Đọc lại và suy ngẫm


doclaivasuyngam201736

VỈA HÈ ĐỌC LẠI VÀ SUY NGẪM. ‘SOHA: Tư duy và tầm nhìn vỉa hè’, bài viết của Hiệu Minh và ảnh Phố M – Goergetown – Thủ đô Washington DC. Ảnh: HM. Đây là một bài viết sáng nay đáng suy ngẫm. ” Tôn Đản là của các quan  Nhà Thờ là của trung gian quần thần  Đồng Xuân là của thương nhân  Vỉa hè là của nhân dân anh hùng”. “Thời bao cấp nghèo khó đó kéo theo vỉa hè tiếp tục oằn lưng mang trên vai “sứ mệnh lịch sử buôn bán” trải dài hai thế kỷ. Dù sang thế kỷ 21 gần hai thập kỷ, hè phố trở thành cái nút thắt cản trở phát triển mà nặng nề nhất là Hà Nội. Gần đây với sự ra quân đồng loạt ở Hà Nội và HCM nhằm giành lại vỉa hè cho người đi bộ, nhất là biện pháp mạnh của ông Đoàn Ngọc Hải, Phó Chủ Tịch Q1 Thành phố Hồ Chí Minh và sau đó là ông Nguyễn Đức Chung, Chủ tịch TP. Hà Nội, được dư luận đồng tình”. Bài báo viết.

Lưu, đọc lại và suy ngẫm.

Hoàng Kim

Tài liệu dẫn

SOHA: Tư duy và tầm nhìn vỉa hè

Hiệu Minh 

Vỉa hè Hà Nội, Sài Gòn đã phát triển ngoài tầm kiểm soát. Đã tới lúc phải lập lại trật tự cho nó dù đã muộn.

Nhưng ra quân bắt cóc bỏ đĩa chưa đủ mà cần một triết lý về phát triển dài hạn. Đường phố không chỉ để bước chân người qua. Nếu thiết kế và quản lý tốt thì sẽ mang lại phồn vinh cho quốc gia.

Vỉa hè là của nhân dân anh hùng

Một thời bao cấp có chế độ phân phối hàng, các quan chức cao được mua ở cửa hàng trên phố Tôn Đản, cấp thấp chút mua ở phố Nhà Thờ.

Không biết mua bán ở đâu vì tem phiếu có hạn, đi chợ một lần là hết bay tiêu chuẩn, lại ngăn sông cấm chợ, hè phố trở thành “cửa hàng” cho thứ dân. Vì thế có mấy câu thơ vui vui

Tôn Đản là của các quan
Nhà Thờ là của trung gian quần thần
Đồng Xuân là của thương nhân
Vỉa hè là của nhân dân anh hùng

Người lam lũ sử dụng vỉa hè làm nơi mua bán rau cỏ, thực phẩm rẻ tiền, chè chén, kẹo lạc, thuốc lá hôi, hàng rong đủ kiểu, mà ít người nhớ ra rằng, vỉa hè thiết kế dành cho từ quan đến dân.

Thời bao cấp nghèo khó đó kéo theo vỉa hè tiếp tục oằn lưng mang trên vai “sứ mệnh lịch sử buôn bán” trải dài hai thế kỷ.

Dù sang thế kỷ 21 gần hai thập kỷ, hè phố trở thành cái nút thắt cản trở phát triển mà nặng nề nhất là Hà Nội.

Gần đây với sự ra quân đồng loạt ở Hà Nội và HCM nhằm giành lại vỉa hè cho người đi bộ, nhất là biện pháp mạnh của ông Đoàn Ngọc Hải, PCT Q1 TP HCM và sau đó là ông Nguyễn Đức Chung, Chủ tịch Tp Hà Nội, được dư luận đồng tình.

Xem tiếp bài của Cua Times trên SOHA

Tin tặc: Đọc lại và suy ngẫm


ChientranhmangChiến tranh mạng được ưu tiên trong các cuộc chiến tranh được tin học hóa. Tin tặc ưu tiên tấn công nông nghiệp, y tế và năng lượng thay thế vì đó là những lĩnh vực rất quan trọng có nhiều sơ hở và các lỗ hổng công nghệ nhiều nhất để thúc đẩy phúc lợi của tầng lớp trung lưu ngày càng gia tăng.. Trung Quốc đang ngày càng trở nên không tin tưởng vào công nghệ thông tin của phương Tây mà họ đang thúc đẩy các lĩnh vực sản xuất công nghiệp và bán lẻ riêng của mình. Chính quyền Trung Quốc đang cố gắng đánh bật công nghệ nước ngoài ra khỏi đất nước, nhằm tạo thế cạnh tranh cho công nghệ trong nước, và họ cũng đang cố gắng xây dựng một tầng lớp trung lưu IT trong xã hội Trung Quốc.

TohopcongnghiepquansuTrungQuocanhEpoch
Bản báo cáo “Hoạt động tin tặc và gián điệp giúp Trung Quốc tăng trưởng kinh tế ra sao?” và “Mục tiêu tiếp theo của các tin tặc Trung Quốc có thể là ngành Nông nghiệp và Năng lượng Thay thế” là thông tin của tác giả: Joshua Philip, Epoch Times, dịch giả ĐKN và Phạm Duy trên báo DKN đã nêu rõ điều này. Chiến tranh mạng: cuộc chiến không khói súng  là thông tin của Sơn Duân trên báo TNO.

Việt Nam hãy cảnh giác, tự cũng cố và trầm tĩnh theo dõi.

Hoàng Kim

Video yêu thích

Beautiful Chinese Music Traditional 【Girls of Ali Mountain】
Love Story (Piano & Violin Duet)
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Ai là ai đọc lại và suy ngẫm


TruocDen
CNM365. AI LÀ AI ĐỌC LẠI VÀ SUY NGẪM. Một số bài viết lắng đọng, ám ảnh, không nỡ quên. Tôi chưa tinh tường thật giả đúng sai nên chép lại để đọc và suy ngẫm. Lịch sử luôn công bằng. Các sự thật lịch sử sẽ đến lúc được sáng tỏ và rõ ràng hơn.

“Tạm biệt ông hiệp sĩ cô đơn” là bài viết của Lê Văn Lực do Kim Loan gửi với lời nhắn “Đúng là thêm một góc nhìn khác. Trước đây mình thấy họ đánh ông bằng trang “Tư Sang nham hiểm” với nhiều sự nhảm nhí trong cách dựng chuyện. Nay ông nghỉ, bài tạm biệt này thật lắng “.

“Phần mềm độc hại” là bài viết của anh Phan Chí với lời bình luận “Phần mềm nhận dạng tử tế, hay còn gọi là phần mềm đánh giá con người, gọi tắt là “Ai là ai” được thiết kế bằng giá trị thật “phúc hậu, thực việc” do chính người đó để lại. Trí tuệ minh triết sẽ giải mã được “Ai là ai” , vì sự thật này lắng đọng trong lòng dân và lịch sử. Sự giải mã chỉ là nhanh hay chậm mà thôi…”  (Hoàng Kim).

TẠM BIỆT ÔNG HIỆP SĨ CÔ ĐƠN

Lê Văn Lực

Có lẽ trong các chính khách Việt Nam 20 năm gần đây, ông là người bị bọn giẻ vàng biêu riếu, lăng mạ & công kích dữ dội nhất. Không chỉ vậy, ông còn bị đồng chí đồng đội đâm lén, chơi dơ & vu oan giá họa bằng đủ thủ đoạn đê tiện, bẩn tưởi & hèn hạ nhất.

Thời Năm Cam làm mưa làm gió đất SG, khuynh đảo cả bộ CA, VKSNDTC.. ông hầu như bị cô lập khi kiên quyết loại trừ khối ung nhọt xã hội này. Người ta nhếch môi cười khẩy, ngạo mạn khinh thị vứt vào sọt rác những kiến nghị, thỉnh cầu, kêu cứu của bí thư thành ủy Tp HCM thế nhưng khi vụ án bị phá, tất cả hùa vào quy tội cho ông trên tư cách người đứng đầu đảng bộ. Ông bị đày ra Ba Đình ngồi chơi xơi nước 10 năm, chịu kỷ luật khiển trách dù chẳng hề nhúng chàm hoặc thiếu trách nhiệm.

Ông sống nặng tình nhưng không để chữ tình che mờ lý trí. Vì thế, ông cô đơn giữa các “đồng hương Nam Bộ” ngoài đó. Tôi đã gặp những cán bộ Thanh niên xung phong ở Phạm Văn Hai, Phạm Văn Cội, Lê Minh Xuân.. thời trước, nghe họ kể về ông với lòng quý mến chân thành. Dù bây giờ họ là dân thường nghèo khó nhưng thỉnh thoảng vẫn đón nhận những cuộc ghé thăm hoặc điện thoại hỏi han ân cần từ ông. Ông sần sùi, thô mộc từ gương mặt đến vóc dáng, cử chỉ nhưng tâm hồn thì hết sức đa cảm, tinh tế & mềm mại. Các cán bộ Hải quan bị ông trảm năm xưa vẫn thực lòng tâm phục khẩu phục với cách xử lý vừa nghiêm khắc vừa nhân hậu của vị bí thư “Triệu đô bắn không thủng”.

Khác các chủ tịch nước trước đây chỉ nặng tính hình thức lễ nghi như 1 manocanh di động, ông chủ động phát huy chức năng, nhiệm vụ, vai trò của mình ở tầm mức đáng khâm phục. Đặc biệt, ông là vị chủ tịch nước đầu tiên – sau Bác Hồ, TỰ VIẾT NHỮNG GÌ MÌNH ĐỌC. Cán bộ, đảng viên & nhân dân háo hức đón nghe từng lời từng chữ của ông, vị chủ tịch nước thực sự chứ không phải là cái loa phát lại lời lẽ của mấy thằng đánh máy. Từ 1969 đến 2012, sau 43 năm – tôi mới lại ngồi chăm chú nghe thư chúc Tết của chủ tịch nước.

Sau sự kiện HD 981, trong khi những kẻ “tử tế” hô hào xách động trẻ trâu bò đỏ chống Tàu, thoát Trung thì ông đến với ngư dân miền Trung động viên họ bám biển. Ông thị sát các cơ sở đóng tàu hải quân, thăm hỏi các đơn vị bộ đội để đôn đốc trách nhiệm kề vai sát cánh bảo vệ ngư dân, khẳng định chủ quyền thực tế bằng hành động cụ thể. Không màu mè khoa trương, làm mình làm mẩy như các chính khách đỏm dáng khác – ông lặng lẽ, lầm lũi làm nhiệm vụ mà không cần cả bầy phóng viên xúm xít lăng xê, tung hô. Thậm chí, có giai đoạn suốt 6 tháng liền Vtv chả thèm đưa tin tức, hình ảnh về mình – ông cũng chả bận tâm.

Trước & trong ĐH 12, ông đã làm hết sức mình vì sự thắng lợi của lực lượng lành mạnh. Tôi biết ơn ông. Xin từ giã ông với sự kính trọng & yêu mến sâu nặng nhất của tôi, một người lính!

*

“Chúng ta không thể chấp nhận những người miệng nói yêu nước nhưng vì lợi ích cá nhân, “lợi ích nhóm” mà tham nhũng, lãng phí, làm tổn hại đến đất nước, làm nghèo, suy yếu đất nước….Đây là giặc nội xâm, là những khối u trên cơ thể đất nước cần phải cắt bỏ”. Trương Tấn Sang.

PHẦN MỀM ĐỘC HẠI

Phan Chí Thắng

Lão Vỹ ham sống sợ chết. Thử hỏi có ai là người không ham sống. Vậy lão ấy ham sống cũng là hợp lẽ tự nhiên.

Lão dùng sục khí ô-zôn hai chục năm nay rồi. Thực phẩm, rau củ quả, vo gạo đều dùng nước đã lọc sạch để rửa và sục kỹ khí ô-zôn. Lão còn được tặng một máy hiển thị chất độc trong thực phẩm. Dò mà thấy có độc là không ăn.

Nhờ đó lão sống khỏe, không bị các bệnh về mất an toàn thực phẩm. Ngoài 70 rồi mà trông lão luôn nhẹ nhõm khỏe khoắn.

Thế mà hôm qua lão lăn đùng ra ngất.

Thằng cháu nội lão mới 16 tuổi nhưng rất giỏi thiết kế phần mềm. Cách đây hai ngày nó bảo cháu mới viết xong phần mềm nhận dạng tử tế hay còn gọi là phần mềm đánh giá con người, gọi tắt là “Ai là ai”. Nếu thử nghiệm thành công, có thể bán giá hàng triệu đô. Khách hàng tiềm năng là FBI, CIA hoặc các cơ quan tương tự.

Nó cài phần mềm đó vào con Iphone 5s của ông nội để khoe. Hai ông cháu ngồi trong quán cafe, cầm Iphone chĩa ra vỉa hè.

Một cô đồng nát đạp xe qua, mấy cái bao bì vỏ chai buộc sau xe. Cái Iphone của lão Vỹ nhấp nháy: “Công an mật”

Một gã trung niên cắt đầu đinh, ăn mặc sành điệu đóng cửa xe hơi bước lên vỉa hè. Iphone báo liền: “Cho vay nặng lãi”

Một cô nàng chân dài nét mặt ngây thơ trong trắng bước vào quán cafe. Điện thoại cảnh báo: “Gái gọi cao cấp”

Cứ thế, trong vòng mươi phút, phần mềm nhận dạng chỉ ra con người và nghề nghiệp thực của những người trong bán kính 50m và trong tầm nhìn của camera.

Lão Vỹ thán phục thằng cháu nội, không ngờ dòng họ tầm tầm nhà lão lại sinh ra được một thiên tài như nó.

Tối hôm đó, lão xem chương trình thời sự, tay lăm lăm cái điện thoại.

Một vị bộ trưởng đang phát biểu hứa hẹn, quyết tâm, nỗ lực. Màn hình điện thoại sáng lên: “Xạo”

Donald Trump, ứng cử viên đảng Cộng hòa đang hét vào micro. Điện thoại khẳng định luôn: “Showbiz”

Cô ca sĩ rất hay mặc hở hang đang nói về lòng yêu nước. Điện thoại: “Hài!”

Cứ thế, lão Vỹ bắt đầu thấy chóng mặt. Thật không sung sướng chút nào khi biết được tâm địa của những người xung quanh ta?

Đỉnh điểm là phát biểu trả lời phỏng vấn của một vị to to mà lão quý mến tin tưởng. Vị ấy nói rất hay về phát huy dân chủ, cải cách hành chính, giảm chi tiêu công v.v.

Cái điện thoại thông minh im phăng phắc. Lão Vỹ thở phào nhẹ nhõm. Có thế chứ, ít nhất cũng còn vài đồng chí tử tế?

Lão chạm tay vào màn hình điện thoại. Một thông báo hiện ra: “Bạn có chắc là bạn rất cần nhận định chính xác về người này?”

Lão Vỹ bấm “Có”
Màn hình lập tức xuất hiện: ” Lừa đảo!”

Lão Vỹ ngã sóng xoài ra nền nhà. Con cháu vội vàng đưa lão đi cấp cứu.

Tay lão vẫn nắm chặt cái điện thoại màn hình nay đã bị đơ do va đập.

Trên màn hình cứ sáng mãi hai chữ: “Lừa đảo!”

MẤY CÁI NHẤT PHAN CHÍ

Chiếu Làng

Buồn nhất là lúc không có gì có thể làm ta buồn hơn.
Vui nhất là lúc tưởng là không còn buồn.
Thất vọng nhất là lúc niềm tin bị cướp giật.
Vô Tư nhất là đi bầu Quốc hội.
Ngao ngán nhất khi thấy danh hiệu to như con voi mà người thật lại là con châu chấu.
Đắng lòng nhất khi biết nợ công vượt ngưỡng 50% GDP
Lo lắng nhất là cái gì ta cũng lệ thuộc Trung Quốc, từ vật thể đến phi vật thể. Nó khoá vòi nước các con sông lớn đổ vào Viêt Nam là ta chỉ còn có nước uống nước biển.
Xót nhất là VN vô địch thế giới về tỷ lệ mắc bệnh ung thư.
Cay nhất là hàng vạn người bị Cty Liên kết Việt lừa tiền.
Cú nhất là đám quan lại nhân danh nhân dân để vơ vét làm giàu.
Hổ thẹn nhất là giết, hiếp, cướp đã trở thành cơm bữa.

Tốt nhất là đừng bao giờ có những cái nhất nêu trên.

ĐƯỜNG DÂY NÓNG, NÊN VUI HAY NÊN BUỒN?

Phan Chí
Nguồn: Chiếu Làng

Đường dây nóng, nên vui hay nên buồn? 

Nếu thực sự vì dân, nghe dân, hiểu dân thì  cả một hệ thống sẽ hoạt động hiệu quả. Hiệu quả gấp vạn lần một đường dây nóng.

Gần đây nhiều người, từ ông xe ôm đến nhà trí thức, từ bà  bán rau đến bác nhà thơ, đều vui mừng vì có một vài Bí thư Thành ủy công bố số điện thoại nóng hay đường dây nóng để ai muốn phản ánh, đề đạt, thắc mắc ́điều gì thì xin mời cứ tự nhiên.

Đáng mừng thật. Còn hơn là không có gì.

Nhưng đáng mừng đến đâu? Mừng ít mà lo và buồn thì ́lớn hơn nhiều?

Lẽ nào cả một hệ thống chính trị Dân Chính Đảng, bao nhiêu là cơ quan đoàn thể mà thông tin cần thiết, kịp thời lại không đến tai người lãnh đạo cao nhất của địa phương?

Lẽ nào ̣́khối Mặt trận, Thanh tra, Hội cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên v.v. lại chẳng có tai có mắt?

Lẽ nào mạng lưới công an dày đặc cũng không cung cấp được thông tin nóng hổi cho cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn thành phố hoặc tỉnh?

Lẽ nào một phường ́́với ̉cả vạn dân mà dân có gì cần lại phải gọi dây nóng cho Bí thư Thành ủy? Sao không gọi cho Chủ tịch hay Bí thư Phường?

Cả một hệ thống được sinh ra để quản lý xã hội, trong đó việc thu thập, xử lý và tổng hợp thông tin là phần rất quan trọng để cung cấp cho lãnh đạo lại đang bị vô hiệu ́(hay không hoạt động?) đến mức Bí thư – người đứng đầu trong một đơn vị hành chính trong chế độ đảng lãnh đạo toàn diện – phải cần đến đường dây nóng?

Hệ thống đó trì trệ, quan liêu, vô cảm? Việc người dân vui mừng khi có đường dây nóng đã mặc nhiên khẳng định điều này.

Nếu thực sự vì dân, nghe dân, hiểu dân thì cả một hệ thống sẽ hoạt động hiệu quả. Hiệu quả gấp vạn lần một đường dây nóng.

Chốt lại, có đường dây nóng là đáng mừng, song sẽ đáng mừng đến độ tuyệt vời nếu không cần đến đường dây nóng mà Bí thư thành ủy vẫn biết được dân nghĩ gì, muốn gì.

Phan Chi


Chaongaymoi
Một số bài viết lắng đọng, ám ảnh, không nỡ quên. Tôi chưa tinh tường thật giả đúng sai nên chép lại để đọc và suy ngẫm. Lịch sử luôn công bằng. Các sự thật lịch sử sẽ đến lúc được sáng tỏ và rõ ràng hơn.

Người Việt

Tư Ngộ

17-10-2016

Ðinh La Thăng khi thôi chức chủ tịch PVN sang làm bộ trưởng Giao Thông-Vận Tải. (Hình: Getty Images)

SÀI GÒN (NV) – Ông Ðinh La Thăng, ủy viên Bộ Chính Trị đảng CSVN, bí thư Thành Ủy Sài Gòn, lại bị thêm một nút thắt vào cổ qua bài viết của nhà báo Osin Huy Ðức vừa đăng trên trang Facebook cá nhân hôm 17 tháng 10, mang tựa đề “Những ‘Vinashin’ của Ðinh La Thăng.”

*Vô tiền khoáng hậu

Ðây là bài viết thứ 3 liên tiếp, sau hai bài “Thanh hay Thăng” và “Tảng Băng Nổi” được nhà báo Huy Ðức đưa lên facebook trong hai ngày 26 và 27 tháng 9. Cả ba bài viết tập trung vào các thất thoát hàng trăm ngàn tỉ đồng trong thời kỳ ông Ðinh La Thăng làm chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị Tập Ðoàn Dầu Khí Việt Nam (PVN, từ 2006-2011) đã thu hút hàng chục ngàn người “like” và lan truyền nhanh chưa từng thấy.

Sự kiện này được coi là “vô tiền khoáng hậu” trong lịch sử chính trị tại Việt Nam từ khi đảng Cộng Sản cầm quyền. Khi mà một ủy viên Bộ Chính Trị đầy quyền uy bị một nhà báo “đánh trực diện” và phanh phui các biểu hiện tham nhũng hoặc bảo kê cho tham nhũng, trong 3 bài báo liên tiếp trong vòng 20 ngày mà ông Ðinh La Thăng, cũng như nội bộ đảng Cộng Sản, chưa có phản ứng nào đáp trả hay thanh minh.

Trở lại bài viết “Những ‘Vinashin’ của Ðinh La Thăng,” Huy Ðức liệt kê ra một số dự án kinh doanh của PVN dưới thời ông Ðinh La Thăng làm chủ tịch mà Huy Ðức ví như những dự án ma bùn của tổng công ty Vinashin đã làm thiệt hại cho nhà nước hàng tỉ đô la.

Những dự án mà Huy Ðức liệt kê ra với những con số và chi tiết rất cẩn trọng và tỉ mỉ không biết từ ai cung cấp, người ta thấy, nếu đúng như thế, là những dự án kinh doanh chỉ nhờ tài phù phép, ngược với quy định của luật pháp. Tất cả đều dẫn tới thất bại, đổ vỡ mà trăm nghìn tỉ đồng “bị ném qua cửa sổ.”

Ðiều kỳ lạ nhất là thủ phạm chính thì ngày một leo cao hơn trong hệ thống quyền lực đảng và nhà nước. Có lẽ nhờ vậy mà an toàn nhất chăng?

Theo Huy Ðức dẫn chứng, Ðinh La Thăng khi về cầm đầu PVN, ông nâng cấp công ty Tài Chánh Dầu Khí (công ty con của PVN) thành Tổng Công Ty Tài Chánh Cổ Phần Dầu Khí (PVFC) trong kế hoạch biến PVN thành một tập đoàn kinh doanh đa ngành.

Ông Thăng đã đẻ ra các công ty con, công ty cháu bằng chính tiền của mẹ, của con rồi lại lấy “cháu mua mẹ” để làm đẹp sổ sách.

Huy Ðức kể: “Theo phương án mà Hội Ðồng Quản Trị Tổng Công Ty Dầu Khí lúc đó (do Ðinh La Thăng làm chủ tịch) phê chuẩn, công ty con PVFC đã dùng 500 tỷ ‘đẻ’ ra công ty cháu PVFC Invest và rót 671 tỷ khác để PVFC Invest mua cổ phần công ty mẹ với giá đạt ‘mục tiêu chính trị’ (70,000 đồng/cổ phiếu).”

“Theo luật, PVFC chỉ được góp tối đa vào PVFC invest 11%. Nghị quyết của PVN phê duyệt cho PVFC góp 11% (55 tỷ đồng), đồng thời phê duyệt thêm cho cán bộ công nhân viên (CBCNV) góp 38% (190 tỷ đồng). Trên thực tế, PVFC dùng tiền nhà nước góp tới 295 tỷ đồng [Ngoài 55 tỷ đồng đứng tên trực tiếp, PVFC còn dùng 240 tỷ góp dưới dạng cho cá nhân (CBCNV) ‘ủy thác đầu tư trả chậm mua cổ phần PVFC Invest’ – Bản chất là cho cá nhân vay trá hình không có tài sản bảo đảm].”

“Sau đó, bằng hàng loạt ‘hợp đồng ủy thác đầu tư’, PVFC chuyển xuống cho PVFC Invest 671 tỷ, bao gồm các khoản: Chuyển trực tiếp 200 tỷ cho PVFC Invest; Chuyển thông qua công ty con khác, PVFC Land, 400 tỷ; Chuyển thông qua công ty PV Inconess (PVFC là cổ đông lớn 30%) 71 tỷ.”

“Vì PVFC Invest cũng không thể dùng hết số tiền 671 tỷ này để mua cổ phần nên phải chuyển 510 tỷ cho CBCNV ‘vay’ dưới dạng nhận ủy thác đầu tư để mua cổ phần với tỷ lệ 50-50 (CBCNV bỏ ra 50%, công ty cho ‘vay’ 50%). Bằng cách này, PVFC Invest đã ‘thắng’ 20 triệu cổ phần với giá 71,000 đồng trong đó có 14 triệu cổ phần do ‘CBCNV mua’ (sau cổ phần hóa, PVFC là một tổng công ty có vốn điều lệ 5000 tỷ, Tập Ðoàn PVN nắm 78%; như trên đã nói, 22% còn lại cũng chủ yếu được mua bằng tiền nhà nước).”

Trong một “phi vụ” khác về đầu tư du lịch ở Quảng Ngãi, Ðinh La Thăng giao cho PVFC lập ra công ty Mỹ Khê Việt Nam có vốn điều lệ trên giấy là 400 tỷ.

Theo Huy Ðức, “Cũng như PVFC Invest, Mỹ Khê Việt Nam đã sai luật ngay từ khi ra đời vì có tới 99.98% vốn ở Mỹ Khê VN được góp từ PVFC trong khi mức cho phép không quá 11% (thực góp 210.1 tỷ trong đó, PVFC góp 210 tỷ, hai cổ đông khác góp 100 triệu).”

“Mỹ Khê Việt Nam sau đó còn được PVFC biến thành một công ty đầu tư bất động sản trái phép với hai dự án: ‘Ðầu tư’ 192.5 tỷ vào dự án 99C Phổ Quang (Sài Gòn); ‘Ðầu tư’ 360 tỷ vào dự án 168 Nguyễn Ðình Chiểu (Sài Gòn). Với ba ‘dự án’ này, Mỹ Khê VN đã ‘nướng’ của PVFC 762.6 tỷ.”

Theo Huy Ðức, “Gần 10 năm trôi qua, phần vốn 210 tỷ đồng đã hết, Biển Mỹ Khê vẫn chỉ có… cát; khoản chi đáng kể nhất của công ty này là để phá 10 hecta rừng dương dọc bãi biển. Mỹ Khê còn: Ðưa ngay 192.5 tỷ cho công ty tư nhân Lạc Hồng trong khi 99C Phổ Quang đang là đất của Satraco và Lạc Hồng chưa hề có ‘mảnh giấy lộn’ nào chứng minh công ty này là chủ đầu tư hay đồng sở hữu; Ðưa ngay 360 tỷ cho công ty cổ phần Phúc Thịnh chỉ để nắm được một bản photo giấy tờ đất 168 Nguyễn Ðình Chiểu trong khi Phúc Thịnh chưa phải là chủ sở hữu và không được cấp phép đầu tư.”

Một công ty con khác có tên là PVN Assets có trị giá tài sản được ghi là 707 tỷ đồng nhưng PVFC đã bán 23 triệu cổ phiếu của mình trong VN Assets cho một công ty tư nhân, ATC (Công ty cổ phần dầu khí An Thịnh), với giá chỉ 1 đồng/cổ phiếu (hợp đồng 16/2003/PVFC-ATC) trong khi giá vốn là 10.000 đồng/cổ phiếu (thất thoát khoảng 230 tỷ đồng).

Vẫn theo Huy Ðức, PVFC rót vốn cho ATC 120 tỉ để xây nhà máy sản xuất xơ sợi Hưng Yên trong đó 40 tỉ làm vốn lưu động. Thay vì nhập thiết bị của Ðức thì “ATC đã dùng số tiền đó để nhập một dây chuyền ‘nghĩa địa’ về. Nhà máy hoạt động được một năm rưỡi thì đóng cửa. Thay vì tìm cách thu hồi nợ, PVFC đã âm mưu ‘chuyển đổi’ 40 tỷ vay làm vốn lưu động này thành vốn góp (do không thực hiện được nên đã phải trích lập 100% dự phòng). Tháng 6 năm 2009 nhà máy ngưng hoạt động. Tháng 7 năm 2011, PVFC kêu bán thanh lý. Mãi tới tháng 2 năm 2012 mới bán được với giá… 3.9 tỷ.”

“Trong số 240 tỷ ‘ủy thác đầu tư’ dưới hình thức góp vốn lập nên PVFC Invest qua cán bộ công nhân viên (CBCNV) mà Ngân Hàng Nhà Nước cho là ‘cố ý làm trái’ (công văn 9788-2009), tới nay chỉ mới thu hồi được 10 tỷ (gây hậu quả nghiêm trọng, thất thoát 230 tỷ). Trong số 510 tỷ ‘ủy thác’ dưới dạng đưa tiền cho CBCNV mua cổ phần tới nay vẫn chưa thu hồi được 419 tỷ gốc, 86 tỷ tiền lãi.”

Một dự án đầy sai trái khác của PVN dưới thời Ðinh La Thăng là dự án mua sân vận động Chi Lăng ở Ðà Nẵng và có liên quan đến Hà Văn Thắm (chủ tịch ngân hàng Ocean Bank) và Phạm Công Danh (chủ tịch ngân hàng Xây Dựng).

Theo Huy Ðức kể, “Ngày 1 tháng 12, 2010, để mua sân vận động Chi Lăng Ðà Nẵng với giá 1,393 tỷ, Phạm Công Danh lập 10 công ty (con của tập đoàn Thiên Thanh) để đứng tên 10 sổ đỏ [có tổng diện tích 55,061m2, giá 25.3 triệu/m2). Ngay sau khi Ðà Nẵng giao sổ đỏ, 28 tháng 1, 2011, Danh đem cắm cả 10 vào OceanBank để vay 1,254 tỷ đồng.”

“Hơn một tháng sau đó, 4 tháng 3, 2011, đất sân Chi Lăng được PVFC – nơi mà PVN của Ðinh La Thăng nắm 78% cổ phần – định giá lên hơn gấp đôi: 57 triệu/m2; sau khi ‘tham chiếu các kết quả tư vấn khác’, PVFC đưa giá xuống một chút, 54.9 triệu/m2, và quyết định mua gần phân nửa sân Chi Lăng từ tay Danh với giá 1,510 tỷ (27,000m2, thuộc 5 sổ đỏ).”

“Hơn 1,306 tỷ được PVFC chuyển thẳng cho OceanBank, thanh toán cả gốc lẫn lãi cho Phạm Công Danh; 20 tỷ được chuyển vào tài khoản của tập đoàn Thiên Thanh; 183 tỷ chuyển trực tiếp vào tài khoản cá nhân của Danh. Như vậy, với thương vụ mua bán sân vận động Chi Lăng, chỉ trong một tháng, Danh lấy lại được vốn, cầm về 5 sổ đỏ ‘sạch’ (28,000m2) và vẫn còn dư 203 tỷ.”

Theo Huy Ðức, chưa thấy cơ quan điều tra nhắc đến thương vụ này, ít nhất là khoản “trốn thuế” không dưới 160 tỷ. Không chỉ là vấn đề lời lãi, cơ quan điều tra cũng cần làm rõ bản chất của nó và đường đi lắt léo của các dòng tiền [tháng 5-2011, PVFC lại bán 27,000m2 đất này cho Seabank AMC (công ty mua bán nợ của Seabank) với giá không lời, không lỗ].

Khoản tiền 1,510 tỷ mà PVFC trả cho thương vụ nửa sân Chi Lăng đã giúp Phạm Công Danh có “lực” để mua TrustBank từ tay Hà Văn Thắm, có vai trò như bàn tay của một bà đỡ giúp Danh “đẻ ra” ngân hàng Xây Dựng.

“Nếu Ðinh La Thăng không quyết định góp 800 tỷ đồng (20% vốn) và ‘lái’ phần lớn dòng tiền của PVN chảy qua Ocean Bank thì ngân hàng này đã khó mà tồn tại [Từ thời Thăng làm chủ tịch Tập Ðoàn Dầu Khí gần như tất cả các công ty thành viên của PVN đều phải mở tài khoản tại Ocean Bank; tổng cộng PVN đã đem hơn 50 nghìn tỷ đồng gửi Thắm].”

Huy Ðức viết, “Khi Thắm ‘chìm’ theo Ðại Dương – OceanBank bị mua với giá 0 đồng – PVN không chỉ mất 800 tỷ VND góp vốn (theo quyết định của Ðinh La Thăng) mà còn kẹt ‘dưới đáy’ Ðại Dương hơn 10 nghìn tỷ (bao gồm cả 70 triệu USD của Vietsopetro).”

Tưởng cũng nên nhắc lại hai bài viết “Thanh hay Thăng” và “Tảng Băng Nổi” được đưa lên facebook trong hai ngày 26 và 27 tháng 9, Huy Ðức dẫn một số tài liệu để viết về những trò kinh doanh ma mãnh trái luật dẫn đến thất thoát hàng ngàn tỉ đồng tại Tổng Công Ty Xây Lắp Dầu Khí (PVC, công ty con của PVN), kết luận rằng kẻ chịu trách nhiệm chính là Ðinh La Thăng, sếp ngồi trên Trịnh Xuân Thanh và Vũ Ðức Thuận. Trịnh Xuân Thanh hiện đã trốn ra nước ngoài, Vũ Ðức Thuận và 3 đàn em khác mới bị bắt giam

* Siết dần dây thòng lọng

Từ khi có mạng xã hội, đặc biệt là facebook, cư dân mạng chắc hẳn chưa quên rất nhiều blogger hay facebooker bị “xử lý,” thậm chí vào tù, chỉ ít lâu sau khi bài của họ xuất hiện trên mạng xã hội vì bị cáo buộc tiết lộ thông tin cấm kỵ, hay chỉ trích các lãnh đạo cấp cao tại Việt Nam.

Có thể kể ra các trường hợp như nhà báo Nguyễn Ðắc Kiên bị mất việc sau khi chỉ trích ông Nguyễn Phú Trọng; blogger “Cô Gái Ðồ Long” bị bắt vào tù về thông tin gia đình tướng công an Nguyễn Khánh Toàn; hai cán bộ bị phạt 5 triệu đồng vì chê “cái mặt kênh kiệu” của chủ tịch tỉnh An Giang, cô giáo Trần Thị Lam ở Hà Tĩnh bị ép gỡ bài thơ “Ðất nước mình lạ quá phải không anh?”; và gần đây nhất là ông Giang Kiên Huy, chủ trang “I love Danang” bị phạt hơn 8 triệu đồng vì “xúc phạm lãnh đạo Ðà Nẵng”…

Ðó là chưa nói tới hàng loạt các nhà báo, nhà hoạt động, blogger, facebooker có chủ trương đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền trên mạng xã hội bị bắt giam, khởi tố, bỏ tù, với cáo buộc “tuyên truyền chống nhà nước” mà blooger Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh là trường hợp mới nhất.

Trong trường hợp 3 bài viết của nhà báo Huy Ðức “đánh trực diện” vào Ðinh La Thăng, dư luận đặt câu hỏi rằng, phải chăng có một thế lực rất mạnh “chống lưng” cho Huy Ðức, và thế lực ấy đang siết dần sợi dây thòng lọng vào cổ Đinh La Thăng, tạo dư luận để có thể dẫn đến việc điều tra, khởi tố một ủy viên Bộ Chính Trị vì tham nhũng – nếu thế, thì sẽ là lần đầu tiên trong lịch sử Đảng CSVN.

Bởi người ta thấy đã nhiều lần nghe những lời cả quyết từ các lãnh đạo chóp bu của đảng CSVN là chống tham nhũng “không có vùng cấm.” Nhưng để coi, cái chế độ xưa nay vốn quen thói nói một đàng làm một nẻo, có dám hành tội một ủy viên chính trị, một kẻ ngồi ở tầng cao nhất của đảng ra trị tội?

Cũng trong ngày Thứ Hai, 17 tháng 10, 2016, Tổng Bí Thư Ðảng CSVN Nguyễn Phú Trọng nói với cử tri quận Ba Ðình, thành phố Hà Nội là, “đánh tham nhũng là ta đánh vào ta.” Vậy nếu đánh Ðinh La Thăng là “đánh vào ta” rồi còn gì!

Video nhạc tuyển
Beethoven – Moonlight Sonata (60 Minutes Version)
Du lịch Việt Nam (Phú Yên)

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Đọc lại và suy ngẫm


LoiPhatdayCNM365. Sinh tử và công đức là một. Cứu mạng người một lần hơn tụng kinh mười năm. Giúp đời giúp người tùy thời, tùy chỗ mà thực hành, đừng đợi đến lúc mình có đủ.

SINH TỬ VÀ CÔNG ĐỨC LÀ MỘT

Hoàng Kim
(sưu tầm, truyện cổ viết lại)

Ngày xưa có một vị lão thiền sư dẫn theo một tiểu đồ đệ đi hoá duyên. Trên đường đi, hai thầy trò họ gặp một bà lão ăn mày tàn tật. Vị lão thiền sư nói với tiểu đồ đệ: “Con hãy lấy thức ăn và số tiền còn lại cho bà lão này đi!”. Tiểu đồ đệ nghe xong, lòng không vui, nhưng vẫn miễn cưỡng làm theo lời thầy. Lão thiền sư thấy vậy bèn nói: “Sinh tử và công đức là một. Tiền và thức ăn này chỉ giúp thầy trò ta đỡ đói lòng một lúc nhưng với bà lão này là cứu mạng đấy”. Tiểu đồ đệ nghe xong, liền thưa: “Thầy dạy, con xin ghi lòng. Con lúc nào có được nhiều tiền, sẽ nhất định cứu giúp những người nghèo khổ”. Lão thiền sư nghe xong, không nói gì, chỉ lắc đầu và thở dài…

Mấy năm sau, lão thiền sư viên tịch. Trước lúc mất, ông trao lại cho tiểu đồ đệ một bản kinh thư và bờ môi mấp máy không nói hết những lời cuối cùng. Tiểu đồ đệ trông nom ngôi chùa và không ngừng quyên góp được nhiều tiền của. Từ ngôi chùa nhỏ cũ nát, đã xây lại thành một ngôi chùa rộng rãi, khang trang. Tiểu đồ đệ nghĩ thầm: “Sau khi việc xây dựng hoàn tất, mình nhất định sẽ nghe theo lời thầy dạy đi cứu giúp những người nghèo khổ”. Nhưng sau khi ngôi chùa đã xây khang trang và quy mô, tiểu đồ đệ lại nghĩ: “Đợi đến khi ngôi chùa được mở rộng thêm chút nữa, mình đi làm việc thiện cũng chưa muộn!”

Thấm thoắt thời gian, tiểu đồ đệ ngày xưa thì nay đã trở thành lão thiền sư 80 tuổi và ngôi chùa cũng đã trở thành ngôi chùa trăm gian với tường vách sáng lạn, nhưng do bận rộn nên ông chưa thể làm được việc tích thiện nào. Đến khi lâm chung, ông mới lần giở lại bản kinh thư của sư phụ thuở xưa và giật mình trước dòng chữ: “Cứu người một lần hơn tụng kinh mười năm !”

Giúp đời giúp người tùy thời, tùy chỗ mà thực hành, đừng đợi đến lúc mình có đủ. Cổ ngữ Việt Nam có câu “Miếng khi đói, gói khi no” chính là nói về bài học này. Truyện cổ viết lại từ nguồn biên dịch SecretChina.

Chaongaymoi

 

Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Đọc lại và suy ngẫm


CNM365. Ba bài viết mới nổi bật cần đọc lại và suy ngẫm: Vựa lúa Nam Bộ bị ngập mặn và thay đổi tư duy;  PV Nhân: Quyết đấu giành White House; Syria: Canh bạc đỏ đen của Putin;  Tôi chép lại nguyên văn bên dưới và trao đổi đôi lời bên lề chính sử.

Vựa lúa Nam Bộ bị ngập mặn và thay đổi tư duy Tôi muốn nói thêm đôi điều: Cách đây nhiều năm, cố giáo sư viện sĩ tiến sĩ Vũ Tuyên Hoàng đã cảnh báo rằng: Việc chọn tạo nguồn lương thực thực phẩm thích ứng với điều kiện khô hạn và xâm nhập mặn là cấp thiết vì trái đất nóng lên, nạn mất rừng và các dòng sông lớn của Việt Nam có nước đầu nguồn từ Trung Quốc có thể bị điều tiết lưu lượng nước bởi việc làm thủy điện, sẽ gây khô hạn hoặc ngập úng diện rộng khi chặn dòng hoặc xả lũ. Tư duy năng động để ứng phó với biến đổi đã được lưu ý từ lâu rồi, không phải mới nói hôm nay, và số lượng các công trình thực hiện để ứng phó cũng đã có khá nhiều, nên giáo sư Võ Tòng Xuân mới tự tin vậy. Nhìn xa hơn một chút vào lịch sử qua 500 năm nông nghiệp Brazil và Trận Vũ Hán bài học lịch sử cho thấy nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn nằm trong tổng thể của tầm nhìn quốc gia. Việt Nam soi vào Trung Quốc và Brazil của quá khứ và hiện tại, sẽ ngộ được nhiều bài học lớn cho nông nghiệp. Brazil hiện nay vì sao bảo tồn và phát triển nông nghiệp được, bởi họ có giá đắt của bài học lịch sử nông nghiệp và ngành hàng buôn bán thương mại qua 500 năm nông nghiệp Brazil. Việt Nam khắc phục khô hạn hiện nay không thể chỉ nhìn giải pháp tình thế và phân khúc mà cần giải pháp tổng thể và chuỗi lịch sử. Trận Vũ Hán bài học lịch sử năm 1938 lụt Hoàng Hà do chủ động phá đê để gây lầy lội chặn chiến dịch thần tốc của quân Nhật trong chiến tranh Trung Nhật (làm chết hơn 50 vạn dân thường), sau này đã được chủ tịch Mao Trạch Đông nghiên cứu vận dụng trong đại kế chiến lược Tam Tuyến, xây đập Tam Hiệp trên sông Trường Giang, xây nhiều đập thủy điện trên sông Mekong, hình thành khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (xem Quảng Tây nay và xưa), Đó là mưu lược liên hoàn đã có tính toán từ trước. Tình hình hiện nay, khối ASEAN đang lớn mạnh, Mỹ đang xoay trục về châu Á,  BRIC  (Brazil, Rusian, India, China) đang trỗi dậy, Biển Đông, Mekong, TPP đang làm thay đổi chiều hướng chính trị kinh tế khu vực. Việt Nam và các nước cuối lưu vực sông Mekong yêu cầu mở dự trữ nước đầu nguồn, điều tiết lưu lượng nước để chống hạn và xâm nhập mặn. Các điểm nóng đang dần lộ diện nhiều vấn đề quan hệ quốc tế nhạy cảm và phức tạp về kinh tế chính trị khu vực. Sự biến đổi khí hậu, khô cạn hoặc ngập úng những dòng sông lớn do điều tiết nước, diện tích đất rừng bị thu hẹp đang gây hiệu ứng kép lên nhiều vùng rộng lớn Việt Nam. Chọn tạo giống cây trồng chịu hạn mặn và giải pháp kỹ thuật canh tác thích ứng biến đổi khí hậu là cấp thiết và hiện đã có một số kết quả. Giáo sư Võ Tòng Xuân nói là đúng nhưng vấn đề là cần sự lựa chọn phù hợp sát thực tế và giải pháp tổng thể lâu dài hơn. 500 năm nông nghiệp Brazil gợi những góc nhìn tham chiếu về bảo tồn và phát triển nông nghiệp bền vững.

PV Nhân: Quyết đấu giành White HouseSyria: Canh bạc đỏ đen của Putin gợi cho chúng ta nhiều suy nghĩ. Sự lực chọn của cử tri Mỹ cho những ứng cử viên nặng ký đang dần đi đến bước cuối cùng. Ai sẽ là Tổng thống mới của Mỹ?. Đảng Dân Chủ khởi đầu sự lựa chọn từ tháng 3 năm 2015 với 5 ứng cử viên ghi danh nay còn lại bà Hillary Clinton (68 tuổi) một chính khách lão luyện, cẩn trọng đang dẫn đầu và thượng nghị sĩ Bernie Sanders (74 tuổi). Đảng Cộng hòa từ 5 ứng cử viên ban đầu đến ngày 1 tháng 3 năm 2016 còn lại hai người là Trump “tỷ phú ồn ào” chuyên kinh doanh địa ốc, sòng bài, làm sân golf, tổ chức thi hoa hậu… đang dẫn đầu và theo sau là Cruz. Nước Mỹ chọn ai giữa một chính khách ôn hòa, điềm tĩnh, lão luyện với một cao bồi thượng lưu, giỏi ăn miếng trả miếng. Nhìn lại những nhân vật đối trọng trên bàn cờ chính sự quốc tế với Mỹ có diện mạo Putin của Nga là một kỳ thủ được phác thảo khá rõ nét qua bài viết  Syria: Canh bạc đỏ đen của Putin; và Tập Cận Bình Từ Mao Trạch Đông đến Tập Cận Bình, một lãnh tụ trầm tĩnh, mưu lược, bí ẩn, gây nhiều tranh cãi “theo Mao và vĩnh viễn theo Mao”.

Đọc lại và suy ngẫm. Hãy chờ xem!

Hoàng Kim

Đọc tiếp

VỰA LÚA NAM BỘ BỊ NGẬP MẶN VÀ THAY ĐỔI TƯ DUY

Hiệu Minh blog, 14 tháng 3 năm 2016

BBCVNHieuMinh

Đập đầu nguồn sông Mekong do Trung Quốc dựng lên. Ảnh: BBCVN

Đọc bài của giáo sư Võ Tòng Xuân nói về vùng châu thổ Nam Bộ đang bị xâm mặn, diện tích trồng lúa đang bị thu hẹp dần, nhưng ông cho rằng điều đó không đáng lo. Hiện có loại lúa trồng trên nước nhiễm mặn, kèm theo nuôi tôm, một công đôi việc. Nuôi tôm thì không dùng thuốc trừ sâu, nông dân có lúa gạo sạch bán ra thị trường.

Bài đó đăng trên VNN, các bạn nhớ đọc. Một bài tương tự đăng trên BBC VN hôm qua (13-3-2016), tôi tính đăng nhưng do vụ ứng cử của anh Trần Đăng Tuấn nên dừng lại.

Tin còn cho hay, chính phủ Việt Nam đã gửi công hàm cho Trung Quốc, đề nghị quốc gia láng giềng này tăng xả nước ở các hồ chứa thủy điện với dung lượng khoảng 43 tỷ m3 để giúp đỡ Việt Nam giảm bớt thiệt hại do thiên tai và biến đổi khí hậu.

Các bạn đoán xem Trung Quốc có xả lũ không? Chắc chắn là không rồi, nhất là trong bối cảnh Obama sắp sang Việt Nam. Hai quốc gia này đang xích lại gần nhau.

Biên giới tình hữu nghị mà Trung Quốc còn tấn công xâm lược. Dùng súng đại liên bắn vào những công binh ở đảo Gạc Ma không tấc sắt, phun hơi độc vào hầm ngầm giết chết 400 người cả người già, phụ nữ và trẻ em trong chiến tranh biên giới 2-1979.

Với đồng bào, Trung Quốc dùng xe tăng nghiền nát người biểu tình, cách mạng văn hóa đã tàn sát hàng chục triệu người. Mạng người ở quốc gia đó coi như mẻ.

Thử hỏi rằng loại lãnh đạo như thế sẽ xả lũ giúp láng giềng phát triển. Ai còn tin vào tình bạn với Trung Quốc là người không có não. Thời đại này là làm ăn sòng phẳng win win, hai bên cùng có lợi. Tin vào tình bạn ngang bằng bán nước như Mỵ Châu Trọng Thủy.

Tuy nhiên, biến nguy thành cơ, chính là lúc này. Đừng sợ Trung Quốc ngăn sông, phá hoại đồng bằng sông Cửu Long. Họ giết họ trước vì sự biến đổi khí hậu. Còn Việt Nam hãy tìm con đường riêng cho mình.  Nếu có giống lúa chịu mặn, nuôi được tôm trong ruộng thì nông dân bớt khổ.

Chiến lược dài hạn về nông nghiệp trong bối cảnh bị chặn nguồn nước không phải là “trồng con gì nuôi con gì” cổ lỗ của thế kỷ trước, không xứng tầm lãnh đạo quốc gia.

Còn nhớ, khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Việt Nam đành bắt tay với phương Tây dù với con mắt nghi ngờ. Thử hỏi không có hợp tác đa phương thì nước mình có khác gì Bắc Triều Tiên. Lãnh đạo nhìn đâu cũng ra kẻ thù thì dân đói rã họng.

Biển Đông có dậy sóng cũng giúp cho những đầu óc u mê tỉnh lại. Đừng sợ Trung Quốc tới mức như ông tướng nào đó không dám cho lính mang theo súng ra đảo Gạc Ma để cuối cùng chúng tàn sát thẳng tay, đảo mất, lính chết. Tường hèn thì quân sao dũng cảm, quốc gia sao vượt lên như bè bạn.

Vài dòng thế thôi.

 

PV NHÂN: QUYẾT ĐẤU GIÀNH WHITE HOUSE

Hiệu Minh blog  3.2016

TrumpvaHillaryClinton

Trump và Clinton. Ảnh: Internet

Đúng hẹn 4 năm một lần, nhân dân Mỹ lại bầu Tổng Thống (TT). Đảng Dân Chủ (DC), TT Obama đã thắng đủ hai nhiệm kỳ. Hiến Pháp Mỹ quy định Obama không được quyền ứng cử tiếp. Khởi đầu từ tháng 3/2015, đảng DC lần lượt có 5 ứng cử viên (UCV) ghi danh. Nay rơi rụng chỉ còn hai người: Thượng Nghị Sĩ (TNS) Bernie Sanders (74 tuổi) và bà Hillary Clinton(68 tuổi).

Qua ngày Super Tuesday ( 1tháng3), bà Clinton bỏ xa đối thủ Sanders, hy vọng được đảng DC đề cử. Nghịch lý thay, DC được mệnh danh là “đảng của tương lai”. Nhưng hai UCV sau cùng lại là hai bô lão, cụ bà Clinton và cụ ông Sanders.

Gà mái đá gà cồ. Một phụ nữ 68 tuổi di chuyển không ngừng, đọc diễn văn, trả lời báo chí khan cả tiếng… Đi bộ giữa trời tuyết trắng ở New Hampshire vận động cử tri. Người ta lo lắng cho sức khỏe của bà. Bill Clinton cười ”Bà ấy còn đủ sức lấy thêm chồng”…

Hillary Clinton từng là Đệ Nhất Phu Nhân, TNS New-York, Bộ trưởng Ngoại giao…Nhưng đam mê quyền lực thôi thúc. Bà vẫn muốn trở lại W.House làm Nữ TT đầu tiên của Liên Bang Mỹ. Hãy chờ kết quả cuối cùng sau ngày thứ ba 8 tháng 11/2016. Thông minh, lão luyện chính trường nhưng cũng quá nhiều scandal,  không biết bà có thể vượt qua để đạt khát vọng…

Tâm lý chung, người Mỹ nhiệt tình muốn đất nước thay đổi. Thường hết DC cầm quyền sẽ đến lượt CH. 17 UCV ghi danh tranh cử, ai cũng muốn cầm chìa khóa mở cửa W.House. Hầu hết  UCV là các Thống Đốc (TĐ), TNS liên bang.

Trong số lại có Tỷ phú Donald Trump,  Bác sĩ Thần kinh Ben Carson, người Mỹ gốc Phi Châu..Bà Carly Fiorina ( cựu Tổng quản trị Đại công ty điện tử HP – Chief Executive Officer of Hewlett-Packard ). Cả ba chưa từng hoạt động chính trị (outsider)…

Trump xuất thân giai cấp thượng lưu ( The upper- class), giai cấp đầy quyền lực trong xã hội Mỹ. Trump chuyên kinh doanh địa ốc, sòng bài, làm sân golf, tổ chức thi hoa hậu…nổi tiếng là “ tỷ phú ồn ào” qua ba lần cưới vợ, toàn là hoa hậu người mẫu.

Đi xa, Trump dùng Boeing 747 sơn hai mầu đen trắng viền đỏ có chữ Trump trên thân phi cơ. Thường xuất hiện với các hoa hậu người mẫu, điệu bộ của Trump ( body language), bĩu môi, trợn mắt, lắc đầu khi đối phương công kích như một diễn viên gây sự chú ý của quần chúng.

Ai cũng nghĩ Trump ra ứng cử chỉ là trò “chơi bạo lấy tiếng”. Làm sao dân Mỹ lại có thể bầu Trump làm TT của họ. Với Bác sĩ Ben Carson cũng chẳng có hy vọng gì, kể cả hai TNS gốc Cuba là Ted Cruz ( Texas) và Marco Rubio ( Florida), bà Fiorina.

Giới báo chí đặt chú tâm vào Jeb Bush, cựu TĐ Florida, người của giòng họ quyền lực nhất nước Mỹ hiện nay từng có cha và anh là TT. Hơn nữa, Jeb ngay những ngày đầu ra tranh cử đã nhận hơn 100tr USD từ các tỷ phú dầu hỏa. ” Thái tử Đảng” Jeb vào cuộc đua đầy khí thế.

Cuộc tranh luận (debate) đầu tiên vào tháng 8/2015 do Fox News tổ chức. Fox luôn ủng hộ đảng CH.

Mở đầu, điều hợp viên (moderator), nữ ký giả Megyn Kelly nhắm ngay Trump, hỏi về thái độ coi thường phụ nữ. Trump nhạo báng Kelly có lẽ đang thời kỳ  “chảy máu” nên khó chịu! Trump đùa với lửa. Megyn Kelly, 45 tuổi từng là luật sư, hiện là bình luận viên chính trị của Fox News.

Năm 2014, báo Time bầu bà thuộc 100 phụ nữ ảnh hưởng nhất thế giới..”Kelly đáo để” tấn công Trump. Trump phản bác chất vấn Jeb Bush về vụ TT Bush con tấn công Iraq, gây khủng hoảng tài chính 2008. Jeb phản bác không thuyết phục, lộ rõ thiếu tài hùng biện, điều rất cần của chính trị gia.

Hỏi về vấn đề 11T di dân bất hợp pháp( BHP- illegal immigrant), đa số là ngưởi Mexico. Trump tuyên bố:” Những người Mexico vào Mỹ BHP phần đông là bọn trộm cướp, ma túy, sát nhân…Trump sẽ đuổi tất cả, xây tường chắn dọc biên giới Mỹ-Mexico”. Hỏi về khủng bố ISIS. Trump nói sẽ dội bom các mỏ dầu cắt đứt nguồn tài chánh của họ…Các UCV chê bai Trump thiếu thực tế…

Sau cuộc tranh luận, những cuộc trưng cầu ý kiến (poll) cho thấy Bác sĩ Carson và Trump dẫn đầu. Jeb đứng xa phía dưới. Điều đáng ngạc nhiên!

TNS John McCain lên tiếng, Trump phản bác nói McCain không phải là anh hùng vì bị bắt làm tù binh. Khi TT Obama đãi tiệc mời Tập Cận Bình. Trump tuyên bố:”Hắn đang ăn cắp tiền của chúng ta, tại sao Obama lại đãi tiệc. Hãy cho hắn một bánh sandwich là đủ”.

Cuộc tranh luận kế tiếp,  Trump chê bà Fiorina xấu xí, ai dám bầu làm TT??Công kích Jeb bất tài, Ted Cruz gian trá, Marco Rubio như chú bé con. Chê lãnh tụ Mỹ ngu đần không bằng China và Mexico.

Sau cuộc thảm sát làm 14 người chết ở Bernadino-California. Trump tuyên bố cấm cửa người Hồi Giáo, giết luôn gia đình kẻ khủng bố vì chúng đã sát hại gia đình người Mỹ.

Nói năng hung hăng bỗ bã, nói nhanh nói mạnh, nói liên tục  không cần giấy tờ, phản ứng nhanh, Trump vẫn trở thành kẻ dẫn đầu đảng CH báo hiệu cuộc khủng hoảng uy tín  trong giới chính trị chuyên nghiệp của đảng.

Các chuyên gia phân tích: Trump dám nói thật những điều kẻ khác không dám nói, Trump đáp ứng suy nghĩ của những người Mỹ bảo thủ, những người da đen, những người quá chán nản bất mãn thành phần cực đoan của đảng CH như nhóm Tea Party.

Hơn nữa, họ nhận ra uy tín nước Mỹ đang lu mờ trước thế giới vì Putin, vì TC-Bình. Các chính trị gia gian trá, chỉ nói mà không làm. Họ nhìn ở Trump sự chân thật,  lập trường mạnh mẽ giúp nước Mỹ lấy lại uy thế cho dù Trump chưa đưa ra chính sách cụ thể.

Sau các cuộc bầu cửa sơ bộ đầu tiên, Cruz thắng ở Iowa nhưng  Trump thắng ba tiểu bang còn lại. Các UCV đảng CH lần lượt bỏ cuộc chơi ( drop out) kể cả Jeb Bush, dù nhiều tiền, dù được người cha và người anh từng là TT hậu thuẫn. Thế mới biết trong chế độ dân chủ Mỹ, lá phiếu ngưởi dân mới là quyết định.

Cuộc chạy đua chỉ còn 5 người: Trump. Cruz, Rubio, Carson và John Kasick. Sau ngày Super Tuesday 1 tháng 3/2016. Ben Carson bỏ cuộc, Trump vẫn đạt 319 phiếu đại biểu (delegate) dẫn đầu. Theo  sau là Cruz với 226 phiếu. Số phiếu cần có trong các cuộc bầu cử sơ bộ là 1237 để được đề cử lá UCV đại diện đảng.

Cuộc “nội chiến” trong đảng CH bùng nổ. Những nhân vật rường cột của CH tìm kế hoạch ngăn Trump, Paul Ryan ( House Speaker), John McCain, Mitt Romney ( UCV đảng CH 2012), Truyền hình, báo chí …Người ta tố cáo Trump là kẻ lừa đảo khinh thường dân chúng, kẻ kỳ thị chủng tộc, có liên hệ với Mafia Ý ở New-York. Trump kích động thù hận sẽ làm suy yếu nước Mỹ vì đồng minh xa lánh.

Bên đảng DC, TT Obama nói Trump thiếu khả năng lãnh đạo. Bộ tham mưu của bà Hillary đang nghiên cứu hạ bệ Trump.

Cuộc bầu cử TT Mỹ gây dư luận tại Âu Châu. Nhật báo Đức Handelsblatts viết: “ UCV Trump mở cửa cho sự điên cuồng, một sự việc không thể tưởng tượng có thể xẩy ra, một trò đùa quái dị thành hiện thực”.

Giới phê bình Nga cho rằng, Trump làm đảo lộn chính trường Mỹ. Nam Mỹ kinh ngạc Trump đánh đổ các chính gia hàng đầu của đảng CH. Báo El Pais của Tây Ban Nha: Trump làm nửa nhân loại điên đảo. Báo chí Áo cảnh cáo: Đừng coi Trump là một tên hề…

Á châu, Malaya, Singapore, đều tỏ ra lo ngại quan điểm của Trump không quá lưu tâm đến Thái Bình Dương… Donald Trump lọt giữa trùng vây gươm giáo. Kết cuộc ra sao? Vẫn còn nhiều cuộc tranh luận, nhất là  Super Tuesday2 tổ chức ngày15/3. Cuối cùng, hãy chờ sau 8/11/2016, liệu Donald Trump có thể chịu nổi?? Kể cả bà Hillary có đạt khát vọng? Mọi chuyện sẽ bất ngờ. Bước đi chấm hỏi bao lần. Đời qua mấy bận, bao lần chấm than!!!

Từ các  TT Bill Clinton đến Bush con, rồi Barack Obama, khi bước chân vào White House, ai cũng tươi trẻ đầy sức sống sẵn sàng vai trò lãnh đạo. Sau hai nhiệm kỳ, ông nào cũng bạc đầu mỏi mệt. Làm TT Mỹ lo lắng trăm điều, cớ sao bao người vẫn mơ cầm chìa khó ngôi nhà đầy quyền lực và hấp dẫn.

Nền dân chủ Mỹ tạo điều kiện dễ dàng cho người dân tham gia chính trị, thực hiện quyền bầu cử ứng cử. Dù đảng nào thắng vẫn đặt quyền lợi đất nước, phục vụ dân sinh trên hết…

Nếu nhà cầm quyền cố tình tước đoạt các quyền tự do, ngăn cấm người dân thể hiện lập trường bằng đe dọa trấn áp tù ngục và dân chọn cách sống yên lành nhất tượng hình như ba chú khỉ Nhật Bản: bịt mồm, bịt tai, bịt mắt, thì đó là báo hiệu sự hoàng hôn và khó mong sự phát triển để tiến xa của quốc gia.

Còm sỹ PV-Nhân. 3-2016.

PS. Bài vừa lên trang thì trên CNN đang có cuộc tranh luận giữa ông Sanders và bà Clinton tại Miami (Florida). Các bạn nhớ đón xem.

 

SYRIA: CANH BẠC ĐỎ ĐEN CỦA PUTIN

Hiệu Minh blog 16.3.2016

NgaSyriaHoaKyNga – Syria – Hoa Kỳ. Ảnh: Internet

Nếu bàn về chơi đỏ đen trong các lãnh đạo quốc gia thì Putin thuộc về tay sừng sỏ trong sòng bài. Putin biết khi nào cần rút quân bài nào ra và dường như luôn nắm chủ động và thắng. Quan trọng nhất khi thấy đủ lãi là ông ngừng sát phạt.

Năm 2008, phương Tây đang giúp Georgia (Gruzia) thì Putin mở cuộc chiến 1 tuần tại nam Ossetia và Abkhazia, xe tăng Nga chút nữa tiến vào Tbilisi. Hai vùng đất này vĩnh viễn thuộc về Nga.

Cách đây hai năm (tháng 3-2014) bằng một thủ thuật đơn giản, đưa quân không hàm hiệu vào Crimea bao vây quân Ukraine nhân chuyện bất ổn tại Kiev, Putin đã lấy Crimea không tốn một viên đạn.

Tháng 9-2015, Putin bất ngờ ra lệnh cho máy bay tấn công quân nổi dậy Syria với một khẩu hiệu chống khủng bố. Không rõ ISIS bị tan tác đến đâu nhưng Assad thân cận của Nga đã lấy lại phần lớn vùng đất đã bị chiếm.

Sau nửa năm tham chiến, tuần vừa rồi Putin bất ngờ tuyên bố rút một phần ra khỏi Syria vì theo ông “Phần lớn nhiệm vụ đã hoàn thành”. Cuộc chiến tốn kém 3-4 triệu đô la mỗi ngày không phải là thứ mà Putin muốn làm mà được như Hoa Kỳ.

Ngày 1-5-2003, Tổng thống Bush từng tuyên bố Mission Accomplished trên tầu USS Abraham Lincoln sau khi Iraq bị chiếm đóng. Nhưng cho tới nay hơn một thập kỷ, Mỹ vẫn sa lầy.

Báo chí phương Tây tự hỏi, khi tham chiến ở Syria không rõ “mission – nhiệm vụ” của Putin là gì nên tuyên bố thành công rất dễ. Rút quân của Putin là rút kiểu gì vì Nga không công bố có bao nhiêu quân tại Syria giống như đưa lính vào Crimea không có quân hàm, quân hiệu.

Việc công bố rút quân lúc này Putin đã được dân Nga đón nhận như người chiến thắng. Dẫu rằng tương lai của Syria và ông Assad vẫn mờ mịt sau có mặt của Nga.

Alexander Baunov, giám đốc trung tâm Carnegie ở Moscow Carnegie Centre, nhận xét “When you exit during peace, you leave as a winner. When you leave during war, you leave as a loser. Khi ra khỏi cuộc chơi lúc hòa bình, anh là kẻ chiến thắng. Rút quân lúc đang chiến tranh, kẻ rút bị coi là thua trận”.

Rút thế là khôn. Nếu Syria có hòa bình thì công đó của Nga. Nếu Syria tiếp tục nồi da nấu thịt thì Putin sẽ bảo, thấy chưa, không có anh là các em chết. Ra khỏi sòng bài đúng lúc chỉ có Putin mới làm nổi.

Có thể nói Nga có mấy mục tiêu như tờ Economist nhận xét.

Không bao giờ Putin nghĩ có thể chiến thắng tại Syria vì ngang bằng bắc thang lên trời.

Putin muốn tìm lại tư thế của siêu cường trên thế giới sau những đổi thay mang tính xuống dốc của nước Nga gần đây nhất là sau vụ Ukraine, bị cô lập, kèm theo giá dầu xuống thảm hại.

Hình ảnh một ông lật đật, thủ tướng, tổng thống, rồi thủ tướng, và kết quả lại tổng thống, tham quyền cố vị, người hùng cơ bắp trở nên yếu thế trước các nhà lãnh đạo phương Tây, khó mà hợp tác.

Cuộc chiến Syria chỉ để Putin chứng minh Nga vẫn là siêu cường, có thể điều quân đi khắp thế giới như Hoa Kỳ, thay vì là mang hình ảnh của kẻ bắt nạt trong khu vực (regional bully). Giống hệt hình ảnh ông ta cởi trần phi ngựa hay lái phi cơ vào Chesnia, một thứ quảng cáo rẻ tiền của báo chí Nga quen tung hô lãnh tụ.

Putin muốn chứng tỏ cho thế giới về bằng vai phải lứa với Hoa Kỳ, thậm chí còn trên cơ trong những ván bài địa chính trị. Và nhân thể ông báo cho dân Nga và khu vực biết rằng, các cuộc cách mạng mầu không còn đất sống, đừng mơ tưởng mang sang Moscow.

Và cuối cùng chính là màn quảng cáo vũ khí tốt nhất vì đã tham chiến thì vũ khí phải dùng. Có tên lửa hành trình lần đầu tiên có GPS dẫn đường, có máy bay tiêm kích, cường kích, ném bom chiến lược, chiến thuật, phi đạn bắn từ tầu ngầm, dù bắn 20 quả thì có tới 5 quả bay lạc sang Iraq.

Báo chí Nga hết lời ca ngợi, dân Nga hả hê trước màn hình tivi vì chiến thắng vang dội từ Syria gửi về liên tiếp mà không biết rằng, đồng kopek hẻo của họ đang teo tóp vì những ván bài đỏ đen của Putin.

Dù Putin có thắng ở sòng bài thì nhân dân Nga vẫn là người thất bại.

HM. 16-3-2016

 

Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích

RELAX TV – 3 hours of Relaxing Music, Soothing Nature Sounds, Ambient Music
Secret Garden – Poéme
Chopin’s Raindrops
Chopin – Spring Waltz 
Secret Garden – Bí mật vườn thiêng 
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Đọc lại và suy ngẫm


Rằm xuân
CNM365. TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Đọc lại và suy ngẫm. Lịch sử chiến tranh Việt Nam (1955-1975), là giai đoạn thứ hai và là giai đoạn khốc liệt nhất của Chiến tranh Đông Dương (19451979). Nghiên cứu lịch sử sẽ không thể hiểu rõ nếu không hiểu thấu mối quan hệ quốc tế, những sự kiện và động thái chính của các nước toan tính đối với Việt Nam, và sự ứng phó của những nhân vật chính trong cuộc đối chiến lịch sử này. Hồ Chí Minh những năm tháng quyết định. Ngô Đình Diệm, Bảo Đại, tư liệu mới. Bước ngoặt lịch sử chiến tranh Đông Dương. Đọc lại và suy ngẫm.

Sự kiện nổi bật trong Hồ Chí Minh những năm tháng quyết định 1941-1946, là Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 chủ tịch Hồ Chí Minh khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia  tự do trong Liên bang Đông Dương và trong Liên hiệp Pháp. Trước khi đi Pháp, chủ tịch Hồ Chí Minh bàn giao quyền lãnh đạo đất nước cho quyền chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng với lời dặn “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Tại Việt Nam, Hồ Chí Minh dự đoán thời gian ở Pháp là “…có khi một tháng, có khi hơn” nhưng cuối cùng Hồ Chí Minh ở Pháp 4 tháng (Hội nghị Fontainebleau diễn ra từ 6 tháng 7 tới 10 tháng 9 năm 1946) mà không tránh khỏi thất bại chung cuộc, dẫn đến Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh ngày 19 tháng 12 năm 1946.

Giáo sư Edward Miller trong bài “Viễn kiến, quyền lực và tính chủ động: con đường lên nắm quyền của Ngô Ðình Diệm, 1945-1954” đã kết luận rằng: “Ông Ngô Đình Diệm trở thành Thủ tướng vào tháng 7 năm 1954 là do nỗ lực của chính ông ta đã chủ động tìm cách nắm lấy quyền lực đúng lúc”, và    “… không có bằng cớ nào chứng tỏ rằng Ngô Đình Diệm được bổ nhiệm nhờ một chiến dịch gây áp lực với Bảo Ðại do những quan chức Hoa Kỳ khởi xướng.” Tác giả Nguyễn Quang Duy trong bài Đánh giá lại quan hệ giữa Bảo Đại và Ngô Đình Diệm (P1) – đăng trên trang Nghiên cứu Quốc tế cũng đồng nhận xét này. Hai bài viết này bổ sung thêm tư liệu mới của Chiến tranh Đông Dương.

HỒ CHÍ MINH NHỮNG NĂM THÁNG QUYẾT ĐỊNH

Thông tin “Hồ Chí Minh những năm tháng quyết định” 1941-1946 đúc kết từ Wikipedia Tiếng Việt đã cập nhật những tài liệu tham khảo có liên quan (đến ngày 6 tháng 3 năm 2016). Đây là phần một, trước phần hai “Bảo Đại, Ngô Đình Diệm tư liệu mới” và phần ba “Bước ngoặt lịch sử chiến tranh Đông Dương“.

Hồ Chí Minh trở về Cao Bằng (Việt Nam) vào ngày 28 tháng 1 năm 1941, từ Tĩnh Tây (Quảng Tây, Trung Quốc), hành lý là một chiếc va li nhỏ đan bằng mây tre để đựng quần áo và một chiếc máy chữ xách tay. Trước đó, đầu tháng 1 năm 1941, Hoàng Văn Thụ, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng từ Việt Nam sang Tĩnh Tây gặp Hồ Chí Minh để báo cáo kết quả xây dựng và củng cố an toàn khu Cao Bằng và đề nghị Hồ Chí Minh về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh là người sâu sắc lịch sử và kinh Dịch hẳn ghi nhớ lời của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nói với sứ giả của vua MạcCao Bằng tuy thiểu, khả diên sổ thế” và Bác cũng nhận định rằng Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nên quyết định trở về nước sau 30 năm bôn ba ở nước ngoài. Nhà thơ Tố Hữu đã viết về sự kiện này qua bốn câu thơ: “Bác đã về đây, Tổ quốc ơi!/ Nhớ thương hòn đất ấm hơi Người/ Ba mươi năm ấy, chân không nghỉ/ Mà đến bây giờ mới tới nơi”.

Ngày 8 tháng 2 năm 1941, Hồ Chí Minh đã ở tại hang Cốc Bó, bản Pác Bó, tỉnh Cao Bằng với bí danh Già Thu, sau khi khảo sát thực địa và hỏi thăm kdân địa phươngGià Thu gọi dòng suối lớn chảy qua đây là suối Lê-nin và ngọn núi đá cao trước cửa hang là núi Các-Mác và làm một bài thơ ngôn chí để tỏ chí hướng (nay đã được tạc vào vách núi): “Non xa xa nước xa xa/ Nào phải thênh thang mới gọi là/ Đây suối Lê-nin, kia núi Mác/ Hai tay gầy dựng một sơn hà”. (gầy dựng” chứ không phải là “gây dựng” như một số người lầm tưởng). Tại đây, Già Thu mở các lớp huấn luyện cán bộ, tự in báo, tham gia các hoạt động tuyên truyền vận động độc lập. Tài liệu huấn luyện chủ yếu là sách do Già Thu tự dịch và viết với nhiều chủ đề. Già Thu cũng vận động thành lập hội phụ lão cứu quốc, hội phụ nữ cứu quốc, hội nông dân cứu quốc,…để đón thời cơ, và cuối cuốn sách Việt Nam quốc sử diễn ca ghi “Việt Nam độc lập năm 1945“. Từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941, Già Thu chủ trì Hội nghị lần thứ 8 mở rộng của Trung ương Đảng họp tại Pác Bó, Cao Bằng. Một trong những kết quả của hội nghị này là nghị quyết về việc thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh gọi tắt là Việt Minh.

Ngày 13 tháng 8 năm 1942, Già Thu lấy tên gọi là Hồ Chí Minh để sang Trung Quốc với danh nghĩa đại diện của cả Việt Minh và Hội quốc tế phản xâm lược Việt Nam, một hội đoàn được Già Thu tổ chức ra trước đó, để tranh thủ sự ủng hộ của Trung Hoa Dân quốc. Đây là lần đầu tiên Hồ Chí Minh sử dụng tên gọi này chính thức trong các giấy tờ cá nhân với sự khai nhận là “Việt Nam – Hoa kiều”. Hồ Chí Minh đã bị chính quyền địa phương của Trung Hoa Dân quốc bắt ngày 29 tháng 8 khi đang đi cùng với một người Trung Quốc dẫn đường và bị giam hơn một năm, trải qua khoảng 30 nhà tù. Bác viết Nhật ký trong tù trong thời gian này, từ tháng 8 năm 1942 đến tháng 9 năm 1943. “Nhật ký trong tù” là một tác phẩm được những tác giả người Việt Nam, người phương Tây và cả người Trung Quốc, như Quách Mạt Nhược, Viên Ưng hay Hoàng Tranh đề cao. Ở Việt Nam các đồng chí của Bác như Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh…  đều tưởng lầm là Bác đã chết, sau này nguyên nhân được làm rõ là do một cán bộ Cộng sản tên Cáp nghe và hiểu sai ngữ nghĩa.Phạm Văn Đồng thậm chí đã tổ chức đám tang và đọc điếu văn, hồi ký của Võ Nguyên Giáp cũng kể lại là “mở chiếc va-li mây của Bác ra tìm xem còn những gì có thể giữ lại làm kỉ niệm”, mãi mấy tháng sau họ mới biết được tình thực của Bác sau khi nhận được thư do Bác viết và bí mật nhờ chuyển về.  Ngày 25 tháng 10 năm 1943, Hội Quốc tế chống xâm lược ở Đông Dương gửi hai bức thư, một cho Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc, bức còn lại cho thống chế Tưởng Giới Thạch đề nghị can thiệp trả tự do cho Hồ Chí Minh, đồng thời đại diện của Đảng cộng sản Trung Quốc ở Trùng Khánh đã tiếp xúc bí mật với các sỹ quan OSSSACO để gợi ý rằng có thể khiến Hồ Chí Minh hợp tác với phe Đồng Minh. Sau khi thảo luận với Đại sứ quán Mỹ tại Trung Quốc, OSS và cơ quan ngoại giao Mỹ thương lượng với chính phủ Trung Hoa Dân quốc để giải thoát Hồ Chí Minh khỏi nhà tù và thuyết phục Hồ Chí Minh cộng tác với OSS. Trương Phát Khuê, tướng cai quản vùng Quảng ĐôngQuảng Tây của Quốc Dân Đảng cùng lúc đó cũng gây áp lực để buộc Hồ Chí Minh hoạt động cho Quốc dân Đảng và trả tự do cho Hồ Chí Minh ngày 10 tháng 9 năm 1943, theo yêu cầu của Hoa Kỳ, đồng thời cũng nhằm lợi dụng ông và một số chính trị gia Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc ở miền Nam Trung Quốc chống phát xít Nhật. Trương Phát Khuê hy vọng Hồ Chí Minh có thể chấn chỉnh Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội (Việt Cách) do Trung Quốc đỡ đầu và thống nhất tổ chức các nhóm người Việt lưu vong ở miền Nam Trung Quốc thành một khối thuần nhất thân Trung Quốc, mà sự chia rẽ, chống đối về phương pháp tiến hành đấu tranh và sự tranh giành quyền lực giữa lãnh tụ của các nhóm này đã che lấp mất mục tiêu đấu tranh giành độc lập dân tộc của họ. Trước đó, Việt Minh đã ra tuyên bố ủng hộ tổ chức này. Hồ Chí Minh, ngay sau đó tham gia Ban Chấp hành Trung ương Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội và cũng cố gắng tranh thủ sự ủng hộ từ Trương Phát Khuê, nhưng kết quả hạn chế.

Cuối tháng 9 năm 1944, Hồ Chí Minh trở về Việt Nam. Lúc này Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng… cùng các đồng chí trong mặt trận Việt Minh đã quyết định tiến hành phát động chiến tranh du kích trong phạm vi liên tỉnh Cao – Bắc – Lạng. Hồ Chí Minh đã ngăn lại và chỉ thị thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, với 34 đội viên là các tiểu đội trưởng, trung đội trưởng hoặc thành viên của các đội quân nhỏ bé và rải rác trước đó của Việt Minh. Cuối năm 1944, Hồ Chí Minh trở lại Côn Minh hoạt động cho tới đầu năm 1945.

Bối cành Quốc tế và Việt Nam trong thời gian đầu năm 1945 đến cuối năm 1946: Sau cuộc đảo chính của Nhật ngày 9 tháng 3 năm 1945, thực dân Pháp mất quyền cai trị Liên bang Đông Dương. Tuy nhiên, sau khi Nhật đầu hàng khối Đồng Minh, Việt Minh chớp thời cơ giành chính quyền từ tay Đế quốc Việt Nam được Đế quốc Nhật Bản bảo hộ, nhanh chóng kiểm soát đất nước, và thành lập chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Theo thỏa thuận của các nước Đồng Minh, quân đội Trung Hoa Quốc dân đảng tiến vào miền Bắc Việt Nam để làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Đế quốc Nhật Bản. Ở miền Nam Việt Nam, quân Anh tiến vào với nhiệm vụ tương tự. Tuy người Việt Nam đã tự thành lập chính quyền và tuyên bố độc lập, chính phủ Pháp vẫn quyết tâm tái lập quyền cai trị Đông Dương. Tưởng Giới Thạch nhanh chóng nhận thức rằng vai trò cường quốc của Trung Quốc trong việc đưa quân vào Đông Dương sẽ giúp ông ép Pháp phải chấp nhận các điều kiện do ông đưa ra để giải quyết những xung đột lợi ích giữa Trung Quốc và Pháp nếu Pháp muốn quay lại thuộc địa cũ của mình.  Rạng ngày 23 tháng 9 năm 1945, người Pháp, dưới sự giúp đỡ của quân đội Anh, đã dùng vũ lực buộc Lâm ủy Nam Bộ phải giải tán, giao lại chính quyền cho người Pháp. Tuy nhiên, chính quyền người Việt đã thực hiện cuộc chiến tranh du kích để chống lại. Ở miền Bắc, quân đội Trung Hoa Quốc dân đảng vẫn công nhận chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho mưu đồ chính trị của họ. Tuy nhiên, người Pháp cũng đã thương lượng với chính phủ Trung Hoa Quốc dân đảng để đưa quân đội xâm nhập Bắc Việt Nam.

Theo dòng sự kiện và những hoạt động của  Chủ tịch Hồ Chí Minh, cho thấy:

Ngày 29 tháng 3 năm 1945, Hồ Chí Minh gặp trung tướng Mỹ Chennault tại Côn Minh (Trung Quốc). Trung tướng cảm ơn Việt Minh và sẵn sàng giúp đỡ những gì có thể theo yêu cầu. Còn Hồ Chí Minh khẳng định quan điểm của Việt Minh là ủng hộ và đứng về phía Đồng Minh chống phát xít Nhật. Theo Hồ Chí Minh, việc được tướng Chennault tiếp kiến được xem là một sự công nhận chính thức của Mỹ, là bằng chứng cho các đảng phái Quốc gia thấy Mỹ ủng hộ Việt Minh. Người Mỹ xem đây chỉ là một mưu mẹo của Hồ Chí Minh nhưng ông cũng đã đạt được kết quả.


Hồ Chí Minh và OSS năm 1945. Hồ Chí Minh nhận thấy Hoa Kỳ đang muốn sử dụng các tổ chức cách mạng người Việt vào các hoạt động quân sự chống Nhật tại Việt Nam, ông đã thiết lập mối quan hệ với các cơ quan tình báo Hoa Kỳ đồng thời chỉ thị cho Việt Minh làm tất cả để giải cứu các phi công gặp nạn trong chiến tranh với Nhật Bản, cung cấp các tin tức tình báo cho OSS, tiến hành một số hoạt động tuyên truyền cho Trung Hoa Dân Quốc và OWI. Đổi lại, cơ quan tình báo Hoa Kỳ OSS (U.S Office of Strategic Services) cung cấp vũ khí, phương tiện liên lạc, giúp đỡ y tế, cố vấn và huấn luyện quân đội quy mô nhỏ cho Việt Minh.

Tháng 7 năm 1945, Hồ Chí Minh ốm nặng, tưởng không qua khỏi, trước khi Hội nghị Tân Trào họp vào tháng 8 năm 1945. Một đơn vị nhỏ OSS nhảy dù phía sau đường ranh giới Nhật Bản ở Việt Nam để tham gia tác chiến cùng Việt Minh đã tìm thấy Hồ Chí Minh trong tình trạng sốt rét nặng và gửi thông điệp đến trụ sở quân Mỹ ở Trung Quốc để yêu cầu cung cấp thuốc men sớm nhất có thể. Hai tuần sau đó, bác sĩ quân y tên là Paul Hogland đã đến. Những người Mỹ đã ở lại đó trong vòng hai tháng và có thể họ đã cứu sống ông.

Ngày 16 tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh được cử làm Chủ tịch của Ủy ban dân tộc giải phóng tức Chính phủ lâm thời trong cuộc họp Đại hội Quốc dân do Tổng bộ Việt Minh triệu tập họp tại Tân Trào (Tuyên Quang)

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tại quảng trường Ba Đình Hà Nội, Hồ Chí Minh trích dẫn bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ và bản Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền Pháp để mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam. Hồ Chí Minh nói với Archimedes L. A Patti, chỉ huy tình báo quân sự Mỹ OSS tại miền Bắc, rằng ông theo chủ nghĩa Lenin, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp và xin gia nhập Đệ Tam Quốc tế vì đây là những cá nhân và tổ chức duy nhất quan tâm đến vấn đề thuộc địa. Ông không thấy có sự lựa chọn nào khác, nhưng trong nhiều năm sau đó những tổ chức này cũng không có hành động gì vì nền độc lập của các dân tộc thuộc địa. Trước mắt, ông đặt nhiều tin tưởng vào sự giúp đỡ của Mỹ trước khi có thể hy vọng vào sự giúp đỡ của Liên Xô. Người Mỹ xem ông là một người quốc tế cộng sản, bù nhìn của Moscow vì ông đã ở Moscow nhiều năm nhưng ông không phải là người cộng sản theo nghĩa Mỹ hiểu mà là nhà cách mạng hoạt động độc lập. Nhưng đến cuối tháng 9 năm 1946, Mỹ rút tất cả các nhân viên tình báo tại Việt Nam về nước, chấm dứt liên hệ với chính phủ Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện cho Tổng thống Mỹ Harry Truman kêu gọi sự ủng hộ của Mỹ nhưng không được đáp lại. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng gửi thư cho các nguyên thủ quốc gia trên thế giới (Tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman, lãnh tụ Liên Xô Stalin, Tổng thống Pháp Léon Blum, bộ trưởng Thuộc địa Pháp Marius Moutet và Nghị viện Pháp, …) kêu gọi công nhận nhà nước Việt Nam mới được thành lập và tranh thủ sự ủng hộ nhưng không nhận được hồi âm. Ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Võ Nguyên Giáp thay mặt Hồ Chí Minh, Chủ tịch Chính phủ Cách mạng Lâm thời, ban hành sắc lệnh giải tán một số đảng phái (như Việt Nam Quốc xã, Đại Việt Quốc dân đảng…) với lý do các đảng này “tư thông với ngoại quốc”, làm “phương hại đến nền độc lập Việt Nam”  nhằm kịp thời trừng trị “bọn phản cách mạng”, “bảo vệ” chính quyền non trẻ, đồng thời “giáo dục ý thức về tinh thần cảnh giác” cho nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho phép Ty Liêm phóng có thể bắt những hạng người bị quy là nguy hiểm cho nền Dân chủ cộng hoà Việt Nam. Cùng với đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh giải tán các nghiệp đoàn để kiểm soát nền kinh tế, thống nhất các tổ chức thanh niên vào Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam. Đồng thời Chính phủ cũng ban hành sắc lệnh thành lập Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính địa phương các cấp. Ngay sau khi được tin Tađêô Lê Hữu Từ trở thành Giám mục, tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh đã gửi thư chúc mừng vị Giám mục này. Trong thư có đoạn: “Có một nhà lãnh đạo mới của người Công giáo đi theo chân Đức Giê-su, chịu đóng đinh hầu giúp giáo dân biết hy sinh và chiến đấu bảo vệ tự do và độc lập của đất nước”. Về những lá thư của ông viết cho Tađêô Lê Hữu Từ, Viện sĩ Viện hàn lâm Hoàng gia Canada đồng thời giáo sư Đại học Lavát (Québec) – linh mục Trần Tam Tĩnh có nhận định: “Cụ Hồ Chí Minh rất thành thật tôn trọng tín ngưỡng và tin tưởng người Công giáo. Không có một dấu hiệu nào cho phép trách được rằng Người nói dối”.

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp tấn công Sài Gòn. Quân dân Sài Gòn chống cự quyết liệt. Ủy ban kháng chiến Nam Bộ được thành lập với Trần Văn Giàu là chủ tịch. Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam Bộ điện ra Trung ương xin cho được đánh. Chính phủ ra huấn lệnh, Hồ Chí Minh gửi thư khen ngợi “lòng kiên cường ái quốc của đồng bào Nam Bộ”.

Ngày 6 tháng 1 năm 1946, tổng tuyển cử tự do trong cả nước được tổ chức, bầu ra Quốc hội và Quốc hội thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Việt Nam. Hai đảng đối lập trong Chính phủ là Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội (Việt Cách) không tham gia bầu cử. Trên thực tế, các đảng này còn phát động tẩy chay bầu cử. Ngay cả khi đã tuyên bố nhất trí về kế hoạch tổng tuyển cử, các đảng phái Việt Quốc, Việt Cách vẫn dùng báo chỉ đả kích Việt Minh trúng cử chỉ là Việt Minh cộng sản… chính quyền trong tay nên Việt Minh muốn ai trúng cũng được, tổ chức các cuộc tuần hành, bắc loa hô hào kêu gọi tẩy chay bầu cử. Theo báo Sự thật, Việt Quốc, Việt Cách thậm chí bắt cóc, giết những ứng cử viên, đảng viên cộng sản, cán bộ Việt Minh (tiêu biểu là Trần Đình Long) hay thủ tiêu những người cùng tổ chức có cảm tình với Chính phủ. Quốc hội khóa I của Việt Nam đã cử ra Chính phủ Liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm chủ tịch. Đại biểu quốc hội chủ yếu là nhân sĩ trí thức, người ngoài Đảng. Hồ Chí Minh trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và với chức danh Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bác cũng đảm nhiệm luôn công việc của thủ tướng. Chính phủ này, cho tới cuối năm 1946, đã trải qua 3 lần thay đổi cơ cấu và nhân sự vào các thời điểm: ngày 1 tháng 1; tháng 3; và ngày 3 tháng 11. Nhà nước và chính phủ của ông đối mặt với hàng loạt khó khăn cả về đối nội và đối ngoại. Về đối ngoại, khi này Việt Nam chưa được bất cứ quốc qia nào công nhận, không phải thành viên Liên hiệp quốc, cũng như không nhận được sự ủng hộ nào về vật chất của các nước khác. Ngoài 20 vạn quân của Trung Hoa Dân Quốc ở miền Bắc, còn có quân Anh và quân Pháp (vào thời điểm toàn quốc kháng chiến, tháng 12 năm 1946, Pháp có khoảng 6 vạn quân), và khoảng 6 vạn quân Nhật. Về đối nội, “giặc đói, giặc dốt” – như chính cách Người gọi, và ngân quỹ trống rỗng là những vấn đề hệ trọng nhất. Bởi thế, Bác chú trọng đến việc phát triển giáo dục, mà trước hết là xóa nạn mù chữ bằng cách mở các lớp học Bình dân học vụ. Tháng 9 năm 1945, nhân ngày khai trường, Hồ Chí Minh đã viết thư gửi cho học trò Việt Nam. Thư có đoạn: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Để diệt “giặc đói”, ngoài việc kêu gọi tăng gia sản xuất, Bác  đề nghị đồng bào “cứ 10 ngày nhịn ăn 1 bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa” để đem số gạo tiết kiệm được cứu dân nghèo. Bản thân Người gương mẫu thực hiện việc nhịn ăn để cứu đói này. Để đối phó với giặc ngoại xâm, Bác thi hành một chính sách đối ngoại mềm dẻo và nhẫn nhịn. Bác nói: “Chính sách của ta hiện nay là chính sách Câu Tiễn, nhưng nhẫn nhục không phải là khuất phục”

Tháng 10 năm 1945, khi Hà Ứng Khâm, tổng tham mưu trưởng của quân đội Trung Hoa Dân Quốc tới Hà Nội, 300.000 người được huy động xuống đường, hô vang các khẩu hiệu “Ủng hộ chính phủ Hồ Chí Minh”, “Ủng hộ chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” để “đón tiếp”. Theo quan niệm của Hồ Chí Minh, Trung Hoa Quốc Dân Đảng muốn làm thất bại ý đồ của Pháp định khôi phục lại địa vị tại Đông Dương và muốn ngăn chặn sự liên minh của người Việt Nam với các lực lượng cộng sản Trung Quốc trong phạm vi quyền lợi của Trung Quốc. Bác chấp nhận cung cấp gạo (ban đầu kiên quyết từ chối) cho quân Trung Hoa Dân Quốc đang làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật tại Việt Nam. Quân Trung Hoa Dân Quốc cũng được tiêu giấy bạc “kim quan” và “quốc tệ” tại miền Bắc. Điều làm Hồ Chí Minh lo ngại là trong một số giới, đặc biệt là tầng lớp trung lưu Việt Nam, người ta vẫn gán mác cho ông và Việt Minh là “Cộng sản”. Những người thuộc đảng phái quốc gia thân Trung Quốc thì lại không bị như vậy, nên  Hồ Chí Minh phải làm mọi cách để gạt bỏ cái nhãn hiệu nói trên. Tháng 11 năm 1945,  Hồ Chí Minh quyết định cho Đảng Cộng sản Đông Dương tự giải tán. Về mặt công khai, đảng này không còn hiện diện mà chỉ có một bộ phận hoạt động dưới danh nghĩa Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương. Ông kêu gọi các đảng viên nếu tự xét thấy mình không đủ phù hợp thì nên tự rút lui khỏi hàng ngũ lãnh đạo chính quyền.  Với tư tưởng đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu, ông kêu gọi và thực hiện triệt để chính sách đại đoàn kết dân tộc bằng cách mời nhiều nhân sĩ, trí thức tham gia các Chính phủ và Quốc hội. Trước Quốc hội, ông tuyên bố: “Tôi chỉ có một Đảng – đảng Việt Nam“. Trong số những nhân sĩ, trí thức do ông mời được lựa chọn vào các vị trí trong Chính phủ, có khá nhiều người vốn không tham gia Việt Minh. Đó là các bộ trưởng: Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Huyên, Trần Đăng Khoa, Hoàng Tích Trí, Vũ Đình Hòe, Chu Bá Phương, Nguyễn Văn TốBồ Xuân Luật. Năm 1947, Chính phủ được cải tổ với sự tham gia thêm của một số trí thức khác, như Phan Anh, Hoàng Minh Giám. Về sau này ông cho biết: “Khi tổ chức Chính phủ lâm thời, có những đồng chí trong Ủy ban Trung ương do Quốc dân đại hội bầu ra, đáng lẽ tham gia Chính phủ, song các đồng chí ấy đã tự động xin lui, để nhường chỗ cho những nhân sĩ yêu nước nhưng ở ngoài Việt Minh. Đó là một cử chỉ vô tư, tốt đẹp, không ham chuộng địa vị, đặt lợi ích của dân tộc, của đoàn kết nhân dân lên trên lợi ích cá nhân. Đó là một cử chỉ đáng khen, đáng kính mà chúng ta phải học”. Hồ Chí Minh xem những đảng phái quốc gia thân Trung Hoa Dân Quốc như Việt Cách, Việt Quốc là bọn quốc gia giả hiệu, đầy tớ Quốc dân Đảng, không có liên hệ gì với nhân dân Việt Nam. Bác miêu tả họ là những người không có tổ chức, một nhóm cơ hội tranh giành nhau, tàn dư của các đảng phái quốc gia cũ không có chương trình hành động cơ bản nhưng lại có quá nhiều lãnh tụ. Nhưng Bác chấp nhận sự hiện diện của Việt Cách, Việt Quốc trong các chính phủ liên tục được thay đổi, chấp nhận 70 ghế cho Việt Quốc, Việt Cách trong quốc hội không cần qua bầu cử. Tuy nhiên chức trách các Bộ cũng thay đổi. Bộ trưởng Quốc phòng trở thành người lo về tài chính mà không được xem xét danh sách nhân sự, quân số, súng đạn còn các Bộ trưởng khác của các đảng phái Quốc gia chẳng có chức trách cụ thể gì, không bao giờ được tham dự bất cứ buổi họp nào của nội các. Hồ Chí Minh cũng giao cho Võ Nguyên Giáp và Trần Quốc Hoàn, sau này trở thành Bộ trưởng Công an, nhiệm vụ vô hiệu hóa các cuộc biểu tình do Việt Nam Quốc dân ĐảngViệt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội tổ chức nhằm chấm dứt hoạt động tuyên truyền của các đảng này trong dân chúng.

Ngô Đình Diệm khi bị Việt Minh bắt tại Tuy Hoà, Phú Yên giải ra Hà Nội, Hồ Chí Minh đã đến gặp Ngô Đình Diệm để thuyết phục ông này tham gia chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa do Việt Minh lãnh đạo. Ngô Đình Diệm hỏi chủ tịch Hồ Chí Minh lý do giết anh của ông thì được Hồ Chí Minh giải thích rằng đó một sai lầm do đất nước đang rơi vào tình trạng hỗn loạn. Sau đó Hồ Chí Minh đã mời Ngô Đình Diệm giữ chức thủ tướng vì biết rằng ông là một người có tài lãnh đạo. Ngô Đình Diệm trả lời rằng ông chỉ đồng ý lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh với điều kiện ông được Việt Minh thông báo về tất cả mọi hành động và biết riêng mọi quyết định của họ. Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chối yêu cầu này, do đó Ngô Đình Diệm không chấp nhận hợp tác với Hồ Chí Minh.

Theo Hiệp ước Pháp-Hoa, ký ngày 28 tháng 2 năm 1946, quân Pháp sẽ thay thế quân của Tưởng Giới Thạch. Nội dung của Hiệp ước Hoa – Pháp gồm 2 điểm chính: 1) Pháp trả lại các tô giới và nhượng địa của Pháp trên đất Trung Quốc như Quảng Châu Loan và nhượng cho Trung Hoa một số quyền lợi tại miền Bắc Việt Nam như cho họ khai thác một đặc khu tại hải cảng Hải Phòng, miễn thuế cho hàng hóa của Trung Hoa vận chuyển sang miền Bắc Việt Nam. 2) Ngược lại chính phủ Trung Hoa Quốc dân đảng đồng ý cho Pháp thay thế quân Trung Hoa giải giáp quân Nhật tại miền Bắc Việt Nam. Như vậy, về cơ bản, hiệp ước này cho phép quân đội Pháp trở lại Bắc Việt Nam thay thế cho quân Trung Hoa Quốc dân đảng để làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Đổi lại, Pháp cũng đã trả lại các tô giới của mình trên đất Trung Quốc cho chính phủ Trung Hoa Quốc dân đảng.

Hồ Chí MinhPhạm Văn Đồng tại Paris năm 1946. Ngày 31 tháng 5 năm 1946, chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường sang Pháp theo lời mời của chính phủ nước này; cùng ngày, phái đoàn chính phủ do Phạm Văn Đồng dẫn đầu cũng khởi hành sang Pháp tham dự Hội nghị Fontainebleau 1946. Trước khi đi, chủ tịch Hồ Chí Minh bàn giao quyền lãnh đạo đất nước cho quyền chủ tịch Huỳnh Thúc Kháng  với lời dặn “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Tại Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh dự đoán thời gian ở Pháp là “…có khi một tháng, có khi hơn” nhưng cuối cùng Bác ở Pháp 4 tháng (Hội nghị Fontainebleau diễn ra từ 6 tháng 7 tới 10 tháng 9 năm 1946) mà không tránh khỏi thất bại chung cuộc.
Trong thời gian đầu, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gồm nhiều thành phần kiên quyết chống lại việc Pháp tái lập chủ quyền ở Đông Dương. Nhưng sau đó những thành viên Chính phủ là đảng viên Đảng cộng sản Đông Dương thay đổi ý kiến muốn ký kết Hiệp định với Pháp. Theo quan điểm của Ban Thường vụ TW 3 Đảng cộng sản Đông Dương (đã lui vào hoạt động bí mật), tháng 3 năm 1946, nếu Pháp cho Đông Dương tự trị theo tuyên bố ngày 24 tháng 3 năm 1945 thì kiên quyết đánh, nhưng nếu cho Đông Dương tự chủ thì hòa để phá tan âm mưu của “bọn Tàu trắng, bọn phản động Việt Nam và bọn phát xít Nhật còn lại”.

Ngày 6 tháng 3 năm 1946, một tuần sau Hiệp ước Pháp-Hoa, chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Vũ Hồng Khanh ký với Jean Sainteny, Ủy viên Pháp ở miền bắc Ðông Dương, bản Hiệp định sơ bộ với Pháp. Nội dung của Hiệp định bao gồm các điểm chính sau đây: 1) Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do trong Liên bang Đông Dương và trong khối Liên hiệp Pháp, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng; 2) Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đồng ý cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc thay thế cho 200.000 quân Trung Hoa Quốc dân đảng để làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Pháp hứa sẽ rút hết quân trong thời hạn 5 năm, mỗi năm rút 3.000 quân. 3) Pháp đồng ý thực hiện trưng cầu dân ý tại Nam Kỳ về việc thống nhất với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 4) Hai bên thực hiện ngưng bắn, giữ nguyên quân đội tại vị trí hiện thời để đàm phán về chế độ tương lai của Đông Dương, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nước ngoài và những quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp ở Việt Nam.

Về phía người Pháp Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt giúp họ đưa quân đội ra miền Bắc Việt Nam mà không gặp sự kháng cự của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa như ở Nam Kỳ, đồng thời Hiệp ước Hoa-Pháp giúp họ tránh khỏi sự cản trở của các tướng lĩnh Trung Hoa Dân quốc.

Về phía Việt Minh, quân Trung Hoa được xác định là nguy cơ lớn nhất. Để loại trừ nguy cơ của 20 vạn quân Trung Hoa chiếm đóng, tránh được tình thế bất lợi “phải cô lập chiến đấu cùng một lúc với nhiều lực lượng phản động (thực dân Pháp, Tàu trắng, bọn phản cách mạng trong nước)”, tập trung đối phó với người Pháp và “các đảng phái phản động”. Đồng thời, tranh thủ được thời gian hòa hoãn quý báu để “Bảo toàn thực lực giành lấy giây phút nghỉ ngơi và củng cố vị trí mới đã chiếm được, chấn chỉnh đội ngũ cách mạng, bổ sung cán bộ, bồi dưỡng và củng cố phong trào”. Một số thành viên trong Chính phủ Liên hiệp thuộc lực lượng Việt Quốc, Việt Cách không tán thành việc này lên tiếng phản đối gây ra bất đồng sâu sắc, dân chúng cũng có người băn khoăn, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bình tĩnh giải thích và động viên đồng bào để đồng bào hiểu rõ “cần phải biết chịu đựng hy sinh để mưu sự nghiệp lớn”. Mặc dù Hiệp định có chữ ký của Vũ Hồng Khanh nhưng đa số lãnh đạo Việt Quốc rút sự ủng hộ của họ cho chính phủ Hồ Chí Minh để phản đối, chống lại những gì họ gọi là “thân Pháp” trong chính sách của Việt Minh. Bảo Đại rời khỏi đất nước vào ngày 18 tháng 3, ngày quân Pháp vào Hà Nội để theo phái đoàn ngoại giao đến Trùng Khánh nhằm tái khẳng định tình hữu nghị Việt – Trung và để thăm dò việc Tưởng Giới Thạch muốn hai nước sẽ có quan hệ thế nào sau khi ký Hiệp ước Hoa-Pháp. Một hội nghị liên tịch được tổ chức để khai thông các bất đồng dẫn đến việc thành lập Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam.

Hồ Chí Minh trong khi đang ở Pháp thì các lãnh tụ Việt Nam Quốc dân ĐảngViệt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội lần lượt rời bỏ Chính phủ vì bất đồng với Việt Minh về việc ký Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt (1946) cho phép quân Pháp quay trở lại Việt Nam. Ngày 15/6/1946, người lính cuối cùng của quân đội Trung Hoa Dân Quốc rời khỏi Việt Nam. Các thành viên Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách Mệnh Đồng minh hội mất chỗ dựa hậu thuẫn chính là quân đội Tưởng Giới Thạch và do bất đồng về việc ký Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt mùng 6 tháng 3 đã lần lượt rút khỏi chính phủ Liên hiệp. Lãnh tụ đảng Việt Cách là Nguyễn Hải Thần và các thành viên Việt Quốc – Việt Cách khác trong chính phủ như Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh và cánh thân Tưởng do Vũ Hồng Khanh lãnh đạo lưu vong sang Trung Quốc. Các đảng viên Đại Việt phần lớn vẫn ở lại Việt Nam chờ thời cơ. Nguyễn Tường Tam với tư cách Bộ trưởng Bộ ngoại giao dẫn đầu phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham gia Hội nghị trù bị tại Đà Lạt, nhưng do bất đồng đã không tham gia hầu hết các phiên họp, sau đó cũng không tham gia Hội nghị Fontainebleau, cuối cùng rời bỏ chính phủ (tài liệu nhà nước nêu Nguyễn Tường Tam thiếu bản lĩnh chính trị, lập trường bấp bênh, biển thủ công quỹ rồi đào nhiệm sang nước ngoài). Việc các thành viên chủ chốt của Việt Quốc, Việt Cách như Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh rời bỏ chính phủ, lưu vong sang Trung Quốc đã đánh dấu chấm hết cho thời kỳ hợp tác giữa Việt Minh và các đảng phái không cộng sản tại miền Bắc, trong công cuộc “kháng chiến kiến quốc” mà Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến là biểu tượng.

Ngày 19/6/1946, Báo Cứu Quốc của Tổng bộ Việt Minh đăng xã luận kịch liệt chỉ trích “bọn phản động phá hoại Hiệp định sơ bộ Pháp Việt mùng 6 tháng 3“. Ngay sau đó, Võ Nguyên Giáp bắt đầu chiến dịch tiêu diệt tất cả các đảng phái đối lập như Việt Quốc, Việt Cách, Đại Việt, những người Trotskist, lực lượng chính trị Công giáo… bằng lực lượng công an và quân đội do Việt Minh kiểm soát với sự giúp đỡ của nhà cầm quyền Pháp. Ông cũng sử dụng các sỹ quan Nhật Bản trốn tại Việt Nam và một số vũ khí do Pháp cung cấp cho chiến dịch này. Một trong những sự kiện nổi tiếng nhất trong chiến dịch tiêu diệt các đảng phái đối lập là vụ án phố Ôn Như Hầu. Trong vụ án này, Công an khám xét trụ sở Việt Nam Quốc dân ĐảngĐại Việt Quốc dân Đảng với lý do hai đảng này âm mưu đảo chính nhằm lật đổ Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Các thành viên Việt Nam Quốc dân Đảng và Đại Việt Quốc dân Đảng có mặt tại trụ sở cũng bị bắt trong đó có đại biểu Việt Nam Quốc dân Đảng trong Quốc hội Việt Nam khóa IPhan Kích Nam. Sau sự kiện này các lãnh đạo Việt Nam Quốc dân ĐảngViệt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội từng tham gia Chính phủ đã lưu vong sang Trung Quốc.

Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt không có sự phê chuẩn của Bộ Ngoại giao Pháp. Sau khi ký Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt, hai bên Việt-Pháp tiếp tục xúc tiến hội đàm tại Hội nghị Đà LạtHội nghị Fontainebleau để đàm phán về nền độc lập của Việt Nam trong Liên hiệp Pháp và việc thống nhất Việt Nam. Leclerc, tổng chỉ huy Pháp ở Đông Dương khi đề nghị đàm phán đã bị chuẩn tướng Charles de Gaulle trách móc: “Nếu tôi mà đồng ý mấy thứ nhảm nhí này thì đế quốc Pháp đã tiêu vong lâu rồi. Hãy đọc thật kỹ câu chữ trong tuyên bố tháng 3 của Pháp về Đông dương”. Tuy nhiên, hiệp định đã bị Cao ủy Đông Dương, Georges Thierry d’Argenlieu, làm mất giá trị khi ông tuyên bố chấp nhận sự thành lập Nam Kỳ quốc tại Sài Gòn vào ngày 1 tháng 6 cùng năm trong lúc Hội nghị Fontainebleau đang diễn ra.

Hội nghị Fontainebleau 1946 thất bại vì phía Pháp chần chừ không ấn định chắc chắn thời điểm và cách thức thực hiện cuộc trưng cầu dân ý ở Nam Kỳ về việc sáp nhập Nam Kỳ vào Việt Nam Dân chủ Cộng hòa theo yêu cầu của phái đoàn Việt Nam. Phái đoàn Việt Nam do Phạm Văn Đồng dẫn đầu về nước nhưng Hồ Chí Minh vẫn nán lại Pháp ký Tạm ước với Pháp.


Hồ Chí Minh và Marius Moutet bắt tay sau khi ký Tạm ước Việt – Pháp. Ngày 14 tháng 9 năm 1946, Hồ Chí Minh ký với đại diện chính phủ Pháp, bộ trưởng Thuộc địa Marius Moutet, bản Tạm ước Việt – Pháp (Modus vivendi). Trong bản Tạm ước này, hai bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Pháp cùng bảo đảm với nhau về quyền tự do của kiều dân, chế độ tài sản của hai bên; thống nhất về các vấn đề: hoạt động của các trường học Pháp, sử dụng đồng bạc Đông Dương làm tiền tệ, thống nhất thuế quan và tái lập cải thiện giao thông liên lạc của Liên bang Đông Dương, cũng như việc thành lập ủy ban tạm thời giải quyết vấn đề ngoại giao của Việt Nam. Chính phủ Việt Nam cam kết ưu tiên dùng người Pháp làm cố vấn hoặc chuyên môn, và hai bên đã đồng ý chấm dứt mọi hành động xung đột, vũ lực cũng như tuyên truyền chống đối nhau, phóng thích tù nhân chính trị, bảo đảm không truy bức người của bên kia, và hợp tác để những kiều dân hai bên không làm hại nhau. Tạm ước cam kết sẽ có một nhân vật do Việt Nam chỉ định và Chính phủ Pháp công nhận được uỷ nhiệm cạnh thượng sứ để xếp đặt cộng tác thi hành những điều thoả thuận này. Cuối cùng, Chính phủ hai bên sẽ sớm tiếp tục đàm phán (chậm nhất là vào tháng 1 năm 1947) để tìm cách ký kết những bản thoả thuận riêng nhằm dọn đường cho một hiệp ước chung dứt khoát.

Hồ Chí Minh với những nhân nhượng đó cũng không tránh nổi chiến tranh. Sau khi nhận được liên tiếp 3 tối hậu thư của Pháp trong vòng chưa đầy một ngày đòi chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đình chỉ mọi hoạt động chuẩn bị chiến tranh, tước vũ khí của Tự vệ tại Hà Nội, và trao cho quân đội Pháp việc duy trì an ninh trong thành phố, Hồ Chí Minh đã kí lệnh kháng chiến. Tối ngày 19 tháng 12 năm 1946, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến do Hồ Chí Minh chấp bút được phát trên đài phát thanh, với những câu mở đầu: “Hỡi đồng bào toàn quốc! Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!…“. 20h tối cùng ngày, kháng chiến bùng nổ.


Hà Nội mùa đông năm 1946 phim truyện của đạo diễn Đặng Nhật Minh đã tái hiện một phần sự thật lịch sử Việt Nam và vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn này.

BẢO ĐẠI, NGÔ ĐÌNH DIỆM TƯ LIỆU MỚI

Viễn kiến, quyền lực và tính chủ động: con đường lên nắm quyền của Ngô Ðình Diệm, 1945-1954” bài viết của Giáo sư Edward Miller và “Đánh giá lại quan hệ giữa Bảo Đại và Ngô Đình Diệm (P1)” bài viết của tiến sĩ Nguyễn Quang Duy đăng trên trang Nghiên cứu Quốc tế cung cấp thêm những tư liệu mới.

Đọc lại và suy ngẫm.

xem tiếp…

Hoàng Kim

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích
Secret Garden – Poéme

Vuonxuan

Chopin – Spring Waltz 
Secret Garden – Bí mật vườn thiêng 
Những bài hát hay nhất của Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (25 bài)
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Đọc lại và suy ngẫm


CNM365. Đọc lại và suy ngẫm. Bài nghiên cứu lịch sử Từ Mao Trạch Đông đến Tập Cận Bình  góp phần tìm hiểu bình sinh Mao Trạch Đông và bình sinh Tập Cận Bình, những vĩ nhân ảnh hưởng quan trọng đến đất nước Trung Hoa và Thế Giới, đang cập nhật thông tin mới “Những cuộc chiến ý thức hệ sắp tới ở Trung Quốc”Học giả Taisu Zhang tại bài viết này đã nhận xét (đăng trên Foreign Policy, người dịch Lê Anh Hùng 1/3/2016, nguồn ABS):  “… Chính trị và xã hội ở Trung Quốc đã chuyển hướng từ những luận điểm mang màu sắc ý thức hệ sang thứ chủ nghĩa thực dụng mềm dẻo mà các cựu lãnh tụ Đặng Tiểu Bình và Giang Trạch Dân thường cổ vũ… Trong vài bài phát biểu gần đây, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã coi Mao không chỉ là người cha sáng lập Đảng mà còn là một biểu tượng về cam kết của Đảng đối với chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa dân tuý. Điều này đánh dấu một sự chuyển hướng quan trọng từ lối đối xử xem nhẹ và gần như miễn cưỡng mà dường như những người tiền nhiệm của Tập, đặc biệt là Hồ Cẩm Đào, từng dành cho Mao“.

KhongTu
Khổng Tử và Khổng Giáo (nguồn ảnh: Foreign Policy) là học thuyết lớn Trung Hoa, từng được Chủ tịch Mao Trạch Đông nghiên cứu rất kỹ, và nay Chủ tịch Tập Cận Bình một nhà kỹ trị thực dụng với quan điểm nhất quán cũng nghiên cứu và quan sát rất kỹ. Ông suy xét cân nhắc chừng mực và thận trọng về Khổng Tử dạy và học, kế thừa bảo tồn điều gì và vận dụng phát triển điều gì.

Tự cũng cố và trầm tĩnh nghiên cứu Khổng Tử dạy và học. Đọc lại và suy ngẫm.

Hoàng Kim

Những cuộc chiến ý thức hệ sắp tới của Trung Quốc

Foreign Policy

Tác giả: Taisu Zhang
Dịch giả: Lê Anh Hùng

1- 3 – 2016

Trong kỷ nguyên của cải cách, tăng trưởng kinh tế chi phối tất cả. Nhưng giờ đây, sự hồi sinh của những tín điều đối chọi nhau đã chia rẽ xã hội Trung Hoa.

Với phần lớn người Trung Quốc, thập niên 1990 chứng kiến sự lên ngôi của chủ nghĩa thực dụng vật chất. Phát triển kinh tế là mối quan tâm chính trị – xã hội quan trọng nhất, trong khi những hệ tư tưởng nhà nước đa dạng vốn là nhân tố định hướng chính sách trong những thập niên đầu tiên của nền Cộng hoà Nhân dân lại lui dần vào hậu trường. Những cuộc đấu tranh ý thức hệ khốc liệt từng đánh dấu sự kết thúc của thập niên 1970 cũng như thập niên 1980 đã khiến dân chúng kiệt quệ, khiến họ chỉ còn háo hức chú tâm vào những cơ hội kinh tế mà trước đấy họ chưa từng biết đến.

Giờ đây, xu thế lại thay đổi. Xã hội Trung Hoa rõ ràng là đang tái khám phá, hay ít nhất là tái xếp đặt thứ tự ưu tiên, những khát vọng về đạo đức và ý thức hệ. Vài năm qua, các lực lượng cũng như sự chia rẽ ý thức hệ đã quay trở lại vị trí trung tâm trong đời sống chính trị và xã hội ở Trung Quốc, và có nhiều bằng chứng thuyết phục cho thấy tình trạng căng thẳng về ý thức hệ trong giới tinh hoa Trung Quốc hiện đang cao hơn so với bất kỳ thời điểm nào kể từ sau các cuộc biểu tình năm 1989. Hình ảnh về một nước Trung Hoa “hậu ý thức hệ” (post-ideological) đang trở nên ngày một lỗi thời.

Dù vậy, dường như khá ít nhà quan sát hay nhà hoạch định chính sách lại suy xét khả năng theo đó các nhóm tinh hoa ở Trung Quốc là những tạo vật ý thức hệ, hoặc thậm chí là họ có thể đang ứng phó với một công chúng nhuốm màu ý thức hệ. Đây là một sự thay đổi đáng chú ý với những liên đới sâu sắc dành cho công tác hoạch định chính sách. Chỉ một hay hai thập niên trước, nhiều nhà bình luận còn cảm thấy khó khăn khi phải thừa nhận rằng các chính trị gia Trung Quốc – hoặc thậm chí là những người Trung Hoa có học vấn – hoàn toàn không phải là những người theo tư tưởng cộng sản chủ nghĩa. Đầu thập niên 2000, ý tưởng theo đó các nhóm tinh hoa ở Trung Quốc không còn tin chủ nghĩa cộng sản vẫn là một ý tưởng mới mẻ, đôi khi dẫn đến thái độ hoài nghi và phản ứng trái ngược. Để so sánh, bất kỳ ai hiện nay khăng khăng cho rằng lý tưởng cộng sản vẫn chi phối quá trình hoạch định chính sách của Trung Quốc đều có nguy cơ huỷ hoại danh tiếng của mình như một người am hiểu Trung Quốc nghiêm túc.

Ý tưởng về một Trung Quốc hậu ý thức hệ ra đời như thế nào? Cách diễn giải khoan dung – và có lẽ đúng – về sự thay đổi này là nó chỉ đơn thuần phản ảnh một sự thay đổi chung về quan điểm trong xã hội Trung Hoa. Cuộc đàm luận về chính trị và xã hội ở Trung Quốc đã chuyển hướng từ những luận điểm mang màu sắc ý thức hệ sang thứ chủ nghĩa thực dụng mềm dẻo mà các cựu lãnh tụ Đặng Tiểu Bình và Giang Trạch Dân thường cổ vũ. Ở đây vẫn còn một cách diễn giải ít khoan dung hơn: sự trỗi dậy về kinh tế của Trung Quốc, đặc biệt là sự tăng trưởng bền vững của nó trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, đã tạo ra một ý thức về tính dễ tổn thương và, do đó, một tâm tính hoang mang trong nhiều nhà phân tích phương Tây, những người vội đi đến – và vẫn tiếp tục tin vào – cái kết luận rằng các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc là những kẻ tối đa hoá tính hiệu dụng (utility) một cách tàn nhẫn và hiệu quả, những kẻ chuyên kiếm chác từ cái thế giới phát triển vốn mềm mại hơn, duy tâm hơn và phải chịu những ràng buộc dân chủ.

Dù với lý do gì đi nữa thì cái hình ảnh rập khuôn về thứ chủ nghĩa thực dụng Trung Quốc có lẽ cũng đã hết thời hạn sử dụng. Ở Trung Quốc ngày nay, những dấu hiệu về sự hồi sinh ý thức hệ xuất hiện khắp nơi. Rõ ràng nhất là hiện tượng một số biểu tượng, mà từ lâu người ta nghĩ là đã chết, đã hồi sinh một cách nổi bật, và trong một số trường hợp còn rất thành công, qua những phát ngôn chính trị trên bình diện quốc gia. Đầu tiên là việc khôi phục lại hình ảnh Chủ tịch Mao Trạch Đông như là thành tố cốt lõi của câu chuyện huyền thoại về sự ra đời của Đảng CSTQ cùng tính chính danh lịch sử của nó. Như một số học giả và nhà bình luận đã ghi nhận, trong vài bài phát biểu gần đây, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã coi Mao không chỉ là người cha sáng lập Đảng mà còn là một biểu tượng về cam kết của Đảng đối với chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa dân tuý. Điều này đánh dấu một sự chuyển hướng quan trọng từ lối đối xử xem nhẹ và gần như miễn cưỡng mà dường như những người tiền nhiệm của Tập, đặc biệt là Hồ Cẩm Đào, từng dành cho Mao. Thật đáng tò mò, trong khi những tín hiệu ngôn từ của Tập được bình luận ngay lập tức thì những hàm ý chính sách tiềm tàng của chúng lại phần lớn không được nghiên cứu, nếu không muốn nói là bị phủi bỏ ngay như thể chúng chẳng có gì quan trọng cả.

Mao không phải là nhân vật duy nhất được phục hồi về mặt ý thức hệ. Khổng Tử cũng đã trở thành một nhân vật ngày càng nổi bật trong những phát ngôn chính trị ở Trung Quốc. Và các nhà lãnh đạo Đảng thì thường xuyên trích dẫn các triết gia cổ đại, như Mạnh Tử, Trang Tử hay Hàn Phi. Bản thân Tập thường lập luận rằng, “để giải quyết những vấn đề của mình… [Trung Quốc cần] khai thác triệt để kho tàng minh triết vĩ đại mà đất nước Trung Hoa đã tích luỹ được trong suốt 5.000 năm qua”. Sự ủng hộ của nhà nước đối với các dự án như Học viện Khổng Tử mới ở Quý Dương (tỉnh lỵ Quý Châu, khai trương từ năm 2013) khiến những phát ngôn chính trị như thế hàm chứa một mức độ nghiêm túc nhất định và điều này đã truyền cảm hứng cho các nhà hoạt động tân Khổng giáo. Tuy nhiên, những nỗ lực nhằm truyền sức sống mới cho tư tưởng Trung Hoa cổ đại cũng khiến những bộ phận khác, mang xu hướng tự do chủ nghĩa nhiều hơn, trong cộng đồng mạng ở Trung Quốc lên tiếng báo động và bày tỏ sự khinh thị. Họ có xu hướng coi các quy tắc đạo đức xã hội của Nho giáo là lạc hậu và hẹp hòi.

Người ta dễ dàng, và có lẽ là thèm muốn, phủi bỏ những sáng kiến này như thể đó là sự tuyên truyền ý thức hệ đầy toan tính do một chính thể độc tài vốn đang phải đối mặt với tình trạng căng thẳng về kinh tế, xã hội và chính trị chưa có tiền lệ tiến hành. Chắc chắn ở đây có một sự thật nào đó; chỉ có điều là nó lại quá ư đơn giản. Thực ra, người ta cũng có thể lập luận một cách thuyết phục như thế rằng, Đảng CSTQ đã đóng một vai trò thụ động, chứ không phải chủ động: các chiến dịch ý thức hệ nhằm hồi sinh những nhân vật như Mao và Khổng phản ánh những trào lưu tư duy trí tuệ và văn hoá đã nhanh chóng giành được ảnh hưởng trong tầng lớp người Trung Hoa có học vấn cao trong năm đến bảy năm qua. Xét chiều sâu và động năng của những trào lưu này, Đảng hoàn toàn có thể sẽ tìm cách bắt kịp. Bản thân Tập dường như cũng đã thừa nhận như thế qua bài phát biểu nổi tiếng ngày 19/8/2013, trong đó ông ta cho rằng Đảng đang đối mặt với một làn sóng thách thức nghiêm trọng về ý thức hệ, và cần phải phản ứng mạnh mẽ hơn.

Hai diễn biến quan trọng nhất trong địa hạt tư duy trí tuệ ở Trung Quốc từ cuối thập niên 1990 có lẽ là sự trỗi dậy của khuynh hướng Tân Tả (“New Left”) hùng mạnh và sự phục hồi của một trào lưu tân Khổng giáo tuy thiếu tổ chức song ngày càng giành được ảnh hưởng. Khuynh hướng Tân Tả kết hợp những cảm tính dân tộc chủ nghĩa – như một bài xã luận tháng 1/2010 trên tờ Hoàn Cầu Thời Báo tuyên bố, “chúng ta không muốn trở thành một thuộc địa của lối tư duy trí tuệ phương Tây” – cùng sự bất mãn rộng khắp với tình trạng bất bình đẳng kinh tế để đi đến lời kêu gọi mạnh mẽ về một cuộc “tái thiết chủ nghĩa xã hội”, và điều này sẽ dẫn tới sự phục hồi của nhiều chính sách kinh tế kế hoạch hoá thập niên 1980 cũng như việc tăng cường kiểm soát ý thức hệ đối với Internet và truyền thông. Nếu tìm hiểu thế giới tư duy trí tuệ Trung Quốc hiện nay thì những nhân vật ảnh hưởng nhất – và là những người có quan hệ gần gũi nhất với sự lãnh đạo của Đảng – thường là những nhân vật tả khuynh. Trong số này có hai nhà kinh tế học nổi bật là Wang Shaoguang (Vương Thiệu Quang) và Justin Yifu Lin, nhà khoa học chính trị Cui Zhiyuan (Thôi Chí Nguyên), và triết gia Liu Xiaofeng (Lưu Hiểu Phong).

Trái lại, các nhân vật tân Khổng giáo nhìn chung ủng hộ cả sự hồi sinh của các quy tắc đạo đức Nho giáo, chẳng hạn như sự hiếu thảo, lẫn việc phục hồi một số thiết chế chính trị truyền thống, đặc biệt là chế độ khoa cử. Mặc dù họ có xu hướng kém chính thống, song chính tính chất dễ khơi mào của thuật ngữ “Khổng giáo” trong cuộc đàm luận chính trị và trí tuệ ở Trung Quốc lại đem đến cho họ một tần suất xuất hiện khác thường trên các phương tiện truyền thông. Từ cuối thập niên 1990, những lời kêu gọi nhằm hồi sinh Khổng giáo dần dần trở nên mạnh mẽ và phổ biến; chúng tiến triển từ một trào lưu ngoài lề chịu nhiều sự chế nhạo thành một xu thế dù vẫn bị chế nhạo nhưng chắc chắn đã trở nên mạnh mẽ trên bình diện quốc gia, đặc biệt là ở cấp giáo dục tiểu học. Ví dụ, Jiang Qing (Tưởng Khánh), một nhà lãnh đạo buổi đầu của trào lưu và hiện đang điều hành Viện Nho học Dương Minh (Yangming Confucian Academy) nổi tiếng, đã trở thành một nhân vật mà gần như ai ai trong giới trí thức cũng biết đến.

Cả hai diễn biến nêu trên đều có gốc rễ từ chủ nghĩa dân tộc bài phương Tây. Từ đầu thập niên 1980 đến thập niên 2000, dân chủ, pháp trị và cải cách thị trường tự do là thứ ngôn ngữ chính trị chung không chỉ của phần lớn các nhà trí thức Trung Quốc mà còn của phần lớn giới lãnh đạo doanh nghiệp, và thậm chí cả một số quan chức, những người chí ít cũng bày tỏ sự ủng hộ bằng lời nói – và có lẽ nhiều hơn thế – dành cho những lý tưởng cháy bỏng đó. Trong giai đoạn này, các nhóm tinh hoa ở Trung Quốc dường như cùng chia sẻ sự đồng thuận rằng Trung Quốc cần Tây hoá. Cả Tân Tả lẫn tân Khổng giáo chủ yếu đều là những phản ứng tư duy trí tuệ trước sự đồng thuận đó, được thúc đẩy một phần bởi sự bất tương thích mà người ta cảm nhận được giữa tư tưởng phương Tây và thực tiễn kinh tế – xã hội – chính trị của Trung Quốc, một phần bởi sự thất vọng trước thái độ thù địch và sự phân biệt đối xử về ý thức hệ mà phương Tây dành cho Trung Quốc, và một phần bởi những tham vọng dân tộc chủ nghĩa vốn xuất hiện một cách tự nhiên cùng với sự cất cánh về kinh tế.

Gần đây hơn, các trào lưu này đã cho thấy những dấu hiệu của sự hội tụ. Tân Khổng giáo dường như đang gắn chặt với Tân Tả, và không phải là thiếu sự tương hỗ từ giới Tân Tả. Một số học giả nổi bật, đặc biệt là Gang Yang từ Đại học Tôn Dật Tiên, hiện tự coi mình vừa tả khuynh vừa theo Khổng giáo. Yếu tố then chốt của cái “nhân dạng” chung đó chính là thứ chủ nghĩa dân tộc mạnh mẽ mà cả hai phái ý thức hệ cùng chia sẻ, vốn cho phép các học giả này lập luận rằng các nguồn lực từ “văn hoá truyền thống” cần đóng một vai trò nổi bật trong cuộc thập tự chinh chống lại chủ nghĩa tự do phương Tây – nếu không phải như một thành tố cần thiết của cái “phương diện quốc gia” thì ít nhất cũng là một lựa chọn về mặt ý thức hệ thay cho sự khuynh loát của trí tuệ phương Tây.

Những nghiên cứu thống kê gần đây cho thấy các xu thế này vượt xa ra ngoài những ranh giới được che chắn của các trường đại học hàng đầu cũng như các trung tâm quyền lực ở Trung Quốc. Một bản phúc trình thường được trích dẫn của các nhà nghiên cứu Harvard và MIT năm 2015, chẳng hạn, chỉ ra rằng người sử dụng Internet ở Trung Quốc chủ yếu tập trung xung quanh hai thái cực: một cực “tả khuynh – Khổng giáo” vốn chủ trương hình thành một nhà nước xã hội chủ nghĩa rộng khắp, hạn chế các quyền dân sự, áp dụng chính sách đối ngoại hung hăng, và phục hồi văn hoá truyền thống; và một cực “tự do phương Tây” – hay “hữu khuynh” – ủng hộ các nguyên lý thị trường tự do, chế độ dân chủ lập hiến, các quyền tự do dân sự, hợp tác quốc tế và sự chống đối văn hoá truyền thống. Ngoài ra, mức độ đồng nhất cao trong hai phái này còn cho thấy nhận thức và cam kết về ý thức hệ đã khá sâu sắc, và ngày càng sâu sắc, ai cũng như ai.

Hiện nay, những xung đột tự do chủ nghĩa – tả khuynh dường như đang tạo sắc thái và định hình việc hấp thụ thông tin của cộng đồng mạng đối với bất kỳ tin tức phổ biến nào, từ những chủ đề địa chính trị quan trọng – chẳng hạn như chính sách ngoại giao quyết đoán mới của Trung Quốc ở Biển Đông – cho đến những vụ lùm xùm trong công chúng, như vụ xung đột hành chính gần đây tại trường Đại học Tôn Dật Tiên, trong đó một giảng viên trẻ tố cáo Gan Yang trù dập anh ta và hành hung ông.

Dĩ nhiên là ở đây có những cách giải thích khả dĩ khác về việc tại sao các trào lưu dân tộc chủ nghĩa này lại giành được ảnh hưởng. Một số người có thể lập luận rằng chúng đã lợi dụng những vấn đề kinh tế – xã hội ngày càng trầm trọng của Trung Quốc trong thập niên qua, đặc biệt là tình trạng bất bình đẳng gia tăng nhanh chóng. Một cách diễn giải đồng cảm hơn có thể là, chúng thực sự đem đến những giải pháp tiềm tàng cho một số những vấn đề này – bằng cách thúc đẩy, chẳng hạn, một tập hợp quy tắc đạo đức xã hội định hướng nhóm (group-oriented) nhằm giúp giảm bớt sự thiếu hụt rõ ràng về độ tin cậy xã hội của nền kinh tế đô thị. Số khác có thể lập luận rằng chúng thể hiện hình thức tự phản ảnh và âu lo về mặt tư duy trí tuệ (intellectual self-reflection & anxiety) vốn xuất hiện tự nhiên sau khi xã hội đạt tới một mức độ cơ bản về thịnh vượng kinh tế, và do đó chúng là một hình thức của chủ nghĩa dân tộc tầng lớp trung lưu.

Bất kể căn nguyên của nó là gì, bức tranh ý thức hệ hiện hành cũng có thể đem đến những hệ luỵ nghiêm trọng cho quá trình hoạch định chính sách của Trung Quốc: sự hồi sinh ý thức hệ làm biến đổi rất mạnh môi trường xã hội và chính trị mà ở đó Đảng và Nhà nước hoạt động. Nguồn gốc của sự chính danh trong xã hội duy vật chủ nghĩa thực dụng rất khác so với trong một xã hội mang màu sắc và bị phân cực bởi ý thức hệ. Trong khi tăng trưởng kinh tế năng động là chìa khoá để giành được sự ủng hộ của dân chúng ở hình thái xã hội thứ nhất thì điều đó lại có thể không đủ, và có lẽ còn không cần thiết, trong hình thái xã hội thứ hai. Ở thời điểm hiện tại, người ta rất không chắc chắn là bên nào – các nhà tự do chủ nghĩa, các nhà tả khuynh, hay các nhà bảo thủ văn hoá – rốt cuộc sẽ giành được thế thượng phong trong những cuộc đấu tranh ý thức hệ như thế. Nếu một phái lên ngôi, chính phủ có thể nhận thấy mình bị buộc phải (hay ít nhất là được thúc đẩy mạnh mẽ để) tìm kiếm sự chính danh chính trị – xã hội thông qua các chính sách tái phân phối, cải cách các quyền dân sự, hoặc có thể là sự chuyển hướng triệt để sang một ý niệm mới về những giá trị văn hoá truyền thống. Điều này có thể hoặc là hoạ hoặc là phúc: nó có thể đẩy đảng và nhà nước vào những vị thế ý thức hệ không lấy gì làm thoải mái, nhưng nó cũng có thể đem đến những nguồn ủng hộ xã hội trong giai đoạn có biến động về kinh tế hay địa chính trị.

Xin lấy ví dụ, chẳng hạn, phản ứng của Đảng trước phong trào Chiếm Trung Tâm năm 2014 ở Hồng Kông. Trong giai đoạn đó, một phong trào chủ yếu do sinh viên lãnh đạo đã kêu gọi tổ chức bầu cử dân chủ và độc lập chính trị nhiều hơn với Bắc Kinh. Bất chấp một số đề xuất ban đầu rằng chính phủ cần bày tỏ thái độ hoà giải chừng mực với người biểu tình vì nhiều lý do thực dụng – nhằm hạn chế tối thiểu việc gián đoạn hoạt động tài chính, sự mất uy tín trong cộng đồng quốc tế, và tổn hại trong quan hệ giữa Trung Quốc với Đài Loan – người ta sớm phát hiện ra rằng Đảng lại quan ngại về phản ứng ở trong nước đối với chiến lược của họ ở Hồng Kông nhiều hơn rất nhiều so với phản ứng của quốc tế. Tuy nhiên, phản ứng trong nước đó đôi khi lại gần như nhuốm màu dân tộc chủ nghĩa hiếu chiến. Bị khích động bởi một số ít vụ phân biệt đối xử theo lối bài đại lục của cư dân Hồng Kông, nhiều, có khi là phần lớn, cư dân đại lục có học vấn cao lại nhiệt thành ủng hộ một chính sách cứng rắn chống người biểu tình. Điều này cho phép Đảng áp dụng một lập trường phi hoà giải, song đồng thời cũng giới hạn sự lựa chọn của Đảng một cách nghiêm trọng, đưa họ đi đến một lập trường thô bạo hơn so với mức mà một số nhà hoạch định chính sách cảm thấy thoải mái.

Giống như bất kỳ hệ tư tưởng chính trị đặc thù nào, chủ nghĩa dân tộc cũng là một con dao hai lưỡi.

Trong ngắn hạn, và đặc biệt là trong những giai đoạn suy thoái kinh tế, ban lãnh đạo Đảng có thể thấy thuận tiện khi sử dụng trào lưu tả khuynh hoặc tân Khổng giáo để giành được sự ủng hộ của công chúng – mà những ngôn từ chính trị gần đây cho thấy Đảng đang nỗ lực thực hiện điều đó. Tuy nhiên, điều này lại không chắc chắn là một giải pháp dài hạn dễ chịu. Người ta chỉ cần nhìn lại sự thăng trầm ngoạn mục của Bạc Hy Lai để dẫn ra một ví dụ quan trọng mà ban lãnh đạo Đảng đã tỏ ra rất khó chịu với sự cuồng tín ý thức hệ của một số trí thức tự nhận là theo chủ nghĩa Mao. Các hệ tư tưởng tả khuynh không phải lúc nào cũng là đồng minh đáng tin cậy hơn các hệ tư tưởng tự do chủ nghĩa.

Rốt cuộc, liệu bản thân các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc có quan tâm sâu sắc đến ý thức hệ, hay ít nhất là ngày càng quan tâm sâu sắc hay không? Đúng là những quan điểm gần đây của Tập về Mao, về truyền thống văn hoá Trung Quốc và về nhu cầu thay đổi văn hoá trong giới chức chính quyền tỏ ra rất nhất quán với quan điểm của một nhà kỹ trị thực dụng. Tuy nhiên, chúng cũng rất nhất quán với cách ứng xử của một nhà bảo thủ XHCN và văn hoá đích thực, người theo đuổi các mục tiêu ý thức hệ của mình một cách chừng mực và thận trọng. Bất chấp những gì người ta nghĩ về ban lãnh đạo hiện hành, hy vọng là cái ý niệm của phương Tây theo đó nền chính trị Trung Quốc thuần tuý bắt nguồn từ chủ nghĩa thực dụng sẽ sớm biến mất.

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích
Secret Garden – Poéme

Vuonxuan

Chopin – Spring Waltz 
Secret Garden – Bí mật vườn thiêng 
Những bài hát hay nhất của Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (25 bài)
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter