Chào ngày mới 12 tháng 1


CNM365 Chào ngày mới  12 tháng 1. Một góc nhìn Quần thể Di tích danh thắng Yên Tử quê hương nhà Trần trong sử Việt. Ngày này năm xưa. Ngày 12 tháng 1 năm 1369, ngày mất của Hiến Từ thái hậu, người nổi tiếng với gia thế hiển hách huyết thống hoàng tộc nhà Trần và lòng nhân hậu cách xử thế chí thiện, được xếp vào hàng Nữ trung Nghiêu Thuấn. Bà bị hoàng đế Nhật Lễ đầu độc giết chết để che giấu việc ông không mang huyết thống hoàng tộc nhà Trần. Ngày 12 tháng 1 năm 1876, ngày sinh Jack London,  mất  ngày 22 tháng 11, 1916, là nhà văn nổi tiếng người Mỹ, tác giả Tiếng gọi nơi hoang dã (The Call of the Wild), Gót sắt (Iron Heel), Tình yêu cuộc sống (Love of Life), Nanh trắng (White Fang) và hơn 50 tác phẩm khác.  Ngày 12 tháng 1 năm 1893, cầu Mirabeau là một cây cầu nổi tiếng bắc qua sông Seine thuộc địa phận Paris, Pháp, được tổng thống Pháp Sadi Carnot ra sắc lệnh xây dựng; xem tiếp https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-12-thang-1/: Bài chọn lọc: Nhà Trần trong sử Việt; Jack London tình yêu cuộc sống

NHÀ TRẦN TRONG SỬ VIỆT
Hoàng Kim

Nhà Trần hoặc Trần triều là triều đại quân chủ phong kiến trong lịch sử Việt Nam, bắt đầu khi Trần Cảnh (Trần Thái Tông) lên ngôi vào năm 1225, sau khi được Lý Chiêu Hoàng truyền ngôi, tiếp nối bởi Trần Hoảng (Trần Thánh Tông) Trần Khâm (Trần Nhân Tông). Đây là thời thứ nhất từ Trần Thái Tông đến Trần Nhân Tông là thời xây dựng chống Mông – Nguyên và đạt đến nhà Trần thịnh thế. Thời nhà Trần thứ hai từ Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông là thời kế tục. Thời nhà Trần thứ ba từ Trần Dụ Tông (sau khi thượng hoàng Trần Minh Tông mất)  cho tới khi kết thúc là thời suy tàn. Hồ Quý Ly phế truất Thiếu Đế, tự xưng làm vua, lập ra triều đại nhà Hồ, năm 1400 nhà Trần chấm dứt, kéo dài 175 năm với 13 đời hoàng đế.

CHA VÀ CON HIẾN TỪ THÁI HẬU

Nhà Trần trong sử Việt  Cha và Con Hiến Từ Thái Hậu là phần hai sự tiếp nối phần một  Ba đỉnh cao Yên Tử nhà Trần. Câu chuyện Cha và Con Hiến Từ Thái Hậu xuyên suốt từ thời Trần Thuyên tức vua Trần Anh Tông có người em ruột là Trần Quốc Chẩn danh tướng thượng trụ quốc cha ruột của Huy Thánh công chúa là Hiến Từ Thái Hậu sau này. Câu chuyện quan hệ mật thiết với Trần Mạnh (Trần Minh Tông), Trần Vượng (Trần Hiến Tông), Trần Hạo (Trần Dụ Tông), Dương Nhật Lễ tên khác là Trần Nhật Kiên (Hôn Đức công). Cha và Con Hiến Từ Thái Hậu soi tỏ giai đoạn hai của nhà Trần sau thịnh thế đã kế tục và suy vi như thế nào.

Hiến Từ thái hậu là hoàng hậu của hoàng đế Trần Minh Tông, mẹ ruột của hoàng đế Trần Dụ Tông, Cung Túc vương Trần Nguyên Dục và Thiên Ninh công chúa Ngọc Tha. Bà được các hoàng đế Trần Hiến Tông, Trần Nghệ Tông, Trần Duệ Tông xem là mẹ đích và kính trọng. Bà cùng Hiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu, Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng hậu là các hoàng hậu có thân thế hiển hách bậc nhất trong các Hoàng hậu nhà Trần, cũng như trong các triều đại về sau, khi có họ hàng gần huyết thống với dòng chính thống Hoàng đế nhất.

Hiến Từ thái hậu là con gái của Huệ Vũ đại vương Trần Quốc Chẩn. (*) Bà được thụ phong là Huy Thánh công chúa từ nhỏ. Huệ Vũ vương là con trai thứ của Trần Nhân Tông. Hiến Từ thái hậu gọi Trần Nhân Tông hoàng đế là ông nội, Trần Anh Tông là bác, Trần Minh Tông là anh họ sau này là chồng (theo tục lệ vua chúa thời Trần cận giao để ngôi vua không truyền ra ngoài).

(*) Trần Quốc Chẩn (1281-1328) là một trong những danh tướng kiệt xuất của nhà Trần, tài đức vẹn toàn, hết lòng vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Trần Quốc Chẩn sinh ngày 29 tháng 1 năm Thiệu Bảo thứ 3 (tức 19 tháng 2 năm 1281). Ông là con trai thứ của vua Trần Nhân Tông, em ruột của Thái tử Trần Thuyên, sau là vua Trần Anh Tông. Sau khi Trần Nhân Tông nhường ngôi cho Thái tử Trần Thuyên, tức vua Trần Anh Tông, ông được phong là Huệ Vũ Đại vương khi mới 13 tuổi. Mặc dù tuổi còn nhỏ, nhưng ông rất được vua cha và vua anh yêu mến. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Thượng hoàng có lần ngự cung Trùng Quang, vua đến chầu, quốc công Quốc Tuấn đi theo. Thượng hoàng nói::”Nhà ta vốn là người hạ lưu (thủy tổ người Hiền Khánh), đời đời chuộng dũng cảm, thường xăm hình rồng vào đùi. Nếp nhà theo nghề võ, nên xăm rồng vào đùi để tỏ là không quên gốc”. Bấy giờ thợ xăm đã đợi mệnh ở ngoài cửa cung. Vua rình lúc Thượng hoàng quay nhìn chỗ khác, về ngay cung Trùng Hoa. Một lúc lâu, Thượng hoàng hỏi Quan gia đâu rồi, các quan tả hữu thưa là đã về cung Trùng Hoa. Thượng hoàng bảo: “Quan gia đã trốn rồi chăng? thì xăm cho Huệ Vũ Quốc Chẩn vậy”. Quốc phụ có xăm hình rồng ở đùi, mà về sau nối ngôi không xăm ở đùi nữa là bắt đầu từ Anh Tông. Năm Hưng Long thứ 10 (1302), ông được phong chức Nhập nội Bình chương, tương đương Tể tướng. Năm Hưng Long thứ 20 (1312), Chiêm Thành lấn chiếm biên giới phía nam Đại Việt. Anh Tông ngự giá thân chinh, đến phủ Lâm Bình, chia quân làm ba đường, sai Trần Quốc Chẩn theo đường núi, Trần Khánh Dư theo đường biển, đích thân vua tự dẫn sáu quân theo đường bộ; thủy bộ, cùng tiến đánh. Một lần quân Chiêm định tập kích ngự doanh, quân Trần Quốc Chẩn kịp thời cứu viện, phối hợp với Đoàn Nhữ Hài bao vây, bức hàng quân Chiêm Thành thắng lợi, quân Trần không tốn một mũi tên. Năm Đại Khánh thứ 5 (1318), vua Trần Minh Tông sai ông cùng tướng quân Phạm Ngũ Lão tiếp tục đi đánh dẹp quân Chiêm Thành thu được thắng lợi lớn, giữ yên bờ cõi quốc gia. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Trước đây, Anh Tông không khỏe, vua ngày đêm ở luôn ngoài cửa phòng ngủ của Thượng hoàng, mỗi khi vào thăm thì cùng đi với Quốc Chẩn. Vì Anh Tông tin cậy Quốc Chẩn hơn cả, định đem vua gửi gắm Quốc Chẩn, cho nên không cho vào thăm một mình, mà phải cùng đi với Quốc Chẩn, cốt để cho tình nghĩa vua tôi được khăng khít và không còn nghi ngại gì nữa“. Do có nhiều công lao với triều đình, năm Khai Thái thứ nhất (1324), Trần Quốc Chẩn được vua Trần phong chức: Nhập nội Quốc phụ Thượng tể – chức quan đầu triều coi giữ lục bộ Thượng Thư. Sử cũ còn ghi nhận Trần Quốc Chẩn không chỉ là người có tài trong việc cầm quân xung trận mà ông còn là người nổi tiếng đức độ, được các quan trong triều hết lòng nể phục. Ông là người được vua Trần Anh tông rất quý. Về sau vua Minh Tông lại lấy con gái của Quốc Chẩn phong làm Lê Thánh hoàng hậu, ông càng được tin dùng. Minh Tông giữ ngôi được 15 năm (từ năm 1314 đến năm 1329) tuổi đã cao mà chưa lập được Thái Tử. Quốc Chẩn có ý đợi Lê Thánh hoàng hậu sinh con trai thì mới lập. Lúc bấy giờ Cương Đông Văn Hiến Hầu (không rõ tên) là con của Tá thánh Trần Nhật Duật muốn đánh đổ Hoàng Hậu để lập Thái tử Vượng (sau là Trần Hiến Tông) mới đem của đút cho gia thần của Quốc Chẩn là Trần Nhạc 100 lạng vàng bảo Trần Nhạc vu cáo cho Quốc Chẩn có âm mưu làm phản. Vua cả tin cho là thật liền ra lệnh bắt giam ngay Quốc Chẩn vào chùa Tư Phúc ở kinh sư rồi đem việc ấy hỏi Thiếu bảo Trần Khắc Chung. Khắc Chung cùng cánh với Văn Hiến Hầu, lại cùng với mẹ thái tử Vượng Anh Tư nguyên phi Lê thị, đều là người Giáp Sơn (Kinh Môn) và đã từng làm thầy dạy thái tử Vượng, liền trả lời: “Bắt hổ thì dễ, thả hổ thì khó”. Minh Tông truyền bắt Quốc Chẩn phải tuyệt thực. Lê Thánh hoàng hậu khi vào thăm cha đã lấy áo nhúng nước mặc vào người rồi vắt ra cho cha uống. Trong khi đó, Anh Tư phu nhân muốn cho Huệ Vũ vương chết sớm để con mình được lập làm Thái tử, liền cho người mang nước tẩm độc cho Huệ Vũ vương uống, uống xong thì chết. Sau Quốc Chẩn chết, hưởng dương 47 tuổi. Cuối năm đó, Minh Tông lập Hoàng tử Trần Vượng làm Thái tử. Vài năm sau, vợ lẽ của Trần Nhạc ghen với vợ cả, tố cáo sự thật, đem việc Văn Hiến Hầu đút vàng tâu lên vua. Việc giao xuống ngục quan xét, Lê Duy là người cương trực đem xét hỏi ngay ngày hôm ấy. Trần Phẫu phải tội lăng trì (tức xẻo thịt từng miếng cho đến chết), nhưng chưa kịp hành hình thì gia nô của Thiệu Vũ (con Quốc Chẩn) đã xẻo thịt Trần Phẫu ăn sống gần hết. Văn Hiến Hầu tuy được tha tội chết, nhưng giáng làm thứ nhân, tước bỏ tên họ trong hoàng tộc. Trần Minh Tông lúc nào cũng bị ám ảnh bởi vụ án oan của cha vợ. Để sửa sai, nhà vua đã cho khôi phục chức tước, sai lập đền thờ Trần Quốc Đền Quốc phụ thờ ông nằm bên tả ngạn sông Kinh Thầy là một trong tám di tích thuộc “Chí Linh bát cổ” nổi tiếng được nhiều sử sách ghi nhận. Trước kia đền thuộc xã Kiệt Đặc, huyện Chí Linh nay thuộc thôn Nẻo, phường Chí Minh, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Đến năm Giáp Thân (1341), thời Trần Dụ Tông, vụ án Trần Quốc Chẩn được minh oan hoàn toàn. Thượng hoàng Minh Tông phục chức: Nhập nội Quốc Phụ Thượng Tể cho ông. Giết oan nhạc phụ, vua Trần Minh Tông làm bài thơ ân hận: Dạ vũ. Thu khí hòa đăng thất thự minh/ Bích tiêu song ngoại đệ tàn canh/ Tự tri tam thập niên tiền thác/ Khẳng bả nhàn sầu đối vũ thanh.  Dịch nghĩa: Hơi thu và ánh đèn mờ đi trước ánh ban mai, Tàu chuối xanh ngoài cửa sổ tiễn canh tàn. Tự biết sai lầm của ta ba mươi năm trước, Đành ôm sầu ngồi nghe mưa rơi. Vũ Minh Am dịch thơ: Mưa đêm

Hừng sáng, đèn nhòa, nhạt khí thu,
Ngoài song tàu chuối tiễn đêm mờ.
Ba mươi năm trước ta lầm lỗi,
Ôm nỗi hận sầu lắng tiếng mưa.

Lại nói chuyện Hiến Từ thái hậu: Năm 1301, Anh Tông đã gả em gái mình là Thiên Trân công chúa cho Uy Túc công Trần Văn Bích . Năm 1309, công chúa mất, Uy Túc công lại lấy Huy Thánh công chúa về làm phu nhân. Không rõ quãng thời gian hôn nhân ra sao, có thể là bà ly hôn hoặc bị buộc phải bỏ Uy Túc công mà sau đó, bà lại trở về nhà cha là Huệ Vũ vương, được sắp đặt chọn làm Hoàng hậu cho Minh Tông. Năm 1323, Minh Tông hoàng đế lúc này đã 23 tuổi. Huy Thánh công chúa được Minh Tông lấy làm Hoàng hậu, phong làm Lệ Thánh hoàng hậu. Năm 1328, Lệ Thánh hoàng hậu kết hôn với Minh Tông đã lâu mà vẫn chưa sinh hạ Hoàng tử kế thừa đại thống. Minh Tông muốn lập Hoàng tử Trần Vượng, con của Anh Tư phu nhân đang đắc sủng làm Thái tử, nhưng Huệ Vũ vương can ngăn. Từ trước đến nay, các Hoàng đế nhà Trần đều sinh ra từ các Hoàng hậu có dòng máu trong nội tộc. Tuy Minh Tông không phải con ruột của Bảo Từ hoàng thái hậu, mẹ sinh là Chiêu Từ hoàng thái hậu là con của một người ngoại tộc là Trần Bình Trọng, nhưng mẹ của Chiêu Từ là Thụy Bảo công chúa, con gái của Trần Thái Tông nên huyết thống vẫn còn. Anh Tư phu nhân vốn là con gái quan viên cấp thấp họ Lê, người Giáp Sơn, Thanh Hóa, dòng máu hoàn toàn khác xa hoàng tộc nên không thể lấy con của phu nhân làm Thái tử, dù đó là con trưởng của Minh Tông. Huệ Vũ vương can ngăn quyết liệt, Minh Tông cũng đành để yên chuyện mà thôi ý định nhưng trong lòng đã sớm buồn bực Huệ Vũ vương. Sau nỗi oan ngất trời của Huệ Vũ Vương Trần Quốc Chẩn, năm 1329, Minh Tông nhường ngôi cho Hoàng thái tử Trần Vượng, sử gọi là Trần Hiến Tông. Lệ Thánh hoàng hậu được tôn là Lệ Thánh Thái thượng hoàng hậu. Trần Hiển Tông làm Hoàng đế được 13 năm thì qua đời, không có con cái. Lúc này, Lệ Thánh hoàng hậu đã sinh Cung Túc vương Trần Nguyên Dục , Thiên Ninh công chúa Trần Ngọc Tha và Hoàng tử Trần Hạo. Trong số đó, Trần Hạo  thông minh, nhanh nhẹn hơn cả nên được Trần Minh Tông chọn làm Hoàng đế kế vị, tức Trần Dụ Tông. Minh Tông vẫn giữ quyền điều hành đất nước.  Năm 1258, Thượng hoàng Minh Tông qua đời, bà được tôn làm Tuyên Thánh hoàng thái hậu. Khi Minh Tông mất, bà muốn đi tu, nhưng nghe theo lời dặn cuối của Minh Tông, nên bà đã không thụ giới nhà Phật mà ở ngôi Thái hậu để  kiềm chế những sai lầm của vua Dụ Tông, như việc Dụ Tông chút nữa là sát hại Thái úy Cung Tĩnh Đại vương Trần Nguyên Trác Nguyên Trác yểm bùa hại vua nhưng Thái hậu đã can ngăn. Đại Việt Sử ký toàn thư có chép một giai thoại về bà: Thái hậu vốn người nhân hậu, có nhiều công lao giúp rập [họ Trần]. Trước kia, khi Minh Tông còn ngự ở Bắc Cung, có tên gác cổng bắt được con cá bống trong giếng Nghiêm Quang, trong mồm có ngậm vật gì, moi ra thì thấy có chữ, đó là bùa yểm, có ghi các tên Dục Tông, Cung Túc, Thiên Ninh (đều là các con đẻ của Hiến Từ). Tên gác cổng cầm lá bùa tâu lên vua. Minh Tông sợ lắm, truyền bắt hết các cung nhân, bà mụ, thị tỳ trong cung để tra hỏi.Thái hậu thưa: “Khoan đã, sợ trong đó có kẻ bị oan, thiếp xin tự mình bí mật xét hỏi đã”. Minh Tông nghe theo. Thái hậu sai người hỏi tên gác cổng rằng: “Gần đây, phòng nào trong cung mua cá bống?”. Tên gác cổng trả lời là thứ phi Triều Môn. Thái hậu nói cho Minh Tông biết. Minh Tông lập tức ra lệnh tra xét cho ra. Thái hậu tâu:“Đây là việc trong cung, không nên để hở ra ngoài. Thứ phi Triều Môn là con gái của Cung Tĩnh Vương, nếu để hở ra thì Quan gia sẽ sinh hiềm khích với Thái úy. Thiếp xin ỉm việc này đi không xét hỏi nữa!”. Minh Tông khen bà là người hiền. Đến khi Minh Tông băng, tướng quân Trần Tông Hoắc muốn tỏ ra trung thành với Dụ Tông, thêu dệt việc đó ra, làm Thiếu úy suýt nữa bị hại, nhờ Thái hoàng cố sức cứu đỡ mới thoát. Người bấy giờ ca ngợi bà là đã trọn đạo làm mẹ, tuy là phận con đích, con thứ không giống nhau, mà lòng nhân từ thì đối với con nào cũng thế, làm cho ân nghĩa vua tôi, anh em, cha con không một chút thiếu sót, từ xưa đến nay chưa có ai được như vậy. Người xưa có nói “Nghiêu Thuấn trong nữ giới”, Thái hậu được liệt vào hàng ấy. Bà từng hối tiếc về việc lập Nhật Lễ. Nhật Lễ ngấm ngầm đánh thuốc độc giết bà.”

Dương Nhật Lễ tên khác Trần Nhật Kiên là một vị vua  nhà Trần không có miếu hiệu,  còn gọi Hôn Đức công kế vị Trần Dụ Tông. Ông ở ngôi từ ngày 15 tháng 6 năm Kỷ Dậu (tức 18 tháng 7 năm 1369) đến ngày 13 tháng 11 năm Canh Tuất (tức 1 tháng 12 năm 1370). Ông chỉ đặt một niên hiệu Đại Định và ở ngôi hơn 1 năm thì bị Cung Định vương Trần Phủ truất ngôi. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, không rõ Dương Nhật Lễ sinh năm nào, ông vốn là con của kép hát Dương Khương. Mẹ ông là vợ Dương Khương, là một người múa hay lại có nhan sắc, do hay diễn Tây Vương Mẫu trong vở Vương Mẫu hiến bàn đào, bà được gọi thông dụng là Vương mẫu. Khi Vương Mẫu đã có mang ông nhưng đã bị Cung Túc vương Trần Nguyên Dục, anh cùng mẹ của Trần Dụ Tông lấy làm vợ. Khi ông sinh ra, Cung Túc vương Dục nhận làm con mình. Ngày 25 tháng 5 năm Kỷ Dậu (tức 29 tháng 6 năm 1369), Trần Dụ Tông băng hà. Trước khi mất, ông đã ban chiếu truyền ngôi cho Dương Nhật Lễ (trên danh nghĩa là con của người anh ruột của vua). Hiến Từ Thái hậu đồng ý di chiếu cho đón ông lên ngôi, đặt niên hiệu Đại Định và truy tặng Cung Túc vương là Hoàng thái bá. Cùng lúc này, sứ đoàn nhà Minh sang sắc phong cho Trần Dụ Tông tới Việt Nam. Nhật Lễ (tên ngoại giao với nhà Minh là Trần Nhật Kiên) xin được thụ phong nhưng sứ nhà Minh là Trương Dĩ Ninh không đồng ý. Nhật Lễ phải cử sứ là Đỗ Thuấn Khâm sang nhà Minh báo tang và cầu phong. Theo Đại Việt sử ký toàn thư ghi nhận, Đại Định Đế lên ngôi nhưng bỏ bễ công việc, ham chơi, rượu chè, cho đón cha ruột Dương Khương vào triều, giữ chức Lệnh thư gia, có ý đổi sang họ Dương khiến các quan trong triều bất bình. Hiến Từ Thái hậu, mẹ Dụ Tông tỏ ý hối hận việc lập Nhật Lễ. Nhật Lễ bèn ngầm đánh thuốc độc giết chết bà vào ngày 14 tháng 12 năm Kỷ Dậu (tức 12 tháng 1 năm 1370). Đêm ngày 20 tháng 9 năm Canh Tuất (tức 9 tháng 10 năm 1370), cha con quan Thái tể Cung Tĩnh vương Trần Nguyên Trác, Trần Nguyên Tiết và hai người con của Thiên Ninh công chúa, chị gái Dụ Tông đem người tôn thất vào thành định giết Đại Định. Đại Định Đế trèo qua tường, nấp dưới cầu mới. Mọi người lùng không thấy, giải tán ra về. Khi trời sắp sáng, Đại Định Đế vào cung, chia người đi bắt Nguyên Trác cùng 17 người chủ mưu và giết hết. Anh khác mẹ của Trần Dụ Tông là Cung Định vương Trần Phủ (tức vua Trần Nghệ Tông),  vì có con gái làm Hoàng hậu của Nhật Lễ, sợ vạ lây đến mình nên tránh ra trấn Đà Giang (tức Gia Hưng), ngầm hẹn với các em là Cung Tuyên vương Trần Kính, Chương Túc thượng hầu Trần Nguyên Đán, Thiên Ninh công chúa Ngọc Tha hội ở sông Đại Lại, phủ Thanh Hóa để dấy quân. Trần Kính giúp ông đảm nhận việc sắm sửa mọi vũ khí, trang bị quân đội. Khi ấy, Đại Định Đế Dương Nhật Lễ chuyên dùng thiếu úy Trần Ngô Lang mà không biết Ngô Lang đồng mưu với Trần Phủ. Mỗi khi sai quân tướng đi đánh bắt, Ngô Lang đều bí mật bảo họ theo Trần Phủ đừng về nữa. Rất nhiều lần sai các quân Nam, Bắc đi đánh, đều không một ai trở về. Do đó quân của Trần Phủ, Trần Kính mạnh thêm. Ngày 13 tháng 11 năm Canh Tuất (tức 1 tháng 12 năm 1370), Trần Phủ đến phủ Kiến Hưng, truất Nhật Lễ làm Hôn Đức công. Ngày 15, Phủ lên ngôi, tức Trần Nghệ Tông. Ngày 21 tháng ấy, Trần Phủ cùng Trần Kính và Thiên Ninh công chúa dẫn quân về kinh, sai giam Nhật Lễ ở phường Giang Khẩu. Dương Nhật Lễ tới lúc đó mới biết mình bị Trần Ngô Lang phản bội. Trong khi bị giam giữ, ông lừa gọi Trần Ngô Lang đến gần rồi bóp cổ giết chết Trần Ngô Lang. Trần Nghệ Tông bèn lập tức hạ lệnh giết chết Dương Nhật Lễ và con ông là Liễu, rồi sai đem chôn ở núi Đại Mông. Nhật Lễ ở ngôi được hơn một năm, không rõ thọ bao nhiêu tuổi. Sai lầm lớn nhất của Nhật Lễ là định đổi sang họ Dương khiến tôn thất nhà Trần nắm quyền bính khắp trong nước xúm lại tìm cách lật đổ. Tần Thủy Hoàng trước đây cũng phải đối mặt với tiếng tăm về thân thế và cũng có những việc làm thô bạo, thất đức nhưng đã khôn khéo suốt đời không đổi sang họ Lã, giết luôn Lã Bất Vi người bị dị nghị là cha mình, và tìm cách đàn áp thẳng tay những ai có ý định khơi chuyện này để chống đối. Bởi thế Tần Thủy Hoàng giữ được ngôi vị trọn vẹn. Nhật Lễ mắc hàng loạt sai lầm nên việc nhanh chóng bị lật đổ.

Nhà Trần trên Wikipedia Tiếng Việt; Ebook Thuyết Trần sử Nhà Trần; Lịch sử tổng quát về nhà Trần, và Lịch sử các triều đại Việt Nam  và TLTKC bổ sung thông tin về Nhà Trần.

(còn tiếp…)

JACK LONDON TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
Hoàng Kim

Jack London sinh ngày 12 tháng 1 năm 1876 mất ngày 22 tháng 11 năm 1916, là nhà văn nổi tiếng người Mỹ, tác giả Tiếng gọi nơi hoang dã (The Call of the Wild), Gót sắt (Iron Heel), Tình yêu cuộc sống (Love of Life), Nanh trắng (White Fang) và hơn 50 tác phẩm khác.

Advertisements

Chào ngày mới 11 tháng 1


CNM365. Chào ngày mới 11 tháng 1. Gia phả của Đất phim Việt Nam.  Ngày này năm xưa. Ngày 11 tháng 1 năm 1851, Hồng Tú Toàn bái Thượng đế và hội chúng tại Kim Điền thôn, Quế Bình, Quảng Tây, tiến hành khởi nghĩa, đặt hiệu là Thái Bình Thiên Quốc. Cuộc khởi nghĩa này là phong trào nông dân lớn nhất, tiêu biểu nhất trong lịch sử Trung Quốc tại thế kỷ 19, đã để lại nhiều kinh nghiệm đặc biệt quý giá cho các cuộc cách mạng về sau. Ngày 11 tháng 1 năm 2017 Tổng thống Barack Obama nói lời cảm ơn và chia tay Nhà Trắng tại thành phố quê nhà Chicago, nơi ông bắt đầu sự nghiệp chính trị.Cựu Tổng thống Barack Obama tiếp tục giữ vững phong độ là nhân vật được ngưỡng mộ nhất nước Mỹ sau một năm chuyển giao quyền lực.  Ngày 11 tháng 1 năm 1551, Bayinnaung (1516-1581) trở thành vị vua đời thứ ba của nhà Taungoo ở Myanma. Ông là “sự bùng nổ nhiệt huyết lớn nhất từng thấy ở Myanma”, đã thành lập nên đế quốc lớn nhất Đông Nam Á, bao gồm Myanma ngày nay, Manipur nay thuộc Ấn Độ, Mong Mao (những nhà nước cổ của người Shan ở Vân Nam), Lan Na và Ayutthaya (miền bắc, trung và nam Thái Lan ngày nay), Lan Xang (đông bắc Thái Lan và Lào ngày nay); xem tiếp: https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-11-thang-1/; Bài chọn lọc; Thái Bình Thiên Quốc bài học lịch sử, Obama hôm qua và ngày nay; Ấn tượng Obama; Myanmar đất nước chùa tháp; Đến với bài thơ hay: Đêm bánh tôm Hồ Tây.

THÁI BÌNH THIÊN QUỐC BÀI HỌC LỊCH SỬ.

Hoàng Kim

Đừng bỏ quên nông dân, đó là động lực cách mạng, bài học lớn của lịch sử. Thái Bình Thiên Quốc là phong trào nông dân lớn nhất, tiêu biểu nhất trong lịch sử Trung Quốc tại thế kỷ 19, đã để lại nhiều kinh nghiệm đặc biệt quý giá cho các cuộc cách mạng về sau. Mao Trạch Đông suốt sự nghiệp chính trị của mình, ông đã nghiền ngẫm không biết bao nhiêu lần Tư trị Thông giám, Thủy Hử, Tam Quốc và Thái Bình Thiên Quốc. “Báo cáo khảo sát phong trào nông dân Hồ Nam” là tác phẩm quan trọng đầu tiên của Mao Trạch Đông. Đánh giá hiệu quả đổi đời của một đất nước thì trước hết và sau cùng phải nhìn vào chất lượng đời sống của nông dân. Hiệu quả đổi mới đích thực khi người nông dân thay đổi được số phận của mình. Thái Bình Thiên Quốc bài học lịch sử soi thấu những thành công và thất bại của người nông dân cầm quyền.  (xem tiếp…)

OBAMA HÔM QUA VÀ NGÀY NAY
Hoàng Kim
Cựu Tổng thống Barack Obama tiếp tục giữ vững phong độ là nhân vật được ngưỡng mộ nhất nước Mỹ sau một năm chuyển giao quyền lực.  Ngày 11 tháng 1 năm 2017 Tổng thống Barack Obama nói lời cảm ơn và chia tay Nhà Trắng tại thành phố quê nhà Chicago, nơi ông bắt đầu sự nghiệp chính trị. Sau thời điểm đó ông Obama bắt đầu rời Nhà Trắng và nghỉ hưu dài hạn với gia đình và trong suốt hai tháng sau đó  tài khoản Twitter của ông gần như không hoạt động tại thời điểm này. Sau vụ khủng bố London ngày 22 tháng 3 khiến 4 người thiệt mạng và 50 người khác bị thương, thì ông Obama ngay lập tức đăng tải lời chia buồn. Những phát ngôn của ông Obama giống như ông khi còn là Tổng thống Mỹ. Cây viết Micheline Maynard của tờ New York Times đã bình luận rằng, ông Obama giống như đang làm nhiệm kỳ Tổng thống thứ 3, trám vào vị trí mà Tổng thống Mỹ Donald Trump để ngỏ. Ông Obama tiếp tục là tâm điểm trên mạng xã hội Mỹ khi bình luận về biểu tình Charlottesville vào tháng 8.2018. Vài giờ sau khi biểu tình nổ ra, ông Obama đăng ảnh và câu nói nổi tiếng của Nelson Mandela: “Không ai sinh ra mà thù hằn người khác vì màu da, xuất thân hay tôn giáo của họ”. Bài đăng vào ngày 13 tháng 8 của ông nhận được 1,7 triệu lượt chia sẻ, trở thành tweet được chia sẻ nhiều thứ hai năm 2017. Ông Obama tuy không còn tham gia chính trường nhưng hồi tháng 11 vẫn có chuyến thăm kéo dài 5 ngày đến Trung Quốc, Ấn Độ, Pháp. Ở Trung Quốc, ông có bài phát biểu tại một hội nghị doanh nghiệp Thượng Hải và một hội nghị giáo dục Bắc Kinh. Ông Obama cũng có cuộc gặp với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Bản tin của Tân Hoa xã nói cựu Tổng thống Mỹ coi mối quan hệ mang tính xây dựng là lợi ích của nhân dân hai nước Mỹ Trung và ông sẽ tiếp tục đóng góp tích cực trong việc tăng cường sự hiểu biết và hợp tác lẫn nhau giữa hai nước.Cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama về hưu được gần một năm, nhưng ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động, bình luận về những sự kiện nóng bỏng trên thế giới. Ông đã dùng bữa riêng với Tổng thống Pháp Emanuel Macron tại Điện Elysee, gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma, trả lời phỏng vấn với Hoàng tử Anh Harry và nhiều hoạt động khác.

Cựu Tổng thống Barack Obama tiếp tục giữ vững phong độ là nhân vật được ngưỡng mộ nhất nước Mỹ chiếm tỷ lệ 17% số người tham gia giảm 5% so với tỉ lệ năm ngoái theo một cuộc khảo sát gần đây của Viện Gallup. Xếp sau ông là Tổng thống Donald Trump với tỉ lệ 14%. Ông Obama vẫn đang là người nhận được sự chú ý hàng đầu ở Mỹ cho dù không còn là Tổng thống, điều này làm Tổng thống Donald Trump có thể cảm thấy ghen tị, theo cây viết Micheline Maynard.

Tổng thống Mỹ Obama thật ấn tượng. Dưới đây lưu lại một số trích dẫn chọn lọc …

ẤN TƯỢNG OBAMA

Hoàng Kim

Obama thật ấn tượng ! Obama là tổng thống da màu đầu tiên của nước Mỹ đã làm được điều tưởng như không thể, khi ông tiếp nối ước mơ của Martin Luther King “I Have a Dream” “Tôi có một giấc mơ lay động lương tâm và bừng dậy sức mạnh của nước Mỹ“. Trãi hai nhiệm kỳ tổng thống, nay ông đã biến được giấc mơ ấy thành hiện thực, niềm tin và hi vọng không chỉ đối với nước Mỹ mà còn trở thành biểu tượng là người bạn tốt, chân thành, tín nhiệm, đáng tin cậy, được mến mộ khắp toàn thế giới, người mà việc làm đúng như lời nói. Obama đang về đích vinh quang! Vị Tổng thống Mỹ ở năm cuối nhiệm kì và đương nhiên không thể tái tranh cử, với thông điệp liên bang nổi tiếng, với chuyến thăm Cu Ba đầy ngưỡng mộ và ấn tượng, với chuyến thăm Việt Nam sự kiện nổi bật đang mở ra trang tiến bộ mới trong quan hệ Việt Mỹ .  Tổng thống Obama đang tập trung vào những công việc còn sót lại trong nhiệm kỳ của mình, để có thể rời Nhà Trắng với giấc mơ Obama, niềm tin tự do và dấu ấn còn mãi với thời gian.

Tổng thống Mỹ Obama sang thăm Việt Nam tại một thời điểm thật thú vị: Trong dịp này cả nước Việt Nam ngợp trời cờ hoa rộn ràng chào đón ngày bầu cử Quốc Hội, Hội đồng nhân dân các cấp. Chào mừng ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là ngày thành lập Việt Minh, khai sinh đường Hồ Chí Minh trong lịch sử. Chuyến thăm trùng khớp với những sự kiện lớn lao nhất đối với nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sự nghiệp thống nhất Tổ Quốc của đất nước này.

Cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton trong lần thăm Việt Nam trước đây đã thúc đẩy quá trình bình thường hóa quan hệ hai nước, cái mà ông gọi là “một trong những thành tựu lớn nhất đời tôi”. Ông Bill Clinton đã đọc câu Kiều “Sen tàn cúc lại nở hoa; Sầu dài ngày ngắn, đông đà sang xuân” và phát biểu rằng, hai nước không thể thay đổi được quá khứ, nhưng có thể thay đổi tương lai và nước Mỹ nhìn về Việt Nam như một đất nước chứ không phải như một cuộc chiến. Nước Mỹ luôn mong muốn tăng cường hợp tác với Việt Nam trên nhiều lĩnh vực. Tổng thống Mỹ Barack Obama trong lần thăm Việt Nam lần này trong thời điểm trọng đại nhất của đất nước với sự đón tiếp nồng ấm, kính trọng và thân thiện, làm chúng ta liên tưởng đến câu chuyện ngày 19 tháng 5 trong lịch sử. Người Việt thực sự mong đợi Obama lời tuyên bố bỏ cấm vận buôn bán vũ khí với Việt Nam; hỗ trợ Việt Nam thực hiện thành công TPP; Biển Đông là vấn đề quốc tế, cân bằng lực lượng và giữ nguyên trạng.

Một thế giới đang đổi thay nhưng những người chí thiện, công tâm, lời nói đi đôi với việc làm, dám và biết đương đầu với điều ác và người xấu mãi mãi được lòng dân cùng lịch sử ghi công.

Văn chương Việt nói về Obama

Obama đầy ắp mạng truyền thông Việt suốt tuần Tổng thống Mỹ Obama qua Việt Nam. Dưới đây là một vài trang viết chọn lọc ở Ấn tượng Obama để thỉnh thoảng đọc lại.

Nhà thơ “Trần Đăng Khoa giải mã sức hấp dẫn của Obama” bằng một bài viết thật thuyết phục. Nhà văn Nguyễn Quang Thiều có bài viết “Phải gọi đúng căn bệnh của dân tộc” đã soi sáng một góc nhìn về Obama. Người thợ cầu đường chuyên nối những bờ vui, Nguyễn Quốc Toàn Bulukhin, người canh cửa văn chương Việt, đã không kỳ cục chút nào khi có sự so sánh “Tổng thống Obama và ông Toại bí thư huyện Giao Thủy trong phim Gia phả của đất . Anh viết: “Tổng thống Obama là người nhân hậu. Bước lên chiếc trực thăng để đi công cán nhưng ông lại quay xuống đất chào người lính gác vì lúc đi lên ông mãi nghĩ gì quên chào anh ta. Một nơi khác ông đứng chia cơm cho những người nghèo khó trong một nhà hàng. Trao phần cơm cho người nhận ông luôn gửi theo nụ cười tươi tắn thân thiện. Bởi vậy khi nghe tin ông trả lời thư một bé gái 8 tuổi và nghe theo lời cô ta cho in hình người phụ nữ da màu lên tờ đô la thì toàn thế giới khâm phục và tin là sự thật. Ông Toại bí thư huyện Giao Thủy cũng là vua của huyện làm một việc phi thường không kém ngài tổng thống kia là mang vòng hoa đến phúng viếng ông Trạc, một nông dân ra khỏi hợp tác xã nông nghiệp Thanh Bình. Ông Trạc bị công an huyện triệu tập lên răn đe bởi hành vi “chống lại đường lối của đảng. Vào những năm 70 của thế ki trước, thắp đuốc tìm cả nước Nam không có ông bí thư huyện nào như ông Toại . Hình ảnh ông chỉ là khát vọng của người làm phim, cũng là khát vọng của người xem phim. Còn ông Obama và những việc làm của ông là sự thực mười mươi mà cả thế giới đều biết“. Anh Phan Chí Thắng có bài viết “Chủ tịch Hồ Chi Minh trich dẫn Tuyên ngôn độc lập Mỹ và Tổng thống Obama lẩy Kiều như thế nào?”Anh Phan Chi nói: “Các vĩ nhân ngoài tài năng còn là lao động nghiêm túc, cộng với kỹ năng thu hút quần chúng và sự trợ giúp của chuyên gia và công nghệ. Công nghệ càng hiện đại thì càng thuận tiện và… đẹp mắt!“. Anh Phan Chí là chuyên gia giỏi công nghệ thông tin, một thời làm Giám đốc Thông tin của mảng công nghệ cao trong hệ thống Văn phòng Chính phủ nên hiểu rất rõ kỹ năng chuyên nghiệp này. Dẫu vậy, anh đã không tiếc lời khen khi viết bài “Nghệ thuật nói của tổng thống Obama”.

Trong bài “Trí tuệ bậc Thầy” dẫn từ sách “Không là huyền thoại” có trích dẫn lời đại tướng Võ Nguyên Giáp nói đại ý “Mỹ sa lầy ở Việt Nam do vì không hiểu người Việt Nam”. Tổng thống Obama sang thăm Việt Nam lần này khẳng định khép lại chương buồn của quá khứ và thấu hiểu sâu sắc những giá trị phổ quát của dân tộc Việt.

Việt Nam trên bàn cờ các nước lớn. Gió đã xoay chiều …hiển nhiên là do thế nước, lòng người, cơ trời, nhưng Obama rõ ràng đã thực hiện hoàn hảo vai trò và tài năng kiệt xuất của một Tổng thống Mỹ tại thời khắc quyết định.

 

TrumpObama

Ứng cử viên Donald Trump của đảng Công Hòa thì chỉ trích Tổng thống Mỹ Obama không tiếc lời và hứa hẹn: “Chúng ta sẽ mang công việc của chúng ta trở lại từ Việt Nam. Chúng ta sẽ phải mang công việc của chúng ta trở lại đất nước này. Tôi đã tự hỏi: Anh sẽ nói những gì với Tổng thống Obama khi anh nhậm chức. Ông đã bị sa thải“.

Vượt lên mọi khen chê, Tổng thống Mỹ Obama đã thể hiện tầm vóc của một CON NGƯỜI (viết hoa) con người bản lĩnh , trí tuệ. “Không ai đánh giá cao giá trị của phản biện bằng Tổng thống Ôbama. Trong chuyến thăm Việt Nam vừa qua, ông nói đại ý rằng: Hàng ngày tôi nhận được không ít những lời chỉ trích. Và chính những lời chỉ trích đó đã làm cho nước Mỹ tốt đẹp hơn. Đó là nhận định của vị Tổng thống quyền lực nhất thế giới! “. Nhà thơ  “thần đồng” Trần Đăng Khoa cũng là nhà văn “thư đồng thời đại Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp”, đã viết như vậy.

ObamalenFBtiepdanTổng thống Obama lên “phây” tiếp dân.  “Tổng thống Mỹ Barack Obama vừa quyết định sử dụng Facebook là một kênh liên lạc để làm việc với người dân. Chỉ còn khoảng 5 tháng làm việc tại Nhà Trắng, nhưng để đảm bảo công việc tốt hơn, Tổng thống Mỹ đã quyết định mở thêm một kênh liên hệ mới để làm việc là sử dụng Facebook vào ngày 10-8 vừa qua. Như vậy, ngoài những kênh liên lạc truyền thống với Nhà Trắng như gửi thư qua đường bưu điện, gửi email, qua fax hay qua trang trực tuyến Whitehouse.gov... người dân Mỹ có thể đóng góp ý kiến của mình thông qua Messenger của Facebook để gửi đến Tổng thống Mỹ Barack Obama. Theo đó, mỗi ngày ông Obama sẽ trả lời 10 tin nhắn Messenger được gửi đến từ người dân. Để có thể đảm bảo việc liên lạc với người nhắn khi cần thiết, hệ thống trả lời tự động của Nhà Trắng sẽ đưa ra các câu hỏi yêu cầu cung cấp những thông tin cần thiết như địa chỉ, số điện thoại hay email liên lạc của người hỏi“. (Theo CNN)

Obama đồng hành cùng Hillary trong cuộc vận động tranh cử Tổng thống Mỹ của bà Hillary Clinton. Thông điệp ông gửi đến cử tri Mỹ thật khéo và quá xúc động, thức tỉnh nữ quyền, lương tri, nét đẹp trong bản thân mỗi người. Tổng thống Obama và Nữ quyền. Bài báo gây sốt của Tổng thống Obama trên Tạp chí Phụ Nữ .  Ông viết: “…Tôi muốn tất cả con cháu chúng ta hiểu rằng thế hệ trẻ hôm nay có trách nhiệm trong việc tiếp nối và bảo đảm rằng rồi đây, mỗi bé gái sinh ra đều có thể toàn quyền định đoạt cuộc sống của mình theo cách mà cô ấy mong muốn. Và đó chính là nữ quyền của thế kỷ 21: khi mỗi người đều bình đẳng, mỗi người đều tự do hơn”. Barack Obama, Tổng thống Mỹ thứ 44   (Theo Glamour).

ObamavaNuquyenBarack Obama là người tử tế ! Ông nói: “Con người thường hay bị động viên bởi lòng tham và quyền lực … Lần này qua lần khác, nhân loại đã tin rằng thời kỳ khai sáng đã đến để rồi rốt cuộc chúng ta lại lặp đi lặp lại vùng tuần hoàn của xung đột và đau khổ. Có lẽ đó chính là số phận của loài người”. (Human beings are too often motivated by greed and by power…Time and again, human beings have believed that they finally arrived at a period of enlightenment only to repeat, then, cycles of conflict and suffering. Perhaps that’s our fate). Obama với tư cách là Tổng thống Hoa Kỳ đã nói những lời thật thấm thía trước đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, kết thúc nhiệm kỳ 8 năm của mình, thao thức một tầm nhìn và triết lý sống tử tế. “Tôi muốn kết luận lại bài diễn văn của mình bằng cách nói rằng tôi thừa nhận lịch sử đang kể một câu chuyện rất khác câu chuyện tôi nói ngày hôm nay. Chúng ta đã chọn một cái nhìn lịch sử đen tối hơn và đầy hoài nghi hơn. (Let me conclude by saying that I recognize history tells a different story than the one that I’ve talked about here today. There’s a much darker and more cynical view of history that we can adopt).

Một linh cảm và tầm nhìn Obama đã thấy trước một bức tranh tối tương lai thế giới đầy lo âu hơn. Obama là người tử tế.

Obama thật ấn tượng.

Hoàng Kim

(mời xem tiếp Ấn tượng Obama các bình luận của Trần Đăng Khoa, Nguyễn Quang Thiều, Phan Chí Thắng,  Bulukhin Nguyễn Quốc Toàn và xem giới thiệu phim hay Gia phả của Đất  tại đây)

Đến với bài thơ hay:
ĐÊM BÁNH TÔM HỒ TÂY

Ngô Minh

nghiêng phía anh Tây Hồ tóc gió
bánh tôm thơm da thịt Thủ Đô
liễu rũ như mời sóng vồ vập gọi
chớm thu rồi thèm nụ thơm xưa

đêm sâm cầm sao trời vỗ cánh
em rót ly nếp cẩm Đất Trời
nhấm với ánh nhìn nụ em diệu vợi
ơI đèn đường tắt đỏ ngất ngây

bánh tôm đêm lòng hồ khép mở
gió thao thao như gọi như tìm
mai anh Huế rồi thèm rồi nhớ
bánh tôm em – di sản đời mình

Lời bình Lê Quang Vinh

QTXM: Bạn FB thân mến! Nhà báo đẹp trai Lê Quang Vinh (sinh năm 1947), quê làng Hòa Ninh, xã Quảng Hòa, Quảng Trạch, Quảng Bình; là phóng viên ảnh giỏi nhất của báo Thương Mại suốt mấy chục năm ròng. Trước đó, anh là giáo viên dạy văn của một trường THPT tại Hải Dương. Hôm qua, Ngô Minh Khôi giới thiệu trên FB bài thơ mới viết “ĐÊM BÁNH TÔM HỒ TÂY”. Lập tức nhà báo Lê Quang Vinh đã có lời bình (bằng comment trực tiếp), rất hay, rất nghề. Bằng kinh nghiệm thẩm thơ của một giáo viên văn, Lê Quang Vinh đã lẩy ra được nhiều cảm nhận rất “bếp núc” của nhà thơ khi sáng tạo văn học. Mời bạn đọc đọc bài cảm nhận bước đầu (bằng comment trực tiếp) của nhà báo Lê Quang Vinh để hiểu thêm về sáng tạo của thi sĩ.

VÀI CẢM NHẬN BƯỚC ĐẦU VỀ BÀI THƠ “ĐÊM BÁNH TÔM TÂY HỒ” CỦA NGÔ MINH
Lê Quang Vinh

Bài thơ thuộc loại hay nhất viết về Hồ Tây và sản vật, có lẽ cả từ xa xưa nữa.

Câu mở đầu “Nghiêng phía anh Tây Hồ tóc gió”, ngỡ bình thường (như câu nói thường), mà lại rất “thơ” (“phía anh”, “tóc gió”: hữu hạn và vô hạn hòa quyện nhau), khiến ý thơ bay bổng, lãng mạn lên vô cùng. Cả cái chữ “nghiêng” ni nữa, thật vô lý. “Nghiêng” sao được chứ? Thế mà, khi nó “nằm” ở đầu câu thơ (này) thì lại thực “có lý” (đúng) như trong tục ngữ “Tát biển Đông cũng cạn” ấy! Chú ý: “nghiêng” và “tát” đứng đầu câu, như điểm đầu của “cánh tay đòn bẩy” với “lực đè phi thường” được dồn về đây, đối trọng là “vật bẩy” – cái vô biên phía bên kia điểm tựa (Hồ Tây, biển Đông).Trong văn chương, hiểu nôm na đây là cách “tu từ” dân gian (lối viết truyền thống, bình dân – nhưng phải cao tay mới được: “thậm xưng”).

Tiếp đến, “Bánh tôm thơm da thịt Thủ Đô” – dùng các từ “thông tục” (bánh tôm, da thịt) rồi cho mỹ từ “thơm” vào nối giữa hai từ này như “chất xúc tác”, tạo nên một phản ứng “hóa học” thực sự về ngữ nghĩa, khiến nó mặc sức biến hóa (thoát xác) mà (từ bình thường) trở nên “cao sang” trong câu thơ. Đây là điều cần thiết, vì nơi đây là đất “kinh kỳ” xa xưa, nay là Thủ đô của cả nước, phải có sự thăng hoa “cao cấp” như vậy mới xứng, khi viết về một món ăn không thể “bình dân” hơn của mọi thời Hà Nội (đạn bom, bao cấp, hòa bình, đổi mới… tiến lên “CNXH”): “Bánh tôm thơm da thịt Thủ Đô”.

Tôi vô cùng phục cái cách dùng từ “da thịt” ở đây. Nhờ “chế biến” quá khéo của Ngô Minh, nó trở nên siêu phàm rồi, chứ đâu là “da thịt” (nhục dục nguyên thủy) nữa? Ấy là tài chọn tứ, lựa chữ của Thi sĩ tài danh.

Ngày nay, tiếng thơm bánh tôm Hồ Tây – Hà Nội được lan tỏa và bay xa tới tít tắp khắp ba miền đất nước, tới “năm châu bốn biển” địa cầu; một phần không nhỏ có sự đóng góp vô tư của các nghệ sĩ – thi văn sĩ tài danh đã sáng tạo nên những khúc hát, vần thơ, áng văn da diết, tỉ mỉ về món ẩm thực vốn “hạ đẳng” của người ven đô này để dần dà thành “món ngon Hà Nội” – dấu ấn trong tâm hồn, là “di sản” của mỗi con người khi có dịp vãng qua đây (“Bánh tôm em – di sản đời mình”)…

Những nhà thơ, nhà văn tên tuổi, khi sáng tạo nghệ thuật; họ không “bó mình”, “khổ luyện”, tìm “trăm phương ngàn kế” để làm nên những điều ta thấy rất “cầu kỳ” như vừa phân tích ở phía trên. Văn thi – nhạc sĩ…làm thơ văn, làm nhạc…như “chơi”! Ở đó là sự thăng hoa kỳ diệu (của sự kết hợp) giữa cảm xúc và kỹ năng nghệ thuật. Như vậy, kỹ năng nghệ thuật đã trở thành phẩm chất trong lý trí, tình cảm của các nhà sáng tạo rồi. Họ sáng tạo mà như…”vô thức” trước các thủ pháp nghệ thuật mà vẫn rất…”Nghệ thuật” là vậy. Thi sĩ Ngô Mình thuộc VNS loại này.

Nhiều thứ hay nữa, hẹn anh Ngô Minh và bạn đọc, LQV sẽ thưa sau…; giờ dành thời gian cho mọi người thưởng thức bài thơ đã – (LQV).

Bài viết mới
 

Chào ngày mới 10 tháng 1


LeTrongTan ThuongDucdem thiengnhinlai

CNM365. Chào ngày mới 10 tháng 1. Ngày này năm xưa. Ngày 10 tháng 1 năm 1914, ngày sinh Lê Trọng Tấn, Đại tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam (cuối phải, mất năm 1986). Lê Trọng Tấn được coi là một trong những tướng đánh trận giỏi nhất Việt Nam. Ông luôn được tin cậy giao các nhiệm vụ hệ trọng trên chiến trường, là Tư lệnh của các chiến dịch lớn nhất, quan trọng nhất.  Ngày 10 tháng 1 năm 1883, ngày sinh  Aleksey Tolstoy, (nhằm ngày 29 tháng 12 năm 1882, mất năm 1945) là một nhà văn nổi tiếng, tiêu biểu cho dòng văn học Liên Xô giai đoạn trước và trong Thế chiến II, tác giả Con đường đau khổ (tiểu thuyết, 1921 – 1940, Giải thưởng Stalin năm 1943) và Pyotr Đại đế (tiểu thuyết, 1929 – 1934, Giải thưởng Stalin năm 1941).  Ngày 10 tháng 1 năm 1776,  Lẽ Thông Thường, cuốn sách nhỏ do Thomas Paine phát hành đã truyền cảm hứng cho Mười ba thuộc địa đấu tranh giành độc lập từ Đế quốc Anh. Nhà sử học Gordon S. Wood đã mô tả Lẽ Thông Thường là tác phẩm ngắn “phổ biến nhất và mạnh mẽ nhất trong suốt thời kỳ cách mạng Mỹ”; xem tiếp: https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-10-thang-1/; Bài chọn lọc: Thường Đức đêm thiêng nhìn lại; Aleksey Tonstoy và Lev Tonstoy trong tôi; Đọc Con đường đau khổ Aleksey Tonstoy;  Đọc Lev Tonstoy Suy ngẫm mỗi ngày;  Hình như; Chiến tranh và hòa bình suy ngẫmNga hoàng Nikolai II; Phục sinhĐường xuân;

ThuongDucdemthiengnhinlaiTHƯỜNG ĐỨC ĐÊM THIÊNG NHÌN LẠI
Hoàng Kim
Đọc và xem phim “Con đường đau khổ”, tôi nhớ về Thường Đức. Lữ Giang có bài viết “Thường Đức: Trận đánh quyết định số phận của miền Nam!” Nơi đây là “mắt ngọc của đầu rồng“, (chữ của tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu). Đó là cuộc đọ sức quyết liệt nhất của cả hai bên đối chiến với những lực lượng tinh nhuệ nhất trên chiến trường cuối năm 1974. Thường Đức là niềm tự hào của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Thường Đức cũng là niềm tự hào của Quân đội Nhân dân Việt Nam đọ sức ở cấp Quân đoàn, Sư đoàn, nơi hội tụ tinh hoa nghệ thuật quân sự của các danh tướng từng trãi trận mạc.

LeTrongTan ThuongDucdem thiengnhinlai

Những vị tướng của trận đánh lớn: Ba lần vào “Kỳ Sơn” Thượng Đức.Từ trái qua phải: Thiếu tướng Hoàng Đan, Đại tướng Võ Nguyên Giáp (giữa), Đại tướng Lê Trọng Tấn (cuối phải). Thường Đức là lũy Thầy Đào Duy Từ, “Kỳ Sơn” Việt Nam, nơi Quân đoàn 2 Quân đội Nhân dân Việt Nam gìm chân sư đoàn Nhảy Dù, sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, sư đoàn 1 bộ binh đóng ở phía bắc đèo Hải Vân, sư đoàn 2 và sư đoàn 3 bộ binh đóng ở phía nam đèo Hải Vân cùng với nhiều đơn vị biệt động quân, địa phương quân, nghĩa dũng quân của quân lực Việt Nam Cộng hòa để Quân đoàn 3 thực hiện được cú đánh điểm huyệt Buôn Ma Thuột làm sụp đổ khả năng phòng thủ của chính quyền Sài Gòn, dẫn đến trận thắng 30 tháng Tư năm 1975.
Trận Thường Đức là dấu hỏi lớn của lịch sử. “Ngày xưa, khi đến cai trị Đông Dương, người Pháp đã nhận ra ngay tầm quan trọng của cái chốt Thường Đức trên đường 14, nên đã lập một đồn tại đó để kiểm soát. Chính phủ Ngô Đình Diệm cũng đã nhận ra tầm quan trọng của Thường Đức trên đường tiến quân của Bắc Việt, nên đã biến Thường Đức thành một quận và hình thành Chi Khu Thường Đức để trấn giữ. Mỹ can thiệp vào Đông Dương cũng đã đánh giá cao tầm quan trọng của Thường Đức, nên đã tìm cách khóa chặt chốt này, không cho Cộng quân di chuyển xuống miền Nam. Cộng quân phải sử dụng con đường Tây Trường Sơn trên đất Lào rất vất vả.” Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu gọi Thượng Đức là “mắt ngọc của đầu rồng“. Ngã ba sông Con, sông Cái và sông Vu Gia hiểm yếu lạ lùng giống như Rào Nan, Nguồn Son và Linh Giang của Quảng Bình.

Thường Đức là lũy Thầy Đào Duy Từ, Kỳ Sơn của Khổng Minh. Kế sách xưa của Đào Duy Từ là nhà Nguyễn muốn Nam tiến thành công phải khóa được quân Trịnh ở mặt Bắc bằng hệ thống phòng thủ chiều sâu liên hoàn ba tầng gồm Hoành Sơn, Linh Giang và Lũy Thầy. Quân Trịnh vượt qua được hai tầng phòng thủ bên ngoài, khi đến tầng thứ ba là lũy Thầy thì như viên đạn đuối tầm không còn sức công phá nữa. Các chuyên gia quân sự Mỹ và quân lực Việt Nam Cộng hòa cũng tính toán việc ngăn chặn sự xâm nhập của Cộng quân Bắc Việt bằng cách thiết lập tuyến phòng thủ ba tầng ở đất lửa Quảng Bình, “hàng rào điện tử Măc na ma ra” với ” chốt bẫy Khe Sanh” Quảng Trị và “hiểm địa” Thường Đức để ngăn chặn sự tiếp liệu và chuyển quan trọng của tuyến đường huyết mạch Trường Sơn Đông. Tướng Võ Nguyên Giáp và tướng Hoàng Minh Thảo đã tương kế tựu kế, vận dụng mưu kế nghi binh lừa địch. Quân đoàn 2 vào phía tây Huế và đánh Thường Đức gìm chân Quân đoàn 1 và làm di chuyển hai sư đoàn tổng trừ bị ra Huế Đà Nẵng. Quân đoàn 4 vào bắc Sài Gòn làm thế trận Tây Nguyên bị hở sườn. Quân đội nhân dân Việt Nam lúc đó bất ngờ tăng nhanh ở Tây Nguyên thêm sư đoàn 968 và sư đoàn 316 tạo thế áp đảo và giành thắng lợi quyết định.

Sau trận Thượng Đức và chiến dịch Huế – Đà Nẵng, Quân đoàn 2 xốc thẳng vào Sài Gòn rất nhanh, thần tốc hơn nhiều so với các hướng khác. Lữ đoàn 203 đưa xe tăng húc đổ cổng Dinh Độc lập trưa 30/4/1975 và cắm lá cờ tại Phủ Tổng thống Việt Nam cộng hòa không được sắp đặt  trước. Anh Bùi Quang Thận,  Người cắm cờ trên dinh Độc Lập, …Chính Bùi Quang Thận cũng không thể ngờ được mình đã làm nên kỳ tích lịch sử chỉ bằng có… hai bàn tay không theo sự thật lịch sử được Trần Đăng Khoa kể lại trên Đài Tiếng nói Việt Nam.
Năm trước tôi có một chuyến về thăm Thường Đức, nửa đêm ngủ lại chùa núi tại Hà Tân Đại Lãnh với vị đại đức Thích Đồng Nhãn nơi vùng sâu. Đêm ngủ ở Hà Tân Đại Lãnh. “Mây lành sà xuống ngã ba sông. Núi thẳm, rừng khuya, Long Ẩn xanh.  Tháng Bảy mưa ngâu thăm Thượng Đức. Vời vợi trăng khuya, đất trở mình.” (Hoàng Kim). Đêm lạnh và vắng không thể ngủ, tôi đi trong đêm thiêng dưới trăng thanh đến mũi đất hiểm ngã ba sông Vu Gia, sông Con, sông Cái, vào ngôi đền chùa núi. Tôi bật bóng điện mờ ảo trong đêm lạnh, lặng nhìn danh sách họ và tên của trên 1500 chiến binh ưu tú hi sinh tại trận đánh đẫm máu Thường Đức, nay lưu danh trong đền thiêng tưởng niệm tại đất mũi. Những người ngã xuống đều hầu hết đều ở sư đoàn 304 Điện Biên (của sư đoàn trưởng Lê Công Phê, và sư đoàn phó Nguyễn Ân), và sư đoàn 324 thuộc Quân đoàn 2 Vinh Quang của danh tướng Lê Trọng Tấn là Tư lệnh và tướng Hoàng Đan là phó Tư lệnh. Số cán bộ, chiến sĩ hi sinh còn lại phần lớn thuộc hai tiểu đoàn bộ đội Quảng Đà ưu tú dày dạn chiến trận của Quân khu 5 tư lệnh là tướng Chu Huy Mân.
Non sông vẫn đó, đất hiểm còn đây. Lắng nghe sự tĩnh lặng của đêm thiêng, ngắm nhìn những xương máu hi sinh để suy ngẫm về những bài học lịch sử sâu sắc.
Năm tháng qua đi chỉ tình yêu ở lại.ALEKSEY TONSTOY VÀ LEV TONSTOY TRONG TÔI.
Hoàng Kim
Aleksey Tolstoy và Lev Tonstoy là hai đại văn hào Nga nổi tiếng có những cuốn sách tôi yêu. Aleksey Tolstoy sinh ngày 10 tháng 1 năm 1883, là một nhà văn nổi tiếng, tiêu biểu cho dòng văn học Liên Xô giai đoạn trước và trong Thế chiến II, tác giả Con đường đau khổ (tiểu thuyết, 1921 – 1940, Giải thưởng Stalin năm 1943) và Pyotr Đại đế (tiểu thuyết, 1929 – 1934, Giải thưởng Stalin năm 1941). Lev Tonstoy sinh ngày 9 tháng 9 năm 1828, lớn hơn Aleksey Tolstoy 55 tuổi, ông  là đỉnh cao văn chương Nga và Thế giới, tác giả của kiệt tác “Suy niệm mỗi ngày“, “Chiến tranh và hòa bình”, “Đường sống” và nhiều tác phẩm nổi tiếng khác. (xem tiếp…)A.Tonstoy Conduongdaukho

ĐỌC ALEKSEY TONSTOY CON ĐƯỜNG ĐAU KHỔ
Hoàng Kim

“Năm tháng đi qua,
những cuộc chiến tranh đã thôi tàn phá,
những cuộc cách mạng đã thôi gào thét,
chỉ đọng lại không phôi pha,
tấm lòng em
nhân hậu dịu dàng
và tràn đầy yêu thương…”

Ba lần ngập trong nước trong,
Ba lần tắm trong máu đỏ,
Ba lần nấu trong nước giặt,
Ta trong sạch hơn những người trong sạch nhất !

“Con đường đau khổ” tác phẩm văn học nổi tiếng của nhà văn Aleksey Nikolayevich Tolstoy, đã được chuyển thể thành nhiều phim,  là câu chuyện số phận của người trí thức Liên Xô trong bối cảnh sụp đổ của Đế quốc Nga và Nội chiến khốc liệt xảy ra.

“Con đường đau khổ” là đỉnh cao chói lọi của tài năng Alexei Tolstoi, là cuốn tiểu thuyết của nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. A.Tolstoi đã viết bộ ba tiểu thuyết này trong hơn 20 năm (1919-1941) và quá trình viết cuốn tiểu thuyết cũng là quá trình lớn lên trong tầm nhận thức của nhà văn đối với cách mạng. (xem tiếp…)


“Con đường đau khổ” là một trong Một trăm kiệt tác của nhân loại. Ngày 10 tháng 1 năm 1883 là ngày sinh của A. Tolstoy, người đã viết nên những trang sách “Con đường đau khổ”  ám ảnh nhiều thế hệ bạn đọc của người dân Nga cũng như toàn thế giới.  Ngày 10 tháng 1 năm 1914 cũng là ngày sinh của danh tướng Lê Trọng Tấn, một trong những vị tướng đánh trận giỏi nhất trong chiến tranh Việt Nam.  Ngày 10 tháng 1 năm 1776 cũng là ngày phát  hành Lẽ Thông Thường, một cuốn sách mỏng của Thomas Paine nhưng đã truyền cảm hứng cho mười ba thuộc địa ở châu Mỹ vùng lên đấu tranh giành độc lập làm sụp đổ hệ thống thuộc địa của Đế quốc Anh. Lẽ Thông Thường là tác phẩm ngắn “phổ biến nhất và mạnh mẽ nhất trong suốt thời kỳ cách mạng Mỹ” theo đánh giá của nhà sử học Gordon S. Wood.[5] Ngày 10 tháng 1 năm 2016 là ngày hội sách làng Minh Lệ, một mô hình mới về việc sinh hoạt văn hóa làng xã ở xã Quảng Minh, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình. Lịch sử làng Minh Lệ đã có hơn 600 năm. Truyền thống cha ông đánh giặc giữ nước, bảo vệ quê hương, tình làng nghĩa xóm, đã ăn sâu trong máu thịt của mỗi người. Nơi đây có những người con trung hiếu tỏa đi muôn phương nhưng luôn nhớ về quê cha đất tổ. Những bài học lịch sử, giá trị nhân văn, truyền thống quê hương, được chung tay tìm tòi, bảo tồn và phát triển.

Tôi  tìm thấy sự liên hệ và thức tỉnh của một lớp người trong thời đại mình. Đó là một thế hệ cầm súng, trãi qua nội chiến chống ngoại xâm, diệt giặc đói, lại dấn thân vào việc diệt giặc dốt, nâng cao dân trí, bị vây giữa các xu hướng thực dụng bon chen, cố giàu bằng mọi giá, đua đòi, tham nhũng, để giữ được dòng chính minh triết, phúc hậu và yêu thương (xem tiếp…).


LevTonstoy Suyniemmoingay

ĐỌC LEV TONSTOY SUY NIỆM MỖI NGÀY
Hoàng Kim
noi theo người Thầy lớn minh triết, thắp lên ngọn đèn trí tuệ của chính mình, tuân theo quy luật của sự thiện, nhớ câu cách ngôn cổ của người Do Thái: “Linh hồn của một người là ngọn đèn của Thượng đế”… Quy tắc đầu tiên trong cuộc đời này nên là: “Hãy luôn luôn hạnh phúc và sung sướng”  Lev Tonstoy Suy niệm mỗi ngày. Một kho tàng minh triết tinh túy. Lev Tonstoy sinh ngày 9 tháng 9 năm 1828, lớn hơn Aleksey Tolstoy 55 tuổi, ông là đỉnh cao văn chương Nga và Thế giới, tác giả của kiệt tác “Suy niệm mỗi ngày”, “Chiến tranh và hòa bình”, “Đường sống” và nhiều tác phẩm nổi tiếng khác. Trước khi đọc kiệt tác “Suy niệm mỗi ngày”, công trình 8 năm cuối đời của Lev Tonstoy là đóng góp lớn nhất và có giá trị lâu dài nhất của ông cho nhân loại, chúng ta hãy cùng lược khảo ‘Chiến tranh và hòa bình’ suy ngẫm; ‘Đường sống’ triết luận của Lev Tonstoy, những chiều kích phúc hậu, minh triết, vĩ đại của Lev Tonstoy.  đọc tiếp…

CHIẾN TRANH VÀ HÒA BÌNH SUY NGẪM
Hoàng Kim

Trang Tình yêu cuộc sống CNM365 tóm tắt tác phẩm Chiến tranh và hòa bình; trích lời giới thiệu sách Chiến tranh và hòa bình của hai nhà văn Nga nổi tiếng I.A.A-Bra-mốp và V.N.Đê-min; cùng vài lời ghi chép tâm đắc của riêng mình.

Lev Tolstoy (1828 – 1910) đại văn hào Nga, là cha đẻ của kiệt tác “Chiến tranh và hòa bình”, đỉnh cao của trí tuệ con người. Tiểu thuyết sử thi vĩ đại này đưa Lev Tolstoy vào trái tim của nhân loại và  được yêu mến ở khắp mọi nơi trên thế giới. Tác phẩm “Chiến tranh và hòa bình được bình chọn là kiệt tác trong sách “Một trăm kiệt tác“ của hai nhà văn Nga nổi tiếng I.A.A-Bra- mốp và V.N. Đê-min do Nhà xuất bản Vê tre Liên bang Nga phát hành năm 1999, Nhà xuất bản Thế Giới Việt Nam phát hành sách này năm 2001 với tựa đề “Những kiệt tác của nhân loại“, dịch giả là Tôn Quang Tính, Tống Thị Việt Bắc và Trần Minh Tâm.

“Chiến tranh và hòa bình” cũng được xây dựng thành bộ phim cùng tên do đạo diễn là Sergey Fedorovich Bondarchuk, công chiếu lần đầu năm 1965 và được phát hành ngày 28 tháng 4 năm 1968 tại Hoa Kỳ. Phim đoại giải thưởng Oscar phim nói tiếng nước ngoài xuất sắc nhất năm 1968.

Tóm tắt tác phẩm Chiến tranh và hòa bình

Tác phẩm mở đầu với khung cảnh một buổi tiếp tân, nơi có đủ mặt các nhân vật sang trọng trong giới quý tộc Nga của Sankt Peterburg. Bên cạnh những câu chuyện thường nhật của giới quý tộc, người ta bắt đầu nhắc đến tên của Napoléon và cuộc chiến tranh sắp tới mà Nga sắp tham gia. Trong số những tân khách hôm ấy có công tước Andrei Bolkonsky một người trẻ tuổi, đẹp trai, giàu có, có cô vợ Liza xinh đẹp mới cưới và đang chờ đón đứa con đầu lòng. Và một vị khách khác là Pierre người con rơi của lão bá tước Bezukhov, vừa từ nước ngoài trở về. Tuy khác nhau về tính cách, một người khắc khổ về lý trí, một người hồn nhiên sôi nổi song Andrei và Pierre rất quý mến nhau và đều là những chàng trai trung thực, luôn khát khao đi tìm lẽ sống. Andrei tuy giàu có và thành đạt nhưng chán ghét tất cả nên chàng chuẩn bị nhập ngũ với hy vọng tìm được chỗ đứng của một người đàn ông chân chính nơi chiến trường. Còn Pierre từ nước ngoài trở về nước Nga, tham gia vào các cuộc chơi bời và bị trục xuất khỏi Sankt Peterburg vì tội du đãng. Pierre trở về Moskva, nơi cha chàng đang sắp chết. Lão bá tước Bezukhov rất giàu có, không có con, chỉ có Pierre là đứa con rơi mà ông chưa công nhận. Mấy người bà con xa của ông xúm quanh giường bệnh với âm mưu chiếm đoạt gia tài. Pierre đứng ngoài các cuộc tranh chấp đó vì chàng vốn không có tình cảm với cha, nhưng khi chứng kiến cảnh hấp hối của người cha lúc lâm chung thì tình cảm cha con đã làm chàng rơi nước mắt. Lão bá tước mất đi để lại toàn bộ gia sản cho Pierre và công nhận chàng làm con chính thức. Công tước Kuragin không được lợi lộc gì trong cuộc tranh chấp ấy bèn tìm cách dụ dỗ Pierre. Vốn là người nhẹ dạ, cả tin nên Pierre rơi vào bẫy và phải cưới con gái của lão là Hélène, một cô gái có nhan sắc nhưng lẳng lơ và vô đạo đức. Về phần Andrei chàng quyết định gởi vợ cho cha và em chăm sóc sau đó gia nhập quân đội. Khi lên đường Andrei mang một niềm hi vọng có thể có thể tìm thấy ý nghĩa cuộc sống cũng như công danh trên chiến trường. Chàng tham gia trận đánh Austerlitz lừng danh, thương nặng, bị bỏ lại chiến trường. Khi tỉnh dậy chàng nhìn dậy chàng nhìn thấy bầu trời xanh rộng lớn và sự nhỏ nhoi của con người, kể cả những mơ ước, công danh và kể cả Napoléon người được chàng coi như thần tượng. Andrei được đưa vào trạm quân y và được cứu sống. Sau đó, chàng trở về nhà chứng kiến cái chết đau đớn của người vợ trẻ khi sinh đứa con đầu lòng. Cái chết của Lisa, cùng với vết thương và sự tiêu tan của giấc mơ Tulông đã làm cho Andrei tuyệt vọng. Chàng quyết định lui về sống ẩn dật. Có lần Pierre đến thăm Andrei và đã phê phán cách sống đó. Lúc này, Pierre đang tham gia vào hội Tam điểm với mong muốn làm việc có ích cho đời. Một lần, Andrei có việc đến gia đình bá tước Rostov. Tại đây, chàng gặp Natasha con gái gia đình của bá tước Rostov. Chính tâm hồn trong trắng hồn nhiên và lòng yêu đời của nàng đã làm hồi sinh Andrei. Chàng quyết định tham gia vào công cuộc cải cách ở triều đình và cầu hôn Natasha. Chàng đã được gia đình bá tước Rostov chấp nhận, nhưng cha chàng phản đối cuộc hôn nhân này. Bá tước Bolkonsky (cha của Andrei) buộc chàng phải đi trị thương ở nước ngoài trong khoảng thời gian là một năm. Cuối cùng, chàng chấp nhận và xem đó như là thời gian để thử thách Natasha. Chàng nhờ bạn mình là Pierre đến chăm sóc cho Natasha lúc chàng đi vắng. Natasha rất yêu Andrei, song do nhẹ dạ và cả tin nên nàng đã rơi vào bẫy của Anatole con trai của công tước Vasily, nên Natasha và Anatole đã định bỏ trốn nhưng âm mưu bị bại lộ, nàng vô cùng đau khổ và hối hận. Sau khi trở về Andrei biết rõ mọi chuyện nên đã nhờ Pierre đem trả tất cả những kỷ vật cho Natasha. Nàng lâm bệnh và người chăm sóc và người thông cảm cho nàng lúc này là Pierre. Vào lúc này, nguy cơ chiến tranh giữa Pháp và Nga ngày càng đến gần. Cuối năm 1811, quân Pháp tiến dần đến biên giới Nga, quân Nga rút lui. Đầu năm 1812, quân Pháp tiến vào lãnh thổ Nga. Chiến tranh bùng nổ. Vị tướng già Mikhail Kutuzov được cử làm tổng tư lệnh quân đội Nga. Trong khi đó, quý tộc và thương gia được lệnh phải nộp tiền và dân binh. Pierre cũng nộp tiền và hơn một ngàn dân binh cho quân đội. Andrei lại gia nhập quân đội, ban đầu vì muốn trả thù tình địch, nhưng sau đó chàng bị cuốn vào cuộc chiến, bị cuốn vào tinh thần yêu nước của nhân dân. Trong trận Borodino, dưới sự chỉ huy của vị tướng Kutuzov quân đội Nga đã chiến đấu dũng cảm tuyệt vời. Andrei cũng tham gia trận đánh này và bị thương nặng. Trong lán quân y, chàng gặp lại tình địch của mình cũng đang đau đớn vì vết thương. Mọi nỗi thù hận đều tan biến, chàng chỉ còn thấy một nỗi thương cảm đối với mọi người. Chàng được đưa về địa phương. Trên đường di tản, chàng gặp lại Natasha và tha thứ cho nàng. Và cũng chính Natasha đã chăm sóc cho chàng cho đến khi chàng mất. Sau trận Borodino, quân Nga rút khỏi Moskva. Quân Pháp chiếm được Moskva nhưng có tâm trạng vô cùng lo sợ. Pierre trở về Moskva giả dạng thành thường dân để ám sát Napoléon. Nhưng âm mưu chưa thực hiện được thì chàng bị bắt. Trong nhà giam, Pierre gặp lại Platon Karataev, một triết gia nông dân. Bằng những câu chuyện của mình, Platon đã giúp Pierre hiểu thế nào là cuộc sống có nghĩa. Quân Nga bắt đầu phản công và tái chiếm Moskva. Quân Pháp rút lui trong hỗn loạn. Nga thắng lợi bằng chính tinh thần của cả dân tộc Nga chứ không phải do một cá nhân nào, đó là điều Kutuzov hiểu còn Napoléon thì không. Trên đường rút lui của quân Pháp, Pierre đã trốn thoát và trở lại Moskva. Chàng hay tin Andrei đã mất và vợ mình cũng vừa mới qua đời vì bệnh. Chàng gặp lại Natasha, một tình cảm mới mẻ giữa hai người bùng nổ. Pierre quyết định cầu hôn Natasha. Năm 1813, hai người tổ chức đám cưới. Bảy năm sau, họ có bốn người con. Natasha lúc này không còn là một cô gái vô tư hồn nhiên mà đã trở thành một người vợ đúng mực. Pierre sống hạnh phúc nhưng không chấp nhận cuộc sống nhàn tản. Chàng tham gia vào những hội kín – đó là các tổ chức cách mạng của những người tháng Chạp.

“Chiến tranh và hòa bình” là bộ sử thi vĩ đại nhất của Lev Tolstoy, trước hết là vì tác phẩm đã làm sống lại thời kì toàn thể nhân dân và dân tộc gặp nhau trên chiến trường. Nhân dân là nhân vật trung tâm của toàn bộ cuốn tiểu thuyết anh hùng ca này. Qua đó, Tolstoy muốn làm nổi bật tính chất nhân dân anh hùng quyết định vận mệnh lịch sử của dân tộc. Về nghệ thuật, tác phẩm kết cấu dựa trên sự thống nhất hai mặt của chủ nghĩa anh hùng nhân dân và truyện kể lịch sử. Cốt truyện được xây dựng trên hai biến cố lịch sử chủ yếu đầu thế kỉ XIX : cuộc chiến tranh năm 1805 và 1812, đồng thời phản ánh cuộc sống hòa bình của nhân dân và giai cấp quý tộc Nga vào các giai đoạn 1805 – 1812, 1812 – 1820. Các tình tiết và cốt truyện nói trên lại kết cấu tập trung xung quanh hai biến cố lịch sử chủ yếu : chủ đề nhân dân gắn bó khăng khít với chủ đề lịch sử, và đề tài chiến tranh quán xuyến toàn bộ tác phẩm đan chéo với đề tài về hòa bình. Bởi vậy, truyện kể lịch sử cùng với chủ nghĩa anh hùng nhân dân là hai mặt cơ sở thống nhất tạo thành kết cấu hoàn chỉnh của sử thi, tạo nên mọi tình tiết trong tác phẩm và được hình tượng hóa theo quá trình xây dựng tác phẩm. Một trong những đặc điểm nổi bật khác của “Chiến tranh và hòa bình” là nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật. Số phận nhân vật với những tâm trạng tinh tế đều gắn bó mật thiết với bước thăng trầm của lịch sử. Đây chính là điểm cách tân của Tolstoy về thể loại anh hùng ca, từ đó sáng tạo nên loại anh hùng ca hiện đại trong lịch sử Văn học Nga và Văn học thế giới.

Thời lượng : 484 phút (4 tập)
Tập 1 – Andrei Bolkonsky
Tập 2 – Natasha Rostova (225 phút – 1965)
Tập 3 – 1812 (104 phút – 1966)
Tập 4 – Pierre Bezukhov (125 phút – 1966)

Những lời giới thiệu sách Chiến tranh và hòa bình

Hai nhà văn Nga nổi tiếng I.A.A-Bra-mốp và V.N.Đê-min đã giới thiệu và bình chọn tác phẩm “Chiến tranh và hòa bình” như sau:

Một lần nhân lúc nhàn rỗi vì chưa có kế hoạch mới, để đỡ buồn tẻ và sốt ruột, tôi nghĩ ra một câu hỏi cho mình tự trả lời: Nếu như ta bị đày ra hoang đảo, và chỉ được phép mang theo một cuốn sách thôi, ta sẽ chọn quyển nào?. Suy nghĩ chốc lát, tôi đưa ra đáp án: “Có lẽ chỉ mỗi “Chiến tranh và hòa bình!” Tại sao ư? Nhiều quyển đáng chọn lắm cơ mà ! Câu trả lời đơn giản là vậy mà hóa ra không dễ trả lời.”

…”Chiến tranh và hòa bình” ẩn chứa điều bí mật sau đây: Nó là cuốn cẩm nang, là đáp án của tất cẩ mọi câu hỏi mà độc giả có thể gặp trong cuộc sống. Tiểu thuyết có một tầm bao quát sâu rộng lớn: Tính sử thi hùng tráng và tính trữ tình tinh tế, những suy ngẫm triết lý sâu xa về số phận con người, lịch sử và thế giới, những hình tượng bất tử, luôn sống động như đang hiện diện trước mắt ta nhờ bút pháp diệu kỳ của nhà văn. Sẽ là không đầy đủ, nếu chỉ gọi “Chiến tranh và hòa bình” là bộ “Bách khoa toàn thư”; muốn trọn vẹn hơn, ta phải coi nó là “pháp điển đạo đức”. Định nghĩa này là chính xác, bởi bao thế hệ đã từng không mệt mỏi noi theo, học tập suốt đời lý tưởng sống cao đẹp của An-đrây Bôn-côn-xki và Na-ta-sa Rô-xtôva, học tập chủ nghĩa yêu nước nồng nàn của lớp lớp nhân vật khác trong tác phẩm, và của chính nhà văn….”

Giáo sư Tôn Thất Trình bình về Chiến tranh và Hòa bình

Giáo sư Tôn Thất Trình có những nhận xét khá thú vị về Chiến tranh và Hòa bình”. Thầy viết “Chiến Tranh va Hòa Bình  là truyện của năm gia đình  Nga : Bezukhows, Rostovs, Kuragins và Bolkonski không có gì mấy bi hài kỊch tính như truyện tình của Tàu và truyện Việt. Chiến tranh và hòa bình là truyện tình thời Nga Hoàng nhưng vĩnh cữu trên Thế Giới . Nguyên văn lời bình đầy đủ của Giáo sư Tôn Thất Trình trên blog The Gift như sau:

” Thời trung học 1945 – 1950 , chúng tôi chỉ đọc được các truyện Nga của Turgenev ( 1821- 1881 ), Maksim Gorky ( 1868-1936 ), Dostoiyevski ( 1821-1881 ) … và trong thập niên 1970 , xem được phim Bác Sĩ Zhivago của Boris Pasternak ( 1890 – 1960 ) . Lạ lùng thay không nghe nói tới truyện hay phim Chiến Tranh và Hòa Bình- War and Peace của văn hào Leo Tolstoi (1828- 1910 ) , theo Bản Biên Tập Bình Luận “Kiệt tác văn chương Thế Giới – Masterpieces of World Literature” kê khai .

Theo bản biên tập này , truyện ChiếnTranh và Hòa Bình rất có thể truyện kể hay nhất chưa ai viết ra được , ghi chép hàng ngày những thời kì chuyen tiếp nhau giữa Chiến Tranh và Hòa Bình ở nước Nga, trong hai thập niên đầu của thế kỷ thứ 19. Tolstoi có ý định viết về chuyện của một người Nga bị đày đi Siberia – Tây Bá Lợi Á , trở về năm 1856 . Hắn là một thành viên của Phong trào Tháng chạp – Decembrist , một phong trào cách mạng sáng tỏ , cố tìm cải cách hiến pháp ở Nga , trước khi chế độ Nga Hòang đánh tan phong trào tháng chạp năm 1825 . Để hiểu rỏ nhân vật anh hùng của mình hơn , Tolstoi quyết định là trước tiên ông phải viết về thời thanh niên hắn : cho nên truyện bắt đầu tháng 7 năm 1805 . Độc giả , lần đầu tiên gặp hắn không chắc là anh hùng là gã Pierre Bezukhov , ở một dạ tiệc thủ đô St. Peterburg . Hắn vừa trở về sinh sống ở Nga , sau khi du học ngọai quốc . Vụng về nhưng lại hổn láo- táo tợn, lý tưởng ngờ nghệch của hắn dẫn hắn đến tranh luận chánh trị , trong lúc đó hắn khẳng định tin rằng Nã Phá Luân – Napoleon I là “ nhân vật cao cả – lớn nhất Thế Giới”. Sau dạ tiệc , Pierre lui về nhà của bạn cũ là Hòang thân – Prince Andrew Bolkonsky , và tiếp tục bàn luận về Nã Phá Luân . 

Lúc đó nói chuyện về Chiến tranh cũng xảy ra ở gia thất Rostov kế cận. Nicholas, đứa con còn trẽ của Bá Tước Rostov , đã quyết định gia nhập đòan kỵ binh Âu Châu- hussards , làm tăng thêm tình yêu say mê Nicholas của cô bà con Sonia. Sau một cải vặt về ve vản vô hại của Nicholas với một cô gái khác, họ hôn nhau . Quan sát màn ôm hôn này là cô em Natasha của Nicholas , ranh ma, chỉ mới 13 tuổi .. 

2 
Natasha

Những màn kịch sớm sủa của xã hội ăn chơi – lảng phí và hạnh phúc gia đình giúp cho Tolstoi viết ra những giai đọan đầu của sách này. “Mọi chuyện chấm dứt tốt đẹp cũng đều tốt đẹp – All ‘s Well That End Well” . Tuy nhiên, khi ông viết tới những giai đọan liên can đến tàn phá của các cuộc chiến tranh Nã Phá Luân , ông trở thành triết gia nội quan ( tâm ) hơn . Rút kinh nghiệm bản thân ở cuộc chiến Tranh bán đảo Crimean Wars , Tolstoi trình bày cách nào chiến tranh bừng nổi đã quét sạch các nguyện vọng cá nhân, làm rối lọan các mối dây liên kết gia đình và thay đổi vĩnh viễn vận mệnh các quốc gia . Cho nên không lạ gì là một đề tài quan trọng cho cuốn truyện Chiến Tranh và Hòa Bình lại đề cập sự tìm kiếm nghĩa lý cuộc sống , mà trật tự đã bị lật ngược hòan tòan vì chiến tranh. 

Sách tụ điểm vào cuộc tìm kiếm của Pierre. Ông là một người tốt , nhưng vẫn không am hiểu cuộc sống trên căn bản . Sự kiện Pierre là con bấp hợp pháp nhấn mạnh đến một cảm giác bất ổn về nhận diện mình. Sức mạnh cá tính ông là ông tìm kiếm bản chất mình theo nhiều lối mòn khác nhau . Ở phần sách mở đầu , Pierre thám hiểm cuộc sống phóng đảng bằng cách tự dấn thân vào trụy lạc với các đồng bạn hoang dã . Sau đó , ông sống cuộc sống xác thịt lâudài vớI cô Helene Kuragin , xinh đẹp nhưng lạnh lùng. Khi cô Helene không làm gì để làm khuây khỏa nổi trống trải nội tâm ông , ông may mắn gặp được một hội viên Tam Điểm – Freemason hút dẫn ông theo Phong trào Tam Điểm, một hội anh em hoang đường , căn cứ trên lễ nghi và cơ cấu những phường hội trung cỗ ; lúc này rất phổ thông ở Nga và lôi cuốn các người thông minh … 

 3
Henry Fonda vai Pierre Bezukhov trong phim War and Peace

Sách Chiến tranh và Hòa Bình mở đầu ở Thành Phố Nga St. Peterburg năm 1805 , khi cuộc xâm chiếm Tây Âu của Nã Phá Luân mới khởi sự gây sợ hải ở Nga. Rất nhiều nhân vật của sách được giới thiệu đến tiệc bà chủ chủ nhân xã hội đương thời. Trong số này là Pierre Bezukhov, như đã nói trên là một tay khờ khạo nhưng dễ thương, con bất hợp pháp của một bá tước giàu có và Andrew Bolkonski . con thông mình – đầy tham vọng của một cấp chỉ huy quân sự nghĩ hưu. Chúng ta cũng gặp gia đình Kuragin hèn hạ và nông cạn , gồm cả người cha nham hiểm Vasili, người con Anatole kẻ đào mỏ và con gái Helene , sắc đẹp mê hồn . Rồi chúng ta đươc giới thiệu với một gia đình qúi phái Mạc Tư Khoa -Moscow là Rostovs , có cô con gái sống động Natasha , cô bà con thầm lặng Sonya và con trai bốc đồng Nicholas , vừa mới gia nhập quân đội do Tướng Kutuzov chỉ huy . 

Quân lính Nga được động viên , vì Nga liên minh với Đế Quốc Áo – Austrian Empire đang cố kháng cự lại cuộc tấn công của Nã Phá Luân. Cả hai Andrew và Nicholas đều đi ra tiền tuyến . Andrew bị thương ở trận chiến Austerlitz và dù sống sót , ở nhà vẫn tưởng ông chết trận từ lâu. Pierre được làm thừa kế duy nhất của gia tài cha ông và cưới cô Helene Kuragina trong một cơn mê mẫn. Helene lừa dối Pierre và Pierre thách thức kẻ cám dỗ Helene đấu súng tay đôi, trong đó Pierre gần như giết chết địch thủ . Vợ Andrew là Lisa sanh đứa con trai, khi Andrew vừa trở về nhà ở nông trang mình gây sốc cho gia đình Andrew . Lisa chết khi sanh con , để cho bà chị của Andrew là Mary nuôi con trai này . Trong khi đó Pierre thất vọng về cuộc sống vợ chồng , rời bỏ vợ và trở thành liên quan đến thủ tục tinh thần của hội Tam Điểm . Pierre cố gắng áp dụng các dạy bảo thủ tục khi xử lý nông trang và chia sẽ các dạy bảo này cùng bạn An drew ngoơ ơ vực nhiều , vì Andrew đang giúp đở chánh phủ cải cách . 

Trong khi đó tài sản gia đình Rostov đang mất dần , một phần lý do là các nợ đánh bạc của Nicholas . Rostovs dự trù bán trang trại gia đinh đáng quí của họ là Otradno . Nicholas được khuyến khích thành hôn cùng một bà thừa kế giàu có , dù trước đó đã đính hôn cưới Sonya . Nicholas tiếp tục binh nghiệp và chứng kiến hòa bình to lớc giữa Nã Phá Luân và Nga Hòang – Tsar Alexander . Natasha khôn lớn lên , dự cuộc khiêu vũ đầu tiên của cô , và sa ngã yêu đương cùng nhiều đàn ông, trước khi đính chặc nặng nề với Andrew . Cha của Andrew chống đối hôn nhân này và đòi hỏi Andrew chờ đợi một năm trước khi cưới Natasha . Natasha miễn cưởng đồng ý và Andrew đi du lịch xa .

Sau khi Andrew ra đi , cha ông trở nên dễ cáu kỉnh và độc ác với Mary; cô này chấp nhận mọi ác độc với lòng tha thứ củaThiên Chúa Giáo. Natasha bị Anatole Kuragin hút dẫn và anh ta thú nhận yêu cô . Rồi cô quyết định là cô yêu Anatole và dự tính bỏ trốn theo người yêu, nhưng dự tính thất bại . Andrew trở lại nhà và xua đuổi Natasha vì đã tằng tịu với Anatole . Pierre an ủi Natasha và cảm thấy bị cô ta hút dẫn . Natasha trở bịnh .

Năm 1812, Nã Phá Luân xâm chiếm Nga và Nga Hòang Alexander I miễn cưởng tuyên chiến . Andrew trở lại binh nghiệp tích cực . Pierre quan sát phản ứng Moscow đối với đe dọa Nã Phá Luân và phát huy một cảm giác điên cuồng là Pierre có nhiệm vụ phải ám sát Nã Phá Luân. Quân Pháp tiến tới nông trang Bolkonski và Hoang thân Bolkonski già nua ( cha của Andrew ) được khuyến cáo rời bỏ nông trang . Hòang thân chết ngay khi quân Pháp tới . Mary , cuối cùng bị bắt buộc phải rời nông trang mình , nhận thức là nông dân địa phương phản đối . Nicholas bổng nhiên cởi ngựa đến và cứu Mary . Mary và Nicholas cảm giác một mối tình lãng mạn khuấy động . 

Quân Nga và quân Pháp đánh nhau một trận quyết định ở Borodino, nơi quân Nga dù nhỏ bé hơn , đánh bại không giải thích được các lực lượng Pháp , làm Nã Phá Luân chán nãn vô cùng . Ở St. Peterburg đời sống khung cảnh xã hội cao cấp tiếp tục , hầu như không bị ảnh hưởng gì đến Pháp chiếm đóng Moscow. Helene tìm kiếm một hủy bỏ hôn nhân bà cùng Pierre , để kết hôn với một hòang thân ngọai quốc . Đau khổ vì tin tức này , Pierre hóa điên và chạy trốn bè bạn , lang thang một mình ở Moscow . 

 4
Trận chiến BORODINO quyết định thua cuộc của Nã Phá Luân ở Nga   

Cuối  chuyện  là Hôn Nhân giữa  Pierre và  NATASHA năm  1813. 

Tóm lại, Chiến Tranh va Hòa Bình  là truyện của 5 gia đình  : Bezukhows, Rostovs, Kuragins và Bolkonskki.. không có gì mấy bi hài kịch tính như truyện Lôi  Vũ Của Lỗ Tấn – Tàu, các truyên Việt Nam : Công chúa Trần Huyền Trân vói vua Chiêm Thành  và tướng Trần Khắc Chung: “Đừng về   Chiêm quốc nhé Huyền Trân!”,  bà  Chúa  Chè – Trịnh Sâm, Công chúa Ngọc Hân –Nguyễn Huệ ( vua Quang Trung )…- Vua Gia Long, Công Nương Ngọc Khoa với vua Miên, Chuyện Tám Bính- Bỉ Vỏ- Nguyên Hồng, Đoạn Tuyệt của Nhất Linh, Anh Phải sống của Khái Hưng   …”

Vài lời ghi chép tâm đắc của Hoàng Kim

Ngày 9 tháng 9 có bốn sự kiện Quốc tế  trùng hợp: Ngày  9 tháng 9 năm 1791, thủ đô Washington, D.C. được đặt tên theo tên George Washington tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên; Ngày 9 tháng 9 năm 1828  là ngày sinh  Lev Tolstoy, nhà văn Nga, tác giả của kiệt tác “Chiến tranh và hòa bình” đỉnh cao văn chương Nga và Thế giới; Ngày 9 tháng 9 năm 1872 là ngày sinh Phan Châu Trinh, chí sĩ, nhà văn, nhà thơ Việt Nam; Ngày 9 tháng 9  năm 1976 là ngày mất của Mao Trạch Đông, lãnh tụ của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Bốn nhân vật lịch sử trên đây ảnh hưởng to lớn đến lịch sử văn hóa của bốn dân tộc và nhân loại. Họ nếu sinh ra đồng thời và sống chung cùng một chổ liệu họ có trở thành những người bạn chí thiết?

George Washington, Lev Tolstoy, Phan Châu Trinh ba người đều có quan điểm triết học thiên về tiến hóa, bảo tồn và phát triển nhưng Mao Trạch Đông thi lại có quan điểm triết học thiên về cách mạng, cải tạo con người, cải tạo xã hội. Một bên năng về xây, một bên năng về chống.

Mao Trạch Đông bình sinh  kính trọng George Washington, Lev Tolstoy nhưng thích quan điểm cách mạng của Karl MarxVladimir Lenin hơn. Mao Trạch Đông nghiên cứu sâu sắc triết học phương Tây và phương Đông nhưng văn chương thì yêu thích nhất là kiệt tác Thủy Hử và Tam Quốc Diễn Nghĩa. Ông khi ở trên đỉnh cao quyền lực thì cuốn sách không rời tay là “Tư trị Thông giám” học về thuật cai trị của đế vương, nhằm tìm trong sự rối loạn của lịch sử những quy luật và mưu lược kinh bang tế thế. Mao chủ trương “cách mạng gia tộc, cách mạng sư sinh (thầy và trò)“. Ông chủ trương: “Cách mạng không thoát khỏi chiến tranh, mới có thể xóa cũ lập mới”. Tháng 8 năm 1917, Mao đã viết thư cho học giả Bắc Kinh nói lên sự cần thiết của triết học Trung Quốc. Ông nói: “Đây không phải là vấn đề lấy triết học của phương Tây để thay thế, bởi vì dân chủ của giai cấp tư sản phương Tây đã không đủ khả năng giải quyết vấn đề của nhân loại. Cho nên tư tưởng phương Tây, phương Đông phải biết cách lợi dụng. Ý của tôi là tư tưởng phương Tây vẫn chưa đầy đủ, trong đó có nhiều bộ phận phải được cải tạo đồng thời với tư tưởng phương Đông. Vấn đề mấu chốt ăn sâu và tim óc và tiềm thức của Mao Trạch Đông là cách mạng, là nổ lực cải tạo Trung Quốc, cải tạo Thế Giới.

Thế giới đang đổi thay. Nhũng người theo quan điểm thực dụng, hiện sinh đang chen lấn với những người cách mạng, bạo lực và các xu hướng vị kỷ, tôn thờ tự do cá nhân, xã hội dân sự, dân chủ …

“Chiến tranh và hòa bình” kiệt tác của Lev Tolstoy, cần đọc lại và suy ngẫm.

Hinhnhu

HÌNH NHƯ

Hoàng Kim

Hình như xuân về trước ngõ
Hình như mưa bụi ngập ngừng
Hơi đông vẫn còn se lạnh
Mà chồi non đã rưng rưng …

Hạnh phúc sao mà giản dị
An nhiên vui với mỗi ngày
Ríu rít nghe chim gọi tổ
Nồng nàn hương mít thơm cây …

Hoa Lúa quyện vào Hoa Đất
Giấc mơ hạnh phúc bình an
Ngắm gốc mai vàng trước ngõ
Thời gian lắng đọng người hiền.

Nguồn: Hình như
https://t.co/7Vx8FGyT0N
https://t.co/XnF5yhEAth

 


Hoàng Kim
Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày
Bài viết mới

Chào ngày mới 9 tháng 1


NgaytruyenthongHSSV
CNM365. Chào ngày mới 9 tháng 1. Ngày truyền thống học sinh sinh viên Việt Nam,  là ngày tưởng niệm nêu cao tinh thần học sinh – sinh viên. Ngày này năm xưa. Ngày 9 tháng 1 năm 1950, ngày mất Trần Văn Ơn, một học sinh Việt Nam trường Pétrus Ký (sinh năm 1931) đã bị chính quyền Pháp nổ súng bắn chết trong phong trào biểu tình của học sinh sinh viên Sài Gòn. Cuộc biểu tình này hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của chủ tịch Hồ Chí Minh chống thực dân Pháp, bảo vệ nền Cộng hoà non trẻ. Ngày 9 tháng 1 năm 1283, ngày mất Văn Thiên Tường, chính trị gia lỗi lạc anh hùng dân tộc và nhà thơ nổi tiếng triều Tống, tức 8 tháng 12 năm Nhâm Ngọ (sinh năm 1236), tác giả hai câu thơ “Xưa nay hỏi có ai không chết? Hãy để lòng son chiếu sử xanh”. Ngày 9 tháng 1 năm 1324, ngày mất Marco Polo, thương nhân và nhà thám hiểm người Ý (sinh năm 1254); xem tiếp https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-9-thang-1/; Bài chọn lọc: Lòng son chiếu sử xanh. Hồ Chí Minh ẩn số Việt NamHồ Chí Minh và Bảo Đại; Hồ Chí Minh một đời minh triếtVideo tuyệt vời về Quang hợp; Giấc mơ thiêng dạo chơi cùng GoetheThầy bạn trong đời tôi (Hình ảnh)

NgayHSSV

Lòng son chiếu sử xanh
Hoàng Kim
Ngày 9 tháng 1 năm 1950,Trần Văn Ơn, một học sinh Việt Nam trường Pétrus Ký (sinh năm 1931) đã bị chính quyền Pháp nổ súng bắn chết trong phong trào biểu tình của học sinh sinh viên Sài Gòn. Cuộc biểu tình này nhằm hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của chủ tịch Hồ Chí Minh chống thực dân Pháp, bảo vệ nền Cộng hoà non trẻ. Ngày 9 tháng 1 năm 1283, nhằm ngày 8 tháng 12  năm Nhâm Ngọ, là ngày mất của Văn Thiên Tường, anh hùng dân tộc, tể tướng và nhà thơ nổi tiếng triều Tống, Trung Quốc, tác giả của hai câu thơ “Xưa nay hỏi có ai không chết? Hãy để lòng son chiếu sử xanh“. Hai câu chuyện về Trần Văn Ơn và Văn Thiên Tường rạng ngời trong lịch sử.

HỒ CHÍ MINH ẨN SỐ VIỆT NAM
Hoàng Kim

Hồ Chí Minh – Ẩn số Việt Nam  là bộ phim nghiên cứu lịch sử có giá trị. 19 tháng 5 là ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng là ngày thành lập Việt Minh, khai sinh đường Hồ Chí Minh trong lịch sử. Chuỗi ba sự kiện lớn này đóng mốc son ngày 19 tháng 5 vào lịch sử Việt Nam và thế giới đối với nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sự nghiệp thống nhất Tổ quốc Việt Nam.

Hồ Chí Minh ẩn số Việt Nam là một phim tiểu sử, bộ phim tập trung kể lại cuộc đời của Hồ Chủ tịch, từ khi còn là cậu bé Nguyễn Sinh Cung, đến những ngày bôn ba ở nước ngoài tìm đường cứu nước, rồi trở về lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam.Những người làm phim cố gắng tìm hiểu về con người Hồ Chí Minh, vốn vẫn là “ẩn số” đối với họ, dựa trên nghiên cứu của các học giả quen thuộc như Douglas Pike, William Duiker.
“Đó là lãnh tụ của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thành công nhất mà chúng ta thấy trong thế kỉ này”.

Xem tiếp
Minh triết Hồ Chí Minh
Bước ngoặt lịch sử chiến tranh Đông Dương

BacHooVietBac

Bác Hồ rất quý trọng tình cảm gia đình. Ở Việt Bắc Bác Hồ thường đến thăm các gia đình người dân tộc. “Xa nhà chốc mấy mươi niên. Đêm qua nghe tiếng mẹ hiền ru con”.“Quê ta ngọt mía Nam Đàn Bùi khoai chợ Rộ, thơm cam Xã Đoài Ai về ai nhớ chăng ai Ta như dầu đượm thắp hoài năm canh”. “Chốc đà mấy chục năm trời. Còn non, còn nước, còn người hôm nay”.  Sự thật các ẩn ngữ dần được giải mã. Hồ Chí Minh – Ẩn số Việt Nam.


HỒ CHÍ MINH VÀ BẢO ĐẠI

Hoàng Kim
Hoàng Hậu Nam Phương viết thư cho Quốc trưởng Bảo Đại năm 1946 để chuyển đạt thông tin: “Quốc trưởng của em. Em không đọc chữ mà đọc khoảng không giữa hai dòng chữ. “Ngài sẽ rất có ích cho chúng tôi nếu ở lại ở bên Tàu. Đừng lo ngại gì cả. Khi nào sự trở về của Ngài là cần thiết, tôi sẽ báo sau. Xin Ngài cứ tĩnh dưỡng để sẵn sàng cho công tác mới. Ôm hôn thắm thiết. Hồ Chí Minh”.Có khi ta gặp một người mà người đó thay đổi cả cuộc đời ta.

Hồ Chí Minh ngay sau khi ký Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 đã gửi một phái đoàn ngoại giao đến Trùng Khánh để tái khẳng định tình hữu nghị Việt – Trung và để thăm dò việc Tưởng Giới Thạch muốn hai nước sẽ có quan hệ thế nào sau khi ký Hiệp ước Hoa-Pháp. Đoàn do Thứ trưởng Ngoại giao Nghiêm Kế Tổ, một thành viên Việt Quốc có nhiều mối quan hệ ở Trung Quốc, làm trưởng đoàn, hai người còn lại là thành viên Việt Minh. Cố vấn Vĩnh Thụy (Bảo Đại) được Chủ tịch Hồ Chí Minh cử đi cùng đoàn vào đêm trước khi ba người khởi hành.

HỒ CHÍ MINH VÀ BẢO ĐẠI tài liệu nghiên cứu lịch sử của Hoàng Kim về Bước ngoặt lịch sử chiến tranh Đông Dương. Ngày này năm xưa CNM365, đọc lại và suy ngẫm.


Ngọn nến Hoàng Cung, tập cuối

Trước đó, Pháp bại, Nhật hàng, Việt Minh tổng khởi nghĩa cướp chính quyền ngày 19 tháng 8 năm 1945, vua Bảo Đại thoái vị ngày 25 tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945.

Đế quốc Pháp mau lẹ cho lực lượng quân đội từ Miến Điện bằng máy bay tới ngay Tân Sơn Nhất ngày 11 tháng 9 năm 1945. Toán quân đầu tiên gồm 300 người, chiếm ngay các cơ sở quan trọng tại Sài Gòn. Sau đó sư đoàn 9 bộ binh và một liên đoàn thiết giáp quân Pháp đổ bộ vào Vũng Tầu và Sài Gòn cho đến ngày 11 tháng 10 năm 1945 .

Từ ngày 12 tháng 10 năm 1945 đến ngày 5 tháng 2 năm 1946, thực dân Pháp tung quân đánh rộng ra các vùng phụ cận của Sài Gòn Chợ Lớn, chiếm Biên Hòa, Thủ Dầu Một . Ngày 25 tháng 10 năm 1945, Pháp chiếm Mỹ Tho. Ngày 28, 29 và 30 tháng 10 năm 1945 Pháp lần lượt chiếm Gò Công, Vĩnh Long và Cần Thơ. Ngày 8 tháng 11 năm 1945 Pháp chiếm Tây Ninh, ngày 12 tháng 11 năm 1945 Pháp chiếm Nha Trang, ngày 1 tháng 12  năm 1945 Pháp chiếm Ban Mê Thuột. Sau đó, từ ngày 9 tháng 1 năm 1946 đến ngày 5 tháng 2 năm 1946 Sa Đéc, Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên, Rạch Giá, Cà Mâu lần lượt rơi vào tay địch. Tới tháng 2 năm 1946, căn bản đế quốc Pháp đã kiểm soát được Nam kỳ, Trung kỳ, Campuchia và một phần của Lào, lý do vì Việt Minh ở những vùng này yếu hơn và ít hơn. Đế quốc Pháp đã đưa vào Đông Dương trong giai đoạn này là  50,000 người với  7,400 xe cộ, trong đó có 630 người bị chết, mất tích và khoảng 1,030 người bị thương.

Đế quốc Pháp mưu toan cướp nước ta một lần nữa. Ngày 8 tháng 1 năm 1946, tướng Leclerc đã sang Trùng Khánh thương thuyết cùng Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch. Sau đó họ điều đình với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mượn tay Pháp đuổi Tàu, Việt Minh đã đồng ý cho Pháp vào thay thế quân Tàu ở miền Bắc . Ngày 5 tháng 3 năm 1946, Pháp đổ bộ Hải Phòng và ngày 18 tháng 3 năm 1946, Pháp vào Hà Nội.

Pháp tham gia Chiến tranh Đông Dương khởi đầu với lý do vì ý muốn giữ Đông Dương là Liên bang Đông Dương tự trị trong Liên hiệp Pháp mới được thành lập – theo tuyên bố ngày 24 tháng Ba năm 1945 của Chính phủ lâm thời De Gaulle và được quy định trong Hiến pháp Pháp năm 1946 – sau khi người Nhật đã bại trận và mất quyền kiểm soát Đông Dương. Động cơ thúc đẩy Pháp tham chiến mang tính chính trị và tâm lý hơn là kinh tế[14]. Những người Pháp ủng hộ cuộc chiến cho rằng nếu Pháp để mất Đông Dương, sở hữu của Pháp tại hải ngoại sẽ nhanh chóng bị mất theo[15] . Tướng De Gaulle là chính khách nổi tiếng của Pháp, lúc đó là thủ tướng Pháp sau năm 1959 là tổng thống Pháp  cùng các chính khách lãnh đạo Pháp đều cho rằng chiếm giữ các trung tâm dân số và mở rộng dần theo kiểu “vết dầu loang” mà người Pháp đã thực hiện rất thành công ở Maroc và Algérie, thì cuộc chiến ở Việt Nam sẽ chỉ có quy mô hơn một chút. Do đó, Pháp đã dốc sức vào một cuộc chiến mà khởi đầu họ tin tưởng rằng là sẽ chiếm ưu thế về quân sự và sớm kết thúc . Nhưng sự thật chiến dịch Việt Bắc là bước ngoặt lịch sử mà lực lượng Việt Minh đã phát triển ngày càng mạnh và kiểm soát được nhiều vùng lãnh thổ ngày càng rộng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với chính sách của Việt Minh là nhất quán, từ tháng 7 năm 1945, lực lượng này đã sớm gửi đến OSS một tuyên bố: “Chúng tôi, Việt Minh, công bố yêu cầu sau đây về chính sách tương lai ở Đông Dương thuộc Pháp đến người Pháp và các quan sát viên: 1. Một quốc hội bầu theo phổ thông đầu phiếu. Nó lập pháp cho đất nước. Một thống đốc Pháp quyền Chủ tịch cho đến khi tính chất độc lập chúng tôi được đảm bảo. Thống đốc sẽ chọn một nội các hoặc một nhóm các cố vấn chấp nhận bởi quốc hội. Các quyền hạn cụ thể của các cơ quan này có thể được phát triển trong tương lai. 2. Độc lập sẽ được trao cho đất nước này trong một tối thiểu năm năm và tối đa là mười năm. 3. Tài nguyên thiên nhiên của đất nước sẽ trở lại cư dân của nó sau khi bồi thường công bằng cho các chủ sở hữu hiện tại. Pháp sẽ nhận được những lợi ích kinh tế. 4. Tất cả quyền tự do được Liên Hợp Quốc công bố sẽ được đảm bảo ở Đông Dương. 5. Bán thuốc phiện bị cấm. Chúng tôi hy vọng rằng những điều kiện này sẽ nhận được sự chấp nhận của chính phủ Pháp”.

Bối cảnh Việt Nam từ tháng 3 năm 1945, đến trước ngày 2 tháng 9 năm 1945 đã rơi vào một tình trạng hỗn loạn do khoảng trống về quyền lực chính trị quá lớn. Người Nhật đang lo chống đỡ các đòn tấn công của quân đội đồng minh Anh-Mỹ. Triều đình vua Bảo Đại và chính phủ đế quốc Việt Nam bề ngoài thân Nhật của thủ tướng Trần Trọng Kim đều không đủ lực lượng quân sự và uy tín chính trị để kiểm soát tình hình. Theo Peter A. Pull, chỉ có Việt Minh là lực lượng có tổ chức duy nhất ở nước này có khả năng nắm được quyền chính trị.

Ngày 1 tháng 4 năm 1946 quân Pháp đã thay thế quân Tầu ở miền Bắc; ngày 17 tháng 4 năm 1946, Việt Minh và Pháp thương thuyết Hội nghị trù bị tại Đà Lạt. Phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Nguyễn Tường Tam  làm Bộ trưởng Bộ ngoại giao dẫn đầu nhưng trên thực tế Võ Nguyên Giáp là người lãnh đạo phái đoàn  đã không đạt được kết quả. Sau đó, Việt Minh và Pháp thương thuyết tại Hội nghị Fontainebleau Pháp từ ngày 6 tháng 7, 1946 đến trung tuần tháng 9 năm 1946, phái đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do đoàn trưởng là Phạm Văn Đồng nhưng cũng không đạt được kết quả nào.

Hội nghị Fontainebleau  bế tắc tại hai điểm bất đồng then chốt: 1) Việc thống nhất Nam Kỳ vào nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (bao gồm Bắc Kỳ và Trung Kỳ); 2) Độc lập chính trị của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Quan điểm của Pháp bác bỏ độc lập của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà chỉ xét tự trị  trong khuôn khổ của Liên hiệp Pháp. Pháp  đòi hỏi tái lập trật tự trước rồi sau đó mới mở cuộc trưng cầu dân ý ở Nam Kỳ về thống nhất Nam Kỳ vào nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chính phủ Pháp lại đơn phương cho phép thành lập Nam Kỳ quốc theo tinh thần Tuyên bố ngày 24 tháng 3 năm 1945 của tướng De Gaulle, tách rời khu vực này khỏi những phong trào độc lập ở hai miền Bắc và Trung. Ngày 27 tháng 5 Cao ủy Đông Dương Georges D’Argenlieu tiếp tục thông qua việc thành lập Xứ Thượng Nam Đông Dương, chia cắt Việt Nam thành nhiều mảnh.

Thủ đoạn chính trị chủ yếu của nhà cầm quyền Pháp là “chia để trị” . Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhượng bộ về mọi mặt: kinh tế, tài chính và quân sự nhưng phái đoàn Việt Nam đòi Pháp ấn định thời hạn để thực hiện cuộc trưng cầu dân ý ở Nam Kỳ. Thấy Pháp chần chừ không trả lời dứt khoát, phái đoàn Việt Nam bỏ bàn hội nghị ra về ngày 13 tháng 9. Hội nghị Fontainebleau vì vậy tan vỡ.

Tuy nhiên Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp Marius Moutet không chấp nhận thất bại. Trong khi Phạm Văn Đồng bỏ về nước, Hồ Chí Minh, Hoàng Minh Giám và Dương Bạch Mai nán lại Paris. Nhằm cứu vớt hòa bình lần cuối Hồ Chí Minh thảo một bản nghị ước vào chiều ngày 11 và trao cho Marius Moutet. Ba ngày sau, 14 tháng 9 năm 1946, Marius Moutet hồi đáp với một bản nghị ước khác. Đạt được đồng thuận, Hồ Chí Minh đã đến nhà riêng Bộ trưởng Bộ Hải ngoại Pháp là Marius Moutet ký kết với Ngoại trưởng Pháp bản Tạm ước Việt – Pháp vào lúc nửa đêm 14 tháng 9 năm 1946 với những điểm chính sau đây  1. Quyền bình đẳng cho Pháp kiều ở Việt Nam cũng như Việt kiều tại Pháp; 2. Tài sản của người Pháp bị tịch thu sẽ được hoàn trả và quyền sở hữu tôn trọng; 3. Đồng bạc Đông Dương lệ thuộc vào đồng franc Pháp; 4. Thiết lập hệ thống thuế quan và tự do mậu dịch cho các xứ Đông Dương; 5. Tái lập trật tự và ngưng bắn ở Nam Kỳ, trao đổi tù binh, và ngưng tuyên truyền kích động dân chúng.

Sau khi ký Tạm ước Việt – Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với nhân viên mật thám Pháp được phân công bảo vệ ông: “Tôi vừa mới ký một bản án tử hình của tôi! “. Hồ Chí Minh lấy lý do không quen đi máy bay để yêu cầu về nước bằng tàu thủy. Ông từ Paris đến Toulon để lên chiến hạm Dumont d’Urville về Việt Nam.

Chính phủ Pháp Việt vì bất đồng lớn về quan điểm nên càng ngày càng găng nhau. Sau khi ký Tạm ước Việt Pháp, Hồ Chí Minh bị Việt Quốc và Việt Cách chỉ trích phản bội và hợp tác với Pháp đồng thời yêu cầu ông từ chức. Tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa I, Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phê chuẩn Tạm ước Việt Pháp, biểu quyết tín nhiệm Hồ Chí Minh và yêu cầu ông thành lập nội các mới. Tại miền Nam, ngày 28/10/1946, Ủy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ theo chỉ thị của Chính phủ Trung ương ra tuyên bố sẵn sàng thành thực thi hành Tạm ước Việt Pháp và chống lại mọi hành động phá hoại Tạm ước đồng thời kêu gọi dân chúng giữ kỷ luật, thi hành đúng những mệnh lệnh của Chính phủ và tránh mọi hành động khiêu khích

Trong khi đó, ngày 6 tháng 8, Cao ủy Pháp đã tổ chức một hội nghị tại Đà Lạt để nghiên cứu tình hình Liên bang Đông Dương trong Liên hiệp Pháp với đại diện của Campuchia, Lào, Nam Kỳ và Nam Trung Bộ. Ngày 14 tháng 8, các bên tham gia Hội nghị khuyến nghị thành lập một Quốc hội liên bang của các nhà nước. Nhân dân Sài Gòn tổ chức bãi công để phản đối .

Việt Nam Dân chủ cộng hòa thông qua Hiến pháp đầu tiên khẳng định nền độc lập ngày 8 tháng 11 năm 1946 (lúc này Quốc hội được chia thành các nhóm: Marxist, Việt Minh, Dân Chủ, Xã hội, Việt Quốc, Việt Cách, Tổng liên đoàn lao động, không đảng phái). Trước đó, một Chính phủ mới được thành lập được báo Cứu quốc mô tả “Các đảng phái từ tả sang hữu đều ủng hộ Chính phủ mới“. Ủy ban Quân sự Việt – Pháp vẫn làm việc, tuy nhiên phía Việt Nam Dân chủ cộng hòa liên tục tố cáo Pháp vi phạm Thỏa ước. Mặc dù vậy, ngày 20 tháng 2 năm 1947, Hồ Chí Minh gửi thư – thông qua Lãnh sự Anh – đến Tổng thống Pháp kêu gọi hòa bình. Ông viết “…chúng tôi muốn được thống nhất và độc lập trong Liên hiệp Pháp; chúng tôi muốn, một nền hòa bình đích thực sẽ làm vinh danh cho cả Pháp và Việt Nam

Ngoài ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn gửi thư cho nhiều nguyên thủ quốc gia trên thế giới kêu gọi công nhận nhà nước Việt Nam mới được thành lập cũng như tranh thủ sự ủng hộ nhưng không nhận được hồi âm (Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman, lãnh tụ Liên Xô Stalin, Tổng thống Pháp Léon Blum, bộ trưởng Thuộc địa Pháp Marius Moutet và Nghị viện Pháp,…). Từ giữa tháng 10/1945 đến tháng 3/1946, Hồ Chí Minh đã gửi nhiều điện tín cho Tổng thống, Bộ trưởng Ngoại giao, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ và Liên Hiệp Quốc kêu gọi Mỹ và Liên Hiệp Quốc can thiệp vào Việt Nam trên cơ sở những nguyên tắc của Hiến chương Đại Tây Dương và vì lý do nhân đạo nhưng không đến được tay những người có thẩm quyền do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa được Mỹ công nhận nên không được hồi đáp[198]. Trong lúc đó, những người Việt Nam theo chủ nghĩa Quốc gia và những người Pháp theo chủ nghĩa thực dân qua những mối quan hệ với giới chính trị Trung Quốc và Pháp tuyên truyền rằng Hồ Chí Minh là tay sai trung thành của Liên Xô. Ngày 5/12/1946, khi A.B. Moffat, Vụ trưởng Vụ Đông Nam Á thuộc Bộ ngoại giao Mỹ, đến thăm Đông Dương, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Acheson có điện tín chỉ dẫn trong trường hợp gặp Hồ Chí Minh “phải luôn nhớ rằng ông Hồ đã được xác định là một tay sai của Quốc tế Cộng sản“.

Ngay sau khi ký Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946, Hồ Chí Minh được nội các đồng ý đã gửi một phái đoàn ngoại giao đến Trùng Khánh để tái khẳng định tình hữu nghị Việt – Trung và để thăm dò việc Tưởng Giới Thạch muốn hai nước sẽ có quan hệ thế nào sau khi ký Hiệp ước Hoa-Pháp. Thứ trưởng Ngoại giao Nghiêm Kế Tổ, một thành viên Việt Quốc có nhiều mối quan hệ ở Trung Quốc, làm trưởng đoàn, 2 người còn lại là thành viên Việt Minh. Đêm trước khi 3 người khởi hành, Hồ Chí Minh cử Cố vấn Vĩnh Thụy (Bảo Đại) đi cùng. Ban đầu cả Nghiêm Kế Tổ và Bảo Đại đều phản đối ý tưởng này nhưng sau khi họp với Nguyễn Tường Tam và Vũ Hồng Khanh họ thay đổi ý kiến. Theo David G. Marr, Hồ Chí Minh muốn ngăn cản tướng Leclerc lôi kéo Bảo Đại trong khi các nhà lãnh đạo Việt Quốc lại thấy Bảo Đại có thể trở thành lãnh tụ của một chính phủ mới của phe Quốc gia được Trung Quốc và Hoa Kỳ ủng hộ. Ngày 13/4/1946, đoàn công tác về đến Hà Nội còn Bảo Đại vẫn ở lại Trùng Khánh rồi sang Hồng Kông sống lưu vong cho đến khi những người Việt Quốc gia lưu vong khác đến gặp ông năm 1947  (xem tiếp…)

Danh mục một số tư liệu lịch sử tuyển chọn

Ngọn nến Hoàng cung là bộ phim lịch sử của đạo diễn Nguyễn Quốc Hưng, ra mắt lần đầu năm 2004, đoạt Giải thưởng: Cánh Diều Vàng Việt Nam cho Phim truyền hình dài tập xuất sắc nhất, tái hiện, cung cấp thêm một góc nhìn khác cho sự kiện này. Những tư liệu lịch sử tuyển chọn khác bao gồm:

Chính phủ của Bảo Đại và Trần Trọng Kim
Tài liệu cho sử gia
Trần Chung Ngọc và sachhiem.net
Đế quốc Việt Nam
Một cơ hội bị bỏ lỡ ở Việt Nam năm 1945?
Học giả Trần Trọng Kim
Hoàng Xuân Hãn con người và chính trị
Nhà văn hóa Phạm Quỳnh
Bảo Long – Hoàng thái tử cuối cùng thời quân chủ VN
Vài suy nghĩ về cựu hoàng Bảo Đại
Phan Văn Giáo người đứng đầu miền Trung thời Cựu hoàng Bảo Đại làm Quốc trưởng
Tư liệu quý ngày 2 tháng 9

minhtriethochiminhtulieu

MINH TRIẾT HỒ CHÍ MINH
Hoàng Kim

Minh triết Hồ Chí Minh là tài liệu nghiên cứu lịch sử của Hoàng Kim nhằm hiểu đúng thực chất Bước ngoặt lịch sử chiến tranh Đông Dương: Vì sao không có được giải pháp hợp tác giữa Hồ Chí Minh, Bảo Đại, Ngô Đình Diêm, Nguyễn Trường Tam, Trần Trọng Kim, Nguyễn Hải Thần, Phạm Quỳnh, Hoàng Xuân Hãn, Phan Văn Giáo … Đánh giá về bình sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh sâu sắc nhất có lẽ đó là bài thơ: “Bình sinh đầu ngẩng tới trời xanh. Khuất núi hồn THƠM quyện đất lành. Anh hùng HỒ dễ nên nghiệp ấy. Tâm hồn bình dị CHÍ anh MINH”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời có nói : “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.  Suốt đời Bác làm hai việc chính là kiến tạo Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) thành một mặt trận rộng rãi “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công thành công, đại thành công” thực hiện “kế sách một chữ đồng” giành độc lập dân tộc và mở đường Hồ Chí Minh thống nhất đất nước Việt Nam.

cauhieucauthuong-2

Từ Hiếu trà sớm với người hiền, không gian tĩnh lặng, thời gian đặc biệt, lắng nghe cổ vật và đất trời trò chuyện, ngắm mặt trời mọc và sương đêm đọng mật trên lộc nõn cây xanh cuối thu. Tôi mong ước được các bậc thức giả và thầy bạn ghé thăm, cảm nhận.

hochiminhtulieu1960

Thêm một tư liệu quý: Bút tích Hồ Chí Minh ngày 1.9.1960 lưu ở Bảo tàng Lịch sử Hà Nội. Bản thảo bài phát biểu bế mạc lễ kỷ niệm quốc khánh năm 1960, do Bác tự tay đánh máy trong đó có câu “…chậm lắm là 15 năm nữa Tổ quốc ta sẽ thống nhất Bắc Nam sẽ sum họp một nhà” mà sau đó Bác đã xóa đi không đọc chính thức. Dòng chữ đó cho thấy Bác đã tiên đoán ngày thống nhất đất nước là vào năm 1975?

Minh triết Hồ Chí Minh,  đọc lại và suy ngẫm.

Hoàng Kim

Bản sao một số tài liệu tham khảo chính

PHAN VĂN GIÁO NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU MIỀN TRUNG
THỜI CỰU HOÀNG BẢO ĐẠI LÀM QUỐC TRƯỞNG

Nguyễn Đắc Xuân

Sau ngày Toàn quốc kháng chiến 19-12-1946, toàn bộ lực lượng Cách mạng rút ra vùng nông thôn và rừng núi phía Tây Huế để lập chiến khu trường kỳ kháng chiến. Quân đội Pháp và những đảng phái thân Pháp chống Việt Minh trở lại tái chiếm Cố đô Huế (7-2-1947).

Một Ủy ban Chấp chánh Lâm thời (Comité adminis -tratif provisoire) được thành lập ở Huế để quản trị những vùng do Quân đội Pháp chiếm đóng và kiểm soát. Những quan lại cũ như Trần Văn Lý, Lê Quang Thiết được cử phụ trách Uỷ ban nầy. Đến cuối năm 1947, có dư luận Pháp sẽ chọn “giải pháp Bảo Đại” để đương đầu với kháng chiến. Uỷ ban Chấp chánh Lâm thời tổ chức một cuộc biểu tình lớn của dân chúng ở Huế để cùng với các cuộc biểu tình ở nhiều địa phương khác ủng hộ Cựu hoàng Bảo Đại, gửi điện sang Hồng Kông yêu cầu Cựu hoàng Bảo Đại về nước, đứng ra lập Chính phủ quốc gia để lo việc nước.

Đến 1-6-1948, “giải pháp Bảo Đại” thật sự thành hình với sự ra đời của Chính Phủ Trung Ương Lâm Thời tại Sài Gòn do ông Nguyễn Văn Xuân làm Thủ tướng, Quốc vụ khanh Tổng trấn Trung phần giao cho Dược sĩ Phan Văn Giáo (Chính Đạo, tr. 85). Từ đó Dược sĩ Phan Văn Giáo ngồi vào ghế của ông Trần Văn Lý với nhiều quyền hành rộng lớn hơn.

phanvangiaonguonndx

Dược sĩ Phan Văn Giá. Ảnh TL của Souverains et Notabilités D’ Indochine IDEO -1943

Dược sĩ Phan Văn Giáo sinh năm 1901 tại Ninh Hoà (Khánh Hoà). Tốt nghiệp trường Dược ở Hà Nội năm 1922 và hành nghề Dược tại Thanh Hoá. Ông từng là Cố vấn kinh tế cho tỉnh Thanh Hoá (Conseiller provencial de Thanh Hoá), và được mời làm một  thành viên của Phòng Thương mại và Nông nghiệp Bắc Trung kỳ (Mem -bre de la Chambre de Com -merce et d’Agriculture du Nord-Annam), rồi làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng Nông nghiệp và Hợp tác tỉnh Thanh Hoá (Président du Conseil d’Administration de la Ban -que Agricole et de Coopérative de Thanh Hoá). Về mặt chính trị, ông được bầu làm Đại biểu dân chúng của tỉnh Thanh Hoá. (Représentant du peuble de la Province de Thanh Hoá). Ít lâu sau ông lại được mời làm thành viên Đại hội đồng Kinh tế và tài chính Đông Dương (Membre du Grand Conseil des Intéréts Économiques et Finances de l’Indochine). Ông thích chơi thể thao – đặc biệt là môn Quần vợt (Tennis), ông lập ra và làm Chủ tịch Hội Thể dục Thể thao K. H. Thanh Hoá (Président de l’Associa -tion sportif de K. H. Thanh Hoá). Do cùng sở thích chơi quần vợt, nên sau khi vua Bảo Đại hồi loan (1932), Dược sĩ Phan Văn Giáo có nhiều dịp gặp vua Bảo Đại và không lâu sau họ thân nhau. Đến ngày Cách mạng Tháng 8/1945 bùng nổ, vua Bảo Đại hạ chiếu thoái vị và được mời làm Cố vấn cho Chính phủ Cách mạng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Sau đó Cựu hoàng được ra nước ngoài làm “ngoại giao” và sống lưu vong ở Trung Quốc-Hồng Kông. Trong lúc đó, Dược sĩ Phan Văn Giáo bị Việt Minh bắt giam gần một năm rưỡi rồi mới được trả tự do.

Do mối quan hệ cũ với Cựu hoàng Bảo Đại, năm 1948, khi biết Pháp chủ trương thực hiện “giải pháp Bảo Đại” để chống lại cuộc kháng chiến do Mặt trận Việt Minh khởi động từ ngày 19-8-1946, Dược sĩ Phan Văn Giáo cùng 24 trí thức nhân sĩ thân Pháp khác qua Hồng Kông họp bàn với Cựu hoàng mọi lẽ thiệt hơn và mời Cựu hoàng “hồi loan” lần thứ hai. Những nhân sĩ trí thức thân Pháp cùng qua Hồng Kông có các vị như Nguyễn Văn Xuân, Trần Thanh Đạt, Trần Văn Lý, Ngô Đình Diệm v.v. Ngày Cựu hoàng về nước tại sân bay Liên Khương (Đà Lạt, ngày 28-4-1949), Dược sĩ Phan Văn Giáo được ra tận cầu thang máy bay đón Cựu hoàng. Việc đó chứng tỏ Phan Văn Giáo là người thân tín nhất của Cựu hoàng lúc bấy giờ.

phanvangiaobaodainguonndx

Dược sĩ Phan Văn Giáo mặc quốc phục đón Cựu hoàng Bảo Đại “hồi loan” ở sân bay Liên Khương (Đà Lạt), ngày 28-4-1049. Ảnh TL riêng của NĐX

Cũng cần nhắc lại trước khi Cựu hoàng Bảo Đại hồi loan, năm 1948, Dược sĩ Phan Văn Giao đã được Quốc trưởng Bảo Đại thăng hàm Trung tướng, do đó một buổi lễ diễn binh long trọng đã được tổ chức trước lầu Ngọ Môn để Thủ tướng chính phủ Nguyễn Văn Xuân, đại diện cho Cựu Hoàng đang ở Hồng Kông, gắn lên vai Trung tướng Phan Văn Giáo ba ngôi sao bạc. Một dược sĩ bổng trở thành một tướng lãnh “quốc gia” để lo tổ chức quân sự đương đầu với kháng chiến chống Pháp ở miền Trung.

Hai ngày sau khi Chánh phủ ra mắt chính thức, ngày 3-7-1949, Cựu hoàng Bảo Đại ký lại Quyết định bổ nhiệm ba Thủ hiến: Bắc Việt: Nguyễn Hữu Trí, Trung Việt Phan Văn Giáo và Nam Việt Trần Văn Hữu” (Đôn, 79), (Chính Đạo, tr.138), (P.Devil -lers, tr. 430). Dược sĩ Phan Văn Giáo chính thức được đứng đầu bộ máy hành chính quân sự ở Trung Kỳ.

1.Thành lập Việt Binh  Đoàn ở miền Trung

Về Huế nhậm chức Tổng trấn (sau là Thủ hiến) chống Việt Minh, việc đầu tiên của Trung tướng Phan Văn Giáo là tổ chức và xây dựng một “quân đội quốc gia” tại miền Trung mà ông có tham vọng sẽ thay thế quân đội Pháp sau nầy. Ông xin đại uý Nguyễn Ngọc Lễ, nguyên là lính Khố Đỏ của Pháp nhưng đã được nhà báo Nguyễn Vỹ có đề cập đến trong tác phẩm Tuấn, chàng trai nước Vit, xem như một thanh niên có tinh thần quốc gia, về giữ chức Tư lệnh đội quân mà ông đặt tên là Việt Binh Đoàn. Theo ông Phan Văn Giáo, Việt Binh Đoàn là V.B.Đ. ngầm ý là vua “Vua Bảo Đại”, “Vì Bảo Đại”, hay “Với Bảo Đại”. Ông Lễ, từ khi chuyển qua Việt Binh Đoàn được thăng cấp thiếu tá. Ông rất thương lính nên được lính theo ông khá đông. Phong cách chỉ huy của ông Nguyễn Ngọc Lễ rất hợp với phong cách lãnh đạo của Thủ hiến Phan Văn Gíao. Theo Hoành Linh Đỗ Mậu, tác giả Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi thì “Ông Giáo là một chính trị gia nhìn xa thấy rộng, hoạt bát, lanh lợi, và rất bình dân. Đối với binh sĩ và cán bộ dân sự thường phải trực tiếp đối đầu với hiểm nguy, ông coi họ như bà con ruột thịt, thường giúp đỡ tiền bạc mỗi khi họ túng thiếu. Thỉnh thoảng ông đi hành quân với binh sĩ, ngủ lại đêm với họ ở những tiền đồn hẻo lánh xa xôi” (tr.63-64).

Với chỉ tiêu của đợt thành lập đầu tiên là 10.000 quân nhân cho quân lực Việt Binh Đoàn, ông Lễ có rất nhiều cộng sự viên có khả năng trong bộ tham mưu của ông, trong đó có ông Đỗ Mậu.

Ông Đỗ Mậu được ông Thủ hiến Phan Văn Giáo cử giữ chức Trưởng Phòng Ba, đặc trách về tổ chức, huấn luyện, và hành quân, đồng thời kiêm nhiệm chức chủ nhiệm tuần báo Tiếng Kèn, cơ quan ngôn luận chính thức của quân đội Việt Binh Đoàn. Cả hai nhiệm vụ này đều phù hợp với khả năng và sở thích của ông Mậu.

Chỉ hơn một năm sau, quân đội Việt Binh Đoàn đã phát triển mạnh mẽ, tinh thần chiến đấu cao và khả năng tác chiến ở mức khá hiện đại. Tại nhiều địa phương chiến lược, đơn vị Việt Binh Đoàn đã thay thế các đơn vị của quân đội Pháp. Uy tín và uy thế của Việt Binh Đoàn càng ngày càng lên cao làm cho các chính khách ở ngoài Bắc cũng như trong Nam và các cấp chỉ huy Pháp đi từ ngạc nhiên đến thán phục khác. Nhiều khi họ tổ chức hẳn thành những phái đoàn đến thăm để nghiên cứu.

Ngày 8 tháng 3 năm 1949, cựu hoàng Bảo Đại và Tổng thống Pháp Vincent Auriol ký thoả ước Elysée biến Việt Nam thành một quốc gia “Độc lập trong Liên Hiệp Pháp”, nhưng Quốc phòng, Ngoại giao và Tài chính vẫn bị Pháp chi phối, kiểm soát.

Tháng 4 năm 1949, Cựu hoàng Bảo Đại hồi loan giữ chức Quốc trưởng.  Ông đi công du ba miền để thăm viếng đồng bào. Ông về  thăm Cố đô Huế, thăm thân mẫu là Đoan Huy Hoàng Thái hậu, dự lễ kỵ các Tiên Vương.

baodainguonndx

Quốc trưởng Bảo Đại vào Thế Miếu. Ảnh TL do NĐX sưu tập

baodai2

Quốc trưởng Bảo Đại thăm Cung Diên Thọ. Ảnh TL do NĐX sưu tập

Quốc trưởng rất hài lòng thấy tại miền Trung có một quân đội hoàn toàn Việt Nam, do chính sĩ quan Việt Nam chỉ huy, tinh thần cũng như tác phong hùng dũng, gương mẫu, không thua gì quân đội chính qui của Pháp.

Cũng trong năm 1949, Tướng Phan Văn Giáo cho tổ chức một hội chợ  rất qui mô tại vườn hoa Bến Thương Bạc bên sông Hương để trưng bày thành tích của Việt Binh Đoàn. Hội chợ đã thu hút được hàng vạn người tham dự, trong đó có nhiều chính khách, tướng tá, các nhân sĩ, thương gia từ Hà Nội, Đà Lạt, Sài Gòn đến tham dự.

Giải pháp Bảo Đại đã khai sinh ra Việt Binh Đoàn, tiền thân đích thực của Quân đội Việt Nam Cọng Hòa sau này, một đội quân Việt Nam trên phương diện tổ chức, nhân sự và đường lối Việt Nam. Tuy người Pháp lúc bấy giờ có thành lập một số “tiểu đoàn Việt Nam” nhưng những tiểu đoàn này vẫn do sĩ quan Pháp hoặc tay sai của họ chỉ huy và vẫn bị người Việt Nam khinh bỉ vì bản chất “lính đánh thuê” của chúng. Trái lại, Việt Binh Đoàn, dù chưa có truyền thống của một quân đội độc lập lâu dài, dù còn phải phối hợp với quân đội Pháp để cùng chiến đấu chống lại Việt Minh đã được xem là một “quân đội quốc gia”.

Bên cạnh Việt Binh Đoàn còn có trường Võ Bị Quốc Gia đầu tiên ở Huế (tại Đập Đá – nơi toạ lạc KS Hương Giang ngày nay). Trường nầy đã cung cấp cho quân đội Việt Nam Cộng Hoà sau này những sĩ quan chỉ huy cấp tướng và cấp tá. Cũng chính Việt Binh Đoàn đã đào tạo ra những sĩ quan sau này được chọn lựa vào Lữ Đoàn Liên Binh Phòng Vệ Tổng Thống Phủ của ông Ngô Đình Diệm và những cấp chỉ huy của hai sư đoàn 1 và 2 ở Quảng Trị và Thừa Thiên.

Ông Giáo không phải là người hoàn toàn và chắc chắn đã có những lỗi lầm cá nhân, nhưng trên mặt công việc, nhất là công việc chung, theo ông Đỗ Mậu “ông Phan Văn Giáo là một nhân vật có lập trường quốc gia chống Cộng rất vững chắc, một cán bộ cao cấp có tài tổ chức, có tầm nhìn xa và rộng, lại có tinh thần đoàn kết rộng rãi và biết trọng dụng nhân tài. Đã từng công tác với ông trong một số công việc khó khăn và quan trong, tôi cứ tiếc hoài một người như ông Phan Văn Giáo mà không làm Bộ trưởng Quốc Phòng để tổ chức và chỉ huy quân đội quốc gia…” để đương đầu với kháng chiến.

2. Những bước thăng trầm

Là một chính khách muốn vươn lên nắm những chức vụ có quyền lực, Thủ hiến miền Trung- tướng Phan Văn Giáo đã ra Bắc vào Nam vận động lực lượng mới. Ngày 6-10-1950, Tướng Phan Văn Giáo ra Hà Nội họp với Nguyễn Hữu Trí và Phạm Công Tắc (giáo chủ đạo Cao Đài Tây Ninh). Theo tình báo Pháp lúc ấy cho Phan Văn Giáo có ý thân cận với Đại Việt để có thể thành lập một Quân lực Việt Nam dưới trướng của Phan Văn Giáo. Lê Thăng (Tiến sĩ Luật, Hội đồng Thành phố Hà Nội và Viện Dân biểu bắc Kỳ, vợ đầm) và Phan Huy Quát (Y sĩ, Bộ trưởng QGGD, Đảng Đại Việt) theo lời mời của Phan Văn Giáo đã vào thăm Huế, thăm lực lượng Việt Binh Đoàn. Lực lượng đối trọng với Phan Văn Giáo là Thiên Chúa Giáo chống Cộng. Người đứng đầu là Giám mục Lê Hữu Từ. Ngày 17-10-1950, nhân đi kinh lý Hội An, Phan Văn Giáo chỉ trích đường lối thân Mỹ của Lê Hữu Từ (Giám mục ở Phát Diệm). Khẳng định mình luôn hướng về Pháp.

Vì quá chú trọng đến việc phát triển Việt Binh Đoàn, Thủ hiến Phan Văn Giáo không quan tâm đúng mức đến các hoạt động hành chính, dân sự. Ngày 31-10-1950, trong báo cáo tháng 10/1950 nhận định rằng Thủ hiến Phan Văn Giáo “hay đi khỏi Huế, công việc gần như “chết”. Phan Văn Giáo một lòng theo Pháp nhưng lại không được lòng Thiên chúa giáo và chính quyền Pháp. Hậu quả là Bộ trưởng Quốc phòng Pháp không đồng ý ký nghị định thăng cấp sĩ quan cho một số Việt Binh Đoàn mà tướng Phan Văn Giáo  với tư cách ‘Tổng thanh tra quân đội” đã gắn lon cho họ. Lương của Hạ sĩ quan và binh lính ở miền Trung cũng thấp hơn các quân nhân cùng cấp bậc trong quân đội Pháp. Dẫu vậy, Việt Binh Đoàn ở miền Trung dưới quyền Phan Văn Giáo vẫn tiến bộ đều đặn. Và không những những sĩ quan, hạ sĩ quan binh lính dưới quyền Phan Văn Giáo bị thiệt thòi mà chính bản thân Phan Văn Giáo cũng khó giữ được địa vị của mình trước mắt thế lực Thiên chúa giáo thân Pháp. Ngoài Thiên chúa giáo, Phan Văn Giáo còn phải đương đầu với lực lượng thân Pháp khác ở miền Nam mà người đứng đầu là Thủ tướng Trần Văn Hữu.

phanvangiaomongdiep

Thủ hiến Phan Văn Giáo trên du thuyền của Quốc trưởng Bảo Đại trên biển Nha Trang. Người phụ nữ ngồi cạnh là bà “Thứ phi” Mộng Điệp. Ảnh TL riêng của NĐX.

Tư liệu lưu trữ của Pháp cho biết sáng ngày 30/12/1950, Quốc trưởng Bảo Đại tiếp kiến Đại tướng de Lattre de Tassigny tại Ban mê thuột để họp với các lãnh tụ các sắc dân thiểu số cao nguyên Trung Việt và bàn về vấn đề thay đổi chính phủ Trần Văn Hữu.

baodai3

Quốc trưởng Bảo Đại và Đại tướng De Lattre de Tassigny tại Ban mê thuột. Ảnh TL của NĐX sưu tập

Quốc trưởng Bảo Đại cho rằng chưa tìm được người xứng đáng để làm Bộ trưởng Quốc Phòng cho quân đội Quốc gia Việt Nam. Quốc trưởng cũng không giấu ý kiến muốn cử tướng Phan Văn Giáo làm Tổng Tham Mưu Trưởng, và giữ bên cạnh Bảo Đại (Chính Đạo, 210). Nhưng sự thực trong nội bộ những người có quyền và có trách nhiệm của Pháp đã có sẵn một nhận định khác. Trong báo cáo về tình hình ở Huế, tháng 12/1950 của Tư lệnh miền Trung, Lorillot, do J. J. Poupaert, Giám đốc Hành chính [Administrateur des Services Civils], soạn thảo ngày 5/1/1951 thì:

– Việc cải thiện Việt Binh Đoàn miền Trung đang đi đúng đường. Việt Binh Đoàn tham gia chiến dịch bình định chống du kích ở miền Trung có kết quả. Nhưng các tỉnh trưởng chưa tròn nhiệm vụ, ngoại trừ Ninh Thuận, Khánh Hoà và Quảng Bình. Sự thất bại về lãnh vực hành chính này là nét đặc trưng của năm 1950. Một trong những lý do là thiếu viên chức có khả năng, nhưng phần lớn là do Thủ hiến Phan Văn Giáo đặt quá nhiều trọng tâm vào Việt Binh Đoàn và rồi việc thành lập Quân Đội Quốc Gia, sao lãng công tác hành chính. Thực tế, vấn đề cán bộ hành chính quan trong và cấp bách hơn cả cán bộ quân sự, nhưng các giới chức Việt không rõ điều này.

Việc tuyển chọn cán bộ hành chính phải khởi sự từ đầu, trước hết là tìm những người của hành động có khả năng nắm giữ quyền hành, việc thiết lập các trung tâm huấn luyện công chức hành chánh cần thiết, nhưng chỉ ở tầm quan trọng thứ hai. Sắc lệnh ngày 9/12/1950 của Bảo Đại bổ nhiệm các chức Đốc Sự và Giám Sự cho những người chỉ mới có sự hiểu bíêt hành chính tương đương với những sĩ quan mới học chỉ huy.

Sở Công An ở miền Trung, dưới quyền Trần Văn Mạnh, không hoạt động hữu hiệu như miền Nam. Phải cho y nhiều ngân sách hơn và nhiều nhân viên hơn, chúng ta sẽ thấy vấn đề đào tạo cán bộ vì thật khó khăn để cải thiện các viên chức cảnh sát.

Giáo dục, an sinh xã hội, công tác xã hội đều ở mức độ sơ đẳng (élémentaire). Đối mặt những cải cách điền địa và các lãnh vực khác của Việt Minh, chính phủ Việt Nam chẳng có gì chống lại. Ở miền Trung, có sự bất quân bình rõ ràng giữa những cố gắng quân sự, đã mang lại hiệu quả, và dân sự, mà người ta chưa khai phá. Tôi đã nhấn mạnh với Thủ hiến Phan Văn Giáo mới đây về điểm này, vì ông ta cần xúc tiến mạnh hơn về hướng đó.

Nhưng từ đầu tháng 1/1951, ông ta đang phải đương đầu một cách tế nhị với Chính phủ Trung ương. Những kế hoạch mà hiện nay ông Giáo đang muốn thực hiện:

– Được cử làm Tổng trưởng Quốc phòng.

– Đưa ông Lê Khắc Tưởng, đương kim Giám đốc Tài chính Trung phần, lên chức Tổng trưởng Tài chánh.

– Thành lập quân đội Quốc gia Việt Nam dưới quyền ông ta.

Tất cả những ước muốn trên hầu như đã thất bại. Không còn chuyện ông Giáo làm Tổng trưởng Quốc phòng, mà ngay cả chức Tổng Thanh Tra nữa cũng thế. Văn phòng Quốc trưởng cũng như chính phủ Trần Văn Hữu chống lại những vận động của Giáo. Ông Giáo, dù còn làm Thủ hiến, đang vận động làm Tư lệnh Sư đoàn miền Trung. Có lẽ Chính phủ Trung ương không muốn biến ông ta thành một Thủ hiến theo mốt Trung Hoa (à la Chinoise) hay tạo ra “một quốc gia trong một quốc gia”.

Nếu ông Gíao mất chức Thủ hiến, tương lai Việt Binh Đoàn sẽ:

-khủng hoảng (malaise et flotte -ment), đặc biệt trong số những cán bộ thân ông Giáo, và đào ngũ có thể xảy ra.

-những khó khăn này có thể vượt qua nếu biến các binh sĩ Công giáo thành lực lượng nòng cốt, và người thay ông Giáo là người có nhiệt tình và được Bảo Đại tín nhiệm.

Cách nào đi nữa, có vấn nạn “Phan Văn Giáo” trong việc thành lập quân đội Quốc gia Việt Nam. Thấy chẳng có ai có khả năng làm Thủ hiến. Trần Văn Lý – người tiền nhiệm của ông Giáo và là người Thiên chúa giáo  nhưng không được sự tin cậy  của Bảo Đại.

Ngày 20-7-1951, Thủ hiến Trung Việt Phan Văn Giáo bị Chính phủ Trần Văn Hữu cho về nghỉ dài hạn. Cựu Tuần vũ Trần Văn Lý (Đảng xã hội Thiên chúa giáo được Giám mục Ngô Đình Thục bảo trợ) được cử lên thay (Đoàn Thêm, 97). Việc Pháp huyền chức Phan Văn Giáo ngoài ý muốn của Quốc trưởng Bảo Đại, nhưng Quốc trưởng Bảo Đại cũng không ngăn được mà muốn cứu Phan Văn Giáo thì phải chờ một dịp khác.

Phan Văn Giáo về nghỉ gần một năm thì chính phủ Trần Văn Hữu đổ, Chính phủ Nguyễn Văn Tâm lên thay (6-6-1952). Theo đề nghị của Quốc trưởng Bảo Đại, ngày 25-6-1952, Nguyễn Văn Tâm mời Phan Văn Giáo trở lại chính trường và giao giữ chức Phó Thủ tướng kiêm luôn công tác Thông tin, Tuyên truyền (Đoàn Thêm 112). Ngồi ghế Phó Thủ tướng được hơn sáu tháng, dù được Quốc trưởng tín nhiệm, nhưng Pháp và Thiên chúa giáo vẫn gây sức ép, cuối cùng vào 8-1-1953, Phó Thủ tướng Phan Văn Giáo phải xin từ chức. Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm phải cải tổ Chính phủ và mời Lê Văn Hoạch thay Phan Văn Giáo (Đoàn Thêm, tr. 121). Lê Văn Hoạch: gốc Cần Thơ, Y sĩ Đông Dương, Thủ tướng Cộng hoà Nam Kỳ, Tín đồ đạo Cao Đài. Lê Xuân Khoa, tác giả sách Lịch sử Việt Nam xác nhận sự thật lịch sử ấy trong một đoạn ngắn gọn:

– “Thủ tướng chính phủ Trung ương Trần Văn Hữu chống Thủ hiến miền Trung Phan Văn Giáo, và cuộc vận động của Phan văn Giáo với Bảo Đại để ông kiêm nhiệm Tư lệnh Sư đoàn miền Trung đã khiến Tư lệnh người Pháp Lorillot nhận xét rằng Thủ hiến Giáo muốn tạo ra “một quốc gia trong một cuốn gia” (Khoa, tr.417). Đã bị Pháp nhận xét như thế rồi cho nên Phan Văn Giáo buộc lòng phải ra đi dù Quốc trưởng Bảo Đại không đồng ý cũng phải chấp nhận.

3. Thủ hiến Phan Văn Giáo ra  đi nhưng vẫn còn để lại…

Quốc trưởng Bảo Đại và Dược sĩ Phan Văn Giáo tuổi tác cách nhau đến trên một giáp (Phan Văn Giáo sinh năm 1901 và Bảo Đại sinh năm 1913) nhưng hai người thân với nhau trên sân quần vợt từ đầu những năm bốn mươi. Trong hoạt động chính trị, Dược sĩ họ Phan tích cực cộng tác với Pháp thực hiện “giải pháp Bảo Đại” (1948), ủng hộ Quốc trưởng Bảo Đại hết mình trong việc thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam (sau nầy là Quân đội VNCH). Ngoài ra trong đời sống tình cảm Dược sĩ Phan Văn Giáo và Quốc trưởng Bảo Đại còn là tình “anh em cột chèo”.

Như trên đã viết, Phan Văn Giáo là người thân cận nhất Quốc trưởng Bảo Đại từ sau ngày ông rời Hồng Kông về đóng đô ở Đà Lạt. Dược sĩ Phan biết rất rõ tính “ham chơi” của Cựu hoàng Quốc trưởng. Trong hoàn cảnh Hoàng hậu Nam Phương còn ở bên Pháp, bà “thứ phi” Bùi Mộng Điệp còn ở  Hà Nội chưa vô kịp, Dược sĩ Phan liền đem người em gái của cô tình nhân của mình là Lê Thị Phi Ánh “tiến dâng” cho Bảo Đại. Cô Phi Ánh trắng trẻo, cao ráo, mũi cao, mắt sáng, người đẹp nhất trong bốn cô Phi (Phi Lệ, Phi Hồng, Phi Hoa và Phi Ánh) con gái cụ Lê Quang Thừa (Ông Sáu) xuất thân danh gia vọng tộc ở Huế. Đang lúc “cô đơn”, gặp được Phi Ánh, Bảo Đại phải lòng ngay- [Ông Lê Quang Thừa là anh ruột ông Lê Quang Thiết làm việc ở Uỷ ban Chấp chánh Lâm thời đã viết ở trên]. Bảo Đại đã tặng cho Phi Ánh một món tiền lớn và xuất tiền mua cho cô một biệt thự gần ga Đà Lạt để ở.

Ngoài bà Nam Phương và bà Mộng Điệp, bà Phi Ánh cũng được công nhận là vợ chính thức của Bảo Đại. Bảo Đại và bà Phi Ánh có được hai người con là Phương Minh và Bảo Ân.

baphianhvobabaodai

 Bà Phi Ánh – người vợ thứ ba chính thức của Cựu hoàng Bảo Đại. Ảnh TL do NĐX sưu tập

Về sau Bảo Đại bị chế độ Ngô Đình Diệm phế truất phải sống lưu vong bên Pháp, bà Phi Ánh phải ở lại Sài Gòn bà phải “đi bước nữa” với một người thầu khoán giàu có và sau đó bà mất ở Sài Gòn. Hiện nay hai người con của bà với Cựu hoàng Bảo Đại đang định cư ở Hoa Kỳ.

Đối với người dân Huế, nhắc đến Dược sĩ Thủ hiến Phan Văn Giáo họ nhớ đến hai việc. Một là: Phan Văn Giáo tổ chức Việt Binh Đoàn chống lại cuộc du kích chiến của Việt Minh rất ác liệt; hai là: Dược sĩ Thủ hiến Phan Văn Giáo rất mê nữ sinh đẹp của xứ Huế. Mỗi lần ông đến thăm trường Đồng Khánh, thấy nữ sinh nào đẹp ông liền để ý và cho người mời lên Phủ Thủ Hiến (nay là khách sạn Résidence tại 5 Lê Lợi Huế) cho ông gặp. Nhiều hiệu trưởng, Giám thị trường Đồng Khánh sợ lắm nhưng không dám trái lệnh ông. Theo dư luận có nhiều nữ sinh đã bước qua thời con gái trong Phủ Thủ hiến của họ Phan. Cũng có nữ sinh sau khi thất thân với ông, ông vận động cho sang Pháp và sau trở thành nhà thơ nhà văn nổi tiếng. Cũng theo dư luận, tác giả bài thơ được Phạm Duy phổ nhạc “Kiếp nào có yêu nhau” là một trong những tình nhân miễn cưỡng của Dược sĩ Phan Văn Giáo.

*

*       *

Đối với cuộc kháng chiến chống Pháp ở miền Trung, Dược sĩ Phan Văn Giáo là một kẻ có trọng tội. Nhưng chuyện cũ đã đi qua hơn nửa thế kỷ rồi, nó đã thành lịch sử, nên dù muốn dù không Dược sĩ Phan Văn Giáo cũng là một nhân vật lịch sử. Và, khi Dược sĩ đã là một nhân vật lịch sử thì người viết sử phải hiểu con người, tư tưởng và hành trạng của họ một cách xác thực mới viết sử đúng được. Phan Văn Giáo là một trí thức làm kinh tế giỏi, có đầu óc tổ chức quân đội hiện đại. Chỉ tiếc cái tài đó phục vụ cho một mục đích đi ngược với ý muốn giải phóng đất nước của dân tộc nên đã thất bại. Mặt khác, về  phía kháng chiến phải đương đầu với một người có tài và có thế lực như thế mà thắng được, sự chiến thắng đó rất có giá. Và, cũng qua quãng đời Phan Văn Giáo đứng đầu miền Trung thời Cựu hoàng Bảo Đại làm Quốc trưởng (1949-1954) người viết sử nắm được nội bộ của các lực lượng thân Pháp chống lại kháng chiến như thế nào. Thời Phan Văn Giáo làm Thủ hiến Trung phần, ở Huế có các thế lực: gia đình họ Ngô của Thiên chúa giáo (đứng đầu là Giám mục Ngô Đình Thục), thế lực Thiên chúa giáo của Giám mục Lê Hữu Từ, các tổ chức của đảng Đại Việt, Quốc Dân đảng. Phan Văn Giáo có quan hệ với Đại Việt nên không được các thế lực trên hậu thuẫn. Ngoài ra, Phan Văn Giáo còn phải đương đầu với Trần Văn Hữu nặng tình với “Nam kỳ quốc”. Phan Văn Giáo gắn bó sự nghiệp chính trị của mình với Cựu hoàng Bảo Đại. Vì thế sau năm 1954, sự nghiệp chính trị của Cựu hoàng cáo chung thì cuộc đời chính trị của Phan Văn Giáo cũng chấm dứt. Dù sao, sự thất bại trong hoạt động chính trị của Phan Văn Giáo cũng là một bài học cho trí thức Việt Nam bây giờ và cho cả mai sau.

Gác Thọ Lộc, Mùa Đông 2007

 Nguyễn Đắc Xuân


Sách tham khảo

* Cao Thế Dung, Việt Nam ba Mươi Năm Máu Lửa, Alpha (Hoa Kỳ) 1991
*Chánh Đạo, Việt Nam Niên Biểu (1939-1975), (tập B: 1947-1954), Nxb Văn Hoá (Hoa Kỳ) 1997
* Chánh Đạo, Nhân Vật Chí, Nxb Văn Hoá (Hoa Kỳ) 1997
*Đoàn Thêm, HAI MƯƠI NĂM QUA, VIỆC TỪNG NGÀY (1945-1964), Nam Chi Tùng Thư, SG 1966
* Gouvernement Général de L’Indochine, Souverains et Notabilités D’ Indochine IDEO -1943
* Lê Xuân Khoa, Việt Nam 1945-1995 – Chiến tranh, Tị nạn, Bài học lịch sử, Tập I, Tiên Rồng (Hoa Kỳ) 2004
* Philippe Devillers, Histoire du Viet-Nam, Édit. Du SEUIL, 1952
* Trần Trọng Kim, Một Cơn Gió Bụi, Nxb Vinh Sơn, SG 1969
* Trần Văn Đôn, Việt Nam Nhân Chứng, Nxb Xuân Thu (Hoa Kỳ),1989
* Và nhiều tài liệu hình ảnh riêng của Nguyễn Đắc Xuân do bà Bùi Mộng Điệp cung cấp

Bài viết mới

Chào ngày mới 8 tháng 1


CNM365. Chào ngày mới 8 tháng 1. Ngày này năm xưa. Ngày 8 tháng 1 năm 1037 là  ngày sinh Tô Đông Pha (tức 19 tháng 12 năm Bính Tý, mất năm 1101) là đại thi hào thời Tống, vầng trăng cổ tích lồng lộng trên bầu trời văn chương nhân loại. Ngày 8 tháng 1 năm 1976, ngày mất Chu Ân Lai  (sinh năm 1898) là một lãnh đạo xuất chúng của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Thủ tướng Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa từ 1949 cho tới khi ông qua đời tháng 1 năm 1976, và Bộ trưởng Ngoại giao từ năm 1949 tới năm 1958. Chu Ân Lai đóng vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh giành quyền lực của Đảng Cộng sản, và sau này trong việc xây dựng nền kinh tế Trung Quốc cũng như tái cơ cấu xã hội Trung Quốc. Ngày 8 tháng 1 năm 1926, Hoàng thái tử Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy lên nối ngôi vua, lấy niên hiệu là Bảo Đại, trở thành vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn, cũng như của Việt Nam. Bảo Đại là Hoàng đế của Đế quốc Việt Nam (1945) và là Quốc trưởng của Quốc gia Việt Nam (1949 – 1955), là nhân vật lịch sử soi tỏ nhiều góc khuất của sử Việt cận hiện đại; xem tiếp https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-8-thang-1/; Bài chọn lọc: Tô Đông Pha vầng trăng cổ tích; Tô Đông Pha uống rượu ở Tây Hồ; Tô Đông Pha thơ ngoài ngàn năm; Tô Đông Pha danh sĩ tinh hoa; Tô Đông Pha chuyện hay nhớ mãi; Kiệt tác thơ văn Tô Đông Pha;  Hồ Chí Minh và Bảo Đại;Hồ Chí Minh ẩn số Việt NamHồ Chí Minh một đời minh triếtVideo tuyệt vời về Quang hợp; Giấc mơ thiêng dạo chơi cùng GoetheThầy bạn trong đời tôi (Hình ảnh)

TÔ ĐÔNG PHA VẦNG TRĂNG CỔ TÍCH

Hoàng Kim

Đã theo khoa học siêng đồng áng
Mà vẫn thương hoài việc bút nghiên
Dạy học ngày thung dung lớp trẻ
Tô, Nguyễn đêm vui thú bạn hiền.

Tô Đông Pha, Nguyễn Du là những áng thơ văn tuyệt kỹ. Tới Tây Hồ, thật kỳ thú được đi trên đê Tô ngắm vầng trăng cổ tích. Lãng đãng câu thơ “Mưa” của người hiền đọng mãi ngàn năm: “Mây đen trút mực chưa nhoà núi, Mưa trắng gieo châu nhảy rộn thuyền. Trận gió bỗng đâu lôi cuốn sạch, Dưới lầu bát ngát nước in trời. (Mưa, thơ Tô Đông Pha, bản dịch của Nam Trân). Tây Hồ là một hồ nước ngọt nổi tiếng phía tây thành phố Hàng Châu, thủ phủ tỉnh Chiết Giang, cách Thượng Hải 180 km về phía Tây Nam thuộc miền đông Trung Quốc.

To Dong PhaTô Đông Pha (1037-1101) là nhà thơ văn có nhân cách cao quý thời Tống như vầng trăng cổ tích lồng lộng trên bầu trời nhân văn. Thơ văn Tô Đông Pha và Tư trị thông giám của Tư Mã Quang là kiệt tác soi tỏ nhiều uẩn khúc của lịch sử. Mao Trạch Đông là người nghiền ngẫm rất kỹ các kiệt tác này. Ông đã đọc không biết bao nhiêu lần cuốn Tư trị thông giám để tìm trong rối loạn của lịch sử đôi điều kinh bang tế thế ( xem Cuộc cờ Thế kỷ của Diệp Vĩnh Liệt, người dịch Thái Nguyễn Bạch Liên 1996). Nguyễn Du 250 năm nhìn lại cũng còn nhiều điều chưa thấu tỏ. Tô Đông Pha thơ ngoài ngàn năm, mỗi năm tôi thường đọc lại và suy ngẫm

TÔ ĐÔNG PHA UỐNG RƯỢU Ở TÂY HỒ

Uống rượu ở Tây Hồ lúc đầu trời tạnh, sau mưa

Dưới nắng long lanh màu nước biếc
Trong mưa huyền ảo vẻ non tươi
Tây hồ khá sánh cùng Tây tử
Nhạt phấn nồng son thảy tuyệt vời.

Người dịch: Nam Trân.
Trích từ nguồn: http://www.thivien.net

Tô Thức (1036-1101) tự là Tử Chiêm, hiệu là Đông Pha cư sĩ, người My Sơn (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc). Ông từng làm quan Thái thú. Cha là Tô Tuân, em là Tô Triệt, đều là các đại gia thi văn. Tô Đông Pha là người có tài nhất, tư tưởng và tính tình khoáng đạt nhất trong số bát đại gia của Trung Hoa. Trang thơ Tô Đông Pha) – Thi Viện  và Tô Đông Pha – Wikipedia tiếng Việt.. Ảnh Tây Hồ (hồ Hàng Châu) nơi Tô Đông Pha làm Thứ sử và có công lớn với dân trong việc chống hạn hán, nạo vét ao hồ và và đắp đê, làm cầu để nay Tây Hồ trở thành di sản văn hóa thế giới được  UNESCO công nhận  năm 2011.

Mây đen trút mực chưa nhoà núi,
Mưa trắng gieo châu nhảy rộn thuyền.
Trận gió bỗng đâu lôi cuốn sạch,
Dưới lầu bát ngát nước in trời.

(Bản dịch của Nam Trân)

Mây đen nửa núi mực bôi lên,
Mưa trắng rơi châu trút xuống thuyền.
Cuốn đất gió đâu lùa thổi hết,
Dưới lầu, màu nước tựa thanh thiên.

(Bản dịch của Nguyễn Hiến Lê )
Nguồn: Tô Đông Pha, Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn hoá-Thông tin, 2003

Che núi mây đen tựa mực trôi,
Như châu hạt trắng lựa thuyền rơi.
Ào ào gió cuốn mưa tan hết,
Dưới Vọng Hồ lâu lặng bóng trời.

* Làm vào ngày 27 tháng 6 ở lầu Vọng Hồ lúc đang say kỳ 1
(Bản dịch của Lê Xuân Khải )

六月二十七日望湖樓醉書其一

黑雲翻墨未遮山,
白雨跳珠亂入船。
捲地風來忽吹散,
望湖樓下水如天。

Hắc vân phiên mặc vị già sơn,
Bạch vũ khiêu châu loạn nhập thuyền.
Quyển địa phong lai hốt xuy tán,
Vọng Hồ lâu hạ thuỷ như thiên.

Dịch nghĩa

Mây kéo đen như mực chưa che kín núi,
Giọt mưa trong như giọt châu nhẩy lung tung vào thuyền.
Bỗng nổi gió ào ào thổi tan hết,
Mặt nước dưới lầu Vọng Hồ lại phẳng như trời.

TÔ ĐÔNG PHA THƠ NGOÀI NGÀN NĂM

Hoàng Kim

Tô Đông Pha tên thật là Tô Thức, tự là Tử Chiêm, hiệu Đông Pha cư sĩ, sinh ngày 8 tháng 1 năm 1037 tại Mi Sơn, tỉnh Tứ Xuyên, mất ngày 24 tháng 8 năm 1101 tại Thường Châu. Tô Đông Pha là một nhà văn Trung Quốc, nhà thơ, chính khách nhân cách lớn thời Tống, nhà phật học, thư pháp, họa sĩ, dược học, người sành ăn. Tô Đông Pha nhân cách cao quý, việc tốt truyền đời,  tình yêu tuyệt vời, thơ văn kiệt tác, thư pháp lừng lẫy, miếng ngon nhớ lâu, Tô Đông Pha vầng trăng cổ tích lồng lộng trên bầu trời nhân văn.

Tô Đông Pha là một nhân vật quan trọng trong chính trị thời Tống, ông cùng Tư Mã Quang cựu tể tướng và sử gia danh tiếng thuộc phái “coi trọng đạo đức, lẽ phải, kỷ cương”, đối lập với chính sách mới “cường thịnh và phát triển lớn mạnh quốc gia bất chấp đạo lý” do Vương An Thạch chủ trương. Tô Đông Pha đã nổi tiếng là một nhà viết chính luận, các tác phẩm văn của ông đều đặc biệt sâu sắc, góp phần to lớn vào việc nâng cao dân trí và hiểu biết bách khoa thư, văn học du lịch Trung Quốc thế kỷ thứ 11. Thơ Tô Đông Pha nổi tiếng suốt lịch sử lâu dài, có tầm ảnh hưởng rộng lớn tại Trung Quốc, Nhật Bản và các vùng lân cận, cũng được biết đến trong phần nói tiếng Anh trên thế giới thông qua các bản dịch của Arthur Waley và các người khác. Về biểu tượng nghệ thuật, Tô Đông Pha được coi là nhân cách ưu việt của thế kỷ XI. “Thịt lợn kho Tàu Tô Đông Pha” là món ăn ngon nổi tiếng Hàng Châu, được đặt tên để vinh danh ông.

TÔ ĐÔNG PHA UỐNG RƯỢU Ở TÂY HỒ

Mây đen trút mực chưa nhoà núi,
Mưa trắng gieo châu nhảy rộn thuyền.
Trận gió bỗng đâu lôi cuốn sạch,
Dưới lầu bát ngát nước in trời.

Thơ Tô Đông Pha, bản dịch này của Nam Trân là một kiệt tác thơ chuyển ngữ Việt Trung hay hiếm thấy. Dịch giả Nam Tran đã dịch thuật tuyệt vời thơ Tô Đông Pha sang tiếng Việt.

Tô Đông Pha uống rượu ở Tây Hồ một bài khác cũng là một trong những kiệt tác thơ ngoài nghìn năm, được nhiều người ưa chuộng, bài thơ do Nam Trân dịch tiếng Việt.

Uống rượu ở Tây Hồ lúc đầu trời tạnh, sau mưa

Dưới nắng long lanh màu nước biếc
Trong mưa huyền ảo vẻ non tươi
Tây hồ khá sánh cùng Tây tử
Nhạt phấn nồng son thảy tuyệt vời.

Người dịch: Nam Trân.
Trích từ nguồn: http://www.thivien.net

Tô Thức từng làm quan Thái thú. Cha là Tô Tuân, em là Tô Triệt, đều là các đại gia thi văn. Tô Đông Pha là người có tài nhất, tư tưởng và tính tình khoáng đạt nhất trong số bát đại gia của Trung Hoa. Trang thơ Tô Đông Pha – Thi Viện  và Tô Thức – Wikipedia tiếng Việt có ghi chép văn thơ ông.

Trong văn chương Việt , Cao Bá Quát nói về “chàng Tô nấn ná mãi/ Tấm áo rách tơi rồi” là tả về thời kỳ khó khăn này của Tô Đông Pha (bài “Đèo Ngang và những tuyệt phẩm thơ cổ” Hoàng Kim có trích dẫn nguyên văn bài thơ này).

ẢI HOÀNH SƠN

Cao Bá Quát

Non cao nêu đất nước,
Liền một dẫy ra khơi.
Thành cũ trăm năm vững,
Ải xa nghìn dặm dài.
Chim về rừng lác đác,
Mây bám núi chơi vơi.
Chàng Tô nấn ná mãi,
Tấm áo rách tơi rồi.

HOÀNH SƠN QUAN

Địa biểu lập sàn nhan,
Liêu phong đáo hải gian.
Bách niên khan cổ lũy,
Thiên lý nhập trùng quan.
Túc điểu sơ đầu thụ,
Qui vân bán ủng sơn.
Trì trì Tô Quí tử,
Cừu tệ vị tri hoàn.

Bản dịch của Hóa Dân
Nguồn: Lương Sơn Thi Đàn

Cao Bá Quát quốc sư của cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương trong lịch sử lúc thế lực triều Nguyễn đang mạnh và sự tranh chấp ngai vàng thời vua Tư Đức chưa là tình thế chín muồi, khác với sự đánh giá của Nguyễn Hàm Ninh bậc thầy của vua và là bạn chí thiết của Cao. Rốt cục Cao khởi nghĩa, bị thất bại và bị trả thù khốc liệt “tru di tam tộc’ .

Tô Đông Pha nhân cách trung hậu, điềm tĩnh sâu sắc,  giỏi biến dịch. Ông chấp nhận nghịch cảnh để cải biến nơi Tây Hồ từ chỗ khô cằn, thiếu nước sinh hoạt, dân tình đói khổ, mà những kẻ ghen người hiền ghét người tài đã mưu mô điều ông trấn nhậm để đày đọa ông, thành một nơi nay là danh thắng Trung Quốc và Di sản Văn hóa Thế giới

Tây Hồ là nơi Tô Đông Pha cách đây ngàn năm đã làm Thứ sử. Ông có công lớn với dân vùng này trong việc biến một vùng đất hoang vu nghèo nàn và khó khăn trở thành nơi thắng tích. Tô Đông Pha đã giúp dân chống hạn hán, nạo vét ao hồ, đắp đê và làm cầu để nay Tây Hồ trở thành di sản văn hóa thế giới, UNESCO công nhận  năm 2011.

Tây Hồ là một hồ nước ngọt nổi tiếng phía tây thành phố Hàng Châu, thủ phủ tỉnh Chiết Giang, cách Thượng Hải 180 km về phía Tây Nam thuộc miền đông Trung Quốc. Chiều dài lớn nhất của Tây Hồ theo hướng bắc-nam là 3,3 km còn chiều rộng lớn nhất theo hướng đông-tây là 2,8 km. Diện tích của khu vực hồ khoảng 6,3 km², trong đó phần diện tích chứa nước khoảng 5,66 km². Cảnh quan văn hóa Tây Hồ đã được UNESCO đưa vào danh sách di sản văn hóa thế giới năm 2011, và nó được miêu tả là có “ảnh hưởng tới việc thiết kế vườn ở phần còn lại của Trung Quốc cũng như ở Nhật Bản và Triều Tiên trong nhiều thế kỷ.”. Tên gọi “Tây Hồ” cũng được sử dụng cho một số hồ khác ở Trung Quốc và các nước láng giềng khác như Nhật Bản với hồ Saiko, Việt Nam với Hồ Tây. Theo thống kê của Lonely Planet, có 800 hồ ở Trung Quốc với tên gọi này. Tuy nhiên, Tây Hồ ở Hàng Châu nổi tiếng nhất do đó tên gọi này thường chỉ áp dụng cho hồ này.

Tây Hồ được truyền tụng trong dân gian là nhất núi, nhị đê, tam đảo, ngũ hồ. bởi Tây Hồ có một ngọn núi (nhất núi) gọi là Cô Sơn chiếm diện tích khoảng 200.000 m² , hai con đê rất nổi tiếng (nhị đê) là đê Tô (苏堤- đê Tô Đông Pha) và đê Bạch (白堤 – đê Bạch Cư Dị), sau này còn có thêm đê Dương Công (杨公堤  – Dương Công đê) nhưng xét về địa linh nhân kiệt tầm vóc và ảnh hưởng thì đê Tô và đê Bạch nổi danh  hơn. Trong hồ cũng có ba đảo (tam đảo) là đảo Hồ Tâm Đình, đảo Tiểu Doanh Châu, đảo Nguyễn Công Đôn. Tây Hồ cũng có 5 hồ (ngũ hồ) đó là Ngoại Tây Hồ, Lí Tây Hồ, Hậu Tây Hồ, Tiểu Nam Hồ và Nhạc Hồ.

Đê Bạch là do thứ sử nhà thơ Bạch Cư Dị tổ chức nhân dân vùng này đắp vào giữa thời nhà Đường, trong khoảng niên hiệu Trường Khánh (821-824) Bảo Lịch (825-826), Nhà thơ Bạch Cư Dị đã tới Hàng Châu làm thứ sử khoảng năm từ 822 đến năm 825. Ông là một thứ sử giỏi cũng là một nhà thơ tài năng, khi tới nhậm chức sớm nhận ra rằng vùng đất trồng trọt này phụ thuộc vào nguồn nước của Tây Hồ, nhưng do sự cẩu thả của viên thứ sử tiền nhiệm, nên con đê cũ đã sụt lỡ làm cạn kiệt lượng nước Tây Hồ không đủ sức đối phó với tình trạng nhiễu loạn thời tiết và khô hạn của vùng đất nghèo khó khăn này. Do vậy ông đã ra lệnh cho đắp đê cao to hơn, với đập ngăn để giữ nước vì thế đã giải quyết được vấn đề khô hạn. Cuộc sống của cư dân nơi đây  được cải thiện các năm sau đó. Ông cũng cho đắp cao Đoạn kiều (cầu gãy) nối liền  với Cô Sơn, để thuận tiện cho việc đi bộ, thay vì đi thuyền và cho trồng liễu dọc theo đê, làm cho nó trở thành một phong cảnh đẹp của Tây Hồ. Con đường ấy sau này dân chúng gọi là đê Bạch để ghi nhớ công ông.

Đê Tô là do thứ sử nhà thơ Tô Đông Pha tổ chức nhân dân vùng này đắp vào thời nhà Tống, sau 200 năm so với đê Bạch, Tô Đông Pha (Tô Thức), bị biếm ra Hàng Châu làm thứ sử khoảng cuối năm 1071 đến thời đầu niên hiệu Nguyên Hựu (1086–1094) nhà Tống. Tô Đông Pha vốn sinh ra tại Mi Sơn, Mi Châu, nay là địa cấp thị Mi Sơn, tỉnh Tứ Xuyên. Ông nội Đông Pha tên là Tô Tự, cha ông là Tô Tuân (tự là Minh Doãn, 1009 – 1066), mẹ ông họ Trình (?- 1057) và em trai là Tô Triệt (tự là Tử Do, 1039 – 1112). Ba cha con ông đều là những nhà thơ có tiếng. Tô Đông Pha nhân cách cao quý, tính tình trung hậu, theo đạo Phật, từ bi, cương trực, rất mực yêu thương nhân dân, không tham ô hối lộ và thực tài nên sự nghiệp chính trị của ông đầy sóng gió. Ông theo Cựu đảng do Tư Mã Quang cầm đầu chủ trương lãnh đạo theo đường lối khai sáng, tiến đức. Ông là người chỉ trích mạnh mẽ nhất tân pháp của Tân đảng do Vương An Thạch cầm đầu. Năm 1057, sau khi thi đậu, mẹ ông mất, ông phải cùng cha và em chịu tang, không lĩnh chức vụ gì hết. Năm 1060, Đông Pha nhận được một chức quan nhỏ là chủ bạ huyện Phúc Xương tỉnh Hà Nam. Năm 1061, nhậm chức Thiêm phán phủ Phượng Tường tỉnh Thiểm Tây. Năm 1065, vào làm việc ở Sử quán có cơ hội đọc những sách quý và các danh họa tàng trữ ở bí thư các. Năm 1066, cùng em là Tử Do xin nghỉ việc quan lo tang cho cha. Họ phải bỏ gần một năm, vượt mấy nghìn cây số để đưa quan tài cha về quê nhà chôn cất. Năm 1069, Đông Pha trở lại kinh thành nhận chức Giám quan. Suốt những năm sau đó ông cùng em là Tử Do đả kích mạnh mẽ các chính sách cải cách của Tân đảng như “Phép Thị Dịch”, “Phép Mộ Dịch” do thừa tướng Vương An Thạch thi hành. Ông đã làm thơ chỉ trích thuế muối của Vương An Thạch và đã có lần bị người nhà của Vương An Thạch vu oan là lạm dụng quyền lực cướp tiền dân mua bát đĩa. Vua Thần Tông tuy không nghe lời dèm pha nhưng giáng chức chuyển ông ra Hàng Châu, khiến ông ngưng chức Giám quan và rời xa kinh đô, các bài viết của ông ít còn gây nên trở lực cho Vương An Thạch. Chính trong thời gian này Tô Đông Pha đưa vợ con ẩn cư tại Hàng Châu và lưu dấu các kiệt tác nhân văn bền vững với thời gian.

Tô Đông Pha đối diện với vùng trấn nhậm Hàng Châu lúc người dân phải cơ cực gánh chịu nạn hạn hán khốc liệt và sự xuống cấp nghiêm trọng của các hệ thống tưới tiêu. Ông đã chỉ đạo và tổ chức dân chúng nạo vét ao hồ, đắp đê và trồng cây để thích ứng với tình hình thuở đó. Đê Tô tương tự đê Bạch nhưng quy mô dài rộng hơn gấp ba lần. Ông cũng cho trồng các rặng liễu dọc theo các bờ đất của đắp đê và xây 6 chiếc cầu dọc theo chiều dài 2,6 km của đê Tô.

“Tô đê xuân hiểu” ngày nay thành một trong những cảnh đẹp của Tây Hồ. Thành phố Hàng Châu được xếp vào danh sách 10 thành phố đẹp nhất Trung Quốc. Hàng Châu xuất hiện trong câu thành ngữ khá nổi tiếng “Sinh ở Tô Châu, sống ở Hàng Châu, ăn ở Quảng Châu, chết ở Liễu Châu”.

Bài thơ “Tô Đông Pha uống rượu ở Tây Hồ” có nhiều bản dịch Việt khác nhau như dưới đây:

六月二十七日望湖樓醉書其一

黑雲翻墨未遮山,
白雨跳珠亂入船。
捲地風來忽吹散,
望湖樓下水如天。

Hắc vân phiên mặc vị già sơn,
Bạch vũ khiêu châu loạn nhập thuyền.
Quyển địa phong lai hốt xuy tán,
Vọng Hồ lâu hạ thuỷ như thiên.

Dịch nghĩa

Mây kéo đen như mực chưa che kín núi,
Giọt mưa trong như giọt châu nhẩy lung tung vào thuyền.
Bỗng nổi gió ào ào thổi tan hết,
Mặt nước dưới lầu Vọng Hồ lại phẳng như trời.

* Làm vào ngày 27 tháng 6 ở lầu Vọng Hồ lúc đang say.

Mây đen trút mực chưa nhoà núi,
Mưa trắng gieo châu nhảy rộn thuyền.
Trận gió bỗng đâu lôi cuốn sạch,
Dưới lầu bát ngát nước in trời.

(Mưa, thơ Tô Đông Pha, bản dịch của Nam Trân)

Mây đen nửa núi mực bôi lên,
Mưa trắng rơi châu trút xuống thuyền.
Cuốn đất gió đâu lùa thổi hết,
Dưới lầu, màu nước tựa thanh thiên.

(Mưa, thơ Tô Đông Pha, bản dịch của Nguyễn Hiến Lê )
Nguồn: Tô Đông Pha, Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn hoá-Thông tin, 2003

Che núi mây đen tựa mực trôi,
Như châu hạt trắng lựa thuyền rơi.
Ào ào gió cuốn mưa tan hết,
Dưới Vọng Hồ lâu lặng bóng trời.

(Mưa, thơ Tô Đông Pha, bản dịch của Lê Xuân Khải )

“Hắc phong bạch vũ” (Gió đen, mưa trắng); “Mã nhĩ đông phong” (Tai ngựa, gió đông); “Ám tống thu ba” (Gửi ngầm sóng thu)… là những tứ thơ nổi tiếng của Tô Đông Pha đã trở thành những khái niệm chủ yếu, thành ngữ nổi tiếng trong văn chương Trung Quốc chuyển tải các tư tưởng triết lý thật thâm hậu của Tô Đông Pha.

“Món ngon nhớ lâu thịt lợn kho Tàu Tô Đông Pha”, nổi tiếng trong dân gian có xuất xứ nơi đê Tô xuân hiểu Hàng Châu là do người dân Tây Hồ đặt tên để vinh danh ông. “Hắc phong bạch vũ” (Gió đen, mưa trắng) là ẩn ngữ giữa đời thường. ‘Từ trời xa xôi, thổi cơn gió đen đứng trên biển’; ‘Mưa trắng vào trong thuyền và làm cho ngọc trai nhảy loạn’. “Ám tống thu ba” ‘Gửi ngầm sóng thu’ là những kiệt tác tuyệt hay, sâu sắc và dễ nhớ. Thơ hay nhớ lâu. Món ngon nhớ đời.

  1. “Hắc phong bạch vũ” (Gió đen, mưa trắng) – Tô Thức viết trong bài “Hữu mỹ đường bạo vũ” (有美堂暴雨): Thiên ngoại hắc phong xuy hải lập, Chiết Đông phi vũ quá giang lai (天外黑風吹海立、浙東飛雨過江來), nghĩa là “Từ trời xa xôi, thổi cơn gió đen đứng trên biển, từ Chiết Đông bay qua mưa về sông”. Và viết trong bài “Vọng hồ lâu” (望湖樓): Bạch vũ khiêu châu loạn nhập thuyền (白雨跳珠亂入船), nghĩa là “Mưa trắng vào trong thuyền và làm cho ngọc trai nhảy loạn”.
  2. “Mã nhĩ đông phong” (Tai ngựa, gió đông) – Trong bài “Sáu lời với trưởng quan Hà” (和何長官六言), Tô Thức viết: Thuyết hướng thị triều công tử, hà thù mã nhĩ đông phong? (說向市朝公子、何殊馬耳東風), nghĩa là “Lời nói cho công tử triều đình, như gió xuân thổi qua tai ngựa thì có gì lạ?”.
  3. “Ám tống thu ba” (Gửi ngầm sóng thu) – Trong bài “Bách bộ hồng” (百步洪), Tô Thức viết: Giai nhân vị khẳng hồi thu ba (佳人未肯回秋波), nghĩa là “Người đẹp chưa muốn quay mắt long lanh”.

Tô Đông Pha là vầng trăng cổ tích lồng lộng trên bầu trời nhân văn.

todongphathongoaingannam2su-dongpowest-lake-hangzhouTÔ ĐÔNG PHA DANH SĨ TINH HOA

Tô Đông Pha danh sĩ tinh hoa, là một trong mười đại văn hào Trung Quốc cổ và cận đại, bao gồm  Khuất Nguyên, Tư Mã Thiên, Tào Thực, Lý Bạch, Đổ Phủ, Bạch Cư Dị, Tô Đông Pha, Lục Du, Thang Hiển Tổ và Tào Tuyết Cần. Trong đó ,Tô Đông Pha giỏi cả về cổ văn lẫn thơ, phú. Tác phẩm của ông có tổng cộng trên  1 triệu chữ, riêng về  thi từ có khoảng 1700 bài, nhiều bài đặc biệt nổi tiếng (xem Trang thơ Tô Thức trên Thi Viện, Tô Đông Pha, uống rượu ở Tây Hồ; ). Cổ văn của ông là “thiên hạ vô địch”,  “hành vân, lưu thủy”.như mây trôi nước chảy, trong đó Hậu Xích Bích phú, Tiền Xích Bích phú, là hai viên ngọc quý cổ văn Trung Hoa được người đời rất ngưỡng mộ. Đại văn hào  Âu Dương Tu  hôm nào nhận được một bài văn của ông thì vui sướng cả ngày, Vua Tống Thần Tông thường đọc bài của ông, có bữa ngự thiện quên cả gắp thức ăn. Vua mừng đến nỗi khi trở về hậu cung đã vui vẻ nói với hoàng hậu: “Tôi đã chọn được hai vị hiền tài ( là Tô Đông Pha và Tô Triệt,) có trình độ làm Tể tướng cho con cháu sau này rồi”..

Tô Đông Pha có nhân cách trung hậu, chuộng đạo Phật, yêu thương nhân dân, tính trung thực khoan hòa, không tham ô hối lộ; ông là người công chính, dám nói,  dám làm, dám dâng lời nói thẳng nên sự nghiệp chính trị của ông đầy sóng gió. Tô Đông Pha có cha là Tô Tuân,  em  là Tô Triệt  đều là những nhân tài hiếm có, danh sĩ lỗi lạc và nhà thơ danh tiếng. Đời Tô Đông Pha trãi qua năm đời vua  Tống Nhân Tông,  Tống Anh Tông, Tống Thần Tông, Tào thái hậu, Tống Triết Tông của triều đình nhà Tống. Ông cũng là người cùng thời với các Tể tướng  Âu Dương Tu, Vương An Thạch , Hàn Kỳ, Tư Mã Quang, Tăng Bố, và những danh tài Trình Di , Tăng Củng…. Tất cả năm vị hoàng đế,  năm vị Tể tướng, các bậc danh tài  đều thừa nhận tài hoa và học thức của ông nhưng do có sự tranh chấp bè đảng trong triều đình (qua các sự kiện lớn “bắc ngự Liêu Hạ”, “biến pháp và đảng tranh”, khởi đầu “sự biến Tĩnh Khang” được thể hiện rõ trong sách “Tư trị thông giám“)  nhất là vì cá tính của Tô Đông Pha rành mạch, công chính nên số phận của ông lên voi xuống, mấy phen đứng trước hoàn cảnh tuyệt vọng nhưng may mắn thoát chết. Trên con đường đầy chông gai ông chưa bao giớ ngưng nghĩ sáng tác, để lại cho đời những kiệt tác văn hóa,  thơ ngoài ngàn năm.

Tô Đông Pha là vầng trăng cổ tích. Thơ văn Tô Đông Pha và Tư trị thông giám của Tư Mã Quang là kiệt tác soi tỏ nhiều uẩn khúc của lịch sử. Mao Trạch Đông là người nghiền ngẫm rất kỹ các kiệt tác này. Ông đã đọc không biết bao nhiêu lần cuốn Tư trị thông giám để muốn từ trong rối loạn của lịch sử tìm ra đôi điều kinh bang tế thế ( xem Cuộc cờ Thế kỷ của Diệp Vĩnh Liệt, người dịch Thái Nguyễn Bạch Liên 1996).

Triều đại nhà Tống cai trị ở Trung Quốc từ năm 960 đến 1279, đến lúc  nhà Nguyên thay thế. Từ  Tống Thái Tổ  quân chủ khai quốc đến Tống Thái Tông, đã căn bản thành công dẹp được loạn của thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc, thống nhất Trung Quốc. Đến năm Tô Đông Pha ra đời (1037) cũng là lúc Tây Hạ  lập quốc, chiến  tranh Tống Hạ bùng phát và kéo dài liên tục suốt cho đến khi Tô Đông Pha mất ít năm thì Bắc Tống mất quyền kiểm soát phía bắc cho người Nữ Chân nhà Kim, triều đình nhà Tống trở thành Nam  Tống phải lui về phía nam sông Dương Tử và lập kinh đô ở Lâm An (nay là Hàng Châu). Đó là nơi có Tây Hồ, một cảnh đẹp nổi tiếng của Hàng Châu, chốn Tô Đông Pha trấn nhậm làm Thứ sử. Tô Đông Pha đã có công lớn với dân trong việc chống hạn hán, nạo vét ao hồ và và đắp đê, làm cầu để nay Tây Hồ trở thành di sản văn hóa thế giới được  UNESCO công nhận  năm 2011.

Tô Đông Pha, cuộc đời và thời thế có quan hệ rất mật thiết. Ông là danh nhân văn hóa và nhân chứng sống trãi suốt năm thời kỳ Liêu Hạ giao tranh, từ thời kỳ Tống Nhân Tông – Hạ Cảnh Tông, thời kỳ Tống Anh Tông–Hạ Nghị Tông, thời kỳ Tống Thần Tông–Hạ Huệ Tông, thời kỳ Tống Triết Tông–Hạ Sùng Tông, đến  Tống Huy Tông–Hạ Sùng Tông thì Tô Đông Pha mất.

Thời Tô Đông Pha quân Tống nhiều lần chiến bại trước Tây Hạ, do vậy Tống Nhân Tông đã bổ nhiệm các danh thần Phạm Trọng Yêm, Phú Bật, Hàn Kì , Bao Chửng  và “nghị hòa, dùng tiền của đổi hòa bình” nên đã hạn chế được sự khiêu khích gây hấn của Tây Hạ ở phía Bắc. Nhà Tống cũng bình định được cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao ở phía Nam. Đến thời của Tống Anh Tông, Tống Thần Tông, Tào thái hậu, Tống Triết Tông  thì đến lúc vua nhỏ kế vị, hoàng thái hậu tham chính, triều chính bè đảng, quan lại vô dụng, binh lính bất tài, quốc khố cạn kiệt, đất đai bị ngoại bang thôn tính, thuế khóa tăng cao, đời sống dân khổ, dẫn tới khởi nghĩa và bên ngoài thừa cơ lấn chiếm. Đây là thời kỳ “biến pháp và đảng tranh” với phe biến pháp của Vương An Thạch  và  phe bảo thủ của Tư Mã Quang . Chủ trương biến pháp của Vương An Thạch  bao gồm các cải cách tài chính, quân sự, giáo dục (thanh miêu, miễn dịch, thị dịch, bảo giáp, bảo mã, cải cách chế độ thi cử, tuyển dụng quan lại ). Vương An Thạch đã gặp thất bại. Về cải cách kinh tế, hành chính và giáo dục  thì bị sự chống đối của các quan lại theo cựu đảng như Tư Mã Quang, Tô Thức, Âu Dương Tu chê là hấp tấp “dực tốc bất đạt” và trái với chế độ và phong tục cũ từ thời Tam Hoàng – Ngũ Đế. Về quân sự thì việc đánh Đại Việt để tìm kiếm thắng lợi bên ngoài nhằm nâng cao sĩ khí dân chúng thì quân nhà Tống bị  Lý Thường Kiệt và quân dân Đại Việt đánh bại. Tô Đông Pha nhiều lần bị biếm, bị hãm hại nhưng luôn giữ công chính và trước tác không ngưng nghỉ.

todongphathongoaingannam4
TÔ ĐÔNG PHA CHUYỆN HAY NHỚ MÃI

Tô Đông Pha có cuộc đời, nhân cách và tài năng trác tuyệt. Tô Đông Pha, chuyện hay nhớ mãi;  Tô Đông Pha, uống rượu ở Tây Hồ; Chuyện tình Tô Đông Pha; Cuộc đời Tô Đông Pha; Kiệt tác Tô Đông Pha;  Giai thoại Tô Đông Pha; Tô Đông Pha vầng trăng cổ tích; Đó là những chuyện hay nhớ mãi. Khởi đầu là ” Chuyện vui của Tô Đông Pha” và tiếp nối lả “Chuyện tình của Tô Đông Pha”.


Chuyện vui về Tô Đông PhaTác giả Hoàng Kim (sưu tầm, tuyển chọn, biên soạn) đã kể chuyện này như sau:Tô Đông Pha là một nhà thơ nổi tiếng đời nhà Tống (1037-1101), ông rất quan tâm đến Phật giáo.Một ngày nọ, trong khi nghiên cứu kinh điển, ông cảm thấy rằng ông đã tỉnh thức và không có tư tưởng mông lung trong đầu óc.Cao hứng, ông đã viết một bài thơ nói rằng ông vững chắc như một tảng đá, không thể bị lay chuyển bởi tám ngọn gió cám dỗ (bát phong truy bất động): được, mất, vu khống, tâng bốc, khen, chê, sợ hãi, vui sướng.
Ngay sau đó, ông đã gửi một sứ giả mang bài thơ cho người bạn của mình, một nhà sư sống ở phía bên kia sông, bởi vì ông muốn biết ngưòi bạn nghĩ gì.
Nhà sư đã phê bình bài thơ là “ngớ ngẩn” và sau đó gửi trả lại.

Nhà thơ giận dữ và lấy thuyền đi gặp nhà sư. Khi đến bến, nhà thi sĩ đợi nhà sư. Ông chất vấn vị tu sĩ: “Tại sao sư lại nói rằng bài thơ của tôi là “ngớ ngẩn”?

Nhà sư mỉm cười và nói: “Trong bài thơ của ông bạn, ông nói rằng ông sẽ không bị lay chuyển bởi các thứ được, mất, vu khống, tâng bốc, khen, chê, sợ hãi, vui sướng. Tại sao bạn nổi giận chỉ vì một từ?

(*) Bản dịch tiếng Pháp La Grande Epoque của Đại kỷ nguyên về câu chuyện Tô Đông Pha có thay đổi đôi chút cho dễ hiểu đối với độc gỉa phương tây, cần truy cứu lại bản Hán văn và các bài viết 苏轼 của tiếng Trung, Su Shi, Su Dongpo của tiếng Anh, Tô Thức, Tô Đông Pha của tiếng Việt. Bài thơ “Mưa” rất nổi tiếng của Tô Đông Pha xem tiếp tại đây

Chuyện tình của Tô Đông Pha

Tác giả Huyền Viêm nguồn Việt Văn Mới của anh Từ Vũ  http://newvietart.com/index4.67.html đã kể câu chuyện này như sau:

Tô Đông Pha tên thật là Tô Thức, tự là Tử Chiêm, sinh năm 1036 (1), người huyện My Sơn, tỉnh Tứ Xuyên, đỗ tiến sĩ năm 1057 dưới đời vua Tống Nhân Tông, là một trong bát đại gia Đường Tống (2). Thơ văn ông nổi tiếng một thời, không ai sánh kịp. Ông lại có tài hội họa và viết chữ rất đẹp. Hoạn lộ long đong, nhiều lần bị biếm.

Ông Tô có một cô em họ xinh đẹp, hiền hậu và thông minh, ông yêu quí lắm và nàng cũng rất yêu ông nhưng không cưới được vì bà con gần quá nên mẹ ông ngăn cản. Ông ân hận suốt đời vì điều đó bởi đây là mối tình đầu của ông.Khi Tô Thức đã lớn, học giỏi, đủ sức đi thi thì cha mẹ lo cưới vợ cho ông (và cho cả em ông là Tô Triệt nữa) để có một nàng dâu ở trong miền vì e rằng nếu ông lên kinh thi đỗ thì sẽ bị các danh gia vọng tộc đem cái mồi vinh hoa phú quí ra nhử để gả con gái cho. Vợ ông họ Vương tên Phất, năm ấy ông mười tám tuổi và Vương Phất mười lăm.

Người Bạn Tình Chung

Nàng Vương là người vợ hiền, rất quí yêu chồng, thường đứng nép sau màn nghe chồng nói chuyện với khách và khuyên chồng nên xa lánh người này người khác :
– Người ấy luôn đón trước ý nhà để nói cho nhà vui lòng, giao du với họ chỉ mất thì giờ.
Hoặc nhắc nhở chồng :
– Nhà nên coi chừng hạng người vồn vã quá, người tốt giao du với nhau tình thường lạt như nước lã ; nước lã không có mùi vị đậm đà nhưng không bao giờ làm cho ta chán.
Đông Pha thường khen vợ về sự khôn ngoan này (3).Năm 1065 Vương Phất từ trần lúc nàng mới 26 tuổi, an táng tại Tứ Xuyên. Tô Thức thương tiếc lắm. Nàng để lại cho chồng một người con trai mới biết đi, tên là Tô Mại.
Trước khi từ giã cõi đời, nàng Vương Phất trối trăng với chồng là nên tục huyền với Vương Nhuận Chi, em họ của nàng và rất giống nàng để chăm sóc ông và nuôi dạy Tô Mại. Ông khóc mà nhận lời.
Mười năm sau (tức năm Ất Mão 1075), ông Tô đang làm tri châu ở Mật Châu (Sơn Đông), cách Tứ Xuyên hàng ngàn dặm, đêm nằm mơ thấy người vợ đã khuất, lúc thức dậy làm bài từ điệu “Giang thành tử” trong đó có những câu :…Thập niên sinh tử lưỡng mang mang
Bất tư lường
Tự nan vong
Thiên lý cô phần
Vô xứ thoại thê lương
Túng sử tương phùng ưng bất thức
Trần mãn diện
Mấn như sương…

Nguyễn thị Bích Hải dịch :

Mười năm sống thác đôi nơi,
Nghĩ mà chi, vẫn khôn nguôi nhớ nàng.
Cô đơn phần mộ dặm ngàn,
Nói làm sao xiết muôn vàn thê lương.
Gặp nhau còn nhận ra chăng?
Mặt bụi nhuốm, tóc pha sương ngỡ ngàng…

Tô Thức là người đầu tiên làm từ điệu vong.

Bảy năm sau (1082), khi ông Tô xuôi dòng Trường giang, cùng bạn thưởng trăng trên sông dưới chân núi Xích Bích, từ của ông còn phảng phất nỗi thương xót ngậm ngùi :

Cố quốc thần du
Đa tình ưng tiếu ngã
Tảo sinh hoa phát…
(Niệm Nô Kiều)

(Hồn thả về chơi cố quận
Bạn tình chung có lẽ cười ta
Chưa chi đầu đã bạc…)

Bạn tình chung nơi cố quận hẳn là vong hồn nàng Vương Phất. Năm ấy ông mới 46 tuổi.

Đấu Rượu Cho Chàng

Vợ mất ba năm, đoạn tang, năm 1068 Tô Thức theo lời vợ, tục huyền với cô em họ của Vương Phất là Vương Nhuận Chi, hai mươi tuổi. Không giỏi dắn đảm đang bằng chị nhưng nàng cũng rất quí yêu chồng, chăm sóc con của mình và con riêng của chồng (Tô Mại) rất chu đáo và suốt đời chia sẻ những khó khăn gian khổ với chồng.
Nàng là người hiền thục lại rất chiều chồng. Biết chồng thích rượu, lúc nào nàng cũng sắm sẵn một đấu rượu để khi chồng cần thì có ngay. Chuyện này Tô Thức kể lại trong bài “Hậu Xích Bích phú” như sau :

“Khách nói : Sẩm tối, tôi cất lưới được một con cá, miệng to vảy nhỏ, hình dáng tựa con lư ở Tùng Giang (4). Tìm đâu ra được rượu đây?
Tôi về bàn với nhà tôi. Nhà tôi đáp :“Thiếp có một đấu rượu, cất đã lâu, phòng lúc nhà bất thần dùng đến”. (Nguyên văn : Ngã hữu đấu tửu, tàng chi cữu hĩ. Dĩ đãi tử, bất thời chi nhu). Thế là xách rượu và cá, lại đi chơi dưới chân Xích Bích một lần nữa”.

Nhà phê bình văn học lỗi lạc của Trung Quốc là Kim Thánh Thán đời Thanh cũng có nhắc lại chuyện này trong lời phê bình cuốn “Mái Tây” (Tây sương ký) của Vương Thực Phủ. Ông viết :

“Mười năm chia tay bạn, chiều tối chợt bạn xuất hiện. Mở cửa, tay nắm chặt tay, chẳng kịp hỏi tới nhà mình bằng thuyền hay bằng ngựa. Cũng chẳng kịp mời ngồi ghế hay ngồi giường. Hàn huyên qua loa, vội chạy vào nhà trong, thấp giọng hỏi vợ rằng :

-“Mình liệu có đấu rượu của Tô Đông Pha không?

Vợ tươi cười rút cành trâm vàng đang cài trên đầu trao cho. Thế là đủ ba ngày cơm rượu…”

Bảy Cái Lò Lửa

Theo “Dục hải từ hàng” thì Tô Thức có đến bảy người thiếp. Phật Ấn, bạn thân của Tô Thức, là một vị cao tăng có tài hùng biện đời Tống, một hôm đùa bảo Tô Thức rằng :

– Bác có nhiều thiếp thế, tặng cho tôi cô thứ bảy được không?

Ông Tô cười đáp :

– Sao lại không?

Tưởng chỉ là lời nói đùa, không ngờ chiều tối ông Tô cho xe đưa người thiếp đến.

Phật Ấn đón người thiếp vào nằm trong buồng rồi buông màn. Trước buồng đã đặt sẵn bảy cái hỏa lò, cái nào cũng đầy than đỏ rực. Ông bước qua từng cái một, cứ bước qua bước lại như thế suốt đêm. Đến sáng, ông cho xe đưa người thiếp về trả. Nghe kể lại đầu đuôi câu chuyện, Tô Thức chợt “ngộ” ra :

– Bảy cái hỏa lò rực lửa kia là chỉ bảy người thiếp của ta cũng như bảy cái hang lửa. Ông làm thế là tỏ ra mình đã vượt ra khỏi vòng sắc dục, còn ta thì sa ngã đắm đuối vào đấy. Chắc là ông muốn thức tỉnh ta đây.

Người Vợ Tri Kỷ

Trong số các tì thiếp của mình, Tô Đông Pha yêu nhất nàng Triêu Vân. Nàng trẻ trung, xinh đẹp lại thông minh, giúp ông được nhiều việc. Lúc về với ông, nàng chưa biết chữ nhưng nhờ ông chuyên tâm dạy dỗ và nàng chăm chỉ học hành nên chẳng bao lâu nàng đã đọc thông viết thạo.

Cuộc gặp gỡ Triêu Vân là một sự may mắn lạ lùng. Khi bị biếm đến Hàng Châu, Tô Đông Pha thường hay ra chơi Tây hồ, một thắng cảnh nổi tiếng tại tỉnh này. Ven bờ Tây hồ, trong các vườn hoa ngào ngạt hương thơm có những trà thất nên thơ bên cạnh các hàng liễu rũ, đêm đêm vang lên tiếng đàn tiếng ca thánh thót, du dương của các nàng ca nhi xinh như mộng. Triêu Vân là một trong số các nàng ấy, bấy giờ mới hơn mười tuổi nhưng tài sắc của nàng nổi bật hẳn lên giữa đám ca nhi làm say lòng biết bao vương tôn công tử. Nàng có giọng ca rất lạ, khi trầm lắng như nghẹn ngào nức nở, khi mượt mà, bay bổng như ngọn gió mát lành trên mặt nước Tây hồ. Những bài từ của Tô Đông Pha chỉ có nàng ca là hay hơn cả khiến cho bao trái tim như ngừng đập và ông Tô rung động bồi hồi. Tình yêu bắt nguồn từ đó.

Nàng Vương Nhuận Chi biết chuyện nhưng không hề ghen tức. Một lần nàng đến tìm gặp Triêu Vân rồi về nói với chồng :

– Cô gái xinh đẹp này rồi sẽ rất cần cho nhà sau này đấy. Thiếp sẽ mua Triêu Vân.

Và nàng Vương đã giữ lời. Ít lâu sau, Triêu Vân về với ông và nhanh chóng trở thành một đôi uyên ương tương đắc mặc dù tuổi tác khá chênh lệch : nàng kém ông những 27 tuổi ! Vương Nhuận Chi coi nàng như cô em gái bé bỏng, và khi đến Hoàng Châu, nàng đã chính thức cưới Triêu Vân để làm thiếp cho chồng. Ông Tô rất mến phục nàng về việc ấy.

Đông Pha yêu Triêu Vân không chỉ vì nàng xinh đẹp, thông minh mà còn vì nàng là tri kỷ của ông, rất hiểu lòng ông, tâm đầu ý hợp. Vương Thế Trinh, người đời Minh, kể trong “Điệu hước biên” rằng : “Một hôm Đông Pha đi chầu vua về, ăn no, lấy tay xoa bụng đi lại trong dinh, hỏi những người theo hầu :

– Các ngươi hãy đoán xem cái gì trong này?

Kẻ thì bảo toàn là văn chương cả, người thì thưa : nơi chứa ruột gan, kẻ thì cho là toàn cao lương mỹ vị. Đông Pha vẫn không hài lòng. Đến lượt mình, Triêu Vân cười đáp :

– Kẻ sĩ của triều đình nhưng ôm trong bụng toàn những thứ không hợp thời cả (nguyên văn : Triều sĩ nhất đỗ bì bất hợp thời nghi). Đông Pha thích chí cười ha hả”.
Ấy là nàng rất hiểu lòng ông. Bấy giờ phe tân đảng của Vương An Thạch, Chương Đôn, Lữ Huệ Khanh, Lý Định đang muốn dùng “biến pháp” để cải cách nền chính trị lạc hậu của nhà Tống, còn Đông Pha thì theo cựu đảng của Tư mã Quang chống lại biến pháp của Vương An Thạch nên nhiều phen bị phe tân đảng tâu vua giáng chức và đày ông tới những nơi cùng tịch, khổ sở thiếu thốn trăm bề.

Khi ông bị Chương Đôn lưu đày xuống Huệ Châu (Quảng Đông) chỉ có mình Triêu Vân theo hầu, các tì thiếp khác chịu cực không nổi nên bỏ đi cả rồi, nàng Vương Nhuận Chi đã mất. Có lần trò chuyện, Đông Pha nói với Triêu Vân :

– Mọi người ai cũng bảo ta có phúc hơn Bạch Cư Dị.

– Nhà nói thế là có ý gì?

– Khi Bạch Cư Dị bị giáng chức và bị biếm ra làm Tư mã Giang Châu, người thiếp yêu của ông đã bỏ đi lấy chồng, còn nàng thì luôn luôn theo sát bên ta đến tận chân trời góc bể vào những lúc hoạn nạn khó khăn nhất. Thế chẳng phải là ta có phúc hơn Bạch Cư Dị sao?

Triêu Vân khe khẽ cúi đầu, nước mắt rưng rưng.

Triêu Vân yêu quí chồng hơn hẳn hai bà trước, vui lòng chia sẻ với chồng những nỗi khổ cực gian nan nên ông rất quí nàng, thường làm thơ ca tụng. Ông bảo Triêu Vân là nàng tiên trên trời bị đọa xuống trần để trả nợ thay ông. Năm 1083 Triêu Vân sinh một đứa con trai nhưng không nuôi được. Đông Pha cho rằng vì mình thông minh và tài hoa quá nên thường hay gặp nạn, con cái thì hữu sinh vô dưỡng, bèn làm thơ tự mỉa mình :

Đãn nguyện tử tôn ngu thả độn,
Vô tai vô hại đáo công khanh.

(Chỉ mong con cháu ngu và xuẩn,
Bình an vô sự mà tới chức công khanh)

Một buổi chiều có gió heo may và sương thu lạnh, Đông Pha ngồi chơi với Triêu Vân. Ông bảo nàng cầm cốc rượu làm phách đánh nhịp, hát bài từ của ông theo điệu “Điệp luyến hoa”.
Triêu Vân vừa ca vừa khóc. Ông hỏi tại sao. Nàng chỉ vào hai câu :

Chi thượng liễu miên xuy hựu thiểu,
Thiên nhai hà xứ vô phương thảo.

(Tơ liễu trên cành phơ phất gió,
Nơi chân trời, chẳng nơi nào là không có cỏ thơm)

Ông cười lớn :

– Ta ngậm ngùi với mùa thu mà nàng thì khóc với mùa xuân ! (5).

Ở Huệ Châu chưa được bao lâu thì tể tướng Chương Đôn lại có lệnh đày ông Tô ra đảo Hải Nam, một hòn đảo bấy giờ chỉ có thổ dân man rợ và muốn ông chết ở đấy. Ông Tô muốn để gia đình ở lại Huệ Châu, chỉ một mình ra đảo nhưng Triêu Vân không chịu :

– Không ai chăm sóc chồng bằng vợ. Lúc chị Vương Nhuận Chi sắp mất, thiếp có hứa với chị là suốt đời cùng sống chết với nhà. Hãy để cho thiếp giữ trọn lời hứa, cho thiếp đi theo, thiếp sẵn sàng chịu mọi nỗi gian truân của kẻ đi đày.

Ông Tô rất xúc động, khôn ngăn đôi dòng lệ.

Nhưng chưa kịp ra đảo thì nàng đã ốm nặng rồi từ trần (1096). Một cơn sốt rét ác tính đã cướp đi mạng sống của nàng lúc mới 34 tuổi. Ông Tô gục xuống bên nàng để mặc cho dòng lệ tuôn trào như suối. Ông không chỉ khóc cho một người vợ mà còn khóc cho một người tri âm, tri kỷ không dễ gì gặp được trên đời.

Ông an táng nàng trước một rừng thông, cạnh một ngôi chùa và viết bài minh trên mộ chí :

“Thị thiếp của Đông Pha tiên sinh là Triêu Vân, tự Tử Hà, họ Vương thị, người Tiền Đường. Thông minh và thích việc nghĩa, thờ tiên sinh 23 năm, một mực trung và kỉnh. Năm Thiệu Thánh thứ ba (1096), tháng bảy, ngày Nhâm Thìn, mất ở Huệ Châu, 34 tuổi. Tháng tám, ngày Canh Thân, táng trên Phong Hồ, phía đông nam chùa Thê Hiền. Sinh con tên Độn, chưa đầy năm đã yểu. Nàng thường theo tì khưu ni Nghĩa Xung học Phật pháp, cũng biết sơ qua đại ý. Lúc sắp chết, tụng bốn câu kệ trong kinh Kim Cương rồi tuyệt” (6).

Ông làm thơ khóc nàng, lời lẽ rất xót xa cảm động, ví nàng như đám mạ đã xanh nhưng chưa kịp trổ đòng đòng, người có tư chất tốt mà chết sớm, chưa làm được việc gì có ích. Đó là mệnh trời ư? (Miêu nhi bất tú khởi kỳ thiên !).

Từ đó cảnh già của ông ở đảo Hải Nam thật cô đơn buồn tẻ. Tháng giêng năm 1100, vua Triết Tông (7) băng lúc mới 24 tuổi. Vị hoàng tử duy nhất, con trai ông, chết lúc ba tháng tuổi. Vì thế ngôi vua lại về tay Huy Tông, chú của Triết Tông. Lên ngôi xong, công việc đầu tiên của Huy Tông là cách chức tể tướng Chương Đôn và đày đi Lôi Châu rồi cho phục chức tất cả các đại thần bị Chương Đôn đày ải, truy phong cho những người đã bị Chương Đôn sát hại.

Thế là Tô Đông Pha được ân xá, rời đảo Hải Nam để lên đường về bắc.. Nhưng bấy giờ ông đã già yếu lắm rồi, nhất là sau nhiều năm bị đày ải. Chỉ một năm sau ông đã từ trần tại Thường Châu (1101) thọ 65 tuổi, kết thúc một cuộc đời tài hoa lận đận. *

(1) Có sách ghi 1037.
(2) Bát đại gia Đường Tống : tám văn thi hào lớn đời Đường Tống. Đời Đường có Hàn Dũ và Liễu Tông Nguyên. Đời Tống có Tô Tuân, Tô Thức, Tô Triệt, Tăng Củng, Âu Dương Tu và Vương An Thạch.
(3) Theo cuốn “Tô Đông Pha” của Nguyễn Hiến Lê (NXB An Giang 1990).
(4) Huyện Tùng giang, tỉnh Giang Tô có loại cá lư, ăn rất ngon.
(5-6) Theo cuốn “Tô Đông Pha – những phương trời viễn mộng” của Tuệ Sỹ (NXB Ca Dao Sài Gòn 1973).
(7) Vua Triết Tông là học trò của Tô Đông Pha. Chính nhà vua đã ký lệnh đày thầy học của mình xuống phương nam.

todongphathongoaingannam6

KIỆT TÁC THƠ VĂN TÔ ĐÔNG PHA

Tô Đông Pha giỏi cả về cổ văn lẫn thơ, phú. Tác phẩm của ông có tổng cộng trên một triệu chữ, riêng về  thi từ có khoảng 1700 bài, nhiều bài đặc biệt nổi tiếng (xem Trang thơ Tô Thức trên Thi Viện, Tô Đông Pha, uống rượu ở Tây Hồ; ). Cổ văn của ông là “thiên hạ vô địch”,  “hành vân, lưu thủy”như mây trôi nước chảy, trong đó Hậu Xích Bích phú, Tiền Xích Bích phú là hai viên ngọc quý cổ văn Trung Hoa được người đời rất ngưỡng mộ.

Mộ Tô Đông Pha tại thôn Điếu Đài huyên Hiệp Thành, Nhữ Châu ngày nay. Những kiệt tác thơ văn của ông  Tiền Xích Bích phú  Hậu Xích Bích phú,  hai viên ngọc của cổ văn Trung Hoa, tiếc là nay chưa có bản dịch Việt nào đủ tầm diễn đạt được tâm tình tài trí của áng thơ văn kiệt tác này của ông

Thủy Điệu Ca

Minh nguyệt kỉ thời hữu?
Bả tửu vấn thanh thiên:
“Bất tri thiên thượng cung khuyết,
Kim tịch thị hà niên?”
Ngã dục thừa phong qui khứ,
Hựu củng huỳnh lâu ngọc vũ,
Cao xứ bất thăng hàn.
Khởi vũ lộng thanh ảnh,
Hà tự tại nhân gian!
Chuyển chu các,
Ðê ỷ hộ,
Chiếu vô miên,
Bất ưng hữu hận,
Hà sự trường hướng biệt thời viên?
Nhân hữu bi hoan li hợp,
Nguyệt hữu âm tình viên khuyết,
Thử sự cổ nan toàn.
Ðãn nguyện nhân trường cửu,
Thiên lý cộng thiền quyên.
Bản dịch
Mấy lúc có trăng thanh?
Cất chén hỏi trời xanh:
“Cung khuyết trên chính từng,
Ðêm nay là đêm nào?”
Ta muốn cưỡi gió bay lên vút,
Lại sợ lầu quỳnh cửa ngọc,
Trên cao kia lạnh buốt.
Ðứng dậy múa giỡn bóng,
Cách biệt với nhân gian!
Trăng quanh gác tía,
Cúi xuống cửa son,
Dòm kẻ thao thức,
Chẳng nên ân hận,
Sao cứ biệt li thì trăng tròn?
Ðời người vui buồn li hợp,
Trăng cũng đầy vơi mờ tỏ,
Xưa nay đâu có vạn toàn.
Chỉ nguyện đời ta trường cửu,
Bay ngàn dặm cùng với thuyền quyên.
 

Dich thuật: Nguyễn Hiến Lê

Chào ngày mới 7 tháng 1


Steve Jobs
CNM365
. Chào ngày mới 7 tháng 1. Ngày này năm xưa. Ngày 7 tháng 1 năm 2003,  Steve Jobs công bố tại San Francisco rằng Apple phát triển được trình duyệt web riêng của họ, mang tên Safari; Ngày 7 tháng 1 năm 1979 Ngày Chiến thắng diệt chủng ở Căm pu chia; Quân đội Việt Nam đánh chiếm thủ đô Phnôm Pênh của Campuchia, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Campuchia Pol Pot và chính quyền Campuchia Dân chủ tẩu thoát. Ngày 7 tháng 1 năm 1610, Galileo Galilei lần đầu tiên quan sát thấy bốn vệ tinh: Ganymede, Callisto, IoEuropa; xem tiếp https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-7-thang-1/; Bài chọn lọc Quả táo Apple Steven Job;  Ga li lê nhà thiên văn học Ý; Đối tửu họa vần cụ Tố Như


QUẢ TÁO APPLE STEVEN JOBS.

Hoàng Kim.
Steven Paul
sinh ngày 24 tháng 2 năm 1955 mất ngày 5 tháng 10 năm 2011,  là doanh nhân và nhà sáng chế người Mỹ. Ông là đồng sáng lập viên, chủ tịch, và cựu tổng giám đốc điều hành của hãng Apple, là một trong những người có ảnh hưởng lớn nhất ở ngành công nghiệp vi tính. Trước đó ông từng làm tổng giám đốc điều hành của xưởng phim hoạt hình Pixar; sau đó trở thành thành viên trong ban giám đốc của công ty Walt Disney năm 2006, sau khi Disney mua lại Pixar. Ông được công nhận là điều hành sản xuất của bộ phim Toy Story  công chiếu năm 1995.

Ba quả táo làm thay đổi thế giới: quả táo trong vườn địa đàng Adam và Eva, quả táo rơi trúng Newton, và quả táo cắn dở của Steve Jobs, cựu CEO của hãng Apple, con người huyền thoại của thế kỷ 21. Những câu chuyện về Jobs luôn là nguồn cảm hứng dồi dào cho thế hệ trẻ. Quả táo là Apple. Quả táo cũng là Steven Jobs. Quả táo là loại trái cây ngon phổ biến nhất hành tinh. Quả táo nay cũng là máy tính chất lượng Apple, thương hiệu giá trị nhất thế giới. Quả táo Steven Jobs cũng như Kiều Nguyễn Du. Ai nói đến Kiều lập tức gợi nhớ Nguyễn Du; ai nói đến Quả táo Apple lập tức gợi nhớ Steven Jobs và ngược lại. Thương hiệu Apple, điều hay nhất là “quả táo có cắn một miếng”. Chúng ta nhìn quả táo Jobs đã cắn một miếng mà thấy thèm. Táo ngon mọi người đều thèm cắn. Apple Steven Jobs làm nên giá trị Mỹ, là tấm giấy thông hành của nước Mỹ đi ra thế giới.

Tôi kể em nghe “câu chuyện quả táo”,“câu chuyện về ông chủ apple”, “hoa và ong” với những trãi nghiệm và suy ngẫm của riêng mình. Thật lạ lùng ý tưởng này của tôi lại trùng hợp với thầy Nguyễn Lân Dũng. Thầy Lân Dũng cũng nâng niu, sưu tầm, biên soạn Câu chuyện ông chủ Apple. Thầy đã gần tám mươi tuổi mà vẫn thật tận tụy thu thập tuyển chọn thông tin về các điều hay lẽ phải, những gương sáng lập nghiệp để trao lại cho lớp trẻ. Biển học vô bờ, siêng năng là bến. Kiến thức nhân loại là mênh mông như biển và cao vọi như núi. Việc chính đời người là chọn lọc thông tin để dạy, học và làm được những điều bổ ích cho chính mình, cộng đồng và đất nước. Việt Nam chúng ta đã có tấm giấy thông hành của một đất nước độc lập, đẹp và thân thiện với những danh nhân minh triết dựng nước, giữ nước và nhiều gương anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang nhưng vẫn thiếu vắng những thương hiệu Việt lừng lẫy như Apple Steven Jobs. (xem tiếp…)


GA LI LÊ NHÀ THIÊN VĂN HỌC Ý

Hoàng Kim
Ga-li-lê (
phiên âm tiếng Việt của Galileo Galilei) sinh ngày 15 tháng 2 năm 1564 mất  8 tháng 1 năm 1642 là một nhà thiên văn học, vật lý học, toán học và triết học người Ý, người đóng vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng khoa học. Các thành tựu của ông gồm những cải tiến cho kính thiên văn và các quan sát thiên văn sau đó, và ủng hộ Chủ nghĩa Copernicus thuyết nhật tâm (Mặt Trời ở trung tâm). Galileo đã được gọi là “cha đẻ của việc quan sát thiên văn học hiện đại”, “cha đẻ của vật lý hiện đại”, “cha đẻ của khoa học”, “cha đẻ của Khoa học hiện đại.” Stephen Hawking đã nói, “Galileo, có lẽ hơn bất kỳ một người riêng biệt nào, chịu trách nhiệm về sự khai sinh khoa học hiện đại. (xem tiếp…)

 

Đối tu (Nguyn Du – 阮攸, Vit Nam)

對酒

趺坐閒窗醉眼開,
落花無數下蒼苔。
生前不盡樽中酒,
死後誰澆墓上杯。
春色霑遷黄鳥去,
年光暗逐白頭來。
百期但得終朝醉,
世事浮雲眞可哀。

Đối tửu

Phu toạ nhàn song tuý nhãn khai,
Lạc hoa vô số há thương đài.
Sinh tiền bất tận tôn trung tửu,
Tử hậu thuỳ kiêu mộ thượng bôi ?
Xuân sắc niệm thiên hoàng điểu khứ,
Niên quang ám trục bạch đầu lai.
Bách kỳ đãn đắc chung triêu tuý,
Thế sự phù vân chân khả ai.

Dịch nghĩa

Ngồi xếp bằng tròn trước cửa sổ, rượu vào hơi say mắt lim dim,
Vô số cánh hoa rơi trên thảm rêu xanh.
Lúc sống không uống cạn chén rượu,
Chết rồi, ai rưới trên mồ cho ?
Sắc xuân thay đổi dần, chim hoàng oanh bay đi,
Năm tháng ngầm thôi thúc đầu bạc.
Cuộc đời trăm năm, chỉ mong say suốt ngày.
Thế sự như đám mây nổi, thật đáng buồn.

Trước ly rượu
Bản dịch của: Lão Nông
(Hoahuyen)

Bên cửa xếp bằng ngất ngưởng say
Cánh hoa rơi phủ thảm rêu đầy
Sống chưa vơi nửa lưng ly rượu
Chết hỏi rằng ai tưới mộ đây?
Xuân đã xa dần oanh bỏ tổ
Tháng năm bàng bạc tóc màu mây
Trăm năm chỉ ước say mềm mãi
Thế sự bèo mây… ngẫm đắng cay

Mời các bạn tham gia dịch hoặc họa cùng Cụ Nguyễn Du


Hai ông bạn nhậu trước tượng đài Cụ Nguyễn Du

Bộ ba Xe Pháo Mã

Xe pháo nghênh ngang kết mã hồi
Tâm đầu ý hợp rủ nhau chơi
Hoàng Đào ngật ngưỡng ly Cao gạo
Thơ thới bình an sáng núi đôi

Hoahuyen (683) Bài họa 1:

MONG ƯỚC TRI ÂM (684)

Kẻ tung người hứng mãi chưa say
Góc quán rêu phong… mốc phủ đầy
Đối tửu, rượu buồn ly lẳng đó
Ngó hoa, bông héo cuống quăng đây
Già xuân khật khưỡng run chân giữa
Luống tuổi lềnh bềnh trắng tóc mây
Mong ước tri âm… tri kỷ mãi
Chia bùi, sẻ ngọt nếm chua cay

Hoahuyen Bài họa 2

VẪN SAY VỚI MEN CAY

Bác ơi, chẳng phải ít người say
Bởi tại vần thơ chửa ráp đầy
Ráng chỉnh chu thêm nên dấu xó
Khi hoàn tất đủ ắt khoe đây
Trẻ thời khép nép e ra gió
Già tất khoan thai lướt vén mây
Tri kỷ xá chi đâu tuổi tác
Nâng ly ngâm phú thả men cay

Học trò trường thuốc Bài họa 3

ĐẮNG CAY

Rượu nồng chưa uống đã ngời say
Trộm mắt nhìn nhau lệ thấm đầy
Dạ trách lòng than oan trái quá
Môi cười miệng đắng trớ trêu đây
Duyên tình xa thoảng trôi hương gió
Ân nghĩa vơi dần khuất bóng mây
Đau thấu ruột gan thân phận lẻ