Chào ngày mới 22 tháng 11


Libang_Lebnen18CNM365. Chào ngày mới 22 tháng 11. Ngày độc lập của Liban từ Pháp năm 1943. Liban là đất nước đa dạng tôn giáo nhất Trung Đông, Thánh đường Kitô giáo và Hồi giáo bên cạnh nhau (hình). Liban từng là ngã ba đường giữa các nền văn minh trong nhiều thiên niên kỷ, vì vậy không ngạc nhiên khi một đất nước nhỏ lại sở hữu một nền văn hóa giàu có và mạnh mẽ đến như vậy. Số lượng lớn các nhóm sắc tộc, tôn giáo ở Liban khiến nước này có một nền văn hóa ẩm thực, âm nhạc, văn học truyền thống, lễ hội rất lớn và đa dạng;  ẩn tàng nhiều cơ hội và hiểm họa. Ngày này năm xưa. Năm 1916, ngày sinh của Phạm Huy Thông (1916–1988) là nhà khoa học xã hội Việt Nam nổi tiếng, nhà giáo, nhà thơ,  Năm 1916, ngày mất của Jack London (12 tháng 1 năm 1876 – 22 tháng 11 năm 1916) là nhà văn nổi tiếng người Mỹ, tác giả Tiếng gọi nơi hoang dã (The Call of the Wild), Tình yêu cuộc sống (Love of Life) và hơn 50 tác phẩm khác. Năm 1943 Hội nghị Cairo, Chiến tranh Thái Bình Dương, Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt, Thủ tướng Anh Quốc Winston Churchill và Tổng thống Trung Quốc Tưởng Giới Thạch họp tại Cairo, Ai Cập, nhằm thảo luận cách đánh bại Nhật Bản. Năm 2005,  Angela Merkel trở thành nữ Thủ tướng Đức đầu tiên; xem tiếp https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-22-thang-11/

Bài chọn lọc:  Nông nghiệp và nghề nông người Việt.

.

NÔNG NGHIỆP VÀ NGHỀ NÔNG NGƯỜI VIỆT
Hoang To Nguyen
Hoàng Kim
.

Năm 2017, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn nhân ngày Nhà Giáo Việt Nam và kỷ niệm 60 năm Lịch sử và Truyền thống, Hội nhập Phát triển của Trường, đã tổ chức Hội thảo Quốc tế “Vai trò của Khoa học Xã hội Nhân văn trong phát triển Kinh tế Xã hội và Hội nhập Quốc tế. Hội thảo quy tụ hơn 250 đại biểu đến từ Việt Nam và trên 50 đại biểu đến từ 14 nước và tổ chức Quốc tế với trên 200 tham luận. Hoang To Nguyen (tiến sĩ ngữ văn tiếng Trung, dạy lưu học sinh Trung Quốc về ‘đất nước, con người, ngôn ngữ, văn hóa, xã hội, nhân văn Việt Nam” cần một số tư liệu về đất nước thức ăn và con người Việt để bổ sung đề cương bài giảng ‘dịch thuật ngôn ngữ Việt Trung’ nêu trên. Chúng tôi xin trích dẫn một ít dữ liệu liên ngành và bước đầu tìm hiểu lĩnh vực liên ngành rộng hơn là ngôn ngữ và nông học, phải học để làm (Learning by Doing). Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam đã kỷ niệm 90 năm thành lập 1925- 2015 kế thừa và phát triển (tiền thân là Viện Khảo cứu Nông Lâm Đông Dương). Trường Đại học Nông Lâm Hồ Chí Minh Gia đình Nông nghiệp cũng đã kỷ niệm 60 năm bảo tồn và phát triển 1955 – 2015 (tiền thân là Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Bảo Lộc). Chúng tôi cũng đối chiếu 500 năm nông nghiệp Brazil để so sánh một góc nhìn tham chiếu. Bài viết này hoàn thiện dần mỗi năm theo hướng ấy. Cám ơn quý Thầy Cô và bạn đọc.

VIỆT NAM ĐẤT NƯỚC VÀ CON NGƯỜI
Một thoáng Việt Nam

Hoàng Tố Nguyên và Hoàng Kim

Việt Nam tổ quốc tôi là một đất nước yêu độc lập, tự do và hạnh phúc. Tôi yêu Việt Nam. Đất nước tôi hình chữ S, nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, ở phía đông bán đảo Đông Dương, phía bắc giáp Trung Quốc, phía tây giáp Lào, Campuchia, phía đông nam trông ra biển Đông và Thái Bình Dương. Việt Nam có diện tích 331.211,6 km², dân số Việt Nam có 85.789,6 nghìn người (4/2009) Thủ đô là Hà Nội. Ba thành phố chính nổi tiếng nhất của Việt Nam là Hà Nội, Huế và thành phố Hồ Chí Minh. Bờ biển Việt Nam dài 3 260 km, biên giới đất liền dài 4 510 km. Trên đất liền, từ điểm cực Bắc đến điểm cực Nam (theo đường chim bay) dài 1 650km, từ điểm cực Đông sang điểm cực Tây nơi rộng nhất 600km (Bắc bộ), 400 km (Nam bộ), nơi hẹp nhất 50km (Quảng Bình). Kinh tuyến Việt Nam từ 102º 08′ đến 109º 28′ đông,Vĩ tuyến Việt Nam từ 8º 02′ – 23º 23′ bắc. Việt Nam là đầu mối giao thông từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương. Khí hậu Việt Nam là khí hậu của nước nhiệt đới gió mùa; Địa hình lãnh thổ Việt Nam phần đất liền bao gồm 3 phần 4 là đồi núi; Tài nguyên Việt Nam có những nguồn tài nguyên vô cùng phong phú như tài nguyên rừng, tài nguyên thủy hải sản, tài nguyên du lịch và nhiều loại khoáng sản đa dạng, nhưng trên hết trước hết đó là tài nguyên con người hiền hòa, thân thiện, anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang, năng động, sáng tạo, sống có trách nhiệm với mái nhà chung Trái Đất, thích làm bạn với nhân dân thế giới. Đơn vị hành chính Việt Nam có 65 tỉnh và thành phố.

TỔNG QUAN VIỆT NAM ĐẤT NƯỚC CON NGƯỜI

KHÁI QUÁT CHUNG                             NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM


VĂN HÓA                                                  GIÁO DỤC, KINH TẾ, DU LỊCH

  • Phong tục tập quán                          Giáo dục Việt Nam
  • Ngôn ngữ văn học                            Kinh tế Việt Nam
  • Lễ hội & trò chơi dân gian                Du lịch Việt Nam
  • Nghệ thuật biểu diễn                       + Du lịch thành phố Hồ Chí Minh
  • Trang phục                                      + Du lịch miền Tây Nam Bộ
  • Kiến trúc, mỹ thuật                          + Du lịch vùng Đông Nam Bộ
  • Món ăn, hoa, trái                             + Du lịch Nam Trung Bộ và Tây Nguyên
  • Chợ                                                 + Du lịch các tỉnh phía Bắc Việt Nam

 

Hình 1: Việt Nam có 65 tỉnh và thành phố

NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Nông nghiệp là nền tảng của kinh tế Việt Nam

Đất, nước, thức ăn là căn bản của đời sống con người. Việt Nam là chốn tổ của nền văn minh lúa nước với các di tích khảo cổ về người tiền sử và các nền văn hóa Hà Bình, Bắc Sơn gần 10.000 năm trước Công nguyên đã chứng tỏ sự xuất hiện của nông nghiệp và chăn nuôi. Nông nghiệp Việt Nam ngày nay đang vượt ra khỏi sản xuất nông nghiệp truyền thống không chỉ tạo ra lương thực thực phẩm cho con người (food) thức ăn cho các con vật (feed) mà còn là nguyên liệu của các ngành công nghiệp may mặc, sợi dệt, chất đốt, cây cảnh và sinh vật cảnh, chất hóa học, cơ giới hóa nông nghiệp,  sinh hóa học nông nghiệp. các loại phân bón, thuốc trừ sâu, diệt cỏ. Nông nghiệp  truyền thống và nông nghiệp hiện đại là “dĩ nông vi bản” ngành nền tảng của kinh tế Việt Nam

Bảy vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam

      Nông nghiệp Việt Nam liên quan chặt chẽ với bảy vùng sinh thái nông nghiệp:

  1. Vùng núi và trung du phía Bắc, có tiểu vùng Tây Bắc gồm 4 tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình., với tiểu vùng Đông Bắc: gồm 11 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Giang, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ.
  2. Vùng đồng bằng sông Hồng: gồm 11 tỉnh Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nội, Hà Tây, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Vĩnh Phúc.
  3. Vùng Bắc Trung bộ: gồm 6 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế.
  4. Vùng Nam Trung bộ: gồm 6 tỉnh Đà Nẵng,Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà.
  5. Vùng Tây Nguyên: gồm 5 tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông, Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum.
  6. Vùng Đông Nam bộ: gồm 8 tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà rịa – Vũng Tàu.
  7. Vùng Tây Nam bộ: gồm 13 tỉnh Long An, Bến Tre, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang, Tiền Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, An Giang, Trà Vinh.

Đặc điểm bảy vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam

  1. Vùng núi và trung du phía Bắc có đặc điểm sinh thái chính: Núi cao nguyên và đồi thấp, Đất feralit đỏ vàng, đất phù sa cổ bạc màu; Khí hậu cận nhiệt đới, ôn đới trên núi, có mùa đông lạnh. Điều kiện kinh tế xã hội: Mật độ dân số tương đối thấp. Dân có kinh nghiệm sản xuất lâm nghiệp, trồng cây công nghiệp. Ở vùng trung du có các cơ sở công nghiệp chế biến. Điều kiện giao thông tương đối thuận lợi.Ở vùng núi còn nhiều khó khăn. Trình độ thâm canh thấp; sản xuất theo kiểu quảng canh, đầu tư ít lao động và vật tư nông nghiệp. Ở vùng trung du trình độ thâm canh đang được nâng cao. Chuyên môn hóa sản xuất: Cây công nghiệp có nguồn gốc cận nhiệt và ôn đới (chè, trầu, sở, hồi..); Đậu tương, lạc, thuốc lá. Cây ăn quả, cây dược liệu; Trâu, bò lấy thịt và sữa, lợn (trung du).
  2. Vùng đồng bằng sông Hồng có đặc điểm chính về sinh thái nông nghiệp:Đồng bằng châu thổ có nhiều ô trũng; Đất phù sa sông Hồng và sông Thái Bình; Có mùa đông lạnh. Điều kiện kinh tế xã hội: Mật độ dân số cao nhất cả nước. Dân có kinh nghiệm thâm canh lúa nước. Mạng lưới đô thị dày đặc; các thành phố lớn tập trung công nghiệp chế biến. Quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đang được đẩy mạnh. Trình độ thâm canh: Trình độ thâm canh khá cao, đầu tư nhiều lao động; Áp dụng các giống mới, cao sản, công nghệ tiến bộ. Chuyên môn hóa sản xuất: Lúa cao sản, lúc có chất lượng cao; Cây thực phẩm, đặc biệt là các loại rau cao cấp. Cây ăn quả; Đay, cói; Lợn, bò sửa (ven thành phố lớn), gia cầm, nuôi thủy sản nước ngọt (ở các ô trũng), thủy sản nước mặn, nước lợ.
  3. Vùng Bắc Trung bộ: Điều kiện sinh thái nông nghiệp: Đồng bằng hẹp, vùng đối trước núi Đất phù sa, đất feralit (có cả đất badan) Thường xảy ra thiên tai (bão, lụt), nạn cát bay, gió Lào; Điều kiện kinh tế – xã hội: Dân có kinh nghiệm trong đấu tranh chinh phục tự nhiên. Có một số đô thị vừa và nhỏ, chủ yếu ở dải ven biển. Có một số cơ sở công nghiệp chế biến. Trình độ thâm canh: Trình độ thâm canh tương đối thấp. Nông nghiệp sử dụng nhiều lao động. Chuyên môn hóa sản xuất: Cây công nghiệp hàng năm (lạc, mía, thuốc lá..) Cây công nghiệp lâu năm (cà phê, cao su) Trâu, bò lấy thịt; nuôi thủy sản nước mặn, nước lợ.
  4. Vùng Nam Trung bộ: Điều kiện sinh thái nông nghiệp: Đồng bằng hẹp, khá màu mỡ. Có nhiều vụng biển thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản. Dễ bị hạn hán về mùa khô; Điều kiện kinh tế xã hội: Có nhiều thành phố, thị xã dọc dài ven biển. Điều kiện giao thông vận tải thuận lợi. Trình độ thâm canh: Trình độ thâm canh khá cao. Sử dụng nhiều lao động và vật tư nông nghiệp. Chuyên môn hóa sản xuất: Cây công nghiệp hàng năm (mía, thuốc lá) Công công nghiệp lâu năm (dừa) Lúa Bò thịt, lợn Đánh bắt và nuôi trồng thủy sản.
  5. Vùng Tây Nguyên: Điều kiện sinh thái nông nghiệp: Các cao nguyên ba dan rộng lớn, ở các độ cao khác nhau. Khí hậu phân ra hai mùa mưa, khô rõ rệt. Thiếu nước về mùa khô. Điều kiện kinh tế xã hội: Có nhiều dân tộc ít người, còn tiến hành nông nghiệp kiểu cổ truyền. Có các nông trường Công nghiệp chế biến còn yếu Điều kiện giao thông khá thuận lợi Trình độ thâm canh: Ở khu vực nông nghiệp cổ truyền, quảng canh là chính. Ở các nông trường, các nông hộ, trình độ thâm canh đang được nâng lên Chuyên môn hóa sản xuất: Cà phê, cao su, chè, dâu tằm, hồ tiêu Bò thịt và bò sữa
  6. Vùng Đông Nam bộ: Điều kiện sinh thái nông nghiệp: Các vùng đất ba dan và đất xám phù sa cổ rộng lớn, khá bằng phẳng Các vùng trũng có khả năng nuôi trồng thủy sản Thiếu nước về mùa khô Điều kiện kinh tế – xã hội: Có các thành phố lớn, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Tập trung nhiều cơ sở công nghiệp chế biến Điều kiện giao thông vận tải thuận lợi Trình độ thâm canh cao. Sản xuất hàng hóa, sử dụng nhiều máy móc, vật tư nông nghiệp Chuyên môn hóa sản xuất: Các cây công nghiệp lâu năm (cao su, cà phê, điều) Cây công nghiệp ngắn ngày (đậu tương, mía) Nuôi trồng thủy sản- Bò sữa (ven các thành phố lớn), gia cầm
  7. Vùng Tây Nam bộ: Các điều kiện sinh thái nông nghiệp: Các dải phù sa ngọt, các vùng đất phèn, đất mặn Vịnh biển nông, ngư trường rộng Các vùng rừng ngập mặn có tiềm năng để nuôi trồng thủy sản.Có thị trường rộng lớn là vùng Đông Nam Bộ Điều kiện giao thông vận tải thuận lợi Có mạng lưới đô thị vừa và nhỏ, có các cơ sở công nghiệp chế biến. Trình độ thâm canh cao. Sản xuất hàng hóa, sử dụng nhiều máy móc, vật tư nông nghiệp Chuyên môn hóa sản xuất: Lúa, lúa có chất lượng cao Cây công nghiệp ngắn ngày (mía, đay, cói) Cây ăn quả nhiệt đời Thủy sản (đặc biệt là tôm) Gia cầm (đặc biệt là vịt đàn)

Hiện trạng tầm nhìn lao động nông nghiệp Việt Nam

Lao động Nông nghiệp Việt Nam hiện có khoảng 22 triệu người chủ yếu tập trung ở nông thôn khoảng 69 %, khu vực thành thị khoảng 31 %. Việt Nam là nước nông nghiệp với nhiều lợi thế từ các sản phẩm nhiệt đới nhưng sự biến tiềm năng đó thành hiện thực, làm động lực cho phát triển nền nông nghiệp hàng hóa lớn và sản phẩm có thương hiệu và khả năng cạnh tranh còn hạn chế.

Hệ thống ngành nghề nông lâm ngư nghiệp thủy sản Việt Nam đang đào tạo chính trong 9 nhóm ngành nghề nông lâm ngư nghiệp thủy sản gồm: 1. Ngành Trồng trọt: 2. Ngành chăn nuôi:  3. Ngành Nông học: 4. Ngành Bảo vệ thực vật; 5. Ngành lâm nghiệp   6. Ngành Nông lâm kết hợp 7. Ngành Nuôi trồng thủy sản: 8. Ngành Cảnh quan và Kĩ thuật hoa viên: 9. Ngành Quản lí đất đai;

Việc chuyển đổi tầm nhìn và đầu tư sâu vào quá trình đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp sinh thái là rất cần thiết. Ngành Nông Lâm Ngư nghiệp nằm trong các nhóm ngành có thu nhập không cao, nhưng mỗi năm Việt Nam cả nước cần cung cấp ổn đinh trên 1 triệu lao động cho các nhóm ngành chính: Nông nghiệp 58.000 – 60.000 người/năm, Lâm nghiệp 8.000 – 10.000 người/năm, thủy lợi 7.000 – 9.000 người/năm; thủy sản 8.000 – 8.500 người/năm.

Còn tiếp xep tiếp tại http://hoangkimvn.wordpress.com/category/viet-nam-dat-nuoc-va-con-nguoi/


Kỉ yếu Nong Lam University

Nong Lam University
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

Advertisements

Chào ngày mới 19 tháng 11


CNM365. Chào ngày mới 19 tháng 11. Ngày kỷ niệm thành lập Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, (1955) một trong những trung tâm đào tạo và nghiên cứu lớn nhất về nông lâm ngư nghiệp của Việt Nam, có tiền thân là Trường Quốc gia Nông Lâm Mục Bảo Lộc. Năm 1863 ngày Tổng thống Hoa Kỳ Abraham Lincoln  đọc bài Diễn văn đặc biệt nổi tiếng, được trích dẫn nhiều nhất trong lịch sử Hoa Kỳ tại nghĩa trang quân đội Hoa Kỳ ở Gettysburg, Pennsylvania. Năm 1917 ngày sinh Indira Gandhi  là thủ tướng thứ ba của Ấn Độ, (mất năm1984), một trong những chính khách nổi bật nhất, là con gái của thủ tướng đầu tiên, Jawaharlal Nehru, và là mẹ của một thủ tướng khác, Rajiv Gandhi, Bà không có quan hệ họ hàng gì với Mahatma Gandhi nhưng có những tính cách nổi bật theo gương của vị thánh nhân lỗi lạc này; xem tiếp https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-19-thang-11/;  Bài viết chọn lọc: Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời

Thaybanlalocxuancuocdoi

THẦY BẠN LÀ LỘC XUÂN CUỘC ĐỜI
Hoàng Kim
Bao năm Trường Viện là nhà Lúa Ngô Khoai Sắn đều là thịt xương. Một đời người một rừng cây Thầy ươm giống tốt để mai thành rừng. Tôi viết bài này để tỏ lòng biết ơn thầy bạn dưới mái trường Nông Lâm thân thương và làm món quà nhỏ thân tặng cho các em sinh viên nghèo hiếu học nhân ngày Nhà giáo Việt Nam. Thầy, bạn là lộc xuân cuộc đời.  “Em đã học nhiều gương sáng danh nhân. Hãy biết nhục, biết hèn mà lập chí. Thắp đèn lên đi em, ngọn đèn dầu bền bỉ. Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin” (1).

Về lại mái trường ta đã lớn khôn

Ai cũng có ước nguyện về trường. Tôi thấu hiểu vì sao thầy Đặng Quan Điện người Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn (tiền thân của Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh hiện nay) năm trước đã đề nghị cho Thầy được ghé thăm Trường trước khi Thầy đi vào chốn vĩnh hằng. Thầy Tôn Thất Trình, người hiệu trưởng thứ hai của Trường nay 80 tuổi đã viết blog The Gift (2) như một quà tặng trao lại cho lớp trẻ và viết hai  bài hột lúa (3), con cá (4) cho ngày Nhà giáo Việt Nam.  Thầy Lưu Trọng Hiếu với tình yêu thương gửi lại (5) đã hiến tặng toàn bộ tiền phúng viếng của Thầy cùng với số tiền gia đình góp thêm để làm quỷ học bổng cho Trường tặng những em sinh viên nghèo hiếu học. Ca sỹ Đàm Vĩnh Hưng tặng học bổng cho sinh viên Đại học Nông Lâm gặp khó khăn học giỏi (6) vì tuổi thơ của anh nhọc nhằn không có cơ hội đến trường, khi thành đạt anh muốn chia sẻ để chắp cánh cho những ước mơ.

Tôi cũng là người học trò nghèo năm xưa với ba lần ra vào trường đại học, cựu sinh viên của năm lớp, nay tỏ lòng biết ơn bằng cách trở lại Trường góp chút công sức đào tạo và vinh danh những người Thầy người Bạn đã cống hiến không mệt mỏi, thầm lặng và yêu thương góp công cho sự nghiệp trồng người. Chừng nào mỗi chúng ta chưa thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa đủ mang lại niềm vui cho bữa ăn người nghèo thì chừng đó chúng ta vẫn còn phải dạy và học. Cái gốc của sự học là học làm người. Bài học quý về tình thầy bạn mong rằng sẽ có ích cho các em sinh viên đang nổ lực khởi nghiệp.

Quê tôi ở miền Trung nghèo khó “Nhà mình gần ngã ba sông/ Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình,/ Linh Giang (7) sông núi hữu tình / Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con/ Chèo thuyền cho khuất bến Son/ Để con khỏi chộ (thấy) nước non thêm buồn/ Câu thơ quặn thắt đời con/ Mẹ cha mất sớm, con còn trẻ thơ”. Mẹ tôi mất sớm, cha bị bom Mỹ giết hại, tôi và chị gái đã được anh Hoàng Ngọc Dộ nuôi dạy cơm ngày một bữa suốt năm năm trời. Thầy Nguyễn Khoa Tịnh đứng khóc trên bục giảng (8) vận động thầy cô, bạn hữu chia sớt khoai sắn giúp đỡ. Tôi cũng dạy năm lớp vở lòng, ba lớp bổ túc văn hóa để vượt khó vươn lên. Thầy Hiệu trưởng Trần Đình Côn đã viết những lời xúc động trong trường ca tình thầy trò: “Thương em nhỏ gieo neo mẹ mất. Lại cha già giặc giết hôm qua. Tình thầy, tình bạn, tình cha. Ấy là ân nghĩa thiết tha mặn nồng” (9)  Những gương mặt thầy bạn đã trở thành máu thịt trong đời tôi.

Thi đậu vào Trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc năm 1970, tôi học Trồng trọt 4 cùng khóa với các bạn Trần Văn Minh, Đỗ Thị Minh Huệ, Phan Thanh Kiếm, Đỗ Khắc Thịnh, Vũ Mạnh Hải, Phạm Sĩ Tân, Phạm Huy Trung, Lê Xuân Đính, Nguyễn Hữu Bình, Lê Huy Bá … cho đến ngày 02 tháng 9 năm 1971 thì tôi gia nhập quân đội cùng lứa với Nguyễn Văn Thạc. Đợt tuyển quân sinh viên trong ngày độc lập đã nói lên sự quyết liệt sinh tử và ý nghĩa thiêng liêng của ngày cầm súng. Chiến trường đánh lớn. Đơn vị chúng tôi chỉ huấn luyện rất ngắn rồi vào trận ngay với 81 đại đội vượt sông Thạch Hãn. Chiến dịch Quảng Trị năm 1972 sau này đã đi vào huyền thoại: “Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm” (10) Tổ chúng tôi bốn người thì Xuân và Chương hi sinh, chỉ Trung và tôi trở về trường sau ngày đất nước thống nhất.  Những vần thơ viết dưới đây là xúc động sâu xa của tôi khi nghĩ về bạn học đồng đội đã khuất: “Trận chiến hôm qua bạn góp máu hồng. Lớp học hôm nay bạn không trở lại. Trách nhiệm trong mình nhân lên gấp bội. Đồng chí ơi, tôi học cả phần anh” (11)

Thaybanlalocxuancuocdoi1
Tôi về học tiếp năm thứ hai tại Trồng trọt 10 của Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc đến cuối năm 1977 thì chuyển trường vào Đại học Nông nghiệp 4, tiền thân Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Trồng trọt 2 thuở đó là một lớp chung mãi cuối khóa mới tách ra 2A,2B, 2C. Tôi làm Chủ tịch Hội Sinh viên thay cho anh Nguyễn Anh Tuấn khoa thủy sản ra trường về dạy Đại học Cần Thơ. Trồng trọt khóa hai chúng tôi thuở đó được học với các thầy cô: Nguyễn Đăng Long, Tô Phúc Tường, Nguyễn Tâm Đài, Trịnh Xuân Vũ, Lê Văn Thượng, Ngô Kế Sương, Trần Thạnh, Lê Minh Triết, Phạm Kiến Nghiệp, Nguyễn Bá Khương, Nguyễn Tâm Thu, Nguyễn Bích Liễu, Trần Như Nguyện, Trần Nữ Thanh, Vũ Mỹ Liên, Từ Bích Thủy, Huỳnh Thị Lệ Nguyên, Trần Thị Kiếm, Vũ Thị Chỉnh, Ngô Thị Sáu, Huỳnh Trung Phu, Phan Gia Tân, Nguyễn Văn Tài, Nguyễn Văn Kế, … Ngoài ra còn có nhiều thầy cô hướng dẫn thực hành, thực tập, kỹ thuật phòng thí nghiệm, chủ nhiệm lớp như Bùi Cách Tuyến, Nguyễn Văn Kịp, Lê Quang Hưng, Trương Đình Khôi, Nguyễn Ngọc Châu, Nguyễn Gia Quốc, Nguyễn Văn Biền, Lê Huy Bá, Hoàng Quý Châu, Phạm Lệ Hòa, Đinh Ngọc Loan, Chung Anh Tú và cô Thảo làm thư ký văn phòng Khoa. Bác Năm Quỳnh là Bí thư Đảng ủy đầu tiên của Trường sau đó là thầy Kiên và cô Bạch Trà. Thầy Nguyễn Phan là Hiệu trưởng kiêm Trưởng Trại Thực nghiệm. Thầy Dương Thanh Liêm, Nguyễn Ngọc Tuân, Võ Thị Tuyết, Ngô Văn Mận, Bùi Xuân An … ở khoa Chăn nuôi Thú y, thầy Nguyển Yên Khâu, Nguyễn Quang Lộc … ở khoa Cơ khí, cô Nguyễn Thị Sâm ở Phòng Tổ chức, cô Văn Thị Bạch Mai dạy tiếng Anh, thầy Đặng, thầy Tuyển, thầy Châu ở Kinh tế -Mác Lê …Thầy Trần Thạnh, anh Quang, anh Đính, anh Đống ở trại Trường là những người đã gần gũi và giúp đỡ nhiều các lớp nông học.

Thuở đó đời sống thầy cô và sinh viên thật thiếu thốn. Các lớp Trồng trọt khóa 1, khóa 2, khóa 3 chúng tôi thường hoạt động chung như: thực hành sản xuất ở trại lúa Cát Lái, giúp dân phòng trừ rầy nâu, điều tra nông nghiệp, trồng cây dầu che mát sân trường, rèn nghề ở trại thực nghiệm, huấn luyện quốc phòng toàn dân, tập thể dục sáng, hội diễn văn nghệ, thi đấu bóng chuyền, bóng đá tạo nên sự thân tình gắn bó. Những sinh viên các khóa đầu tiên được đào tạo ở Khoa Nông học sau ngày Việt Nam thống nhất hiện đang công tác tại trường có các thầy cô như  Từ Thị Mỹ Thuận, Lê Văn Dũ, Huỳnh Hồng, Cao Xuân Tài, Phan Văn Tự, …

Tháng 5 năm 1981, nhóm sinh viên của khoa Nông học đã bảo vệ thành công đề tài thu thập và tuyển chọn giống khoai lang Hoàng Long, Chiêm Dâu, Gạo, Bí Đà Lạt được Bộ Nông nghiệp công nhận giống ở Hội nghị Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Toàn Quốc Lần thứ Nhất tổ chức tại Thành phố Hố Chí Minh. Đây là một trong những kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đầu tiên của Trường giới thiệu cho sản xuất. Thầy Cô Khoa Nông học và hai lớp Trồng trọt 2, Trồng trọt 3 cũng đã làm họ trai họ gái tác thành đám cưới cho vợ chồng tôi. Sau này, chúng tôi lấy tên khoai Hoàng Long để đặt cho con và thầm hứa việc tiếp nối sự nghiệp nghiên cứu khoa học và giảng dạy, một nghề nghiệp cao quý và lương thiện. “Biết ơn thầy cô giáo dịu hiền. Bằng khích lệ động viên lòng vượt khó. Trăm gian nan buổi ban đầu bở ngỡ. Có bạn thầy càng bền chí vươn lên. Trước mỗi khó khăn tập thể luôn bên. Chia ngọt xẻ bùi động viên tiếp sức. Thân thiết yêu thương như là ruột thịt. Ta tự nhủ lòng cần cố gắng hơn (11).

Thaybanlalocxuancuocdoi3
Bạn học chúng tôi vẫn thỉnh thoảng họp mặt, có Danh sách các lớp Trồng trọt 2, Trồng trọt 3 số điện thoại và địa chỉ liên lạc. Một số hình ảnh của các lớp ngày ấy và bây giờ

Những bài học quý từ những người Thầy

Nhiều Thầy Bạn đã hun đúc nên nhân cách, niềm tin, nghị lực và trang bị kiến thức vào đời cho tôi, xin ghi lại một số người Thầy ảnh hưởng lớn đối với tôi và những bài học:

Thaybanlalocxuancuocdoi4Thầy Mai Văn Quyền sống phúc hậu, tận tâm hướng dẫn khoa học sát thực tiễn. Công việc làm người hướng dẫn khoa học trong điều kiện Việt Nam phải dành nhiều thời gian, chu đáo và nhiệt tình. Thầy Quyền là chuyên gia về kỹ thuật thâm canh lúa và hệ thống canh tác đã hướng nghiệp vào đời cho tôi. Những dòng thơ tôi viết trên trang cảm ơn của luận án tiến sĩ đã nói lên tình cảm của tôi đối với thầy cô: Ơn Thầy (12). Cha ngày xưa nuôi con đi học. Một nắng hai sương trên những luống cày. Trán tư lự, cha thường suy nghĩ. Phải dạy con mình như thế nào đây? Cha mất sớm, bom thù rung mặt đất. Cái chết giằng cha ra khỏi tay con. Mắt cha lắng bao niềm ao ước. Vẫn lo cho con đến phút cuối cùng. Giặc giết cha, cha chưa kịp thấy. Tương lai con đi, sự nghiệp con làm. Cha có biết, luống cày cha bỏ dỡ. Cha ngã xuống rồi trao lại tay con. Trên luống cày này, đường cày con vững. Bởi có dáng thầy thay bóng cha xưa. Hiểu mảnh đất máu đào cha nhuộm đỏ. Thôi thúc tim con học tập phút giờ …”. Thầy Quyền hiện đã 80 tuổi, đang đào tạo trên đại học cho Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh và nhiều Viện Trường khác. Tấm gương phúc hậu và tận tụy của Thầy luôn nhắc nhở tôi.

Thaybanlalocxuancuocdoi5
Thầy Norman Borlaug sống nhân đạo, làm nhà khoa học xanh nêu gương tốt. Thầy là nhà nhân đạo, nhà nông học Mỹ cha đẻ của cuộc cách mạng xanh được tặng giải Nobel và Tổng thống Mỹ trao tặng huân chương cao quý nhất của nước Mỹ, thế giới tôn vinh là nhà bác học số một của nhân loại trong  cuộc chiến chống nghèo đói. Thầy đã suốt đời nghiên cứu giảng dạy về chọn tạo và phát triển cây lương thực, góp phần cải thiện đời sống và nâng cao thu nhập cho hàng trăm triệu nông dân nghèo ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Thầy là người sáng lập Giải thưởng Lương thực Thế giới và tổ chức nhiều hoạt động thiết thực thắp sáng niềm tin yêu cuộc sống. Tôi được Thầy ghé thăm gần trọn buổi chiều tại phòng riêng ở CIMMYT, Mexico ngày 29.8.1988. Thầy đã một mình ghé thăm người trò nhỏ duy nhất của châu Á trong lớp học “Quản lý Trung tâm/ Trạm trại Nông nghiệp”. Khi Thầy đến, tôi đang thắp nến trên giá sách trong phòng đề tưởng nhớ ngày cha mất. Biết cha tôi bị bom Mỹ giết hại tại làng nhỏ ở Quảng Bình của buổi chiều này hai mươi năm trước (1968) lúc tôi còn là học sinh trung học của Trường cấp Ba Bắc Quảng Trạch, Thầy bối rối xin lỗi và thật bất ngờ tôi đã có được một buổi chiều vô giá riêng tư bên Thầy. Lời Thầy dặn thật thấm thía: “ Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời  bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao (13). Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”.  (14)

Thaybanlalocxuancuocdoi6Thầy Tôn Thất Trình sống nhân cách, dạy từ xa và chăm viết sách. Giáo sư Tôn Thất Trình sinh ngày 27 tháng 9 năm 1931 ở huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên (Huế), thuộc hoàng tộc nhà Nguyễn Phước, hiện hưu trí tại Irvine, California, Hoa Kỳ đã có nhiều đóng góp thiết thưc, hiệu quả cho nông nghiệp, giáo dục, kinh tế Việt Nam. Thầy làm giám đốc Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn theo bổ nhiệm của GS. Phạm Hoàng Hộ, tổng trưởng giáo dục đương thời chỉ sau bác sỹ Đặng Quan Điện vài tháng. Giáo sư Tôn Thất Trình đã hai lần làm Tổng Trưởng Bộ Canh Nông và Cải Cách Điền Địa năm 1967 và 1973, nguyên chánh chuyên viên,  tổng thư ký Ủy Ban Lúa Gạo Quốc Tế của FAO (Rome). Thành tựu nổi bật của giáo sư trên lĩnh vực nông nghiệp bao gồm việc chỉ đạo phát triển đại trà năm 1967-1973 lúa Thần Nông (IR8…) nguồn gốc IRRI mang lại chuyển biến mới cho nghề lúa Việt Nam; Giáo sư trong những năm làm việc ở FAO đã giúp đỡ Bộ Nông nghiệp Việt Nam phát triển các giống lúa thuần thấp cây, ngắn ngày nguồn gốc IRRI cho các tỉnh phìa Bắc; giúp phát triển  lúa lai, đẩy mạnh các chưong trình cao su tiểu điền, mía, bông vải, đay, đậu phộng , dừa, chuối, nuôi cá bè ở Châu Đốc An Giang, nuôi tôm ở Bạc Liêu, Sóc Trăng, nuôi cá măng ở Bình Định, nuôi tôm càng xanh ở ruộng nước ngọt, trồng phi lao chống cát bay, trồng bạch đàn xen cây họ đậu phủ xanh đất trống đồi trọc, trồng lại thông hai lá, ba lá ở Huế và ở Đà Lạt,  nuôi heo lai ba dòng nhiều nạc,  nuôi dê sữa , bò sữa, trồng rau, hoa, cây cảnh. Trong lĩnh vực giáo dục, giáo sư đã trực tiếp giảng dạy, đào tạo nhiều khóa học viên cao đẳng, đại học, biên soạn nhiều sách.  Giáo sư có nhiều kinh nghiệm và  đóng góp trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại và quan hệ quốc tế với Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Pháp…

Tôi học gián tiếp Thầy qua sách báo và internet. Giáo trình nông học sau ngàyViệt Nam thống nhất thật thiếu thốn. Những sách Sinh lý Thực vật, Nông học Đại cương, Di truyền học, Khoa học Bệnh cây , Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam … do tập thể hoặc chuyên gia đầu ngành phía Bắc biên soạn thời đó hiếm và quý như vàng. Cái khó khác cho thầy trò chúng tôi là thiếu kinh nghiệm thực tiễn của đồng ruộng phương Nam. Những bộ sách của thầy Trình như Cải Thiện Trồng Lúa 1965-66 (hai lần tái bản), Nông Học Đại Cương 1967 (ba lần tái bản), Mía Đường 1972 (hai lần tái bản), Cây Ăn Trái Có Triển Vọng 1995 (ba lần tái bản), Cây Ăn Trái Cho Vùng Cao 2004, … cùng với sách của các thầy Nguyễn Hiến Lê, Trần Văn Giàu, Phạm Hoàng Hộ, Lương Định Của, Lê Văn Căn, Vũ Công Hậu, Vũ Tuyên Hoàng, Đường Hồng Dật, Nguyễn Văn Luật, Võ Tòng Xuân, Mai Văn Quyền, Thái Công Tụng, Chu Phạm Ngọc Sơn, Phạm Thành Hổ … đã bổ khuyết rất nhiều cho sự học hỏi và thực tế đồng ruộng của chúng tôi. Sau này khi đã ra nước ngoài, thầy Trình cũng viết rất nhiều những bài báo khoa học kỹ thuật, khuyến học trên các báo nước ngoài, báoViệt Nam và blog The Gift.

Điều tôi thầm phục Thầy là nhân cách kẻ sĩ vượt lên cái khó của hoàn cảnh để phụng sự đất nước. Lúa Thần Nông áp dụng ở miền Nam sớm hơn miền Bắc gần một thập kỷ. Sự giúp đỡ liên tục và hiệu quả của FAO sau ngày Việt Nam thống nhất có công lớn của thầy Trình và anh Nguyễn Văn Đạt làm chánh chuyên gia của FAO.  Blog The Gift là nơi lưu trữ những “tâm tình” của gíáo sư dành cho Việt Nam, đăng các bài chọn lọc của Thầy từ năm 2005 sau khi về hưu. Đa số các bài viết trên blog của giáo sư về Phát triển Nông nghiệp, Kinh Tế Việt Nam, Khoa học và Đời sống  trong chiều hướng khuyến khích sự hiếu học của lớp trẻ. Nhân cách và tầm nhìn của Thầy đối với tương lai và vận mệnh của đất nước  đã đưa đến những đóng góp hiệu quả của Thầy kết nối giữa quá khứ và hiện tại, tạo niềm tin tương lai, hòa giải và hòa hợp dân tộc.

Thầy, Bạn  là lộc xuân của cuộc đời

Bill Clinton trong tác phẩm ‘Đời tôi’ (15) đã xác định năm việc chính quan trọng nhất của đời mình là muốn làm người tốt, có gia đình êm ấm, có bạn tốt, thành đạt trong cuộc sống và viết được một cuốn sách để đời. Ông đã giữ trên 30 năm cuốn sách mỏng “Làm thế nào để kiểm soát thời gian và cuộc sống của bạn” và nhớ rõ năm việc chính mà ông ước mơ từ lúc còn trẻ. Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời. Tôi biết ơn mái trường thân yêu mà từ đó tôi đã vào đời để có được những cơ hội học và làm những điều hay lẽ phải.

Thaybanlalocxuancuocdoi7Anh Bùi Chí Bửu tâm sự với tôi: Anh Bổng (Bùi Bá Bổng) và mình đều rất thích bài thơ này của Sơn Nam :

Trong khói sóng mênh mông
Có bóng người vô danh
Từ bên này sông Tiền
Qua bên kia sông Hậu
Tay ôm đàn độc huyền
Điệu thơ Lục Vân Tiên
Với câu chữ
Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả
Từ Cà Mau Rạch Giá
Dựng chòi đốt lửa giữa rừng thiêng
Muỗi vắt nhiều hơn cỏ
Chướng khí mờ như sương
Thân chưa là lính thú
Sao không về cố hương  ?

Anh Mai Thành Phụng vừa lo xong diễn đàn khuyến nông Sản xuất lúa theo GAP (17) tại Tiền Giang lại lặn lội đi Sóc Trăng ngay để kịp Hội thi và trình diễn máy thu hoạch lúa. Anh Lê Hùng Lân trăn trở cho giống lúa mới Nàng Hoa 9 và thương hiệu gạo Việt xuất khẩu. Anh Trần Văn Đạt  vừa giúp ý kiến “Xây dựng thương hiệu cho lúa gạo Việt Nam” lại hổ trợ ngay bài viết mới (18).

Thaybanlalocxuancuocdoi8Trường Đại Học Nông Lâm Thủ Đức thành lập năm 1955 trên Nửa Thế kỷ Xây dựng và Phát triển (19) đến nay 2015 đã tròn 60 năm kỹ niệm ngày thành lập. Dưới mái trường thân yêu này, có biết bao nhà khoa học xanh, nhà giáo nghề nông vô danh đã thầm lặng gắn bó đời mình với nhà nông, sinh viên, ruộng đồng, giảng đường và phòng thí nghiệm. Thật xúc động và tự hào được góp phần giới thiệu một góc nhìn về sự dấn thân và kinh nghiệm của họ.

Hoàng Kim
(đăng theo bản gốc tại kỷ yếu, có cập nhật và bổ sung)

(*) Hoàng Kim cựu sinh viên TT2-NLU
GVC Bộ môn Cây Lương thực, Rau Hoa Quả
http://foodcrops.vn
http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkim
https://hoangkimlong.wordpress.com
https://sites.google.com/site/hoangkimvietnam/

Tài liệu dẫn

  1.   Hoàng Kim 2009 Thắp đèn lên đi em! (1970)   http://hoangkimlong.blogspot.com/2009/06/thap-en-len-i-em.html 
  2. Tôn Thất Trình và chủ bút tonnubn@gmail.com . The Gift http://tonthat-tonnu.blogspot.com/ 

  3. Tôn Thất Trình 2010. Hột nguyên vẹn http://tonthat-tonnu.blogspot.com/2010/08/hot-nguyen-ven.html

  4. Tôn Thất Trình 2010. Nuôi cá biển Việt Nam http://tonthat-tonnu.blogspot.com/2010/08/nuoi-ca-bien-viet-nam.html 

  5. Hoàng Kim 2009. Trường tôi và lòng yêu thương gửi lại của thầy Lưu Trọng Hiếu http://dayvahoc.blogspot.com/2009/05/truong-toi-va-long-thuong-yeu-gui-lai.html 

  6. Đàm Vĩnh Hưng tặng học bổng cho sinh viên http://vtc.vn/151-203976/van-hoa/doi-song-van-nghe/dam-vinh-hung-tang-hoc-bong-cho-sinh-vien.htm 

  7. Hoàng Kim 2010. Linh Giang http://hoangkimlong.blogspot.com/2010/04/linh-giang_09.html

  8. Hoàng Kim 2008 . Di cảo thơ thầy Nguyễn Khoa Tịnh : Em ơi em can đảm bước chân lên ! http://my.opera.com/hoangkimvietnam/blog/em-oi-em-can-dam-b

  9. Trần Đình Côn 1968. Bài ca Trường cấp ba Bắc Quảng Trạch. In trong Kỷ yếu Mái trường bên dòng sông Gianh trang 23.

  10. Văn Công Hùng 2007. Người thường niên thả hoa trên dòng Thạch Hãn  http://vietbao.vn/Van-hoa/Nguoi-thuong-nien-tha-hoa-tren-dong-Thach-Han/70098849/181/ 

  11. Hoàng Kim 2007. Nghị lực (1977). In trong Kỷ yếu Trồng trọt C Khóa 2 (1976-1981) Đại học Nông Lâm TP. HCM tr.50-51. http://thovanhoangkim.blogspot.com/2008/09/ngh-lc.html 

  12. Hoàng Kim. Ơn Thầy (1991) http://hoangkimvietnam.wordpress.com/tri-tue-bac-thay/ 

  13. Doanh Anh 2009. Cha đẻ của cách mạng xanh: Hãy vươn tới những vì sao. Mekong News. http://mekongnet.ru/index.php?mod=News&sid=11248 

  14. Hoàng Kim 2009. Norman Borlaug di sản niềm tin và nghị lực. http://foodcrops.blogspot.com/2009/09/nho-norman-borlaug.html 

  15. Bill Clinton 2007. Đời tôi. Nhà xuất bản Công an Nhân dân , TP Hồ Chí Minh. 1375 trang.

  16. Institute of Agricultural Sciences for Southern Vietnam (IAS) 2009 Research Highlights . Commemorating 85 years since foundation. 121 Nguyen Binh Khiem St. District1. Ho Chi Minh city, Vietnam. Tel: 84.8.38228371 Fax +84.8. 38297650 Email iasvn@vnn.vn, iasvn@iasvn.org Website http://iasvn.org 

  17. Mai Thành Phụng, Phạm Văn Tình, Vũ Tiết Sơn 2010. Diễn đàn Khuyến nông @Nông nghiệp lần thứ 5-2010 chuyên đề “Sản xuất lúa theo GAP” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia chủ trì, tổ chức tại Tiền Giang. Nhà xuất bản nông nghiệp TP. Hồ Chí Minh, 468 trang.

  18. Trần Văn Đạt 2010. Những tháng ngày với Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn  www.tranvandat.com 

  19. Trường Đại Học Nông Lâm Thủ Đức. 2005. Nửa Thế kỷ Xây dựng và Phát triển. Kỷ yếu Trường Đại Học Nông Lâm, 250 trang. Địa chỉ: Phường Linh Trung, Quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Điện thoại: (84-8)-38966780- Fax: 84-8-38960713 Email: vp @ hcmuaf.edu.vn  – Website: http://www.hcmuaf.edu.vn

Bài đã đăng trong Kỷ yếu Khoa Nông học Kỹ niệm 55 năm ngày thành lập Trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh trang 97-105. Tải toàn văn cuốn kỷ yếu 120 trang tại đây:

Bìa kỉ yếu 1+4, 2 + 3
1. Trang 1 – 18
2. Trang 19 – 30
3. Trang 31 – 40
4. Trang 41 – 50
5. Trang 51 – 68
6. Trang 69 – 80
7. Trang 81 – 90
8. Trang 91 – 100
9. Trang 101 – 116

Bài viết cùng chủ đề
Có một ngày như thế
Lời của Thầy theo mãi bước em đi
Con đường lúa gạo Việt Nam

Video yêu thích

BanMai2
Ban Mai
MAR AKRAM – Dancing with the wind♥
KimYouTube


Trở về trang chính

Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook

Ấn tượng Obama


AntuongObama

ẤN TƯỢNG OBAMA

Hoàng Kim

Obama thật ấn tượng ! Obama là tổng thống da màu đầu tiên của nước Mỹ đã làm được điều tưởng như không thể, khi ông tiếp nối ước mơ của Martin Luther King “I Have a Dream” “Tôi có một giấc mơ lay động lương tâm và bừng dậy sức mạnh của nước Mỹ“. Trãi hai nhiệm kỳ tổng thống, nay ông đã biến được giấc mơ ấy thành hiện thực, niềm tin và hi vọng không chỉ đối với nước Mỹ mà còn trở thành biểu tượng là người bạn tốt, chân thành, tín nhiệm, đáng tin cậy, được mến mộ khắp toàn thế giới, người mà việc làm đúng như lời nói. Obama đang về đích vinh quang! Vị Tổng thống Mỹ ở năm cuối nhiệm kì và đương nhiên không thể tái tranh cử, với thông điệp liên bang nổi tiếng, với chuyến thăm Cu Ba đầy ngưỡng mộ và ấn tượng, với chuyến thăm Việt Nam sự kiện nổi bật đang mở ra trang tiến bộ mới trong quan hệ Việt Mỹ .  Tổng thống Obama đang tập trung vào những công việc còn sót lại trong nhiệm kỳ của mình, để có thể rời Nhà Trắng với giấc mơ Obama, niềm tin tự do và dấu ấn còn mãi với thời gian.

Tổng thống Mỹ Obama sang thăm Việt Nam tại một thời điểm thật thú vị: Trong dịp này cả nước Việt Nam ngợp trời cờ hoa rộn ràng chào đón ngày bầu cử Quốc Hội, Hội đồng nhân dân các cấp. Chào mừng ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là ngày thành lập Việt Minh, khai sinh đường Hồ Chí Minh trong lịch sử. Chuyến thăm trùng khớp với những sự kiện lớn lao nhất đối với nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sự nghiệp thống nhất Tổ Quốc của đất nước này.

Cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton trong lần thăm Việt Nam trước đây đã thúc đẩy quá trình bình thường hóa quan hệ hai nước, cái mà ông gọi là “một trong những thành tựu lớn nhất đời tôi”. Ông Bill Clinton đã đọc câu Kiều “Sen tàn cúc lại nở hoa; Sầu dài ngày ngắn, đông đà sang xuân” và phát biểu rằng, hai nước không thể thay đổi được quá khứ, nhưng có thể thay đổi tương lai và nước Mỹ nhìn về Việt Nam như một đất nước chứ không phải như một cuộc chiến. Nước Mỹ luôn mong muốn tăng cường hợp tác với Việt Nam trên nhiều lĩnh vực. Tổng thống Mỹ Barack Obama trong lần thăm Việt Nam lần này trong thời điểm trọng đại nhất của đất nước với sự đón tiếp nồng ấm, kính trọng và thân thiện, làm chúng ta liên tưởng đến câu chuyện ngày 19 tháng 5 trong lịch sử. Người Việt thực sự mong đợi Obama lời tuyên bố bỏ cấm vận buôn bán vũ khí với Việt Nam; hỗ trợ Việt Nam thực hiện thành công TPP; Biển Đông là vấn đề quốc tế, cân bằng lực lượng và giữ nguyên trạng.

Một thế giới đang đổi thay nhưng những người chí thiện, công tâm, lời nói đi đôi với việc làm, dám và biết đương đầu với điều ác và người xấu mãi mãi được lòng dân cùng lịch sử ghi công.

Văn chương Việt nói về Obama

Obama đầy ắp mạng truyền thông Việt suốt tuần qua. Dưới đây là một vài trang viết chọn lọc để thỉnh thoảng đọc lại.

Nhà văn Nguyễn Quang Thiều có bài viết “Phải gọi đúng căn bệnh của dân tộc” đã soi sáng một góc nhìn về Obama.

Người thợ cầu đường chuyên nối những bờ vui, Nguyễn Quốc Toàn Bulukhin, một hiền triết dân Việt đời thường, người canh cửa văn chương Việt, đã không kỳ cục chút nào khi có sự so sánh “Tổng thống Obama và ông Toại bí thư huyện Giao Thủy trong phim Gia phả của đất . Anh viết: “Tổng thống Obama là người nhân hậu. Bước lên chiếc trực thăng để đi công cán nhưng ông lại quay xuống đất chào người lính gác vì lúc đi lên ông mãi nghĩ gì quên chào anh ta. Một nơi khác ông đứng chia cơm cho những người nghèo khó trong một nhà hàng. Trao phần cơm cho người nhận ông luôn gửi theo nụ cười tươi tắn thân thiện. Bởi vậy khi nghe tin ông trả lời thư một bé gái 8 tuổi và nghe theo lời cô ta cho in hình người phụ nữ da màu lên tờ đô la thì toàn thế giới khâm phục và tin là sự thật. Ông Toại bí thư huyện Giao Thủy cũng là vua của huyện làm một việc phi thường không kém ngài tổng thống kia là mang vòng hoa đến phúng viếng ông Trạc, một nông dân ra khỏi hợp tác xã nông nghiệp Thanh Bình. Ông Trạc bị công an huyện triệu tập lên răn đe bởi hành vi “chống lại đường lối của đảng. Vào những năm 70 của thế ki trước, thắp đuốc tìm cả nước Nam không có ông bí thư huyện nào như ông Toại . Hình ảnh ông chỉ là khát vọng của người làm phim, cũng là khát vọng của người xem phim. Còn ông Obama và những việc làm của ông là sự thực mười mươi mà cả thế giới đều biết“.

Anh Phan Chí Thắng có bài viết “Chủ tịch Hồ Chi Minh trich dẫn Tuyên ngôn độc lập Mỹ và Tổng thống Obama lẩy Kiều như thế nào?”Anh Phan Chi nói: “Các vĩ nhân ngoài tài năng còn là lao động nghiêm túc, cộng với kỹ năng thu hút quần chúng và sự trợ giúp của chuyên gia và công nghệ. Công nghệ càng hiện đại thì càng thuận tiện và… đẹp mắt!“. Anh Phan Chí là chuyên gia giỏi công nghệ thông tin, một thời làm Giám đốc Thông tin của mảng công nghệ cao trong hệ thống Văn phòng Chính phủ nên hiểu rất rõ kỹ năng chuyên nghiệp này. Dẫu vậy, anh đã không tiếc lời khen khi viết bài “Nghệ thuật nói của tổng thống Obama”.

Trong bài “Trí tuệ bậc Thầy” dẫn từ sách “Không là huyền thoại” có trích dẫn lời đại tướng Võ Nguyên Giáp nói đại ý “Mỹ sa lầy ở Việt Nam do vì không hiểu người Việt Nam”. Tổng thống Obama sang thăm Việt Nam lần này khẳng định khép lại chương buồn của quá khứ và thấu hiểu sâu sắc những giá trị phổ quát của dân tộc Việt.

Việt Nam trên bàn cờ các nước lớn. Gió đã xoay chiều …hiễn nhiên là do thế nước, lòng người, cơ trời, nhưng Obama rõ ràng đã thực hiện hoàn hảo vai trò và tài năng kiệt xuất của một Tổng thống Mỹ tại thời khắc quyết định.

Obama Việt Nam những khoảng khắc lịch sử.

ObamaVietnam1
ObamaVietnam2
ObamaVietnam3

ObamVietnam4
ObamaVietnam5
ObamaVietnam6
ObamaVietnam chùm ảnh chọn lọc và tổng hợp từ video và báo Việt

Tổng thống Obama cho cá ăn tại Nhà sàn Bác Hồ

Trần Đăng Khoa giải mã sức hấp dẫn của Obama trên trang VOV mà trang blog Hiệu Minh đăng lại.
Luan toiObamablogHieuMinh
Blog Hiệu Minh đăng thêm bức ảnh.”Dân ta hân hoan còn dân Mỹ đòi “luận tội Obama”

TrumpObamaỨng cử viên Donald Trump của đảng Công Hòa thì chỉ trích Tổng thống Mỹ Obama không tiếc lời và hùng hổ hứa hẹn: “Chúng ta sẽ mang công việc của chúng ta trở lại từ Việt Nam. Chúng ta sẽ phải mang công việc của chúng ta trở lại đất nước này. Tôi đã tự hỏi : Anh sẽ nói những gì với Tổng thống Obama khi anh nhậm chức. Ông đã bị sa thải“.

Vượt lên mọi khen chê, Tổng thống Mỹ Obama đã thể hiện tầm vóc của một CON NGƯỜI (viết hoa) con người bản lĩnh , trí tuệ. “Không ai đánh giá cao giá trị của phản biện bằng Tổng thống Ôbama. Trong chuyến thăm Việt Nam vừa qua, ông nói đại ý rằng: Hàng ngày tôi nhận được không ít những lời chỉ trích. Và chính những lời chỉ trích đó đã làm cho nước Mỹ tốt đẹp hơn. Đó là nhận định của vị Tổng thống quyền lực nhất thế giới! “. Nhà thơ  “thần đồng” cũng là nhà văn “thư đồng thời đại Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp”, đã viết như vậy

Xin mời đọc tiếp “Ấn tượng Obama” những trích dẫn chọn lọc  và trao đổi về câu chuyện này tại đây.

Obama là một vĩ nhân ấn tượng.

Hoàng Kim

 

xem tiếp “Ấn tượng Obama”
những trích dẫn chọn lọc…

VOV: TRẦN ĐĂNG KHOA GIẢI MÃ SỨC HẤP DẪN CỦA OBAMA 

VOV.VN -Hình ảnh Tổng thống Obama được báo chí, truyền thông khai thác đến hết mọi góc độ trong chuyến thăm Việt Nam

– Thưa nhà thơ Trần Đăng Khoa, Ấn tượng nhất của ông trong tuần qua là gì?

– Là chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ B. Obama. Có thể nói tràn ngập các kênh truyền thông, từ truyền hình, báo chí chính thống cho đến các trang mạng xã hội, các trang Blog, Facebook của những người dân bình thường là hình ảnh B. Obama. Báo chí, truyền thông cũng đã khai thác đến hết mọi góc độ của chuyến thăm lịch sử ấy. Từ chuyên cơ, trực thăng, lính bắn tỉa bảo vệ, chó nghiệp vụ, người phiên dịch, người viết diễn văn, cô trợ lý gốc Việt, ông đầu bếp, cho đến cả hai cái máy nhắc chữ…

Có lẽ mọi ngóc ngách của chuyến đi, cả những chuyện “hậu cung” của ông B. Obama cũng được lôi ra bàn luận, mổ xẻ. Dường như đến Việt Nam, Ngài Tổng thống chẳng còn gì bí mật nữa. Tất cả đã thành một cơn sốt B. Obama. Không chỉ những người dân ở mạng xã hội, cả chính khách, trí thức, văn nghệ sĩ và các “yếu nhân” của công chúng cũng bàn về ông. Nhiều người còn đưa ra cả những lý giải, vì sao ông B. Obama được người dân Việt Nam yêu mến đến thế…

– Vâng! Đúng là rất ấn tượng. Và đối với ông thì ấn tượng nhất trong các ấn tượng ấy là gì?

– Là những người dân ta đón ông. Đấy mới là điều đáng bàn. Còn nói B. Obama diễn thuyết hay thì đó là điều dĩ nhiên. Vì ông là một ký giả, một nhà hùng biện. Bản thuyết trình của ông còn trên cả tuyệt vời. Vì nó hoàn thiện đến tuyệt đối. Ông đã lấy văn hoá Việt làm đại lộ đến với người Việt là lựa chọn thông minh nhất để chinh phục tuyệt đối những người tiếp xúc với mình. Cả ba Tổng thống Mỹ tới Việt Nam đều chọn con đường này nhưng đến B. Obama mới hoàn thiện nhất, chính xác nhất và cũng hay nhất.

Những danh nhân văn hoá tiêu biểu nhất của Việt Nam trong tất cả các lĩnh vực Chính trị, Quân sự, Tôn giáo, Ngoại giao, Khoa học, văn hoá Nghệ thuật  đều được ông “huy động” trong bản thuyết trình. Như Lý Thường Kiệt, Phan Chu Trinh, Hồ Chí Minh, Thiền sư Thích Nhất Hạnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Giáo sư Ngô Bảo Châu. Nhạc sĩ Văn Cao, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn Những trích dẫn rất đích đáng.

Tôi muốn nói thêm về Văn Cao. Năm 1975, khi thống nhất đất nước, nhiều người, trong đó có những nhà thơ rất lớn gọi đó là năm vĩ đại, ngày vĩ đại, nhưng Văn Cao chỉ coi đó là ngày bình thường: “ngày bình thường, ngày vui nay đã về…”. Đúng thật. Chiến tranh là bất thường. Chúng ta đã trải qua gần nửa thế kỷ sống trong sự bất thường, đến nỗi cái bất thường đã trở thành bình thường, khi có được những ngày bình thường đích thực mà chúng ta giành được bằng bao xương máu, thì ta lại choáng ngợp, rồi phải rất vất vả mới làm quen được với nó, cho đến nay, cũng đã hơn một phần tư thế kỷ rồi, mà chúng ta vẫn chưa nhuần với đời sống dân sự. “Từ nay người biết thương người. Từ nay người biết yêu người”.

Văn Cao quả là một nghệ sĩ có tầm nhìn vượt trước thời đại. Ông viết không nhiều nhưng lại có rất nhiều tác phẩm đặc sắc. Và tác phẩm đặc sắc nhất của đời ông, theo tôi, có lẽ lại chính là “Mùa xuân đầu tiên”, một ca khúc vừa hay vừa lớn, vừa đẹp về giai điệu lại rất sâu sắc trong ca từ, mà ông B. Obama đã chọn để trích dẫn.

Và cuối cùng trên đại lộ văn hoá mà Tổng thống Mỹ chọn để đến với chúng ta là Đại thi hào Nguyễn Du. B. Obama đã dẫn Nguyễn Du để bàn về mối bang giao giữa hai nước: “Rằng trăm năm cũng từ đây – Của tin còn một chút này làm ghi”. Phải nói là rất tuyệt vời. Đúng vậy. Vấn đề là niềm tin. Không có niềm tin thì không có gì hết. Chơi với nhau thì phải tin nhau. Nhiều người bạn lớn cũng đến với chúng ta, thậm chí họ còn có cả những tấm áo rất đẹp, rất lộng lẫy được đính thêm những hạt kim cương bằng lòng tốt nhưng vẫn không tạo được niềm tin để chúng ta có thể yên tâm, sống chết với họ, khi họ cứ nói một đằng, làm một nẻo.

Lại còn đe chúng ta: “Chơi với Mỹ cần phải cẩn thận”. Vâng! Đúng là chơi với ai cũng phải cẩn thận. Nhất là những người không tạo cho chúng ta có được niềm tin, dù chúng ta luôn tin và rất muốn tin. Ông B. Obama được dân ta quý chính vì ông rất hiểu chúng ta và tạo cho chúng ta có được niềm tin này. Đặc biệt ông dẫn Lý Thường Kiệt để bàn về chủ quyền của chúng ta: “Sông núi nước Nam, Vua Nam ở”.

Ông còn nói: “Việt Nam là một nước có chủ quyền độc lập và không có quốc gia nào khác có thể áp đặt lên ý chí của người dân Việt Nam. Độc lập, chủ quyền ấy do người dân Việt Nam quyết định. Mỹ rất quan tâm đến sự thành công của đất nước Việt Nam”.

Về Biển Đông, đây là vấn đề nhạy cảm nhất, ông cho rằng “Ở Biển Đông, chúng tôi không phải là một bên tranh chấp, nhưng chúng tôi khẳng định và đề cao quyền tự do hàng hải và hàng không; tự do thương mại không bị ngăn trở; giải quyết các tranh chấp phải thông qua pháp lý và luật pháp quốc tế. Nước Mỹ sẽ đưa tàu và máy bay di chuyển ở bất kỳ nơi nào mà luật pháp quốc tế cho phép, và ủng hộ quyền của các nước khác cũng hành động như vậy”.

Ông còn nói “Không thể cứ cậy nước lớn mà bắt nạt nước nhỏ”. Rồi ông tuyên bố xoá bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Đây cũng là vấn đề mấu chốt khiến nhiều kẻ tức tối…

– Vậy thì ấn tượng quá chứ…

– Vâng! Rất  ấn tượng. Nhưng ấn tượng nhất, như tôi nói, lại chính từ phía ta, phía những người dân đối với B. Obama. Họ đứng đặc hai bên đường để chào ông đến và  tiễn ông về. Như thế, B. Obama không chỉ là vị khách trọng thể của nhà nước mà còn là khách quý của nhân dân. Không phải Tổng thống nước nào cũng có được hạnh phúc này. Và điều ấy làm cho chính B. Obama và đoàn tuỳ tùng của ông thấy choáng ngợp. Nhân dân bao giờ cũng rất sâu sắc. Họ mới đúng là những nhà ngoại giao siêu đẳng nhất: Ngoại giao Nhân Dân. Họ đã đưa ra một thông điệp: Người Việt Nam không thù dai.

Người Việt Nam rất trọng hoà bình. Anh đến với tôi bằng tấm lòng thì chúng tôi cũng mở hết lòng ra để đón anh. Và Thông điệp thứ hai: Việt Nam là Đất nước Hoà bình. Anh mang đến cho Dân điều tốt lành thì Dân sẽ đùm bọc anh, che chở anh. Và người Dân quây quanh B. Obama. Và B. Obama cũng hoà đồng với họ, ăn bún chả với họ, tránh mưa bên mái hiên với họ, chụp ảnh “tự sướng” cùng họ.

Và thế là trực thăng hộ tống, chó nghiệp vụ, lính bắn tỉa bảo vệ Tổng thống trở thành ế ẩm, không còn việc để làm. Đấy là những “hành trang” không cần thiết. Bởi bảo vệ đùm bọc B. Obama chính là những người dân Việt Nam.

Nhiều học giả của ta và cả thế giới cũng bàn về tấm lòng của Dân này. Đại tá, nhà thơ nổi tiếng Vương Trọng lại thấy ở B. Obama có cái gì đó rất gần với Đại Tướng Võ Nguyên Giáp. “Đấy là hai nhân vật nổi tiếng, năm sinh cách nhau trên nửa thế kỷ, lại cách nhau nửa vòng trái đất, cứ tưởng như chả có gì liên quan với nhau, chả có điểm gì chung. Thế mà có đấy! Đó là lòng mến mộ của người dân Việt Nam.

Có lẽ sau Bác Hồ, thật hiếm có một vị lãnh tụ nào khi qua đời lại được dân tiếc thương như tướng Giáp, và ngoài nghi thức Quốc tang là Dân tang. Cũng hiếm có một vị khách nước ngoài nào được người Việt Nam quan tâm, yêu mến và chào đón như Tổng thống B. Obama. Có người phân vân rằng, tại sao rừng người đón Tổng thống Mỹ này lại không cầm cờ Mỹ hay cờ Việt, mà chỉ có hai bàn tay không. Xin thưa, chính điều ấy nói lên rằng, họ không đi đón vì một sự tổ chức hay sự vận động nào cả, mà đi theo tiếng gọi của trái tim mình.

Với người dân Việt Nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tổng thống Obama gặp nhau điều đó. Thiết tưởng hiện tượng này có ý nghĩa không nhỏ đối với những ai quan tâm đến tình cảm, mong muốn của số đông người dân”.

Cũng bàn về Tổng thống B. Obama, Đại tá, nhà thơ Vương cũng có một bình luận xác đáng: “Không ai đánh giá cao giá trị của phản biện bằng Tổng thống Ôbama. Trong chuyến thăm Việt Nam vừa qua, ông nói đại ý rằng: Hàng ngày tôi nhận được không ít những lời chỉ trích. Và chính những lời chỉ trích đó đã làm cho nước Mỹ tốt đẹp hơn. Đó là nhận định của vị Tổng thống quyền lực nhất thế giới! Có hai thông tin từ nhận định này. Thứ nhất, nhà cầm quyền phải biết lắng nghe ý kiến ngược chiều, trái với mình để tìm ra chân lý hoạch định chính sách đúng đắn. Thứ hai, những người phản biện cũng cần xác định mục đích của sự phản biện, không phải là phá rối mà là làm cho đất nước tốt đẹp hơn…”.

– Trong bài thơ Kể cho bé nghe, trước đây anh viết “Chăm ngoan học giỏi/ Là bạn thiếu nhi/ Ngu xuẩn nhất nhì/ Là tổng thống Mỹ”. Giờ anh muốn nói gì về câu thơ ấy?

– Vừa rồi, nhân sự kiện ông B. Obama sang, mấy người cũng trích câu thơ này để diễu vui tôi. Xin thưa rằng, câu thơ này tôi viết cách đây nửa thế kỷ. Không phải viết về ông B. Obama hay ông Bin Clinton. Cần phải đặt nó vào hoàn cảnh cụ thể. Nói về Tổng thống Mỹ lúc ấy như thế, đến bây giờ tôi vẫn nghĩ không sai. Tổng thống Mỹ có thể thông minh ở đâu đấy, vì không thông minh, tài giỏi thì chắc chắn nhân dân Mỹ đã chẳng bầu ông ta, nhưng việc đánh Việt Nam, giết hại hàng ngàn phụ nữ và trẻ con vô tội trong những năm chiến tranh thì không thể gọi là một việc làm thông minh được. Cứ bảo Mỹ chỉ ném bom khu vực quân sự, nhưng B52 rải thảm khu phố Thượng Lý Hải Phòng, hay Bệnh viện Bạch Mai, khu phố Khâm Thiên Hà Nội thì đâu phải khu quân sự. Ai đặt pháo hay tên lửa trong lòng thành phố? Cả bệnh viện Bạch Mai bị san phẳng. Trong đó có bao nhiêu người già, phụ nữ, trẻ con đang ốm đau. Nếu ông Nixon sáng suốt thật sự thì ông ấy đã chẳng “ngã ngựa” giữa đường. Ngã ngay giữa nước Mỹ. Hay như ông Tổng thống Mỹ gì đó đã hạ lệnh ném hai quả bom nguyên tử xuống Nhật Bản, khi cuộc chiến đã tàn thì làm sao có thể gọi được đó là những người thông minh? Còn Tổng thống Mỹ như Bin Clin ton hay B. Obama thì thật tuyệt vời…

     – Có lẽ vì thế, ông đã sửa câu thơ đó? Mà sửa cách đây cũng gần hai chục năm rồi. Nhưng sửa đi lại mất tính lịch sử…

–  Đấy không phải lịch sử mà chỉ là một bài thơ mang hơi đồng dao. Câu ấy sau này tôi có sửa. Tôi sửa để bài thơ giữ được sự tự nhiên, trong sáng, nó hợp với không khí đồng dao của toàn bài chứ không phải vì Tổng thống Mỹ.  Để nó, cả bài thơ sẽ mất đi sự hồn nhiên. Đây là cuộc chơi chỉ có chó, mèo, cào cào, châu chấu mà Tổng thống Mĩ không thể “can dự” vào được. Sự có mặt của ông ta chỉ làm hỏng cuộc chơi..

– Nếu cần nói một câu về Tổng thống B. Obama thì ông sẽ nói sao?

– Tôi thấy có rất nhiều học giả nói rồi, và họ nói rất hay. Ví như Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết. Ông Thuyết nhiều năm ở Uỷ ban Văn hoá của Quốc hội. Ông cũng từng là một Đại biểu Quốc hội rất có uy tín. Ông Thuyết cho rằng : “B. Obama rất hiểu nền văn hóa, tập quán của Việt Nam. Ba lần các nhà lãnh đạo cao nhất Hoa Kỳ “lẩy” Kiều, câu nào cũng hay, cũng trúng và giàu cảm xúc, ý nghĩa.

Nhưng người Việt tâm đắc và đánh giá cao nhất là câu Kiều mà Tổng thống B. Obama đã chọn, nhất là việc lấy câu Kiều để kết bài phát biểu quá hợp cảnh, hợp tình, khó có câu nào trong truyện Kiều hợp hơn. Trước tấm chân tình đối với Việt Nam, sự lịch duyệt và thân thiện cũng như tầm vóc mà Tổng thống B. Obama đã thể hiện, tôi cũng xin gửi tặng Ngài một câu Kiều nói lên ấn tượng sâu sắc của tôi cũng như rất nhiều người dân Việt Nam về Ngài: “Thiên tư, tài mạo tót vời – Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa”.

– Vâng, chúng ta cũng có thể lấy câu Kiều của G.S Nguyễn Minh Thuyết dựng chân dung Ngài Tổng thống B. Obama để kết thúc cuộc trò chuyện này. Xin cám ơn ông!./.

Bài trên VOV

Obama

PHẢI GỌI ĐÚNG CĂN BỆNH CỦA DÂN TỘC

(nhân chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ Barack Obama)

Nguyễn Quang Thiều

Tôi đã xem chương trình truyền hình Tổng thống Mỹ Barack Obama phát biểu trước hai Viện của Quốc hội lần đầu tiên kể từ khi ông nhậm chức nhiệm kỳ đầu tiên. Vẫn với một cảm hứng, một giấc mơ và một ý chí như Obama đã từng mang đến cho người dân Mỹ trong suốt quá trình bầu cử . Trong bài phát biểu của mình, ông đã chỉ cho nước Mỹ thấy con đường đã đưa nước Mỹ đến sự suy thoái hiện nay. Nhưng chính trong sự suy thoái này, nước Mỹ đã nhận ra sự tự mãn của mình, nhận ra những sai lầm của mình. Nhưng quan trọng hơn tất cả, nước Mỹ hay người đứng đầu dân tộc đó đã nhận ra ” Nước Mỹ sẽ trỗi dậy mạnh hơn bao giờ hết”.
Nghe lời phát biểu này của Obama, tôi thấy : nếu chúng bỏ đi những danh từ liên quan đến nước Mỹ thì chúng ta sẽ nghĩ rằng đây là một bản thông cáo của một quốc gia nào đó đang đứng bên bờ vực thẳm của sự sụp đổ. Quốc gia đó đang là một quốc gia với nền kinh tế suy thoái, với một món nợ khổng lồ mà mỗi người dân quốc gia ấy ở cả thế hệ sau đang và sẽ phải gánh chịu , với một nguồn năng lượng đã suy kiệt, với nạn thất nghiệp, với lãng phí và gian lận, với một nền giáo dục chưa năng động và không đáp ứng được những đòi hỏi của xã hội, với hệ thống chăm sóc y tế nhiều bất cập…

Cái quốc gia đang ở trong tình trạng như tôi vừa điểm qua lại chính là nước Mỹ. Nhưng trên thực tế, nước Mỹ vẫn là cường quốc lớn mạnh nhất thế giới. Obama và những người cầm quyền cùng chí hướng với ông đã thấu hiểu rằng : nếu họ vẫn mang cách nhìn, cách nói và cả cách nghĩ của họ sự tự mãn về một cường quốc thì ngay trong một tương lai cận kề dân tộc họ sẽ sụp đổ bởi những vết nứt đã và đang có trong lòng nước Mỹ. Hơn bao giờ hết, Obama hiểu rằng : để chữa trị cho lành những căn bệnh mà nước Mỹ đang mắc phải và làm cho cơ thể nước Mỹ mạnh lên thì họ phải gọi ra đúng căn bệnh đó với không một chút sợ hãi.

Obama nói : “ Giờ nếu chúng ta trung thực với bản thân, chúng ta sẽ phải thừa nhận rằng, lâu nay chúng ta không phải lúc nào cũng đương đầu với các trách nhiệm đó với tư cách là một chính phủ hoặc một dân tộc. Tôi nói điều này không phải đổ trách nhiệm hoặc soi mói quá khứ mà bởi vì chỉ có hiểu làm sao chúng ta lâm vào tình cảnh này chúng ta mới có thể tự thóat ra”.

Cho đến bài phát biểu này, một số người trước đó còn một chút hoài nghi về một cuộc “sáng tạo lại nước Mỹ” của Obama đã tin vào khát vọng thực sự và ý chí mãnh liệt và không khoan nhượng của ông chứ không phải là những “ thuật xảo ngôn” để giành phiếu cho cuộc chạy đua vào Nhà trắng. Bởi với nước Mỹ, mọi lời nói và hành động của Tổng thống luôn luôn được giảm sát và kiểm chứng. Trong bài phát biểu này, Obama bắt đầu cụ thể hoá từng mục tiêu của ông. Ông bắt đầu trở thành mối đe doạ thực sự đối với những lợi ích khổng lồ của nhiều thế lực nhưng lại trở thành người giải cứu tinh thần và sự phát triển trong sạch của nước Mỹ. Ông không ngần ngại tuyên bố một cuộc chiến không ít nguy hiểm với chính cá nhân ông : “ Tôi đã yêu cầu Phó Tổng thống Biden đảm trách việc giám sát đầy khó khăn và chưa có tiền lệ. Tôi đã nói với mọi thành viên trong Nội các của tôi cũng như các thị trưởng và thống đốc khắp nước Mỹ rằng, họ sẽ phải chịu trách nhiệm trước tôi và trước nhân dân Mỹ về từng đồng đôla mà họ tiêu. Tôi đã bổ nhiệm Tổng thanh tra để xử lý mọi vụ lãng phí và gian lận. Và chúng tôi đã tạo ra một trang web mới tên là recovery.gov để mọi người Mỹ có thể biết tiền đang được tiêu như thế nào và ở đâu ”.

Nếu chúng ta lại một lần nữa tước đi những danh từ liên quan đến nước Mỹ thì chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra rằng : những nguy cơ mà nước Mỹ phải vượt qua cũng chính là nguy cơ của mọi quốc gia trên thế giới. Trong đó, có ba nguy cơ chính đang làm nước Mỹ suy thoái và đe doạ sự sụp đổ trong một tương lai cận kề là năng lượng, chăm sóc y tế và giáo dục. Trong khi đó, có không ít quốc gia còn ngèo nàn nhưng đầy tự mãn, đầy gian trá, đầy tham nhũng…lại vẫn có vẻ “bình chân như vại”. Đây cũng chính là cơ sở để chúng ta nhận ra tính ưu việt và chất nhân văn của các chính thể.

Obama đã đọc bài phát biểu này ở một nơi trang trọng của nước Mỹ và nói về những vấn đề hệ trọng đối với sự tồn vong và phát triển của nước Mỹ. Nhưng đối tượng mà ông nhắc đến trước tiên như là mục đích tối thượng của mọi chính sách của một chính phủ là những người dân. Đó là những người mà cha ông họ và lúc n ày l à chính bản thân họ đã và đang làm nên một nước Mỹ. Obama nói đến từng người một như xác lập vị trí và sứ mệnh cao cả của những người dân vô danh này đối với dân tộc họ. Và một cuộc sống thanh bình, không u uất và sợ hãi của nhân dân là mục đích duy nhất mà mỗi chính thể phải đi tới. Đó là những người gác cổng, những nông dân, những người lính, những thầy cô giáo, những học sinh với những hiện thực và giấc mơ ở trên chính đầu họ, trong bếp ăn của họ và trên chính những chiếc giường ngủ của họ ngày ngày.

Tổng thống Obama nói “ Trong cuộc đời mình, tôi đã học được rằng, hy vọng có thể tìm ở những nơi không nghĩ tới, cảm hứng thường tới không phải từ những người có quyền lực tối cao hay các ngôi sao mà nó tới từ giấc mơ và khát vọng của những người Mỹ bình thường ”. “ Tôi muốn các ngân hàng này chịu trách nhiệm hoàn toàn về sự hỗ trợ mà họ nhận được và lần này họ sẽ phải làm rõ những đồng tiền thuế của người dân Mỹ được sử dụng như thế nào. Lần này, các giám đốc điều hành sẽ không thể sử dụng bừa bãi tiền thuế của dân. Những ngày như thế đã kết thúc”

Cùng với những lời nói gan ruột và đầy sắt đá ở trên, Obama và nội các của ông đã bắt đầu triển khai một cách chi tiết và mạnh mẽ hơn bao giờ hết các chính sách, các biện pháp để “sáng tạo lại nước Mỹ”. Và tôi biết rằng: nhân dân ở bất cứ một đất nước nào với những nền văn hoá khác biệt như thế nào cũng đợi chờ một người đứng đầu và một chính phủ như thế. Chính vậy, những vấn đề cơ bản nhất mà nước Mỹ đang phải gánh chịu và những đe doạ nước Mỹ đang phải đương đầu cũng là của mọi quốc gia trên thế giới. Bởi thế, bài phát biểu của Obama đặt ra những điều hệ trọng không phải chỉ giành cho nước Mỹ mà cho mọi quốc gia.

Barack Obama đã bước lên đỉnh cao nhất của quyền lực chính trị lại không bằng những yếu tố chính trị mà bằng những yếu tố của đời sống tinh thần và lẽ sống. Đó là khát vọng, là sự chia sẻ, là ý chí, là ước mơ chân thành và sự hoà đồng trong sáng…Obama đã bước đến trước những người dân Mỹ đang đợi ông. Ông không đọc một bài diễn văn soạn sẵn đúng văn phạm và đầy rẫy những tính từ an toàn cho cá nhân ông. Ông đến đó để nhìn thẳng vào những đôi mắt của nhân dân ông và cất tiếng. Ông có thể nói sai ngữ pháp một đôi chỗ, có thể nói lắp, có thể vụng về trong một câu nào đó. Nhưng không ai để ý hay bắt bẻ điều đó. Bởi nhân dân ông hiểu rằng ông là một hiện thực và ngôn từ ông đang nói từ trái tim ông là một hiện thực. Đó là hiện thực của một con người dám ước mơ và dám hành động vì ước mơ đó. Ở đó, người dân Mỹ và cả người dân ở nhiều quốc gia khác không tìm thấy bất cứ phép xảo ngôn nào của ông.

Không phải tất cả đều đồng nhất với ông từ những người lao động cho đến chính nội các của ông nếu không muốn nói rằng : ông đang đứng trước và đứng cạnh những thế lực chống đối ông ngay trong chính ngày đăng quang của mình. Khi Obama xuất hiện và trở thành một sức mạnh và niềm tin mới của nước Mỹ, những người yêu ông và tin tưởng ở ông lại bắt đầu một lỗi lo sợ cho tính mạng của ông. Không ít lời đe doạ và cảnh báo về một sự thất bại , một sự trừng phạt hay là một vụ ám sát đối với ông. Lúc này, những người Mỹ đứng về phía ông lại nhớ tới số phận của tổng thống J. Kenedy. Nhưng ông không thể dừng lại và không thể cúi đầu. Ông không thể phản bội lại mong ước của nhân dân mình.

Obama là một chính trị gia lỗi lạc. Bởi ông đã biến chính trị thành ngày hội của con người. Lịch sử của nhiều dân tộc trên thế giới từ trước đến nay đã từng có những con người lỗi lạc. Họ đã biến chính trị thành ngày hội của nhân dân họ. Bởi chính trị ấy xuất phát từ những ước mơ đẹp và chủ nghĩa nhân văn cao cả. Bởi chính trị ấy nhằm hiện thực hoá giấc mơ của những người cần lao. Chính trị ấy là chính trị của sự dâng hiến không vụ lợi và thực hiện sứ mệnh của sự khai mở. Sứ mệnh của một nền chính trị chân chính là làm cho nhân dân mang một gương mặt ngước lên cao với một nụ cười rạng rỡ. Và nền chính trị ấy sẽ không thể tồn tại và sẽ trở thành tội ác khi nó làm cho gương mặt của nhân dân u buồn.

(Bài viết nhân dịp TT Barack Obama nhậm chức nhiệm kỳ đầu tiên của ông 20/1/2009. Bài đã in báo)

(Ảnh đầu bài Nguyễn Quang Thiều – nguồn internet: TT Barack Obama và cựu binh John Baca xem bóng chày. John Baca là bạn tôi, người đã quyên góp tiền đến VN xây dựng lại trạm xá Yên Viên, Hà Nội năm 1990)

Nguồn: Nguyễn Quang Thiều FB

ObamavaongToai

TỔNG THỐNG OBAMA và ÔNG TOẠI BÍ THƯ HUYỆN GIAO THỦY
(trong phim Gia phả của Đất)

Không hiểu sao bu tui có sự so sánh kì cục thế. Biết là kì cục nhưng cứ viết ra cho nó nhẹ người…hihi

Tổng thống Obama là người nhân hậu. Bước lên chiếc trực thăng để đi công cán nhưng ông lại quay xuống đất chào người lính gác vì lúc đi lên ông mãi nghĩ gì quên chào anh ta. Một nơi khác ông đứng chia cơm cho những người nghèo khó trong một nhà hàng. Trao phần cơm cho người nhận ông luôn gửi theo nụ cười tươi tắn thân thiện. Bởi vậy khi nghe tin ông trả lời thư một bé gái 8 tuổi và nghe theo lời cô ta cho in hình người phụ nữ da màu lên tờ đô la thì toàn thế giới khâm phục và tin là sự thật.

Ông Toại bí thư huyện Giao Thủy cũng là vua của huyện làm một việc phi thường không kém ngài tổng thống kia là mang vòng hoa đến phúng viếng ông Trạc, một nông dân ra khỏi hợp tác xã nông nghiệp Thanh Bình. Ông Trạc bị công an huyện triệu tập lên răn đe bởi hành vi “chống lại đường lối của đảng”. Vào những năm 70 của thế ki trước, thắp đuốc tìm cả nước Nam không có ông bí thư huyện nào như ông Toại . Hình ảnh ông chỉ là khát vọng của người làm phim, cũng là khát vọng của người xem phim. Còn ông Obama và những việc làm của ông là sự thực mười mươi mà cả thế giới đều biết.

Nguồn: Bulukhin trên FB

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRÍCH TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP
VÀ TỔNG THỐNG OBAMA LẨY KIỀU NHƯ THẾ NÀO?

Phan Chí Thắng

Cuối năm 1944, một chiếc máy bay của Mỹ bị quân Nhật bắn hỏng máy trên vùng trời Hòa An, Cao Bằng, Trung úy phi công Shaw nhảy dù xuống khu rừng gần tỉnh lị được du kích Việt Minh cứu thoát và đưa về gặp lãnh tụ Hồ Chí Minh. Người đã quyết định đưa viên phi công sang Côn Minh trao trả cho đại diện quân đội Mỹ ở đây, vừa thể hiện thiện chí của Việt Minh, đồng thời cũng muốn khẳng định lực lượng Việt Minh đứng về phe Đồng minh cùng chống phát xít.

Sau những cuộc gặp gỡ giữa lãnh tụ Hồ Chí Minh với tướng Chennault, đại diện Tập đoàn Không quân số 14 của Đồng minh vào tháng 3/1945 và thiếu tá tình báo A. Patty của Cơ quan Tình báo chiến lược Mỹ OSS cuối tháng 4/1945, mối quan hệ hợp tác giữa Việt Minh và Đồng minh đã được thiết lập. Một chủ trương về việc Mỹ giúp đỡ vũ khí, phương tiện liên lạc và huấn luyện quân sự cho lực lượng Việt Minh chống phát xít đã được hai bên thỏa thuận.

Đến giữa tháng 6/1945, qua đầu mối Patty, Hồ Chí Minh biết tin sẽ có một toán quân Mỹ, bao gồm nhân viên kỹ thuật đưa theo thuốc men, lương thực, vũ khí nhẹ do một sĩ quan dẫn đầu sắp được thả dù xuống địa bàn Tuyên Quang và yêu cầu phía Việt Minh chuẩn bị đón.

Nhân dịp này, Hồ Chí Minh đề nghị phía Mỹ cung cấp một văn bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ.

Vậy là từ giữa năm 1945, Hồ Chí Minh đã tin chắc là cách mạng sẽ thành công, sẽ phải đọc Tuyên ngôn độc lập và đã xác định là sẽ trích Tuyên ngôn độc lập của Mỹ đưa vào Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam mà Người sẽ soạn thảo.

Ở đây chưa bàn đến việc vì sao chính những câu trong Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ lại được dùng làm mở đầu cho bản Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam. Đó là một đề tài rất thú vị, xin dành cho dịp khác.

“Hỡi đồng bào cả nước,
Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.
Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.”

Ở đây chỉ nói việc Hồ Chí Minh đã rất cẩn trọng khi sử dụng tài liệu, Người yêu cầu phải có bản gốc để trích dẫn cho đúng. Mặc dù Người có trí nhớ rất tốt.

Hôm nay Tổng thống Obama gây bất ngờ khi mở đầu bài phát biểu của mình, ông đã đọc thuộc những câu thơ trong bài “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt để nói về chủ quyền của Việt Nam: “Sông núi nước Nam vua Nam ở. Rành rành định phận ở sách trời”. Những lời phát biểu này của ông được đón nhận nồng nhiệt vì đã thể hiện sự tôn trọng nền độc lập của Việt Nam.

Rất nhiều người nghĩ Tổng thống Obama đã học thuộc từng câu chữ. Tuy nhiên, sự thật không phải như vậy, ông Obama đã đọc theo bản chuẩn bị trước, chỉ là ông không đọc giấy mà thôi.

Đó là nhờ vào chiếc máy phóng chữ đặt ở phía trước có tên là Teleprompter.

Cụ thể, sẽ có hai cái màn hình trong suốt dựng trên cái giá đặt chéo ở hai bên bục chạy chữ cho Tổng thống Obama đọc, trong khi người ngồi phía dưới không thấy gì hết. Nhờ vậy, ông Obama đã có thể lẩy Kiều, đọc thơ Lý Thường Kiệt, ca từ Văn Cao… một cách trơn tru mà không gặp bất cứ lỗi nào.

Đương nhiên ông phải có tài hùng biện, khả năng biểu cảm và làm như không sử dụng “phao”.

Tất nhiên điều đó không phủ nhận là ông ấy giỏi, và các trợ lý viết bài cho ông ấy đọc cũng cực kỳ giỏi, rất am hiểu văn học và lịch sử Việt nam cũng như tâm lý của người nghe.

Chúng ta kính trọng những người giỏi, song cũng cần biết những cách thức làm cho họ trở nên “siêu đẳng” trong mắt ta. Và không nên thần thánh hoá bất kỳ ai.

Tư thế “nhòm bài” đây:

Phan Chi's photo.

NGHỆ THUẬT NÓI CỦA TỔNG THỐNG OBAMA

Phan Chí Thắng

Ngày 24/5/2016 Tổng thống Obama có bài phát biểu quan trọng trước 2.000 người ở Hà Nội. Nói với người Hà nội, cũng là nói với nhân dân Việt Nam. Người Hà Nội theo dõi chăm chú. Ở Bắc Kinh, Tokyo, Matscơva và nhiều nơi khác trên thế giới người ta cũng rất chăm chú lắng nghe và phân tích xem tổng thống Mỹ nói gì.
Để những cảm xúc trước sự hấp dẫn của vị tổng thống da màu đầu tiên của nước Mỹ như tác phong giản dị, thái độ gần gũi, khuôn mặt thông minh khả ái, khả năng diễn thuyết… lắng xuống, chúng ta đọc lại bài phát biểu nói trên và suy ngẫm.

A. Nghệ thuật thu hút người nghe của tổng thống Obama
Thông điệp chủ đạo của bài phát biểu cũng như cả chuyến đi của Tổng thống Obama chính là quảng bá hình ảnh nước Mỹ hiện đại, một nước Mỹ như là đã biết lắng nghe và thấu hiểu, không mang trang phục của tên sen đầm quốc tế mà là bộ mặt của một người bạn sẵn sàng hợp tác với bạn để cùng tiến tới một tương lai tốt đẹp hơn. Một nước Mỹ đại diện cho Chủ nghĩa Tư bản đã thay đổi rất nhiều theo hướng tiến bộ so với 50 hay 100 năm trước. Trong bối cảnh Chủ nghĩa Xã hội cũng đã thay đổi toàn diện.
Thực ra Duy vật biện chứng cũng như Kinh Dịch đều nói mọi thứ tồn tại trong vận động, không có gì là bất biến. Tổng thống Mỹ thêm một lần chứng minh điều đó cho thính giả.
Các nhà nghiên cứu, báo chí đã và sẽ phân tích bài phát biểu của ô. Obama theo nhiều cách khác nhau, từ các góc độ chính trị, xã hội, văn hóa, ngoại giao…, tôi chỉ muốn nhấn mạnh vài điểm về nội dung, còn chủ yếu là bàn về nghệ thuật nói của tổng thống Obama, nhờ đâu mà ông luôn hấp dẫn người nghe. Chứ không đi từ A đến Z của bài nói.

1. Obama cho thấy ông hiểu được và đánh giá cao lòng yêu nước vô bờ bến của nhân dân Việt Nam.
Phần mở đầu bài diễn văn, sau các thủ thuật dẫn nhập, ông nói:

Tôi trân trọng quá khứ lịch sử rất huy hoàng của Việt Nam. Hàng nghìn năm, Việt Nam đã trồng cấy ở những mảnh đất này. Lịch sử được viết lên những chiếc trống đồng Đông Sơn. Hà Nội đã đứng vững trên dòng sông Hồng hơn một nghìn năm. Thế giới đều biết đến lụa và những bức tranh của Việt Nam và Văn Miếu là bằng chứng kiến thức của Việt Nam.
Có được lịch sử đó chính là nhờ tinh thần bất khuất vì độc lập dân tộc:

Tuy nhiên cũng có nhiều thế kỷ, vận mệnh của các bạn lại bị quyết định bởi người khác, đất nước thân yêu của các bạn có lúc không trong tay các bạn. Nhưng cũng như những cây tre, tinh thần bất khuất của người Việt Nam như Lý Thường Kiệt đã ghi lại: Sông núi nước Nam vua Nam ở/Rành rành đã định tại sách trời.
Phát biểu như thế, Obama: – khẳng định chủ quyền và độc lập của Việt nam, – gián tiếp thừa nhận và tin tưởng không một kẻ xâm lược nào có thể đánh bại dân tộc Việt Nam.
Một mũi tên trúng nhiều đích.

2. Khôn khéo nhắc về cuộc chiến tranh việt Nam không phải là xâm lược mà chỉ là do (nước Mỹ) lo sợ chủ nghĩa cộng sản (quốc tế):

Vào một thời điểm khác, lý tưởng chung và lịch sử chống thực dân có thể đã đưa chúng ta xích lại gần nhau, thế nhưng Chiến tranh lạnh và nỗi lo sợ với chủ nghĩa cộng sản đã đẩy chúng ta tới một cuộc chiến. Chúng ta đã nhận thức được sự thật đau đớn rằng: chiến tranh dù cho thế nào đi nữa đều mang lại sự đau đớn và bi kịch cho người dân của chúng ta.
Đó là điểm mới trong cách lý giải từ phía Mỹ nguyên nhân cuộc chiến, lý giải như thế hố sâu ngăn cách dễ khỏa lấp hơn. Nên nhớ là khi mang quân vào Việt Nam, Mỹ tuyên bố là để bảo vệ Việt Nam Cộng hòa trước nạn xâm lăng của Bắc Việt.

3. Obama rất biết và khéo vận dụng cách nói của người Việt Nam.
Người Việt thích lối nói thỉnh thoảng trích dẫn văn thơ điển tích. Vừa dễ hiểu, vừa có duyên, vừa khoe kiến thức và nhiều lúc rất tinh tế. Obama nắm ngay lấy cơ hội này. Nói đến quan hệ bạn bè giữa hai nước, ông nhắc lời Văn Cao “Từ nay người biết quê người. Từ nay người biết thương người”. Kết thúc bài nói chuyện, để khẳng định luôn là đối tác, là bạn của Việt Nam, ông mượn một câu Kiều.
Mai này, khi người Mỹ, người Việt Nam học cùng nhau, cùng phối hợp sáng tạo với nhau, các bạn hãy nhớ khoảnh khắc tôi đứng ở đây trước các bạn, như Nguyễn Du đã nói: “Rằng trăm năm cũng từ đây. Của tin gọi một chút này làm ghi”.
Tôi đã phải lật truyện Kiều tìm đoạn có hai câu lục bát này: Đó là cảnh Kiều và Kim Trọng đã phải lòng nhau nên nàng đợi dịp cha mẹ vắng nhà lẻn sang chơi nhà chàng, tới lúc đoán cha mẹ sắp về họ vội trao tín vật để chia tay.
Nguyên văn đoạn văn từ câu 355 đến 364 là thế này:
Rằng: Trăm năm cũng từ đây Của tin còn một chút này làm ghi Sẵn tay khăn gấm, quạt quỳ Với cành thoa ấy tức thì đổi trao Một lời vừa gắn tất giao Mái sau dường có xôn xao tiếng người Vội vàng lá rụng hoa rơi Chàng về lầu sách, nàng rời lầu trang…” Từ phen đá biết tuổi vàng, Tình càng thấm thía dạ càng ngẩn ngơ”.
Obama gián tiếp nói chúng ta yêu nhau rồi đấy, đã trao tín vật cho nhau. Cách nói chả khác gì các nhà thơ!
4. Luôn đề cao người đối thoại hoặc thính giả.

B. Bình tĩnh và bình tĩnh!
Không có bạn vĩnh viễn và không có kẻ thù vĩnh viễn. Kinh Dịch dạy trong bạn có thù, trong thù có bạn. Người giỏi ứng xử là tăng phần trăm bạn trong thù và giảm phần trăm thù trong bạn. Trong thế giới hiện đại chỉ có người đồng hành hoặc kẻ không đồng hành. Tất cả đều là bạn tiềm năng và thù tiềm năng.
Tổng thống Mỹ đến thăm Việt Nam, nói những lời tốt đẹp, đọc lời bài hát và cả ngâm thơ. Nhiều người thích thú, phấn khởi. OK thôi, cái gì có lợi cho đất nước, cho nhân dân ta thì ta hoan nghênh. Song đừng nghĩ là nước Mỹ đến đây chỉ với mục đích giúp Việt Nam tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên CNXH.
Trước hết và mãi mãi, mọi quan hệ với nước ngoài phải nằm trong và vì quyền lợi của nước Mỹ. Bài học lịch sử cho thấy Mỹ đã từng bỏ rơi đồng minh năm 1975 như thế nào khi thấy có thể xử lý phe XHCN mà không cần thông qua chiến tranh, nghĩa là không cần duy trì chế độ Việt Nam Cộng hòa từ vĩ tuyến 17 trở vào nữa?
Như đã nói ở trên, chuyến đi, những bài nói, cuộc trò chuyện, tham quan của ô. Obama là quảng bá cho nước Mỹ. Các hãng Adidas, Nike… sẵn sàng chi cả tỷ đô la tài trợ để làm marketing. Nước Mỹ không tiếc gì dăm triệu đô cho chuyến công du với hàng trăm phương tiện máy bay tàu bò, trang thiết bị kỹ thuật và cả ngàn nhân viên các loại tháp tùng.
Quảng bá cho nước Mỹ thông qua hình ảnh ô. Obama. Hình ảnh đó đối lập với một vài hình ảnh khác trong khu vực này.
Xét ở góc độ đó, ô Obama đã thành công.
Đã đánh trúng vào tâm lý một phần không nhỏ người dân Việt Nam, biết họ thích nghe cái gì.

Nguồn: Phan Chi FB

 

Video yêu thích
Gia phả của đât
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Chào ngày mới 13 tháng 4


Tết Chôl Chnam Thmây
CNM365. Chào ngày mới 13 tháng 4
. Wikipedia Ngày này năm xưa. Lễ hội Chol Chnam Thmay Ngày đầu tiên trong Tết Thái, Tết Miến Điện, Tết Campuchia, tết Lào,… 1943 – Khánh thành Đài kỷ niệm Jefferson ở Washington, D.C., nhân dịp 200 năm ngày sinh Thomas Jefferson. Năm 1743 – ngày sinh Thomas Jefferson, Tổng thống Mỹ thứ ba, tác giả bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ (mất năm 1826); xem tiếp…

Chaongaymoi

Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video nhạc tuyển

Thương nhớ đồng quê
Lãng du trong văn hoá Việt Nam
Việt Nam quê hương tôi
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam Phúc Hậu Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực Dạy và Học Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Truyện Bà Chúa Ngọc


cropped-dsc00927.jpg
CNM365. TRUYỆN BÀ CHÚA NGỌC
. Hoàng Kim. Tôi đã thu thập được nhiều thông tin về Đạo Mẫu Việt Nam, Hình tượng Mẹ trong văn hóa Việt Chăm và may mắn được ngưỡng vọng Bà Chúa Ngọc Thiên Y A Na tại tháp Po Nagar, Nha Trang, văn bia do cụ Phan Thanh Giản soạn ngày 20 tháng 5 năm Tự Đức thứ 9 (1857) – bản dịch của Quách Tấn – ông bà Lê Vinh tạc năm 1970. May thay, gần đây tôi lại được tiếp cận với những công trình nghiên cứu lịch sử văn hóa của các tác giả Ngô Đức Thịnh 2009, Lê Đình Phụng 2015, Huỳnh Thiệu Phong 2016 và những người khác đã giúp soi sáng nhiều góc khuất để hiểu và viết bài Truyện Bà Chúa Ngọc, tích cũ viết lại. Tôi xin chép lại những cứ liệu “cảo thơm lần giở trước đèn” và mong nhận được những thông tin góp ý bổ sung của các bậc cao minh và quý bạn đọc để có được tài liệu tốt hiến tặng bạn đọc. Cám ơn các tác giả của những tài liệu trích dẫn dưới đây (HK).

Tập tin:Bia Thien Y A Na.JPG
Văn bia viết về Thiên Y A Na tại tháp Po Nagar, Nha Trang do cụ  Phan Thanh Giản soạn ngày 20 tháng 5 năm Tự Đức thứ 9 (1857) – bản dịch của Quách Tấn – ông bà Lê Vinh tạc năm 1970 (Thiên Y A NA Wikipedia Tiếng Việt)

NgoDucThinh2009DaoMauVietNam
ĐẠO MẪU VIỆT NAM (tập 1 & tập 2)
Ngô Đức Thịnh 2009 (NXB Tôn Giáo 2009)
Sách Việt Dec 24, 2015

Bộ sách gồm 2 tập gần 1000 trang giấy khổ lớn này là công trình nghiên cứu qua nhiều năm của Giáo sư Tiến sĩ Ngô Đức Thịnh, thuộc Trung tâm Nghiên cứu và bảo tồn tín ngưỡng Việt Nam, bao gồm hầu hết những vấn đề liên quan đến tục thờ Mẫu ở Việt Nam từ xưa đến nay và trên khắp ba miền Nam, Trung, Bắc, tất nhiên là được trình bày dưới sự nhìn nhận và đánh giá của khoa học hiện đại.

Sách chia làm 6 phần. Phần thứ nhất trình bày những thành tựu nghiên cứu hiện nay về những vấn đề chung nhất đối với đạo Mẫu. Phần thứ hai, thứ ba và thứ tư tuần tự phân tích chi tiết về đạo Mẫu ở miền Bắc, miền Trung và miền Nam. Phần thứ năm đánh giá chung về đạo Mẫu và các giá trị tích cực cũng như tiêu cực của nó. Cuối cùng, phần thứ sáu là phần sưu tầm các bản văn thơ, tư liệu bằng văn bản được lưu truyền trong đạo Mẫu.

Link Download
eBook có trong tuyển tập DVD Văn Hóa
https://www.scribd.com/doc/239678283/Dao-Mau-Viet-Nam

LeDinhPhung

ĐỐI THOẠI VỚI NỀN VĂN MINH CỔ CHĂM PA
Lê Đình Phụng 2015 (Bảo tàng lịch sử Việt Nam)
Cập nhật: 7:22 PM GMT+7, Thứ năm, 23/07/2015

Tác giả Lê Đình Phụng; Nhà Xuất bản Khoa học xã hội; Khổ sách 16 cm x 24 cm; Số lượng 302 trang; Năm 2015.

Văn hóa Champa là một nền văn hóa lớn, độc đáo, mang bản sắc riêng, có nhiều đóng góp quan trọng vào văn hóa dân tộc trong lịch sử và tỏa sáng đến ngày nay. Kế thừa từ văn hóa cội nguồn của tộc người và sự tiếp thu hội nhập từ văn minh Ấn Độ đưa lại, người Chăm đã xây dựng và phát triển tạo nên một nền văn hóa rực rỡ có mặt từ Nam đèo Ngang (tỉnh Quảng Bình) chạy dài theo dải đất miền Trung đến bờ Bắc sông Đồng Nai (tỉnh Bình Thuận), lan tỏa lên vùng cao nguyên đại ngàn hùng vĩ cùng hệ thống các đảo ven biển miền Trung.Lê Đình Phùng là một cán bộ nghiên cứu công tác tại Viện Khảo cổ. Ông được phân công nghiên cứu về khảo cổ học Champa. Sau hơn 30 năm nghiên cứu về nền văn hóa này, với lòng yêu nghề và niềm đam mê  đã thôi thúc tác giả luôn tìm hiểu, tự đặt ra những câu hỏi và tự tìm kiếm câu trả lời. Cuốn sách “ Đối thoại với nền văn minh cổ Champa” như sự tự độc thoại với nền văn minh trong quá khứ.  Tác giả không nêu các thành tựu nghiên cứu đã đạt được mà chỉ nêu những vấn đề còn chưa có lời giải thỏa đáng.

Tác phẩm gồm 4 nội dung chính:

Phần  I: Đối thoại với chủ nhân nền văn hóa Champa – Người Chăm
Phần  II : Đối thoại với lịch sử Champa
Phần III : Đối với tín ngưỡng và tôn giáo Champa
Phần IV : Đối thoại với di sản vật chất Champa

Thư viện Bảo tàng Lịch sử quốc gia (số 25 Tông Đản – Hoàn Kiếm – Hà Nội) xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!

Nguồn: Phạm Trang Nhung (Phòng Tư liệu – Thư viện)

 

Thien_Y_A_Na

TỪ YANG PO INÂ NÂGAR ĐẾN THIÊN YANA DIỄN NGỌC PHI: DẤU ẤN CỦA SỰ GIAO THOA VĂN HÓA VIỆT – CHĂM TRONG DÒNG CHẢY VĂN HÓA VIỆT NAM

Huỳnh Thiệu Phong
Nguồn: Nghiên cứu Lịch sử

Dân tộc Chăm – một trong số 54 dân tộc anh em đang sinh sống trên lãnh thổ dân tộc Việt Nam đã từng có một thời kỳ huy hoàng trong lịch sử dân tộc. Ngày nay, mặc dù Vương quốc Chăm Pa đã không còn nữa, người Chăm hiện diện với tư cách là một tộc người bộ phận trong đại gia đình các dân tộc anh em của Việt Nam; song, những giá trị cả về lịch sử lẫn văn hóa mà Vương quốc Chăm nói chung, con người Chăm nói riêng để lại vẫn còn nguyên vẹn. Có những giá trị đã được phơi bày trước ánh sáng khoa học; nhưng đồng thời cũng có những giá trị vẫn còn là một dấu chấm hỏi đặt ra để thử thách giới khoa học.

Một quá trình hỗn cư vì điều kiện lịch sử quy định đã cho phép quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa diễn ra giữa hai nền văn hóa Việt – Chăm. Giới nghiên cứu trong nước đã có những công trình khoa học nghiên cứu nghiêm túc và có giá trị về sự giao lưu và tiếp biến văn hóa giữa hai nền văn hóa này.

Trong quá trình học tập, sự tìm hiểu về văn hóa Chăm là cần thiết và thường xuyên đối với bản thân tác giả. Điều kiện của tác giả hiện nay tốt hơn những bậc tiên bối đi trước, vì tôi có được sự kế thừa những thành quả nghiên cứu của họ. Tiếp nối những thành quả đó, bài viết này mang tính kế thừa là chủ yếu. Tôi tập trung làm rõ diễn trình “biến hóa” của Mẹ Nữ thần Xứ sở Yang Po Inâ Nâgar để trở thành Thiên Yana Diễn Ngọc Phi thông qua việc tập trung giải quyết 3 câu hỏi: Hình tượng Mẹ Xứ sở trong tâm thức người Chăm là như thế nào? – Cơ sở biến đổi từ Mẹ Xứ sở sang Nữ thần Thiên Yana là gì? – Dấu ấn của sự giao thoa đó được biểu hiện trên những bình diện nào?

Với 3 vấn đề đó, cá nhân tôi nghĩ cũng là tạm đủ trong khuôn khổ một bài viết mang tính kế thừa như vậy. Hi vọng sẽ là hữu ích cho người đọc.

*

Vương quốc Chăm Pa trong lịch sử là vương quốc được hình thành từ sự hợp nhất của bộ tộc Cau và bộ tộc Dừa. Sự hình thành của Vương quốc Chăm được đánh mốc từ năm 192, sau khi Khu Liên (Kurung) nổi lên chống lại phong kiến nhà Đông Hán và thành lập Vương quốc Lâm Ấp – tiền thân của Chăm Pa. Với việc hình thành nhà nước từ sớm, trải qua quá trình phát triển lâu dài, người Chăm có đời sống văn hóa rất phát triển, đặc biệt là đời sống tinh thần. Trong đó, vì nằm trên địa bàn thuận lợi về giao thông biển cho nên “… từ văn hóa Sa Huỳnh, cư dân nơi đây đã có mối liên hệ giao lưu trao đổi với văn hóa Ấn Độ…” [6: 147]. Cho đến hiện nay, về cơ bản thì các nhà nghiên cứu tạm chia người Chăm ra làm 4 nhóm: Chăm Ahier – Chăm Awal – Chăm Islam – Chăm H’roi. Sự phân chia này được đề xuất dựa trên cơ sở tôn giáo. Tôi không có tham vọng làm rõ việc phân chia đó là hợp lý hay chưa trong bài viết này.

Tôn giáo và tín ngưỡng là hai nội hàm khái niệm hoàn toàn khác biệt nhau. Nếu tôn giáo là một tổ chức có hệ thống phân chia rõ ràng thì tín ngưỡng chỉ dừng lại ở mức là một niềm tin vào một lực lượng siêu nhiên nào đó, chưa có một hệ thống rõ ràng để lý giải và chúng chủ yếu lưu truyền trong dân gian. Cũng như người Việt, bên cạnh việc ảnh hưởng từ yếu tố tôn giáo (có thể là nội sinh hoặc ngoại nhập), người Chăm cũng có tín ngưỡng bản địa của riêng mình. Một trong số đó là tín ngưỡng thờ Mẹ. Điều này được thể hiện qua hình tượng Yang Po Inâ Nâgar – vị Mẫu thần mà người Chăm tôn thờ và gọi bà là Mẹ Nữ thần Xứ sở. Việc “lựa chọn” này của người Chăm đã trùng với sự “lựa chọn” của người Việt để rồi sau này, khi điều kiện lịch sử chi phối thì hình tượng Thiên Yana Diễn Ngọc Phi đã ra đời như một sự khẳng định cho dấu ấn giao thoa hai nền văn hóa Việt – Chăm.

Trong phân tích về nguồn gốc chế độ Mẫu hệ của người Chăm, Phú Văn Hẳn đã căn cứ đến 4 yếu tố mà theo ông, chính đó là nguyên nhân lý giải cho việc người Chăm theo Mẫu hệ. Bốn yếu tố đó bao gồm: Nguồn gốc lịch sử, chính trị – kinh tế, nguồn gốc nhân chủng – yếu tố tình cảm [1: 34]. Trong đó, cá nhân tác giả bài viết đặc biệt quan tâm đến nguyên nhân thứ nhất là nguồn gốc lịch sừ; “Về nguồn gốc lịch sử, theo truyền thuyết, dân tộc Champa tôn xưng Nữ thần Po Inâ Nâgar là “Thần mẹ của xứ sở”, người đã khai sáng ra giang sơn gấm vóc của dân tộc Champa… Phải chăng vì nhân vật đầu tiên khai sáng ra non sông Champa là một nữ thần nên dân tộc Champa từ trong quá khứ của cội nguồn?” [1: 34]. Giả định này của Phú Văn Hẳn có lẽ còn cần phải xem xét lại về độ tin cậy. Tuy nhiên, việc đặt giả định như vậy cũng cho thấy ảnh hưởng của nữ thần Yang Po Inâ Nâgar trong tâm thức người Chăm là lớn đến nhường nào.

Về nguồn gốc của vị nữ thần này, căn cứ vào các nguồn tư liệu, Ngô Đức Thịnh đã phân thành hai nhánh truyền thuyết: Một mang tính vũ trụ luận tôn giáo, một mang tính dân gian phi tôn giáo. Sau đây, xin được trích dẫn hai dị bản mang tính vũ trụ luận tôn giáo về truyền thuyết của Bà.

“… Bà là vị thần từ cõi trời xuống trần gian, Bà có 97 người chồng, 36 người con tượng trưng cho 37 màu máu, 37 màu máu biến thành 37 giống cây trồng, vật nuôi và các tục lệ cúng thần khác. Thân thể bà đồng nhất và tượng trưng cho các phần khác nhau của vũ trụ: Thân của bà chính là bầu trời, đầu của bà chính là mũ đội của các vị vua, của các sư cả Bàlamôn, cánh tay của bà tượng trưng cho Sao Cày, đôi chân bà là sao Bắc Đẩu, răng của bà rìu đá của thần Sấm Sét, …” [7: 203, 204]. Một dị bản khác thì cho rằng: “Theo người Chàm, nữ thần Pô Nagar với tên gọi đầy đủ là Pô Yang Ino Nagara được sinh ra từ mây trời và từ bọt biển, nữ thần đã hiện thân dưới hình dáng một khúc gỗ kỳ nam nổi trên mặt biển. Bà có 97 người chồng, trong đó Po Yang Amô là người yêu có nhiều mãnh lực nhứt, và bà đã sinh 38 người con gái, đều cũng đã trở thành nữ thần như mẹ. Bà đã tạo sinh ra đất đai, cây kỳ nam và lúa gạo, không khí chung quanh bà đượm mùi thơm của lúa và chính bà đã đem sinh khí cho cây sung thần” [3: 225, 226].Như vậy, hai truyền thuyết về vị nữ thần này dù có sự khác nhau đôi chút về phương diện mô tả, song tất cả đều hướng đến một mục đích là khẳng định vai trò to lớn của Yang Po Inâ Nâgar trong việc lập quốc.

Hiện nay, tại một số di tích đền tháp Chăm còn sót lại, ngoài các vị thần “ngoại lai” được du nhập vào tôn giáo của người Chăm từ việc tiếp nhận Bàlamôn giáo, Yang Po Inâ Nâgar vẫn là vị nữ thần được tôn thờ nhiều nhất trong các đền tháp. Những di tích đền tháp này tập trung chủ yếu ở khu vực Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa, Phú Yên [7: 209]. Trong những di tích đó, đáng kể nhất là tại Nha Trang với quần thể di tích Tháp Bà. Một điểm khá thú vị mà Ngô Đức Thịnh đã rút ra được trong công trình Đạo Mẫu Việt Nam (tập 1) chính là: “… các di tích thờ Pô Inư Nưgar từ Nha Trang trở ra đến Huế đã bị Việt hóa, thành nơi thờ phụng các nữ thần mang danh thần Việt, như Thiên Yana, Bà Chúa Ngọc…” [7: 209]. Đến đây, một vị nữ thần khác là Thiên Yana đã xuất hiện và có thể xem đây là dấu ấn to lớn nhất trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa Việt – Chăm. Sự giao thoa này cần phải được xem xét trước tiên ở góc độ lịch sử.

“Hoành Sơn, một dãy núi ngang, ở vào 10 thế kỷ trước, nó chẳng những là ranh giới giữa hai nước Đại Việt và Chiêm Thành mà còn là ranh giới giao tiếp của hai nền văn hóa lớn của nhân loại: phía Bắc là vùng ảnh hưởng của văn hóa chữ Hán, phía nam chịu ành hưởng của văn hóa Ấn Độ giáo” [3: 225]. Tuy nhiên, những biến thiên của lịch sử đã biến vị thế của ngọn núi ấy, tưởng chừng như là rào cản lớn lao, trở nên vô nghĩa. Sự mở rộng lãnh thổ của Đại Việt và thu hẹp lãnh thổ của vương quốc Chăm về phương Nam đã tạo nên một hình tượng mới trong văn hóa tín ngưỡng dân gian của người Việt. Và, Thiên Yana “ra đời” như một điều tất yếu. Quá trình đi về phương Nam của người Việt đã đồng hành với quá trình Nho giáo hóa ở vùng đất mới; tuy nhiên, vốn là vùng đất từng tồn tại một nền văn hóa rực rỡ, không đơn giản cho những người chủ mới (người Việt)biến đổi tính bản địa của văn hóa khu vực này một cách nhanh chóng mà ngược lại, “… người Việt đã tiếp xúc với việc thờ cúng nguyên mẫu các thần Chăm, trong đó có thần Pô Yang Ino Nagar”[3: 230].

Thiên Yana là ai ? Nói như Ngô Văn Doanh, Bà là một nữ thần bản địa của người Chăm đã được Việt hóa, là một Thượng đẳng thần và được người dân địa phương tôn kính thờ phụng [5: 272]. Đây có lẽ là câu trả lời ngắn gọn nhất nhưng chưa phải là rõ ràng nhất, nhất là trong việc ta muốn làm rõ tính hỗn dung văn hóa Việt – Chăm. Hiện nay, đa phần các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng hình tượng Thiên Yana và Yang Po Inâ Nâgar chính là một chỉnh thể duy nhất, song là hai vị nữ thần của hai dân tộc khác nhau. Cơ sở của sự tiếp nhận hình tượng Yang Po Inâ Nâgar của người Chăm thành nữ thần Thiên Yana theo tôi bắt nguồn từ hai nguyên nhân chính: (1) Sự trùng hợp về việc tôn trọng vai trò người phụ nữ trong văn hóa truyền thống – (2) Sự hỗn cư của hai tộc người Việt – Chăm trong lịch sử.

  • Việt Nam vốn là quốc gia nông nghiệp, vai trò người phụ nữ luôn được đề cao. Sự ảnh hưởng của Nho giáo sau này mới làm cho vai trò và vị trí của người phụ nữ bị giảm sút. Trong khi đó, như đã đề cập, người phụ nữ trong văn hóa Chăm vốn dĩ đã trở nên vĩ đại với việc họ tôn sùng người khai sinh ra dân tộc là một vị nữ thần – Nữ thần Yang Po Inâ Nâgar.
  • Sự hỗn cư của hai tộc người Việt – Chăm trong lịch sử đã tạo ra bước ngoặc trong việc giao lưu và tiếp biến văn hóa.“… Lâu nay, khi nói về quá trình Nam tiến đó, thì nhiều người nghĩ đơn giản là cứ mỗi lần mở rộng phạm vi lãnh thổ quốc gia Đại Việt, người Việt tiến sâu về phương nam thì người Chăm càng co dần rút về tụ cư ở vùng đất Ninh Thuận Bình Thuận ngày nay. Thực ra không hoàn toàn là như vậy, mà cơ bản người Chăm vẫn bám trụ đất cũ, cùng cộng cư với người Việt mới tới và diễn ra quá trình người Chăm đồng hóa người Việt…” [7: 227].

Còn một nguyên nhân phụ khác, theo tôi cũng nên đề cập mặc dù nó không phải là nguyên nhân chính. Đó chính là việc tiếp nhận hình tượng Yang Po Inâ Nâgar  lúc ban đầu của người Việt chính là biểu hiện của việc tôn trọng tổ tiên của vùng đất này trước đây. Hai nguyên nhân chính và một nguyên nhân phụ chính là tiền đề cho việc hình thành hình tượng “Thiên Yana Diễn Ngọc Phi”.

Danh xưng đầy đủ của vị nữ thần này là “Thiên Yana Diễn Ngọc Phi”. Trong việc phân tích danh xưng đầy đủ của vị nữ thần người Việt này, Nguyễn Hữu Hiếu đã có những kiến giải rất hợp lý. Thiên Yana là sự Việt hóa từ khái niệm Devayana, trong đó Thiên = Yang = Deva = Trời; Yana = phần còn lại của Devayana. “Diễn Ngọc Phi” hay “Diễn Phi Chúa Ngọc” phản ánh sự kiện vào năm 1797, Tổng trấn Nguyễn Văn Thành cho xây dựng đền thờ Bà Chúa Ngọc trên núi Diễn (Khánh Hòa) để mong vùng đất này không bị cọp quấy nhiễu [3]. Như vậy, ngay trong danh xưng của hai vị nữ thần này ta đã thấy có sự trùng hợp về mặt ngôn ngữ.

Sự tiếp nhận hình tượng Yang Po Inâ Nâgar của người Chăm và đưa vào hệ thống điện thờ của người Việt đã vấp phải những rào cản nhất định. Thực chất hiện nay, ở mỗi địa phương khác nhau, hình tượng Thiên Yana đã có sự biến đổi tương đối. Sự biến đổi ở đây có thể là biến đổi về danh xưng (Thiên Yana – Bà Chúa Ngọc – Bà Bô Bô – Bà Thu Bồn – Bà Mẹ Đất) hoặc có thể là biến đổi về chức năng thờ cúng (có thể Bà là Mẹ Đất, Mẹ Sông, …) [6, 7]. Theo tôi, đặc điểm này được quy định bởi yếu tố địa – văn hóa. Bởi vì, ở một số địa phương, Thiên Yana được thờ phụng cạnh một số dòng sông và khi đó, danh xưng lẫn chức năng của vị nữ thần này cũng đồng thời bị biến đổi. Mặt khác, ở địa phương không có sông suối, bà lại trở lại thành Bà Chúa Ngọc hay Thiên Yana.

Dấu ấn của sự giao thoa văn hóa được thể hiện rõ nét nhất chính là tại quần thể di tích Tháp Bà ở Nha Trang. Ai trong chúng ta cũng đều biết, đây vốn là một công trình đền tháp của người Chăm xây dựng nhằm tôn thờ Mẹ Nữ thần Xứ sở của họ. Tuy nhiên, hiện nay, tại đây lại để cụm chữ “Tháp – Thiên – Y – Thánh – Mẫu” và có vẻ như đã phủ nhận hoàn toàn hình tượng Yang Po Inâ Nâgar (?).Và một thực tế là du khách khi đến tham quan tại quần thể di tích Tháp Bà hiện nay quan sát đều có thể thấy, cộng đồng người Chăm tại khu vực này còn tập trung rất ít, các nghi lễ thờ cúng do người Việt phụ trách là đa số.

Nói tóm lại, có thể xem thờ Mẫu là một điểm chung giữa hai nền văn hóa Việt – Chăm: “… sự hỗn cư giữa người Chăm và người Việt, thì tín ngưỡng thờ Mẹ [của người Chăm – HTP] vẫn được duy trì bảo lưu và có sự gia nhập của người Việt, mang trong tinh thần Việt tục thờ Mẫu hội nhập với tục thờ Mẹ của người Chăm…” [6: 146]. Vì điều kiện lịch sử, giữa hai nền văn hóa này đã diễn ra sự chung đụng, quá trình tiếp biến văn hóa đã diễn ra như một quy luật tất yếu như nhận định của Nguyễn Thừa Hỷ “Trên thế giới, các nền văn hóa không đứng cô lập và bất biến” [4: 12]. Ta có quyền tự hào về hình tượng Thiên Yana – một sản phẩm minh chứng rõ nét cho quá trình giao lưu văn hóa Việt – Chăm trong dòng chảy lịch sử văn hóa dân tộc./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]: Chi hội Dân tộc Chăm (2014), Những vấn đề văn hóa – xã hội người Chăm ngày nay, NXB Trẻ.
[2]: Ngô Văn Doanh (2006), Lễ hội Chuyển mùa của người Chăm, NXB Trẻ.
[3]: Nguyễn Hữu Hiếu (2010), Diễn trình văn hóa vùng đồng bằng sông Cửu Long, NXB Thời đại.
[4]: Nguyễn Thừa Hỷ (2012), Văn hóa Việt Nam truyền thống một góc nhìn, NXB Thông tin và Truyền thông.
[5]: Nhiều tác giả (2013), Văn hóa một số vùng miền ở Việt Nam, NXB Thời đại.
[6]: Lê Đình Phụng (2015), Đối thoại với nền văn minh cổ Chămpa, NXB Khoa học Xã hội.
[7]: Ngô Đức Thịnh (2009), Đạo Mẫu Việt Nam – tập 1, NXB Tôn giáo.

Chaongaymoi

 

Video nhạc tuyển
Du lịch Việt Nam (Phú Yên)
KimYouTube
Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Chào ngày mới 11 tháng 3


Chaongaymoi
CNM365. Chào ngày mới 11 tháng 3. Wikipedia Ngày này năm xưa. Năm 1955 – ngày mất Alexander Fleming, nhà khoa học, giải thưởng Nobel người Scotland (sinh năm  1881) người mở ra kỉ nguyên sử dụng kháng sinh trong y học, tìm ra và phân tách được penicilin Năm 2011Động đất và sóng thần Tohoku Nhật Bản diễn ra làm thiệt mạng hơn 15.000 người, gây sự cố hạt nhân trầm trọng, thiệt hại hàng trăm tỉ đô la Mỹ. Năm 1945 – vua Bảo Đại tuyên bố nước Việt Nam khôi phục nền độc lập và hủy bỏ Hiệp ước Bảo hộ, thành lập Đế quốc Việt Nam.  Năm 1955 – Thủ tướng Ngô Đình Diệm cho giải tán Hoàng triều Cương thổ(xem tiếp…)

Hoàng Kim học để làm ở Ấn Độ

Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích
Secret Garden – Poéme

BinhMinhYenTu

Video nhạc tuyển

Chopin – Spring Waltz 
Secret Garden – Bí mật vườn thiêng 
Những bài hát hay nhất của Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (25 bài)
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Chào ngày mới 23 tháng 2


HoitruongThongNhat
CNM365. Chào ngày mới 23 tháng 2. Hội trường Thống Nhất ngày nay. Wikipedia Ngày này năm xưa. Năm 1868 – Thống đốc Nam Kỳ Lagrandière làm lễ đặt viên đá đầu tiên khởi công xây dựng Dinh Thống đốc Nam Kỳ mới tại Sài Gòn (là Dinh Độc lập, trước năm 1975 và là Hội trường Thống Nhất ngày nay). Năm 1947Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế được thành lập nhằm thúc đẩy các tiêu chuẩn về quyền sở hữu, công nghiệp và thương mại trên toàn thế giới. Năm 1966, Guyanaquốc gia duy nhất thuộc Khối thịnh vượng chung Anh nằm trên lục địa Nam Mỹ lần đầu tiên tổ chức lễ Cộng hòa Mashramani  xem tiếp …

HoaYenTuNHỮNG KIỆT TÁC THƠ VĂN NGUYỄN TRÃI

Hoàng Kim

CNM365. TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Nguyễn Trãi là anh hùng dân tộc, bậc hào kiệt lỗi lạc, nhà chính trị kiệt xuất và danh nhân văn hóa. Yên Tử là bài thơ thần của Nguyễn Trãi lúc ban mai trên non thiêng (ảnh Hoàng Kim). Sau đây là 5 bài thơ trong Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi và bài bình ” Trời ban tối biết về đâu?” của Vũ Bình Lục.

Giáo sư Phan Huy Lê nhận xét trong bài “Nguyễn Trãi – 560 năm sau vụ án Lệ Chi Viên”: “Cho đến nay, sử học còn mang một món nợ đối với lịch sử, đối với Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ là chưa khám phá và đưa ra ánh sáng những con người cùng với những âm mưu và hành động lợi dụng việc từ trần đột ngột của vua Lê Thái Tông ở Lệ Chi Viên để vu oan giá hoạ dựng nên vụ án kết liễu thảm khốc cuộc đời của một anh hùng vĩ đại, một nữ sĩ tài hoa, liên luỵ đến gia đình ba họ. Với tình trạng tư liệu quá ít ỏi lại bị chính sử che đậy một cách có dụng ý, thì quả thật khó hi vọng tìm ra đủ chứng cứ để phá vụ án bí hiểm này. Nhưng lịch sử cũng rất công bằng. Với thời gian và những công trình nghiên cứu của nhiều thế hệ các nhà sử học, nhà văn học, nhà tư tưởng, nhà văn hoá…, lịch sử càng ngày càng làm sáng rõ và nâng cao nhận thức về con người và sự nghiệp của Nguyễn Trãi, về những công lao, cống hiến, những giá trị đích thực của ông trong lịch sử cứu nước và dựng nước, lịch sử văn hoá của dân tộc”.

Trong tất cả những tư liệu lịch sử để lại thì tư liệu sáng giá nhất, rõ rệt nhất, sâu sắc nhất để minh oan cho Người lại chính là Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi, “Họa phúc có nguồn đâu bổng chốc, Anh hùng để hận mãi nghìn năm” “Số khó lọt vành âu bởi mệnh.Văn chưa tàn lụi cũng do trời “.

Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai, người làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc nay là huyện Thường Tín, Hà Nội. Ông sinh năm 1380, mất năm 1442, cha là Nguyễn Phi Khanh, nguyên quán làng Chi Ngại , huyện Phương Sơn (Chí Linh, Hải Dương) mẹ là Trần Thị Thái, con gái của Trần Nguyên Đán. Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) năm 1400, lúc 20 tuổi, cha con đều từng làm quan dưới triều Hồ. Sau khi Việt Nam bị rơi vào sự cai trị của nhà Minh, Nguyễn Trãi tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo. Ông trở thành mưu sĩ bày tính mưu kế về mọi mặt chính trị, quân sự, ngoại giao của nghĩa quân Lam Sơn. Ông là quân sư kiệt xuất, trù hoạch mưu kế, viết thư thảo hịch. Ông là khai quốc công thần của nhà Hậu Lê, được ban quốc tính. Năm 1433 ông đã viết văn bia Vĩnh Lăng nổi tiếng khi Lê Lợi mất. Tuy nhiên, năm 1442, toàn thể gia đình Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc trong vụ án Lệ Chi Viên. Năm 1464, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho ông: “Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo” (Lòng Ức Trai sáng như sao Khuê). Ở thế kỉ 20, thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đánh giá: “Nguyễn Trãi, người anh hùng của dân tộc, văn võ song toàn; văn là chính trị: chính trị cứu nước, cứu dân, nội trị ngoại giao” mở nền thái bình muôn thủa, rửa nỗi thẹn nghìn thu”; võ là quân sự : chiến lược và chiến thuật, “yếu đánh mạnh, ít địch nhiều … thắng hung tàn bằng đại nghĩa”; văn và võ đều là võ khí, mạnh như vũ bão, sắc như gươm đao… Thật là một con người vĩ đại về nhiều mặt trong lịch sử nước ta. (Nguồn: Nguyễn Trãi – Wikipedia tiếng Việt).

Những cống hiến của Nguyễn Trãi về chính trị, quân sự, ngoại giao, tư tưởng, văn chương, địa chí, văn hóa là đặc biệt to lớn. Tiếc rằng di sản văn học của ông hầu hết đã bị triều đình ra lệnh tiêu hủy, nay chỉ một phần nhỏ thơ văn còn sót lại trong toàn bộ trước tác đồ sộ của ông. Một số tác phẩm của Nguyễn Trãi còn lại như Bình Ngô đại cáo thiên cổ hùng văn viết năm 1428 lưu tryuền muôn đời và Quân trung từ mệnh tập gồm những thông điệp gửi cho bọn tướng giặc Minh là mẫu mực của văn chính luận sắc bén.  Dư địa chí là nguồn thông tin cương vực lãnh thổ quốc gia đặc biệt giá trị (trong Tổng tập Dư Địa Chí Việt Nam 4 quyển, quyển 1 trang 537-680 Viện Đại học Huế, Nhà Xuất bản Thanh Niên), Ức Trai thi tậpQuốc âm thi tập, Chí Linh sơn phú, Băng Hồ di sự lục . Nhiều tác phẩm đã bị thất lạc như Ngọc đường di cảo, Thạch khánh đồ, Luật thư, Giao tự đại lễ , v.v…

Tôi chọn chép lại dưới đây năm bài thơ thần của  Nguyễn Trãi “Yên Tử” , “Ngôn chí”, “Quan hải”, “Hải khẩu dạ bạc hữu cảm” và “Oan thán” để góp phần tìm hiểu Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi.

Cháu Hoàng Lê hỏi:  Ông ơi, ông có thể cho cháu ý kiến về định hướng tìm hiểu bài thơ “Hải khẩu dạ bạc hữu cảm” của Nguyễn Trãi được không ạ. Cháu có tìm hiểu nhưng có thể phần chìm của tác phẩm cháu chưa hiểu hết được. Cháu cảm ơn ông ạ !

Tôi nhắn với cháu là: “1) Hãy tìm hiểu kỹ cuộc đời và thơ văn Nguyễn Trãi, gắn thơ và đời, 2) Hiểu rõ hoàn cảnh ra đời tác phẩm và tư tưởng, cốt cách, minh triết xử thế của Nguyễn Trãi; 3) Đối chiếu so sánh nguyên tác với dịch nghĩa, và các bản dịch thơ, đặc biệt lưu ý các điển cố và nơi năm sáng tác. Nguyễn Trãi là danh nho chính phái, quan điểm làm thơ viết văn rất nghiêm cẩn như lời Khổng Minh: “nho cũng có nho quân tử, nho tiểu nhân; nho quân tử thì trung quân ái quốc, giữ chính ghét tà, chăm những sự ơn khắp đời, để tiếng về sau, nho tiểu nhân thì chỉ chăm văn chương, nghiên bút, phú kinh, bút múa thì hay, ruột thì rỗng tuếch, …” quan điểm văn chương tác động sâu sắc chất lượng sáng tác. Hiểu đúng Nguyễn Trãi mới có thể mới định hướng đúng, bình đúng khi tìm hiểu thơ Nguyễn Trãi. Mời đọc 5 bài thơ trong Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi và một bài bình ” Trời ban tối biết về đâu?” của Vũ Bình Lục. Bài thơ nếu đặt trong bối cảnh giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến thì sẽ khác xa bối cảnh giai đoạn cuối đời của ông. Để hiểu bài thơ “Hải khẩu dạ bạc hữu cảm” cháu cần lưu ý ba điểm lưu ý định hướng trên.

Hoan nghênh những ý kiến đóng góp trao đổi của mọi người tại đây và tại KimonFaceBook

NGÔN CHÍ

Am trúc, hiên mai ngày tháng qua
Thị phi nào đến chốn yên hà
Cơm ăn dù có dưa muối
Áo mặc nài chi gấm là
Nước dưỡng cho thanh, trì thưởng nguyệt
Đất cày ngõ ải luống ương hoa
Trong khi hứng động bề đêm tuyết
Ngâm được câu thần dững dưng ca

Tà dương bóng ngả thuở giang lâu
Thế giới đông nên ngọc một bầu
Tuyết sóc treo cây điểm phấn
Cõi đông giãi nguyệt in câu.
Khói chìm thuỷ quốc quyên phẳng
Nhạn triện hư không gió thâu
Thuyền mọn còn chèo chẳng khứng đỗ
Trời ban tối biết về đâu?

QUAN HẢI

Nguyên văn chữ Hán

樁木重重海浪前
沉江鐵鎖亦徒然
覆舟始信民猶水
恃險難憑命在天
禍福有媒非一日
英雄遺恨幾千年
乾坤今古無窮意
卻在滄浪遠樹烟

Thung mộc trùng trùng hải lãng tiền
Trầm giang thiết tỏa diệt đồ nhiên
Phúc chu thủy tín dân do thủy
Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên.
Họa phúc hữu môi phi nhất nhật
Anh hùng[3] di hận kỷ thiên niên.
Càn khôn kim cổ vô cùng ý,
Khước tại thương lang viễn thụ yên.

Dịch nghĩa : NGẮM BIỂN

Cọc gỗ lớp lớp trồng trước sóng biển
Xích sắt ngầm dưới sông cũng vậy thôi.
Thuyền bị lật mới tin rằng dân là như nước
Cậy đất hiểm cũng khó dựa, mệnh là ở trời.
Họa phúc có manh mối không phải một ngày
Anh hùng để mối hận mấy nghìn năm sau.
Lẽ của trời đất và xưa nay, thực là vô cùng
Vẫn là ở chỗ sắc nước bát ngát, cây khói xa vời

CỬA BIỂN

Lớp lớp cọc ngăn giữa sóng nhồi
Thêm ngầm dây sắt – uổng công thôi !
Lật thuyền, thấm thía dân như nước
Cậy hiểm, mong manh : mệnh ở trời
Hoạ phúc có nguồn, đâu bỗng chốc ?
Anh hùng để hận, dễ gì nguôi ?
Xưa nay trời đất vô cùng ý
Nơi sóng xanh cây khói tuyệt vời

(Bản dịch của HƯỞNG TRIỀU)

YÊN TỬ

Nguyên văn chữ Hán

 安子山花煙寺

安山山上最高峰,
纔五更初日正紅。
宇宙眼窮滄海外,
笑談人在碧雲中。
擁門玉槊森千畝,
掛石珠流落半空。
仁廟當年遺跡在,
白毫光裏睹重瞳。

Ðề Yên Tử sơn Hoa Yên tự

Yên Sơn sơn thượng tối cao phong
Tài ngũ canh sơ nhật chính hồng
Vũ trụ nhãn cùng thương hải ngoại
Tiếu đàm nhân tại bích vân trung
Ủng môn ngọc sóc sâm thiên mẫu
Quải thạch châu lưu lạc bán không
Nhân miếu đương niên di tích tại
Bạch hào quang lý đổ trùng đồng.

YÊN TỬ

Đề chùa Hoa Yên, núi Yên Tử
Nguyễn Trãi

Non thiêng Yên Tử đỉnh kỳ phong
Trời mới ban mai đã rạng hồng
Vũ trụ mắt soi ngoài biển cả
Nói cười lồng lộng giữa không trung
Giáo trúc quanh chùa giăng nghìn mẫu
Cỏ cây chen đá rũ tầng không
Nhân Tông bảo tháp còn lưu dấu
Mắt sáng hào quang tỏa ánh đồng

(Bản dịch của Hoàng Kim)

Trên dải Yên Sơn đỉnh tuyệt vời
Đầu canh năm đã sáng trưng rồi
Mắt ngoài biển cả ôm trời đất
Người giữa mây xanh vẵng nói cười
Giáo ngọc quanh nhà giăng vạn khoảnh
D4i châu treo đá rũ lưng trời
Nhân Tông còn miếu thời nao đó
Thấy rõ đôi ngươi giữa ánh ngời (1)

(1) Tương truyền vua Trần Nhân Tông mắt có hai con ngươi
(Bản dịch của Khương Hữu Dụng)

Trên núi Yên Tử chòm cao nhất
Vừa mới canh năm đã sáng trời
Tầm mắt bao trùm nơi biển tận
Từng mây nghe thoảng tiếng ai cười
Rừng vươn giáo dựng tre nghìn mẫu
Đá rũ rèm buông nhũ nửa vời
Miếu cổ Nhân Tông hằng để dấu
Mắt còn trắng tỏa ánh đôi ngươi.

(Bản dịch của Lê Cao Phan)

Trên non Yên Tử chòm cao nhất,
Trời mới canh năm đã sáng tinh.
Vũ trụ mắt đưa ngoài biển cả,
Nói cười người ở giữa mây xanh.
Muôn hàng giáo ngọc tre gài cửa,
Bao dãi tua châu đá rủ mành.
Dấu cũ Nhân tôn còn vẫn đấy,
Trùng đồng thấy giữa áng quang minh.

(Bản dịch của nhóm Đào Duy Anh)
Nguồn: Nguyễn Trãi toàn tập, Đào Duy Anh, NXB Khoa học xã hội, 1976

Trên non Yên Tử ngọn cao nhất
Chỉ mới canh năm sáng đỏ trời!
Ngoài vũ trụ xanh màu biển thẳm
Giữa mây biếc rộn tiếng người cười.
Cửa cài ngọc dựng, ken nghìn mẫu
Đá rũ châu rơi, rớt nửa vời!
Miếu cổ Nhân Tông di tích đó
Đôi mày sáng trắng rực hai ngươi!

(Bản dịch của Lâm Trung Phú)

HẢI KHẨU DẠ BẠC HỮU CẢM (I)

Nguyên văn chữ Hán
一別江湖數十年,
海門今日繫吟船。
波心浩渺滄洲月,
樹影參差浦漵煙。
往事難尋時易過,
國恩未報老堪憐。
平生獨抱先憂念,
坐擁寒衾夜不眠。

Nhất biệt giang hồ sổ thập niên,
Hải môn kim nhật hệ ngâm thuyền.
Ba tâm hạo diểu thương châu nguyệt
Thụ ảnh sâm si phố tự yên .
Vãng sự nan tầm thời dị quá.
Quốc ân vị báo lão kham liên.
Bình sinh độc bão tiên ưu niệm,
Toạ ủng hàn khâm dạ bất miên.

Dịch nghĩa
Từ ra đi khoảng giang hồ đã mấy chục năm
Cửa biển tối nay mới buộc thuyền thơ
Lòng nước mênh mông, trăng chiếu trên bãi
Bóng cây so le, mặt vụng khói lồng
Việc xưa khó tìm, thời dễ qua mau lắm
Ơn nước chưa đền, mà đã già đáng thương
Bình sinh một mình ôm cái chí lo trước
Ngồi ôm chăn lạnh không ngủ suốt đêm

Cảm hứng đêm đậu thuyền ở cửa biển (I)

Bao năm xa cách sông hồ,
Ðêm nay lại buộc thuyền thơ chốn này.
Mênh mông sóng bãi trăng đầy.
Khói lồng bến nước bóng cây im lìm.
Thời qua, việc cũ khó tìm
Chưa đền ơn nước buồn thêm tuổi già.
“Tiên ưu” ray rứt lòng ta,
Khoác chăn trằn trọc canh tà khôn khuây…

(bản dịch của Lê Cao Phan)

Bao năm hồ hải, hứng hoài sinh
Bước khắp đất trời dạ nhẹ thênh
Xuân sắc bày tranh, nhìn đắm đuối
Triều âm vỗ gối, mộng yên lành
Vô tình tuế nguyệt tô đầu bạc
Nhất niệm quân thân giữ tấc thành
Sự nghiệp đời ta, cười chí phải
Lãi chăng ôi! Một chút phù danh…

(bản dịch của Lê Cao Phan)

Hồ hải lâu nay hứng chửa tàn,
Đất trời đâu chẳng thấy lòng khoan.
Xuân bày trước mắt người say ngắm,
Sóng vỗ bên đầu mộng muốn tan.
Ngày tháng vô tình hai mái bạc,
Vua cha để dạ một niềm đan.
Suốt đời sự nghiệp nên cười thực,
Lãi được sống thừa giữa thế gian.

(bản dịch của nhóm Đào Duy Anh)
Nguồn: Nguyễn Trãi toàn tập, Đào Duy Anh, NXB Khoa học xã hội, 1976

Hồ biển ngao du hứng chứa chan,
Đất trời đâu cũng thoáng tâm can.
Sắc xuân quanh mắt, lòng ngây ngất,
Tiếng sóng hòa mơ lạnh dưới màn.
Năm tháng vô tình hai mái bạc,
Lòng son trọn vẹn nghĩa quân thân.
Đáng cười sự nghiệp đời ta nhỉ?
Được chút phù sinh giữa thế gian.

(bản dịch của Huy Cận)

Bao năm chưa thỏa hải hồ
Ðất trời, đâu cũng mến ưa trong lòng.
Sắc xuân say đắm não nùng,
Sóng nghe bên gối lạnh lùng mưa hoa.
Tháng năm buồn tóc sương pha
Vua tôi nghĩa nặng lòng ta há dời.
Cười thay, sự nghiệp một đời!
Chút hư danh, gửi miệng người thế gian…

(Bản dịch của Nguyễn Tấn Hưng)

OAN THÁN

Nguyên văn chữ Hán

浮俗升沉五十年
故山泉石負情緣
虛名實禍殊堪笑
眾謗孤忠絕可憐
數有難逃知有命
大如未喪也關天
獄中牘背空遭辱
金闕何由達寸箋

Phù tục thăng trầm ngũ thập niên ;
Cố sơn tuyền thạch phụ tình duyên.
Hư danh thực họa thù kham tiếu ;
Chúng báng cô trung tuyệt khả liên.
Số hữu nan đào tri thị mệnh ;
Văn như vị táng dã quan thiên.
Ngục trung độc bối [1] không tao nhục ;
Kim khuyết hà do đạt thốn tiên ?

Dịch nghĩa THAN NỔI OAN

Nổi chìm trong phù tục đã năm chục năm,
Đành phụ tình duyên với khe và đá của núi cũ.
Danh hư mà họa thực, rất đáng buồn cười ;
Lắm kẻ ghét một mình trung, rất đáng thương hại.
Khó trốn được số mình, biết là vì mệnh ;
Tư văn như chưa bỏ, cũng bởi ở trời.
Trong ngục viết ở lưng tờ, khi không bị nhục ;
Cửa khuyết vàng làm thế nào mà đạt được tờ giấy lên ?

Dịch Thơ: THAN NỔI OAN:

Biển tục thăng trầm nữa cuộc đời
Non xưa suối đá phụ duyên rồi
Trung côi , ghét lắm, bao đau xót
Họa thực, danh hư , khéo tức cười
Số khó lọt vành âu bởi mệnh
Văn chưa tàn lụi cũng do trời
Trong lao độc bối cam mang nhục
Cửa khuyết làm sao tỏ khúc nhôi?

Bản dịch của Thạch Cam

Năm mươi năm thế tục bình bồng
Khe núi lòng cam bội ước chung
Cười nạn hư danh, trò thực họa
Thương phường báng bổ kẻ cô trung
Mạng đà định số, làm sao thoát
Trời chửa mất văn, vẫn được dùng
Lao ngục đau nhìn lưng mảnh giấy
Oan tình khó đạt tới hoàng cung.

Bản dịch của Lê Cao Phan

TRỜI BAN TỐI, BIẾT VỀ ĐÂU?

Vũ Bình Lục

(Về bài thơ NGÔN CHÍ – SỐ 13 của Nguyễn Trãi)

Tà dương bóng ngả thuở giang lâu
Thế giới đông nên ngọc một bầu
Tuyết sóc treo cây điểm phấn
Cõi đông giãi nguyệt in câu.
Khói chìm thuỷ quốc quyên phẳng
Nhạn triện hư không gió thâu
Thuyền mọn còn chèo chẳng khứng đỗ
Trời ban tối biết về đâu?

Nguyễn Trãi sống cách chúng ta khoảng sáu trăm năm. Riêng nói về thơ Nôm, dẫu thất lạc sau thảm hoạ tru di năm 1442, cũng còn được hơn 250 bài. Có thể nói, Nguyễn Trãi đã dựng lên một tượng đài sừng sững bằng thơ, mà trước hết là thơ viết bằng ngôn ngữ dân tộc-Thơ Nôm. Chùm thơ “Ngôn chí” có rất nhiều bài hay, đọc kỹ, nghiền ngẫm kỹ mới thấy cái hay, bởi chữ Nôm cách nay sáu trăm năm, rất nhiều từ nay không còn dùng nữa, hoặc rất ít dùng. Phải tra cứu một số từ, một số điển tích, mới dần sáng tỏ một hồn thơ lớn, lớn nhất, trong lịch sử thơ ca Việt Nam!

Đây là bài Ngôn chí số 13, do những người biên soạn sách Tuyển tập thơ văn Nguyễn Trãi sắp xếp.

Hai câu đầu:
Tà dương bóng ngả thuở giang lâu
Thế giới đông nên ngọc một bầu

Hai câu thơ đơn thuần chỉ là tả cảnh, đặc tả một buổi chiều, mà gam màu chủ đạo là màu vàng thẫm rất quen mà huyễn hoặc. Bóng chiều tà đã ngả, đang quấn lấy một ngôi lầu ở bên sông, hay đang trùm lên ngôi lầu bên sông một màu vàng thẫm. Nhưng có điều cần lưu ý, đây là ngôi lầu giành cho đàn bà con gái thuộc tầng lớp quý tộc giàu sang, trong một không gian rộng lớn và yên tĩnh, rất yên tĩnh. Câu tiếp theo mới thật diễm lệ: Thế giới đông nên ngọc một bầu. Vậy thế giới đông là gì? Theo điển dẫn, đông chính là khí tốt, khí thiêng của thế giới, của vũ trụ đông đặc lại mà thành phong cảnh đẹp như ngọc. Thế đấy! Còn như Bầu, cũng theo điển sách Đạo gia, kể rằng Trương Thân thường treo một quả bầu rất lớn, hoá làm trời đất, ở trong cũng có mặt trời mặt trăng, đêm chui vào đó mà ngủ, gọi là trời bầu, hay bầu trời cũng vậy…Quả là một bức tranh được vẽ bằng ngôn ngữ, rất xưa, tinh khiết và tráng lệ, dường như đã đạt đến mức cổ điển!

Đấy là hai câu thất ngôn. Hai câu tiếp theo, lại là lục ngôn, vẫn tiếp tục tả cảnh:
Tuyết sóc treo cây điểm phấn
Cõi đông giải nguyệt in câu.

Tuyết sóc, nghĩa là tuyết ở phương bắc (sóc) chả biết gieo xuống từ bao giờ, mà còn giăng mắc trên những cành cây như những bông hoa trắng muốt, như điểm phấn cho cây, trang trí làm đẹp cho cây. Có người bảo nước ta làm gì có tuyết, chỉ là ước lệ cho đẹp văn chương mà thôi. Nhưng họ nhầm đấy! Các tỉnh phía Bắc nước ta như Lào Cai, Hà Giang và chắc là còn một số nơi khác nữa ngày nay vẫn có tuyết, nhiều nữa kia. Vậy thì sao thơ văn ngày xưa các cụ ta nói đến tuyết, con cháu lại hàm hồ bác bỏ? Cách đây mấy trăm năm, sao lại không thể không có tuyết mà các cụ phải đi mượn của người? Phía bắc là tuyết, là hoa tuyết điểm phấn cho cây, thì Cõi đông giải nguyệt in câu. Phương đông in một giải lụa trăng vàng óng. Thế là cả một không gian rực rỡ sắc màu. Màu trắng của tuyết hoa tương ánh cùng màu vàng của ánh nguyệt in bóng nước, của chiều tà vàng thẫm, tạo một bức tranh vừa rộng vừa sâu, gợi một khoảnh khắc giao thoa hỗn mang rất nhiều tâm trạng.

Hai câu tiếp theo, vẫn cấu trúc bằng lục ngôn:
Khói chìm thuỷ quốc quyên phẳng
Nhạn triện hư không gió thâu

Bây giờ là sương khói trong chiều muộn. Cúi xuống nhìn dòng nước, thấy khói chiều in xuống mặt nước trong veo phẳng lặng. Quyên, từ cổ là mặt nước trong, do đó quyên phẳng nghĩa là mặt nước trong phẳng lặng, như thể nhìn rõ khói chiều đang chìm dưới đáy nước. Rõ là nước lộn trời, vàng gieo đáy nước, “Long lanh đáy nước in trời / Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng”. Có lẽ Nguyễn Du mấy trăm năm sau đã tiếp thu tinh thần của câu thơ Nguyễn Trãi mà sáng tạo lại trong Truyện Kiều câu thơ trên, khi mà tiếng Việt đã đạt đến độ nhuần nhuyễn và trang nhã chăng? Còn trên trời thì đàn chim nhạn đang xếp hình chữ triện mà mỏi mệt bay về rừng tìm chốn ngủ. Và gió nhẹ, thổi rỗng cả trời…

Cảnh chỉ là điểm xuyết, mà gợi nên bức tranh đủ sắc màu, rất sống động, và tiếp đó, nó như thể đang chuyển động dần về phía đêm tối, về phía lụi tàn.

Hai câu cuối, tác giả viết:
Thuyền mọn còn chèo chẳng khứng đỗ
Trời ban tối ước về đâu?

Con thuyền nhỏ nhoi (Thuyền mọn) của Tiên sinh, hay con thuyền của một vị khách nào đó, vẫn còn đang mải miết chèo trên sông, như chẳng muốn dừng lại. Trong nhập nhoạng bóng tà, con thuyền mọn như càng nhỏ bé hơn, chưa muốn, hay chưa tìm được nơi đỗ lại mà nghỉ ngơi, hay bởi vì Trời ban tối, ước về đâu, biết về đâu? Câu bảy thất ngôn, dàn trải thêm, biểu hiện sự buông thả, lửng lơ, phân vân… Câu tám bỗng đột ngột thu lại lục ngôn, như một sự dồn nén tâm sự.

Có bao nhiêu phần trăm sự thực trong bức tranh chiều tà bên sông lộng lẫy mà buồn? Có lẽ cũng chẳng nên đặt vấn đề cân đong cụ thể, bởi thơ nhìn chung là sản phẩm sáng tạo của trí tưởng tượng, thực và ảo hoà trộn đan xen. Hai câu kết của bài thơ xem ra mới thật sự là tâm điểm của bài thơ. Phải chăng, con thuyền mọn kia, chính là hình ảnh Ức Trai Tiên sinh, như con thuyền nhỏ bé ấy, đang một mình đi tìm bến đỗ, mà chưa tìm thấy nơi đâu là bến là bờ? Từ cái ngôn chí này, có thể ước đoán Ức Trai viết bài thơ này vào thời điểm quân Minh đang đô hộ nước ta, Ức Trai đang bị giam lỏng ở thành Đông Quan, chưa tìm được minh chủ mà đem tài giúp nước? Cũng có thể đây là thời điểm Nguyễn Trãi bị thất sủng, về ở ẩn tại Côn Sơn, trong hoàn cảnh chính sự trong nước đang rất đen tối, nhất là ở nơi triều chính. Nguyễn Trãi từ tin tưởng, đến nghi ngờ và thất vọng trước thực tại đau lòng: Biết bao trung thần bị hãm hại, còn lũ gian thần hiểm ác nổi lên như ong, nhũng loạn cả triều đình. Làm sao mà không bi quan cho được khi mà Trời ban tối, biết về đâu?

DemNguyenTieu
Đêm Nguyên tiêu Bính Thân 2016

Hoàng Kim

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG



CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter