chỉ đạt 12,5 tỷ USD. Theo Tổng cục Thống kê, với trị giá nêu trên, hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm gần 30% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước, tính đến hết tháng 8/2015.

Theo Hiệp hội chế biến và xuất khẩu Việt Nam (VASEP), Trung Quốc hiện là một trong những thị trường nhập khẩu thủy sản chính của Việt Nam, đứng thứ 4 và chiếm 8% tỷ trọng xuất khẩu trong năm 2014. Tỷ trọng xuất khẩu của tôm trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang Trung Quốc tăng từ 13% vào năm 2003 và lên tới 70% trong năm 2014.

Không những thế, thị trường gạo xuất khẩu sang Trung Quốc, tuy có giảm trong tháng 9/2015, nhưng cũng đang phụ thuộc vào “bạn hàng” Trung Quốc rất nhiều. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, khối lượng gạo xuất khẩu 9 tháng đầu năm nay ước đạt 4,47 triệu tấn và 1,92 tỷ USD.

Các mặt hàng thủy hải sản, nông – lâm – ngư nghiệp phụ thuộc “người mua” Trung Quốc ngày càng rõ rệt, trong khi hệ thống thị trường thay thế của Việt Nam vẫn còn yếu kém; hàng xuất khẩu nông sản, thủy sản, lương thực – thực phẩm… của Việt Nam vẫn chưa đủ chuẩn để lên bàn ăn của người phương Tây. Điều này dẫn đến một hệ lụy, như hiệu ứng “độc quyền mua”, gạo Việt xuất khẩu sang Trung Quốc giảm mạnh do nước này đang kiểm soát chặt chẽ việc nhập khẩu gạo theo hình thức qua biên giới, điển hình như tháng 9/2015 vừa qua. Nếu quan hệ Việt-Mỹ leo thang vì bất kỳ vấn đề gì, ví dụ như biển Đông, thì việc thâu tóm thị trường có bản chất tương tự “độc quyền mua” của Trung Quốc cũng sẽ làm Việt Nam thiệt hại lớn. Bài học từ cuộc “chiến tranh chuối” mà Trung Quốc áp đặt lên Philippines, khiến Manila chịu nhiều thiệt hại, là minh chứng rõ ràng và khá thuyết phục về hậu quả của thị trường phụ thuộc quá nhiều vào tham vọng của Bắc Kinh.

Quan hệ Việt-Trung đang đi vào giai đoạn đầy thử thách với nhiều nhạy cảm về tranh chấp lãnh thổ. Rủi ro hoàn toàn có thể xảy ra ở nhiều cấp độ, hình thức khác nhau, không loại trừ khả năng “chạm trán” trên mặt trận kinh tế. Cẩn tắc vô áy náy, Việt Nam phải mở rộng sân chơi mậu dịch tự do với nhiều quốc gia khác, đặc biệt cần tận dụng cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), cùng các hiệp định tự do với EU và nhiều quan hệ song phương khác.

QUAN HỆ VIỆT TRUNG: CHƯA LI HÔN ĐÃ CHIA TÀI SẢN

Người Buôn Gió

06-11-2015

Chủ tịch Tập đến Việt Nam lần này trên cương vị người lãnh đạo tối cao nhất của Trung Quốc. Việt Nam chào đón chủ tịch Tập với 21 phát đại bác, nghi thức ngoại giao cao nhất dành cho nguyên thủ quốc gia đến thăm chính thức Việt Nam.

Nhưng lần đầu tiên một nguyên thủ quốc gia đến Việt Nam không được nhân dân Việt Nam thời CNXH chào đón, đặc biệt là là nguyên thủ của một nước CNXH lớn. Nhiều cuộc biểu tình phản đối ông Tập đã diễn ra ở hai thành phố Hà Nội và Sài Gòn trước và ngay trong ngày ông Tập đến Việt Nam. Mặc dù các cuộc biểu tình đã bị đàn áp thô bạo, nhưng vẫn kịp xảy ra trong khoảnh khắc ngắn ngủi đủ để  dư luận thấy được thái độ  không hoanh nghênh của dân chúng Việt Nam với lãnh đạo Trung Quốc. Nhữnh khoản khắc đủ để các hãng thông tấn quốc tế lớn như BBC, RFI…có được hình ảnh về cuộc biểu tình phản đối này.

Câu hỏi đặt ra ở đây là, liệu phía công an Việt Nam có thực sự không muốn cuộc biểu tình này diễn ra, nhưng do yếu kém công an đã không kiểm soát được để ngăn chặn ngay từ đầu, hay vì những người biểu tình có những đối sách bất ngờ khiến công an không kịp trở tay. Hoặc phía công an muốn nó xảy ra rồi đàn áp, giải tán?

Mặc dù thông tin về biểu tình đã có trước đó, số lượng người tham gia không quá nhiều và cũng không quá xa lạ với những hồ sơ mà công an Việt Nam có. Thế nhưng công an Việt Nam vẫn để biểu tình chống ông Tập nổ ra. Câu trả lời là, nhà nước Việt Nam cố tình để cho Tập thấy trong nội bộ nhân dân Việt Nam có những ý kiến phản đối gay gắt quan hệ Việt Trung. Nhà nước Việt Nam đang rất khó khăn khi giải quyết vấn đề này. Thậm chí phải dùng đến vũ lực, đánh đập đổ máu để ngăn cản, trấn áp biểu tình.

Đương nhiên thì Tập hiểu thông điệp mà phía Việt Nam ngầm đưa ra, thông điệp đó cũng muốn biện bạch về những đường lối gần đây  của nhà nước Việt Nam đang dần chuyển dịch xa rời tầm khống chế của Trung Quốc. Bởi vì thế,  Tập đem theo uỷ viên bộ chính trị , chủ nhiệm ban nghiên cứu chính sách trung ương Vương Hộ Ninh để bàn về đối sách mới trong quan hệ hai đảng cộng sản Việt Trung.

Cùng ngày Tập đến Việt Nam, Hoa Kỳ công bố toàn văn hiệp định TPP mà Việt Nam tham gia,  trong hiệp định này thì Việt Nam sẽ buộc phải cho phép công nhân được lập công đoàn độc lập không chịu sự lãnh đạo của nhà nước, điều mà Trung Quốc chưa có. Trước nay chính sách hành chính, mô hình quản lý xã hội ở Việt Nam đều sao chép từ Trung Quốc. Đây là lần đầu tiên một chính sách quan trọng như vậy, Việt Nam không làm theo Trung Quốc mà thay đổi theo điều kiện của Hoa Kỳ.

Cũng trong ngày 5 tháng 11 bộ trưởng quốc phòng Nhật có mặt tại Cam Ranh. Trước đó vài ngày, vào ngày 2 tháng 11 Nhật đã tặng Việt Nam hai tàu tuần tra với mục đích giúp Việt Nam bảo vệ chủ quyền trên biển Đông. Ông Nakatani sẽ gặp bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh để thảo luận về việc Trung Quốc bồi đắp đảo quy mô lớn ở Biển Đông, đồng thời giải thích cho ông Thanh rõ điều luật an ninh Nhật ban hành mới đây cho phép binh sĩ Nhật mở rộng vai trò ở nước khác.

Trước những phản ứng của người dân Việt Nam, động thái của Hoa Kỳ, Nhât Bản. Tập Cận Bình đã khôn ngoan khi không tỏ vẻ trịch thượng, uy quyền của bậc thiên tử đến chư hầu.  Phát biểu của ông Tập khá mềm mỏng, nhũn nhặn. Ông chú ý khơi lại tình cảm hai nước, ông đến thăm lăng chủ tịch Hồ Chí Minh vẻ thành kính, nhắc nhở lại truyền thống thân thiết hai nước anh em. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cũng hứa hẹn kiểm soát tốt bất đồng trên biển và rút ngắn chênh lệch cán cân thương mại giữa hai nước.

Chuyến đi của Tập Cận Bình đến Việt Nam là chuyến đi khá yếu thế nhất của lãnh đạo Trung Quốc từ khi hai nước đặt quan hệ đến nay. Cho dù các cấp lãnh đạo Việt Nam tiếp đón Tập theo nghi thức đầy đủ và cao cấp nhất. Nhưng sự thiếu nhiệt tình, thiếu tận tâm của các cấp lãnh đạo Việt Nam phảng phất qua những lời trao đổi giữa hai bên trong hội đàm. Có thể sự lạnh nhạt của lãnh đạo Việt Nam không đủ lớn để dễ dàng trông thấy, dù sao thì trước một cường quốc đàn anh mà Việt Nam làm nô dịch bao năm nay thì sự lạnh nhạt khó thể thấy là điều đương nhiên. Nhìn những văn bản ký kết song phương giữa hai nước Việt Trung lần này dược công bố thì rõ ràng là những hiệp định không xứng tầm so với chuyến đi của một ông lớn như Tập Cận Bình.

Sau hội đàm, hai nhà lãnh đạo đã chứng kiến lễ ký kết các văn bản thỏa thuận hợp tác song phương gồm:

– Kế hoạch hợp tác đào tạo cán bộ giữa hai Đảng giai đoạn 2016 – 2020.

– Hiệp định về tàu thuyền đi lại tại khu vực đi lại tự do ở cửa sông Bắc Luân giữa Chính phủ hai nước.

– Hiệp định hợp tác bảo vệ và khai thác tài nguyên du lịch thác Bản Giốc (Đức Thiên) giữa Chính phủ hai nước

Điều đặc biệt rất lớn ở lần gặp này là Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ động đề xuất một số phương hướng lớn để làm sâu sắc thêm quan hệ hai đảng, hai nước trong thời gian tới. Trước nay mọi việc trong quan hệ hai Đảng hầu như Việt Nam đều lệ thuộc nghe chỉ đạo của TQ. Chắc chắn việc đề xuất của ông Trọng không phải là điều Tập Cận Bình muốn nghe. Những đề xuất của ông Trọng được báo chí Việt Nam mô tả có  những cụm từ như bình đẳng, cân bằng, thực chất, hiệu quả và đôi bên cùng có lợi. Điều đó có thể phần nào cho thấy, những đề xuất của ông Trọng là những đòi hỏi giảm thiểu những thiệt thòi về kinh tế  của Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc. Một nghĩa khác thì  đề xuất của ông Trọng còn ám chỉ rằng, nếu Trung Quốc không có những thay đổi để Việt Nam có được sự công bằng trong quan hệ kinh tế,  thì điều đó sẽ ảnh hưởng lớn tới quan hệ hai Đảng, hai nước.

Gạt bỏ những đám mây mù của ngôn ngữ ngoại giao ca ngợi  truyền thống tốt đẹp giữa hai nước cộng sản anh em này, đang tràn ngập trên báo chí như mọi khi. Trông vào thực chất chuyến đi của Tập, đã không mang lại sự thuần phục của Việt Nam đối với Trung Quốc như trước đây.

Tuy nhiên dự liệu trước sự xa dần của Việt Nam khỏi vòng tay mình, Trung Quốc đã thành công trong việc bắt Việt Nam chấp nhận những gì mà người Trung Quốc đã chiếm đoạt của Việt Nam. Quần đảo Hoàng Sa và một số đảo ở Trường Sa mà Trung Quốc chiếm giữ đã không được nhắc tới trong hội đàm,   phần lớn thác Bản Giốc chính thức được hiệp định hoá công nhận quyền sở hữu của Trung Quốc. Việt Nam tiếp tục phải thực hiện những tuyên bố, cam kết, hiệp định đã ký với Trung Quốc trước đây trên nhiều lãnh vực văn hoá, kinh tế, quốc phòng, quan điểm về Đài Loan.

Cả hai bên Trung Việt dường như đã tính ngầm đến một cuộc ly hôn ở tương lai. Chuyến đi của Tập đến Việt Nam là để xác nhận lại tài sản, quyền lợi của của Trung Quốc ở Việt Nam.  Nếu như sau này Việt Nam rất khoát thoát khỏi ảnh hưởng Trung Quốc, Việt Nam phải bằng lòng chấp nhận những gì Trung Quốc đã chiếm giữ, đồng thời sau này phải bảo đảm cho quyền lợi kinh tế, an ninh của Trung Quốc trên đất Việt Nam, ở những nơi mà tập đoàn kinh tế Trung Quốc đã đầu tư.

Trong cuộc chơi giữa hai bên này, dù dứt gánh bây giờ thì Trung Quốc vẫn nắm được nhiều mối lợi, nếu tiếp tục quan hệ như cũ thì các mối lợi thuộc về Trung Quốc chỉ có hơn chứ không có giảm.  Hơn nữa những nhà lãnh đạọ Việt Nam chưa thoát được miếng mồi hấp dẫn của Trung Quốc cam kết bảo vệ cho ĐCSVN quyền cai trị ở Việt Nam. Chỉ chừng nào ĐCSVN tự lực được mình giữ quyền cai trị đất nước mà không cần nhờ đến sự giúp đỡ của Trung Quốc, hoặc ĐCSVN tự ý thức rằng sự phát triển của đất nước quan trọng hơn sự cai trị của ĐCSVN… lúc đó cuộc hôn nhân quái dị này mới chấm dứt thực sự.

HỆ THỐNG PHÁT THANH BÍ MẬT CỦA BẮC KINH  TRUYỀN TẢI TIN TỨC THÂN TRUNG QUỐC KHẮP WASHINGTON VÀ THẾ GIỚI

Reuters

Tác giả: Koh Gui QingJohn Shiffman

Dịch giả: Trần Văn Minh

02-11-2015

Phần 3: Chính quyền Trung Quốc kiểm soát hầu hết nội dung phát thanh của một đài phủ sóng trên toàn thủ đô Hoa Kỳ với các chương trình ủng hộ Bắc Kinh. WCRW là một phần của một mạng lưới toàn cầu đang mở rộng với 33 đài, trong đó sự can dự của Trung Quốc được giấu kín.

Bắc Kinh/ Washintong – Hồi tháng 8, các ngoại trưởng của 10 nước phản đối Trung Quốc xây đảo nhân tạo trong vùng Biển Đông tranh chấp. Khi truyền thông thế giới tường trình cuộc đụng độ ngoại giao, một đài phát thanh phục vụ thành phố quyền lực nhất nước Mỹ có một cái nhìn khác biệt về tin tức đó.

Nằm bên ngoài Washington, DC, đài phát thanh WCRW đã không đề cập đến dự án xây đảo có tính khiêu khích của Trung Quốc. Thay vào đó, một nhà phân tích giải thích rằng những căng thẳng trong khu vực là do “thế lực bên ngoài” không được nêu tên, tìm cách “can dự vào khu vực này của thế giới viện dẫn những tuyên bố sai trái”.

Đằng sau chương trình phát thanh của WCRW là một sự thật không bao giờ được nêu lên: Chính quyền Trung Quốc kiểm soát phần lớn những gì được phát sóng trên đài, là những gì được nghe ở Điện Capital và Tòa Bạch Ốc.

WCRW chỉ là một trong số đài phát thanh trên thế giới ngày càng gia tăng, qua đó Bắc Kinh đang phát đi các tin tức và chương trình thân Trung Quốc.

Một cuộc điều tra của Reuters trải rộng 4 châu lục đã xác định được ít nhất 33 đài phát thanh ở 14 quốc gia, là một phần của một mạng lưới phát thanh toàn cầu được thiết kế theo cách che dấu chủ nhân chính của nó: đó là Đài Phát thanh Quốc tế Trung Quốc của nhà nước, hoặc CRI.

Truy tìm các mối liên kết của CRI

Để tường trình câu chuyện này, 39 phóng viên Reuters đã truy cập hồ sơ của các công ty ở 26 nước để xác định một mạng lưới các đài phát thanh kết nối với ba người nước ngoài quốc tịch Trung Quốc và kẻ hậu thuẫn đằng sau hậu trường, là Đài phát thanh quốc tế Trung Quốc của chính phủ TQ.

Các phóng viên đã theo dõi các chương trình phát thanh ở các quốc gia này, chương trình được truyền đi chủ yếu bằng tiếng Anh và tiếng Trung, nhưng cũng có các ngôn ngữ địa phương, bao gồm tiếng Thái, Ý và Thổ Nhĩ Kỳ.

Hồ sơ của công ty Trung Quốc được thu thập tại Bắc Kinh. Tại Hoa Kỳ, các phóng viên xem xét lại hàng loạt hồ sơ về các quy định, quy hoạch, tài sản, thuế, xuất nhập cảnh và công ty, bao gồm cả hợp đồng mua đài phát thanh và hợp đồng thuê mướn.

Nhiều đài chủ yếu phát đi các nội dung được CRI hoặc các công ty truyền thông mà họ kiểm soát ở Mỹ, Úc và Âu Châu tạo ra hoặc cung cấp. Ba doanh nhân nước ngoài người Trung Quốc là đối tác địa phương của CRI, điều hành các công ty và trong một số trường hợp sở hữu cổ phần của các đài. Mạng lưới lan rộng từ Phần Lan tới Nepal tới Úc, và từ Philadelphia tới San Francisco.

Tại WCRW, Bắc Kinh nắm giữ lợi ích tài chính trực tiếp trong chương trình phát thanh của đài ở Washington. Hồ sơ công ty tại Hoa Kỳ và Trung Quốc cho thấy, một công ty con có trụ sở ở Bắc Kinh của đài phát thanh nhà nước Trung Quốc sở hữu 60% một công ty Mỹ, là công ty thuê hầu hết giờ phát sóng của đài.

Trung Quốc có một số cơ sở truyền thông nhà nước, chẳng hạn như hãng tin Tân Hoa Xã nổi tiếng trên thế giới. Nhưng các viên chức Mỹ với nhiệm vụ theo dõi chủ sở hữu cơ sở truyền thông nước ngoài và tuyên truyền cho biết, họ không biết gì về các hoạt động phát thanh do Trung Quốc kiểm soát trong nội địa Hoa Kỳ cho đến khi được Reuters liên lạc. Có 6 cựu viên chức cao cấp của Mỹ cho biết, chính quyền liên bang phải điều tra xem các hoạt động này có vi phạm luật pháp về quản lý truyền thông và đại lý nước ngoài ở Hoa Kỳ hay không.

Một điều luật của Hoa Kỳ được Ủy ban Truyền thông Liên bang (FCC) áp dụng là cấm các chính phủ nước ngoài hoặc đại lý của họ sở hữu giấy phép phát thanh cho một đài ở Mỹ. Theo Đạo luật Truyền thông, các cá nhân, chính phủ và công ty nước ngoài được phép sở hữu trực tiếp tối đa 20% đối với một đài và lên đến 25% đối với tổng công ty mẹ của một đài ở Mỹ.

Tự CRI không nắm giữ cổ phần của các đài ở Mỹ, nhưng nó có cổ phần đa số thông qua một chi nhánh của công ty mướn WCRW ở Washington và một đài ở Philadelphia với cường độ sóng mạnh tương tự.

Cựu Chủ tịch FCC Reed Hundt cho biết: “Nếu có những cáo buộc về quyền sở hữu thực sự của chính phủ Trung Quốc đối với các đài phát thanh thì tôi chắc chắn rằng FCC sẽ điều tra“.

Luật pháp Mỹ cũng đòi hỏi bất cứ ai ở Mỹ đang tìm cách gây ảnh hưởng đến chính sách hay dư luận của Mỹ vì lợi ích của một chính phủ hoặc nhóm người nước ngoài phải đăng ký với Bộ Tư pháp. Hồ sơ công khai cho thấy rằng đối tác thương mại Mỹ – Trung của CRI và công ty đối tác này đã không đăng ký như đại lý nước ngoài theo pháp luật, được gọi là Đạo luật Đăng ký đại lý nước ngoài, hoặc FARA.

H1ĐỒNG MINH: Giám đốc giám đốc điều hành của G&E, James Su, bên trái, nâng ly chúc mừng với giám đốc của CRI, Wang Gengnian, trong một bức ảnh trên trang web của EDI Media.

“Tôi sẽ làm một cuộc điều tra kỹ lưỡng dựa theo luật FARA về một công ty phát lại tuyên truyền của chính phủ Trung Quốc ở Mỹ mà không cần phải tiết lộ rằng công ty đó làm việc cho, thuộc quyền sở hữu hoặc được Trung Quốc kiểm soát”, ông D.E. “Ed” Wilson Jr., một cựu viên chức cao cấp của Tòa Bạch ốc và Bộ Tài chính nói.

Trụ sở CRI ở Bắc Kinh và đại sứ quán Trung Quốc ở Washington từ chối, không đưa các viên chức ra để trả lời phỏng vấn hay bình luận về kết quả truy tìm của bài viết này.

Phát ngôn viên an ninh quốc gia của Bộ Tư pháp, ông Marc Raimondi, và phát ngôn viên của FCC, ông Neil Grace, đã từ chối bình luận.

Các viên chức khác tại FCC cho biết, cơ quan này nhận được rất nhiều đơn xin giấy phép nên chỉ khởi sự một cuộc điều tra nếu nhận được đơn khiếu nại. Những người quen thuộc với vấn đề này cho biết, chưa có khiếu nại như vậy đệ trình lên FCC về hệ thống phát thanh do CRI hậu thuẫn ở Hoa Kỳ.

Xây dựng “Quyền lực mềm”

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, người chống lại một trật tự thế giới mà ông cho rằng được Hoa Kỳ và các đồng minh của Hoa Kỳ thống trị, biết rõ rằng Trung Quốc đang cố gắng phổ biến quan điểm của mình trên trường quốc tế.

“Chúng ta nên gia tăng quyền lực mềm của Trung Quốc, đưa ra một câu chuyện tốt về Trung Quốc và truyền đạt hiệu quả hơn thông điệp của Trung Quốc tới thế giới”, ông Tập nói trong một phát biểu về chính sách vào tháng 10 năm ngoái, theo Tân Hoa Xã.

Giám đốc CRI, ông Wang Gengnian, mô tả nỗ lực truyền tin của Bắc Kinh như là chiến lược “mượn thuyền” – sử dụng các phương tiện truyền thông sẵn có ở ngoại quốc để chuyên chở câu chuyện Trung Quốc.

33 đài được CRI hỗ trợ phát thanh bằng tiếng Anh, tiếng Trung Quốc hoặc địa phương, cung cấp một hỗn hợp các chương trình tin tức, âm nhạc và văn hóa. Các bản tin rải rác với những câu chuyện nêu bật sự phát triển của Trung Quốc, chẳng hạn như chương trình không gian, và sự đóng góp cho các mục tiêu nhân đạo, gồm cứu trợ động đất ở Nepal.

“Chúng tôi không phải là đế quốc ác quỷ mà một số phương tiện truyền thông phương Tây mô tả”, một người thân cận với giới lãnh đạo Đảng Cộng sản ở Bắc Kinh, người quen thuộc với hệ thống CRI, nói. “Các tường trình của truyền thông phương Tây về Trung Quốc quá tiêu cực. Chúng tôi chỉ muốn cải thiện hình ảnh quốc tế của chúng tôi. Đó là tự bảo vệ”.

H1

Bằng một cách nào đó, các đài phát thanh do CRI hậu thuẫn đóng vai trò vận động tương tự như đài VOA của Mỹ. Nhưng có một sự khác biệt cơ bản: VOA công khai sự thật rằng đài nhận được tài trợ của chính phủ Mỹ. CRI sử dụng các công ty mặt tiền để đóng vai thay cho nó.

Một vài trong số các chương trình phát thanh tại Mỹ trích dẫn các bản tin của CRI, nhưng hầu hết là không. Một chương trình, The Beijing Hour, nói rằng chương trình “do Đài phát thanh Quốc tế Trung Quốc mang đến cho bạn”.

Một số chương trình trơn tru, một số khác thiếu chải chuốt. Trong khi nhiều phần không thể phân biệt với các chương trình phát thanh dòng chính ở Mỹ, một số có xướng ngôn viên nói tiếng Anh với giọng Trung Quốc.

Giá trị sản xuất thay đổi khác nhau bởi vì chương trình phát thanh nhắm tới ba đối tượng riêng biệt: thế hệ di dân đầu tiên người Trung Quốc với khả năng tiếng Anh hạn chế; thế hệ người Trung Quốc thứ hai muốn tìm hiểu về quê cha đất tổ; và những thính giả không phải người Trung Quốc mà Bắc Kinh hy vọng sẽ gây ảnh hưởng.

Một điểm chung mà các chương trình đều có: Họ thường bỏ qua những chỉ trích về Trung Quốc và tránh xa bất cứ điều gì mô tả Bắc Kinh ở mặt tiêu cực.

Một bản tin đầu giờ buổi sáng ngày 15 tháng 10, phát thanh ở Washington và các thành phố khác của Mỹ, chỉ được biết là “Tin tức thành phố”. Chương trình tường thuật rằng các viên chức Mỹ lo ngại về các cuộc tấn công không gian mạng, trong đó có một một cuộc tấn công mà các thông tin cá nhân của khoảng 20 triệu nhân viên chính phủ Mỹ đã bị cố tình đánh cắp. Buổi phát thanh đã bỏ sót một yếu tố quan trọng: sự phổ biến rộng rãi rằng các viên chức Mỹ tin rằng Trung Quốc đứng đằng sau cuộc tấn công đó.

Năm ngoái, khi hàng ngàn người biểu tình đòi bầu cử tự do làm tê liệt Hồng Kông trong nhiều tuần, tin tức trên các đài do CRI hỗ trợ ở Mỹ đã đưa ra quan điểm của Trung Quốc. Trong bản tường trình một ngày sau khi các cuộc biểu tình kết thúc đã không giải thích lý do tại sao người dân xuống đường và không có ý kiến của các lãnh đạo biểu tình. Các cuộc biểu tình, một bài tường thuật cho biết, đã “thất bại vì không có sự hỗ trợ của người dân Hồng Kông”.

Đa số các đài không chạy quảng cáo, cho nên không thấy có động cơ thương mại

Trên thế giới, các hồ sơ công ty cho thấy, những người đại diện của CRI sử dụng cùng cấu trúc kinh doanh. Mỗi người trong ba doanh nhân Trung Quốc có quan hệ đối tác với Bắc Kinh dựng nên một công ty truyền thông nội địa, với 60% thuộc sở hữu của một nhóm người có trụ sở ở Bắc Kinh gọi là Guoguang Century Media Consultancy. Theo đó, Guoguang hoàn toàn thuộc sở hữu của một công ty con của CRI, theo hồ sơ công ty của Trung Quốc.

Ba công ty trải rộng toàn thế giới:

Tại Âu Châu, GBTimes ở Tampere, Phần Lan, có cổ phần sở hữu hoặc cung cấp nội dung cho ít nhất 9 đài, theo các cuộc phỏng vấn và kiểm tra hồ sơ công ty.

Ở châu Á-Thái Bình Dương, Global CAMG Media Group ở Melbourne, Australia, có cổ phần sở hữu hoặc cung cấp chương trình cho ít nhất 8 đài, theo hồ sơ công ty.

Và ở Bắc Mỹ, G&E Studio Inc, gần Los Angeles, California, phát thanh nội dung gần như toàn thời gian trên ít nhất 15 đài Mỹ. Một đài ở Vancouver cũng chuyển tải nội dung của G&E. Ngoài việc phân phối lập trình của CRI, G&E sản xuất và phân phối các chương trình nguyên thủy thân Bắc Kinh từ các cơ sở ở California.

Trong một cuộc phỏng vấn ngày 16 tháng 9 tại các văn phòng của ông ở gần Los Angeles, giám đốc G&E và giám đốc điều hành James Su khẳng định rằng công ty con Guoguang Century Media của CRI nắm giữ cổ phần đa số trong công ty của ông và rằng ông đã có một hợp đồng với đài truyền hình Trung Quốc. Ông nói rằng một thỏa thuận cấm tiết lộ không cho ông nói ra chi tiết.

Ông Su nói, ông tuân thủ luật pháp Hoa Kỳ. G&E không sở hữu các đài, nhưng thay vào đó thuê giờ phát sóng. “Nó giống như một công ty quản lý điều hành một khu chung cư”.

Ông Su nói thêm rằng ông là một doanh nhân, không phải là một người đại diện cho Trung Quốc. “Thính giả và công chúng Mỹ có sự lựa chọn”, ông Su nói. “Họ có thể chọn nghe hay không nghe. Tôi nghĩ rằng đây là một giá trị của Mỹ “.

Giám đốc điều hành GBTimes, Zhao Yinong, người đứng đầu các hoạt động phát thanh nước ngoài của cánh Âu Châu, xác nhận rằng ông nhận được nhiều triệu euro mỗi năm từ CRI. Trong một cuộc phỏng vấn tại Bắc Kinh, ông Zhao nói rằng ông “không quan tâm đến việc tạo ra một Trung Quốc giả” và ông “không có gì phải che giấu”.

Tommy Jiang, người đứng đầu CAMG, công ty có trụ sở ở Úc, sở hữu và điều hành các đài trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, đã từ chối bình luận.

Sinh ra từ hang động

CRI đã phát triển đáng kể từ khi thành lập vào năm 1941. Theo trang mạng tiếng Anh của họ, buổi phát sóng đầu tiên là từ một hang động, và xướng ngôn viên đã phải dùng đèn pin để xua đuổi những con chó sói. Hôm nay, CRI cho biết họ phát sóng trên toàn thế giới với trên 60 ngôn ngữ và tiếng thổ dân Trung Quốc.

Nội dung chương trình phát thanh của CRI được soạn thảo rất cẩn thận, với sự quan tâm đến các chủ đề nhạy cảm như nhóm tâm linh Pháp Luân Công bị cấm, phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của chính quyền. Những hạn chế đó có thể làm cho công việc thúc đẩy quyền lực mềm của Trung Quốc trở thành một cuộc chiến khó khăn với thính giả ở những nơi như Houston, Rome hay Auckland.

Nhưng CRI có một cái món quà để tặng cho các chủ đài. Từ năm 2010, đối tác phát thanh của CRI tại Mỹ đã kiếm được các chuyến giao dịch giúp giải cứu các đài phát thanh cộng đồng, bằng cách mua lại chúng hoặc trả ra hàng chục ngàn đô la một tháng để thuê hầu như tất cả thời lượng phát sóng của họ. Sau này được biết đến là “môi giới thời lượng” và là phương pháp mà G&E thường sử dụng để đi vào không gian ở Washington.

Tòa tháp cao 195 bộ (khoảng 59 mét) phát đi thông điệp của Bắc Kinh trên toàn khu vực Washington nằm ở ngoại ô quận Loudoun, tiểu bang Virginia, gần sân bay quốc tế Dulles. Họ phát ra tín hiệu có công suất 50.000 watt, mức tối đa cho một đài phát sóng AM tại Hoa Kỳ.

Tòa tháp đã hoạt động trở lại vào năm 2011. Trong 5 thập niên trước, trước khi Trung Quốc nhúng tay vào, trạm phát sóng được biết đến có tên là WAGE, trạm sử dụng các thiết bị nhỏ hơn và phát đi hầu hết tin tức và các buổi thảo luận địa phương.

Với chỉ 5.000 watt, tín hiệu không đi được xa. Điều này không quan trọng cho đến thập niên 1990, khi quận Loudoun bùng nổ trở thành một cộng đồng cư trú cho Washington. Các hành khách xe điện ngầm không nghe được sóng phát thanh khi đi nửa đường tới thủ đô.

Năm 2005, một công ty Mỹ có tên là Potomac Radio LLC mua lại trạm phát sóng và thêm vào một số chương trình thông thường toàn quốc. Giám đốc đài phát thanh Potomac, Alan Pendleton, cho biết công ty của ông có truyền thống cho các chương trình dân tộc thuê lại thời lượng, trong đó có một giờ một ngày cho CRI ở một đài khác. Tuy nhiên, doanh thu của WAGE tiếp tục giảm, và trong năm 2009, trạm đã không còn phát nữa.

Ông Pendleton nói, “Đó là một kinh nghiệm đau đớn. Chúng tôi đã đổ hàng triệu đô la xuống cống mỗi năm”.

Mong muốn phục hồi trạm phát sóng, các giám đốc điều hành khác của Potomac vào năm 2009 đã xin phép quận Loudoun xây dựng ba tòa tháp phát sóng trên đất sở hữu của cơ quan tiện ích của quận, hồ sơ cho thấy như thế. Các tòa tháp mới sẽ đẩy mạnh tín hiệu của đài 10 lần lên tới 50.000 watt, vươn xa tận tới Washington.

Trong đơn xin của họ, giám đốc điều hành của đài Potomac lập luận rằng tòa tháp mới đem lại “hy vọng cuối cùng để giữ lại đài phát thanh duy nhất của Loudoun”. Thủ tục giấy tờ đã không đề cập đến kế hoạch cho ông Su và CRI mướn thời lượng.

Đài phát thanh Potomac cũng tường trình cuộc tấn công 9 tháng 11 năm 2001, một ngày mà đài đã cung cấp “thông tin quan trọng cho các doanh nghiệp của quận và các bậc cha mẹ”, khi dịch vụ điện thoại di động trở nên quá tải. Tòa tháp mới sẽ đóng góp cho an toàn công cộng, những người ủng hộ cho biết.

Hội đồng Giám Sát quận đã chấp thuận giấy phép cho tòa tháp. Trong những ngày trước khi đài phát sóng trở lại vào tháng 4 năm 2011, đài Potomac cố gắng xin phép FCC để đổi tên thành WCRW.

Khi được hỏi về ý nghĩa của chữ viết tắt, ông Pendleton xác nhận rằng chúng có nghĩa Đài phát thanh Trung Quốc ở Washington. Sự thay đổi là ý tưởng của ông, không phải của CRI, ông nói.

Các viên chức quận Loudoun đã rất ngạc nhiên khi đài được củng cố trở thành WCRW và bắt đầu phát đi nội dung của G&E và CRI về Trung Quốc.

H1BẤT NGỜ: Cựu viên chức Loudoun Kelly Burk nói chủ WCRW hứa sẽ khôi phục lại một đài phát thanh địa phương. Sau khi quận phê duyệt tháp mới, trạm phát thanh lại bắt đầu phát đi nội dung của Trung Quốc khắp thủ đô Washington. REUTERS / Gary Cameron

Kelly Burk, giám sát viên quận hạt tại thời điểm đó nói: “Thật là lừa đảo. Họ trình bày như tất cả chỉ liên quan tới đài phát thanh địa phương, và chưa bao giờ tiết lộ những gì mà họ thực sự nhắm tới”.

Ông Pendleton của đài Potomac cho biết, không có sự lừa dối. Công ty của ông đã được CRI tìm tới nhiều tháng sau khi quận chấp thuận tòa tháp, ông nói.

Ông Pendleton nói rằng, ông không biết G&E có 60% sở hữu thuộc một công ty con của chính quyền Trung Quốc cho đến khi Reuters báo cho ông. Nhưng sự sắp xếp đó phù hợp với quy định của FCC, ông nói, bởi vì G&E thuê lại thời lượng phát sóng thay vì sở hữu trạm phát sóng.

Trong mọi trường hợp, ông nói, CRI công khai về các mục tiêu của họ: để giới thiệu một khía cạnh của văn hóa Trung Quốc và đưa ra quan điểm của Trung Quốc về các vấn đề quốc tế.

“Nếu bạn nghe các đài truyền hình do nhà nước bảo trợ khác”, nhất là của Nga, “họ thực sự quỷ quyệt”, ông Pendleton nói. “CRI không phải như thế”.

Ông Pendleton cho biết ông không xen vào nội dung của WCRW: Ông chỉ đơn giản chuyển tải tất cả chương trình do người của CRI ở Mỹ, sáng lập viên G&E, James Su, gửi tới.

“Sự ủy nhiệm” của Trung Quốc

James Yantao Su sinh ở Thượng Hải vào năm 1970, là năm Trung Quốc phóng vệ tinh đầu tiên. Ông sang Mỹ vào năm 1989, ông cho biết, cuối cùng định cư ở West Covina, ngoại ô Los Angeles, và trở thành công dân Hoa Kỳ.

Vào đầu thập niên 2000, ông Su là nhà doanh nghiệp truyền thông tương đối thành công. Nhưng sau chuyến giao dịch năm 2009 để thành lập G&E, mà trong đó công ty chi nhánh của nhà nước Trung Quốc có cổ phần đa số, thì vận may của ông đã đến.

Ngày nay, chủ sở hữu đài phát thanh và đồng sở hữu bất động sản 44 tuổi này có tài sản trị giá hơn 15 triệu USD, theo một phân tích của Reuters về hồ sơ FCC, thuế, bất động sản, và công ty Mỹ. Dự án của ông bao gồm các đài tiếng Anh và tiếng Trung Quốc, một tạp chí, một nhật báo, 4 tòa nhà chung cư, những căn hộ tại khách sạn Trump International ở Las Vegas, một công ty nhạc hội phim ảnh và một tổ chức từ thiện mà năm ngoái đã hiến tặng 230.000 USD cho một viện mồ côi ở Trung Quốc.

H1Hai trong số các công ty hàng đầu của ông là G&E Studio và EDI Media Inc. G&E dành riêng một trang trên trang mạng để giới thiệu CRI như một đối tác “thân cận”, nhưng mới đây đã xóa bỏ, sau khi Reuters thực hiện điều tra. Trang mạng EDI cho biết họ đã trở thành “đại diện quảng cáo và truyền thông ra nước ngoài của Trung Quốc” tại Hoa Kỳ.

Vào năm 2013, chính quyền Trung Quốc đã trao tặng ông Su giải thưởng đóng góp đặc biệt tại một sự kiện truyền thông của các đài truyền hình Trung Quốc.

Các mối quan hệ khác không được rõ ràng như thế: Sự phát hiện mấu chốt rằng G&E được Guoguang Century sở hữu 60% – là công ty ở Bắc Kinh có 100% sở hữu của CRI – nằm ở một chú thích trong một hồ sơ dài của FCC được đệ trình dưới danh nghĩa của một công ty khác của ông Su, đó là Golden City Broadcast, LLC.

Ông Su từ chối thảo luận chi tiết về sự nghiệp kinh doanh của ông. Tuy nhiên, một điểm chú ý ban đầu là bài phát biểu của ông vào năm 2003, khi ông vừa chớm tuổi ba mươi.

Được truyền thông nhà nước Trung Quốc phổ biến, bài phát biểu đặt ra viễn kiến của ông Su về cơ sở thương mại có khả năng kiếm lời và cũng giúp cho Trung Quốc phát đi thông điệp của mình tại nước Mỹ. Cơ sở thương mại sẽ cần được tổ chức để tuân theo luật sở hữu của Mỹ và sẽ “ủng hộ tư tưởng của Trung Quốc”, ông Su được dẫn lời nói.

Trong cùng bài phát biểu, ông nói về cảm tình của đồng hương di dân của ông đối với Trung Quốc. “Cảm giác thuộc về Trung Quốc vẫn nằm trong tâm khảm đồng hương cư ngụ ở nước ngoài và sự hưởng ứng ngày càng tăng của họ đối với chính sách hiện nay của Trung Quốc”, ông Su nói, theo Tân Hoa Xã.

Năm 2008, ông Su có một bài phát biểu mà trong đó ông chỉ trích giới truyền thông Mỹ chỉ chú trọng tường trình về các vấn đề như nhân quyền của Trung Quốc.

Giới truyền thông đã xuyên tạc “sự hiểu biết khách quan của quần chúng Mỹ” về Trung Quốc, thậm chí gây ra cảm xúc thù địch”, ông Su nói, theo một bài tường trình của Đài phát thanh Quốc gia Trung Quốc.

Chính vào năm 2009 khi viễn kiến của ông Su thực sự bắt đầu hình thành. Năm đó, hồ sơ cho thấy, ông Su thành lập G&E Studio.

H1LỰC LƯỢNG BÊN NGOÀI: Trung Quốc đang xây dựng đảo nhân tạo trong vùng Biển Đông tranh chấp, hình được chụp vào tháng 5. Bài tường thuật của WCRW nói rằng, “các lực lượng bên ngoài” đang tìm cách can dự vào khu vực này của thế giới, sử dụng những tuyên bố sai trái. Theo REUTERS / Hải quân Mỹ / Tài liệu phân phát

Hiện nay G&E phát thanh bằng tiếng Anh và tiếng Trung Quốc trên ít nhất 15 đài ở Mỹ, bao gồm các thành phố Salt Lake, Atlanta, Philadelphia, Houston, Honolulu và Portland ở Oregon.

Các nội dung chủ yếu giống nhau trên mọi đài, được CRI từ Bắc Kinh hay G&E từ California sản xuất.

Một giờ điển hình trên hầu hết các đài bắt đầu với một bản tin ngắn hỗn hợp giữa các tin Trung Quốc và những câu chuyện về tội ác bạo lực ở Mỹ. Bên cạnh việc phát thanh các chủ đề chính trị công khai, các chủ đề trải dài từ sự dao động tiền tệ toàn cầu và sứ mệnh thương mại Trung Quốc đến bàn luận về thời trang của tài tử và những thách thức cho cha mẹ trong việc giáo dục con cái thời nay.

Trong khi ông Su sở hữu một phần nhỏ của G&E, ông đã phân chia quyền sở hữu các đài theo những cách khác nhau. Theo hồ sơ gần đây nhất của FCC, ông là chủ sở hữu chính của ít nhất 6 đài, chẳng hạn như một đài ở Atlanta mà ông đã mua với giá 2,1 triệu USD vào năm 2013.

Trong những trường hợp khác, ông thuê thời lượng phát sóng. Tại Washington, ví dụ, ông thuê hầu như tất cả thời lượng trên WCRW với giá hơn 720.000 USD một năm thông qua G&E. Một đài ở Philadelphia được mướn theo một thỏa thuận tương tự với ít nhất 600.000 USD một năm.

Một nữ phát ngôn viên của ông Su cho biết, mô tả của Reuters về tầm mức hệ thống phát thanh của ông “nói chung là đúng”.

Ông Su đã từ chối cho biết ông kiếm tiền bằng cách nào khi hầu hết các đài ở Mỹ hầu như không có quảng cáo. Ông cũng từ chối cho biết ông có tiền bằng cách nào để tài trợ các hợp đồng thuê mướn và mua lại đài phát thanh của ông.

Ông Su nói, đài của ông cung cấp cho công chúng Mỹ một cái nhìn khác biệt về văn hóa và chính trị Trung Quốc. Ông “không có cách nào kiểm soát” những gì CRI phát thanh trên các đài, và ông cũng không nằm trong bất kỳ kế hoạch tuyên truyền nào của Trung Quốc.

Ông nói, “Chúng tôi chỉ đưa những tin tức thực sự không bị kiểm duyệt đến khán thính giả”.

Ngày 29 tháng 10, WCRW có một chương trình gọi là “Tin tức hàng giờ.” Trong số các câu chuyện hàng đầu: viên chức cao cấp của Trung Quốc và chỉ huy hải quân của Mỹ dự tính sẽ nói chuyện qua video sau khi một tàu Hải quân Mỹ đi ngang qua gần đảo nhân tạo mới của Trung Quốc ở Biển Đông. Washington và các đồng minh xem chương trình xây đảo như một mưu đồ để chiếm quyền kiểm soát tuyến đường biển chiến lược, và hành động đi ngang của Hải quân Mỹ hàm ý chống lại yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc.

WCRW đã bỏ sót phần này của câu chuyện.

Người đọc tin tức nói, các đô đốc đang có những cuộc đàm phán “giữa tình hình căng thẳng do Mỹ tạo ra trong tuần này”.

Cùng với sự cộng tác của Benjamin Kang Lim và Joseph Campbell ở Bắc Kinh, Ritsuko Ando ở Tokyo, Gopal Sharma và Ross Adkin ở Kathmandu, Mirwais Harooni ở Kabul, Joyce Lee ở Seoul, Eveline Danubrata và Arzia Tivany Wargadiredja ở Jakarta, Khettiya Jittapong và Pairat Temphairojana ở Bangkok, Theodora D’cruz ở Singapore, Mohammed Shihar ở Colombo, Terrence Edwards ở Ulan Bator, Diane Chan ở Hong Kong, Jane Wardell và Ian Chua ở Sydney, Balazs Koranyi và Harro Ten Wolde ở Frankfurt, Jussi Rosendahl ở Helsinki, Sara Ledwith ở London, Julia Fioretti ở Brussels, Can Sezer ở Istanbul, Andrius Sytas ở Vilnius, Kole Casule ở Skopje, Renee Maltezou ở Athens, Margarita Antidze ở Tbilisi, Radu-Sorin Marinas ở Bucharest, Geert De Clercq ở Paris, Marton Dunai ở Budapest, Ed Cropley ở Johannesburg, Selam Gebrekidan ở New York, Anna Driver ở Houston, Renee Dudley ở Boston, Brian Grow ở Atlanta, David Storey ở Washington và Euan Rocha ở Toronto.

TẠI SAO TỔNG THỐNG OBAMA KHÔNG THĂM VIỆT NAM?

Blog VOA

Nguyễn Hưng Quốc

11-11-2015

Tổng thống Mỹ Barack Obama. Nguồn: Reuters.

Tổng thống Mỹ Barack Obama. Nguồn: Reuters.

Trong hơn một tuần vừa qua, các mạng thông tin xã hội ở Việt Nam, từ lề phải đến lề trái, đều xôn xao về chuyến thăm Việt Nam hai ngày của Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình. Người ta tường thuật và bình luận về chi tiết này chi tiết nọ. Tuy nhiên, những nội dung quan trọng nhất trong các cuộc gặp gỡ chắc chắn vẫn là một bí mật lâu dài. Dưới chế độ bưng bít như ở Việt Nam và Trung Quốc, không ai biết là giữa các nhà lãnh đạo của hai nước đã có những thoả thuận hay cam kết những gì với nhau. Nhưng dù có thoả thuận hay cam kết gì đi nữa, quan hệ giữa hai nước chắc không có gì thay đổi: Trung Quốc vẫn tiếp tục muốn bành trướng thế lực trên Biển Đông và Việt Nam vẫn tiếp tục nhường nhịn cho đến khi nào không thể nhường nhịn được nữa.

Theo tôi, liên quan đến tình hình chính trị Việt Nam, đáng quan tâm hơn là sự vắng mặt của một người đáng ra sẽ đến Việt Nam trong giai đoạn này: Tổng thống Mỹ Barack Obama.

Cách đây mấy tháng, báo chí trong nước loan tin cả Tổng thống Mỹ Barack Obama lẫn Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình sẽ sang thăm Việt Nam vào tháng 11. Gần đến ngày, tin từ chính phủ Mỹ cho biết trong tháng 11 này, Tổng thống Obama chỉ đến Thổ Nhĩ Kỳ, Philippines và Malaysia nhưng sẽ không ghé Việt Nam. Chỉ có chuyến thăm Việt Nam của Tập Cận Bình là vẫn diễn ra như dự định.

Câu hỏi đầu tiên cần được đặt ra là tại sao Tổng thống Obama hoãn lại chuyến thăm Việt Nam? Về phía Mỹ, người ta chỉ nói là lịch trình chuyến công du của ông Obama đã kín đặc. Hơn nữa, ông muốn ghé Việt Nam lâu hơn, khi có thì giờ. Thì giờ ấy, người ta chỉ nói bâng quơ là vào một ngày nào đó trong năm 2016, năm cuối cùng trong nhiệm kỳ tổng thống của Obama.

Ai cũng biết các tổng thống Mỹ vô cùng bận bịu: Họ phải giải quyết cả hàng ngàn vấn đề không những trong nước họ mà còn của cả thế giới. Tuy nhiên, sự bận bịu được thông báo một cách muộn màng như vậy không thể không làm giới quan sát ngạc nhiên. Có ít nhất hai lý do chính:

Thứ nhất, lời mời đã được đưa ra từ lâu: vào tháng 7 năm 2013, trong chuyến đi Mỹ, Trương Tấn Sang đã chính thức mời Tổng thống Obama sang thăm Việt Nam và đã được Obama nhận lời. Đúng hai năm sau, vào tháng 7 năm 2015, Nguyễn Phú Trọng lại chính thức ngỏ lời mời Obama sang thăm Việt Nam và cũng được Obama hứa sẽ sang Việt Nam vào một thời điểm thích hợp, dự trù vào tháng 11 nhân chuyến công du châu Á để tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) ở Manila và Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á tại Kuala Lumpur.

Thứ hai, từ lúc lên cầm quyền đến nay Tổng thống Obama đã từng viếng thăm hầu hết các quốc gia thuộc khối ASEAN. Có nước ông thăm một lần: Singapore (2009), Campuchia (2012) và Thái Lan (2012). Có nước ông đến tới hai lần: Indonesia (2010, 2011), Miến Điện (2012, 2014), Malaysia (2014, 2015) và Philippines (2014, 2015). Chỉ có ba quốc gia ông chưa hề tới: Việt Nam, Lào và Brunei. Với Lào và Brunei, việc Obama không tới tương đối dễ hiểu: Đó là hai quốc gia quá nhỏ, không có ý nghĩa gì nhiều về kinh tế hay chính trị và địa chính trị. Với Việt Nam thì khác: Trong xu hướng xoay trục về châu Á, đặc biệt trong những tranh chấp liên quan đến Biển Đông, Việt Nam đóng một vai trò cực kỳ quan trọng: Đó là quốc gia có diện tích biển nằm trong vùng tranh chấp lớn nhất, có thể xem như một cửa ngõ chính trong con đường bành trướng của Trung Quốc. Vậy tại sao Obama lại không đến Việt Nam?

Theo tôi, có hai lý do chính:

Thứ nhất, quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam, sau chuyến thăm Mỹ của Nguyễn Phú Trọng vào giữa năm nay, không có chuyển biến gì nổi bật. Thường, chuyến viếng thăm của tổng thống Mỹ bao giờ cũng nhằm đánh dấu một sự kiện quan trọng nào đó. Trong tình hình hiện nay, sự kiện quan trọng ấy chỉ có thể liên quan đến mối quan hệ Việt – Mỹ. Trước đây, về phía Việt Nam, chuyến thăm Mỹ của Nguyễn Phú Trọng được coi như một dấu mốc lớn trong quan hệ ấy. Tuy nhiên, từ đó đến nay, quan hệ ấy có gì thay đổi? Hình như không. Và vì không có diễn biến đột phá nào, việc thăm viếng Việt Nam, với Tổng thống Mỹ, được xem là vô nghĩa và không cần thiết.

Thứ hai, Mỹ chỉ muốn nói chuyện với những người thực sự cầm quyền chứ không phải với những người sắp về hưu. Cả bốn người đứng đầu trong guồng máy lãnh đạo Việt Nam (Tổng bí thư, chủ tịch nước, chủ tịch Quốc hội và thủ tướng) đều đã đến tuổi về hưu. Thế nào cũng có một hoặc hai người còn ở lại như một trường hợp đặc biệt nhằm bảo vệ tính chất ổn định trong quá trình chuyển tiếp quyền lực. Nhưng người ấy là ai? Phần lớn các tin đồn đều chú mục vào Nguyễn Tấn Dũng, người có hy vọng trở thành Tổng bí thư sau đại hội đảng vào đầu năm tới. Tuy nhiên, đó chỉ là tin đồn. Quan sát các cuộc hội nghị của Ban chấp hành Trung ương đảng thời gian gần đây, người ta thấy ngay là các cuộc tranh chấp quyền lực vẫn chưa ngã ngũ. Bởi vậy, khất hẹn đến năm sau, Tổng thống Mỹ có lẽ chỉ muốn chờ xem kết quả bầu bán trong đại hội lần thứ 12 để ông có thể tin chắc là mình sẽ đối thoại với một đối tác thực sự có thẩm quyền trong việc hoạch định chính sách lâu dài trong quan hệ Việt – Mỹ.

Từ gần nửa năm nay, sau chuyến thăm Mỹ của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, rất nhiều người Việt Nam tin tưởng giới lãnh đạo Việt Nam, hoặc ít nhất, một phần khá lớn trong giới lãnh đạo Việt Nam, quyết định ngả theo Mỹ để thoát khỏi những ảnh hưởng nặng nề từ Trung Quốc và để bảo vệ Biển Đông. Tuy nhiên, việc Tổng thống Mỹ từ chối đến Việt Nam năm nay cho thấy con đường theo Mỹ vẫn còn lắm chông chênh. Bức tranh chính trị Việt Nam, tôi nghĩ, sẽ rõ hơn, sau kỳ đại hội đảng vào đầu năm tới.