Chào ngày mới 14 tháng 1


CNM365 Chào ngày mới 14 tháng 1: OM lúa giống có ngọc. Giống tốt nẩy mầm xanh.  Viện Lúa 40 năm xây dựng phát triển (1977-2017). Ngày 14 tháng 1 năm 1953,  Nguyên soái Josip Broz Tito bắt đầu đảm nhiệm chức vụ Tổng thống Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư; ông tiếp tục nắm giữ chức vụ này cho đến khi qua đời vào năm 1980; Ngày 14 tháng 1 năm 1941 ngày sinh Phạm Tiến Duật  là một nhà thơ Việt Nam “con chim lửa của Trường Sơn huyền thoại”, với nhiều tác phẩm thơ tiêu biểu viết trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam (mất năm 2007). Ngày 14 tháng 1 năm  2011,  Cách mạng Tunisia, còn gọi là Cách mạng Hoa Lài theo loài hoa quốc gia, là cuộc cách mạng dân chủ phi bạo lực của nhân dân Tunisia khiến Tổng thống Ben Ali buộc từ chức sau 23 năm đương nhiệm phải dời sang Ả Rập Saudi sau một loạt các cuộc biểu tình đường phố. Bài chọn lọc ngày 14 tháng 1: Viện Lúa 40 năm xây dựng phát triển (1977-2017); xem tiếp… https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-14-thang-1/;

VIỆN LÚA 40 NĂM XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN
Hoàng Kim

Chúc mừng Viện Lúa trên 40 năm qua luôn là lá cờ đầu nông nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực chọn tạo giống lúa, nghiên cứu quy trình kỹ thuật thâm canh lúa, hệ thống canh tác cây trồng, vật nuôi lấy lúa làm nền, góp phần đưa năng suất lúa từ 2 – 3 tấn/ha/vụ tăng lên 6 – 7 tấn/ha/ vụ, tăng sản lượng lúa ở ĐBSCL từ khoảng 4 triệu tấn/ năm (1977) vượt trên 25 triệu tấn/năm (2016), tăng hơn gấp 6 lần.

vienlua2017

VIỆN LÚA TRÊN BỐN MƯƠI NĂM NHÌN LẠI

Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long, địa chỉ xã Tân Thạnh, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ Điện thoại: 0710 3861954; Fax: 0710 3861457; Website : http://clrri.org, hiện nay là thành viên của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam. Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long có tiền thân là Trung tâm kỹ thuật Nông nghiệp ĐBSCL thành lập ngày 31/1/1977 tại xã Thới Thạnh, huyện Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, nay là xã Tân Thạnh, huyện Thới Lai, TP Cần Thơ. Năm 1985 Trung tâm kỹ thuật nông nghiệp ĐBSCL được đổi tên thành Viện lúa ĐBSCL.

40 năm Viện Lúa xây dựng phát triển đã bảo tồn hơn 3.000 mẫu giống lúa được đánh giá và tư liệu hóa, đã chọn tạo và được công nhận đưa vào sản xuất 166 giống lúa, phần lớn là giống lúa OM thời gian sinh trưởng ngắn 90 – 100 ngày; các giống lúa OMCS cực sớm

Viện Lúa đạt thành tựu to lớn như hôm nay là do tập hợp và phát huy được năng lực của một đội ngũ chuyên gia tuyệt vời đầy tài năng và một đội ngũ các lãnh đạo qua các thời kỳ thật tâm huyết. Thầy Trần Như Nguyện, nguyên Giám đốc Trung tâm kỹ thuật Nông nghiệp ĐBSCL, Giáo sư Tiến sĩ  Nguyễn Văn Luật, Anh hùng lao động, nguyên Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL, Giáo sư Nguyễn Thơ,  Phó Giáo sư Tiến sĩ Bùi Bá Bổng, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT, nguyên Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL, Giáo sư Tiến sĩ Bùi Chí Bửu, nguyên Phó Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện KHKTNN Miền Nam, nguyên Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL; Tiến sĩ Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Nông nghiệp và PTNT, nguyên Phó Viện trưởng Viện Lúa; Phó Giáo sư Tiến sĩ  Nguyễn Minh Châu, nguyên Viện trưởng Viện Cây Ăn Quả Miền Nam, Tiến sĩ  Nguyễn Xuân Lai, Viện trưởng Viện Nông hóa Thổ nhưỡng, nguyên Phó Viện trưởng Viện Lúa, Tiến sĩ Nguyễn Trí Hoàn, Viện trưởng Viện Cây Lương thực và Cây thực phẩm, Phó Giáo sư Tiến sĩ Phạm Văn Dư , nguyên Cục phó Cục Trồng trọt, Tiến sĩ Lê Văn Bảnh, Cục trưởng Cục Chế biến, Thương mại Nông Lâm Thủy sản và Nghề muối, nguyên Viện trưởng Viện Lúa, Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thị Lang  nhà khoa học nữ xuất sắc của Việt Nam đạt Giải thưởng Khoa học quốc gia 2016 L’Oreál – UNESCO Vì sự phát triển phụ nữ trong khoa học, cùng với một đội ngủ đông đảo những chuyên gia giỏi, những trí thức nông nghiệp tài năng tận tụy dấn thân vì đại nghĩa, sống thanh đạm, giản dị, say mê  với sự nghiệp trồng người và nghiên cứu khoa học tạo giống cây trồng, cải tiến kỹ thuật canh tác để mang lại đời sống tốt hơn cho người dân .

vienluathambacgiap


Thành tựu 40 năm qua của Viện Lúa là bài học cao quý của sự đoàn kết một lòng hoàn thành tốt nhiệm vụ của các thế hệ cán bộ viên chức người lao động Viện Lúa, sự quan tâm của Đảng, Chính phủ và các cấp lãnh đạo Trung ương, địa phương và doanh nghiệp, sự cộng hưởng, giúp đỡ và liên kết thật tuyệt vời của thầy cô, bạn hữu, đồng nghiệp bạn nhà nông cùng với đông đảo nông dân từ khắp mọi miền đất nước.

Chúc mừng Viện Lúa với lớp trẻ đang tiếp bước thầm lặng vươn tới tầm cao mới khoa học nông nghiệp, tận tâm cống hiến cho quê hương. Chúc mừng con đường lúa gạo Việt Nam.

VỀ MIỀN TÂY THÂN THIẾT YÊU THƯƠNG

buibabongciat45
giaobancaylua

Chúc mừng những gương thầy bạn thân thiết, những câu chuyện VỀ MIỀN TÂY  và CON ĐƯỜNG LÚA GẠO VIỆT NAM  là suối nguồn tươi trẻ chảy mãi không cùng trong lòng tôi.

oitiengvietnhubunvanhulua

VỀ MIỀN TÂY
Hoàng Kim

Sao anh chưa về miền Tây.
Nơi một góc đời anh ở đó.
Cần Thơ, Sóc Trăng, sông Tiền, Sông Hậu,…
Tên đất tên người chín nhớ mười thương.

Anh hãy về Bảy Núi, Cửu Long,
Nắng đồng bằng miên man bao nỗi nhớ.
Kênh ông Kiệt thương mùa mưa lũ….
Anh có về nơi ấy với em không.

*

Mình về với đất phương Nam.
Ninh Kiều thắm nước, Sóc Trăng xanh đồng.
Về nơi ấy với em không ?
Bình minh Yên Tử mênh mông đất trời.

Ta đi cuối đất cùng đời
Ngộ ra hạnh phúc thảnh thơi làm Người.

omluagiongcongoc
hoquangcuanguyenvanluat

Viện Lúa 40 năm xây dựng phát triển, OM Lúa Giống nẩy mầm xanh, các gương mặt thầy bạn thân thiết, ‘lúa mới vòng tròn nhân quả: hoa lúa – hột lúa bùn ngấu – cây lúa – hạt gạo’, bài học thầm lặng nổ lực vươn tới dâng hiến ngọc cho đời.

DƯỚI ĐÁY ĐẠI DƯƠNG LÀ NGỌC

Giáo sư Lương Định Của (người khởi đầu câu chuyện CON ĐƯỜNG LÚA GẠO VIỆT NAM) , Giáo sư Nguyễn Văn Luật và  kỹ sư Hồ Quang Cua (ảnh trên), bác Trần Ngọc Hoằng, kỹ sư Trần Ngọc Sương và Giáo sư Võ Tòng Xuân (ảnh dưới) là những anh hùng lao động nghề lúa. Giáo sư Mai Văn Quyền là chuyên gia thâm canh lúa và nghiên cứu phát triển hệ thống nông nghiệp bền vững. Vợ chồng Giáo sư Nguyễn Thị Lang, Bùi Chí Bửu là những chuyên gia di truyền và chọn giống lúa. Vợ chồng Phó Giáo sư Bùi Bá Bổng, Nguyễn Thị Cúc Hòa cũng là những chuyên gia chọn giống và công nghệ sinh học cây  lúa. Ông Nguyễn Minh Nhị là cựu Chủ tịch tỉnh An Giang là người đặc biệt tâm huyết với cây lúa nơi An Giang là tỉnh dẫn đầu sản lượng lúa gạo xuất khẩu Việt Nam. Cuộc đời của mười hai con người kỳ dị trên đều gắn bó suốt đời với cây lúa và gạo Việt.

Viện Lúa 40 năm xây dựng phát triển, luôn là lá cờ đầu nông nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực chọn tạo giống lúa, nghiên cứu quy trình kỹ thuật thâm canh lúa, hệ thống canh tác cây trồng, vật nuôi lấy lúa làm nền, góp phần đưa năng suất lúa từ 2 – 3 tấn/ha/vụ tăng lên 6 – 7 tấn/ha/ vụ, tăng sản lượng lúa ở ĐBSCL từ khoảng 4 triệu tấn/ năm (1977) vượt trên 25 triệu tấn/năm (2016), tăng hơn gấp 6 lần. Trong mười hai người huyền thoại lúa Nam Bộ có năm chuyên gia lúa là người của Viện Lúa ĐBSCL.

Viện Lúa ĐBSCL là chòm sao Thần Nông trong dãi Ngân Hà lồng lộng vô số những vì sao sáng giữa trời Nam. Suy tư về Gạo Việt “ấp ủ” giấc mơ thương hiệu, tôi tâm đắc nhiều về bài học của các con người kỳ vĩ trên và câu nói ‘Dưới đáy đại dương là ngọc‘  của bác Năm Hoằng.


Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long, giúp chúng ta thông tin tổng quan về Viện Lúa.

Giải thưởng phụ nữ Việt Nam 2013 cho tập thể nữ là một trong các giải thưởng cao quý của Viện Lúa: Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới năm 2000; Huân chương độc lập Hạng I năm 2014, Hạng II năm 2007, Hạng III năm 2002; Huân chương lao động Hạng I năm 1996, Hạng II năm 1990, Hạng III năm 1986; Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ 10 nhà khoa học được nhận năm 2000, Giải thưởng  Kovalepskaia.

saothannong

Chòm sao Thần Nông là chòm sao Scorpius (Thiên Yết) trên bầu trời một trong những chòm sao rõ nhất, sáng nhất trong 12 chòm sao hoàng đạo, nằm gần chòm sao Libra  (Thiên Xứng) trên ‘đường đi của mặt trời’. Chòm sao Thần Nông có một ngôi sao cấp I, năm ngôi sao cấp II và mười ngôi sao cấp III. Những ngôi sao sáng này xếp thành hình chữ S (Scorpius, Thiên Yết, Bọ Cạp, Hổ Cáp). Thần thoại phương Đông đưa Chòm sao Thần Nông vào Thanh Long, một sinh vật đầy sức mạnh nhưng nhân từ, là sứ giả báo trước của mùa xuân.

BacNamHoangvachiBaSuong

Hôm bác Năm Hoằng mất, chúng tôi gần như đi suốt đêm từ Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc (Đồng Nai) về Nông trường sông Hậu (Hậu Giang) để kịp viếng bác. Tôi biết ơn bác Năm đã năm lần lội ruộng thăm đồng Trung tâm Hưng Lộc và đã gợi ý cho tôi nhiều điều. Trong đó có một lần bác tặng cho tôi chiếc máy điện thoại di động “Cháu giữ mà dùng, bác mua lại cái khác”, “Thông tin là cần thiết, đừng tiết kiệm quá con ạ !” “Chưa kỹ đâu con đừng vội làm sư” “Bác có chút kinh nghiệm thau chua, rửa phèn, lấn biến” “Hiểu cây và đất thì mới làm ra được giống mới con ạ !” “Phải sản xuất kinh doanh khép kín mới khá được” “Dưới đáy đại dương là ngọc !”. Những bài học của bác Năm và chị Ba đã giúp chúng tôi rất nhiều.

Tôi mắc nợ câu chuyện này đã nhiều năm. Tôi chỉ neo được một cái tựa đề  và ít tên người để thỉnh thoảng nhớ lại. Kể về họ là sự chiêm nghiệm một đời.Chúng ta chắc vẫn còn nhớ câu chuyện “Hai cha con đều là anh hùng” và Trở lại nụ cười Ba Sương : “Hậu Giang gió nổi bời bời/ Người ta một nắng, chị thời … Ba Sương/ Theo cha đi mở nông trường/ Sáu mươi tóc vẫn còn vương mùi phèn/ Giữa bùn lòng mở cánh sen/ Thương bao phận khó mà quên phận mình, …” . Sự kiện ngày 15 tháng 8 năm 2009 đến nay trong lòng dân đâu đã quên và chuyện đâu đã khép lại.

votongxuan

Lâu nay chúng ta đã xúc động nhiều với cuộc đời bất hạnh của chị Ba Sương nhưng hình như việc “tích tụ ruộng đất” “lập quỹ trái phép”, và “xây dựng nông trại điển hình” của Nông trường sông Hậu thời bác Năm Hoằng và chị Ba Sương cho đến nay vẫn chưa được nghiên cứu thấu đáo để rút ra những bài học sâu sắc về tầm nhìn, quan điểm, cách đầu tư khép kín trong nông nghiệp. Bác Năm đã yên nghĩ, chị ba Sương kêu án tù 8 năm và được thả. Người đương thời chưa thể mổ xẽ và phân tích đúng sai về cách “lập quỷ trái phép” và “tích tụ ruộng đất” nhưng nếu khép lại điều này thì không thể nói rõ nhiều việc và cũng không đúng tâm nguyện của những bậc anh hùng trượng nghĩa Nam Bộ đã quyết liệt dấn thân trọn đời cho sự nghiệp và niềm tin ấy.

Thầy Xuân lúa và hệ canh tác thầy là chuyên gia lúa và hệ canh tác, anh hùng lao động, người con của quê hương Nam Bộ.  Bài học thực tiễn từ người Thầy, lúa sắn Việt Nam tới châu Phi, Việt Nam Châu Phi hợp tác Nam Namthông tin của GMX Consulting về Thầy đã cho thấy một phần những việc mới nhất của thầy lúa độ tuổi trên 80 vẫn tiếp tục đi tới trên con đường giáo dục nông nghiệp. Mỗi người chúng ta chỉ nhỏ nhoi thôi trong sự trường tồn và đi tới mãi của dân tộc. Nhưng tôi nhớ và tôi tin câu nói của Nguyễn Khải: “Tôi viết vậy thì tôi tồn tại“.“Viết văn không chỉ do nhu cầu kiếm sống, viết văn cũng không chỉ do những bức xúc khôn khuây của cá nhân, mà viết còn là mong muốn được trao trở về với cái vô hạn”.

ThayQuyennghenongcuachungtoi

Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi, chuyên gia thâm canh lúa và nghiên cứu phát triển hệ thống nông nghiệp bền vững, trên 80 xuân mà vẫn phong độ, vui vẻ lội đồng và họp bạn nhà nông cùng thứ trưởng Lê Quốc Doanh, với các anh Nguyễn Văn Bộ, Le Thanh Tung và nhiều thầy bạn khác ở miền Tây hôm nay. Ngắm người Thầy nhà nông tuổi tuy đã cao vẫn miệt mài dạy và học, lòng tôi rưng rưng cảm xúc nhớ đến “Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời” và tự nhắc mình phải cố gắng. Nhất định phải dành thời gian cho học và viết về CON ĐƯỜNG LÚA GẠO VIỆT NAM, viết về 365 CHUYỆN KỂ MỖI NGÀY và những dâng hiến của những người con ưu tú đối với đất nước và cộng đồng xứ sở.

Bốn mươi năm Viện Lúa chặng đường phát triển hạt ngọc Việt đã trãi qua biết bao vinh quang nhưng cũng biết mấy nhọc nhằn. Viện Lúa nằm ở giữa tâm điểm của những  của những kết nối hợp tác mà cho đến nay chúng ta vẫn thiếu những bài viết đủ tầm để đánh giá về những thầy bạn thân thiết đã làm nên những điều kỳ vĩ ấy.

Dưới đáy đại dương là Ngọc.

nguyenthilang

HOA LÚA GIÁO SƯ NGUYỄN THỊ LANG

Thông tin mới nhất trước thềm ‘gà gáy sáng’ năm Đinh Dậu 2017 là Giải thưởng khoa học năm 2016  L’Oreál – UNESCO vì sự phát triển phụ nữ trong khoa học vinh danh Những bông hoa của khoa học Việt Nam có GS.TS. Nguyễn Thị Lang, trưởng phòng công nghệ sinh học, Trường đại học An Giang và Trường đại học Cửu Long, giáo sư bộ môn di truyền và chọn giống cây trồng, Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long.

Câu chuyện OM LÚA GIỐNG CÓ NGỌC kể về “Thầy Luật lúa” ‘Bổng Hòa lúa’ và “Lang Bửu lúa” là huyền thoại lúa lỗi lạc một thời của Viện Lúa ĐBSCL. Đó là các ngôi sao sáng nhất của chòm sao Thần Nông (Bò Cạp)  trên bầu trời phương Nam trong vô số những ngôi sao sáng. Trong phạm vi bài viết này, tôi lưu chút thông tin về Hoa lúa Giáo sư Nguyễn Thị Lang, ghi thêm Dưới đáy đại dương là ngọc, và suy tư về  Gạo Việt “ấp ủ” giấc mơ thương hiệu 

nguyenthilang-omluagiongcongoc

GS.TS. Nguyễn Thị Lang là một trong những nhà khoa học nữ tiêu biểu của Việt Nam, trưởng phòng công nghệ sinh học, Trường đại học An Giang và Trường đại học Cửu Long, giáo sư bộ môn di truyền và chọn giống cây trồng, Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long. Giáo sư Lang trong hơn 25 năm qua (1990-2016) đã chọn tạo và đưa vào sản xuất  thành công được 31 giống lúa tốt và 16 quy trình kỹ thuật canh tác đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống và tiến bộ kỹ thuật được áp dụng rộng rãi tại các tỉnh phía Nam, chủ yếu và vùng Đồng Đằng Sông Cửu Long. Chị cũng đã công bố trong nước và quốc tế trên 110 bài báo khoa học, xuất bản nhiều sách chuyên khảo và sách phổ thông nghề lúa, hướng dẫn nhiều thạc sĩ, tiến sĩ , thực hiện nghiên cứu giảng day và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp trong các chuyên ngành nông học, công nghệ sinh học, di truyền và chọn giống cây trồng.

GS.TS Nguyễn Thị Lang sinh năm 1957 tại Bến Tre, nguyên là sinh viên Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh niên khóa 1974-1979. Sau đó, từ cuối năm 1979 đến đầu năm 2006,  chị lần lượt làm cán bộ,  phó trưởng phòng kế hoạch khoa học Sở Khoa học Công nghệ tỉnh Bến Tre, tiếp đấy làm nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Viện Khoa học Việt Nam năm 1990-1994, bảo vệ luận án tiến sĩ năm 1994, làm thực tập sinh sau tiến sĩ về di truyền phân tử tại Viện Lúa Quốc tế (IRRI) tại Philippine từ năm 1996-1998, tham gia nghiên cứu bản đồ gen QTL giống lúa chống chịu mặn tại Trung tâm Khoa học Nông nghiệp Quốc tế (JIRRCAS). Từ đầu năm 2006 đến nay, chị làm Trưởng bộ môn Di truyền và Chọn giống Viện Lúa ĐBSCL.

GS.TS Nguyễn Thị Lang ngoài sự đam mê và thành công trong nghiên cứu giảng dạy khoa học cây lúa, cũng có nhiều thành công trong nghiên cứu genome cây đậu tương, đậu xanh, cây ăn trái, cây thuốc nam, ngô, lạc, hoa… nghiên cứu phát hiện các gen ứng cử viên cho mục tiêu chống chịu khô hạn, phèn, mặn, ngập úng và gen kháng sâu bệnh hại, góp phần nâng cao phẩm chất nông sản và phục vụ cho phát triển an toàn lương thực. Chị cũng dành nhiều thời gian cho công tác giảng dạy tại các trường đại học An Giang, Cần Thơ, Mekong, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh tham gia nhiều hội nghị hội thảo đầu bờ với nông dân với bước chân trải nghiệm rộng khắp nhiều vùng đất nước .

“Lang Bửu lúa” là GS. Nguyễn Thị Lang và GS. Bùi Chí Bửu, hai vợ chồng đều chung niềm đam mê cây lúa và đều đạt những thành tựu khoa học thật đáng ngưỡng mộ. “Thầy Luật lúa” ‘Bổng Hòa lúa’ và “Lang Bửu lúa” đều là những huyền thoại lúa của Viện Lúa ĐBSCL, những gương sáng nghị lực tâm huyết mẫu mực giữa đời thường.

tritonangiang

SUY TƯ VỀ THƯƠNG HIỆU GẠO VIỆT

Trong câu chuyện “Bảy Nhị kênh ông Kiệt và tôi“, tôi đã có giới thiệu vắn tắt về ông Bảy Nhị:Ông Bảy Nhị tên thật là Nguyễn Minh Nhị, nguyên chủ tịch tỉnh An Giang. Ông vừa có bài viết “Gửi anh Nguyễn Bá Thanh: Phút 89…” đăng trên báo Tuổi trẻ Chủ Nhật, đang làm dư luận sững sờ vì hay và thật. Trước đó, ông Bảy cũng có bài viết “Giá lúa nằm ngoài hạt gạo” mà tôi đã chọn đưa vào bài giảng cây lúa. Suy tư về thương hiệu gạo Việt không thể không nhắc tới ông Bảy.

Bạn xuống An Giang hỏi ông Bảy Chủ tịch ai cũng biết. Tôi gọi trõng tên ông biết là không phải nhưng với tôi thì ông tuy còn khỏe và đang sống sờ sờ nhưng đã là người lịch sử, tựa như Mạc Cữu, Mạc Thiên Tích xưa, oai chấn Hà Tiên góp sức mộ dân mở cõi, làm phên dậu đất phương Nam của dân tộc Việt. Ông Bảy là nhân vật lịch sử trong lòng tôi.

Tôi có một kỷ niệm quí rất khó quên. Ông Bảy Nhị ba lần lặn lội lên Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc tìm tôi là giám đốc Trung tâm để hỏi cách đưa cây gì vào khai hoang phục hóa hiệu quả cho vùng đất hoang hóa Tri Tôn, Tịnh Biên. Ông đồng tình với tôi việc ứng dụng canh tác giống lúa thơm Khao Dawk Mali 105 (KDM 105) nhưng trồng cây gì luân canh lúa hiệu quả trong các tháng mùa khô thì đó vẫn là bài toán khó?

Mờ sớm một ngày đầu tháng mười một. Trời se lạnh. Nhà tôi có chim về làm tổ. Buổi khuya, tôi mơ hồ nghe chim khách líu ríu lạ trên cây me góc vườn nên thức dậy. Tôi bước ra sân thì thấy một chiếc xe ô tô đậu và cậu lái xe đang ngủ nướng. Khi tôi ra, cậu lái xe thức dậy nói: “Chú Bảy Nhị, chủ tịch tỉnh An Giang lên thăm anh nhờ tuyển chọn giống mì ngắn ngày để giúp An Giang né lũ. Đợt trước chú đã đi cùng chú Tùng (là ông Lê Minh Tùng sau này làm Phó Chủ Tịch Tỉnh, Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang) lên làm việc với anh rồi. Nay mì đã được năm tháng tuổi, chú muốn lên coi kỹ ở trên ruộng xem củ to bằng ngần nào. Chú Bảy giờ hành chính bận họp nên thăm sớm. Đến nhà anh, thấy sớm quá chú ngại nên ra thẳng ngoài đồng rồi, nhờ tui đón anh ra sau”.

Tôi giật mình nghĩ: “Cái ông này không thể xạo được. Mình nói là có giống mì bảy tháng. Năm tháng ông lên kiểm tra đồng ruộng nhổ thử, thiệt chu đáo. Ông thật biết cách kiểm tra sâu sát”. Chợt dưng tôi nhớ đến MỘT LỐI ĐI RIÊNG của Bác Hồ trong thơ Hải Như: “ Chúng ta thích đón đưa/ Bác Hồ không thích/ Đến thăm chúng ta Bác Hồ thường “đột kích”/ Chữ “đột kích” vui này Người nói lại cùng ta/ Và đường quen thuộc/ Bác chẳng đi đâu/ Đường quen thuộc thường xa/ Bác hiện đến bằng lối tự tìm ra:/ Ngắn nhất/ Bác không muốn giẫm lên mọi đường mòn có sẵn/ Khi đích đã nhắm rồi/ Người luôn luôn tạo cho mình:/ Một lối đi riêng”. Sau này hiếm có đồng chí lãnh đạo nào học được cách làm như Bác. Họ đi đâu đều thường xếp lịch hành chính và đưa đón đàng hoàng, chẳng cần một lối đi riêng. Tôi thầm chợt cảm phục ông Bảy.

*

Đầu xuân Đinh Dậu 2017, ông Bảy Nhị đã viết thư cho tôi : “Hoàng Kim thân mến. Sang năm mới, nhìn lại năm cũ, thấy giống khoai mì của Hoàng Kim củ to và nhiều quá chừng. Phải hồi anh Bảy có Nhà máy tinh bột Lương An Trà thì mê hết hồn với giống nầy rồi. Chúc mừng Hoàng Kim nhé! Nhân đây anh trích gởi đoạn nhật ký mới nhất ghi lại sự kiên anh đến xã Vĩnh Phước huyện Tri Tôn trên vùng đất “rún phèn” Tứ giác Long Xuyên của An Giang mà Chánh phủ điều chỉnh địa giới cho An Giang hơn 20 năm trước. Nơi này, Ngô Vi Nghĩa và anh em Nông trường Khoai mì Afiex đã cực khổ khai hoang làm rõ phèn, chuyển đổi vùng đất hoang hóa, phèn nặng, thành nơi canh tác giống lúa thơm Khao Dawk Mali 105 (KDM 105) luân canh với giống khoai mì ngắn ngày né lũ KM98-1. Cho đến nay, sau 20 năm vùng này đã  thành cánh đồng trù phú. Anh hay quay về kỷ niệm cũ, những nơi ngày xưa cực khổ để tìm lại dấu tích cái đẹp của hồn người! Thân thiết, Bảy Nhị

kdm105km981

Tôi ngắm những bức ảnh Bảy Nhị kênh ông Kiệt và tôi , đọc lại trang văn cũ của chính mình mà ứa nước mắt. Nhờ ơn tri ngộ với ông Bảy và sự dẫn dắt trước đó của  Giáo sư Mai Văn Quyền, Giáo sư Nguyễn Văn Luật, Giáo sư Võ Tòng Xuân, Giáo sư Đào Thế Tuấn trong Chương trình Hệ thống Canh tác Việt Nam và bài học hợp tác thân thiết giữa Viện Lúa với Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Trường Đại học Cần Thơ,  Nông trường Sông Hậu … mà chúng tôi đã vượt lên chính mình, đạt được những thành tựu và cống hiến tốt hơn. 

Ông Bảy Nhị trích Nhật ký đầu xuân 2017, đã viết:  “Ngày 30-12-2016 dự “ngày hội thu hoạch lúa mùa nổi lần 3” với bà con xã Vĩnh Phước (Tri Tôn) trên vùng đất “rún phèn” Tứ giác Long Xuyên của An Giang mà Chánh phủ điều chỉnh địa giới cho An Giang hơn 20 năm trước. Đồng ruộng kiến thiết khá hiện đại, đi lại bằng xe máy không bị cách trở, đất, nước không còn màu phèn, lúa Thần nông xanh tươi ước chừng năng suất trên 6 tấn/ha. Đất nầy trước chưa từng được canh tác vì là cái “rún phèn”. Nay sản xuất lúa Thần nông trên vùng đất khai hoang trồng khoai mì, đất được rõ phèn, ngọt hóa sau khi Nông trường của Nhà máy tinh bột Công ty AFIEX đã giải thể năm 2004. Khi lúa gạo thừa, lúa bị nhiễm thuốc bảo vệ thực vật, người dân theo gợi ý của thị trường chuyển qua sản xuất lúa mùa nổi từ năm 2014. Nhưng không dễ! Năm trước nước nhỏ, chuột phá đến gần như mất giống, năm nay lại bị bịnh đạo ôn cổ bông, cháy lá, bạc bông, lem lép hạt … như lúa Thần nông, nhưng không dám xài thuốc, vì như vậy thì không ai mua. Hiện còn duy trì sản xuất 30 ha trong vùng theo mô hình một vụ lúa mùa, một vụ màu trên nền rạ. Đứng trên ruộng lúa mùa nổi đang vào thu hoạch, bồi hồi nhớ lại cũng trên cánh đồng nầy, 56 năm về trước (12-1960), tôi một mình suy nghĩ một mình đi”, đi qua cánh đồng lúa mùa cũng đang vào mùa gặt thế nầy đến ngọn núi trước mặt  –  Núi Dài Vạn Liên – Bây giờ, ngọn núi sau lưng tôi trong tấm hình nầy. Trong ảnh, tôi đang hỏi người gặt thì được biết công cắt 140 kg lúa/ha, và đám lúa nầy năng suất chừng 1,4 tấn/ha. Hỏi giá bán chưa ai biết. Nhưng báo An Giang (02-01-17) đăng bài về sự kiện nầy nói giá 14.000đ/kg do Tổ chức phi lợi nhuận Đức mua (giá lúa IR 50404 giá 4.500đ/kg). Một bài toán chuyển dịch cơ cấu sản xuất không dễ! Tôi buồn vì mình không còn có điều kiện cùng bà con tháo gở khó khăn trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất mà tôi tin rằng nếu làm thì tôi sẽ làm được như những năm Đổi mới 1988 –  2004 tôi đã cùng làm với bà con nông dân trên cương vị Giám đốc Sở Nông nghiệp, Phó Chủ tịch phụ trách Nông nghiệp rồi Chủ tịch – Vực dậy nông nghiệp An Giang 2002 – 2004 rồi mới về hưu, kết thúc phút 89’ – Một chặng đường!” “Con đường qua, lúc ban đầu do ta định hướng và bước đi thế nào đó mà kết quả thu được và hệ quả phải nhận là rất bất cập! Ta thi đua làm cho ra năng suất, sản lượng cao nhất mà không quan tâm môi trường thiên nhiên trong lành bị nhiễm hóa chất nông dược, thiên địch không còn, cá tôm, chim thú bị tận diệt, bây giờ quay lại sản xuất hữu cơ trong điều kiện cân bằng tự nhiên không còn không khác nào đi tìm “hành tinh mới”! Khó hơn là trong lòng người đã mất chữ TIN thì làm sao trị căn bịnh “dối trá” đang thành” đại dịch”? Hơn 20 năm xuất khẩu gạo mà gạo không có tên thương hiệu, thì tái cơ cấu cái gì đây cho có chữ TÍN?

HoangKim35

Tôi đã từng giảng dạy và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về cây lương thực ở nước bạn Campuchia và Lào. Suy tư về Gạo Việt “ấp ủ” giấc mơ thương hiệu, tôi tâm đắc nhiều về những thành tựu, bài học Viện Lúa và câu trao đổi của bác Năm Hoằng ‘dưới đáy đại dương là ngọc‘ và ‘dấu tích cái đẹp hồn người ‘ của ông Bảy.

omluagiongcongoc2

Lớp trẻ Viện Lúa bức ảnh tuyệt đẹp! tôi tin OM lúa giống có ngọc. Bài học nóng hổi của Viện Lúa, Nông trường Sông Hậu, An Giang, Sóc Trăng và LỚP TRẺ làm chúng ta tin tưởng.

LuaSieuXanhVietNam1


‘Lúa mới vòng tròn nhân quả: hoa lúa – hột lúa bùn ngấu – cây lúa – hạt gạo’  là bài học thầm lặng nổ lực vươn tới, dâng hiến ngọc cho đời.

Hoàng Kim

(còn nữa…)

Mời đón xem phần 3

VIỆN LÚA NÂNG NIU HẠT NGỌC VIỆT

Về miền Tây

Vietnamese Dan Bau Music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang Gạo Việt chất lượng và thương hiệu  Con đường lúa gạo Việt Nam.

Chào ngày mới 14 tháng 1


CNM365 Chào ngày mới 14 tháng 1: OM lúa giống có ngọc. Giống tốt nẩy mầm xanh.  40 năm Viện Lúa xây dựng phát triển (1977-2017). Ngày này năm xưa. Ngày 14 tháng 1 năm 1953,  Nguyên soái Josip Broz Tito bắt đầu đảm nhiệm chức vụ Tổng thống Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư; ông tiếp tục nắm giữ chức vụ này cho đến khi qua đời vào năm 1980. Ngày 14 tháng 1 năm 1941 – ngày sinh Phạm Tiến Duật  là một nhà thơ Việt Nam “con chim lửa của Trường Sơn huyền thoại”, với nhiều tác phẩm thơ tiêu biểu viết trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam (mất năm 2007). Ngày 14 tháng 1 năm  2011,  Cách mạng Tunisia, còn gọi là Cách mạng Hoa Lài theo loài hoa quốc gia, là cuộc cách mạng dân chủ phi bạo lực của nhân dân Tunisia khiến Tổng thống Zine El Abidine Ben Ali phải dời sang Ả Rập Saudi sau một loạt các cuộc biểu tình đường phố. Tổng thống Ben Ali buộc từ chức sau 23 năm đương nhiệm xem tiếp… https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-14-thang-1/; Bài chọn lọc: 40 năm Viện Lúa xây dựng phát triển (1977-2017); Phạm Tiến Duật chim lửa Trường Sơn.

OM LÚA GIỐNG CÓ NGỌC.
Hoàng Kim.
OM Lúa Giống hột lúa nẩy mầm xanh, Viện Lúa 40 năm xây dựng phát triển, các gương mặt thầy bạn thân thiết, câu chuyện ‘lúa mới vòng tròn nhân quả : hoa lúa – hột lúa bùn ngấu- cây lúa – hạt gạo’, bài học thầm lặng nổ lực vươn tới để dâng hiến ngọc cho đời. xem tiếp… https://hoangkimlong.wordpress.com/category/40-nam-vien-lua-xay-dung-phat-trien/

PHẠM TIẾN DUẬT CHIM LỬA TRƯỜNG SƠN
Hoàng Kim
Trang thơ Phạm Tiến Duật trên Thi Viện là một khái quát về thơ anh, “con chim lửa của Trường Sơn huyền thoại”, “cây săng lẻ của rừng già”, “nhà thơ lớn nhất thời chống Mỹ”. Thơ anh thời chống Mỹ không có tuổi, mãi mãi tuổi thanh xuân, từng được đánh giá là “có sức mạnh của một sư đoàn[3]   (Phạm Tiến Duật Wikipedia tiếng Việt ) Phạm Tiến Duật, tên thật mà cũng là bút danh, sinh ngày 14-1-1941 (mất năm 2007). Quê gốc ở thị xã Phú Thọ. Tốt nghiệp đại học sư phạm Văn, chưa đi dạy ngày nào, ông nhập ngũ (1965). Mười bốn năm trong quân đội thêm tám năm ở Trường Sơn, đoàn vận tải Quang Trung 559. Có thể nói: Trường Sơn đã tạo nên thơ Phạm Tiến Duật, và Phạm Tiến Duật cũng là người mang được nhiều nhất Trường Sơn vào thơ. Nói đến đề tài Trường Sơn đánh Mỹ, người ta không thể quên Phạm Tiến Duật và thơ Phạm Tiến Duật hay nhất cũng ở chặng Trường Sơn. Chiến tranh đã qua một phần tư thế kỷ, tâm hồn thơ Phạm Tiến Duật vẫn chưa ra khỏi Trường Sơn. Những bài thơ anh viết hôm nay vẫn còn vang ngân lắm hình bóng của Trường Sơn. Phạm Tiến Duật có giọng thơ không giống ai, và cũng khó ai bắt chước được“. Nhà thơ Vũ Quần Phương trên trang Thi Viện của chủ bút Đào Trung Kiên đã có lời bình thật lắng đọng về Phạm Tiến Duật.

Trang thơ Phạm Tiến Duật trên Thi Viện có trích dẫn 29 bài với đường dẫn thật dễ tìm.

Vầng trăng quầng lửa (1970)

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây  cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
NHẠC XUÂN Những tuyệt phẩm vượt thời gian

Vietnamese Dan Bau Music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang Gạo Việt chất lượng và thương hiệu  Con đường lúa gạo Việt Nam.

 

Chào ngày mới 14 tháng 1


Tito1971

CNM365 Chào ngày mới 14 tháng 1: Wikipedia Ngày này năm xưa. Năm 1953 – Nguyên soái Josip Broz Tito (ảnh bởi Schumaker, Byron E ) bắt đầu đảm nhiệm chức vụ Tổng thống Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư. Năm 1941 – ngày sinh Phạm Tiến Duật  là một nhà thơ Việt Nam với nhiều tác phẩm thơ tiêu biểu viết trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam (mất năm 2007). Năm  2011Cách mạng Tunisia, còn gọi là Cách mạng Hoa Lài theo loài hoa quốc gia, là cuộc cách mạng dân chủ phi bạo lực của nhân dân Tunisia khiến Tổng thống Zine El Abidine Ben Ali phải dời sang Ả Rập Saudi sau một loạt các cuộc biểu tình đường phố. Tổng thống Ben Ali buộc từ chức sau 23 năm đương nhiệm xem tiếp…

Phạm Tiến Duật thơ của một thời

Trang thơ Phạm Tiến Duật trên Thi Viện là một khái quát về thơ anh, “con chim lửa của Trường Sơn huyền thoại”, “cây săng lẻ của rừng già”, “nhà thơ lớn nhất thời chống Mỹ”. Thơ anh thời chống Mỹ không có tuổi, mãi mãi tuổi thanh xuân, từng được đánh giá là “có sức mạnh của một sư đoàn[3]   (Phạm Tiến Duật Wikipedia tiếng Việt )

Phạm Tiến Duật, tên thật mà cũng là bút danh, sinh ngày 14-1-1941 (mất năm 2007). Quê gốc ở thị xã Phú Thọ. Tốt nghiệp đại học sư phạm Văn, chưa đi dạy ngày nào, ông nhập ngũ (1965). Mười bốn năm trong quân đội thêm tám năm ở Trường Sơn, đoàn vận tải Quang Trung 559. Có thể nói: Trường Sơn đã tạo nên thơ Phạm Tiến Duật, và Phạm Tiến Duật cũng là người mang được nhiều nhất Trường Sơn vào thơ. Nói đến đề tài Trường Sơn đánh Mỹ, người ta không thể quên Phạm Tiến Duật và thơ Phạm Tiến Duật hay nhất cũng ở chặng Trường Sơn. Chiến tranh đã qua một phần tư thế kỷ, tâm hồn thơ Phạm Tiến Duật vẫn chưa ra khỏi Trường Sơn. Những bài thơ anh viết hôm nay vẫn còn vang ngân lắm hình bóng của Trường Sơn. Phạm Tiến Duật có giọng thơ không giống ai, và cũng khó ai bắt chước được“. (Thi Viện, Đào Trung Kiên)

Vầng trăng quầng lửa (1970)

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây  cập nhật mỗi ngày

 

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Chào ngày mới 14 tháng 1


Tito1971

CNM365 Chào ngày mới 14 tháng 1:Wikipedia Ngày này năm xưa. Năm 1953 – Nguyên soái Josip Broz Tito (ảnh bởi Schumaker, Byron E ) bắt đầu đảm nhiệm chức vụ Tổng thống Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư.  Năm 1941 – ngày sinh Phạm Tiến Duật  là một nhà thơ Việt Nam với nhiều tác phẩm thơ tiêu biểu viết trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam (mất năm 2007). Năm  2011Cách mạng Tunisia, còn gọi là Cách mạng Hoa Lài theo loài hoa quốc gia, là cuộc cách mạng dân chủ phi bạo lực của nhân dân Tunisia khiến Tổng thống Zine El Abidine Ben Ali phải dời sang Ả Rập Saudi sau một loạt các cuộc biểu tình đường phố. Tổng thống Ben Ali buộc từ chức sau 23 năm đương nhiệm.

14 tháng 1

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày 14 tháng 1 là ngày thứ 14 trong lịch Gregory. Còn 351 ngày trong năm (352 ngày trong năm nhuận).

« Tháng 1 năm 2016 »
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31

Mục lục

Sự kiện

Sinh

Mất

Những ngày lễ và kỷ niệm

Tháng 1 | Tháng 2 | Tháng 3 | Tháng 4 | Tháng 5 | Tháng 6 | Tháng 7 | Tháng 8 | Tháng 9 | Tháng 10 | Tháng 11 | Tháng 12

Tham khảo

 

Josip Broz Tito

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Josip Broz Tito
Josip Broz Tito 1971.png
Chức vụ
Nhiệm kỳ 1936 – 1980
Tiền nhiệm không
Nhiệm kỳ 14 tháng 1 năm 1953 – 4 tháng 5 năm 1980
Tiền nhiệm Ivan Ribar
(Chủ tịch Đoàn chủ tịch Hội đồng Nhân dân Cộng hòa Liên bang Nhân dân Nam Tư
Kế nhiệm Lazar Koliševski
(Chủ tịch Đoàn chủ tịch CHLBXHCN Nam Tư)
Thủ tướng thứ nhất của CHLBXHCN Nam Tư
Chủ tịch Hội đồng Hành pháp Liên bang
Nhiệm kỳ 29 tháng 11 năm 1945 – 29 tháng 6 năm 1963
Tiền nhiệm vị trí được thiết lập
Kế nhiệm Petar Stambolić
Bộ trưởng Quốc phòng
Nhiệm kỳ 29 tháng 11 năm 1945 – 14 tháng 1 năm 1953
Tiền nhiệm vị trí được thiết lập
Kế nhiệm Ivan Gošnjak
Chủ tịch Liên đoàn những người cộng sản Nam Tư
Nhiệm kỳ tháng 11 năm 1936 – 4 tháng 5 năm 1980
Tiền nhiệm Milan Gorkić
Kế nhiệm Branko Mikulić
Tiền nhiệm Milan Gorkić
Thông tin chung
Đảng phái Liên đoàn Cộng sản Nam Tư (SKJ)
Danh hiệu Awards and decorations
Sinh 7 hay 25 tháng 5 1892
Kumrovec, Vương quốc Croatia-Slavonia, Đế quốc Áo-Hung
Mất 4 tháng 5, 1980 (87 tuổi)
Ljubljana
Nghề nghiệp Thợ máy, Nhà cách mạng, Kháng chiến quân, Quốc trưởng
Tôn giáo Vô thần
Vợ Pelagija Broz (1919-1939), ly dị.
Jovanka Broz (1952-1980)
Chữ ký Tito signature.svg
Binh nghiệp
Phục vụ Nam Tư Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư
Thuộc Yugoslav People’s Army emblem Quân đội Nhân dân Nam Tư
All (supreme commander)
Năm tại ngũ 1914
1941–1980
Cấp bậc Thống chế Nam Tư
Chỉ huy Yugoslav Partisans
Yugoslav People’s Army
Tham chiến Chiến tranh thế giới thứ nhất
Nội chiến Tây Ban Nha
Chiến tranh thế giới thứ hai
Khen thưởng Awards and decorations

Josip Broz Tito (Tiếng Serbia: Јосип Броз Тито, (7 hay 25 tháng 5 năm 18924 tháng 5 năm 1980) là nhà cách mạng và chính khách người Nam Tư.[1] Ông là tổng thư ký và sau đó là chủ tịch của Đảng Cộng sản Nam Tư (từ năm 1939 đến năm 1980), tham gia và lãnh đạo kháng chiến dân Nam Tư trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai.[2] Sau cuộc chiến ông lên giữ quyền[3][4][5] thủ tướng (1945–63) và sau đó lên chức tổng thống (1953–80) của Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư. Từ năm 1943 cho đến khi ông mất, Tito còn giữ cấp bậc Nguyên soái, tổng chỉ huy quân đội Nhân dân Nam Tư (JNA).

Tito là người sáng lập quốc gia Nam Tư thứ nhì, một liên hiệp xã hội chủ nghĩa, từ Chiến tranh thế giới lần thứ hai đến năm 1991. Mặc dù là một trong những thành viên ban đầu của Cominform, Tito là người đầu tiên và duy nhất có khả năng chống lại điều khiển của Liên Xô. Nam Tư do đó thuộc Phong trào không liên kết, không chống nhưng cũng không ngả theo phe nào trong hai phe đối đầu của Chiến tranh lạnh.

Trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất

Josip Broz sinh tại Kumrovec thuộc Croatia, khi đó còn là thuộc địa của Đế quốc Áo-Hung[6]. Ông là con thứ 7 của ông Franjo Broz người Croatia và bà Marija Broz người Slovene. Khi nhỏ ông sống với ông ngoại. Năm 1907 Broz lên tỉnh Sisak theo học nghề thợ máy và gia nhập phong trào công nhân năm 1910 và theo đảng Dân chủ Xã hội Croatia. Trong những năm 19111913 Broz làm tại nhiều hãng ở khắp nơi và cũng có làm cho hãng xe hơi BenzĐứcDaimler tại Áo.

Mùa thu 1912, Broz bị bắt đi lính cho Đế quốc Áo-Hung và được cho làm thượng sĩ thuộc trung đoàn 25 Croatia tại Zagreb.[7] Tháng 5 năm 1914 Broz được huy chương bạc trong môn thể thao đấu kiếm tại Budapest. Khi Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ Broz được đẩy đi Ruma nhưng ông bị bắt bỏ tù vì tội phát động phong trào phản chiến. Tháng 1 năm 1915 Broz bị đầy ra chiến trận miền Đông, chống lại quân Nga. Tại đây ông chiến đấu anh dũng và được khen thưởng, trở thành thượng sĩ trẻ nhất của quân đội Đế quốc Áo-Hung. Ngày 25 tháng 3 1915, ông bị bắn trọng thương và bị quân Nga bắt làm tù binh.[8]

Tù binh và cách mạng Nga

Sau 13 tháng nằm viện dưỡng thương, Broz bị đày đi trại tù lao động vùng núi Ural, tù nhân chọn ông làm trại trưởng. Tháng 2 năm 1917 công nhân nổi dậy vào đánh phá và mở cửa trại. Broz từ đó nhập theo đoàn Bolshevik. Tháng 4 ông bị bắt nhưng trốn thoát và tham gia các cuộc biểu tình vào tháng 7 tại Petrograd. Trên đường sang Finland Broz lại bị bắt nhưng trên đường ra trại tù ông nhảy từ xe lửa trốn thoát và trú ẩn trong gia đình một người Nga. Tại đây ông gặp cô Pelagija Belousova.[8] Sau Cách mạng Tháng Mười Broz gia nhập Hồng quân Nga tại Omsk. Khi bị quân Bạch vệ tấn công, Broz bỏ chạy về Kirgiziya và sau đó về Omsk và cưới Pelagija Belousova làm vợ.

Mùa xuân năm 1918 Broz gia nhập phân bộ Nam Tư của Đảng Cộng sản Nga. Sau đó ông tiến tục làm nghề thợ máy kiếm tiền nuôi gia đình. Tháng 1 năm 1920 ông cùng gia đình làm cuộc hành trình vất vả vể Nam Tư. Đến tháng 9 gia đình Broz mới về tới Nam Tư.[8] Ông gia nhập Đảng Cộng sản Nam Tư, đảng này phát triển mạnh mẽ và trong cuộc bầu cử năm 1920 giành được 59 ghế trong quốc hội và là đảng lớn thứ 3 trong nước. Đảng cộng sản thắng thế tại nhiều cuộc bầu cử địa phương, thành công nhất khi Svetozar Delić giành được chức thị trưởng thành phố Zagreb. Vua Nam Tư không ưa đảng cộng sản và ra lệnh cấm đảng này hoạt động và mọi thành quả của đảng trong những năm 1920-1921 bị hủy. Broz tiếp tục hoạt động ngầm và về Bjelovar làm nghề thợ máy. Năm 1925 ông làm cho hãng thuyền tại Kraljevica và năm sau trong vai trò thủ lĩnh công đoàn khởi động cuộc đình công tại hãng này. Ông bị đuổi sở và phải về Beograd làm tại hãng xe lửa. Ông được bầu làm đại diện công nhân nhưng sau đó bị đuổi khi lý lịch thành viên đảng cộng sản bị tiết lộ. Broz lại về Zagreb lĩnh chức thư ký công đoàn công nhân nghề sắt Croatia. Năm 1928 ông lên làm Thư ký cho phân bộ Zagreb của Đảng Cộng Sản Nam Tư. Sau đó Broz bị bắt, kết án và bỏ tù vì tội theo cộng sản.[9] Trong tù, ông gặp và học hỏi từ Moša Pijade về luận lý chính trị.[9] Sau khi được thả, Broz sống ẩn và lấy nhiều tên tắt như “Walter” và “Tito”.[8]

Năm 1934 phân bộ Đảng gửi Tito sang Viên nơi Đảng Cộng sản Nam Tư đang lánh nạn. Ông được vào ủy ban của Đảng và kết nạp được nhiều đảng viên thân cận trong gồm có Edvard Kardelj, Milovan Djilas, Aleksandar Rankovic, và Boris Kidric. Năm 1935 Tito sang Liên Xô hoạt động cho phong trào đệ tam Quốc tế cho khu vực Balkan. Tito gia nhập Đảng Cộng sản Nga và hoạt động cho cảnh sát mật vụ Sô Viết NKVD. Năm 1936 Comintern gửi Tito về Nam Tư thanh lọc Đảng Cộng sản nước này. Năm 1937 Stalin ra mật lệnh thủ tiêu Milan Gorkić tại Moskva. Sau đó Tito được bầu lên làm thủ lĩnh Đảng Cộng sản Nam Tư (lúc bấy giờ vẫn còn là đảng bất hợp pháp).

Chiến tranh thế giới lần thứ hai

Chiến tranh Nam Tư

Ngày 6 tháng 4 1941, quân Đức Quốc Xã, Phát xít ÝHungary mở cuộc tấn công vào Nam Tư. Vua Nam Tư bỏ trốn ngày 17 tháng 4 và chính quyền Nam Tư đầu hàng sau đó. Quân xâm lăng tiến vào và nhanh chóng chia rẽ xứ Nam Tư. Quân Đức chiếm vùng miền bắc Slovenia và điều khiển quân sự tại Serbia đồng thời lập chính phủ bù nhìn tại Croatia.[10] Quân của Mussolini giành phần còn lại của Slovenia, Kosovo và vùng ven biển Dalmatia và các đảo trong biển Adriatic. Ý cũng lập chính phủ bù nhìn tại Montenegro. Quân Hungary chiếm Vojvodina, xát nhập vào Baranja, Bačka, MeđimurjePrekmurje.[11] Còn quân Bulgaria chiếm gần hết lãnh thổ Macedonia.

Trong những ngày đầu của cuộc xâm lăng, ngày 10 tháng 4 1941 Tito thành lập Ủy ban Quân sự trong Đảng Cộng sản Nam Tư và ngày 1 tháng 5 bắt đầu phát truyền đơn kêu gọi dân Nam Tư đoàn kết chống ngoại xâm.[12] Ngày 4 tháng 7 nghe tin Đức tấn công Liên Xô, Tito mở cuộc họp thành lập quân đội kháng chiến vũ trang và ông được chọn làm thủ lĩnh. Trong khu rừng vùng Brezovica gần Sisak Croatia, đội quân kháng chiến vũ trang chống phát xít đầu tiên tại châu Âu được thành lập, phần lớn là người Croatia ở các vùng lân cận.

Ngoài quân xâm lăng, Tito và quân kháng chiến còn phải đương đầu với lực lượng “kháng chiến” khác do Draža Mihailović chỉ huy. Lực lượng này mang tên Chetnik, lúc đầu phối hợp với Tito nhưng không bao lâu sau dần dần ngả theo phe phát xít, nhận viện trợ của Ý tấn công quân của Tito.[13][14] Quân Tito mở cuộc chiến tranh du kích giành được nhiều thắng lợi, giải phóng nhiều vùng bị quân phát xít xâm chiếm. Quân Đức phản công bằng các cuộc thanh trừng giết hại thường dân: cứ mỗi lính Đức chết thì 100 dân Nam Tư phải đền mạng, và 50 cho mỗi lính Đức bị thương. Dẫu thế dân Nam Tư vẫn kiên trì chống trả và bảo vệ những vùng giải phóng, nổi tiếng nhất là vùng đất mang tên Cộng hòa Užice. Trong những khu giải phóng, quân kháng chiến tổ chức những chính phủ nhân dân. Tito mở hai cuộc họp của tổ chức gọi là Hội đồng giải phóng Quốc gia Nam Tư chống Phát xít tại Bihać ngày 26 tháng 11 1942 và tại Jajce ngày 29 tháng 11 1943, tổ chức này được coi như là đại diện của quân dân kháng chiến Nam Tư, và Tito là lãnh tụ. Trong hai cuộc họp này các thành viên đặt nền móng cho quốc gia Nam Tư sau cuộc chiến và riêng tại Jajce nhận Tito làm chủ tịch Hội đồng.[15] Ngày 4 tháng 12 1943, trong khi cuộc chiến còn đang tiếp diễn, Tito tuyên bố thành lập chính phủ dân chủ Nam Tư.

Nguyên soái J. B. Tito và Thủ tướng Anh Winston Churchill, năm 1944

Quân phát xít lúc này đang lo ngại quân Đồng Minh đổ bộ vào bán đảo Balkan, bèn mở cuộc hành quân ra sức tiêu diệt kháng chiến Nam Tư. Quân Đức đặc biệt kéo 200.000 quân tấn công vào các cứ điểm của quân kháng chiến, như Neretva (trong trận đánh này quân Chetniks theo phe quân Đức tấn công quân Nam Tư) và tại Sutjeska. Trong trận Sutjeska quân kháng chiến bị bao vây và gần bị tiêu diệt nhưng nhờ khả năng hành quân linh động có khả năng vừa đánh vừa rút thoát khỏi vòng vây, Tito trúng đạn bị thương trong trận này. Quân Đức suýt bắt và giết được Tito ba lần; tại Neretva, tại Sutjeska và tại Drvar. Trong trận Drvar (thuộc Bosnia) Otto Skorzeny cầm đầu toán lính dù Đức tấn công phòng chỉ huy của Tito, nhưng ông may mắn trốn thoát.

Quân Đồng Minh lâu nay vẫn ủng hộ quân Chetniks, nhưng khi thấy quân này lộ mặt thân phát xít và khi nhận tin về sức kháng cự của kháng chiến quân Tito, quyết định ủng hộ lực lượng Tito. Tại Hội nghị Tehran, Vua Peter II của Nam Tư, tổng thống Hoa Kỳ Franklin Roosevelt, thủ tướng Anh Winston Churchill và chủ tịch Liên Xô Joseph Stalin tuyên bố chính thức công nhận Tito và quân kháng chiến do ông chỉ huy, và cho lính dù Đồng Minh nhảy vào hỗ trợ quân kháng chiến Nam Tư. Ngày 17 tháng 6 năm 1944 hiệp ước Vis được ký kết với mục đích kết hợp lực lượng Tito và chính phủ lưu vong hoàng gia Nam Tư. Quân kháng chiến Nam Tư sau đó được lực lượng của Đồng Minh hỗ trợ trực tiếp, gồm không quân và lục quân.

Ngày 28 tháng 9 năm 1944 báo Cơ quan Điện thư Liên Xô (TASS) báo tin Tito cho ký giấy cho quân Liên Xô hành quân vùng đông-bắc Nam Tư.[16] Quân kháng chiến Nam Tư dựa vào lực lượng hỗ trợ mở cuộc tổng tấn công quân phát xít tại nhiều nơi và nhanh chóng giải phóng Nam Tư. Khi quân Đức rút ra khỏi lãnh thổ, Tito cũng lập tức yêu cầu tất cả các lực lượng Đồng Minh kéo ra ngoài Nam Tư.

Thời hậu chiến

Nguyên soái J. B. Tito và các tướng lĩnh Quân giải phóng nhân dân Nam Tư sau khi Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, ngày 14 tháng 5 năm 1945

Ngày 7 tháng 3 1946 chính phủ lâm thời Liên hiệp Dân chủ Nam Tư (Demokratska Federativna Jugoslavija, DFY) ra đời tại Beograd, chưa quyết định thể chế cộng hòa hay vương quốc. Chính phủ này do Tito lãnh đạo trong chức thủ tướng, cùng thành viên của chính phủ lưu vong hoàng gia khi trước và nhiều người khác, trong đó có Ivan Šubašić. Trong cuộc bầu cử thành lập chính phủ chính thống vào tháng 11 năm 1945, Tito và nhóm cộng hòa do Đảng Cộng sản Nam Tư ủng hộ thắng lớn. Đây là thời điểm Tito được quần chúng yêu chuộng với hình ảnh ông là người giải phóng đất nước.

Chính phủ Nam Tư cố gắng hàn gắn những sứt mẻ trong thời gian bị chiếm; nhất là vấn đề chia rẽ giữa các nước nhỏ thuộc liên hiệp Nam Tư. Ngoài ra họ còn phải gây dựng lại xứ sở bị chiến tranh tàn phá, luôn đưa hình ảnh đoàn kết xây dựng như mục đích chung của cả nước. Nam Tư được cho danh xưng chính thức là Cộng hòa Liên hiệp Nhân dân Nam Tư, sau đổi thành Cộng hòa Liên hiệp Nam Tư. Ngày 29 tháng 11 năm 1945, vua Peter II của Nam Tư chính thức bị quốc hội truất phế. Hiến pháp cộng hòa sau đó được soạn thảo và công bố.

Quân đội Nam Tư, Quân đội Nhân dân Nam Tư (Jugoslavenska narodna armija, hay JNA), được thành lập trên căn bản của quân kháng chiến ngày trước, từng được xếp hạng 4 hùng hậu nhất châu Âu. Cảnh sát an ninh Nam Tư (Uprava državne bezbednosti/sigurnosti/varnosti, UDBA) và Cơ quan Mật vụ (Organ Zaštite Naroda (Armije), OZNA) được thiết lập truy nã, bắt giữ và đem ra tòa xử các tội phạm chiến tranh và nhóm người theo phát xít ngày trước. Trong đám tội phạm này có nhiều linh mục Công giáo của giáo xứ Croatia thuộc chính quyền Ustaša. Draža Mihailović từng chỉ huy quân Chetniks bị xét xử và xử bắn vào tháng 7 năm 1946.

Josip Broz Tito gặp Aloysius Stepinac, chủ tịch Hiệp hội Giám mục Nam Tư ngày 4 tháng 6 năm 1945 để thương lượng về chính sách tôn giáo nhưng không đạt thành quả. Stepinac và các Giám mục chỉ trích Tito trong vụ thanh trừng tôn giáo vào tháng 9 năm 1945. Năm sau Stepinac bị bắt và kết án 16 năm tù giam với tội cấu kết nhóm khủng bố Ustaše và xúi giục dân chúng theo đạo Công giáo. Tháng 10 năm 1946, Vatican trong phiên họp bất thường lần đầu tiên trong 75 năm, ly khai chính phủ Tito về vụ bắt Stepenac,[17] nhờ đó Stepenac được ân xá[18] và bản án rút xuống thành quản thúc tại gia với phép cho xuất cảnh. Nam Tư sau đó được xem là có tự do tôn giáo hơn các nước Đông Âu láng giềng thuộc khối Xô viết.

Trong những năm đầu sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Tito được xem là nhà lãnh tụ cộng sản chân chính, chỉ đứng sau Stalin. Phòng không Nam Tư từng bắn rơi máy bay Hoa Kỳ bay vào không phận Nam Tư và đưa liên hệ với Tây Âu vào chỗ khó khăn. Stalin thì lại không mấy ưa Tito, cho ông là quá độc lập.

Tổng thống Nam Tư

Tách rời Stalin

Josip Broz Tito và bà Eleanor Roosevelt trong chuyến du ngoạn đảo Brijuni tại Croatia, (tháng 7 năm 1953)

Khác với những nước thuộc khối Cộng sản Đông Âu, Nam Tư không phụ thuộc Hồng quân Liên Xô trong cuộc giải phóng chống phát xít. Mặc dù trong thời gian đầu, Tito là đồng minh với Stalin, ông tin tưởng Nam Tư có khả năng đứng riêng rẽ, tự chủ, không phụ thuộc thế lực bên ngoài. Do đó, liên hệ với Liên bang Xô viết dần dần trở nên căng thẳng. Ngay từ năm 1945 Liên Xô đã gài điệp viên vào đảng Cộng sản Nam Tư để theo dõi và tạo ảnh hưởng.

Mặt khác, Nam Tư cũng không chịu để Đồng Minh Tây Âu lấn ép. Nhiều cuộc đụng độ vũ trang xảy ra giữa Nam Tư và quân Đồng minh Tây Âu. Nam Tư giành lại lãnh thổ Istria, hai thành phố ZadarRijeka từng bị Ý chiếm giữ từ những năm 1920. Khi Tito muốn lấy lại khu vực Trieste thì bị Tây Âu phản kháng. Từ đó xảy ra nhiều căng thẳng quân sự. Nghiêm trọng nhất những là vụ không quân Nam Tư tấn công máy bay của Hoa Kỳ, từ năm 1945 tới năm 1948 ít nhất 4 phi cơ Mỹ bị Nam Tư bắn rớt.[19] Stalin rất lo ngại về những xung đột này, cho rằng Liên Xô lúc bấy giờ còn đang hồi phục sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, chưa đủ tư thế tham gia chiến tranh giữa đông và tây Âu. Trong khi Tito công khai ủng hộ phe cộng sản trong Nội chiến Hy Lạp, Stalin không tuyên bố quan điểm vì đã hứa với Churchill là Liên Xô không xen vào chuyện nội bộ của Hy Lạp. Đến năm 1948, Tito quyết định đặt kế hoạch phát triển kinh tế không lệ thuộc hệ thống của Liên Xô. Từ đó, liên hệ giữa Nam Tư và Liên Xô bắt đầu tan rã. Tito viết thư cho Stalin:

Chúng tôi học hỏi và theo gương của hệ thống Xô- viết, nhưng chúng tôi phát triển chủ nghĩa xã hội theo dạng thái khác… Mỗi người chúng tôi dầu có yêu đất chủ nghĩa xã hội Liên Xô bao nhiêu cũng không thể yêu hơn tổ quốc của chính chúng tôi.

[20]

Liên Xô phản kháng bằng cách chỉ trích Tito và Đảng Cộng sản Nam Tư đã không biết sửa sai và quá tự hào trong chiến thắng chống Đức mà đã quên rằng Liên Xô là cứu tinh của Nam Tư. Ngày 17 tháng 5 Tito cho mời họp các nước cộng sản Đông Âu để điều đình vào tháng 6 nhưng ông không đến họp, ngại rằng Nam Tư sẽ bị tấn công. Thời đoạn này là cuộc khủng hoảng quân sự trầm trọng, quân Liên Xô và Hungary kéo đến đóng tại biên giới phía bắc Nam Tư.[21] Ngày 28 tháng 6 Nam Tư bị trục xuất khỏi khối Đông Âu, và bị kết tội là đảng Cộng sản Nam Tư đã để những thành phần chủ nghĩa quốc gia lên cầm đầu. Những phần tử có tư tưởng giống Tito (“Tito-ist”) trong những nước này cũng bị thanh trừng hay trục xuất. Riêng Stalin lại đi xa hơn, ra lệnh thủ tiêu Tito nhưng thất bại. Tito lại gửi thư cho Stalin:

Đừng gửi người sang giết tôi. Chúng tôi đã bắt được 5 tên, một tên mang bom, một tên khác mang súng trường… Nếu ông không ngưng gửi sát thủ, tôi buộc phải gửi một sát thủ sang Moskva, và tôi sẽ không cần gửi sát thủ thứ nhì đâu.

[22]

Tito nhân tình huống này này quay sang nhận viện trợ từ đối thủ của Liên Xô là Hoa Kỳ, theo chương trình Kế hoạch Marshall. Ông cũng tiếp tục duy trì vị trí của Nam Tư, đứng đầu trong phong trào không liên kết. Sự kiện này là một thất bại lớn trong kế hoạch phát triển thế lực cộng sản của Stalin. Trong giai đoạn Informbiro này Tito và Nam Tư rơi vào thế khó khăn. Trong khi những thành phần có xu hướng theo Tito tại những nước Đông Âu bị thanh trừng, Nam Tư cũng tống giam những thành phần theo Liên Xô tại đảo Goli Otok (thuộc Croatia). Từ năm 1946 đến năm 1956, gần 10.000 tù nhân đã bị đày ra trại tù kín ở đảo này – với nhiều nhân chứng từng bị tra tấn hành hạ và cưỡng bức lao động.

Ngày 26 tháng 6 năm 1950 hội nghị quốc gia thông qua nghị quyết do Milovan Đilas và Tito đề cử về chính sách tự quản, một hình thức chủ nghĩa xã hội dựa trên kinh tế quốc doanh và chia lãi cho người lao động. Ngày 13 tháng 1 năm 1953 kinh doanh tự quản được xem là căn bản của kinh tế Nam Tư. Ngày 14 tháng 1 1953, Tito lên thay Ivan Ribar nhận chức tổng thống Nam Tư. Sau khi Stalin chết, chính quyền Liên Xô mời Tito sang giảng hòa nhưng ông từ chối không sang. Năm 1955 Nikita Khrushchev và Nikolai Bulganin phải sang Belgrade xin lỗi Tito về những hành động của Stalin khi trước.[23] Tito sang Liên Xô năm 1956 bắt đầu cuộc hòa giải giữa hai nước.[24] Nhưng đến thập niên năm 1960, Nam Tư và Liên Xô lại có hiềm khích. Tito kết luận:

Nói tóm lại – đây là một thái độ phản bội, thiếu khách quan đối với Đảng và Tổ quốc của chúng ta. Đây là kết quả của một chứng ngông cuồng ghê tởm được thổi phồng lên tới mức độ khổng lồ chỉ để đánh phá danh dự của Đảng ta và cấp lãnh đạo, làm lu mờ vinh quang của dân Nam Tư và cuộc đấu tranh của họ. Nó chà đạp lên những thành tựu của quốc gia chúng ta mà chúng ta đã phải trả giá bằng máu và hy sinh – với mục đích làm tan vỡ sức đoàn kết trong Đảng ta, được xem như một bảo đảm cho thành công trong phát triển xã hội chủ nghĩa trong nước ta và xây dựng nền hạnh phúc cho nhân dân.

Nam Tư trung lập

Josip Broz Tito với Tổng thống Cộng hòa A rập thống nhất Gamal Abdul Nasser và Phó tổng thống Akram al-Hawrani. Cairo, 1959

Năm 1961 lãnh tụ của 5 quốc gia Nam Tư, Ấn Độ, Ai Cập, IndonesiaGhana phát huy Phong trào không liên kết, đồng ý không theo phe nào trong chiến tranh lạnh, đồng thời phát triển liên hệ với giữa các nước chậm tiến. Hành động này có lợi cho nền kinh tế và quan hệ ngoại giao của Nam Tư. Ngày 1 tháng 9 năm 1961, Tito được bầu lên làm tổng thư ký của phong trào không liên kết. Ngày 7 tháng 4 năm 1963, Nam Tư đổi tên quốc hiệu thành Cộng hòa Liên hiệp Xã hội chủ nghĩa Nam Tư. Chính quyền phát động đổi mới, cho phép đầu tư cá nhân và nới lỏng kiểm soát tôn giáo và phát huy quyền tự do ngôn luận.[25] Tito sau đó đi công du châu Mỹ. Tại Chile, hai bộ trưởng từ chức để lên tiếng phản đối Tito.[26] Tại Liên Hiệp Quốc, dân Croatia và Serbia biểu tình trong lúc Tito phát biểu trước hội nghị. Nghị sĩ Hoa Kỳ Thomas J. Dodd lên tiếng kết tội Tito về những vụ thanh trừng chính trị tại Nam Tư. Năm 1966, nhân dịp linh mục Stepanec từ trần, Tito và tòa thánh Vatican ký thỏa ước cho phép nhà thờ công giáo truyền đạo tại Nam Tư.

Về phía Đông Âu, Tito phải đối phó với âm mưu của tay cộng sản gộc Aleksandar Ranković.[27] Cùng năm, Tito ra tuyên ngôn rằng người cộng sản phải từ đây cùng nhau xây dựng phát triển Nam Tư qua quyền tự do bàn thảo, và chính quyền độc tài sẽ không còn tồn tại. Cơ quan mật vụ chính phủ Nam Tư bị cắt giảm chỉ còn 5.000 nhân viên.

Ngày 1 tháng 1 năm 1967 Nam Tư là nước cộng sản đầu tiên mở cửa biên giới cho dân nước ngoài ra vào tự do không cần giấy visa.[28] Cùng năm, Tito tham gia công cuộc giải hòa giữa Do Thái và Ả rập. Ông kêu gọi khối Ả rập công nhận lãnh thổ Do Thái để đổi lấy những phần đất bị Do Thái chiếm đóng.[29]

Tito cũng ủng hộ chính quyền Tiệp Khắc do Alexander Dubček trong cuộc khủng hoảng với Liên Xô, hứa sẽ bay sang Praha bất cứ khi nào Dubček kêu cứu.[30]

Năm 1971 Tito tái đắc cử tổng thống Nam Tư lần thứ 6. Trong bài diễn văn tại Hội nghị Liên Hiệp Nam Tư ông đề xuất 20 sửa đổi trong hiến chương, tạo dựng nền tảng cho phát triển quốc gia Nam Tư. Qua các thay đổi hiến chương hình thành một chính quyền gồm 1 tổng thống và 1 hội đồng gồm 22 thành viên được bầu lên từ 6 nước cộng hòa thành viên của Liên hiệp Nam Tư và 2 vùng tự trị. Đứng đầu hội đồng này là một thủ hiến, chọn lên lần lượt từ các nước thành viên. Trong trường hợp có mâu thuẫn và hội đồng không quyết định được thì tổng thống có quyền lực để quyết định sau cùng. Thay đổi của hiến chương Nam Tư còn cho phép các chính phủ thành viên tự thiết lập cơ sở hiến pháp riêng, không cần theo chủ thuyết của đảng cộng sản. Džemal Bijedić được bầu làm thủ hiến. Tuy các nước thành viên được tăng quyền tự trị, nhóm lãnh đạo Liên hiệp Nam Tư giữ kiểm soát về ngoại giao, an ninh quốc phòng, tài chính, thương mại trong Nam Tư và liên hệ giúp đỡ các nước nghèo láng giềng. Giáo dục, y tế và an sinh xã hội hoàn toàn thuộc về chính quyền các nước thành viên.[31]

Đối với cách nhìn của các nước phương tây, Tito nổi bật nhất là khả năng giữ được sức liên kết của các nước thành viên Nam Tư, ông liên tục đánh chìm mọi khuynh hướng quốc gia. Một trong những thử thách của công trình giữ nền liên hiệp của Tito là cuộc bùng dậy từ Croatia. Chính quyền Tito đã nỗ lực dẹp tan các cuộc biểu tình công cộng, đồng thời ngăn chặn các nhóm bất đồng chính kiến trong Đảng Cộng sản Nam Tư. Tito tuyên bố về cuộc nổi dậy này: “Sông Sava sẽ chảy ngược khi Croatia lập được nước riêng”.[32][33] Tuy nhiên bị chận đứng, cuộc bùng dậy Croatia này cũng đạt được vài thành công vì sau đó có vài thay đổi trong hiến chương.

Ngày 16 tháng 5 năm 1974, một hiến chương mới được công nhận và Josip Broz Tito được bầu làm tổng thống suốt đời.

Chính sách ngoại giao

Từ trái: Jovanka Broz, Tito, Richard Nixon, và bà Pat Nixon tại Nhà Trắng năm 1971

Tito được người ta biết đến nhiều vì ông theo đuổi chính sách trung lập trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh và luôn hợp tác với các nước đang phát triển. Vì vậy Tito bị Stalin ly gián và sau đó Nam Tư không được khối Đông Âu ủng hộ. Chính sách trung lập này luôn được ông nêu lên trong các bài diễn văn trước công chúng. Ông nhấn mạnh tính quan trọng của sự liên kết của các nước trung lập, cùng nhau phát triển nhưng không được gây áp lực buộc Nam Tư phải ngả theo phe nào trong Chiến tranh Lạnh. Liên hệ giữa nam Tư và các cường quốc Âu Mỹ do đó có phần dễ chịu hơn.

Khác với các nước cộng sản chuyên chính, Nam Tư có chính sách du lịch dễ dãi, cho phép người trong và ngoài nước ra vào tự do.[25] Nhiều người Nam Tư do đó có thể đi làm tại các nước khắp châu Âu.

Tito cũng có bang giao với Miến Điện thời chính quyền U Nu, sang thăm nước này vào năm 19551959. Khi Ne Win lên nắm quyền Miến Điện thì Tito không sang nữa.

Vì trung lập, Nam Tư có bang giao với các quốc gia cực hữu, chống cộng sản như Paraguay dưới chính thể của Alfredo Stroessner.[34]

Nam Tư cùng với nhiều quốc gia thân tả cắt bang giao với Chile sau cuộc đảo chính năm 1973.[35]

Cuối đời

Sau khi nhận chức tổng thống suốt đời, Tito trở thành một chính khách ngoại giao. Ông dần dần bớt can thiệp trực tiếp vào hoạt động của chính quyền Nam Tư.

Tháng 1 năm 1980, Tito bị tắc mạch máu ở chân sau đó phải vào bệnh viện và bị cưa chân bên trái. Sau đó ông qua đời ngày 4 tháng 5 năm 1980. Đám tang Tito có nhiều chính khách các nước khác đến dự.[36] Trong thời kỳ này, đây là một đám tang đông khách đến dự nhất.[37] Trong đó có 4 vị vua, 31 tổng thống, 6 hoàng tử, 21 thủ tướng và 47 ngoại trưởng, từ 128 quốc gia, từ cả hai phe của cuộc Chiến tranh Lạnh.[38]

Sau khi Tito qua đời, nền tảng liên hiệp của Nam Tư từ từ tan rã. Các nước thành viên xung đội lẫn nhau vì vấn đề khác biệt sắc tộc đưa đến các cuộc chiến tương tàn kéo dài hàng chục năm sau đó.

Tito được chôn tại nghĩa trang Kuća Cveća (Nhà Hoa) ở Beograd. Ngày nay vẫn có du khách đến viếng để tưởng nhớ những ngày phồn thịnh xa xưa của Nam Tư.

Chú thích

  1. ^ [1] Josip Broz Tito. Yugoslav revolutionary and statesman, Encyclopaedia Britannica
  2. ^ Ian Bremmer, The J Curve: A New Way To Understand Why Nations Rise and Fall, Page 175
  3. ^ Cohen, Bertram D.; Fidle, Jay W. (2002). Group Psychotherapy and Political Reality: A Two-Way Mirror. International Universities Press. tr. 193. ISBN 0823622282. Đã định rõ hơn một tham số trong |last1=|last= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |first1=|first= (trợ giúp)
  4. ^ Andjelic, Neven (2003). Bosnia-Herzegovina: The End of a Legacy. Frank Cass. tr. 36. ISBN 071465485X.
  5. ^ Tierney, Stephen (2000). Accommodating National Identity: New Approaches in International and Domestic Law. Martinus Nijhoff Publishers. tr. 17. ISBN 9041114009.
  6. ^ Thông tin thiếu kiểm chứng từ http://www.nsa.gov Hoa Kỳ thì người mang tên Josip Broz không phải là lãnh tụ Tito sau này, suy diễn từ giọng nói tiếng Serbo-Croatian của ông http://www.nsa.gov/public_info/_files/cryptologic_spectrum/is_yugoslav.pdf
  7. ^ A. T. Lane (1995). Biographical Dictionary of European Labor Leaders. Greenwood Publishing Group. tr. 964.
  8. ^ a ă â b Josip Broz Tito
  9. ^ a ă Neill Barnett (2006). Tito. Luân Đôn: Haus Publishing. tr. 36-9. ISBN 1-904950-31-0.
  10. ^ Independent State of Croatia, or NDH (historical nation (1941-45), Europe) – Britannica Online Encyclopedia
  11. ^ Hungary – Shoah Foundation Institute Visual History Archive
  12. ^ Stvaranje Titove Jugoslavije. tr. 84. ISBN 86-385-0091-2.
  13. ^ David Martin, Ally Betrayed: The Uncensored Story of Tito and Mihailovich, (New York: Prentice Hall, 1946), 34
  14. ^ http://lcweb2.loc.gov/cgi-bin/query2/r?frd/cstdy:@field(DOCID+yu0031)
  15. ^ “Rebirth in Bosnia”. Time Magazine. 13 tháng 12, 1943.
  16. ^ Stvaranje Titove Jugoslavije. tr. 479. ISBN 86-385-0091-2.
  17. ^ Excommunicate’s Interview. Time Magazine. 21 tháng 10 năm 1946.
  18. ^ “Religion: The Silent Voice”. 22 tháng 2, 1960.
  19. ^ Air victories of Yugoslav Air Force
  20. ^ http://www.time.com/time/magazine/article/0,9171,799003-1,00.html eeLetter to Comrades JV Stalin and VM Molotov, 13 tháng 4 năm 1948; Quoted in TIME, 23 tháng 8 năm 1948
  21. ^ “No Words Left?”. Time Magazine. 22 tháng 8 năm 1949.
  22. ^ “”Untold tales of the Great Conquerors””. U.S. News & World Report. 3 tháng 1, 2006.
  23. ^ “Come Back, Little Tito”. Time Magazine. 6 tháng 6 năm 1955.
  24. ^ “Discrimination in a Tomb”. Time Magazine. 18 tháng 6 năm 1956.
  25. ^ a ă “Socialism of Sorts”. 10 tháng 6 năm 1966. Đã bỏ qua tham số không rõ |publsiher= (trợ giúp)
  26. ^ Ivica Lučić, Komunistički progoni Katoličke crkve u Bosni i Hercegovini 1945-1990 National Security and the Future, 2008
  27. ^ “Unmeritorious Pardon”. Time agazine. 16 tháng 12 năm 1966.
  28. ^ “Beyond Dictatorship”. Time Magazine. 20 tháng 1 năm 1967.
  29. ^ “Still a Fever”. Time Magazine. 25 tháng 8 năm 1967.
  30. ^ “Back to the Business of Reform”. Time Magazine. 16 tháng 8 năm 1968.
  31. ^ “Yugoslavia: Tito’s Daring Experiment”. Time Magazine. 9 tháng 8 năm 1971.
  32. ^ “Rušenje Titova spomenika vraćanje je u tamnu prošlost” (bằng Croatian). Vjesnik. 4 tháng 1, 2005. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2009.
  33. ^ “Photo: Policija između dviju grupa prosvjednika”. Javno. 2008.
  34. ^ Paraguay: A Country Study: Foreign Relations|quote=Foreign policy under Stroessner was based on two major principles: nonintervention in the affairs of other countries and no relations with countries under Marxist governments. The Only Exception to the Second Principle was Yugoslavia|accessdate=2009-04-11
  35. ^ J. Samuel Valenzuela and Arturo Valenzuela (eds.). Military Rule in Chile: Dictatorship and Oppositions,. tr. 316.
  36. ^ “Josip Broz Tito Statement on the Death of the President of Yugoslavia”. 4 tháng 5 năm 1980.
  37. ^ Several authors. Josip Broz Tito – Ilustrirani življenjepis. tr. 166.
  38. ^ Jasper Ridley. Tito: A Biography. tr. 19.

Tài liệu tham khảo

  • Banac, Ivo (1988). With Stalin against Tito: Cominformist splits in Yugoslav Communism. Cornell University Press. ISBN 0801421861.
  • Barnett, Neil (2006). Tito. Haus. ISBN 1904950310.
  • Vinterhalter, Vilko (1972). In the Path of Tito. Abacus Press.

Đọc thêm

Liên kết ngoài

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây  cập nhật mỗi ngày

 

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook