Giáo dục tinh hoa


VoNguyenGiapVanCao

VÕ NGUYÊN GIÁP VÀ VĂN CAO Im lặng mà bão giông, khoảnh khắc mà trường cửu, tưởng như vô định nhưng đang thấu mọi cõi…” bức ảnh Nguyễn Đình Toán thật đẹp cảm khái.

GIÁO DỤC TINH HOA

Hoàng Kim

đọc lại và suy ngẫm Võ Nguyên Giáp tự trong sâu thẳm. Tôi cũng tưởng sẽ có một khoảng lặng mới quay lại với những bài viết về đại tướng Võ Nguyên Giáp khi tôi đã đăng liên tục mười bài về Người trên DANH NHÂN VIỆT nhưng tự trong sâu thẳm vẫn không thể cưỡng được ý muốn viết tiếp đôi lời. Giáo sư Nguyễn Huệ Chi trong bài “Tướng Giáp, người anh hùng của độc lập Việt Nam, đã qua đời”  đã viết thật thấm thía:Giải tỏa tấn bi kịch vô hình khủng khiếp đè lên con người đó, bỏ qua mọi thứ “công tội” do chính cái chủ nghĩa mà con người đó theo đuổi, trả lại cho con người đó cái giá trị đích thực của một vị tướng đánh trận tài năng, phải nói chính là vòng tay ân nghĩa của nhân dân.“Về nghỉ là thượng sách. Thử điểm lại lịch sử xưa nay có tướng nào giành được chiến công lẫm liệt mà không đi kèm thân bại danh liệt hay không?”.

Phan Chí Thắng  “Nghĩ về nhạc sĩ Văn Cao và bài hát mùa xuân đầu tiên” đã viết: “Văn Cao là một tượng đài của tình yêu Tổ Quốc và lòng cao thượng. Phải nói thẳng là Văn Cao bị vùi dập, đầy đọa. Tác giả Tiến Quân ca bị cấm sáng tác. Không gì cay đắng hơn khi một nghệ sỹ bị cấm sáng tác. Mùa vui chiến thắng huy hoàng, mùa vui bất tận thế mà ông coi là “mùa bình thường”. Nhiều người (lãnh đạo) từng khó chịu việc này. Logic của Văn Cao lại khác . Dân tộc Việt Nam đã đi từ cái Bất thường sang cái Bình thường rồi. Đó mới là điều đáng mừng nhất? Trái tim Văn Cao đủ lớn cho cho Nhẫn, Thiện, Tâm. Nhưng không có chỗ cho sự thù hẳn cá nhân. Ông đặt nỗi đau riêng của mình trong nỗi đau chung của dân tộc. Ông coi tai hoạ của mình chỉ là một phần rất nhỏ trong tai hoạ của nhân dân. Đó mới đúng là Văn Cao. Hiểu ông khác đi, chỉ nhìn thấy phần buồn tủi trong “Mùa Xuân đầu tiên” là chưa hiểu ông, là hạ thấp ông. Trước một toà kiến trúc nguy nga, ta phải lùi ra xa một khoảng cách đủ để thấy hết quy mô tầm cỡ và vẻ đẹp hùng tráng của nó. Ta phải đủ nhỏ bé để thấy ngợp trước ông. Điều đó làm ta thích thú. Và phải đủ tầm cao để hiểu Văn Cao. Điều đó làm ta hạnh phúc.

Ngày Quốc hội Việt Nam truy tặng nhạc sỹ Văn Cao Huân chương Hồ Chí Minh xin trân trọng chép lại bài học giáo dục tinh hoa.

Tài liệu dẫn:

VoNguyenGiapVanCao

Võ Nguyên Giáp và Văn Cao  Im lặng mà bão giông, khoảnh khắc mà trường cửu, tưởng như vô định nhưng đang thấu mọi cõi…” bức ảnh của Nguyễn Đình Toán thật đẹp cảm khái. 

VÕ NGUYÊN GIÁP TỰ TRONG SÂU THẲM

Hoàng Kim

Đọc lại và suy ngẫm. Tôi cũng tưởng sẽ có một khoảng lặng mới quay lại với những bài viết về đại tướng Võ Nguyên Giáp khi tôi đã đăng liên tục mười bài về Người trên DANH NHÂN VIỆT nhưng tự trong sâu thẳm vẫn không thể cưỡng được ý muốn viết tiếp đôi lời. Giáo sư Nguyễn Huệ Chi trong bài viết “Tướng Giáp, người anh hùng của độc lập Việt Nam, đã qua đời”  có những lời thật thấm thía:Giải tỏa tấn bi kịch vô hình khủng khiếp đè lên con người đó, bỏ qua mọi thứ “công tội” do chính cái chủ nghĩa mà con người đó theo đuổi, trả lại cho con người đó cái giá trị đích thực của một vị tướng đánh trận tài năng, phải nói chính là vòng tay ân nghĩa của nhân dân.“Về nghỉ là thượng sách. Thử điểm lại lịch sử xưa nay có tướng nào giành được chiến công lẫm liệt mà không đi kèm thân bại danh liệt hay không?”.

TƯỚNG GIÁP , NGƯỜI ANH HÙNG CỦA ĐỘC LẬP VIỆT NAM , ĐÃ QUA ĐỜI

Jean-Claude Pomonti, Le Monde, số ra ngày 4 tháng mười 2013

Đào Hùng dịch

 

Những tưởng BVN đã khép lại đề tài Võ Nguyên Giáp sau hơn mười ngày liên tục đưa tin kể từ khi vị Đại tướng nằm xuống. Nhưng tự trong sâu thẳm, chủ đề Võ Nguyên Giáp vẫn thôi thúc một sự suy nghĩ có tính chất phản tỉnh về nhiều mặt, ở mọi người trí thức tỉnh táo của thời đại. Công lao thì rõ rồi song cũng đâu đã được soi tỏ hết, vì nhiều luồng thông tin quá phức tạp chồng phủ lên con người ấy kể từ khi ông thất sủng mãi đến khi qua đời. Và trách nhiệm của vị tướng về hậu quả của hai cuộc chiến giành thắng lợi gian nan chật vật suốt 20 năm ròng nhằm bảo đảm cho sự lên ngôi toàn vẹn của một chính thể chuyên chế ngày càng lộ diện hà khắc, dẫn đến tình trạng bi thảm của một nước Việt Nam ngổn ngang đổ vỡ, một dân tộc bị xé nát – cả chính trị kinh tế văn hóa xã hội, cả khủng hoảng phần sống hiện thực lẫn phần sống tâm linh ở mỗi con người – trong hiện tại, chẳng lẽ ông không dự phần?

 

Có những người tỏ ý chế giễu cái đám đông đã lũ lượt kéo đến hầu như dài vô tận để kính viếng hương hồn vị tướng trong suốt những ngày lễ tang ông diễn ra và ngay giờ đây ở khu mộ của ông ở Vũng Chùa ngày ngày vẫn có đến 4, 5000 người khói hương không dứt; họ cho rằng đây là một hiện tượng “lên đồng” chẳng khác gì đám đông người dân Bắc Triều Tiên khóc như mưa như gió trước cái chết của Kim Il Sung. Tôi không tin lắm vào điều này. Ít ra thì có đến hai phần ba những người đến nghiêng mình trước di ảnh hoặc thi hài ông đủ khả năng chiêm ngẫm về cái chết của ông.

 

Không phải vì người Việt Nam không từng bị nhồi sọ đến mê muội một thời gian dài và vẫn còn tiếp tục bị nhồi sọ, nhưng người Việt Nam ra mặt “phù suy” như vừa qua là một sự kiện khó lòng tưởng tượng. Một cuộc biểu tình hiền lành nhưng lại có ý nghĩa thách thức công khai khiến những kẻ nào đó nếu còn chút hiểu biết phải hết sức choáng ngợp. Có thể là cái chết đã góp phần tạo nên một sự “thanh lọc”, mong thế lắm, có giá trị đánh thức những lương thức chưa ngủ hẳn, để giữa hai lớp người ngày càng xa cách nhau trong quan điểm may ra cùng tìm được chút ánh sáng chung phía cuối con đường hầm. Kỳ thực, phải nói ngay, đấy chỉ là huyễn vọng, khi mà nhiều chuyện xảy ra từ đó đến nay hình như lại có chỉ dấu rằng, cái chết làm cho trắng đen càng tách bạch hơn. Cái chết của một người bị chính thành tích chói lọi của mình bắt phải trả giá, bị đẩy xuống thân phận một người nằm trên bờ vực “chính” và “phản” trong gang tấc, thì không thể có giá trị hàn gắn như ở những trường hợp khác, mà chỉ báo hiệu sự phân liệt mạnh mẽ giữa một bên là những quyền lợi phe nhóm ích kỷ không thể sửa chữa và một bên là dân tộc và nhân dân. Giải tỏa tấn bi kịch vô hình khủng khiếp đè lên con người đó, bỏ qua mọi thứ “công tội” do chính cái chủ nghĩa mà con người đó theo đuổi, trả lại cho con người đó cái giá trị đích thực của một vị tướng đánh trận tài năng, phải nói chính là vòng tay ân nghĩa của nhân dân. Người viết mấy dòng này, cũng do cơ duyên dun dủi, đã từng được gián tiếp nghe một lời khuyên vị tướng của chúng ta từ nửa cuối những năm 1970, đại khái: “Về nghỉ là thượng sách. Thử điểm lại lịch sử xưa nay có tướng nào giành được chiến công lẫm liệt mà không đi kèm thân bại danh liệt hay không?”.

 

BVN tuy đã đăng nhiều bài về tướng Giáp nhưng vẫn còn thiếu một vài bài mở thêm cái nhìn từ thế giới bên ngoài soi vào. “Cờ ngoài bài trong” người ngoài cuộc thì thường rõ hơn một số ngóc ngách nào đấy mà người trong cuộc dễ bị khuất lấp. Bài viết đăng dưới đây của Jean-Claude Pomonti phóng viên báo Le Monde tại Đông Nam Á từ năm 1968 đến 1974 và tái xuất hiện tại Việt Nam từ 1987 rồi sau đó còn trở lại nhiều lần ít nhiều có thể bù vào chỗ thiếu khuyết nói trên.”
Nguyễn Huệ Chi
VoNguyenGiap1

Trong lịch sử ông vẫn là một trong những vị chỉ huy chiến trận lớn của thế kỷ XX, người duy nhất đã lần lượt đánh bại Pháp và đương đầu với Hoa Kỳ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã qua đời hôm thứ sáu 4 tháng mười ở tuổi 103.

Sự chiếm lĩnh cứ điểm Pháp ở Điện Biên Phủ tháng năm 1954 và sự sụp đổ của Sài Gòn tháng tư 1975 là những chiến tích của vị chỉ huy tầm cỡ đặc biệt này: uy tín cá nhân, thiên tài hậu cần, chiến thuật gia vô song. Những thắng lợi không thể chối cãi đó, đã khiến tướng Võ Nguyên Giáp trở thành người cuối cùng của một loạt các nhà chiến lược vĩ đại Việt Nam, trải qua bao thế kỷ, đã thành công trong việc chặn đứng con đường xuống phương Nam của Trung Quốc sau khi đuổi chúng ra khỏi đất nước mình. Về phần mình, tướng Giáp đã góp phần vào việc làm thất bại cuộc quay trở lại Việt Nam của Pháp, và trên đà đó, giữa lúc diễn ra chiến tranh lạnh, đã bẻ gãy sự thay thế mà người Mỹ muốn thực hiện.

Sinh ngày 25 tháng tám 1911 ở một làng miền Trung Việt Nam, trong một gia đình nhà nho khiêm tốn, Võ Nguyên Giáp đã trải qua tuổi trẻ trong một môi trường đấu tranh dân tộc: bị lôi thôi với Mật thám Pháp, hai lần ngồi tù năm 1930 và 1932. Ông đỗ tú tài (Pháp) năm 1934, rồi dạy lịch sử và tiếng Pháp ở Hà Nội, trường Thăng Long, lò hun đúc các chiến sĩ chống thực dân. Năm 1937, vào thời kỳ Mặt trận Bình dân, ông tham gia Đảng Cộng sản Việt Nam lúc đó đang ở trong vòng bí mật.
Từ đó, hành trình của ông đã được vạch ra. Tháng năm 1940, cùng với Phạm Văn Đồng, vị thủ tướng tương lai (1954-1986), Võ Nguyên Giáp sang Trung Quốc để lần đầu tiên, gặp Hồ Chí Minh, người sáng lập Đảng Cộng sản năm 1930. Năm 1939, ông kết hôn cùng với một nữ chiến sĩ cùng quê với ông, sinh được một đứa con năm 1940. Ông không bao giờ gặp lại vợ: ít lâu sau khi ông ra đi, bà bị Mật thám Pháp bắt. Bị tra tấn dã man, bà chết trong tù, theo người ta nói, là tự vẫn. Ông Giáp chỉ được tin mấy năm sau.

Say mê Bonaparte
 

Ở trường trung học Thăng Long, vào đêm trước Thế chiến hai, học sinh đã mệnh danh ông là “ông tướng”, hay cụ thể hơn là “Napoléon”. Nếu ông Giáp vẫn học hỏi những kinh nghiệm của các bậc tiền bối, qua bao thế kỷ, đã giáng cho bọn xâm lược Trung Quốc những đòn thảm bại, thì ông cũng nghiên cứu chi tiết các chiến dịch của Bonaparte. Những bậc tiền bối đã dạy cho ông nghệ thuật vận dụng địa hình, dựa lưng vào dãy Trường Sơn, củng cố hậu phương, lôi kéo đối phương vào cạm bẫy.

VoNguyenGiap2

Trong các chiến thuật của Bonaparte, ông Giáp đặc biệt ghi nhớ “yếu tố bất ngờ”. Về Điện Biên Phủ, một nửa thế kỷ sau ông đã kể lại với chúng tôi, “người đứng đầu các cố vấn của chúng tôi chủ trương tấn công nhanh” vào cứ điểm Pháp nằm trên một cánh đồng giáp Lào. Cuộc tấn công ấn định vào ngày 25 tháng một 1954, lúc 17 giờ, tức trước khi đêm xuống ít lâu. Vào phút cuối, tướng Giáp kéo dài thời hạn thêm 24 giờ đồng hồ. Rồi ông “ra lệnh rút quân, kể cả pháo”. “Đấy là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời tổng chỉ huy của tôi”.

Tại sao? Ông đã giải thích “Để tấn công, tôi chờ nghe trên đài phát thanh tướng Navarre tuyên bố rằng làn sóng Việt Minh đã chựng lại…”. Navarre lúc đó là chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương và chính ông ta đã quyết định lập cứ điểm gần biên giới giữa Lào và Việt Nam để thu hút các sư đoàn Việt Minh. “Chựng lại”, ông Giáp mỉm cười nhắc lại. “Và tôi đã hành động ngay!” Ngày 23 tháng ba. Chỉ huy sở của tướng de Castries, chỉ huy cứ điểm, bị chiếm ngày 7 tháng năm, chưa đầy hai tháng sau.

Ông Giáp còn nói về những diễn biến sau đây. Vài tuần trước ngày “tổng tiến công cuối cùng” của Việt Cộng kết thúc bằng cuộc đầu hàng của Sài Gòn ngày 30 tháng tư 1975, hải cảng chiến lược Đà Nẵng ở miền Trung, đã bị quân đội cộng sản bao vây. “Chính quyền Sài Gòn của Nguyễn Văn Thiệu, ra lệnh cho chỉ huy địa phương, tướng Ngô Quang Trưởng phải “tử thủ”. Tôi lệnh cho sư đoàn 312 tấn công Đà Nẵng. Viên chỉ huy trả lời tôi: “Quân địch khá mạnh, tôi xin 7 ngày”. Tôi hỏi: “Tôi cho rằng Ngô Quang Trưởng sẽ rút bằng đường biển. Hắn ta phải mất bao nhiêu lâu?” “Ít ra là ba ngày”, viên chỉ huy 312 trả lời bằng điện báo. “Vậy thì tôi cho anh ba ngày. Lệnh cho các đơn vị hành tiến giữa ban ngày, xuống Quốc lộ 1. Các anh sẽ bị pháo hải quân đối phương oanh kích, nhưng không sao”, ông Giáp nói. “Như vậy, ông nói tiếp, không những cái túi Đà Nẵng bị tiêu diệt mà chúng tôi còn có thêm nhiều sư đoàn dự bị để mở cuộc tấn công cuối cùng vào Sài Gòn”. “Tôi chỉ nói đơn giản: “Tiến vào Sài Gòn!”” Một lần nữa, yếu tố bất ngờ, sự “tập trung quân”, sự “táo bạo”, đó là những gì mà ông Giáp còn ghi lại khi phân tích những chiến dịch của Bonaparte (ông không nói Napoléon đệ nhất, hoàng đế, rõ ràng khía cạnh chính trị không hấp dẫn ông).

Hoàn toàn tin tưởng các phụ tá

 

Chỉ được thành lập vào cuối Thế chiến hai, quân đội Việt Minh thực hiện nhiệm vụ không ngần ngại. Năm 2004, tôi rất ngạc nhiên khi ông Giáp thốt lên: “Cuộc trở về từ đảo Elbe, thật kỳ diệu!”, khi nói về việc quân đội hoàng gia do Louis XVIII điều đến để chặn đường hoàng đế và đáng lẽ phải đối đầu, thì đã gia nhập vào quân của hoàng đế Napoléon. Đối với ông Giáp, đó là một cái nháy mắt về mối quan hệ ông thiết lập với các phụ tá của mình: họ tuân lệnh ông một cách vô điều kiện, họ hoàn toàn tin tưởng ông.

Ông Giáp còn là một thiên tài về hậu cần. Một hôm ông nhắc lại với chúng tôi công thức mà Bonaparte đã sử dụng trong chiến dịch Italia: “Nơi một con dê đi qua lọt, thì một người có thể qua; nơi một người có thể qua, thì một tiểu đoàn có thể qua”. “Ở Điện Biên Phủ, ông nói tiếp, để đem một kilô gạo đến cho binh sĩ đang thiết lập vòng vây, phải tiêu thụ bốn kilô khi vận chuyển. chúng tôi đã dùng 260.000 người mang vác, hơn 20 nghìn chiếc xe đạp, 11.800 chiếc mảng, 400 xe vận tải và 500 con ngựa”. Dưới sự che chở của rừng dày, các bộ phận pháo của Việt Minh được tháo rời để khuân vác lên đồi bao quanh cứ điểm, rồi được lắp ghép lại.

Dù sao, trên lĩnh vực hậu cần, sự thực hiện đáng kinh ngạc nhất, trong những năm 60, là “con đường Hồ Chí Minh”, một hệ thống đường mòn được rừng rậm che phủ chạy từ bắc đến nam, dựa vào đất nam Lào và đông-bắc Campuchia để tránh các thiết bị phòng ngự của quân Mỹ ở miền Nam. Một con đường “đi một chiều”, mà sau này bộ đội Việt Nam nói như vậy. Nhưng người Mỹ không bao giờ chặt đứt được con đường tiếp vận đó – người, đạn dược, khí tài, xe tăng, thiết giáp – dù phải dùng đến thả bom ồ ạt, chất diệt cỏ, thả dù hàng trăm nghìn quả mìn và bẫy chống cá nhân.

Quyền uy của Hồ Chí Minh bị pha loãng
 VoNguyenGiap3

Dù sao, không ai có thể trở thành tiên tri, và ông Giáp phải nếm trải kinh nghiệm chua xót. Hồ Chí Minh, người cha của nền độc lập đã tuyên bố trước đám đông một triệu người dân Hà Nội ngày 2 tháng chín 1945, vẫn phải cơ cấu với những phần tử không khoan nhượng chiếm số đông trong Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ giữa những năm 60, uy quyền của ông bị pha loãng. Ông trở thành một thần tượng không có ảnh hưởng gì lớn nhiều năm trước khi ông mất năm 1969. Tướng Giáp mất chỗ dựa chính của mình.

Giữa Võ Nguyên Giáp và Lê Duẩn, người Tổng Bí thư vĩnh viễn của Đảng Cộng sản, sự lục đục đã xảy ra từ năm 1966, đến mức khi Việt cộng tấn công một số thành phố miền Nam năm 1968 – cuộc tấn công Tết Mậu Thân nổi tiếng – ông Giáp được điều sang Đông Âu. Ông chỉ được gọi về vị trí tổng chỉ huy, với mọi quyền hành trong tay năm 1972, để tổ chức thắng lợi công cuộc bảo vệ miền Bắc, cụ thể là Hà Nội, chống cuộc oanh kích khủng khiếp của Mỹ có pháo đài bay B-52 tham gia.

Thắng lợi năm 1975 đã đưa ông Giáp trở thành mục tiêu, giống như các nhà chiến lược Việt Nam khác, ông được đánh giá là quá xuất sắc và có ảnh hưởng quá lớn để trở thành nguy hiểm. Cụ thể đó là trường hợp của Nguyễn Trãi, nhà nho tinh tế và nhà chỉ huy vĩ đại, đầu thế kỷ XV đã bị lưu đày trong nội địa để không che mờ hình ảnh nhà vua Lê Lợi.

Năm 1976, năm thống nhất chính thức Việt Nam, ông Giáp mất chức chỉ huy quân đội. Bốn năm sau, ông bị rút khỏi Bộ Quốc phòng. Trong Đại hội V Đảng Cộng sản năm 1982, ông không được bầu lại vào Bộ Chính trị. Trước công chúng, ông Giáp không nói gì và tiếp tục dùng lời lẽ công thức cứng nhắc của người cộng sản có kỷ luật. Người ta cho ông ra mắt trong những ngày kỷ niệm chiến thắng và lời nói của ông bị kiểm duyệt. Có khi hàng tháng ông không xuất hiện trước công chúng. Luận điệu tuyên truyền chính thống còn không thừa nhận vai trò quyết định của ông trong chiến thắng năm 1975, và biến đổi một cách tài tình thành sự tháo chạy của quân đội miền Nam.

Khi Lê Đức Thọ – một trong những tiếng nói chủ chốt của hạt nhân cứng rắn trong Đảng Cộng sản và là người đối thoại với Henry Kissinger trong cuộc thương thuyết ở Paris – qua đời năm 1990, ông Giáp có ý định nắm lại Đảng. Nhưng ý đồ của ông, vào thời buổi bức tường Berlin sụp đổ, đã không thành công. Trong một cuộc họp kín của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản, một đại biểu còn giật micro khỏi tay ông, theo lời kể của Phạm Xuân Ẩn (1927-2006). Năm 1996, ông Giáp bị đuổi khỏi Ban Chấp hành Trung ương và 6 tháng sau, mất luôn vị trí Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế.

Trở lại chính trường
 

Rồi thời gian đã làm nên chuyện, một thế hệ lãnh đạo mới vào vị trí, thông tin chuyển tải tự do hơn với sự phát triển theo cấp số nhân của bối cảnh. Ông Giáp vẫn ở đó. Ông được hành động tự do hơn. Vì ông vẫn tỉnh táo, ông tranh thủ để phát biểu kịp thời vào lúc này hay lúc khác. Đấy là trường hợp khi nổ ra tranh cãi năm 2009 về việc khai thác của người Trung Quốc đối với những mỏ lộ thiên bô xít trên cao nguyên phía nam.

Người Pháp, rồi người Xô Viết, đã từ chối không làm, vì sợ gây nên thảm họa môi trường. Ông Giáp đã hai lần viết thư cho Bộ Chính trị để bày tỏ sự phản đối của mình. Ông biết rõ hồ sơ: ông vẫn còn là Bộ trưởng phụ trách kinh tế, khi vào đầu những năm 90, các chuyên gia Xô Viết đến để lập báo cáo. Chiến dịch chống khai thác bô xít đặt chính phủ vào thế phòng vệ và buộc họ phải đưa ra những tham vọng khiêm tốn hơn.

Đạt đến 100 tuổi năm 2011, cơ thể rất yếu, đôi khi phải nhập bệnh viện, trên thực tế ông Giáp không xuất hiện nữa. Thời gian đó, giống như mọi người Việt Nam đã sống một cuộc đời mẫu mực, ngay từ khi còn sống, ông Giáp đã bắt đầu trở thành một thần tượng. Ông đã là thành hoàng. Để không bị tụt hậu, năm 2012 chính phủ phải quyết định lập cho ông một bảo tàng.

Ông Hồ Chí Minh đã có một phản xạ thiên tài. Khi đến gặp ông tháng sáu 1940 ở miền nam Trung Quốc, Võ Nguyên Giáp chỉ mới 29 tuổi và không được đào tạo tí gì về quân sự. Làm sao một nhà cách mạng từng trải – Bác Hồ lúc đó đã 50 tuổi – lại dám phán đoán rằng người chiến sĩ trẻ tuổi đó có cốt cách của một nhà chỉ huy lớn? Ông Hồ đã giao cho ông Giáp việc tổ chức lực lượng tự vệ, rồi thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam. Từ năm 1949, ông đã phong ông Giáp làm Đại tướng, cấp bậc ông giữ cho đến khi qua đời.

J.-C. P.
Dịch giả gửi trực tiếp cho BVN.

NGHĨ VỀ NHẠC SỸ VĂN CAO VÀ BÀI HÁT MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN

Phan Chí Thắng

Hôm nay Quốc hội truy tặng nhạc sỹ Văn Cao Huân chương Hồ Chí Minh. Cái gì của César thì phải trả cho César thôi!

Tiến Quân ca là bài Quốc ca tôi cho là nằm trong số Quốc ca hay nhất trên thế giới.

Tôi từng được nghe kể có lần Văn Cao cùng vài người bạn uống rượu trên quán vỉa hè. Khi ông già gầy gò lững thững bước đi, bà bán hàng hỏi ông này là ông nào. Một người bảo ông này là tác giả bài hát mà khi cất lên đến Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng phải đứng nghiêm!

Nhưng bây giờ tôi muốn viết về bài hát Mùa Xuân đầu tiên của Văn Cao.

Đó là một bài hát đặc biệt. Nó được viết bởi một nhạc sỹ đặc biệt, vào một thời điểm đặc biệt và có một số phận cũng khá đặc biệt.

Văn Cao viết ca khúc Mùa Xuân đầu tiên vào mùa Đông năm 1976, nó bị cấm gần 20 năm, cho đến khi ông đã qua đời mới hết cấm.

Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về
Mùa bình thường mùa vui nay đã về
mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên
Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông
một trưa nắng cho bao tâm hồn.
Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về
Người mẹ nhìn đàn con nay đã về
Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên
Nước mắt trên vai anh, giọt sưởi ấm đôi vai anh
Niềm vui phút giây như đang long lanh.
ôi giờ phút yêu quê hương làm sao trong xuân vui đầu tiên.
ôi giờ phút trong tay anh đầu tiên một cuộc đời êm ấm.
Từ đây người biết quê người
Từ đây người biết thương người
Từ đây người biết yêu người .
Giờ dặt dìu mùa xuân theo én về
Mùa bình thường, mùa vui nay đã về.
Mùa xuân mơ ước ấy xưa có về đâu
với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông
một trưa nắng thôi hôm nay mênh mông.

Rất nhiều người, nếu không muốn nói là tất cả chúng ta, thích bài hát này. Điệu valse sang trọng quý phái, giai điệu dễ hát đến bất ngờ và ca từ đặc biệt giản dị, gần gũi.

Khi vui, lúc buồn ta đều muốn nghe ca khúc này. Nghe một mình. Như để gột sạch tâm hồn nhuộm đầy bụi trần của ta. Vì sao lại thế?

Tôi xin không lặp lại việc phân tích bình luận ca từ như một bài thơ. Nhiều người đã viết rồi.Tôi muốn thấy một Văn Cao như ông từng là Một tượng đài của Tình yêu Tổ Quốc và Lòng Cao thượng.

Phải nói thẳng là Văn Cao bị vùi dập, đầy đọa. Tác giả Tiến Quân ca bị cấm sáng tác. Không gì cay đắng hơn khi một nghệ sỹ bị cấm sáng tác. Tôi nhớ hồi nhỏ thỉnh thoảng thấy có ký hoạ Văn Cao trên báo Văn nghệ, chắc là một cách mà bạn bè giúp để ông có thu nhập.

Vậy thì ông buồn, khổ, hận là lẽ đương nhiên. Ai đó phân tích, tìm thấy những cái đó trong “Mùa Xuân đầu tiên” là không sai. Nhưng Văn Cao là một nhân cách lớn, ông cao hơn hẳn người bình thường rất nhiều. Ông không đau buồn cá nhân, không một chút oán hận.

Ông thấy niềm vui sum họp sau mấy chục năm chia cắt:

Nước mắt trên vai anh, giọt sưởi ấm đôi vai anh
Niềm vui phút giây như đang long lanh.

Trên tất cả là tình yêu quê đất nước:

ôi giờ phút yêu quê hương làm sao trong xuân vui đầu tiên.
ôi giờ phút trong tay anh đầu tiên một cuộc đời êm ấm.

Và linh cảm của người nghệ sỹ thiên tài là nhìn thấy trong tương lai sự bình yên của đời sống con người mới là điều quan trọng nhất:

Mùa bình thường, mùa vui nay đã về
Mùa xuân mơ ước ấy xưa có về đâu
với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông
một trưa nắng thôi hôm nay mênh mông.

Mùa vui chiến thắng huy hoàng, mùa vui bất tận thế mà ông coi là “mùa bình thường”.
Nhiều người (lãnh đạo) từng khó chịu việc này.

Logic của Văn Cao lại khác . Dân tộc Việt Nam đã đi từ cái Bất thường sang cái Bình thường rồi. Đó mới là điều đáng mừng nhất?

Trái tim Văn Cao đủ lớn cho cho Nhẫn, Thiện, Tâm. Nhưng không có chỗ cho sự thù hẳn cá nhân.

Ông đặt nỗi đau riêng của mình trong nỗi đau chung của dân tộc. Ông coi tai hoạ của mình chỉ là một phần rất nhỏ trong tai hoạ của nhân dân.

Đó mới đúng là Văn Cao.
Hiểu ông khác đi, chỉ nhìn thấy phần buồn tủi trong “Mùa Xuân đầu tiên” là chưa hiểu ông, là hạ thấp ông.

Trước một toà kiến trúc nguy nga, ta phải lùi ra xa một khoảng cách đủ để thấy hết quy mô tầm cỡ và vẻ đẹp hùng tráng của nó.

Ta phải đủ nhỏ bé để thấy ngợp trước ông. Điều đó làm ta thích thú.
Và phải đủ tầm cao để hiểu Văn Cao. Điều đó làm ta hạnh phúc.

Video yêu thích

Mùa xuân đầu tiên (Nhạc và lời Văn Cao, trình bày Hồng Nhung)
Mùa xuân đầu tiên (Nhạc và lời: Văn Cao, trình bày Thanh Thúy)
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Advertisements

Giáo dục tinh hoa


ThuyHuxemvangamTHỦY HỬ XEM VÀ NGẪM

Hoàng Kim

Thủy Hử là bộ sách tinh hoa của văn học cổ điển Trung Quốc, đã được xây dựng thành phim Tân Thủy Hử 86 tập, được thuyết minh bởi VTV1, VTV2, VTV3 rất nổi tiếng. Tháng năm này có kỳ nghỉ lễ dài nên tôi xem lại và chép về trang nhà để thỉnh thoảng thưởng thức.

Mao Trạch Đông sinh thời yêu quý mãnh liệt văn học cổ đại Trung Quốc, đặc biệt là Thủy Hử và Tam Quốc Diễn Nghĩa. Ông cũng là người thực hành khá nhuần nhuyễn và vận dụng vào thực tiễn sâu sắc và linh hoạt những điều học và suy ngẫm. Đối với mỗi bộ sách cổ điển nổi tiếng, ông không những thuộc lâu, mà còn có những kiến giải độc đáo. Mao Trạch Đông khi đọc lại Thuỷ Hử, thường vừa nghe, vừa cảm thụ, suy xét và bình luận. Điều này đã làm dấy lên sự kiện “Bình Thủy Hử” năm 1975, tạo nên một chấn động đặc biệt to lớn tại Trung Quốc.

Phim Tân Thủy Hử thực sự hay. Tập 85, tập 1 và tập 86 ẩn chứa nhiều  giá trị triết học nhân văn sâu sắc thật thấm thía, rất nên xem kỹ nhiều lần.Thủy Hử xem và ngẫm, tôi yêu thích nhất nhân vật Yến Thanh Tiểu Ất là người có nhân cách, tài năng và minh triết thật đáng khâm phục. Đời người, ai cũng có những thời khắc và năm tháng quyết định đến vận mệnh và tương lai của mình. Quyết định Yến Thanh là bài học sáng suốt.

Bậc minh triết tỉnh thức an nhiên nhìn tỏ trời xanh và nhắm mắt bình tâm thấu hiểu. Giấc mơ hạnh phúc và đường về đích nằm ngay ở dưới chân mình:

Nhắm mắt lại đi em.
Để thấu hiểu giấc mơ hạnh phúc.
Trời thanh thản xanh
Đêm nồng nàn thở
Ta có nhau trong cuộc đời này …
Ngày mới an lành

Hoàng Kim

Hay-di-ve-phia-mat-troi
Hãy đi về phía mặt trời

Thủy Hử 2011  86 tập, thuyết minh VTV1, VTV2, VTV3
Thủy Hử 2011 tập 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 09, 10
Thủy Hử 2011 tập 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20
Thủy Hử 2011 tập 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30
Thủy Hử 2011 tập 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40
Thủy Hử 2011 tập 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50
Thủy Hử 2011 tập 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60
Thủy Hử 2011 tập 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70
Thủy Hử 2011 tập 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80
Thủy Hử 2011 tập 81, 82, 83, 84, 85, 86,   

TrangTu

9 BÍ QUYẾT TRANG TỬ NHÌN NGƯỜI TUYỆT DIỆU 

Hoàng Kim sưu tầm

  1. Xa cách giúp nhìn ra trung thành
  2. Thân cận giúp nhìn ra giáo dưỡng
  3. Việc phức tạp giúp nhìn ra năng lực
  4. Việc đột xuất giúp nhìn ra mưu trí
  5. Việc gấp gáp giúp nhìn ra tín nghĩa
  6. Tiền bạc giúp nhìn ra nhân nghĩa
  7. Lúc nguy khốn giúp nhìn ra khí tiết
  8. Lúc say rượu giúp nhìn ra phép tắc
  9. Chỗ gặp gỡ tụ hội giúp nhìn ra thái độ làm người

Nam Hoa kinh là cuốn sách triết học nổi tiếng do nhà triết học Trang Tử viết vào thời Chiến Quốc. Trong sách có đoạn: “Lòng người sâu thẳm hơn sông núi, khó biết hơn trời, vì trời còn có hạn kỳ: xuân, hạ, thu, đông, sớm mai, chiều tối, nhưng người thì bề ngoài kín đáo mà tình cảm sâu thẳm khó dò. Thế nên có nhiều kẻ bề ngoài đôn hậu mà ngầm kiêu căng tự mãn; bề ngoài giỏi giang nhưng bản chất bất tài; bề ngoài thận trọng cố chấp mà thấu tình đạt lý; bề ngoài kiên cường nhưng bản chất nhu nhược; bề ngoài hoà hoãn nhưng bản chất hung tàn”. Vậy làm thế nào để nhìn người cho chuẩn xác? Trang Tử trong Nam Hoa kinh đã khái quát 9 bí quyết tuyệt diệu để nhìn người mang  ý nghĩa nhân sinh sâu sắc và có tính ứng dụng rất cao cho đến tận ngày nay.

1. Xa cách giúp nhìn ra trung thành

Khoảng cách là thước đo lòng người, nới rộng khoảng cách sẽ có thể hiểu rõ về nhau hơn. Giữ một chút khoảng cách với ai đó để nhìn xem người ấy có thực sự quan tâm bạn hay không. Nếu tình cảm đủ vững chắc thì khoảng cách và thời gian không bị phai nhạt. Tuy nhiên, loại khảo sát này không được lạm dụng, nếu không cái được chẳng bù nổi cái mất!

2. Thân cận giúp nhìn ra giáo dưỡng

“Ở lâu mới biết lòng người”, hai người thường xuyên ở cùng một chỗ sẽ hiểu rất rõ ưu khuyết điểm cũng như văn hóa giáo dục của nhau. Quan sát cách nói chuyện và hành vi ứng xử của người ấy trong quá trình quen biết lâu dài, nếu luôn lễ độ, quý trọng, yêu thương, có giáo dục và kiến thức văn hóa thì người bạn đó rất đáng kết giao!

3. Việc phức tạp giúp nhìn ra năng lực

Giao việc phức tạp cho người cần đánh giá để xem người ấy có giữ chữ tín và thu xếp công việc gọn gàng thỏa đáng hợp tình hợp lý hay không. Người có năng lực và có khả năng chịu được áp lực, không bị rối loạn hành vi khi phức tạp khó khăn, có phương pháp làm việc thích hợp và đạt kết quả tốt là người rất đáng tin cậy,

4. Việc đột xuất giúp nhìn ra mưu trí

Gặp việc đột xuất sẽ đánh giá được trình độ năng lực của một người về tốc độ phản ứng và khả năng khống chế cảm xúc của người đó. Khi bị bất ngờ mà không rối trí, biết bình tĩnh ứng phó chặt chẽ và hợp lý mưu trí và hiệu quả . Đó là người tài trí thông tuệ..

5. Việc gấp gáp giúp nhìn ra tín nghĩa

Lúc hoạn nạn gấp gáp nhìn phản ứng giúp đỡ có đáp ứng đúng lúc và ổn thoả hay không sẽ hiểu rõ lòng người. Người coi trọng bạn thì khi đột nhiên được bạn cầu trợ bằng mọi cách sẽ nhanh chóng chạy tới. Ngược lại, người xem nhẹ bạn sẽ ậm ừ cho qua chuyện hoặc mượn cớ để thoái thác, thậm chí có người lúc đầu sảng khoái đồng ý nhưng sau lại lần lữa không đến, người như vậy không đáng để kết giao.

6. Tiền bạc giúp nhìn ra nhân nghĩa

Tiền tài là phương pháp trực tiếp để khảo nghiệm phẩm chất năng lực và ý chí của một người, và cũng là khâu dễ xảy ra vấn đề nhất trong quan hệ giữa người với người. Tiền tài tuy là vật ngoài thân nhưng lại là thứ cơ bản để đảm bảo cho cuộc sống yên ổn. Dù bạn thân đến đâu thì tiền bạc cũng phải rõ ràng.Có không ít những mối quan hệ tốt đẹp chỉ vì không minh bạch về tiền bạc mà gây tổn thương không thể hàn gắn.

7. Lúc nguy khốn giúp nhìn ra khí tiết

Đời người có những lúc khó khăn, đừng ngại tâm sự với bạn thân. Người bạn chân chính sẽ kiên nhẫn lắng nghe bạn và thật lòng giúp đỡ chứ không lảng tránh bạn. Đó chính là điều “Trong hoạn nạn mới thấy chân tình”. Người cùng bạn chung hoạn nạn mới là người bạn thực sự cần thiết.

8. Lúc say rượu giúp nhìn ra phép tắc

Dân gian có câu: “Tửu phẩm như nhân phẩm” (Phẩm chất của rượu như phẩm chất của người), “Tửu hậu thổ chân ngôn” (Lúc say mới nói lời thật). Mỗi người khi rượu say có biểu hiện khác nhau, Vì vậy biểu hiện khi say có thể tham khảo để kiểu biết con người, nhưng không hoàn toàn dựa vào “tửu phẩm” mà đánh giá “nhân phẩm” được.

9. Chỗ gặp gỡ tụ hội giúp nhìn ra thái độ làm người

Quan sát cách đối xử của một người khi tiếp xúc với những người có tính cách, chức nghiệp, thân phận khác biệt, có thể thấy được nhân cách và đạo xử thế của họ. Ví dụ, có những người nhìn thấy bậc quyền cao chức trọng thì cúi đầu khom lưng, còn đối với những người có địa vị kém hơn mình thì ngạo mạn khinh thường; Chỉ những người luôn điềm tĩnh, khoan thai, xử lý bình đẳng có lý có tình mới luôn được sự tôn trọng.

Những tinh hoa trí tuệ này mặc dù đã trải qua hàng ngàn năm lịch sử nhưng vẫn còn nguyên giá trị ứng dụng bài học cuộc sống.

Nguồn Bayvoice.net, người dịch Minh Nữ

GIÁO DỤC TINH HOA

Anton Chekhov (1860-1904) nhà văn và tác giả kịch nổi tiếng người Nga, trong di sản 900 tác phẩm của ông có bức thư cảm động mà ông đã gửi người em trai, nêu lên 8 tính cách của người có giáo dục, tóm tắt như sau : 1) Trân trọng con người; 2) Trắc ẩn; 3) Tôn trọng tài sản người khác; 4) Trung thực; 5) Tự trọng; 6) Không phù phiếm; 7) Trân trọng tài năng; 8) Hoàn mỹ (một tâm hồn lành mạnh trong một cơ thể khỏe mạnh).

Tinh hoa giáo dục cổ thương Đông phân loại con người thành người hiền (thiện, quân tử) và người dữ (ác, tiểu nhân). Sự phân loại này đương nhiên thấu hiểu và đã xét kỹ con người hiếm ai đạt mức chí thiện, hoàn hảo, trong tốt có xấu, trong xấu có tốt, và có sự chuyển hóa. Dẫu vậy, phép phân loại con người của triết học cổ phương Đông giản đơn, căn bản là có hai hạng người.

Triết lý Nguyễn Bỉnh Khiêm trích dẫn trong Ngày xuân đọc Trạng Trình có nói rõ quan niệm của cụ Trạng về “chí thiện” và “trung tân”: “Vẹn toàn điều Thiện là Trung, không vẹn toàn điều Thiện thì không phải là Trung. Tân là cái bến, biết chỗ dừng lại là bến chính, không biết chỗ dừng lại là bến mê… Nghĩa chữ Trung chính là ở chỗ Chí Thiện. (Trung Tân quán bi ký, 1543). Làm việc thiện không phải vì công tích mà ở tấm lòng. Nay vừa sau cơn loạn lạc thì chẳng những thân người ta bị chìm đắm, mà tâm người ta càng thêm chìm đắm. Các bậc sĩ đệ nên khuyến khích nhau bằng điều thiện, để làm cho mọi người dấy nên lòng thiện mà tạo nên miền đất tốt lành. (Diên Thọ kiều bi ký, 1568).”

Triết lý Hồ Chí Minh về con người và giáo dục con người trong bài thơ “Nửa đêm” cũng đồng tình với cách phân loại thiện ác: “Ngủ thì ai cũng như lương thiện/ Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền/ Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn / Phần nhiều do giáo dục mà nên” (Nửa đêm, thơ Hồ Chí Minh, Nam Trân dịch), nguyên văn chữ Hán:  Dạ bán. Thụy thì đô tượng thuần lương hán, Tỉnh hậu tài phân thiện, ác nhân; Thiện, ác nguyên lai vô định tính, Đa do giáo dục đích nguyên nhân.”

Bốn điểm khác biệt căn bản giữa người quân tử và kẻ tiểu nhân, tóm tắt là: “3 hổ thẹn” “3 không”, “3 lo” và “3 kính nể sợ”.

“3 hổ thẹn” là thẹn hấp tấp, thẹn kém cỏi, thẹn mù quáng;
“3 không” là không tùy tiện, không tham lợi, không làm ẩu;
“3 lo” là lo chưa nghe thấy, lo chưa học được, lo chưa làm xong;
“3 nể sợ” là sợ mệnh trời, nể người đức cao, nể bậc hiền nhân.

Xin chép để đọc lại.

Tinh hoa giáo dục thật sâu sắc thay !

Hoàng Kim

 

8 TÍNH CÁCH CỦA NGƯỜI CÓ GIÁO DỤC

Nam Nguyễn sưu tầm, bổ sung lời dịch của Đoàn Tử Huyến
Thế nào là người có giáo dục? Nhiều khi “vô học” lại là những kẻ chữ nghĩa đầy mình, cũng như những người nông dân ít học lại vô cùng sáng suốt và tinh tế…Liệu người ngày xưa và ngày nay có hiểu khái niệm “con người có giáo dục” khác nhau không, hãy xem qua câu chuyện cách đây gần một thế kỷ rưỡi này…

Anton Chekhov (1860-1904) –nhà văn và tác giả kịch vĩ đại người Nga – đã để lại 900 tác phẩm đủ các thể loại, nhưng trong cuộc sống ông còn dạy chúng ta nhiều điều hơn trong các tác phẩm của mình. Ông có người em ruột Nicolai là một họa sỹ đầy tài năng, nhưng tiếc thay lại không có bản lĩnh và suốt đời say rượu. Ông rất hiểu, rất thương và buồn cho cách người em coi thường chính khả năng trời phú của mình. Và ông không có cách nào hơn, là viết cho Nicolai một bức thư, mà đến nay chúng ta đọc lại cũng sẽ tìm được cho mình khá nhiều điều bổ ích…

Anton Chekhov và người em Nicolai
“Matxcơva 1886
“Em thường than thở với anh là “Người ta chẳng hiểu em!” Đến Niutơn và Gớt còn chẳng than thở về điều đó…Người ta hiểu em rất rõ! Nếu người khác không hiểu em, thì đó không phải lỗi của mọi người…
Là một người thân và gần gũi với em, anh có thể khẳng định rằng anh rất hiểu và đồng cảm với em… Anh biết tất cả mọi tính tốt của em, như năm ngón tay của bàn tay mình vậy, đánh giá rất cao và kính nể chúng. Nếu để chứng minh rằng anh hiểu và đánh giá cao chúng thì anh thậm chí có thể liệt kê chúng ra đây. Theo anh thì em tốt bụng đến mức quá đà, rất rộng lượng, dễ tính, thương người, thương yêu súc vật, không đểu giả, không thù dai, tin người…Em gặp may hơn rất nhiều người: trời cho em tài năng! Tài năng đặt em lên trên hàng triệu người, vì cứ hai triệu người mới có một họa sỹ tài năng…
Tài năng đặt em vào một vị thế đặc biệt: em có là con cóc hay con nhện độc, thì mọi người vẫn tôn sùng em, vì tài năng được bỏ qua, tha thứ tất cả. Em chỉ có một điểm yếu duy nhất. Nó là nguyên lý sai lầm của em, của nỗi khổ của em, của chứng viêm loét dạ dày của em. Đó chính là tính vô giáo dục đến cực điểm của em! Xin tha lỗi cho anh, nhưng veritas magis amicitiae (chân lý cao hơn tình bạn)…Bởi vì cuộc sống có những điều kiện của nó…Muốn cảm thấy thoải mái trong môi trường trí thức, không trở nên lạc lõng ở đó và không cảm thấy nặng nề thì cần phải được giáo dục một cách căn bản…Tài năng đưa em vào môi trường đó, em thuộc về đẳng cấp đó, thế nhưng…em bị lôi kéo khỏi nó, và em cứ phải tìm cách cân bằng giữa tầng lớp văn minh và những người vis-a-vis (đối nghịch). Dễ thấy ảnh hưởng của thói tiểu tư sản thành thị, rượu chè, bố thí…Thật khó mà vượt qua được điều đó, quả thật rất khó!

Những người có giáo dục cần phải thỏa mãn những điều kiện sau:

  1. Họ trân trọng cá tính con người, vì vậy luôn độ lượng, nhẹ nhàng, lịch thiệp, nhường nhịn… Họ không nổi đóa lên vì một cái búa hay chiếc tẩy bị mất; sống với ai họ chẳng lấy đó là sự làm ơn, còn khi ra đi không nói rằng: tôi không thể sống với cô (anh) được! Họ bỏ qua những chuyện ầm ĩ, lúc lạnh lùng, miếng thịt rán quá lửa, những câu châm chọc, sự có mặt của người lạ trong căn nhà mình…
  2. Họ có lòng trắc ẩn không chỉ với những người ăn mày hay những con mèo. Tâm hồn họ đau đáu cả với những điều mắt thường không trông thấy được…
  3. Họ tôn trọng tài sản của người khác, và vì vậy luôn trả hết các khoản nợ.
  4. Họ trung thực và sợ sự dối trá như sợ lửa. Họ không nói sai cả trong những điều vặt vãnh. Nói dối là xúc phạm người nghe và hạ thấp người nói trong con mắt người nghe. Họ không phô trương, hành xử ở nơi công cộng cũng như ở nhà, không phỉnh phờ lớp người trẻ tuổi… Họ không ba hoa, không giãi bày tâm sự những khi không được hỏi đến. Vì tôn trọng những lỗ tai người khác, họ thường im lặng.
  5. Họ không tự hủy diệt mình với mục địch để gợi dậy nơi kẻ khác sự thương cảm và giúp đỡ. Họ không khơi gợi lòng trắc ẩn của người khác để nhận lại sự cảm thông và chăm sóc. Họ chẳng nói: Người ta không hiểu tôi!…
  6. Họ không phù phiếm. Họ chẳng quan tâm đến những trò hư vinh, như việc quen biết các nhân vật danh tiếng, lời thán phục của đám người gặp ở salon, sự nổi tiếng nơi quán rượu…
  7. Nếu họ có tài năng, thì họ biết trân trọng nó. Vì nó, họ hi sinh thời gian, đàn bà, rượu chè, những việc lăng nhăng…
  8. Họ phát triển nơi mình khả năng thẩm mĩ. Họ không thể mặc nguyên áo quần mà ngủ, không thể nhìn thấy những khe nứt đầy rệp trên tường, hít thở không khí nặng mùi, bước trên sàn nhà toàn vết nhổ, ăn uống ngay từ trên bếp dầu. Họ cố gắng có thể chế ngự và hoàn thiện bản năng tính dục. Những người có giáo dục trong vấn đề này không nặng về bếp núc. Họ cần ở đàn bà không phải chuyện giường chiếu, không phải mồ hôi ngựa, không phải đầu óc thể hiện khả năng gạt gẫm giả vờ có thai và nói dối không biết mệt… Họ, đặc biệt là những họa sĩ, cần sự tươi mới, tao nhã, tính người. Họ không tham lam bạ đâu uống đấy, không đánh hơi các loại tủ, vì họ biết rằng họ không phải là những con heo. Họ chỉ uống những khi rảnh rỗi, gặp dịp… Bởi vì họ cần mens sana in corpore sano (một tâm hồn lành mạnh trong một cơ thể khỏe mạnh).
Để giáo dục bản thân và không đứng thấp hơn môi trường xung quanh…cần phải làm việc cả sáng cả chiều, đọc luôn luôn, lòng hiếu học, lý trí…Từng giờ khắc đều quý…Em hãy đến đây, đập vỡ cái bình rượu vođka ấy đi, nằm xuống và đọc, hãy đọc chẳng hạn Turgeniev, tác giả mà em còn chưa đọc ấy…!”
P.S. Nhà văn Chekhov còn là một bác sỹ tâm lý giỏi, thế nên ông là hình mẫu của việc “nói được-làm được”. Cũng như đa số các nhà văn, nhà thơ kinh điển của Nga (hình như có một “truyền thống” như vậy) ngoài vợ ra ông còn có hàng chục nhân tình và luôn tìm được cách thoát ra khỏi họ mà không quá làm họ tổn thương. Ông cũng rời khỏi cõi đời theo một cách rất “có giáo dục” và phải nói là rất ngoạn mục. Bị lao phổi đã lâu, khi đang nghỉ dưỡng ở Đức, thấy mệt lúc nửa đêm, lần đầu tiên ông cho mời bác sỹ tới khám. Khi bác sỹ tới rồi, ông gọi một chai sâm-panh, rót đầy một cốc, sau đó nói “Tôi chết đây” bằng tiếng Đức và tiếng Nga. Thế rồi ông uống hết cốc rượu, cười bằng nụ cười luôn quyến rũ của mình, chỉ nói thêm “Tôi lâu lắm chưa uống sâm-panh…”, nằm xuống giường và ra đi mãi mãi!
Đọc lại, để tự răn mình…

(Theo: chungta.com)

CoHocTinhHoa

4 ĐIỂM KHÁC BIỆT GIỮA NGƯỜI QUÂN TỬ VÀ KẺ TIỂU NHÂN

Mai Trà biên dịch

Từ xưa đến nay, cổ nhân thường dạy, đối với “kẻ tiểu nhân” thì nên tránh xa và học làm người quân tử. Vậy làm thế nào để biết được đâu là “kẻ tiểu nhân”? Hãy dựa vào 4 điểm khác biệt của họ với “người quân tử” dưới đây.

Thế nào là người quân tử? Miêu tả về phong thái của người quân tử, trong “Luận ngữ”, Khổng Tử viết: “Vọng chi nghiễm nhiên, tức chi dã ôn, thính kỳ ngôn dã lệ.” Ý nói trông xa thấy trang nghiêm, đến gần thấy ôn hòa, nghe lời nói thấy trang trọng nghiêm túc. Về cách làm việc của người quân tử, Mạnh Tử viết, người quân tử gặp người có quyền thế thì không xu nịnh, gặp người mạnh thì không sợ, gặp người yếu hơn mình thì không bắt nạt, tôn kính người lớn tuổi, che chở người nhỏ tuổi. Họ nghiêm túc đứng đắn, khoan dung, bác ái, quang minh và cả đời luôn chú trọng tu dưỡng phẩm chất đạo đức. Còn kẻ tiểu nhân thì hoàn toàn trái ngược lại.

Khái quát lại, nhân cách của người quân tử thể hiện trên 4 điểm: “3 hổ thẹn”, “3 không”, “3 lo” và “3 sợ”. 4 điểm này chính là tiêu chuẩn của người quân tử, đồng thời cũng là 4 điểm khác biệt giữa người quân tử và kẻ tiểu nhân.

1. Người quân tử nói chuyện có “3 hổ thẹn”

Khổng Tử nói: “Thị vu quân tử hữu tam khiên: Ngôn vị cập chi nhi ngôn vị chi táo, ngôn cập chi nhi bất ngôn vị chi ẩn, vị kiến nhan sắc nhi ngôn vị chi cổ”. Ý nói, khi nói chuyện với người quân tử dễ phạm phải 3 khuyết điểm: Chưa đến lượt nói mà đã nói là “nôn nóng, hấp tấp”. Đến lúc nói mà lại không nói là “che giấu, lấp liếm”. Chưa nhìn thấy sắc mặt người nghe mà đã nói, là “mù quáng”.

Người chưa đến lượt đã nói là biểu hiện của người nóng vội, nóng lòng muốn thể hiện mình, sợ bị người khác xem thường, hoàn toàn là biểu hiện của người nông cạn và xốc nổi. Ngoài ra, hành vi này cũng rất thất lễ, nói lên rằng người này không được giáo dưỡng.

Đến lượt nói mà lại không nói là một biểu hiện khác của cực đoan, không chỉ là hành vi thất lễ mà trong lòng còn nhất định có chỗ che giấu, cho nên dối trá. Có một số người không nói là do ngượng ngùng, e ngại, điều này cũng không nên bởi vì người quân tử là quang minh chính đại. Nếu là điều quang minh, chân chính thì có gì là không dám nói?

Nghiêm trọng nhất là chưa nhìn thấy sắc mặt người nghe đã nói. Có những điều liên quan đến việc riêng tư của người khác, chạm vào nỗi đau của người khác, phạm vào điều kiêng kỵ của người khác mà lại không để ý cứ tùy tiện nói ra. Điều này không chỉ là thất lễ, nông cạn, không có giáo dưỡng mà còn có quan hệ trực tiếp đến vấn đề phẩm cách. Bởi vì người không để ý nét mặt người khác mà tùy tiện nói là người chỉ để ý đến sự sảng khoái vui vẻ của bản thân mình, không để ý đến cảm nhận của người khác, làm tổn thương người khác. Đương nhiên cũng có người là do tính cách ngay thẳng, bộc trực mà hành xử như vậy. Nhưng xúc phạm người khác là vô tâm và cách ngay thẳng như vậy cũng không phải là hành vi của người quân tử.

2. Người quân tử làm việc có “3 không”

“Quân tử bất vọng động, động tất hữu đạo”. Người quân tử không hành động mù quáng, làm bừa. Họ làm gì cũng đều có đạo lý. Người quân tử chân chính đối với bản thân vô cùng nghiêm khắc, đây là một loại “tự giới luật” bản thân. “Không làm xằng làm bậy” chính là không tùy tiện, trong tâm họ luôn có nguyên tắc và đường giới hạn của mình. Đây được gọi là phẩm đức, phẩm đức này cũng chính là đạo trong lòng người quân tử. Kẻ tiểu nhân tính toán cái gì, làm cái gì cũng tùy tiện, không bao giờ biết đến phẩm đức và nguyên tắc, giới hạn.

“Quân tử bất cẩu cầu, cầu tất hữu nghĩa”. Người quân tử không mưu cầu tùy tiện, mưu cầu điều gì cũng đều nghĩa. Người quân tử biết biết rõ về nghĩa, kẻ tiểu nhân hiểu rõ về lợi. Người quân tử coi trọng tiền tài của cải nhưng nhận phải đúng đạo lý. Người quân tử làm việc gì thì đầu tiên cũng cân nhắc đến đạo nghĩa. Điều hợp với đạo nghĩa, có thể nhận thì sẽ nhận, còn không hợp đạo nghĩa thì không liếc mắt nhìn qua. Điều này cũng là thể hiện của tấm lòng độ lượng, phóng khoáng, thứ không phải của mình thì nhất định không truy cầu. Vì thế mà trong tâm người quân tử luôn rộng rãi, khoáng đạt, quang minh lỗi lạc. Kẻ tiểu nhân coi trọng lợi ích, của cải tiền bạc, chỉ cần có thể đạt được lợi ích họ sẵn sàng đổi tất cả.

“Quân tử bất hư hành, hành tất hữu chính”. Mỗi lời nói, cử động của người quân tử đều sẽ không tùy tiện, phàm là làm việc gì cũng đặt mình vào hoàn cảnh người khác để cân nhắc 3 điều: Việc này có chính đáng không? Có tổn hại đến lợi ích của người khác không? Có xúc phạm đến người khác không? Nghĩ thông suốt 3 điều này, họ mới bắt đầu làm.

3. Người quân tử tu thân có “3 lo”

Trong “Lễ ký” viết: “Quân tử hữu tam hoạn: Vị chi văn, hoạn phất đắc văn dã; ký văn chi, hoạn phất đắc học dã; ký học chi, hoạn phất năng hành dã.” Ý nói, người quân tử có “3 lo lắng”: Những kiến thức và đạo lý mà bản thân chưa được nghe qua, thì lo lắng không thể nghe thấy. Đã nghe thấy rồi thì lo lắng không thể học được. Đã học được rồi lại lo lắng không thể làm được.

“Không nghe thấy, không học được, không làm được” là “3 lo lắng” của người quân tử. Người quân tử luôn lo lắng trong lòng rằng, còn bao nhiêu đạo lý mà mình chưa nghe thấy, chưa học được và làm được. Vì vậy, khi được người khác khen ngợi, họ vẫn thấy hổ thẹn và khiêm tốn, đây thực sự là thành tâm phát ra chứ không phải họ cố tình tạo ra. Cũng chính bởi vậy nên họ mới luôn mong muốn tu dưỡng hơn nữa. Kẻ tiểu nhân thì hoàn toàn ngược lại.

4. Người quân tử lập đức có “3 sợ”

Trong “luận ngữ”, Khổng Tử viết: “Quân tử hữu tam úy: Úy thiên mệnh, úy đại nhân, úy thánh nhân chi ngôn.” Ý nói rằng, người quân tử kính sợ luật lệ của trời đất, kính nể lời nói của người đức cao vọng trọng và bậc thánh nhân. Đằng sau sự “kính nể, sợ” này là tâm thái khiêm tốn, nhún nhường.

Người quân tử luôn cố gắng hành theo chuẩn tắc của trời đất, noi theo và học tập nhân cách của người đức cao vọng trọng, bậc thánh nhân. Chính vì biết “kính sợ” nên người quân tử luôn cố gắng tu dưỡng và phát triển bản thân để đạt đến cảnh giới cao hơn.

Nói về kẻ tiểu nhân, Khổng Tử viết: “Tiểu nhân bất tri thiên mệnh nhi bất úy dã, hiệp đại nhân, vũ thánh nhân chi ngôn.” Tiểu nhân không biết mệnh trời nên không sợ, khinh mạn bậc đại nhân, coi thường lời nói của thánh nhân. Kẻ tiểu nhân mặc dù tri thức hạn hẹp nhưng lại cho mình là tài giỏi hơn người, chỉ trích lời nói của bậc thánh hiền.

Người xưa dạy: Trong cuộc sống, phải học được “rời xa” tiểu nhân, tận lực làm người quân tử.

(Theo Secretchina / ĐKN)

Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video nhạc tuyển
Mưa Xuân : Nguyễn Bính, Huy Thục, Tân Nhàn
Mưa Xuân : Nguyễn Bính, Huy Thục, Anh Thơ
Mưa Xuân : Nguyễn Bính, Trịnh Thu Hương 
Thương nhớ đồng quê
Lãng du trong văn hoá Việt Nam
Việt Nam quê hương tôi
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam Phúc Hậu Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực Dạy và Học Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter