Đi tìm lịch sử bị quên lãng


SvetlanaAlexievichGiải Nobel văn chương năm 2015 đã được trao cho Svetlana Alexievich, nhà báo người Belarus. Tại lễ trao giải ở Viện Hàn lâm Thụy Điển ngày 7 tháng 12 năm 2015, bà Svetlana Alexievich đã đọc bài diễn từ “Về trận đánh bị thất bại”, Ngân Xuyên dịch từ nguyên bản tiếng Nga. Giới thiệu về Svetlana Alexievich có ở chuyên mục Wikipedia tiếng Việt. Trước đó, Dennis Abrams chủ bút của tờ báo Publishing Perspectives đã tóm tắt về cuộc đời và sự nghiệp của bà.   Tôi suy nghĩ mãi về câu chuyện đi tìm lịch sử bị quên lãng, và liên tưởng tới những lần tôi may mắn được gặp ông già Noel thật, để ngày càng thú vị về nền văn hóa tâm hồn con người.

Svetlana Alexievich viết: “Tôi quan tâm đến lịch sử của tâm hồn. Đời sống của tâm hồn. Những cái mà lịch sử lớn thường bỏ lọt, thường cao ngạo xem khinh. Tôi làm việc với lịch sử bị bỏ quên. Nhiều lần tôi đã nghe nói và bây giờ vẫn nghe thấy rằng đó không phải là văn học, đó là tư liệu. Vậy hôm nay văn học là gì? Ai trả lời được câu hỏi này? Chúng ta sống nhanh hơn trước đây. Nội dung xé rách hình thức. Bẻ gãy và thay đổi nó. Mọi thứ đều chảy tràn khỏi bờ của mình: cả âm nhạc, cả hội họa, và trong tư liệu lời lẽ bứt ra khỏi giới hạn của tư liệu. Không có ranh giới giữa thực tế và hư cấu, cái này chảy sang cái kia. Ngay cả người chứng cũng không phải là vô tư.”…”Trả lời câu hỏi: đất nước cần nên thế nào – hùng mạnh hay đáng sống, nơi mọi người được sống tử tế, người ta đã chọn vế đầu – hùng mạnh. Cho nên bây giờ lại là thời bạo lực…” “Bây giờ tôi không chắc là mình sẽ viết xong được lịch sử của con người “đỏ”…Tôi có ba quê hương – miền đất Belarus của tôi, quê cha, nơi tôi sống cả cuộc đời. Ucraina, quê mẹ, nơi tôi sinh ra, và nền văn hóa Nga vĩ đại, thiếu nó thì tôi không thể hình dung nổi mình. Cả ba nơi chốn đều thân thiết với tôi. Nhưng ở thời chúng ta thật khó nói về tình yêu.”

Tôi  lược trích những câu trên, đọc lại và suy ngẫm bài diễn từ Nobel của nhà văn Svetlana Alexievich. Bà nói về tình yêu, văn hóa hướng đến tâm hồn con người. Tôi vừa mới đọc được bài viết “Về trận đánh bị thất bại” của bà vào đúng đêm Noel 2015 nhưng trước đó, chính tôi cũng đã  dành thời gian nhiều năm và nay vẫn tiếp tục viết về CHÀO NGÀY MỚI 365 TÌNH YÊU CUỘC SỐNG với các tiêu đề: Tình yêu, văn hóa, giáo dục, khoa học cây trồng và du lịch Việt; Năm tháng qua đi chỉ tình yêu ở lại.

Tôi cũng đang đi tìm lịch sử bị quên lãng, tìm về cội nguồn văn hóa tâm hồn con người.
Cauchuyencuoinam

Chuyến tàu đêm hối hả
Ngày cuối năm vội vã
Công việc hoàn thành
nhưng vắt kiệt sức em
Em đi về phía mặt trời.
Em gọi mặt trời lên!
Dẫu
Đông tàn
Đêm lạnh
Gian nan
đã thấy bình minh trước mặt.

Nghị lực, niềm tin nâng bước con người
Dạy, Học và Làm, tiếng lòng luôn tỉnh thức:
Trường Đời gian nan Đêm thiêng hạnh phúc
Ngọn lửa tâm hồn trao lại muôn sau:

Hãy cố gắng ! con ơi đừng nản chí
Còn nhiều người vất vả lắm nghe con !
Việc học dẫu như lối đi hiểm trở
Cố lên con mở lối một con đường.

Cuộc sống đẹp với nhiều niềm vui nhỏ
Con tựa vai cha vươn tới không ngừng
Trên đường lớn bạn hiền luôn sưởi ấm
Cuộc đời là trí tuệ với yêu thương !

Hãy cố gắng ! con ơi chăm chỉ học
Con hãy làm người lao động siêng năng
Hãy thật học những điều là thiết thực
Học để làm, dạy và học nghe con”.

Ngủ đi con cuộc đời bình yên
Ngủ đi em giấc mơ hạnh phúc
Lịch sử bị lãng quên
Nhưng yêu thương tỉnh thức…

Có những suy tư
VỀ TRẬN ĐÁNH BỊ THẤT BẠI
Văn hóa tâm hồn con người

Hoàng Kim

 

VỀ TRẬN ĐÁNH BỊ THẤT BẠI

(Diễn từ Nobel đọc ở lễ trao giải tại Viện Hàn lâm Thụy Điển ngày 7/12/2015)

Svetlana Alexievich

Tôi đứng tại diễn đàn này không phải một mình… Vây quanh tôi là những giọng nói, hàng trăm giọng nói, chúng luôn ở cùng tôi. Ngay từ hồi nhỏ. Tôi sống ở nông thôn. Chúng tôi, những đứa trẻ, thích chơi đùa ngoài phố, nhưng cứ chiều xuống là chúng tôi lại như bị nam châm hút về phía những chiếc ghế gỗ có những bà lão mệt mỏi ngồi tụ tập trò chuyện quanh các ngôi nhà của mình, hay “khatas” như ở quê tôi thường gọi. Trong số họ không ai còn chồng, cha, anh em, tôi không nhớ có đàn ông sau chiến tranh ở làng quê tôi – trong cuộc Thế chiến thứ hai ở Belarusia cứ bốn người Belarus thì có một người chết ở mặt trận và trong các đội du kích. Thế giới trẻ con của chúng tôi sau chiến tranh – đó là thế giới của những người phụ nữ. Điều tôi nhớ hơn cả là các phụ nữ không nói về cái chết mà nói về tình yêu. Họ kể về những cuộc chia tay người yêu trong ngày cuối cùng, về sự chờ đợi người ra trận trở về, chờ cho đến tận bây giờ. Năm tháng trôi qua, còn họ vẫn chờ: “dù anh ấy trở về có cụt hết tay chân thì tôi sẽ bế anh ấy trên tay mình”. Cụt tay… cụt chân… Dường như ngay từ hồi nhỏ tôi đã biết tình yêu là gì…

Đây là mấy giai điệu buồn trong dàn đồng ca tôi đã nghe thấy…

Giọng thứ nhất:

“Chị nghe chuyện này để làm gì? Nó buồn lắm. Tôi gặp chồng mình ngoài mặt trận. Khi đó tôi là lính tăng. Tôi đã đi đến tận Berlin. Tôi nhớ, khi cả hai đứng cạnh Reichstag [nhà Quốc hội Đức thời Hitler – ND], lúc đó chưa phải là vợ chồng, anh ấy nói với tôi: “Chúng ta cưới nhau nhé. Anh yêu em.” Nghe những lời đó tôi rất bực – suốt cuộc chiến tranh bọn tôi lăn lộn trong bùn lầy, bụi bẩn, máu me, chỉ nghe thấy những lời tục tĩu. Tôi liền nói với anh ấy: “Trước tiên anh hãy làm cho em thành một phụ nữ đã: hãy tặng hoa, hãy nói những lời âu yếm, rồi em sẽ giải ngũ và may áo cưới cho mình.” Thậm chí khi đó tôi còn muốn tát cho anh ấy một cái vì bực tức. Anh ấy cảm thấy hết mọi chuyện, một bên má anh ấy bị bỏng, và tôi thấy trên vết sẹo có những giọt nước mắt rơi. “Được rồi, em sẽ lấy anh làm chồng”. Tôi đã nói vậy đấy… nói mà không biết mình đã nói gì… Bao quanh là những đám cháy đang lụi dần, là những viên gạch vỡ nát, tóm lại, chiến tranh đang vây quanh…”

Giọng thứ hai:

“Chúng tôi sống cạnh nhà máy nguyên tử Chernobyl. Tôi làm đồ ngọt, nặn bánh. Còn chồng tôi là lính cứu hỏa. Chúng tôi vừa cưới nhau, đi đâu cũng nắm tay nhau, ngay cả khi vào cửa hàng. Hôm vụ nổ xảy ra, chồng tôi đang trực ở trạm cứu hỏa. Nghe lệnh gọi họ lao đến ngay khi vẫn mặc trên mình bộ quần áo ở nhà, vụ nổ ở nhà máy hạt nhân mà họ không được cấp trang phục chuyên dụng. Chúng tôi đã sống vậy đấy… Chị biết không… Suốt đêm họ dập đám cháy và bị nhiễm xạ với liều lượng chết người. Sáng ra máy bay chở họ tới ngay Moskva. Căn bệnh nhiễm xạ độc ác… con người chỉ sống được vài tuần… chồng tôi khỏe mạnh như một vận động viên nên chết sau cùng. Khi tôi đến, người ta bảo anh ấy nằm trong phòng cách ly, không ai được phép vào. “Nhưng tôi yêu anh ấy,” – tôi khẩn nài. “Những người lính đang chăm sóc họ. Cô tính đi đâu?” – “Tôi yêu anh ấy”. Người ta bảo tôi: “Đây không phải là người cô yêu, đây là một đối tượng đang phải khử nhiễm xạ. Cô hiểu chứ?”. Còn tôi vẫn cứ lặp lại với mình một điều: tôi yêu anh ấy, tôi yêu anh ấy… Ban đêm tôi trèo qua cầu thang cứu hỏa đến với anh ấy… Hoặc ban đêm tôi van xin những người canh gác, cho họ tiền để họ cho tôi vào. Tôi không bỏ mặc anh ấy một mình, tôi ở bên anh ấy đến tận ngày cuối cùng… Sau khi anh ấy mất… vài tháng sau tôi sinh một bé gái, nó chỉ sống được mấy ngày. Con gái tôi… chúng tôi đã chờ mong nó biết bao, vậy mà tôi đã giết nó… Nó đã cứu tôi, nó đã nhận hết chất độc phóng xạ về mình. Nó nhỏ lắm, nhỏ xíu xiu… Nhưng tôi yêu cả hai bố con. Chẳng lẽ tình yêu lại có thể giết người? Vì sao tình yêu và cái chết lại ở bên nhau? Chúng luôn luôn sát cùng nhau. Ai giải thích được cho tôi? Tôi xin quỳ gối trước mộ họ.

Giọng thứ ba:

“Lần đầu tiên tôi giết một tên Đức… Khi đó tôi mười tuổi, những người du kích mang tôi theo vào trận. Tên Đức đó bị thương nằm trên đất… Tôi được bảo phải tước khẩu súng lục của hắn, tôi bò đến gần, tên Đức cầm khẩu súng bằng hai tay chĩa vào mặt tôi. Nhưng hắn không kịp bắn trước, tôi đã kịp…

Tôi không sợ việc mình đã giết người… Và trong chiến tranh tôi không nhớ gì đến hắn. Xung quanh có nhiều người bị giết, chúng tôi sống giữa những người chết. Tôi chỉ ngạc nhiên là sau chừng ấy năm đột nhiên tôi lại mơ thấy tên Đức đó. Đây quả là chuyện bất ngờ… Giấc mơ cứ trở đi trở lại với tôi… Tôi đang bay, và hắn cản tôi. Tôi cất mình lên… Bay bay… bay bay… Hắn đuổi kịp tôi và tôi cùng hắn rơi xuống. Rơi tõm xuống một cái hố nào đó. Rồi tôi muốn đứng dậy, vươn lên… Còn hắn không cho… Vì hắn mà tôi không thể bay đi được…

Chỉ một giấc mơ ấy… Nó đã đeo đuổi tôi hàng chục năm trời.

Tôi không thể kể cho con trai mình về giấc mơ này. Khi nó còn nhỏ, tôi không kể, chỉ đọc truyện cổ tích cho nó nghe. Bây giờ nó đã lớn, tôi vẫn không thể kể…”.

Flaubert gọi mình là con người – ngòi bút, còn tôi có thể gọi mình là con người – lỗ tai. Khi tôi đi trên phố và nghe vọng đến những câu nói, tiếng kêu, tôi luôn nghĩ: biết bao cuốn tiểu thuyết đang biến mất không dấu vết trong thời gian. Trong bóng tối. Cái phần đời người hiện ra trong các câu chuyện câu trò đã không được chúng ta giữ lấy cho văn học. Chúng ta chưa biết coi trọng nó, ngạc nhiên trước nó và thích thú vì nó. Nhưng nó đã lôi cuốn tôi và biến tôi thành tù binh của nó. Tôi thích những câu chuyện kể của con người… Tôi thích giọng nói con người đơn độc. Đó là tình yêu và niềm say mê lớn nhất của tôi.

Con đường đưa tôi đến diễn đàn này kéo dài gần bốn mươi năm – từ con người đến con người, từ giọng nói đến giọng nói. Tôi không thể nói là mình lúc nào cũng đủ sức để theo con đường này – nhiều lần tôi đã bị chấn động và sợ hãi bởi con người, đã từng hân hoan và ghê tởm, đã muốn quên đi những điều nghe thấy được để quay lại thời chưa biết gì. Tôi cũng đã không phải một lần muốn khóc lên vì vui sướng khi thấy con người tốt đẹp.

Tôi sống ở một đất nước mà ngay từ nhỏ người ta đã dạy chúng tôi chết. Dạy cái chết. Người ta bảo chúng tôi rằng con người sống là để hiến dâng mình, để cháy lên, để hy sinh. Người ta dạy yêu người cầm súng. Nếu như tôi lớn lên ở một đất nước khác thì có lẽ tôi đã không thể đi qua con đường này. Cái ác là tàn nhẫn và bạn phải được phòng ngừa với nó. Nhưng chúng tôi đã lớn lên giữa các đao phủ và nạn nhân. Dù cho cha mẹ chúng tôi sống trong sợ hãi và không kể hết cho chúng tôi nghe, mà thường là không kể gì cả, nhưng chính bầu không khí cuộc sống của chúng tôi đã bị đầu độc bởi điều đó. Cái ác thường xuyên canh chừng chúng tôi.

Tôi đã viết được năm cuốn sách nhưng tôi cảm thấy tất cả đó chỉ là một cuốn mà thôi. Cuốn sách kể về lịch sử của một sự không tưởng.

Varlam Shalamov có viết: “Tôi đã tham dự một trận đánh to lớn nhưng bị thất bại vì sự đổi mới thực sự loài người”. Còn tôi khôi phục lịch sử trận đánh đó, những thắng lợi và thất bại của nó. Lịch sử của việc con người mong muốn xây dựng Vương Quốc Nhà Trời trên trần gian. Thiên Đường! Thành Phố Mặt Trời! Mà kết cục là biển máu, là hàng triệu sinh linh bị thiệt mạng. Nhưng đã có một thời không một tư tưởng chính trị nào của thế kỷ XX có thể sánh được với chủ nghĩa cộng sản (và với cách mạng Tháng Mười như biểu tượng của nó), thu hút được các trí thức phương Tây và mọi người trên thế giới mạnh mẽ và rực rỡ hơn. Raymond Aron gọi cuộc cách mạng Nga là “thuốc phiện đối với trí thức”. Nhưng tư tưởng về chủ nghĩa cộng sản ít nhất cũng đã có hai nghìn năm tuổi. Ta tìm thấy nó ở Platon – trong các học thuyết về một nhà nước lý tưởng và đúng đắn, ở Aristophane – trong các mơ ước về cái thời khi “tất cả đều là của chung”… Ở Thomas More và Tommaso Campanella… Về sau là ở Saint-Simon, Fourier và Robert Owen. Nhưng có cái gì đó trong tinh thần Nga đã buộc người ta phải thử tìm cách biến những mơ ước này thành hiện thực.

Hai mươi năm trước chúng ta đã tống tiễn đế chế “đỏ” với những lời nguyền rủa và những giọt nước mắt. Hôm nay đã có thể nhìn lại lịch sử vừa qua một cách bình thản, như nhìn một kinh nghiệm lịch sử. Điều này là quan trọng, bởi vì những cuộc tranh cãi về chủ nghĩa xã hội đến nay vẫn chưa ngừng lặng. Một thế hệ mới đã lớn lên với bức tranh thế giới khác, nhưng không ít người trẻ lại đọc Marx và Lenin. Ở các thành phố Nga vẫn có những bảo tàng mới cho Stalin, những bức tượng ông ta vẫn được dựng lên.

Đế chế “đỏ” đã mất, nhưng con người “đỏ” vẫn còn. Nó vẫn kéo dài.

Cha tôi, ông vừa qua đời mới đây, đến tận cuối đời vẫn là một người cộng sản trung thành. Ông vẫn giữ tấm thẻ đảng của mình. Tôi không bao giờ nói ra được cái từ “Sovok” [từ có tính miệt thị hiện nay dùng để chỉ những người còn luyến tiếc thời xô viết, trong tiếng Nga từ này có nghĩa là “Cái xẻng hót rác” – ND] khi buộc phải dùng từ đó để gọi cha mình, “những người họ hàng”, những người quen biết. Những người bạn. Tất cả họ đều đến từ đấy – từ chủ nghĩa xã hội. Trong số họ có nhiều người lý tưởng. Nhiều người lãng mạn. Hiện nay ta có thể gọi họ một cách khác – những nhà lãng mạn của nô lệ. Những nô lệ của không tưởng. Tôi nghĩ tất cả họ có thể sống một cuộc sống khác, nhưng họ vẫn sống tiếp kiểu xô viết. Tại sao vậy? Câu trả lời cho câu hỏi này tôi đã tìm kiếm rất lâu – tôi đã đi khắp đất nước rộng lớn trước đây gọi là Liên Xô, đã ghi âm hàng nghìn cuộn băng. Từng tí, từng tí một, tôi thu thập lịch sử của chủ nghĩa xã hội từ “bên trong”, “ở nhà”. Cái nó sống trong tâm hồn con người. Tôi bị thu hút bởi khoảng không nhỏ bé đó – con người… chỉ một con người thôi. Thực ra, đấy là nơi mọi sự diễn ra.

Ngay sau chiến tranh Theodor Adorno đã viết một câu chấn động: “Sau Auschwitz mà còn làm thơ là một sự man rợ”. Người thầy của tôi, nhà văn Ales Adamovich, mà hôm nay tôi muốn nhắc tên với lòng biết ơn trân trọng, cũng cho rằng làm văn về những cơn ác mộng của thế kỷ XX là một điều kinh tởm. Cần phải đưa lại sự thật như nó vốn có. Cần có một thứ “siêu văn học”. Phải để cho nhân chứng lên tiếng. Có thể nhớ lại ở đây cả những lời của Nietzsche nói rằng không một nghệ sĩ nào chịu được hiện thực. Không thể kéo nó lên được.

Tôi luôn đau khổ trước việc sự thật không đựng được trong một con tim, một đầu óc. Nó bị vỡ vụn ra thành nhiều sự thật, nó khác nhau và vương vãi trên khắp thế giới. Dostoevsky có nói một ý rằng loài người sẽ biết về mình nhiều hơn, nhiều gấp bội, khi nó kịp ghi lại mình càng nhiều trong văn học. Tôi phải làm gì đây? Tôi thu thập đời sống thường ngày của những tình cảm, tư tưởng, lời nói. Thu thập cuộc sống của thời mình sống. Tôi quan tâm đến lịch sử của tâm hồn. Đời sống của tâm hồn. Những cái mà lịch sử lớn thường bỏ lọt, thường cao ngạo xem khinh. Tôi làm việc với lịch sử bị bỏ quên. Nhiều lần tôi đã nghe nói và bây giờ vẫn nghe thấy rằng đó không phải là văn học, đó là tư liệu. Vậy hôm nay văn học là gì? Ai trả lời được câu hỏi này? Chúng ta sống nhanh hơn trước đây. Nội dung xé rách hình thức. Bẻ gãy và thay đổi nó. Mọi thứ đều chảy tràn khỏi bờ của mình: cả âm nhạc, cả hội họa, và trong tư liệu lời lẽ bứt ra khỏi giới hạn của tư liệu. Không có ranh giới giữa thực tế và hư cấu, cái này chảy sang cái kia. Ngay cả người chứng cũng không phải là vô tư. Khi kể chuyện là con người sáng tạo, hắn đánh vật với thời gian, như nhà điêu khắc vật lộn với khối cẩm thạch. Hắn vừa là diễn viên vừa là nhà sáng tạo.

Tôi quan tâm đến con người nhỏ bé. Con người nhỏ bé to lớn, tôi những muốn nói vậy, bởi vì những nỗi đau khổ làm cho họ lớn ra. Trong các cuốn sách của tôi, họ kể lại những câu chuyện (lịch sử) nhỏ của mình và cùng với đó là câu chuyện (lịch sử) lớn. Những cái đã và đang xảy ra với chúng ta mà chưa được suy xét, cần phải được nói ra. Để bắt đầu thì hãy nói ra đã. Chúng ta sợ điều này thì sẽ không thể nào thanh toán được với quá khứ của mình. Trong tiểu thuyết Lũ người quỷ ám của Dostoevsky, Shatov nói với Stavrogin lúc bắt đầu câu chuyện của hai người: “Chúng ta là hai sinh vật gặp nhau ở cõi vô thủy vô chung… Đây là lần cuối cùng ở thế giới này. Hãy để giọng nói của anh lại và nói bằng giọng con người! Hãy nói dù chỉ một lần bằng giọng người.”

Những cuộc trò chuyện của tôi với các nhân vật của mình cũng bắt đầu kiểu như vậy. Tất nhiên, con người nói từ thời của mình, hắn không thể nói từ chỗ trống không. Nhưng để đến được tâm hồn con người thật khó, bởi nó đã bị ngập trong rác rưởi những điều cuồng xiên của thế kỷ, những thiên kiến và dối lừa. Do truyền hình và báo chí.

Tôi muốn dẫn ra đây vài trang nhật ký của mình để cho thấy thời gian đã trôi như thế nào… tư tưởng đã chết ra sao… Tôi đã lần theo dấu vết của nó thế nào…

Những năm 1980 – 1985

Mình đang viết cuốn sách về chiến tranh… Tại sao lại về chiến tranh? Bởi vì tất cả chúng ta đều là người của chiến tranh – chúng ta hoặc đã đánh nhau hoặc đang chuẩn bị vào trận. Xem xét kỹ hơn thì chúng ta đều suy nghĩ theo lối nhà binh. Trong nhà, ngoài phố. Vì thế ở chúng ta mạng người mới rẻ đến thế. Tất cả đều như trong cuộc chiến.

Mình bắt đầu từ sự hoài nghi. Lại thêm một cuốn sách về chiến tranh nữa à… Để làm gì?

Trong một chuyến đi viết báo mình gặp một phụ nữ thời chiến tranh làm cứu thương. Chị kể: một mùa đông họ băng qua hồ Ladoga, quân địch phát hiện thấy có chuyển động liền bắn vào họ. Người và ngựa ngã khụy xuống băng. Mọi việc diễn ra trong đêm, chị túm lấy một cái xác mà chị nghĩ là bị thương và kéo vào bờ. “Tôi kéo nó ướt rượi, trần trụi, quần áo chắc bị thủng rách hết rồi”, chị kể. Khi lên bờ thì mới hay là chị đã kéo một con cá tầm to bị thương. Và chị đã không kìm nổi mình thốt ra một ý nghĩ khủng khiếp: con người đau khổ thì đã đành, nhưng còn thú vật, chim cá thì chúng có tội gì mà cũng bị vạ lây? Trong một lần đi khác mình đã nghe được chuyện của một nữ cứu thương ở đại đội kị binh, chị kể trong một trận đánh chị đã kéo một tên lính Đức bị thương vào một cái hố, nhưng khi vào hố rồi mới biết hắn là lính Đức, chân hắn bị gãy, chảy máu nhiều. Đó là kẻ thù! Phải làm sao đây? Phía trên hố những người lính chúng ta đang ngã xuống! Nhưng chị vẫn băng bó cho tên Đức đó và lại bò đi tiếp. Chị lại kéo được một người lính Nga, anh ta bị ngất, đến khi tỉnh lại, anh muốn giết tên Đức, còn tên này khi hồi phục cũng cầm lấy súng và muốn giết người lính Nga. “Tôi mới vả cho cả hai người. Chân chúng tôi khi đó ngập trong máu. Máu của cả hai bên trộn vào nhau”, chị nhớ lại.

Đó là cuộc chiến tranh mà tôi chưa được biết. Cuộc chiến tranh của phụ nữ. Không phải về những anh hùng. Không phải về việc những người này giết những người kia một cách dũng cảm. Tôi nhớ lời người phụ nữ rên rỉ: “Sau trận đánh bạn bước đi trên mặt đất. Họ nằm ngổn ngang… Tất cả đều là những chàng trai trẻ trung, xinh đẹp. Họ nằm trên đất, nhìn lên bầu trời. Cả bên này bên kia đều đáng thương xót”. Chính cái “tất cả họ, cả bên này, bên kia” đó đã mách bảo cho mình là cuốn sách mới sẽ viết về điều gì. Viết rằng chiến tranh là sự giết người. Như nó còn hằn in trong tâm trí phụ nữ. Con người vừa mỉm cười, vừa hút thuốc, vậy mà rồi chẳng còn lại gì. Những người phụ nữ nói nhiều nhất là về sự biến mất, về chuyện trong chiến tranh tất cả đều bị biến thành hư vô. Cả con người, cả thời gian của con người. Đúng, chính họ đã xin ra trận ở tuổi 17-18, nhưng họ không muốn giết người. Họ sẵn sàng chết. Chết vì Tổ Quốc. Và chết vì Stalin – anh không thể xóa được những lời này ra khỏi lịch sử.

Cuốn sách hai năm không được in, nó không được in trước cải tổ. Trước thời Gorbachev. “Sau khi đọc cuốn sách của chị thì không ai muốn ra trận nữa – viên kiểm duyệt bảo tôi. – Chiến tranh trong sách của chị thật ghê rợn. Sao trong sách chị không có các anh hùng?”. Tôi không tìm kiếm các anh hùng. Tôi viết lịch sử thông qua chuyện kể của người chứng và người tham gia mà không được ai để ý đến. Chưa ai bao giờ hỏi đến họ cả. Họ nghĩ gì, chúng ta không biết họ nghĩ gì về những tư tưởng vĩ đại. Ngay sau chiến tranh con người đã kể một cuộc chiến, qua vài chục năm là một cuộc chiến khác, tất nhiên, ở hắn đã có điều thay đổi, bởi vì hắn đặt toàn bộ cuộc đời mình vào các hồi ức. Toàn bộ cái tôi của hắn. Chuyện hắn đã sống những năm tháng ấy thế nào, đã đọc gì, thấy gì, đã gặp ai. Đã tin vào gì. Cuối cùng, hắn hạnh phúc hay không hạnh phúc. Các tư liệu là những sinh linh, chúng thay đổi cùng với chúng ta…

Những tôi tuyệt đối tin rằng những cô gái như các cô gái ra trận hồi năm 1941 sẽ không bao giờ có lại nữa. Đó là thời cực đỉnh của tư tưởng “đỏ”, thậm chí cao hơn cả cuộc cách mạng và Lenin. Thắng lợi của họ đến nay vẫn che khuất cả GULAG. Tôi yêu vô cùng các cô gái này. Nhưng không thể nói với họ về Stalin, về việc sau chiến tranh những đoàn tàu chở đầy những người chiến thắng và những người dũng cảm trực tính đã chạy thẳng đến Siberia. Những người còn lại thì trở về nhà và im lặng. Một lần tôi nghe được điều này: “Chúng ta chỉ được tự do trong chiến tranh. Ở ngoài mặt trận”. Cái vốn chính của chúng ta là sự đau khổ. Không phải dầu hỏa, không phải khí đốt, mà là sự đau khổ. Đó là cái duy nhất mà chúng ta thường xuyên khai thác được. Tôi luôn đi tìm câu trả lời: vì sao những đau khổ của chúng ta không chuyển được thành tự do? Chaadayev nói đúng: nước Nga là nước không có ký ức, đó là khoảng không của sự quên toàn bộ, là ý thức trinh nguyên dành cho sự phê phán và suy tưởng.

Những cuốn sách vĩ đại nằm bẹp dưới chân…

Năm 1989

Mình đang ở Kabul. Mình không muốn viết về chiến tranh nữa. Nhưng mình lại đang có mặt tại một cuộc chiến tranh thực sự đây. Báo “Sự thật” viết: “Chúng ta đang giúp nhân dân Afghanistan anh em xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Khắp nơi là những con người thời chiến, những đồ vật thời chiến. Thời chiến.

Hôm qua họ không cho mình tham trận. “Bà hãy ở lại khách sạn. Chúng tôi sẽ trả lời bà sau.” Mình ngồi ở khách sạn và nghĩ: ngồi mà nhìn sự dũng cảm, liều mạng của người khác thì thật là vô đạo đức. Mình đã ở đây tuần thứ hai và không thể dứt được ý nghĩ rằng chiến tranh là sản phẩm của bản chất đàn ông, điều mà mình không sao hiểu nổi. Nhưng các vật dùng thường ngày của chiến tranh thì nhiều vô kể. Mình khám phá ra là vũ khí được làm rất đẹp: súng máy, mìn, xe tăng. Con người đã dồn nhiều tâm trí cho việc giết người khác ngày càng tinh xảo hơn. Cuộc tranh cãi muôn đời giữa cái thật và cái đẹp. Người ta chỉ cho mình thấy một loại mìn mới của Italia, và phản ứng rất “phụ nữ” của mình là: “Đẹp. Sao nó lại đẹp thế?”. Người ta giải thích cho mình đúng theo kiểu quân sự rằng nếu vấp phải hay giẫm phải quả mìn đó theo kiểu thế này… dưới một góc thế này… thì con người còn lại không đầy nửa xô thịt. Ở đây người ta nói sự bất thường như sự bình thường, điều đó là tất nhiên. Chiến tranh mà… Không ai phát điên trước những cảnh tượng này, ví như một người nằm trên đất, bị giết không phải bởi thiên tai, không phải bởi số phận, mà bởi một người khác.

Mình đã thấy cảnh chất hàng lên một chiếc “tuy líp đen” (tên gọi loại máy bay chở những quan tài kẽm đựng người chết về Tổ Quốc). Người chết thường được cho mặc bộ quân phục từ những năm 40 có ủng đi ngựa, nhưng đôi khi loại quân phục đó cũng không đủ. Những người lính kháo nhau: “Những người mới chết đã được đưa sang tủ lạnh. Có mùi như mùi lợn thối.” Mình sẽ viết về những chuyện này. Mình sợ ở nhà mọi người sẽ không tin mình. Báo chí nước ta chỉ viết về những hàng cây hữu nghị do các chiến sĩ xô viết trồng.

Mình nói chuyện với những cậu lính trẻ, nhiều người tình nguyện sang đây. Yêu cầu được đến. Mình nhận thấy phần lớn các cậu là xuất thân từ các gia đình trí thức – giáo viên, bác sĩ, thủ thư – tóm lại là từ những gia đình có học. Họ đều mơ ước chân thành giúp nhân dân Afghanistan xây dựng chủ nghĩa xã hội. Giờ đây họ cười nhạo chính bản thân. Họ chỉ cho mình một chỗ ở sân bay, nơi xếp hàng trăm chiếc quan tài kẽm sáng lên một cách ma quái dưới ánh mặt trời. Người sĩ quan đưa mình đi không nén nổi lòng mình: “Có lẽ ở đó cũng có một cái của tôi… Họ đẩy tôi vào đấy… Vậy tôi chiến đấu ở đây vì cái gì?”. Nói rồi anh ta bỗng sợ những lời của mình: “Chị đừng ghi lại nhé”.

Đêm đêm tôi mơ thấy những người bị giết, khuôn mặt ai cũng sửng sốt: làm sao tôi lại bị giết? Chẳng lẽ tôi đã chết thật ư?

Mình đã đi cùng các nữ y tá vào bệnh viện dành cho dân thường Afghanistan, trao quà cho các trẻ em. Đồ chơi, kẹo bánh. Mình có mang theo năm con gấu bông. Bọn mình vào bệnh viện – đó là một dãy lán dài, trên giường bệnh chỉ có chăn đắp, không có nệm trải. Một phụ nữ Afghanistan bế con đi lại phía mình muốn nói điều gì đó, sau hơn chục năm ở đây ai cũng có thể nói được một ít tiếng Nga, mình đưa đồ chơi cho đứa bé, nó lấy răng ngậm. “Sao lại bằng răng?” mình ngạc nhiên. Người mẹ kéo chiếc chăn ra khỏi thân hình bé nhỏ của đứa con, để lộ một cậu bé cụt cả hai tay. “Đấy là do người Nga các chị bỏ bom”. Có ai đó đỡ lấy mình, mình khụy xuống…

Mình đã thấy những tên lửa “Grad” của chúng ta biến các làng mạc nơi đây thành cánh đồng đã cày. Mình đã đến một nghĩa trang Afghanistan dài như một ngôi làng. Đâu đó ở giữa nghĩa trang có một bà lão Afghanistan kêu khóc. Mình nhớ lại tại một ngôi làng gần Minsk khi người ta mang chiếc quan tài kẽm vào nhà, bà mẹ đã rú lên. Đó không phải là tiếng kêu của con người và cũng không phải là tiếng kêu của con thú… Nó giống như tiếng kêu khóc mà mình đã nghe thấy ở nghĩa trang tại Kabul…

Mình thú nhận là không phải ngay lập tức mình đã được giải thoát. Mình thành thật với các nhân vật của mình và họ tin tưởng mình. Mỗi chúng ta đều có con đường riêng đi đến tự do. Trước khi đến Afghanistan mình vẫn tin vào chủ nghĩa xã hội mang bộ mặt người. Từ đấy trở về mình được giải thoát khỏi mọi ảo tưởng. “Cha hãy tha thứ cho con, – mình nói khi hai cha con gặp nhau, – cha đã dạy con niềm tin vào những lý tưởng cộng sản, nhưng chỉ cần một lần nhìn thấy những học sinh xô viết mới đây còn được cha mẹ dạy dỗ (cha mẹ mình là giáo viên ở nông thôn) khi ở tại nước khác đã giết hại những người mà chúng không hề quen biết thì đủ để mọi lời cha dạy biến thành tro bụi. Chúng ta là những kẻ giết người, cha ạ, cha hiểu chứ?”. Cha đã bật khóc.

Nhiều người từ Afghanistan trở về đã thành người tự do. Nhưng mình còn có một thí dụ khác. Cũng tại Afghanistan một chàng trai đã kêu lên với mình: “Phụ nữ như chị thì hiểu gì về chiến tranh? Cứ nghĩ mọi người chết trận như trong sách báo, phim ảnh sao? Chết trong đó thì đẹp thật, còn ở chỗ tôi hôm qua một người bạn đã bị giết chết, viên đạn bay thẳng vào đầu. Anh ấy còn cố chạy thêm chục mét nữa, hai tay ôm lấy cái não của mình…”. Bảy năm sau chàng trai đó bây giờ là một doanh nhân thành đạt, thích kể chuyện Afghanistan. Anh ta gọi điện cho mình: “Chị viết các cuốn sách đó để làm gì vậy? Chúng quá ghê rợn”. Đó đã là một con người khác, không còn là chàng trai mà mình đã gặp giữa cái chết mà không muốn mình chết đi ở tuổi hai mươi…

Mình tự hỏi mình muốn viết cuốn sách thế nào về chiến tranh. Mình muốn viết về con người không bắn, không thể bắn vào người khác, người mà ngay cả ý nghĩ về chiến tranh cũng đã là sự đau khổ. Người đó ở đâu? Mình chưa gặp người đó.

Những năm 1990 – 1997

Văn học Nga hấp dẫn ở chỗ nó là nền văn học duy nhất có thể kể về kinh nghiệm độc nhất mà một đất nước rộng lớn đã từng có lúc trải qua. Mình thường được hỏi: vì sao chị cứ mãi viết về cái bi thảm thế. Bởi vì chúng ta đang sống như thế. Mặc dù giờ đây chúng ta sống ở những đất nước khác nhau, nhưng con người “đỏ” sống ở khắp nơi. Họ đến từ cuộc sống đó, với những hồi ức đó.

Rất lâu mình không muốn viết về Chernobyl. Mình không biết viết về nó thế nào, dùng phương tiện nào, tiếp cận chủ đề ra sao. Cái tên đất nước nhỏ bé của mình lọt thỏm giữa châu Âu mà trước đây hầu như thế giới không nghe biết gì, bỗng vang lên bằng mọi thứ tiếng, còn chúng ta, người Belarus, trở thành dân tộc Chernobyl. Thành những người đầu tiên chạm đến cái chưa từng biết. Bây giờ đã rõ: ngoài những thách thức của chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa dân tộc và những tôn giáo mới, còn có những thách thức toàn thể, tàn bạo hơn chờ đợi chúng ta ở phía trước, dù hiện thời chúng chưa được nhìn thấy. Chỉ sau vụ Chernobyl một ít mới bắt đầu lộ ra…

Ký ức vẫn nhớ như in một tài xế taxi già bật lên tiếng rủa đau đớn khi một con chim rơi đập vào kính trước xe. “Một ngày hai ba con chim sa xuống. Vậy mà báo chí cứ viết là tình hình vẫn được kiểm soát”.

Trong các công viên thành phố người ta chất lá thành đống và mang ra ngoại ô để chôn lá ở đấy. Người ta đào những chỗ đất có vết lây nhiễm và cũng mang đi chôn – đất chôn trong đất. Người ta chôn cả củi và cỏ. Mặt ai cũng có nét ghê ghê. Một ông lão nuôi ong kể: “Sáng sớm tôi bước ra vườn thấy vắng thiếu một cái gì đấy, một âm thanh quen thuộc nào đó. Không một con ong… Không nghe thấy tiếng một con ong. Không hề có một con! Cái gì vậy? Đó là cái gì? Sang ngày thứ hai chúng cũng không bay về, rồi ngày thứ ba… Sau đó chúng tôi được thông báo là nhà máy nguyên tử có sự cố, mà nó thì ở sát đây. Nhưng một thời gian lâu chúng tôi không được hay biết gì. Bầy ong thì biết, còn chúng tôi thì không”. Thông tin về Chernobyl trên các báo rặt những từ ngữ quân sự: vụ nổ, anh hùng, người lính, sơ tán… KGB làm việc ngay tại nhà máy. Người ta truy tìm những kẻ gián điệp và phá hoại, loan đi tin đồn cho rằng sự cố là một hoạt động đã được lên kế hoạch của các cơ quan tình báo phương Tây để làm sụp đổ phe xã hội chủ nghĩa. Các thiết bị kỹ thuật quân sự được chuyên chở đến Chernobyl, những người lính được đưa đến đấy. Hệ thống đã hành động theo thói quen như trong thời chiến, nhưng người lính cầm khẩu súng tối tân trong thế giới mới này là một điều bi kịch. Tất cả những gì anh ta có thể làm, ấy là thu lấy một liều lớn chất phóng xạ vào cơ thể mình và chết khi trở về nhà.

Mình đã thấy diễn ra trước mắt con người tiền-Chernobyl bị biến thành con người Chernobyl.

Chất phóng xạ không thể nhìn thấy được, chạm tới được, nghe thấy được mùi của nó… Thế nhưng cái thế giới vừa quen vừa không quen ấy đã bao quanh chúng ta. Khi mình đi vào vùng nhiễm xạ, người ta nhanh chóng dặn dò: không được hái hoa, không được ngồi lên cỏ, không được uống nước giếng… Cái chết giấu kín khắp nơi, nhưng đó đã là một cái chết khác. Dưới những mặt nạ mới. Trong một bộ dạng lạ lẫm. Những người già đã trải qua chiến tranh lại phải thêm một lần sơ tán – họ nhìn lên trời: “Mặt trời vẫn sáng… Không có khói, có khí đốt. Không có bắn nhau. Chẳng lẽ đó lại là chiến tranh? Vậy mà lại thành người chạy nạn”.

Hàng sáng mọi người tranh nhau vồ lấy tờ báo rồi thất vọng bỏ xuống – không tìm thấy gián điệp. Không thấy viết về các kẻ thù của nhân dân. Thế giới không có gián điệp và kẻ thù của nhân dân cũng là lạ lẫm. Một cái gì mới đã bắt đầu. Chernobyl tiếp sau Afghanistan đã làm cho chúng ta thành những người tự do.

Đối với tôi thế giới đã được mở rộng. Ở tại vùng nhiễm xạ tôi không cảm thấy mình là người Belarus, người Nga, người Ucraina, mà là đại diện của một loài sinh học có thể bị hủy diệt. Hai thảm họa trùng nhau: một mang tầm xã hội – một Atlantide[1] xã hội chủ nghĩa bị chìm dưới nước, và một mang tầm vũ trụ – Chernobyl. Sự sụp đổ của đế chế làm tất cả lo âu: mọi người lo lắng cho cuộc sống thường ngày, mua gì và sống thế nào? Tin vào cái gì? Lại đứng dưới những ngọn cờ nào? Hay cần phải học sống không có một tư tưởng lớn? Cái sau thì chưa ai biết cả vì chưa khi nào phải sống như thế. Hàng trăm câu hỏi hiện ra trước con người “đỏ”, hắn phải vật lộn chúng trong cảnh đơn độc. Chưa bao giờ hắn đơn độc đến thế như trong những ngày tự do đầu tiên. Vây quanh mình là những con người đang trong cơn choáng váng. Mình lắng nghe họ…

Tôi khép lại nhật ký của mình ở đây…

Cái gì đã diễn ra với chúng tôi khi đế chế sụp đổ. Trước đây thế giới bị phân chia: đao phủ và nạn nhân – đó là GULAG, anh em và chị em – đó là chiến tranh, bầu cử – đó là công nghệ, thế giới hiện đại. Trước đây thế giới chúng tôi còn bị chia ra thành những người bị bắt và những kẻ đi bắt người, hiện nay thì phân chia thành người theo chủ nghĩa Slave và người thân phương Tây, kẻ phản bội dân tộc và người yêu nước. Lại còn chia ra những người có thể mua được mọi thứ và những người không thể mua được gì. Loại sau, tôi muốn nói, là sự thử thách nghiệt ngã nhất sau chủ nghĩa xã hội, bởi vì chỉ mới đây thôi tất cả còn là như nhau. Con người “đỏ” như thế không thể bước vào vương quốc của tự do, điều mà hắn đã mơ ước quanh cái bàn bếp nhà mình. Người ta phân chia nước Nga mà không có hắn, hắn ở lại mà chẳng có gì. Bị lăng nhục và cướp bóc. Bị công kích và nguy hiểm.

Đây là những điều tôi nghe thấy khi đi quanh nước Nga…

– Hiện đại hóa ở chúng ta chỉ có thể bằng con đường sharashkas (nhà tù dành cho các nhà khoa học) và những cuộc xử bắn.

– Người Nga dường như không muốn trở nên giàu có, thậm chí sợ giàu. Thế hắn muốn gì? Hắn bao giờ cũng chỉ muốn một điều: để người khác không giàu lên. Giàu hơn hắn.

– Nước ta không có người trung thực, mà chỉ có các vị thánh.

– Chúng ta sẽ không bao giờ thấy những thế hệ không bị đánh; người Nga không hiểu tự do, cái hắn cần là kẻ tàn bạo và cái roi.

– Hai từ tiếng Nga chủ yếu là: chiến tranh và nhà tù. Anh ăn cắp, đi dạo, bị bỏ tù… bước ra, rồi lại vào tù…

– Đời sống Nga cần độc ác, hèn hạ, trong khi tâm hồn thì bay lên, nó biết nó không thuộc về thế giới này… càng nhiều bẩn thỉu và máu me thì càng nhiều không gian cho nó…

– Không có một sức mạnh nào, một sự điên cuồng nào đủ để làm một cuộc cách mạng mới. Cả tinh thần cũng không. Người Nga đang cần một tư tưởng khiến họ sởn gai ốc.

– Cuộc sống của chúng ta đung đưa giữa nhà thổ và trại lính. Chủ nghĩa cộng sản không chết, cái xác vẫn sống.

Tôi dám mạnh dạn nói rằng chúng tôi đã bỏ mất cơ hội có được vào những năm 90. Trả lời câu hỏi: đất nước cần nên thế nào – hùng mạnh hay đáng sống, nơi mọi người được sống tử tế, người ta đã chọn vế đầu – hùng mạnh. Cho nên bây giờ lại là thời bạo lực. Người Nga đánh nhau với người Ucraina. Với những người anh em. Cha tôi là người Belarus, mẹ là người Ucraina. Nhiều người khác cũng có hoàn cảnh như vậy. Máy bay Nga đang bỏ bom Syria..

Thời hy vọng đã bị thay bằng thời sợ hãi. Thời gian quay ngược lại sau… Thời second-hand…

Bây giờ tôi không chắc là mình sẽ viết xong được lịch sử của con người “đỏ”…

Tôi có ba quê hương – miền đất Belarus của tôi, quê cha, nơi tôi sống cả cuộc đời. Ucraina, quê mẹ, nơi tôi sinh ra, và nền văn hóa Nga vĩ đại, thiếu nó thì tôi không thể hình dung nổi mình. Cả ba nơi chốn đều thân thiết với tôi. Nhưng ở thời chúng ta thật khó nói về tình yêu.

Ngân Xuyên dịch từ nguyên bản tiếng Nga.


[1] Atlantide: Tên một lục đia truyền thuyết được Platon nhắc đến trong hai đối thoại Timée rồi Critias đã bị chìm vào thời tiền sử Hy Lạp. Hiện nhiều người coi là hoàn toàn hư cấu, nhưng cũng có người cho là phản ánh một thực tế nào đó trong lịch sử trái đất xa xưa.

Svetlana Alexievich

Svetlana Alexandrovna Alexievich

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Svetlana Alexievich

Svetlana Alexievich tại hội thảo ở Roter Salon (Red Salon) tại Berlin,
8 tháng 2 năm 2011
Sinh Svetlana Alexandrovna Alexievich
31 tháng 5, 1948 (67 tuổi)
Stanislav, CHXHCN Xô Viết Ukraina, Liên Xô
Công việc Nhà báo
nhà văn
Ngôn ngữ Tiếng Nga
Quốc gia Belarus
Giải thưởng nổi bật Giải Nobel Văn học (2015)
Giải Hòa bình của ngành kinh doanh sách Đức (2013)
Prix Médicis (2013)

alexievich.info/indexEN.html

Svetlana Alexandrovna Alexievich (tiếng Belarus: Святлана Аляксандраўна Алексіевіч Sviatłana Alaksandraŭna Aleksijevič; tiếng Nga: Светлана Александровна Алексиевич; tiếng Ukraina: Світлана Олександрівна Алексієвич; sinh ngày 31 tháng 5 năm 1948) là một nhà báo điều tra và nhà văn thể loại văn xuôi hiện thực. Bà là người Belarus nhưng viết văn và báo bằng tiếng Nga. Bà được trao giải Nobel Văn học năm 2015 “vì lối viết phức điệu, một tượng đài tưởng niệm sự thống khổ và lòng can đảm trong thời đại của chúng ta”.[1][2][3][4] Bà là nhà văn đầu tiên của Belarus nhận giải thưởng này.[5][6]

Mục lục

Tiểu sử

Sinh ra tại thị trấn phía tây Ukraine Stanislav (kể từ năm 1962 có tên là Ivano-Frankivsk) trong gia đình cha là người Belarus mẹ là người Ukraina, Alexievich lớn lên ở Belarus. Sau khi học xong bà đã làm phóng viên trong một số tờ báo địa phương trước khi tốt nghiệp từ Đại học Lenin (1972) (bây giờ là Đại học Nhà nước Belarus) ở Minsk và trở thành một phóng viên của tạp chí văn học NemanMinsk (1976).[7]

  • Khởi nghiệp trong ngành báo chí Alexievich bắt đầu ghi âm lời kể những nữ binh sĩ từng tham gia chiến tranh thế giới thứ 2, nói về những khía cạnh cuộc chiến mà chưa hề được đề cập tới, khi bà là phóng viên một tờ báo địa phương trong thập niên 1970, và hoàn thành tác phẩm nổi tiếng đầu tiên “War’s Unwomanly Face” (Chiến tranh không mang gương mặt phụ nữ) năm 1983. Vì bị cho là có „khuynh hướng chống cộng” bà bị cho nghỉ việc [8]. Cuốn sách này chỉ được xuất bản tại Liên Xô năm 1985 khi chính sách Perestroika bắt đầu, đã bán chỉ riêng ở Nga được trên 2 triệu ấn bản. Nó đã được giải Leninsky Komsomol 1986 ở Liên Xô [9] và cũng đã được dịch ra 20 thứ tiếng khác, nhưng không được xuất bản ở quê hương bà, Belarus, nơi Alexiyevich bị kiểm duyệt vì bất đồng chính kiến với tổng thống Alexander Lukashenko.[10]
  • Cuốn sách kế tiếp »Die letzten Zeugen« (những nhân chứng cuối cùng) (1985) cũng không được cho xuất bản, với lý do thiếu lòng tin ý thức hệ, viết về cái nhìn của trẻ em và phụ nữ về cuộc chiến tranh thế giới thứ hai và những kinh nghiệm đau thương của gia đình bà trong trận chiến này và dưới thời Stalin [8].
  • Một cuốn khác là “Quan tài Kẽm,” tức “Zinky Boys: Soviet Voices from the Afghanistan War – Zinky boys: Soviet voices from a forgotten war,” xuất bản 1989, trong đó nói về mặt trái của chiến tranh Afghanistan, một cuộc chiến và những thân phận bị lãng quên. Bà đã phải trải qua nhiều năm để viết cuốn sách này, trên hơn 500 lần phỏng vấn những cựu chiến binh trở về từ cuộc chiến tranh Nga-Afghanistan và những bà mẹ của những chiến sĩ đã bỏ mạng trên trận địa. Tựa đề nói về những quan tài kẽm chứa những người chết được mang trở về. Với cuốn sách này, bà muốn “mô tả lại cuộc đấu súng giữa Đông và Tây, vừa tàn khốc, vừa vô vọng” [11]. Cuốn “Zinky Boys” gây tranh cãi và phẫn nộ khi mới được xuất bản lần đầu tiên ở Nga, nơi những nhà phê bình lên án nó là “phỉ báng.” [12] Từ 1992 bà đã phải ra tòa nhiều lần tại Minsk vì cuốn sách này nhưng không bị kết án [8].
  • Vào năm 1998 bà được được giải sách Leipzig về Thông cảm châu Âu 1998, cho quyển sách mang tựa đề “Voices from Chernobyl” (Những tiếng nói từ Chernobyl) xuất bản 1997, phơi bày nỗi kinh hoàng của những người làm công việc dọn dẹp phóng xạ sau thảm họa hạt nhân Chernobyl ở Ukraine. Nó trở thành cuốn sách cho mọi người trên thế giới về cách đối xử với những hậu quả của một thảm họa nguyên tử. Cuốc sách này, dịch ra tiếng Anh bởi Keith Gessen đã được giải National Book Critics CircleHoa Kỳ [9]. Vì các cuốn sách của bà bị cấm lưu hành ở Belarus, bà đã dùng tiền thưởng để mua ấn bản tiếng Nga mang ngầm vào Belarus [8].

Những đàn áp của chế độ Aliaksandr Ryhoravič Lukašenka đối với bà càng ngày càng trở nên dữ dội. Một trong những tội mà Swetlana Alexijewitsch bị gán cho là làm việc cho CIA. Điện thoại bà bị nghe lén, bà bị cấm xuất hiện trước công chúng. Năm 2000 Alexievich rời Belarus và được Mạng lưới các thành phố tị nạn quốc tế (The International Cities of Refuge Network) cung cấp nơi ở cho bà vài năm tại Paris. Sau đó bà được học bổng và chỗ cư trú trong đó có Stockholm và Berlin, nơi bà là khách của chương trình nghệ sĩ Berlin thuộc Cơ quan Trao đổi Hàn lâm Đức (DAAD) để hoàn tất cuốn sách mới nhất. Trong năm 2011, Alexievich trở về sống ở Minsk, mặc dù thái độ đối lập với chế độ độc tài ở Belarus làm cho đời sống tự do của bà bị hạn chế[13][14].

Giải Nobel Văn học 2015

Ngày 8 tháng 10 năm 2015, ủy ban Nobel công bố sẽ trao giải Nobel Văn học 2015 cho bà, trong khi tại Bélarus, ngay trên quê hương, các sách của Svetlana Alexievitch vẫn bị kiểm duyệt [15]. Loan báo này gây bất ngờ, một phần vì bà không viết tiểu thuyết, mà tác phẩm của bà là của một nhà báo. Trước đây chỉ có hai người không viết văn, Winston ChurchillBertrand Russell, được giải Nobel.[16] Lý do bà nhận được giải, theo ban giám khảo: „…vì tác phẩm nhiều tiếng nói, đã đặt một công trình kỷ niệm cho những hoạn nạn và và dũng cảm trong thời đại của chúng ta”.[17] Trong cuộc phỏng vấn báo chí cùng ngày tại một văn phòng tòa soạn báo chí địa phương ở Minsk, bà phát biểu: “Đây không phải là một phần thưởng cho tôi mà là cho nền văn hóa, một quốc gia nhỏ bé của chúng tôi, mà đã bị rơi vào một cối xay trong suốt lịch sử.” [11]

Bà là cây bút tiếng Nga thứ sáu được giải Nobel – sau Ivan Bunin, Boris Pasternak, Mikhail Sholokhov, Alexander SolzhenitsynJoseph Brodsky.[16]

Phản ứng

  • Belarus Belarus: Nhà viết kịch và phim kịch Andrey Kureychyk: “Một lãnh tụ quốc gia mới xuất hiện ở Belarus, tiếng nói của bà có thẩm quyền hơn một chính trị gia nào, dù đó là tổng thống hay bộ trưởng”; Bộ ngoại giao Belarus: “Nó sẽ đi vào lịch sử của sự phát triển quốc gia, xã hội và chính quyền Belarus.” Theo thông tấn xã Nga Interfax, bộ trưởng bộ giáo dục Belarus Michal Schurawkow nói vào ngày 15.10, trong tương lai đối với học sinh lớp 10 và 11 những tác phẩm của Alexievich sẽ là sách đọc bắt buộc. Theo ông ta những tác phẩm của bà Alexievich đã luôn được đọc và bàn thảo tại đại học. [18]
  • Nga Nga: Việc Alexievich chỉ trích giới lãnh đạo hiện tại ở Nga và các chính sách của họ, nhất là việc sáp nhập Krimea vào Nga đã làm cho các viên chức Nga im lặng không phản ứng gì về giải Nobel Hòa bình năm nay [9]; Nhà báo thân chính quyền Dmitry Smirnov: “Bà được trao giải thưởng vì sự thù ghét đối với nước Nga”; Nhà báo độc lập Nga Oleg Kashin nói trên đài truyền thanh Ekho Moskvy: ” Bà đại diện cho thế giới Nga không có Putin: Thế giới của ngôn ngữ và văn chương Nga, mà đối lập với chính phủ Nga. Giải thưởng Nobel đã cho chúng tôi một lãnh tụ tinh thần.” [11] Theo báo The Moscow Times, cả thế giới văn học Nga vui mừng. Dmitry Bykov, một nhà văn và nhà phê bình thành đạt nhất ở Nga, nói với đài truyền thanh Ekho Moskvy, rằng những tác phẩm Alexiyevich đại diện cho thế giới người Nga, chỉ không cho thế giới Nga mà loan truyền trên truyền hình. Không phải thế giới của xâm lược, dối trá và theo chủ nghĩa sô vanh, mà là thế giới của những tranh đấu cho sự thật, một thế giới tử tế và nhân bản, một thế giới của lòng nhân đạo.” [9]

Lối viết văn

Cuốn sách Chiến tranh không mang gương mặt phụ nữ cũng như những cuốn sách sau này của Alexiyevich, được viết theo một lối mà xóa mờ biên giới giữa sách hư cấu và chuyện thật sự. John O’Brien, giám đốc của văn phòng Hoa Kỳ của Dalkey Archive Press, nhà xuất bản cuốn sách của Alexiyevich “Voices From Chernobyl: The Oral History of a Nuclear Disaster,” mô tả lối viết văn của bà như sau: ” Hãy cho là bà ta viết một cách hư cấu trong khi lợi dụng những gì có sẵn sàng cho một người viết chuyện sự thật. Lối viết chuyện thật sự một cách “hư cấu” là một phần của truyền thống văn học Belarus được mô tả bởi nhà văn Ales Adamovich như là “nhiều âm điệu, một đội hợp ca mạnh mẽ của nhiều giọng nói khác nhau đầy kịch tính, nơi mà người viết hầu như không có mặt trong cuốn sách.” Bykov nói rằng Adamovich cho là báng bổ nếu viết chuyện hư cấu về những kinh khiếp của thế kỷ 20. “Đó là một điều sai lầm khi tạo dựng lên vấn đề. Bạn phải nói sự thật, những gì đã xảy ra. Bạn phải đem lời nói mình ra ngoài, để những người khác kể chuyện. Trong ý nghĩa này, sự đóng góp của Alexiyevich thì thật là lớn lao.” [9]

Alexiyevich phỏng vấn người dân, diễn tả lại cuộc phỏng vấn với họ, và dàn xếp đi, dàn xếp lại các đoạn cho thành một bài văn mà đọc nghe như một chuyện ngắn hay là một tiểu thuyết hơn là một tài liệu. ” Bởi vì cái phương pháp phỏng vấn người dân của bà, rồi viết lại, sau đó được sự chấp nhận của những người được phỏng vấn, Svetlana đã tạo ra một lối viết thông tục mà làm cho tác phẩm của bà dễ được cảm nhận,” O’Brien cho biết. “Phương pháp của bà làm cho những bài văn không hư cấu trở thành những truyện ngắn, trong khi vẫn hoàn toàn trung thành với những sự kiện và lối nói của người được phỏng vấn.” [9]

Nhận xét

  • Về các tác phẩm của mình: “”Tôi không chỉ ghi nhận lại các sự kiện khô khan của lịch sử. Tôi viết về lịch sử của cảm xúc con người. Những gì con người nghĩ, hiểu và nhớ về những sự kiện. Những gì họ tin vào, hay đã đặt sự tin cậy sai chỗ, những ảo tưởng, hy vọng và cả những nỗi sợ mà họ trải nghiệm.” [11]
  • Nói về nước Nga dưới thời Tổng thống Vladimir Putin: “Tôi yêu thế giới Nga, nhưng là thế giới Nga tử tế, nhân văn,”. “Tôi không yêu Beria, Stalin, Putin…, họ đã hạ thấp giá trị của nước Nga” bà nhấn mạnh.[16]. Về người Nga và người Belarus: Họ đã tự chọn quay trở lại với một chế độ chuyên chế, cho nên thay đổi người lãnh đạo không làm thay đổi những mâu thuẫn với phương Tây… Mỗi người Nga là một Putin”. Ở phía Đông (châu Âu) người ta “đã lừa gạt người dân 70 năm trời và sau đó lấy đi thêm 20 năm nữa”. Vấn đề này làm cho ở Nga và Belarus “sinh ra những con người rất hung hăng, rất nguy hiểm cho thế giới”.[19]

Tác phẩm

Tiếng Nga

  • У войны не женское лицо (U voyni ne zhenskoe litso, Chiến tranh không có khuôn mặt đàn bà), Minsk: Mastatskaya litaratura, 1985.
  • Цинковые мальчики (Tsinkovie mal’chiki, Những cậu bé [trong quan tài] kẽm), Moskva: Molodaya Gvardiya, 1991.
  • Зачарованные смертью (Zacharovannie smertyu, Bùa mê với cái chết), Moskva: Slovo, 1994. ISBN 5-85050-357-9
  • Чернобыльская молитва (Chernobil’skaya molitva, Lời cầu nguyện Chernobyl), Moskva: Ostozhye, 1997. ISBN 5-86095-088-8
  • Последние свидетели. 100 недетских колыбельных (Poslednie svideteli: sto nedetskikh kolibel’nikh, Những nhân chứng cuối cùng: 100 câu chuyện không trẻ thơ), Moskva, Palmira, 2004, ISBN 5-94957-040-5 (ấn bản lần 1: Moskva: Molodaya Gvardiya, 1985)
  • Время секонд хэнд (Vremia sekond khend, Một thời quá khứ), Moskva: Vremia, 2013. ISBN 978-5-9691-1129-5

Dịch sang tiếng Anh

  • The Unwomanly Face of War, (trích đoạn), từ Always a Woman: Stories by Soviet Women Writers, Nhà XB Cầu vồng (Raduga), 1987.
  • War’s Unwomanly Face, Moskva: Nhà XB Tiến bộ (Progress), 1988, ISBN 5-01-000494-1.
  • Voices from Chernobyl: The Oral History of a Nuclear Disaster (Dalkey Archive Press 2005; ISBN 1-56478-401-0).
  • Zinky Boys: Soviet Voices from the Afghanistan War (W W Norton & Co Inc 1992; ISBN 0-393-03415-1) Ấn bản khác: Zinky boys: Soviet voices from a forgotten war (Những người về nhà trong quan tài kẽm), Julia và Robin Whitby dịch, London: Chatto & Windus, 1992, ISBN 0-7011-3838-6.

Giải thưởng và Vinh dự

Alexievich đã đoạt nhiều giải thưởng quốc tế, trong đó có:

Bà cũng là thành viên Ban cố vấn của Giải Lettre Ulysses.

Chú thích

  1. ^ Blissett, Chelly. “Author Svetlana Aleksievich nominated for 2014 Nobel Prize“. Yekaterinburg News. ngày 28 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2014.
  2. ^ Treijs, Erica (ngày 8 tháng 10 năm 2015). “Nobelpriset i litteratur till Svetlana Aleksijevitj” [Nobel Prize in literature to Svetlana Aleksijevitj]. http://www.svd.se (bằng tiếng Swedish). Svenska Dagbladet. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2015.
  3. ^ Svetlana Alexievich wins Nobel Literature prize, BBC News (ngày 8 tháng 10 năm 2015).
  4. ^ Dickson, Daniel; Makhovsky, Andrei (ngày 8 tháng 10 năm 2015). “Belarussian writer wins Nobel prize, denounces Russia over Ukraine”. Stockholm/Minsk: Reuters. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2015.
  5. ^ “Svetlana Alexievich, investigative journalist from Belarus, wins Nobel Prize in Literature”. Pbs.org. Ngày 13 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2015.
  6. ^ Colin Dwyer (ngày 28 tháng 6 năm 2015). “Belarusian Journalist Svetlana Alexievich Wins Literature Nobel: The Two-Way”. NPR. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2015.
  7. ^ Brief biography of Svetlana Alexievich (Russian), from Who is who in Belarus
  8. ^ 
  9. ^ a ă â b c d đ The Artistic Triumph of Svetlana Alexiyevich, themoscowtimes, 9.10.2015
  10. ^ True Stories, Alexander Osipovich, themoscowtimes, 19.3.2004
  11. ^ a ă â b Cây bút ‘can đảm’ được giải Nobel 2015, BBC, 8.10.2015
  12. ^ Nobel Văn Chương 2015 vào tay nữ nhà báo Belarus, nguoi-viet, 8.10.2015
  13. ^ a ă “Svetlana Alexievich”. http://www.pen-deutschland.de. PEN-Zentrum Deutschland. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2015.
  14. ^ “Winners of the Peace Prize”. http://www.friedenspreis-des-deutschen-buchhandels.de. Friedenspreis des Deutschen Buchhandels. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2015.
  15. ^ Svetlana Alexievitch, Nobel Văn học 2015, RFI, 8.10.2015
  16. ^ a ă â Svetlana Alexievich: ‘Không yêu Stalin, Putin’, BBC, 10.10.2015
  17. ^ “The Nobel Prize in Literature 2015”. Truy cập 11 tháng 10 năm 2015.
  18. ^ Nobelpreisträgerin Alexijewitsch: Weißrussischer Schullehrplan wird erweitert, spiegel, 16.10.2015
  19. ^ Literaturnobelpreis-Trägerin Alexijewitsch: “In jedem Russen sitzt ein kleiner Putin”, spiegel, 08.10.2015
  20. ^ a ă â “Svetlana Alexievich”. internationales literaturfestival berlin. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2012.
  21. ^ a ă “Svetlana Alexievich: Voices from Big Utopia”. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2014.
  22. ^ “Friedenspreis des deutschen Buchhandels 2013” (bằng tiếng German). Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2014.
  23. ^ “Fatou Jaw Manneh Amongst Four Writers Honoured By Oxfam Novib/PEN”. FOROYAA Newspaper. Ngày 20 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2012.
  24. ^ msh/ipj (dpa, KNA) (ngày 20 tháng 6 năm 2013). “Svetlana Alexievich of Belarus wins German literary prize”. Deutsche Welle. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2013.
  25. ^ “Marie Darrieussecq reçoit le prix Médicis pour “Il faut beaucoup aimer les hommes””. Le Monde (bằng tiếng French). Ngày 12 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2013.
  26. ^ Armitstead, Claire; Flood, Alison; Bausells, Marta (ngày 8 tháng 10 năm 2015). “Nobel prize in literature: Svetlana Alexievich wins ‘for her polyphonic writings’ – live”. http://www.theguardian.com. The Guardian. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2015.

by Dennis Abrams

 

The 2015 Nobel Prize for Literature has been awarded to Belarusian journalist and author Svetlana Alexievich, cited by “for her polyphonic writings, a monument to suffering and courage in our time.”

She is the 14th woman to win the prize, and one of the first whose work is primarily nonfiction.

The New York Times quoted Sara Danius, permanent secretary of the Swedish Academy, who said that Ms. Alexievich had “created a history of emotions – a history of the soul, if you wish.”

“She’s devised a new kind of literary genre,” Ms. Danius said, adding, “It’s a true achievement not only in material but also in form.”

Her books “often blend literature and journalism,” and are most famous for “giving voice” to the men and women who “lived through major events” such as the Soviet occupation of Afghanistan in Zinky Boys, the 1986 Chernobyl nuclear disaster in Voices from Chernobyl, as well as World War II in what is perhaps her most critically acclaimed book, 1988’s War’s Unwomanly Face, based on interviews with hundreds of women who took part in the war.

CNN cited Alexiviech’s website, where she said she records conversations with 500 to 700 people for each of her books.

“Real people speak in my books about the main events of the age such as the war, the Chernobyl disaster, and the downfall of a great empire,” she said. “Together they record verbally the history of the country, their common history, while each person puts into words the story of his/her own life.”

What she does not do, she writes, is simply document a history of dry facts and events.

“I’m writing a history of human feelings,” she wrote. “What people thought, understood and remembered during the event. What they believed in or mistrusted, what illusions, hopes and fears they experienced. This is impossible to imagine or invent, at any rate in such multitude of real details.”

In her 2005 address to the PEN World Voices Festival in the United States, Alexievich described how she found her style:

“The point is not simply to exchange facts and information — the idea is that it’s important to speak of the essence of life and of its mystery.”

“As I was searching for the way to represent this, I began to understand that what I was hearing people say on the street and in the crowds was much more effectively capturing what was going on than what I was reading in print — and the way that people were trying to convey it using their pen,” she said.

Alexievich believes that in today’s world, it is impossible to write “the book” that included everything in the way that 19th century novelists sought to do.

“We need to have a book where lots of people can make a contribution — one person may speak half a page, someone else may have a paragraph or five pages that they can contribute and that this is a way of conveying what’s going on today.”

“And my genre, I refer to it as ‘the novel of voices’ and you might say that my work as just simply lying on the ground and I go and I gather it and I pick it up and I put it together. If Flaubert said ‘I am a man of the pen — or the plume,’ I could say of myself that I am a person of the ear.”

Writing for the Times, Alexandra Alter noted that Alexievich “often put herself at risk by taking on contentious elements of Soviet history and challenging the official narrative of how events had an impact on ordinary citizens.”

“She was seen as a traitor, as unpatriotic,” said Gerald Howard, the executive editor at Doubleday. He published Ms. Alexievich’s book “Zinky Boys: Soviet Voices From a Forgotten War,” about the occupation of Afghanistan, when he was a senior editor at W. W. Norton.

“She was vilified all over the place for this book,” he said, “and she didn’t back down for a second.”

Known for her courage as a journalist, she is equally as well known for the quality of her writing. The Times cited comments by John O’Brien, publisher of Dalkey Archive Press, which released Alexievich’s Voices of Chernobyl in 2005.

“She’s a masterful writer,” he said. “If this were purely for literature, rather than this mix of nonfiction and fiction that she works so well, she would deserve to get this prize because she’s so deeply rooted in a sense of humanity and suffering.”

About the Author
Dennis Abrams

Dennis Abrams is a contributing editor for Publishing Perspectives, responsible for children’s publishing and media. He’s also the author of more than 30 YA biographies and histories for Chelsea House publishers, a restaurant critic, and a literary blogger.

Bài viết mới trên Tình yêu cuộc sống

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

 

Advertisements