Sông Mekong tài liệu tổng hợp


SongMekong
CNM365
. Đập trên sông Mekong
(ảnh Hoàng Đăng, đồ họa Michael Buckley). Hồi sinh sông Danube – bài học lịch sử cho dòng Mekong, tác giả Vũ Hoàng, ngày 19 tháng 3 năm 2016, nguồn vnexpress.net là cập nhật mới Sông Mekong, tài liệu tổng hợp.

Sông Mekong bị giảm mực nước do sự điều tiết nước của hệ thống đập thủy điện vùng thượng nguồn tại Trung Quốc, kết hợp với biến đổi khí hậu và sự mất rừng đang gây nên áp lực kép của sự xâm nhập mặn và hạn cục bộ diện rộng tại nhiều tỉnh Việt Nam. Tiếp theo bài Vựa lúa Nam Bộ bị ngập mặn và thay đổi tư duy  thì những thông tin mới về các đập sắp xây dựng ở Lào và Campuchia (hình) tại bài viết Hồi sinh sông Danube – bài học lịch sử cho dòng Mekong là cảnh báo cần đọc lại và suy ngẫm (Hoàng Kim).

Hồi sinh sông Danube – bài học lịch sử cho dòng Mekong

Vũ Hoàng 19 tháng 3 năm 2016, nguồn vnexpress.net

Con sông Danube, “mạch sống của châu Âu”, từng bị tàn phá nặng nề nhưng đang dần hồi sinh nhờ sự chung tay góp sức của nhiều quốc gia.

Trung Quốc thông báo xả gấp đôi lượng nước ở Mekong
  /  Hệ thống hút nước sông Mekong của Thái Lan

 IronGates Danube
Đập Iron Gates trên sông Danube. Ảnh: reformrivers.eu

Danube là con sông dài thứ hai ở châu Âu, chỉ sau sông Volga, Nga. Sông bắt nguồn từ vùng Rừng Đen của Đức, chảy qua 19 nước ở Trung và Đông Âu rồi đổ vào Biển Đen. Cũng giống dòng Mekong, Danube có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống của hàng chục triệu người tại những quốc gia mà con sông chảy qua.

Dòng sông được mệnh danh là “mạch sống châu Âu” này lại từng bị tàn phá nặng nề trong suốt hơn một thế kỷ. Sự xuất hiện của hàng chục con đập trên sông làm gián đoạn dòng chảy, ngăn chặn quá trình vận chuyển trầm tích từ thượng lưu xuống hạ lưu, gây ra tình trạng xói mòn ở nhiều nơi, khiến 80% vùng đất ngập nước của sông biến mất.

Bên cạnh đó, tập tính di cư của các loài cá cũng thay đổi theo. Hậu quả là tính đa dạng sinh học của khu vực giảm đi đáng kể, đồng thời đẩy những người dân có cuộc sống phụ thuộc vào con sông này lâm vào cảnh khó khăn.

Mọi chuyện bắt đầu chuyển biến khi 19 quốc gia mà sông chảy qua thành lập Ủy ban Quốc tế Bảo vệ sông Danube (ICPDR) vào năm 1998. Mục tiêu của tổ chức là thực hiện công ước về bảo vệ sông Danube bằng cách thúc đẩy việc quản lý, điều phối nguồn nước hợp lý, bảo tồn, cải thiện môi trường nước và áp dụng Chỉ thị Khung về nước của Liên minh châu Âu (EU).

Theo chuyên gia Fred Pearce, cố vấn môi trường cho tạp chí New Scientist, dù nỗ lực đến đâu đi chăng nữa thì con sông cũng không thể trở lại như thuở nguyên sơ và sự tồn tại của các đập trên sông vẫn là điều cần thiết. Dù vậy, để có thể bảo vệ và khai thác một cách bền vững nguồn tài nguyên quý giá mà con sông mang lại, sự chung tay góp sức của tất cả các nước có liên quan vẫn là yếu tố then chốt.

Chỉ thị Khung về Nước năm 2000 của EU yêu cầu tất cả các con sông phải trở lại “trạng thái tốt” vào năm 2015, với ý tưởng chấm dứt việc biến sông thành những hệ thống cống phục vụ công nghiệp hay các tuyến vận chuyển được kè hóa, bê tông hóa, cũng là một động lực chính trị mạnh mẽ khiến các nước phải không ngừng dốc sức vào công cuộc hồi sinh dòng Danube.

Từ đây, các vùng đất ngập nước của sông Danube dần trở lại. Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (WWF) năm 2006 xác nhận việc khôi phục các vùng đất ngập nước đã góp phần ngăn chặn đáng kể tình trạng lũ lụt trên dòng Danube.

Phần lớn sông hiện tại không còn tình trạng ô nhiễm, đủ tiêu chuẩn để có thể bơi lội mà không ảnh hưởng tới sức khỏe. Dù vậy, vấn đề đảm bảo dòng chảy thông suốt vẫn chưa được tháo gỡ.

Thời Trung cổ, những con cá tầm Beluga khổng lồ với kích cỡ gần bằng một chiếc xe buýt nhỏ thường bơi ngược dòng Danube để tới các khu vực xa xôi của nước Đức. Song gần 60 con đập mọc lên ở thượng nguồn đã cắt đứt tuyến đường di cư của loài cá này.

WWF đang phối hợp với ICPDR xây dựng một phương án giúp khai thông dòng chảy, mở đường di cư cho cá tầm cùng nhiều loài sinh vật khác. Một kế hoạch hành động đã được ICPDR thông qua, đặt ưu tiên hàng đầu vào việc bảo vệ loài cá tầm trên sông Danube.

Sông Mekong bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Như Danube, dòng chảy của sông Mekong hiện cũng chịu ảnh hưởng của nhiều con đập lớn. Ngoài lợi ích trước mắt, chúng cũng gây ra những thiệt hại khó có thể đong đếm cho những quốc gia mà con sông Mekong chảy qua, đặc biệt là các nước ở vùng hạ lưu.

 Danube Research
Danube chảy qua 19 nước ở châu Âu. Ảnh: Danube Research

Trung Quốc đã xây dựng trên đoạn sông Mekong chảy qua lãnh thổ của mình 6 con đập lớn. Nước này dự kiến xây dựng một chuỗi 7 đập trên đoạn sông trên, và nhiều khả năng sẽ gây ra những thay đổi nhanh chóng về mực nước cùng các tác động khác đối với khu vực hạ lưu, nơi hàng chục triệu dân của 4 nước Việt Nam, Campuchia, Lào và Thái Lan sống phụ thuộc rất lớn vào dòng sông.

“Mỗi con đập mà Trung Quốc xây lên đều tạo ra nguy cơ làm cạn kiệt dòng chảy lớn hơn, đặc biệt là khi cả đập Tiểu Loan và Nọa Trác Độ đều có vai trò là những đập trữ nước, hạn chế dòng chảy của sông”, ông Milton Osborne, chuyên gia về Đông Nam Á tại Viện Lowy, một tổ chức tư vấn chính sách quốc tế ở Sydney, Australia, nói.

Chuyên gia này khẳng định rằng việc Trung Quốc đồng thời đưa tới 6 con đập vào hoạt động “sẽ gây tác động lâu dài tới vùng hạ lưu”, trong đó có việc ngăn chặn dòng nước chứa phù sa nhiều dưỡng chất chảy xuôi dòng.

Tương tự, hai nước ở hạ lưu sông Mekong là Campuchia và Lào cũng đang lên kế hoạch xây dựng một loạt đập thủy điện trên con sông này. Trong tương lai gần, sẽ có khoảng 11 đập thủy điện chia cắt dòng sông Mekong thành từng đoạn nhỏ.

Mới đây, truyền thông Singapore và Campuchia đưa tin Thái Lan đang hút một lượng nước lớn từ sông Mekong để dự trữ, đồng thời sắp xây một số cửa chắn nước từ các nhánh sông Mekong và xây ba hồ chứa nước dự trữ phục vụ nông nghiệp nước này. Chuyên gia dự báo, tất cả những điều này sẽ làm cho tác động của biến đổi khí hậu, đặc biệt là việc lượng mưa sụt giảm nghiêm trọng, càng thêm tồi tệ, gây ra những nguy cơ chính trị và xung đột lớn cho khu vực và cả thế giới.

Vũ Hoàng

Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
Johann Sebastian Bach (1685-1750) Violin Concertos
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam
Casava in Vietnam: Save and Grow, PhuYen
Secret Garden – Poéme
Chopin’s Raindrops

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

 

Advertisements

Sông Mekong tài liệu tổng hợp



CNM365. Sông Mekong, tài liệu tổng hợp cập nhật thông tin mới. Sông Mekong bị giảm mực nước do sự điều tiết nước của hệ thống đập thủy điện vùng thượng nguồn tại Trung Quốc, kết hợp với biến đổi khí hậu và sự mất rừng đang gây nên áp lực kép của sự xâm nhập mặn và hạn cục bộ diện rộng tại nhiều tỉnh Việt Nam. Vựa lúa Nam Bộ bị ngập mặn và thay đổi tư duy trên Blog Hiệu Minh ngày 14 tháng 3 năm 2016 là một trong ba bài viết mới cần đọc lại và suy ngẫm.

Tôi chép lại nguyên văn bên dưới và trao đổi đôi lời bên lề chính sử.

Vựa lúa Nam Bộ bị ngập mặn và thay đổi tư duy Tôi muốn nói thêm đôi điều: Cách đây nhiều năm, cố giáo sư viện sĩ tiến sĩ Vũ Tuyên Hoàng đã cảnh báo rằng: Việc chọn tạo nguồn lương thực thực phẩm thích ứng với điều kiện khô hạn và xâm nhập mặn là cấp thiết vì trái đất nóng lên, nạn mất rừng và các dòng sông lớn của Việt Nam có nước đầu nguồn từ Trung Quốc có thể bị điều tiết lưu lượng nước bởi việc làm thủy điện, sẽ gây khô hạn hoặc ngập úng diện rộng khi chặn dòng hoặc xả lũ. Tư duy năng động để ứng phó với biến đổi đã được lưu ý từ lâu rồi, không phải mới nói hôm nay, và số lượng các công trình thực hiện để ứng phó cũng đã có khá nhiều, nên giáo sư Võ Tòng Xuân mới tự tin vậy. Nhìn xa hơn một chút vào lịch sử qua 500 năm nông nghiệp Brazil và Trận Vũ Hán bài học lịch sử cho thấy nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn nằm trong tổng thể của tầm nhìn quốc gia. Việt Nam soi vào Trung Quốc và Brazil của quá khứ và hiện tại, sẽ ngộ được nhiều bài học lớn cho nông nghiệp. Brazil hiện nay vì sao bảo tồn và phát triển nông nghiệp được, bởi họ có giá đắt của bài học lịch sử nông nghiệp và ngành hàng buôn bán thương mại qua 500 năm nông nghiệp Brazil. Việt Nam khắc phục khô hạn hiện nay không thể chỉ nhìn giải pháp tình thế và phân khúc mà cần giải pháp tổng thể và chuỗi lịch sử. Trận Vũ Hán bài học lịch sử năm 1938 lụt Hoàng Hà do chủ động phá đê để gây lầy lội chặn chiến dịch thần tốc của quân Nhật trong chiến tranh Trung Nhật (làm chết hơn 50 vạn dân thường), sau này đã được chủ tịch Mao Trạch Đông nghiên cứu vận dụng trong đại kế chiến lược Tam Tuyến, xây đập Tam Hiệp trên sông Trường Giang, xây nhiều đập thủy điện trên sông Mekong, hình thành khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (xem Quảng Tây nay và xưa), Đó là mưu lược liên hoàn đã có tính toán từ trước. Tình hình hiện nay, khối ASEAN đang lớn mạnh, Mỹ đang xoay trục về châu Á,  BRIC  (Brazil, Rusian, India, China) đang trỗi dậy, Biển Đông, Mekong, TPP đang làm thay đổi chiều hướng chính trị kinh tế khu vực. Việt Nam và các nước cuối lưu vực sông Mekong yêu cầu mở dự trữ nước đầu nguồn, điều tiết lưu lượng nước để chống hạn và xâm nhập mặn. Các điểm nóng đang dần lộ diện nhiều vấn đề quan hệ quốc tế nhạy cảm và phức tạp về kinh tế chính trị khu vực. Sự biến đổi khí hậu, khô cạn hoặc ngập úng những dòng sông lớn do điều tiết nước, diện tích đất rừng bị thu hẹp đang gây hiệu ứng kép lên nhiều vùng rộng lớn Việt Nam. Chọn tạo giống cây trồng chịu hạn mặn và giải pháp kỹ thuật canh tác thích ứng biến đổi khí hậu là cấp thiết và hiện đã có một số kết quả. Giáo sư Võ Tòng Xuân nói là đúng nhưng vấn đề là cần sự lựa chọn phù hợp sát thực tế và giải pháp tổng thể lâu dài hơn. 500 năm nông nghiệp Brazil gợi những góc nhìn tham chiếu về bảo tồn và phát triển nông nghiệp bền vững.

(xem tiếp…)

Hoàng Kim

Đọc tiếp

VỰA LÚA NAM BỘ BỊ NGẬP MẶN VÀ THAY ĐỔI TƯ DUY

Hiệu Minh blog, 14 tháng 3 năm 2016

BBCVNHieuMinh

Đập đầu nguồn sông Mekong do Trung Quốc dựng lên. Ảnh: BBCVN

Đọc bài của giáo sư Võ Tòng Xuân nói về vùng châu thổ Nam Bộ đang bị xâm mặn, diện tích trồng lúa đang bị thu hẹp dần, nhưng ông cho rằng điều đó không đáng lo. Hiện có loại lúa trồng trên nước nhiễm mặn, kèm theo nuôi tôm, một công đôi việc. Nuôi tôm thì không dùng thuốc trừ sâu, nông dân có lúa gạo sạch bán ra thị trường.

Bài đó đăng trên VNN, các bạn nhớ đọc. Một bài tương tự đăng trên BBC VN hôm qua (13-3-2016), tôi tính đăng nhưng do vụ ứng cử của anh Trần Đăng Tuấn nên dừng lại.

Tin còn cho hay, chính phủ Việt Nam đã gửi công hàm cho Trung Quốc, đề nghị quốc gia láng giềng này tăng xả nước ở các hồ chứa thủy điện với dung lượng khoảng 43 tỷ m3 để giúp đỡ Việt Nam giảm bớt thiệt hại do thiên tai và biến đổi khí hậu.

Các bạn đoán xem Trung Quốc có xả lũ không? Chắc chắn là không rồi, nhất là trong bối cảnh Obama sắp sang Việt Nam. Hai quốc gia này đang xích lại gần nhau.

Biên giới tình hữu nghị mà Trung Quốc còn tấn công xâm lược. Dùng súng đại liên bắn vào những công binh ở đảo Gạc Ma không tấc sắt, phun hơi độc vào hầm ngầm giết chết 400 người cả người già, phụ nữ và trẻ em trong chiến tranh biên giới 2-1979.

Với đồng bào, Trung Quốc dùng xe tăng nghiền nát người biểu tình, cách mạng văn hóa đã tàn sát hàng chục triệu người. Mạng người ở quốc gia đó coi như mẻ.

Thử hỏi rằng loại lãnh đạo như thế sẽ xả lũ giúp láng giềng phát triển. Ai còn tin vào tình bạn với Trung Quốc là người không có não. Thời đại này là làm ăn sòng phẳng win win, hai bên cùng có lợi. Tin vào tình bạn ngang bằng bán nước như Mỵ Châu Trọng Thủy.

Tuy nhiên, biến nguy thành cơ, chính là lúc này. Đừng sợ Trung Quốc ngăn sông, phá hoại đồng bằng sông Cửu Long. Họ giết họ trước vì sự biến đổi khí hậu. Còn Việt Nam hãy tìm con đường riêng cho mình.  Nếu có giống lúa chịu mặn, nuôi được tôm trong ruộng thì nông dân bớt khổ.

Chiến lược dài hạn về nông nghiệp trong bối cảnh bị chặn nguồn nước không phải là “trồng con gì nuôi con gì” cổ lỗ của thế kỷ trước, không xứng tầm lãnh đạo quốc gia.

Còn nhớ, khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Việt Nam đành bắt tay với phương Tây dù với con mắt nghi ngờ. Thử hỏi không có hợp tác đa phương thì nước mình có khác gì Bắc Triều Tiên. Lãnh đạo nhìn đâu cũng ra kẻ thù thì dân đói rã họng.

Biển Đông có dậy sóng cũng giúp cho những đầu óc u mê tỉnh lại. Đừng sợ Trung Quốc tới mức như ông tướng nào đó không dám cho lính mang theo súng ra đảo Gạc Ma để cuối cùng chúng tàn sát thẳng tay, đảo mất, lính chết. Tường hèn thì quân sao dũng cảm, quốc gia sao vượt lên như bè bạn.

Vài dòng thế thôi.

Hiệu Minh 14 tháng 3 năm 2016

(Ghi chú: Khi tôi chép lại trang này có thêm nhiều thông tin và bình luận về công hàm của phía Việt Nam và việc Trung Quốc xả nước hổ trợ đầu nguồn. Bạn đọc thông tin và bình luận trực tiếp trên blog Hiệu Minh để rõ hơn. Sông Mekong thông tin tổng hợp, bài trước đó lưu giữ tại đây)

Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích

RELAX TV – 3 hours of Relaxing Music, Soothing Nature Sounds, Ambient Music
Secret Garden – Poéme
Chopin’s Raindrops
Chopin – Spring Waltz 
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Sông Mekong tài liệu tổng hợp



CNM365. Sông Mekong, tài liệu tổng hợp cập nhật thông tin mới. Sông Mekong bị giảm mực nước do sự điều tiết nước của hệ thống đập thủy điện vùng thượng nguồn tại Trung Quốc, kết hợp với biến đổi khí hậu và sự mất rừng đang gây nên áp lực kép của sự xâm nhập mặn và hạn cục bộ diện rộng tại nhiều tỉnh Việt Nam.

Sông Mekong là một trong những con sông lớn nhất trên thế giới, bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua Lào, Myanma, Thái Lan, Campuchia và đổ ra Biển Đông Việt Nam. Sông Mekong tính theo độ dài đứng thứ 12 nhưng tính theo lưu lượng nước thì đứng thứ 10 trên thế giới.  Lưu vực sông Mekong là điểm nhấn địa chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội rất quan trọng của châu Á. Đó là nguồn sống, nguồn tài nguyên và nôi văn hoá, văn minh phương Đông của nhiều cộng đồng dân tộc.

Đặc điểm thủy năng nổi bật của Sông Mekong là vai trò điều lượng dòng nước bởi hồ Tonlé Sap – hồ thiên nhiên lớn nhất Đông Nam Á – người Việt thường gọi là “Biển Hồ”. Phần thượng nguồn sông Mekong người Trung Quốc hiện đã hoàn thành xây dựng một loạt các đập trên sông tại Mạn Loan, Đại Triều Sơn, Cảnh Hồng, và đang xây đập Tiểu Loan với  hơn một chục đập thủy điện điều lượng nước gây nhiều tranh cãi cho an sinh vì thay đổi trữ lượng nước, gia tăng mức độ xói mòn cũng như gây thiệt hại cho nông nghiệp và nguồn cá. Điều lượng nước sông Mekong đầu nguồn, dùng khoa học công nghệ và kinh tế để chế ngự các nước vùng hạ lưu sông Mekong là chiến lược kinh tế chính trị sâu sắc của Trung Quốc. Gần đây nhiều tài liệu quan tâm sâu sắc điều này.

Những tài liệu đáng chú ý nhất về sông Mekong là các bài: Từ Trường Giang Tam Hiệp đến Mekong, Mực nước sông Mekong xuống thấp nhất trong 30 năm; Sông Mekong và Biển Đông hai cái gai trong quan hệ Việt Trung; Dòng sông Mekong bị bức tử nguy cơ cận kề. Lưu vực sông Mekong địa bàn thách đố của Hoa Kỳ; Hiệp Định Mekong 1995 đang tan vỡ, Thích ứng với biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long sẽ thất bại vì đập thủy điện.

Bài mới cập nhật của chuyên mục sông Mekong tài liệu tổng hợp là: “Đập thủy điện Don Sahong in đậm dấu tay Trung Quốc” blog VOA, Ngô Thế Vinh 1-10-2015

Hoàng Kim

 

ĐẬP THỦY ĐIỆN DON SAHONG IN ĐẬM DẤU TAY TRUNG QUỐC

Blog VOA

1-10-2015

Ngư dân đánh bắt cá gần đập Don Sahong. (Luke Hunt - VOA).

“Sản xuất lúa gạo ĐBSCL bị đe dọa hơn nữa do xây con đập thứ hai Don Sahong ở Nam Lào. Con đập chắn ngang dòng chính Mekong ngay trước khi đổ vào vùng Thác Khone, sẽ làm giảm [thay đổi] dòng chảy, gây nguy hại cho khu bảo tồn Ramsar Siphadone, cho mùa màng và ngư nghiệp dưới nguồn”. Gs Võ Tòng Xuân, 2013

Gửi Nhóm Bạn Cửu Long
Ngô Thế Vinh

QUỐC HỘI LÀO BẬT ĐÈN XANH

Theo tạp chí The Diplomat  [Sep 04, 2015] Quốc Hội Lào đã chính thức thông qua Dự án Đập Don Sahong, một dự án từ bấy lâu gây rất nhiều tranh cãi. Dự trù ban đầu con đập được Công ty Xây dựng Mã Lai Mega First khởi công vào cuối năm nay 2015. Do tiềm năng thuỷ điện của con Sông Mẹ – Mea Nam Khong, là tên Lào Thái của con sông Mekong, nhà nước Lào bất chấp mọi chỉ trích và với lời kêu gọi của các quốc gia láng giềng Thái Lan, Cam Bốt và Việt Nam, là ngưng dự án Don Sahong và Lào vẫn kiên quyết đi tới thực hiện cho bằng được kế hoạch phát triển thuỷ điện của mình.

NGUỒN THUỶ ĐIỆN SÔNG MEKONG

Với chiều dài hơn 4,800 km, Mekong là con sông lớn thứ ba Châu Á và là thứ 11 của thế giới. Sự phong phú của hệ sinh thái sông Mekong chỉ đứng thứ hai sau con sông Amazon, Nam Mỹ.  Tiềm năng thuỷ điện của sông Mekong khoảng 60,000 MW:

— Lưu Vực Trên 28,930 MW với nửa khúc sông nằm trong lãnh thổ Trung Quốc; và chuỗi 14 Con Đập Bậc Thềm / Mekong cacades Vân Nam.

— Lưu Vực Dưới 30,000 MW là khúc sông Mekong hạ lưu chảy qua 5 quốc gia Miến Điện, Lào, Thái Lan, Cam Bốt và Việt Nam, với chuỗi 12 con đập dòng chính hạ lưu chủ yếu nằm trong hai nước Lào và Cam Bốt.

THẢM HOẠ VẪN TỪ PHƯƠNG BẮC

Về phía Trung Quốc, nơi thượng nguồn Sông Mekong Bắc Kinh đã hoàn tất hai con đập lớn nhất: con khủng long Nọa Trác Độ/ Nuozhadu 5,850 MW và con Đập Mẹ Tiểu Loan/ Xiaowan 4,200 MW, về tổng thể Bắc Kinh hầu như đã hoàn thành kế hoạch thuỷ điện của họ trên sông Lan Thương / Lancang Jiang, tên TQ của con Sông Mekong và theo Fred Pearce, Đại học Yale thì con sông Mekong đã trở thành tháp nước và là nhà máy điện của TQ. [3]

Philip Hirsch, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Sông Mekong Đại học Sydney nhận định: “Hai con đập khổng lồ Nọa Trác Độ và Tiểu Loan sẽ ảnh hưởng trên suốt dòng chảy của con sông Mekong xuống tới tận ĐBSCL của Việt Nam.”

Với sáu con đập lớn dòng chính đã hoàn tất trên trên khúc sông Mekong thượng nguồn, TQ đã đạt được công suất 15,150 MW – nghĩa là hơn một nửa toàn công suất tiềm năng thuỷ điện của con sông Lan Thương. Với 8 dự án đập dòng chính còn lại, và có thể sẽ còn thêm nhiều dự án mới nữa, TQ cũng sẽ dễ dàng dứt điểm sớm trong vòng mấy thập niên đầu Thế kỷ 21.

LẠI CÓ DẤU TAY CỦA TRUNG QUỐC

Trong một bức thư ngày 2 tháng 2, 2015 của International Rivers Network / IRN Mạng Lưới Sông Quốc Tế gửi tới Sinohydro International Corporation bày tỏ quan điểm của tổ chức IRN chống lại Dự án Đập Thuỷ điện Don Sahong do những ảnh hưởng tác hại môi trường và xã hội trên dòng chính Sông Mekong.

Đoạn thư viết tiếp: “Chúng tôi được biết Sinohydro International được đấu thầu phần EPC/ Engineering Procurement Construction / thiết kế, quản lý và xây dựng cho Dự án Don Sahong, sự kiện ấy khiến cộng đồng quốc tế hết sức quan tâm về mối liên hệ của Trung Quốc tới Dự án này. Chúng tôi nhận định rằng Sinohydro, một tổ hợp của Nhà nước Trung Quốc khi ký một hợp đồng liên quan tới triển khai dự án, điều ấy sẽ can thiệp vào tiến trình thương thảo. Đây chính là thời điểm vô cùng nhậy cảm cho toàn vùng đối với cái giá phải trả cho việc phát triển thuỷ điện trên Sông Mekong. Chúng tôi hy vọng Sinohydro sẽ hỗ trợ cho những cuộc thảo luận về sự cần thiết có thêm những cuộc nghiên cứu khoa học, và trên hết là sự tôn trọng những quyết định và các yêu cầu chính thức từ các chính phủ Thái Lan, Cam Bốt và Việt Nam”. Hết trích dẫn.

Như vậy bức màn của sự thật đã được vén lên: MegaFirst của Mã Lai chỉ là nhóm chủ thầu đầu tư/ Investor vào Don Sahong, một công ty không có kinh nghiệm xây dựng hay điều hành nào về thuỷ điện nên rõ ràng họ làm một bình phong / một lá chắn cho Sinohydro đứng phía sau, thực hiện phần kỹ thuật xây đập bất chấp tác hại ra sao đối với dân cư trong lưu vực.

Ai cũng biết Sinohydro International là một công ty quốc doanh khổng lồ xây đập trên toàn cầu của Trung Quốc, được xem là lớn nhất thế giới nhưng cũng đã từng mang rất nhiều tai tiếng về những con đập gây ra những tác hại môi sinh. Và có thể nói mà không sợ sai lầm Don Sahong sẽ là một con đập Made in China. [1] Sau Don Sahong, Sinohydro còn trực tiếp nhận thầu hai dự án dòng chính khác là Pak Lay của Lào và Sambor của Cam Bốt.

Tệ hại hơn nữa là hai công ty Việt Nam cũng đồng loã trực tiếp nhận thầu xây 2 con đập dòng chính Luang Prabang của Lào và Stung Treng của Cam Bốt; có thể ví như hành động cầm súng tự bắn vào chân mình.

Điều đó giải thích được tại sao một nước Lào nhỏ bé nhất nhưng lại có thể hành động ngang ngược như vậy bất chấp mọi mối quan tâm của các quốc gia láng giềng [vốn thiếu nhất quán và chia rẽ] và cả đối với những khuyến cáo của các tổ chức hoạt động môi sinh. Lào đã có được sự hậu thuẫn vô điều kiện của Bắc Kinh.

TỪ XAYABURI TỚI DON SAHONG 

Cho dù có khuyến cáo 2011 của Ủy Hội Sông Mekong / MRC là nên hoãn triển khai tất cả các dự án đập thuỷ điện dòng chính hạ lưu ít nhất một thập niên tới năm 2020 để có thêm thời gian nghiên cứu, nhưng khuyến cáo ấy đã không được nhà nước Lào lắng nghe. Lào vẫn khởi công xây con đập dòng chính Xayaburi 1,285 MW là con đập đầu tiên nằm ngoài lãnh thổ Trung Quốc. Xayaburi đã được ví như quân cờ Domino đầu tiên đổ xuống, có hiệu ứng kéo theo những bước khai triển ồ ạt của những con đập hạ lưu khác.

Sau Xayaburi, Don Sahong là quân cờ Domino thứ hai đổ xuống. Cách đây gần hai năm, ngày 3 tháng 10, 2013, Lào thông báo cho MRC về quyết định xây con đập dòng chính thứ hai: Don Sahong, là một con đập-dòng-chảy / run-of-river dam trụ trên suốt chiều dài 5 km của hẻm nước /water channel Hou Sahong nằm trên vùng Thác Khone, chỉ cách biên giới Cam Bốt 2 km. Don Sahong có công xuất 260 MW, nhỏ hơn rất nhiều so với cả những con đập phụ lưu của Lào.

Thác Khone vốn là một cảnh trí hùng vĩ của sông Mekong bao gồm nhiều ghềnh thác và hàng ngàn đảo nối tiếp nhau. Theo Ks Phạm Phan Long / Viet Ecology Foundation thì “nếu lưu lượng trung bình/ năm thác Niagara là 2400 m3/s, Victoria 1088 m3/s so với 10156 m3/s ở Pakse trạm quan trắc sát nhất thác Khone, như thế lưu lượng trung bình/ năm vùng thác Khone gần gấp 3 lần tổng số lưu lượng của con hai thác kia”.

Năm 1886, Đoàn thám hiểm Pháp Doudart de Lagrée / Francis Garnier đã khởi hành từ Sài Gòn ngược dòng sông Mekong đi tìm một thuỷ lộ giao thương với Trung Hoa qua ngả Vân Nam; sau khi ghé Angkor đi tiếp tới Thác Khone thuộc địa phận Nam Lào, họ đã phải kinh ngạc trước một cảnh tượng vô cùng hùng vĩ và ngoạn mục với vang ầm tiếng nước đổ từ các ghềnh đá sủi bọt tung tóe. Đến đây thì họ nhận ra rằng không thể nào có thể dùng tàu thương mại từ Sài Gòn lên đến Lào, rồi tới Vân Nam Trung Quốc qua đường sông Mekong.

Thác Khone là phần hết sức kỳ lạ của con sông Mekong về phương diện đa dạng sinh học. Ngay dưới chân thác là một quần thể phong phú nhất về cá, với những loài cá nước ngọt không chỉ của Đông Nam Á mà là của cả thế giới: với khoảng 1,500 chủng loại cá trong số đó có hơn 2/3 thuộc loại di ngư / migratory fish, lội ngược dòng Mekong theo mùa và lên cả các phụ lưu trong chu kỳ sinh sản và tăng trưởng; đa số thuộc loại cá đánh bắt là nguồn lương thực và trao đổi thương mại với sản lượng lên tới 4 triệu tấn mỗi năm trị giá lên tới 9 tỉ MK, chưa kể tới những loại thuỷ sản khác như tôm cua rùa ốc và cả rong tảo.

Sông Mekong bấy lâu đã như “mạch sống” của ngót 70 triệu dân sống trong lưu vực; không phải chỉ có nguồn nước, nguồn phù sa, mà phải kể tới nguồn cá chiếm tới 80% lượng protein trong mỗi bữa ăn của cư dân Lào và Cam Bốt. Theo các chuyên gia môi sinh thì khúc sông Mekong nơi thác Khone thể coi là “ tử huyệt” của toàn hệ sinh thái lưu vực sông Mekong.

DON SAHONG TÁC HẠI VÔ LƯỜNG

Thác Khone từng được ví như một một thế giới vi mô – microcosm của toàn hệ sinh thái sông Mekong, nơi để cho các nhà sinh học và ngư học nghiên cứu. Do tầm quan trọng độc nhất vô nhị ấy, TS Mark Hill đã kêu gọi bằng mọi giá phải bảo vệ sự toàn vẹn của vùng thác Khone trong những kế hoạch phát triển và xây các đập thủy điện trên sông Mekong.

Đã có rất nhiều chứng cớ là con đập Don Sahong, tuy chỉ cao khoảng 30m với công suất 260 MW [nhỏ nhất so với 11 dự án dòng chính hạ lưu] nhưng lại có tác hại vô lường trên toàn hệ thủy sinh thái sông Mekong, vì đây là điểm quy tụ tối đa của các đoàn di ngư. Phần lớn lượng cá mà ngư dân Lào và Thái lưới bắt được trên thượng nguồn là từ các đoàn di ngư lội ngược dòng từ thác Khone. Kể cả nguồn cá từ các phụ lưu sông Mekong cũng phụ thuộc vào các đoàn di ngư từ vùng thác Khone này.

Những quốc gia tài trợ cho Lưu vực Sông Mekong cũng như các nhà hoạt động môi sinh, trong đó có Hội Sinh Thái Việt / Viet Ecology Foundation đã gửi thư đề nghị chính phủ Lào ngưng xây đập Don Sahong nhưng Lào hầu như bất chấp.

Thấy được mối hiểm nguy của con đập Don Sahong trực tiếp đối với vựa cá của Cam Bốt nên cuối năm 2007, Ủy ban Quốc gia Mekong Cam Bốt cũng đã gửi thư phản đối tới chánh phủ Lào, nhưng “không được hồi âm”. Tháng 11, cũng năm 2007 tại Hội nghị Siem Reap, phái đoàn Cam Bốt và các tổ chức NGO một lần nữa lên tiếng phản đối dự án Don Sahong, và sau đó thì MRC cũng gửi bản lượng giá với “những nhận định chỉ trích” về con đập Don Sahong tới chánh phủ Lào, và một lần nữa bị chánh phủ Lào “coi như không có” và vẫn cứ tiến hành ký kết bản Hợp đồng Dự án Phát triển với công ty Mã Lai MegaFirst.

Thủ tướng Hun Sen cũng đã tới Lào [03/2008] thảo luận về dự án đập Don Sahong do ảnh hưởng di hại trực tiếp tới Cam Bốt. Nhưng sau đó, theo Milton Osborne với lý do thật khó hiểu là Ủy ban Quốc gia Mekong Cam Bốt nhận được chỉ thị là phải ngưng chỉ trích công khai dự án đập Don Sahong. [Tưởng cũng nên ghi lại ở đây là Cam Bốt cũng có dự án đập thủy điện Sambor, cùng với Don Sahong, được coi như một “tử huyệt” thứ hai đối với các loài cá sông Mekong]

Và rõ ràng, như một mẫu ứng xử/ pattern nhất quán và liên tục của nhà nước Lào: không nghe, không hồi đáp, vẫn tiến hành: đó không thể gọi là cách hành xử văn minh trong bang giao quốc tế ở thế kỷ 21. Chánh phủ Lào chứng tỏ là đã không tôn trọng tinh thần của Điều 7 trong Hiệp Ước Hợp Tác Phát Triển Bền Vững Lưu Vực Sông Mekong 1995: “Các quốc gia thành viên ký kết cùng đồng ý là bằng mọi cố gắng phòng tránh, làm nhẹ hay giảm thiểu những hậu quả tác hại trên môi trường do phát triển và xử dụng Lưu vực Sông Mekong.

Lào đã và đang đơn phương chọn quyền lợi riêng tư ngắn hạn nhưng với cái giá rất đắt phải trả của chính đất nước Lào và cả các quốc gia lân bang. Cho đến nay những khuyến cáo và khả năng điều hợp của Uỷ Hội Sông Mekong MRC đã hơn một lần tỏ ra là vô hiệu.

LÀO XỨ KUWAIT THUỶ ĐIỆN ĐÔNG NAM Á

Với những người Lào có học hiểu biết, họ thấy được tiềm năng thiên nhiên phong phú của đất nước Lào, giới lãnh đạo thế hệ mới ở Lào nuôi tham vọng khai thác tiềm năng thuỷ điện con sông Mekong để mong sao biến xứ Lào thành “Bình Điện Đông Nam Á/ the battery of Southeast Asia”.

Những ai có theo dõi các bước khai thác thủy điện của Lào sẽ nhận ra ngay rằng không phải Tổng thống, Thủ tướng hay Ngoại trưởng Lào, nhưng là một tên tuổi khác, Viraphonh Viravong, nổi bật là trí tuệ của đất nước Lào. Viraphonh Viravong trong suốt hơn ba thập niên qua đã có những nỗ lực bền bỉ và kiên định với giấc mơ canh tân, biến đất nước Lào trở thành một xứ “Kuwait về thủy điện của Đông Nam Á”.

Viraphonh Viravong thường xuyên thăm viếng suốt dọc con sông Mea Nam Khong tìm tới những nơi có thể xây thêm đập thủy điện, với thuyết phục người dân Lào nơi các khu xây đập về những lợi lộc do các con đập đem lại: họ sẽ có điện quanh năm, có thêm đường xá, nhà thương, trường học do lợi tức từ nguồn điện đem về. Viraphonh Viravong đã có kinh nghiệm về các con đập phụ lưu lớn của Lào và nay với con đập dòng chính đầu tiên Xayaburi, cho dù gặp sự chống đối mạnh mẽ từ mọi phía nhưng Viraphonh Viravong lần lượt hóa giải những mũi dùi chống đối và không ngừng tiến hành triển khai con đập Don Sahong.

Ngày 15-10-2012 Viraphonh Viravong tới Viện Kỹ thuật Á châu, Bangkok, để duyệt xét mô hình đập Xayaburi, tại đây, ông khẳng định: “Phát triển tiềm năng thủy điện của Lào là chuyện đương nhiên. Chỉ có vấn đề làm sao để thực hiện bền vững.”

NHỮNG TIẾNG KÊU TRONG SA MẠC

Nhà nông học Võ Tòng Xuân, là một trong số người tiên phong đưa giống Lúa Thần Nông vào ĐBSCL, đã phát biểu về tác hại của con đập Don Sahong: “Sản xuất lúa gạo ĐBSCL bị đe dọa hơn nữa do xây con đập thứ hai Don Sahong ở Nam Lào. Con đập chắn ngang dòng chính Mekong ngay trước khi đổ vào vùng Thác Khone, sẽ làm giảm [thay đổi] dòng chảy, gây nguy hại cho khu bảo tồn Ramsar Siphandone, cho mùa màng và ngư nghiệp dưới nguồn. Chúng tôi đã chứng kiến những cánh đồng lúa lan rộng trong mùa khô trên khắp các vùng Đông Bắc Thái, Nam Lào và Cam Bốt, đã rút đi một lượng nước sông rất đáng kể trong vùng. Nhiều năm qua, nguồn nước cung cấp cho các vụ lúa mùa khô nơi ĐBSCL đã bị sút giảm nghiêm trọng, hậu quả là nạn nhiễm mặn tiến sâu vào đất liền xa tới 80 km và gây tổn hại cho mùa màng. Chúng tôi kêu gọi chính phủ Lào và các nhà đầu tư Mã Lai hãy tự tiết chế không gây tác hại thêm cho dòng chính Sông Mekong nhằm bảo vệ môi sinh và cư dân nơi hạ nguồn.” (26-10-2013)

Cũng để thấy rằng, thay vì kêu gọi các nhà đầu tư Mã Lai tự tiết chế nhưng nếu biết MegaFirst chỉ là đồng loã đứng tên và thủ phạm đích thực đứng phía sau dự án Don Sahong chính là tập đoàn Sinohydro của nhà nước Trung Quốc.

SẼ ĐI VỀ ĐÂU

Sông Mekong lẽ ra là sợi dây nối kết các quốc gia trong lưu vực chứ không phải là nguyên nhân gây chia rẽ; nhưng từ thập niên đầu của thế kỷ 21, ước vọng ấy đang bị đổ vỡ, do khủng khoảng niềm tin, khiến triển vọng hợp tác trong “Tinh Thần Sông Mekong” như một mẫu số chung để cùng nhau phát triển, cùng nhau hướng tới một tương lai thịnh vượng cho toàn vùng đã trở thành ngày một xa vời.

Chỉ mới đây thôi, vào ngày 31 tháng 7 năm 2015, ông Đinh Hưng từ ĐBSCL đã gửi đến BBC một lời báo động mà nhà báo Tưởng Năng Tiến khi đang lênh đênh trên Biển Hồ đã cho là “muộn màng”:

“Các dòng sông Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long đang bị xâm nhập mặn vào nội địa trên 70 km, và có chiều hướng tăng nhanh. Hiện một số địa phương trong vùng ĐBSCL đã xuất hiện tình trạng thiếu nước ngọt trầm trọng. Những tháng gần đây tại ĐBSCL, việc nước mặn tấn công ‘chưa từng thấy’ làm ‘đảo lộn cuộc sống’, không phải là bất ngờ mà là tất yếu theo dự đoán. Người dân các tỉnh Cần Thơ, Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang đang phải ‘chạy mặn’ từng ngày. Các tiểu vùng nước ngọt quanh năm bị đảo lộn, bị mặn xâm nhập, đã đe dọa cả trăm ngàn hecta đất nông nghiệp, nhiều vườn cây ăn trái nằm trên nguy cơ xóa sổ, thủy sản nước ngọt bị tổn thất lớn. Tất cả nguy hại đang đổ trên đầu người dân nơi đây.”

Chỉ riêng với ĐBSCL, bấy lâu với nguồn nước ngọt và trữ lượng phù sa phong phú từ con sông Mekong đã khiến Việt Nam là cái nôi sản xuất lúa gạo lớn thứ hai thế giới chỉ đứng sau Thái Lan; nhưng nay thì ngót 20 triệu cư dân ĐBSCL đang trước nguy cơ: mất nguồn nước ngọt, mất nguồn phù sa, và cả vùng châu thổ phì nhiêu đang chìm dần trong biển mặn. Hậu duệ của những thế hệ dũng mãnh tiên phong khai phá trong cuộc Nam Tiến cách đây mới ba trăm năm, thì nay đang bị một chế độ toàn trị ức chế đến bất động, không được quyền cất lên tiếng nói ngay trên đất nước mình và đang cúi đầu chấp nhận lùi bước trước thảm hoạ bị xoá đi cả một nền Văn Minh Miệt Vườn và trong một tương lai không xa, rồi ra trên tầm vóc quốc gia, sẽ có những đợt tỵ nạn môi sinh/ ecological refugees vào giữa thế kỷ 21 nhưng họ sẽ đi về đâu?

NGÔ THẾ VINH

California Sep 28, 2015

Tham Khảo:

1) Is the world’s biggest dam builder willing to change?

Peter Bosshard, ChinaDialogue, 16.12.2014

https://www.chinadialogue.net/blog/7605-Is-the-world-s-biggest-dam-builder-willing-to-change-/en

2) Dam promises are ‘a facade’, Daniel Pye and Laignee Barron, Phnom Penh Post Fri, 3 October 2014,

http://www.phnompenhpost.com/national/dam-promises-are-%E2%80%98-facade%E2%80%99

3) The Two Poles of Destruction from Nuozhadu to Don Sahong The Mekong in the Claw of Death. Ngô Thế Vinh, Ecology Foundation, Oct 25, 2014, http://vietecology.org/Article.aspx/Article/112

4) Global Ecology and the “Made in China’s Dams. Ngô Thế Vinh. Viet Ecology Foundation, July 2010. http://vietecology.org/Article.aspx/Article/62

Xem tiếp…

MEKONG THEO DÒNG THỜI SỰ

Thông tin cuộc họp thượng đỉnh lần thứ hai của Hội đồng Sông Mekong từ ngày 2 đến ngày 5 tháng Tư năm 2014 tại thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả phản ảnh tại bài viết “Hiệp Định Mekong 1995 đang tan vỡ” của Phan Minh Long đăng trên Quechoa ;

Trước đó có thông tin Diễn đàn nhân dân với chủ đề “Dòng sông Mekong trong tương lai: Mối quan tâm của người dân về phát triển thủy điện” ngày 1 tháng 8 năm 2013 tại thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang. Kết quả phản ảnh tại bài viết “Thích ứng với biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long sẽ thất bại vì đập thủy điện” của Nguyễn Khánh Toàn đăng trên FB.

HIỆP ĐỊNH MEKONG 1995 ĐANG TAN VỠ

Phạm Phan Long

Mekong1

Thủy điện Don Sahong : Nguy cơ tan vỡ Hiệp ước Mêkông

Hiện Hội Đồng sông Mekong đang họp thượng đỉnh lần thứ 2 tại TP HCM từ ngày 2 đến ngày 5 tháng tư, 2014. Mười chín năm trước, vào ngày 5 tháng 4, 1995, đại diện bốn nước Lào PDR, Thái Lan, Cam Bốt và Việt Nam ký kết Hiệp Định sông Mekong và Mekong River Commission (MRC) ra đời.

 Dân cư lưu vực kỳ vọng Hiệp Định quốc tế này sẽ tạo phương tiện để các nước cùng phát triển tiềm năng sông Mekong một cách bền vững theo tiêu chuẩn quốc tế. Mục đích cao cả các nước đã long trọng ký kết trong Hiệp Định là:

“To protect the environment, natural resources, aquatic life and conditions, and ecological balance of the Mekong River Basin from pollution or other harmful effects resulting from any development plans and uses of water and related resources in the Basin.” [Article 3]

“Bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên, ngư sinh và tình trạng cân bằng sinh thái cho lưu vực sông Mekong tránh khỏi hậu quả tai hại từ bất cứ một dự án sử dụng nước và tài nguyên nào trong lưu vực.”

Không những thế các nước thành viên sẽ phải thông báo trước cho nhau các dự án sử dụng nước nội vực vào mùa mưa [Article 5. B. 1. a)], đồng thời phải tham vấn và thỏa hiệp trước với các nước khác cho các dự án mùa khô trong nội vực và tất cả các dự án ngoại vực mùa mưa hay khô [Article 5. B. 1. B) và Article 5. 2. a) và b)].

Một chuỗi 11 con đập trên dòng chính đã được đề bạt cứu xét, nhìn bản đồ của International Rivers Network đính kèm (trích). MRC trước áp lực đó, đã ký hợp đồng với ICEM, một viện nghiên cứu chiến lược Úc, độc lập với các nước Mekong, nghiên cứu về tác động của các dự án này. ICEM đã dự báo các thiệt hại kinh tế và môi sinh nặng nề cho hai nước hạ du và đề nghị các nước hãy hoãn tất cả các dự án này 10 năm để hoàn tất nghiên cứu tác động xuyên biên giới tổng hợp của chúng.

Tuy nhiên Lào, một thành viên Mekong River Commission (MRC) đã không hoãn các dự án thủy điện của Lào theo khuyến cáo của ICEM. Lào đã xây được 30% đập Xayaburi dù đã có những lần hứa không tiến hành. Ngoài ra, Lào còn thiết kế chuẩn bị xây đập Don Sahong bất chấp phản đối của 28 tổ chức môi sinh quốc tế, các NGO Cam Bốt, Việt Nam và Đại diện hai chính phủ Cam Bốt và Việt Nam yêu cần Lào tuân thủ điều khoản tham vấn và thỏa thuận.

Tình trạng Lào không tuân thủ Hiệp Định 1995 như thế sẽ khiến Cam Bốt tiến hành xây ba đập khác trên lãnh địa họ như Sesan, Stung Treng và Sambor. Như thế, cuộc đua thủy điện này sẽ tiêu diệt tòan bộ ngư sinh và kinh tế ngư nghiệp Lào, Cam Bốt và nhất là ĐBSCL của Việt Nam.

TS Lê Anh Tuấn của tổ chức Vietnam River Network đã nhận định về Don Sahong rằng: “Nếu tình trạng này tiếp tục diễn ra, thì tinh thần Mêkông đó có thể bị ảnh hưởng nặng nề, có thể bị sụp đổ, nếu chúng ta không có một giải pháp căn cơ để giải quyết, trên cơ sở đối thoại giữa các bên với nhau.”

Tổ chức Vietnam River Network đã công khai bày tỏ lo ngại về sự tan vỡ của Hiệp Định và ngày 3 tháng 10, 2013 và thư tuyên bố News Release của họ chính thức phản đối Lào về dự án Don Sahong. Các tổ chức quốc tế như Save the Mekong, International Rivers Network đều có những tuyên bố như thế. Viet Ecology Foundation từ California, HK cũng đã yêu cầu MRC và Lào xét lại hủy bỏ cả dự án Xayaburi và Don Sahong.

Ngụy biện của AECOM về dự án Don Sahong

Năm 2007, 34 chuyên gia khoa học độc lập từ Úc và Hoa Kỳ cùng ra một báo cáo chung cảnh báo các chính phủ MRC về mối nguy hại của dự án Don Sahong. Công ty chủ thầu Don Sahong là Mega First Berhad (MFCB) đã ký kết với công ty AECOM Australia-New Zealand làm cố vấn kỹ thuật cho họ. TS Steve Hawkins, đại diện của AECOM tuyên bố rằng báo cáo 2007 là hoang đường; nhưng ông không trích dẫn ra được một công trình nghiên cứu khoa học quốc tế nào phản biện ngược lại.

Gần đây Kỹ sư Graeme Boyd thuộc AECOM còn cho rằng đập Don Sahong không phải là mainstream dam. Mục đích của ông là chối bỏ mọi hậu quả nguy hại của Don Sahong, đánh lạc hướng MRC và dư luận để giúp Lào tránh né trách nhiệm tham vấn và thỏa hiệp theo Hiệp định 1995.

Theo Vientiane Times, trong một buổi họp vào tháng 11, 2103 tại Champassak, Mega First Corp Berhad, KS Graeme Boyd, đưa ra bốn lý do Don Sahong không phải là đập trên dòng chính:

1.”First and foremost that it would not block the Mekong across its full width, instead stretching across one of many channels.”
Không chắn toàn thể bề ngang dòng chính, chỉ chắn một trong số những dòng chảy.

  1. “The fact is that Hou Sahong is only one of many channels of the Mekong River. It only takes about 15 per cent of the flow of the Mekong, while a mainstream dam takes 100 per cent of the flow,”
    Chỉ lấy 15% lưu lượng nước sông Mekong không phải 100%.

  2. “Really, the Don Sahong project cannot be considered as a mainstream dam because it does not span the whole of the Mekong River.”
    Không bắc ngang toàn bộ chiều ngang dòng sông

  3. “Boyd said just 8 per cent of the river’s sediment load would pass through the dam, as opposed to 100 per cent in a mainstream dam.”
    Chỉ chặn 8% phù sa, không chặn 100% phù sa.

Mekong2

Bản Đồ Mekong vùng thác Khone

Cả bốn lý do của KS Boyd đưa ra có thể đúng cho Don Sahong về hình học và số học nếu chỉ nhìn các con số trong mùa mưa hay trung bình năm. Vào mùa khô khi lưu vực Mekong khát nước, lưu lượng xuống thấp, Don Sahong là dòng chảy lớn duy nhất cho nước, phù sa và di ngư. Lúc đó không có dòng chảy nào khác. Do đó kết luận Don Sahong không phải là mainstream dam của AECOM nên Lào không cần phải thỏa hiệp theo Hiệp định 1995 là hoàn toàn sai.

Thực ra nguyên tắc pháp lý của việc này rất đơn giản vì chỉ cần quy chiếu theo văn bản của Hiệp Định 1995 mà thẩm định như phần đầu bài này thì sẽ rõ không có chỗ nào trong Hiệp Định phân biệt dòng chính là phải chắn ngang 100% mặt sông.

Đây là một hiệp ước quốc tế bốn nước đã long trọng ký kết nên có hiệu lực pháp lý trước tòa án quốc tế. Ông Hans Guttman, Chief Operating Officer của MRC đã rơi vào bẫy hỏa mù của AECOM.

Theo Vientiane Times, MRC Chief Executive Officer, Hans Guttman, tuyên bố “the Mekong Agreement did not go into great detail on what is and what isn’t a mainstream project.”

Ông Hans Guttman, CEO của MRC, đã không nắm vững HĐ1995 nên đã nói:
“just because the dam was located in a part of the Mekong River did not mean it was a mainstream project.” “You can’t say they have breached the agreement…we don’t have that kind of details.”

“Khi đập tọa lạc trên một phần sông Mekong không có nghĩa là một dự án trên dòng chính” và “Không thể nói họ đã vi phạm Hiệp định … chúng tôi không có những chi tiết đó.”

Thái độ của CEO Hans Guttman đã gây thêm hoang mang và căng thẳng không thể chấp nhận được. Ông đã làm hại nặng nề uy tín của chính ông và của cả tổ chức MRC. Ông đã hậu thuẫn các cố vấn AECOM đánh lạc hướng công luận. Vì lẽ đó, ông Hans Guttman nên từ chức, rút lui trong danh dự, vì tổ chức ông lãnh đạo đã thất bại không mang về cho các thành viên một hợp tác hữu nghị có ý nghiã bền vững nào.    

Mekong3

Bản Đồ Các Dự Án trên Mekong (Nguồn IRN)
(Trích một số dự án)

Trích dẫn Hiệp Định 1995
Article 5. Reasonable and Equitable Utilization

To utilize the waters of the Mekong River system in a reasonable and equitable manner in their respective territories, pursuant to all relevant factors and circumstances, the Rules for Water Utilization and Inter- basin Diversion provided for under Article 26 and the provisions of A and B below:

A. On tributaries of the Mekong River, including TonLe Sap, intra-basin uses and inter-basin diversions shall be subject to notification to the Joint Committee.

B. On the mainstream of the Mekong River:
1. During the wet season: a) Intra-basin use shall be subject to notification to the Joint Committee. b) Inter-basin diversion shall be subject to prior consultation which aims at arriving at an agreement by the Joint Committee.
2. During the dry season: a) Intra-basin use shall be subject to prior consultation which aims at arriving at an agreement by the Joint Committee. b) Any inter-basin diversion project shall be agreed upon by the Joint Committee through a specific agreement for each project prior to any proposed diversion. However, should there be a surplus quantity of water available in excess of the proposed uses of all parties in any dry season, verified and unanimously confirmed as such by the Joint Committee, an inter-basin diversion of the surplus could be made subject to prior consultation.

Tác giả gửi Quê Choa
Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả 

Giới thiệu: KS Phạm Phan Long là KS cố vấn chuyên nghiệp, đã sáng lập ra hai công ty tư vấn tại California chuyên thiết kế cơ xưởng kỹ nghệ. Ông là sáng lập viên của Mekong Forum và hiện là Chủ Tịch Viet Ecology Foundation là một tổ chức NGO tại Hoa Kỳ.

(Theo Quê Choa)

THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
SẼ THẤT BẠI VÌ ĐẬP THỦY ĐIỆN

@ 350.org Việt Nam Nguyễn Khánh Toàn,  3. 8. 2013

Ngày 01.08.2013 tại thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang, Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam (VRN), Viện Sinh thái học miền Nam (SIE), Đại học An Giang cùng Liên minh Cứu trợ sông Mekong (Save the Mekong) đã phối hợp tổ chức Diễn đàn nhân dân với chủ đề “Dòng sông Mekong trong tương lai: Mối quan tâm của người dân về phát triển thủy điện” với sự tham gia của gần 150 đại biểu bao gồm đại diện cộng đồng lưu vực hạ nguồn Mekong, các tổ chức chính phủ, phi chính phủ, các nhà nghiên cứu độc lập từ các quốc gia Việt Nam, Thái Lan, Cam-pu-chia, Myanmar, Trung Quốc, Úc, Nhật Bản, Hoa Kỳ …  có mối quan tâm chung đến sông Mekong.

Diễn đàn lần này tập trung chia sẻ các thông tin mới nhất về bức tranh toàn cảnh vấn đề phát triển thủy điện trên dòng Mekong và những tác động của nó; đồng thời đóng vai trò như là một cơ hội tham vấn ý kiến các bên liên quan, tăng cường sự hợp tác, hiểu biết và trách nhiệm cũng như nâng cao tiếng nói có giá trị của người dân và các tổ chức xã hội trước vấn đề này.

Diễn đàn chuẩn bị khai mạc.

Sau bài phát biểu khai mạc của tiến sỹ Vũ Ngọc Long – Viện trưởng Viện Sinh thái học miền Nam (SIE) là thời gian trình chiếu bộ phim tài liệu How dams discrupt lives – Experiences from Mun river * (tạm dịch: Đập phá vỡ cuộc sống như thế nào – kinh nghiệm từ sông Mun) do tổ chức Mekong Watch (Nhật Bản) thực hiện đã chuyển tải thông điệp ấn tượng đến toàn thể đại biểu tham dự về bức tranh tổng quát của con sông mẹ và những rủi ro mà chúng ta đang đối mặt.

Chương trình diễn đàn bao gồm 5 phiên thảo luận chung với hơn 20 bài phát biểu tham luận tập trung mổ xẻ các vấn đề ưu tiên về con sông có chiều dài đứng thứ 12 thế giới chảy qua liên tục 6 quốc gia Châu Á này.

  • Phản ánh về đời sống người dân và giá trị của sông Mekong đối với nguồn tài nguyên của nó
  • Quan điểm của các bên liên quan đối với đập thủy điện Xayaburi và các đập dự kiến xây dựng trên dòng chính của sông Mekong.
  • Ủy hội sông Mekong và phương pháp tham vấn ưu tiên của hội đối với các đập ở lưu vực chính sông Mekong
  • Giải quyết các thách thức của đập Xayaburi và các khuyến nghị trong tương lai.
  • Trả lời các vấn đề của cộng đồng về sự phát triển thủy điện sông Mekong.

Tiến sỹ Dương Văn Ni – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu – Thực nghiệm Đa dạng sinh học Hòa An đã mở đầu bài tham luận trung tâm với những những câu chuyện thực tế ông ghi nhận được từ người dân trong các chuyến đi thực địa “năm ngoái mỗi ngày người ta đánh được 10kg cá, bây giờ chỉ còn 3“. Ông cũng băn khoăn “Chúng ta cần trung bình 4.500 lít nước để có được 1kg gạo, vậy liệu nước ta có còn lạc quan về vị trí nhất nhì thế giới sản lượng gạo khi mà lượng nước đổ về hạ nguồn mekong có xu thế này càng giảm đi nghiêm trọng ?

Việt Nam chỉ đóng góp 11% lượng nước nhưng lại là nước tạo ra sản lượng gạo lớn nhất trong số các quốc gia mà dòng Mekong chảy qua

Tiến sỹ Lê Anh Tuấn – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu – ĐH Cần Thơ (Viện DRAGON) đã lưu ý trong bài phát biểu của mình tại phiên thảo luận chung thứ 5 rằng việc phát triển thủy điện trên sông Mekong sẽ khiến công tác thích ứng với biển đổi khí hậu (BĐKH) tại vùng đồng bằng sông Cửu Long trong hiện tại sẽ gặp nhiều khó khăn và sau đó sẽ kéo theo nhiều hệ quả nghiêm trọng khác.

Trả lời câu hỏi của đại diện 350.org Việt Nam rằng vấn đề thích ứng với BĐKH có được xem xét một cách đầy đủ và phù hợp với mức độ nghiêm trọng của nó hay chưa trong quá trình tham vấn với các nước khác về đập thủy điện, tiến sỹ Tuấn cho biết “Trong thời gian qua chúng tôi đã bỏ ra từ 1 tỷ đến 2 tỷ đồng để làm chương trình thích ứng với biến đổi khí hậu trong tương lai nhưng mà hầu hết tất cả những chương trình đó đều không xem xét hoặc xem xét rất là sơ bộ về tác động của các đập thủy điện bởi vì người ta cũng không biết là 11 – 12 đập thủy điện đó khi nào xây dựng? khi nào vận hành? và vận hành thế nào?. Chúng tôi cũng đã thử nghiệm coi là nếu làm một tổ hợp các trường hợp vận hành khác nhau chúng tôi phát hiện ra rằng phải chạy một bài toán trên cả ngàn những tổ hợp khác nhau. 

Bà Omboun Thipsuna, đại diện Hội đồng nhân dân 7 tỉnh Đông Bắc Thái Lan chia sẻ những quan điểm và thành quả của mình trong suốt quá trình tham vấn cộng đồng và phản đối chính phủ Thái Lan đầu tư xây dựng đập Xayaburi trên đất Lào.

Ông nhấn mạnh “Khi làm kế hoạch tổng thể (thích ứng với BĐKH) gặp vấn đề là đồng bằng sông Cửu Long sử dụng nguồn nước thế nào khi các đập thủy điện vận hành, đó là khó khăn lớn nhất. Đó là tại sao mà tôi nói rằng nó có thể sẽ phá vỡ tất cả các biện pháp thích ứng như bố trí thời vụ, tăng giống lúa chịu mặn hay chịu hạn … Đó mà bài toán còn rất lớn mà đến giờ tôi và các đồng nghiệp khác cũng chưa trả lời được.

Trong thông điệp gửi đi ở phần bế mạc diễn đàn nhằm khuyến cáo các cơ quan chức năng có nêu rõ: “Nhu cầu năng lượng vốn là lý lẽ biện minh của các dự án xây dựng các đập thủy điện cũng cần phải được xem xét nghiêm túc ở cả cấp quốc gia và khu vực. Việc phát triển năng lượng thay thế phải được thúc đẩy và đưa vào các chính sách năng lượng quốc gia cũng như khu vực.

Đồng bằng sông Cửu Long hiện là vùng đất chịu tác động nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, nếu phải gánh thêm những hậu quả từ việc phát triển thủy điện một cách thiếu cân nhắc và thiển cận vì những nguồn lợi trước mắt, chắc chắn khủng hoảng mà chúng ta chuẩn bị phải gánh chịu là rất tồi tệ. Điều này không những ảnh hưởng đến người dân 13 tỉnh nơi đây mà sẽ là an ninh lương thực của toàn bộ quốc gia, thậm chí là cả thế giới. Không ai bảo đảm được rằng không có cá từ thượng nguồn đổ về, không có đủ nước trồng lúa thì chúng ta không cần ăn mà có thể tồn tại cùng với các đập thủy điện và nhiệt điện khắp nơi.

Tất cả chúng ta cần phải hành động và bây giờ chính là thời điểm.

Chú thích:
(*): Xem phim tài liệu tại http://bitly.com/MekongDams

@ 350.org Việt Nam
Nguyễn Khánh Toàn
Điều phối miền Nam Phong trào toàn cầu về BĐKH 350.org tại Việt Nam
Gửi về từ An Giang, ngày 01 tháng 08 năm 2013
Nguồn: https://www.facebook.com/notes/việt-nam-với-chiến-dịch-toàn-cầu-về-bdkh-350org- /thích-ứng-với-biến-đổi-khí-hậu-tại-đồng-bằng-sông-cửu-long-sẽ-thất-bại-vì-đập-th/647340331943497

CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN TRÊN HỆ THỐNG SÔNG MEKONG :
BỐI CẢNH, TÁC ĐỘNG VÀ CÁC CHÍNH SÁCH THÍCH ỨNG

Trung tâm Con người và Thiên nhiên,  27. 6. 2012

Mê Kông là một trong 10 con sông lớn nhất thế giới với tổng chiều dài khoảng 4.800 km, bắt nguồn từ Trung Quốc và chảy qua các quốc gia Myanmar, Lào, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam. Ở phần thượng nguồn thuộc Trung Quốc và Myanmar, sông Mê Kông nhỏ hẹp, chảy mạnh, nhiều thác ghềnh và có tiềm năng lớn về thủy điện. Phần hạ nguồn, lòng sông mở rộng do được tiếp nhận nguồn nước từ rất nhiều chi lưu khác như Serepok, Se San và Sekong. Tại Phnom Phenh (Campuchia) dòng chính sông Mê-kong phân tách thành 2 nhánh, sông Tiền và sông Hậu, chảy qua địa phận các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) của Việt Nam và đổ ra biển Đông ở 9 cửa lớn. Cùng các chi lưu của nó, dòng Mê Kông đã tạo ra một lưu vực rộng lớn có diện tích khoảng 810.000 km2 với hệ sinh thái đất ngập nước vô cùng phong phú và đa dạng. Chính hệ sinh thái này đã mang lại nhiều nguồn lợi cho các quốc gia và người dân sinh sống trong lưu vực. Theo ước tính, khoảng 60 triệu người  hạ lưu vực đang phụ thuộc các vùng đất ngập nước thuộc lưu vực sông Mê Kông  trong sản xuất nông nghiệp, đánh bắt thủy sản và các hoạt động phục vụ sinh kế khác (MRC, 1997).

ĐBSCL của Việt Nam được hình thành chủ yếu từ trầm tích phù sa của sông Mê Kông và bồi dần qua các kỷ nguyên thay đổi mực nước biển. Những hoạt động hỗn hợp của sông và biển đã tạo ra vùng đồng bằng rộng lớn có  độ cao trung bình chỉ khoảng 1.5 m so với mực nước biển với những dải đất phù sa ngọt nằm xem kẽ giữa các vùng đất phèn và mặn. Do những đặc tính này, sông Mê Kông có một vai trò rất quan trọng đối với vùng ĐBSCL. Lượng phù sa từ sông Mê Kông đổ về làm hạn chế hiện tượng xói lở dọc bờ biển. Đặc biệt, các chu kỳ lũ hàng năm từ sông Mê Kông giúp ĐBSCL đẩy mặn, rửa phèn, cải tạo đất và qua đó cải thiện năng suất nông nghiệp. Ngoài ra, tương tự như các quốc gia khác trong lưu vực, sông Mê Kông còn là nguồn cung cấp nước tưới tiêu và thủy sản chính cho các tỉnh ĐBSCL của Việt Nam. Nhờ những ưu thế này, hàng năm  ĐBSCL đã đóng góp gần 60% sản lượng gạo và thủy sản cho Việt Nam dù chỉ chiếm khoảng 30%  tổng diện tích của cả nước (GSO, 2010).

Tầm quan trọng của sông Mê Kông đối với 6 quốc gia trong lưu vực là điểu không thể phủ nhận. Tuy nhiên, do sức ép của phát triển kinh tế, thiếu sự đồng thuận về lựa chọn chiến lược phát triển bền vững, các nước trong lưu vực đã và đang khai thác triệt để các nguồn lợi từ hệ thống sông Mê Kông nhằm phục vụ các ưu tiên phát triển của mình. Hoạt động phát triển kinh tế thiếu bền vững đã làm hình thái của sông Mê Kông thay đổi mạnh mẽ, đặc biệt sau những năm 1980. Theo đó, hàng ngàn hồ chứa, đập dâng, trạm bơm đã được xây dựng trên các dòng nhánh để sản xuất thủy điện, lấy nước phục vụ tưới tiêu và các nhu cầu khác của phát triển kinh tế. Phía thượng nguồn dòng chính, Trung Quốc đã và đang xây dựng 8 đập thủy điện với quy mô công suất lớn. Ở hạ nguồn, 12 đập thủy điện bậc thang cũng đang được đệ trình xây dựng, chưa kể các dự án chuyển nước từ sông Mê Kông về vùng Đông Bắc phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của Thái Lan đã được bàn luận đến trong nhiều năm qua. Việt Nam cũng phát triển tối đa hệ thống thủy lợi nhằm đáp ứng nhu cầu về nguồn nước cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, thủy sản, định cư và giao thông thủy. Tất cả những kiến tạo đó đã, đang và sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến sông Mê Kông và các hệ sinh thái trong lưu vực về nguồn nước, phù sa và sự sinh tồn của các loài thủy sản.

ĐBSCL được đánh giá là vùng sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ các hoạt động phát triển kinh tế thiếu bền vững ở thượng nguồn. Cùng với tác động của biến đổi khí hậu, chiến lược phát triển trên hệ thống sông Mê Kông của các quốc gia trong lưu vực sẽ đặt ĐBSCL trước một thách thức lớn trong việc duy trì nguồn nước, phù sa và nguồn lợi thủy sản nhằm đảm bảo duy trì hệ sinh thái đất ngập nước, năng xuất sản xuất nông nghiệp và sinh kế của hơn 18 triệu người sinh sống trong vùng.

Nhận thức được tầm quan trọng của dòng Mê Kông đối với tương lai phát triển của khu vực, năm 1995, Việt Nam cùng Campuchia, Lào và Thái Lan đã ký kết Hiệp định Mê Kông về hợp tác phát triển bền vững lưu vực sông Mê Kông. Các nguyên tắc cơ bản của Hiệp định này là các đề xuất phát triển trên dòng chính sông Mê Kông của các quốc gia thành viên phải được thông qua cơ chế tham vấn, thông báo trước và minh bạch thông tin. Theo đó, chính phủ các quốc gia trong lưu vực phải hợp tác chặt chẽ với nhau, cùng đối thoại, trao đổi với các bên liên quan trong nội bộ mỗi nước như chính quyền và nhân dân địa phương để tìm tiếng nói chung cho các quyết định phát triển. Trong bối cảnh đó, với vai trò là một bên tham gia quan trọng, các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam nói chung và ở khu vực ĐBSCL nói riêng cần được cung cấp thông tin, tăng cường hiểu biết, thực hiện các đánh giá độc lập để có thể tham gia mạnh mẽ hơn đối với các chiến lược, kế hoạch phát triển trên hệ thống sông Mê Kông, nhằm góp phần bảo vệ lợi ích cộng đồng, quốc gia và sự phát triển hài hòa trong lưu vực. Đây là những lý do chính mà PanNature tổ chức Hội thảo tập huấn “Chiến lược phát triển trên hệ thống sông Mê Kông: Bối cảnh, tác động và các chính sách thích ứng”.

Hội thảo được tổ chức trong 02 ngày 22 và 23 tháng 6 năm 2012 tại thành phố Cần Thơ. Giảng viên của khóa tập huấn là các chuyên gia có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực hợp tác quốc tế, quản trị tài nguyên nước, phát triển thủy điện, nông nghiệp và tài nguyên môi trường. Học viên tham dự bao gồm 50 đại diện từ các cơ quan nghiên cứu, tổ chức phi chính phủ và tổ chức cộng đồng làm việc trong các lĩnh vực liên quan từ 12 tỉnh, thành ở khu vực ĐBSCL và phụ cận. Sau khóa  tập huấn này, PanNature sẽ tiếp tục phối hợp với các học viên và tổ chức tham gia để có thể triển khai các hoạt động nghiên cứu, thông tin, tăng cường năng lực và chính sách liên quan đến vấn đề giám sát phát triển ở khu vực Mê Kông.

 

NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH

Phần I: Các chiến lược phát triển trên hệ thống sông Mê Kông: Bối cảnh và tác động

Tổng quan các chiến lược và kế hoạch phát triển trên lưu vực sông Mê Kông
Th.S Trần Thị Thanh Thủy, PanNature

Chiến lược phát triển thủy điện trên hệ thống sông Mê Kông và tác động đối với ĐBSCL
TS. Lê Anh Tuấn – Trường ĐH Cần Thơ

Phát triển nông nghiệp, thủy lợi và các áp lực về nguồn nước trong lưu vực sông Mê Kông
TS. Lê Phát Qưới – Viện Môi trường và Tài nguyên

Hoạt động phát triển, vấn đề suy thoái nguồn nước và các tác động đối với hệ sinh thái lưu vực sông Mê Kông
TS. Lê Phát Qưới – Viện Môi trường và Tài nguyên

Thảo luận nhóm: Đánh giá tác động tiềm ẩn của phát triển trên lưu vực sông Mê Kông đối với Việt Nam và các ưu tiên cần giải quyết đối với ĐBSCL.

Phần 2:  Sự tham gia của các tổ chức xã hội dân sự trong phát triển lưu vực Mê Kông

Giới thiệu về Hiệp định Mê Kông 1995: Nguyên tắc và cơ chế tham gia của các tổ chức xã hội dân sự
TS. Lê Anh Tuấn – Trường ĐH Cần Thơ

Sự tham gia và kinh nghiệm của một số tổ chức xã hội dân sự của các quốc gia khác  trong việc thúc đẩy phát triển bền vững  lưu vực sông Mê Kông
Ông Trịnh Lê Nguyên – PanNature

Phần 3:  Xây dựng ý tưởng nghiên cứu và đánh giá chính sách ở khu vực ĐBSCL

Chính sách công và vai trò của XHDS
Th.S Trần Thị Thanh Thủy, PanNature

Phương pháp luận, các bước và công cụ cần thiết  trong  quá trình phân tích và đánh giá chính sách
Th.S Trần Thị Thanh Thủy, PanNature

Xác định nội dung ưu tiên cho hoạt động giám sát, phản biện và vận động chính sách phát triển vùng lưu vực Mê Kông của tổ chức xã hội dân sự khu vực ĐBSCL

Giới thiệu về các cơ hội tài trợ và chương trình hỗ trợ nghiên cứu chính sách của PanNature

Xây dựng các ý tưởng đề xuất nghiên cứu chính sách theo nội dung ưu tiên

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nguồn: Trung tâm Con người và Thiên nhiên
http://nature.org.vn/vn/2012/06/chien-luoc-phat-trien-tren-he-thong-song-me-kong/

SÔNG MEKONG : THÁCH THỨC TỪ MẤT RỪNG VÀ CHUYỂN NƯỚC

vncold.vn

Liên quan đến những thách thức đối với sông Mekong, việc xây dựng các đập thủy điện đã được đề cập khá nhiều. Có ý kiến cho rằng đó còn liên quan đến sự tồn vong của dòng sông. Xin không đề cập thêm trong bài .

Ít được nói đến nhưng theo tôi quan trọng không kém và gắn kết với các đập, đó là tình trạng mất rừng trong lưu vực và vấn đề chuyển nước ra khỏi lưu vực.

Cái giá mất rừng

Rừng đầu nguồn bị tàn phá là một mối đe dọa nặng nề đối với dòng sông, nhất là ở vùng nhiệt đới. Ai cũng biết, mất rừng kéo theo xói mòn, rửa trôi mà hậu quả là nâng cao đáy các hồ đập, thay đổi địa mạo của lòng sông, chế độ thủy văn của sông và trong một số trường hợp, cả địa mạo của vùng.

Hồ Tonlé Sap là một ví dụ cụ thể. Do nạn phá rừng quanh hồ này trong những thập niên gần đây, đáy hồ mỗi năm được nâng lên từ 10 đến 12 cm, sức chứa của hồ giảm đi tương ứng. Chức năng trữ và điều tiết của hồ sẽ thay đổi khác với trước đây là điều sẽ xảy ra nếu không ngăn chặn được tình hình mất rừng hiện nay.

Để định lượng cụ thể tình trạng mất rừng, cần tính toán đầy đủ để được 1 MW thủy điện sẽ phải mất bao nhiêu ha rừng cho lòng hồ, cho nhà máy và hạ tầng cơ sở khác, và các hậu quả của sự mất mát này.

Một lãnh đạo của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lâm Đồng, cho biết chỉ với 25 công trình thủy điện đã và đang được triển khai, tỉnh đã mất hơn 15000ha rừng tự nhiên. Từ đó bài báo đưa ra con số để có 1MW điện phải mất ít nhất 10-16ha rừng tự nhiên [2].
Con số này là bao nhiêu đối với 9 tỉnh khu vực miền Trung – Tây Nguyên (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng) nơi, theo số liệu của Bộ Công thương, đang có tới 393 dự án thủy điện với tổng công suất lắp máy khoảng 7381MW [3]. Tình trạng lũ lụt ở các tỉnh miền Trung trong những tuần gần đây có nguyên nhân của thời tiết, nhưng chắc chắn có nguyên nhân từ tình hình mất rừng.

Nói gắn kết là vì vậy. Để có đập phải mất rừng. Số đập dày đặc thì sẽ không còn rừng. Lòng hồ bị nâng đáy, công suất giảm so với thiết kế, lượng nước chảy về hồ nhanh gần như tức thì, tần suất xã lũ nhặt hơn, nhà dân và hạ tầng cơ sở bị phá hỏng.

Nếu đập nằm trên vùng bán sơn địa, ngoài mất rừng, còn mất nhiều diện tích đất nông nghiệp và nhiều hộ dân phải tái định cư.

Chuyển nước

Dòng sông sẽ suy yếu nghiêm trọng, thậm chí sẽ “chết” đi, nếu nó liên tục bị chích mất nước, giống như một cơ thể con người liên tục bị chích máu.

Những dự án chuyển nước từ lưu vực của một dòng sông sang lưu vực của một dòng sông khác, và kể cả trong cùng lưu vực, do vậy cần được tính toán, đánh giá các tác động kinh tế, xã hội, môi trường, và cụ thể những thay đổi đối với dòng sông, lưu vực, những mặt được – mất đối với các quốc gia có liên quan khi dòng sông chảy qua nhiều nước.

Từ thập niên 1980 – 1990, Thái Lan đã đề xuất hai dự án chuyển nước: dự án Kok – Ing – Yom – Nan ở vùng Bắc Thái Lan, và dự án Kong – Chi – Mun ở phía Đông Bắc Thái Lan.

Dự án Kok – Ing – Yom – Nan chuyển nước từ hai phụ lưu của sông Mekong, sông Kok và sông Ing, vào sông Yom và sông Nan, hai phụ lưu của sông Chao Praya, nhằm tăng thêm nguồn nước cho đập Sirikit và lượng nước tưới cho miền Trung Thái Lan. Đây là một dự án chuyển lưu vực và sẽ làm thất thoát nguồn nước sông Mekong.

Dự án Kong – Chi – Mun, không chuyển nước ra ngoài lưu vực, mà đưa nước từ sông Mekong vào các hồ chứa hiện có và mới sẽ xây thêm nhằm tưới cho 510000 rai đất nông nghiệp (tương đương 81600 ha) ở vùng Đông Bắc Thái Lan. Lượng nước mất đi và chất lượng nước trả lại cho dòng chính là những mối quan ngại đối với Lào và nhất là Campuchia và Việt Nam.

Chính vì hai dự án này mà Ủy ban lâm thời sông Mekong đã đi vào bế tắc và đã giải thể năm 1992.

Gây lo ngại lớn là dự án đồ sộ chuyển nước Nam – Bắc trên lãnh thổ Trung Quốc với ba tuyến chuyển Đông, Trung và Tây, dự kiến bổ sung 44,8 tỉ m3/năm nước từ sông Trường Giang sang sông Hoàng Hà, sau đó đưa đến Bắc Kinh, Thiên Tân.

Tuyến phía Đông đã được triển khai. Tuyến phía Tây bắt đầu triển khai năm 2010. Còn tuyến phía Tây? và trong 17 tỉ m3/năm từ tuyến này, có chuyển nước từ sông Mekong và sông Salween hay không? Thông tin có được rất ít và không rõ ràng.

Trong quy hoạch ban đầu vào cuối thập niên 1950 dự án định chuyển nước từ năm con sông Nu (Salween), Lancang (Mekong), Tongtian, Yalong, Dadu sang sông Hoàng Hà. Việc chuyển nước như vậy sẽ gây nhiều hậu quả về môi trường và về kinh tế xã hội to lớn cho các nước ở hạ lưu là Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam.

Sau đó phương án này không được công khai nhắc đến có thể vì liên quan đến các nước ở hạ lưu. Tuyến phía Tây được thể hiện rất đơn sơ trong hình dưới đây.

Có bao nhiêu đập đã, đang và sẽ được xây dựng trên sông Lancang (Mekong thượng nguồn)? Theo bản đồ của Ủy hội sông Mekong, có 7. Có tài liệu nói đến con số 14. Theo tài liệu đọc được trên mạng meltdownintibet.com thì số đập trên sông Lancang cao hơn nhiều và hầu hết đều đã và đang được xây dựng.

Có cơ sở để nghĩ rằng các thông tin về các đập trong bản đồ trên đây là xác thực, vì: (1) nó đúng với lô-gíc tích nước để chuyển nước; (2) còn có một bản đồ tiếng Trung trùng hợp với bản đồ này.

Như vậy: (1) thách thức từ các đập thủy điện đối với hạ lưu vực sông Mekong không phải chỉ đến từ 7 con đập. Nó còn sang một cấp độ khác vì nguồn nước có cơ bị thất thoát; (2) vấn đề chuyển nước sông Mekong trong dự án chuyển nước Nam-Bắc của Trung Quốc vẫn là thời sự, và đương nhiên là mối quan ngại hàng đầu đối với các quốc gia ở hạ lưu; (3) số đập và việc chuyển nước Mekong cần được làm sáng tỏ.

Phải chăng sự gần kề giữa sông Lancang và sông Jingsa-Yangtsé cùng lúc với mực nước dâng tích lại từ các đập xây dựng trên sông Lancang đã luôn âm ỉ nuôi dưỡng việc thực hiện ý tưởng chỉ đạo từ ban đầu đưa nước sông Lancang (và sông Nu) vào dự án chuyên nước Bắc Nam?

Sáu đề xuất và kiến nghị

1. Quy hoạch tổng thể phát triển vùng (hay lưu vực sông), các quy hoạch phát triển ngành (nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp, du lịch, …) và tiểu vùng (hay quốc gia trong lưu vực) cần phải hài hòa với nhau. Hãy để dòng sông “sống” với vùng (lưu vực), với con người và phục vụ con người.

2. Ngăn chặn nạn phá rừng, nhất là rừng đầu nguồn là một nhiệm vụ bức xúc của các quốc gia trong lưu vực.

3. Lancang-Mekong là một con sông quốc tế. Các dự án chuyển nước phải được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng và đầy đủ. Vấn đề xây dựng đập cũng vậy. Các báo cáo tác động môi trường cho toàn bộ lưu vực, trong thời gian dài là bắt buộc. Tốt nhất là đặt trong một quy hoạch tổng thể lưu vực sông.

4. Khai thác tài nguyên nước tại một quốc gia trong lưu vực phải đi đôi với trách nhiệm đối với tất cả các thay đổi trong toàn lưu vực do việc khai thác này gây ra. Quyền lợi của một nước trong lưu vực không thể tách rời quyền lợi của tất cả các nước khác cùng chia sẻ lưu vực.

Hợp tác để cùng phát triển bền vững giữa tất cả các nước trong lưu vực là cách ứng xử đúng đắn nhất.

5. Các số liệu khí tượng thủy văn trong lưu vực sông Lancang – Mekong phải được chia sẻ giữa các nước trong lưu vực. Chế độ vận hành của các đập cũng vậy. Những thông tin này là cần thiết cho việc quản lý các rủi ro trong toàn lưu vực.

6. Ủy ban quốc gia của Việt Nam trong Ủy hội sông Mekong, gắn trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của đất nước, theo nguyên tắc Hợp tác để cùng phát triển bền vững, với nhiệm vụ báo cáo với Chính phủ và qua Chính phủ, báo cáo với Quốc hội, mặt khác thông cho rộng rãi các nhà khoa học các thông tin liên quan đến tài nguyên nước và việc sử dụng nó trong lưu vực sông Mekong, để được thêm sư hậu thuẩn cho tiếng nói của mình tại diễn đàn quốc tế.

 (Theo vncold.vn)


[1] Một cuộc Hội thảo Đối thoại chính sách: Phát triển đập thuỷ điện trên sông Mekong và thách thức đối với Việt Nam” với đại biểu Quốc hội Khóa XII vừa được Trung tâm Con người và Thiên nhiên và Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam phối hợp tổ chức tại Hà Nội ngày 7.11.2010.

[2] Bài “1MW điện giá bao nhiêu?” Tuổi Trẻ cuối tuần, số ra ngày 05.10.2010.

[3] Báo cáo của Bộ Công thương gửi Thủ tướng Chính phủ tháng 3-2010 về kết quả rà soát các dự án thủy điện và việc vận hành các đập thủy điện.

Nguồn: Tổng cục Thủy Lợi, Trung tâm Tư vấn và Chuyển giao Công nghệ Thủy Lợi
Sông Mekong: Thách thức từ mất rừng và chuyển nước

NHỮNG TRANG TIN CÙNG CHỦ ĐỀ
Sông Mekong tài liệu tổng hợp trên Khatkhaoxanh
Sông Mekong tài liệu tổng hợp
trên TS. Hoàng Kim

Sông Mekong tài liệu tổng hợp trên Điểm chính
Sông Mekong tài liệu tổng hợp trên Ngọc Phương Nam

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích


Secret Garden – Bí mật vườn thiêng 
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter