Chào ngày mới 18 tháng 1


OLYMPUS DIGITAL CAMERA

CNM365 Chào ngày mới  18 tháng 1 Nhớ lại đường xưa Hoàng Kim. Ngày này năm xưa, Ngày 18 tháng 1 năm 1535 ,  Lima, thủ đô của Peru ngày nay, nguyên là thành phố Ciudad de los Reyes do Francisco Pizarro, nhà chinh phục người Tây Ban Nha thành lập để làm thủ phủ của mình.  Ngày 18 tháng 1 năm 1910, Đại Nam nhất thống chí là bộ sách dư địa chí (địa lý – lịch sử) Việt Nam, viết bằng chữ Hán do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn thời vua Tự Đức, được Duy Tân Đế của triều Nguyễn cho phép khắc in. Đây có thể coi là  bộ sách lớn nhất và quan trọng nhất về địa chí Việt Nam dưới thời phong kiến.  Ngày 18 tháng 1 năm 1950, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là quốc gia đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Bài chọn lọc: Nguyễn Du là bậc anh hùng; Vận nước đọc lại và suy ngẫmNguyễn Duy từ cát trắng đến bụi; xem tiếp https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-18-thang-1


NGUYỄN DU LÀ BẬC ANH HÙNG
Hoàng Kim

Nguyễn Du 250 năm nhìn lại; Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa; Nguyễn Du hiền tài lỗi lạc. Đó là loạt bài viết về nhân cách và trí tuệ Nguyễn Du. Từ xưa chính sử và công luận đã nhìn nhận Nguyễn Du là đại thi hào danh nhân văn hóa thế giới. Đến nay sử liệu của chính sử và dã sử được hệ thống hóa theo niên biểu Nguyễn Du (1766 – 1820) đã soi thấu nhiều góc khuất, làm bừng sáng chân dung kẻ sĩ, vàng lầm trong cát, vượt lên vinh nhục bản thân và dòng họ, để lại ngọc cho đời. Di sản của Nguyễn Du là thực tiễn và trước tác, với trí tuệ nhân văn, tầm nhìn mưu lược, “gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo“. Sự thật lịch sử là:  “Nguyễn Du 15 năm lưu lạc” đã hé lộ; “Nguyễn Du Hồ Xuân Hương” mối tình thủy chung đầy đặn, hình tượng Từ Hải và Kiều; So với võ công của Nguyễn Huệ, nhân văn của Nguyễn Du qua thơ “Kỳ Lân mộ” tại “Bắc Hành tạp lục” là kiệt tác văn chương, thấu tình đạt lý, sức mạnh như một đạo quân, đã làm thay đổi chính sách của  vua Thanh và danh tướng Phúc Khang An tổng đốc Lưỡng Quảng, thay vì báo thù rửa hận cho Tôn Sĩ Nghị, đã giữ hòa hiếu lâu dài với Việt Nam. Nguyễn Du là bậc anh hùng quốc sĩ, kỳ tài hiếm có của dân tộc Việt.Nguyễn Du là bậc anh hùng. Và việc Nguyễn Du chống lại Nguyễn Huệ nên đã bị giam lõng ở Nghệ An, có phải lý do đã hé lộ trong bài thơ này? Nguyễn Du đã gác tình nhà không mưu tự lập để đặt chữ hiếu với dân với nước lên trên hết. Nguyễn Du đã toàn tâm toàn ý giúp Nguyễn Ánh trong chuyến đi Chánh sứ lần ấy, với Bắc Hành tạp lục là một sử luận, áng văn ngoại giao xuất sắc nhất từ xưa đến nay, đủ làm cho vua Càn Long nể phục, tự tay viết bức đại tự mến tặng mà không dám dòm ngó đất phương Nam nữa. Nguyễn Du là quốc sĩ, đặt Nhân dân Tổ quốc trên hết. Văn chương Nguyễn Du kiệt tác là vậy.

KỲ LÂN MỘ

Nguyễn Du

Phương Chi Yên Đệ người thế nào?
Cướp ngôi của cháu, đồ bất nhân.
Mỗi khi nổi giận giết mười họ,
Cổn to vạc lớn hại trung thần
Năm năm giết người hơn trăm vạn
Xương chất thành núi máu chảy tràn
Nếu bảo thánh nhân Kỳ Lân xuất
Buổi ấy sao không đi về Nam?

Nguyên văn chữ Hán

Hà huống Yên Đệ hà như nhân
Đoạt điệt tự lập phi nhân quân
Bạo nộ nhân sinh di thập tộc
Đại bỗng cự hoạch phanh trung thần
Ngũ niên sở sát bách dư vạn
Bạch cốt thành sơn địa huyết ân
Nhược đạo năng vị Thánh nhân xuất
Đương thế hà bất Nam du tường?


VẬN NƯỚC
Đọc lại và suy ngẫm
Hoàng Kim

Cứ đem lòng dân mà đo vận nước
, nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đặt vấn đề “Nếu tình hình tham nhũng và suy thoái không được loại trừ, Đảng này, chế độ này, đất nước này sẽ đi về đâu?”. Báo Tuổi trẻ đăng tin. “Khẩu chiến tổng kết vụ Thăng – Thanh”. Bài viết của luật sư Nguyễn Duy Bình (Văn phòng LS Duy Trinh-TP HCM) khá khách quan, có cái nhìn vừa tổng quát vừa sâu sắc với tư duy của một luật sư thực sự: vì luật pháp, vì nhân dân: Hằng Thanh nhận xét. Đọc lại và suy ngẫm Vận nước.

Mấy năm trước tôi viết chuyên mục “Đọc lại và suy ngẫm” có bức ảnh “Bình minh Đại Lãnh” trò chuyện vận nước thịnh suy các triều đại và người chép sử.  “Nỗi niềm tác phẩm đỉnh cao” là tham luận của nhà văn Hoàng Quốc Hải tại Đại hội 7 Hội Nhà văn Việt Nam năm 2005, in trong sách KẺ SĨ TRƯỚC THỜI CUỘC xuất bản năm 2014, được nhà văn Ngô Minh giới thiệu trên “Quà tặng xứ mưa“.  Nhà văn Hoàng Quốc Hải là tác giả của hai bộ tiểu thuyết lịch sử đồ sộ “Tám triều vua Lý“ và ““Bão táp triều Trần“ nổi tiếng với 6.442 trang sách, viết về nhà Lý từ khi khởi nghiệp đến khi kết thúc (1009– 1225) trải dài 216 năm, và nhà Trần từ khi ra đời cho đến khi kết thúc sứ mệnh lịch sử (1226-1400) trải dài 175 năm tồn tại trong tiến trình lịch sử Việt Nam.

Tôi đồng tình với nhà văn Hoàng Quốc Hải tác phẩm văn chương đỉnh cao đòi hỏi nhà văn phải có phải có tâm huyết và tài năng lớn, trí tuệ siêu việt, nhân cách cao thượng .tầm tư tưởng phải vượt thoát khỏi sự cám dỗ đời thường. Tôi thích Tự bạch của củ Nguyễn Hiến Lê học và viết “Xã hội bao giờ cũng có người tốt và kẻ xấu. Như Kinh Dịch nói, lúc thì âm (xấu) thắng, lúc thì dương (tốt) thắng; mà việc đời sau khi giải quyết xong việc này thì lại sinh ra việc khác liền; sau quẻ Ký tế (đã xong) tiếp ngay quẻ Vị tế (chưa xong). Mình cứ làm hết sức mình thôi, còn thì để lại cho các thế hệ sau.Hồi trẻ, quan niệm của tôi về hạnh phúc là được tự do, độc lập, làm một công việc hữu ích mà mình thích, gia đình êm ấm, con cái học được, phong lưu một chút chứ đừng giàu quá. Nhưng hồi năm mươi tuổi tôi thấy bấy nhiêu chưa đủ, cần thêm điều kiện này nữa: sống trong một xã hội lành mạnh, ổn định và tương đối thịnh vượng”

‘Bình minh Đại Lãnh’ là câu chuyện Ngọc phương Nam với Nam Tiến của người Việt. Tôi thường đọc lại và suy ngẫm những bài học lịch sử về lòng dân và vận nước để an nhiên thung dung giữa đời thường.


NGUYỄN DUY TỪ CÁT TRẮNG ĐẾN BỤI

Hoàng Kim

tôi theo thơ Nguyễn Duy từ “Cát trắng” đến “Bụi” nhưng lại thích Nguyễn Duy từ “Bụi” đến “Cát trắng”. Bụi dân sinh hơn nhưng cát trắng tinh khôi hơn và minh triết sâu lắng hơn. Nguyễn Duy viết về ‘Bụi’ ‘”đừng chê anh khoái bụi đời, bụi dân sinh ấy bụi người đấy em’.  ‘Nhìn từ xa … Tổ Quốc’ “Dù có sao vẫn Tổ Quốc trong lòng / mạch tâm linh trong sạch vô ngần /còn thơ còn dân/ ta là dân – vậy thì ta tồn tại”. Trước đó anh viết ‘bầu trời vuông’ “sục sôi bom lửa chiến trường tâm tư yên tĩnh vẫn vuông một vùng” và viết ‘ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa’ “ta đi trọn kiếp con người cũng không đi hết mấy lời mẹ ru” . Thế nhưng, tôi ám ảnh hơn hết vẫn là ba bài ‘ánh trăng’, ‘tre Việt Nam’ và ‘Bài hát người làm gạch’. “Trăng cứ tròn vành vạnh/ kể chi người vô tình/ ánh trăng im phăng phắc/ đủ cho ta giật mình”. “Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh”. “Tay nâng hòn đất lặng yên để nguyên là đất cất nên là nhà”. Sự bình thơ và giới thiệu về Nguyễn Duy thì bài của Hoàng Giang, Chu Văn Sơn và Lưu Văn Hạnh là hay và thú vị hơn cả.

ÁNH TRĂNG

Nguyễn Duy

Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với biển
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỷ

Trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ
ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa

Từ hồi về thành phố
quen ánh điện cửa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường

Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn-đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn

Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng

Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình


TP. Hồ Chí Minh, 1978

Nguồn: Nguyễn Duy, Ánh trăng, NXB Tác phẩm mới, 1984

CƠM BỤI CA

Nguyễn Duy

Xa nhau cực nhớ cực thèm
ai về Hà Nội gửi em đôi nhời
cô đầu thời các cụ chơi
ta đây cơm bụi bia hơi tà tà

Lò mò Cấm Chỉ Bắc qua
mà coi trai gái vặt quà như điên
tiết canh Hàng Bút Hàng Phèn
bún xuôi Tô Tịch phở lên Hàng Đồng
cháo lòng Chợ Đuổi Hàng Bông
Nhật Tân Âm Phủ mênh mông thịt cầy
bánh tôm hơ hớ Hồ Tây
cơm đầu ghế bát ngát ngay vỉa hè (*)

Cực kỳ gốc sấu bóng me
cực ngon cực nhẹ cực nhòe em ơi
đừng chê anh khoái bụi đời
bụi dân sinh ấy bụi người đấy em

Xin nghe anh nói cực nghiêm
linh hồn cát bụi ở miền trong veo
rủ nhau cơm bụi giá bèo
yêu nhau theo mốt nhà nghèo… vô tư!


(Nhà quê, một ngày giáp tết con Tuất, 1994)

(*) Nguyên văn in trên báo Người Hà Nội, số Xuân Giáp Tuất 1994. Khổ thơ thứ hai sau này in trong tập thơ Về đã bị cắt đi:

ta đây cơm bụi bia hơi lè phè…
(Cực kỳ gốc sấu bóng me…)

Nguồn: Nguyễn Duy, Về, NXB Hội nhà văn, 1994

NHÌN TỪ XA … TỔ QUỐC

Nguyễn Duy

Ðối diện ngọn đèn
trang giấy trắng như xeo bằng ánh sáng

Đêm bắc bán cầu vần vụ trắng
nơm nớp ai rình sau lưng ta

Nhủ mình bình tâm nhìn về quê nhà
xa vắng
núi và sông
và vết rạn địa tầng

Nhắm mắt lại mà nhìn
thăm thẳm
yêu và đau
quằn quại bi hùng

Dù ở đâu vẫn Tổ Quốc trong lòng
cột biên giới đóng từ thương đến nhớ

*

Ngọn đèn sáng trắng nóng mắt quá
ai cứ sau mình lẩn quất như ma

Ai?
im lặng

Ai?
cái bóng!

A…
xin chào người anh hùng bất lực dài ngoẵng
bóng máu bầm đen sõng soài nền nhà

Thôi thì ta quay lại
chuyện trò cùng cái bóng máu me ta

*

Có một thời ta mê hát đồng ca
chân thành và say đắm
ta là ta mà ta vẫn mê ta

Vâng – đã có một thời hùng vĩ lắm
hùng vĩ đau thương hùng vĩ máu xương
mắt người chết trừng trừng không chịu nhắm

Vâng – một thời không thể nào phủ nhận
tất cả trôi xuôi – cấm lội ngược dòng

Thần tượng giả xèo xèo phi hành mỡ
ợ lên nhồn nhột cả tim gan

*

Ta đã xuyên suốt cuộc chiến tranh
nỗi day dứt khôn nguôi vón sạn gót chân
nhói dài mỗi bước

Thời hậu chiến ta vẫn người trong cuộc
xứ sở phì nhiêu sao thật lắm ăn mày?

Ai?
không ai

Vết bầm đen đấm ngực

*

Xứ sở nhân tình
sao thật lắm thương binh đi kiếm ăn đủ kiểu
nạng gỗ khua rỗ mặt đường làng

Mẹ liệt sĩ gọi con đội mồ lên đi kiện
ma cụt đầu phục kích nhà quan

Ai?
không ai

Vết bầm đen quều quào giơ tay

*

Xứ sở từ bi sao thật lắm thứ ma
ma quái – ma cô – ma tà – ma mãnh…
quỉ nhập tràng xiêu vẹo những hình hài

Đêm huyền hoặc
dựng tóc gáy thấy lòng toang hoác
mắt ai xanh lè lạnh toát lửa ma trơi

Ai?
không ai

Vết bầm đen ngửa mặt lên trời

*

Xứ sở linh thiêng
sao thật lắm đình chùa làm kho hợp tác
đánh quả tù mù trấn lột cả thần linh

Giấy rách mất lề
tượng Phật khóc Ðức Tin lưu lạc
Thiện – Ác nhập nhằng
Công Lý nổi lênh phênh

Ai?
không ai

Vết bầm đen tọa thiền

*

Xứ sở thông minh
sao thật lắm trẻ con thất học
lắm ngôi trường xơ xác đến tang thương

Tuổi thơ oằn vai mồ hôi nước mắt
tuổi thơ còng lưng xuống chiếc bơm xe đạp
tuổi thơ bay như lá ngã tư đường

Bịt mắt bắt dê đâu cũng đụng thần đồng
mở mắt… bóng nhân tài thất thểu

Ai?
không ai

Vết bầm đen cúi đầu lặng thinh

*

Xứ sở thật thà
sao thật lắm thứ điếm
điếm biệt thự – điếm chợ – điếm vườn…

Điếm cấp thấp bán trôn nuôi miệng
điếm cấp cao bán miệng nuôi trôn

Vật giá tăng
vì hạ giá linh hồn

Ai?
không ai

Vết bầm đen vò tai

*

Xứ sở cần cù
sao thật lắm Lãn Ông
lắm mẹo lãn công

Giả vờ lĩnh lương
giả vờ làm việc

Tội lỗi dửng dưng
lạnh lùng gian ác vặt
Đạo Chích thành tôn giáo phổ thông

Ào ạt xuống đường các tập đoàn quân buôn
buôn hàng lậu – buôn quan – buôn thánh thần – buôn tuốt…
quyền lực bày ra đấu giá trước công đường

Ai?
không ai

Vết bầm đen nhún vai

*

Xứ sở bao dung
sao thật lắm thần dân lìa xứ
lắm cuộc chia ly toe toét cười

Mặc kệ cỏ hoang cánh đồng gái góa
chen nhau sang nước người làm thuê

Biển Thái Bình bồng bềnh thuyền định mệnh
nhắm mắt đưa chân không hẹn ngày về

Ai?
không ai

Vết bầm đen rứt tóc

*

Xứ sở kỷ cương
sao thật lắm thứ vua
vua mánh – vua lừa – vua chôm – vua chĩa
vua không ngai – vua choai choai – vua nhỏ…

Lãnh chúa sứ quân san sát vùng cát cứ
lúc nhúc cường hào đầu trâu mặt ngựa

Luật pháp như đùa – như có – như không có
một người đi chật cả con đường

Ai?
không ai

Vết bầm đen gập vuông thước thợ

*

?…
?…
?…

*

Ai?
Ai?
Ai?

không ai!

Tự vấn – mỏi
vết bầm đen còng còng dấu hỏi

*

Thôi thì ta trở về
còn trang giấy trắng tinh chưa băng hoại
còn chút gì le lói ở trong lòng

*

Đôi khi nổi máu lên đồng
hồn thoát xác
rũ ruột gan ra đếm

Chích một giọt máu thường xét nghiệm
tí trí thức – tí thợ cày – tí điếm
tí con buôn – tí cán bộ – tí thằng hề
phật và ma… mỗi thứ tí ti…

Khốn nạn thân nhau
nặng kiếp phân thân mặt nạ

Thì lột mặt nạ đi – lần lữa mãi mà chi
dù dối nữa cũng không lừa được nữa
khôn và ngu đều có tính mức độ

*

Bụng dạ cồn cào bất ổn làm sao
miếng quá độ nuốt vội vàng sống sít
mất vệ sinh bội thực tự hào

Sự thật hôn mê – ngộ độc ca ngợi
bệnh và tật bao nhiêu năm ủ lại
biết thế nhưng mà biết làm thế nào

Chả lẽ bây giờ bốc thang chửi bới
thấy chửi bới nhe giàn nanh cơ hội

Chả lẽ bốc thang cỏ khô nhai lại
lạy ông-cơ-chế lạy bà-tư-duy…
xin đừng hót những lời chim chóc mãi

Đừng lớn lời khi dân lành ốm đói
vẫn còng làm cho thẳng lưng ăn

Đổi mới thật không hay giả vờ đổi mới?
máu nhiễm trùng ta có thể thay chăng?

*

Thật đáng sợ ai không có ai thương
càng đáng sợ ai không còn ai ghét

Ngày càng hiếm hoi câu thơ tuẫn tiết
ta là gì?
ta cần thiết cho ai?

*

Có thể ta không tin ai đó
có thể không ai tin ta nữa
dù có sao vẫn tin ở con người

Dù có sao
đừng khoanh tay
khủng khiếp thay ngoảnh mặt bó gối

Cái tốt nhiều hơn sao cái xấu mạnh hơn?
những người tốt đang cần liên hiệp lại

*

Dù có sao
vẫn Tổ Quốc trong lòng
mạch tâm linh trong sạch vô ngần
còn thơ còn dân
ta là dân – vậy thì ta tồn tại

*

Giọt từng giọt
nặng nhọc

Nặng nhọc thay

Dù có sao
đừng thở dài
còn da lông mọc còn chồi nảy cây


Mátxcơva, tháng 5.1988
TP.Hồ Chí Minh 19.8.1988

BẦU TRỜI VUÔNG

Nguyễn Duy

Thắng rồi trận đánh thọc sâu
lại về với mái tăng * – bầu trời vuông
sục sôi bom lửa chiến trường
tâm tư yên tĩnh vẫn vuông một vùng

Khoái nào bằng phút ngả lưng
mở trang thư dưới bóng rùng đung đưa
trời tròn còn có rơi mưa
trời vuông vuông suốt bốn mùa nắng xanh

Mặt trời là trái tim anh
Mặt trăng vành vạnh là tình của em
thức là ngày ngủ là đêm
nghiêng nghiêng hai mái hai miền quê xa

Ở đây là tấm lòng ta
sông dài núi rộng cũng là ở đây
vuông vuông chỉ một chút này
mà che trọn vẹn ngàn ngày quân đi

(Ái Tử, 1971)

(*) Mái tăng: tấm vải nhựa che mưa che nắng cho lính Trường Sơn

NGỒI BUỒN NHỚ MẸ TA XƯA

Nguyễn Duy

Bần thần hương huệ thơm đêm
khói nhang vẽ nẽo đường lên niết bàn
chân nhang lấm láp tro tàn
xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào

Mẹ ta không có yếm đào
nón mê thay nón quai thao đội đầu
rối ren tay bí tay bầu
váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa

Cái cò… sung chát… đào chua …
câu ca mẹ hát gió đưa về trời
ta đi trọn kiếp con người
cũng không đi hết mấy lời mẹ ru

Bao giờ cho đến mùa thu
trái bòng trái bưởi đánh đu giữa rằm
bao giờ cho đến tháng năm
mẹ ra trãi chiếu ta nằm đếm sao

Ngân hà chảy ngược lên cao
quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm
bờ ao đom đóm chập chờn
trong leo lẽo những vui buồn xa xôi

Mẹ ru cái lẽ ở đời
sửa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn
bà ru mẹ mẹ ru con
liệu mai sau các con còn nhớ chăng

Nhìn về quê mẹ xa xăm
lòng ta chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa
ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương (*)

1986

(*) Ca dao

TRE VIỆT NAM

Nguyễn Duy

Tre xanh
Xanh tự bao giờ?
Chuyện ngày xưa… đã có bờ tre xanh

Thân gầy guộc, lá mong manh
Mà sao nên lũy nên thành tre ơi?
Ở đâu tre cũng xanh tươi
Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu

Có gì đâu, có gì đâu
Mỡ màu ít chắt dồn lâu hoá nhiều
Rễ siêng không ngại đất nghèo
Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù
Vươn mình trong gió tre đu
Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành
Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh
Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm

Bão bùng thân bọc lấy thân
Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm
Thương nhau tre không ở riêng
Lũy thành từ đó mà nên hỡi người
Chẳng may thân gãy cành rơi
Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măng
Nòi tre đâu chịu mọc cong
Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường
Lưng trần phơi nắng phơi sương
Có manh áo cộc tre nhường cho con

Măng non là búp măng non
Đã mang dáng thẳng thân tròn của tre
Năm qua đi, tháng qua đi
Tre già măng mọc có gì lạ đâu

Mai sau,
Mai sau,
Mai sau…
Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh


1970-1972

Nguồn: Nguyễn Duy, Cát trắng, Nxb Quân đội nhân dân, 1973

BÀI HÁT NGƯỜI LÀM GẠCH

Nguyễn Duy

Tặng em Hạng – người làm gạch

Đất im lặng dưới chân ta
Mà nghe có tiếng phố nhà âm vang
Xôn xao mái ngói, nhà tầng
Lắng nghe có tiếng hát thầm… đất thôi

Hòn đất là hòn đất rời
Thành vuông gạch dẻo – tay người nhào nên
Hòn đất là hòn đất mềm
Qua nghìn độ lửa – chắc bền dài lâu
Hòn đất là hòn đất nâu
Ra lò – đất rực rỡ màu đỏ tươi

Nhanh tay nào bạn mình ơi
Gạch đi trăm ngả trăm nơi đang chờ
Bom rơi xuống phố xuống nhà
Phố nhà rơi xuống đất ta những ngày…
Bàn tay vẫy gọi bàn tay
Nhà cao lại dưới đất dày mọc lên

Tay nâng hòn đất lặng im
Để nguyên là đất, cất nên là nhà


Quảng Ngọc, 26-9-1972

Nguồn: Nguyễn Duy, Cát trắng, Nxb Quân đội nhân dân, 1973

BÀI VIẾT TRONG NGÀY

Hoàng Kim mình cũng thích VỀ LÀNG Nguyễn Duy như anh Hoàng Đại Nhân nhưng mình tâm đắc NHÌN TỪ XA … TỔ QUỐC hay hơn. Bài thơ VỀ LÀNG cũng thật đằm, mình chép chung với bài CUỐC ĐẤT ĐÊM của anh Hai mình là Hoàng Ngọc Dộ.

VỀ LÀNG
 
Nguyễn Duy
Làng ta ở tận làng ta
Mấy năm một bận con xa về làng
Gốc cây, hòn đá cũ càng,
Trâu bò đủng đỉnh như ngàn năm nay
Cha ta cầm cuốc trên tay,
Nhà ta xơ xác hơn ngày xa xưa
Lưng trần bạc nắng thâm mưa
Bụng nhăn lép kẹp như chưa có gì
Không răng! cha vẫn cười khì
Rượu tăm vẫn để dành khi con về
Ngọt ngào một chút men quê
Cay tê cả lưỡi, đắng tê cả lòng
Gian ngoài thông thống gian trong
Một đời làm lụng sao không có gì
Không răng! cha vẫn cười khì
Người còn là quí kể chi bạc vàng
Chiến tranh như trận cháy làng
Bà con ta trắng khăn tang trên đầu
Vẫn đồng cạn, vẫn đồng sâu
Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa
Đường làng cây cỏ lưa thưa
Thanh bình từ ấy sao chưa có gì
Không răng! cha lại cười khì
Đời là thế, kể làm chi cho buồn
Mẹ ta vo gạo thổi cơm
Ba ông táo sứt lửa rơm khói mù
Nhà bên xay lúa ù ù
Vẫn chày cối thậm thịch như thuở nào
Các em ta vác cuốc cào,
Rủ nhau bước thấp bước cao ra đồng
Mồ hôi đã chảy ròng ròng
Máu và nước mắt sao không có gì
Không răng! cha vẫn cười khì
Đời là thế, kể làm chi cho rầu
Cha con xa cách bấy lâu
Mấy năm mới uống với nhau một lần
Bụng ta thắt, mặt ta nhăn
Cha ta thì vẫn không răng cười cười
Ta đi mơ mộng trên đời
Để cha cuốc đất một đời chưa xong.
CUỐC ĐẤT ĐÊM
 
Hoàng Ngọc Dộ
Mười lăm trăng quả thật tròn
Anh hùng thời vận hãy còn gian nan
Đêm trăng nhát cuốc xới vàng
Trăng dòm ta hẹn trăng càng dòm thêm
Đất vàng vàng ánh trăng đêm
Đêm trăng ta với nàng quên nhọc nhằn


CHUYẾN TÀU ĐÊM

Hoàng Kim

Nước mắt ta rơi bởi điều rất thật
Muối mặn gừng cay xó tối đường xa
Sợi tóc bạc thương đêm dài đói ngủ
Người trực tàu nhường chỗ giúp cho ta.

Câu chuyện cũ suốt đời ta mãi nhớ
Bụi dân sinh ấy chính bụi người
Nơi cát bụi nhà nghèo vô tư quá
Chốn thần tiên là con mắt thứ ba.


Hai chuyến tàu đêm

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

 

Advertisements

Chào ngày mới 18 tháng 1


Lima

CNM365 Chào ngày mới  18 tháng 1 Ngày này năm xưa, Ngày 18 tháng 1 năm 1535 ,  Lima, thủ đô của Peru ngày nay, nguyên là thành phố Ciudad de los Reyes do Francisco Pizarro, nhà chinh phục người Tây Ban Nha thành lập để làm thủ phủ của mình.  Ngày 18 tháng 1 năm 1910, Đại Nam nhất thống chí là bộ sách dư địa chí (địa lý – lịch sử) Việt Nam, viết bằng chữ Hán do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn thời vua Tự Đức, được Duy Tân Đế của triều Nguyễn cho phép khắc in. Đây có thể coi là  bộ sách lớn nhất và quan trọng nhất về địa chí Việt Nam dưới thời phong kiến.  Ngày 18 tháng 1 năm 1950, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là quốc gia đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Bài chọn lọc: Nguyễn Du là bậc anh hùng; Vận nước đọc lại và suy ngẫm; xem tiếp https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-18-thang-1

VẬN NƯỚC
Đọc lại và suy ngẫm
Hoàng Kim
Việt Nam Đại hội 12 tin nổi bật.
Thông điệp gửi ĐH12: ‘Không thể không cải cách!’ (BBC. TS. Vũ Cao Phan. 17 tháng 1. 2016); Đại hội 12: Báo chí phương Tây ‘vào cuộc’ (BBC. 14 tháng 1, 2016); Cuộc tranh giành lãnh đạo kế vị ở Việt Nam (Diplomat, 14 tháng 1, 2016); VN đã hết thời chính sách ‘ba không’? (BBC. 16 tháng 1, 2016); Những điều cấm khi bầu Tổng Bí thư (BBC. 14 tháng 1, 2016); Thấy gì qua kết quả Hội nghị TƯ14? (BBC. 14 tháng 1, 2016); Đại hội 12 ‘không tác động đến kinh tế’ (BBC. 12 tháng 1,  2016); Chỉ trông đợi Đại hội Đảng bừng tỉnh‘ (BBC. 11 tháng 1, 2016); Việt Nam: ‘Chưa ai đi quan lộ Putin’ (BBC. 11 tháng 1, 2016); VN cần ‘tổ chức và lãnh đạo chính trị mới’ (BBC. 10 tháng 1, 2016) …  xem tiếp …

NguyenDu

NGUYỄN DU LÀ BẬC ANH HÙNG
Hoàng Kim
Nguyễn Du 250 năm nhìn lại; Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa; Nguyễn Du hiền tài lỗi lạc. Đó là loạt bài viết về nhân cách và trí tuệ Nguyễn Du. Từ xưa chính sử và công luận đã nhìn nhận Nguyễn Du là đại thi hào danh nhân văn hóa thế giới. Đến nay sử liệu của chính sử và dã sử được hệ thống hóa theo niên biểu Nguyễn Du (1766 – 1820) đã soi thấu nhiều góc khuất, làm bừng sáng chân dung kẻ sĩ, vàng lầm trong cát, vượt lên vinh nhục bản thân và dòng họ, để lại ngọc cho đời. Di sản của Nguyễn Du là thực tiễn và trước tác, với trí tuệ nhân văn, tầm nhìn mưu lược, “gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo“. Sự thật lịch sử là:  “Nguyễn Du 15 năm lưu lạc” đã hé lộ; “Nguyễn Du Hồ Xuân Hương” mối tình thủy chung đầy đặn, hình tượng Từ Hải và Kiều; So với võ công của Nguyễn Huệ, nhân văn của Nguyễn Du qua thơ “Kỳ Lân mộ” tại “Bắc Hành tạp lục” là kiệt tác văn chương, thấu tình đạt lý, sức mạnh như một đạo quân, đã làm thay đổi chính sách của  vua Thanh và danh tướng Phúc Khang An tổng đốc Lưỡng Quảng, thay vì báo thù rửa hận cho Tôn Sĩ Nghị, đã giữ hòa hiếu lâu dài với Việt Nam. Nguyễn Du là bậc anh hùng quốc sĩ, kỳ tài hiếm có của dân tộc Việt.Nguyễn Du là bậc anh hùng. Và việc Nguyễn Du chống lại Nguyễn Huệ nên đã bị giam lõng ở Nghệ An, có phải lý do đã hé lộ trong bài thơ này? Nguyễn Du đã gác tình nhà không mưu tự lập để đặt chữ hiếu với dân với nước lên trên hết. Nguyễn Du đã toàn tâm toàn ý giúp Nguyễn Ánh trong chuyến đi Chánh sứ lần ấy, với Bắc Hành tạp lục là một sử luận, áng văn ngoại giao xuất sắc nhất từ xưa đến nay, đủ làm cho vua Càn Long nể phục, tự tay viết bức đại tự mến tặng mà không dám dòm ngó đất phương Nam nữa. Nguyễn Du là quốc sĩ, đặt Nhân dân Tổ quốc trên hết. Văn chương Nguyễn Du kiệt tác là vậy.

KỲ LÂN MỘ

Nguyễn Du

Phương Chi Yên Đệ người thế nào?
Cướp ngôi của cháu, đồ bất nhân.
Mỗi khi nổi giận giết mười họ,
Cổn to vạc lớn hại trung thần
Năm năm giết người hơn trăm vạn
Xương chất thành núi máu chảy tràn
Nếu bảo thánh nhân Kỳ Lân xuất
Buổi ấy sao không đi về Nam?

Nguyên văn chữ Hán

Hà huống Yên Đệ hà như nhân
Đoạt điệt tự lập phi nhân quân
Bạo nộ nhân sinh di thập tộc
Đại bỗng cự hoạch phanh trung thần
Ngũ niên sở sát bách dư vạn
Bạch cốt thành sơn địa huyết ân
Nhược đạo năng vị Thánh nhân xuất
Đương thế hà bất Nam du tường?

Hoàng Kim


TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Chào ngày mới 18 tháng 1


Lima

CNM365 Chào ngày mới  18 tháng 1: Năm 1535 1535Lima, thủ đô của Peru ngày nay, là thành phố Ciudad de los Reyes do Francisco Pizarro, nhà chinh phục người Tây Ban Nha, thành lập để làm thủ phủ của mình.  Năm 1910Đại Nam nhất thống chí, bộ sách dư địa chí, được Duy Tân Đế của triều Nguyễn cho phép khắc in.  Năm 1950Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trở thành quốc gia đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

18 tháng 1

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày 18 tháng 1 là ngày thứ 18 trong lịch Gregory. Còn 347 ngày trong năm (348 ngày trong năm nhuận).

« Tháng 1 năm 2016 »
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31

Mục lục

Sự kiện

Sinh

Mất

Những ngày lễ và kỷ niệm

Tháng 1 | Tháng 2 | Tháng 3 | Tháng 4 | Tháng 5 | Tháng 6 | Tháng 7 | Tháng 8 | Tháng 9 | Tháng 10 | Tháng 11 | Tháng 12

Tham khảo

Lima

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Lima
Top: Lima skyline, Middle: Plaza Mayor de Lima, Bottom left: Cathedral of Lima, Bottom right: Palace of Justice.

Top: Lima skyline, Middle: Plaza Mayor de Lima, Bottom left: Cathedral of Lima, Bottom right: Palace of Justice.

Lá cờ Lima
Lá cờ
Con dấu chính thức của Lima
Con dấu
Huy hiệu của Lima
Huy hiệu
Biệt danh: City of the Kings
Khẩu hiệu: Hoc signum vere regum est
Lima Province and Lima within Peru

Lima Province and Lima within Peru

Tọa độ: 12°02.6′N 77°1.7′T
Quốc gia  Peru
Khu vực Lima Region
Tỉnh Lima Province
Settled January 18, 1535
Chính quyền
 – Thị trưởng Luis Castañeda Lossio
Diện tích
 – Thành phố 804,3 km² (310,5 mi²)
 – Mặt nước 75,7 km² (29,2 mi²)  5.8%
 – Đô thị 4.319,9 km² (1.667,9 mi²)
Độ cao 0 – 1.548 m (0 – 5.079 ft)
Dân số (2006)[1][2]
 – Thành phố 7.819.436
 – Mật độ 8.544/km² (22.128,9/mi²)
 – Đô thị 7.629.407
 – Vùng đô thị 9.241.961
Múi giờ PET (UTC-5)
Thành phố kết nghĩa Akhisar, Cleveland, Ohio, Pescara, San José, Costa Rica, Bordeaux, Bắc Kinh, Q214173[?], Tegucigalpa, São Paulo, Manila, Buenos Aires, Thành phố México, Madrid, Austin, Texas, Santo Domingo, Miami sửa dữ liệu
Website: www.munlima.gob.pe

Lima là thủ đô, thành phố lớn nhất của Peru, đồng thời là thủ phủ của tỉnh Lima. Đây là trung tâm văn hoá, công nghiệp, tài chính và giao thông của Peru, nằm tại vùng thung lũng bao quanh cửa sông Chillón, sông Rímacsông Lurín. Thành phố có diện tích 804,3 km² dân số chiếm 2/3 tổng số dân cả nước. Sự tập trung của cải và quyền lực ở Lima càng lớn hơn. Thành phố chiếm 2/3 GDP cũng như thu thuế, đầu tư tư nhân, tiền gửi ngân hàng, số lượng thầy thuốc và sinh viên của Peru. Dù có các nỗ lực phi tập trung hoá, Lima vẫn là nơi tập trung các cơ sở chính của các cơ quan chính phủ. Trung tâm lịch sử của Lima được UNESCO công nhận là di sản thế giới.

Địa lý

Khí hậu của thành phố ôn hoà, dù vị trí của thành phố ở vùng nhiệt đới, nhờ dòng khí lạnh của Dòng hải lưu Peru, Thái Bình Dương chảy theo hướng Bắc, dọc theo bờ biển từ Bắc Cực. Mưa ở Lima hiếm hoi do dòng hải lưu duyên hải lạnh và hiệu ứng mưa chặn mưa của Dãy Andes chặn dòng khí ấm chứa hơi ẩm từ phía Đông. Bờ biển thường bị phủ lớp màn sương mù nặng được gọi là garúa, đặc biệt dày đặc vào những tháng mùa đông, mát hơn từ tháng 4 đến tháng 10. Đặc trưng khí hậu của thành phố ừ tháng 11 đến tháng 3 là ban ngày ấm nắng và buổi tối mát. Thành phố nằm trong khu vực địa chấn, các trận động đất lớn đã xảy ra các năm 1687, 1746.

Dân số

Năm 2003, Lima có dân số 7,9 triệu, sinh sống tại 33 quận. Thành phố tăng thêm hơn 2,5 triệu người kể từ năm 1981 khi dân số của thành phố là 4,1 triệu. Hơn 90% dân số của Lima là người mestizo, người có dòng máu châu Âu pha trộn với người thổ dân châu Mỹ và cộng đồng thiểu số da trắng, da đen, châu Á, trong đó người gốc Nhật Bản là đông nhất. Từ thập niên 1940, Lima đã trải qua những đợt tăng trưởng nhanh về dân số, khoảng 7% mỗi năm kể từ thập niên 1960, 5% thập niên 1970 và 4% thập niên 1980. Sự tăng dân số nhanh do dòng dân di cư từ các vùng nông thôn và đô thị nhỏ của Andes đã khiến cho tình hình vùng đô thị này trở nên ngày càng nghiêm trọng, thành phố không thể cung cấp đủ nước, nhà ở và các dịch vụ công công cộng khác. Xung quanh thành phố đang hình thành những khu nhà lụp xụp, ổ chuột.

Lima được thành lập tháng giêng năm 1535 và được đặt tên là Ciudad de los Reyes, có nghĩa là Thành phố của các vua. Thành phố có vai trò quan trọng ở “tân thế giới” từ năm 1542, khi Charles V là người cai quản Lima. Sau khi Pizarro xâm lược Đế quốc Inca, Lima trở thành thủ đô của Phó vương Peru, một vùng hành chính bao gồm phần lớn các khu vực lãnh thổ ở Nam Mỹ. Trong suốt ba thế kỷ thuộc địa, phần lớn việc buôn bán của Tây Ban Nha với Nam Mỹ được thực hiện thông qua Callao. Lima đã bùng phát và trở thành một trung tâm chính trị, văn hoá, thương mại của Nam Mỹ thuộc Tây Ban Nha, và giàu lên nhờ các nguồn dự trữ vàngbạc của Andes.

Tầm quan trọng của Lima có phần giảm sút sau khi giai đoạn thuộc địa kết thúc. Trong những cuộc chiến giành độc lập của châu Mỹ Latin, đây là thành trì của lực lượng hoàng gia phản đối việc chia tách khỏi Tây Ban Nha. Tướng José de San Martín, một trong những lãnh đạo của phong trào độc lập đã chiếm lĩnh thành phố vào năm 1821 và năm năm sau đó, thành phố trở thành thủ đô của nước Peru độc lập. Lima vẫn giữ được vai trò ưu thế vượt trội của Peru và là một thủ đô lớn của Nam Mỹ trong thế kỷ 19. Từ năm 1881 đến 1883, thành phố bị quân Chile chiếm đóng trong cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương, buộc chính phủ Peru phải tháo chạy lên Cao nguyên Andes.

Lịch sử

Dân số tăng nhanh từ thập niên 1950 đã khiến cho Lima lớn gấp 10 lần so với thành phố lớn thứ hai của Peru. Các khu ổ chuột mọc xung quanh thành phố là nơi sinh sống của gần 1/3 dân số Lima.

Trung tâm lịch sử

Trung tâm lịch sử của Lima là bằng chứng cho sự phát triển kiến trúc đô thị thuộc địa Tây Ban Nha, có tầm quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa ở Peru nói riêng và Mỹ Latinh nói chung. Với rất nhiều các quảng trường, các nhà thờ, tu viện, cung điện và các tòa nhà thế kỷ 17, 18. Các công trình mang đậm lối kiến trúc kết hợp giữa Hispano và Baroque.

Tòa nhà nổi bật nhất ở Lima chính là San Francisco de Lima, một tu viện thời kỳ thuộc địa Tây Ban Nha. Cùng với Santa Catalina de Arequipa, đây là môt trong hai công trình kiến trúc được bảo tồn tốt nhất cho đến ngày nay.

Ngoài ra, trung tâm lịch sử Lima có rất nhiều các công trình lịch sử như:

  • Quảng trường San Martín
  • Tổ hợp nhà thờ San Francisco, La Soledad và El Milagro

Vị trí của Lima tại Peru

Các sự kiện liên quan

  • Trong thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, thành phố xảy ra các vụ đánh bom, ám sát và tấn công của nhóm khủng bố Sendero Luminoso (Con đường Ánh sáng).
  • Tháng 12 năm 1996, một nhóm cách mạng khác mang tên Phong trào cách mạng Tupac Amarú (MRTA), đã chiếm giữ khu nhà ở của đại sứ Nhật Bản khi đang diễn ra một buổi tiệc trong kỳ nghỉ, có 500 người bị bắt làm con tin. Trong cuộc bao vây kéo dài bốn tháng, những kẻ phiến loạn đã đưa yêu sách phải thả những thành viên của họ đang bị giam tù và phải cải thiện điều kiện trong nhà tù, họ đã thả một số con tin và giữ lại 72 người. Vụ việc kết thúc vào tháng 4 năm 1997, khi những người lính Peru đã giải cứu con tin và giết tất cả các thành viên của MRTA, khi đó có một con tin thiệt mạng.

Hình ảnh

Chú thích

  1. ^ Citypopulation.de Lima related information
  2. ^ www.emporis.com population charts
  3. ^ “World Weather Information Service – Lima”. World Meteorological Organization. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012.
  4. ^ “BBC Weather – Lima”. BBC. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012.
  5. ^ Capel Molina, José J. (1999). “Lima, un clima de desierto litoral”. Anales de Geografía de la Universidad Complutense (bằng Spanish) (Madrid: Universidad Complutense de Madrid) 19: 25–45. ISSN 0211-9803. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2013

Tài liệu tham khảo

Liên kết ngoài

Peru Di sản thế giới tại Peru Peru
Di sản văn hóa
Di chỉ khảo cổ Chan Chan | Machu Picchu | Thành phố Cuzco | Trung tâm lịch sử của Lima | Di chỉ khảo cổ Chavin de Huantar | Những hình vẽ trên cao nguyên Nazca và Pampas de Jumana | Trung tâm lịch sử của Arequipa | Thành phố thiêng Caral-Supe
Di sản tự nhiên
Vườn quốc gia Huascaran | Vườn quốc gia Manu
Di sản hỗn hợp
Vườn quốc gia Rio Abiseo