Chào ngày mới 2 tháng 11


DẠY VÀ HỌC 2 THÁNG 11
Hoàng Kim
CNM365 Tình yêu cuộc sống Ta về trời đất Hồng Lam; Những cuốn sách tôi yêu; Nguyễn Du làm Ngư Tiều; Nguyễn Ngọc Tư sầu riêng; Nhớ thầy Nguyễn Quốc Toàn; Nguyễn Trãi kiệt tác thơ văn; Nguyễn Trãi Dục Thúy Sơn; Đến với Tây Nguyên mới; Dạy học nghề làm vườn; Hãy để tôi đọc lại; Nguyễn Minh Không Bái Đính; Nguyễn Du trăng huyền thoại; Nguyễn Du tư liệu quý; Vào Tràng An Bái Đính; Sông Hoàng Long chảy hoài; Nghiên cứu Kinh Dược Sư; Nợ duyên; Bài thơ Viên đá Thời gian; Núi Hồng Lĩnh danh thắng Nghệ Tĩnh, thuộc Thị xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Núi Hồng Lĩnh cùng với sông Lam, được xem là biểu tượng hồn thiêng sông núi của xứ Nghệ, từng được xếp vào danh sách 21 danh thắng của nước Nam. Núi Hồng Lĩnh là nơi Nguyễn Du làm Hồng Sơn Liệp Hộ. Ngày 2 tháng 11 năm 1802, ngày mất Vũ Văn Dũng, danh tướng triều Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam bị xử tử. Ngày 2 tháng 11 năm 1963, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm và người em trai, cố vấn Ngô Đình Nhu bị sát hại trong cuộc đảo chính; Bài viết chọn lọc ngày 2 tháng 11: Ta về trời đất Hồng Lam; Những cuốn sách tôi yêu; Nguyễn Du làm Ngư Tiều; Nguyễn Ngọc Tư sầu riêng; Nhớ thầy Nguyễn Quốc Toàn; Nguyễn Trãi kiệt tác thơ văn; Nguyễn Trãi Dục Thúy Sơn; Đến với Tây Nguyên mới; Dạy học nghề làm vườn; Hãy để tôi đọc lại; Nguyễn Minh Không Bái Đính; Nguyễn Du trăng huyền thoại; Nguyễn Du tư liệu quý; Vào Tràng An Bái Đính; Sông Hoàng Long chảy hoài; Nghiên cứu Kinh Dược Sư; Nợ duyên; Bài thơ Viên đá Thời gian; Thông tin tại https://hoangkimvn.wordpress.comhttp://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-2-thang-11;

TA VỀ TRỜI ĐẤT HỒNG LAM
Hoàng Kim

Ta về trời đất Hồng Lam
Thung dung dạo bước trăng vàng lộng soi
Đường trần tới chốn thảnh thơi
Hồng Sơn Liệp Hộ bồi hồi đất quen.

Linh miêu chốn Tổ Rồng Tiên
Quấn quanh trao gửi nổi niềm Thái Sơn
Hỡi ai là kẻ phi thường
Đỉnh chung dâng nén tâm hương nhớ Người…

NHỮNG CUỐN SÁCH TÔI YÊU
Hoàng
Kim

Quốc Công đạo làm tướng
Tiết Chế đức dụng nhân
Vạn Kiếp binh thư truyền
Biết mình và biết người

Yên Tử Trần Nhân Tông
Hiểu ‘sách nhàn đọc giấu
Ân tình Đất Phương Nam
Hoa Đất thương lời hiền

Ngày xuân đọc Trạng Trình
Nguyễn Du trăng huyền thoại *
Đào Duy Từ còn mãi
Việt Nam con đường xanh

Cây Lương thực Việt Nam
Ngày mới Ngọc cho đời

Xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nhung-cuon-sach-toi-yeu

* Bài đọc thêm: Nguyễn Du làm Ngư Tiều mục 6 trong Nguyễn Du trăng huyền thoại

nguyendu9

NGUYỄN DU LÀM NGƯ TIỀU
Hoàng Kim

Ẩn ngữ giữa đời thường
Câu cá và đi săn
Nguyễn Du “ức gia huynh”
“Hành Lạc Từ” bi tráng

Nguyễn Du làm Ngư Tiều câu cá và đi săn mười năm 1791-1802. Thời thế buộc ông phải làm vậy và ông tâm tính vậy. Bài viết này đúc kết thông tin Nguyễn Du trăng huyền thoại tìm hiểu Nguyễn Du thời thế và hành trạng trong những năm ấy; để hiểu rõ hơn văn chương ông, xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nguyen-du-lam-ngu-tieu/

ẨN NGỮ GIỮA ĐỜI THƯỜNG

Thiền sư Linh Nhạc Phật Ý tại Tổ Đình Phước Tường Thủ Đức trong giấc mơ lạ Nguyễn Du nửa đêm đọc lại đã khuyên tôi lập “Nguyễn Du niên biểu luận” để tìm hiểu về Người. Theo vị Thiền sư này thì dấu vết chứng cứ sự thật hàng năm của Nguyễn Du là chỉ dấu tin cậy nhất về những sự kiện trọng yếu trong thời ông. Điều này chi phối quyết định và gợi ý sâu sắc nhất cách xử thế của Nguyễn Du. Sự thật về Nguyễn Du và Truyện Kiều cần có sự kiện chính yếu này của thời thế đàng Trong và đàng Ngoài cùng với các nước liên quan mới soi tỏ cuộc đời Nguyễn Du và gia tộc Nguyễn Du. Đó là phương pháp khoa học liên ngành tổng hợp với hệ thống thông tin bổ ích để hiểu đúng ẩn ngữ Truyện Kiều, về giá trị lịch sử, văn hóa, con người và bối cảnh hình thành kiệt tác”Truyện Kiều”.

Niên biểu cuộc đời Nguyễn Du chia làm hai thời: Nguyễn Du thời Tây Sơn (1765-1802), với Nguyễn Du thời nhà Nguyễn (1797- 1820), Trong Nguyễn Du thời Tây Sơn chia làm hai kỳ Nguyễn Du mười lăm năm tuổi thơ (1765- 1780),  Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc (1781- 1796). Giai đoạn mười lăm năm lưu lạc của Nguyễn Du có “Năm năm hùng cứ một phương hải tần”, “Gồm hai văn võ, rạch đôi sơn hà”, “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai” (1781- 1786), Nguyễn Du mười năm gió bụi (1787- 1796) có năm năm Nguyễn Du làm Nam Hải Điếu Đồ (1792-1796) “Khen cho con mắt tinh đời. Anh hùng đoán giữa trần ai mới già” và “Năm năm Hồng Sơn Liệp Hộ” (1796-1802) “Bạc đầu tráng sĩ ngẩng trời than / Dựng nghiệp, mưu sinh thảy lỡ làng”. Nguyễn Du đã có mười lăm năm lưu lạc khớp đúng với truyện Kiều và khớp đúng mười lăm năm “bảy nổi ba chìm với nước non” như thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương .Nguyễn Du thời nhà Nguyễn (1797- 1820) mười tám năm làm quan, ông đạt chính tích thật rõ ràng, được chính sử triều Nguyễn với Truyện Kiều và Bắc Hành lưu dấu “Thiện căn cốt ở lòng ta. Chữ tâm lia mới bằng ba chữ tài”; “Có tài mà cậy chi tài. Chữ tài liền với chữ tai một vần”;”Bắt phong trần phải phong trần Cho thanh cao mới được phần thanh cao”. Nguyễn Du đọc lại và suy ngẫm.

Nguyễn Du thời Tây Sơn (1766-1802) có bốn sự kiện chính nổi bật: 1) Quang Trung đại phá quân Thanh năm Kỷ Dậu 1789; 2) Nguyễn Vương bình Gia Định nhờ lợi dụng tình thế ngay đúng năm ấy; 3) Nguyễn Du xây đền cổ Trung Liệt cho nhà Hậu Lê tại Thăng Long và tu bổ phần mộ tổ tiên Họ Nguyễn Tiên Điền từ năm 1793 đến 1795 (Thời điểm 1792- 1793 là lúc ba vị vua Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc, Lê Chiêu Thống đều mất; Nguyễn Du xây đền Trung Liệt cho các trung thần nghĩa sĩ thời hậu Lê đã thực hiện từ năm 1793 vã hoàn thành khoảng đầu năm 1795. Vua Lê Chiêu Thống qua đời tại Bắc Kinh năm 1793 nhưng tro cốt của ông được đưa về Việt Nam năm 1804 và chôn ở Thanh Hóa quê hương của tổ tiên ông Cương mục quyển XI .VII trang 48a, trích dẫn từ Chính sử triều Nguyễn; và theo Lê Thành Khôi ‘Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ 20’, trang 386); 4) Nguyễn Du làm Ngư Tiều Nam Hải Điếu Đồ (1791-1796) và Hồng Sơn Liệp Hộ (1797- 1802) Thời Nguyễn Du làm Hồng Sơn Liệp Hộ (Người đi săn ở núi Hồng), Nguyễn Du sống chủ yếu ở Nghệ Tĩnh. Thông tin chi tiết tại Nguyễn Du niên biểu luận, Nguyễn Du thời Tây Sơn

Nguyễn Du thời Nhà Nguyễn (1802-1820):có sáu sự kiện chính nổi bật: 1) Nguyễn Du gặp vua Gia Long năm 1802 khi vua Gia Long ra Bắc và Nguyễn Du được bổ nhiệm ngay làm quan tri huyện Phù Dung (1802) sau đó được thăng chức tri phủ Thường Tín (1803-1804) làm cai bạ Quảng Bình (1808-1811); 2) Nguyễn Du làm quan nhà Nguyễn chính tích rất rõ ràng được lưu trong Chính sử Nhà Nguyễn, 3) Nguyễn Du được thăng Đông Các học sĩ, hàm ngũ phẩm, tước Du Đức hầu, ông vào nhậm chức Cần chánh điện Đại học sĩ, chức vụ dâng sách cho vua Gia Long đọc mỗi ngày. (1805- 1807), 4) Nguyễn Du làm quan Chánh sứ đi sứ nhà Thanh (1813-1814); 5) Nguyễn Du sau khi đi sứ nhà Thanh thành công trở về được nghỉ phép ở quê sáu tháng, Trong thời gian này, Nguyễn Du đã hoàn thiện tập thơ Truyện Kiều chữ Nôm và Bắc Hành chữ Hán dâng vua (gồm “Bắc hành tạp lục” 132 bài, “Nam trung tạp ngâm” 16 bài “Thanh Hiên thi tập” 78 bài). 6) Nguyễn Du vào Huế nhậm chức Hữu Tham tri Bộ Lễ (1815-1820) và chết ở Huế năm 1820. Thông tin chi tiết tại Nguyễn Du niên biểu luận, Nguyễn Du thời nhà Nguyễn .

Bạn đọc để dễ theo dõi, không mất thì giờ xem lại mục trước Tôi chép thêm ba bản đồ và minh chứng cứ liệu về thời Tây Sơn và thời Nhà Nguyễn với trích lục Nguyễn Du một tổng luận, Nguyễn Du quê hương và dòng họ. Nguyễn Du niên biểu luận; Nguyễn Du trăng huyền thoại

Sử liệu Việt Nam gần đây mới khai thác hệ thống khối tư liệu chính thống thời Nguyễn, một trong những “khối tư liệu quý hơn vàng ròng” Di sản thế giới tại Việt Nam . Trích yếu mục 21 của tài liệu dẫn này: ” Mộc bản triều Nguyễn là di sản tư liệu của Việt Nam được Uỷ ban tư vấn quốc tế (IAC) thuộc UNESCO công nhận là di sản tư liệu thế giới vào ngày 31/7/2009. Đây là một loại hình tài liệu đặc biệt quý hiếm không chỉ ở Việt Nam mà còn hiếm có trên toàn thế giới. Mộc bản triều Nguyễn là những văn bản chữ Hán – Nôm được khắc trên gỗ để in các loại sách lưu hành tại Việt Nam vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Mộc bản triều Nguyễn hiện còn lưu giữ được 34.619 tấm trong đó bao gồm cả những ván khắc in thu được ở Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội đua vào Huế lưu trữ. Tài liệu được khắc trên mộc bản rất tinh xảo và sắc nét với nội dung ghi lại các sự kiện lịch sử, các cuộc tiểu trừ giặc giã, công danh sự nghiệp của các bậc quân vương. Đồng thời nhân bản các bộ luật, các quy định về chuẩn mực xã hội để phổ biến bắt buộc mọi thần dân phải tuân thủ. Tất cả các bản thảo nói trên đều phải qua sự ngự lãm và phê duyệt bằng bút tích của Hoàng đế trước khi chuyển giao cho những nghệ nhân tài hoa trong ngự xưởng của cung đình khắc lên các loại gỗ quý như gỗ thị, nha đồng… Tài liệu Mộc bản triều Nguyễn là những bản khắc in các tác phẩm chính văn, chính sử được hình thành trong quá trình hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước và cuộc đời, hoạt động của những nhân vật lịch sử có ảnh hưởng lớn tới những biến cố xã hội cũng như tiến trình lịch sử của một dân tộc, của một đất nước. Hiện nay những tài liệu này rất hiếm có trên thế giới. Nó đặc biệt có giá trị trong việc nghiên cứu lịch sử văn hóa Việt Nam nói riêng và thể giới nói chung”: Mời quý bạn đọc chùm bài Nguyễn Du trăng huyền thoại, Nguyễn Du tư liệu quý, Nguyễn Du thơ chữ Hán; Nguyễn Du thời Tây Sơn; Nguyễn Du Hồ Xuân Hương của Hoàng Kim soi thấu một số góc khuất lịch sử văn hóa..

Hình thế nước Đại Việt đàng Trong đàng Ngoài năm 1760. Bản đồ vẽ bởi công ty Cóvens e Mortier, Amsterdam (hình trên) và Hình thế nước Đại Việt đàng Trong đàng Ngoài năm 1788 trước mùa xuân Kỷ Dậu năm 1790 (vẽ theo sử liệu và bản đồ Trần Trọng Kim) đã cho thấy Nguyễn Du cuộc đời và thời thế. Diễn biến thời cuộc từ khi Nguyễn Du sinh ra năm 1766 đến khị Triều đại Tây Sơn sụp đổ năm 1802 qua minh chứng tại Nguyễn Du niên biểu luận

Nguyễn Du một tổng luận

1. Nguyễn Du không chỉ là nhà thơ lớn, danh nhân văn hóa thế giới mà còn là danh sĩ tinh hoa, đấng anh hùng hào kiệt minh sư hiền tài lỗi lạc.

2. Nguyễn Du quê hương và dòng họ cho thấy gia tộc Nguyễn Tiên Điền là dòng họ lớn đại quý tộc, thể hiện qua câu Kiều: “Triều đình riêng một góc trời/ Gồm hai văn võ, rạch đôi sơn hà.” Họ Nguyễn Tiên Điền có thế lực mạnh đến mức nhà Lê, họ Trịnh, nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn đều tìm mọi cách liên kết, lôi kéo, mua chuộc, khống chế hoặc ra tay tàn độc để trấn phản. Nguyễn Du rất mực nhân đạo và minh triết, ông nổi bật hơn tất cả những chính khách và danh nhân cùng thời. “Nguyễn Du là người rất mực nhân đạo trong một thời đại ít nhân đạo” (Joocjo Budaren nhà văn Pháp). Nguyễn Du vượt lên vinh nhục bản thân giữa thời nhiễu loạn, vàng lầm trong cát để trao lại ngọc cho đời. Ông chí thiện, nhân đạo, minh triết, mẫu hình con người văn hóa tương lai. Kiều Nguyễn Du là bài học lớn về tâm tình hồn Việt. Truyện Kiều của Nguyễn Du đã thấm sâu vào hồn Việt và lan tỏa khắp thế giới.

3.Nguyễn Du cuộc đời và thời thế là bức tranh bi tráng của một bậc anh hùng hào kiệt nhân hậu, trọng nghĩa và tận lực vì lý tưởng. Nguyễn Du đã phải gánh chịu quá nhiều chuyện thương tâm và khổ đau cùng cực cho gia đình ông do biến thái của thời cuộc ”Bắt phong trần phải phong trần.Cho thanh cao mới được phần thanh cao“. Nguyễn Du mười lăm năm tuổi thơ (1765-1780) mẹ mất sớm, ông có thiên tư thông tuệ, văn võ song toàn, văn tài nổi danh tam trường, võ quan giữ tước vị cao nơi trọng yếu; người thân gia đình ông giữ địa vị cao nhất trong triều Lê Trịnh và có nhiều người thân tín quản lý phần lớn những nơi trọng địa của Bắc Hà. Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc (1781-1796) là giai đoạn đất nước nhiễu loạn Lê bại Trịnh vong, nội chiến, tranh đoạt và ngoại xâm. Nguyễn Du và gia đình ông đã chịu nhiều tổn thất nhưng ông kiên gan bền chí tận tụy hết lòng vì nghĩa. Nguyễn Du hai mươi ba năm cuối đời (1802- 1820) ra làm quan triều Nguyễn giữ các chức vụ từ tri huyên, cai bạ, cần chánh điện đại hoc sĩ, chánh sứ đến hữu tham tri bộ lễ. Ông là nhà quản lý giỏi yêu nước thương dân. Nguyễn Du viết thơ chữ Hán Bắc Hành tạp lục là kiệt tác sử thi và tuyên ngôn ngoại giao nhân nghĩa  làm rạng danh nước Việt. Ông để lại kiệt tác Truyện Kiều là di sản muôn đời.

4. Minh triết ứng xử của bậc hiền tài trước ngã ba đường, ngã ba sông đời, là chí thiện và thuận theo tự nhiên “Tùy cơ, tùy vận, tùy thiên mệnh, tùy thời, tùy thế, lại tùy nghi” Nguyễn Du ký thác tâm sự vào Truyện Kiều là ẩn ngữ ước vọng đời người, tâm tình và tình yêu cuộc sống “Thiện căn cốt ở lòng ta, Chữ tâm kia mới thành ba chữ tài

5. Truyện Kiều kế thừa và phát triển tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân nhưng Truyện Kiều có tầm ảnh hưởng sâu rộng hơn nguyên tác, trở thành hồn Việt, và là tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam được dịch ra hơn 20 thứ tiếng. Hồng Lâu Mộng cũng là kiệt tác chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất của tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân nhưng khác chiều kích văn hóa giáo dục và giá trị tác phẩm.

6. Nhân cách, tâm thế của con người Nguyễn Du đặt trong mối tương quan với Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh của thời đại Hậu Lê Trịnh – nhà Tây Sơn – đầu triều Nguyễn; khi so sánh với Tào Tuyết Cần là văn nhân tài tử của thời đại cuối nhà Minh đến đầu và giữa nhà Thanh thì vừa có sự tương đồng vừa có sự dị biệt to lớn.

7. Kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du có sự tương đồng với kiệt tác Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần. Gia tộc của Nguyễn Quỳnh – Nguyễn Thiếp – Nguyễn Du tương đồng với gia tộc của Tào Tỷ – Tào Dần – Tào Tuyết Cần nhưng nền tảng đạo đức văn hóa khác nhau  Nhấn mạnh điều này để thấy sự cần thiết nghiên cứu liên ngành lịch sử, văn hóa, con người tác gia, bởi điều đó chi phối rất sâu sắc đến giá trị của kiệt tác.

8.Tác phẩm Nguyễn Du trăng huyền thoại gồm chín bài liên hoàn, mục lục như sau:1 Nguyễn Du thơ chữ Hán Kiếm bút thấu tim Người, Đấng danh sĩ tinh hoa, Nguyễn Du khinh Thành Tổ, Bậc thánh viếng đức Hòa 2 Nguyễn Du tư liệu quý Linh Nhạc thương người hiền, Trung Liệt đền thờ cổ, “Bang giao tập” Việt Trung, Nguyễn Du niên biểu luận 3 Nguyễn Du Hồ Xuân Hương “Đối tửu” thơ bi tráng, “Tỏ ý” lệ vương đầy, Ba trăm năm thoáng chốc, Mại hạc vầng trăng soi. 4 Nguyễn Du Nguyễn Công Trứ Uy Viễn “Vịnh Thúy Kiều”, Tố Như “Đọc Tiểu Thanh”, Bến Giang Đình ẩn ngữ, Thời biến nhớ người xưa. 5 Nguyễn Du thời Tây Sơn Mười lăm năm tuổi thơ, Mười lăm năm lưu lạc, Thời Hồng Sơn Liệp Hộ, Tình hiếu thật phân minh 6 Nguyễn Du làm Ngư Tiều Câu cá và đi săn, Ẩn ngữ giữa đời thường, Nguyễn Du ức gia huynh, Hành Lạc Từ bi tráng 7 Nguyễn Du thời nhà Nguyễn Mười tám năm làm quan, Chính sử và Bài tựa, Gia phả với luận bàn. Bắc hành và Truyện Kiều 8 Nguyễn Du tiếng tri âm Hồ Xuân Hương là ai, Kiều Nguyễn luận anh hùng, Thời Nam Hải Điếu Đồ, Thời Hồng Sơn Liệp Hộ 9 Nguyễn Du trăng huyền thoại Đi thuyền trên Trường Giang,Tâm tình và Hồn Việt, Tấm gương soi thời đại. Mai Hạc vầng trăng soi,

9. Nguyễn Du danh si tinh hoa là tấm gương soi sáng thời đại Nguyễn Du

Quê hương và dòng họ

Nguyễn Du tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, biệt hiệu Nam Hải Điếu Đồ (kẻ đi câu ở biển Nam) lại có hiệu Hồng Sơn Liệp Hộ (người đi săn ở núi Hồng). Nguyễn Du sinh 1766, tại làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Nghệ An (theo gia phả của họ Nguyễn Tiên Điền thì Nguyễn Du sinh tại Tiên Điền chứ không phải sinh tại Hà Nội). Nguyễn Du thi Hương tại Sơn Nam năm 1783 và chỉ đậu Tam Trường. Ông có được bổ sung chức quan tại Thường Tín, nhưng cáo ốm không nhậm chức. Khi Tây Sơn ra Bắc. Thận Quân Công có ép ra phục vụ, nhưng Nguyễn Du và nhiều chí sĩ thời bấy giờ cho rằng Tây Sơn là giặc, nên từ chối, bị nhốt hai tháng rồi thả ra. họ Nguyễn Tiên Điền quê hương Nghệ Tĩnh nhưng sống nhiều nơi “Hồng Lam vô gia huynh đệ tán”, mẹ họ Trần đất Kinh Bắc, tổ tiên Sơn Nam, khởi nghiệp Thái Nguyên, nhiều năm lưu lạc giang hồ ở châu thổ sông Hồng, vùng núi phía Bắc, Nam Trung Quốc,và Nghệ Tĩnh, nhiều năm làm quan ở Quảng Bình và kinh đô Huế. Nguyễn Du là danh sĩ tinh hoa, tính tình khoan hòa điềm tĩnh, đi nhiều, học rộng, là nhà thơ nổi tiếng thời Lê mạt, Nguyễn sơ ở Việt Nam.

Cha của Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm (1708 – 1775), sinh ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh, tên tự Hy Di, hiệu Nghi Hiên, có biệt hiệu là Hồng Ngự cư sĩ, đậu Nhị giáp tiến sĩ , làm quan đến chức Đại tư đồ (Tể tướng) kiêm Trung thư giám, Tổng tài Quốc sử giám, tước Thượng thư bộ Hộ, Xuân Quận công triều Lê.

Mẹ là bà Trần Thị Tần, sinh ngày 24 tháng 8 năm 1740, mất ngày 27 tháng 8 năm 1778, con gái một người thuộc hạ của Nguyễn Nhiễm làm chức Câu kê lo việc kế toán, quản gia cho cụ Nguyễn Nghiễm. Quê mẹ Nguyễn Du ở làng Hoa Thiều, xã Minh Đạo, huyện Tiên Du (Đông Ngàn), xứ Kinh Bắc, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh. Bà Trần Thị Tần là vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm, bà kém chồng 32 tuổi, sinh được năm con, bốn trai và một gái.

Nguyễn Nghiễm có tám vợ và 21 người con. Vợ chánh thất là bà Đặng Thị Dương, sinh mẫu của Nguyễn Khản (1734-1786); bà hai là Đặng Thị Thuyết, sinh mẫu của Nguyễn Điều (1740-1786), bà là em ruột của bà chánh thất Đặng Thị Dương; bà ba là Trần Thị Tần, sinh mẫu của Nguyễn Trụ (1757-1775, con trai thứ 3), Nguyễn Nễ (1761-1805, con trai thứ 6), Nguyễn Thị Diên, Nguyễn Du (1765- 1820, con trai thứ 7, nên tục gọi là cậu Chiêu Bảy), Nguyễn Ức (1867-1823, con trai thứ 8); bà tư là Nguyễn Thị Xuyên, quê ở xã Hoàng Mai, Yên Dũng, Kinh Bắc, sinh mẫu của Nguyễn Quýnh (1759- 1791, con trai thứ 4), bà năm là Nguyễn Thị Xuân, quê xã Tiêu Sơn, huyện Yên Phong, xứ Kinh Bắc, sinh mẫu của Nguyễn Trừ (1760 -1809, con trai thứ 5) và Nguyễn Nghi (1773- 1845, con trai thứ 10); bà sáu là Phạm Thị Diễm, quê xã Hải Lộ, huyện Nam Chân, xứ Sơn Nam, sinh mẫu của Nguyễn Lạng (1768- 1817), con trai thứ 9), bà bảy là Hồ Thị Ngạn, người xã Hoa Viên, huyện Nghi Xuân, sinh mẫu của Nguyễn Nhưng (1763-1824), con trai thứ 11; bà tám là Hoàng Thị Thược, người xã Đan Hải, Nghi Xuân, sinh mẫu của Nguyễn Tốn (1767- 1812), con trai thứ 12 (Trích theo đúng gia phả, bản dịch của cụ Giải nguyên Lê Thước dịch từ năm 1962).

Đền thờ Nguyễn Nghiễm ở thôn Bảo Kê, xã Tiên Điền. Đền có 3 tấm biển lớn, một khắc 4 chữ “Phúc lý vĩnh tuy” (Phúc ấm lâu dài) do tự tay chúa Trịnh viết. Một tấm khắc 4 chữ: “Dịch tế thư hương” (dòng thư hương đời nối đời) do Đức Bảo sứ thần nhà Thanh đề tặng. Một biển khắc 4 chữ “Quang tiền du hậu” (Rạng rỡ thế hệ trước, phúc ấm ở đời sau) do Tô Kính người Viễn Đông đề tặng. Đền còn có đôi câu đối: Lưỡng triều danh Tể Tướng. Nhất thế đại nho sư (Nho sư cả nước vang danh hiệu. Tể tướng hai triều rạng tiếng tăm). Danh sĩ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, người được Nguyễn Huệ tôn làm thầy, là học trò của Nguyễn Nhiễm, đã viết bài tán Phú Đức nói về thầy học của mình. Nguyễn Nhiễm khi còn sống đặt ruộng cúng và xây sẵn đền thờ ở mặt sông. Sau khi ông mất, triều đình phong “Thượng Đẳng Tôn Thần”, Huân Du Đô Hiến Đại Vương, hàng năm Quốc gia làm tế lễ. Lại giao cho 4 xã chăm sóc hương khói. Ngày sinh, ngày giỗ của ông có cả xã Uy Viễn cùng tế lễ.

Tổ tiên của Nguyễn Du gốc ở làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay thuộc Hà Nội), sau di cư vào Hà Tĩnh, có truyền thống khoa bảng nổi danh ở làng Tiên Điền thời Lê mạt. Trước ông bảy thế hệ, viễn tổ họ Nguyễn Tiên Điền là Nam Dương hầu Nguyễn Nhiệm, con trai Nguyễn Miễn và là cháu Nguyễn Quyện, gọi Nguyễn Quyện bằng bác ruột, thời Lê Trung hưng có dự mưu phục lại nhà Mạc, bị thua trận chạy về phương Nam giấu hẵn tung tích đến sinh cơ lập nghiệp ở Tiền Điền Nghi Xuân. (Nguyễn Miễn là con của Trạng nguyên Nguyễn Thiến, hậu duệ người em của Nguyễn Phi Khanh). Nguyễn Trãi và Nguyễn Du cùng dòng họ và chung một ông tổ.

Ông nội của Nguyễn Du là Nguyễn Quỳnh. Ông có 5 vợ và 9 con (6 trai, 3 gái). Trong số 6 người con trai thì có 3 người con đậu đại khoa và làm quan to là Nguyễn Huệ , Nguyễn Nghiễm và Nguyễn Trọng. Ông Nguyễn Quỳnh là người hay đọc sách, tinh thông lý số, giỏi kinh dịch, … Ông chuyên tâm dạy con cái học hành, có soạn ba bộ sách bàn về Kinh Dịch với những việc chiêm nghiệm được trong đời. Ông có trồng ba cây cổ thụ, một cây Muỗm (Xoài), một cây Bồ Lỗ (Cây Nóng), một cây Rói, để sau này con cái thành đạt về thăm cha có chỗ buộc ngựa. Những cây cổ thụ đó, nay vẫn còn, trừ cây Rói bị bão đổ năm 1976. Nguyễn Quỳnh giỏi y thuật từ khi còn trẻ nghe nói có gặp một người Trung Quốc là Ngô Cảnh Phượng (dòng dõi Ngô Cảnh Loan- một nhà địa lý nổi tiếng đời Tống)am hiểu địa lý, gặp nạn, ông đưa về nuôi. Ngô Cảnh Phượng cảm phục ân đức đã truyền cho bí quyết về phong thủy. Họ Nguyễn Tiên Điền thịnh đức, nếp nhà di huấn nối đời làm thuốc và dạy học, nếu có làm quan biết giữ tiết tháo, đức độ, thanh thận cần.

Vợ chính thất của Nguyễn Du họ Đoàn là con thứ sáu của Đoàn Công, Hoàng giáp Phó Đô ngự sử Quỳnh Châu bá người Quỳnh Côi, Hải An (xưa thuộc Sơn Nam, nay thuộc Thái Bình). Theo gia phả của họ Nguyễn Tiên Điền thì ông bà sinh con trai tên Nguyễn Tứ tự là Hạo Như có văn học, Nguyễn Ngũ giỏi võ, Nguyễn Thuyến giỏi văn nhưng không tham gia chính sự. Năm Quý Dậu (1813), bà theo ông đi sứ phương Bắc, về nước được vài năm bị bệnh mất. Bà sinh được một gái gả cho Tú tài Ngô Cảnh Trân, người ở Trảo Nha, Thạch Hà.

Một trong những người yêu thương nhất của Nguyễn Du là Hồ Phi Mai (Hồ Xuân Hương) bà chúa thơ nôm, tác giả của Lưu Hương ký, quê ở Quỳnh Đôi, có quan hệ mật thiết với họ Hồ nhà Tây Sơn. Hồ Xuân Hương cũng là tác giả của những tác phẩm thơ nổi tiếng: Bánh trôi nước, Kẽm Trống, Nhớ người cũ, viết gửi Cần Chánh Học Sĩ Nguyễn Hầu, Khóc ông phủ Vĩnh Tường, Khóc Tổng Cóc, Làm lẽ, Tự tình, Mời trầu, Đề đền Sầm Nghi Đống, Đèo Ba Dội, Hang Cắc Cớ, Cái quạt, Đánh đu, Thiếu nữ ngủ ngày, Không chồng mà chửa, Chùa Quán Sứ,  Sư hổ mang, Sư bị ong châm, Quan thị, Mắng học trò dốt … bài nào cũng thực thông minh, hóm hỉnh, vừa sâu sắc vừa cận nhân tình. Hồ Xuân Hương là một phụ nữ đặc biệt tài hoa nhưng bất hạnh. Bà có tới ba đời chồng là Tổng Cóc, Tri phủ Vĩnh Tường và Tham hiệp trấn Yên Quảng Trần Phúc Hiển, người  bị kết án năm 1816 và bị xử tử năm 1818.

Gia tộc Nguyễn Du có nhiều người giỏi và giữ những vị trí trọng yếu của thời cuộc: cha là Nguyễn Nhiễm làm Tể tướng hai triều Lê; chức quan trước khi cáo lão về trí sĩ là thượng thư bộ Hộ, Đại Tư đồ, Tham tụng, tặng tiệp dinh Tả tướng, tước Xuân Quận công, anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản làm Tể tướng, Tham tụng, Thượng thư bộ Lại kiêm trấn thủ Thái Nguyên, Hưng Hóa triều Lê; cha nuôi là quan trấn thủ Thái Nguyên Quản Vũ Hầu Nguyễn Đăng Tiến, tướng tâm phúc của Nguyễn Nhiễm; cha vợ là Hoàng giáp Phó Đô ngự sử Quỳnh Châu bá Đoàn Nguyễn Thục; anh cùng mẹ là Nguyễn Nễ đứng đầu ngoại giao của cả ba triều Lê, Tây Sơn, Nguyễn (Nguyễn Nễ từng trãi Cai đội quân Nhất Phấn giữ phủ chúa Trịnh, Hiệp tán quân vụ nhà Lê, Tả Phụng nghi bộ Binh, Hiệp tán quân vụ trấn Quy Nhơn, Chánh sứ, Tả đồng nghị trung thư sảnh trấn Nghệ An nhà Tây Sơn, phụ tá Tổng trấn Bắc thành nhà Nguyễn); anh ruột là Nguyễn Điều làm trấn thủ Sơn Tây của triều Lê; anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn làm Thị Lang bộ Lại nhà Tây Sơn; anh rể là tiến sĩ Vũ Trinh làm Hữu Tham tri bộ Hình, thầy dạy Nguyễn Văn Thuyên, con của Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành.

Điểm đáng lưu ý là Nguyễn Du cũng là chú vợ của vua Gia Long Nguyễn Phúc Ánh. Cuốn gia phả cung cấp về cụ Nguyễn Trừ, anh trai thứ năm của Nguyễn Du : “Ông tên húy là Trừ, …, con bà trắc thất Nguyễn Thị Xuân, người xã Tiêu Sơn, huyện Yên Phong , Bắc Ninh và vẫn lưu ở quê mẹ. Năm Giáp Tý (1804) đổi làm Tri phủ Nam Sách. Ngày 8 tháng Giêng năm Gia Long thứ 8 (22 tháng 2 năm 1809) ông mang bệnh và mất ở đây, thọ 50 tuổi, đem về táng ở Tiêu Sơn (quê mẹ). Vợ kế thất là Tống Thị Thiếu sinh được 4 con trai Đại, Trù (làm tri phủ Vĩnh Tường), Hồng, Hiệp, có con gái là Thị Uyên được tuyển làm cung tần của vua Gia Long”. Vậy Nguyễn Trù là bố vợ của vua Gia Long.và Nguyễn Du là chú vợ của vua

Nguyễn Du rất được quý trọng của nhiều danh sĩ đương thời. Văn chương của ông đặc biệt lưu truyền sâu rộng trong lòng dân. Ông giao thiệp rộng với nhiều tướng văn võ của triều Lê như Hoàng Ngũ Phúc, Nguyễn Hữu Chỉnh, với danh thần nhà Tây Sơn như La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, Ngô Thì Nhậm, Trần Văn Kỷ, Phan Huy Ích, Ngô Văn Sở, Thận Quận công, với danh thần nhà Nguyễn như Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh, Phạm Văn Hưng, Nguyễn Công Trứ, Trương Đăng Quế, Nguyễn Văn Giai…

Nguyễn Du mất ở Kinh Đô Huế ngày 10 tháng tám năm Canh Thìn (ngày 16 tháng 9 năm 1820), an táng tại cánh đồng Bào Đá, xã An Ninh, huyện Phong Điền. Năm Giáp Thân (1824), hài cốt của cụ được cải táng đưa về quê nhà ở Đồng Ngang thuộc giáp cũ của bản xã (có bút phê) ở thôn Thuận Mỹ, làng Tiên Điền, Hà Tĩnh. Những năm sau đó dời đến táng cạnh đền thờ Nguyễn Trọng và lại cải táng đến xứ Đồng Cùng, giữa một vùng cát rộng. Mộ cụ Nguyễn Du qua nhiều trùng tu, ngày một tôn nghiêm hơn.

Nguyễn Du cuộc đời được chia làm ba giai đoạn: 1) Nguyễn Du mười lăm năm tuổi thơ (1766- 1780); 2) Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc (1781-1796), trong đó có Nguyễn Du mười năm gió bụi 1781- 1790, Nguyễn Du câu cá ở biển Nam (Nam Hải Điếu Đồ 1791- 1796); Nguyễn Du đi săn ở núi Hồng (Hồng Sơn Liệp Hộ 1797 -1801); 3) Nguyễn Du làm quan đi sứ và viết sách (1802- 1820), bao gồm Nguyễn Du làm quan tri huyện, cai bạ, cần chánh điện đại hoc sĩ, chánh sứ đi sứ nhà Thanh, Nguyễn Du thơ chữ Hán  (1802 – 1813); Nguyễn Du và Truyện Kiều (Ông viết sau khi đi sứ thành công 1813-1814, viết trên đường về Việt Nam, và ông được nghỉ phép về quê sáu tháng, Ông đã hoàn thiện Truyện Kiều và ba tập thơ chữ Hán “Bắc hành tạp lục” 132 bài, “Nam trung tạp ngâm” 16 bài và “Thanh Hiên thi tập” 78 bài. Nguyễn Du vào nhậm chức Hữu Tham tri Bộ Lễ và chết ở Huế 1820.

Nguyễn Du di cảo thơ lưu hành qua những câu thơ lưu lạc trong dân gian trên gốm sứ Giang Tây, qua di sản thơ chữ Hán, thơ Truyện Kiều bản kiểm duyệt hiệu đính của triều Nguyễn (bản Kinh) và bản Phường chữ Hán Nôm có lưu dấu hai bài Tựa đầu Truyện Thúy Kiều ( Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim biên khảo theo bản khắc in cuối triều Nguyễn) lộ thêm một chút cuộc đời và hành trạng Nguyễn Du

CÂU CÁ VÀ ĐI SĂN

Nguyễn Du làm Ngư Tiều “Ngư” là Nam Hải Điếu Đồ (1791-1796) “Khen cho con mắt tinh đời. Anh hùng đoán giữa trần ai mới già” và “Tiều” là “Hồng Sơn Liệp Hộ” (1796-1802) “Bạc đầu tráng sĩ ngẩng trời than / Dựng nghiệp, mưu sinh thảy lỡ làng”.

Thời Nam Hải Điếu Đồ (1791-1796)

Nguyễn Du làm “Nam Hải Điếu Đồ” (Người đi câu ở biển Nam) ở đại Khán Xuân cạnh Hồ Tây (Hà Nội). Tương truyền Nguyễn Du là tri âm tri kỷ với Hồ Xuân Hương, tên thật là Hồ Phi Mai, họ đã sống chung với nhau “ba năm vẹn” ở Cổ Nguyệt Đường (*) cạnh chùa Kim Liên làng Nghi Tàm..Nguyễn Du Hồ Xuân Hương là đôi trai tài gái sắc  Hai người Nguyễn Du Hồ Xuân Hương đã luận anh hùng qua ẩn ngữ Truyện Kiều đối thoại của Từ Hải và Thúy Kiều: “Thưa rằng: Lượng cả bao dong/ Tấn Dương được thấy mây rồng có phen/ Rộng thương cỏ nội hoa hèn/ Chút thân bèo bọt, dám phiền mai sau!/ Nghe lời vừa ý gật đầu/ Cười rằng tri kỷ trước sau mấy người/ Khen cho con mắt tinh đời /Anh hùng đoán giữa trần ai mới già/ Một lời đã biết đến ta/ Muôn chung nghìn tứ, cũng là có nhau/ Hai bên ý hợp tâm đầu/ Khi thân, chẳng lọ là cầu mới thân/ Ngõ lời cùng với băng nhân/ Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn/ Buồng riêng sửa chốn thanh nhàn/ Đặt giường thất bảo, vây màn bát tiên/ Trai anh hùng gái thuyền quyên/ Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng.”‘Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn/ Để lời thệ hải minh sơn/ Làm con trước phải đền ơn sinh thành”. Nguyễn Du đã bôn ba việc nước, gác tình riêng, làm nhà sư Chí Hiên đi Quảng Tây, Bắc Kinh, cung Nhiệt Hà (Trung Quốc) liên hệ với anh rể Vũ Trinh (**) làm chánh sứ của vua Lê  lo việc phục quốc cho vua Hậu Lê. Nguyễn Du sau khi nhà Hậu Lê mất đã trực tiếp cùng em Nguyễn Ức xây đền thờ nghĩa sĩ nhà Hậu Lê Trung Liệt cổ tự (nay ở Thụy Khê, quận Tây Hồ, Hà Nội, xem thêm Nguyễn Du và đền cổ Trung Liệt ). Nguyễn Du cũng được anh Nguyễn Nể (***) giao cho việc xây dựng lại từ đường họ Nguyễn Tiên Điền ở làng Tiên Điền, đình chùa Trường Ninh, cầu Tiên ở xứ Nghệ (tên cũ của Nghệ An và Hà Tĩnh thời ấy).

Nguyễn Du đầu năm 1794 vào Quy Nhơn và đầu năm 1796 vào Phú Xuân tiếng là ‘thăm anh’ thực chất là giúp cho Nguyễn Nể thoát hiểm (*) tránh bị cuốn vào họa diệt tộc khi nhà Tây Sơn nội bộ chia rẽ nghiêm trọng sau khi Nguyễn Huệ mất. Nguyễn Nể từ Hiệp trấn Quy Nhơn đã về làm Thái sử ở Phú Xuân bên cạnh vua Cảnh Thịnh, sau đó làm Phó sứ trong sứ đoàn Tây Sơn sang sứ nhà Thanh lần hai, thành công vang dội với “Quế Hiên Nguyễn Nể đỉnh núi cao thi trận nước Nam”, sau được triều Tây Sơn vua Cảnh Thịnh phong làm Tả Thị Lang, Nghi Thành Hầu.

(*)  Theo nhà nghiên cứu Phạm Trong Chánh, Cổ Nguyệt Đường nơi ở của Hồ Phi Mai (Hồ Xuân Hương) theo thơ của Tốn Phong người viết tựa cho Lưu Hương Ký: Nhà nàng cạnh bến trúc làng Nghi Tàm. Phía trước nhà có trồng một cây bàng lớn: Cội bàng trăng khuất chiếu mai đình bài 6. Chung quanh nhà có trồng nhiều cây mai (mơ) Chủ nhân trước viện trắng mai hoa Bài 5, Bên quán người hoa chỉ thích mai.Bài 9 Tiết hàn mai tự nở ngàn hoa bài 26. Vàng bay lá trúc ngõ chuyền oanh. Bài 6, Phượng cầm tự khóm trúc vang thanh, bài 14, Khóm trúc đình mai ta với ta, bài 21, Bến trúc mừng vui gặp mỹ nhân bài 25 Trên bến có trồng vài cây liễu: Bến nước đìu hiu liễu rủ cành, bài 6 Trong vườn có trồng cây vông và cây mận: Ngô đồng lá cũ mơ hồn phượng, ngõ hạnh lạnh tàn chuyển bóng oanh ,bài 17., Cổ Nguyệt Đường cạnh chùa Kim Liên, cho nên Phạm Đình Hổ đã viết: Từ thuở làm thân khách Cố kinh. Kim Liên qua lại đã bao lần, anh chàng này từng là học trò cụ Đồ Diễn, nên biết Xuân Hương từ thuở còn thiếu nữ. Trong Vũ Trung tùy bút trang 42, cho biết năm 1798 -1799 có dạy học tại thôn Khánh Văn, hạ lưu sông Tô Lịch không xa nhà Xuân Hương. Trong Tang Thương Ngẫu lục, quyển 2 trang 231 có bài ký tả cảnh chùa Kim Liên. “Mùa thu năm Đinh Tỵ (1797) tôi cùng các ông Nguyễn Thạch Hiên, Nguyễn Kính Phủ, Hoàng Hy Đỗ đến vãn cảnh chùa Kim Liên ở làng Nghi Tàm, nơi trụ trì của Hoà Thượng Huệ (nội thị của chúa Uy Vương)”  Phạm Đình Hổ đến thăm Xuân Hương cùng các bạn nhân đó ra về thăm chùa Kim Liên. Qua Vũ Trung Tùy bút ta biết Phạm Đình Hổ nhà ở phố Hàng Buồm và Nguyễn Kính Phủ (Nguyễn Án) ở cạnh đền Lý Quốc Sư bên Hồ Gươm, (nay là phố Nhà Thờ).

(***) Nguyễn Nể (1761-1805) là anh cùng cha khác mẹ và là người đặc biệt yêu thương của Nguyễn Du, thân thiết với Nguyễn Khản, Nguyễn Điều, Nguyễn Quýnh, Vũ Trinh, Đoàn Nguyễn Tuấn, Hà Mỗ. Họ là những anh em cùng gia tộc hoặc anh em rể hoặc là cha nuôi, tùy tướng đặc biệt tin cẩn (như với trường hợp của Hà Mỗ và Nguyễn Du). Nguyễn Nể tự là Tiến Phủ, hiệu Quế Hiên,  thi đậu đầu khóa Quốc Tử Giám, đậu đầu thi hạch, đậu Tứ Trường thi Hương năm 1779, Nguyễn Nể được bổ vào Thị Nội Văn thường trực tại nhà học của con chúa Trịnh Sâm, là bạn thiết của Trịnh Tông, sau Nguyễn Nể cai quản đội quân Nhất Phẩm kiêm Trị thị nội thư tả của phủ chúa Trịnh. Năm 1783, Nguyễn Nể làm Hiệp tán quân cơ đạo quân Sơn Tây. Năm 1786 vua Lê Quý Kỳ trực tiếp nắm lại chính sự thì Lê Quýnh và Nguyễn Nể được vua Lê tin cẩn “ngày đêm cùng họ trù tính mọi công việc, ngay cả những mưu kế phải dùng đến trong lúc bối rối bất ngờ, cũng được lo toan chu đáo” (Hoàng Lê Nhất Thống Chí trang 179). Nguyễn Nễ sau khi thời gian 1788, khi Tôn Sĩ Nghị sang chiếm nước ta, vua Lê Chiêu Thống thanh trừng những người cộng tác với nhà Tây Sơn thì rất nhiều người bị đục bỏ tên trong bia tiến sĩ nhưng Nguyễn Nể không có trong danh sách những người bị tội. Năm 1789 vua Quang Trung ra Bắc đánh bại Tôn Sĩ Nghi quét sạch quân Thanh ra khỏi bờ cõi, Nguyễn Nể được vời ra bổ làm Hàn Lâm Thị Thư và làm Phó Sứ sang Trung Quốc cầu phong nhà Thanh cho Vua Quang Trung, Vũ Huy Tấn làm Chánh Sứ, sứ đoàn còn có Ngô Vi Quý, Nguyễn Đình Cử, Nguyễn Quang Hiến … Trong cuộc đi sứ, vua Càn Long mời dự yến ở Các Tứ Quang ông làm thơ chúc mừng, vua Càn Long thưởng cho một tấm đoạn, hai thỏi mực và 3 tập hoa tiên lụa. Trở về được thăng Đông Các Học Sĩ, Thái tử Tả Thị Lang, Nghi Thành Hầu, được giao việc cai trị tại Bắc Hà. Nguyễn Nể năm 1794 được nhà Tây Sơn vời vào Phú Xuân làm việc Viện Cơ Mật.  Ông giao phó tiền bạc cho hai em là Nguyễn Du và Nguyễn Ức về xây dựng lại từ đường, đền thờ, cầu Tiên, chùa Trường Ninh làng Tiên Điền bị Hiệp Trấn Tây Sơn Lê Văn Dụ đốt phá nhân vụ Nguyễn Quýnh khởi nghĩa. Nguyễn Nể sau đó được phong Tả phụng Nghi Bộ Binh, hàm Tam phẩm, được cử làm Hiệp Tán Nhung vụ Quy Nhơn. Năm 1795 Nguyễn Nể được cử làm Chánh Sứ của triều Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản sang dự lễ vua Càn Long nhường ngôi cho con là vua Gia Khánh. Nguyễn Nể dâng hai bài thơ ứng chế được vua Càn Long đích thân mời uống rượu và dự yến Các Tử Quang. Nguyễn Nể được vua Càn Long khen thơ và ban thưởng : gấm đoạn, trà sen, gậy tuổi già, ngọc như ý, tứ bửu.. Cháu 24 đời Chu Văn Công tri phủ Tứ Thành tặng bốn chữ Thiên Môn Tái Đăng (hai lần lên cổng trời). Nguyễn Nể mùa thu 1796 sau khi sứ đoàn về nước được vẻ vang vì cả hai lần được vua Càn Long và triều đình nhà Thanh kính trọng. Ông là “Quế Hiên Nguyễn Nễ đỉnh núi cao thi trận nước Nam” được vua Cảnh Thịnh ban thưởng 40 mẫu ruộng, giữ chức Đông Các đại học sĩ, gia tặng Thái sử, Tả Thị Lang, tước Nghi Thành Hầu, chức vụ dâng sách cho vua Cảnh Thịnh mới lên mười hai tuổi, đọc và giảng nghĩa cho vua nghe sách Tiểu Học Diễn Nghĩa do La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp và Sùng Chính Viện vừa mới soạn xong. Ngoài ra còn các công việc giúp vua soạn các chiếu biểu, và kiêm các công việc Cơ Mật Viện, và chức vụ cuối cùng được thăng tới chức Trung Thư lĩnh hữu đồng nghị, chức vụ ngang hàng với quân sư Trần Văn Kỷ. Sau khi Nguyễn Du thăm anh cuối năm 1796, Nguyễn Nể xin vua Tây Sơn Cảnh Thịnh được về quê Nghệ An làm hiệp trấn tham mưu cho Nguyễn Thận, xa dần kinh đô. Đó là kế của Nguyễn Du thương nghị với anh Nguyễn Nể theo cách của Bàng Thống khuyên Từ Thứ rời bỏ Kinh Châu bên trấn nhậm phương Bắc minh triết bảo thân lánh trận Xích Bích. Nguyễn Nể khi ra Nghệ An những năm sau đã giúp can thiệp cho Nguyễn Du ra tù lúc Nguyễn Du toan tính trốn vào Nam với Nguyễn Ánh. Theo nhà nghiên cứu Phạm Trọng Chánh “Nguyễn Du- Người đi săn núi Hồng” và “Quế Hiên Nguyễn Nể” thì lí do Nguyễn Nể năm 1797 được rời Phú Xuân là  do Nguyễn Nể xin đi xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô tại Nghệ An cùng Trần Quang Diệu và quan Trấn Thủ Nguyễn Văn Thận. Sự kiện này đúng như dẫn liệu trên.

Năm Tân Hợi (1791). Nguyễn Du 26 tuổi.

Lê Chiêu Thống thấy không thể mong chờ viện binh của quân Thanh nên đã trở về chiếm đất Tuyên Quang, Cao Bằng dựa vào thế lực của tù trưởng Nùng Phúc Tấn, Hoàng Văn Đồng, liên kết với Trình Cao, Quy Hợp, các vùng Trấn Ninh của Vạn Tượng mưu đánh Nghệ An.  Nguyễn Huệ sai trấn tướng Nguyễn Quang Diệu và đô đốc Nguyễn Văn Uyển đem năm nghìn tinh binh theo đường thượng lộ Nghệ An tiến đánh chiếm được Trấn Ninh, diệt Trịnh Cao, Quy Hợp. Vua nước Vạn Tượng phải bỏ thành mà chạy. Quang Diệu thừa thắng đuổi dài đến tận Xiêm La, chém tướng Vạn Tượng là tả súy Phan Dung và hữu súy Phan Siêu, sau đó kéo quân về Bảo Lộc. Nùng Phúc Tấn và Hoàng Văn Đồng thế cùng không chống đỡ nổi đều bị quân Quang Diệu giết chết. Tháng mười, năm Tân Hợi (1791), anh thứ tư cùng cha khác mẹ với Nguyễn Du là Nguyễn Quýnh quay trở về Hồng Lĩnh khởi nghĩa bị bắt và bị giết năm 1791 tròn 30 tuổi, dinh cơ họ Nguyễn ở Tiên Điền Hà Tĩnh bị Tây Sơn phá hủy và đốt sạch. Vua Lê Chiêu Thống cô thế với các cựu thần trung thành lại phải về Yên Kinh.

Nguyễn Huệ sau khi đã được nhà Thanh phong làm An Nam quốc vương và truy sát đuổi dài tận diệt những mầm mống hồi phục nhà Lê và các cựu thần nhà Lê ứng nghĩa, đã đặt thể chế Hoàng Đế, lập Lê Thị Ngọc Hân làm Bắc Chính cung Hoàng hậu, phong con trưởng là Nguyễn Quan Toản làm thái tử, chọn Nghệ An làm thủ đô với tên Phượng Hoàng trung đô, đắp thành đất ở núi Kỳ Lân, dựng lầu điện, chia cả nước thành các trấn để cai trị, định quan danh, làm sổ ba tịch đinh điền, phát thẻ tín lệnh (tương tự CMND ngày nay) để quan lý hộ tịch hộ khẩu. Về đối ngoại xin mở cửa ải hải quan giao thương với nhà Thanh ở Cao Bằng, Lạng Sơn để dân hai nước họp chợ thông thương, lại xin đặt phái bộ đại diện ở phủ Nam Ninh trong nội địa Trung Quốc, xin cưới công chúa nhà Thanh. Tất cả những điều Nguyễn Huệ đề đạt với vua Càn Long đều được vua Càn Long đồng ý. Quang Trung không chỉ muốn hòa hoãn với Càn Long mà còn muốn xuất quân đánh nhà Thanh. Trước khi tính chuyện đánh Thanh, nhà vua cho quấy rối nội địa Trung Quốc bằng cách lợi dụng đảng “Thiên Địa Hội” khiêu khích người Thanh. Các biên thần nhà Thanh như Phúc Khang An (mới thay Tôn Sĩ Nghị) tuy biết rõ Tây Sơn có bí mật nhúng tay, nhưng cũng chịu nhịn cho qua chuyện.

Nguyễn Ánh được người Pháp hỗ trợ trong lúc vua Quang Trung vẫn phải lo ổn định tình hình Bắc Hà và tiêu diệt tàn dư của nhà Lê còn sót lại thì Nguyễn Vương đã kéo ra đánh Bình Thuận, Bình Khang, Diên Khánh, quân của Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc liên tiếp bại trận và mất mấy thành này. Cho tới năm 1791, Nguyễn Nhạc chỉ còn cai quản Quy Nhơn, Phú Yên và Quảng Ngãi.

Năm Nhâm Tí (1792). Nguyễn Du 27 tuổi.

Vua Quang Trung đầu năm 1792, lại sai sứ bộ sang Yên Kinh, mang các cống phẩm dâng Càn Long gồm: chiến lợi phẩm lấy được ở Vạn Tượng, sách binh thư của Đại Việt và một quyển sử viết về triều đại Lê Chiêu Thống. Ông cũng cầu hôn với công chúa Thanh và xin đất Lưỡng Quảng. Trong Bang giao hảo thoại mà Ngô Thì Nhậm là người chép lại vẫn còn hai văn bản ngoại giao đó. Tờ biểu chính thức đặt vấn đề xin làm con rể vị Thiên Tử nước Đại Thanh như sau: “Thần vốn là một kẻ áo vải đội ơn Thánh Hoàng cho giữ cõi Nam. Khi vào triều cận nơi cung khuyết đã được thấy rõ thiên nhan để vấn an, lại được ban thưởng rất nhiều. Phàm những việc mà ở cõi Nam Giao từ xưa đến nay chưa ai được hưởng, đều được (Thánh Hoàng). Đến khi thần lĩnh chỉ về nước, ngửa trông thánh ân đoái đến, ân chỉ ban luôn. Lồng lộng lòng nhân của Thánh Hoàng không thể tả sao cho xiết…Vua nhà Đại Thanh ta vâng chịu mệnh trời có muôn phương đất, những nơi soi đến đều nuôi nấng như con, rộng như doanh hoàn không để ra ngoài sân điện… Trộm nghĩ: Muôn vật không ẩn tình với trời đất, con cái không giấu tình với cha mẹ. Việc gia đình tâm sự đâu dám không bày tỏ với bậc chí tôn. Vừa đây thần bị vận đen, trong nhà thiếu người đơm cúng. Cơ đồ mới gây dựng, thuyền vuông ít người giúp đỡ. Cây ngọc muốn được nương nhờ, khóm dân mong được giữ vững. Ngước thấy Thanh triều gây nền từ núi Thăng Bạch, dựng nên nghiệp vua, con cháu ức muôn, đời đời phồn thịnh. Từ trước đến nay chế độ nhà trời, công chúa gả xuống, tất phải người tôn quý mới chọn đẹp duyên, không có lệ rộng ra đến các bầy tôi ở ngoài. Phận đã nghiêm chia ra trong ngoài như thế, thật khó mà với đến được. Chỉ vì một niềm tôn mến, riêng trông ngóng, trằn trọc không thôi. Trộm mong cành ngọc nhà trời rộng lan đến cả kẻ ngoại phiên ở dưới, khiến thần được ngửa đội ơn lành gần gụi gót lân…Chỉ vì quá phận cầu ơn, việc không phải là thường cách, mưu với mọi người chấp sự, không ai dám đề đạt lên cho. Muôn dặm cửa vua ngày ngày trông ngóng. Nay dám không tự lượng, mạo muội giãi bày lòng thành. Kính cẩn sai kẻ bồi thần sang chầu hầu, sau khi tâu bày rồi sẽ vì thần mà giãi bày lòng thực.Vua Quang Trung giao việc này cho Vũ Văn Dũng, một viên tướng tin cậy quê ở Hải Dương. Vũ Văn Dũng mang hai tờ biểu sang Yên Kinh trực tiếp đặt hai vấn đề trên với vua Càn Long. Vua Quang Trung đã tính đến trường hợp phải dùng lực lượng quân sự đối phó với nhà Thanh, khi vua Càn Long nổi giận. Ông đã chuẩn bị đương đầu với mọi sự bất trắc, đó là nuôi dưỡng nhóm Tề Ngỗi (Tàu Ô) và Thiên Địa Hội. Trong trường hợp chiến tranh Việt Thanh lại xảy ra các nhóm này sẽ trở thành những lực lượng hỗ trợ đắc lực.  Khi vua Quang Trung trù tính việc xin đất làm đô và cầu hôn thì lúc này Vũ Văn Dũng đang nghỉ ở quê nhà trong trấn Hải Dương. Vua Quang Trung đã hạ sắc chỉ cho họ Vũ như sau: ““Sắc truyền cho Hải Dương Chiêu viễn đô đốc tướng quân dực vận công thần Vũ quốc công được gia phong chức chánh sứ đi sứ nước Thanh, được toàn quyền trong việc đối đáp tâu xin hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây để dò ý và cầu hôn một vị công chúa để chọc tức. Phải thận trọng đấy! Hình thế trong chuyến dụng binh đều ở chuyến đi này. Ngày khác làm tiên phong (đánh nước Thanh) chính là khanh đấy. Kính thay sắc này!”  Câu Hình thế trong chuyến dụng binh đều ở chuyến đi này, cho thấy Vũ Văn Dũng đi sứ nước Thanh không phải chỉ có các nhiệm vụ trên mà còn phải dò xét nội tình nhà Thanh, quan sát địa hình địa vật những nơi ông đi qua để một khi chiến tranh Việt Thanh lại bùng nổ thì quân Tây Sơn có thể có một số tin tức tình báo cần thiết mà tổ chức cuộc hành quân. Theo gia phả họ Vũ, thì Vũ Văn Dũng cầm đầu sứ đoàn đã đến Yên Kinh và được vào bệ kiến vua Càn Long. Vũ Văn Dũng đã hoàn thành cả hai nhiệm vụ: cầu hôn và xin đất làm đô. Sau khi nghe lời tâu xin của Vũ Văn Dũng, vua Thanh giao vấn đề này cho đình thần bàn xét. Ngày hôm sau Vũ Văn Dũng lại được vào bệ kiến Càn Long ở Ỷ Lương các và vua Càn Long đã đồng ý trao đất Quảng Tây cho vua Quang Trung để làm đô và gả một công chúa cho vị thủ lĩnh Tây Sơn. Về việc cầu hôn, sau buổi tiếp sứ thần Đại Việt, vua Càn Long ra lệnh cho bộ lễ sửa soạn nghi lễ và định ngày cho công chúa nước Đại Thanh sang đẹp duyên cùng vua Đại Việt.

Tháng 5 năm Nhâm Tý, tức năm Càn Long thứ 57 (1792), con trai cựu hoàng Lê Chiêu Thống bị ốm chết. Các cận thần nhà Lê theo vua số thì bị giam giữ, số thì lưu tán, cơ may phục quốc không còn hi vọng, Lê Chiêu Thống ngã bệnh nặng.

Vua Quang Trung ý định cưới con vua và xin đất định đô chưa kịp trở thành hiện thực thì ông chết đột ngột vào ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (16 tháng 9 năm 1792), lúc khoảng 11-12 giờ đêm. Nguyễn Huệ qua đời, ở ngôi được 4 năm, hưởng thọ 40 tuổi, miếu hiệu là Thái Tổ Vũ hoàng đế. Bắc cung hoàng hậu Lê Ngọc Hân đã viết bài “Tế vua Quang Trung” và bài “Ai Tư Vãn” để bày tỏ nỗi đau khổ và tiếc thương cho người chồng anh hùng sớm ra đi. Thi hài Quang Trung được táng ngay tại Phú Xuân, được táng ở cung điện Đan Dương. Nguyễn Quang Toản lên nối ngôi, tức là vua Cảnh Thịnh, sai sứ sang nhà Thanh báo tang và xin tập phong. Vua Càn Long tặng tên hiệu cho Nguyễn Huệ là Trung Thuần, lại thân làm một bài thơ viếng và cho một pho tượng, 300 lạng bạc để sửa sang việc tang. Sứ nhà Thanh đến tận mộ ở Linh Đường (mộ giả) thuộc huyện Thanh Trì (Hà Nội) để viếng. Nguyên nhân cái chết của vua Quang Trung theo các tài liệu đều cho rằng ông chết vì do đột tử bởi một cơn tăng huyết áp đột ngột. Bác sĩ Bùi Minh Đức khảo cứu các nguồn tư liệu lịch sử và kết luận rằng Nguyễn Huệ “xuất huyết não dưới màng nhện; nguyên nhân tử vong: do viêm phổi sặc“.Theo Hoàng Lê nhất thống chí, thì vua Càn Long hình như đã biết trước việc này, bằng chứng là khi Quang Trung giả sang Yên Kinh gặp Càn Long, được Càn Long tặng cho chiếc áo, có thêu 7 chữ: Xa tâm chiết trục, đa điền thử (車心折軸多田鼠) Nghĩa là: Bụng xe gãy trục, nhiều chuột đồng. Theo phép chiết tự, chữ “xa” (車) và chữ “tâm” (心) ghép lại thành chữ “Huệ” (惠) là tên của Nguyễn Huệ; “chuột” nghĩa là năm tý (Nhâm tý 1792). Ý của dòng chữ trên áo là Nguyễn Huệ sẽ chết vào năm Tý.

Nguyễn Quang Toản 1783 – 1802) hay Cảnh Thịnh hoàng đế, là con trai thứ của vua Quang Trung (Nguyễn Huệ). Ông lên ngôi tháng 8 năm 1792, sau khi Nguyễn Huệ mất, năm sau đổi niên hiệu thành Cảnh Thịnh. Khi vua Quang Toản mới lên ngôi thì cậu họ là Bùi Đắc Tuyên làm thái sư rất chuyên quyền, còn Ngô Văn Sở khi đó trấn giữ thành Thăng Long, coi hết việc quân dân, được thăng chức đại tổng lý, tước quận công.

Năm Quý Sửu (1793). Nguyễn Du 28 tuổi.

Lê Chiêu Thống thất vọng và chán nản, lâm bệnh rồi qua đời ngày 16 tháng 10 (âm lịch) năm 1793 tại Yên Kinh. Nhà Thanh chôn ông theo nghi thức tước công. Ngày mồng hai tháng hai năm Quý Sửu (1793), sứ đoàn Tây Sơn sang đến Bắc Kinh để báo tang vua Quang Trung mất . Vua Càn Long đã phê vào tờ biểu báo tang hai chữ đáng tiếc, rồi ông thân làm một bài thơ viếng. Ông lại sai viên án sát Quảng Tây là Thành Lâm đến Nghệ An làm lễ đọc và đốt bài thơ ấy trước “phần mộ” vua Quang Trung. Ông còn giao cho sứ đoàn Ngô Thì Nhậm một tấm lụa đại cát đạt và 3000 lạng bạc để dùng vào việc làm chay cho vua Quang Trung. Không chờ Nguyễn Quang Toản dâng biểu cầu phong, vua Càn Long lại đặc cách phong ngay cho Quang Toản làm An Nam quốc vương để chính danh phận và yên dân tâm. Vua Càn Long tỏ ra rất vui vẻ, hả hê khi được Ngô Thì Nhậm cho biết trước khi từ trần, vua Quang Trung đã dặn quần thần phải luôn luôn tôn kính Thiên triều. Vì vậy, Càn Long lấy hai chữ Trung thuần đặt tên thụy cho vua Quang Trung. Vua Càn Long cũng đã ra lệnh cho các quan của nhà Thanh đều phải cúi đầu làm lễ tưởng niệm vua Quang Trung: Thạc tào tòng sự các gia ngạch,Cá cá bất vong ngã tiên vương. Tạm dịch là: Tất cả các vị quan to (ở Thiên triều) đều cúi đầu làm lễ/ Ai ai cũng không quên An Nam quốc vương (Nguyễn Huệ) của chúng ta.

Phúc Khang An khi đó đang làm tổng chỉ huy đánh quân Khuếch Nhĩ Khách Mông Cổ tại tu viện Mật Tông ở Tây Tạng để giành lại kho vàng to lớn ở núi Tuyết.  Khi trở về, Phúc Khang An đã viết cho triều đình Tây Sơn một bức thư có những câu: Bản Tước các bộ đường cùng Tiền Quốc vương (vua Quang Trung) đã từng đem lòng thành liên kết rất sâu. Nhớ khi tiến quan vào chầu, tâm sự sớm chiều, bàn soạn nửa năm, lúc cùng ngồi thuyền lúc cùng đi bộ trước khi vào chầu, thường thường đem tâm sự đàm đạo với nhau… đến lúc lên đường về nước, chia tay ở Hán Dương, cùng nhau than thở, quyến luyến nhớ thương. Bản tước các bộ đường từ tháng năm năm ngoái (1792) đốc binh tiến đánh bộ lạc Quách Nhĩ Khách… Nay nhờ Đại Hoàng Đế nghĩ đến quý quốc, che chở như trời. Bản tước các bộ đường đã nhận ủy nhiệm (của Đại Hoàng Đế làm tổng đốc Lưỡng Quảng) quý Quốc vương thỏa lòng nương tựa. Đợi khi đến tỉnh Việt (Quảng Đông), sẽ sai người đến Nghệ An làm lễ tế điệu, kính dâng bó hoa để tỏ lòng cố cựu.

Lê Chiêu Thống bị giới làm sử đời sau phê phán gay gắt. Các tác giả Ngô gia văn phái thân Tây Sơn trong tiểu thuyết Hoàng Lê nhất thống chí viết: “Tuy vua Lê đã được phong Vương, nhưng giấy tờ đưa đi các nơi, đều dùng niên hiệu Càn Long. Vì có Nghị ở đấy nên không dám dùng niên hiệu Chiêu Thống. Ngày ngày sau buổi chầu, vua lại tới chờ ở doanh của Nghị để nghe truyền việc quân, việc nước. Vua cưỡi ngựa đi trước, Lê Quýnh cưỡi ngựa đi sau, quân lính hộ vệ chỉ vài chục người. Người trong kinh có kẻ không biết là vua. Hoặc có người biết, thì họ nói riêng với nhau rằng: Nước Nam ta từ khi có đế, có vương tới nay, chưa thấy bao giờ có ông vua luồn cúi đê hèn như thế. Tiếng là làm vua, nhưng niên hiệu thì viết là Càn Long, việc gì cũng do viên tổng đốc, có khác gì phụ thuộc vào Trung Quốc?“. Tuy nhiên, nhà Nguyễn do Nguyễn Ánh thành lập ra sau đó, lại nhìn nhận khá rộng lượng với Chiêu Thống. Hoàng đế Tự Đức có lời phê về Chiêu Thống, đại ý nói: “Nhà vua bị người ta lừa gạt, bị giám buộc ở quê người đất khách, đến nỗi lo buồn phẫn uất, ôm hận mà chết, thân dẫu chết, nhưng tâm không chết, kể cũng đáng thương! Vậy nên truy đặt tên thụy là Mẫn Đế“.

Năm 1793, ở Đàng Trong , Nguyễn Ánh nhân Bắc Hà biến loạn kéo đại quân  từ Gia Định kéo ra đánh vua Thái Đức (Nguyễn Nhạc) ở thành Quy Nhơn. Nguyễn Nhạc sai người đến chỗ Cảnh Thịnh xin cứu viện. Cảnh Thịnh cho Trần Quang Diệu làm Đại Tổng quản, Phạm Công Hưng, Nguyễn Văn Huấn đem quân cứu Nguyễn Nhạc. Quân của Nguyễn Ánh rút về. Các tướng của vua Quang Toản chiếm luôn thành trì của vua Thái Đức. Tháng 8 năm này, vua Thái Đức uất hận mà qua đời, con cả là Nguyễn Bảo lên nối ngôi bị các tướng của Cảnh Thịnh chia quân giữ thành và an trí ra huyện Phù Ly. Nhà Tây Sơn nhánh Nguyễn Nhạc chấm dứt từ đó.

Năm Quý Sửu (1793), Nguyễn Du về thăm quê Tiên Điền và đến cuối năm ông vào kinh đô Phú Xuân thăm anh là Nguyễn Nễ đang làm thái sử ở viện cơ mật và anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn.

Năm Giáp Dần (1794). Nguyễn Du 29 tuổi. 

Vua Nguyễn Quang Toản  sai Vũ Văn Dũng ra coi binh mã bốn trấn Bắc Hà. Dũng đến trạm Hoàng Giang, gặp trung thư lệnh Trần Văn Kỷ phạm tội bị đày ở đó, Kỷ nói với Dũng rằng: Quan thái sư chức vị đã cao tột bực, trong tay nắm quyền làm oai làm phúc, lại đẩy ông ra ngoài, nếu có sự chẳng lợi cho nhà nước, các ông phỏng còn giữ được đầu chăng? Bây giờ chẳng sớm liệu đi, sau này ăn năn sao kịp? Dũng tin và trọng Kỷ, nên cho lời Kỷ là phải. Hôm sau, Dũng đem quân bản bộ quay về, hợp mưu với thái bảo Hóa, bắt phe đảng Đắc Tuyên bỏ ngục; lại sai người vào Quy Nhơn bắt Bùi Đắc Trụ (con Bùi Đắc Tuyên) và sai đô đốc Hài ra thành Thăng Long lập mưu bắt Ngô Văn Sở đưa về, thêu dệt thành tội trạng làm phản để dìm xuống nước cho chết hết. Sau đó, Dũng lại sai Hóa vào giữ thành Quy Nhơn. Cũng trong năm 1794, Cảnh Thịnh sai Bùi Đắc Trụ làm tán nghị, vào Quy Nhơn trấn giữ thành và lấy Quang Diệu làm thống suất, lĩnh đại quân tiến đánh thành Nha Trang. Bảy tướng từ Lê Văn Trung trở xuống đều được gia phong làm quận công quản binh và nghe theo lệnh chỉ huy của Quang Diệu. Diệu tiến sát thành Nha Trang, mà quân tuần tiễu thì đã đến địa phận Bình Thuận. Quân nhà Nguyễn hết sức chống giữ khiến Diệu không thể thắng nổi. Giai đoạn này, quân Tây Sơn luôn luôn tấn công miền Nam đã thuộc quyền Nguyễn Ánh, quân hai bên chống chọi với nhau đến hàng năm.

Trần Quang Diệu đang ở Nha Trang thì được tin cha con Bùi Đắc Tuyên và Ngô Văn Sở đều đã bị Vũ Văn Dũng giết chết, sợ vạ lây đến mình, bèn kéo quân về, họp bàn cùng bọn tướng tá, định dùng quân lực bắt Vũ Văn Dũng. Ngay lập tức Diệu giải vây cho thành Nha Trang rồi kéo quân về thành Quy Nhơn để sau đó tiếp tục về kinh đô Phú Xuân (Huế). Về tới làng Yên Cựu ở phía nam kinh thành, trên bờ sông Hương, Diệu đóng quân ở bờ nam sông. Dũng cùng bọn nội hầu Tứ đem quân bản bộ đóng ở bờ bắc sông, mượn lệnh vua để chống lại với Diệu.

Vua Quang Toản phải sai các trung sứ qua lại vỗ về hoà giải, Quang Diệu mới chịu đem tả hữu vào yết kiến Cảnh Thịnh và giảng hòa với Vũ Văn Dũng; kế đó Diệu lại xin cho gọi Hóa về và xin cho Lê Trung thay chân Hóa, trấn giữ Quy Nhơn. Khi ấy, các cận thần ở bên Cảnh Thịnh gièm pha rằng oai quyền của Diệu quá lớn, đang toan có mưu khác. Toản tin là thật, liền rút hết binh quyền của Diệu, chỉ cho giữ một chức quan vào hàng thị thần mà thôi. Quang Diệu vốn tương đắc với Lê Trung, nên gửi mật thư vào Quy Nhơn, hẹn Trung cất quân lập Nguyễn Quang Thiệu (con Nguyễn Huệ, anh Cảnh Thịnh) làm vua. Trung theo lời kéo quân về, Quang Thiệu đem quân tiếp ứng phía sau. Quân của Trung về đến Quảng Nam, vua Quang Toản sai Diệu đi bảo Trung lui quân. Trung không thông báo cho Quang Thiệu mà một mình một ngựa theo Diệu về yết kiến Cảnh Thịnh. Quang Thiệu sợ hãi phải rút quân về Quy Nhơn, đóng chặt cửa thành để cố thủ. Nguyễn Quang Toản sai tướng đến đánh liên tiếp mấy tuần không hạ được, tự mình làm tướng đem quân đi. Đến Lê Giang, thái phủ tên là Mân tâu với Toản rằng: Cuộc biến loạn Quang Thiệu thực do Lê Trung gây nên, tội không thể tha, xin giết ngay để răn kẻ khác. Cảnh Thịnh nghe theo và cho vời Trung vào dinh, sai võ sĩ trói lại đem chém. Con rể Lê Trung là đại đô đốc Lê Chất hận việc giết cha vợ nên đầu hàng Nguyễn Ánh. Sau đó, Toản tiến đánh Quy Nhơn, mười ngày sau hạ được thành, bắt Quang Thiệu cùm đưa về, dùng thuốc độc giết chết. Toản để Mân ở lại giữ thành Quy Nhơn.

Cũng năm Giáp Dần (1794), Nguyễn Nễ (Nguyễn Đề) được thăng Tả phụng nghi bộ Binh và vào Quy Nhơn giữ chức Hiệp tán nhung vụ. Đến năm 1795 Nguyễn Đề đi sứ sang Yên Kinh dự lễ nhường ngôi của vua Càn Long nhà Thanh, đến năm 1796 trở về được thăng chức Tả đồng nghị Trung thư sảnh.

Năm Ất Mẹo (1795). Nguyễn Du 30 tuổi.

Các tướng Tây Sơn lại lục đục. Vũ Văn Dũng giết Bùi Đắc Tuyên và lừa giết Ngô Văn Sở. Trần Quang Diệu cũng bị nghi ngờ nên rút quân về. Hai tướng Quang Diệu và Văn Dũng giảng hoà Sau đó Lê Chất làm phản theo Nguyễn Ánh, đem quân đánh nhau với tướng Tây Sơn là Mân (Mân Thành hầu Lê Văn Ứng?). Quân của Mân thua trận, Mân phải chạy vào núi rừng mà trốn; quân, voi, khí giới đều bị Chất thu sạch. Vua Quang Toản nghe tin, lại sai Đại Tư Vũ Tuấn (Đại Đô đốc Trần Danh Tuấn?) dẫn binh tới trấn, chiêu tập tàn quân để đóng giữ.

Năm Bính Thìn (1796). Nguyễn Du 31 tuổi.

Mùa đông năm Bính Thìn (1796), Nguyễn Du trốn vào Gia Định theo chúa Nguyễn Ánh nhưng bị Quận công Nguyễn Thận bắt giam ba tháng ở Nghệ An. sau khi được tha ông về sống ở Tiên Điền. Trong thời gian bị giam ông có làm thơ My trung mạn hứng (Cảm hứng trong tù). Nguyễn Du đến đây kết thúc 15 năm lưu lạc.

Thời Hồng Sơn Liệp Hộ (1797-1802)

Nguyễn Du đi săn ở núi Hồng làm ‘Hồng Sơn Liệp Hộ’ (1797-1802)  sau khi ông bị Quận công Nguyễn Thận bắt giam ba tháng ở Nghệ An mùa đông năm Bính Thìn (1796) về tội danh định trốn vào Nam với chúa Nguyễn Ánh, sau được tha về sống ở Tiên Điền; Tâm sự của ông thời kỳ này rõ nhất trong bài “Đi săn”với bài “Hành Lạc từ”

Đi săn
Nguyễn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Kẻ đạt quan trường chí đỉnh mây,
Còn ta vui thú với hươu nai.
Cốt lòng thư thái không mong được,
Không hại điều nhân diệt các loài.
Xạ ngủ cỏ thơm hương ướt ẩm,
Núi xa, chó sủa tiếng ngoài tai.
Thú vui phù thế âu tùy thích,
Xe đón lộng che ấy những ai ?

Bài Liệp “Đi săn” Nguyễn Du viết : “Những người áo mũ hiển đạt để chí mình ở đường mây, còn ta, ta vui với bầy hươu nai của ta, cốt là để khuây khỏa trong lúc nhàn chớ đâu phải ham được thịt thú. Diệt trừ giống khác hại chăng đến đức nhân ? Con xạ ngủ nơi đồng cỏ non hương thơm còn ướt. Con chó vượt qua nhiều lớp núi, tiếng sủa không còn nghe thấy. Tìm thú vui chơi trong cuộc phù sinh mỗi người một sở thích. Những người lọng đón xe đưa là người nào thế nhỉ ?”

Nguyễn Hành viết về Phi Tử Nguyễn Du trong bài Ca tụng việc đi săn (Trương Chính. Thơ chữ Hán Nguyễn Du  Nxb Văn Học, Hàn Nội 1965,  tr 38) : Đó là ông nói việc đi săn của người tầm thường, chứ ông đâu có biết việc đi săn của bậc đại nhân. Bậc đại nhân đi săn không ở chỗ đi săn. Họ nhỡn nhơ chỗ nọ chỗ kia, ngắm núi ngắm rừng. Họ trèo lên đỉnh cao để nhìn vực thẳm, tắm gội nơi suối trong, thơ thẩn giữa cây tùng cây bách, nhìn tạo vật biến hóa, đùa giỡn với hươu nai, do đó mà tinh thần được thư thái, ý chí được trau giồi, lòng dạ thảnh thơi không bận bịu, mây nhẹ nhàng luồn trong tay áo, gió phất phơ thổi đưa tà áo, trông thấy kinh kỳ trong gang tấc, hứa hẹn những cuộc ngao du. Bậc đại nhân đi săn như thế, người tục đâu có biết !

Thời thế và hành trạng Nguyễn Du trong giai đoạn 1797-1802 như sau:

Năm Đinh Tỵ (1797). Nguyễn Du 32 tuổi.

Vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản đã cử Lê Trung làm tướng trấn giữ Quy Nhơn và điều Trần Quang Diệu về hầu việc trong triều. Bốn tứ trụ triều đình Cảnh Thịnh là Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng, Nguyễn Văn Huấn và Nguyễn Văn Danh. Thế nhưng tướng Trần Quang Diệu bị người ta dèm pha là uy quyền quá lớn sắp có mưu đồ khác nên vua Cảnh Thịnh đã điều chỉnh như vậy, với phúc tướng triều Tây Sơn là Vũ Văn Dũng luôn giám quân.. Trần Quang Diệu lo sợ nên cáo bệnh không vào chầu mà đốc suất thủ hạ thân tín canh phòng tự vệ suốt ngày đêm. Nguyễn Vương truy quét thổ phỉ người Thượng, phủ dụ dân tình ở vùng núi và tìm hiểu tướng trấn giữ các nơi. Nguyễn Vương được tin mật báo nội tình Tây Sơn cả mừng, tập hợp các tướng bàn định việc ra quân. Nguyễn Vương  để Tôn Thất Hội giữ thành Gia Định, sai Nguyễn Văn Thành, Võ Tánh, Nguyễn Đình Đắc theo đường bộ đánh thẳng ra Phú Yên, Quy Nhơn, còn tự mình thì cùng với hoàng tử Cảnh và tướng Nguyễn Văn Trương đem đại binh thuyền đánh ra Quy Nhơn. Quân thủy của Nguyễn Vương tiến sâu vào cửa Thị Nại. Vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản ra lệnh cho Nguyễn Văn Huấn mang toàn quân ra chống cự, phục chức cho Trần Quang Diệu sai giữ cửa Thuận để làm thanh ứng. Nguyễn Vương tấn công quyết liệt quân Tây Sơn mấy tháng ròng ở Bình Định không phân thắng bại, thấy sự phòng thủ chặt chẽ, liệu sức không đánh đổ được bèn kéo binh thuyền ra đánh phá Quảng Nam, nhưng cũng không giành được thế thắng và quân nhu không đủ, bèn rút về Gia Định, sai Nguyễn Văn Thành giữ chức khâm sai tiền tướng quân và Đặng Trần Thường làm hiệp tán quân vụ ở lại giữ thành Diên KhánhNguyễn Vương theo mưu kế của Đặng Trần Thường, một mặt sai Nguyễn Văn Thụy sang Thái Lan báo tin thắng trận cho vua Thái và nhờ quốc vương nước này xuất binh theo đường bộ Lào với sự dẫn đường của Thụy để tấn công Thuận Hóa từ hướng Tây  hoặc cho quân đột phá Nghệ An để chặn đường quân Bắc Hà vào cứu viện. Quân sĩ Nguyễn Vương cũng sẽ phối hợp tấn công ở hai mặt Đông và Nam. Mặt khác, Nguyễn Vương cũng sai binh bộ tham tri Lưu Nhân Tĩnh sang sứ nhà Thanh vừa do thám tình hình vừa trao trả lại cho nhà Thanh một số tàu thuyền mượn tiếng là thu được của quân Tàu biển “Thiên Địa Hội” phản Thanh phục Minh nhằm lấy lòng vua nhà Thanh vừa tố cáo Nguyễn Huệ nhà Tây Sơn trước đây trong thì tiếm xưng là hoàng đế Quang Trung, ngoài thì giả cách thuần phục nhà Thanh, nhưng lại ngấm ngầm tiếp tay cho quân phỉ biển “Thiên Địa Hội” để gây chia rẽ nhà Thanh với nhà Tây Sơn. Mặt khác Lưu Nhân Tĩnh cũng tìm mọi cách liên kết với các cựu thần nhà Lê, tầng lớp sĩ phu và những người vốn có oán thù với nhà Tây Sơn để tăng thêm thanh thế và đồng minh.  Ngô Nhân Tĩnh vừa đi khỏi thì “phụ quốc nguyên công’ Tôn Thất Hội là tướng giỏi của Nguyễn Vương bị ốm nặng và mất. Nguyễn Ánh theo lời của quốc thúc Tôn Thất Thăng đã đưa hoàng tử Cảnh với sự trợ giúp của Bá Đa Lộc và Tống Viết Phước ra trấn giữ Diên Khánh, thay thế cho các tướng Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Tính và Đặng Trần Thường được gấp rút trở về Gia Định luyện quân để chuẩn bị cho chiến dịch mới.

Năm Mậu Ngọ (1798). Nguyễn Du 33 tuổi.

Nguyễn Ánh đang bàn việc mang tin thắng lợi sang báo vua Xiêm (Thái Lan) thì vừa lúc vua Xiêm cử sứ giả sang xin viện binh chống Miến Điện. Nguyên lúc trước ở Băng Cốc vua tôi Nguyễn Ánh lúc sang nương nhờ Thái Lan đã cùng quân tướng Thái Lan đánh lui được quân Miến nên được vua Thái trong thị. Nay trước việc này, Nguyễn Vương sai Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Đình Đắc đem một vạn quân và chiến thuyền sang cứu viện cho Thái Lan. Quân Nguyễn khi đến Côn Lôn vừa lúc nghe tin quân Miến đã lui, nên chỉ một mình Nguyễn Huỳnh Đức mang quốc thư sang Xiêm còn Nguyễn Văn Trương và Nguyễn Đình Đắc thì mang quân về. Khi về Gia Định lại gặp Nguyễn Văn Nhơn đưa Đặng Đức Siêu là danh sĩ Hàn lâm, kỳ tài của Bồng Sơn Bình Định thường tự ví mình là Quản Trọng Nhạc Nghị, trước làm quan nhà Nguyễn, sau không chịu theo họ Trịnh và nhà Tây Sơn, nay theo thuyền buôn trốn vào dâng sách Bình Tây phương lược. Nguyễn Ánh vui mừng cử làm Trung doanh tham mưu. Nguyễn Vương cử tướng Nguyễn Văn Thụy làm Khâm sai thượng đạo đại tướng quân cùng tiền quân Lưu Phước Tường, tham mưu Nguyễn Hoài Châu, Nguyễn Văn Uẩn, tham quân Lê Văn Xuân làm cánh quân vu hồi đi cắt đường sang Lào. Cánh quân này có nhiệm vụ trên lối đi dụ người Thượng cùng dấy binh hưởng ứng và đến thành Viên Chăn dụ quốc vương Vạn Tượng cùng người dân ở Trấn Ninh, Thanh Nghệ hành binh đi theo. Quân đi đến đâu cũng phao lên rằng quân Nguyễn cùng quân Xiêm và Lào đang hành binh tiến đánh Thuận Hóa và Tây Nghệ An để đánh lạc lướng và ghìm chân lực lượng tinh nhuệ cửa hai nơi này và quân Bắc Hà vào cứu Quy Nhơn. Tướng Nguyễn Văn Thụy là người Diên Phước, Quảng Nam vốn là người mưu trí lại có sẵn thẻ thông hành đi các nước, nguyên là tướng thân tùy hộ giá Nguyễn Vương lúc trước ở Băng Cốc, đã ba lần đi sứ nước Xiêm, hai lần quản lĩnh đạo Thanh Châu, và vừa bảo hộ Nguyễn Văn Nhơn đi sứ Xiêm về, nay được Nguyễn Vương cử làm thống tướng phụ trách cánh quân vu hồi này. Nguyễn Vương lại sai cho hoàng tử thứ hai trọng trách trấn giữ vùng Gia Định và các trọng địa của đất phương Nam, cùng với các tướng là Nguyễn Văn Nhơn làm Chưởng cơ thống lĩnh quân binh kiêm chưởng Bộ Hộ, Nguyễn Tử Châu làm Tham mưu Bồi tán quân vụ. Tại Bình Định, Nguyễn Bảo là con của Nguyễn Nhạc vì căm giận vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản chiếm giữ đất Tây Sơn bèn định bỏ về hàng Nguyễn triều. Vua Cảnh Thịnh biết mưu ấy sai tướng vào bắt Nguyễn Bảo đưa về dìm xuống sông giết đi. Lại có người nói gièm rằng Nguyễn Bảo sở dĩ làm phản là tại quan trấn thủ Lê Trung. Vua Cảnh Thịnh triệu Lê Trung về Phú Xuân sai võ sĩ bắt chém đi. Được ít lâu sau quan Thái phó Nguyễn Văn Huấn cũng bị giết. Từ đó tướng sĩ Tây Sơn nhiều người nản lòng tìm cơ hội bỏ theo về Nguyễn Vương.

Năm Kỷ Mùi (1799). Nguyễn Du 34 tuổi.

Nguyễn Vương thấy thế Tây Sơn đã suy yếu; cánh quân vu hồi của tướng Nguyễn Văn Thụy cùng phương lược ngoại giao của binh bộ tham tri Lưu Nhân Tĩnh đã hình thành tình thế mới, bèn quyết định cử đại binh ra đánh Quy Nhơn. Nguyễn Vương tự mình làm tướng, chia binh làm hai đường thủy bộ, giao cho tướng trấn giữ Diên Khánh là Đông cung Cảnh với Tả quân phó tướng Nguyễn Đình Đắc, Hữu quân phó tướng Nguyễn Công Thái chẹn giữ các vùng hiểm yếu Phú Yên, Ninh Thuận,  Bình Thuận để làm thanh thế. Cánh quân tiên phong đường bộ do Nguyễn Văn Thành làm thống tướng, Đặng Trần Thường làm Hiệp tán quân vụ, Trịnh Hoài Đức làm Hộ bộ tham tri, Lưu thủ Vĩnh Trấn Nguyễn Văn Thịnh phụ trách việc vận chuyển lương cho bộ binh. Cánh quân thủy do Nguyễn Vương trực tiếp thống lãnh, Bình Tây tham thặng đại tướng quân Võ Tánh làm hộ giá, tướng Mai Đức Nghị quản lĩnh hơn năm mươi chiến thuyền  hộ vệ đoàn thuyền lương. Năm Kỷ Mùi (1799) đầu mùa hè, Nguyễn Vương hạ lệnh xuất quân. Quân Nguyễn và quân Tây Sơn đối trân ác liệt tại cửa Thị Nại Bình Định cho đến Quảng Ngãi. Bá Đa Lộc ốm chết trong quân ở cửa Thị Nại ngày 9 tháng 10 năm 1799, xác được ướp thuốc đưa về chôn ở gần nhà giảng của Lộc ở Gia Định, xây lăng gọi là lăng Cha Cả. Tướng sĩ Tây Sơn do sự chia rẽ của triều đình Cảnh Thịnh nên một số tướng lĩnh thân tín Nguyễn Nhạc cùng hậu duệ của họ nản lòng bỏ theo về Nguyễn Vương, trong số đó có  đại đô đốc Tây Sơn là Lê Chất, một tướng giỏi đánh trận, người huyện Phù Ly, phủ Bình Định là con rễ của Tư lệ Lê Trung. Lê Chất đưa hơn hai trăm quân bản bộ về hàng được Nguyễn Vương cho làm chức tướng quân dưới quyền Võ Tánh. Nguyên Lê Chất là thuộc tướng Lê Trung được Lê Trung mến tài gả con gái cho. Lê Chất biết tình thế triều Quang Toản sẽ tan vỡ từ bên trong nên nhiều lần khuyên Lê Trung đầu hàng Nguyễn Ánh nhưng Trung còn do dự chưa quyết. Sau sự biến Nguyễn Bảo bị dìm chết, Lê Trung và Nguyễn Văn Huấn bị giết, vua Cảnh Thịnh lùng bắt Chất rất gấp, Chất giả dạng trốn được. Lê Chất được Tổng quản Tây Sơn là Lê Văn Thanh tiếc tài giữ lại làm thân tín trong doanh. Lê Chất gặp thời cơ đã sang hàng Võ Tánh. Tướng trấn thủ Quy Nhơn là Lê Văn Ứng thấy quân Nam thế lớn sợ lương thực không đủ dùng nên lệnh cho Tổng quản Nguyễn Văn Thanh, Binh bộ Thượng thư Nguyễn Thái Phác cùng Thiếu úy Nguyễn Tiến Thúy giữ thành còn mình thì mang quân ra thành về ấp Tây Sơn thu chở quân lương. Lê Chất biết rõ tình hình báo cho Võ Tánh lập tức giao tinh binh cho Nguyễn Đức Xuyên và Lê Chất chia làm hai cánh đánh tiêu diệt lớn và cướp binh lương. Lê Văn Ứng thua to, chạy thoát được vào thành, xua quân ra ngoài dàn trận chống cự. Nguyễn Văn Thành Và Võ Tánh đem đại binh vây chặt. Tổng quản Lê Văn Thanh thế cùng phải đóng cửa thành tử thủ để chờ viện binh. Quang Toản nghe tin thua trận liền sai ngay hai đại tướng Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng mang binh thuyền tới cứu viện. Quân do thám báo về Nguyễn Vương lập tức dẫn đại quân chia ba đường do Lê Văn Duyệt, Tống Viết Phước, Đông cung Cảnh với hai phó tướng là Nguyễn Đình Đắc, Nguyễn Công Thái cùng tiến đánh quân cứu viện; Võ Duy Nghi quản binh thuyền năm doanh án ngữ cửa biển Kim Bồng. Nguyễn Vương tự mình chỉ huy đại quân tiến gấp đến Tân Quan. Nguyễn Quang Diệu và Võ Văn Dũng vào Quảng Ngãi nghe tin quân Nam đã chiếm Tân Quan bèn bỏ thuyền lên bộ, quân đông tới vài vạn, tiến nhanh như gió cuốn đất. Quân Quang Diệu và Nguyễn Ánh giáp chiến, trong khi Võ Văn Dũng ngầm chia binh theo đường tắt thẳng đến Bến Đá định tập kích Tân Quan đang đêm vượt suối nhỏ bị chạm trán cánh quân mạnh của Tống Viết Phước bị thua to phải lùi về Quảng Ngãi. Nguyễn Vương lập tức sai đem quân thua của Võ Văn Dũng đi diễu quanh thành Bình Định để làm quân Bắc khiếp sợ, lại lệnh cho Võ Tánh gấp rút công đồn và cho người vào thành dụ hàng. Tổng quản Lê Văn Thanh, Binh bộ Thượng thư Nguyễn Đại Phác, Thiếu úy Trương Tiến Thúy thấy thế không thể chống nổi, phải dâng thành xin hàng. Nguyễn Vương sai Lại bộ Tham tri Phạm Đăng Hưng cùng Lại bộ  Trần Văn Trạc đến thành Quy Nhơn chiêu dụ và tiếp nhận sự đầu hàng. Phạm Đăng Hưng nguyên là người làng Tân Hòa, Gia Định, là môn sinh của Lại bộ Nguyễn Bảo Trì, thông minh, hiếu học , thạo việc nước , binh thư lịch pháp tinh thông, thường được dự bàn mưu lược trong quân. Phạm Đăng Hưng sau này có con gái là bà Từ Dụ hoàng thái hậu, vợ vua Thiệu Trị, mẹ vua Tự Đức. Tướng Nguyễn Văn Thành chỉ huy quân tiên phong và hữu quân kịch chiến năm ngày ở Bến Đá với quân của tướng Tây Sơn Nguyễn Quang Diệu không phân thắng bại. Quang Diệu thấy Võ Văn Dũng thua trận nên không dám ham đánh mà thu binh rút lui. Nguyễn Vương chiếm thành Quy Nhơn. Nguyễn Vương thu quân về Nam, chọn cử đại tướng quân kiêu dũng thiện chiến Võ Tánh vừa là con rể Nguyễn Vương thống tướng trấn thủ  Bình Định,  Ngô Tòng Chu làm hiệp trấn, Hình bộ Nguyễn Hoài Quýnh làm Bồi tán Quân vụ, Vệ úy Nguyễn Văn Thịnh làm Lưu thủ, Cai cơ Nguyễn Văn Tường làm Cai bạ. Phụng nghị Tá làm Ký lục giúp Võ Tánh ở dinh Trấn thủ. Ba đồn quân ngự lâm Tả Trung Tiền đặt dưới quyền của ba tướng Phan Tiến Huỳnh, Đoàn Văn Cát, Lê Chất, cùng với Nguyễn Văn Tồn chỉ huy lính Xiêm đóng tại các vị trí hiểm yếu che chắn vòng ngoài và tạo thế liên hoàn phòng thủ thành Bình Định. Nguyễn Vương cũng chọn cử tướng Nguyễn Văn Trương đóng giữ cửa Thi Nại. Tướng Nguyễn Văn Tính lưu thủ Diên Khánh, Đặng Trần Thường làm Hiệp trấn, Phạm Tiến Tuấn lưu thủ Phú Yên, Lưu Tiến Hòa lưu thủ Bình Khang, Võ Văn Lân lưu thủ Bình Thuận. Ra lệnh lập sổ dân binh, khen thưởng huân công, bổ dụng con cháu những người trung nghĩa, xét trả lại ruộng đất bị quan quân Tây Sơn chiếm đoạt. Quy Nhơn trước  thuộc trấn Quảng Nam vốn là đất khởi nghiệp của nhà Tây Sơn, sản vật dồi dào, sức binh hùng mạnh mà Trung ương Hoàng Đế Tây Sơn Nguyễn Nhạc và Hoàng Đế Quang Trung Nguyễn Huệ tranh chấp để giành lấy sự chính danh ngôi vua, đã dẫn đến hiềm khích bất hòa và chia rẽ sâu sắc, dẫn đến suy yếu. Sau hai mươi sáu năm khởi nghiệp nay thành Quy Nhơn bị rơi vào tay quân Nam Triều, Nguyễn Vương cho đổi tên thành Bình Định. Vua Quang Toản nghe tin báo quân Nam đã rút về Nam, chỉ để lại quân tướng giữ thành bèn thương nghị với Trần Văn Kỷ.  Quy Nhơn là đất hưng vượng triều ta mà không giữ được thì làm sao giữ được Phú Xuân và cửa Hàn? Trần Văn Kỷ người Thuận Hóa, vốn có văn học, là bậc danh sĩ ở Nam Hà. Sách Hoàng Lê Nhất thống chí viết: “Năm Đinh Dậu (1777) niên hiệu Cảnh Hưng, Kỷ thi ở trấn (Phú Xuân) đậu giải nguyên. Năm Mậu Tuất (1778), Kỷ tới kinh (Thăng Long) thi Hội. Sĩ phu ở Bắc Hà, Kỷ có giao thiệp quen biết ít nhiều. Năm Bính Ngọ (1786), Bắc Bình Vương (Nguyễn Huệ) đánh lấy thành Phú Xuân, sai người tìm Kỷ hỏi việc Nam, Bắc. Kỷ đối đáp rất nhanh và rất hợp ý, nên Bắc Bình Vương rất trọng, cho ở vào chỗ “màn trướng”, việc gì cũng bàn với Kỷ, lúc nào cũng gần bên Kỷ, không mấy khi xa rời”. Năm 1786, khi  Nguyễn Huệ xuất quân ra Thăng Long lần thứ nhất để diệt Trịnh, phò Lê; gặp khi vua Lê Hiển Tông mất (ngày 10 tháng 8), Trần Văn Kỷ cùng Nguyễn Hữu Chỉnh đã thay mặt Nguyễn Huệ mặc áo trắng đi theo hầu đám tang vua đến nơi an táng ở Bàn Thạch (Thanh Hóa). Năm 1787, nội bộ Tây Sơn lâm vào tình trạng chia rẽ sâu sắc. Trần Văn Kỷ đã đứng ra lo dàn xếp giữa hai anh em Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ bằng cách lấy Bản Tân làm ranh giới. Từ Quảng Ngãi trở vào Nam do Nguyễn Nhạc làm chủ, từ Thăng Diện ra Bắc thuộc về Nguyễn Huệ, nhờ mưu kế này đã chấm dứt cuộc hỗn chiến đẫm máu kéo dài suốt từ tháng 1 đến  tháng 5 năm 1787 giữa hai thủ lĩnh Tây Sơn làm thiệt hại chừng một nửa trong số 6 vạn quân của Nguyễn Huệ điều vào Quy Nhơn. Theo sách Tây Sơn thủy mạt khảo của Đào Nguyên Phổ (1861-1908) đã xác nhận điều này “nhờ mưu kế của Trần Văn Kỷ, là người hạnh thần của Nguyễn Huệ bày ra”. Do thành quả trên, ông được phong tước Kỷ Thiện hầu, giữ chức Trung thư Phụng chính, có nhiệm vụ tham mưu, nắm toàn bộ trung thư cơ mật, thảo sắc phong, chiếu lệnh, vị đại thần bên cạnh vua Quang Toản. Chính vì vậy Quang Toản  đã đích thân dẫn đại quân vào Trà Khúc để đôn đốc các tướng tiến đánh. Trần Nhật Kết nói: Nay là cuối thu, hướng gió không thuận, nên chuẩn bị kỹ quân lương mọi mặt, đầu xuân hãy ra quân. Mặt khác cũng phải đề phòng kinh thành Phú Xuân bị đột kích từ hướng tây và hướng biển. Quang Toản nghe lời, sau khi hội tướng xong bèn để Nguyễn Quang Diệu, Võ Văn Dũng  trấn thủ Quảng Nam và Quảng Ngãi, Nguyễn Văn Giáp trấn thủ Trà Khúc, còn vua thì đem quân về Phú Xuân.

Năm Canh Thân (1800). Nguyễn Du 35 tuổi.

Nguyễn Quang Diệu và Võ Văn Dũng về triều kiến vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản ở Phú Xuân. Vua Quang Toản phủ dụ rằng: Các khanh là trụ cột của triều đình , nên đồng tâm gắng sức để trừ họa ngoài, không nên nghi ngờ nhau.  Hai tướng khóc mà tạ ơn. Diệu nói: Bọn thần đi chuyến nay nếu không thu phục được Quy Nhơn thề không đem binh trở về. Không ngờ, đây chính là chuyến xuất quân định mệnh, bước ngoặt của cục diện quân sự thay đổi dẫn đến sụp đổ nhà Tây Sơn. Nguyễn Quang Diệu và Võ Văn Dũng vốn là hai chiến tướng trụ cột lừng danh của nhà Tây Sơn, hai  ông cùng với Ngô Văn Sở và Bùi Thị Xuân được người đương thời gọi là Tây Sơn tứ kiệt. Ngô Văn Sở lúc ấy đã chết. Bùi Thị Xuân thì sau này là nữ tướng lẫm liệt bậc nhất của triều Cảnh Thịnh đương đầu với thế quân áp đảo của Nguyễn Vương khi Nguyễn Quang Diệu và Võ Văn Dũng bị hãm trận ở nơi xa.Nguyên là Võ Văn Dũng sau trận thua nặng nề ở Bến Đá khi ông định tập kích Tân Quan, kỹ luật của quân Tây Sơn rất nghiêm minh, Quang Toản nối chí Nguyễn Huệ nhưng đã quen phong thái cỉ huy của cha, trị quân và khiển tướng rất nghiêm. Mọi sơ suất trong hành binh, đánh trận và thưởng phạt đều xử trọng tội theo quân pháp. Võ Văn Dũng dễ bị tội chết  nhưng nhờ có Quang Diệu che giấu nên Võ Văn Dũng cảm nghĩa ấy mà kết sinh tử với Trần Quang Diệu và cố kết với nhau rất tương đắc. Trần Văn Kỷ, Trần Nhật Kết và Hồ Công Diệu trong Cơ Mật Viện ‘ban tham mưu’ của vua Cảnh Thịnh ở Phú Xuân vốn ghét Nguyễn Quang Diệu oai quyền lấn chủ, tướng ở ngoài thường tự chuyên, hành binh tiến lui và mưu lược đánh trận coi thường mưu kế tcủa ham mưu ở xa. Nay nhân việc binh thua mất đất căn bản Quy Nhơn của Quang Diệu nên đã gửi mật chiếu lệnh cho Dũng thay Diệu nắm trọng binh. Dũng vì mang ơn Diệu nên đưa tờ chiếu ấy cho Diệu xem. Hai người kéo binh về đóng trại ở nam Sông Hương đòi trị tội tên giặc ở bên cạnh vua. Trần Văn Kỷ đổ lỗi cho Hồ Công Diệu và Trần Nhật Kết. Kết bỏ trốn. Quang Toản sai bắt Hồ Công Diệu nộp cho Nguyễn Quang Diệu, bấy giờ Trần Quang Dũng và Võ Văn Dũng mới chịu vào triều kiến và xuất quân đánh Quy Nhơn  Tháng Chạp năm 1800, Trần Quang Diệu sai đắp lũy dài vây đánh thành Quy Nhơn rất gấp, trong khi Võ Văn Dũng thì đem hai tàu lớn và hơn trăm chiến thuyền bố phòng bị nghiêm ngặt cửa biển Thị Nại, xây đồn và đặt súng đại bác ở hai bên cửa biến phòng thủy quân của nhà Nguyễn đánh ra. Tin báo về Gia Định, các tướng đều thấy quân Võ Tánh thế cô, xin xuất binh cứu viện gấp. Nguyễn Vương nói: “Lương thảo trong thành Bình Định đủ ăn một năm. Nay gió mùa đông bắc đang mạnh, chưa tiện đưa thủy quân ra”. Nói rồi cho người ruổi ngựa mang thư khuyến khích Võ Tánh đốc thúc tướng sĩ liều chết cầm cự, một mặt hội tướng bàn việc tiến quân. Nguyễn Vương điều Đông cung Cảnh về giữ thành Gia Định, lấy Nguyễn Văn Nhơn quyền lãnh Tả quân phó tướng coi sóc mọi việc cùng Đông cung và lo chi viện lương thảo, cử Hình bộ Thượng thư Nguyễn Tử Châu làm hiệp tán cơ vụ. Tấn phong Nguyễn Văn Thụy làm làm Khâm sai thượng đạo Bình Tây đại tướng quân, dẫn một cánh quân  ‘thám báo tinh nhuệ’ đi mua chuộc lòng dân, tổ chức dân binh, hội binh cùng vua Vạn Tượng loan truyền việc đánh Nghệ An và tây Phú Xuyên để kiềm chế viện binh Phú Xuân và Bắc Hà kéo vào tiếp ứng Quy Nhơn. Kế đến là tung thám báo và những người có quan hệ nhiều với triều Lê, tướng trụ cột Tây Sơn để  thăm dò nội tình, gây chia rẽ, lũng đoạn triều chính ngay trong lòng nội bộ Tây Sơn. Đội quân này xuất phát ngay. Tháng ba năm ấy, Nguyễn Vương lệnh cho Nguyễn Đức Xuyên đưa đội tượng binh và đại quân đường bộ lên đường còn tự mình thì dẫn đoàn chiến thuyền tiến phát tiếp sau. Nguyễn Đức Xuyên ra đến Diên Khánh thì Trần Quang Diệu đã lập 90 đồn binh hùng hậu liên hoàn để phòng giữ. Nguyễn Đức Xuyên xin lệnh Nguyễn Vương về phối hợp tiến công. Các tướng bàn định là nên bỏ Bình Định để tấn công Phú Xuân. Đặng Trần Thường cho rằng không nên vì quân Nam triều thuận gió ập đến, thủy quân Tây Sơn đang hùng hậu và cố thủ ở cửa Thị Nại, nếu thuyền quân Nam tiến ra Phú Xuân thì thủy quân Tây Sơn sẽ thuận gió đuổi theo, hai mặt trước sau giáp công thì quân Nam sẽ rất nguy hiểm. Nên đánh tan thủy binh mới đánh Phú Xuân được. Nguyễn Vương khen phải nên cho chiến thuyền tạm cập bến Cù Mông là nơi luồng lạch không thuận lợi bằng cửa Thị Nại vì Tây Sơn đã chiếm trước và phòng ngự chắc chắn rồi. Quân sư Đặng Đức Siêu dâng kế là quân Nam nếu bỏ tàu thuyền lên bộ thì thuyền neo lại ngoài khơi rất dễ bị Tây Sơn đánh đoạt, trong khi quân Nam sở trường thủy chiến hơn đánh bộ, sao bằng nhân trời gió nồm lớn gió thuận thế hãy dùng kế hỏa công lấy thuyền cá của dân chở thuốc dẫn nổ và đồ gây cháy đi đầu bí mật xáp trận phá sạch thủy quân của địch thì sẽ có lợi lớn. Sự cần thiết là quân bộ phải tấn công nhiều hướng để thu hút địch và phân tán sự chú ý. Nguyễn Vương theo kế này. Tướng tiền quân Nguyễn Văn Thành kiêu dũng, thiện chiến được giao thống binh tất cả các đạo quân bộ để giao chiến gìm chân tướng giỏi Nguyễn Quang Diệu. Tướng Võ Duy Nghi và Lê Văn Duyệt  cùng đại đội quân thủy tổ chức tập kích Võ Văn Dũng ở Thị Nại. Quân hai bên giao chiến rất ác liệt. Lúc bấy giờ quân bộ của Nguyễn Văn Thành và Võ Tánh với quân thủy của Nguyễn Vương chưa thông được với nhau. Các tướng thống binh của hai bên đều là tướng tài, chiến sự rất ác liệt giằng co không phân thắng bại.

Năm Tân Dậu (1801). Nguyễn Du 36 tuổi. 

Chúa Nguyễn cùng cánh quân thủy của Lê Văn Duyệt và các tướng là Nguyễn Văn Trương, Tống Phước Lương, Võ Di Nguy đánh chiếm cửa biển Thị Nại. Tướng Võ Di Nguy bị trúng đạn chết lúc lâm trận, Lê Văn Duyệt trong mưa đạn liều chết hãm trận, càng gắng sức đánh, đốt phá gần hết binh thuyền Tây Sơn. Trận Thị Nại được khen là “võ công đệ nhất” của Nhà Nguyễn, và là “võ công lớn nhất” của Lê Văn Duyệt. Thủy quân Tây Sơn của danh tướng Võ Văn Dũng bị quân Nguyễn Ánh đánh bại, tàu lớn và chiến thuyền đều bị thiêu rụi. Võ Văn Dũng lên bộ, hợp quân với Trần Quang Diệu tiếp tục vây Quy Nhơn. Quân đôi bên đánh nhau rất quyết liệt thì vừa có tin Gia Định báo ra là Đông cung Cảnh bị bệnh đậu mùa đã mất. Nguyễn Vương đau đớn sai Nguyễn Văn Nhơn, Nguyễn Tử Châu thay thế giữ công việc trấn thủ Gia Định và lo liệu việc tang. Tháng sau hoàng tử thứ hai tên là Hi cũng mất ở Diên Khánh, đem về táng ở Gia Định. Nguyễn Ánh sai tướng chỉ huy đạo Trung doanh là Nguyễn Văn Trương tấn công Quảng Ngãi và Quảng Nam. Đô đốc Tây Sơn tên là Tuấn phải bỏ chạy. Đại đô đốc Tây Sơn là Nguyễn Văn Xuân và Thiếu úy Văn Tiến Thể liều chết cố thủ. Trương cho quân vòng ra phía sau đánh úp, quân Tây Sơn buộc phải tháo chạy. Nguyễn Vương sai Tống Viết Phước và Phạm Văn Nhơn đem binh thuyền tiến gấp ra cửa biển Đà Nẵng phối hợp tác chiến. Đại đô đốc Nguyễn Văn Toản quê huyện Bình Sơn Quảng Ngãi đang quản sáu đạo quân Quảng Ngãi vây Quy Nhơn đã lén theo hàng Nguyễn Ánh và được Nguyễn Vương cho giữ chức Lưu thủ Quảng Ngãi. Vua Cảnh Thịnh được tin chiến sự cấp báo bèn triệu Trần Văn Kỷ vào định kế ngăn chặn quân Nam đánh ra Bắc. Trần Văn Kỷ tâu: Lực lượng tinh nhuệ quân Tây Sơn nay đang vướng bận vây thành Quy Nhơn và bị cắt đường về không thể ứng cứu, trong khi Nghệ An bị người Vạn Tượng, Trấn Ninh kéo xuống quấy nhiễu. Quân lực ở Quảng Bình và Quảng Trị chỉ đủ trấn giữ địa phương, nên Phú Xuân không còn quân dự bị để ngăn quân Nam tiến ra. Vua cần mời gấp La Sơn Phu Tử về vấn kế. Gặp vua,  La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp nói ngay: “Song Ngư thủy thiển. Nguyễn thị hoàn lương” (Song Ngư nước cạn. Họ Nguyễn về làng). “Xin bệ hạ gấp dời đô về Nghệ An, ngõ hầu còn kịp” vua Cảnh Thịnh sợ rối loạn lòng quân dân nên do dự chưa quyết. Trần Văn Kỷ hiến kế cho vua là cử Phò mã Nguyễn Văn Trị đóng đồn trọng binh ở cửa Thuận An, đắp lũy đóng cọc rào để chặn thủy quân Nguyễn Vương, lại lệnh cho Đại đô đốc Nguyễn Văn Xuân và Thiếu úy Văn Tiến Thể thu thập quân mã tiến đánh Nguyễn Văn Trương để khôi phục lại Quảng Nam làm thanh viện cho quân Tây Sơn đang vây thành Quy Nhơn. Xuân  và Thể nghe lệnh đã thu thập binh mã, trước dụ hàng và sau tiến đánh quân Nam của Nguyễn Văn Trương nhưng bị thua nên buộc phải cố thủ. Tháng 4 âm lịch năm 1801, nhận thấy quân tinh nhuệ của Tây Sơn đều ở cả Quy Nhơn mà lực lượng ở Phú Xuân (Huế) thì rất yếu ớt, Nguyễn Ánh đốc suất toàn bộ thuỷ quân và trên 1.000 chiến thuyền, thuận theo gió nam vượt biển ra phía bắc, đánh thẳng vào cửa Thuận An. Quân Tây Sơn địch không nổi và tan vỡ. Cảnh Thịnh dốc hết tướng sĩ, tự mình cầm quân tới đánh nhau với quân Nguyễn. Gần trưa, quân Tây Sơn đại bại, vỡ chạy tan tác. Quân chúa Nguyễn chiếm lại đô thành, tướng Lê Văn Duyệt bắt sống Phò mã Nguyễn Văn Trị và Đô đốc Phan Văn Sách. Ngày 3 tháng 5 (tức ngày 15 tháng 6 năm 1801),  Nguyễn Vương tiến vào nội thành Phú Xuân sau khi đánh tan đội thủy quân của nhà Tây Sơn, khiến vua Cảnh Thịnh phải tháo chạy ra Bắc. Một số quan tướng triều Cảnh Thịnh ra hàng, có người được dùng có người bị giết. Vua Gia Long nói: “Bọn khanh trình bày, cố nhiên là có ý phòng ngừa từ trước. Nhưng từ khi ta lấy lại Phú Xuân, bọn tướng giặc đầu hàng có, bắt được cũng có, ta đã tùy nghi xếp đặt, quân của chúng cho xen lẫn với quân ta, dưới quyền quan ta cai quản. Bọn chúng bất quá cai quản năm ba tên thuộc binh mà lệ theo súy phủ, phỏng có mang lòng phản trắc cũng không thi hành vào đâu. Bọn khanh ở quân thứ xa, chưa rõ sự cơ, nên đặc dụ cho biết”. Nguyễn Vương vừa chiếm Phú Xuân đã lập tức sai Tiết chế Lê Văn Duyệt (có Lê Chất đi theo) đem quân bộ và Tống Viết Phước đem quân thủy, bất kể ngày đêm gấp đường vào cứu Bình Định. Lê Văn Duyệt dọc đường đánh thắng nhiều trận nhưng rốt cuộc không kịp cứu Quận Công Võ Tánh và Lễ Bộ Ngô Tùng Châu. Hai ông vì lương hết, nên đều đã tuẫn tiết vào cuối tháng 5 âm lịch năm 1801. Chúa Nguyễn xét công phong Lê Văn Duyệt làm “Thần sách quân Chưởng tả dinh Đô thống chế Quận Công”, phong cho Lê Chất làm tướng dưới quyền, để cùng mang quân đi thu phục các nơi. Nguyễn Quang Toản sau khi thua trận, chạy ra Nghệ An ở lại vài ngày, rồi vội ra Thăng Long hội họp tướng sĩ, lo việc chống giữ. Tháng 8 năm đó, vua Quang Toản ở Thăng Long đổi niên hiệu Cảnh Thịnh làm năm đầu niên hiệu Bảo Hưng. Tháng 11, vua đem quân và voi của 6 trấn Hải Dương, Sơn Tây, Sơn Nam, Kinh Bắc, Thanh Hoa, Nghệ An vào đánh, nhưng bị quân nhà Nguyễn đánh thua, lại phải rút về.

Năm Nhâm Tuất (1802). Nguyễn Du 37 tuổi.

Mùa xuân năm 1802, quân nhà Nguyễn qua sông Gianh tiến đánh, hạ được đồn Tâm Hiệu thuộc châu Bố Chính. Quân Tây Sơn tan vỡ, chạy về doanh Hà Trung trong hạt Kỳ Anh. Tháng 5 năm này, Nguyễn Ánh hạ chiếu đổi niên hiệu làm năm đầu niên hiệu Gia Long. Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng sau khi hạ được thành Quy Nhơn liền đem quân về đánh Phú Xuân. Khi Diệu đem quân ra khỏi địa giới Quy Nhơn thì bị tướng của nhà Nguyễn là Đắc Lộc hầu chặn lại. Quân của Trần Quang Diệu đánh phá nửa ngày nhưng không thể hạ được với vô số người chết và bị thương. Diệu đành đem quân theo đường núi vào Ai Lao, định ra Nghệ An. Được tin, Nguyễn Ánh lập tức cắt đặt các tướng, thống lĩnh các đạo quân thuỷ bộ, hẹn ngày kéo ra Bắc. Ngày 28 tháng 5, thuỷ quân của nhà Nguyễn tới cửa biển Đan Nhai thuộc Nghệ An, tiến đánh và phá được đồn Quần Mộc. Quân bộ cũng tiến đến phía nam sông Thanh Long rồi vượt sang bờ phía Bắc. Hai mặt thuỷ bộ đều tiến công, quân Tây Sơn bỏ chạy tán loạn. Quân nhà Nguyễn bèn xông lên cướp kho thóc Kỳ Lân. Trấn thủ của nhà Tây Sơn là Nguyễn Văn Thận cùng với hiệp trấn Nguyễn Triêm, thống lĩnh Nguyễn Văn Đại, thiếu uý Đặng Văn Đằng bỏ thành chạy ra miền Bắc. Đến đồn Tiên Lý, Nguyễn Triêm tự thắt cổ; còn Nguyễn Văn Thận chạy ra trấn Thanh Hoa. Quân nhà Nguyễn lấy được thành Nghệ An. Trần Quang Diệu ở Quỳ Hợp xuống đến địa phận Hương Sơn thì nghe tin Nghệ An đã thất thủ, bèn đến Thanh Chương, qua sông Thanh Long,  rồi chạy ra trấn Thanh Hoa. Tướng sĩ đi theo Diệu dần dần tản mát mỗi người một nơi. Quân nhà Nguyễn đuổi kịp, bắt sống được Diệu. Tháng 6, quân nhà Nguyễn tiến đánh thành Thanh Hoa. Em vua Quang Toản là đốc trấn Nguyễn Quang Bàn cùng Nguyễn Văn Thận, Đặng Văn Đằng đều đầu hàng. Ngày 18, Nguyễn Ánh tiến ra Thăng Long, quân Tây Sơn hoàn toàn tan vỡ. Nguyễn Quang Toản bỏ thành cùng với em là Nguyễn Quang Thùy và đô đốc Tú qua sông Nhĩ Hà chạy về hướng bắc. Sau đó, Quang Thùy và vợ chồng Tú đều tự thắt cổ. Còn vua cùng các bề tôi đều bị thổ hào Kinh Bắc bắt được đóng cũi giao nộp cho Nguyễn Ánh. Quan lại của nhà Tây Sơn ở các trấn hoặc trốn, hoặc hàng, không ai dám chống lại. Vua Gia Long vài tháng sau về lại Phú Xuân, sửa lễ cáo miếu dâng tù, đem Nguyễn Quang Toản ra dùng cực hình giết chết, rồi bố cáo cho khắp cả nước đều biết. Quang Toản cùng những người con khác của anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đều bị Gia Long sai dùng cực hình 5 voi xé xác. Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc cũng bị trả thù rất dã man: Mồ mả bị khai quật, hài cốt bị giã nát vứt đi; đầu lâu của Nhạc, Huệ, Toản và mộc chủ của vợ chồng Nguyễn Huệ đều bị giam ở nhà Đồ Ngoại, sau lại đưa vào cấm cố vĩnh viễn trong ngục thất (Nơi ấy, nay thuộc địa điểm Trường Đại học Nông Lâm Huế). Quang Toản khi bị hành hình, mới 19 tuổi. Triều đại Tây Sơn chấm dứt.

huongtichnuihong
NGUYỄN DU ỨC GIA HUYNH

Nhớ Anh
Nguyễn Du thơ chữ Hán ,
Nhất Uyên dịch thơ.

Lục Tháp thành Nam buộc chức quan,
Gập ghềnh đá vượt Hải Vân đêm.
Chướng lam ba tết xa, đồn trú,
Hoa khói tháng hai , nhớ cố hương.
Một biệt phương nào ai biết nhỉ ?
Kiếp sau hẹn đến cuộc tương phùng;
Biển trời mù mịt đường ngàn dậm,
Trong mộng tìm nhau cũng khó khăn.

Ức gia huynh
Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Lục Tháp thành Nam hệ nhất quan,
Hải Vân dạ độ thạch toàn ngoan.
Cùng xu lam chướng tam niên thú.
Cố quốc yên hoa nhị nguyệt hàn.
Nhất biệt cách tri hà xứ trú,
Trùng phùng đương tác tái sinh khan.
Hải thiên mang điểu thiên dư lý,
Thần phách tương cầu mộng diệc nan.


Chú thích:
Lục tháp thành: chỉ thành Bình Định, có 8 cụm tháp, nhưng chỉ có 6 cụm ở gần đường chỉ thấy có sáu nên người xưa gọi là thành Lục Tháp.
Hải Vân đèo nằm giữa Thừa Thiên và Quảng Nam rất hiểm yếu nên được gọi là Đệ Nhất Hùng Quan.

Nguyễn Du viết bài thơ ‘Nhớ Anh’ năm 1794 gửi Nguyễn Nể làm Hiệp Tán Nhung Vụ Quy Nhơn trong sự so sánh với các bài thơ khác của danh sĩ đương thời càng thấy trí tuệ đặc biệt minh triết của Nguyễn Du bậc trí tướng hào kiệt lỗi lạc, có tầm nhìn thật xa rộng, lánh họ. Nguyễn Du viết thơ Ức gia huynh (Nhớ anh) là ở thời Nam Hải Điếu Đồ (1791-1796) . Đọc bài thơ “Ức gia huynh” để hiểu những góc khuất của minh triết bảo thân trong gia đình Nguyễn Du mà sự thật cho đến nay còn rất ít được công bố. Nguyễn Nể trung trinh với vua Lê nhưng tại sao lại làm đại quan cao cấp cho Tây Sơn?. Ông là danh sĩ tinh hoa ‘dĩ công vi thượng” lấy thế nước lòng dân, trung hiếu làm đầu. Nguyễn Nể (1761-1805) là anh cùng cha khác mẹ với Nguyễn Du. Ông đặc biệt yêu thương Nguyễn Du, Nguyễn Nể cũng rất thân thiết với Nguyễn Khản, Nguyễn Điều, Nguyễn Quýnh, Vũ Trinh, Đoàn Nguyễn Tuấn, Hà Mỗ. Họ là những anh em cùng gia tộc hoặc anh em rể (hoặc như Hà Mỗ là cha nuôi và tùy tướng của Nguyễn Du, vị thế Hà Mỗ như vị tướng già bên cạnh Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản đời trước). Nguyễn Nể tự là Tiến Phủ, hiệu Quế Hiên,  thi đậu đầu khóa Quốc Tử Giám, đậu đầu thi hạch, đậu Tứ Trường thi Hương năm 1779, Nguyễn Nể được bổ vào Thị Nội Văn thường trực tại nhà học của con chúa Trịnh Sâm, là bạn thiết của Trịnh Tông, sau Nguyễn Nể cai quản đội quân Nhất Phẩm kiêm Trị thị nội thư tả của phủ chúa Trịnh. Năm 1783, Nguyễn Nể làm Hiệp tán quân cơ đạo quân Sơn Tây. Năm 1786 vua Lê Quý Kỳ trực tiếp nắm lại chính sự nhất thống thì Lê Quýnh và Nguyễn Nể được vua Lê tin cẩn “ngày đêm cùng họ trù tính mọi công việc, ngay cả những mưu kế phải dùng đến trong lúc bối rối bất ngờ, cũng được lo toan chu đáo” (Hoàng Lê Nhất Thống Chí trang 179). Nguyễn Nễ sau khi thời gian 1788, khi Tôn Sĩ Nghị sang chiếm nước ta, vua Lê Chiêu Thống thanh trừng những người cộng tác với nhà Tây Sơn thì rất nhiều người bị đục bỏ tên trong bia tiến sĩ nhưng Nguyễn Nể không có trong danh sách những người bị tội. Năm 1789 vua Quang Trung ra Bắc đánh bại Tôn Sĩ Nghi quét sạch quân Thanh ra khỏi bờ cõi, Nguyễn Nể được vời ra bổ làm Hàn Lâm Thị Thư và làm Phó Sứ sang Trung Quốc cầu phong nhà Thanh cho Vua Quang Trung, Vũ Huy Tấn làm Chánh Sứ, sứ đoàn còn có Ngô Vi Quý, Nguyễn Đình Cử, Nguyễn Quang Hiến … Trong cuộc đi sứ, vua Càn Long mời dự yến ở Các Tứ Quang ông làm thơ chúc mừng, vua Càn Long thưởng cho một tấm đoạn, hai thỏi mực và 3 tập hoa tiên lụa. Trở về được thăng Đông Các Học Sĩ, Thái tử Tả Thị Lang, Nghi Thành Hầu, được giao việc cai trị tại Bắc Hà. Nguyễn Nể năm 1794 được nhà Tây Sơn vời vào Phú Xuân làm việc Viện Cơ Mật.  Ông giao phó tiền bạc cho hai em là Nguyễn Du và Nguyễn Ức về xây dựng lại từ đường, đền thờ, cầu Tiên, chùa Trường Ninh làng Tiên Điền bị Hiệp Trấn Tây Sơn Lê Văn Dụ đốt phá nhân vụ Nguyễn Quýnh khởi nghĩa. Nguyễn Nể sau đó được phong Tả phụng Nghi Bộ Binh, hàm Tam phẩm, được cử làm Hiệp Tán Nhung vụ Quy Nhơn. Năm 1795 Nguyễn Nể được cử làm Chánh Sứ của triều Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản sang dự lễ vua Càn Long nhường ngôi cho con là vua Gia Khánh. Nguyễn Nể dâng hai bài thơ ứng chế được vua Càn Long đích thân mời uống rượu và dự yến Các Tử Quang. Nguyễn Nể được vua Càn Long khen thơ và ban thưởng : gấm đoạn, trà sen, gậy tuổi già, ngọc như ý, tứ bửu.. Cháu 24 đời Chu Văn Công tri phủ Tứ Thành tặng bốn chữ Thiên Môn Tái Đăng (hai lần lên cổng trời). Nguyễn Nể mùa thu 1796 sau khi sứ đoàn về nước được vẻ vang vì cả hai lần được vua Càn Long và triều đình nhà Thanh kính trọng. Ông là “Quế Hiên Nguyễn Nể đỉnh núi cao thi trận nước Nam” được vua Cảnh Thịnh ban thưởng 40 mẫu ruộng, giữ chức Đông Các đại học sĩ, gia tặng Thái sử, Tả Thị Lang, tước Nghi Thành Hầu, chức vụ dâng sách cho vua Cảnh Thịnh mới lên mười hai tuổi, đọc và giảng nghĩa cho vua nghe sách Tiểu Học Diễn Nghĩa do La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp và Sùng Chính Viện vừa mới soạn xong. Ngoài ra còn các công việc giúp vua soạn các chiếu biểu, và kiêm các công việc Cơ Mật Viện, và chức vụ cuối cùng được thăng tới chức Trung Thư lĩnh hữu đồng nghị, chức vụ ngang hàng với quân sư Trần Văn Kỷ. Năm 1794, Nguyễn Nễ đang làm Tả Phụng Nghị Bộ Binh bên cạnh vua Cảnh Thịnh, trong Cơ Mật Viện có Tả hữu Trung Thư là Trần Văn Kỷ và Nguyễn Nể, do sự sự xung của triều đình bởi Bùi Đắc Tuyên tiếm quyền nên đày Trung Thư Trần Văn Kỷ làm lính thú ở Hoàng Giang, Nguyễn     Nể nhân đó xin đi trấn nhậm Quy Nhơn đất khởi nghiệp triều Tây Sơn, và Nguyễn Du đã có ý vào Nam từ dịp ấy. Ngô Thời Nhậm từ quan Binh bộ thượng thư và chủ trì các chính sách ngoại giao nhà Tây Sơn với Trung Hoa năm 1794 xin về đi tu theo đạo Phật làm Hải Lượng Thiền Sư. Phan Huy Ích cũng từ quan Thị trung Ngự sử ở tòa Nội các và Thượng thư bộ Lễ về đi tu và sau mất tại làng Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An, (nay thuộc xã Thạch Châu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh).

Bài Tiễn ông Tả Phụng Nghị Bộ Binh Nghi thành hầu
họ Nguyễn đi thành


Phan Huy Ích thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Sông núi Hoan gấm vóc,
Chung đúc bậc kỳ nhân.
Rạng rỡ quê đạo đức,
Điềm lành sinh phượng lân.
Tiến thủ biết khí phách.
Từ trẻ tỏ xuất sắc,
Cơ trí từng trải đời,
Đức độ rộng kiến thức.
Khí tiết như tùng bách,
Phẩm chất mài như ngọc.
Bản lĩnh tự tín trung,
Hành động thường lỗi lạc.
Hiểu lý tận tóc tơ,
Nói chuyện người bén sắc.
Làm bạn khắp thế gian,
Gắn bó như ruột thịt.
Nhìn rõ việc thiên hạ,
Nắm vững để vận hành.
Tạo hóa tính kỳ lạ,
Giao trách nhiệm xứng danh.
Gặp gỡ thánh minh trị;
Đi thăm gióng ngựa quý.
Học thức vua nể vì,
Nơi thanh toả dốc trí.
Ba năm dạo gươm đàn,
Thơ rượu thường vui vẻ.
Đấng trượng phu công danh,
Chí dũng giữ đúng thể.
Phía Nam biển mênh mang,
Đất mới triều khai thác.
Ấp thang mộc Quy Nhơn,
Anh tài nơi then chốt.
Dân vỗ về yên ổn,
Uy danh quân lẫy lừng,
Triều đình cần người trấn,
Khẳng khái đến cầm quân.
Lòng hùng khí độc tan,
Thanh cao tiếng hạc đàn.
Thị Nại sóng cuồn cuộn,
Cù Mông mây mác man.
Chí bốn phương thoả nguyền,
Mài núi khắc thơ hùng.
Bài khải ca tấu khúc,
Miếng đỉnh chung thấm ơn.
Nâng chén rượu lên đường,
Kẻ ở lòng thấy thẹn.


Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Tiễn Binh Bộ Tả phụng nghị Nghi thành Nguyễn hầu
phó Quy Nhơn thành


Ngã Hoan hảo giang sơn,
Chung bẩm đa kỳ trác.
Thế đức diệu tiên hương,
Nhân thụy xuất lân nhạc.
Tiến phủ bão tài khí,
Diệu linh kiến đầu giác,
Cơ thức tảo duyệt thục,
Khí thế du hoành bác.
Tùng tiết nại nghiêm ngưng,
Ngọc chất kinh ma trác.
Bản lĩnh tự trung tín,
Động tức thường lỗi lạc.
Chúc lý cập hào mang
Lập đàn sinh phong ngọc.
Biến giao thế gian nhân,
Hệ thuộc vi tâm lạc.
Nhàn thị thiên hạ sự,
Vận dụng tại chưởng ác.
Tạo hóa dữ kỳ phẩm,
Giáng nhậm lương bất thác.
Tao tế thánh minh thì,
Tuân tư giá hoa lạc.
Vọng học vu thần cố,
Chu tuyền thanh tỏa các.
Tam niên cầm kiếm du,
Ngâm chước bất cải lạc.
Trượng phu pho công danh,
Bỉnh chí há đoan xác.
Hạo diểu hải chi nam,
Hy đại tân khai thác.
Quy Nhơn thang mộc địa,
Khu hoản ỷ khôi thạc.
Dân dung sơ phủ tập,
Quân thanh phương trấn bạc.
Triều đình trọng hành biên,
Khẳng khái tựu nhung mạc.
Tráng tâm tễ yên lam,
Thanh khiếu đái cầm hạc.
Thị Nại đào hung dũng,
Cù Mông vân lạc mạc.
Huyền hồ thù sơ chí,
Ma nhai lặc giai tác.
Khải ca tấu kỳ huân,
Chung đỉnh đàm tân ác.
Bả bôi tống chinh huy,
Cư giả diệc tâm tạc.


Sau khi Nguyễn Du thăm anh cuối năm 1796, Nguyễn Nể xin về quê Nghệ An là hiệp trấn tham mưu cho Nguyễn Thận, xa dần kinh đô. Nguyễn Nể can thiệp cho Nguyễn Du ra tù sau khi toan trốn vào Nam theo Nguyễn Ánh. Theo nhà nghiên cứu Phạm Trọng Chánh “Nguyễn Du- Người đi săn núi Hồng” và “Quế Hiên Nguyễn Nể” thì lí do Nguyễn Nể năm 1797 được rời Phú Xuân là  Nguyễn Nể xin đi xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô tại Nghệ An cùng Trần Quang Diệu và Trấn Thủ Nguyễn Văn Thận. (***) Vũ Trinh (1769-1828) là Chánh Sứ phụ trách mọi công việc bang giao của nhà Lê đối với Tôn Sĩ Nghị. Suốt triều Tây Sơn, (1789- 1801) Vũ Trinh lánh thân ở Hồ Sơn vùng Hà Nam ngày nay, dạy học và soạn sách. Khi Nguyễn Ánh lên ngôi, Vũ Trinh được mời ra tham chính, nhận chức Thị Trung Học sĩ được thăng Hữu Tham Tri Bộ Hình năm 1807 làm Chánh Sứ cùng Ngô Nhân Tĩnh đi sứ nhà Thanh. Năm 1816 ông có ý bênh vực cho học trò ông là Nguyễn Văn Thuyên, con Tổng Trấn Nguyễn Văn Thành nên bị đày đi Quảng Nam 12 năm, đến năm 1828 mới được ân xá, trở về quê vài ngày thì bị bệnh mất hưởng dương 59 tuổi.

HÀNH LẠC TƯ BI TRÁNG

Nguyễn Du đi săn ở núi Hồng ‘Hồng Sơn Liệp Hộ’ (1797-1802) viết thơ My trung mạn hứng sau khi bị Quận công Nguyễn Thận bắt giam ba tháng ở Nghệ An mùa đông năm Bính Thìn (1796) về tội danh định trốn vào Nam với chúa Nguyễn Ánh, sau được tha về ông sống ở Tiên Điền. Nguyễn Du thơ chữ Hán, bài “Đi săn” Nhất Uyên dịch thơ: “Kẻ đạt quan trường chí đỉnh mây, Còn ta vui thú với hươu nai. Cốt lòng thư thái không mong được, Không hại điều nhân diệt các loài. Xạ ngủ cỏ thơm hương ướt ẩm, Núi xa, chó sủa tiếng ngoài tai. Thú vui phù thế âu tùy thích, Xe đón lọng che ấy những ai ?”.Bài Liệp “Đi săn” Nguyễn Du viết : “Những người áo mũ hiển đạt để chí mình ở đường mây, còn ta, ta vui với bầy hươu nai của ta, cốt là để khuây khỏa trong lúc nhàn chớ đâu phải ham được thịt thú. Diệt trừ giống khác hại chăng đến đức nhân ? Con xạ ngủ nơi đồng cỏ non hương thơm còn ướt. Con chó vượt qua nhiều lớp núi, tiếng sủa không còn nghe thấy. Tìm thú vui chơi trong cuộc phù sinh mỗi người một sở thích. Những người lọng đón xe đưa là người nào thế nhỉ ?” Nguyễn Hành viết về Phi Tử Nguyễn Du trong bài Ca tụng việc đi săn (Trương Chính. Thơ chữ Hán Nguyễn Du  Nxb Văn Học, Hàn Nội 1965,  tr 38) : Đó là ông nói việc đi săn của người tầm thường, chứ ông đâu có biết việc đi săn của bậc đại nhân. Bậc đại nhân đi săn không ở chỗ đi săn. Họ nhỡn nhơ chỗ nọ chỗ kia, ngắm núi ngắm rừng. Họ trèo lên đỉnh cao để nhìn vực thẳm, tắm gội nơi suối trong, thơ thẩn giữa cây tùng cây bách, nhìn tạo vật biến hóa, đùa giỡn với hươu nai, do đó mà tinh thần được thư thái, ý chí được trau giồi, lòng dạ thảnh thơi không bận bịu, mây nhẹ nhàng luồn trong tay áo, gió phất phơ thổi đưa tà áo, trông thấy kinh kỳ trong gang tấc, hứa hẹn những cuộc ngao du. Bậc đại nhân đi săn như thế, người tục đâu có biết !

Năm Đinh Tỵ (1797). Nguyễn Du 32 tuổi. Vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản đã cử Lê Trung làm tướng trấn giữ Quy Nhơn và điều Trần Quang Diệu về hầu việc trong triều. Bốn tứ trụ triều đình Cảnh Thịnh là Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng, Nguyễn Văn Huấn và Nguyễn Văn Danh. Thế nhưng tướng Trần Quang Diệu bị người ta dèm pha là uy quyền quá lớn sắp có mưu đồ khác nên vua Cảnh Thịnh đã điều chỉnh như vậy. Trần Quang Diệu lo sợ nên cáo bệnh không vào chầu mà đốc suất thủ hạ thân tín canh phòng tự vệ suốt ngày đêm.

Nguyễn Vương truy quét thổ phỉ người Thượng, phủ dụ dân tình ở vùng núi và tìm hiểu tướng trấn giữ các nơi. Nguyễn Vương được tin mật báo nội tình Tây Sơn cả mừng, tập hợp các tướng bàn định việc ra quân. Nguyễn Vương  để Tôn Thất Hội giữ thành Gia Định, sai Nguyễn Văn Thành, Võ Tánh, Nguyễn Đình Đắc theo đường bộ đánh thẳng ra Phú Yên, Quy Nhơn, còn tự mình thì cùng với hoàng tử Cảnh và tướng Nguyễn Văn Trương đem đại binh thuyền đánh ra Quy Nhơn. Quân thủy của Nguyễn Vương tiến sâu vào cửa Thị Nại. Vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản ra lệnh cho Nguyễn Văn Huấn mang toàn quân ra chống cự, phục chức cho Trần Quang Diệu sai giữ cửa Thuận để làm thanh ứng.

Nguyễn Vương tấn công quyết liệt quân Tây Sơn mấy tháng ròng ở Bình Định không phân thắng bại, thấy sự phòng thủ chặt chẽ, liệu sức không đánh đổ được bèn kéo binh thuyền ra đánh phá Quảng Nam, nhưng cũng không giành được thế thắng và quân nhu không đủ, bèn rút về Gia Định, sai Nguyễn Văn Thành giữ chức khâm sai tiền tướng quân và Đặng Trần Thường làm hiệp tán quân vụ ở lại giữ thành Diên Khánh.

Nguyễn Vương theo mưu kế của Đặng Trần Thường, một mặt sai Nguyễn Văn Thụy sang Thái Lan báo tin thắng trận cho vua Thái và nhờ quốc vương nước này xuất binh theo đường bộ Lào với sự dẫn đường của Thụy để tấn công Thuận Hóa từ hướng Tây  hoặc cho quân đột phá Nghệ An để chặn đường quân Bắc Hà vào cứu viện. Quân sĩ Nguyễn Vương cũng sẽ phối hợp tấn công ở hai mặt Đông và Nam. Mặt khác, Nguyễn Vương cũng sai binh bộ tham tri Lưu Nhân Tĩnh sang sứ nhà Thanh vừa do thám tình hình vừa trao trả lại cho nhà Thanh một số tàu thuyền mượn tiếng là thu được của quân Tàu biển “Thiên Địa Hội” phản Thanh phục Minh nhằm lấy lòng vua nhà Thanh vừa tố cáo Nguyễn Huệ nhà Tây Sơn trước đây trong thì tiếm xưng là hoàng đế Quang Trung, ngoài thì giả cách thuần phục nhà Thanh, nhưng lại ngấm ngầm tiếp tay cho quân phỉ biển “Thiên Địa Hội” để gây chia rẽ nhà Thanh với nhà Tây Sơn. Mặt khác Lưu Nhân Tĩnh cũng tìm mọi cách liên kết với các cựu thần nhà Lê, tầng lớp sĩ phu và những người vốn có oán thù với nhà Tây Sơn để tăng thêm thanh thế và đồng minh.  

Ngô Nhân Tĩnh vừa đi khỏi thì “phụ quốc nguyên công’ Tôn Thất Hội là tướng giỏi của Nguyễn Vương bị ốm nặng và mất. Nguyễn Ánh theo lời của quốc thúc Tôn Thất Thăng đã đưa hoàng tử Cảnh với sự trợ giúp của Bá Đa Lộc và Tống Viết Phước ra trấn giữ Diên Khánh, thay thế cho các tướng Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Tính và Đặng Trần Thường được gấp rút trở về Gia Định luyện quân để chuẩn bị cho chiến dịch mới.

Nguyễn Du từ đầu năm 1997 đã về sống hẳn ở Tiên Điền. Theo Gia phả Nguyễn tộc tính toán năm sinh các con của Nguyễn Du thì năm 1977 Nguyễn Du về sống với vợ là cô Đoàn Nguyễn Thị Huệ (còn gọi là Tộ) là em gái của Đoàn Nguyễn Tuấn. Nhưng theo Nguyễn Trung Chánh thì lúc đầu có lẽ là ông vẫn độc thân sau mới lấy vợ là em của Đoàn Nguyễn Tuấn, bạn thân của Nguyễn Du. Hồ Xuân Hương là Hồ Phi Mai cũng khoảng năm 1796 mẹ gả chồng cho một thầy lang gần Cổ Nguyệt Đường (*) làng Nghi Tàm.  Lưu Hương Ký sau này đă cắt nghĩa nguyên do có điều đau xót ấy.

Thơ Hồ Xuân Hương chép trong Lưu Hương ký

Họa Thanh Liên Chí Hiên nguyên vận

Khúc hoàng tay nguyệt còn chờ dạy,
Cánh phượng đường mây đã vội chi.
Chua xót lòng xem lời để lại,
Hững hờ duyên bấy bước ra đi.
Thử vàng đá nọ treo từng giá,
Phong gấm hoa kia nở có thì,
Đào thắm mận xanh còn thú lắm,
Xuân ơi đành nở đứt ra về..

Thạch đình tặng biệt

Đường nghĩa bấy lâu trót vẽ vời,
Nước non sầu nặng muốn đi về.
Cung hoàng dịu vợi đường khôn lọt,
Đường nguyệt mơ màng giấc hãy mê.
Đã chắc hương đâu cho lửa bén,
Lệ mà hoa lại quyến xuân đi.
Xanh vàng chẳng phụ lòng ân ái,
Tròn trặn gương tình cũng có khi …

Thơ chữ Nôm Thanh Hiên Nguyễn Du
Hồ Xuân Hương chép trong Lưu Hương ký.

Nguyễn Du thơ người đi săn núi Hồng

Nguyễn Du làm Hồng Sơn Liệp Hộ ở Tiên Điền. Ba bài Tạp ngâm cho ta thấy cảnh sống nhà thơ tại bên bờ sông Quế Giang.

Tạp ngâm I
Nguyễn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ.

Tiếng thu một tối vượt Lam Hà,
Vô ảnh vô hình đến với ta.
Muôn dậm Tây phong đầu bạc tóc,
Một song thu sắc cúc vàng hoa.
Trăm năm vui khổ bao giờ hết,
Bốc vách thi thư mấy cũng vừa.
Trước ngõ cội tùng trăm thước đứng,
Chúa Xuân ghen có được gì a ?

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Tạp ngâm I

Thu thanh nhất dạ độ Lam hà,
Vô ảnh vô hình nhập ngã gia.
Vạn lý Tây phong lai bạch phát,
Nhất song thu sắc tại hoàng hoa.
Bách niên ai lạc hà thời liễu ?
Tứ bích đồ thư bất yếm đa.
Đình thực cô tùng cao bách xích,
Bất tri thanh đế nại nhân hà ?

Chú thích:
Lam hà : tức sông Lam
Thanh đế: thần mùa xuân, còn gọi Đông đế hay Đông quân. Ý nói cây thường xanh tươi mùa xuân, tiêu điều rụng lá mùa thu, nay trồng một cây tùng xanh tươi suốt năm, chẳng hay chúa Xuân có làm gì được người trồng cây tùng không ?
Xích:  thước đo ngày xưa bằng ba gang tay.

Tạp ngâm 1 (dịch nghĩa)

Tiếng thu một tối vượt qua sông Lam,
không bóng không hình lọt vào nhà ta.
Gió Tây muôn dậm làm cho mái tóc thêm bạc.
Sắc thu đầy trên cửa sổ trên khóm hoa vàng.
Cuộc vui buồn trăm năm bao giờ hết ?
Sách vở đầy bốn vách, bao nhiêu cũng vừa.
Trước sân trồng một cây tùng cao trăm thước,
không biết chúa Xuân sẽ làm gì được người .

Bài này cho thấy số sách vở họ Nguyễn Tiên Điền không cháy hết còn lại một hai  phần mười mà vẫn còn lại một số chất đầy bốn vách. Đáng tiếc nhất là bộ sưu tập thơ văn của Đoàn Thị Điểm của cụ Nguyễn Nghiễm bị cháy.

Tạp ngâm II
Nguyễn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Long Vĩ đầu sông nhà một gian,
Ẩn sầu chót vót bỗng vui tràn.
Đạt nhân lòng tỏ như trăng sáng,
Xử sĩ trước nhà vọng núi xanh.
Gối sách đỡ thân nằm bệnh tật,
Bên đèn rượu nhắp thắm dung nhan.
Suốt ngày bên bếp không đun lửa,
Ngoài song no với khóm hoa vàng.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt

Tạp ngâm  II

Long Vĩ giang đầu ốc nhất gian,
U cư sầu cực hốt tri hoan.
Đạt nhân tâm cảnh quang như nguyệt,
Xử sĩ môn tiền thanh giả san.
Chẩm bạn thúc thư phù bệnh cốt,
Đăng tiền đẩu tửu khởi suy nhan.
Táo đầu chung nhật vô yên hỏa,
Song ngoại hoàng hoa tú khả xan.

Tạp ngâm II (dịch nghĩa)

Đầu sông Long Vĩ có một gian nhà,
ở ẩn buồn đến cực độ, bỗng thấy vui.
Cõi lòng người khoáng đạt sáng tỏ như vầng trăng.
Trước cửa nhà ẩn dật toàn là núi xanh.
cạnh gối có chồng sách đỡ tấm thân bệnh tật.
Trước đèn uống chén rượu cho vẻ mặt tiều tụy vui tươi  lên.
Suốt ngày bếp không đỏ lửa,
ngoài cửa sổ hoa cúc vàng tươi tốt có thể ăn được.

Tạp ngâm III
Nguyễn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Tháng tám thu tàn vương mác man,
Khí trời nửa nắng mây mênh mang.
Gió đùa cao trúc trời vang sáo,
Mưa ướt  hoàng hoa đất rãi vàng.
Núi lạnh gió lùa du tử mộng,
Đầm sâu trong suốt chủ nhân lòng.
Cửa ngoài dạo gót nhìn thu sắc,
Thoáng nửa đầu sông, rừng lá phong.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Tạp ngâm III

Mạc mạc thu quang bát nguyệt thâm,
Mang mang thiên khí bán tình âm.
Thu phong cao trúc minh thiên lại,
Linh vũ hoàng hoa bố địa câm (kim).
Viễn tụ hàn xâm du tử mộng,
Trừng đàn thanh cộng chủ nhân tâm.
Xuất môn từ bộ khan thu sắc,
Bán tại giang đầu phong thụ lâm.

Tạp ngâm III (dịch nghĩa)

Tháng tám cảnh thu già lặng lẽ,
khí trời mênh mang nửa rạm mây nửa nắng.
Bụi trúc cao gió thổi, tiếng sáo trời nổi lên,
hoa cúc sau trận mưa, rơi xuống rắc hoa vàng trên mặt đất.
Khí lạnh rặng núi xa thấm vào giấc mộng người du tử.
Nước đầm trong suốt giống như lòng chủ nhân.
Ra trước cửa thong thả ngắm sắc thu,
thấy một nửa trên dải rừng phong mé đầu sông

Nguyễn Du làm bài thơ Tạp thi ghi lại tâm sự: Tráng sĩ bạc đầu bùi ngùi ngẩng nhìn trời, hùng tâm sinh khí mờ mịt cả hai. Chuyện tình với cô Xuân Hương làng Nghi Tàm, cô Cúc làng Trường Lưu thành chuyện hão. Lần lửa đông rét hè nóng, cướp cả tuổi trẻ. Dắt chó vàng mãi vui thú dưới Hồng Lĩnh. Trông mây trắng nằm bệnh bên bờ sông Quế. Ở thôn quê, thích được mua rượu luôn. Trong túi hãy còn ba mươi đồng tiền.

Tạp thi I
Nguyẽn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Bạc đầu tráng sĩ ngẩng trời than
Dựng nghiệp, mưu sinh thảy lỡ làng.
Thu cúc, xuân lan thành mộng ảo,
Hạ nồng, đông lạnh cướp ngày xanh.
Chó vàng vui thú quanh Hồng Lĩnh,
Mây trắng, nằm đau cạnh Quế Giang.
Vẫn thích làng quê hằng có rượu,
Ba mươi tiền sẵn túi con mang.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

Tạp thi I

Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên,
Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên.
Xuân lan, thu cúc thành hư sự,
Hạ thử đông hàn đoạt thiếu niên.
Hoàng khuyển truy hoan Hồng Lĩnh hạ,
Bạch vân ngọa bệnh Quế Giang biên.
Thôn cư bất yếm tần cô tửu,
Thượng hữu nang trung tam thập tiền.

Tạp thi II (dịch nghĩa)

Non Hồng một màu soi bóng xuống làn nước phẳng,
nơi thanh tú tĩnh mịch này, kẻ hàn sĩ có thể ở được.
Mây trắng từ ngàn dậm đến bay in bóng trên giường chiếu,
Trăng sáng soi qua cửa sổ chiếu vào cặp sách túi đàn (*).
Lúc loạn lạc cười khóc cũng theo đời.
Thân  già yếu nên yên lặng để giữ mình.
Chuyện đời trước mắt thay đổi như hoa nở lá rụng.
Quanh năm cõi lòng vẫn thản nhiên như không .

(*) TS. Nguyễn Trọng Chánh bình: Nguyễn Du luôn có bên mình thanh gươm và cây đàn nguyệt. Tình hình Hồng Lĩnh từ sau cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quýnh, công an quận công Thận đang kiểm soát gắt gao, tai vách mạch rừng, nói gì cũng phải cẩn thận, cười khóc phải theo thời, thiên hạ đang cười mà mình khóc, thiên hạ đang khóc mà mình cười công an bắt ngay !. Từ khi vua Quang Trung mất, chúa Nguyễn Ánh nổi dậy đang hùng cứ Nam Hà, chuyện đời sẽ đổi thay như hoa nở lá rụng ).

Tạp thi  II
Nguyễn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Núi Hồng soi bóng nước xanh trong,
Hàn sĩ nơi đây ẩn cảnh nhàn.
Ngàn dậm mây về quanh chiếu chỏng,
Một song trăng sáng rọi thư đàn.
Khóc cười thời loạn theo trần thế,
Bệnh yếu lặng câm mà giữ thân,
Trước mắt nở hoa rồi rụng lá,
Bốn mùa thanh thản có như không.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Tạp thi II

Hồng Sơn nhất sắc lâm bình cừ,
Thanh tịch khả vi hàn sĩ cư.
Thiên lý bạch vân sinh kỷ tịch.
Nhất song minh nguyệt thướng cầm thư.
Tiếu đề tuẫn tục can qua tế,
Giam mặc tàng sinh lão bệnh dư.
Diệp lạc hoa khai nhãn tiền sự,
Tứ thời tâm kính tự như như.

Nguyễn Du năm ấy vẫn ở Tiên Điền làm Hồng Sơn Liệp Hộ. Nguyễn Du viết

Đi săn
Nguyễn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Kẻ đạt quan trường chí đỉnh mây,
Còn ta vui thú với hươu nai.
Cốt lòng thư thái không mong được,
Không hại điều nhân diệt các loài.
Xạ ngủ cỏ thơm hương ướt ẩm,
Núi xa, chó sủa tiếng ngoài tai.
Thú vui phù thế âu tùy thích,
Xe đón lộng che ấy những ai ?

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

Liệp

Y quan đạt giả chí thanh vân,
Ngô diệc lạc ngô mi lộc quân.
Giải thích nhàn tình an tại hoạch,
Bỉnh trừ dị loại bất phương nhân.
Xạ miên thiển thảo hương do thấp,
Khuyển độ trùng sơn phệ bất văn.
Phù thế vi hoan các hữu đạo,
Khu xa ủng cái thị hà nhân.

Chú thích:
Thanh vân, mây xanh, chỉ công danh thành đạt.

Nguyễn Du viết hai bài Hành lạc từ. Theo lời bình của nhà Kiều học, giáo sư văn chương, tiến sĩ Phạm Trọng Chánh, đại học Paris Pháp thì “Bài thơ phản phất không khí thơ bài Lý Bạch mời rượu, Trương Tiến Tửu, hãy vui chơi hôm nay. Đừng lo danh tiếng hảo xa vời khi đã chết, công danh, giàu sang trần thế như phù vân, có rồi lại mất, đời người ai sống được trăm tuổi, làm chi cho mệt cuộc đời. Đọc bài này rồi ta không thể nghĩ rằng Nguyễn Du có thể viết ngược lại đòi ba trăm năm lẻ nữa có người khóc mình trong bài Độc Tiểu Thanh Ký“. (Nguyễn Du- Người đi săn núi Hồng)

Hành lạc I
Nguyễn Du thơ và từ
Nhất Uyên dịch thơ

Chó săn vàng đốm trắng,
Cổ đẹp đeo chuông vàng.
Chàng trai mặc áo ngắn,
Dắt về phía núi Nam.

Núi Nam nhiều nai hương,
Huyết ngọt thịt thơm ngon.
Dao vàng thái món quý,
Rượu ngon uống trăm chung.

Đời ai sống trăm tuổi,
Gặp thời cứ vui chơi.
Tội chi sống bần tiện,
Lo âu suốt đời người.

Di Tề chẳng danh lớn,
Chích Cược không giàu to.
Sống lâu chỉ tám chục,
Tội gì ngàn năm lo.

Có chó cứ làm thịt,
Có rượu cứ nghiêng bầu.
Hay dỡ trên đời sao biết được,
Cần gì lo tiếng hão về sau.

Hành lạc  (I)

Tuấn khuyển hoàng bạch mao,
Kim linh hệ tú cảnh,
Kinh sam thiếu niên lam,
Khiển hướng Nam sơn lĩnh.

Nam sơn hương đa mi,
Huyết nhục cam thả phì.
Kim đao thiết ngọc soạn,
Mỹ tửu lũy bách chi.

Nhân sinh vô bách tải,
Hành lạc dương cập kỳ.
Vô vi thủ bần tiện,
Cùng niên bất khai mi.

Di Tề vô đại danh,
Chích Cược vô đại lợi,
Trung thọ chỉ bát thập,
Hà sự thiên niên kế.

Hữu khuyển khả tu sát,
Hữu tửy thả tu khuynh.
Nhãn tiền đắc táng dĩ nan nhận,
Hà sự mang mang thân hậu danh.

Hành lạc từ I ( dịch nghĩa)

Chó tốt lông vàng đóm trắng,
cổ đẹp đeo chuông vàng,

chàng trai trẻ mặc áo cộc,
dắt về núi phía nam.

Núi phía nam có lắm nai hương,
huyết thơm thịt lại béo,

dao vàng thái thành món ăn quý,
rượu ngon uống hàng trăm chén.

Đời người ai sống trăm tuổi,
vui chơi nên kịp thì,

tội gì giữ nếp nghèo nàn,
suốt năm không mở mặt mở mày.

Bá Di, Thúc Tề cũng chẳng có danh lớn.
Đạo Chích, Trang Cược cũng chẳng giàu to.
Sống lâu cũng chỉ tám mươi tuổi,
cần gì tính chuyện nghìn năm.

Có chó cứ giết ăn thịt,
có rượu cứ uống cho hết;

chuyện trước mắt hay dỡ khó mà biết được,
cần gì phải lo cái danh xa xôi sau khi chết rồi.

Chú thích :
– Di, Tề : Bá Di, Thúc Tề con vua Cô Trúc, một nước thuộc nhàÂn nay thuộc tỉnh Trực Lệ, Khi nhà Ân bị nhà Chu lấy, hai người không phục nhà Chu, lên núi Thú Dương ởẩn rồi nhịn đói mà chết chứ không thèm ăn thóc nhà Chu.
– Chích, Cược : Đạo Chích và Trang Cược hai tên trộm cướp nổi tiếng thời Xuân Thu. Đạo Chích em của Liễu Hạ Huệ có khoảng chín ngàn lâu la, đi bắt bò trâu trộm, cướp vợ người. Trang Cược em Sở Trang Vương cũng là tay cướp đại bợm.
– Trung thọ : Người xưa chia tuổi làm ba bậc : Hạ thọ (60 tuổi), Trung thọ (80 tuổi), Đại thọ (90 tuổi).

Hành lạc  II
Nguyễn Du thơ và từ
Nhất Uyên dịch thơ

Núi cao hoa đào nở,
Tươi như màu lụa đỏ.
Sáng mai đùa xuân xanh,
Chiều tối rơi bùn nhọ.

Hoa nào đẹp trăm ngày ?
Người sống ai trăm tuổi ?
Chuyện đời lắm đổi thay,
Kiếp phù sinh chơi mãi.

Trong tiệc mỹ nữ đẹp như hoa,
Trong hồ có rượu như vàng pha,
Tiếng kèn tiếng sáo như khoan nhặt,
Được dịp hát to cứ hát ca.

Anh có thấy ông Vương Nhung tự tay cầm bàn ngà,
Ngày ngày tính toán lòng chưa vui sướng,
Đài Tam công đổ, cây mận ngon tàn,
Bạc vàng tiêu tán người khác hưởng.

Lại thấy không, ông Phùng Đạo khi về già còn phú quý.
Trải mấy triều vua ngôi cao khanh sĩ,
Chuông minh đỉnh vạc lại hoàn không,
Nghìn năm lưu bài Trường Lạc Tự.

Giàu sang trước mắt như phù vân,
Người nay chỉ biết cười người trước,
Người trước chết chôn đầy tha ma,
Người nay sao vẫn còn xuôi ngược.

Hiền ngu xưa nay một nấm mồ,
Nào ai vượt qua được sống chết.
Anh ơi uống rượu rồi vui chơi,
Kìa trông phía Tây trời đã xế.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Hành lạc II

Sơn thượng hữu đào hoa,
Xước ước như hồng ỷ,
Thanh thần lộng xuân nghiên,
Nhật mộ trước nê trỉ.

Hảo hoa vô bách nhật,
Nhân thọ vô bách tuế,
Thế sự đã suy di,
Phù sinh hành lạc sự.

Tịch thượng hữu kỹ hiểu như hoa,
Hổ trung hữu tửu như kim ba,
Thúy quản ngọc tiêu hoãn cánh cấp.
Đắc cao ca xứ thả cao ca.

Quân bất kiến:
Vương Nhung nha trù thủ tự tróc,
Nhật nhật cối kê thường bất túc,
Tam công đài khuynh hảo lý tử,
Kim tiền tán tán tha nhân phúc.

Hựu bất kiến:
Phùng Đạo vãn niên xung cực quý,
Lịch triều bất ly khanh tướng vị,
Chung minh đỉnh thực cánh hoàn không,
Thiên trải đồ lưu  Trường Lạc Tự.

Nhãn tiền phú quý như phù vân,
Lãng đắc kim nhân tiếu cổ nhân.
Cổ nhân phần doanh dĩ luy luy,
Kim nhân bôn tẩu hà phân phân,

Cổ kim hiền ngu nhất khâu khổ,
Sinh tử quan đầu mạc năng độ.
Khuyến quân ẩm tửu thả vi hoan,
Tây song nhật lạc thiên tương mộ.

HÀNH LẠC (Bài từ số II dịch nghĩa) 

Trên núi có hoa đào tươi
đẹp như tấm lụa đỏ,

sáng sớm còn đùa giỡn với màu xuân đẹp,
chiều tối đã nằm giữa bùn lầy.

Hoa đẹp không được trăm ngày,
người sống lâu mấy ai trăm tuổi,
chuyện đời lắm đổi thay,
kiếp phù sinh nên cứ vui chơi.

Trên tiệc có gái đẹp như hoa,
trong vò có rượu quý như nổi sóng vàng,
tiếng thúy quản, tiếng ngọc tiêu (tiếng kèn, tiếng sáo)
khi mau khi chậm,
được dịp hát to cứ hát to.

Người không thấy
ông Vương Nhung cầm thẻ ngà,

ngày nào cũng tính toán mà trong bụng vẫn thấy chưa đủ.
Đài Tam công cũng đổ, cây mận ngon cũng chết,
bạc vàng tiêu tan cho người khác hưởng.

Lại không thấy
ông Phùng Đạo lúc về già phú quý xiếc bao,

trải mấy triều vua không rời gối khanh tướng,
thế mà miếng đỉnh chung rốt cuộc vẫn không,
nghìn năm chỉ lưu lại bài Trường Lạc Tự.
Phú quý trước mắt không khác gì phù vân,

người nay chỉ biết cười người xưa,
người chết mồ mả đã ngổn ngang,
người sau vẫn bôn tẩu rộn ràng ?
Xưa nay kẻ hiền người ngu cũng chỉ trơ lại một nấm đất,

không ai vượt qua cửa ải sống chết,
khuyên anh nên uống rượu rồi vui chơi,
kìa trong cửa sổ phía tây,
bóng mặt trời đã xế.

Chú thích:

Vương Nhung: một trong Trúc Lâm thất hiền đời Tấn, nhà giàu ruộng vườn khắp các châu, nhưng lại là tay biển lận, ngày nào cũng cầm bàn tính, thẻ ngà trong tay để tính toán, trong nhà có cây mận rất ngon, bán quả sợ người ta được giống, nền dùi nát hột đi rồi mới bán.

Phùng Đạo, người đời Ngũ Đạo, tính chất phác văn chương hay, làm khanh tướng dưới bốn triều Đường, Tấn.. tự đặt hiệu là Trường Lạc lão có làm bài Trường Lão lạc tứ tự kể chuyện mình thờ bốn họ, sáu ông vua.

Đọc bài thơ Hành Lạc Từ của Nguyễn Du chúng ta tìm lại được cái an vui thanh thản của nhà nho ngày xưa. Cái triết lý Á Đông  chấp nhận cuộc đời có sống có chết lẽ thường.

*

Nguyễn Du là danh sĩ tinh hoa, hào kiệt lỗi lạc, một nhân cách lớn. Nghiên cứu Nguyễn Du làm Ngư Tiều soi tỏ thời thế, cuộc đời, tâm hồn Nguyễn Du trăng huyền thoại

NGUYỄN NGỌC TƯ SẦU RIÊNG
Hoàng Kim

Nguyễn Ngọc Tư có trang “Sầu riêng” riêng tư vừa đủ. Ở đó có thơ; Một vài phiên bản; Hành lý hư vô; Những trang viết mới.

Tôi dừng lại đọc chậm rãi nhiều lần “Khoảng cách trong khoảng cách”. Dường như ở đó có thấp thoáng Bóng hạc chốn xa xôi tiếng dội của chính mình:

khoảng cách trong khoảng cách
Nguyễn Ngọc Tư
(Cho Quế Chảnh)

bầy tin nhắn bay đêm
rót mật vào điện thoại em
vời vợi giấu sau đôi cánh ánh kim

cột cây số bị mang ra làm cớ
“chúng đưa anh tới xứ Xa Xôi”
em quên giữa nụ hôn
          là những điều chưa nói
giữa hai làn da,           là bóng tối

và cơn cảm nắng năm xưa
cái thở dài không cơn cớ
chảy thành dòng ở giữa
và ý nghĩ trong anh
hái bao lượt vẫn xanh
ngọn ngọn vươn mình phía khác

những bầy tin bay đêm ướt mật
nhủ rằng xa chỉ bằng tích tắc
bằng khoảng cách thiêu thân đến ngọn đèn

Nguyễn Ngọc Tư là niềm quý trọng và yêu mến trong lòng tôi. Văn của cô thật đằm thắm, giản dị và nhân hậu từ ‘Ngọn đèn không tắt’ tới ‘Cánh đồng bất tận’ đến những trang viết mới. Tôi đã viết trang “Nguyễn Ngọc Tư sầu riêng” khởi đầu từ ngày 7 tháng 2 năm 2013, và đã mấy lần bổ sung những cảm nhận và đánh giá mới. Dip ba năm trước của năm 2018, nhân Katharina Borchardt đăng ảnh cô và bài viết “Những câu chuyện kể về những điều cốt lõi” [Diễn từ về Nguyễn Ngọc Tư] với bản dịch tiếng Việt của Trương Hồng Quang chuyển ngữ diễn từ nêu trên đăng tại trang Văn hóa Nghệ An ngày 29 tháng 10 năm 2018. Tôi tiếp tục hoàn thiện bài viết này cho sự nhân thức của riêng mình và thêm một lời bình văn về một người bạn quý, để hôm nay đọc lại và bổ sung thêm..

Theo ghi chú thì Katharina Borchardt là nhà phê bình và thành viên ban giám khảo, tại lễ trao giải thưởng văn chương LiBeraturpreis 2018 cho nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, Hội chợ sách Frankfurt, 13.10.2018. Đầu đề do người dịch Trương Hồng Quang đặt. Tôi trích dẫn hai bài văn ngắn của Nguyễn Ngọc Tư “Bé lên ba…” “Chậm từng giọt chữ”  ngoài tác phẩm “Cánh đồng bất tận” nêu trên cùng với bốn bài đánh giá trong và ngoài nước ở cuối bài này để hiến tặng bạn đọc, làm rõ thêm “Những câu chuyện kể về những điều cốt lõi”.

Ngày 1 tháng 2 năm 2008, tôi thảng thốt và giật mình chép lại một tản văn hay Không gian Nguyễn Ngọc Tư do nhà văn Nguyên Ngọc giới thiệu trên Sài Gòn Tiếp Thi. Tôi sau đó lần đọc lại rất kỹ và có hệ thống các bài viết của Tư trên chuyên trang Nguyễn Ngọc Tư  của giáo sư Trần Hữu Dũng, Tôi lược khảo một vài trích đoạn từ bài viết của cụ Nguyên Ngọc về “Không gian Nguyễn Ngọc Tư” và liên tưởng ngay tới trường hợp giáo sư Chu Hảo mới đây để có thể nói ngay rằng họ có một không gian sống đầy đặn :

Tôi vừa xuống Cà Mau. Và tất nhiên bây giờ Cà Mau… tức là Nguyễn Ngọc Tư. Thậm chí – tôi xin lỗi hết cả bà con Cà Mau, và xin lỗi cả Tư nữa – quả thật không biết nếu như không có Nguyễn Ngọc Tư thì Cà Mau có còn hoàn toàn là Cà Mau bây giờ không. Tất nhiên vẫn là Cà Mau, nhưng sẽ là một Cà Mau có thể nhỏ hơn một chút, thiếu hơn một chút, thiếu cụ thể điều gì thì cũng thật khó nói, nhưng rõ ràng là sẽ thiếu, thiếu một điều gì đó đang làm cho không gian Cà Mau không rộng và sâu, xa, gần và hiện đại được như bây giờ khi có cô nhà văn ấy.

Tôi gặp Nguyễn Ngọc Tư ở Cà Mau lần đầu là cách đây đâu khoảng mươi năm (vừa rồi cô ấy xác nhận lại trí nhớ của tôi, cô bảo cô xin về làm ở hội Văn nghệ Cà Mau đến nay vừa đúng mười năm). Bữa đó ngồi với anh chủ tịch hội (anh ấy bây giờ vẫn là chủ tịch hội), tôi nói linh tinh những chuyện gì đó không thể nào nhớ được nữa. Thỉnh thoảng lại thấy có một “con nhỏ” chạy vô chạy ra rót nước, đôi lúc dừng lại một chút chừng lắng nghe chúng tôi. Và hình như hơi cười. Bây giờ nghĩ lại lo quá, không biết bữa đó mình có bốc đồng nói linh tinh những gì to tát hùng hồn về văn chương không. Bởi vì “con nhỏ rót nước” đó chẳng bao lâu sau sẽ là… Nguyễn Ngọc Tư.”

“Tôi đã có lần nói rồi, và lần này xin nói lại, và trước khi nói tất nhiên phải xin lỗi tất cả những người cầm bút: Để mà tính chuyện đi ra thế giới, tức là cái mà người ta gọi là mở rộng không gian văn học, và như thế cũng tức là không gian đất nước, ra với thế giới, với bàn dân thiên hạ, tức là cái sự bây giờ được gọi một cách nghiêm trang và hơi lo sợ là “hội nhập”, mà không phải sợ bất cứ ai hết, thì theo tôi trong văn học hiện đại ta có thể có mấy cái: Số đỏ của Vũ Trọng Phụng là một, một số truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp là hai, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là ba, và nay là Cánh đồng bất tận. Tôi nói thế này mà không sợ quá đáng đâu: Với Cánh đồng bất tận, văn chương ta bước vào toàn cầu hoá hôm nay một cách đàng hoàng, cùng và ngang bằng với những giá trị nghệ thuật và nhân văn của toàn cầu, chẳng phải nể ai hết. Nó đưa văn chương, và như thế cũng là con người của ta, ra toàn cầu, để cho toàn cầu biết rằng ta cũng là con người chẳng hề thua gì họ.

“Chuyện Cánh đồng… bị đánh tơi bời như thế nào, ai cũng biết rồi. Tôi thậm chí còn biết không chỉ ở cấp tỉnh lẻ và trong những người làm công việc gọi là văn hoá tư tưởng, mà cả một số người làm văn chương hẳn hoi nữa kia. Và tôi còn biết, rất cụ thể, một vị chức sắc cao vòi vọi, từng không hề tiếc lời chửi bới nó cực kỳ thậm tệ. Cũng chẳng có gì lạ. Một số người, kể cả người cầm bút nữa, không hiểu gì văn chương cũng là chuyện thường. Và cũng không ai bắt một vị có chức quyền loại lớn phải hiểu thấu văn học…

Đọc Bé lên ba… tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư, tôi ngồi lặng đi. Tôi mang ơn cô đã thôi thúc tôi cầm bút để viết về “một cái gì đó” âm thầm như vậy, lặng lẽ như vậy của đồng bào, đồng đội đã ngã xuống cho Tổ Quốc sống mãi; để viết về những con người dâng hiến lặng lẽ mà hiệu quả, những công việc chân lấm tay bùn và những lớp học, lớp người trong 45 triệu nông dân đang làm giá đỡ cho nền kinh tế Việt.

Suy ngẫm về Chậm từng giọt chữ của Tư, bạn rùng mình chợt thấm thía bệnh sống nhanh sống gấp dường như đã di căn đến thú nhàn nhã cuối cùng của mình, xộc vào thành lũy cuối cùng. Và chỉ khi gặp Già, ngồi giữa căn nhà lấp ló trong vườn dừa của Già nghe Già đọc một đoạn văn của Hemingway, Lỗ Tấn, Lev Tolstoi… thì mới cảm thấy thật rõ ràng. Chỗ Già gì cũng chậm, nước trà rót chậm, điếu thuốc cháy chậm, tiếng nước mương vườn chậm rãi chảy, và giọng Già nhẩn nha mà nghiêm cẩn, “Hằng năm, tôi đợi mùa thu tới, để buồn…” (*). Tôi thật may mắn khi chiều cuối tuần có được niềm vui lặng lẽ trò chuyện với Tư để cảm nhận thấm thía … Chậm từng giọt chữ , Chậm từng giọt chữ. Chậm từng giọt chữ….

Anh Nguyễn Trọng Bình có bài viết  Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn văn hóavà nhà thơ Văn Công Hùng có bài viết “Nhậu” Nguyễn Ngọc Tư  đều rất ấn tượng. Nguyễn Ngọc Tư có duyên thầm như sầu riêng Nam Bộ vậy. Đúng là đặc sản! Tôi tâm đắc chất người Nam Bộ trong văn Nguyễn Ngọc Tư. Đọc văn của cô, tôi nhớ thầy Lương Định Của, Võ Tòng Xuân và những bạn Nam Bộ thân thiết Bùi Chí Bửu, Mai Thành Phụng …

Tôi thật xúc động và đồng cảm với những dòng kết của Katharina Borchardt là nhà phê bình và thành viên ban giám khảo của giải thưởng cao quý. Tôi dùng những dòng kết đó thay lời muốn nói cho bài viết này:

Với „Cánh đồng bất tận“ chúng ta có một cuốn sách thật tuyệt đẹp: đó không chỉ là một tác phẩm được trình bày cẩn trọng, biên tập kỹ lưỡng và được dịch một cách chuẩn xác, mà trước hết được viết với một ngòi bút tuyệt vời. Đây là những câu chuyện kể về những điều thật cốt lõi: về chốn gia đình mà ta cần có, và về những con người mà ta yêu quý.

Sẽ không phải là sáo ngữ nếu để kết thúc tôi xin được nói: Chúng ta còn muốn được đọc nhiều tác phẩm nữa từ ngòi bút của Nguyễn Ngọc Tư!

Tôi rất vui mừng rằng hôm nay Nguyễn Ngọc Tư nhận giải LiBeraturpreis, xin chân thành chúc mừng chị.” (Katharina Borchardt)

Tôi thật vui tự hào và chân thành chúc mừng Tư.

Hoàng Kim

Tài liệu dẫn

NHỮNG CÂU CHUYỆN KỂ VỀ NHỮNG ĐIỀU CỐT LÕI
[DIỄN TỪ VỀ NGUYỄN NGỌC TƯ]

Katharina Borchardt
Nguồn : Văn hóa Nghệ An, thứ hai, 29 Tháng 10 2018 21:07 xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nguyen-ngoc-tu-sau-rieng/

anh Toàn và các mế

NHỚ THẦY NGUYỄN QUỐC TOÀN
Hoàng Kim


Tiếng Việt lung linh sáng
Đối thoại với Thiền sư
Lên Việt Bắc điểm hẹn
Quảng Bình nôi địa linh
Ngôn ngữ văn hóa Việt
Hoa Đất thương lời hiền
(xem tiếp sáu đường dẫn tại đây https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-thay-nguyen-quoc-toan/)

KHÔNG ĐỀ
Nguyễn Quốc Toàn
(1.11.2021)


Chỉ là cái Vũng neo Tàu
Mà sao Bãi Trước Bãi Sau kín người
Giang tay Chúa ngước nhìn trời
An nhiên Phật tổ mỉm cười nằm nghiêng
Đường sách như thể vô duyên
Bụi và gió cuốn triền miên tháng ngày

*
Cũng đành tựa đá khoanh tay
Nỗi niềm với sách tỏ bày cùng ai,

Tôi lưu lại sáu câu chuyện Thầy Nguyễn Quốc Toàn có những bài viết ngắn thật hay và sâu sắc mà tôi thích đọc lại, xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-thay-nguyen-quoc-toan/

DẠY VÀ HỌC https://hoangkimvn.wordpress.com
ngày mới nhất bấm vào đâycập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
Bài ca thời gian
Run away with me.
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn, Kim on Facebook, Kim on Twitter





Chào ngày mới 2 tháng 11


CNM365 Chào ngày mới 2 tháng 11. Ta về trời đất Hồng Lam; Nguyễn Du đi săn ở núi Hồng; Núi Hồng Lĩnh danh thắng Nghệ Tĩnh, thuộc Thị xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Núi Hồng Lĩnh cùng với sông Lam, được xem là biểu tượng hồn thiêng sông núi của xứ Nghệ, từng được xếp vào danh sách 21 danh thắng của nước Nam. Núi Hồng Lĩnh là nơi Nguyễn Du làm Hồng Sơn Liệp Hộ. Ngày 2 tháng 11 năm 1802, ngày mất Vũ Văn Dũng, danh tướng triều Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam bị xử tử. Ngày 2 tháng 11 năm 1963, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm và người em trai, cố vấn Ngô Đình Nhu bị sát hại trong cuộc đảo chính; Bài viết chọn lọc ngày 2 tháng 11: Nguyễn Du đi săn ở núi Hồng; Ta về trời đất Hồng Lam; Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-2-thang-11; xem thêm: Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi, Nguyễn Minh Không huyền thoại Bái Đính; Sông Hoàng Long;Vào Tràng An Bái Đính;Nghiên cứu Kinh Dược SưNợ Duyên; Kim Dung những kiệt tác lắng đọng; Nguyễn Ngọc Tư sầu riêng Nam BộĐêm trắng và bình minh; Thổ Nhĩ Kỳ nông nghiệp sinh thái ; Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương; Bill Gates học để làm; Bảy ngày đêm tĩnh lặng.  Chúc mừng lúa Việt tới Venezuela;

TA VỀ TRỜI ĐẤT HỒNG LAM
Hoàng Kim

Ta về trời đất Hồng Lam
Thung dung dạo bước trăng vàng lộng soi
Đường trần tới chốn thảnh thơi
Hồng Sơn Liệp Hộ bồi hồi đất quen.

Linh miêu chốn Tổ Rồng Tiên
Quấn quanh trao gửi nổi niềm Thái Sơn
Hỡi ai là kẻ phi thường
Đỉnh chung dâng nén tâm hương nhớ Người.

Xem tiếp https://cnm365.wordpress.com/2016/11/02/di-san-dan-ca-vi-dam-nghe-tinh/

NGUYỄN DU ĐI SĂN Ở NÚI HỒNG
Hoàng Kim
Núi Hồng Lĩnh danh thắng Nghệ Tĩnh,thuộc thị xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Núi Hồng Lĩnh cùng với sông Lam, được xem là biểu tượng hồn thiêng sông núi của xứ Nghệ, từng được xếp vào danh sách 21 danh thắng nước Nam. Núi Hồng Lĩnh là nơi Nguyễn Du đi săn ở núi Hồng làm ‘Hồng Sơn Liệp Hộ’ (1797-1802)  sau khi ông bị Quận công Nguyễn Thận bắt giam ba tháng ở Nghệ An mùa đông năm Bính Thìn (1796) về tội danh định trốn vào Nam với chúa Nguyễn Ánh, sau ông được tha về sống ở Tiên Điền; Núi Hồng Lĩnh (Ngàn Hống, Rú Hống, Hồng Sơn hay Hồng Lĩnh biệt hiệu là Hoan Châu Đệ Nhất Danh Thắng dãy núi núi nổi tiếng nhất Hà Tĩnh. Nguyễn Du tỏ chí là Nam Hải Điếu Đồ (kẻ đi câu ở biển Nam) và Hồng Sơn Liệp Hộ (người đi săn ở núi Hồng) ở hai thời khắc quyết định thể hiện bản lĩnh và tầm nhìn minh triết của ông .Bài này viết về Nguyễn Du thời thế từ 1797 đến 1802 kiệt tác thơ chữ Hán Nguyễn Du soi tỏ thời thế, cuộc đời và tâm hồn Nguyễn Du 250 năm nhìn lại .Tâm sự Nguyễn Du làm Hồng Sơn Liệp Hộ thể hiện rõ nhất trong bài “Đi săn”. https://hoangkimlong.wordpress.com/2018/11/02/nguyen-du-di-san-o-nui-hong-3/

ĐI SĂN
Nguyễn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Kẻ đạt quan trường chí đỉnh mây,
Còn ta vui thú với hươu nai.
Cốt lòng thư thái không mong được,
Không hại điều nhân diệt các loài.
Xạ ngủ cỏ thơm hương ướt ẩm,
Núi xa, chó sủa tiếng ngoài tai.
Thú vui phù thế âu tùy thích,
Xe đón lọng che ấy những ai ?

Bài Liệp “Đi săn” Nguyễn Du viết : “Những người áo mũ hiển đạt để chí mình ở đường mây, còn ta, ta vui với bầy hươu nai của ta, cốt là để khuây khỏa trong lúc nhàn chớ đâu phải ham được thịt thú. Diệt trừ giống khác hại chăng đến đức nhân ? Con xạ ngủ nơi đồng cỏ non hương thơm còn ướt. Con chó vượt qua nhiều lớp núi, tiếng sủa không còn nghe thấy. Tìm thú vui chơi trong cuộc phù sinh mỗi người một sở thích. Những người lọng đón xe đưa là người nào thế nhỉ ?”

Nguyễn Hành viết về Phi Tử Nguyễn Du trong bài Ca tụng việc đi săn (Trương Chính. Thơ chữ Hán Nguyễn Du  Nxb Văn Học, Hàn Nội 1965,  tr 38) : Đó là ông nói việc đi săn của người tầm thường, chứ ông đâu có biết việc đi săn của bậc đại nhân. Bậc đại nhân đi săn không ở chỗ đi săn. Họ nhỡn nhơ chỗ nọ chỗ kia, ngắm núi ngắm rừng. Họ trèo lên đỉnh cao để nhìn vực thẳm, tắm gội nơi suối trong, thơ thẩn giữa cây tùng cây bách, nhìn tạo vật biến hóa, đùa giỡn với hươu nai, do đó mà tinh thần được thư thái, ý chí được trau giồi, lòng dạ thảnh thơi không bận bịu, mây nhẹ nhàng luồn trong tay áo, gió phất phơ thổi đưa tà áo, trông thấy kinh kỳ trong gang tấc, hứa hẹn những cuộc ngao du. Bậc đại nhân đi săn như thế, người tục đâu có biết !

Để hiểu sâu thêm tâm sự Nguyễn Du, chúng ta tìm hiểu thời thế Nguyễn Du từ 1797 đến 1802 hành trạng Nguyễn Du và tác phẩm trong giai đoạn này

THỜI THẾ NGUYỄN DU TỪ 1792 ĐẾN 1802

Năm Đinh Tỵ (1797). Nguyễn Du 32 tuổi. Vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản đã cử Lê Trung làm tướng trấn giữ Quy Nhơn và điều Trần Quang Diệu về hầu việc trong triều. Bốn tứ trụ triều đình Cảnh Thịnh là Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng, Nguyễn Văn Huấn và Nguyễn Văn Danh. Thế nhưng tướng Trần Quang Diệu bị người ta dèm pha là uy quyền quá lớn sắp có mưu đồ khác nên vua Cảnh Thịnh đã điều chỉnh như vậy, với phúc tướng triều Tây Sơn là Vũ Văn Dũng luôn giám quân.. Trần Quang Diệu lo sợ nên cáo bệnh không vào chầu mà đốc suất thủ hạ thân tín canh phòng tự vệ suốt ngày đêm. Nguyễn Vương truy quét thổ phỉ người Thượng, phủ dụ dân tình ở vùng núi và tìm hiểu tướng trấn giữ các nơi. Nguyễn Vương được tin mật báo nội tình Tây Sơn cả mừng, tập hợp các tướng bàn định việc ra quân. Nguyễn Vương  để Tôn Thất Hội giữ thành Gia Định, sai Nguyễn Văn Thành, Võ Tánh, Nguyễn Đình Đắc theo đường bộ đánh thẳng ra Phú Yên, Quy Nhơn, còn tự mình thì cùng với hoàng tử Cảnh và tướng Nguyễn Văn Trương đem đại binh thuyền đánh ra Quy Nhơn. Quân thủy của Nguyễn Vương tiến sâu vào cửa Thị Nại. Vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản ra lệnh cho Nguyễn Văn Huấn mang toàn quân ra chống cự, phục chức cho Trần Quang Diệu sai giữ cửa Thuận để làm thanh ứng. Nguyễn Vương tấn công quyết liệt quân Tây Sơn mấy tháng ròng ở Bình Định không phân thắng bại, thấy sự phòng thủ chặt chẽ, liệu sức không đánh đổ được bèn kéo binh thuyền ra đánh phá Quảng Nam, nhưng cũng không giành được thế thắng và quân nhu không đủ, bèn rút về Gia Định, sai Nguyễn Văn Thành giữ chức khâm sai tiền tướng quân và Đặng Trần Thường làm hiệp tán quân vụ ở lại giữ thành Diên KhánhNguyễn Vương theo mưu kế của Đặng Trần Thường, một mặt sai Nguyễn Văn Thụy sang Thái Lan báo tin thắng trận cho vua Thái và nhờ quốc vương nước này xuất binh theo đường bộ Lào với sự dẫn đường của Thụy để tấn công Thuận Hóa từ hướng Tây  hoặc cho quân đột phá Nghệ An để chặn đường quân Bắc Hà vào cứu viện. Quân sĩ Nguyễn Vương cũng sẽ phối hợp tấn công ở hai mặt Đông và Nam. Mặt khác, Nguyễn Vương cũng sai binh bộ tham tri Lưu Nhân Tĩnh sang sứ nhà Thanh vừa do thám tình hình vừa trao trả lại cho nhà Thanh một số tàu thuyền mượn tiếng là thu được của quân Tàu biển “Thiên Địa Hội” phản Thanh phục Minh nhằm lấy lòng vua nhà Thanh vừa tố cáo Nguyễn Huệ nhà Tây Sơn trước đây trong thì tiếm xưng là hoàng đế Quang Trung, ngoài thì giả cách thuần phục nhà Thanh, nhưng lại ngấm ngầm tiếp tay cho quân phỉ biển “Thiên Địa Hội” để gây chia rẽ nhà Thanh với nhà Tây Sơn. Mặt khác Lưu Nhân Tĩnh cũng tìm mọi cách liên kết với các cựu thần nhà Lê, tầng lớp sĩ phu và những người vốn có oán thù với nhà Tây Sơn để tăng thêm thanh thế và đồng minh.  Ngô Nhân Tĩnh vừa đi khỏi thì “phụ quốc nguyên công’ Tôn Thất Hội là tướng giỏi của Nguyễn Vương bị ốm nặng và mất. Nguyễn Ánh theo lời của quốc thúc Tôn Thất Thăng đã đưa hoàng tử Cảnh với sự trợ giúp của Bá Đa Lộc và Tống Viết Phước ra trấn giữ Diên Khánh, thay thế cho các tướng Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Tính và Đặng Trần Thường được gấp rút trở về Gia Định luyện quân để chuẩn bị cho chiến dịch mới.

Năm Mậu Ngọ (1798). Nguyễn Du 33 tuổi. Nguyễn Ánh đang bàn việc mang tin thắng lợi sang báo vua Xiêm (Thái Lan) thì vừa lúc vua Xiêm cử sứ giả sang xin viện binh chống Miến Điện. Nguyên lúc trước ở Băng Cốc vua tôi Nguyễn Ánh lúc sang nương nhờ Thái Lan đã cùng quân tướng Thái Lan đánh lui được quân Miến nên được vua Thái trong thị. Nay trước việc này, Nguyễn Vương sai Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Đình Đắc đem một vạn quân và chiến thuyền sang cứu viện cho Thái Lan. Quân Nguyễn khi đến Côn Lôn vừa lúc nghe tin quân Miến đã lui, nên chỉ một mình Nguyễn Huỳnh Đức mang quốc thư sang Xiêm còn Nguyễn Văn Trương và Nguyễn Đình Đắc thì mang quân về. Khi về Gia Định lại gặp Nguyễn Văn Nhơn đưa Đặng Đức Siêu là danh sĩ Hàn lâm, kỳ tài của Bồng Sơn Bình Định thường tự ví mình là Quản Trọng Nhạc Nghị, trước làm quan nhà Nguyễn, sau không chịu theo họ Trịnh và nhà Tây Sơn, nay theo thuyền buôn trốn vào dâng sách Bình Tây phương lược. Nguyễn Ánh vui mừng cử làm Trung doanh tham mưu. Nguyễn Vương cử tướng Nguyễn Văn Thụy làm Khâm sai thượng đạo đại tướng quân cùng tiền quân Lưu Phước Tường, tham mưu Nguyễn Hoài Châu, Nguyễn Văn Uẩn, tham quân Lê Văn Xuân làm cánh quân vu hồi đi cắt đường sang Lào. Cánh quân này có nhiệm vụ trên lối đi dụ người Thượng cùng dấy binh hưởng ứng và đến thành Viên Chăn dụ quốc vương Vạn Tượng cùng người dân ở Trấn Ninh, Thanh Nghệ hành binh đi theo. Quân đi đến đâu cũng phao lên rằng quân Nguyễn cùng quân Xiêm và Lào đang hành binh tiến đánh Thuận Hóa và Tây Nghệ An để đánh lạc lướng và ghìm chân lực lượng tinh nhuệ cửa hai nơi này và quân Bắc Hà vào cứu Quy Nhơn. Tướng Nguyễn Văn Thụy là người Diên Phước, Quảng Nam vốn là người mưu trí lại có sẵn thẻ thông hành đi các nước, nguyên là tướng thân tùy hộ giá Nguyễn Vương lúc trước ở Băng Cốc, đã ba lần đi sứ nước Xiêm, hai lần quản lĩnh đạo Thanh Châu, và vừa bảo hộ Nguyễn Văn Nhơn đi sứ Xiêm về, nay được Nguyễn Vương cử làm thống tướng phụ trách cánh quân vu hồi này. Nguyễn Vương lại sai cho hoàng tử thứ hai trọng trách trấn giữ vùng Gia Định và các trọng địa của đất phương Nam, cùng với các tướng là Nguyễn Văn Nhơn làm Chưởng cơ thống lĩnh quân binh kiêm chưởng Bộ Hộ, Nguyễn Tử Châu làm Tham mưu Bồi tán quân vụ. Tại Bình Định, Nguyễn Bảo là con của Nguyễn Nhạc vì căm giận vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản chiếm giữ đất Tây Sơn bèn định bỏ về hàng Nguyễn triều. Vua Cảnh Thịnh biết mưu ấy sai tướng vào bắt Nguyễn Bảo đưa về dìm xuống sông giết đi. Lại có người nói gièm rằng Nguyễn Bảo sở dĩ làm phản là tại quan trấn thủ Lê Trung. Vua Cảnh Thịnh triệu Lê Trung về Phú Xuân sai võ sĩ bắt chém đi. Được ít lâu sau quan Thái phó Nguyễn Văn Huấn cũng bị giết. Từ đó tướng sĩ Tây Sơn nhiều người nản lòng tìm cơ hội bỏ theo về Nguyễn Vương.

Năm Kỷ Mùi (1799). Nguyễn Du 34 tuổi. Nguyễn Vương thấy thế Tây Sơn đã suy yếu; cánh quân vu hồi của tướng Nguyễn Văn Thụy cùng phương lược ngoại giao của binh bộ tham tri Lưu Nhân Tĩnh đã hình thành tình thế mới, bèn quyết định cử đại binh ra đánh Quy Nhơn. Nguyễn Vương tự mình làm tướng, chia binh làm hai đường thủy bộ, giao cho tướng trấn giữ Diên Khánh là Đông cung Cảnh với Tả quân phó tướng Nguyễn Đình Đắc, Hữu quân phó tướng Nguyễn Công Thái chẹn giữ các vùng hiểm yếu Phú Yên, Ninh Thuận,  Bình Thuận để làm thanh thế. Cánh quân tiên phong đường bộ do Nguyễn Văn Thành làm thống tướng, Đặng Trần Thường làm Hiệp tán quân vụ, Trịnh Hoài Đức làm Hộ bộ tham tri, Lưu thủ Vĩnh Trấn Nguyễn Văn Thịnh phụ trách việc vận chuyển lương cho bộ binh. Cánh quân thủy do Nguyễn Vương trực tiếp thống lãnh, Bình Tây tham thặng đại tướng quân Võ Tánh làm hộ giá, tướng Mai Đức Nghị quản lĩnh hơn năm mươi chiến thuyền  hộ vệ đoàn thuyền lương. Năm Kỷ Mùi (1799) đầu mùa hè, Nguyễn Vương hạ lệnh xuất quân. Quân Nguyễn và quân Tây Sơn đối trân ác liệt tại cửa Thị Nại Bình Định cho đến Quảng Ngãi. Bá Đa Lộc ốm chết trong quân ở cửa Thị Nại ngày 9 tháng 10 năm 1799, xác được ướp thuốc đưa về chôn ở gần nhà giảng của Lộc ở Gia Định, xây lăng gọi là lăng Cha Cả. Tướng sĩ Tây Sơn do sự chia rẽ của triều đình Cảnh Thịnh nên một số tướng lĩnh thân tín Nguyễn Nhạc cùng hậu duệ của họ nản lòng bỏ theo về Nguyễn Vương, trong số đó có  đại đô đốc Tây Sơn là Lê Chất, một tướng giỏi đánh trận, người huyện Phù Ly, phủ Bình Định là con rễ của Tư lệ Lê Trung. Lê Chất đưa hơn hai trăm quân bản bộ về hàng được Nguyễn Vương cho làm chức tướng quân dưới quyền Võ Tánh. Nguyên Lê Chất là thuộc tướng Lê Trung được Lê Trung mến tài gả con gái cho. Lê Chất biết tình thế triều Quang Toản sẽ tan vỡ từ bên trong nên nhiều lần khuyên Lê Trung đầu hàng Nguyễn Ánh nhưng Trung còn do dự chưa quyết. Sau sự biến Nguyễn Bảo bị dìm chết, Lê Trung và Nguyễn Văn Huấn bị giết, vua Cảnh Thịnh lùng bắt Chất rất gấp, Chất giả dạng trốn được. Lê Chất được Tổng quản Tây Sơn là Lê Văn Thanh tiếc tài giữ lại làm thân tín trong doanh. Lê Chất gặp thời cơ đã sang hàng Võ Tánh. Tướng trấn thủ Quy Nhơn là Lê Văn Ứng thấy quân Nam thế lớn sợ lương thực không đủ dùng nên lệnh cho Tổng quản Nguyễn Văn Thanh, Binh bộ Thượng thư Nguyễn Thái Phác cùng Thiếu úy Nguyễn Tiến Thúy giữ thành còn mình thì mang quân ra thành về ấp Tây Sơn thu chở quân lương. Lê Chất biết rõ tình hình báo cho Võ Tánh lập tức giao tinh binh cho Nguyễn Đức Xuyên và Lê Chất chia làm hai cánh đánh tiêu diệt lớn và cướp binh lương. Lê Văn Ứng thua to, chạy thoát được vào thành, xua quân ra ngoài dàn trận chống cự. Nguyễn Văn Thành Và Võ Tánh đem đại binh vây chặt. Tổng quản Lê Văn Thanh thế cùng phải đóng cửa thành tử thủ để chờ viện binh. Quang Toản nghe tin thua trận liền sai ngay hai đại tướng Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng mang binh thuyền tới cứu viện. Quân do thám báo về Nguyễn Vương lập tức dẫn đại quân chia ba đường do Lê Văn Duyệt, Tống Viết Phước, Đông cung Cảnh với hai phó tướng là Nguyễn Đình Đắc, Nguyễn Công Thái cùng tiến đánh quân cứu viện; Võ Duy Nghi quản binh thuyền năm doanh án ngữ cửa biển Kim Bồng. Nguyễn Vương tự mình chỉ huy đại quân tiến gấp đến Tân Quan. Nguyễn Quang Diệu và Võ Văn Dũng vào Quảng Ngãi nghe tin quân Nam đã chiếm Tân Quan bèn bỏ thuyền lên bộ, quân đông tới vài vạn, tiến nhanh như gió cuốn đất. Quân Quang Diệu và Nguyễn Ánh giáp chiến, trong khi Võ Văn Dũng ngầm chia binh theo đường tắt thẳng đến Bến Đá định tập kích Tân Quan đang đêm vượt suối nhỏ bị chạm trán cánh quân mạnh của Tống Viết Phước bị thua to phải lùi về Quảng Ngãi. Nguyễn Vương lập tức sai đem quân thua của Võ Văn Dũng đi diễu quanh thành Bình Định để làm quân Bắc khiếp sợ, lại lệnh cho Võ Tánh gấp rút công đồn và cho người vào thành dụ hàng. Tổng quản Lê Văn Thanh, Binh bộ Thượng thư Nguyễn Đại Phác, Thiếu úy Trương Tiến Thúy thấy thế không thể chống nổi, phải dâng thành xin hàng. Nguyễn Vương sai Lại bộ Tham tri Phạm Đăng Hưng cùng Lại bộ  Trần Văn Trạc đến thành Quy Nhơn chiêu dụ và tiếp nhận sự đầu hàng. Phạm Đăng Hưng nguyên là người làng Tân Hòa, Gia Định, là môn sinh của Lại bộ Nguyễn Bảo Trì, thông minh, hiếu học , thạo việc nước , binh thư lịch pháp tinh thông, thường được dự bàn mưu lược trong quân. Phạm Đăng Hưng sau này có con gái là bà Từ Dụ hoàng thái hậu, vợ vua Thiệu Trị, mẹ vua Tự Đức. Tướng Nguyễn Văn Thành chỉ huy quân tiên phong và hữu quân kịch chiến năm ngày ở Bến Đá với quân của tướng Tây Sơn Nguyễn Quang Diệu không phân thắng bại. Quang Diệu thấy Võ Văn Dũng thua trận nên không dám ham đánh mà thu binh rút lui. Nguyễn Vương chiếm thành Quy Nhơn. Nguyễn Vương thu quân về Nam, chọn cử đại tướng quân kiêu dũng thiện chiến Võ Tánh vừa là con rể Nguyễn Vương thống tướng trấn thủ  Bình Định,  Ngô Tòng Chu làm hiệp trấn, Hình bộ Nguyễn Hoài Quýnh làm Bồi tán Quân vụ, Vệ úy Nguyễn Văn Thịnh làm Lưu thủ, Cai cơ Nguyễn Văn Tường làm Cai bạ. Phụng nghị Tá làm Ký lục giúp Võ Tánh ở dinh Trấn thủ. Ba đồn quân ngự lâm Tả Trung Tiền đặt dưới quyền của ba tướng Phan Tiến Huỳnh, Đoàn Văn Cát, Lê Chất, cùng với Nguyễn Văn Tồn chỉ huy lính Xiêm đóng tại các vị trí hiểm yếu che chắn vòng ngoài và tạo thế liên hoàn phòng thủ thành Bình Định. Nguyễn Vương cũng chọn cử tướng Nguyễn Văn Trương đóng giữ cửa Thi Nại. Tướng Nguyễn Văn Tính lưu thủ Diên Khánh, Đặng Trần Thường làm Hiệp trấn, Phạm Tiến Tuấn lưu thủ Phú Yên, Lưu Tiến Hòa lưu thủ Bình Khang, Võ Văn Lân lưu thủ Bình Thuận. Ra lệnh lập sổ dân binh, khen thưởng huân công, bổ dụng con cháu những người trung nghĩa, xét trả lại ruộng đất bị quan quân Tây Sơn chiếm đoạt. Quy Nhơn trước  thuộc trấn Quảng Nam vốn là đất khởi nghiệp của nhà Tây Sơn, sản vật dồi dào, sức binh hùng mạnh mà Trung ương Hoàng Đế Tây Sơn Nguyễn Nhạc và Hoàng Đế Quang Trung Nguyễn Huệ tranh chấp để giành lấy sự chính danh ngôi vua, đã dẫn đến hiềm khích bất hòa và chia rẽ sâu sắc, dẫn đến suy yếu. Sau hai mươi sáu năm khởi nghiệp nay thành Quy Nhơn bị rơi vào tay quân Nam Triều, Nguyễn Vương cho đổi tên thành Bình Định. Vua Quang Toản nghe tin báo quân Nam đã rút về Nam, chỉ để lại quân tướng giữ thành bèn thương nghị với Trần Văn Kỷ.  Quy Nhơn là đất hưng vượng triều ta mà không giữ được thì làm sao giữ được Phú Xuân và cửa Hàn? Trần Văn Kỷ người Thuận Hóa, vốn có văn học, là bậc danh sĩ ở Nam Hà. Sách Hoàng Lê Nhất thống chí viết: “Năm Đinh Dậu (1777) niên hiệu Cảnh Hưng, Kỷ thi ở trấn (Phú Xuân) đậu giải nguyên. Năm Mậu Tuất (1778), Kỷ tới kinh (Thăng Long) thi Hội. Sĩ phu ở Bắc Hà, Kỷ có giao thiệp quen biết ít nhiều. Năm Bính Ngọ (1786), Bắc Bình Vương (Nguyễn Huệ) đánh lấy thành Phú Xuân, sai người tìm Kỷ hỏi việc Nam, Bắc. Kỷ đối đáp rất nhanh và rất hợp ý, nên Bắc Bình Vương rất trọng, cho ở vào chỗ “màn trướng”, việc gì cũng bàn với Kỷ, lúc nào cũng gần bên Kỷ, không mấy khi xa rời”. Năm 1786, khi  Nguyễn Huệ xuất quân ra Thăng Long lần thứ nhất để diệt Trịnh, phò Lê; gặp khi vua Lê Hiển Tông mất (ngày 10 tháng 8), Trần Văn Kỷ cùng Nguyễn Hữu Chỉnh đã thay mặt Nguyễn Huệ mặc áo trắng đi theo hầu đám tang vua đến nơi an táng ở Bàn Thạch (Thanh Hóa). Năm 1787, nội bộ Tây Sơn lâm vào tình trạng chia rẽ sâu sắc. Trần Văn Kỷ đã đứng ra lo dàn xếp giữa hai anh em Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ bằng cách lấy Bản Tân làm ranh giới. Từ Quảng Ngãi trở vào Nam do Nguyễn Nhạc làm chủ, từ Thăng Diện ra Bắc thuộc về Nguyễn Huệ, nhờ mưu kế này đã chấm dứt cuộc hỗn chiến đẫm máu kéo dài suốt từ tháng 1 đến  tháng 5 năm 1787 giữa hai thủ lĩnh Tây Sơn làm thiệt hại chừng một nửa trong số 6 vạn quân của Nguyễn Huệ điều vào Quy Nhơn. Theo sách Tây Sơn thủy mạt khảo của Đào Nguyên Phổ (1861-1908) đã xác nhận điều này “nhờ mưu kế của Trần Văn Kỷ, là người hạnh thần của Nguyễn Huệ bày ra”. Do thành quả trên, ông được phong tước Kỷ Thiện hầu, giữ chức Trung thư Phụng chính, có nhiệm vụ tham mưu, nắm toàn bộ trung thư cơ mật, thảo sắc phong, chiếu lệnh, vị đại thần bên cạnh vua Quang Toản. Chính vì vậy Quang Toản  đã đích thân dẫn đại quân vào Trà Khúc để đôn đốc các tướng tiến đánh. Trần Nhật Kết nói: Nay là cuối thu, hướng gió không thuận, nên chuẩn bị kỹ quân lương mọi mặt, đầu xuân hãy ra quân. Mặt khác cũng phải đề phòng kinh thành Phú Xuân bị đột kích từ hướng tây và hướng biển. Quang Toản nghe lời, sau khi hội tướng xong bèn để Nguyễn Quang Diệu, Võ Văn Dũng  trấn thủ Quảng Nam và Quảng Ngãi, Nguyễn Văn Giáp trấn thủ Trà Khúc, còn vua thì đem quân về Phú Xuân.

Năm Canh Thân (1800). Nguyễn Du 35 tuổi. Nguyễn Quang Diệu và Võ Văn Dũng về triều kiến vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản ở Phú Xuân. Vua Quang Toản phủ dụ rằng: Các khanh là trụ cột của triều đình, nên đồng tâm gắng sức để trừ họa ngoài, không nên nghi ngờ nhau.  Hai tướng khóc mà tạ ơn. Diệu nói: Bọn thần đi chuyến nay nếu không thu phục được Quy Nhơn thề không đem binh trở về. Không ngờ, đây chính là chuyến xuất quân định mệnh, bước ngoặt của cục diện quân sự thay đổi dẫn đến sụp đổ nhà Tây Sơn. Nguyễn Quang Diệu và Võ Văn Dũng vốn là hai chiến tướng trụ cột lừng danh của nhà Tây Sơn, hai  ông cùng với Ngô Văn Sở và Bùi Thị Xuân được người đương thời gọi là Tây Sơn tứ kiệt. Ngô Văn Sở lúc ấy đã chết. Bùi Thị Xuân thì sau này là nữ tướng lẫm liệt bậc nhất của triều Cảnh Thịnh đương đầu với thế quân áp đảo của Nguyễn Vương khi Nguyễn Quang Diệu và Võ Văn Dũng bị hãm trận ở nơi xa. Nguyên là Võ Văn Dũng sau trận thua nặng nề ở Bến Đá khi ông định tập kích Tân Quan, kỹ luật của quân Tây Sơn rất nghiêm minh, Quang Toản nối chí Nguyễn Huệ nhưng đã quen phong thái chỉ huy của cha, trị quân và khiển tướng rất nghiêm. Mọi sơ suất trong hành binh, đánh trận và thưởng phạt đều xử trọng tội theo quân pháp. Võ Văn Dũng dễ bị tội chết  nhưng nhờ có Quang Diệu che giấu nên Võ Văn Dũng cảm nghĩa ấy mà kết sinh tử với Trần Quang Diệu và cố kết với nhau rất tương đắc. Trần Văn Kỷ, Trần Nhật Kết và Hồ Công Diệu trong Cơ Mật Viện ‘ban tham mưu’ của vua Cảnh Thịnh ở Phú Xuân vốn ghét Nguyễn Quang Diệu oai quyền lấn chủ, tướng ở ngoài thường tự chuyên, hành binh tiến lui và mưu lược đánh trận coi thường mưu kế của tham mưu ở xa. Nay nhân việc binh thua mất đất căn bản Quy Nhơn của Quang Diệu nên đã gửi mật chiếu lệnh cho Dũng thay Diệu nắm trọng binh. Dũng vì mang ơn Diệu nên đưa tờ chiếu ấy cho Diệu xem. Hai người kéo binh về đóng trại ở nam Sông Hương đòi trị tội tên giặc ở bên cạnh vua. Trần Văn Kỷ đổ lỗi cho Hồ Công Diệu và Trần Nhật Kết. Kết bỏ trốn. Quang Toản sai bắt Hồ Công Diệu nộp cho Nguyễn Quang Diệu, bấy giờ Trần Quang Dũng và Võ Văn Dũng mới chịu vào triều kiến và xuất quân đánh Quy Nhơn  Tháng Chạp năm 1800, Trần Quang Diệu sai đắp lũy dài vây đánh thành Quy Nhơn rất gấp, trong khi Võ Văn Dũng thì đem hai tàu lớn và hơn trăm chiến thuyền bố phòng bị nghiêm ngặt cửa biển Thị Nại, xây đồn và đặt súng đại bác ở hai bên cửa biến phòng thủy quân của nhà Nguyễn đánh ra. Tin báo về Gia Định, các tướng đều thấy quân Võ Tánh thế cô, xin xuất binh cứu viện gấp. Nguyễn Vương nói: “Lương thảo trong thành Bình Định đủ ăn một năm. Nay gió mùa đông bắc đang mạnh, chưa tiện đưa thủy quân ra”. Nói rồi cho người ruổi ngựa mang thư khuyến khích Võ Tánh đốc thúc tướng sĩ liều chết cầm cự, một mặt hội tướng bàn việc tiến quân. Nguyễn Vương điều Đông cung Cảnh về giữ thành Gia Định, lấy Nguyễn Văn Nhơn quyền lãnh Tả quân phó tướng coi sóc mọi việc cùng Đông cung và lo chi viện lương thảo, cử Hình bộ Thượng thư Nguyễn Tử Châu làm hiệp tán cơ vụ. Tấn phong Nguyễn Văn Thụy làm làm Khâm sai thượng đạo Bình Tây đại tướng quân, dẫn một cánh quân  ‘thám báo tinh nhuệ’ đi mua chuộc lòng dân, tổ chức dân binh, hội binh cùng vua Vạn Tượng loan truyền việc đánh Nghệ An và tây Phú Xuyên để kiềm chế viện binh Phú Xuân và Bắc Hà kéo vào tiếp ứng Quy Nhơn. Kế đến là tung thám báo và những người có quan hệ nhiều với triều Lê, tướng trụ cột Tây Sơn để  thăm dò nội tình, gây chia rẽ, lũng đoạn triều chính ngay trong lòng nội bộ Tây Sơn. Đội quân này xuất phát ngay. Tháng ba năm ấy, Nguyễn Vương lệnh cho Nguyễn Đức Xuyên đưa đội tượng binh và đại quân đường bộ lên đường còn tự mình thì dẫn đoàn chiến thuyền tiến phát tiếp sau. Nguyễn Đức Xuyên ra đến Diên Khánh thì Trần Quang Diệu đã lập 90 đồn binh hùng hậu liên hoàn để phòng giữ. Nguyễn Đức Xuyên xin lệnh Nguyễn Vương về phối hợp tiến công. Các tướng bàn định là nên bỏ Bình Định để tấn công Phú Xuân. Đặng Trần Thường cho rằng không nên vì quân Nam triều thuận gió ập đến, thủy quân Tây Sơn đang hùng hậu và cố thủ ở cửa Thị Nại, nếu thuyền quân Nam tiến ra Phú Xuân thì thủy quân Tây Sơn sẽ thuận gió đuổi theo, hai mặt trước sau giáp công thì quân Nam sẽ rất nguy hiểm. Nên đánh tan thủy binh mới đánh Phú Xuân được. Nguyễn Vương khen phải nên cho chiến thuyền tạm cập bến Cù Mông là nơi luồng lạch không thuận lợi bằng cửa Thị Nại vì Tây Sơn đã chiếm trước và phòng ngự chắc chắn rồi. Quân sư Đặng Đức Siêu dâng kế là quân Nam nếu bỏ tàu thuyền lên bộ thì thuyền neo lại ngoài khơi rất dễ bị Tây Sơn đánh đoạt, trong khi quân Nam sở trường thủy chiến hơn đánh bộ, sao bằng nhân trời gió nồm lớn gió thuận thế hãy dùng kế hỏa công lấy thuyền cá của dân chở thuốc dẫn nổ và đồ gây cháy đi đầu bí mật xáp trận phá sạch thủy quân của địch thì sẽ có lợi lớn. Sự cần thiết là quân bộ phải tấn công nhiều hướng để thu hút địch và phân tán sự chú ý. Nguyễn Vương theo kế này. Tướng tiền quân Nguyễn Văn Thành kiêu dũng, thiện chiến được giao thống binh tất cả các đạo quân bộ để giao chiến gìm chân tướng giỏi Nguyễn Quang Diệu. Tướng Võ Duy Nghi và Lê Văn Duyệt  cùng đại đội quân thủy tổ chức tập kích Võ Văn Dũng ở Thị Nại. Quân hai bên giao chiến rất ác liệt. Lúc bấy giờ quân bộ của Nguyễn Văn Thành và Võ Tánh với quân thủy của Nguyễn Vương chưa thông được với nhau. Các tướng thống binh của hai bên đều là tướng tài, chiến sự rất ác liệt giằng co không phân thắng bại.

Năm Tân Dậu (1801). Nguyễn Du 36 tuổi. Chúa Nguyễn cùng cánh quân thủy của Lê Văn Duyệt và các tướng là Nguyễn Văn Trương, Tống Phước Lương, Võ Di Nguy đánh chiếm cửa biển Thị Nại. Tướng Võ Di Nguy bị trúng đạn chết lúc lâm trận, Lê Văn Duyệt trong mưa đạn liều chết hãm trận, càng gắng sức đánh, đốt phá gần hết binh thuyền Tây Sơn. Trận Thị Nại được khen là “võ công đệ nhất” của Nhà Nguyễn, và là “võ công lớn nhất” của Lê Văn Duyệt. Thủy quân Tây Sơn của danh tướng Võ Văn Dũng bị quân Nguyễn Ánh đánh bại, tàu lớn và chiến thuyền đều bị thiêu rụi. Võ Văn Dũng lên bộ, hợp quân với Trần Quang Diệu tiếp tục vây Quy Nhơn. Quân đôi bên đánh nhau rất quyết liệt thì vừa có tin Gia Định báo ra là Đông cung Cảnh bị bệnh đậu mùa đã mất. Nguyễn Vương đau đớn sai Nguyễn Văn Nhơn, Nguyễn Tử Châu thay thế giữ công việc trấn thủ Gia Định và lo liệu việc tang. Tháng sau hoàng tử thứ hai tên là Hi cũng mất ở Diên Khánh, đem về táng ở Gia Định. Nguyễn Ánh sai tướng chỉ huy đạo Trung doanh là Nguyễn Văn Trương tấn công Quảng Ngãi và Quảng Nam. Đô đốc Tây Sơn tên là Tuấn phải bỏ chạy. Đại đô đốc Tây Sơn là Nguyễn Văn Xuân và Thiếu úy Văn Tiến Thể liều chết cố thủ. Trương cho quân vòng ra phía sau đánh úp, quân Tây Sơn buộc phải tháo chạy. Nguyễn Vương sai Tống Viết Phước và Phạm Văn Nhơn đem binh thuyền tiến gấp ra cửa biển Đà Nẵng phối hợp tác chiến. Đại đô đốc Nguyễn Văn Toản quê huyện Bình Sơn Quảng Ngãi đang quản sáu đạo quân Quảng Ngãi vây Quy Nhơn đã lén theo hàng Nguyễn Ánh và được Nguyễn Vương cho giữ chức Lưu thủ Quảng Ngãi. Vua Cảnh Thịnh được tin chiến sự cấp báo bèn triệu Trần Văn Kỷ vào định kế ngăn chặn quân Nam đánh ra Bắc. Trần Văn Kỷ tâu: Lực lượng tinh nhuệ quân Tây Sơn nay đang vướng bận vây thành Quy Nhơn và bị cắt đường về không thể ứng cứu, trong khi Nghệ An bị người Vạn Tượng, Trấn Ninh kéo xuống quấy nhiễu. Quân lực ở Quảng Bình và Quảng Trị chỉ đủ trấn giữ địa phương, nên Phú Xuân không còn quân dự bị để ngăn quân Nam tiến ra. Vua cần mời gấp La Sơn Phu Tử về vấn kế. Gặp vua,  La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp nói ngay: “Song Ngư thủy thiển. Nguyễn thị hoàn lương” (Song Ngư nước cạn. Họ Nguyễn về làng). “Xin bệ hạ gấp dời đô về Nghệ An, ngõ hầu còn kịp” vua Cảnh Thịnh sợ rối loạn lòng quân dân nên do dự chưa quyết. Trần Văn Kỷ hiến kế cho vua là cử Phò mã Nguyễn Văn Trị đóng đồn trọng binh ở cửa Thuận An, đắp lũy đóng cọc rào để chặn thủy quân Nguyễn Vương, lại lệnh cho Đại đô đốc Nguyễn Văn Xuân và Thiếu úy Văn Tiến Thể thu thập quân mã tiến đánh Nguyễn Văn Trương để khôi phục lại Quảng Nam làm thanh viện cho quân Tây Sơn đang vây thành Quy Nhơn. Xuân  và Thể nghe lệnh đã thu thập binh mã, trước dụ hàng và sau tiến đánh quân Nam của Nguyễn Văn Trương nhưng bị thua nên buộc phải cố thủ. Tháng 4 âm lịch năm 1801, nhận thấy quân tinh nhuệ của Tây Sơn đều ở cả Quy Nhơn mà lực lượng ở Phú Xuân (Huế) thì rất yếu ớt, Nguyễn Ánh đốc suất toàn bộ thuỷ quân và trên 1.000 chiến thuyền, thuận theo gió nam vượt biển ra phía bắc, đánh thẳng vào cửa Thuận An. Quân Tây Sơn địch không nổi và tan vỡ. Cảnh Thịnh dốc hết tướng sĩ, tự mình cầm quân tới đánh nhau với quân Nguyễn. Gần trưa, quân Tây Sơn đại bại, vỡ chạy tan tác. Quân chúa Nguyễn chiếm lại đô thành, tướng Lê Văn Duyệt bắt sống Phò mã Nguyễn Văn Trị và Đô đốc Phan Văn Sách. Ngày 3 tháng 5 (tức ngày 15 tháng 6 năm 1801),  Nguyễn Vương tiến vào nội thành Phú Xuân sau khi đánh tan đội thủy quân của nhà Tây Sơn, khiến vua Cảnh Thịnh phải tháo chạy ra Bắc. Một số quan tướng triều Cảnh Thịnh ra hàng, có người được dùng có người bị giết. Vua Gia Long nói: “Bọn khanh trình bày, cố nhiên là có ý phòng ngừa từ trước. Nhưng từ khi ta lấy lại Phú Xuân, bọn tướng giặc đầu hàng có, bắt được cũng có, ta đã tùy nghi xếp đặt, quân của chúng cho xen lẫn với quân ta, dưới quyền quan ta cai quản. Bọn chúng bất quá cai quản năm ba tên thuộc binh mà lệ theo súy phủ, phỏng có mang lòng phản trắc cũng không thi hành vào đâu. Bọn khanh ở quân thứ xa, chưa rõ sự cơ, nên đặc dụ cho biết”. Nguyễn Vương vừa chiếm Phú Xuân đã lập tức sai Tiết chế Lê Văn Duyệt (có Lê Chất đi theo) đem quân bộ và Tống Viết Phước đem quân thủy, bất kể ngày đêm gấp đường vào cứu Bình Định. Lê Văn Duyệt dọc đường đánh thắng nhiều trận nhưng rốt cuộc không kịp cứu Quận Công Võ Tánh và Lễ Bộ Ngô Tùng Châu. Hai ông vì lương hết, nên đều đã tuẫn tiết vào cuối tháng 5 âm lịch năm 1801. Chúa Nguyễn xét công phong Lê Văn Duyệt làm “Thần sách quân Chưởng tả dinh Đô thống chế Quận Công”, phong cho Lê Chất làm tướng dưới quyền, để cùng mang quân đi thu phục các nơi. Nguyễn Quang Toản sau khi thua trận, chạy ra Nghệ An ở lại vài ngày, rồi vội ra Thăng Long hội họp tướng sĩ, lo việc chống giữ. Tháng 8 năm đó, vua Quang Toản ở Thăng Long đổi niên hiệu Cảnh Thịnh làm năm đầu niên hiệu Bảo Hưng. Tháng 11, vua đem quân và voi của 6 trấn Hải Dương, Sơn Tây, Sơn Nam, Kinh Bắc, Thanh Hoa, Nghệ An vào đánh, nhưng bị quân nhà Nguyễn đánh thua, lại phải rút về.

Năm Nhâm Tuất (1802). Nguyễn Du 37 tuổi. Mùa xuân năm 1802, quân nhà Nguyễn qua sông Gianh tiến đánh, hạ được đồn Tâm Hiệu thuộc châu Bố Chính. Quân Tây Sơn tan vỡ, chạy về doanh Hà Trung trong hạt Kỳ Anh. Tháng 5 năm này, Nguyễn Ánh hạ chiếu đổi niên hiệu làm năm đầu niên hiệu Gia Long. Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng sau khi hạ được thành Quy Nhơn liền đem quân về đánh Phú Xuân. Khi Diệu đem quân ra khỏi địa giới Quy Nhơn thì bị tướng của nhà Nguyễn là Đắc Lộc hầu chặn lại. Quân của Trần Quang Diệu đánh phá nửa ngày nhưng không thể hạ được với vô số người chết và bị thương. Diệu đành đem quân theo đường núi vào Ai Lao, định ra Nghệ An. Được tin, Nguyễn Ánh lập tức cắt đặt các tướng, thống lĩnh các đạo quân thuỷ bộ, hẹn ngày kéo ra Bắc. Ngày 28 tháng 5, thuỷ quân của nhà Nguyễn tới cửa biển Đan Nhai thuộc Nghệ An, tiến đánh và phá được đồn Quần Mộc. Quân bộ cũng tiến đến phía nam sông Thanh Long rồi vượt sang bờ phía Bắc. Hai mặt thuỷ bộ đều tiến công, quân Tây Sơn bỏ chạy tán loạn. Quân nhà Nguyễn bèn xông lên cướp kho thóc Kỳ Lân. Trấn thủ của nhà Tây Sơn là Nguyễn Văn Thận cùng với hiệp trấn Nguyễn Triêm, thống lĩnh Nguyễn Văn Đại, thiếu uý Đặng Văn Đằng bỏ thành chạy ra miền Bắc. Đến đồn Tiên Lý, Nguyễn Triêm tự thắt cổ; còn Nguyễn Văn Thận chạy ra trấn Thanh Hoa. Quân nhà Nguyễn lấy được thành Nghệ An. Trần Quang Diệu ở Quỳ Hợp xuống đến địa phận Hương Sơn thì nghe tin Nghệ An đã thất thủ, bèn đến Thanh Chương, qua sông Thanh Long,  rồi chạy ra trấn Thanh Hoa. Tướng sĩ đi theo Diệu dần dần tản mát mỗi người một nơi. Quân nhà Nguyễn đuổi kịp, bắt sống được Diệu. Tháng 6, quân nhà Nguyễn tiến đánh thành Thanh Hoa. Em vua Quang Toản là đốc trấn Nguyễn Quang Bàn cùng Nguyễn Văn Thận, Đặng Văn Đằng đều đầu hàng. Ngày 18, Nguyễn Ánh tiến ra Thăng Long, quân Tây Sơn hoàn toàn tan vỡ. Nguyễn Quang Toản bỏ thành cùng với em là Nguyễn Quang Thùy và đô đốc Tú qua sông Nhĩ Hà chạy về hướng bắc. Sau đó, Quang Thùy và vợ chồng Tú đều tự thắt cổ. Còn vua cùng các bề tôi đều bị thổ hào Kinh Bắc bắt được đóng cũi giao nộp cho Nguyễn Ánh. Quan lại của nhà Tây Sơn ở các trấn hoặc trốn, hoặc hàng, không ai dám chống lại. Vua Gia Long vài tháng sau về lại Phú Xuân, sửa lễ cáo miếu dâng tù, đem Nguyễn Quang Toản ra dùng cực hình giết chết, rồi bố cáo cho khắp cả nước đều biết. Quang Toản cùng những người con khác của anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đều bị Gia Long sai dùng cực hình 5 voi xé xác. Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc cũng bị trả thù rất dã man: Mồ mả bị khai quật, hài cốt bị giã nát vứt đi; đầu lâu của Nhạc, Huệ, Toản và mộc chủ của vợ chồng Nguyễn Huệ đều bị giam ở nhà Đồ Ngoại, sau lại đưa vào cấm cố vĩnh viễn trong ngục thất (Nơi ấy, nay thuộc địa điểm Trường Đại học Nông Lâm Huế). Quang Toản khi bị hành hình, mới 19 tuổi. Triều đại Tây Sơn chấm dứt.

NGUYỄN DU THƠ HÁN NÔM 1790-1802

Nguyễn Du thơ Hán Nôm 1790-1802 là chuyên khảo nhằm sưu tầm đúc kết chỉnh lý thơ Hán Nôm Nguyễn Du giai đoạn Nguyễn Du làm “Nam Hải Điếu Đồ” (Người đi câu ở biển Nam) trong khoảng thời gian 1790-1796 ở đền Khán Xuân cạnh Hồ Tây (Hà Nội) là những năm cuối của Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc (1781-1796) và khoảng thời gian  Nguyễn Du làm “Hồng Sơn Liệp Hộ” (Người đi săn ở núi Hồng) 1797-1802 là năm năm cuối cùng của nhà Tây Sơn và khởi đầu của triều Nguyễn.

Bối cảnh Nguyễn Du giai đoạn  1790-1802
Theo Gia phả Nguyễn tộc tính toán năm sinh các con của Nguyễn Du thì năm 1778 Nguyễn Du về sống với vợ là cô Đoàn Nguyễn Thị Huệ (còn gọi là Tộ) là em gái của Đoàn Nguyễn Tuấn ở Thái Bình, nhưng sự thật là: Nguyễn Du được cha mẹ hứa hôn cho cô Đoàn Nguyễn Thị Huệ là con gái thứ sáu của Đoàn Nguyễn Thục người Quỳnh Côi, Hải An xưa thuộc Sơn Nam, nay thuộc Thái Bình . Nhờ lương duyên này mà họ Nguyễn Tiên Điền và Nguyễn Du có thêm thế lực của cha vợ là quan Hoàng giáp Phó Đô ngự sử Quỳnh Châu bá, và anh vợ là tiến sĩ Đoàn Nguyễn Tuấn, là trấn thủ Sơn Nam Hạ, sau này làm quan thị lang triều Tây Sơn.

Năm  Mậu Tuất (1778) Nguyễn Du mười ba tuổi, bà Trần Thị Tần, mẹ Nguyễn Du qua đời. Nguyễn Du mồ côi cả cha lẫn mẹ nên ông phải ở với người anh khác mẹ là Nguyễn Khản (hơn ông 31 tuổi).  Cũng trong năm này, anh thứ hai của Nguyễn Du là Nguyễn Điều (sinh năm 1745) được bổ làm Trấn thủ Hưng Hóa. Năm ấy, Nguyễn Nhạc tự xưng đế hiệu, đặt niên hiệu là Thái Đức, phong cho Nguyễn Lữ làm Tiết chế, Nguyễn Huệ làm Long Nhương tướng quân. Nguyễn Khản là anh cả của Nguyễn Du cũng là thầy học của chúa Trịnh Khải. Nguyễn Du năm này về Tiên Điền học với chú Nguyễn Trọng và đi lại rất thân thiết với Đoàn Nguyễn Tuấn làm trấn thủ ở Sơn Nam Hạ là người thân cũng là học trò của Nguyễn Nghiễm.

Năm Nhâm Dần (1782), Nguyễn Du mười bảy tuổi,  làm Chánh thủ hiệu quân Hùng hậu Thái Nguyên, nơi Quản Vũ Hầu Nguyễn Vũ Tiến là cha nuôi làm quan trấn thủ. Đây là vùng đất hiểm yếu có nhiều người Trung Quốc sang khai mỏ bạc. Nguyễn Đăng Tiến vốn là tay giặc già phản Thanh phục Minh người Việt Đông Trung Quốc, vừa là tân khách, thầy dạy võ cho Nguyễn Du và các anh em, vừa là tâm phúc của Nguyễn Nhiễm. Năm ấy, Trịnh Sâm mất, Kiêu binh phế Trịnh Cán, lập Trịnh Khải (Trịnh Tông) lên ngôi chúa. Hai anh của Nguyễn Du là Nguyễn Khản được làm Thượng thư bộ Lại, tước Toản Quận công, Nguyễn Điều làm Trấn thủ Sơn Tây.

Năm Quý Mão (1783), Nguyễn Du mười tám tuổi. Nguyễn Du thi Hương ở trường Sơn Nam, đậu Tam trường. Cũng năm ấy, Nguyễn Khản đầu năm thăng chức Thiếu Bảo, cuối năm thăng chức Tham tụng, Thượng Thư Bộ Lại kiêm trấn thủ Thái Nguyên, Hưng Hóa. Anh cùng mẹ của Nguyễn Du là Nguyễn Nễ (sinh 1761) đỗ đầu thi Hương ở điện Phụng Thiên, được bổ thị nội văn chức, khâm thị nhật giảng, sung Nội Hàn Viện cung phụng sứ, phó tri thị nội thư tả lại phiên, Thiên Thư Khu mật viện Đức Phái hầu, cai quản đội quân Phấn Nhất của phủ Chúa. Vừa lúc Thuận Châu khởi binh, phụng sai hiệp tán quân cơ của đạo Sơn Tây.

Năm Giáp Thìn (1784), Nguyễn Du mười chín tuổi. Tháng 2 , nhân vụ 7 kiêu binh bị nhà chúa giết vì bữa tiệc vua Lê đãi kiêu binh có công phò Hoàng Tự Tôn Lê Duy Kỳ từ trong tù ra, kiêu binh đã nổi dậy đưa hoàng tôn Lê Duy Kỳ lên làm thái tử. Tư dinh của Nguyễn Khản ở phường Bích Câu, Thăng Long bị phá. Nguyễn Khản trốn lên với em là Nguyễn Điều đang làm trấn thủ Sơn Tây và Nguyễn Nể làm Hiệp tán Nhung vụ. Họ toan hợp quân các trấn về đánh kiêu binh, nhưng khi sự lộ ra quân kiêu binh vào canh chặt phủ chúa, Trịnh Khải không ra được nên mưu bất thành. Kiêu binh chia nhau giữ các cửa ô. Quân các trấn sợ chúa bị hại nên đành kéo về. Nguyễn Khải đang ở cùng Nguyễn Điều Trấn thủ Sơn Tây bị khép tội mưu loạn trong Vụ án năm Canh Tý, Ông bị bãi chức và bị giam ở nhà Châu Quận công. Kiêu binh áp lực bãi chức Nguyễn Khản, giáng chức Nguyễn Điều. Hai người về Hà Tĩnh.

Năm Bính Ngọ (1786) Nguyễn Du hai mươi mốt tuổi vẫn làm Chánh thủ hiệu quân Hùng hậu Thái Nguyên với quan trấn thủ Thái Nguyên Quản Vũ Hầu Nguyễn Vũ Tiến Tây Sơn ra Bắc, Nguyễn Khản từ Hà Tĩnh theo ghe mành ra Bắc giúp chúa Trịnh, chủ trương đóng quân theo lối vẩy sộp kiểu phòng ngự chiều sâu nhiều tầng (theo Lê Quý Kỷ sự), nhưng kiêu binh vu cáo ông rước giặc Tây Sơn về. Nguyễn Khản phải bỏ chạy, ông mất trong hoàn cảnh đó ở Thăng Long, thi hài ông được đưa về an táng tại Hà Tĩnh. Khi kinh thành thất thủ, nhà Trịnh mất, Nguyễn Điều buồn uất ức thành bệnh mất ngày 31 tháng 7 năm 1786. Mộ được an táng xã Đại Đồng, huyện Nam Đàn, Nghệ An, sau được cải táng về xã Sơn An, huyện Hương Sơn. Các con và gia đình ông lập chi Nguyễn Tiên Điền tại đây. Chi họ này ở đó có trên 400 người. Nguyễn Du ở đâu trong năm này? Trong cơn lốc của các sự biến, người đời sau (Nguyễn Thế Quang với tiểu thuyết Nguyễn Du) cho rằng Nguyễn Du đã gặp Nguyễn Huệ tại điện Kính Thiên. Viên võ tướng Nguyễn Du trẻ tuổi cao lớn với thanh bảo kiếm của Việp Quân Công Hoàng Ngũ Phúc trao tặng trước đây đã trầm tĩnh đối mặt với người anh hùng Nguyễn Huệ oai chấn Bắc Hà.

Năm Đinh Mùi (1787) Nguyễn Du 22 tuổi. Nguyễn Nhạc từ Thăng Long trở về, phong cho Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương trấn thủ Phú Xuân, còn mình thì dẫn tùy tùng về Quy Nhơn, tự xưng làm Trung Ương Hoàng Đế, phong cho Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương ở đất Gia Định, phong Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương ở đất Thuận Hóa, lấy Hải Vân làm giới hạn. Nguyễn Nhạc hỏi những báu vật vàng bạc đoạt được ở phủ chúa Trịnh. Nguyễn Huệ từ chối không nộp. Nguyễn Huệ muốn kiêm quản cả đất Quảng Nam nhưng Nguyễn Nhạc không cho. Cùng thêm một số chuyện hiềm khích cơ mật khác. Tây Sơn bùng nổ bất hòa không thể cứu vãn. Nguyễn Ánh được cơ hội phục hồi. Nguyễn Hữu Chỉnh đuổi Trịnh Bồng, tôn phò vua Lê Chiêu Thống. Trịnh Bồng chạy khỏi kinh thành, Lê Chiêu Thống ngầm cho người đốt phủ chúa. Vua Lê Chiêu Thống theo kế của Nguyễn Hữu Chỉnh sai người ngầm mang nhiều vàng bạc đưa cho Nguyễn Văn Duệ để giết Võ Văn Dũng và lấy sông Gianh làm ranh giới như cũ. Vũ Văn Nhậm dò biết mưu ấy bèn cấp báo cho Nguyễn Huệ. Huệ liền sai người ra Nghệ An bắt Duệ nhưng Duệ thấy động đã đem quân thuộc hạ theo đường rừng trốn về Quy Nhơn. Nguyễn Huệ sai Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân theo quyền tiết chế Vũ Văn Nhậm đem quân ra Bắc hỏi tội Nguyễn Hữu Chỉnh. Chỉnh cho thuộc tướng chống giữ nhưng đều bị đánh tan. Vua Lê Chiêu Thống sai Lê Quýnh cùng hơn 30 người tôn thất đem bà Hoàng Thái hậu và Hoàng phi, Hoàng tử chạy lên Cao Bắng. Chỉnh thì cướp đường rước vua Lê Chiêu Thống chạy lên Kinh Bắc về đóng ở núi Mục Sơn đất Yên Thế. Nhậm sai bộ tướng Nguyễn Văn Hòa truy sát và đuổi kịp Nguyễn Hữu Chỉnh, bắt sống đóng gông giải về Thăng Long.  Nhậm kể tội rồi sai chặt chân tay, phanh thây Chỉnh. Nhậm tìm vua Lê Chiêu Thống không được bèn tôn Sùng Nhượng Công Lê Duy Cẩn lên làm Giám Quốc để thu phục lòng người. Thầy đề lại Giám Quốc mỗi ngay phải sang chầu chực ở dinh Vũ Văn Nhậm. Nhậm tỏ ý kiêu ngạo. Ngô Văn Sở mật trình tấu sự tình về Nguyễn Huệ. Bắc Bình Vương lập tức truyền lệnh kéo quân kỵ gấp đường ra Thăng Long, nửa đêm đến nơi bắt Vũ Văn Nhậm giết đi, đổi đặt quan quân, đặt quan lục bộ và các quan trấn thủ, để Lê Duy Cẩn làm Giám Quốc, chủ trương việc tế lễ để giữ tông miếu tiền triều, dùng Ngô Thì Nhậm làm Lại bộ tả thị lang, cùng bọn Ngô Văn Sở ở lại giữ đất Bắc Hà, còn Nguyễn Huệ thì chọn ngày về nam. Danh tướng Vũ Văn Nhậm là con rể Nguyễn Nhạc bị giết nên mối bất hòa anh em Tây Sơn càng sâu sắc. Mẹ của vua Lê Chiêu Thống chạy lên Cao Bằng cùng với Đốc trấn Nguyễn Huy Túc chạy sang đất nhà Thanh xin với Tổng đốc Lưỡng Quảng xin cứu viện. Tôn Sĩ Nghị dâng biểu lên vua Càn Long xin điều quân Lưỡng Quảng, Vân Nam, Quý Châu chia làm đường sang cứu viện cho vua Lê. Lúc này vua Chiêu Thống đã chạy lánh vào Bảo Lộc, Trấn Ninh.

Nguyễn Du những năm 1781-1786 là “năm năm hùng cứ một phương hải tần”, chủ yếu ở Thái Nguyên Hải Dương và đi lại chủ yếu ở các nơi Thái Nguyên, Thăng Long, Sơn Nam Hạ (Thái Bình),… tôn phò vua Lê theo sự sắp xếp hợp lý của anhbem nhà Nguyễn Tiên Điền. Nguyễn Du những năm 1786 -1992 đi lại chủ yếu giữa Thăng Long, Quảng Tây, Kinh Bắc, Hải Dương, Nghệ An nhưng những năm này Nguyễn Du đang lúc “ngọa hổ tàng long” nên  hành tung bí mật, rất ít lộ diện. Những sử liệu dưới đây cho thấy các địa điểm ẩn hiện của ông: Trong  “Lê Quý Kỷ Sự” của Nguyễn Thu có nói đến cuộc khởi nghĩa tại Tư Nông của cựu Trấn Thủ Thái Nguyên Nguyễn Vũ Tiến, tước Quản Vũ Hầu, bị tướng Tây Sơn bắt giải về cho Vũ Văn Nhậm. Nhậm trọng sự khí khái nên dụ hàng, sau đó cũng tha bổng và cho phép muốn đi đâu thì đi. Nguyễn Vũ Tiến, Nguyễn Du, Nguyễn Quýnh cùng đi sang Vân Nam. Nguyễn Quýnh quay trở về Hồng Lĩnh khởi nghĩa bị bắt và bị giết năm 1791 tròn 30 tuổi, dinh thự và làng Tiên Điền bị đốt sạch. Gia tộc Nguyễn Tiên Điền bị giết thảm khốc và bị truy sát đến Trấn Ninh Vạn Tượng,

Nguyễn Du đến Vân Nam, bị bệnh ba tháng mùa xuân. Hết bệnh, họ đi Liễu Châu và chia tay, Nguyễn Đại Lang về thăm quê nhà vùng Quế Lâm, cao sơn lưu thủy. Nguyễn Du đi giang hồ ba năm ở Trung Quốc trong áo mũ nhà sư mang danh Chí Hiên, từ Quảng Tây theo thuyền đi dọc sông và Hồ Động Đình đến Hán Khẩu, rồi theo sông Hán rồi lên Trường An viết bài Dương Quý Phi, Bùi Tấn Công mộ, Phân Kinh thạch đài, rồi lại theo kinh Đại Vận Hà đến Hàng Châu Tại lời đề “tiểu dẫn” của “Thăng long cầm giả ca”, chính  Nguyễn Du đã nói rõ rằng những năm trước và sau cái Nguyễn Huệ ra Bắc lần 2 đến lúc Nguyễn Huệ chết, ông chủ yếu ở Thăng Long và “Lưu Hương ký” của Hồ Xuân Hương cũng trùng khớp và xác nhận về “ba năm vẹn” đó.

Hồ Xuân Hương là Hồ Phi Mai cũng khoảng năm 1796 mẹ gả chồng cho một thầy lang gần Cổ Nguyệt Đường () làng Nghi Tàm. Lưu Hương Ký sau này đă cắt nghĩa rõ lý do vì sao có điều đau xót ấy.  Nguyễn Du thời làm “Nam Hải Điếu Đồ” là tri âm tri kỷ với Hồ Xuân Hương sống chung “ba năm vẹn” ở Cổ Nguyệt Đường cạnh chùa Kim Liên (). Đây là đôi trai tài gái sắc  Nguyễn Du Xuân Hương luận anh hùng; Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương, ‘bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn/ để lời thệ hải minh sơn/ Làm con trước phải đền ơn sinh thành”.

Nguyễn Du đã bôn ba việc nước bao năm, gác bỏ tình riêng. Nguyễn Du làm nhà sư Chí Hiên đi lại ở Quảng Tây, Bắc Kinh, cung Nhiệt Hà (Trung Quốc) liên hệ với anh rể Vũ Trinh (*) chánh sứ của vua Lê  lo việc phục quốc cho vua Hậu Lê.  Nguyễn Du sau khi nhà Hậu Lê mất đã trực tiếp cùng em Nguyễn Ức xây đền thờ nghĩa sĩ nhà Hậu Lê Trung Liệt cổ tự (nay ở Thụy Khê, quận Tây Hồ, Hà Nội xem thêm Nguyễn Du và đền cổ Trung Liệt ). Nguyễn Du cũng được anh Nguyễn Nễ () giao xây dựng lại từ đường họ Nguyễn Tiên Điền ở làng Tiên Điền, đình chùa Trường Ninh, cầu Tiên ở xứ Nghệ (tên cũ của Nghệ An và Hà Tĩnh thời ấy).

(*) Cổ Nguyệt Đường cạnh chùa Kim Liên, cho nên Phạm Đình Hổ đã viết: Từ thuở làm thân khách Cố kinh. Kim Liên qua lại đã bao lần, anh chàng này từng là học trò cụ Đồ Diễn, nên biết Xuân Hương từ thuở còn thiếu nữ. Trong Vũ Trung tùy bút tr. 42, cho biết năm 1798 -1799 có dạy học tại thôn Khánh Văn, hạ lưu sông Tô Lịch không xa nhà Xuân Hương. Trong Tang Thương Ngẫu lục, q 2 tr 231 có bài ký tả cảnh chùa Kim Liên. “Mùa thu năm Đinh Tỵ (1797) tôi cùng các ông Nguyễn Thạch Hiên, Nguyễn Kính Phủ, Hoàng Hy Đỗ đến vãn cảnh chùa Kim Liên ở làng Nghi Tàm, nơi trụ trì của Hoà Thượng Huệ (nội thị của chúa Uy Vương)”  Phạm Đình Hổ đến thăm Xuân Hương cùng các bạn nhân đó ra về thăm chùa Kim Liên. Qua Vũ Trung Tùy bút ta biết Phạm Đình Hổ nhà ở phố Hàng Buồm và Nguyễn Kính Phủ (Nguyễn Án) ở cạnh đền Lý Quốc Sư bên Hồ Gươm, (nay là phố Nhà Thờ). Quang cảnh chung quanh Cổ Nguyệt Đường thế nào? Theo thơ Tốn Phong, người viết tựa cho Lưu Hương Ký:Phía trước nhà có trồng một cây bàng lớn: Cội bàng trăng khuất chiếu mai đình bài 6. Chung quanh nhà có trồng nhiều cây mai (mơ) Chủ nhân trước viện trắng mai hoa Bài 5, Bên quán người hoa chỉ thích mai.Bài 9 Tiết hàn mai tự nở ngàn hoa bài 26. Nhà nàng cạnh bến trúc làng Nghi Tàm: Vàng bay lá trúc ngõ chuyền oanh. Bài 6, Phượng cầm tự khóm trúc vang thanh, bài 14, Khóm trúc đình mai ta với ta, bài 21, Bến trúc mừng vui gặp mỹ nhân bài 25 Trên bến có trồng vài cây liễu: Bến nước đìu hiu liễu rủ cành, bài 6 Trong vườn có trồng cây vông và cây mận: Ngô đồng lá cũ mơ hồn phượng, ngõ hạnh lạnh tàn chuyển bóng oanh ,bài 17.

(**) Nguyễn Nể (1761-1805) là anh cùng cha khác mẹ và là người đặc biệt yêu thương của Nguyễn Du, thân thiết với Nguyễn Khản, Nguyễn Điều, Nguyễn Quýnh, Vũ Trinh, Đoàn Nguyễn Tuấn, Hà Mỗ. Họ là những anh em cùng gia tộc hoặc anh em rể hoặc là cha nuôi, tùy tướng đặc biệt tin cẩn (như với trường hợp của Hà Mỗ và Nguyễn Du). Nguyễn Nể tự là Tiến Phủ, hiệu Quế Hiên,  thi đậu đầu khóa Quốc Tử Giám, đậu đầu thi hạch, đậu Tứ Trường thi Hương năm 1779, Nguyễn Nể được bổ vào Thị Nội Văn thường trực tại nhà học của con chúa Trịnh Sâm, là bạn thiết của Trịnh Tông, sau Nguyễn Nể cai quản đội quân Nhất Phẩm kiêm Trị thị nội thư tả của phủ chúa Trịnh. Năm 1783, Nguyễn Nể làm Hiệp tán quân cơ đạo quân Sơn Tây. Năm 1786 vua Lê Quý Kỳ trực tiếp nắm lại chính sự thì Lê Quýnh và Nguyễn Nể được vua Lê tin cẩn “ngày đêm cùng họ trù tính mọi công việc, ngay cả những mưu kế phải dùng đến trong lúc bối rối bất ngờ, cũng được lo toan chu đáo” (Hoàng Lê Nhất Thống Chí trang 179). Nguyễn Nễ sau khi thời gian 1788, khi Tôn Sĩ Nghị sang chiếm nước ta, vua Lê Chiêu Thống thanh trừng những người cộng tác với nhà Tây Sơn thì rất nhiều người bị đục bỏ tên trong bia tiến sĩ nhưng Nguyễn Nể không có trong danh sách những người bị tội. Năm 1789 vua Quang Trung ra Bắc đánh bại Tôn Sĩ Nghi quét sạch quân Thanh ra khỏi bờ cõi, Nguyễn Nể được vời ra bổ làm Hàn Lâm Thị Thư và làm Phó Sứ sang Trung Quốc cầu phong nhà Thanh cho Vua Quang Trung, Vũ Huy Tấn làm Chánh Sứ, sứ đoàn còn có Ngô Vi Quý, Nguyễn Đình Cử, Nguyễn Quang Hiến … Trong cuộc đi sứ, vua Càn Long mời dự yến ở Các Tứ Quang ông làm thơ chúc mừng, vua Càn Long thưởng cho một tấm đoạn, hai thỏi mực và 3 tập hoa tiên lụa. Trở về được thăng Đông Các Học Sĩ, Thái tử Tả Thị Lang, Nghi Thành Hầu, được giao việc cai trị tại Bắc Hà. Nguyễn Nể năm 1794 được nhà Tây Sơn vời vào Phú Xuân làm việc Viện Cơ Mật.  Ông giao phó tiền bạc cho hai em là Nguyễn Du và Nguyễn Ức về xây dựng lại từ đường, đền thờ, cầu Tiên, chùa Trường Ninh làng Tiên Điền bị Hiệp Trấn Tây Sơn Lê Văn Dụ đốt phá nhân vụ Nguyễn Quýnh khởi nghĩa. Nguyễn Nể sau đó được phong Tả phụng Nghi Bộ Binh, hàm Tam phẩm, được cử làm Hiệp Tán Nhung vụ Quy Nhơn. Năm 1795 Nguyễn Nể được cử làm Chánh Sứ của triều Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản sang dự lễ vua Càn Long nhường ngôi cho con là vua Gia Khánh. Nguyễn Nể dâng hai bài thơ ứng chế được vua Càn Long đích thân mời uống rượu và dự yến Các Tử Quang. Nguyễn Nể được vua Càn Long khen thơ và ban thưởng : gấm đoạn, trà sen, gậy tuổi già, ngọc như ý, tứ bửu.. Cháu 24 đời Chu Văn Công tri phủ Tứ Thành tặng bốn chữ Thiên Môn Tái Đăng (hai lần lên cổng trời). Nguyễn Nể mùa thu 1796 sau khi sứ đoàn về nước được vẻ vang vì cả hai lần được vua Càn Long và triều đình nhà Thanh kính trọng. Ông là “Quế Hiên Nguyễn Nễ đỉnh núi cao thi trận nước Nam” được vua Cảnh Thịnh ban thưởng 40 mẫu ruộng, giữ chức Đông Các đại học sĩ, gia tặng Thái sử, Tả Thị Lang, tước Nghi Thành Hầu, chức vụ dâng sách cho vua Cảnh Thịnh mới lên mười hai tuổi, đọc và giảng nghĩa cho vua nghe sách Tiểu Học Diễn Nghĩa do La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp và Sùng Chính Viện vừa mới soạn xong. Ngoài ra còn các công việc giúp vua soạn các chiếu biểu, và kiêm các công việc Cơ Mật Viện, và chức vụ cuối cùng được thăng tới chức Trung Thư lĩnh hữu đồng nghị, chức vụ ngang hàng với quân sư Trần Văn Kỷ. Sau khi Nguyễn Du thăm anh cuối năm 1796, Nguyễn Nể xin về quê Nghệ An là hiệp trấn tham mưu cho Nguyễn Thận, xa dần kinh đô. Nguyễn Nể can thiệp cho Nguyễn Du ra tù sau khi toan trốn vào Nam theo Nguyễn Ánh. Theo nhà nghiên cứu Phạm Trọng Chánh “Nguyễn Du- Người đi săn núi Hồng” và “Quế Hiên Nguyễn Nể” thì lí do Nguyễn Nể năm 1797 được rời Phú Xuân là  Nguyễn Nể xin đi xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô tại Nghệ An cùng Trần Quang Diệu và Trấn Thủ Nguyễn Văn Thận. 

(***) Vũ Trinh (1769-1828) là anh rể và rất thân thiết với Nguyễn Du. Vũ Trinh là Chánh Sứ phụ trách mọi công việc bang giao của nhà Lê đối với Tôn Sĩ Nghị. Suốt triều Tây Sơn, (1789- 1801) Vũ Trinh lánh thân ở Hồ Sơn vùng Hà Nam ngày nay, dạy học và soạn sách. Khi Nguyễn Ánh lên ngôi, Vũ Trinh được mời ra tham chính, nhận chức Thị Trung Học sĩ được thăng Hữu Tham Tri Bộ Hình năm 1807 làm Chánh Sứ cùng Ngô Nhân Tĩnh đi sứ nhà Thanh. Năm 1816 ông có ý bênh vực cho học trò ông là Nguyễn Văn Thuyên, con Tổng Trấn Nguyễn Văn Thành nên bị đày đi Quảng Nam 12 năm, đến năm 1828 mới được ân xá, trở về quê vài ngày thì bị bệnh mất hưởng dương 59 tuổi.

Nguyễn Du thơ Hán Nôm 1790 – 1802

Thơ Hồ Xuân Hương Lưu Hương Ký năm 1790 là chỉ dấu sự thật lịch sử những bài thơ Hán Nôm của Nguyễn Du trong câu chuyện Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương.

THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG LƯU HƯƠNG KÝ
Thạch đình tặng biệt

Đường nghĩa bấy lâu trót vẽ vời,
Nước non sầu nặng muốn đi về.
Cung hoàng dịu vợi đường khôn lọt,
Đường nguyệt mơ màng giấc hãy mê.
Đã chắc hương đâu cho lửa bén,
Lệ mà hoa lại quyến xuân đi.
Xanh vàng chẳng phụ lòng ân ái,
Tròn trặn gương tình cũng có khi …

Thơ chữ Nôm Thanh Hiên Nguyễn Du
Hồ Xuân Hương chép trong Lưu Hương ký.

Họa Thanh Liên Chí Hiên nguyên vận

Khúc hoàng tay nguyệt còn chờ dạy,
Cánh phượng đường mây đã vội chi.
Chua xót lòng xem lời để lại,
Hững hờ duyên bấy bước ra đi.
Thử vàng đá nọ treo từng giá,
Phong gấm hoa kia nở có thì,
Đào thắm mận xanh còn thú lắm,
Xuân ơi đành nở đứt ra về.

Nguyễn Du đầu năm 1794 vào Huế thăm Nguyễn Nễ tại chốn địa đầu Quy Nhơn Diên Khánh thực chất là tìm kế tiến thoái vẹn toàn cho gia tộc Nguyễn Tiên Điển khi nhà Nguyễn Gia Miêu và nhà Nguyễn Tây Sơn đang tranh hùng. Năm 1794 Nguyễn Nễ đang làm Tả Phụng Nghị Bộ Binh bên cạnh vua Cảnh Thịnh, trong Cơ Mật Viện có Tả hữu Trung Thư là Trần Văn Kỷ và Nguyễn Nể, do sự sự xung của triều đình bởi Bùi Đắc Tuyên tiếm quyền nên đày Trung Thư Trần Văn Kỷ làm lính thú ở Hoàng Giang,  Nguyễn Nể nhân đó xin đi trấn nhậm Quy Nhơn đất khởi nghiệp triều Tây Sơn. Ngô Thời Nhậm từ quan Binh bộ thượng thư và chủ trì các chính sách ngoại giao nhà Tây Sơn với Trung Hoa năm 1794 xin về đi tu theo đạo Phật làm Hải Lượng Thiền Sư. Phan Huy Ích cũng từ quan Thị trung Ngự sử ở tòa Nội các và Thượng thư bộ Lễ về đi tu và sau mất tại làng Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An, (nay thuộc xã Thạch Châu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh).

Bài Tiễn ông Tả Phụng Nghị Bộ Binh Nghi thành hầu
họ Nguyễn đi thành Quy Nhơn.

Phan Huy Ích thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Sông núi Hoan gấm vóc,
Chung đúc bậc kỳ nhân.
Rạng rỡ quê đạo đức,
Điềm lành sinh phượng lân.
Tiến thủ biết khí phách.
Từ trẻ tỏ xuất sắc,
Cơ trí từng trải đời,
Đức độ rộng kiến thức.
Khí tiết như tùng bách,
Phẩm chất mài như ngọc.
Bản lĩnh tự tín trung,
Hành động thường lỗi lạc.
Hiểu lý tận tóc tơ,
Nói chuyện người bén sắc.
Làm bạn khắp thế gian,
Gắn bó như ruột thịt.
Nhìn rõ việc thiên hạ,
Nắm vững để vận hành.
Tạo hóa tính kỳ lạ,
Giao trách nhiệm xứng danh.
Gặp gỡ thánh minh trị;
Đi thăm gióng ngựa quý.
Học thức vua nể vì,
Nơi thanh toả dốc trí.
Ba năm dạo gươm đàn,
Thơ rượu thường vui vẻ.
Đấng trượng phu công danh,
Chí dũng giữ đúng thể.
Phía Nam biển mênh mang,
Đất mới triều khai thác.
Ấp thang mộc Quy Nhơn,
Anh tài nơi then chốt.
Dân vỗ về yên ổn,
Uy danh quân lẫy lừng,
Triều đình cần người trấn,
Khẳng khái đến cầm quân.
Lòng hùng khí độc tan,
Thanh cao tiếng hạc đàn.
Thị Nại sóng cuồn cuộn,
Cù Mông mây mác man.
Chí bốn phương thoả nguyền,
Mài núi khắc thơ hùng.
Bài khải ca tấu khúc,
Miếng đỉnh chung thấm ơn.
Nâng chén rượu lên đường,
Kẻ ở lòng thấy thẹn.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Tiễn Binh Bộ Tả phụng nghị Nghi thành Nguyễn hầu
phó Quy Nhơn thành

Ngã Hoan hảo giang sơn,
Chung bẩm đa kỳ trác.
Thế đức diệu tiên hương,
Nhân thụy xuất lân nhạc.
Tiến phủ bão tài khí,
Diệu linh kiến đầu giác,
Cơ thức tảo duyệt thục,
Khí thế du hoành bác.
Tùng tiết nại nghiêm ngưng,
Ngọc chất kinh ma trác.
Bản lĩnh tự trung tín,
Động tức thường lỗi lạc.
Chúc lý cập hào mang
Lập đàn sinh phong ngọc.
Biến giao thế gian nhân,
Hệ thuộc vi tâm lạc.
Nhàn thị thiên hạ sự,
Vận dụng tại chưởng ác.
Tạo hóa dữ kỳ phẩm,
Giáng nhậm lương bất thác.
Tao tế thánh minh thì,
Tuân tư giá hoa lạc.
Vọng học vu thần cố,
Chu tuyền thanh tỏa các.
Tam niên cầm kiếm du,
Ngâm chước bất cải lạc.
Trượng phu pho công danh,
Bỉnh chí há đoan xác.
Hạo diểu hải chi nam,
Hy đại tân khai thác.
Quy Nhơn thang mộc địa,
Khu hoản ỷ khôi thạc.
Dân dung sơ phủ tập,
Quân thanh phương trấn bạc.
Triều đình trọng hành biên,
Khẳng khái tựu nhung mạc.
Tráng tâm tễ yên lam,
Thanh khiếu đái cầm hạc.
Thị Nại đào hung dũng,
Cù Mông vân lạc mạc.
Huyền hồ thù sơ chí,
Ma nhai lặc giai tác.
Khải ca tấu kỳ huân,
Chung đỉnh đàm tân ác.
Bả bôi tống chinh huy,
Cư giả diệc tâm tạc.

Nguyễn Du viết  bài thơ ‘Nhớ Anh’ năm 1794 gửi Nguyễn Nể làm Hiệp Tán Nhung Vụ Quy Nhơn. Bài thơ này cho thấy Nguyễn Du là bậc trí tướng có tầm nhìn thật xa rộng, lánh họa tìm phúc giúp anh Nguyễn Nễ.

NHỚ ANH
Nguyễn Du thơ chữ Hán ,

Nhất Uyên dịch thơ.

Lục Tháp thành Nam buộc chức quan,
Gập gềnh đá vượt Hải Vân đêm.
Chướng lam ba tết xa, đồn trú,
Hoa khói tháng hai , nhớ cố hương.
Một biệt phương nào ai biết nhỉ ?
Kiếp sau hẹn đến cuộc tương phùng;
Biển trời mù mịt đườngngàn dậm,
Trong mộng tìm nhau cũng khó khăn.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

ỨC GIA HUYNH

Lục Tháp thành Nam hệ nhất quan,
Hải Vân dạ độ thạch toàn ngoan.
Cùng xu lam chướng tam niên thú.
Cố quốc yên hoa nhị nguyệt hàn.
Nhất biệt cách tri hà xứ trú,
Trùng phùng đương tác tái sinh khan.
Hải thiên mang điểu thiên dư lý,
Thần phách tương cầu mộng diệc nan.

Chú thích:
Lục tháp thành: chỉ thành Bình Định, có 8 cụm tháp, nhưng chỉ có 6 cụm ở gần đường chỉ thấy có sáu nên người xưa gọi là thành Lục Tháp.
Hải Vân đèo nằm giữa Thừa Thiên và Quảng Nam rất hiểm yếu nên được gọi là Đệ Nhất Hùng Quan.

Nguyễn Du đầu năm 1796 lại vào Quy Nhơn tiếng là ‘thăm anh’ Nguyễn Nễ thực chất là giúp anh tìm kế thoát hiểm họa diệt tộc khi nhà Tây Sơn  chia rẽ nội bộ đặc biệt nghiêm trọng sau khi Nguyễn Huệ mất, nhưng Nguyễn Du vẫn quyết không chịu vào Nam theo Nguyễn Ánh mà bàn luận với anh chọn thái độ ứng xử phù hợp. Nguyễn Nễ ngay năm 1796 đã từ chốn địa đầu Hiệp trấn Quy Nhơn về làm Thái sử ở Phú Xuân bên cạnh vua Cảnh Thịnh, sau đó Nguyễn Nễ làm Phó sứ Tây Sơn sang sứ nhà Thanh lần hai, thành công vang dội với “Quế Hiên Nguyễn Nễ đỉnh núi cao thi trận nước Nam”. Nguyễn Nễ sau được phong Tả Thị Lang, Nghi Thành Hầu . Cuối năm Bính Thìn (1796), Nguyễn Du được tha và về sống hẳn (quản thúc?) ở làng Tiên Điền, khép lại Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc (1781-1796). Nguyễn Du làm Hồng Sơn Liệp Hộ ở Tiên Điền giai đoạn 1797-1802 với tâm trạng khắc khoải  tâm sự buồn.

TẠP NGÂM I
Nguyễn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ.

Tiếng thu một tối vượt Lam Hà,
Vô ảnh vô hình đến với ta.
Muôn dậm Tây phong đầu bạc tóc,
Một song thu sắc cúc vàng hoa.
Trăm năm vui khổ bao giờ hết,
Bốc vách thi thư mấy cũng vừa.
Trước ngõ cội tùng trăm thước đứng,
Chúa Xuân ghen có được gì a ?

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

TẠP NGÂM I

Thu thanh nhất dạ độ Lam hà,
Vô ảnh vô hình nhập ngã gia.
Vạn lý Tây phong lai bạch phát,
Nhất song thu sắc tại hoàng hoa.
Bách niên ai lạc hà thời liễu ?
Tứ bích đồ thư bất yếm đa.
Đình thực cô tùng cao bách xích,
Bất tri thanh đế nại nhân hà ?

Chú thích:
Lam hà : tức sông Lam
Thanh đế: thần mùa xuân, còn gọi Đông đế hay Đông quân. Ý nói cây thường xanh tươi mùa xuân, tiêu điều rụng lá mùa thu, nay trồng một cây tùng xanh tươi suốt năm, chẳng hay chúa Xuân có làm gì được người trồng cây tùng không ?
Xích:  thước đo ngày xưa bằng ba gang tay.

TẠP NGÂM 1 (dịch nghĩa)
Tiếng thu một tối vượt qua sông Lam,
không bóng không hình lọt vào nhà ta.
Gió Tây muôn dậm làm cho mái tóc thêm bạc.
Sắc thu đầy trên cửa sổ trên khóm hoa vàng.
Cuộc vui buồn trăm năm bao giờ hết ?
Sách vở đầy bốn vách, bao nhiêu cũng vừa.
Trước sân trồng một cây tùng cao trăm thước,
không biết chúa Xuân sẽ làm gì được người .

Bài này cho thấy số sách vở họ Nguyễn Tiên Điền không cháy hết còn lại một hai  phần mười mà vẫn còn lại một số chất đầy bốn vách. Đáng tiếc nhất là bộ sưu tập thơ văn của Đoàn Thị Điểm của cụ Nguyễn Nghiễm bị cháy.

TẠP NGÂM II
Nguyễn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Long Vĩ đầu sông nhà một gian,
Ẩn sầu chót vót bỗng vui tràn.
Đạt nhân lòng tỏ như trăng sáng,
Xử sĩ trước nhà vọng núi xanh.
Gối sách đỡ thân nằm bệnh tật,
Bên đèn rượu nhắp thắm dung nhan.
Suốt ngày bên bếp không đun lửa,
Ngoài song no với khóm hoa vàng.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt

TẠP NGÂM  III

Long Vĩ giang đầu ốc nhất gian,
U cư sầu cực hốt tri hoan.
Đạt nhân tâm cảnh quang như nguyệt,
Xử sĩ môn tiền thanh giả san.
Chẩm bạn thúc thư phù bệnh cốt,
Đăng tiền đẩu tửu khởi suy nhan.
Táo đầu chung nhật vô yên hỏa,
Song ngoại hoàng hoa tú khả xan.

TẠP NGÂM II (dịch nghĩa): 
Đầu sông Long Vĩ có một gian nhà,
ở ẩn buồn đến cực độ, bỗng thấy vui.
Cõi lòng người khoáng đạt sáng tỏ như vầng trăng.
Trước cửa nhà ẩn dật toàn là núi xanh.
cạnh gối có chồng sách đỡ tấm thân bệnh tật.
Trước đèn uống chén rượu cho vẻ mặt tiều tụy vui tươi  lên.
Suốt ngày bếp không đỏ lửa,
ngoài cửa sổ hoa cúc vàng tươi tốt có thể ăn được.

Bài viết này thêm một bằng chứng Nguyễn Du còn độc thân.

TẠP NGÂM III
Nguyễn Du thơ chữ Hán,

Nhất Uyên dịch thơ

Tháng tám thu tàn vương mác man,
Khí trời nửa nắng mây mênh mang.
Gió đùa cao trúc trời vang sáo,
Mưa ướt  hoàng hoa đất rãi vàng.
Núi lạnh gió lùa du tử mộng,
Đầm sâu trong suốt chủ nhân lòng.
Cửa ngoài dạo gót nhìn thu sắc,
Thoáng nửa đầu sông, rừng lá phong.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

TẠP NGÂM III

Mạc mạc thu quang bát nguyệt thâm,
Mang mang thiên khí bán tình âm.
Thu phong cao trúc minh thiên lại,
Linh vũ hoàng hoa bố địa câm (kim).
Viễn tụ hàn xâm du tử mộng,
Trừng đàn thanh cộng chủ nhân tâm.
Xuất môn từ bộ khan thu sắc,
Bán tại giang đầu phong thụ lâm.

BÀI TẠP NGÂM III (dịch nghĩa)

Tháng tám cảnh thu già lặng lẽ,
khí trời mênh mang nửa rạm mây nửa nắng.
Bụi trúc cao gió thổi, tiếng sáo trời nổi lên,
hoa cúc sau trận mưa, rơi xuống rắc hoa vàng trên mặt đất.
Khí lạnh rặng núi xa thấm vào giấc mộng người du tử.
Nước đầm trong suốt giống như lòng chủ nhân.
Ra trước cửa thong thả ngắm sắc thu,
thấy một nửa trên dải rừng phong mé đầu sông.

TẠP THI I

Nguyẽn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Bạc đầu tráng sĩ ngẩng trời than !
Dựng nghiệp, mưu sinh thảy lỡ làng.
Thu cúc, xuân lan thành mộng ảo,
Hạ nồng, đông lạnh cướp ngày xanh.
Chó vàng vui thú quanh Hồng Lĩnh,
Mây trắng, nằm đau cạnh Quế Giang.
Vẫn thích làng quê hằng có rượu,
Ba mươi tiền sẵn túi con mang.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

TẠP THI I

Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên,
Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên.
Xuân lan, thu cúc thành hư sự,
Hạ thử đông hàn đoạt thiếu niên.
Hoàng khuyển truy hoan Hồng Lĩnh hạ,
Bạch vân ngọa bệnh Quế Giang biên.
Thôn cư bất yếm tần cô tửu,
Thượng hữu nang trung tam thập tiền.

TẠP THI II (dịch nghĩa).

Non Hồng một màu soi bóng xuống làn nước phẳng,
nơi thanh tú tĩnh mịch này, kẻ hàn sĩ có thể ở được.
Mây trắng từ ngàn dậm đến bay in bóng trên giường chiếu,
Trăng sáng soi qua cửa sổ chiếu vào cặp sách túi đàn (*).
Lúc loạn lạc cười khóc cũng theo đời.
Thân  già yếu nên yên lặng để giữ mình.
Chuyện đời trước mắt thay đổi như hoa nở lá rụng.
Quanh năm cõi lòng vẫn thản nhiên như không .

(*) TS. Nguyễn Trọng Chánh bình: Nguyễn Du luôn có bên mình thanh gươm và cây đàn nguyệt. Tình hình Hồng Lĩnh từ sau cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quýnh, công an quận công Thận đang kiểm soát gắt gao, tai vách mạch rừng, nói gì cũng phải cẩn thận, cười khóc phải theo thời, thiên hạ đang cười mà mình khóc, thiên hạ đang khóc mà mình cười công an bắt ngay !. Từ khi vua Quang Trung mất, chúa Nguyẽn Ánh nổi dậy đang hùng cứ Nam Hà, chuyện đời sẽ đổi thay như hoa nở lá rụng ).

TẠP THI  II
Nguyễn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Núi Hồng soi bóng nước xanh trong,
Hàn sĩ nơi đây ẩn cảnh nhàn.
Ngàn dậm mây về quanh chiếu chỏng,
Một song trăng sáng rọi thư đàn.
Khóc cười thời loạn theo trần thế,
Bệnh yếu lặng câm mà giữ thân,
Trước mắt nở hoa rồi rụng lá,
Bốn mùa thanh thản có như không.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

TẠP THI II

Hồng Sơn nhất sắc lâm bình cừ,
Thanh tịch khả vi hàn sĩ cư.
Thiên lý bạch vân sinh kỷ tịch.
Nhất song minh nguyệt thướng cầm thư.
Tiếu đề tuẫn tục can qua tế,
Giam mặc tàng sinh lão bệnh dư.
Diệp lạc hoa khai nhãn tiền sự,
Tứ thời tâm kính tự như như.

Nguyễn Du viết “Đi săn”  vào khoảng năm 1801- 1802

ĐI SĂN
Nguyễn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Kẻ đạt quan trường chí đỉnh mây,
Còn ta vui thú với hươu nai.
Cốt lòng thư thái không mong được,
Không hại điều nhân diệt các loài.
Xạ ngủ cỏ thơm hương ướt ẩm,
Núi xa, chó sủa tiếng ngoài tai.
Thú vui phù thế âu tùy thích,
Xe đón lộng che ấy những ai ?

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

LIỆP

Y quan đạt giả chí thanh vân,
Ngô diệc lạc ngô mi lộc quân.
Giải thích nhàn tình an tại hoạch,
Bỉnh trừ dị loại bất phương nhân.
Xạ miên thiển thảo hương do thấp,
Khuyển độ trùng sơn phệ bất văn.
Phù thế vi hoan các hữu đạo,
Khu xa ủng cái thị hà nhân.

Chú thích:
Thanh vân, mây xanh, chỉ công danh thành đạt.

Triều đại Tây Sơn chấm dứt. Nguyễn Du năm ấy viết hai bài Hành lạc từ. Theo lời bình của nhà Kiều học đích thực, giáo sư văn chương, tiến sĩ Phạm Trọng Chánh, đại học Paris Pháp thì “Bài thơ phản phất không khí thơ bài Lý Bạch mời rượu, Trương Tiến Tửu, hãy vui chơi hôm nay. Đừng lo danh tiếng hảo xa vời khi đã chết, công danh, giàu sang trần thế như phù vân, có rồi lại mất, đời người ai sống được trăm tuổi, làm chi cho mệt cuộc đời. Đọc bài này rồi ta không thể nghĩ rằng Nguyễn Du có thể viết ngược lại đòi ba trăm năm lẻ nữa có người khóc mình trong bài Độc Tiểu Thanh Ký“. (Nguyễn Du- Người đi săn núi Hồng)

HÀNH LẠC I
Nguyễn Du thơ và từ
Nhất Uyên dịch thơ

Chó săn vàng đốm trắng,
Cổ đẹp đeo chuông vàng.
Chàng trai mặc áo ngắn,
Dắt về phía núi Nam.

Núi Nam nhiều nai hương,
Huyết ngọt thịt thơm ngon.
Dao vàng thái món quý,
Rượu ngon uống trăm chung.

Đời ai sống trăm tuổi,
Gặp thời cứ vui chơi.
Tội chi sống bần tiện,
Lo âu suốt đời người.

Di Tề chẳng danh lớn,
Chích Cược không giàu to.
Sống lâu chỉ tám chục,
Tội gì ngàn năm lo.

Có chó cứ làm thịt,
Có rượu cứ nghiêng bầu.
Hay dỡ trên đời sao biết được,
Cần gì lo tiếng hão về sau.

HÀNH LẠC  (I)

Tuấn khuyển hoàng bạch mao,
Kim linh hệ tú cảnh,
Kinh sam thiếu niên lam,
Khiển hướng Nam sơn lĩnh.

Nam sơn hương đa mi,
Huyết nhục cam thả phì.
Kim đao thiết ngọc soạn,
Mỹ tửu lũy bách chi.

Nhân sinh vô bách tải,
Hành lạc dương cập kỳ.
Vô vi thủ bần tiện,
Cùng niên bất khai mi.

Di Tề vô đại danh,
Chích Cược vô đại lợi,
Trung thọ chỉ bát thập,
Hà sự thiên niên kế.

Hữu khuyển khả tu sát,
Hữu tửy thả tu khuynh.
Nhãn tiền đắc táng dĩ nan nhận,
Hà sự mang mang thân hậu danh.

HÀNH LẠC bài từ số I ( dịch nghĩa)

Chó tốt lông vàng đóm trắng,
cổ đẹp đeo chuông vàng,

chàng trai trẻ mặc áo cộc,
dắt về núi phía nam.

Núi phía nam có lắm nai hương,
huyết thơm thịt lại béo,

dao vàng thái thành món ăn quý,
rượu ngon uống hàng trăm chén.

Đời người ai sống trăm tuổi,
vui chơi nên kịp thì,

tội gì giữ nếp nghèo nàn,
suốt năm không mở mặt mở mày.

Bá Di, Thúc Tề cũng chẳng có danh lớn.
Đạo Chích, Trang Cược cũng chẳng giàu to.
Sống lâu cũng chỉ tám mươi tuổi,
cần gì tính chuyện nghìn năm.

Có chó cứ giết ăn thịt,
có rượu cứ uống cho hết;

chuyện trước mắt hay dỡ khó mà biết được,
cần gì phải lo cái danh xa xôi sau khi chết rồi.

Chú thích :
– Di, Tề : Bá Di, Thúc Tề con vua Cô Trúc, một nước thuộc nhàÂn nay thuộc tỉnh Trực Lệ, Khi nhà Ân bị nhà Chu lấy, hai người không phục nhà Chu, lên núi Thú Dương ởẩn rồi nhịn đói mà chết chứ không thèm ăn thóc nhà Chu.
– Chích, Cược : Đạo Chích và Trang Cược hai tên trộm cướp nổi tiếng thời Xuân Thu. Đạo Chích em của Liễu Hạ Huệ có khoảng chín ngàn lâu la, đi bắt bò trâu trộm, cướp vợ người. Trang Cược em Sở Trang Vương cũng là tay cướp đại bợm.
– Trung thọ : Người xưa chia tuổi làm ba bậc : Hạ thọ (60 tuổi), Trung thọ (80 tuổi), Đại thọ (90 tuổi).

HÀNH LẠC  II
Nguyễn Du thơ và từ
Nhất Uyên dịch thơ

Núi cao hoa đào nở,
Tươi như màu lụa đỏ.
Sáng mai đùa xuân xanh,
Chiều tối rơi bùn nhọ.

Hoa nào đẹp trăm ngày ?
Người sống ai trăm tuổi ?
Chuyện đời lắm đổi thay,
Kiếp phù sinh chơi mãi.

Trong tiệc mỹ nữ đẹp như hoa,
Trong hồ có rượu như vàng pha,
Tiếng kèn tiếng sáo như khoan nhặt,
Được dịp hát to cứ hát ca.

Anh có thấy ông Vương Nhung tự tay cầm bàn ngà,
Ngày ngày tính toán lòng chưa vui sướng,
Đài Tam công đổ, cây mận ngon tàn,
Bạc vàng tiêu tán người khác hưởng.

Lại thấy không, ông Phùng Đạo khi về già còn phú quý.
Trải mấy triều vua ngôi cao khanh sĩ,
Chuông minh đỉnh vạc lại hoàn không,
Nghìn năm lưu bài Trường Lạc Tự.

Giàu sang trước mắt như phù vân,
Người nay chỉ biết cười người trước,
Người trước chết chôn đầy tha ma,
Người nay sao vẫn còn xuôi ngược.

Hiền ngu xưa nay một nấm mồ,
Nào ai vượt qua được sống chết.
Anh ơi uống rượu rồi vui chơi,
Kìa trông phía Tây trời đã xế.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

HÀNH LẠC (II)

Sơn thượng hữu đào hoa,
Xước ước như hồng ỷ,
Thanh thần lộng xuân nghiên,
Nhật mộ trước nê trỉ.

Hảo hoa vô bách nhật,
Nhân thọ vô bách tuế,
Thế sự đã suy di,
Phù sinh hành lạc sự.

Tịch thượng hữu kỹ hiểu như hoa,
Hổ trung hữu tửu như kim ba,
Thúy quản ngọc tiêu hoãn cánh cấp.
Đắc cao ca xứ thả cao ca.

Quân bất kiến:
Vương Nhung nha trù thủ tự tróc,
Nhật nhật cối kê thường bất túc,
Tam công đài khuynh hảo lý tử,
Kim tiền tán tán tha nhân phúc.

Hựu bất kiến:
Phùng Đạo vãn niên xung cực quý,
Lịch triều bất ly khanh tướng vị,
Chung minh đỉnh thực cánh hoàn không,
Thiên trải đồ lưu  Trường Lạc Tự.

Nhãn tiền phú quý như phù vân,
Lãng đắc kim nhân tiếu cổ nhân.
Cổ nhân phần doanh dĩ luy luy,
Kim nhân bôn tẩu hà phân phân,

Cổ kim hiền ngu nhất khâu khổ,
Sinh tử quan đầu mạc năng độ.
Khuyến quân ẩm tửu thả vi hoan,
Tây song nhật lạc thiên tương mộ.

HÀNH LẠC (Bài từ số II dịch nghĩa) 

Trên núi có hoa đào tươi
đẹp như tấm lụa đỏ,

sáng sớm còn đùa giỡn với màu xuân đẹp,
chiều tối đã nằm giữa bùn lầy.

Hoa đẹp không được trăm ngày,
người sống lâu mấy ai trăm tuổi,
chuyện đời lắm đổi thay,
kiếp phù sinh nên cứ vui chơi.

Trên tiệc có gái đẹp như hoa,
trong vò có rượu quý như nổi sóng vàng,
tiếng thúy quản, tiếng ngọc tiêu (tiếng kèn, tiếng sáo)
khi mau khi chậm,
được dịp hát to cứ hát to.

Người không thấy
ông Vương Nhung cầm thẻ ngà,

ngày nào cũng tính toán mà trong bụng vẫn thấy chưa đủ.
Đài Tam công cũng đổ, cây mận ngon cũng chết,
bạc vàng tiêu tan cho người khác hưởng.

Lại không thấy
ông Phùng Đạo lúc về già phú quý xiếc bao,

trải mấy triều vua không rời gối khanh tướng,
thế mà miếng đỉnh chung rốt cuộc vẫn không,
nghìn năm chỉ lưu lại bài Trường Lạc Tự.
Phú quý trước mắt không khác gì phù vân,

người nay chỉ biết cười người xưa,
người chết mồ mả đã ngổn ngang,
người sau vẫn bôn tẩu rộn ràng ?
Xưa nay kẻ hiền người ngu cũng chỉ trơ lại một nấm đất,

không ai vượt qua cửa ải sống chết,
khuyên anh nên uống rượu rồi vui chơi,
kìa trong cửa sổ phía tây,
bóng mặt trời đã xế.

Chú thích:

Vương Nhung: một trong Trúc Lâm thất hiền đời Tấn, nhà giàu ruộng vườn khắp các châu, nhưng lại là tay biển lận, ngày nào cũng cầm bàn tính, thẻ ngà trong tay để tính toán, trong nhà có cây mận rất ngon, bán quả sợ người ta được giống, nền dùi nát hột đi rồi mới bán.

Phùng Đạo, người đời Ngũ Đạo, tính chất phác văn chương hay, làm khanh tướng dưới bốn triều Đường, Tấn.. tự đặt hiệu là Trường Lạc lão có làm bài Trường Lão lạc tứ tự kể chuyện mình thờ bốn họ, sáu ông vua.

Đọc bài thơ Hành Lạc Từ của Nguyễn Du chúng ta tìm lại được cái an vui thanh thản của nhà nho ngày xưa. Cái triết lý Á Đông  chấp nhận cuộc đời có sống có chết lẽ thường.

Nguyễn Du đi săn ở núi Hồng là ẩn ngữ giữa đời thường.

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích


Kiều – Nguyễn Du ca trù hát nói Việt Nam
Vietnamese Dan Bau Music
NS Phú Quang – Những ca khúc hay nhất
Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam 

Chào ngày mới 2 tháng 11


CNM365. Chào ngày mới 2 tháng 11. Ngày này năm xưa. Năm 1802, ngày mất Vũ Văn Dũng, danh tướng triều Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam bị xử tử. Năm  1963, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm và người em trai, cố vấn Ngô Đình Nhu bị sát hại trong cuộc đảo chính; xem tiếp https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-2-thang-11 và bài viết chọn lọc: Trung Nga ‘vành đai và con đường’;  Ngô Đình Diệm đọc lại và suy ngẫm; Nguyễn Du đi săn ở núi Hồng.


Sáng kiến “Một Vành đai, Một Con đường” (OBOR) của Trung Quốc nhằm định hình lại kinh tế toàn cầu trong thế kỷ 21 bằng việc kết nối các các nền kinh tế Á – Âu – Phi thông qua một mạng lưới giao thông và cơ sở hạ tầng mạnh mẽ chưa từng có, theo Hugh White, “China’s One Belt, One Road to challenge US-led order“, The Straits Time, 25/ 04/ 2017. Trung Nga ‘vành đai và con đường’ trích dẫn, đúc kết các nguồn thông tin chuyên đề cập nhật để điểm tin, trao đổi, bình luận, nhìn lại và suy ngẫm.Trung Nga trong “một vành đai một con đường”. Trung Quốc đang trỗi dậy trong thời đại mới “một vành đai một con đường” khi Nga Mỹ tính toán “Chúng ta không cần lãnh đạo thế giới mà cần sắp xếp lại ngôi nhà mình” … xem tiếp… https://hoangkimlong.wordpress.com/2017/11/02/trung-nga-vanh-dai-va-con-duong/

TruocDen

Ngô Đình Diệm đọc lại và suy ngẫm
Hoàng Kim
Tại sao phải giết tổng thống Ngô Đình Diệm?
Mặc Lâm RFA nêu câu hỏi. Lịch sử chiến tranh Việt Nam (1955-1975), là giai đoạn thứ hai và là giai đoạn khốc liệt nhất của Chiến tranh Đông Dương (19451979). Nghiên cứu lịch sử sẽ không thể hiểu rõ nếu không tìm hiểu kỹ những nhân vật chính của cuộc đối chiến lịch sử này. Ông Lê Duẩn đã nhận xét: “Để hòng cải thiện thể chế chính trị ngày càng tồi tệ, Mỹ đã vứt bỏ Diệm, Nhu. Nhưng Mỹ đã tính nhầm. Sau khi truất phế Ngô Đình Diệm, thế chính trị của bọn bù nhìn chẳng những không tốt lên mà còn xấu hơn nữa.” Ngô Đình Diệm đọc lại và suy ngẫm.

CUỘC ĐẢO CHÍNH TẠI NAM VIỆT NAM NĂM 1963

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Cuộc đảo chính tại Nam Việt Nam năm 1963 là cuộc đảo chính quân sự lật đổ chính quyền của tổng thống Ngô Đình Diệm do các tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa thực hiện với sự làm ngơ của Hoa Kỳ vào ngày 1 tháng 11 năm 1963. Cuộc đảo chính đã giết chết anh em tổng thống là Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu, chính quyền Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam sụp đổ, chuyển vai trò lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa sang Hội đồng quân sự do Dương Văn Minh đứng đầu.

Nguyên nhân xảy ra cuộc đảo chính 1963 được quy bởi chính quyền của tổng thống Ngô Đình Diệm không làm theo chính sách do Mỹ đưa ra. dẫn đến mâu thuẫn với chính phủ Mỹ. Do đó, Mỹ bật đèn xanh cho các tướng lĩnh đảo chính, ngoài ra ông cũng sai lầm trong thực hiện chính sách đàn áp Phật giáo. Một lý do khác được quy kết nữa là vì chính phủ của ông chủ trương độc lập với người Mỹ, trong khi người Mỹ muốn kiểm soát chính phủ Việt Nam Cộng hòa.

Độc tài, gia đình trị được coi là điểm nóng. Ngô Đình Diệm sau khi về nước chấp chính, đã được sự ủng hộ của chính phủ Mỹ, đã tập hợp được nhiều đồng minh, lần lượt dẹp trừ các thế lực chống đối của cộng sản, giáo phái và các đảng phái. Tuy nhiên, khi chính sự đã ổn định, tổng thống Diệm đã dần trở mặt với các thỏa hiệp ban đầu với những người đã ủng hộ ông và giúp ông giữ được ngôi vị tổng thống. Để đảm bảo vị thế quyền lực của mình, Ngô Đình Diệm chủ trương kềm chế các phe phái chính trị đối lập cũng như ảnh hưởng từ phía nước ngoài như Mỹ, Pháp. Điều này giúp ông có thể tập trung sức mạnh để đương đầu với đối thủ mà ông cho là nguy hiểm nhất: những người Cộng sản. Các tướng lĩnh như Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân,… các chính khách như Trần Văn Hương, Nguyễn Ngọc Thơ, Phan Khắc Sửu,… kể cả nhiều đảng viên cao cấp của đảng Cần Lao như Trần Chánh Thành, Võ Văn Trưng,… lần lượt đều bị xa lánh và tước bỏ ảnh hưởng. Trong nền Đệ nhất Cộng hòa, ngoài tổng thống Diệm, quyền hành bị tập trung vào trong tay một số người thân trong gia đình ông như:

  1. Ngô Đình Nhu với chức vụ “Cố vấn Chính trị” là bộ não của chế độ, nơi khai sinh và điều khiển tất cả mọi sách lược của quốc gia. Tuy là Dân biểu nhưng không mấy khi đặt chân đến Quốc hội để làm trách nhiệm dân cử, mà chỉ ngồi tại dinh Tổng thống để ra chỉ thị cho Quốc hội làm luật theo ý của anh em ông ta.[1]
  2. Trần Lệ Xuân – phu nhân của Ngô Đình Nhu, được coi là Đệ nhất Phu nhân của chế độ Việt Nam Cộng hòa, là một trong các nhân vật then chốt của chính quyền (a key figure in the Diem regime) với những uy quyền to lớn [1]. Cũng là một dân biểu như chồng, nhưng bà thường xuyên xây dựng những đạo luật của riêng mình và “ép” Quốc hội phải thông qua.
  3. Ngô Đình Cẩn – em trai của Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu – tự xưng là “Cố vấn Lãnh đạo các Đoàn thể Chính trị miền Trung và miền Cao Nguyên”. Trên thực tế, ông nắm hết mọi quyền hành nhất là quyền bổ nhiệm nhân sự, còn các đại biểu chính phủ và tỉnh trưởng chỉ là những viên chức thừa hành mệnh lệnh của ông mà thôi.[1]
  4. Tổng Giám mục Ngô Đình Thục không chính thức giữ một chức vụ hành chính hay chính trị nào, nhưng ảnh hưởng rất lớn đến tổng thống, đến các bộ trưởng trong chính phủ Việt Nam Cộng hoà và các viên chức địa phương và trở thành một thứ cố vấn tối cao của chế độ.[1]

Trong giai đoạn 1956-1959, khi những người Cộng sản còn hy vọng vào giải pháp Tổng tuyển cử, chưa coi bạo lực là biện pháp đấu tranh chủ yếu, chính phủ Ngô Đình Diệm đã lợi dụng tình hình để đàn áp họ, tuy chưa thể tiêu diệt hẳn nhưng tạm thời cũng chưa là mối lo trước mắt. Các cuộc cải cách xã hội cũng mang lại một số kết quả, tạo cho chính phủ Diệm một thế đứng tương đối vững.

Tổng thống Ngô Đình Diệm nhằm chống Cộng có hiệu quả, đã tập trung quyền lực vào bản thân và các người em của mình đồng thời hạn chế các quyền tự do – dân chủ. Điều này không được những người đối lập tán đồng. Họ liên tục công kích chính sách độc tài chính trị của Tổng thống. Mặt khác, sự lộng quyền của một số đảng viên Cần lao và chính sách đàn áp của Chính phủ bắt đầu gây bất mãn trong quần chúng.

Từ cuối năm 1959, khi những người Cộng sản miền Nam, với sự cho phép của Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, dần xây dựng cơ sở và chuyển hướng từ đấu tranh chính trị với sự hỗ trợ của đấu tranh vũ trang sang đấu tranh vũ trang với sự hỗ trợ của đấu tranh chính trị. Sự ổn định của chính phủ Ngô Đình Diệm bị thách thức nghiêm trọng, nhất là khi nổ ra Phong trào Đồng khởi tại Bến Tre và Trận tập kích Tua Hai tại Tây Ninh cuối tháng 1 năm 1960, đều được thực hiện dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy Nam Bộ.

Trước tình hình an ninh ở nông thôn ngày càng xấu đi do những người cộng sản miền Nam tăng cường hoạt động với sự chi viện của miền Bắc, trước việc chính phủ Ngô Đình Diệm tập trung quyền lực và hạn chế các quyền tự do – dân chủ để phục vụ mục tiêu chống Cộng quá lâu, các nhóm đối lập ngày càng kích động quần chúng phản đối chính phủ Diệm như là một chính phủ độc tài và gia đình trị. Nổi bật nhất là các vụ:

  1. Sự kiện 18 chính khách có tên tuổi trong Ủy ban Tiến bộ và Tự do họp tại khách sạn Caravelle ở Sài Gòn, ra kháng thư công khai phản đối chế độ Ngô Đình Diệm độc tài vào ngày 26 tháng 4 năm 1960.
  2. Vụ đảo chính bất thành của nhóm các sĩ quan do Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông cầm đầu vào ngày 11 tháng 11 năm 1960.
  3. Sự kiện hai phi công Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc ném bom dinh Độc Lập vào ngày 27 tháng 2 năm 1962.

Biến cố Phật giáo năm 1963 là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc đảo chính cũng trong năm này.

Ngày 6 tháng 5 năm 1963, hai ngày trước lễ Phật đản, đổng lý văn phòng Phủ tổng thống Quách Tòng Đức theo chỉ thị của tổng thống Ngô Đình Diệm[2] đã gởi công điện số 5159 yêu cầu các địa phương xiết chặt quy định không được treo cờ tôn giáo ngoài khuôn viên cơ sở tôn giáo.[3]. Mặc dù trước đó trong các dịp lễ Ki-tô giáo, cờ Tòa thánh Vatican và cả cờ Phật giáo được treo tự do mà không bị chính phủ cấm đoán.

Ngày 7 tháng 5, trong lúc dân chúng Huế và Thừa Thiên sửa soạn làm lễ Phật Đản thì cảnh sát đến tận nhà buộc dân chúng phải hạ cờ Phật giáo.[4] Nhưng sau đó Phật giáo và chính quyền đã đạt được thoả thuận cho phép treo cờ Phật giáo trong ngày Phật đản. Tuy vậy Phật giáo vẫn quyết định sẽ nhân cơ hội này đấu tranh chống chính quyền.

Ngày 8 tháng 5, tại lễ Phật đản ở chùa Từ Đàm, trong bài thuyết pháp, Thượng tọa Trí Quang, một trong các nhân vật có ảnh hưởng của Phật giáo miền Nam Việt Nam, người bị các nhà phân tích CIA mô tả là một kẻ mị dân, cực kì chống Công giáo, một người theo chủ nghĩa quốc gia cuồng tín, và một kẻ vĩ cuồng với mục tiêu tối hậu là thành lập ở Miền Nam một chế độ thần quyền Phật giáo[5] chỉ trích chủ trương kỳ thị Phật giáo của chính quyền. Thượng tọa Trí Quang cũng có nhắc đến cờ Công giáo Vatican treo khắp đường phố vào các dịp lễ sao không cấm, mà lại cấm đúng vào ngày Phật Đản. Nhiều đoàn thể Phật tử yêu cầu chính quyền cho phát thanh lại bài thuyết pháp của Thượng tọa Trí Quang, nhưng Giám đốc Đài phát thanh Huế là ông Ngô Ganh không đồng ý vì băng chưa được kiểm duyệt, nên vài ngàn Phật tử kéo đến đài để trực tiếp yêu cầu.[4]. Sự việc đang giằng co thì khoảng 22h, ai đó đã quăng chất nổ, với sức nổ tương đương 5 kg TNT[2], làm thiệt mạng 8 người và bị thương 15 người. Chính quyền quy kết những người Cộng sản trà trộn quăng chất nổ giết người để gây xáo trộn, còn phía biểu tình thì kết án Thiếu tá Đặng Sỹ chính là người cho ném chất nổ và ra lệnh nổ súng để giải tán biểu tình.[6][7] Ngay lập tức, làn sóng phản đối chính quyền càng ngày càng dâng cao và càng trở nên bạo động.

Hôm sau, vào ngày 9 tháng 5 năm 1963, hơn 10 ngàn người kéo đến tư gia Tỉnh trưởng Huế biểu tình và đòi hỏi 5 điểm sau đây:

  1. Hủy bỏ lệnh cấm treo cờ Phật giáo.
  2. Phật giáo được quyền bình đẳng như Công giáo.
  3. Không được đàn áp Phật giáo.
  4. Phật tử được quyền thờ phượng tôn giáo của mình.
  5. Chính quyền phải bồi thường cho các gia đình nạn nhân, và phải trừng trị các người có trách nhiệm trong vụ bắn chết người trong ngày 8 tháng 5 năm 1963.

Ngày 15 tháng 5 năm 1963, một phái đoàn Phật giáo từ thành phố Huế vào Sài Gòn trình kiến nghị cho Tổng thống Ngô Dình Diệm. Ngô Đình Diệm đồng ý hầu hết các yêu sách và hứa sẽ điều tra.

Ngày 25 tháng 5 năm 1963, Tổng Hội Phật giáo Việt Nam và đại diện các tổ chức và môn phái Phật giáo khác liên kết thành lập Ủy ban Liên phái.

Ngày 28 tháng 5 năm 1963, Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, Lãnh đạo Phật giáo Việt Nam lên tiếng kêu gọi biểu tình. Tại Huế, hàng ngàn tăng ni xuống đường.

Ngày 30 tháng 5, Phật giáo tổ chức lễ cầu siêu cho các nạn nhân tại chùa Xá Lợi và chùa Ấn Quang, các tăng ni và Phật tử tuyệt thực 48 giờ, đồng thời 300 tăng ni biểu tình trước Quốc hội với những khẩu hiệu yêu cầu Chính phủ thỏa mãn năm nguyện vọng của Phật giáo.[4]

Ngày 2 tháng 6 năm 1963, tại Huế, 500 sinh viên biểu tình chống chính quyền kỳ thị Phật giáo. Sau đó cuộc biểu tình, biến thành bạo động, cảnh sát dùng chó, lựu đạn cay tấn công đoàn biểu tình, 67 sinh viên bị thương phải vào bệnh viện. Chính quyền ra lệnh giới nghiêm thành phố Huế.

Ngày 4 tháng 6 năm 1963, Ngô Đình Diệm thành lập Ủy ban Liên bộ của chính phủ để nghiên cứu những yêu cầu của Phật giáo, do phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ đứng đầu. Cho triệu hồi thiếu tá Đặng Sĩ, phó tỉnh trưởng nội an tỉnh Thừa Thiên đợi lệnh tại bộ Nội vụ ở Sài Gòn.[8]

Ngày 7 tháng 6 năm 1963, Trần Lệ Xuân – vợ của Cố vấn Ngô Đình Nhu – lên án là những vị lãnh tụ Phật giáo bị phe Cộng sản giật dây.

Sáng ngày 11 tháng 6 năm 1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức sau khi để lại lá thư tâm huyết:

Tôi, pháp danh Thích Quảng Đức, Trụ trì chùa Quan Âm Phú Nhuận, Gia Định.

Nhận thấy Phật giáo nước nhà đang lúc nghiêng ngửa, tôi là một tu sĩ mệnh danh là trưởng tử của Như Lai không lẽ cứ ngồi điềm nhiên tọa thị để cho Phật giáo tiêu vong, nên tôi vui lòng phát nguyên thiêu thân giả tạm này cúng dường chư Phật để hồi hướng công đức bảo tồn Phật giáo.

Mong ơn mười phương chư Phật, chư Đại Đức Tăng Ni chứng minh cho tôi đạt thành ý nguyện sau đây:

  1. Mong ơn Phật tổ gia hộ cho Tổng thống Ngô Đình Diệm sáng suốt chấp nhận năm nguyện vọng tối thiểu của Phật giáo Việt Nam ghi trong bản tuyên ngôn.
  2. Nhờ ơn Phật từ bi gia hộ cho Phật giáo Việt Nam được trường tồn bất diệt.
  3. Mong nhờ hồng ân đức Phật gia hộ cho chư Đại Đức, Tăng Ni Phật tử Việt Nam tránh khỏi nạn khủng bố bắt bớ giam cầm của kẻ ác gian.
  4. Cầu nguyện cho đất nước thanh bình quốc dân an lạc.

Trước khi nhắm mắt về cảnh Phật, tôi trân trọng kính gởi lời cho Tổng thống Ngô Đình Diệm nên lấy lòng bác ái từ bi đối với quốc dân và thi hành chính sách bình đẳng tôn giáo để giữ vững nước nhà muôn thủa.

Tôi tha thiết kêu gọi chư Đại Đức Tăng Ni Phật tử nên đoàn kết nhất trí để bảo toàn Phật pháp.

Thích Quảng Đức

đã tự thiêu tại ngã tư Lê Văn Duyệt (nay là Cách mạng Tháng Tám) và Phan Đình Phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu) ở thành phố Sài Gòn, để phản đối chính quyền kỳ thị Phật giáo. Hình ảnh Thích Quảng Đức tự thiêu trong ngọn lửa bập bùng do Brown – phóng viên hãng tin Mỹ ABC thường trú tại Sài Gòn đăng tải các báo, làm rúng động toàn thể dân chúng Việt Nam và thế giới. Cái chết của vị Hòa thượng này là ngọn lửa châm ngòi cho Phật giáo đấu tranh mạnh mẽ hơn.

Ngày 16 tháng 6 các tăng ni biểu tình trước toà đại sứ Mỹ đồng thời tại chùa Giác Minh hàng ngàn Phật tử tụ tập dự tang lễ Thượng Toạ Quảng Đức. Cuộc tụ tập biểu tình, có xô xát với cảnh sát, làm cho nhiều người bị thương, hàng trăm bị bắt.[9][10]

Ngày 16 tháng 6 năm 1963, Uỷ ban Liên bộ và Uỷ ban Liên phái ra Thông cáo chung về việc giải quyết các nguyện vọng của Phật giáo.

Ngày 18 tháng 7 năm 1963, Tổng thống Ngô Đình Diệm ra thông điệp kêu gọi “quốc dân đồng bào ghi nhận ý chí hòa giải tột bực của chính phủ trong vấn đề Phật giáo” và “quốc dân đồng bào từ nay sẽ khách quan phán quyết để có thái độ hành động, không để ai làm ngăn cản bước tiến của tân tộc trong nhiệm vụ diệt Cộng cứu quốc” được đài phát thanh phát lại nhiều lần.

Trong các Ngày 9 và 29 tháng 7 năm 1963, bộ Nội vụ liên tiếp ra hai nghị định công nhận cờ Phật giáo và việc treo cờ Phật giáo. Tuy nhiên, những cuộc tập họp của Phật giáo bị cản trở, một số tín đồ bị bắt và chính phủ tổ chức những hội đoàn thân chính phủ, lên tiếng phản đối Phật giáo.

Ngày 1 tháng 8 năm 1963, trả lời phỏng vấn của đài CBS (Columbia Broadcasting System, Hoa Kỳ), Trần Lệ Xuân tố cáo các lãnh tụ Phật giáo đang mưu toan lật đổ chính phủ và tự thiêu chỉ là việc “nướng thịt sư” (barbecue a bonze).[11]

Ngày 3 tháng 8 năm 1963, khi phát biểu tại lễ mãn khóa huấn luyện bán quân sự của Đoàn Thanh Nữ Cộng Hòa, Trần Lệ Xuân lên án những vụ tranh đấu về tôn giáo. Lời lẽ của bà Nhu được cha bà là Trần Văn Chương, đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ, gọi là “thiếu lễ độ” đối với Phật giáo.[12] Mấy hôm sau, bà Nhu bằng giọng gay gắt và chế giễu cho rằng dù bà có thiếu lễ độ đối với Phật giáo chăng nữa, thì có lúc cần phải thiếu lễ độ[13]

Những lời phát biểu của Trần Lệ Xuân không những làm cho mối quan hệ giữa chính phủ Ngô Đình Diệm với tín đồ Phật giáo càng thêm xấu đi, mà còn làm cho cả những người dân bình thường cũng bất bình với chế độ. Sau những lời phát biểu của Trần Lệ Xuân, liên tiếp xảy ra nhiều cuộc phản đối chính phủ, trong đó quan trọng nhất là các vụ tư thiêu của các tăng ni Phật giáo.

Ngày 4 tháng 8 năm 1963, tại Phan Thiết (Bình Thuận), đại đức Thích Nguyên Hương, thế danh là Huỳnh Văn Lễ, tự thiêu trước dinh tỉnh trưởng.

Ngày 13 tháng 8 tại Huế trước chùa Phước Duyên, quận Hương Trà, Đại đức Thích Thanh Tuệ tự thiêu. Dân chúng, sinh viên Phật tử biểu tình ở khắp mọi đường phố ở Huế, ở các quận.[9]

Sau đó, ngày 15 tháng 8 năm 1963, ni sư Thích Nữ Diệu Quang, thế danh là Nguyễn Thị Thu, tự thiêu tại Ninh Hòa (Khánh Hòa).

Ngày 16 tháng 8 năm 1963, Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo đã gửi một điện tín cho tổng thư ký Liên Hiệp Quốc và cho các tổ chức Phật giáo Ấn Độ, Sri Lanka, Myanmar, Thailand, Campuchia, Singapore v.v.. lên tiếng tố cáo chính quyền và xin cứu nguy.[14]. Cũng trong ngày này thượng tọa Thích Tiêu Diêu, thế danh Đoàn Mễ, tự thiêu ở chùa Từ Đàm, thành phố Huế. Dù đã cố gắng đối thoại với các lãnh đạo Phật giáo và ra một số văn bản nhằm giải quyết những bức xúc của Phật giáo nhưng vẫn không ổn định nổi tình hình. Cuối cùng chính phủ Ngô Đình Diệm quyết định sử dụng những biện pháp cứng rắn để chấm dứt phong trào đấu tranh của Phật giáo.[15] và tổng thống Diệm quyết định thiết quân luật trên toàn quốc kể từ 0 giờ sáng 21 tháng 8 năm 1963 với lý do:” có tin Việt Cộng sắp tràn ngập Thủ đô.” [4]

Rạng sáng 21 tháng 8, tức sau khi thiết quân luật khoảng nửa giờ, chính phủ ra lệnh tấn công chùa chiền trên toàn quốc, bắt hết các tăng ni lãnh tụ tranh đấu chống chính phủ. Tại Sài Gòn, Lực Lượng Đặc Biệt tấn công chùa Xá Lợi trên đường Bà Huyện Thanh Quan.[16]. Đa số các lãnh tụ Phật giáo bị bắt, hòa thượng Hội chủ Thích Tịnh Khiết bị xô ngã,[4] Thượng tọa Thích Trí Quang cũng bị bắt, nhưng sau đó ông trốn được vào Tòa đại sứ Hoa Kỳ.[17] Sau đó, hòa thượng Hội chủ Thích Tịnh Khiết được thả nhưng những người dưới quyền ông vẫn bị giam giữ.

Sáng ngày 21 tháng 8, tổng thống Ngô Đình Diệm triệu tập nội các và báo tin là quân luật đã được thiết lập trên toàn lãnh thổ vì Cộng quân đã xâm nhập vào các châu thành thủ đô Sài Gòn. Ông cũng cho các vị bộ trưởng hay về việc đánh chiếm các chùa và bắt giữ “bọn tăng ni làm loạn”. Sau vụ tấn công chùa, tình hình càng thêm rối loạn. Trần Văn Chương đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ tuyên bố từ chức. Bà Trần Văn Chương nhũ danh là Thân Thị Nam Trân cũng từ chức quan sát Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc.

Ngày 22 tháng 8 năm 1963, ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu cạo đầu từ chức và thành lập phong trào Trí Thức Chống Độc Tài.

Tối ngày 23 tháng 8 năm 1963, trung tướng Trần Văn Đôn cho mời trung tá Lucien Conein, nhân viên CIA, đến gặp tại Bộ Tổng tham mưu để thanh minh rằng quân đội không tham gia vào việc đánh phá các chùa mà chính là Cảnh sát đặc biệt của chính phủ. Khi Conein hỏi “Các tướng lãnh Việt Nam có ý định đảo chánh không?”, thì tướng Đôn dè dặt trả lời “sẽ nói chuyện sau”.[18] Từ đó, Conein thường liên lạc và dò hỏi các tướng lãnh Việt Nam.

Ngày 25 tháng 8 năm 1963, ba trăm sinh viên học sinh tổ chức biểu tình tại Công trường Diên Hồng phía trước chợ Bến Thành trong lúc đang có lệnh giới nghiêm. Các trung đội Cảnh Sát Chiến Đấu gần đó được tin liền kéo tới đàn áp. Cảnh sát bắn cả vào đám biểu tình. Nữ sinh Quách Thị Trang trúng đạn tử thương. Khoảng 200 người bị bắt giữ. Ngay chiều hôm đó chính quyền đô thành ra thông cáo rằng các lực lượng an ninh đã được lệnh nổ súng vào bất cứ đám đông nào tụ họp ngoài công lộ mà không xin phép trước.

Ngày 7 tháng 9 năm 1963, học sinh các trường trung học công lập Gia Long, Trưng Vương và Võ Trường Toản tổ chức mít tinh bãi khóa ngay tại sân trường của họ.

Ngày 5 tháng 10 năm 1963, trước chợ Bến Thành, đại đức Thích Quảng Hương, thế danh Nguyễn Ngọc Kỳ, tự thiêu để phản đối chính sách kỳ thị tôn giáo của chính phủ Diệm.[19]

10 sáng ngày 10 tháng 9 năm 1963, thiền sư Thiện Mỹ châm lửa tự thiêu trước nhà thờ Đức Bà tại Sài Gòn.[20]

Mâu thuẫn với chính phủ Hoa Kỳ là nguyên nhân sâu xa như chính lời của Tổng thống Diệm: “hiện thời ở Việt Nam bất cứ một cuộc đảo chánh nào cũng không thể thành công được trừ khi được Mỹ xúi giục và hậu thuẫn”.[13]

Một số thành viên trong chính phủ Hoa Kỳ cho rằng chính phủ Ngô Đình Diệm tham nhũng, đàn áp đối lập, không chống cộng hữu hiệu. Một điều quan trọng hơn cả đối với người Mỹ là Ngô Đình Diệm có thái độ dè chừng, giữ khoảng cách với chính người Mỹ, cùng với việc Diệm ngày càng trở nên độc đoán, bảo thủ, khó tiếp cận và khó thuyết phục trong khi mục tiêu chống Cộng đang ngày càng gặp nhiều khó khăn đã khiến cho quan hệ giữa CIA và các cơ sở khác của Mỹ với anh em Ngô Đình Diệm ngày càng trở nên trầm trọng hơn. Và người Mỹ một lần nữa lại nghĩ đến nước cờ “thay ngựa giữa dòng” đối với Ngô Đình Diệm.[21]

Ngày 9 tháng 5 năm 1961, trong cuộc viếng thăm chính thức Việt Nam, phó tổng thống Mỹ Lyondon B. Johnson đã đề nghị việc gửi Quân đội Mỹ sang tham chiến tại Việt Nam. Ngô Đình Diệm đã cương quyết từ chối, ông nói:

Nếu quý vị mang quân đội Mỹ vào Việt Nam, tôi phải giải thích thế nào đây với dân tộc tôi? Với người dân Việt, hình ảnh hãi hùng của Quân đội Viễn chinh Pháp còn hằn sâu trong tâm trí họ. Sự hiện diện của quân đội Mỹ sẽ làm cho dân chúng dễ dàng tin theo những lời tuyên truyền của cộng sản. Sự can thiệp của bất cứ quân đội ngoại quốc nào vào Việt Nam cũng đem lại sự bất lợi cho Việt Nam, vì làm cho cuộc chiến đấu của chúng ta mất chính nghĩa.
—Ngô Đình Diệm

Trong một cuộc tiếp kiến đại sứ Frederick Nolting, khi Nolting đề nghị để cho Hoa Kỳ chia sẻ những quyết định về chính trị, quân sự và kinh tế, tổng thống Diệm trả lời rằng “chúng tôi không muốn trở thành một xứ bảo hộ của Hoa Kỳ”.[22]

Có nguồn cho rằng từ năm 1961, Hoa Kỳ muốn thành lập căn cứ không quân và hải quân tại Cam Ranh, nhưng tổng thống Ngô Đình Diệm không chấp thuận.[23]

Tác giả Chính Đạo cho rằng từ tháng 8 năm 1962, Joseph A. Mendenhall, cố vấn chính trị Tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn, đã đề nghị loại bỏ tổng thống Diệm, vợ chồng Ngô Đình Nhu và những người trong gia đình ông Diệm, bằng một số nhân vật khác,vì tổng thống Ngô Đình Diệm không chịu thay chủ trương chính sách như người Mỹ muốn.[24]

Có tin rằng chính phủ Ngô Đình Diệm đã bí mật liên lạc để tìm cách thỏa hiệp với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cụ thể là tháng 2 năm 1963, Ngô Đình Nhu mượn cớ đi săn cọp, đã bí mật gặp tại Bình Tuy một cán bộ cộng sản cao cấp là Phạm Hùng[25][26] và có thể cả tướng Trần Độ[27]. Chính phủ Hoa Kỳ khá bận tâm với nguồn tin này.

Tổng thống Kennedy lo ngại tình hình Việt Nam ảnh hưởng xấu đến cuộc tái tranh cử của ông vào năm 1964. Do đó Kennedy muốn tìm một giải pháp mới, nhằm thay đổi tình hình tại Việt Nam theo chiều hướng có lợi cuộc tái tranh cử của mình.

Trong cuộc họp báo ngày 22 tháng 5 về Việt Nam, tổng thống Kennedy đã có những lời lẽ chỉ trích chính phủ ông Diệm, và một câu nói của ông như một lời giận dỗi: Mỹ sẽ rút hết quân đội và chấm dứt viện trợ cho Việt Nam bất cứ lúc nào chính phủ Việt Nam yêu cầu. Trả lời báo chí, ông ngụ ý là “Việt Nam muốn chiến thắng cộng sản, cần phải có những thay đổi chính trị sâu rộng, từ căn bản”.[9]

Ngày 23 tháng 5 năm 1963, (sau biến cố Phật giáo ở Huế), người đứng đầu Nhóm nghiên cứu Việt Nam thuộc Tòa đại sứ Hoa Kỳ, Ben Wood, đưa ra một kế hoạch về các cách thay đổi chính phủ Diệm.

Ngày 27 tháng 6 năm 1963, tổng thống Kennedy công bố quyết định thay đổi đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam. (Thay đổi đại sứ trong lúc tình hình căng thẳng là dấu hiệu thay đổi chính sách).[24]

Ngày 22 tháng 8 năm 1963, tân đại sứ Henry Cabot Lodge đến Sài Gòn. Từ sau biến cố Phật giáo ở Huế (tháng 5-1963) và sau vụ chính phủ Diệm ra lệnh tấn công các chùa (tháng 8-1963). Dư luận Hoa Kỳ cho rằng tổng thống Diệm chủ trương độc tài gia đình trị, càng ngày càng mất lòng dân, càng ngày càng kém hữu hiệu trong việc điều hành đất nước và chống lại du kích cộng sản.[24]

Ngày 24 tháng 8 năm 1963, Henry Cabot Lodge, người vừa sang Sài Gòn làm đại sứ nhận được chỉ thị từ Washington yêu cầu Tổng thống Ngô Đình Diệm cách chức Cố vấn Ngô Đình Nhu và cảnh báo Tổng thống Diệm rằng, nếu ông ta từ chối, Hoa Kỳ sẽ phải “đối diện với khả năng chính bản thân ông Diệm không thể được bảo toàn“.[28] Trong ngày 24 tháng 8 năm 1963, Lodge gởi về Washington DC một điện văn báo cáo rằng ông Nhu là người ra lệnh tấn công chùa và nói về dự tính đảo chính của một số tướng lãnh. Cũng trong ngày 24 tháng 8 năm 1963, thứ trưởng Ngoại giao George Ball, xử lý thường vụ ngoại trưởng, cùng Harriman (thứ trưởng Ngoại giao), Hilsman (phụ tá ngoại trưởng), Forrestal (phụ tá tổng thống) đồng soạn và ký tên mật điện 243 gởi cho Tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn (sau khi được tổng thống Kennedy và ngoại trưởng Rusk đồng ý). Nội dung đoạn cuối điện văn được dịch như sau:

Chính phủ Hoa Kỳ không thể dung dưỡng tình trạng mà quyền hành lại nằm trong tay ông Nhu. Ông Diệm phải loại bỏ ông Nhu và các thuộc hạ của ông để thay vào đó bằng quân đội tinh nhuệ và các chính trị gia có tư cách.Nếu ông (tức đại sứ Lodge) cố gắng hết sức, nhưng ông Diệm vẫn ngoan cố và từ chối thì chúng ta phải đối diện với một điều có thể xảy ra, là ngay cả bản thân ông Diệm cũng không thể được bảo toàn (Diem himself cannot be preserved).
—Điện văn[28]

Ngày 25 tháng 8 trong chương trình phát thanh của Đài tiếng nói Hoa Kỳ, Tổng thống Kennedy họp báo tuyên bố rằng: nếu muốn công cuộc ngăn chặn cộng sản tại Việt Nam hữu hiệu thì cần phải thay đổi chính sách, thay đổi hệ thống nhân sự lành đạo tại Sài Gòn. Cũng khoảng thời gian này, Ngô Đình Nhu họp báo tại Los Angeles tuyên bố rằng Mỹ đang dự định tổ chức một cuộc đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Ông tố cáo rằng “hiện thời ở Việt Nam bất cứ một cuộc đảo chánh nào cũng không thể thành công được trừ khi được Mỹ xúi giục và hậu thuẫn”.[13]

Ngày 29 tháng 9 năm 1963, bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara cùng tướng Maxwell Taylor qua Sài Gòn gặp tổng thống Diệm. McNamara nói với tổng thống Diệm rằng việc đàn áp Phật giáo gây trở ngại cho nỗ lực chống cộng và phàn nàn về những tuyên bố của bà Ngô Đình Nhu nhưng Tổng thống Diệm né tránh các vấn đề do McNamara đưa ra.

Diễn biến

Từ tháng 7 năm 1963 đã có những tin đồn về việc sắp xảy ra đảo chính. Các tướng Trần Văn Đôn, Lê Văn KimDương Văn Minh có ý định đảo chính để chấm dứt khủng hoảng, lật đổ chính phủ bị nhiều người xem là độc tài, gia đình trị. Theo báo cáo của CIA, đồng thời có ít nhất mười nhóm âm mưu đảo chính cùng chung mục đích kể trên của các tướng tá trẻ. Chính các nhóm này gây áp lực khiến các tướng lĩnh cấp cao phải quyết định hành động để ổn định tình hình, ngăn ngừa xảy ra những cuộc đảo chính của các nhóm khác có thể đưa miền Nam vào khủng hoảng trầm trọng hơn.[29]

Để đối phó, chính quyền Việt Nam Cộng hoà ra lệnh thuyên chuyển các tướng lãnh tư lệnh các Vùng Chiến Thuật. Tướng Tôn Thất Đính từ Vùng II chuyển về Vùng III. Tướng Huỳnh Văn Cao được đưa về Vùng IV. Tướng Nguyễn Khánh được đưa ra II, tướng Đỗ Cao Trí được đưa ra Vùng I. Những tướng bị nghi ngờ thì được triệu về Sài Gòn giữ những chức vụ không có quân trong tay. Tướng Trần Văn Đôn làm cố vấn quân sự cho Phủ Tổng thống. Hai lực lượng hùng hậu nhất mà chính quyền tin cậy là Lực lượng Đặc biệt do trung tá Lê Quang Tung làm tư lệnh và Lữ đoàn Liên minh Phòng vệ Phủ Tổng thống do trung tá Nguyễn Ngọc Khôi làm tư lệnh, được bố phòng chặt chẽ nhằm sẵn sàng đối phó [29].

Ngày 23/8/1963 tướng Lê Văn Kim cho Rufus Phillips, Giám đốc Ủy ban Hoa Kỳ về Phát triển Nông thôn, biết có 1426 tu sĩ Phật giáo bị bắt. Tất cả chất nổ và vũ khí tìm thấy trong các chùa là được gài vào. Dân chúng tin rằng Quân lực Việt Nam Cộng hòa đang giữ trách nhiệm đàn áp Phật tử và đang chuyển dư luận sang chống đối quân đội trong khi quân đội chỉ hành động như con rối trong tay Cố vấn Ngô Đình Nhu, người đã lừa gạt quân đội trong việc ban hành thiết quân luật. Các lãnh đạo quân đội như tướng Tôn Thất ĐínhTrần Văn Đôn, không biết gì về các kế hoạch tấn công chùa Xá Lợi và các chùa khác. Chiến dịch đó thực hiện bởi Lực lượng Đặc biệt của Đại tá Lê Quang Tung và cảnh sát dã chiến theo lệnh bí mật của ông Nhu. Ngô Đình Nhu hiện nắm quyền kiểm soát, và Tướng Đôn đang nhận lệnh trực tiếp từ ông ta. Nếu tình hình này không sửa chữa và nếu dân chúng không được biết sự thật, quân đội sẽ bị tê liệt một cách nghiêm trọng trong cuộc chiến chống Cộng.[30]

Chuẩn bị

Bùi Diễm (sau năm 1963 là Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Hoa Kỳ) đã viết trong hồi ký của mình rằng: tướng Lê Văn Kim đã yêu cầu hỗ trợ nhằm thực hiện điều mà chính phủ Hoa Kỳ muốn làm với chính quyền của Ngô Đình Diệm (tức gạt bỏ chính quyền của Ngô Đình Diệm).[31] Diễm đã liên lạc với cả đại sứ và các nhà báo thạo tin của Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam, như David Halberstam (New York Times), Neil Sheehan (United Press International) và Malcolm Browne (Associated Press).[32]

Henry Cabot Lodge, Jr. đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Cộng hòa sau khi biết về âm mưu đảo chính, được lên kế hoạch bởi các tướng lĩnh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa do tướng Dương Văn Minh cầm đầu, đã báo cáo cho Tổng thống Mỹ xin ý kiến. Biên bản cuộc họp ngày 29/10/1963 giữa Tổng thống Mỹ và các cố vấn cho thấy Tổng thống Mỹ sau khi họp với 15 cố vấn ngoại giao cao cấp và chuyên gia an ninh quốc gia không đưa ra được ý kiến thống nhất về vấn đề này mà để cho đại sứ Mỹ Henry Cabot Lodge, Jr. tùy cơ ứng biến[33][34]. Tại Washington, ngoại trưởng Dean Rusk truyền đạt quyết định đến Đại sứ Lodge ở Sài Gòn. Lodge báo tin cho nhân viên CIA Lucien Conein.[35]

Lucien Conein đặc vụ của CIA trở thành đầu mối liên lạc giữa Đại sứ quán Hoa Kỳ với các tướng lĩnh đảo chính, do Trần Văn Đôn đứng đầu.[36] Ngày 3 tháng 10 năm 1963, Conein gặp tướng Minh là người nói cho ông biết ý định đảo chính và yêu cầu người Mỹ hỗ trợ nếu nó thành công.[37] Trong phim tài liệu Việt Nam: Cuộc chiến 10.000 ngày của đạo diễn Michael Maclear, nhân viên CIA Lucien Conein kể lại rằng khi được thông báo về ý định đảo chính ông ta nói: “Lệnh mà tôi nhận là thế này: Tôi phải cho Tướng Minh biết rằng chính phủ Hoa Kỳ sẽ không cản trở cuộc đảo chính của họ, và tôi đã truyền đạt điều này.“.[35] Sau đó Conein bí mật gặp tướng Trần Văn Đôn để nói với ông này rằng Hoa Kỳ phản đối bất cứ hành động ám sát nào.[38] Tướng Đôn trả lời “Được rồi, nếu anh không thích điều đó chúng ta sẽ không nói về nó nữa.“.[38]

Chuẩn bị cho cuộc đảo chính các tướng lĩnh tổ chức đảo chính đưa một số đơn vị quân đội trung thành với chính phủ Ngô Đình Diệm đi hành quân ở những vùng xa Sài Gòn để các đơn vị này không thể ứng cứu khi đảo chính xảy ra. Ngày 29 tháng 10, để vô hiệu hóa Lực lượng Đặc biệt (lực lượng thiện chiến và trung thành với chế độ), tướng Tôn Thất Đính với tư cách Tư lệnh Quân đoàn III (và cũng là Tổng trấn Sài Gòn – Gia Định) ra lệnh cho các đơn vị thuộc lực lượng này di chuyển ra khỏi Sài Gòn, truy quét cộng sản ở vùng Hố Bò, Củ Chi. Sáng ngày 31 tháng 10 năm 1963, tướng Tôn Thất Đính hạ lệnh cấm trại toàn thể quân đoàn Vùng III Chiến Thuật và cử đại tá Nguyễn Hữu Có đem một đơn vị tới Bắc Mỹ Thuận tịch thu hết tất cả tàu bè để cản đường về thủ đô của bất cứ đơn vị nào của quân đoàn Vùng IV Chiến Thuật. Chiều 31 tháng 10 năm 1963, đại tá Nguyễn Văn Thiệu Sư trưởng Sư đoàn 5 đã dẫn 2 trung đoàn dưới quyền cùng 1 tiểu đoàn pháo binh và 1 chi đoàn thiết giáp mượn cớ đi hành quân ở Phước Tuy nhưng lại dừng chân ở ngã ba xa lộ Biên Hòa và QL15 đi Vũng Tàu.

Như vậy các tướng lãnh đã chặn ba nẻo chính có thể tiến quân về thủ đô: con đường từ Lục tỉnh về thì do đại tá Nguyễn Hữu Có án ngữ tại Phú Lâm. Con đường miền Tây có thiếu tướng Mai Hữu Xuân với quân lực Trung tâm Huấn luyện Quang Trung án ngữ. Con đường từ miền Bắc có đại tá Vĩnh Lộc với chiến đoàn Vạn Kiếp án ngữ.

Khởi động

Sáng ngày 1 tháng 11 năm 1963, được lệnh của các tướng lĩnh chỉ huy đảo chính loại bỏ Hồ Tấn Quyền khỏi vai trò chỉ huy binh chủng hải quân, Thiếu tá Trương Ngọc Lực, Chỉ huy trưởng Vùng III Sông Ngòi (dư luận đánh giá là một người hiếu sát) và Đại úy Nguyễn Kim Hương Giang, Chỉ huy trưởng Giang đoàn 24 Xung Phong, kiêm Chỉ huy trưởng Đoàn Giang Vận đã lừa Hồ Tấn Quyền ra Thủ Đức và hạ sát ông tại rừng cao su. Cũng trong sáng ngày 1 tháng 11 trung tướng Trần Văn Đôn triệu tập các cấp chỉ huy của một các đơn vị quân đội đồn trú tại Sài Gòn và các vùng phụ cận mà ông nghi ngờ trung thành với tổng thống Ngô Đình Diệm về cầm chân ở Bộ Tổng tham mưu. (Khi trung tá Nguyễn Ngọc Khôi, tư lệnh Lữ đoàn Phòng vệ Phủ Tổng thống đến họp ở Bộ Tổng tham mưu thì ông bị còng tay với nhiều sĩ quan cao cấp khác[39] như trung tá Nguyễn Văn Thiện, Chỉ huy trưởng Binh chủng Thiết giáp và Đại tá Trần Văn Trung, Tùy viên Quân sự ở Pháp mới về nước…)

Lúc 1h30 trưa ngày 1 tháng 11 năm 1963, điệp viên CIA Lucien Emile Conein[40] vào bộ Tổng Tham mưu, mang theo một máy truyền tin đặc biệt để liên lạc với Toà Đại sứ Mỹ và một bao tiền là ba triệu bạc Việt Nam[41] để hỗ trợ cho việc thực hiện đảo chính với lời hứa rằng Hoa Kỳ sẽ không làm bất cứ điều gì để bảo vệ Ngô Đình Diệm.[42]. Theo Việt Nam nhân chứng của Trần Văn Đôn thì số tiền này được chia cho Dương Văn Minh, Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính, Nguyễn Hữu Có, Đỗ Cao Trí, Nguyễn Khánh, Trần Ngọc TámLê Nguyên Khang. Ngay sau đó, tướng Dương Văn Minh đề nghị tất cả tướng lãnh tham dự vào cuộc đảo chính. Hầu hết các tướng lĩnh đều hưởng ứng trừ đại tá Cao Văn Viên[43], chỉ huy trưởng Lữ đoàn dù và Đại tá Lê Quang Tung, tư lệnh Lực Lượng Đặc Biệt và đại tá Huỳnh Hữu Hiền, Tư lệnh Không quân[44] là phản đối. Các ông bị bắt ngay sau đó và bị đại úy Nguyễn Văn Nhung sĩ quan tùy viên của tướng Dương Văn Minh đưa sang tạm giam trong phòng “cô lập các sĩ quan chống đối”. Đêm đó, Nguyễn Văn Nhung đem đại tá Tung và em trai là thiếu tá Lê Quang Triệu, tham mưu trưởng Lực lượng Đặc biệt ra nghĩa trang Bắc Việt Tương tế ở sau Bộ Tổng tham mưu trại giết chết cả hai anh em.

Tại Vùng IV Chiến thuật, tướng Huỳnh Văn Cao lúc đầu nhất định không theo đảo chính. Ông đã cố gắng để liên lạc với đại tá Bùi Dzinh Tư lệnh sư đoàn 9 đóng ở Sa Đéc và đại tá Bùi Đình Đạm Tư lệnh Sư đoàn 7 đóng ở Mỹ Tho đem quân về, nhưng sư đoàn 7 thì bị đại tá Nguyễn Hữu Có đem công điện của trung tướng Đôn về đoạt quyền tư lệnh của đại tá Đạm. Kế tiếp ông Có đã đem quân Sư đoàn 7 ra chặn ở ngã ba Trung Lương và cho rút hết các chiếc phà Mỹ Thuận để ngăn chặn Sư đoàn 9 vượt sông Tiền Giang.[39]

Lúc 12 giờ 10′, tại dinh Gia Long, khi Tổng thống Ngô Đình Diệm được tin báo về cuộc đảo chính ông và cố vấn Ngô Đình Nhu di chuyển xuống hầm bí mật đào dưới dinh Gia Long. Hầm này có phòng ngủ, phòng tắm và phòng khách cho tổng thống và cố vấn, và có địa đạo dẫn ra ngoài dinh.[45] Tại đây ông ra lệnh cho các sĩ quan cận vệ liên lạc với các tướng Trần Thiện Khiêm, Tôn Thất Đính yêu cầu đến ứng cứu.[46]

Cao điểm

Vào 1 giờ 30 chiều ngày 1 tháng 11 năm 1963, Mai Hữu Xuân chế ngự được đơn vị của Lực Lượng Đặc Biệt đóng tại Tân Sơn Nhất, đồng thời tướng Xuân cũng đưa tân binh quân dịch ở Trung tâm Huấn luyện Quang Trung về chặn các ngả đường tiến vào Sài Gòn. Trung tá Nguyễn Cao Kỳ nắm quyền Tư lệnh Không quân (đại tá Huỳnh Hữu Hiền, Tư lệnh Không quân đang bị giam tại Bộ Tổng tham mưu) cho phi cơ phóng pháo bay lượn trên không phận Sài Gòn để uy hiếp các lực lượng chống đảo chính[47]. Thiếu tá Nguyễn Bá Liên (cháu của Đại tá Đỗ Mậu, Giám đốc Nha An ninh quân đội), Tham mưu trưởng Lữ đoàn Thủy quân lục chiến ra lệnh cho 2 tiểu đoàn dưới quyền vờ đi hành quân ở núi Thị Vải, Bà Rịa rồi bất ngờ chuyển hướng về Sài Gòn chiếm Tổng nha Cảnh sát, Bộ Nội vụ, Nha Truyền tin. Quân đảo chính do đại tá Phạm Ngọc Thảo sau hai lần tấn công đã chiếm được Đài Phát thanh Sài Gòn. Sau khi chiếm Đài Phát thanh, quân đảo chính thông báo danh sách những tướng lĩnh tham gia đảo chính, hầu hết các tướng lĩnh đều có trong danh sách này ngoại trừ: tư lệnh các Quân đoàn II, Quân đoàn I và Quân đoàn IV. Quân đảo chính cũng phát lời hiệu triệu đại ý gồm có lời tuyên bố lý do quân đội phải đứng lên lật đổ chế độ, lời kêu gọi ông Diệm đầu hàng, lời hứa sẵn sàng để cho ông Diệm xuất ngoại và lời hiệu triệu quốc dân đồng bào đoàn kết làm hậu thuẫn cho cuộc đảo chính[47]. Được sự đồng ý của tổng thống Ngô Đình Diệm, Lữ đoàn Phòng vệ Phủ Tổng thống cử 1 đại đội có thiết giáp yểm trợ, để tái chiếm Đài Phát thanh, nhưng nỗ lực này không thành công. Trong thành Cộng Hòa, Lữ đoàn Phòng vệ Tổng thống phủ dùng đại bác và đại liên chống trả [48] cho đến rạng sáng ngày 2 tháng 11 thì lực lượng này buông súng theo lệnh của tổng thống Diệm, để đại tá Nguyễn Văn Thiệu đem 1 trung đội vào tiếp thu.

Ngô Đình Diệm liên lạc với phe đảo chính và Đại sứ Mỹ

Lúc đầu, ông Diệm vẫn hy vọng rằng cuối cùng cuộc phản loạn này cũng kết thúc như cuộc đảo chính bất thành ngày ngày 11 tháng 11 năm 1960. Ông đã chủ động gọi tướng Trần Văn Đôn.[49] Tướng Đôn tuyên bố với Ngô Đình Diệm phe đảo chính hành động để “đáp lại nguyện vọng của nhân dân” vì các tướng lĩnh đã đề nghị Ngô Đình Diệm “cải cách chính sách theo nguyện vọng của nhân dân” nhiều lần nhưng không được đáp ứng. Ngô Đình Diệm đề nghị đối thoại với các tướng lĩnh để “tìm ra con đường củng cố lại chế độ“. Tướng Đôn trả lời sẽ bàn bạc với các tướng lĩnh khác về đề nghị của Tổng thống Ngô Đình Diệm.[50]

Cuộc gọi điện giữa ông Diệm và tướng Đôn được Lý Quí Chung kể lại trong Hồi ký không tên như sau:

Ông Diệm:

Tướng lãnh các anh đang làm gì vậy?
Tướng Đôn:

Thưa cụ, chúng tôi đã đề nghị với cụ nhiều lần rằng cụ cần cải cách chính sách theo nguyện vọng của nhân dân. Bây giờ đã đến lúc quân đội phải đáp lại nguyện vọng của nhân dân. Mong cụ hiểu chúng tôi.
Ông Diệm:

Tại sao chúng ta không ngồi lại với nhau nói chuyện? Chúng ta sẽ bàn về cái mạnh và cái yếu của chế độ, và tìm ra con đường củng cố lại chế độ.
Tướng Đôn:

Có lẽ đã quá trễ để bàn luận việc đó, thưa cụ.
Ông Diệm:

Chưa bao giờ là trễ, do đó tôi mời tất cả các anh đến dinh cùng bàn vấn đề, vạch ra một giải pháp được cả đôi bên chấp nhận.
Tướng Đôn:

Thưa cụ, tôi phải hỏi lại ý kiến những người khác xem sao.

Vào lúc 4 giờ 30 chiều 1 tháng 11 năm 1963 ông Diệm gọi điện thoại cho đại sứ Mỹ Cabot Lodge để thăm dò thái độ của người Mỹ về việc các tướng lĩnh dưới quyền tổ chức đảo chính. Ông đề nghị sẽ thực hiện các yêu cầu của người Mỹ. Cabot Lodge khuyên Ngô Đình Diệm từ chức và lưu vong như mong muốn của phe đảo chính để bảo toàn tính mạng. Tổng thống Ngô Đình Diệm nhận thức rằng người Mỹ đã bật đèn xanh với âm mưu đảo chính của các tướng lĩnh.[51]

“Tại Sài Gòn này có một số tướng lĩnh quân đội không muốn phục tùng sự điều hành, chỉ huy của chính phủ” – Ngô Đình Diệm thử thăm dò.
“Tôi rất muốn biết thái độ của người Mỹ các ngài nhận định về việc này như thế nào?”.
“Xin lỗi, từ trước tới nay, tôi chưa từng nghe nói về tin tức có liên quan tới đảo chính!” – Lodge giả vờ ngây ngô để tìm cách thoái thác. “Vả lại, hiện đang là 4 giờ 30 phút sáng tại miền Đông nước Mỹ, Washington không thể ngay lập tức trả lời ngài được”.
“Nhưng về phía ngài chí ít cũng có cách nhìn khái quát chứ ạ! Tôi hiện tại chỉ mong được làm theo mọi yêu cầu của người Mỹ các ngài và sẽ cố gắng hết mức. Tôi tin rằng, nhiệm vụ mà nước Mỹ giao cho chúng tôi là tối cao…”.
“Đúng vậy, ngài tổng thống đã hoàn thành rất tốt sứ mệnh của mình… Nhưng điều tôi lo lắng nhất hiện nay là an toàn tính mạng của ngài. Nghe nói, nếu các ngài đồng ý chủ động từ chức, thì những kẻ chủ mưu chuyện này sẽ sẵn sàng cung cấp mọi phương tiện cho anh em ngài rời Việt Nam, không rõ ngài đã nhận được tin này chưa?”.

Đến 6 giờ 30 cùng ngày, ông Diệm gọi lại tướng Đôn, nhưng được tướng Đôn thông báo sự khước từ của phe đảo chính. Họ đòi hỏi hai anh em ông Diệm phải rời khỏi nước. Ông Diệm đồng ý nhưng đặt một điều kiện: phe đảo chính phải chấp nhận cho ông các nghi thức danh dự ra đi của một tổng thống nhưng bị từ chối.[51]

Ông Diệm:

Tôi là một tổng thống dân cử của quốc gia. Tôi sẵn sàng từ chức công khai, và tôi cũng sẵn sàng rời khỏi nước. Nhưng tôi yêu cầu các ông dành cho tôi các nghi thức danh dự ra đi của một tổng thống.
Tướng Đôn: (Suy nghĩ một lúc)

Thật sự, tôi phải nói rằng chúng tôi không thể thỏa mãn yêu cầu của cụ về điểm này.
Ông Diệm:

Thôi được. Cảm ơn.
Anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị giết

Qua đài phát thanh, khi biết các tướng Trần Thiện Khiêm, Tôn Thất Đính đều tham gia phe đảo chính, 8h tối ngày 1 tháng 11 tổng thống Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu cùng 2 sỹ quan tùy viên (đại úy Đỗ Thọ và đại úy Bằng) trốn về nhà Mã Tuyên, Tổng bang trưởng của người Hoa và cũng là thủ lĩnh là Thanh niên Cộng hòa ở Chợ Lớn[52]. Sáng sớm ngày 2 tháng 11, từ nhà Mã Tuyên hai ông sang dự lễ và cầu nguyện tại nhà thờ Cha Tam. Tại đây tổng thống Diệm ra lệnh đại úy tùy viên Đỗ Thọ lấy điện thoại nhà xứ gọi về Tổng tham mưu thông báo là hiện Tổng thống đang ở nhà thờ Cha Tam Chợ Lớn.[53]

Vào khoảng 7h sáng ngày 2 tháng 11, một phái đoàn gồm có 3 chiếc xe Jeep, hai chiếc thiết giáp M113, 2 chiếc GMC chở đầy lính vũ trang và các nhân vật: tướng Mai Hữu Xuân, đại tá Dương Ngọc Lắm, đại tá Nguyễn Văn Quan, đại úy Nguyễn Văn Nhung và đại úy Dương Hiếu Nghĩa, đại úy Phan Hòa Hiệp [54] được đưa tới nhà thờ cha Tam để đón hai ông. Đại tá Lắm tuyên bố thừa lệnh Trung tướng Chủ tịch Hội đồng Quân Nhân Cách Mạng ép hai ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu lên xe thiết giáp M113.

Đại tá Lắm đến chào Ngô Đình Diệm:

Thừa lệnh Trung Tướng Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, chúng tôi đến đón cụ và ông cố vấn.
Ngô Đình Diệm bèn hỏi:

Ông Đôn và ông Minh đâu hè?
Đại tá Lắm đáp:

Thưa cụ, hai ông còn đang bận việc ở Tổng Tham Mưu.
Ngô Đình Diệm nói:

Thôi được. Thế tôi và ông cố vấn đi cùng xe kia với ông.
Đại tá Lắm quay người lại chỉ vào chiếc M113 và nói:

Thưa cụ, xin cụ lên xe này cho.
Ngô Đình Nhu khẽ nhíu mày lên tiếng:

Không thể đón Tổng Thống bằng một chiếc xe như vậy. Để tôi liên lạc với ông Đôn, ông Đính coi xem.
Đại tá Lắm khẽ nhún vai:

Tôi không biết. Đây là lệnh của Trung tướng Chủ tịch.
Đại úy Nhung liền oang oang:

Xin mời hai ông lên xe ngay cho đi.
Mặt Cố vấn Ngô Đình Nhu đỏ bừng, giọng rất quyết liệt:

Không được. Để tôi hỏi lại ông Minh, ông Đôn. Tôi đi xe nào cũng được, nhưng còn Tổng thống…
Đại úy Nhung:

Ở đây không còn Tổng Thống nào cả.

Ngay lập tức, viên Đại uý này bảo hai quân nhân chạy đến đẩy hai ông lên xe và kéo cửa lên…[54]

Trên đường về bộ Tổng tham mưu, tổng thống Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu bị hạ sát. Thi hài của hai ông được đưa vào bệnh xá của Bộ Tổng tham mưu quân lực Việt Nam Cộng hòa để khám nghiệm. Theo chứng nhận của bác sĩ Huỳnh Văn Hưỡn, Giám đốc bệnh xá và cũng là người đã tiến hành vụ khám nghiệm thì hai ông Diệm, Nhu bị bắn từ sau gáy ra phía trước. Xác tổng thống Ngô Đình Diệm có nhiều vết bầm, chứng tỏ đã bị đánh đập trước khi bắn. Xác Ngô Đình Nhu bị đâm nhiều nhát, áo rách nát và đầy máu.

Khoảng 10 giờ ngày 2 tháng 11, đài phát thanh Sài Gòn loan một tin vắn tắt: “Anh em ông Diệm bị bắt tại Chợ Lớn, và đã tự tử!” Dư luận không tin là anh em ông Diệm tự sát. Vì ai cũng biết: Cố Tổng thống Diệm là một người ngoan đạo, mà đạo Thiên Chúa cấm tự sát [55]

Thi hài anh em tổng thống Diệm được âm thầm an táng trong vòng thành Bộ Tổng tham mưu (về sau thì di dời ra Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi) với sự hiện diện của người cháu gái và làm thủ tục khai tử tại quận Tân Bình. Về nghề nghiệp của Tổng thống Ngô Đình Diệm được ghi là Tuần Vũ và ông Nhu là quản thủ thư viện.[55]

Phản ứng của những người có liên quan

4 giờ chiều ngày 2 tháng 11 năm 1963, khi được thông báo anh em Tổng thống Diệm đã bị giết, đại sứ Hoa Kỳ Cabot Lodge, đã vui vẻ thốt lên bằng tiếng Pháp: “C’est formidable! C’est formidable!” (Thật là tuyệt diệu. Tuyệt diệu).[56]

Tuy nhiên không phải ai cũng vui như thế. Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ (thời điểm này là trung tá) cũng như nhiều người khác cảm thấy bất nhẫn khi nghe tin hai ông Diệm Nhu bị thảm sát, ông Kỳ viết: “I was shocked and angry, however, the next day when I learned that Diem and Nhu had been shot to death … But killing him was not necessary, and if I had known that murder had been on the conspirators’ agenda…It was too late to go back, but with these killings I lost what little respect I once had for generals. It showed how fearful they were of maintaining power” (“Tôi đã rất sốc và buồn bực, nhưng ngày hôm sau tôi biết rằng Diệm và Nhu đã bị bắn mà chết… Nhưng giết ông ấy là không cần thiết, và nếu tôi biết rằng vụ sát nhân đã được chuẩn bị trong âm mưu nghị sự…Thật là quá trễ để quay đầu, nhưng với chuyện sát nhân này tôi đã mất đi sự tôn trọng nhỏ mà tôi đã từng có với các tướng. Nó cho thấy sự đáng sợ thế nào trong cách mà họ duy trì quyền lực”) [57]

Theo đại tướng Maxwell Taylor – Chủ tịch Hội đồng Tham mưu Liên quân Hoa Kỳ – John F. Kennedy luôn kiên trì chủ trương trục xuất Ngô Đình Diệm ra khỏi Việt Nam là đủ rồi và đã dặn dò đảo chính “Chớ nên đổ máu!” nhưng sự thực xảy ra hoàn toàn trái ngược với ý nguyện của ông. [58] Đại tướng Maxwell Taylor cho biết về thái độ của Tổng thống Hoa Kỳ sau khi nghe tin anh em Ngô Đình Diệm đã bị phe đảo chính giết chết:[35][58]

Đang ngồi, Tổng thống Kennedy cứ nhấp nhổm không yên. Sắc mặt ông trắng bệch, kinh ngạc và buồn rầu. Tôi chưa từng thấy ông gặp tình cảnh như thế này bao giờ!
—Maxwell Taylor

Nghe tin tổng thống Ngô Đình Diệm bị giết, Tổng thống Đài Loan Tưởng Giới Thạch thương tiếc nói rằng:

Người Mỹ có trách nhiệm nặng nề về vụ ám sát xấu xa nầy, Trung Hoa Dân Quốc mất đi một đồng chí tâm đầu ý hợp… Tôi khâm phục ông Diệm, Ông xứng đáng là một lãnh tụ lớn của Á Châu.
—Tưởng Giới Thạch [59]

Cái chết của anh em Ngô Đình Diệm cũng đã làm cho các lãnh tụ Á Châu, đồng minh của Mỹ giật mình, tổng thống Hồi Quốc (Pakistan), Ayub Khan, đã nói với tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon:

Cuộc thảm sát Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã khiến các lãnh tụ Á Châu chúng tôi rút ra được một bài học khá chua chát: Đồng Minh với Mỹ thật nguy hiểm! Có lợi hơn nên đứng thế trung lập. Và có lẽ hữu ích hơn nữa khi là kẻ thù của Hoa Kỳ.
—Tổng thống Ayub Khan[60]

Hậu quả

Các cơ quan do Ngô Đình Diệm lập ra như Đảng Cần Lao, Sở Nghiên cứu Chính trị, Lực lượng Đặc biệt, 4 cơ quan Mật vụ Công an, Phong trào Cách mạng Quốc gia, Thanh Niên Cộng hòa, Phụ nữ Liên đớì, các xóm Đạo võ trang… tất cả đều tê liệt rồi tan rã không một phản ứng. Cả cấu trúc chính trị mà hộ Ngô xây dựng trong 9 năm đã sụp đổ trong 24 tiếng đồng hồ.

Nhà sử học Nguyễn Hiến Lê đã ghi lại lời những nhân chứng ở thời điểm đó[61]:

Từ 7 giờ sáng ngày ngày 2 tháng 11 năm 1963, khi đài phát thanh Sài Gòn báo tin dinh Gia Long bị quân đội chiếm thì già trẻ lớn bé lũ lượt kéo nhau đi xem. Lời hò reo, tiếng cười vang với sắc diện tươi vui của mọi người chứng tỏ sự giải thoát gông cùm kềm kẹp của độc tài đã bóp nghẹt lòng dân trong chín năm trời đăng đẳng” – Bác sĩ Dương Tấn Tươi. Còn thi sĩ Đông Hồ thì: “Nỗi ức hiếp, nỗi căm hờn bị đè nén, bị vùi dập một cách tàn nhẫn bất công trong 9 năm trời, một sớm được giải thoát, được cởi mở, mà phản ứng chỉ có chứng ấy thì cho thấy quần chúng Việt Nam năm 1963 này cũng đã tỏ ra hiền lành nhiều lắm, và cũng đã biết tự kiềm hãm sức giận dữ hung hãn của mình rồi đó.”

Tuy nhiên, sau cuộc đảo chính tình hình chính trường Sài Gòn không được như chính quyền Washington mong muốn. Trong vòng 4 năm kể từ biến cố ngày 1 tháng 11 năm 1963 cho đến khi thành lập Đệ Nhị Cộng Hòa ngày ngày 1 tháng 11 năm 1967, Miền Nam đã trải qua 4 chính phủ: Chính phủ Nguyễn Khánh (quân nhân), Chính phủ Trần Văn Hương (độc lập), chính phủ Phan Huy Quát (Đại Việt), chính phủ Nguyễn Cao Kỳ (quân nhân).[62]

Người kế nhiệm John F. Kennedy, tổng thống Lyndon B. Johnson (1963 – 1969) than thở:

Lúc đầu họ nói với tôi về ông Diệm. Ông ta tham nhũng và ông ta phải bị giết. Vì thế, chúng ta đã giết ông ta…. Bây giờ chúng ta không có sự ổn định chính trị từ lúc đó…
—Lyndon B. Johnson[63]

Trên nhật báo Công Luận số đặc biệt ngày ngày 1 tháng 11 năm 1970 cựu Trung tướng Trần Văn Đôn linh hồn của cuộc đảo chính năm 1963 đã lên tiếng qua bài “Những cơ hội đã mất“.

…Những người của ngày ngày 1 tháng 11 năm 1963 đã thành công trong đảo chính, nhưng đã thất bại trong việc cầm quyền. Bị đặt trước những nhiệm vụ mới và lớn lao, lại không có kinh nghiệm cầm quyền, họ bị tình thế xô đẩy và tràn ngập trong các vấn đề phải giải quyết. Ngày ngày 1 tháng 11 năm 1963 rút lại chỉ còn là một ngày đảo chính mở ra một giai đoạn lịch sử đầy hỗn loạn với bao nhiêu là bấp bênh: hết chỉnh lý lại đến đảo chánh, quyền hành chuyển từ tay nọ qua tay kia và xã hội càng ngày càng thiếu ổn định. Trong khi đó thì Cộng Sản không ngừng phát triển chiến tranh…[62]

Linh mục Cao Văn Luận tác giả hồi ký Bên Dòng Lịch sử Việt Nam, 1940-1975 nhận xét:

“Sự thanh toán ông Diệm và chế độ ông Diệm phải chăng là một sai lầm tai hại cho đất nước Việt Nam. Những hỗn loạn chính trị, những thất bại quân sự sau ngày ngày 1 tháng 11 năm 1963 đã trả lời cho câu hỏi đó”[64]

 :

“Để hòng cải thiện thể chế chính trị ngày càng tồi tệ, Mỹ đã vứt bỏ Diệm, Nhu. Nhưng Mỹ đã tính nhầm. Sau khi truất phế Ngô Đình Diệm, thế chính trị của bọn bù nhìn chẳng những không tốt lên mà còn xấu hơn nữa.”[65]

Nghi vấn về những người tham gia hạ sát hai anh em Ngô Đình Diệm

Về người giết hai anh em Ngô Đình Diệm

Theo John S. Bowman thì hai người trực tiếp giết hại ông Diệm và Nhu là thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa và đại úy Nguyễn Văn Nhung, theo lệnh của trung tướng Dương Văn Minh, lúc đó đứng đầu phe đảo chính[67].

Nguyễn Văn Nhung

Theo hồi ký “Việt Nam một trời tâm sự” của tướng Nguyễn Chánh Thi thì Thiếu tá Nhung[68] thú nhận: “Tôi (Thiếu tá Nhung) rút khẩu súng colt 12, bắn mỗi người 5 phát. Sau đó hăng máu bồi thêm cho ông Nhu 3 phát nữa vào ngực. ”

Theo cuốn “Assassin in our Time” (Kẻ sát nhân trong thời đại chúng ta) xuất bản năm 1976 ở Mỹ, ở trên chiếc thiết vận xa M113, hai anh em tổng thống Diệm bị trói tay quặt ra sau lưng. Tổng thống Diệm do bị sốc nặng nên đã ngồi im. Bất ngờ, đại uý Nguyễn Văn Nhung rút dao găm ra đâm ông cố vấn Nhu 15-20 phát. Rồi rút súng Colt ra bắn vào gáy tổng thông Diệm. Thấy ông Nhu vẫn chưa chết hẳn, Đại uý Nhung đã bắn thêm vào đầu ông ta…

Dương Hiếu Nghĩa

Trong cuốn Nam Việt Nam 1954-1975: Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới, các tác giả đã buộc tội thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa là đao phủ thủ thứ hai trong vụ ám sát tổng thống.[69]

Theo cuốn “A Death in November” (Cái chết vào tháng mười một) của tác giả Ellen J. Hammer viết trong khi chiếc thiết vận xa M113 dừng lại ở trước đường xe lửa trên đường Hồng Thập Tự (đường Nguyễn Thị Minh Khai hiện nay), thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa đứng trên cửa xe lia một tràng tiểu liên vào hai anh em tổng thống Diệm. Rồi đại úy Nhung rút súng Colt ra bắn thêm mấy phát vào đầu tổng thống Diệm và cố vấn Nhu, sau đó tiếp tục rút dao găm đâm nhiều nhát vào ngực hai ông. Thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa phủ nhận việc giết hai ông và nói rằng mình không ngồi trên xe chở ông Diệm và ông Nhu lúc đó. Và thiếu tá Nghĩa cũng lý luận rằng nếu chính ông đã giết ông Diệm và ông Nhu người ta cũng giết ông như giết Nguyễn Văn Nhung rồi. Nhưng nhiều người vẫn tin lời tường thuật của bà Ellen J. Hammer vì thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa là một Đảng viên Đảng Đại Việt, (Đảng Đại Việt vốn có thâm thù với chính quyền Ngô Đình Diệm) và sau này khi ngồi ghế Phụ thẩm Quân nhân của Tòa án Cách mạng, đã tham gia xét xử và tuyên án tử hình ông Ngô Đình Cẩn.

Trong chương Cuộc Đảo Chính ngày 1 tháng 11 năm 1963 của cuốn Nhớ lại những ngày ở cạnh Tổng thống Ngô Đình Diệm thì nhiều nhân chứng đã thấy Thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa lau bàn tay vấy máu trước khi vào báo cáo với tướng Dương Văn Minh.

Đại úy Đỗ Thọ, sỹ quan tùy viên của tổng thống Ngô Đình Diệm cũng đặt vấn đề: “Đáng ra trong hồ sơ khẩu cung sau ngày chỉnh lý 30/1/1964, thiếu tá Nhung phải khai thêm một sĩ quan đồng lõa tên Nghĩa (Dương Hiếu Nghĩa) nữa, nhưng không hiểu tại sao thiếu tá Nhung lại không tiết lộ.” [70]

Về người ra lệnh giết hai anh em Ngô Đình Diệm

Theo tài liệu “JFK and the Diem Coup” của tiến sĩ John Prados xuất bản vào tháng 11 năm 2003, dựa trên các đoạn băng ghi âm (kể cả các buổi họp bí mật tại Tòa Bạch Ốc), các công điện trong và sau thời gian xảy ra cuộc đảo chính thì chính phủ Hoa Kỳ có ý muốn loại bỏ quyền lực của ông Diệm, chứ không hề có ý định sát hại hai ông Diệm, Nhu.

8 giờ 30 sáng ngày 2 tháng 11 tại cuộc họp thu hẹp giữa một số tướng lãnh tại Bộ Tổng tham mưu, trung tướng Nguyễn Ngọc Lễ đã xui tướng Dương Văn Minh: ” Nhổ cỏ thì phải nhổ tận gốc“.[47]

Điệp viên CIA Lucien Emile Conein, người được cho rằng đã giật dây cuộc đảo chính này, khi hay tin ông Diệm và ông Nhu ra khỏi dinh Gia Long, Luien Conein đã hỏi: “Hai ông ấy đi đâu? Phải bắt cho kỳ được vì rất quan trọng?” Lucien Conein đã nói với các tướng đảo chính bằng tiếng Pháp: “On ne fait pas d?omelette sans casser les oeuf? (Người ta không thể làm trứng rán mà không đập bể những quả trứng)[71]

Theo hồi ký Việt Nam máu lửa quê hương tôi của Hoành Linh Đỗ Mậu thì sáng ngày 2 tháng 11, tại Bộ Tổng tham mưu đã có một cuộc bàn luận giữa các tướng lãnh tham gia đảo chính, về cách đối xử với ông Diệm, nên giết hay nên cho xuất ngoại. Và Đỗ Mậu là người duy nhất không tán đồng giết hai anh em nhà Ngô.[47]

Theo hồi ký “Việt Nam một trời tâm sự” của tướng Nguyễn Chánh Thi thì khi chiếc thiết vận xa rời nhà thờ Cha Tam chạy chừng 500 m thì gặp tướng Thu (thật ra là tướng Mai Hữu Xuân) đưa lên một ngón tay trỏ, nhóm Nguyễn Văn Nhung trên M113 đoán rằng ông ta ra lệnh giết một trong hai anh em Tổng thống Diệm, nhưng chưa biết phải giết người nào thì lại thấy tướng Thu đưa lên hai ngón tay (ngón trỏ và ngón giữa) của bàn tay trái, với hai ngón khép lại với nhau, chỉ vào hai ngón tay của bàn tay phải giơ lên. Họ nghĩ rằng ông ra lệnh giết cả hai anh Ngô Đình Diệm. Và khi đoàn xe chở hai ông Diệm, Nhu đã chết về đến Bộ Tổng tham mưu thì thiếu tướng Mai Hữu Xuân đưa tay chào tướng Dương Văn Minh và nói: “Mission accomplie!” (Sứ mệnh đã hoàn thành).[72]

Và nhiều người nhận định là đại úy Nhung (sỹ quan cận vệ của tướng Dương Văn Minh) không thể nào dám hạ sát hai ông Nhu, Diệm nếu không có lệnh của tướng Minh[73]

Thưởng và phạt sau cuộc đảo chính 1963

Những nhân vật được thưởng

Hầu hết các tướng lĩnh tham gia đảo chính đều được thăng cấp.

  • Thiếu tướng Tôn Thất Đính được thăng ngay Trung tướng.
  • Thiếu tướng Nguyễn Khánh được thăng chức Trung tướng.[74]
  • Thiếu tướng Đỗ Cao Trí được thăng chức trung tướng, mặc dầu thiếu tướng Trí mới được lên thiếu tướng hơn một tháng.

Tuy vậy, các tướng lĩnh cầm đầu lại không tự phong cấp cho mình như Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân…, đều vẫn giữ cấp bậc cũ.

Ngoài ra, một số sĩ quan khác cũng được thăng cấp:

  • Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao bị cách chức, cho đến sau chỉnh lý mới được phục chức.
  • Đại tá Bùi Dzinh bị cách chức Tư lệnh Sư đoàn 9 Bộ Binh, kỷ luật “nghỉ dài hạn không lương”, ngày 19/2/1965 ông tham gia cuộc chính biến lật đổ Quốc Trưởng Nguyễn Khánh do Thiếu tướng Lâm Văn Phát và đại tá Phạm Ngọc Thảo cầm đầu, bị bắt giam ở khám Chí Hoà và giải ngũ vài năm sau đó.
  • Đại tá Bùi Đình Đạm bị cách chức, sau chỉnh lý mới được phục chức.
  • Trung tá Đinh Văn Phát, là tỉnh trưởng Kiến Phong, người đã trả lời phe đảo chính: “Tôi là con nhà Nho, việc gì cũng phải có trước có sau. Mới đây được tổng thống tin cậy cho làm tỉnh trưởng, mà nay ủng hộ đảo chánh, sao tôi làm được?”, bị cách chức. Sau đó ông trở thành chủ hãng phim, chủ tờ nhật báo Độc Lập rất giàu có.
  • Thiếu tá Nguyễn Hữu Duệ, Tư lệnh phó kiêm Tham mưu trưởng Lữ đoàn Liên binh Phòng vệ Phủ Tổng thống, ngưới chỉ huy vệ binh bảo vệ Dinh Gia Long chống quân đảo chính (thời điểm đó Trung tá tư lệnh Nguyễn Hữu Khôi đang bị giam tại Bộ Tổng tham mưu) bị Nha An ninh Quân đội bắt giam hơn một tháng. Về sau phải nhờ đại tá Nguyễn Văn Quan, phụ tá Dương Văn Minh, người cầm đầu đảo chính can thiệp, mới được thả.[39]

Chính quyền Nam Việt Nam sau đảo chính

Vai trò lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa của Hội đồng quân sự do Dương Văn Minh đứng đầu, lãnh đạo 3 tháng sau đó là Cuộc chỉnh lý tại Việt Nam Cộng hòa 1964.

NgoDinhDiem

TẠI SAO PHẢI GIẾT TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM?

Mặc Lâm, RFA

Cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963 đã đưa đất nước Việt Nam vào một khúc quanh lịch sử. Bằng cái chết của hai anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ của ông là Ngô Đình Nhu, những tướng lãnh tham gia cuộc đảo chánh không ai biết người ra lệnh thủ tiêu hai ông là ai nhưng sau khi tro bụi của cuộc cách mạng lắng xuống những gương mặt đứng phía sau giật giây cho cuộc tàn sát ấy bắt đầu được điểm danh và lịch sử luôn công bằng cho từng người một.

  • Mặc Lâm phỏng vấn ông Bùi Kiến Thành, một nhân chứng lịch sử, một người bạn, người cố vấn cho Tổng thống Ngô Đình Diệm từ những ngày đầu tiên khi từ Mỹ trở về Việt Nam chấp chính cho tới khi biến cố xảy ra.

Cái tốt và chưa tốt của chế độ Đệ nhất Cộng hòa

  • Mặc Lâm: Thưa ông Bùi Kiến Thành, xin cảm ơn ông cho phép chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn này. Ngày 1 tháng 11 hàng năm có lẽ ai theo dõi tình hình Việt Nam trong lịch sử đương đại đều nhớ là ngày mà cuộc đảo chính không những lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm mà còn giết cả hai anh em ông ấy tại Sài gòn vào năm 1963. Ông có nhận đình gì về ngày lịch sử này thưa ông?
  • Bùi Kiến Thành: Có lẽ cũng là một ngày chúng ta nên ôn lại cái được và cái chưa được cái tốt và cái chưa tốt của chế độ Đệ nhất Cộng hòa để chúng ta rút bài học.
  • Mặc Lâm: Vâng, trước khi đi sâu hơn vào chi tiết xin ông vui lòng cho biết về mối quan hệ của ông với Tổng thống Ngô Đình Diệm.
  • Bùi Kiến Thành: Trong khi tôi học ở Columbia vào những năm 1952 cho tới năm 1954 lúc đó thì chí sĩ Ngô Đình Diệm đang ở New Jersey. Cứ mỗi cuối tuần thì ông qua New York thăm chơi với tôi cùng một anh bạn nữa là anh Bùi Công Văn, ảnh là phóng viên của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ. Cứ tối thứ Bảy thì ông qua ngồi nói chuyện suốt đêm cho tới sáng Chủ Nhật thì ông đi lễ, đi lễ về rồi lại nói chuyện suốt ngày, tới chiều Chúa Nhật thì ông trở lại tu viện Maryknoll.

Chúng tôi sống với nhau trong cảnh bạn cố tri trao đổi như thế trong suốt gần hai năm tại New York trước khi ông Diệm về bên Pháp và sau đó về làm Thủ tướng chánh phủ.

Sau khi ông Diệm về làm Thủ tướng chính phủ chấp chánh vào ngày mùng 7 tháng 7 thì ông Diệm gửi điện qua New York và Washington yêu cầu tôi trở về để giúp đỡ. Ngày 23 tháng 8 năm 1954 sáu anh em chúng tôi là cựu sinh viên của các đại học Mỹ về giúp cho ông Diệm trong thời kỳ rất là khó khăn. Làm Thủ tướng mà không có cảnh sát không có quân đội chỉ vỏn vẹn có 27 sĩ quan đi theo mà thôi.

Cả một đất nước do Pháp đang cai trị vì vậy khi nắm lại quyền tự do, quyền tự chủ, quyền độc lập trong thời kỳ đó rất là khó khăn vì vậy chúng ta phải đánh giá cao việc ông Diệm bình định được tình hình, đưa quân Pháp ra khỏi nước Việt Nam một cách ổn định và xây dựng nền đệ nhất cộng hòa.

Điều này khi nghiên cứu lịch sử và đánh giá cao tinh thần của cả một thời kỳ không riêng gì ông Diệm mà những người đi theo hỗ trợ giúp đỡ cho ông Diệm, những nhân sĩ ở miền Nam, nhân sĩ ở miền Trung, miền Bắc… tất cả đều có công lớn đã xây dựng chế độ đệ nhất cộng hòa, nhưng rất tiếc rằng sau đó chúng ta không làm được những chuyện ta cần phải làm để đến nỗi bị đổ vỡ.

  • Mặc Lâm: Thưa ông trong khi gần gũi với Thủ tướng Ngô Đình Diệm ông và các người được Thủ tướng mời về cụ thể làm những việc gì để giúp cho chính phủ còn non nớt lúc ấy?

 

  • Bùi Kiến Thành: Tôi bên cạnh ông Diệm suốt ngày mà! Khi tôi về tại Dinh Gia Long ngày 23 tháng 8 đó ăn cơm trưa với ông Diệm và một số Bộ trưởng, Tổng trưởng, có những nhân hào nổi tiếng của Việt Nam như ông Phạm Duy Khiêm, Bác sĩ Bùi Kiến Tín, Nguyễn Văn Châu… chúng tôi hết sức khẩn thiết làm bất cứ việc gì để ổn định tình thế, tôi ở suốt ngày suốt đêm trong dinh một thời gian rồi sau đó tôi mới dời ra ngoài. Sau khi bố trí lại thì ngày nào đêm nào tôi cũng vào trong dinh để mà làm việc với Thủ Tướng rồi Tổng thống Ngô Đình Diệm.

 

Một là bên Dinh Gia Long, sau nữa khi dời sang Dinh Độc Lập tôi cũng sát cùng ông Diệm như một cộng sự đặc biệt vì cái chỗ thân tình từ khi còn nhỏ kia, khi tôi mới 15-16 tuổi, hồi đó gia đình tôi thân với ông Diệm lắm. Chính ông cụ tôi đã cất giấu ông Diệm trong khi bị Nhật tìm bắt ông.

Sau này khi không còn tham chính nữa ông cụ tôi tiếp tục làm y sĩ riêng cho Tổng Thông đến ngay ông ấy bị sát hai. Cái thân tình ấy dẫn tới chỗ hết sức gần với nhau. Tất cả những chuyện thâm cung bí sử, khó khăn trong thời kỳ tháng 8 tháng 9 tới tháng 12 năm 1954 thì thật sự hội lại chỉ có 4 người trong Dinh Gia Long thôi: Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Bác sĩ Bùi Kiến Tín và Bùi Kiến Thành.

Chúng tôi bàn với nhau cái gì cần phải làm. Làm sao nắm được quân đội, làm sao đối kháng với Bình Xuyên, làm sao giải tỏa được thành phố Sài Gòn xây dựng lên một chính quyền được nhân dân ủng hộ.

Riêng về tôi đặc biệt là có trách nhiệm giúp cho Tổng thống, khi ấy là Thủ tướng, quan hệ với các phái bộ đặc biệt của Mỹ từ bên Mỹ gửi qua chứ không phải quan hệ với sứ quán Mỹ ở Sài Gòn. Sứ quán Mỹ tại Sài Gòn thân với Pháp, ông đại sứ Mỹ Donald Heath rất thân với Pháp, sau đó thì Lawton Collins cũng thân với ông Cao Ủy Pháp Paul Ely.

Công việc của tôi và của ông Ngô Đình Nhu là bắc cây cầu trực tiếp với chính phủ Mỹ ở Washington, qua những phái bộ đặc biệt của Hoa Kỳ gửi qua trong đó có Trung tướng O’Daniel, Đại tá Lansdale sau này là General Lansdal, Paul Hardwood (Trưởng phái bộ CIA), việc của tôi làm lúc ấy cũng chỉ trong 4 người mà thôi bao nhiêu là công việc hết sức khó khăn.

Xây dựng được tờ báo Tự Do là việc tôi hết sức thú vị. Tôi nói với Thủ tướng mình cần có cơ quan ngôn luận tự do. Tờ báo đó được Bác sĩ Bùi Kiến Tín, lúc đó là Bộ Trưởng Bộ Thông tin, ký giấy phép. Tôi tập hợp những nhân sĩ ở Bắc Hà vào làm trong đó có Tam Lang, có Đinh Hùng, Mặc Đỗ, Mặc Thu, Như Phong, Vũ Khắc Khoan …làm ban biên tập để cho tờ báo Tự do có tiếng nói tự do trong thời kỳ hết sức khó khăn như thế.

Chỉ có tờ báo Tự do lúc ấy là thực sự nổi tiếng, có tiếng nói tự do trong một khung cảnh rất khó khăn và để chống lại những tờ báo thiên Pháp hay thân các chế dộ trước kia của Sàigon và những đài phát thanh khi đó tại Sài Gòn theo phe quân đội chửi bới Ngô Đình Diệm suốt ngày. Tôi có nhiệm vụ lập nên đài phát thanh “Tiếng nói Quốc dân đoàn kết”, một đài phát thanh đặc biệt để nói lên những sự việc như thế nào trong khi chúng ta phải xây dựng một chính quyền độc lập đó là việc Thủ tướng Ngô Đình Diệm giao cho tôi làm.

  • Mặc Lâm: Xin ông nói rõ hơn tại sao đã là thủ tướng mà còn bị đài phát thanh bên quân đội chống phá bằng cách chửi bới công khai như ông vừa nói, phải chăng còn một thế lực nào công khai chống lại Thủ tướng vào lúc sơ khai ấy hay không?

 

  • Bùi Kiến Thành: Thủ tướng Ngô Đình Diệm lúc ấy làm gì có quân? Thủ tướng mà không nắm cảnh sát, công an. Công an trong tay của Bình Xuyên là một đám giang hồ, cướp của. Pháp cho họ quản lý sòng bạc Đại thế giới, Kim Chung… Cảnh sát thì không nắm được còn quân đội thì trong tay của Trung tướng Nguyễn Văn Hinh. Trung tướng Hinh là một người thân Pháp con của ông Nguyễn Văn Tâm, không phải là người ủng hộ cho chính phủ Ngô Đình Diệm vì vậy khi làm Thủ tướng ông Ngô Đình Diệm ngồi trong dinh nhưng cái đài phát thanh là của người khác.

 

Đài Quốc gia cũng như đài quân đội thì người Pháp, hay thân Pháp, quản lý cứ mỗi ngày chửi bới Ngô Đình Diệm thế này, chửi bới Ngô Đình Diệm thế kia…ngồi trong dinh mà không giải quyết được vấn đề đó vì vậy phải kiên trì xây dựng lực lượng mình lên để giải quyết điều đó.

Xây dựng lực lượng bằng cách thu dụng những nhân sĩ tài ba của đất nước vào ủng hộ mình đồng thời cũng phải có tiếng nói qua cái đài phát thanh “Tiếng nói Quốc dân đoàn kết”, tiếng nói qua tờ báo Tự Do lúc đó đóng một vai trò quan trọng phổ biến tâm tư nguyện vọng, chính sách của Ngô Đình Diệm cho dân chúng được biết. Vấn đề đó cực kỳ quan trọng và tôi được giao trọng trách tổ chức hai việc đó trong những ngày đen tối nhất sau khi ông Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền, tức là những ngày trong tháng 8 tháng 9 năm 1954 cho tới đầu năm 1955 khi bình định xong thì trong hai cơ quan đó, “Đài Tiếng nói quốc dân đoàn kết” không tiếp tục nữa nhưng tờ báo Tự Do vẫn tiếp tục rất tốt. Tờ Tự Do là nguồn dư luận rất tốt trong thời kỳ đó, trong chánh thể đệ nhất cộng hòa.

Không có tổ chức chính trị nồng cốt

  • Mặc Lâm: Báo chí quốc tế cũng như giới tướng lãnh đa số cho rằng chính phủ Ngô Đình Diệm sụp đổ bởi những tuyên bố gây sự giận dữ trong và ngoài nước của bà Ngô Đình Nhu cùng với những hành động đàn áp Phật giáo của chính phủ Ngô Đình Diệm. Ông có chia sẻ gì về việc này?

 

  • Bùi Kiến Thành: Đấy chỉ là một phần thôi thực sự ra chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ còn nhiều vấn đề cốt lõi hơn nữa. Ông Ngô Đình Diệm là một người hết sức yêu nước và có công tâm nhưng ông Diệm không có kinh nghiệm tổ chức. Còn ông Nhu thì rất uyên thâm về vấn đề học thuật, ông học rất giỏi về tổ chức thư viện, ông nghiên cứu rất tốt nhưng không có tài năng tổ chức lực lượng chính trị.

 

Nếu quản lý một nhà nước mà không có tổ chức thì làm sao? Vì vậy cho nên cái Đảng Cần lao của ông Nhu không có tổ chức tốt còn cái “Phong trào cách mạng quốc gia” mà ông Bác sĩ Tín làm chủ tịch sáng lập thì nó cũng chỉ là phong trào thôi. Sau một phong trào rồi thì nó lặng im. Quyền chính trị trong nước là ở trong đảng, mà Đảng Cần Lao không được tổ chức tốt vì vậy cho nên chế độ Ngô Đình Diệm không tồn tại được vì không có tổ chức chính trị nồng cốt để làm việc.

Sau nữa còn có cái lỗi ở chỗ lầm lẫn hai việc khác nhau: quản lý các vấn đề nhà nước là việc quản lý hành chính, còn tổ chức nồng cốt do một chính đảng đứng lên để đóng vai trò cột trụ cho một đất nước thì là một việc khác. Do lầm lẫn ở vai trò lãnh đạo chính trị và lãnh đạo hành chính cho nên chế độ Ngô Đình Diệm tập trung nhiều hơn về vấn đề hành chính mà quên đi vấn đề lãnh đạo chính trị, xây dựng nồng cốt tức là sự ủng hộ của nhân dân, làm sao để vấn đề đảng được nhân dân ủng hộ…

Chính phủ Ngô Đình Diệm không làm được, không xây dựng được một đảng chính trị thật sự của dân, do dân và vì dân vì vậy cho nên không đứng vững được và vì thế có thể nói sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm không phải là vấn đề nhỏ bé như chuyện bà Nhu nói cái này cái kia. Có! nó có ảnh hưởng nhưng chuyện đó là chuyện nhỏ đối với khả năng xây dựng nên một chính đảng mạnh thì chính phủ Ngô Đình Diệm không làm được.

  • Mặc Lâm: Vậy phải chăng do điều mà người ta nhận xét về ông Ngô Đình Diệm là người theo chủ nghĩa dân tộc đã khiến ông bị người Mỹ lo sợ vì không theo sự dẫn dắt của họ, đặc biệt là khi Mỹ muốn đổ quân vào Việt Nam thưa ông?

 

  • Bùi Kiến Thành: Khi Mỹ muốn vào Việt Nam năm 1962 ông Diệm nói với người Mỹ rằng các ông nên nhớ trên đất nước tôi trong 4 nghìn năm lịch sử không có một chế độ nào đi theo quân đội nước ngoài mà có thể được nhân dân ủng hộ.

 

Vì vậy ngày nào quân đội Mỹ đặt chân lên đất nước này chúng tôi sẽ mất chính nghĩa, mà khi mất chính nghĩa thì các ông không thể nào thắng được và chúng tôi cũng phải thua theo. Vì vậy ngày nào quân Mỹ đổ bộ lên đất nước này thì kể như ngày đó chính nghĩa Việt Nam đã mất rồi, chúng tôi không thể chấp nhận được.

Người Mỹ không chấp nhận cái lý luận của ông Ngô Đình Diệm nên họ tìm cách lật đổ ông Diệm đi, đó là vấn đề cốt lõi chứ không phải do bà Nhu thế này thế khác. Bà Nhu gây ra nhiều tai tiếng, nhưng không có vai trò chánh hay lý do chánh làm sụp đổ chính phủ Ngô Đình Diệm.

  • Mặc Lâm: Thưa ông, một câu hỏi cho tới ngày nay vẫn nằm trong bí mật, ông thân cận với Tổng thống Ngô Đình Diệm nên có lẽ hiểu được phần nào câu trả lời: ai ra lệnh giết anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm và tại sao phải giết họ khi đã nắm tất cả quân đội trong tay và họ đã bị bắt?

 

  • Bùi Kiến Thành: Tôi không có thông tin chính xác để nói về vấn đề này nhưng suy luận từ một lần đảo chính trước do Nguyễn Chánh Thi chủ mưu ông Diệm đã lập lại ván cờ bằng cách chỉnh đốn lại, thì lần này Dương Văn Minh và những người theo Dương Văn Minh nghĩ rằng khả năng ông Nhu ông Diệm có đủ bản lĩnh và đủ sự ủng hộ của những quân đoàn còn theo ông ta để lập lại thế cờ thì rất khó khăn cho phe đảo chính.

 

Vì vậy người ta không chấp nhận để cho ông Diệm ông Nhu tồn tại để mà có cái rủi ro đấy. Tôi không có thông tin ai là người ra lệnh giết hai anh em ông Diệm nhưng tôi chắc chắn rằng những người theo phe đảo chánh và nhất là phía Mỹ, thấy nguy cơ Ngô Đình Diệm có thể lập lại thế cờ rất là nguy hiểm vì vậy không để cho Ngô Đình Diệm sống. Đấy là quyết định chính trị chiến lược trong tranh đấu chứ không phải ai làm, hay ai ra lệnh không quan trọng, vấn đề phải tiêu diệt anh em ông Ngô Đình Diệm là để tránh nguy cơ bị lật trở lại.

  • Mặc Lâm: Trong ngày đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963 ông đang làm gì và có theo dõi hay tham gia trong một vai trò nào đó hay không?

 

  • Bùi Kiến Thành: Hôm đó tôi đang đi làm việc ở ngoài thì nghe phong phanh ngày hôm đó có bạo động. Tôi gọi về trong dinh thì gặp ông già Ẩn, tức là cận vệ của Tổng thống tôi hỏi anh Ẩn hiện giờ có vấn đề gì không vậy? tôi nghe ngoài này xào xáo lắm, thì ông Ẩn trả lời không có vấn đề gì đâu anh Thành ơi, mình hoàn toàn kiểm soát được mọi chuyện!

 

Đó là một cái chủ quan đầu tiên tại vì trong buổi sáng hôm ấy ông Nhu đã có sắp xếp một số chiến lược, chiến thuật nhằm giải quyết vấn đề bạo động nhưng vì chủ quan nên không thực hiện được. Tôi nói với ông Ẩn: coi chừng nhé nếu cần gì thì tôi vào trong dinh ngay để giúp cho các anh. Ông Ẩn nói không sao đâu anh Thành, nên tôi về nhà ăn cơm trưa và chờ cho tới hai ba giờ chiều không thấy gì xảy ra. Nhưng khoảng ba bốn giờ chiều tôi gọi lại thì tình hình bế tắc hết tôi không còn làm gì được nữa.

Ngày hôm đó tôi ở Sài Gòn, tôi muốn làm một cái gì đó để giúp đem lại trật tự an ninh nhưng mà cái thời thế có lẽ như là định mệnh của đất nước mình không cho mình làm gì được trong lúc ấy. Có làm gì được nữa trong lúc ấy khi thế lực của kẻ chủ mưu là người Mỹ đứng sau lưng những ông tướng của mình? thế lực ấy nó quá mạnh chúng ta không làm gì được.

Việc đảo chánh ông Ngô Đình Diệm không phải là chuyện của Dương Văn Minh, Dương Văn Minh chỉ là một con cờ thôi, cũng như Trần Văn Đỗ cũng như mấy ông kia củng chỉ là con cờ còn người chỉ huy, đưa ra tất cả những chiến thuật chiến lược để làm việc này. là người Mỹ mà người đại diện cho Mỹ làm việc này là đại tá Conein, ngồi thường trực tại Bộ Tổng tham mưu để điều khiển mấy ông tướng kia thành ra tất cả bộ tham mưu lúc đó nghe theo lời của một anh đại tá mật vụ của Mỹ, anh thấy có đau khổ chưa?

  • Mặc Lâm: Theo ông thì tại sao các tướng lĩnh lúc ấy lại nghe theo người Mỹ? Vì những hứa hẹn quyền lực hay âm mưu chính trị nào khiến họ trở thành như vậy?

 

  • Bùi Kiến Thành: Do những ông tướng không nghiên cứu tình hình đất nước, do không hiểu lý tưởng, không hiểu được chính nghĩa như thế nào mà đi theo lời của nước ngoài để mà sát hại một tổng thống, tưởng mình làm được cái gì nhưng cuối cùng cũng đầu hàng cộng sản mà thôi chứ làm được gì đâu.

 

Cái tội của những anh đảo chính Ngô Đình Diệm là tội ngu dốt không biết tình hình kinh tế, tình hình chính trị, tình hình chiến lược trên thế giới nó như thế nào, họ làm cái việc tự mình sát hại mình, đi đến chỗ 10 năm sau phải chắp tay đầu hàng cộng sản.

Đấy là cái tội của các anh làm cho bao nhiêu chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa phải chết, đó là tội của các anh vì các anh không hiểu gì về chính trị, hữu dũng vô mưu, đưa đất nước đến chỗ suy tàn.

Nếu chúng ta có cơ hội thì còn thương lượng được giữa miền Bắc với miền Nam, cũng như Tây Đức và Đông Đức có thể thương lượng với nhau. Chúng ta phải có nội lực có sức mạnh để mà thương lượng chứ không phải giao đất nước cho ngoại bang, giao cho Mỹ rồi đi đến chỗ chết.

Đó là tội của những người tự cho mình giỏi hơn người khác. Không thể nào một dân tộc một đất nước nào giữ được chính nghĩa của mình bằng cách bước theo những đội quân nước ngoài bắn phá làng xóm cả. Không thấy cái đó là mất chính nghĩa. Đầu óc các anh ở đâu mà anh vác súng đi theo người Mỹ vào trong làng xóm bắn giết dân chúng mình, như vậy là không thể được. Vì không thấy nên anh làm hại cả một thế hệ, làm hại cả một đất nước.

  • Mặc Lâm: Nhiều tài liệu lịch sử nói là chính phủ Ngô Đình Diệm từng có ý định nói chuyện với miền Bắc, ông có ý kiến gì về những chi tiết này?

 

  • Bùi Kiến Thành: Khi chính phủ Ngô Đình Diệm thấy cái nguy cơ lính Mỹ đổ bộ lên Việt Nam rồi mà không rút ra được thì chiến tranh sẽ tràn lan, mà chiến tranh khi đã tràn lan rồi thì dù cho quân đội Mỹ có đánh thẳng tới Hà Nội đi nữa thì chúng ta vẫn thua như thường tại vì quân đội Trung Quốc nó sẽ vào vì nó không để cho mình tiến qua biên giới của nó. Vì vậy Miền Bắc sẽ chiến đấu đến cùng để không cho quân của Trung Quốc qua chiếm đóng Việt Nam.

 

Vì vậy nhìn về chiến lược thì hai ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu thấy rõ ràng cái nguy cơ tác hại cho cả miền Nam và miền Bắc. Hà Nội cũng có những đầu óc thông minh để mà hiểu rõ sự nguy hiểm khi chiến tranh lan rộng như thế. Đó là đồng thuận về tinh thần là làm sao phải làm dịu chiến tranh xuống để tránh việc tàn phá đất nước. Giữa Nam Bắc Việt Nam phải có sự hiểu biết và tìm giải pháp tránh chiến tranh. Muốn làm việc đó thì Việt Nam phải mạnh, không mạnh thì không nói chuyện được.

Qua sự trung gian của đại sứ Ấn Độ trong Ủy ban Đình chiến, và Đại sứ Pháp…qua các cuộc đi săn bắn của ông Nhu trên vùng biên giới hai bên đã có những cuộc chia sẽ, chưa hẳn là thương thảo nhưng đã liên lạc được với nhau rồi. Khi Mỹ nghe như thế thì họ nói chính phủ Ngô Đình Diệm phản thùng và nó đưa việc này ra cho mấy ông tướng lãnh Việt Nam bảo là ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu bán nước cho cộng sản, vì vậy anh phải lật đổ Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Diệm đi để “cứu nước” không thì họ theo cộng sản, “bán đứng” các anh cho cộng sản….

Những đầu óc suy yếu của những anh tướng hữu dũng vô mưu không biết gì cả, nghe như thế lại tưởng rằng mình là người ái quốc ái quần, lật đổ Ngô Đình Diệm để cứu đất nước khỏi họa cộng sản.

Tôi đề nghị anh đọc cuốn sách “Robert Kennedy and His Time” của Arthur Schlesinger Jr. viết, trong đó có một chương nói về tình hình Việt Nam. (*)

Trong chương đó có viết Bùi Kiến Thành nói cái gì, Ngô Đình Diệm nói cái gì và Tổng thống Kennedy đã quyết định cái gì. Rất tiếc rằng Tổng thống Mỹ không thực hiện được. Tháng 9 năm 1963 Tổng thống Kennedy đã quyết định rút quân ra khỏi Việt Nam rồi nhưng do cuộc bầu cử năm 1964 nên không thể làm được cho nên chờ tới năm 64 sau khi bầu xong thì sẽ làm, nhưng rất tiếc vận hạn của nước ta và nước Mỹ là Kennedy bị bắn chết, Ngô Đình Diệm bị lật đổ Việt Nam đi vào cuộc chiến tranh tàn khốc do sự thiếu hiểu biết của một số người nông cạn của phía Mỹ cũng như Việt Nam.

Mặc Lâm: Xin cám ơn ông


(*) Robert Kennedy and His Times – Page 718 – Google Books Result

https://books.google.com/books?isbn=0544080076 Arthur M. Schlesinger – 2012 – Biography & Autobiography

NGÔ ĐÌNH DIỆM ĐỌC LẠI VÀ SUY NGẪM

Để hòng cải thiện thể chế chính trị ngày càng tồi tệ, Mỹ đã vứt bỏ Diệm, Nhu. Nhưng Mỹ đã tính nhầm. Sau khi truất phế Ngô Đình Diệm, thế chính trị của bọn bù nhìn chẳng những không tốt lên mà còn xấu hơn nữa.” Lê Duẩn đã nhận xét như vậy. Lịch sử chiến tranh Việt Nam (1955-1975), là giai đoạn thứ hai và là giai đoạn khốc liệt nhất của Chiến tranh Đông Dương (19451979). Nghiên cứu lịch sử sẽ không thể hiểu rõ nếu không tìm hiểu kỹ những nhân vật chính của cuộc đối chiến lịch sử này.

Ngô Đình Diệm đọc lại và suy ngẫm.

Hoàng Kim

TÀI LIỆU THAM KHẢO & TỪ KHÓA
BBC Tiếng Việt Published on Nov 2, 2017

54 năm ngày hai ông Diệm, Nhu bị đảo chính sát hại
Bàn tròn thứ Năm ngày 02/11/2017 dành toàn bộ thời lượng, cùng với các vị khách mời là nhà bình luận Nguyễn Xuân Nghĩa, cựu Đại tá quân đội Bắc Việt Bùi Tín và nhà báo tự do Bùi Văn Phú, bình luận sự kiện chấn động Việt Nam và dư luận quốc tế 54 năm về trước, khi Tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng Hòa, ông Ngô Đình Diệm, cùng bào đệ – cố vấn Ngô Đình Nhu – bị đảo chính, lật đổ và sát hại.

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ a ă â b Hoành Linh Đỗ Mậu, 1993. Chương Chế độ gia đình trị
  2. ^ a ă Cao Thế Dung và Lương Khải Minh, 1970. Chương TỔNG THỐNG DIỆM VÀ CÔNG GIÁO
  3. ^ Cao Thế Dung và Lương Khải Minh, 1970. Chương Phật giáo và tổng thống Diệm
  4. ^ a ă â b c Hoành Linh Đỗ Mậu, 1993. Chương Biến cố Phật giáo năm 1963
  5. ^ Thích Trí Quang và Chiến tranh Việt Nam, JAMES McALLISTER, Nguồn www.viet-studies.info
  6. ^ Theo Hồi ký Bên Giòng Lịch Sử 1940 – 1965 của linh mục Cao Văn Luận, chương Chế độ bắt đầu nứt rạn thì: Có vài giả thuyết được nêu lên về xuất xứ của trái lựu đạn:Giả thuyết thứ nhất, và khó tin nhất cho rằng một cán bộ chính quyền hoặc là binh sĩ hay cảnh sát bảo vệ đài phát thanh đã ném trái lựu đạn đó. Một giả thuyết thứ hai đổ cho mật vụ Mỹ là tác giả trong vụ này. Giả thuyết thứ ba thì cho rằng chính phe đấu tranh, tôi xin nói là phe đấu tranh trong đó còn nhiều thành phần khác ngoài Phật giáo đã thâm độc cho ném trái lựu đạn gây nên cảnh đổ máu để tạo căm phẫn trong quần chúng Phật tử hầu kích động mạnh hơn cuộc đấu tranh và dồn hai bên đến cái thế một sống một chết với nhau.
  7. ^ Theo hồi ký “Ngô Ðình Diệm, Nỗ lực hòa bình dang dở”, (nxb Xuân Thu California 1989), trang 189-190 thì: Sau 1975, một cựu đại úy Hoa kỳ tên James Scott, liên hệ với CIA và từng làm cố vấn cho Tiểu đoàn 1/3 thuộc Sư đoàn 1 Bộ binh, thú nhận trong một lá thư đăng trên một tuần báo Mỹ rằng chính ông đã gài một trái bom nổ chậm chiều 8.5.1963 tại Huế.
  8. ^ Đoàn Thêm, tr 349
  9. ^ a ă â Cao Văn Luận, 1974. Chương Chế độ bị dư luận và Chính quyền Mỹ chống đối.
  10. ^ Đoạn trích từ phim tài liệu Mondo Cane 2
  11. ^ Chính đạo, 2000, tr 312
  12. ^ Đoàn Thêm, tr 357
  13. ^ a ă Cao Văn Luận, 1974, chương Cơn hấp hối của chế độ
  14. ^ Thích Đức Nhuận, 1963. Chương Cuộc vận động của Phật Giáo Việt Nam chống chính thể độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm
  15. ^ Theo Hồi ký Bên Giòng Lịch Sử 1940 – 1965 của linh mục Cao Văn Luận: Sau khi bị giải nhiệm chức viện trưởng Viện Đại học Huế, linh mục vào Sài Gòn và đến gặp Giám mục khâm sứ Tòa thánh La Mã tại Việt Nam. Ông được Giám mục khâm sứ Tòa thánh La Mã cho biết có lúc ông Diệm theo lời khuyên của Đức giáo hoàng, dự tính bãi bỏ những biện pháp cứng rắn đối với Phật giáo. “Nhưng sau một phiên họp Hội đồng gia tộc thu hẹp không có bà Nhu, ông Cẩn, chỉ có ba người là ông Diệm, ông Nhu và Giám mục Thục, tổng Thống quyết định dùng biện pháp cứng rắn như đã ban hành ngày ngày 21 tháng 8 năm 1963.”
  16. ^ Theo hồi ký Việt Nam máu lửa, quê hương tôi của Hoành Linh Đỗ Mậu thì tác giả được cấp dưới là Thiếu tá Nguyễn Thành Long, Chánh sở An ninh Quân đội Sài Gòn – Gia Định báo cáo là đích thân bà Nhu mặc quân phục Thủy Quân Lục Chiến, đi xe Mercedes đến trước cổng Chùa Xá Lợi để chỉ huy cuộc tấn công chùa này.
  17. ^ Theo lời thượng tọa Thích Trí Quang, khi chùa Xá Lợi bị tấn công, ông bị bắt cùng với một số tăng ni và bị đưa về đồn Rạch Cát. (Trước 1975, Rạch Cát thuộc quận Bình Chánh, nay thuộc quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.) Khi các tu sĩ Nam tông được thả ra, Thích Trí Quang thay áo một tu sĩ Nam tông, đến chùa Pháp Quang (chùa Nam tông) và thừa cơ hội trốn vào tòa đại sứ Hoa Kỳ lúc đó còn ở trên đường Hàm Nghi. (Theo Thích Trí Quang, “Từ Rạch Cát tới tòa đại sứ”..
  18. ^ Trần Văn Đôn, 1989, tr. 173.
  19. ^ Thích Đức Nhuận, 1963. Chương Cuộc vận động của Phật Giáo Việt Nam chống chính thể độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm: đại đức Quảng Hương, thế danh Nguyễn Ngọc Kỳ, sinh năm 1926 tại Phú Yên, xuất gia năm 1943, thụ đại giới năm 1949, và năm 1950 theo học tại viện Phật học Hải Đức (Nha Trang). Năm 1959, đại đức được giáo hội Trung phần cử làm giảng sư tại Đà Lạt vào năm 1961, tỉnh hội Phật giáo Ban Mê Thuột thỉnh đại đức giữ chức trụ trì kiêm giảng sư tại đây cho tới ngày đại đức vào Sài Gòn tự châm lửa thiêu thân tại chợ Bến Thành, để lại một huyết thư cáo giác tổng thống Ngô Đình Diệm kỳ thị tôn giáo.
  20. ^ Thích Đức Nhuận, 1963. Chương Cuộc vận động của Phật Giáo Việt Nam chống chính thể độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm: đại đức THÍCH THIỆN MỸ, thế danh Hoàng Miều, sinh năm 1940, tại Bình Định, xuất gia từ thuở nhỏ, thụ Sa di năm 1956 và thụ đại giới Tỳ khưu năm 1960. Đại đức vào Sài Gòn khoảng giữa năm 1963 và cư trú tại chùa Vạn Thọ. Đại đức định tự thiêu tại chùa Ấn Quang để phản đối nhà Ngô “Kỳ thị tôn giáo”, nhưng cảnh sát mật vụ ngày đêm canh gác cẩn mật, nên phải dời đến ngày ngày 27 tháng 10 năm 1963 mới thực hiện được ý nguyện tự thiêu tại trước nhà thờ Đức Bà.
  21. ^ Hồ sơ mới giải mật: CIA và nhà họ Ngô (kỳ 3), Báo Công An Nhân Dân, Chuyên đề An Ninh Thế giới và Văn nghệ Công An
  22. ^ Richard Reeves, 1993,
  23. ^ Nguyễn Trân, 1992, tr. 478.
  24. ^ a ă â Chính Đạo, 1997, tr 256, 257
  25. ^ Trần Văn Đôn, 1989, tr. 183, 184
  26. ^ Hoành Linh Đỗ Mậu, 1993. Chương TỪ ĐỒNG MINH VỚI MỸ ĐẾN THỎA HIỆP VỚI CỘNG
  27. ^ Vĩnh Phúc, 1998, tr 337
  28. ^ a ă Henry Kissingger, Ending the Vietnam War, Simon & Schuster, 2003, trang 35, trích: BẢN DỊCH ĐIỆN VĂN SỐ 243 NGÀY ngày 24 tháng 8 năm 1963 “Bộ Ngoại Giao gởi Tòa Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn để thi hành ngay lập tức. Tối Mật. Không được phép phổ biến. Chỉ đích thân Đại Sứ Lodge mới được phép đọc mà thôi. Đối với CINPAC/POLAD thì chỉ Đô Đốc Felt được phép đọc mà thôi. Theo CAS Sài Gòn 0265 báo cáo về quan điểm của Tướng Đôn; Saigon 320, Saigon 316, Saigon 329. [Các con số là những ký hiệu mật mã.] Bây giờ thì rõ là hoặc quân đội đề nghị lệnh thiết quân luật hoặc ông Nhu đã lừa họ. Ông Nhu đã lợi dụng tình trạng đó để tấn công chùa chiền bằng cảnh sát và Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Tung trung thành với ông ta, làm cho nhân dân Việt Nam và thế giới ngỡ lầm rằng quân đội làm. Hơn nữa, cũng thật quá rõ là ông Nhu đã âm mưu sắp đặt ông ta vào vị trí chỉ huy. Chính phủ Hoa Kỳ không thể dung dưỡng tình trạng mà quyền hành lại nằm trong tay ông Nhu. Ông Diệm phải loại bỏ ông Nhu và các thuộc hạ của ông để thay vào đó bằng quân đội tinh nhuệ và các chính trị gia có tư cách. Nếu ông [tức Đại Sứ Lodge] cố gắng hết sức, nhưng ông Diệm vẫn ngoan cố và từ chối thì chúng ta phải đối mặt với một điều có thể xảy ra, là ngay cả bản thân ông Diệm cũng không thể được bảo toàn (Diem himself cannot be preserved). Ký tên: Hilsman, Forrestal, Ball, W.Everell Hariman “.
  29. ^ a ă Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 3, chương 40, Chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, Nguyễn Lang, Nguồn: www.quangduc.com
  30. ^ Foreign Relations of the United States, 1961–1963, Volume III, Vietnam, January–August 1963, Document 274, Telegram From the Embassy in Vietnam to the Department of State, Saigon, ngày 24 tháng 8 năm 1963, 6 p.m
  31. ^ B. Diễm and D. Chanoff, In the Jaws of History, page 100, Indiana University Press (ngày 22 tháng 6 năm 1999)
  32. ^ B. Diễm and D. Chanoff, In the Jaws of History, page 101, Indiana University Press (ngày 22 tháng 6 năm 1999)
  33. ^ Sự thật về đảo chính năm 1963, BÙI CƯỜNG, Nguyệt san Pháp Luật TP.HCM, trích “Lúc 4 giờ 20 phút chiều ngày ngày 29 tháng 10 năm 1963 tại Nhà Trắng, Tổng thống Kennedy triệu tập một cuộc họp đặc biệt gồm 15 vị cố vấn ngoại giao cao cấp và chuyên gia an ninh quốc gia. Số phận của Ngô Đình Diệm được định đoạt tại cuộc họp này. Biên bản tài liệu ghi âm cho thấy ý kiến đối với cuộc đảo chính sẽ tiến hành của các đại biểu dự cuộc họp là bất nhất. Nhưng thật lạ lùng là trong cuộc họp chẳng ai yêu cầu bỏ phiếu biểu quyết và cũng chẳng ai thảo luận một cách hệ thống về hậu quả do cuộc đảo chính có thể mang lại.
    Ngay cả Tổng thống Kennedy cũng không chủ động nghe ý kiến của người phản đối, chỉ buông xuôi bằng câu “Thôi cứ để Lodge và các cộng sự của ông ta tùy cơ ứng biến, tới khi đó mọi việc sẽ rõ!”.”
  34. ^ Memorandum of Conference with the President, ngày 29 tháng 10 năm 1963, 4:20 PM, Source: JFKL: JFKP: National Security File, Meetings & Memoranda series, box 317, folder: Meetings on Vietnam, 10/29/63
  35. ^ a ă â Vietnam: The Ten Thousand Day War, Episode 5: Assassination, Michael Maclear, CBC Television, 1980
  36. ^ B. Diễm and D. Chanoff, In the Jaws of History, page 102,, Indiana University Press (ngày 22 tháng 6 năm 1999)
  37. ^ The Assassination of Ngo Dinh Diem, Peter Kross, The HistoryNet.com, October 2004, trích: “On October 3, however, Conein made contact with General Minh, who told him that a new coup was in the offing and asked for American support if it succeeded. In their discussion Minh revealed that the plan included the assassinations of both Diem and Nhu.
  38. ^ a ă The Assassination of Ngo Dinh Diem, Peter Kross, The HistoryNet.com, October 2004, trích: “In Saigon, Conein met secretly with General Don, one of the coup plotters, telling him that the United States was opposed to any assassinations. The general responded, All right, you don’t like it, we won’t talk about it anymore.
  39. ^ a ă â Nguyễn Hữu Duệ, 2003. Chương TƯỚNG NGUYỄN VĂN QUAN VÀ BIẾN CỐ ngày 1 tháng 11 năm 1963
  40. ^ Lucien Emile Conein (1919-3/6/61998) sinh năm 1919 tại Paris, 5 tuổi sang Hoa Kỳ sống tại Kansas City Tiểu bang Kansas, nhưng vẫn giữ quốc tịch Pháp. Từ năm 1943 là điệp viên của OSS (tiền thân của CIA) với cấp bậc trung úy, hoạt động chống Đức Quốc Xã trong Đệ nhị Thế chiến. Từ năm 1954 đến 1956 ông đến Việt Nam hoạt động trong toán Đặc nhiệm dưới quyền của Đại tá Edward Lansdale. Năm 1962, Conein được CIA đưa trở lại Sài Gòn trên danh nghĩa làm cố Vấn cho Bộ Nội vụ, nhưng thực tế Lucien Conein là có nhiệm vụ móc nối với các tướng lĩnh Việt Nam mà ông đã có dịp quen biết khi phục vụ dưới quyền của Đại tá Lansdale, để chuẩn bị tổ chức đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm.
  41. ^ Trần Văn Đôn, 1989, tr 211
  42. ^ “Ngo Dinh Diem biography”. Spartacus.schoolnet.co.uk. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2012.
  43. ^ Hoành Linh Đỗ Mậu, 1993. Khi được đề nghị tham gia đảo chính, ông Viên nói: “Tôi là một quân nhân kỷ luật, tôi không làm chính trị, tôi chỉ biết tuân lệnh Tổng thống Diệm”.
  44. ^ Theo cuốn Làm thế nào để giết một tổng thống thì: đại tá Huỳnh Hữu Hiển cho biết ông luôn trung thành với chế độ Ngô Đình Diệm vì theo ông, Tổng Thống Ngô Đình Diệm do dân cử và chính phủ Diệm hợp pháp hợp hiến, ông chống lại việc lật đổ chính phủ.
  45. ^ Theo Nguyễn Hữu Duệ (2003) thì Tư lệnh phó kiêm Tham mưu trưởng Lữ đoàn Liên binh Phòng vệ Phủ Tổng thống thì không hề có căn hầm này.
  46. ^ Theo Hoành Linh Đỗ Mậu (1993) thì tướng Đính đã từ chối rằng: “Tôi đã hết lòng phục vụ cho Cụ, đã cứu Cụ nhiều lần, mà Cụ lại phản bội quốc gia, phản bội xương máu quân đội, bây giờ thì hết rồi”.
  47. ^ a ă â b Hoành Linh Đỗ Mậu, 1993. Chương Cuộc cách mạng ngày 1 tháng 11 năm 1963
  48. ^ Theo Nguyễn Hữu Duệ (2003), Tư lệnh phó kiêm Tham mưu trưởng Lữ đoàn Liên binh Phòng vệ Phủ Tổng thống, thì tác giả xin tổng thống cho bỏ thành Cộng Hòa, dồn lực lượng chính là thiết giáp và 3 đại đội của lữ đoàn, kéo lên tấn công thẳng vào tổng tham mưu nhưng tổng thống Diệm từ chối vì: “tổng thống đang liên lạc với các tướng lãnh để cố tránh đổ máu”
  49. ^ Stanley Karnow, 1981
  50. ^ Lý Quý Chung, Hồi ký không tên, Nxb Trẻ, 2005
  51. ^ a ă Stephen Kinzez, 2006
  52. ^ Sau cuộc đảo chính Mã Tuyên bị bắt đày ra Côn Đảo, gia sản bị tịch biên
  53. ^ Lê Tử Hùng, 1970, tr 267.
  54. ^ a ă Ông Diệm và ông Nhu đã bi giết như thế nào ?
  55. ^ a ă Cao Thế Dung và Lương Khải Minh, 1970. Chương Định mệnh đã an bài>
  56. ^ Trần Văn Đôn, 1989, tr 227,228
  57. ^ Nguyễn Cao Kỳ và Marvin J. Wolf, 2002, tr 97
  58. ^ a ă Sự thật về đảo chính năm 1963, Bùi Cường, Nguyệt san Pháp Luật TP.HCM, 10/01/2010
  59. ^ CỐ TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM VỚI NHỮNG BÀI HỌC LỊCH SỬ
  60. ^ Richard M. Nixon, 1980, Chương V
  61. ^ Nguyễn Hiến Lê, Tôi Tập Viết Tiếng Việt, 1988, tr. 21
  62. ^ a ă Cao Thế Dung và Lương Khải Minh,1970. Chương SAU 7 NĂM PHONG TRẦN
  63. ^ Lời tuyên bố của Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson được ghi lại trong một cuốn băng dài 30 tiếng đồng hồ do thư viện Johson Library ở Austin, Texas, công bố ngày 28.2.2003
  64. ^ Cao Văn Luận, 1983, tr 6
  65. ^ Trích Thư Vào Nam, Lê Duẩn, trang 50.
  66. ^ Viết tiếp về tướng Trần Thiện Khiêm của chế độ Sài Gòn cũ: Lừa thầy, phản bạn
  67. ^ Vietnam War: Day by Day, John S. Bowman, Bdd Promotional Book Co (September 1989), ISBN 0792450876
  68. ^ Nhung được phong Thiếu tá ngay sau khi đảo chính thành công.
  69. ^ Hai tác giả Hoàng Ngọc Thành và Thân Thị Nhân Ðức trong cuốn Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm (San José CA: Quang Vinh, Kim Loan & Quang Hieu, 1994), tr. 532 cũng kết luận như vậy
  70. ^ Đỗ Thọ, Nhật ký, Nxb Đồng Nai, SG. 1970, tr.331
  71. ^ Trần Văn Đôn, 1989, tr 228
  72. ^ Tôn Thất Đính, 1998, tr 454,455
  73. ^ Nguyễn Hữu Duệ, Chương CUỘC ĐẢO CHÁNH ngày 1 tháng 11 năm 1963
  74. ^ Theo Cao Thế Dung và Lương Khải Minh, chương “Từ chế độ Ngô Đình Diệm đến cái chết của Ngô Đình Cẩn” thì tướng Khánh vì quá nôn lên chức trung tướng nên cho người mua cặp sao ngoài phố đem đến tư thất thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ cho ông Thơ gắn lon, trong lúc ông vẫn còn đang mặc áo pyjama.

Tài liệu tham khảo

  • Hoành Linh Đỗ Mậu (1993). Hồi ký chính trị “Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi”. California: Nxb Văn Nghệ.
  • Cao Thế Dung; Lương Khải Minh (1970). Bút ký lịch sử “Làm thế nào để giết một tổng thống?”. Sài Gòn: Nxb Hòa Bình.
  • Đoàn Thêm (Xuất bản năm 1966, Xuân Thu tái bản không đề năm). Hai Mươi Năm 1945-1964 Việc Từng Ngày. California: Nxb Xuân Thu. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  • Cao Văn Luận (tái bản 1983). Hồi ký Bên giòng lịch sử, 1940-1965. Nxb Sacramento: TANTU Research. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  • Thích Đức Nhuận (1998). Đạo Phật và dòng sử Việt. Hoa Kỳ: Phật Học Viện Quốc Tế California.
  • Trần Văn Đôn (1989). Việt Nam nhân chứng. California: Nxb Xuân Thu.
  • Richard Reeves (1993). President Kennedy. Profile of Power. New York: Simon & Schuster.
  • Nguyễn Trân (1992). Công và tội, những sự thật lịch sử. California: Nxb Xuân Thu.
  • ĐIỆN VĂN TỐI MẬT SỐ 243 NGÀY ngày 24 tháng 8 năm 1963 của Bộ Ngoại Giao gởi Tòa Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn.
  • Stephen Kinzer (2006). Overthrow: America’s Century of Regime Change from Hawaii to Iraq”. Nxb Times Books.
  • Nguyễn Hữu Duệ (2003). Hồi ký “Nhớ lại những ngày ở cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm”. San Diego, California.
  • Lê Tử Hùng (1970). Nhật ký Đỗ Thọ. Nnb. Hòa Bình.
  • Chính Đạo (1997). Tôn giáo & chính trị, Phật giáo, 1963-1967. Houston: Nxb. Văn Hóa.
  • Chính Đạo (2000). Việt Nam niên biểu 1939-1975. Houston: Nxb. Văn Hóa.
  • Tôn Thất Đính (1998). 20 năm binh nghiệp. Nxb. Tuần báo Chánh đạo.
  • Nguyễn Cao Kỳ và Marvin J. Wolf (2002). Buddha’s Child. New York: Nxb. St. Martin.
  • Hoàng Lạc và Hà Mai Việt (1990). Nam Việt Nam 1954-1975, Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới. Texas.
  • Hoàng Ngọc Thành & Thân Thị Nhân Đức (1994). Những Ngày Cuối Cùng của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. San Jose, CA, USA: Quang Vinh & Kim Loan & Quang Hiếu.
  • Vĩnh Phúc (1998). Những Huyền Thoại Và Sự Thật Về Chế Ðộ Ngô Ðình Diệm. Westminter, CA, USA: Nxb. Văn Nghệ.
  • Stanley Karnow (1998). Vietnam: A History. New York: Nxb. Viking.
  • John S. Bowman (1989). The Vietnam War, Day by Day. New York: Nxb. Mallard Press.
  • Richard M. Nixon (1980). The Real war. New York: Nxb. Wanner Books Press.
  • Nguyễn Lang (1974). Việt Nam Phật giáo Sử luận. Sài Gòn: Nxb. Lá Bối.

Liên kết ngoài

 

 


Nguyễn Du đi săn ở núi Hồng
Hoàng Kim
Nguyễn Du đi săn ở núi Hồng làm ‘Hồng Sơn Liệp Hộ’ (1797-1802)  sau khi ông bị Quận công Nguyễn Thận bắt giam ba tháng ở Nghệ An mùa đông năm Bính Thìn (1796) về tội danh định trốn vào Nam với chúa Nguyễn Ánh, sau được tha về sống ở Tiên Điền; Bài này viết về Nguyễn Du thời thế từ 1797 đến 1802 kiệt tác thơ chữ Hán Nguyễn Du soi tỏ thời thế, cuộc đời và tâm hồn Nguyễn Du 250 năm nhìn lại … Tâm sự Nguyễn Du làm Hồng Sơn Liệp Hộ thể hiện rõ nhất trong bài “đi săn”.

ĐI SĂN
Nguyễn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Kẻ đạt quan trường chí đỉnh mây,
Còn ta vui thú với hươu nai.
Cốt lòng thư thái không mong được,
Không hại điều nhân diệt các loài.
Xạ ngủ cỏ thơm hương ướt ẩm,
Núi xa, chó sủa tiếng ngoài tai.
Thú vui phù thế âu tùy thích,
Xe đón lộng che ấy những ai ?

xem tiếp…https://hoangkimlong.wordpress.com/2017/11/02/nguyen-du-di-san-o-nui-hong-2/

Giống khoai lang ở Việt Nam
Hỏi: Kính gửi Thầy Tiến sĩ Hoàng Kim, Em là Dương Ngọc Văn Long, 26 tuổi, đang làm nhân viên tại một công ty Nhật, chuyên về xuất khẩu hàng Việt Nam sang thị trường Nhật. Vì công ty đang tiến hành dự án xuất khẩu các giống khoai lang Nhật đỏ (HL518 ) sang thị trường Nhật nên cần một số thông tin thêm để giải thích cho khách hàng bên Nhật mà em tìm hoài trên mạng lại không có thông tin. Em mong Thầy giúp ý kiến và lời khuyên về những vấn đề sau : 1. Hiện nay, giống khoai lang Nhật đỏ HL518 đang được trồng đại trà ở Đà Lạt, Đak Nông, Miền Tây, Miền Trung & Phía Bắc. Vậy năng suất, sản lượng, hàm lượng các chất trong củ khoai lang có sự sai khác giữa các vùng miền hay không ( % chất khô, tinh bột, vitamin,… ), vùng miền nào đang là dẫn đầu về chất lượng & năng suất ? 2. Thầy có thể hỗ trợ em thêm về thông tin Thầy, Cô nào đang nghiên cứu về đề tài này hoặc các chương trình đang nghiên cứu về đề tài này của các Viện, Trường, Sở, Bộ Nông Nghiệp & PTNT … Em xin sự hỗ trợ từ Thầy vì hiện tại người nông dân của mình thu nhập rất bấp bênh về cây khoai lang, nếu tìm được một thị trường tiêu thụ lớn, ổn định thì thu nhập của người trồng khoai lang và nguồn ra của sản phẩm cũng sẽ dễ dàng hơn. Các thương hiệu cây trồng của Việt Nam sẽ mở rộng ra thị trường Quốc tế. Kính mong sự hỗ trợ từ Thầy. Em cám ơn Thầy.

2017-11-02_Giong khoai lang o Viet NamTS. Hoàng Kim trả lời: Ba bài viết “Giống khoai lang ở Việt Nam” “Khoai lang Hoàng Long trên Yên Tử” “Khoai lang Việt Nam từ giống tốt đến thương hiệu” cung cấp những góc nhìn toàn cảnh liên quan sự nghiên cứu phát triển giống khoai lang ở Việt Nam. https://cnm365.wordpress.com/…/…/giong-khoai-lang-o-viet-nam

Video nhạc tuyển
Tháng Chào mừng Ngày Nhà Giáo Việt Nam

Trường Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh. Toàn cảnh các tòa nhà như : Phượng Vỹ, Rạng Động, Thiên Lý, Cát Tường, Hướng Dương, Tường Vy, Cẩm Tú, Khoa Ngoại Ngữ Sư Phạm, Khoa Cơ Khí, Khoa Nông Học, Kí Túc Xá, Chợ Đêm sinh viên, Nhà Chiếc Lá A1, A2, Công Viên Nguyễn Thái Bình,…..

Nong Lam University
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

Chào ngày mới 2 tháng 11



CNM365. Chào ngày mới 2 tháng 11. Ngày này năm xưa. Năm 1802, ngày mất Vũ Văn Dũng, danh tướng triều Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam bị xử tử. Năm  1963, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm và người em trai, cố vấn Ngô Đình Nhu bị sát hại trong cuộc đảo chính.

2 tháng 11

Bách khoa toàn thư mở Wikipediagày 2 tháng 11 là ngày thứ 306 (307 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 59 ngày trong năm.

Trong Hội Thánh Công Giáo ROMA, ngày 02/11 hằng năm còn là ngày Lễ Cầu Cho Những Tín Hữu đã qua đời, các ngày trong tháng 11, Hội Thánh Công Giáo Roma cũng dành riêng để tưởng nhớ những linh hồn đã qua đời và Cầu nguyện cho họ.

Tại Việt Nam, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và Giáo Hội Công Giáo tại đây lấy ngày 24/11 là ngày mừng kính Các Thánh Tử Đạo Việt Nam

« Tháng 11 năm 2015 »
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30

Mục lục

Sự kiện

Sinh

Mất

Những ngày lễ và kỷ niệm

Tháng 1 | Tháng 2 | Tháng 3 | Tháng 4 | Tháng 5 | Tháng 6 | Tháng 7 | Tháng 8 | Tháng 9 | Tháng 10 | Tháng 11 | Tháng 12

Tham khảo