Nhớ Đặng Dung đêm thanh mài kiếm


ac59d-ramxuan
Đọc thơ “Cảm hoài” của Đặng Dung mà ứa nước mắt: “Việc đời bối rối tuổi già vay,Trời đất vô cùng một cuộc say. Bần tiện gặp thời lên cũng dễ, Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay. Vai khiêng trái đất mong phò chúa, Giáp gột sông trời khó vạch mây. Thù trả chưa xong đầu đã bạc, Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày“. (bản dịch của Phan Kế Bính). Nguyên tác: Cảm hoài. Thế sự du du [2] nại lão hà? Vô cùng thiên địa nhập hàm ca[3]. Thời lai đồ điếu[4] thành công dị, Vận khứ anh hùng ẩm hận đa. Trí chủ[5] hữu hoài phù địa trục[6], Tẩy binh[7] vô lộ vãn thiên hà. Quốc thù vị báo[8] đầu tiên bạch, Kỷ độ Long Tuyền[9] đới nguyệt ma.

Sau trận Bô Cô quân Hậu Trần thắng lớn quân Minh tại vùng đất Nam Định ngày nay, vua Giản Định do ghen ghét hiền tài đã giết chết Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân.[9] .Hai con của hai ông là Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị vì bất bình vua kém đức tài, giết oan cha mình nên  bỏ đi lập Trần Quý Khoáng làm vua, tức vua Trần Trùng Quang Đế.[9] . Nhà Hậu Trần vì sự chia rẽ mà tự suy yếu, nước Nam kết cục bị nhà Minh đô hộ.

Thật thương người anh hùng lỡ bước cuối đời phải rời bỏ chốn cũ, đem quân giúp vua Trùng Quang Đế dựng lại nghiệp nhà Hậu Trần khi lòng người ly tán, quân binh ít ỏi, lương thực thiếu thốn. Bậc danh sĩ tinh hoa dẫu không gặp thời và tuổi già nhưng chí vẫn kiên cường. “Mười năm Trang lòng, trang thơ Nhớ tráng sĩ Đặng Dung đêm thanh mài kiếm. Ôi câu thơ năm nào giữa lòng Thầy xao xuyến. Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay. Lời của Thầy theo mãi bước em đi. Hoàng Kim.

Đêm cuối năm đọc lại Trận thắng Bô Cô trong sử Việt, Đặng Dung đêm thanh mài kiếm.

Trận thắng Bô Cô trong sử Việt

Trận Bô Cô diễn ra vào ngày 30 tháng 12 năm 1408 (tức ngày 14 tháng 12 năm Mậu Tý) tại bến Bô Cô, thuộc tỉnh Nam Định ngày nay. Đây là trận đánh lớn nhất trong cuộc chiến giữa nhà Minh và nhà Hậu Trần. Quân Minh do Chinh Di tướng quân Mộc Thạnh chỉ huy đã bị quân nhà Hậu Trần đánh bại.

Nhà Hồ đến giữa năm 1407 bị quân Minh đánh bại. Nước Đại Ngu bị diệt và bị quân Minh chiếm đóng. Minh Thành Tổ, tuy ban đầu dùng danh nghĩa giúp nhà Trần chống nhà Hồ nhưng khi chiếm được Đại Ngu, lại hạ lệnh lùng bắt con cháu họ Trần và biến Đại Ngu thành quận Giao Chỉ nội thuộc Trung Quốc. Sự đô hộ tàn bạo của nhà Minh đã dẫn đến việc nhân dân Đại Việt nổi dậy mong muốn giành lại độc lập, hàng loạt các cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ nổi ra trên phạm vi cả nước.[3]

Minh Thành Tổ là người được sử Trung Quốc coi là vị Hoàng đế kiệt xuất nhất của triều đại nhà Minh, và là một trong các Hoàng đế kiệt xuất nhất trong lịch sử của Trung Quốc khiến Đại Minh phát triển đến đỉnh cao về quyền lực, cũng là kẻ tham vọng, nham hiểm, mất nhân tính, như lời mắng của Nguyễn Du sau này viết sử thơ bình giải  trong Bắc Hành tạp lục và vua Càn Long nể trọng, ngự bút ngợi khen.  Minh Thành Tổ đã lật đổ cháu trai Huệ Đế trong một cuộc nội chiến tương tàn, vốn bất lợi cho ông vào thời gian đầu. Ông đã đem quân từ Bắc Bình (Bắc Kinh) đánh xuống thủ đô Nam Kinh để giành ngai vàng với cháu ruột vào năm 1402 và bắt đầu triều đại Vĩnh Lạc Đế của mình bằng cách hợp pháp hóa việc lên ngôi với việc xóa bỏ toàn bộ thời gian trị vì của người cháu và thiêu hủy, sửa đổi tất cả các tài liệu có liên quan đến tuổi thơ và cuộc nổi loạn của mình. Ông nối tiếp chính sách tập trung của cha là Chu Nguyên Chương, ban thẩm quyền đặc biệt ngoài vòng pháp luật, sự thao túng bí mật cho lũ hoạn quan nội chính, thanh trừng khốc liệt, ra tay tàn độc, triệt hạ thẳng tay vô số quan viên ở Nam Kinh.

Minh Thành Tổ nhằm biến Đại Ngu thành quận Giao Chỉ nội thuộc Trung Quốc, đã chỉ đạo xóa sạch lịch sử văn hóa Việt, triệt để đồng hóa với lịch sử văn hóa Tàu, gây chia rẽ và  kích động sự quấy phá của Chiêm Thành, ngăn cản sự Nam tiến của nhà Trần, nhà Hồ, thiết lập sự đô hộ tàn bạo của nhà Minh sau khi cướp nước Đại Việt.[3]

Tháng 11 năm 1407, Trần Triệu Cơ tôn tông thất nhà Trần cũ là Trần Ngỗi lên làm vua, lập lại nhà Trần tại Yên Mô (Ninh Bình), dấy binh chống lại quân Minh.  Nhà Hậu Trần thời gian đầu yếu thế và bị mãnh tướng Trương Phụ nhà Minh đánh bại, quân Hậu Trần phải rút vào Hóa châu. Ngay lúc đó, chiến tranh giữa nước Minh và các bộ tộc Bắc Nguyên lại bùng phát dữ dội. Trương Phụ và Mộc Thạnh bị triệu hồi phải vội vã rút về Đông Quan (Hà Nội) và mang đại quân rút gấp về nước, giao quyền đánh dẹp lại cho các tướng Hán khác và bọn hàng tướng người Việt.

Nhà Hậu Trần nắm bắt thời cơ đã mở đợt tấn công mới đánh chiếm Nghệ An, sau đó đến cuối năm 1408 thì làm chủ toàn bộ vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Diễn Châu, Tân Bình, Thuận Hóa. Theo lệnh của Giản Định Đế, Đặng Tất mang toàn quân tấn công ra bắc. Khi quân Hậu Trần đến Tràng An thì rất đông hào kiệt ra hưởng ứng. Sử Việt  không ghi rõ số quân nhà Hậu Trần, chỉ ghi khi quân Hậu Trần gồm 5 trấn từ Thanh Hóa đến Thuận Hóa và khi ra đến Tràng An thì số người theo rất đông[2].

Về lực lượng quân Minh, sử Trung Quốc ghi nhận gồm đạo quân viện binh của Chinh Di tướng quân Mộc Thanh và Thượng thư Bộ Binh Lưu Tuấn là 4 vạn; còn quân của Đô ty Lã Nghị ở Giao Chỉ là 2 vạn [1]. Sử Việt ghi chép khác nhau về lực lượng quân Minh Đại Việt sử ký toàn thư cho rằng quân Minh có ít nhất 10 vạn người, trong đó đạo viện binh của Mộc Thạnh là 5 vạn[2]Khâm định Việt sử thông giám cương mục ghi viện binh của Mộc Thạnh là 4 vạn[4], còn Việt sử tiêu án không ghi rõ số quân Minh,

Đạo quân viện binh của Mộc Thạnh từ Vân Nam kéo sang đã hợp với quân của Lã Nghị chia ra hai cánh thủy và bộ và tiến đến Bô Cô. Quân Hậu Trần dưới quyền chỉ huy của Quốc công Đặng Tất, có vua Giản Định cùng thân chinh, “quân ngũ chỉnh tề”[5] “quân dung nghiêm chỉnh”[2], cũng chia ra hai cánh thủy và bộ tiến từ Tràng An đến Bô Cô và chạm trán quân Minh và cầm cự với nhau[4].

Vua Giản Định và Quốc công Đặng Tất nhân lúc gió to và nước triều thổi mạnh, lệnh cho quân sĩ đóng cọc để giữ và đắp lũy hai bên bờ. Mộc Thạnh chia quân thủy bộ để chống lại hai cánh quân Hậu Trần[5]. Hai bên giáp chiến ác liệt, vua Giản Định tự mình cầm dùi đánh trống khích lệ tướng sĩ, thúc các cánh quân hậu Trần xông vào trận[4][5]. Hai bên giao chiến từ giờ Tỵ (khoảng 11 giờ) đến giờ Thân (16 giờ)[2]. Sử Việt ghi nhận quân Hậu Trần chém được Binh bộ thượng thư Lưu Tuấn, Đô ty Lã Nghị[2][4] và Tham chính ty Bố Chính Giao Chỉ là Lưu Dục[5]. Sử Trung Quốc cho rằng Lưu Tuấn không phải tử trận mà đã thắt cổ tự vẫn trong lúc bị vây hãm[6]. Quân Minh đại bại, Mộc Thạnh dẫn tàn quân chạy vội vào thành Cổ Lộng gần đó[2].

Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 9 ghi thiệt hại của quân Minh là 10 vạn người[2], nhưng các sử gia hiện đại căn cứ theo số quân Minh cũ và mới chỉ có khoảng 6 vạn nên cho rằng con số của Toàn thư mang tính khuếch trương[7]. Các sách Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, quyển VIIViệt sử tiêu án không ghi rõ thiệt hại của quân Minh. Đại Việt sử ký tiền biên của Ngô Thì Sĩ ( Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, 2011), cho rằng có trên 10 vạn quân Minh tham chiến,  gần như toàn bộ bị giết và tan vỡ chạy[8]. Không có tài liệu nào nói về thiệt hại của quân Hậu Trần.

Trận Bô Cô là trận thắng lớn nhất của quân Hậu Trần. Một bộ phận lớn quân Minh đồn trú và viện binh sang Giao Chỉ đã bị tiêu diệt[7]. Trước thời cơ lớn, vua Giản Định muốn nhân đà thắng lợi đánh ngay vào lấy Đông Quan, nhưng Đặng Tất lại chủ trương đánh xong số quân địch còn sót lại rồi mới tiến. Vua tôi bất hòa chưa quyết định được thì viện binh quân Minh ở Đông Quan đã kịp tiếp ứng cho Mộc Thạnh chạy về cố thủ Đông Quan. Đặng Tất chia quân vây thành và gửi hịch đi các lộ kêu gọi hưởng ứng đánh quân Minh[2]

Vua Giản Định do bất đồng về sách lược đã không bằng lòng với Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân, sau lại nghe lời gièm pha, và sợ uy tín của hai người quá cao, nên tháng 3 năm 1409, vua Giản Định đã giết chết Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân.[9] Hai con của hai ông là Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị bất bình vì cha bị giết oan, bỏ đi lập Trần Quý Khoáng làm vua, tức là  vua Trần Trùng Quang Đế.[9]. Nhà Hậu Trần vì chia rẽ và tự suy yếu, đã không tận dụng được trận thắng lớn và đi vào suy vong.

Đặng Dung đêm thanh mài kiếm

Trùng Quang Đế là vua thứ hai của triều Hậu Trần trong lịch sử Việt Nam, tên huý là Trần Quý Khoáng hay Trần Quý Khoách[1] , sinh tại kinh đô Thăng Long, Hà Nội, Việt Nam. Thời gian ở ngôi của Trùng Quang Đế là thời kỳ chống sự đô hộ của nhà Minh sau khi nước Đại Ngu của nhà Hồ bị xâm chiếm.

Trùng Quang Đế là con của Trang Định vương Trần Ngạc, cháu nội vua Trần Nghệ Tông. Khi vua Giản Định Đế (Trần Ngỗi) nghe lời gièm pha giết chết hai tướng dưới trướng là Đặng TấtNguyễn Cảnh Chân, ông được Đặng Dung (con của Đặng Tất) và Nguyễn Cảnh Dị (con của Nguyễn Cảnh Chân) đưa lên làm vua thay thế cho Giản Định Đế. Tuy nhiên Giản Định Đế vẫn được ông tôn lên làm thượng hoàng.

Trần Quý Khoáng lên ngôi ngày 17 tháng 3 năm Kỷ Sửu (1409), phong Nguyễn Suý làm thái phó, sai đem quân đón Giản Định Đế để tránh sự phân tán lực lượng. Quân của Trần Giản Định là Hành khiển Lê Triệt và Lê Nguyên Đỉnh dấy quân chống lại xong bại lộ, bị giết. Ngày 20 tháng 4, Giản Định bị dẫn về Nghệ An, Trùng Quang khiêm nhường mặc thường phục xuống thuyền đón rước, tôn Giản Định làm thái thượng hoàng.

Tháng 7 năm 1409, vua Trùng Quang cùng thượng hoàng chia quân hai đường đánh quân Minh. Thượng hoàng Trần Ngỗi đóng ở Hạ Hồng (Ninh Giang, Hải Dương), Trùng Quang đế đóng ở Bình Than. Quân Minh cố thủ không dám ra đánh. Tướng Minh là Trương Phụ đem quân cứu viện, thượng hoàng thấy liền rời thuyền chạy lên trấn Thiên Quan, Trần Quý Khoáng nghi ngờ thượng hoàng có lòng khác, liền sai người đuổi theo. Nguyễn Súy đuổi theo không kịp, nhưng Trương Phụ lại bắt được thượng hoàng Trần Ngỗi, giải về Kim Lăng giết chết.

Tổng binh Trương Phụ là một tướng giỏi của nhà Minh vốn đã muốn cướp nước Đại Việt lâu dài nên năm 1410 đã sai quân mở đồn điền ở  Tuyên Quang, Thái Nguyên, Tam Giang tạo lương thực cho quân, lại cấp ruộng đất cho các thổ quan đầu hàng để họ thu tô thay cho bổng lộc, cấp ruộng đất cho quân đội để cày cấy lấy lương thực, lại  cấp bằng ghi công trạng cho các thổ quan đi đánh dẹp quân khởi nghĩa người Việt. Vì vậy có một bộ phận người Việt là thổ quan, hàng tướng phản bội, cùng với những kẻ nhát gan đã từng tiếp tay cho địch diệt nhà Hồ, nay lại tiếp tay cho giặc đàn áp cuộc khởi nghĩa của Trùng Quang Đế, khiến cuộc khởi nghĩa gặp trăm ngàn khó khăn, nhưng vua tôi Trùng Quang vẫn dũng cảm chiến đấu.

Tháng năm năm 1410, Trùng Quang Đế và Nguyễn Cảnh Dị đánh thắng quân của Đô đốc Giang Hạo nhà Minh ở La Châu, Hạ Hồng, thừa thắng truy kích đến bến Bình Than, đốt phá thuyền trại của giặc.

Tháng bảy năm 1411, Trùng Quang Đế và Nguyễn Súy chia quân đánh các cửa biển, bắt nhóm thổ quan theo giặc và Nguyễn Chính ở Bài Lâm, chém bêu đầu cảnh cáo.

Tháng sáu năm 1412, Trương Phụ, Mộc Thạnh đem quân đánh Nghệ An gặp quân của Nguyễn Suý, Nguyễn Cảnh Dị, Đặng Dung ở Mô Độ ở vùng Ninh Bình, Nam Định. Thế giạc quá lớn, Nguyễn Suý, Nguyễn Cảnh Dị rồi Hồ Bối đều bỏ chạy, Đặng Dung phải dùng thuyền nhẹ rút lui ra biển, các thành tại Thanh Hoá, Diễn Châu, Nghệ An bị chiếm.

Cùng lúc đó, Nông Văn Lịch ở Lạng Sơn cầm đầu quân khởi nghĩa “áo đỏ” chặn đường giao thông, giết chết được Tham chính người Việt là Mạc Thuý[2] của giặc và tiêu diệt được khá nhiều quân giặc. Nguyễn Liễu ở Lý Nhân chiêu tập người các huyện Lục Na, Vũ Lễ đánh quân Minh trong mấy năm nhưng do thiếu sự liên kết với vua nên các thế lực này dần tan vỡ.

Tháng ba năm 1413 Trùng Quang Đế sau khi bị dồn về phía Nam, lại quay trở lại Nghệ An với một lực lượng đã suy yếu nhiều, nhưng vẫn nuôi chí phục hồi thế trận. Trương Phụ lại kéo binh vào đánh Nghệ An, vua phải rút về Châu Hóa, sai Nguyễn Biểu làm sứ giả đến Nghệ An gặp Trương Phụ. Nguyễn Biểu bị Trương Phụ dọn cổ đầu người hăm dọa, ông điềm nhiên ăn và nói rằng: “Mấy thuở được ăn thịt người phương Bắc (người Tàu)!”, nói đoạn, lấy đũa khoét đôi mắt, chấm muối ăn. Vừa ăn, vừa ngâm bài thơ Cỗ đầu người khiến Trương Phụ bất giác kính phục, toan tha cho ông về.

Cỗ Đầu Người
Ngọc thiện trân tu đã đủ mùi
Gia hào thêm có cỗ đầu người
Nem cuông chả phượng còn thua béo
Thịt gụ gan lân cũng kém tươi
Ca lối lộc minh so cũng một
Đọ bề vàng sắt bội hơn mười
Kia kìa ngon ngọt tày vai lợn
Tráng sĩ như Phàn tiếng để đời

Hàng tướng Phan Liêu nói với Trương Phụ “Năng sảm nhân đầu, năng sảm Phụ” (ăn cỗ đầu người, ăn được Phụ) nói là lời Nguyễn Biểu. Trương Phụ giận lắm, đưa câu ấy bắt Nguyễn Biểu đối, nếu đối được mới cho về, không đối được thì chém. Nguyễn  Biểu ung dung đối lại rằng: “Hựu tồn ngô thiệt, hựu tồn Trần” (còn ba tấc lưỡi, còn nhà Trần). Trương Phụ giận lắm, đổi ý không tha nữa, lại sai cắt lưỡi của ông:

– Thử xem cắt lưỡi nó đi, nhà Trần có còn được nữa hay không ??? 

Kế đó, Phụ sai trói ông vào chân cầu, để cho nước thủy triều lên cao dìm chết. Tương truyền ở dưới chân cầu ông dùng móng tay vạch vào thân cầu tám chữ: “Thất nguyệt, thập nhất nhật Nguyễn Biểu tử” (Nguyễn Biểu tử tiết ngày 11 tháng 7).

Nhân dân miền Nghệ An – Hà Tĩnh lập miếu thờ, suy tôn ông là Nghĩa vương. Các triều đại sau cũng đều truy phong ông làm Phúc thần. Hiện nay tại xã Yên Hồ, huyện Đức Thọ có đền thờ Nguyễn Biểu được xây dựng vào thời nhà Lê để tưởng nhớ công lao của ông.

Năm 1941, tác giả Hoàng Xuân Hãn đã công bố trong Khai trí tiến đức, tập san số 2 và 3, mấy bài thơ Nôm đời Hậu-Trần được gom trong Nghĩa sĩ truyện: một bài của vua Trùng Quang (1409-1413) tặng Nguyễn Biểu khi lĩnh mạng đi sứ, bài họa lại và sau đó là bài thơ bữa tiệc “đầu người” của Nguyễn Biểu khi bị giặc làm áp lực, bài tế Nguyễn Biểu của vua Trùng Quang và bài tụng chí khí của Nguyễn Biểu do sư chùa Yên Quốc làm ra.

Vua Trần Trùng Quang làm bài thơ Tiễn Nguyễn Biểu đi sứ

Mấy vần thơ cũ ngợi hoàng hoa
Trịnh trọng rầy nhân dựng khúc ca
Chiếu phượng mười hàng tơ cặn kẽ
Vó câu ngàn dặm tuyết xông pha
Tang bồng đã bấm lòng khi trẻ
Khương quế thêm cay tính tuổi già
Việc nước một mai công ngõ vẹn
Gác lân danh tiếng dọi lầu xa

Bài họa của Nguyễn Biểu:
Tiếng ngọc từ vâng trước bệ hoa
Ngóng tai đồng vọng thuở thi ca
Đường mây vó ký lần lần trải
Ải tuyết cờ mao thức thức pha
Há một cung tên lồng chí trẻ
Bội mười vàng sắt đúc gan già
Hổ mình vả thiếu tài chuyên đối
Dịch lội ba ngàn dám ngại xa

Trương Phụ được Việt gian Phan Liêu[3] chỉ điểm cho biết nơi quân Hậu Trần ẩn náu liền đem quân vào châu Hoá, song vấp phải sự phản kháng quyết liệt của các tướng nhà Trần. Nguyễn Súy dàn trận tại kênh Thái Đà, đánh nhau ác liệt, Đặng Dung dùng voi đánh úp dinh của Phụ, định nhảy lên thuyền Phụ bắt sống mà không nhận được mặt, Phụ nhảy lên thuyền nhỏ trốn mất, quân Minh tan vỡ quá nửa, thuyền chiến vũ khí bị đốt phá gần hết. Thế nhưng do quân ít và thế lực suy giảm nên sau này cả Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị đều bị quân Minh bắt, Nguyễn Cảnh Dị mắng Phụ và bị giết.

Trùng Quang Đế chạy sang nước Lão Qua, sau đó bị người của Phụ bắt. Các tướng hậu Trần cũng lần lượt bị bắt. Trùng Quang Đế đã nhảy xuống sông Lam tự vẫn. Lăng mộ hiện tại ở xã Đức Thịnh, xã Hưng Lộc thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Ông là vị vua duy nhất trong lịch sử Việt Nam chọn cái chết oanh liệt khi chống ngoại xâm thất bại. Cái chết của ông để người Minh thấy rằng dù chiếm được nước Đại Ngu nhưng họ không thể nào khuất phục được người Việt. Các bầy tôi của ông là Đặng Dung, Nguyễn Súy đều tự vẫn chết vì nước.

Bài thơ “Cảm hoài” của Đặng Dung đêm thanh mài kiếm “Việc đời bối rối tuổi già vay,Trời đất vô cùng một cuộc say. Bần tiện gặp thời lên cũng dễ, Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay. Vai khiêng trái đất mong phò chúa, Giáp gột sông trời khó vạch mây. Thù trả chưa xong đầu đã bạc, Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày (bản dịch của Phan Kế Bính). Nguyên tác: Cảm hoài. Thế sự du du [2] nại lão hà? Vô cùng thiên địa nhập hàm ca[3]. Thời lai đồ điếu[4] thành công dị, Vận khứ anh hùng ẩm hận đa. Trí chủ[5] hữu hoài phù địa trục[6], Tẩy binh[7] vô lộ vãn thiên hà. Quốc thù vị báo[8] đầu tiên bạch, Kỷ độ Long Tuyền[9] đới nguyệt ma.

Đêm cuối năm, chuyện cũ chép lại.

Hoàng Kim

Bài viết mới trên Tình yêu cuộc sống

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook