Chào ngày mới 8 tháng 2


CNM365. Chào ngày mới 8 tháng 2. Hoàng Thành Thăng Long Di sản Thế giới. Ngày này năm xưa. Ngày 8 tháng 2 năm 1575, Đại học Leiden được thành lập với khẩu hiệu Pháo đài tự do, là trường đại học cổ xưa và danh tiếng nhất Hà Lan. Ngày 8 tháng 2 năm 1725, ngày mất Pie Đại Đế, Sa hoàng Nga, nhân vật lịch sử nổi tiếng nhất nước Nga (sinh năm 1672). Ngày 8 tháng 2 năm 1762, ngày sinh của  Gia Long, Hoàng đế đầu tiên của nhà Nguyễn (mất năm 1820); Bài chọn lọc: Thăng Long thời Gia Long; Thăng Long và Gia Long, Mình cùng đọc truyện Táo Quân;  Sự tích Táo Quân,  Truyện Pie Đại đế; Tuyệt vời Quê Choa Đinh Đình Chiến; Câu nói Anh yêu Em; Sóc ơi Ngày Táo Quân, Bà Mẹ chăm bếp xuân, Ông dành trọn ngày lành, để dọn vườn đón cháu, khu vườn thiêng cổ tích, cháu về thăm ông bà, …….; Lộc xuân Nguyễn Đức Đát và bạn hữu;  xem tiếp… https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-8-thang-2/

Thăng Long thời Gia Long
Hoàng Kim

Khu Trung tâm Hoàng Thành Thăng Long là Di sản văn hóa Thế giới UNESCO năm 2010. Những giá trị nổi bật toàn cầu của khu di sản này được ghi nhận với ba đặc điểm nổi bật : Chiều dài lịch sử văn hóa suốt 13 thế kỷ; tính liên tục của một di sản với tư cách là một trung tâm quyền lực; và các tầng di tích di vật đa dạng phong phú. Đối chiếu dấu tích di sản khu Trung tâm Hoàng Thành Thăng Long thời Lê với Thăng Long thời Gia Long, tôi đồng tình với nghiên cứu lịch sử của Võ Hương An: “Trong niên hiệu Gia Long 嘉隆, thông qua việc đổi ý nghĩa chữ Long trong cái tên Thăng Long cho phù hợp với niên hiệu, vua Gia Long đã muốn đưa ra một tuyên ngôn ngắn gọn: tôi là người đầu tiên trong lịch sử đã đi từ Gia Định thành đến Thăng Long thành để hoàn thành cuộc thống nhất nước Việt sau bao nhiêu năm bị chia xẻ“.

 

Thăng Long và Gia Long
Võ Hương An

Tình cờ, đọc thấy những dòng này trên Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.

Hà Nội

Năm 1802, khi nhà Nguyễn chuyển kinh đô về Huế, nó lại được đổi tên thành Thăng Long, nhưng lần này chữ “Long” (隆) biểu hiện cho sự thịnh vượng, chứ không phải là rồng, với lý do rằng rồng là tượng trưng cho nhà vua, nay vua không ở đây thì không được dùng chữ “Long” là “rồng” (Trần Huy Liệu (chủ biên), Lịch sử thủ đô Hà Nội, H. 1960, tr 81).
(http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_N%E1%BB%99i#T.C3.AAn_g.E1.BB.8Di)

Tôi không có trong tay tác phẩm của Gs Trần Huy Liệu, và mặc dầu ông đã thành danh từ lâu trong ngành Sử học, nhưng tôi không dám tin kiến giải đó.

Một chút lịch sử

Phải đi ngược cả ngàn năm trước mới gặp tổ tiên của Hà Nội ngày nay. Mùa thu năm Canh Tuất (1010), vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) dời đô từ Hoa Lư ( thuộc Ninh Bình) ra thành Đại La, vì đất Hoa Lư chật hẹp, khó mở mang, và “Trẫm nay mở xem địa đồ, Đại La thành, kinh đô cũ của Cao Biền, ở trung tâm đất nước [lúc bấy giờ], có hình thể như rồng bò hổ phục, bốn phương sum họp, người và vật đông nhiều, thực là chỗ kinh đô quí nhất của đế vương. Trẫm muốn nhân chỗ địa lợi ấy đóng làm kinh đô…

Khi “Thuyền ngự đến bên thành, có con rồng hiện ra . Nhà vua sai đổi tên thành Thăng Long.” (Cương mục I, tr.285)

Từ đó, trải qua các triều Lý, Trần, Lê, Lê-Trịnh, suốt mấy trăm năm, tất cả đều chọn Thăng Long làm kinh đô. Sau khi Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ dứt Lê-Trịnh, ông đã không đóng đóng đô ở Thăng Long mà chỉ chọn Phú Xuân. Thăng Long được đổi gọi là Bắc thành.

Sau khi Nguyễn Vương tái chiếm Phú Xuân vào tháng 6/1801, đuổi vua Cảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản) và triều đình Tây Sơn chạy ra Bắc, các quan dâng biểu khuyên Nguyễn Vương lên ngôi và đổi niên hiệu; Ngày 1 tháng 5 năm Nhâm Tuất (1802), vua cho lập đàn tại đồng làng An Ninh, làm lễ tế cáo trời đất; hôm sau, mồng 2 tháng 5, làm lễ kính cáo tổ tiên và chính thức ban bố niên hiệu Gia Long 嘉隆 (tốt đẹp hưng thịnh). Nhà Nguyễn gọi ngày 2 tháng 5 là ngày Hưng quốc khánh niệm, ngày quốc khánh của nước Việt Nam, Đại Nam, cho đến năm 1945.

Tháng 7 năm 1802, vua Gia Long thu phục Thăng Long, chấm dứt triều Tây Sơn. Vua đặt chức Tổng trấn Bắc thành, lấy thành Thăng Long làm lỵ sở để trông coi việc cai trị 11 trấn của miền Bắc.

Mùa hè năm Gia Long thứ 4 (1805) vua ra lệnh đổi tên Thăng Long 升龍 thành Thăng Long 升隆, nghĩa là đổi nghĩa của chữ Long. Các dịch giả Khâm định Việt sử thông giám cương mục (gọi tắt Cương mục) của Viện Sử Học, khi dịch đến chữ Thăng Long đã cẩn thận chú thích (1) Chữ “Thăng Long” đời Lý là “Rồng lên”, khác với nghĩa chữ “Thăng Long” thời Gia Long là “Thịnh vượng”.

Quả ý nghĩa đúng như thế. Nhưng câu hỏi đặt ra ở đây là: nhà vua thay đổi chữ long từ 龍 ra 隆 là vì sao?

-Vì rồng là tượng trưng cho nhà vua, nay vua không ở đây thì không được dùng chữ “Long” là “rồng” như Gs Trần Huy Liệu đã giải thích chăng?

-Hay là vì kiêng húy? Hay gì khác?

Nhà Nguyễn và vấn đề kiêng húy

Húy, là tên người chết, phải tránh đi, không được nhắc đến. Đó là tập tục cổ truyền của người Việt, đi đến chỗ cưỡng hành ở cấp quốc gia đối với nhà cầm quyền.

Với Nhà Nguyễn, mỗi triều vua đều có công bố những chữ húy và chỉ thị rõ ràng về cách tránh. Vừa lên ngôi, năm Minh Mạng nguyên niên (1820) vua đã có lệnh cấm về các chữ huý. Qua năm Minh Mạng thứ 6 (1825) lệnh này được lặp lại và nói rõ, nếu ai vi phạm sẽ chiếu luật vi chế, xử tội nặng nhẹ tuỳ trường hợp. Những chữ này được xếp vào loại quốc huý, nghĩa là cả nước phải kiêng.

Có 5 chữ húy khi đọc thì phải tránh ra tiếng khác, khi làm việc thì phải dùng chữ khác. Đó là Noãn (= nhật 日+ viên 爰) đổi thành úc 澳 ; Chủng (= hòa 禾 + trọng 重) đổi thành thực 植 ; Ánh (= nhật 日+ ương 央) đổi thành chiếu 照 (ba chữ này là tên vua Gia Long) ; Hiệu (= nhật 日+giao 交) đổi thành hạo 恔 ; Đởm, Đảm 膽 (= nhục 月 + nhiêm 髯) đổi thành chữ phủ 腑 (hai chữ sau này là tên vua Minh Mạng).

-Có 4 chữ huý khi đọc, phải tránh ra tiếng khác, khi viết văn, phải thêm nét vào, không được dùng để đặt tên đất, tên người. Đó là Hoàn 環 đổi thành viên 圓 ; Luân (= nhật 日+luân侖), đổi thành diệu 曜 ; Lan 蘭 đổi thành hương 香; và Đang 璫 đổi thành đương.

– Có 11 chữ huý, đồng âm khi làm văn không cấm nhưng trong dân gian nếu có ai đặt tên trùng với những chữ sau đây thì phải đổi và không được đặt tên người: Kim 衿 (Nguyễn Kim), Hoàng 湟 ( chúa Tiên Nguyễn Hoàng), Nguyên 源 (chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên), Lan 澜 (chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan), Tần 瀕 ( chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần), Thái (Trăn) 溱 (Chúa Ngãi Nguyễn Phúc Thái), Chu 洙 ( chúa Minh Nguyễn Phúc Chu), Thụ (Trú) 澍 ( chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ), Khoát 濶 (Võ vương Nguyễn Phúc Khoát), Hiểu 曉 (Thế tử Hiểu), Thuần 淳 (Định vương Nguyễn Phúc Thuần).

Quốc Sử Quán khi chép sử không được phép ghi tên thật mà phài ghi theo lối chiết tự. Ví dụ : vua Gia Long tên là Ánh 映 thì sẽ chép húy của ngài bên tả có chữ nhậtbên hữu có chữ ương 央 ; người đọc tự mình ghép chữ sẽ biết ngay đó là chữ gì.

Càng về sau chữ huý ngày càng nhiều. Kể từ đời Thiệu Trị (1841-1847) trở đi — sau khi vua Minh Mạng ban bành Ngự chế mạng danh thi, chọn 20 tên viết với bộ nhật để làm tên chính thức cho người làm vua, khắc vào sách vàng — thì một vua Nhà Nguyễn có năm tên :

  1. Danh tự : tên tự, tục danh, tên do cha mẹ đặt khi sinh ra;
  2. Ngự danh : tên chính thức khi lên làm vua, lấy trong Kim sách ;
  3. Niên hiệu : tên của triều đại ;
  4. Thuỵ hiệu : tên đặt sau khi chết , dùng để khấn vái khi cúng tế;
  5.  Miếu hiệu : danh hiệu để thờ trong miếu và gọi trong sử.

Danh tựngự danh đều là trọng huý, phải tránh dùng và tránh gọi. Khi có vua mới, Bộ Lễ có nhiệm vụ rà soát tất cả các địa danh trong nước, hễ thấy nơi nào trùng với danh tự và ngự danh phải xin đổi ngay. Ví dụ : vua Thiệu Trị có tên khi sanh ra là Dung, vua Minh Mạng cho tên mới là Tông, và có ngự danh là Tuyền, làm vua lấy niên hiệu Thiệu Trị. Vậy là cửa Tư Dung ở Thừa Thiên phải đổi làm cửa Tư Hiền, các danh xưng nào có chữ Tông đều phải đổi lại thành Tôn (Lê Thánh Tôn, Tôn Nhơn Phủ), ngay cả cái ấn Trị Lịch Minh Thời Chi Bửu đúc bằng bạc từ đời Gia Long, rồi đúc lại bằng vàng đời Minh Mạng, dùng để đóng trên các cuốn lịch do Khâm Thiên Giám soạn và ban hành hàng năm, cũng phải bỏ, đúc ấn mới, đặt tên là Đại Nam Hiệp Kỷ Lịch Chi Bửu để thay thế, vì ấn cũ có chữ Trị, phạm húy Thiệu Trị.

Để tránh phạm huý, nhiều chữ đã được gọi khác đi. Ví dụ Hoa đổi thành Bông, tỉnh Thanh Hoa được đổi làm Thanh Hoá, cầu Đông Hoa đổi làm cầu Đông Ba vì kiêng tên bà Hồ Thị Hoa là thân mẫu của vua Thiệu Trị. Hồng đọc là Hường, Nhậm đọc là Nhiệmvì vua Tự Đức có tên là Hồng Nhậm. Ngự danh của vua Tự Đức là Thì nên thì phải đọc thành thời. Do sự bắt buộc phải kiêng húy này mà từ đời Tự Đức (1847-1883) trở về sau người Việt đã phải dùng chữ thời gian thay vì nói thì gian như trước kia ; và cũng từ đó tên Ngô Thì Nhiệm trở thành Ngô Thời Nhậm, v.v.

Sở dĩ người viết phải dài dòng về việc kiêng huý dưới triều Nguyễn là để bạn đọc thấy rõ việc kiêng húy đối với triều đại này quan trọng biết chừng nào, vậy mà vua Gia Long đã sửa chữ Long trong Thăng Long với cách viết chữ Long y như niên hiệu của vua. Vua đã không kiêng, không bảo người ta kiêng, lại còn “đồ” cho đậm nét thêm. Là sao?

Là sao? Sẽ trả lời sau, nhưng điều tôi có thể hiểu được là: vua đã không cần kiêng húy thì sá gì việc vì rồng là tượng trưng cho nhà vua, nay vua không ở đây thì không được dùng chữ “Long” là “rồng” như Gs Trần Huy Liệu đã giải thích. Vì vậy, tôi không nghĩ lời giải thích kia là hợp lý.

Tâm tư và ước vọng gởi trong cái tên

Cha mẹ nào khi đặt tên cho con cũng muốn đặt vào đấy một chút niềm tin và hy vọng nào đó dù có khi đặt tên là Út với một quyết tâm hạn chế sinh đẻ nhưng lại “lỡ việc” mà sinh ra Út-1, Út-2 hay Út-nữa! Các nhà Nho xưa, khi chọn tên tựhiệu cho mình cũng trầm tư nhiều lắm. Phan Bội Châu bôn ba nơi hải ngoại mấy chục năm, một đời lo việc nước, lòng vẫn canh cánh nhớ về tổ quốc nên lấy hiệu Sào Nam, bởi chim Việt đậu cành Nam (Việt điểu sào nam chi). Huống chi là vua, người tự nhận thừa mệnh trời chăn đắt muôn dân. Biết bao là tâm tư và ước vọng muốn gởi vào đó. Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phước, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định, Bảo Đại, mỗi niên hiệu là một tuyên ngôn, một kỳ vọng, một sự cô đọng ý nghĩa của biết bao sách vở thánh hiền.

Trong sự hiểu biết hạn hẹp của người viết, chưa tìm thấy một tài liệu chính thức nào của triều đại giải thích về ý nghĩa của mỗi niên hiệu. Chỉ có một lần, sau lễ đăng quang của vua Khải Định vào ngày 18/5/1916, ông Đặng Ngọc Oánh, Tham tri Bộ Lại, Tổng lý Viện Cơ mật, có viết một bài tường thuật tỉ mỉ lễ đăng quang này, trong đó kể chi tiết việc vua chọn niên hiệu. Theo đó, ngay hôm Phụng Hóa Công Bửu Đảo nhập cung (16/5/1916), các quan Nội Các đã lo tìm những chữ có ý nghĩa tốt, liệt kê ra và trình lên để tân quân lựa chọn làm niên hiệu của triều đại mới. Một bản sao cũng được gởi đến Hội đồng Thượng thư để các vị ấy xem xét. Ngay hôm đó Nội Các báo cho Hội đồng Thượng thư biết rằng trong danh sách dâng lên, hai chữ Khải Trung đã được chiếu cố, nhưng tân quân dùng bút son khoanh tròn chữ Khải, gạch bỏ chữ Trung, và thay vào đó bằng chữ Định . Như vậy, ý của tân quân là muốn chọn hai chữ Khải Định 啟 定 — có nghĩa là khởi đầu một thời thanh bình và ổn định của đất nước — để làm niên hiệu. Tác giả Đặng Ngọc Oánh cũng dẫn hai câu trong sách xưa để cho biết hai chữ khải định xuất xứ từ đâu.
(Đặng Ngọc Oánh, tr.7)

Thử đọc lại chiếu ban bố niên hiệu Gia Long:

Ta nghe kinh Xuân Thu trọng nghĩa nhất thống là để chính danh nghĩa khi mở đầu. Từ Tiên Thái Vương ta [chúa Tiên Nguyễn Hoàng] dựng nền ở miền Nam, thần truyền thánh nối đã 200 năm. Gần đây Tây Sơn nổi loạn, vận nhà Lê đã hết, hơn vài mươi năm trong nước không có chính thống. Ta phải xiêu dạt một nơi, rất lo nghĩ về miếu xã và sinh dân. Nằm gai nếm mất , mong sao cho được yên vui. Năm Canh tý [1780] ta mới ở thành Gia Định, được các tướng sĩ suy tôn, đã lên ngôi vương để giữ lòng người. Duy đô cũ chưa phục, nên còn theo niên hiệu cũ. Nay ơn trời giúp đở, các thánh để phúc, bờ cõi cũ đã lấy lại, cơ nghiệp xưa đã trở về, các quan văn võ tại triều dâng sớ chương khuyên ta lên ngôi hoàng đế và đổi niên hiệu. Nhưng ta nghĩ rằng giồng giặc chưa trừ xong, đất nước chưa thống nhất, không nên vội lên ngôi tôn. Duy cứ theo niên hiệu đã qua [niên hiệu của nhà Lê] mà thi hành những lệnh đổi mới thì không phải là nêu rõ được khuôn phép. Vậy nên chuẩn lời xin đặt niên hiệu, định lấy ngày mồng 1 tháng 5 năm nay kính cáo trời đất, ngày hôm sau kính cáo liệt thánh [các chúa Nguyễn], chép niên hiệu là Gia Long, để thống nhất kỷ cương, làm mới tai mắt…” (Thực lục I,2002, tr.491)

Rõ ràng tờ chiếu không có một giải thích nào về lý do chọn hai chữ Gia Long, ngoại trừ cái nghĩa thông thường giàu đẹp hưng thịnh mà trong một đất nước lấy chữ Hán làm văn tự chính thức thì hầu hết ai cũng có thể hiểu được.

Vua Gia Long là một người có khí độ khác người. Không kể cái đức kiên trì chiến đấu ròng rã 25 năm, trải qua bao hiểm nguy và gian khổ để phục hồi cho được cơ nghiệp của tổ tiên, vua còn có nhiều suy nghĩ và quyết định không giống thói thường. Ví dụ không cho tổ chức sinh nhật rườm rà. Ngày xưa tuổi thọ ngắn ngủi, vì vậy vua nào đến tuổi 40 tuổi hay 50 cũng tổ chức Tứ tuần đại khánh, Ngũ tuần đại khánh với biết bao huy hoàng tốn kém để ăn mừng tuổi thọ, nhưng vua Gia Long thì không; các quan năn nỉ xin làm cũng từ chối, bảo làm như sinh nhật thường lệ. Năm vua 40 tuổi (1801) thì đang còn bận đánh nhau với Tây Sơn, chưa yên tâm để hưởng thụ, điều này dễ hiểu. Nhưng khi vua được 50 tuổi (1811) thì đất nước đã thống nhất, Tây Sơn đã hoàn toàn tuyệt diệt, vua đã chính thức lên ngôi hoàng đế năm 1806, vậy mà cũng không; có vẻ như không thích sự xa xỉ, nhọc sức dân. Một ví dụ khác, khi vua mất, táng chung một chỗ với hoàng hậu, hai ngôi mộ nằm sờ sờ, đơn giản, giữa thanh thiên bạch nhật, chẳng giấu diếm ngụy trang gì cả v.v.

Bên cạnh những quyết định khác người đó, ít ra vào buổi đầu của triều đại, cũng có ba việc vua Gia Long đã hành sử theo một cung cách giống nhau cho ta thấy lối tính toán lâu xa và ăn chắc của nhà vua mà chẳng bao giờ vua hé môi một lời giải thích. Chẳng hạn Đông cung Cảnh mất năm 1801 nhưng mãi đến năm 1816 mới lập Hoàng tử Đởm lên làm Đông cung, dù triều thần đề nghị nhiều lần (1). Vua dư biết triều thần đang chia làm hai phe, phe ủng hộ cháu đích tôn của vua (Hoàng tôn Mỹ Đường, con Đông cung Cảnh) làm Thái tử, và phe ủng hộ Hoàng tử Đởm (vua Minh Mạng). Một sự quyết định vội vàng khi chưa nắm vững tình hình có thể gây biến loạn trong triều. Lại một ví dụ khác, vua ban bố niên hiệu từ năm 1802 mà mãi đến năm 1806 mới lên ngôi hoàng đế. Để chi lâu vậy? Hãy xem từ 1802 đến 1806, đã có những thành tựu gì từ bên trong đến bên ngoài thì biết ngay vua chuẩn bị mọi điều kiện chu đáo như thế nào. Năm 1804, nhận sắc phong cùa Nhà Thanh, rồi đặt quốc hiệu Việt Nam, lo xây các miếu để thờ tổ tiên, xây cung Trường Thọ cho Hoàng Thái hậu, xây điện Cần Chánh để làm việc, xây hoàng thành, cung thành. Qua năm 1805 xây điện Thái Hòa, xây Công thự văn, Công thự võ cho các quan có nơi hội họp làm việc. Khi trong ngoài đâu vào đấy thì lễ đăng quang diễn ra vào năm 1806 là phải.

Cũng một cung cách như thế khi vua tiến hành đổi Thăng Long 升龍 thành Thăng Long 升隆.

Đừng nghĩ đơn giản rằng với uy quyền của vua thì đổi một chữ nào có quan trọng gì. Đàng sau chữ Thăng Long là cả một chuỗi dài lịch sử hàng mấy trăm năm cùa bao triều đại, một dấu ấn khó phai trong lòng người dân Bắc hà. Đổi thì có lẽ vua muốn đổi từ 1802 kia cho phù hợp với niên hiệu của vua nhưng chưa đến lúc nên phải nấn ná một thời gian.

Sao lại nói rằng cho phù hợp với niên hiệu của vua? Xin hãy để ý đến chữ Gia 嘉 trong niên hiệu Gia Long. Chữ Gia này và Gia Định 嘉定 cùng một cách viết, một ý nghĩa. Như đã nói, bao hàm trong cái tên hay danh hiệu là một tâm tư và ước vọng, là một tuyên ngôn cô đọng. Tái chiếm được Phú Xuân vào năm 1801 tuy là một thành công lớn trên bước đường phục hưng cơ nghiệp tổ tiên nhưng đó chỉ mới đi được 2/3 đoạn đường trên toàn bộ con đường ước vọng của Nguyễn Vương trong một đất nước mà người chủ lâu năm là Nhà Lê đã hết thời. Vương muốn rằng Vương phải là người đầu tiên thống nhất nước Việt, khởi đi từ Gia Định thành tới Thăng Long thành, nên mới cố tình lấy chữ đầu của Gia Định ghép với chữ cuối của Thăng Long để thành hai chữ Gia Long làm niên hiệu.

Nhưng Gia mà đi với Long có nghĩa là rồng, bề ngoài, chỉ nghe cái thanh âm cũng tàm tạm được, nhưng đi vô chữ nghĩa thì chưa ổn. Vì thế, nấn ná đến năm 1805 mới đổi Long là rồng thành Long là hưng thịnh cho thật thích hợp hoàn hảo. Vua chỉ ra lệnh đổi chữ Long sau khi cho xây lại thành Thăng Long to rộng hơn vào năm 1803 trên địa phận huyện Thọ Xương phủ Hoài Đức, lại xây mới 5 cửa ô vào năm 1804 với tên mới, chưa kể bên trong xây kỳ đài, dựng hành cung, làm nhà tả hữu vu,v.v , nghĩa là một Thăng Long mới từ vật chất (xây mới) đến tinh thần (đổi ý nghĩa chữ long) nhưng vẫn không làm mất dấu ấn lịch sử.

Nói tóm lại, trong niên hiệu Gia Long 嘉隆, thông qua việc đổi ý nghĩa chữ Long trong cái tên Thăng Long cho phù hợp với niên hiệu, vua Gia Long đã muốn đưa ra một tuyên ngôn ngắn gọn: tôi là người đầu tiên trong lịch sử đã đi từ Gia Định thành đến Thăng Long thành để hoàn thành cuộc thống nhất nước Việt sau bao nhiêu năm bị chia xẻ.

San Jose, 7/08

Tài liệu tham khảo:

http://vi.wikipedia.org/wiki/Hà_Nội#T.C3.AAn_g.E1.BB.8Di

Đại Nam Thực Lục I, (gọi tắt Thực lục) bản dịch của Viện Sử Học, nxb Giáo Dục, Hà Nội, 2002

Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục (gọi tắt Cương mục) bản dịch của Viện Sử Học, nxb Giáo Dục, Hà Nội, 1998

– Đặng Ngọc Oánh, L’Intronisation de l’Empereur Khải Định, Bulletin des Amis du Vieux Hue, No1, 1916, tr.7

Chú thích:

1) Xem Võ Hương-An, Vụ án Mỹ Đường, Tuyển tập Nhớ Huế, California, 2007

 

2018-02-08_074210
Mình cùng đọc truyện Táo Quân
Hoàng Kim

Ngày hai ba tháng Chạp
Đưa ông Táo về Trời
Mình ơi cùng tưởng nhớ
Giữ bếp lòng yêu thương

SỰ TÍCH TÁO QUÂN
Kim ĐỗTrọng

Truyện xưa sự tích Táo Quân
Một thiên tình sử hai ông một bà
Tuy rằng thời ấy đã xa
Nhưng trong bếp núc mỗi nhà còn đây

Làng kia, có một nhà này
Vợ chồng son trẻ tháng ngày yêu thương
Chỉ vì một lẽ vấn vương
Đã lâu chẳng có con thương bế bồng

Trịnh Cao tên gọi người chồng
Thị Nhi hiền dịu, ruộng đồng siêng năng
Cuộc sống không nỗi khó khăn
Chỉ buồn hiếm muộn, nhiều lần sát xô

Rượu vào tính lại côn đồ
Đánh vợ, chửi vợ xô bồ đuổi đi
Đau lòng không đặng Thị Nhi
Bỏ nhà hành khất phải đi ăn mày

Ở lành trời phú phận may
Gặp người nhân đức tình này nên duyên
Phạm Lang tính nết dịu hiền
Hết lòng chiều vợ, bạc tiền đủ tiêu

Cuộc sống khá giả hơn nhiều
Thị Nhi sung sướng, càng yêu quý chồng
Nghĩ về tình cũ bão giông
Nhiều đêm nàng vẫn thương thầm Trịnh Cao

Lại nói ngày ấy hôm nào
Gia đình li tán chỉ vào một đêm
Trịnh Cao hối hận ,không quên
Mong sao gặp vợ, đáp đền trước sau

Giầy vò ân hận thương đau
Một hôm chàng đã gạt sầu ra đi
Nhớ thương người vợ Thị Nhi
Bao la trời đất giờ thì ở đâu

Thời gian tìm kiếm đã lâu
Không nghe tin tức, chẳng đâu thấy nàng
Lương ăn đã hết giữa đàng
Quyết tâm tìm vợ, lại càng phải đi

Núi cao vực thẳm xá chi
Đói lòng sức kiệt chẳng gì đổi thay
Trời sao run rủi lúc này
Xin ăn, gõ cửa đúng ngay nhà nàng

Thị Nhi đã nhận ra chàng
Trọng Cao đói lả chẳng màng chuyện chi
Cơm ngon rượu thịt tì tì
No say, thấm mệt chàng thì ngủ ngay

Sợ Phạm Lang biết, không hay
Nàng dìu dấu vội nơi này, đống rơm
Phạm Lang không rõ nguồn cơn
Về nhà dọn rác, đốt luôn góc vườn

Nửa đêm gió cuốn tàn vương
Rơm sân bốc cháy, lửa đương sáng lòa
Thị Nhi hoảng hốt chạy ra
Thương chồng mà lại hóa ra hại chồng

Ăn năn hối hận trong lòng
Nàng lao vào lửa chết cùng Trọng Cao
Phạm Lang không hiểu làm sao
Thấy vợ chết, cũng nhảy vào chết theo

Linh hồn bay tới trời cao
Ngọc Hoàng cảm thấu, cho vào thiên cung
Liền ban ân huệ tương phùng
Cho ba người ấy được cùng bên nhau

Biến thành ba vị đầu rau
Phạm Lang việc bếp đứng đầu thổ công
Trọng Cao Thổ địa quản trông
Đất đai, long mạch, ruộng đồng, bước đi

Thị Nhi chức vụ thổ kỳ
Trông nom chợ búa bán đi mua về
Từ đấy ở mỗi làng quê
Ba ngài chăm sóc mọi bề nhân gia

Hai ba tháng chạp lịch ta
Chuẩn bị lễ vật cả ba về trời
Báo công, báo việc đầy vơi
Một năm trần thế, của người dương gian.

Chuyện thơ kể mãi lan man
Táo Quân sự tích, lưu ngàn năm sau.

(*) Linh hồn của ba vị được đưa lên Thượng Đế. Thượng Đế thấy ba người đều có nghĩa, nên sắc phong cho làm Táo Quân, gọi chung là: Định Phúc Táo Quân, nhưng mỗi người giữ một việc:
-Phạm Lang làm Thổ Công, trông coi việc bếp. Danh hiệu: Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân
-Trọng Cao làm Thổ Địa, trông coi việc nhà cửa. Danh hiệu: Thổ Địa Long Mạch Tôn Thần.
– Thị Nhi làm Thổ Kỳ, trông coi việc chợ búa. Danh hiệu: Ngũ Phương Ngũ Thổ Phúc Đức Chánh Thần.

Lễ cúng ông Táo về trời: Ý nghĩa phong tục, lễ vật và văn khấn

Theo tục xưa, cứ đến ngày 23 tháng Chạp âm lịch hàng năm, người Việt lại sắp mâm lễ vật tiễn Táo quân cưỡi cá chép về trời để báo cáo tình hình hạ giới trong năm qua với Ngọc Hoàng. Sau khi báo cáo, đến đêm Giao thừa, Táo quân lại trở về trần gian để trông coi việc bếp lửa của mỗi nhà. Lễ cúng ông Táo tùy nghi từng nhà, cốt ở tâm thành

1. Phong tục tiễn ông Công, ông Táo về trời

Thổ Công là vị thần trông coi, cai quản trong nhà, định sự họa phúc cho mọi gia đình, thường được gọi là Đệ nhất gia chi chủ. Nhờ có vị thần này nên các hồn ma quỷ không xâm nhập được vào nhà để quấy nhiễu gia đình.

Bàn thờ Thổ công không chỉ thờ một vị, mà thờ ba vị thần với ba danh hiệu khác nhau. Trong bài vị người ta để danh hiệu của cả ba vị thần này, mỗi vị trông coi một việc khác nhau.

Thổ Công: trông coi việc bếp núc.
Thổ Địa: trông coi việc nhà.
Thổ Kỳ: trông nom việc chợ búa cho phụ nữ, hoặc việc sinh sản các vật ở vườn đất.

Bài vị của ba thần được lập chung và viết như sau:

Bản gia Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân,
Bản gia Thổ địa Long Mạch Tôn Thần,
Bản gia Ngũ phương Ngũ thổ Phúc đức chính thần.

Mỗi gia đình có riêng một Thổ công.Thổ Công là vị thần có nhiệm vụ ghi chép mọi việc tốt xấu xảy ra trong mỗi gia đình. Lễ cúng Thổ Công quan trọng nhất là ngày tết Táo quân vào ngày 23 tháng Chạp (còn gọi là tết ông Công).

Trong ngày lễ này, sau khi cúng xong, Thổ Công lên chầu Thượng Đế để báo cáo những điều tai nghe, mắt thấy ở trần thế mà mình đã ghi chép được. Còn các gia đình sẽ hóa vàng, mũ, áo, hia của năm trước đổ tro ra sống và phóng sinh cho con cá chép để cho ông cưỡi lên trời. (quan niệm dân gia cho rằng: cá chép sau khi được phóng sinh sẽ hóa thành rồng để cho ông Táo cưỡi.).

2. Mâm lễ vật cúng ông Táo

Mũ thổ công: Mũ Thổ Công là một cỗ gồm ba chiếc: 1 mũ đàn bà và 2 mũ đàn ông không có hai cánh chuồn. Nếu thờ 3 chiếc là thờ đủ mũ cho ba vị thần còn nếu thờ 1 mũ thì đó là mũ Thổ Công.

Mũ được làm bằng giấy, mũ thường đi kèm với một chiếc áo và một đôi hia. Dưới mũ đặt 100 thoi vàng giấy. Mũ, áo, hia mỗi năm một màu hợp với ngũ hành: Kim-Mộc-Thủy-Hỏa-Thổ (trắng-xanh-đen-đỏ-vàng) mỗi năm có một hành riêng, mỗi hành có một màu nhất định.

Năm có hành Kim: cúng mũ màu trắng.
Năm có hành Mộc: cúng mũ màu xanh.
Năm có hành Thủy: cúng mũ màu đen.
Năm có hành Hỏa: cúng mũ màu đỏ.
Năm có hành Thổ: cúng mũ màu vàng.

Cũng như bài vị Thổ Công, hàng năm mũ cũng được đem hóa vào ngày tết Táo quân và được thay cỗ mũ khác để thờ cho đến tết Táo quân năm sau.

Việc cúng tiễn ông Táo được thực hiện tại gia. Lễ cúng ông Táo gồm có: – Một mâm cỗ mặn, bánh kẹo, trầu cau, rượu… – Ba bộ mũ áo, hia hài táo quân cùng vàng nén. – Ba cá chép sống. – Nhang thơm, bình hoa tươi cùng các loại quả tươi đẹp.Lưu ý: Cúng ông Táo phải đặt trong bếp, khi cúng phải bật bếp lên cho cháy rực, mâm cỗ đề huề, cả nhà quanh năm no ấm. Có người thì vừa đặt một mâm cúng trong bếp và thêm một mâm khác cúng trên bàn thờ.

3. Văn khấn ông Táo về trời

Văn khấn ông Táo lên chầu trời
(23 tháng chạp)

Nam mô a di đà Phật!
Nam mô a di đà Phật!
Nam mô a di đà Phật!
Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương
Con kính lạy Ngài đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.
Tín chủ (chúng) con là: ……………
Ngụ tại:…………

Hôm nay ngày 23 tháng chạp tín chủ chúng con thành tâm sắp sửa hương hoa phẩm luật, xiêm hài áo mũ, kính dâng tôn thần. Thắp nén tâm hương tín chủ con thành tâm kính bái. Chúng con kính mời ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân hiển linh trước án hưởng thụ lễ vật.

Cúi xin Tôn thần gia ân xá tội cho mọi lỗi lầm trong năm qua gia chủ chúng con sai phạm. Xin Tôn thần ban phước lộc, phù hộ toàn gia chúng con, trai giá, già trẻ sức khỏe dồi dào, an khang thịnh vượng, vạn sự tốt lành.

Chúng con lễ bạn tâm thành, kính lễ cầu xin, mong Tôn thần phù hộ độ trì.

Nam mô a di đà Phật!
Nam mô a di đà Phật!
Nam mô a di đà Phật!

Chú ý: Sau khi bày lễ, thắp hương và khấn xong, đợi hương tàn lại thắp thêm một tuần hương nữa lễ tạ rồi hóa vàng mã và thả cá chép ra ao, hồ, sông, suối… để cá chở ông Táo lên chầu trời.

(Theo Văn khấn cổ truyền Việt Nam – NXB Văn hóa Thông tin)

Theo An Nhiên / Reatimes

Truyện Pie Đại đế
Hoàng Kim

Pie đại đế là nhân vật lịch sử vĩ đại nhất nước Nga, vượt cả Stalin và Le Nin. Ông đã có những thành tựu đặc biệt to lớn trong công cuộc hiện đại hóa đất nước, chuyển đổi mạnh mẽ một nước Nga lạc hậu, đi sau Tây Âu hàng trăm năm  vượt lên trở thành một trong năm đại đế quốc của châu Âu, chỉ  trong một thời gian ngắn. Pie đại đế có tố chất quân vương vừa cứng rắn vừa mềm dẽo: vừa nhiệt huyết kiên quyết, vừa bao dung mềm mỏng, vừa tàn nhẫn cứng rắn, vừa tình cảm ân nghĩa. Ông đã tạo nên bước ngoặt trong lịch sử nước Nga.

Pie Đại Đế  tên thường gọi là Pyotr I  sinh ngày 10 tháng 6 năm 1672 tại Moskva,  mất ngày  8 tháng 2 năm 1725 tại Sankt-Peterburg,  là Sa hoàng của nước Nga cũ và sau đó là Hoàng đế của Đế quốc Nga từ năm 1721, đồng cai trị với vua anh Ivan V – một người yếu ớt và dễ bệnh tật – trước năm 1696. Ông được tôn là Pyotr Đại đế hay Pierre Đại đế, Pie Đại đế ( tiếng Nga: Пётр Великий, Pyotr Velikiy). Ông được xem là một trong những nhà cải cách kiệt xuất trong lịch sử Nga.

Pie đại đế  đã tiến hành cuộc cải tổ lớn lao tại nước Nga Sa hoàng. Trong những năm 1697 – 1698 ông đi vòng quanh Tây Âu, học được những điều mới lạ ở đó và truyền vào Nga. Dưới triều ông, nước Nga có nền kinh tế phát triển và thành lập thể chế nghị viện. Trong việc xây dựng đất nước, Pyotr thường tham vấn những cố vấn tài ba người nước ngoài. Nhờ vậy, dưới triều đại không lâu dài của ông (1696 – 1725), nước Nga trở thành một đế quốc hùng cường trên thế giới thời đó, Hải quân Nga được thành lập. Người Nga đã có đủ sức giành chiến thắng trước hai cựu thù vào thời đó là đế quốc Ottoman và Thụy Điển, nhằm tái chiếm các lãnh thổ đã mất và lấy đường thông ra biển. Năm 1703, ông hạ lệnh cho xây dựng thành phố Sankt-Peterburg. Chính tại đây, năm 1782 người ta đã hoàn thành việc xây cất tượng Pyotr I – tức tượng “Kị sĩ đồng”. Sankt – Peterburg trở thành một “thành Venezia của phương Bắc”, và trở thành kinh đô nước Nga vào năm 1712. Người ta đã ca ngợi ông như một vị “Đại đế Ross toàn nước Nga”, hay “Cha của Tổ quốc”.

Kết quả của cuộc thăm dò ý kiến nhân dân Nga “Tên của nước Nga – Sự lựa chọn lịch sử năm 2008″ do kênh truyền hình Rossia cùng với Viện Lịch sử Nga thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga và Quỹ ý kiến xã hội tổ chức đã  bình chọn Pie đại đế là nhân vật lịch sử vĩ đại nhất nước Nga, kế đến là  Stalin, Le Nin  và  Nga hoàng Nikolai II  là  những nhà lãnh đạo kiệt xuất nhất lịch sử nước Nga. Điều đó  đã chứng tỏ những đánh giá của nhân dân Nga xuyên suốt một quá trình trải nghiệm lịch sử lâu dài.

Pie đại đế đã được sự  ngưỡng mộ đặc biệt của nhân dân Nga, sử gia và nhân dân  nhiều nước trên thế giới. Ông có công lớn  trong công cuộc xây dựng lực lượng hải quân, đội thương thuyền hàng hải  và hiện đại hóa nước Nga, xây dựng Sankt-Peterburg, xây dựng hệ thống đường sá kênh đào vĩ đại, hoàn thiện cơ sở pháp luật, cải cách hành chính, lập nên Viện Hàn lâm Khoa học, thiết lập trường xóa mù chữ và dạy toán cấp cơ sở, trường kỹ thuật đào tạo thợ chuyên môn, xưởng in, nâng cao vai trò người phụ nữ,…

Pie đại đế là một vĩ nhân có tầm nhìn chiến lược sâu rộng, nhận thức đúng đắn và quyết tâm sắt đá cao độ để đi đến đích. Ông nung nấu hoài bão hiện đại hóa nước Nga nằm kề bên Tây Âu lúc ấy đã tiến bộ khá xa. Vua Pie đại đế đã  tự mình đóng một chiếc thuyền và học cách điều khiển nó, tổ chức riêng cho mình một đội quân và tập trận thường xuyên để cuối cùng chuyển thành đội quân tinh nhuệ hơn hẳn lực lượng nòng cốt của triều đình. Ông tổ chức một phái bộ sứ thần đi Tây Âu để học hỏi và tuyển chọn nhân tài về giúp cho triều đình của mình. Ông vào vai thợ mộc học nghề ở Hà Lan để tự tay đóng một tàu chiến bắt đầu từ những súc gỗ thô sơ cho đến khi hạ thủy. Vua Pie đại đế sớm nhận ra nước Nga bao la không có hải quân mạnh, chỉ có đội thuyền đi đường sông, chỉ có một cảng biển thông ra thế giới trong sáu tháng mỗi năm; Vua Pie đại đế nhận thức được công dụng diệu kỳ của thuyền buồm có thể đi ngược gió, điều mà các loại thuyền bè của Nga hồi ấy không làm được. Ông đã quyết tâm xây dựng hải quân Nga và tạo dựng cảng biển từ tầm nhìn chiến lược sâu rộng đó.

Pie Đại đế là người quyết đoán và quyết tâm rất cao. Ông đã xây dựng thành phố Sankt-Peterburg bề thế từ bãi đầm lầy ngay cả trong những năm tháng chiến tranh, ngay cả khi vùng đất mới được chiếm từ Thụy Điển, chưa có hòa ước để hợp thức hóa là thuộc Nga vĩnh viễn. Ông ra lệnh tịch thu chuông nhà thờ để đúc đại bác phục vụ công cuộc chống ngoại xâm bất chấp giáo hội đầy quyền uy phản đối. Ông đòi hỏi các tầng lớp tăng lữ, quý tộc và thương nhân góp chi phí vào việc xây dựng hải quân nếu ai không làm sẽ bị tịch thu gia sản, ai kêu nài sẽ phải đóng góp thêm. Ông ra lệnh đàn ông Nga phải cắt râu cho gọn và tất cả người Nga phải chuyển trang phục truyền thống sang kiểu gọn nhẹ , mục đích để dân Nga tăng năng suất làm việc. Ông thể hiện quyết tâm sắt đá giành đường giao thông hàng hải và căn cứ hải quân Nga bằng việc tranh đoạt Sankt-Peterburg thể hiện qua chính sách là có thể nhượng bộ Thụy Điển bất cứ điều gì ngoại trừ trả lại Sankt-Peterburg. Quyết tâm này được lưu truyền mãi về sau, với kết quả là Sankt-Peterburg vẫn đứng vững trước các cuộc tấn công của vua Karl XII của Thụy Điển, cũng như của Hoàng đế Napoléon I của PhápAdolf Hitler của Đức Quốc xã sau này.

Pie Đại đế xác lập được quyền uy tuyệt đối và rất biết trọng dụng nhân tài, cho dù họ là người Nga hoặc người nước ngoài. Ông ban hành luật theo ý muốn, ngay cả quyền xử tử hình bất cứ ai đi ngược lại ý ông. Trong một thể chế quân chủ lập hiến và một bối cảnh xã hội nước Nga trì trệ  thì chế độ độc đoán, hà khắc, đôi lúc tàn bạo của ông, có ý nghĩa cải tổ, tuy có làm mất đi một số giá trị truyền thống của xã hội Nga. Những tầng lớp thấp trong xã hội Nga, đặc biệt là nông dân, ít được hưởng lợi trực tiếp từ thành quả của ông, trái lại, họ còn khổ sở hơn vì phải trực tiếp hoặc gián tiếp chịu gánh nặng để xây dựng căn cứ hải quân, xây thành phố Sankt-Peterburg, chi phí cho cuộc chiến với Thụy Điển. Sự biện luận là khi nước Nga hùng cường thì đời sống nông dân Nga cũng được nâng cao hơn.

Pie Đại đế rất sâu sát thực tiễn và hiếu học. Ông đi viếng thăm đủ mọi nơi: nhà máy chế biến, xưởng cưa, nhà máy in, xưởng se sợi, nhà máy giấy, xưởng cơ khí, viện bảo tàng, vườn thực vật, phòng thí nghiệm,… Ông đến thăm và hỏi han các kiến trúc sư, nhà điêu khắc, kỹ sư, nhà thiên nhiên học, người phát minh kính hiển vi, giáo sư giải phẫu học,… Ông học hỏi từ người hành nghề tầm thường nhất để biết cách vá quần áo của mình, đóng một đôi dép cho riêng mình, và còn tập tháo ráp đồng hồ. Ông luôn phân tích tại sao dân Nga quá nghèo và dân Tây Âu quá giàu khi thơ thẩn đi xem phố xá, chợ búa nước ngoại cho đến lúc nghiêm túc gặp các nhà khoa học, các nơi làm việc. Với một sự hiếu học hiếm thấy  và sự tự do phóng khoáng trong suy nghĩ mà du học sinh Pyotr Mikhailov đã hiểu rất sâu về thực tiễn thuộc nhiều lĩnh vực :ngoại thương, cảng biển, đội thương thuyền,  tôn giáo…. để đúc kết thành chiến lược đồng bộ, tổng thể phát triển nước Nga.

Stalin rất ngưỡng mộ Pie đại đế. Trong “Điếu Ngư Đài quốc sự phong vân” những bí mật của nền ngoại giao Trung Quốc, do Lý Kiện biên soạn, Nhà Xuất bản Văn nghệ Thái bạch (Trung Quốc) ấn hành, NXB Văn hóa Thông tin năm 2003, có kể lại câu chuyện lịch sử: Đêm trước của cuộc nội chiến Quốc Cộng kéo dài hơn hai mươi năm, Tưởng Giới Thạch từng giữ mối quan hệ ngoại giao chính thức với Stalin đã dự cảm thầy Đảng Cộng sản Trung Quốc do Mao Trạch Đông đứng đầu sẽ trở thành đối thủ khó có thể chiến thắng được. Mẫn cảm và đa mưu, Tưởng Giới Thạch gọi con là Tưởng Kinh Quốc tới giao nhiệm vụ thay mặt ông giao hảo với Stalin (tương tự như quan hệ Trung Mỹ từ lâu ông đã giao độc quyền cho vợ ông là Tống Mỹ Linh). Tưởng Giới Thạch nói với Tưởng Kinh Quốc: ” Cha muốn mời Liên Xô đứng ra thử dàn xếp hộ quan hệ giữa cha và Mao Trạch Đông. Chỉ cần Trung Cộng hạ vũ khí, thống nhất mệnh lệnh hành chính, chúng ta và Mao Trạch Đông vẫn có thể là cộng sự được ! Mao Trạch Đông không nghe cha, nhưng có thể lời nói của Stalin và người Liên Xô đối với họ ít nhiều cũng có tác dụng”. Cuối năm 1945, Tưởng Kinh Quốc sang Liên Xô gặp Stalin trong phòng làm việc ở điện Kremlin. Tất cả vẫn như cũ, duy chỉ có một điều hơi khác lần trước Tưởng Kinh Quốc diện kiến Stalin năm 1931 là “Ngày trước ở sau lưng bàn sách của Stalin treo một bức tranh sơn dầu Lê Nin đứng trên xe tăng kêu gọi nhân dân lao động” Bây giờ thì đổi là bức ảnh Pie Đại đế. Lúc đầu Tưởng Kinh Quốc không hiểu , qua gợi mở của người thư ký Stalin , mới như bừng ra điều đại ngộ. Thì ra ” giờ khác, trước khác” thời thế đã biến đổi. Quả như dự liệu, Stalin muốn đứng trung lập giữa Tưởng và Mao để “tọa sơn quan hổ đấu”. Tưởng Giới Thạch sau lần đi đó của Tưởng Kinh Quốc đã tinh ý nhận biết sự chuyển hóa của đại cục, Tưởng chọn chiến lược ngã hẳn về Mỹ nên dù thua, vẫn neo được Đài Loan cho mãi đến tận ngày nay.

Pie Đại đế, đến nay sau ba thế kỷ khi ông qua đời (1725-2015) , vẫn sừng sững  là một biểu tượng nhân vật lịch sử vĩ đại nhất nước Nga. Ông được những nhà khoa học, văn nghệ sĩ kiệt xuất và quảng đại quần chúng nhân dân tôn kính, ngưỡng mộ và ca ngợi nồng nàn. Pie đại đế cùng nữ hoàng Ekaterina II là hai người được Tổng thống Nga Vladimir Vladimirovich Putin đề cao nhất trong lịch sử nước Nga.

Truyện Pie đại đế là bài nghiên cứu lịch sử văn hóa. Thông tin chính được thu thập căn cứ từ các nguồn trích dẫn tuyển chọn tại thư mục Pie đại đế  trên Từ Điển Bách Khoa Mở Wikipedia Tiếng Việt, và bản Wikipedia tiếng Anh, so http://www.history.com có cùng thư mục. Bài viết này chắt lọc tư liệu nhằm cung cấp cho bạn đọc, học sinh và sinh viên Việt Nam tài liệu về một nhân vật lịch sử nước Nga. Thông tin sâu hơn mời đọc Pie đại đế tại Tình yêu cuộc sống Chào ngày mới 27 tháng 5 ngày mà năm 1703, Pie đại đế  cho thành lập thành phố Sankt-Peterburg trên lãnh thổ mới chiếm được từ Thụy Điển.

Hoàng Kim

Tuyet voi Que Choa Dinh Ðình Chien
Tuyệt vời Quê Choa Đinh Đình Chiến
Hoàng Kim
chúc mừng anh Đinh Đình Chiến nhà giáo nhà văn cựu Hiệu trưởng Trường Hùng Vương Đức Linh Bình Thuận, cựu học sinh cấp 3 Quảng Trạch Quảng Bình Quê Choa, chủ bút các trang Lão Mai, Góc Khuất, người vừa có tiểu phẩm vui Tết “Câu nói Anh yêu Em” trên báo Bình Thuận cuối tuần và gây nên tiếng cười sôi động ngày xuân trên báo mạng.

CÂU NÓI “ANH YÊU EM”
Đinh Đình Chiến

Một nhóm rảnh việc đang cà phê, một người đề nghị bây giờ ngồi ở đây mở loa ngoài điện thoại mỗi người gọi điện thoại về cho vợ rồi nói câu “ Anh yêu em” thử các bà vợ nghe rồi phản ứng thế nào! Mọi người ủng hộ.
Đầu tiên chú em trẻ nhất hội, 30 tuổi gọi trước.
– A lô em hả! anh rất yêu em.
Tiếng trả lời xúc động:
– Dạ! Em cũng rất yêu anh.
Người thứ hai 40 tuổi gọi:
– A lô, anh yêu em!
– Em biết!
Người thử ba 50 tuổi gọi:
– A lô, anh yêu em! Tiếng người bên kia máy vang lên:
– Thôi đừng có khùng nữa cha, uống nhanh rồi còn về.
Còn người cuối cùng trong nhóm, anh 60 tuổi. Cầm máy anh hồi hộp gọi:
– A lô, anh yêu em.
– Anh sao thế? Có việc gì không? Anh có đau ở đâu không? Anh đang ở đâu?
Anh tắt máy. Một lúc sau anh nghe chuông điện thoại con gái của anh gọi:
– Ba hả, ba đang ở đâu? Ba bệnh hả ba. Mẹ gọi cho con nói là ba hình như bị bệnh.
– Không con, ba bình thường mà. Mẹ quá lo rồi nói lung tung đó.
– Vậy ba nhớ về sớm mẹ lo lắm đó.
Tiếng điện thoại tắt.
Chuông điện thoại khác lại reo. Tiếng con trai lớn của anh trong thành phố:
– A lô ba hả. Ba làm gì đó?
– Ba đang cà phê ở quán Thạch Thảo.
– Ba bệnh hả. Mẹ điện cho con nói ba đổi tính đổi nết sao đó.
– Bênh đâu mà bệnh, có mẹ bây bệnh thì có.
Anh tắt máy. Ngồi một lúc anh nói với mọi người:
– lúc nãy tui nói “anh yêu em” chắc vợ tui sốc lắm. Hồi giờ tui có nói với cô ấy như thế bao giờ đâu!
– Nếu thế làm sao anh lấy được chị ấy?
– Hồi yêu nhau tui hỏi em có yêu tui không. Cô ấy không nói, chỉ cười. Tui hỏi dồn vậy em có đồng ý làm vợ tui không? Cô ấy gật đầu thế là cưới. Hằng ngày xưng hô tui xưng mình, gọi cô ấy bằng tên. Cô ấy gọi tôi bằng anh kèm thêm tên và xưng tên với tui. Như là Anh Hoàng đưa dùm Xuân cái áo…Ở với nhau trên 30 năm tui chưa nói với cô ấy mấy từ “Anh yêu em” bao giờ cả. Nói “ anh yêu em” hay gọi nhau anh anh, em em tui nghe cải lương quá.
Một chiếc ô tô chạy vội đến dừng trước quán. Người con trai thứ hai của anh bước xuống mặt hớt hãi.
– Ba ơi lên xe con đưa ba đi.
Anh 60 tuổi ngơ ngác:
– Đưa ba đi đâu, có việc gì vậy con?
– Thì mẹ điện cho con nói ba bệnh nặng lắm đang nói sảng. Mẹ dục và anh Hai cũng điện về hối con chở ba vô bệnh viện Biên Hòa kiểm tra may ra sớm còn điều trị kịp.
– Mẹ mày tâm thần thì có. Ba làm gì mà đi nhà thương điên. Anh nổi nóng thành ra cộc tính.
– Về, đi về tao hỏi tội mẹ mày. Nói rồi bước đến chui vào trong xe.
Mọi người can thiệp:
– Không phải đâu em, Chuyện đâu trầm trọng như thế. Anh ấy không việc gì mà.
Trên xe anh 60 tuổi gọi với ra.
– Lên xe đi, về tao hỏi tội mẹ mày.
Anh con trai nhìn mọi người, so vai làm một động tác khó hiểu.
– Các anh xem, ba tui bị sao sao rồi ấy. Mẹ tui nói đúng.
Chiếc xe ret, rẹt đề ba hộc lên một tiếng rồi lao vọt đi để lại một làn khói mỏng đen.

Xem thêm: Đinh Đình Chiến

Soc vaTapdoanNHOC

Sóc Con Ngày Táo Quân
Hoàng Kim
Sóc ơi Ngày Táo Quân,
Bà, Mẹ chăm bếp xuân,
Ông dành trọn ngày lành,
Vui dọn vườn đón cháu,
Chốn vườn thiêng cổ tích,
Thương thú cưng hoa đẹp
Yêu chim chóc cây xanh
Cháu chơi cùng ông bà.

2018-02-08_SocConNgayTaoQuan
https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-8-thang-2/

— tại Đồng Nai Province.

2018-02-09_LocxuanNguyenDucDatvabanAnh Nguyễn Đức Đát và bạn hữu (ảnh Hoàng Kim)

HÀNH ĐỘNG VÀ LỜI NÓI
Hoàng Kim

lắng nghe bài điểm tin
của anh Nguyễn Đức Đát
những sự kiện gần đây
suy ngẫm về vận nước.

Ngẫm khen chê chuyện đời
đặt mình vào người đó.
Vui bước tới thảnh thơi.
An nhiên chào ngày mới

https://cnm365.wordpress.com/…/chao-ngay-moi-9-thang-2-2/

“Nếu bạn muốn phán xét tôi, bạn phải đặt chính bạn vào vị trí của tôi”
(Lev Tonstoy , suy niệm mỗi ngày).


Video yêu thích

Việt Nam quê hương tôi

KimYouTube

Advertisements

Chào ngày mới 8 tháng 2


HoaMai

CNM365. Chào ngày mới 8 tháng 2. Ngày Tết Nguyên Đán. Chúc mừng Năm mới vui khỏe hạnh phúc mọi sự như ý. Wikipedia Ngày này năm xưa. Năm 1575Đại học Leiden được thành lập với khẩu hiệu Pháo đài tự do, là trường đại học cổ xưa và danh tiếng nhất Hà Lan. Năm 1725 – ngày mất Pie Đại Đế, sa hoàng Nga, nhân vật lịch sử nổi tiếng nhất  nước Nga, tức 28 tháng 1 theo lịch Julius (sinh năm 1672). Năm 1762 – ngày sinh của  Gia Long, Hoàng đế đầu tiên của nhà Nguyễn (mất năm 1820).  xem tiếp…

Tết Nguyên Đán

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tết
Tết

Một con đường ở Thành phố Hồ Chí Minh ngày Tết
Tên chính thức Tết Nguyên Đán
Tên gọi khác Tết
Kiểu Tôn giáo, văn hóa, quốc gia.
Ý nghĩa Đánh dấu ngày đầu tiên của năm mới theo âm lịch.
Ngày Ngày 1 tháng 1 âm lịch
Hoạt động Thăm hỏi bạn bè, người thân vào ngày đầu tiên của năm mới
Thờ cúng tổ tiên
Mừng tuổi
mở hàng đầu năm
Liên quan đến Tết Việt Nam, Tết Trung Quốc, Tết Hàn Quốc.

Tết Nguyên Đán (hay còn gọi là Tết Cả,[1] Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền hay chỉ đơn giản còn gọi là Tết) là dịp lễ quan trọng nhất của Việt Nam, theo ảnh hưởng văn hóa của Tết Âm lịch Trung HoaVòng văn hóa Đông Á. Trước ngày Tết, thường có những ngày khác để sửa soạn như “Tết Táo Quân” (23 tháng chạp âm lịch) và “Tất Niên” (29 hoặc 30 tháng chạp âm lịch)

Vì Tết tính theo Âm lịch là lịch theo chu kỳ vận hành của Mặt Trăng nên Tết Nguyên Đán của Việt Nam muộn hơn Tết Dương lịch (còn gọi nôm na là Tết Tây). Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của Âm lịch nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên đán không bao giờ trước ngày 21 tháng 1 Dương lịch và sau ngày 19 tháng 2 Dương lịch mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch. Toàn bộ dịp Tết Nguyên đán hàng năm thường kéo dài trong khoảng 7 đến 8 ngày cuối năm cũ và 7 ngày đầu năm mới (23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng).

Hàng năm, Tết được tổ chức vào ngày mồng 1 tháng 1 theo âm lịch trên đất nước Việt Nam và ở một vài nước khác có cộng đồng người Việt sinh sống. Trong những ngày Tết, các gia đình sum họp bên nhau, cùng thăm hỏi người thân, mừng tuổi và thờ cúng tổ tiên… Theo phong tục tập quán, Tết thường có những điều kiêng kỵ.[2]

Mục lục

Lịch sử

Từ nguyên

Chữ “Tết” do chữ “Tiết” (節) mà thành.[3] Hai chữ “Nguyên đán” () có gốc chữ Hán; “nguyên” có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và “đán” có nghĩa là buổi sáng sớm, cho nên đọc đúng phiên âm phải là “Tiết Nguyên Đán”.[3] Tết Nguyên đán được người Trung Hoa hiện nay gọi là “Xuân Tiết” (春節) hoặc “Nông lịch tân niên” (農曆新年), và vẫn là tết cổ truyền của họ,[4] mặc dù từ năm 1949 (bắt đầu thời kỳ Đại cách mạng văn hóa), Trung Quốc đã chính thức chuyển qua dùng dương lịch và chuyển qua gọi Tết dương lịch là Tết Nguyên đán.[5]

Do cách tính của âm lịch Việt Nam có khác với Trung Quốc cho nên Tết Nguyên đán của người Việt Nam đôi khi không hoàn toàn trùng với Xuân tiết của người Trung Quốc[6] và các quốc gia chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Hoavòng Văn hóa chữ Hán khác, mà có thể chênh lệch 1 ngày (như vào các năm 2007, 2030, 2053, Tết Việt Nam trước Tết Trung Quốc 1 ngày).

Nguồn gốc ra đời

Văn hóa Đông Á – thuộc văn minh nông nghiệp lúa nước – do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã “phân chia” thời gian trong một năm thành 24 tiết khí khác nhau (và ứng với mỗi tiết này có một thời khắc “giao thừa”) trong đó tiết quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, tức là Tiết Nguyên Đán sau này được biết đến là Tết Nguyên Đán.

Theo lịch sử Trung Quốc, nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ năm Tam Hoàng Ngũ Đế 2879 TCN thay đổi theo từng thời kỳ.[7] Đời Tam đại, nhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng giêng, tức tháng Dần. Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng chạp, làm tháng đầu năm. Nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng mười một, làm tháng Tết. Các vua chúa nói trên quan niệm về ngày giờ “tạo thiên lập địa” như sau: giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người nên đặt ra ngày tết khác nhau.[7] Đời Đông Chu, Khổng Tử đổi ngày Tết vào một tháng nhất định là tháng Dần. Đời nhà Tần (thế kỷ 3 TCN), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi, tức tháng mười. Đến thời nhà Hán, Hán Vũ Đế (140 TCN) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần, tức tháng giêng. Từ đó về sau, không còn triều đại nào thay đổi về tháng Tết nữa.[3]

Nguồn gốc của tết vẫn còn đang được tranh cãi đó, nhưng hầu hết thông tin đều cho rằng ngày tết Nguyễn Đán có nguồn gốc từ Trung Quốc và được du nhập về Việt Nam trong 1000 năm bắc thuộc. Nhưng theo sự tích “Bánh chưng bánh dày” thì người Việt đã ăn tết từ thời vua Hùng, nghĩa là trước 1000 năm bắc thuộc.

Thời Tam Hoàng Ngũ Đế từ năm 2852 – 2205 TCN, nhưng theo lịch sử Việt Nam cho thấy Họ Hồng Bàng dựng nước Văn Lang từ năm Nhâm Tuất 2879 TCN, trị vì cả 2.622 năm. Kinh Dương Vương sinh ra Lạc Long Quân, sau khi nối ngôi, vị vua hiền đức này kết hôn cùng bà Âu Cơ sinh ra Hùng Vương. Từ thời đó, người Việt ta đã ăn Tết. Nếu điều này đúng thì tết ở Việt Nam đã có từ trước thời Tam Hoàng Ngũ Đế. Khổng Tử đã viết trong cuốn Kinh Lễ: “Ta không biết Tết là gì, nghe đâu đó là tên của một ngày lễ hội lớn của bọn nguời Man, họ nhảy múa như điên, uống rượu và ăn chơi vào những ngày đó, họ gọi tên cho ngày đó là Tế Sạ[8]“. Sách Giao Chỉ Chí cũng có đoạn viết “Bọn người Giao Quận thường tập trung lại từng phường hội nhảy múa hát ca, ăn uống chơi bời trong nhiều ngày để vui mừng một mùa cấy trồng mới, chúng gọi ngày đó là Nèn- Thêts, không những chỉ có dân làm nông mà tất cả người nhà của Quan lang, Chúa động cũng đều tham gia lễ hội này. Chỉ có bọn man di mới có ngày hội mà người trên kẻ dưới cùng nhau nhảy múa như cuồng vậy, bên ta[9] không có sự Quân thần điên đảo như thế.” Ta cũng có thể nói Tết có nguồn gốc từ Việt Nam.

Tết của hai quốc gia Việt Nam và Trung Quốc có ảnh hưởng lẫn nhau, nhưng vẫn có những đặc trưng riêng của hai quốc gia.

Trước năm 1967, Việt Nam lấy múi giờ Bắc Kinh làm chuẩn cho âm lịch. Ngày 8 tháng 8 năm 1967, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành đổi lịch dùng múi giờ GMT+7 làm chuẩn ở miền Bắc. Vì thế hai miền nam bắc Việt Nam đón Tết Mậu Thân hai ngày khác nhau (miền Bắc ngày 29 tháng 1 trong khi miền Nam thì ngày 30 tháng 1).[10] Từ năm 1976, cả 2 miền nam bắc mới dùng chung múi giờ GMT+7.

Các giai đoạn chính trong Tết

Người Việt Nam quan niệm rằng ngày Tết thì tất cả mọi thứ đều phải thật sớm và mới.[11] Do đó trước ngày Tết khoảng hơn 2 tuần, các gia đình đã sắm sửa cho ngày Tết. Họ thường quét dọn, trang trí nhà cửa, mua hoa, sắm thức ăn… thật chu đáo cho ngày Tết.[11] Ngoài ra, tất cả những vật dụng không cần thiết hoặc bị cho là đem lại điềm gở cũng bị vứt bỏ.[11]

Cuối năm

Một gia đình đang gói bánh chưng chuẩn bị cho ngày Tết Âm lịch.

Công việc sửa soạn cho ngày Tết của người Việt thường bắt đầu từ ngày 23 tháng Chạp, là ngày mà người Việt cúng ông Táo (Táo quân). Theo quan điểm của người Việt thì ông Táo vừa là thần bếp trong nhà vừa là người ghi chép tất cả những việc làm tốt xấu mà con người đã làm trong năm cũ và báo cáo với Ngọc Hoàng những vấn đề tốt xấu của gia chủ. Ông Táo được cúng vào trưa hoặc chiều ngày 23 tháng Chạp âm lịch hàng năm. Lễ cúng gồm có hương (nhang), nến, hoa quả, vàng mã và hai mũ đàn ông, một mũ đàn bà kèm theo ba con cá chép (cá chép thật hoặc cá chép làm bằng giấy kèm theo cỗ mũ). Theo sự tích ông Táo, cá chép sẽ đưa ông Táo vượt qua Vũ Môn để lên Thiên đình gặp Ngọc Hoàng. Một số gia đình ở nông thôn vẫn còn gìn giữ phong tục dựng cây nêu, trong khi ở thành phố, phong tục này đã bị lãng quên. Theo phong tục, cây nêu được dựng lên để chống lại quỷ dữ và những điềm gở.[12] Cây nêu thường được treo hoặc trang trí thêm những thứ được coi là để dọa ma quỷ như: tỏi, xương rồng, hình nộm và lá dứa. Trước ngày Tết, người Việt cũng chuẩn bị bánh chưng, bánh giầy còn ở miền nam thì loại bánh phổ biến là bánh tét và các món ăn thịnh soạn để dâng lên ông bà tổ tiên.[13]

Tất niên

Bài chi tiết: Tất niên

Ngày Tất niên có thể là ngày 30 tháng Chạp (nếu là năm đủ) hoặc 29 tháng Chạp (nếu là năm thiếu). Đây là ngày gia đình sum họp lại với nhau để ăn cơm buổi tất niên. Buổi tối ngày này, người ta làm cỗ cúng tất niên. Giữa ngày 30 (hoặc 29) tháng Chạp và ngày mồng 1 tháng Giêng, giờ Tý (từ 23 giờ hôm trước đến 1 giờ hôm sau), trong đó thời điểm bắt đầu giờ Chính Tý (0 giờ 0 phút 0 giây ngày Mồng 1 tháng Giêng) là thời khắc quan trọng nhất của dịp Tết. Nó đánh dấu sự chuyển giao năm cũ và năm mới, nó được gọi là Giao thừa. Để ghi nhận thời khắc này, người ta thường làm hai mâm cỗ. Một mâm cúng gia tiên tại bàn thờ ở trong nhà mình và một mâm cúng thiên địa ở khoảng sân trước nhà. Một số cộng đồng lấy con hổ là vật thờ thì gọi là cúng Ông Ba Mươi. Một số cộng đồng khác thì có một phần cỗ dành để cúng chúng sinh, cúng những cô hồn lang thang không nơi nương tựa.

Một cụ già mặc áo the để cúng tất niên.

Sắp dọn bàn thờ Trong gia đình người Việt thường có một bàn thờ tổ tiên, ông bà (hay còn gọi ông Vải). Cách trang trí và sắp đặt bàn thờ khác nhau tùy theo từng nhà. Biền, bàn thờ là nơi tưởng nhớ, là thế giới thu nhỏ của người đã khuất. Hai cây đèn tượng trưng cho mặt trời, Mặt Trăng và hương là tinh tú. Hai bát hương để đối xứng. Phía sau hai cây đèn thường có hai cành hoa cúc giấy với nhiều bông nhỏ bao quanh bông lớn. Có nhà cũng cắm “cành vàng lá ngọc” (một thứ hàng mã) với sự cầu mong làm ăn được quả vàng, quả bạc và buôn bán lãi gấp nhiều lần năm trước. Ở giữa có trục “vũ trụ” là khúc trầm hương dưới dạng khúc khủy và vươn lên trong bát hương. Nhiều gia đình đặt xen hai cái đĩa giữa đèn và hương để đặt hoa quả lễ gọi là mâm ngũ quả (tuỳ mỗi miền có sự biến thiên các loại quả, nhưng mỗi loại quả đều có ý nghĩa của nó). Trước bát hương để một bát nước trong để coi như nước thiêng. Hai cây mía đặt ở hai bên bàn thờ là để các cụ chống gậy về với con cháu và dẫn linh hồn tổ tiên từ trên trời về hạ giới.

Giao thừa

Ông đồ viết chữ lên giấy dó
Bài chi tiết: Giao thừa

Giao thừa là thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới. Trong thời khắc giao thừa mọi người trong gia đình thường dành cho nhau những lời chúc tốt đẹp nhất. Dịp này, người ta thường bắn pháo hoa ở những địa điểm rộng rãi, thoáng mát.[14]

Cúng Giao thừa là lễ cúng để đem bỏ hết đi những điều xấu của năm cũ sắp qua để đón những điều tốt đẹp của năm mới sắp đến.[15]

Cúng Giao thừa ngoài trời

Theo tục lệ cổ truyền thì Giao thừa được tổ chức nhằm đón các Thiên binh (chữ Hán: 天兵, tức 12 vị Hành khiển). Lúc đó họ đi thị sát dưới hạ giới, rất vội không kịp vào tận bên trong nhà được, nên bàn cúng thường được đặt ở ngoài cửa chính mỗi nhà. Hết một năm, vị Hành khiển (行遣) cũ đã cai quản Hạ giới trong năm cũ sẽ bàn giao công việc cho vị Hành khiển mới đi xuống sẽ cai quản Hạ giới trong năm mới. Mỗi năm có một vị, sau 12 năm thì các vị Hành khiển sẽ luân phiên trở lại. Mười hai vị Hành khiển và Phán quan (判官) gồm:

  1. Năm Tý: Chu Vương Hành Khiển, Thiên Ôn Hành Binh chi Thần, Lý Tào Phán quan.
  2. Năm Sửu: Triệu Vương Hành Khiển, Tam thập lục phương Hành Binh chi Thần, Khúc Tào Phán quan.
  3. Năm Dần: Ngụy Vương Hành Khiển, Mộc Tinh chi Thần, Tiêu Tào Phán quan.
  4. Năm Mão: Trịnh Vương Hành Khiển, Thạch Tinh chi Thần, Liêu Tào Phán quan.
  5. Năm Thìn: Sở Vương Hành Khiển, Hỏa Tinh chi Thần, Biểu Tào Phán quan.
  6. Năm Tỵ: Ngô Vương Hành Khiển, Thiên Hải chi Thần, Hứa Tào Phán quan.
  7. Năm Ngọ: Tấn Vương Hành Khiển, Thiên Hao chi Thần, Nhân Tào Phán quan.
  8. Năm Mùi: Tống Vương Hành Khiển, Ngũ Đạo chi Thần, Lâm Tào Phán quan.
  9. Năm Thân:Tề Vương Hành Khiển, Ngũ Miếu chi Thần, Tống Tào Phán quan.
  10. Năm Dậu: Lỗ Vương Hành Khiển, Ngũ Nhạc chi Thần, Cự Tào Phán quan.
  11. Năm Tuất: Việt Vương Hành Khiển, Thiên Bá chi Thần, Thành Tào Phán quan.
  12. Năm Hợi: Lưu Vương Hành Khiển, Ngũ Ôn chi Thần, Nguyễn Tào Phán quan.

Mâm cỗ cúng Giao thừa ở ngoài trời.

Mâm lễ được sắp bày với lòng thành kính tiễn đưa người Nhà Trời đã cai quản mình năm cũ trở lại Thiên đình và đón người mới xuống sẽ làm nhiệm vụ cai quản Hạ giới năm tới. Vì việc bàn giao, tiếp quản công việc hết sức khẩn trương nên các vị chỉ có thể ăn vội vàng hoặc mang theo, thậm chí chỉ chứng kiến lòng thành của chủ nhà. Trên chiếc hương án có bình hương, hai ngọn đèn dầu hoặc hai ngọn nến.

Lễ vật gồm các chiếc thủ lợn hoặc con , bánh chưng, mứt kẹo, trầu cau, hoa quả, rượu hoặc nướcvàng mã. Các quan mặc dầu phút bàn giao bận rộn khẩn trương nhưng vì là… người nhà trời nên có tài thấu hiểu ngay “Ruột gan” của gia chủ. Nếu có ý cầu lợi, mua chuộc, đút lót, các vị chỉ nhìn dấu hiệu ở khói hương, lửa đèn là biết ngay, và lập tức các vị dông thẳng, không thèm ngó ngàng gì đến vật cúng giao thừa của các nhà cầu lợi ấy. Trái lại, những nhà chân chất, thật thà, sống bằng lao động, ăn ở tử tế thì có khi chỉ cần chén rượu, nén hương (như Thổ công đánh tín hiệu qua hương đèn), các vị có chức trách biết ngay mà vui vẻ thưởng thức, dốc lòng phù hộ.

Lễ trừ tịch còn là lễ để “khu trừ ma quỷ”, do đó có từ “trừ tịch”. Lễ trừ tịch cử hành vào lúc giao thừa nên còn mang tên là lễ giao thừa.

Cúng Giao thừa trong nhà

Bàn thờ Tổ tiên chuẩn bị cho việc cúng giao thừa.

Cúng Giao thừa trong nhà là lễ cúng tổ tiên vào chính thời khắc giao thừa vừa tới nhằm để cầu xin Tổ tiên phù hộ độ trì cho gia đình gặp những điều tốt lành trong năm mới sắp đến. Mâm lễ bao gồm các món ăn mặn ngày Tết được chế biến tinh khiết với phong cách trang nghiêm.

Cỗ mặn gồm có bánh chưng, giò, chả, xôi gấc, thịt gà, xôi các loại, rượu, bia và các loại thức uống khác. Các món ăn mặn khác tùy theo nhu cầu của gia đình. Cỗ ngọt và chay bao gồm Hương, hoa, đèn nến, bánh kẹo, mứt tết.

Khi cúng Giao thừa trong nhà, các thành viên trong gia đình thường đứng trang nghiêm trước bàn thờ (không cần tất cả, chỉ cần gia chủ và vài ba người nữa) để khấn tổ tiên và xin được các cụ phù hộ độ trì trong nhà mới và cầu an khang thịnh vượng, sức khỏe tốt. Trước khi khấn Tổ tiên để mời tiền nhân về ăn Tết cùng với con cháu hậu thế, các gia chủ thường khấn thần Thổ Công để xin phép cho tổ tiên về ăn Tết. Ông là vị thần cai quản trong nhà (thường bàn thờ tổ tiên ở giữa, bàn thờ Thổ Công ở bên trái).

Bảy ngày đầu năm

Một bình hoa mai ngày Tết

Ba ngày Tân niên

“Ngày mồng Một tháng Giêng” là ngày Tân niên đầu tiên và được coi là ngày quan trọng nhất trong toàn bộ dịp Tết. Không kể những người tốt số, hợp tuổi được mời đi xông đất, vào sáng sớm ngày này, người Việt cổ thường không ra khỏi nhà, chỉ bày cỗ cúng Tân niên, ăn tiệc và chúc tụng nhau trong nội bộ gia đình. Đối với những gia đình đã tách khỏi cha mẹ và cha mẹ vẫn còn sống, họ đến chúc tết các ông bố theo tục: Mồng Một Tết cha.

“Ngày mồng Hai tháng Giêng” là ngày có những hoạt động cúng lễ tại gia vào sáng sớm. Sau đó, người ta chúc tết các bà mẹ theo tục Mồng Hai Tết mẹ. Riêng đàn ông chuẩn bị lập gia đình còn phải đến nhà cha mẹ vợ tương lai (nhạc gia) để chúc Tết theo tục Đi sêu.

“Ngày mồng Ba tháng Giêng” là ngày sau khi cúng cơm tại gia theo lệ cúng ít nhất đủ ba ngày Tết, các học trò thường đến chúc Tết thầy dạy học theo tục Mồng Ba Tết thầy[16]. Trong những ngày này người ta thường đi thăm viếng, hỏi thăm nhau những điều đã làm trong năm cũ và những điều sẽ làm trong năm mới.

Đối với cộng đồng người Công giáo Việt Nam, ba ngày đầu năm họ thường tham dự thánh lễnhà thờ với ý cầu nguyện cho từng ngày: mồng Một cầu nguyện bình an cho năm mới, mồng Hai cầu nguyện cho tổ tiên, ông bà, cha mẹ nếu còn sống và tưởng nhớ nếu đã qua đời, mồng Ba cầu nguyện thánh hóa cho công ăn, việc làm trong năm mới được tốt đẹp.

Xông đất

Xông đất (hay đạp đất, mở hàng) là tục lệ đã có lâu đời ở Việt Nam. Nhiều người quan niệm ngày Mồng Một “khai trương” một năm mới. Họ cho rằng vào ngày này, nếu mọi việc diễn ra suôn sẻ, may mắn, cả năm cũng sẽ được tốt lành, thuận lợi. Ngay sau thời khắc giao thừa, bất cứ người nào bước từ ngoài vào nhà với lời chúc năm mới được coi là đã xông đất cho gia chủ.[17] Người khách đến thăm nhà đầu tiên trong một năm cũng vì thế mà quan trọng. Cho nên cứ cuối năm, mọi người cố ý tìm xem những người trong bà con hay láng giềng có tính vui vẻ, linh hoạt, đạo đức và thành công để nhờ sang thăm. Người đến xông đất thường chỉ đến thăm, chúc tết chừng 5 đến 10 phút chứ không ở lại lâu, cầu cho mọi việc trong năm của chủ nhà cũng được trôi chảy thông suốt.

Cách chọn tuổi xông đất:

  1. Tuổi Giáp hạp với Kỷ mà kỵ với CanhMậu.
  2. Tuổi Ất hạp với Canh mà kỵ với TânKỷ.
  3. Tuổi Bính hạp với Tân mà kỵ với NhâmCanh.
  4. Tuổi Đinh hạp với Nhâm mà kỵ với QuýTân.
  5. Tuổi Mậu hạp với Quý mà kỵ với GiápNhâm.
  6. Tuổi Kỷ hạp với Giáp mà kỵ với ẤtQuý.
  7. Tuổi Canh hạp với Ất mà kỵ với BínhGiáp.
  8. Tuổi Tân hạp với Bính mà kỵ với ĐinhẤt.
  9. Tuổi Nhâm hạp với Đinh mà kỵ với MậuBính.
  10. Tuổi Quý hạp với Mậu mà kỵ với KỷĐinh.

Người đi xông đất xong có niềm vui vì đã làm được việc phước, người được xông đất cũng sung sướng vì tin tưởng gia đạo mình sẽ may mắn trong suốt năm tới.[17] Thời xưa, chỉ có hai cách chọn người tốt vía xông đất ngày đầu năm. Kẻ làm quan, người có học chọn người xông đất có tuổi hợp tuổi với chủ nhà.

Xuất hành và hái lộc

Xuất hành là lần đi ra khỏi nhà đầu tiên trong năm, thường được thực hiện vào ngày tốt đầu tiên của năm mới để đi tìm may mắn cho bản thân và gia đình. Trước khi xuất hành, người ta phải chọn ngày Hoàng đạo, giờ Hoàng đạo và các phương hướng tốt để mong gặp được các quý thần, tài thần, hỉ thần… Tại miền Bắc, nếu xuất hành ra chùa hay đền, sau khi lễ bái, người Việt còn có tục bẻ lấy một cành lộc để mang về nhà lấy may, lấy phước. Đó là tục hái lộc. Cành lộc là một cành đa nhỏ hay cành đề, cành si… là những loại cây quanh năm tươi tốt và nảy lộc. Tục hái lộc ở các nơi đền, chùa ngụ ý xin hưởng chút lộc của Thần, Phật ban cho nhân năm mới. Cành lộc thường đem về cắm ở bàn thờ. Khác với miền Bắc, miền Trung không có tục hái lộc đầu năm nhờ thế mà cây cối trong các đền chùa ở miền Trung vẫn giữ nguyên lá xanh biếc suốt cả mùa xuân.[17]

Tuy nhiên việc hái lộc ngày nay đã có những quan niệm trái chiều so với trước đó là: – Việc hái lộc không nên vì có thể có những cành lộc có “Vong” (linh hồn) bám theo. Khi chúng ta hái lộc về vô tình sẽ mang “Vong” về theo, nếu “Vong” tốt thì không sao nhưng nếu “Vong” xấu thì có thể làm cho nhà cửa chúng ta không may mắn… Đây là vấn đề mang tinh Duy tâm tuy nhiên nó cũng có cái lý của nó. – Tiếp theo việc hái lộc đôi khi làm ảnh hưởng đến cây xanh cảnh quan đô thị vì tâm lý mọi người đều muốn đem thật nhiều lộc về nhà cầu may, do vậy đã không ít trường hợp làm hỏng hết cây cối gây ảnh hưởng đến môi trường… – Cuối cùng việc hái lộc đôi khi dẫn đến xô xát do việc tranh cướp hoặc hái “trộm” lộc trong các cơ quan nhạy cảm như Ngân hàng chẳng hạn… Những việc làm này không biết có mang lại may mắn không nhưng nó phản ánh mặt xấu của Văn hóa ứng xử của những người trong cuộc…

Vào những ngày đầu năm, khi mặt trời mọc, người ta đi ra khỏi nhà xem chiều gió thổi và có thể đoán được năm mới hên hay xui chẳng hạn:

  • Gió Nam: chỉ đại hạn;
  • Gió Tây: chỉ cướp bóc loạn lạc;
  • Gió Tây Nam: chỉ bệnh dịch tả;
  • Gió Bắc: chỉ được mùa vừa phải;
  • Gió Tây Bắc: chỉ được mùa đỗ, đậu;
  • Gió Đông: chỉ có lụt lớn.[17]

Chúc Tết

Chúc mừng năm mới - Tết 2009.jpg

Sáng mồng Một Tết còn gọi là ngày Chính đán, con cháu tụ họp ở nhà tộc trưởng để lễ Tổ Tiên và chúc tết ông bà, các bậc huynh trưởng. Theo quan niệm, cứ năm mới tới, mỗi người tăng lên một tuổi, bởi vậy ngày mồng Một Tết là ngày con cháu “chúc thọ” ông bà và các bậc cao niên (ngày xưa, các cụ thường không nhớ rõ ngày tháng sinh nên chỉ biết Tết đến là tăng thêm một tuổi).

Tục thăm viếng

  • Thăm viếng họ hàng là để gắn kết tình cảm gia đình họ hàng. Lời chúc tết thường là sức khỏe, phát tài phát lộc, gặp nhiều may mắn, mọi ước muốn đều thành công… Những người năm cũ gặp rủi ro thì động viên nhau tai qua nạn khỏi hay của đi thay người nghĩa là trong cái họa cũng tìm thấy cái phúc, hướng về sự tốt lành.
  • Đến thăm những người hàng xóm của mình và những gia đình sống gần với gia đình mình, chúc họ những câu tốt lành đầu năm mới. Những chuyến thăm hỏi này giúp gắn kết mọi người với nhau, xóa hết những khúc mắc của năm cũ, vui vẻ đón chào năm mới.
  • Đến thăm những người bạn bè, đồng nghiệp và những người thân thiết với mình để chúc họ những câu tốt lành, giúp tình cảm bạn bè gần gũi hơn.

Mừng tuổi

Phong bì lì xì treo trên cây mai

Lì xì (压岁钱, phát âm: ya sui qian): người lớn thường tặng trẻ em tiền bỏ trong một bao giấy đỏ, hay “hồng bao”, gọi là “lì xì” với những lời chúc mừng ăn no, chóng lớn. Theo cổ tích Trung Quốc thì trong “hồng bao” có 8 đồng tiền (là Bát Tiên hóa thân) được đặt dưới gối đứa trẻ để xua đuổi quỷ đến quấy nhiễu, vì ma sẽ sợ giấy màu đỏ.

Theo truyền thuyết:

Ngày xưa có một con yêu quái thường xuất hiện vào đêm Giao thừa khiến trẻ con giật mình khóc thét lên. Hôm sau đứa trẻ nhức đầu, sốt cao, làm cho bố mẹ không dám ngủ, phải thức canh phòng yêu quái. Có một cặp vợ chồng nọ mới sinh được một mụn con trai kháu khỉnh. Tết năm đó, có 8 vị tiên dạo qua, biết trước cậu bé sẽ gặp nạn liền hóa thành 8 đồng tiền ngày đêm túc trực bên cậu bé. Sau khi cậu bé ngủ say, hai vợ chồng lấy giấy đỏ gói những đồng tiền này lại và đặt lên gối con rồi ngủ. Nửa đêm, con yêu quái xuất hiện định làm hại đứa trẻ thì từ chiếc gối loé lên những tia vàng sáng rực, khiến nó khiếp vía bỏ chạy.[18]

Tiền mừng tuổi nhận được trong ngày Tết gọi là “Tiền mở hàng”. Xưa còn có lệ cho tiền phong bao với số tiền lẻ (chứ không phải là tiền chẵn), ngụ ý tiền này sẽ sinh sôi nảy nở thêm nhiều.[19]

Hóa vàng

Ngày mồng 4 tháng Giêng theo lịch cổ là ngày con nước. Trong ngày này, người Việt làm lễ cúng tổ tiên đã về ăn Tết với con cháu và đốt nhiều vàng mã để tiền nhân về cõi âm có thêm tiền vốn đầu năm, đặng phù hộ độ trì cho con cháu hậu thế làm ăn phát đạt. Tại nhiều vùng ở Đồng bằng Bắc Bộ, người Việt có tục hát chèo đò đưa tổ tiên trở lại thế giới bên kia.

Tục hóa vàng ngày mồng 4 hoặc mồng 5, không ít gia đình vẫn theo truyền thống cũ: làm cơm, đốt vàng mã gửi người thân khuất bóng lời cầu nguyện một năm mới nhiều may mắn.[20] Theo nhà sử học Dương Trung Quốc, tục hoá vàng dựa trên tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, vật hoá vàng thường gắn với đời sống thường nhật, để thấy con người ở thế giới vô hình bên kia sống gần với dương gian.[21] Vào ngày mồng 4 và mồng 5 tháng Giêng, người ta kiêng xuất hành vì đây là ngày không tốt.

Khai hạ

Ngày mồng 7 tháng Giêng (cũng có thể là mồng 6 tháng Giêng) là ngày cuối cùng của chuỗi lễ hội Tết. Trong ngày này, người Việt làm lễ hạ Cây nêu, gọi là lễ Khai hạ, kết thúc dịp Tết Nguyên đán và bắt đầu bước vào việc làm ăn trong năm mới từ ngày mồng 8 hoặc mồng 9 tháng Giêng.[22]

Sắm tết

Bài chi tiết: Chợ Tết

Chợ Tết là những phiên chợ có phiên họp chợ vào trước tết từ 25 tháng Chạp cho đến 30 tháng Chạp, bán nhiều mặt hàng, nhưng nhiều nhất là các mặt hàng phục vụ cho tết Nguyên đán, như lá dong để gói bánh chưng, gạo nếp để gói bánh chưng hoặc nấu xôi, gà trống, các loại trái cây dùng thờ cúng (ngũ quả) để cúng tổ tiên,…[23] Vì tất cả những người buôn bán hầu như sẽ nghỉ bán hàng trong những ngày Tết, những ngày đầu năm mới không họp chợ, nên phải mua để dùng cho đến khi họp chợ trở lại đưa đến mức cầu rất cao. Người Việt có câu mồng bốn chợ ma, mồng ba chợ người nên chợ được họp phiên đầu năm là mồng ba tết (ngày 3 tháng 1 âm lịch). Hơn nữa, chợ Tết cũng để thỏa mãn một số nhu cầu mua sắm để thưởng ngoạn, để lễ bái như hoa tết, những loại trái cây, đặc biệt là dưa hấu và những loại trái có tên đem lại may mắn như mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài,… Những loại chợ Tết đặc biệt cũng sẽ chấm dứt vào trước giờ Ngọ giao thừa. Vào những ngày này, các chợ sẽ bán suốt cả đêm, và đi chợ Tết đêm là một trong những cái thú đặc biệt. Kèm theo các chợ mua bán ngày giáp tết đông đúc, nhiều nơi còn tổ chức các chợ hoa nhằm vui xuân.

Hiện nay, nhiều chợ Gốm đã được mở vào ngày giáp Tết để phục vụ người dân.[24]

Dọn dẹp, trang trí

Mâm ngũ quả

Bài chi tiết: Mâm ngũ quả

Mâm ngũ quả là một mâm trái cây có chừng năm thứ trái cây khác nhau thường có trong ngày Tết Nguyên Đán của người Việt. Các loại trái cây bày lên thể hiện nguyện ước của gia chủ qua tên gọi, màu sắc và cách sắp xếp của chúng.

Một mâm Ngũ quả ngày Tết ở miền Bắc Việt Nam, gồm cam, quất, bưởi, chuối và dứa.

Chọn 5 thứ quả theo quan niệm người xưa là ngũ hành ứng với mệnh của con người. Chọn số lẻ tượng trưng cho sự phát triển, sinh sôi.

Mâm ngũ quả của người miền Bắc gồm: chuối, bưởi, đào, hồng, quýt hay là chuối, ớt, bưởi, quất, . Có thể thay thế bằng cam, lê-ki-ma, táo, mãng cầu. Nói chung, người miền Bắc không có phong tục khắt khe về mâm ngũ quả và hầu như tất cả các loại quả đều có thể bày được, miễn là nhiều màu sắc.

Mâm ngũ quả người miền Nam gồm dừa, đu đủ, mãng cầu Xiêm, xoài, sung, với ngụ ý cầu sung vừa đủ xài.[25] Người miền Nam thường kiêng kỵ chưng trái có tên mang ý nghĩa xấu (kể cả khi đọc trại) như chuối – chúi nhủi, cam – cam chịu, lê – lê lết, sầu riêng, bom (táo), lựulựu đạn… và không chọn trái có vị đắng, cay.

Cây nêu

Bài chi tiết: Cây nêu

Cây nêu ngày Tết ở nông thôn Việt Nam, xuân Mậu Tý 2008.

Cây nêu là một cây tre cao khoảng 5–6 mét.[12] Ở ngọn thường treo nhiều thứ (tùy theo từng địa phương) như vàng mã, bùa trừ tà, cành xương rồng, bầu rượu bện bằng rơm, hình cá chép bằng giấy (để táo quân dùng làm phương tiện về trời), giải cờ vải tây, điều (màu đỏ), đôi khi người ta còn cho treo lủng lẳng những chiếc khánh nhỏ bằng đất nung, mỗi khi gió thổi, những khánh đất va chạm nhau tại thành những tiếng kêu leng keng nghe rất vui tai… Ở Gia Định xưa, sách Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức, Tập Hạ chép rằng: “bữa trừ tịch (tức ngày cuối năm) mọi nhà ở trước cửa lớn đều dựng một cây tre, trên buộc cái giỏ bằng tre, trong giỏ đựng trầu cau vôi, ở bên giỏ có treo giấy vàng bạc, gọi là “lên nêu”… có ý nghĩa là để làm tiêu biểu cho năm mới mà tảo trừ những xấu xa trong năm cũ“.[12]

Người ta tin rằng những vật treo ở cây nêu, cộng thêm những tiếng động của những khánh đất, là để báo hiệu cho ma quỷ biết rằng nơiđây là nhà có chủ, không được tới quấy nhiễu… Vào buổi tối, người ta treo một chiếc đèn lồng ở cây nêu để tổ tiên biết đường về nhà ăn Tết với con cháu. Vào đêm trừ tịch còn cho đốt pháo ở cây nêu để mừng năm mới tới, xua đuổi ma quỷ hoặc những điều không maỵ. Cây nêu thường được dựng vào ngày 23 tháng chạp, là ngày Táo quân về trời chính vì từ ngày này cho tới đêm Giao thừa vắng mặt Táo công, ma quỷ thường nhân cơ hội này lẻn về quấy nhiễu, nên phải trồng cây nêu để trừ tà. Ngày 7 tháng Giêng triệt hạ, gọi là “hạ nêu” phàm những khoản vay mượn thiếu thốn trong tiết ấy không được đòi hỏi, đợi ngày hạ nêu rồi mới được đòi hỏi”.[12]

Tranh tết

Tranh Đông Hồ trang trí ngày Tết Nguyên Đán

Phía trên bàn thờ thường treo một tranh dân gian vẽ ngũ quả, chiếc cuốn thư… có khi là một chữ Nho (chữ Tâm, Phúc, Đức…).

Tranh Tết từ lâu đã trở thành một tập quán, một thú chơi của người dân Việt Nam và không chỉ người có tiền mới chơi tranh mà người ít tiền cũng có thể chơi tranh. Nó là một phần không thể thiếu trong không gian của ngày Tết cổ truyền xưa kia. Những màu sắc rực rỡ như khơi gợi nên cảm giác mới mẻ ấm cúng rộn rã sắc xuân trong mỗi gia đình của người Việt.[26]

Câu đối Tết

Bài chi tiết: Câu đối

Để trang hoàng nhà cửa và để thưởng Xuân, trước đây từ các nho học cho tới những người bình dân “tồn cổ” vẫn còn trọng tục treo “câu đối đỏ” nhân ngày Tết. Những câu đối này được viết bằng chữ Nho (màu đen hay vàng) trên những tấm giấy đỏ hay hồng đào cho nên còn được gọi là câu đối đỏ.[27] Bản thân chữ “câu đối đỏ” cũng xuất hiện trong câu đối Tết sau:

Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.

Câu đối thuộc thể loại văn biền ngẫu, gồm hai vế đối nhau nhằm biểu thị một ý chí, quan điểm, tình cảm của tác giả trước một hiện tượng, một sự việc nào đó trong đời sống xã hội. Nên lưu ý là từ đối (對) ở đây có nghĩa là ngang nhau, hợp nhau thành một đôi. Câu đối là một trong những thể loại của Văn học Trung QuốcViệt Nam.

Ngoài ra, ngày nay vẫn còn tồn tại tục “xin chữ” lấy hên đầu năm, với việc mua những tấm thư pháp viết chữ Hán, chữ Nôm, chữ Việt, với mục đích ấy, nhiều phố ông đồ với những ông đồ viết những tấm thư pháp bằng chữ Hán, chữ Nôm, chữ Việt đã được tái lập tại Sài Gòn và Hà Nội.[28] Những năm gần đây, để chấn chỉnh tình trạng lộn xộn và kinh doanh cẩu thả, tại Văn Miếu, Hà Nội đã có những kỳ thi sát hạch các ông đồ trước Tết.[29]

Hoa tết

Ngoài hai loại hoa đặc trưng cho Tết là đào và mai, hầu như nhà nào cũng có thêm những loại hoa để thờ cúng và hoa trang trí. Hoa thờ cúng có thể như hoa vạn thọ, cúc, lay ơn, hoa huệ…; hoa để trang trí thì muôn màu sắc như hoa hồng, hoa thủy tiên, hoa lan, hoa thược dược, hoa violet, hoa đồng tiền… Ngoài ra, hoa hồng, cẩm chướng, loa kèn, huệ tây, lá măng, thạch thảo… cắm kèm sẽ tạo sự phong phú và mang ý nghĩa sum họp cho bình hoa ngày tết. Màu sắc tươi vui chủ đạo của bình hoa cũng ngụ ý cầu mong một năm mới làm ăn phát đạt, gia đình an khang và sung túc.[30]

Hoa đào

Hoa đào Nhật Tân trước đây

Miền Bắc thường chọn cành đào đỏ để cắm trên bàn thờ hoặc cây đào trang trí trong nhà, theo quan niệm người Trung Quốc, đào có quyền lực trừ ma và mọi xấu xa, màu đỏ chứa đựng sinh khí mạnh, màu đào đỏ thắm là lời cầu nguyện và chúc phúc đầu xuân.[31]

Sự tích hoa đào ngày Tết:

Ngày xưa, ở phía Đông núi Sóc Sơn, có một cây hoa đào mọc đã lâu đời. Cành lá đào sum suê, to lớn khác thường, bóng rậm che phủ cả một vùng rộng. Có hai vị thần tên là Trà và Uất Lũy trú ngụ ở trên cây hoa đào khổng lồ này, tỏa rộng uy quyền che chở cho dân chúng khắp vùng. Quỷ dữ hay ma quái nào bén mảng lui đến ắt khó mà tránh khỏi sự trừng phạt của 2 vị thần linh. Ma quỷ rất khiếp sợ uy vũ sấm sét của hai vị thần, đến nỗi sợ luôn cả cây đào. Chỉ cần trông thấy cành hoa đào là bỏ chạy xa bay. Đến ngày cuối năm, cũng như các thần khác, hai thần Trà và Uất Lũy phải lên thiên đình chầu Ngọc Hoàng.

Trong mấy ngày Tết, 2 thần vắng mặt ở trần gian, ma quỷ hoành hành, tác oai tác quái. Để ma quỷ khỏi quấy phá, dân chúng đã đi bẻ cành hoa đào về cắm trong lọ, nhỡ ai không bẻ được cành đào thì lấy giấy hồng điều vẽ hình 2 vị thần linh dán ở cột trước nhà, để xua đuổi ma quỷ.

Từ đó, hàng năm cứ mỗi dịp Tết đến, mọi nhà đều cố gắng đi bẻ cành hoa đào về cắm trong nhà trừ ma quỷ.[32]

Hoa mai

Hoa mai ngày Tết

Hoa Mai, với miền Nam nước Việt, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới rất thích hợp môi trường cho hoa Mai đơm bông nảy mầm mỗi dịp Xuân về Tết đến. Miền Trungmiền Nam lại hay dùng cành mai vàng hơn miền Bắc, màu vàng tượng trưng cho sự cao thượng vinh hiển cao sang, màu vàng còn tượng trưng cho vua (thời phong kiến). Màu vàng thuộc hành Thổ trong Ngũ hành, theo quan điểm người Việt, Thổ nằm ở vị trí trung tâm và màu vàng được tượng trưng cho sự phát triển nòi giống.[33] Đối với người miền Nam, nếu hoa Mai nở đúng vào lúc đón giao thừa hay nở vào sáng sớm ngày mùng một Tết thì điều đó có nghĩa là sự may mắn, thịnh vượng, và hạnh phúc sẽ đến với cả gia đình trong năm đó.[34]

Cây quất

Niềm vui của người dân khi đã mua được một cây quất.

Tết đến, cây quất thường được trang trí tại phòng khách. Cây quất Tết ngày càng có nhiều kiểu dáng cầu kỳ nhưng vẫn phải bảo đảm sự xum xuê, lá xanh tốt, quả vàng chi chít thể hiện sự trù phú, hứa hẹn năm mới được mùa, ăn nên làm ra, dồi dào sức sống.[35]

Ẩm thực ngày Tết

Một chiếc bánh chưng vuông và một chiếc bánh chưng tày vừa được gói

Xôi gấc

Hộp mứt và hạt dưa

Thành ngữ Việt Nam có câu Đói giỗ cha, no ba ngày Tết. Tết đến, dù nghèo khó đến đâu thì người ta cũng cố vay mượn, xoay xở để có đủ ăn trong ba ngày Tết sao cho “già được bát canh, trẻ có manh áo mới”. Hơn thế nữa, dù có đói khát quanh năm thì đến Tết, mọi người mà nhất là trẻ em thường được ăn uống no đủ. Bữa ăn ngày Tết thường có nhiều món, đủ chất hơn và sang trọng hơn bữa ăn ngày thường. Vì vậy mà người ta cũng thường gọi là “ăn Tết”. Ngoài cơm, ngày Tết còn có:

Các loại bánh mứt kẹo được dùng trong dịp Tết.

Những phong tục tập quán và sinh hoạt ngày Tết

Phong tục ngày Tết

Phong tục thất truyền

  • Sêu Tết: Ngày xưa các cặp trai gái đang trong thời kỳ hứa hôn, trước Tết người con rể tương lai phải mang lễ đến biếu bố mẹ vợ [42].
  • Trồng và hạ nêu: Trên cây treo một số vật tượng trưng gọi là bùa nêu để trừ tà quỷ.[42]
  • Hát sắc bùa: Sau giao thừa, trẻ em nhà nghèo tụ thành từng nhóm, đến cửa các nhà vừa hát vừa gõ trống. Chủ nhà bao giờ cũng mở cửa ra phát tiền mừng tuổi cho các em để hai bên cùng gặp hên.[42]
  • Gánh nước: Ngay sau Giao thừa hoặc sáng mồng Một, người nhà mang thùng ra sông hoặc ra giếng làng gánh nước về đổ đầy chum vại, với hy vọng sang năm mới “của cải như nước non”.[42]
  • Chúc Tết theo thứ tự: Chúc theo thứ tự Mồng một nhà trai, mồng hai nhà vợ, mồng ba nhà thầy. Ngày nay tùy theo thời tiết, đường sá, tiện bên nào thì đến bên đó trước.[42]
  • Lạy sống ông bà: Con cháu đến chúc Tết việc đầu tiên là phải vào quỳ lạy sống các cố và ông bà.[42]

Phong tục đại chúng

Người dân đi xem Đường Sách Tết tại Sài Gòn

Chợ hoa Tết
  • Mua và xin câu đối trước Tết: Nhiều người ta mua một câu đối hay hoặc một vài chữ Nho, chữ Hán-Nôm, thư pháp chữ Việt mang ý nghĩa cầu an, cầu tài lộc cho năm mới.[42]
  • Mâm ngũ quả và bàn thờ gia tiên: Được bày biện cầu kỳ đầy đủ vật lễ. Người nội trợ có ý thức mua đủ 5 loại quả và trình bày sao cho đẹp mắt và có ý thể hiện vẻ sung túc của gia đình.[42]
  • Xông nhà: Người ta nhờ người hợp tuổi, hợp mệnh đến xông nhà, cầu mong sang năm lấy được vía tốt của người xông nhà.[42]
  • Chọn hướng xuất hành: Sau giao thừa, có người xuất hành đi du xuân luôn. Họ chọn một hướng tương hợp tương sinh với mình với con giáp của năm để xuất hành cầu tài đón lộc.[42]
  • Mừng tuổi: Chúc mừng tuổi người lớn (ông bà, cha mẹ, họ hàng) và lì xì cho trẻ nhỏ.
  • Lễ chùa: Có người cả năm không đi lễ, nhưng đến Tết nhất thiết phải qua chùa thắp nén hương, dâng tiền giọt dầu hoặc tiền công đức cho chùa. Vào ngày đầu năm, tại chốn linh thiêng, người ta tin rằng điều cầu khấn của mình có nhiều khả năng thành hiện thực.[42]
  • Mua muối: Đầu năm mọi nhà đều mua muối để cầu may mắn đến [43]. Vẫn có câu là Đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi.
  • Khai ấn và Khai bút: Đầu Xuân, nhằm vào ngày tốt, giờ tốt, người có chức tước khai ấn (đóng con dấu lần đầu tiên trong năm); học trò, sĩ phu khai bút (viết bài hoặc một đoạn văn, một câu thơ… đầu tiên trong năm); nhà nông khai canh, (cày ruộng, làm đất, trồng, cấy lần đầu tiên trong năm); người buôn bán thì “khai thương”, (mở hàng lần đầu tiên trong năm)… Sau ngày mùng Một, dù có mải vui cũng chọn ngày để khai nghề, làm lấy ngày. Nếu như mùng Một tốt thì chiều mùng Một bắt đầu. Riêng khai bút thì Giao thừa xong, chọn giờ Hoàng đạo không kể mùng Một là ngày tốt hay xấu. Người thợ thủ công nếu chưa ai thuê mướn đầu năm thì cũng tự làm cho gia đình một sản phẩm, một dụng cụ gì đó. Người buôn bán, vì ai cũng chọn ngày tốt nên phiên chợ đầu xuân vẫn đông, mặc dầu người bán chỉ bán lấy lệ, người ta thường chợ Tết cùng với du xuân (đi chơi Tết).
  • Đi lễ chùa và xin xăm (miền Bắc gọi là xin thẻ): Không ai biết chắc chắn phong tục này có từ bao giờ và tại sao nhưng trong những ngày đầu năm âm lịch thì rất nhiều người thích đi lễ ở các lăng tẩm, đền chùa để cúng bái và xin xăm nhất là vào buổi sáng mồng một, phong tục này thường được tiến hành chung với tục lệ chọn hướng xuất hành và hái lộc. Xin xăm là một hình thức tin vào các thẻ xăm có ghi lời sấm báo trước điềm lành hay dữ trong năm và thường cần có thầy bàn xăm. Ở miễn Bắc có tục “bốc quẻ thẻ” giống như tục “xin xăm” ở phía Nam. Người xin thẻ dâng một lễ mọn rồi chọn lấy một quẻ thẻ bằng tre viết chữ Hán. Trên quẻ thẻ thường ghi một câu văn ngắn gọn rút từ điển tích Trung Hoa cổ. Căn cứ câu văn ấy, người xin thẻ có thể luận ra “tiền định” cuộc đời mình trong năm đó. Nếu không thông thạo Hán Văn, có thể thuê thầy đồ luận giải giúp. Ngày nay, người ta thường bỏ thẻ tre và thay vào đó bằng những tờ bướm in chữ quốc ngữ với lời giải được soạn sẵn.

Sinh hoạt ngày tết

  • Áo quần mới: Ngày xưa, trước Tết một thời gian ngắn, các bà các mẹ trong nhà phải thức khuya quay tơ, dệt vải, may áo quần mới cho cả nhà. Công việc này thường kết thúc vào ngày cuối năm. Đến sáng mùng Một Tết, cả nhà dậy sớm, thay quần áo mới để làm lễ gia tiên. Người ta cho rằng cần phải rũ bỏ những cái cũ, cái không may mắn đi theo quần áo cũ và đón một năm mới với nhiều hi vọng và niềm vui mới từ bộ quần áo mới đó.[44]
  • Dọn dẹp nhà cửa trước Tết: Do tục kiêng cữ quét nhà trong ngày Tết.[45] Theo quan niệm dân gian, việc quét nhà trong ngày Tết sẽ quét đi theo cả lộc xuân (xác pháo đốt trong đêm giao thừa), người quét nhà sẽ bị “rông” cả năm; (rông: được hiểu như sự xui xẻo).
  • Trả nợ cũ: Đối với nhiều người Việt, dịp tất niên là dịp trả nợ cũ, xóa bỏ xích mích của năm cũ, để hướng tới năm mới vui vẻ hòa thuận hơn.[45]
  • Trò chơi dân gian: bịt mắt bắt dê, múa võ, hát bội, hát cải lương, hát chèo, đánh đu, thi leo cột mỡ, đập niêu, chọi gà; bài chòi; chơi tổ tôm điếm; chơi cờ người và nhiều trò dân gian cổ truyền khác.
  • Cờ bạc: Ngày xưa các gia đình có nề nếp quanh năm cấm đoán con cháu không được cờ bạc rượu chè nhưng trong dịp Tết thì tam cúc, cờ gánh, cờ nhảy, chắn, tổ tôm, lắc bầu cua,… ai thích trò nào chơi trò ấy. Đến lễ khai hạ (hạ nêu) thì xé bộ tam cúc, cất bộ tổ tôm…hoặc đốt các bộ bài trong lễ hóa vàng.
  • Treo quốc kỳ: Những năm sau ngày thống nhất đất nước, tại Việt Nam, ngày tết cũng như các ngày lễ trong năm, chính phủ đều khuyến khích treo quốc kỳ. Các công sở, công ty, trường học, nơi sinh hoạt công cộng thường treo quốc kỳ kèm bích chương “Chúc mừng năm mới” và các loại cờ ngũ sắc.
  • Cúng đưa và Hạ nêu: Trong những ngày Tết, người Việt quan niệm rằng có sự hiện diện của Ông Bà tổ tiên nên bàn thờ luôn được thắp hương và cúng cơm mỗi ngày. Thường thì chiều mồng Bốn hay mồng Năm cúng tiễn đưa Ông Bà, chiều mồng Bảy cúng hạ nêu.
  • Đốt pháo thường hay có trong dịp cúng tất niên hay thời khắc giao thừa ngày Tết cổ truyền. Từ năm 1994, nhà nước Việt Nam đã cấm đốt pháo, buôn bán và nhập khẩu pháo bằng Chỉ thị số 406/CT-TTg ngày 8 tháng 8 [46] vì tính chất nguy hiểm dễ gây sát thương của nó. Thay vào đó, chính quyền tổ chức các đêm bắn pháo hoa cho người dân thưởng thức.

Lễ hội Tết

Trái dưa hấu khổng lồ tại Đường hoa Nguyễn Huệ 2009

Các lễ hội truyền thống khác như thi đấu cờ người; đua thuyền, đấu vật, đánh còn, múa lân, múa rồng, thi thả chim bồ câu… tùy theo bản sắc văn hóa của mình, mỗi địa phương đều tổ chức lễ hội ngày tết với những phần “lễ” và phần “hội” chứa đựng những nét văn hóa khác nhau rất phong phú.

Từ năm 2004, tại Thành phố Hồ Chí MinhĐường hoa Nguyễn HuệĐường sách Tết tại phường Bến Nghé, Quận 1 và Hội hoa Xuân thường niên tại công viên Tao Đàn[47][48][49] và từ năm 2009, tại Hà NộiLễ hội phố hoa Hà Nội tại phường Tràng TiềnLý Thái Tổ thuộc quận Hoàn Kiếm để trang hoàng hoa cho khách thưởng ngoạn, tuy không tổ chức hàng năm và phố Ông đồ ở Văn Miếu.[50] Từ năm 2007, tại phường 7 thuộc địa phận thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền GiangĐường hoa Hùng Vương tổ chức hàng năm.[51] Ngoài ra còn Đường hoa Bạch Đằng tại Đà Nẵng, Đường hoa Trấn Biên tại Biên Hòa, Đường hoa Bạch Đằng tại Bình Dương, Đường hoa 16/4 tại Ninh Thuận, Đường hoa Phú Mỹ Hưng tại Khu đô thị Phú Mỹ Hưng, Thành phố Hồ Chí Minh.[52]

Ngoài hội Tết, nhiều địa phương còn tổ chức các lễ hội mùa Xuân đặc biệt, chẳng hạn như:

Tại Hà Nội, vào ngày mùng 5 Tết, lễ hội Quang Trung được tổ chức ở gò Đống Đa, thuộc địa phận phường Quang Trung, quận Đống Đa.[53] và lễ hội Cổ Loa tại xã Cổ Loa thuộc huyện Đông Anh, lễ hội chùa Hương tại xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức ngày mùng 4.

Các nơi khác có Chợ Âm Dương mùng 4 ở phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc NinhChợ Viềng mùng 7 tại xã Kim Thái, huyện Vụ Bản và tại thị trấn Nam Giang, huyện Nam Trực thuộc tỉnh Nam Định, Hội xuân Núi Yên Tử ở xã Thượng Yên Công, thành phố Uông Bí thuộc tỉnh Quảng Ninh.

Tại làng cổ Vân Luông thuộc phường Vân Phú nằm ở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ có hội ném đá, gọi là Ném Chài vào ngày 3 tháng giêng. Từ năm 1946 hội Ném Chài thôi tổ chức vì nguy hiểm tính mạng. Năm 2004 lễ hội được phục hồi nhưng thay ném đá bằng túi vải đựng cát.[54]

Tại xã Đông Hoàng, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa có phiên chợ Chuộng tổ chức vào mùng 6 tết, người dân đến mua bán một số sản vật nông nghiệp để lấy may, còn thanh niên thì đánh nhau để cầu may.[54]

Tín ngưỡng ngày tết

Điềm lành

  • Hoa mai: sau Giao thừa, nếu hoa mai (loại 5 cánh) nở thêm nhiều và đầy đặn thì đó là một điềm may. Và may mắn hơn nữa khi có một hoặc vài bông hoa 6 cánh.[55][56]

Hoa mai vàng 5 cánh.
  • Chó lạ vào nhà: Tục ngữ Mèo đến nhà thì khó, Chó đến nhà thì sang.[55]
  • Cây đào: Nếu có nhiều cánh kép (hoa kép) 3 lớp (hàng) trên đài hoa và có hình dáng như bông hồng thì sẽ có nhiều phúc lộc.[55]
  • Cây quất: Nếu cây có nhiều chồi xanh mọc thì năm đó sẽ có nhiều lộc. Nếu có đủ Tứ quý: Quả chín, quả xanh, hoa và lộc thì sẽ may mắn và thành đạt cả năm.[57]

Cây quất đặt trong phòng khách.

Cửa hàng bán dây lục lạc treo trang trí ngày Tết.

Kiêng kỵ

Theo quan niệm trong ngày đầu năm (Nguyên Đán) mà có nhiều điều tốt đẹp thì cả năm đó chắc chắn sẽ có nhiều điều tốt đẹp đến cho mọi người, có sự giống và khác nhau giữa các miền với niềm tin chính để giữ điều lành trong năm mới. Điển hình, người Việt có một số kiêng kỵ như sau:

Miền Bắc

  • Kỵ mai táng: Ngày Tết Nguyên Đán là ngày vui của toàn dân tộc, ngày mở đầu cho vận hội hanh thông của cả một năm, có ý nghĩa rất thiêng liêng. Gia đình phải tạm gác mối sầu riêng để hoà chung với niềm vui toàn dân tộc. Vì vậy có tục lệ cất khăn tang trong ba ngày Tết. Nhà có đại tang kiêng đi chúc Tết, mừng tuổi bà con, xóm giềng, ngược lại bà con xóm giềng lại cần đến chúc Tết và an ủi gia đình bất hạnh.[58] Trường hợp gia đình có người chết vào ngày 30 tháng chạp mà gia đình có thể định liệu được thì nên chôn cất cho kịp trong ngày đó, đa số các gia đình kiêng để sang ngày mùng Một đầu năm. Trường hợp chết đúng ngày mùng Một Tết thì chưa phát tang vội nhưng phải chuẩn bị mọi thứ để sáng mùng Hai làm lễ phát tang.
  • Ngày mùng Một Tết người ta rất kỵ người khác đến xin lửa nhà mình, vì quan niệm lửa là đỏ là may mắn. Cho người khác cái đỏ trong ngày mùng Một Tết thì cả năm đó trong nhà sẽ gặp nhiều điều không may như làm ăn thua lỗ, trong nhà lủng củng, ra đường hay gặp tai bay vạ gió…[59]
  • Kiêng cho nước đầu năm vì nước được ví như nguồn tài lộc trong câu chúc tiền vô như nước, nếu cho nước thì coi như mất lộc.[59]
  • Trong ngày này, người ta kiêng quét nhà vì theo một điển tích của Trung Quốc, nếu quét nhà thì năm đó gia cảnh sẽ nghèo túng, khánh kiệt. Khi hốt rác trong nhà đổ đi thì thần Tài sẽ đi mất.[59]
  • Ngày đầu năm cũng như ngày đầu tháng, người ta rất kiêng kỵ việc vay mượn hay trả nợ, cho vay. Người xưa quan niệm không nên vay tiền hoặc đồ đạc vào những ngày đầu năm mới, điều đó có thể làm chúng ta rơi vào cảnh túng thiếu cả năm, không may mắn.[58]
  • Trong ăn uống, người ta kiêng ăn thịt chó, cá mè, thịt vịt… Nếu ăn những thứ này vào dịp đầu năm hay đầu tháng sẽ “xúi quẩy”.
  • Ngoài ra, người già cũng khuyên con cháu trong ngày này không được đánh vỡ bát đĩa, ấm chén, cãi nhau, chửi nhau, kiêng những điều không vui xảy ra với gia đình.[58]
  • Người ta thường kiêng khóc lóc, buồn tủi hoặc nói tới điều rủi ro hoặc xấu xa trong dịp Tết.[58]
  • Kiêng mặc quần áo màu trắng và đen: Theo quan niệm của người xưa, màu trắng và đen là màu của tang lễ, chết chóc, vì vậy những ngày đầu năm thì phải mặc trang phục với những màu sắc sặc sỡ và thu hút sự chú ý, tạo nên sự phấn khởi và vui vẻ để đón chào năm mới, như: màu hồng, đỏ, vàng, xanh…[58]
  • Kiêng nói to, cãi nhau, nói xấu hay mắng người khác.[58]
  • Kiêng đi chúc Tết vào sáng Mồng Một Tết nếu không được gia chủ mời vì sợ sẽ mang đến điều không tốt đẹp cho chủ nhà trong năm mới. Theo phong tục xông đất, người đầu tiên bước vào nhà ai trong ngày mùng một Tết chính là người quyết định đem lại sự may mắn hoặc xui xẻo cho gia đình ấy trong cả năm.[58]
  • Ngày mồng 5 tháng giêng Âm lịch là ngày nguyệt kỵ, người Việt thường tin rằng ngày này không thích hợp cho xuất hành.[60]

Miền Trung

[61]

  • Kiêng ăn các món chế biến từ tôm vì sợ năm mới đi giật lùi như tôm.
  • Kiêng ăn trứng vịt lộn, thịt vịt bởi đầu năm mà ăn món này thì sẽ xúi quẩy.
  • Một số vùng kiêng mặc đồ trắng suốt tháng Giêng vì đó là biểu tượng của tang tóc.

Miền Nam

[61]

  • Kiêng để cối xay gạo trống vào ngày đầu năm vì đó là tượng trưng cho việc thất bát, mất mùa năm tới. Người ta thường đổ một ít lúa vào cối xay, ngụ ý cầu mong năm mới lúa gạo đầy tràn.
  • Cũng như trên, kiêng kỵ để thùng gạo, hủ đường muối,… thiếu hụt vì sợ cả năm đều bị thiếu thốn.
  • Gia chủ hễ có khách đến là dọn cỗ, mời uống rượu, ăn bánh. Khách không được từ chối bữa ăn, dù no cũng phải nhấm nháp chút ít.
  • Kiêng các việc làm đổ bể hư hỏng, hoặc tranh cãi to tiếng lẫn nhau.
  • Thường kiêng khóc lóc, buồn tủi hoặc nói tới điều rủi ro hoặc xấu xa trong dịp Tết.
  • Kiêng cử quét nhà ngày đầu năm vì quan niệm quét tiền tài tốt đẹp ra ngoài. Ngoài ra người dân sẽ tắm gội cơ thể trước ngày đầu năm để tránh phải gột rửa may mắn trong năm mới.

Tết của người Việt Nam tại nước ngoài

Người Việt sống ở nước ngoài nếu không có điều kiện về Việt Nam trong dịp Tết cũng tổ chức những hoạt động trong dịp Tết Âm lịch mang đậm truyền thống văn hóa Việt. Nhiều nơi có đông người Việt sinh sống như tại Mỹ, Úc, Pháp, Nga, Đức… người Việt sinh sống tại đây ăn Tết với bánh chưng gói và bán sẵn cũng như các món ăn được đưa từ Việt Nam sang như nước mắm Phan Thiết, cho đến củ tỏi, củ hành, rau húng, rau thơm… Nhiều gia đình cũng lập bàn thờ Gia tiên, bàn thờ cũng có mâm ngũ quả, bánh chưng, mứt Tết, hương trầm, rượu, kim ngân…, có gia đình treo cả câu đối, và một lọ hoa tươi giống như đón Tết cổ truyền tại Việt Nam.[62]

Nhiều nơi, cộng đồng và các hội đoàn người Việt, các chùa Phật giáo, các giáo xứ Công giáo có tổ chức Hội tết và ca nhạc văn nghệ Tết. Sứ quán Việt Nam và các lãnh sự quán Việt Nam tại nước ngoài cũng có tổ chức các hoạt động vui Tết đón xuân cho kiều bào như các buổi tiệc nhỏ hay văn nghệ Tết, như tại Thái Lan, Canada [62]…. Các khu thương xá của người Việt, các khu chợ Việt như tại Little Saigon ở tiểu bang California, Hackney (hay được gọi là “khu Việt Nam” tại Luân Đôn), Cabramatta (còn gọi là Saigonmatta) ở Sydney, Úc… cũng có bán các mặt hàng mứt, bánh chưng, hạt sen, lá dong tươi để gói bánh chưng, bánh tét, gạo nếp, xôi gấc, dừa khô, măng khô… được chuyển từ Việt Nam sang.[63] Chợ hoa cũng có bán cành đào, cành mai, dưa hấu nhập từ các nước châu Á sang để trưng bày trong nhà.

Cổng vào Hội Tết sinh viên 2006

Tại Mỹ, trước Tết Nguyên đán, kiều bào và du học sinh thường kết hợp tổ chức lễ hội mừng Tết lớn cho cộng đồng người Việt và cả cộng đồng người bản xứ. Đặc biệt hơn ở Việt Nam là nơi đây, vào ngày Tết được quyền đốt pháo nên các khu chợ Việt như chợ Lion, khu Little Saigon tràn ngập xác pháo giữa đêm giao thừa cho đến trọn ngày mồng 1 Tết.[64] Hàng năm, vào ngày Tết, đều có các cuộc diễn hành tết của cộng đồng người Việt tại khắp nơi, với các xe hoa và đoàn múa, lớn nhất là tại San Jose do Hội Diễn hành Xuân (Vietnamese Spring Festival) tổ chức, với sự kết hợp của nhiều hội đoàn, tổ chức.[64] Hội chợ tết cũng diễn ra khắp nơi với các phần đốt pháo, múa lân, ca nhạc văn nghệ, tái hiện các làng quê Việt xưa, thi đố vui để học, thi hoa hậu áo dài, thi đấu võ, thi thiếu nhi tài năng, thi gói bánh chưng bánh tét,…[64][65] Như tại Garden Grove, California, công viên Garden Grove Park và trường Bolsa Grande High School hiện nay là địa điểm tổ chức “Hội Tết Sinh viên” hằng năm, với hàng trăm ngàn người tham dự, và do Tổng hội Sinh viên Việt Nam Nam Cali (UVSA) tổ chức liên tục từ năm 1982 đến nay.[66][67] Hội Tết Sinh viên năm 2013 có chủ đề là “Xuân quê hương – Việt Nam anh hùng” và đã được tổ chức trong 3 ngày 08-09-10 tháng 2 năm 2013.[68][69] Hội Tết Sinh viên năm 2014 với chủ đề “Mùa Xuân Mới” sẽ được tổ chức trong ba ngày 7 đến 9 tháng 2 năm 2014 tại Orange County Fair & Event Center.[69][70]

Tại Úc, hàng năm, vào ngày Tết Nguyên Đán, đều có các cuộc diễn hành Tết và Hội Tết của cộng đồng người Việt tại khắp nơi, mang đậm bản sắc văn hóa Việt, như tại Sydney, Melbourne với hàng trăm ngàn người tham dự [71]. Các hội tết cũng có các món ăn Việt, những trò chơi dân gian, những gian hàng chợ tết, bắn pháo hoa, múa lân, tái hiện văn hóa Việt xưa…[71]

Thi ca

Câu đối Tết Bính Tuất (2006):
Ất Dậu qua Gà lâm bệnh nằm im không tiếng gáy
Bính Tuất đến Chó chạy rong đường lớn tiếng sủa vang

Một câu đối Tết tiếng Việt, viết theo lối thư pháp chữ Việt, tại Đường hoa Nguyễn Huệ 2009: “Tân niên hạnh phúc bình an tiến / Xuân nhật vinh hoa phú quý lai”

Tết, và các tục lệ, được nhắc đến rất nhiều trong ca dao Việt Nam:

Mùng Một thì ở nhà cha,
Mùng Hai nhà vợ, Mùng Ba nhà thầy
Mùng Một tết cha,
Mùng Hai tết mẹ, Mùng Ba tết thầy
Cu kêu ba tiếng cu kêu
Mong cho Tết đến dựng nêu ăn chè
Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh

Tết cũng là đề tài cho nhiều văn, thi sĩ:

Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già…

(Vũ Đình LiênÔng đồ)
…Đì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột
Om thòm trên vách bức tranh gà

(Tú Xương)
…Xuân về hoa cải nở vàng hoe.
Gạo nếp ngày xuân gói bánh chưng,
Cả đêm cuối chạp nướng than hồng.
Quần đào, áo đỏ, tranh gà lợn,
Cơm tám, dưa hành, thịt mỡ đông.

(Đoàn Văn CừTết Quê Bà)

Hay câu đối Tết như:

Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa.
Sáng mồng một, rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà.

(Nguyễn Công Trứ)
Tối ba mươi, khép cánh càn khôn, ních chặt lại, kẻo ma vương đưa quỷ tới.
Sáng mồng một, lỏng then tạo hóa, mở toang ra, cho thiếu nữ đón xuân vào.

(Lưu truyền là của Hồ Xuân Hương)

Trong bài Những câu hát châm biếm, có nhắc đến ngày 30 Tết:

Số cô chẳng giàu thì nghèo,
Ngày Ba Mươi Tết thịt treo trong nhà.

Nhạc Tết

Dịp tết là dịp vui vẻ nên không thể thiếu âm nhạc. Trong Tân nhạc Việt Nam có rất nhiều ca khúc sáng tác về chủ đề Tết và mùa Xuân. Trước đây có nhiều ca khúc xưa nổi tiếng như Ly rượu mừng, Đón xuân của Phạm Đình Chương, Xuân và tuổi trẻ của La Hối, Xuân họp mặt của Văn Phụng, Xuân đã về của Minh Kỳ, Anh cho em mùa xuân của Nguyễn Hiền,…[72] Trong thời chiến tranh Việt Nam, có những ca khúc hùng ca cho người chiến sĩ, nung đúc tinh thần họ như bài Xuân chiến khu của Xuân Hồng, nhưng cũng có những ca khúc buồn nói về sự xa cách như Xuân này con không về của bộ ba nhạc sĩ Trịnh Lâm Ngân. Gần đây, nhiều ca khúc vui tươi đã được sáng tác như Thì thầm mùa xuân của Ngọc Châu, Hoa cỏ mùa xuân của Bảo Chấn, Ngày tết quê em của Từ Huy, Mùa xuân ơi của Nguyễn Ngọc Thiện, Con bướm xuân (nhạc ngoại lời Việt), Ngày xuân long phụng sum vầy, …[73] Nhưng từ năm 2000 trở lại đây thiếu vắng những bài nhạc Xuân mới tạo được sự nổi tiếng mà thường là các ca sĩ chỉ hát nhạc cũ và phối âm lại.[74]

Ngoài ra, tết cũng là dịp để các nghệ sĩ thực hiện những show ca múa nhạc tết và hài kịch phục vụ người ái mộ [75]. Các hãng sản xuất phim cũng có phim Tết đặc biệt.

Cụm từ “Tết” được nhắc đến rất nhiều lần trong bài hát “Ngày Tết quê em” của Từ Huy:

Tết Tết Tết Tết đến rồi
Tết Tết Tết Tết đến rồi
Tết Tết Tết Tết đến rồi
Tết đến trong tim mọi người.
Mừng ngày Tết trên khắp quê tôi….

Và bài hát “Mùa xuân ơi” của Nguyễn Ngọc Thiện nhắc nhiều lần cụm từ “Xuân xuân ơi”:

Xuân Xuân ơi! Xuân đã về, có nỗi vui nào hơn ngày xuân đến. Xuân Xuân ơi! Xuân đã về, tiếng chúc giao thừa chào đón mùa xuân. Xuân Xuân ơi! Xuân đến rồi, cánh én bay về cho tim mình náo nức. Xuân Xuân ơi! Xuân đến rồi, những đoá mai vàng chào mừng xuân sang. Nghe âm vang bao câu chúc yên lành….

Các chương trình truyền hình đón Tết

Những ngày đầu năm theo 12 con giáp

Trong bảng này tính các năm từ 1984 đến 2091.[76]

Chi Ngày tháng Dương lịch
2 tháng 2 năm 1984 (Giáp Tý) 19 tháng 2 năm 1996 (Bính Tý) 7 tháng 2 năm 2008 (Mậu Tý) 25 tháng 1 năm 2020 (Canh Tý) 11 tháng 2 năm 2032 (Nhâm Tý) 30 tháng 1 năm 2044 (Giáp Tý) 15 tháng 2 năm 2056 (Bính Tý) 3 tháng 2 năm 2068 (Mậu Tý) 22 tháng 1 năm 2080 (Canh Tý)
Sửu 21 tháng 1 năm 1985 (Ất Sửu) 7 tháng 2 năm 1997 (Đinh Sửu) 26 tháng 1 năm 2009 (Kỷ Sửu) 12 tháng 2 năm 2021 (Tân Sửu) 31 tháng 1 năm 2033 (Quý Sửu) 17 tháng 2 năm 2045 (Ất Sửu) 4 tháng 2 năm 2057 (Đinh Sửu) 23 tháng 1 năm 2069 (Kỷ Sửu) 9 tháng 2 năm 2081 (Tân Sửu)
Dần 9 tháng 2 năm 1986 (Bính Dần) 28 tháng 1 năm 1998 (Mậu Dần) 14 tháng 2 năm 2010 (Canh Dần) 1 tháng 2 năm 2022 (Nhâm Dần) 19 tháng 2 năm 2034 (Giáp Dần) 6 tháng 2 năm 2046 (Bính Dần) 24 tháng 1 năm 2058 (Mậu Dần) 11 tháng 2 năm 2070 (Canh Dần) 29 tháng 1 năm 2082 (Nhâm Dần)
Mão 29 tháng 1 năm 1987 (Đinh Mão) 16 tháng 2 năm 1999 (Kỷ Mão) 3 tháng 2 năm 2011 (Tân Mão) 22 tháng 1 năm 2023 (Quý Mão) 8 tháng 2 năm 2035 (Ất Mão) 26 tháng 1 năm 2047 (Đinh Mão) 12 tháng 2 năm 2059 (Kỷ Mão) 31 tháng 1 năm 2071 (Tân Mão) 17 tháng 2 năm 2083 (Quý Mão)
Thìn 17 tháng 2 năm 1988 (Mậu Thìn) 5 tháng 2 năm 2000 (Canh Thìn) 23 tháng 1 năm 2012 (Nhâm Thìn) 10 tháng 2 năm 2024 (Giáp Thìn) 28 tháng 1 năm 2036 (Bính Thìn) 14 tháng 2 năm 2048 (Mậu Thìn) 2 tháng 2 năm 2060 (Canh Thìn) 19 tháng 2 năm 2072 (Nhâm Thìn) 6 tháng 2 năm 2084 (Giáp Thìn)
Tỵ 6 tháng 2 năm 1989 (Kỷ Tỵ) 24 tháng 1 năm 2001 (Tân Tỵ) 10 tháng 2 năm 2013 (Quý Tỵ) 29 tháng 1 năm 2025 (Ất Tỵ) 15 tháng 2 năm 2037 (Đinh Tỵ) 2 tháng 2 năm 2049 (Kỷ Tỵ) 21 tháng 1 năm 2061 (Tân Tỵ) 7 tháng 2 năm 2073 (Quý Tỵ) 26 tháng 1 năm 2085 (Ất Tỵ)
Ngọ 27 tháng 1 năm 1990 (Canh Ngọ) 12 tháng 2 năm 2002 (Nhâm Ngọ) 31 tháng 1 năm 2014 (Giáp Ngọ) 17 tháng 2 năm 2026 (Bính Ngọ) 4 tháng 2 năm 2038 (Mậu Ngọ) 23 tháng 1 năm 2050 (Canh Ngọ) 9 tháng 2 năm 2062 (Nhâm Ngọ) 27 tháng 1 năm 2074 (Giáp Ngọ) 14 tháng 2 năm 2086 (Bính Ngọ)
Mùi 15 tháng 2 năm 1991 (Tân Mùi) 1 tháng 2 năm 2003 (Quý Mùi) 19 tháng 2 năm 2015 (Ất Mùi) 6 tháng 2 năm 2027 (Đinh Mùi) 24 tháng 1 năm 2039 (Kỷ Mùi) 11 tháng 2 năm 2051 (Tân Mùi) 29 tháng 1 năm 2063 (Quý Mùi) 15 tháng 2 năm 2075 (Ất Mùi) 3 tháng 2 năm 2087 (Đinh Mùi)
Thân 4 tháng 2 năm 1992 (Nhâm Thân) 22 tháng 1 năm 2004 (Giáp Thân) 8 tháng 2 năm 2016 (Bính Thân) 26 tháng 1 năm 2028 (Mậu Thân) 12 tháng 2 năm 2040 (Canh Thân) 1 tháng 2 năm 2052 (Nhâm Thân) 17 tháng 2 năm 2064 (Giáp Thân) 5 tháng 2 năm 2076 (Bính Thân) 24 tháng 1 năm 2088 (Mậu Thân)
Dậu 23 tháng 1 năm 1993 (Quý Dậu) 9 tháng 2 năm 2005 (Ất Dậu) 28 tháng 1 năm 2017 (Đinh Dậu) 13 tháng 2 năm 2029 (Kỷ Dậu) 1 tháng 2 năm 2041 (Tân Dậu) 18 tháng 2 năm 2053 (Quý Dậu) 5 tháng 2 năm 2065 (Ất Dậu) 24 tháng 1 năm 2077 (Đinh Dậu) 10 tháng 2 năm 2089 (Kỷ Dậu)
Tuất 10 tháng 2 năm 1994 (Giáp Tuất) 29 tháng 1 năm 2006 (Bính Tuất) 16 tháng 2 năm 2018 (Mậu Tuất) 2 tháng 2 năm 2030 (Canh Tuất) 22 tháng 1 năm 2042 (Nhâm Tuất) 8 tháng 2 năm 2054 (Giáp Tuất) 26 tháng 1 năm 2066 (Bính Tuất) 12 tháng 2 năm 2078 (Mậu Tuất) 30 tháng 1 năm 2090 (Canh Tuất)
Hợi 31 tháng 1 năm 1995 (Ất Hợi) 17 tháng 2 năm 2007 (Đinh Hợi) 5 tháng 2 năm 2019 (Kỷ Hợi) 23 tháng 1 năm 2031 (Tân Hợi) 10 tháng 2 năm 2043 (Quý Hợi) 28 tháng 1 năm 2055 (Ất Hợi) 14 tháng 2 năm 2067 (Đinh Hợi) 2 tháng 2 năm 2079 (Kỷ Hợi) 18 tháng 2 năm 2091 (Tân Hợi)

Theo quy luật của bảng trên, cứ 2 hoặc 3 năm thì có một năm Tết rơi vào tháng 1, còn lại là tháng 2.

Liên quan

Ý kiến ăn Tết Nguyên Đán theo Dương lịch

Năm 2005, Giáo sư Võ Tòng Xuân đã nêu ra đề xuất “Nên ăn Tết Ta theo lịch Tây“:

Nên nghỉ Tết dương lịch với thời gian như nghỉ Tết âm lịch hiện nay (từ 26/12 đến 4/1), và nghỉ Tết âm lịch như nghỉ Tết dương lịch hiện nay (khoảng 2 ngày là đủ). Tất cả các hoạt động chào mừng năm mới, lễ họi truyền thống… vẫn tiếp tục gìn giữ và phát huy.[77]

Giáo sư đã nêu lên những bất lợi của Tết Nguyên Đán rằng nó sẽ làm mất cơ hội nắm bắt ngay thời cơ kinh doanh, giao thương với nước ngoài và mất thời giờ của nông dân lo chăm sóc lúa đông-xuân, vụ lúa tiềm năng cao nhất trong năm. Gượng ép thời khóa biểu học tập và thi học kỳ của sinh viên học sinh, làm cho họ mất cả 2 tuần lễ học hành; dân chúng nhậu nhẹt, bài bạc dưới nhiều hình thức, rất tốn kém tiền của và thời gian học tập, tổn hại sức khỏe và tính mạng và lãng phí ngày làm việc trong khi quốc tế nghỉ Tết Tây. Giáo sư cho rằng Việt Nam nên gộp như vậy để bắt kịp thế giới, học tập theo gương của nước Nhật Bản (Tết Nhật Bản), thoát khỏi ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc.

Ngay lập tức, đề xuất này đã gây nên những luồng dư luận trái chiều. Những người ủng hộ cho rằng ăn Tết Ta thì sẽ bị lạc bước, lỡ nhịp với thế giới. Tết Ta ngày càng trở nên nhàm chán. Nếu ăn Tết Nguyên Đán theo Dương lịch thì sẽ hội nhập dễ, tiết kiệm thì giờ dành cho Tết, thuận tiện hơn vì chỉ còn một cái Tết.[78] Bỏ Tết Nguyên Đán thì tránh được những thủ tục phiền hà, tốn kém và sẽ tiện đủ đường.[79]

Trái lại, có rất nhiều ý kiến phản đối gay gắt đề xuất này, bao gồm bạn đọc các báo, nghệ sĩ, nhà khoa học… Những người phản đối đã cho rằng nếu thay đổi như vậy thì sẽ gây nên sự mất mát rất lớn về văn hóa thiêng liêng, cổ truyền của dân tộc bởi Tết Nguyên Đán đã ăn sâu trong tâm thức của người dân. Dịp Tết chính là dịp để người thân sum họp sau một năm xa cách. Dịp Tết là dịp để gìn giữ, phát huy văn hóa cổ truyền của dân tộc.[80][81] Giáo sư Sử học Lê Văn Lan đã chỉ ra rằng Tết Dương lịch chỉ là “món ăn thêm”, còn Tết Âm lịch thì đã đi sâu vào máu thịt.[82] Ca sĩ Mỹ Linh đã nói rằng ăn Tết Ta theo Dương lịch là “thảm họa”. Mỹ Linh đã chỉ ra rằng Tết Nguyên đán theo cách tổ chức bao nhiêu đời này là những giây phút thiêng liêng cho sự khởi đầu một năm mới…Chứng tỏ rằng truyền thống dân tộc bao đời vẫn luôn được duy trì trong tâm trí mỗi con người Việt[83]

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ “Tết Nguyên đán, cái “Tết Cả” của văn hóa Việt”. Người đưa tin. Ngày 25 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2012.
  2. ^ “Điềm lành và những kiêng kỵ ngày Tết”. MegaFun. Ngày 23 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2012.
  3. ^ a ă â Huỳnh Trụ (ngày 20 tháng 1 năm 2009). “Tết nguyên đán”. Tổng giáo phận Hà Nội. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2010.
  4. ^ Bách Khoa Trung Quốc, mục từ 春節
  5. ^ Bách Khoa Trung Quốc
  6. ^ Âm lịch Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử – Hồ Ngọc Đức
  7. ^ a ă Bản mẫu:Chú2622 thíchnăm báo
  8. ^ Phiên âm của Tết
  9. ^ Tức Trung Quốc
  10. ^ Đoan Hùng. “Lịch Ta, Lịch Tàu và sự khác biệt”. Truy cập 20 tháng 8 năm 2007.
  11. ^ a ă â “Phong tục ngày Tết Nguyên Đán xưa và nay”. Hà Nội.com. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2012.
  12. ^ a ă â b Nguyễn Nhã. “Cây nêu ngày Tết và tục thờ cúng tổ tiên”. Tuổi Trẻ Online. Bản gốc lưu trữ 14 tháng 3. Truy cập 27 tháng 1 năm 2006. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archivedate= (trợ giúp)
  13. ^ VNN (Tư liệu: Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam) (ngày 31 tháng 1 năm 2008). “Tết của người thiểu số ở Việt Nam”. Tuổi Trẻ Online. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.
  14. ^ “Phong tục ngày Tết”. Ngày 31 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.[liên kết hỏng]
  15. ^ Theo Báo Ninh Thuận (ngày 28 tháng 1 năm 2006). “Tại sao cúng Giao thừa ngoài trời?”. Tuổi trẻ Online. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.
  16. ^ Theo NGUYỄN CHÍNH TÂM – Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần (ngày 16 tháng 1 năm 2009). “Khoa học “Tết””. Tuổi trẻ online. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.
  17. ^ a ă â b Tiếp Thị Gia Đình (ngày 27 tháng 1 năm 2010). 27 tháng 1 năm 2010-xong-dat-dau-nam “Xông đất đầu năm”. vietnamnet.vn. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.
  18. ^ Theo TT (ngày 22 tháng 1 năm 2004). “Lai lịch tiền mừng tuổi”. Việt báo. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.
  19. ^ Trích 100 điều nên biết về phong tục VN (ngày 7 tháng 2 năm 2008). “Phong tục ngày Tết: Chúc Tết, mừng tuổi, xuất hành”. Tuổi trẻ online. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.
  20. ^ Vũ Lê – Hoàng Khuê (ngày 9 tháng 2 năm 2008). “Tục hóa vàng ngày mùng 3”. vnexpress.net. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2010.
  21. ^ Đoàn Loan – Tuấn Dũng (ngày 11 tháng 2 năm 2005). “”Hoá vàng” cúng tiễn tổ tiên”. VnExpress. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.
  22. ^ website Quê Hương (ngày 20 tháng 1 năm 2010). 20 tháng 1 năm 2010-tet-nguyen-dan-o-viet-nam “Nguyên Đán ở Việt Nam”. vietnamnet.vn. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.
  23. ^ Tường Linh (nhà thơ) (ngày 7 tháng 1 năm 2006). “Nhớ chợ Tết làng xưa”. Việt Báo. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2010.
  24. ^ “Đi chợ đồ cổ ngày giáp Tết” (HTML). Thanh niên. Truy cập 6 tháng 2năm 2010. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  25. ^ K.H (sưu tầm) (ngày 21 tháng 1 năm 2006). “Mâm ngũ quả ngày Tết: Nhiều quan niệm, lắm cách thể hiện”. TTXVN. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2010.
  26. ^ Phương Khanh (ngày 8 tháng 2 năm 2007). “Thú chơi tranh Tết của người Việt”. Việt Báo. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2010.
  27. ^ Trích 100 điều nên biết về phong tục VN (ngày 15 tháng 2 năm 2007). “Câu đối tết”. Tuổi trẻ. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2010.
  28. ^ “Phố ông đồ”- hình ảnh Tết xưa giữa Sài Gòn, 24h, 08/02/2015
  29. ^ 70% ông đồ trượt kỳ thi sát hạch: ‘Lộn xộn’ ở Văn Miếu, VTC, 04/02/2015
  30. ^ theo T. Xuân (ngày 28 tháng 1 năm 2010). “Chơi hoa ngày Tết”. Tin Tức Online. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.
  31. ^ “Trang hoàng ngày Tết – Trang trí nhà ngày Tết”. Thanh Niên online. Ngày 11 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2010.
  32. ^ Sự tích hoa đào ngày Tết
  33. ^ Theo Kenny blog (ngày 9 tháng 2 năm 2008). “Hoa Mai trong ngày tết của người miền Nam”. Việt báo. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010. (nguồn blog)
  34. ^ Thúy Huỳnh (ngày 19 tháng 1 năm 2010). “Hoa mai ngày Tết”. Thanh niên Online. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.
  35. ^ Theo Sức khỏe & đời sống (ngày 4 tháng 1 năm 2006). “Quất – cây cảnh ngày Tết, thuốc quý cho cả năm”. Tuổi trẻ. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.
  36. ^ a ă Hoàng Hữu Quế (ngày 15 tháng 2 năm 2007). “Dưa hấu ngày Tết”. Hà Nội Mới. tintucxalo. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.
  37. ^ Nguyễn Ngọc Tuyết (ngày 18 tháng 1 năm 2010). “Nồi thịt kho ngày Tết”. Phụ Nữ Online. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.
  38. ^ Lê Lan (ngày 25 tháng 1 năm 2009). “Tục ăn Tết của người Sài Gòn”. Tổ Quốc. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.
  39. ^ a ă “Hương vị ba miền”. Tin Việt Online. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.
  40. ^ Thu Trang (ngày 16 tháng 1 năm 2010). “Chè kho ngày Tết xưa”. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.
  41. ^ Những món ăn đang dần thất truyền trong ngày Tết, VnExpress, 3/2/14
  42. ^ a ă â b c d đ e ê g h Hoàng Bùi (29 tháng 1 năm 2006). “Số phận của phong tục Tết”. Báo Tiền Phong online. Truy cập 28 tháng 3 năm 2013.
  43. ^ Như Trang (1 tháng 2 năm 2003). “Đầu năm mua muối cầu may”. Báo điện tử VnExpress. Truy cập 28 tháng 3 năm 2013.
  44. ^ (Theo Bách khoa Toàn thư) (ngày 16 tháng 2 năm 2007). “Những tục lệ ngày Tết”. vietnamnet.vn. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2010.
  45. ^ a ă Thúy Huỳnh (ngày 4 tháng 1 năm 2009). “Phong tục – tập quán Những điều kiêng kỵ trong ngày Tết”. Thanh niên Online. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.
  46. ^ Phạm Thanh Bình (15 tháng 2 năm 2007). “Đốt pháo có thể bị xử lý hình sự”. Báo điện tử VnExpress. Truy cập 28 tháng 3 năm 2013.
  47. ^ Khai hội hoa xuân lớn nhất TP HCM, VnExpress, 5/2/2013
  48. ^ Đường hoa Nguyễn Huệ, văn hóa Tết của Sài Gòn, VnExpress, 31/1/2013
  49. ^ Lộng lẫy đường hoa, đường sách Sài Gòn Tết, Go News, 27/01/2014
  50. ^ Hơn một tỷ người châu Á đón mừng năm Quý Tỵ trong không khí lễ hội , RFI, 10/2/2013
  51. ^ Mỹ Tho: Rực rỡ đường hoa Hùng Vương , Tin24h, 29/01/2014
  52. ^ Ngắm đường hoa 2013 trên mọi miền đất nước , Zing News, 11/02/2013
  53. ^ Sưu tầm. “Hội Gò Đống Đa tưởng nhớ vua Quang Trung”. webdulich.com. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.
  54. ^ a ă Theo bài viết “Lễ hội: Thừa và Thiếu” của Nguyễn Mỹ trên Báo Thể thao văn hóa cuối tuần số 9 năm 2010, trang 51
  55. ^ a ă â “Nét đẹp của các phong tục đầu năm”. Báo Tuổi Trẻ (Theo VTV). Ngày 13 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.
  56. ^ “Săn hoa đẹp ngày Tết”. Truy cập 3 tháng 2 năm 2008. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  57. ^ “Bí quyết chọn hoa đào, quất ngày Tết”. Truy cập 2 tháng 2năm 2002. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  58. ^ a ă â b c d đ Theo THÚY HUỲNH – Thanh niên (ngày 24 tháng 1 năm 2009). “Những điều kiêng kỵ trong ngày Tết”. Báo Tuổi trẻ online. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010.
  59. ^ a ă â 18 tháng 1 năm 2010-noi-voi-con-ve-tet “Nói với con về Tết”. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.
  60. ^ “Kiêng kỵ ngày đầu năm”. báo Tuổi Trẻ. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.
  61. ^ a ă “Cần kiêng kỵ gì trong những ngày Tết?”. Dân Trí. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2014.
  62. ^ a ă “Tết cổ truyền của người Việt Nam ở nước ngoài”. Thanh niên. Ngày 15 tháng 2 năm 2007. Truy cập 15 tháng 2 năm 2007. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp) Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “tct” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  63. ^ “Không khí đón Tết tại Mỹ”. VietNamNet. Ngày 17 tháng 2 năm 2007. Truy cập 17 tháng 2 năm 2007. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  64. ^ a ă â “Người Việt Hải Ngoại Ăn Tết”. VVNNEWS. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “nvhnat” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “nvhnat” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  65. ^ Người Việt ở Mỹ thi nấu bánh chưng bánh tét, VnExpress, 21/1/2014
  66. ^ Hoàng Hợp Long (ngày 27 tháng 1 năm 2009). “Hội Tết Sinh Viên của Tổng Hội SVVN Nam Cali”. Viễn Đông Daily News. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.
  67. ^ “Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam – Nam California tổ chức họp báo Hội Chợ Tết Xuân Kỷ Sửu – 2009 “Xuân Hy Vọng””. báo Người Việt. Ngày 9 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.
  68. ^ Khai mạc Hội Tết Sinh Viên ‘Xuân Quê Hương’ 2013 , Người Việt, 9/2/2013
  69. ^ a ă Trang web chính thức Têt Festival
  70. ^ Hội Tết Sinh Viên 2014 được tổ chức tại địa điểm mới , Báo Người Việt, 26/12/2013
  71. ^ a ă “”Tet festival” ở Úc”. báo Tuổi Trẻ. Ngày 11 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.
  72. ^ Lê Hoàng Thanh (ngày 28 tháng 10 năm 2005). “Xuân và Tết trong nhạc Việt”. Nam Úc tuần báo. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.
  73. ^ 10 ca khúc Việt được nghe nhiều nhất trong những dịp Tết, VnExpress, 17/2/2015
  74. ^ Theo Eva (ngày 24 tháng 1 năm 2008). “Đìu hiu nhạc tết”. VietNamNet. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.
  75. ^ Quỳnh Nguyên (ngày 2 tháng 2 năm 2008). “Đa dạng show ca nhạc tết”. báo Tuổi Trẻ. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.
  76. ^ “Sơ lược về 12 con giáp”. Truy cập 14 tháng 9 năm 2008. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  77. ^ Tết ta theo tây lịch: GS Võ Tòng Xuân bảo vệ quan điểm
  78. ^ Hà Văn Thịnh. “Ăn Tết theo dương lịch: Tốt đủ mọi đàng…”. Truy cập 9 tháng 1 năm 2013. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  79. ^ Trần Giang Phương. “Tết Ta ăn theo lịch Tây, thời nay tiện đủ đường”. Truy cập 23 tháng 1 năm 2013. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  80. ^ VTC. “Tết ta theo tây lịch: Nhiều nhà khoa học cùng lên tiếng”. Truy cập 23 tháng 1 năm 2013. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  81. ^ baodatviet.vn. “Sao Việt phản đối gộp Tết ta vào Tết tây”. Truy cập 11 tháng 1 năm 2013. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  82. ^ Lê Văn Lan. “Giáo sư Lê Văn Lan: Tết Dương lịch chỉ là ‘món ăn thêm’”. Truy cập 10 tháng 1 năm 2013. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  83. ^ Mỹ Linh. “Mỹ Linh: Ăn Tết ta theo dương lịch ư? – Thảm họa”. Truy cập 8 tháng 1 năm 2013. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)

Liên kết ngoài

Tư liệu

Tin tức

Ảnh

Video

Nhạc và thơ

Chào ngày mới 8 tháng 2


LeidenUniversity

CNM365. Chào ngày mới 8 tháng 2. Ngày Tết Nguyên Đán.  Wikipedia Ngày này năm xưa. Năm 1575Đại học Leiden trường đại học cổ xưa và danh tiếng nhất Hà Lan. Năm 1725 – ngày mất Pie Đại Đế Pyotr I  sa hoàng Nga, nhân vật lịch sử nổi tiếng nhất  nước Nga, tức 28 tháng 1 theo lịch Julius (sinh năm 1672). Năm 1762 – ngày sinh của  Gia Long, Hoàng đế đầu tiên của nhà Nguyễn (mất năm 1820).  Năm 1971Chiến tranh Việt Nam: Lục quân Việt Nam Cộng hòa mở Chiến dịch Lam Sơn 719 nhằm cắt đứt tuyến đường Trường Sơn của quân miền Bắc.

8 tháng 2

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày 8 tháng 2 là ngày thứ 39 trong lịch Gregory. Còn 326 ngày trong năm (327 ngày trong năm nhuận).

« Tháng 2 năm 2015 »
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
Chỉ có ngày 29 tháng 2 vào năm nhuận.

Mục lục

Sự kiện

Sinh

Mất

Những ngày lễ và kỷ niệm

Tháng 1 | Tháng 2 | Tháng 3 | Tháng 4 | Tháng 5 | Tháng 6 | Tháng 7 | Tháng 8 | Tháng 9 | Tháng 10 | Tháng 11 | Tháng 12

Tham khảo