Chào ngày mới 25 tháng 5


CNM365 Chào ngày mới 25 tháng 5. Gạo Việt từ giống tốt đến thương hiệu.  Lúa Siêu Xanh Việt Nam kết nối CAAS IRRI; Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi; Thầy Ngoạn thơ tình hồ núi Cốc. Ngày 25 tháng 5 năm 1968 ngày mất của nhà thơ chiến sĩ  Ca Lê Hiến (1940-1968) bút danh Lê Anh Xuân. Ông hy sinh trong chiến đấu năm 1968, tác giả Dáng đứng Việt Nam “…Từ dáng đứng của anh giữa đường băng Tân Sơn Nhất Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân”. Ông được Nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Nhà nước và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vì những đóng góp của mình. Ngày 25 tháng 5 năm 1977 phát hành lần đầu bộ phim khoa học giả tưởngChiến tranh giữa các vì sao là một trong những bộ phim thành công nhất mọi thời đại do George Lucas viết kịch bản và đạo diễn. Ngày 25 tháng 5 năm 2001 , Erik Weihenmayer trở thành người mù đầu tiên leo tới đỉnh của Everest. Bài chọn lọc ngày 25 tháng 5: Gạo Việt từ giống tốt đến thương hiệu; Lúa Siêu Xanh Việt Nam kết nối CAAS IRRI; Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi; Thầy Ngoạn thơ tình hồ núi Cốc. Bạn tôi Đặng Kim Sơn xem tiếp tại đây hoặc ở… (1) (2) (3) (4)

GẠO VIỆT TỪ GIỐNG TỐT ĐẾN THƯƠNG HIỆU
Hoàng Kim

Cơm Niêu Vàng Gạo Đông A Gạo Việt từ giống tốt đến thương hiệu chúc mừng anh Trần Mạnh Báo Cơm ngon từ giống Gạo sạch từ tâm bài học quý của người lính trở về sau thống nhất Tổ Quốc

Bao nhiêu bạn cũ đã đi rồi
Nhớ để mà thương cố gắng thôi
Nhà khoa học xanh gương trung hiếu
Người thầy chiến sĩ đức hi sinh
Dưới đáy đại dương là ngọc quý
Trên đồng chữ nghĩa ấy tinh anh
Doanh nghiệp Thái Bình chăm việc thiện
Giống tốt bội thu vẹn nghĩa tình.

Hình ảnh và trang văn thắp lửa

Tôi theo chân ThaiBinhSeed đã lâu nhưng thầm lặng theo dõi mà không bình luận gì, vì vẫn lo lắng “thương trường là chiến trường” lợi nhuận, tâm đức, thất bại và thành công, đã có những tấm gương của những anh hùng tiên phong kém may mắn và chưa bền vững như tôi đã từng biết về Nông Trường Sông Hậu là một thí dụ. Tôi đã gửi gắm tâm sự này trong bài Dưới đáy đại dương là ngọc. Tôi thích sự dấn thân thầm lặng, không ưa sự ồn ào phong trào. Sự tôn vinh của dư luận tuy có nhiều điều hay nhất thời nhưng cũng tạo nên áp lực lớn cho người trong cuộc, mà biết đâu những người lặng lẽ hơn lại là những người bình an hơn.Với tôi, cuộc sống hội hè là sự già nua trước tuổi. Cho tới khi tôi tiếp xúc với những trang văn thắp lửa của anh Trần Mạnh Báo với niềm đam mê ruộng đồng, khát khao cống hiến cháy bỏng của anh thì  những giấc mơ lành tuổi thơ dường như được đánh thức,để biết hãy là chính mình, tự nguyện vô tư dấn thân làm điều chí thiện để không tự thẹn với lòng mình. Tôi đã trân trọng cảm phục và đồng cảm sâu sắc với anh Trận Mạnh Báo qua hình ảnh và trang văn thắp lửa của anh để tôi xúc động viết được những câu thơ trên. Gạo sạch từ tâm Gạo Niêu Vàng khoảng 6 tháng trước facebooker Vũ Quang Vinh đã viết: ” Lạnh buốt da! Sáng nay ngoài cánh đồng 11 độ C, bà con nông dân Thái Bình Seed vẫn đang cày lật ải!

Nhưng có lẽ bà con sẽ cảm thấy ấm áp hơn khi đọc những vần thơ này:


Những cánh đồng
Bát ngát một màu xanh
Màu của lúa
Của tình người với đất
Của nhà nông chân đất
Của áo vải sờn vai
Suốt bốn mùa
Xuân hạ thu đông
Bán mặt cho đất
Bán lưng cho trời
…..
(Trích)

Đây là món quà mộc mạc chân tình của facebooker Vũ Quang Vinh dành tặng riêng cho ThaiBinh Seed vào ngày hôm qua.

Vất vả mấy thì hạt mầm cũng mọc thành lúa, trải qua xay giã dần sàng, cũng thành hạt gạo trắng tựa bông. Giữa dòng đời cuối năm lạnh giá và hối hả, cần lắm một lời động viên ấm áp để ta tự nhủ: Rồi mình cũng sẽ thành công mà thôi!

Hãy tag những người thương yêu của bạn vào và tặng họ những lời ấm áp nhé!”

Gao Việt, thương hiệu gạo Việt, dường như đã lâu lắm, mới có một sản phầm thông tin ngắn và xứng tầm như thế.

Anh Trần Mạnh Báo chia sẻ bài viết Thăm một một gia đình Nông dân Mỹ với Nguyễn Thủy và 5 người khác ngày 23 tháng 3 năm 2018. Anh viết

“Sáng nay một cán bộ khuyến nông của Trạm số 260, thuộc trường đại học Missouri dẫn chúng tôi đi thăm một gia đình – một doanh nghiệp Nông nghiệp.  

Gia đình này đã 5 đời làm nông nghiệp. Hiện nay gia đình đã trở thành môt Công ty nông nghiệp. Công ty có 600 ha đất nhưng chỉ có 4 người làm. Cây trồng chính là Ngô và Đậu tương luân phiên. Một cây bổ sung dinh dưỡng cho đất và một cây cần nhiều dinh dưỡng từ đất. Mọi người trong gia đình làm và hưởng lương theo kết quả làm việc của mình và được chia cổ tức theo cổ phần.

Việc hình thành Công ty bắt đầu từ việc tích tụ đất. Sau khi kinh tế phát triển. Những người nông dân không muốn làm nông nghiệp vào thành phố ở và bán ruộng cho những người thích làm nông nghiệp ở lại làm kinh doanh và chuyển thành doanh nhân nông ngiệp.

Việc sản xuất ở đây được cơ giới hoá toàn bộ từ làm đất, tưới nước, phun thuốc trừ sâu, thu hoạch, chế biến và bảo quản theo một chu trình khép kín với những máy móc hiện đại và được ứng dụng công nghệ mới nhất (4.0) trong việc chăm sóc, tưới nuóc và Bảo Vệ Thực Vật. Ví dụ: sử dụng máy bay xác định màu sắc cây trồng bằng hình ảnh trên đồng ruộng để đưa ra biện pháp bón phân hay phun thuốc Bảo Vệ Thực Vật phù hợp. Khi tôi thấy trong sản xuất ở đây vẫn sử dụng giống lai, thuốc Bảo Vệ Thực Vật tôi hỏi họ: việc sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở đây thế nào thì được trả lời. Những người sản xuất nông nghiệp hữu cơ ba năm thì bị phá sản. Lại một vấn đề nữa đang đặt ra trong suy nghĩ của chúng tôi…

Việc ra đời những Công ty gia đình làm nông nghiệp ở Mỹ rất phổ biến. Và vì vậy các Công ty này tham gia vào các hiệp hội để phát triển là một xu hướng đã trở thành quy luật ở Mỹ.

Sau khi thăm gia đình nông dân chúng tôi được đi thăm dòng sông Mississippi, môt dòng sông nổi tiếng nằm giữa bang Missouri và bang Iniloi (có thành phố Chicago nổi tiếng). Đến đây chúng tôi gặp một bến phà. Tôi thấy làm lạ: một dòng sông không lớn, mà hệ thống giao thông ở Mỹ rất phát triển và hiện đại, sao còn sử dụng phà? Họ trả lời là cách đây 20 km có một cây cầu. Nhưng người dân vùng này không thích ồn ào nên họ vẫn giữ lại bến phà cho yên tĩnh và cũng là một cách giữ lại truyền thống văn hoá xưa.

Câu chuyện ở đây là hai sự việc trong quá trình phát triển, giữa sự hiện đại ở trình độ đỉnh cao với việc giữ gìn văn hoá và truyền thống.

P/S: Hình ảnh được sắp xếp theo trình tự của quá trình sản xuất từ cánh đồng, nhận giống, làm đất, gieo hạt, chăm sóc, phun thuốc BVTV đến thu hoạch, bảo quản và chở sản phẩm ra thị trường tiêu thụ./.”

Anh Trần Mạnh Báo viết bài TẠM BIÊT HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ  trên Face Book cũng thật ấn tượng. Anh viết:

45 năm trước khi nghe cụm từ “Hợp chủng quốc Hoa Kỳ” trong Hiệp định Paris, đâu có thể nghĩ rằng mình sẽ đến đất nước xa xôi bên kia bờ Thái Bình Dương, cách Việt Nam nửa vòng trái đất. Thế mà tôi đã có ba lần đến đất nước này. Hai lần trước chúng tôi đi nghiên cứu thị trường và xúc tiến thương mại. Còn lần này là một khoá học ngắn hạn về quản lý, nghiên cứu và xây dựng hiệp hội thương mại ngành hàng trong sản xuất và thương mại nông nghiệp theo lời mời của Bộ Nông nghiệp Mỹ.

Bây giờ là 6:30 ngày 24.03.2018, chúng tôi rời khách sạn ra sân bay Louis về nước. Tạm biệt Hợp chủng Quốc Hoa Kỳ. Đất nước nhiều duyên nợ với quê hương chúng tôi. Ngoài trời những cơn mưa dông đầu mùa, sấm chớp đùng đùng đang về trên mảnh đất này. Thế mà 14 ngày trước khi chúng tôi đến đây thì được chào đón bằng một trận mưa tuyết mà tôi chưa bao giờ gặp. (Một người bạn cũ từng ở Châu Âu 30 năm, bây giờ về nước biết tin nhắn bảo “mày chụp lấy cái ảnh làm kỉ niệm chứ ít khi gặp được mưa tuyết ở VN đâu” Có lẽ điểu đó sẽ thành sự thực).

Hai tuần trên đất Mỹ. Quãng thời gian ngắn ngủi của một đợt học căng thẳng từ khi đến cho tới khi về. Nhưng cũng được nhiều điều bổ ích cho bản thân và công việc. Điều ấn tượng nhất, ghi vào trí não tôi nhiều nhất không phải là kiến thức tôi tiếp thu được mà là những con người với thái độ và trách nhiệm trong công việc mà họ đang làm. Trong đó có hai vị Giáo sư đã lớn tuổi.

Ấn tượng đó đến với tôi ngay từ khi gặp họ ngày đầu tiên trong đợt học này. Lúc đầu tôi nghĩ họ chỉ là người làm thuê cho nhà trường chứ không phải là những Giáo sư sẽ chăm lo giúp đỡ chúng tôi tất cả mọi việc trong suốt đợt học. Đó là hai người Thầy mà có lẽ sẽ khó có thể gặp ở nơi khác. Dr. Ken Schneeberger trên 80 tuổi, khi đến đón chúng tôi đã lái một chiếc xe 12 ghế ngồi, cách chỗ đón chúng tôi hai giờ (từ thành phố Louis về trường Missouri ở thành phố Columbia) dưới trời mưa tuyết mà xe vẫn chạy với vận tốc 120km/h. Thầy William H. Meyers, 79 tuổi, đã từng ở Việt Nam trong những năm 60 của thế trước. (Ông đã ở Đồng Tháp một năm, Huế một năm, ở Cần Thơ và ĐBSCL một năm rưỡi với vai trò chuyên gia giáo dục và dạy tiếng Anh).

Trong suốt nửa tháng trời hai ông chăm lo cho chúng tôi từ bữa ăn (cho hợp khẩu vị), tổ chức các chương trình học tập, đi thăm, nghiên cứu, thảo luận và cả tham quan, nghỉ ngơi cho đến tận khi đưa ra sân bay về nước (mà không có ai phụ giúp).

Buổi học cuối cùng của đợt nghiên cứu này cũng là một buổi học nghỉ
muộn nhất. 19:30 chúng tôi mới được nghỉ ăn tối và chuẩn bị cho chuyến bay sớm về nước ngày hôm sau.

Có rất nhiều điều thấy được, tiếp thu được từ đợt nghiên cứu này. Rồi sẽ phải ghi lại, vận dụng vào công việc và cuộc sống của mình. Nhưng điều mà tôi suy nghĩ nhiều nhất là chúng ta sẽ phải làm sao để mọi người có trách nhiệm với cộng đồng, với công việc và với chính bản thân họ để chất lượng cuộc sống của mình và mọi người tốt hơn.

Xin cảm ơn Trường Đại Học Missouri, cảm ơn Thầy Ken… Thầy Willi…, Cô Linda… và những người Bạn Việt Nam đang nghiên cứu học tập tại trường Missouri đã giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tập.

Xin gửi lời cảm ơn đến Bộ Nông nghiệp Mỹ, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam đã mời chúng tôi tham gia khoá học này. Cảm ơn Mr Trần Quốc Quân, Mir Hường cán bộ Sứ Quán Hoa kỳ cùng những người đã giúp chúng tôi tham gia khoá học này. Xin cảm ơn Mr Trần Quốc Đạt, Mr Nguyễn Chánh Phương và Mir Phan Thị Thanh Xuân đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập vừa qua./.

P/S: 14:15’ (Giờ VN là 2:15) ngày 24.3.2018 chiếc Airbus 350-900 của hãng hàng không DELTA Air line đưa chúng tôi bay lên bầu trời chia tay nước Mỹ hướng về sân bay Incheon/Seoul – Hàn Quốc cho một chuyến bay kéo dài hơn 13 giờ đang ở phía trước.”

Anh Trần Mạnh Báo viết bài “THẾ MỚI LÀ TÔI!” về PGS, TS Nguyễn Văn Hoan (Hoan Nguyen) trang FB cá nhân ngày,18 Tháng 4 . Bài viết ngắn, xúc động, đầy ắp thông tin

“Ông là nhà khoa học, là người thầy yêu quý của nhiều thế hệ học sinh trường Đại học Nông nghiệp 1 (Học viện Nông nghiệp Việt Nam). Năm nay Ông đã 69 tuổi, đã một lần bị tai biến và chân đi không còn thăng bằng nữa. Hiện nay Ông đang làm một việc mà nhiều người cho là không bình thường. Ông là PGS, TS Nguyễn Văn Hoan. Ông là tác giả của nhiều giống lúa, trong đó có giống lúa lai Việt Lai 20. Sau khi Ông nghỉ hưu và không làm việc tại Học viện Nông nghiệp nữa Ông vào Tây nguyên mua đất, dựng lều, làm ruộng để nghiên cứu giống cây trồng. Tôi và Ông có nhiều điều tâm đắc, cùng say mê với đồng ruộng và yêu cây lúa. Vì vậy chúng tôi đã hợp tác nghiên cứu. Kết quả còn chờ thời gian và sự may mắn. Nhưng những gì ông làm, những gì tôi chứng kiến trong nhiều năm qua đã thực sự thuyết phục tôi và thương yêu, quý trọng Ông hơn.

Để có thể cấy được lúa trên đất Tây Nguyên Ông phải đào sâu 40-50 cm, lót bạt chịu nước rồi đổ đất lên trồng lúa trong những nhà lưới tự thiết kế thi công. Để trồng cây ăn quả mà chịu được hạn mùa khô Ông phải đào hố sâu 40 cm, giữa hố khoan lỗ sâu 40-50 cm và cho vào đó một cái ống tre. Khi trồng cây chú ý cho cái rễ cái vào cái ống tre. Như vậy rễ cây sẽ ăn sâu vào đất hàng mét. Về mùa khô không phải tưới vẫn xanh tốt. Ruộng vườn của Ông được đắp bờ vùng, bờ thửa như ở đồng bằng Sông Hồng. Khi mùa mưa đến nước sẽ được giữ lại không trôi tuột xuống chân đồi. Người dân ở đây đến thấy lạ thì nói “Ông làm những việc không bình thường”. Ông liền trả lời “Thế mới là tôi, không phải là ông”. Còn tôi, tôi tin những gì Ông làm đều được nghiên cứu kĩ càng và dựa trên cơ sở khoa học.

Biết tôi đến thăm, Ông làm cơm với tất cả các món ăn được làm từ sản phẩm do Ông Bà tự sản xuất ra không thiếu những gì mà người Hà Nội cần cho một bữa cơm đãi khách.

Trong ngôi nhà nhỏ, vẫn có một bàn ăn và trên tường có một cái bảng viết đầy tiếng Anh. Thấy tôi đứng đọc bài viết trên bảng, Ông nói. Bà ấy đang học tiếng Anh đấy. “Bà ấy” là một người phụ nữ đã nghỉ hưu theo Ông vào đây để cùng ông dệt cái giấc mơ mà Ông đang ngày đêm khát khao thực hiện. Đó là nghiên cứu tìm giống cho Tây Nguyên, đặc biệt là các giống chịu hạn. Để chờ hai con Ông học ở nước ngoài về kế nghiệp.

Chia tay Ông chúng tôi thật sự bùi ngùi, xúc động, cầu mong Ông Bà luôn mạnh khỏe, thành công trong công việc và hạnh phúc trong “một mái nhà tôn hai trái tim vàng”./.

Chưprông – Gia Lai 12:30 – 18/04/2018″

Cám ơn anh Trần Mạnh Báo hình ảnh và trang văn thắp lửa !

LÚA SIÊU XANH VIỆT NAM KẾT NỐI CAAS IRRI
Hoàng Kim

Sau bảy năm (2012-2018) đánh giá và tuyển chọn giống lúa siêu xanh (GSR Green Super Rice) ở Việt Nam, ngày 24 tháng 5 năm 2018 tại Viện Khoa học Cây trồng, Viện Hàn lâm Nông nghiệp Trung Quốc (CAAS) Giáo sư tiến sĩ  Zhikang Li,  Phó Giáo sư tiến sĩ Tian-Qing Zheng, tiến sĩ Hoàng Long và tiến sĩ Hoàng Kim đã trao đổi kế hoạch hợp tác Lúa Siêu Xanh Việt Nam kết nối CAAS IRRI qua việc kết nối cùng đánh giá mở rộng các giống lúa GSR65, GSR90 tại Phú Yên, các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đồng Bằng Sông Cửu Long. Giáo sư tiến sĩ  Zhikang Li và Phó Giáo sư tiến sĩ Tian-Qing Zheng thông tin sẽ sắp xếp lịch đến thăm lúa siêu xanh ở Phú Yên và Đắc Lắc, Sóc Trang vào các thời gian thích hợp của các năm 2019- 2020  phối hợp kế họach chọn tạo và phát  triển giống tốt; xây dựng vùng giống lúa siêu xanh GSR năng suất cao chất lượng tốt  cho sản xuất mở rộng .

MaiVanQuyen

THẦY QUYỀN NGHỀ NÔNG CỦA CHÚNG TÔI

Giáo sư tiến sĩ Mai Văn Quyền là nhà khoa học xanh, chuyên gia hàng đầu Việt Nam về lĩnh vực thâm canh lúa, hệ thống nông nghiệp, sinh lý thực vật và quản lý bền vững đất nước cây trồng. Giáo sư là thầy hướng dẫn đã bảo vệ thành công của 12 tiến sĩ khoa học nông nghiệp, nhiều thạc sỹ, kỹ sư nông học, tác giả của sáu sách chuyên khảo và nhiều bài báo, bài viết đăng trên các tạp chí, sách ở trong và ngoài nước. Giáo sư Mai Văn Quyền từ năm 2007 đến nay là cộng tác viên thường xuyên của đài VOV 2 phát thanh mỗi tuần 2 lần các nội dung về phân bón trong khuôn khổ hợp tác giữa Đài VOV2 với công ty Cổ phần phân bón Binh Điền. Giáo sư là chuyên gia của chương trình VTV “Đồng hành và chia sẻ” hàng tuần trả lời các câu hỏi của nông dân cả nước qua thư bạn nghe đài, là cộng tác viên của báo Nông nghiệp Việt Nam và các báo nông nghiệp, viết bài phổ biến khoa học trong lĩnh vực phân bón và cây trồng. Với cương vị là chủ tịch Hội đồng khoa học của Công ty Cổ phần phân bón Bình Điền, hàng năm tổ chức nhiều lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật sử dụng phân bón cho nông dân Việt Nam, Campuchia, và Myanmar, qua đó tạo thêm điều kiện tăng thêm sự hiểu biết và thắt chặt mối quan hệ giữa nhân dân và chính phủ các nước với nhân dân và chính phủ Việt Nam. Thầy là tấm gương phúc hậu, minh triết, tận tụy trong nghiên cứu, giảng dạy nông học, đồng hành cùng nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam. Bước vào năm 2019, giáo sư Mai Văn Quyền sang tuổi 83 và Thầy vẫn đang sung sức đi tới trong tốp đầu của các chuyên gia nông nghiệp Việt Nam thời hiện đại. xem tiếp…


THẦY NGOẠN THƠ TÌNH HỒ NÚI CỐC

Hoàng Kim

TRẦN thế hay là Thiên thai đây.
Người hiền như NGỌC chốn trời mây.
Ai du ai NGOẠN nơi trần thế.
Hạnh phúc ngời lên đôi mắt say.

Nhớ thuở tìm về thăm bạn cũ.
Thái Nguyên đường thẳm hút sương mù.
Mênh mang mường Mán mình mong mỏi.
Lấp loáng luồng Lưu lượn lững lờ.

Núi Cốc chùa Vàng xao xuyến đợi
Sông Công đảo Cái ước mong chờ
Nham Biền, Yên Lãng uy nghi quá
Tam Đảo, Trường Yên dạ ngẫn ngơ.

Nhớ Sắn Việt Nam tình bạn quý.
Thương người Nam Bắc nghĩa anh em.
Thơ của tháng năm đời đẹp lắm.
Mình hẹn tìm nhau ở Bến Mơ.

https://cnm365.wordpress.com/2015/08/16/tho-tinh-ho-nui-coc/

HoNuiCoc01

Hồ Núi Cốc là quần thể du lịch sinh thái thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên cách trung tâm thành phố 15 km về hướng Tây Nam theo lộ Đán -Tân Cương – núi Cốc. Nơi đây có núi Cốc, sông Công, hồ núi Cốc – vịnh Hạ Long, hồ trên núi – với diện tích mặt hồ khoảng 25 km2. Đền Hồ Chí Minh trên rừng Yên Lãng, đỉnh đèo De dưới là mỏ than núi Hồng giữ ngọn lửa thiêng, vùng huyền thoại chuyện tình yêu thương. Đảo Cái lưu dấu những cổ vật đặc biệt quý hiếm. Chùa Vàng và đền bà chúa Thượng Ngàn nổi tiếng. Đây là vùng đất địa linh của tam giác châu giữa  lòng của vòng cung Đông Triều với dãy Tam Đảo có 99 ngọn Nham Biền chạy xuống Yên Tử , trường thành chắn Bắc (hướng kia là dãy Tản Viên 99 ngọn chạy dọc sông Đáy tới Thần Phù, Nga Sơn nối Trường Sơn tạo thế trường tồn và mở  mang cho dân tộc Việt. Đây là vùng thiên nhiên trong lành, suối nguồn tươi trẻ, lưu dấu tích anh hùng, mỹ nhân trong vầng trăng, bóng nước giữa rừng …

Những tác phẩm âm nhạc vượt thời gian Huyền thoại Hồ Núi Cốc, nhạc và lời Phó Đức Phương, trình bày Vũ Phong Vũ (bản khác NSƯT Thanh Hoà), Thanh Lam Tùng Dương ; Hồ trên núi, nhạc và lời Phó Đức Phương, trình bày Hồ Quỳnh Hương (bản khác NSƯT Anh Thơ); Thơ giao lưu Hồ Núi Cốc giữa những người bạn Mùa Thu Vàng, Hà Duy Tự, Trúc Nhã, LamCa07, Hoàng Kim… được giao hòa trong khung cảnh thiên nhiên lộng lẫy, kỳ thú này.

Chương trình Sắn Việt Nam cùng Chương trình Sắn Châu Á nhiều lần họp tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng đi khảo sát các vùng sắn ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái,  … và đã có hai lần thăm Hồ Núi Cốc.

Lưu lại những ấn tượng khó quên về một vùng đất thiêng liêng của Tổ Quốc Việt Nam.

HoNuiCoc02
HoNuiCoc03
HoNuiCoc04

BẠN TÔI ĐẶNG KIM SƠN
Hoàng Kim
Tôi có người bạn quý là Đặng Kim Sơn. đối với Cha Mẹ với Thầy tôi coi Sơn là Chí Hiếu.

Điếu văn Bà Nguyễn Thị Mỹ – quả phụ tướng Đặng Kim Giang

  (Đặng Kim Sơn đọc trước mộ mẹ ngày 25 tháng 5 năm 2019)

Kính thưa các ông bà, cô bác họ hàng, láng giềng, quí vị quan khách. Gia đình chúng tôi vô cùng cảm kích được đón tiếp quí vị đến vĩnh biệt Mẹ, Bà, Cụ của chúng tôi: Nguyễn Thị Mỹ, sinh ngày 2 tháng 3 năm 1919, mất ngày 22 tháng 5 năm 2019 (tức ngày 18 tháng 4 âm lịch), tròn 100 tuổi đời đóng góp cho đất nước, hi sinh vì gia đình.

Một đời làm mẹ. Ông ngoại tôi sang Lào làm việc, sinh ra mẹ tôi ở thành phố Luangpharabang. Gia đình về Việt Nam để lại bà khi đó mới mười mấy tuổi, suốt 7 năm một mình thay bố mẹ nuôi dạy hai em trên xứ người. Năm 1944, bà về Đà Lạt học trường cao đẳng nữ công thì chiến tranh nổ ra, mất liên lạc với lũ em nhỏ, bà trở về quê hương ở làng Kim Lũ, phủ Hà Đông.

Cuối năm 1946, bà lập gia đình với ông Đặng Kim Giang. Hạnh phúc đến đúng lúc toàn quốc kháng chiến, bà phải làm mẹ từ lúc chưa sinh con. Chồng gánh nhiệm vụ chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến tỉnh Hà Đông, bà phải một mình nuôi con chồng, nuôi cháu chồng, chạy giặc từ quê hương Hà Đông đi xa dần ra Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa rồi lên Việt Bắc. Kiếm sống gian nan mà mẹ vẫn mở lòng đón thêm con nuôi đang cảnh bơ vơ.

Đàn con đầu đã lớn lên đi học và tham gia kháng chiến. Bà một mình sinh con gái ở vùng tự do Thanh Hóa trong lúc chồng đang đánh chiến dịch Biên Giới, sinh con trai trong khi ông đang chỉ huy hậu cần chiến dịch Điện Biên Phủ. Năm 1954, Hà Nội hòa bình, hai ông bà được ở bên nhau khi hai con giai và gái ra đời và đón thêm con gái chồng về cùng gia đình, tưởng như phúc phận người mẹ đã đủ đầy nhưng những biến động chính trị một lần buộc bà tiếp tục thiên chức làm mẹ.

Năm 1967, cụ ông đang là thứ trưởng Bộ Nông trường Quốc doanh thì lâm nạn chính trị. Gia đình đang là cán bộ cao cấp trở thành đối tượng thù địch. Trong gian khó thời chiến tranh và kinh tế bao cấp, mọi người dân đều khổ, các đối tượng bị phân biệt đối xử lại càng gian nan hơn. Con cái phải phiêu bạt đào than ngoài mỏ Quảng Ninh, đi xuất khẩu lao động xứ người, lên nông trường trên Yên Thế, vào khai hoang trong Hà Tiên,… Bà chìa đôi vai nhỏ bé gánh mọi sức nặng, làm trụ cột cho cả nhà.

Bà một mình chăm ông và làm mẹ nuôi dạy cả lũ 6 đứa cháu nội, cháu ngoại. Chăm cháu ốm, dạy cháu học, chạy chợ, nấu ăn, chăm sóc cả nhà, bà còn lo kiếm thêm tiền bằng trông trẻ, khâu vá thuê. Đúng lúc gia cảnh tối tăm, người ngoài xa lánh, bà vẫn dang tay cưu mang thêm con nuôi – con người bạn chiến đấu đang gặp nạn là cháu Tân con bác Kỳ Vân.

Tình mẹ nhân hậu và vô tư ấy đã làm rung động mọi trái tim của 9 người con và dâu rể, cháu, chắt và làm chúng tôi thay đổi dù rất khác nhau về tính cách. Trong gia đình chúng tôi, mẹ là mẹ chung. Di chúc của mẹ kể tên cả 9 đứa con và căn dặn: “ Mẹ không có tiền của để lại cho các con nhưng để lại cho các con muôn vàn tình thương yêu và nếu quả thật có linh hồn và có quyền lực thì sẽ hết sức giúp đỡ con cái sau khi chết ”. Cả đến khi đã đi xa mẹ vẫn dốc lòng chăm sóc đàn con.

Suốt đời làm thày. Tốt nghiệp Thành chung năm 1937, cô giáo Mỹ bắt đầu nghề dạy học từ năm 18 tuổi, 7 năm dạy dỗ những trò nhỏ xứ Xiêng Khoảng và Thà Khẹt. Trở về quê hương bà tiếp tục dạy học ở thị xã Hà Đông. Suốt 7 năm đầu kháng chiến, bà giáo tiếp tục dạy các trường vùng tự do Thanh Môn, Nho Quan, nữ trung học Liên khu 3 và Nguyễn Thượng Hiền ở Hà Đông, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa. Năm 1953, kháng chiến trở nên quyết liệt, bà tạm biệt học trò, theo chồng lên chiến khu.

Hòa bình lập lại, tháng 11 năm 1954 bà rời quân ngũ với tấm Huy chương kháng chiến hạng nhất và huy chương Chiến Thắng hạng nhì, về với bục giảng Hà Nội. Cô giáo Mỹ dạy trường Thanh Quan, Đống Đa, Nguyễn Công Trứ, Chu Văn An, Nguyễn Trãi. Năm 1966, gia đình lại rời Hà Nội về Bắc Ninh, bà dạy học sinh nông thôn ở trường cấp 2 Việt Đoàn, trường Hiên Vân. Dù trường tỉnh, thủ đô hay trường làng, ở đâu những bài giảng văn học, những câu chuyện lịch sử, những kiến thức địa lý của cô giáo Mỹ cũng thổi vào hồn học sinh tình người, nghĩa nước.

Cuộc chiến cam go nhất cho sự nghiệp giáo dục của bà là đòi quyền học hành cho con mình. Suốt 40 năm “trồng người” nhưng bà bị cách chức Hiệu phó trường làng, bị đưa ra khỏi Đảng. Người phụ nữ gày yếu, nhỏ bé kiên cường gõ mọi cánh cửa từ trung ương đến địa phương đòi quyền học hành cho con cái. Chỉ nhờ sự dũng cảm của mẹ và lòng tử tế của những người trong cuộc mà cánh cửa đại học, cao đẳng tưởng như đã sập lại hẳn, mới hé mở cho 3 người con nhỏ nhất trong nhà.

Thật vinh hạnh là anh chị em nhà tôi có những ngày được học lớp do mẹ mình truyền dạy. Trước lớp, con cái vẫn “thưa cô” với mẹ. Người thày trong mẹ đã nâng giữ nhịp cầu để chúng tôi tiếp cận nền học vấn hiện đại, có cơ hội thành đạt bằng trí tuệ. Điều quan trọng hơn cả là truyền thống văn hóa của Bố, gương sống của Mẹ đã hướng cho đội ngũ học trò và các lớp cháu con lẽ đời tử tế, tiếp sức mạnh của tình người mà chẳng một ngôi trường danh tiếng nào khắp thế giới truyền dạy nổi.

Một lòng giữ nước, cứu nhà.

Đến Đà Lạt học đúng lúc miền Bắc chìm trong nạn đói 1945, cô nữ sinh trường Pháp ngày đêm đi quyên tiền cứu giúp người. Cách mạng Tháng Tám, như ngàn vạn trí thức đến với cách mạng, bà diện áo dài thêu hoa, đeo đồ trang sức xuống đường tham gia tuần hành dành chính quyền rồi làm việc tại Ủy ban Lâm thời Đà Lạt và tham gia ban Chấp hành phụ nữ Cứu quốc thành phố. Hưởng ứng “tuần lễ vàng” năm 1945, bà dốc hết đồ trang sức và của nả đóng sạch cho ngân khố.

Hồ hởi đến với cách mạng, bà giáo vào quân ngũ và thấm dần nỗi đớn đau cùng cực của chiến tranh. Ngày Hà Nội chìm trong lửa kháng chiến 1947, bà trực tiếp giữ kho vũ khí 300 ở Hà Đông và dẫn dắt đám học trò nhỏ đẩy toa tàu điện chở đạn từ Hà Đông ra tiếp tế cho mặt trận. Khi cuộc chiến trở nên quyết liệt năm 1953, bà gia nhập quân đội, đánh máy cho Tổng cục Hậu cần và làm báo địch vận tiếng Pháp trên chiến khu Việt Bắc.

Nhân thế đảo lộn dạy bà rằng cách mạng là hy sinh chứ không phải là ngày hội và phải cuộc chiến áo cơm tàn ác chẳng kém đạn bom. Nhà tan cửa nát, kiếm ăn từng bữa, bà vẫn kiên cường trước đe dọa, dụ dỗ quyền lợi, một lòng bảo vệ chồng con. Lũ con đi xuất khẩu lao động xa xứ đổi mồ hôi, nước mắt gửi hàng hóa về, bà ở nhà một mình nhận hàng, bán đồ, tả xung hữu đột với đám buôn bán giang hồ, tích cóp cho con cái về mua xong nhà, xin được việc.

Một chiều năm 1996, cuối cùng gánh nặng công việc, sức ép chính trị, nỗi lo gia đình đã xô ngã bà giáo già 77 tuổi, bà gục xuống một mình trong căn bếp nhỏ. Mấy tiếng mê man, đợi cháu đi học về, bà còn cố bò ra, đu lên mở cửa, hoàn thành nhiệm vụ cuối. Suốt 23 năm nằm liệt, bà kiên cường chiến đấu với bệnh tật, vẫn vui vẻ bình luận thời sự, nói chuyện đời xưa cho đến ngày im lặng, nhẹ nhàng ra đi.

Mẹ yêu quí của chúng con, nhìn lại 100 năm cuộc đời, đi qua 2 cuộc chiến tranh, chịu đựng bao biến động bể dâu, chứng kiến nhiều lẽ đời ngang trái nhưng không ai hiểu nổi người mẹ vóc hạc, sức mây làm sao có được sức lực, tinh thần để vượt qua sóng gió, chịu bao tủi nhục, xây hậu phương vững chắc cho bố yên tâm chiến đấu bảo vệ tổ quốc, bảo vệ lẽ phải; cho 16 con cái, dâu rể và 59 cháu chắt nội ngoại lớn khôn và rộng đường tiến tới tương lai.

Mẹ Mỹ yêu thương. Lũ con cháu chúng con bình sinh tầm thường: thấy thiếu lo đói, thấy nguy sợ hãi, lúc vinh kiêu ngạo, lúc nhục trốn tránh, có lúc ham chơi lười học, có lúc chìm đắm chức quyền, chăm con cái hơn phụng dưỡng thân sinh, tham vật chất hơn trau dồi trí tuệ, nhiều lúc không nghe lời cha, lắm lúc làm buồn lòng mẹ, may mắn thay có được đấng sinh thành là Bố Mẹ. Chính gương sống đẹp đẽ, nhân cách sáng trong của Người đã giúp lũ chúng con biết hổ thẹn, sửa đổi mình, đoàn kết lại thành một gia đình hạnh phúc, và kì diệu thay, đã hình thành gốc rễ vững chắc để cháu con vượt qua muôn ngàn bất định tương lai.

Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời. Của cải, chức tước, quan hệ, sức khỏe, sắc đẹp không phải là đặc ân người trước truyền mãi được cho đời sau. Trước biến động thế gian, biết bao kẻ đang chết trên quyền lực, sẽ khóc giữa bạc tiền. Chỉ có lẽ sống mà bố mẹ để lại cho chúng con mới thực sự là giá trị vĩnh cửu!. Con cháu sẽ đời đời khắc ghi lời mẹ di chúc: “Các con! các cháu! Hãy thương yêu đùm bọc nhau cố phấn đấu vươn lên, sống tử tế nhân hậu. Có tài có đức sẽ thành đạt” .

Chúng con, các cháu, xin vâng lời mẹ dạy!

Mẹ hãy yên tâm mà siêu thoát.

Literature Ms. Nguyen Thi My – widow Dang Kim Giang

  (Dang Kim Son read before his mother’s grave on May 25, 2019)

Dear grandparents, relatives, neighbors, guests. Our family is extremely grateful to welcome you to our farewell Mother, Mrs., and Mrs. Nguyen Thi My, born on March 2, 1919, died on May 22, 2019 (ie April 18th). lunar calendar), 100 years old, contributing to the country, sacrificing for the family.

A mother’s life. My grandfather went to Laos to work, born my mother in Luangpharabang city. The family returned to Vietnam to leave her when she was only ten years old, for 7 years alone, replacing her parents raising two children in the country. In 1944, she went back to Dalat to study at a college of women, the war broke out, lost contact with the children, she returned to her hometown in Kim Lu village, Ha Dong province.

At the end of 1946, she married Mr. Dang Kim Giang. Happiness comes at the right time for the whole country to resist the war, she has to be a mother since she was not born. Husband is in charge of chairing the Resistance Administrative Committee of Ha Dong province, she must raise her husband, raise her husband and run the enemy from Ha Dong homeland to go further to Ha Nam, Ninh Binh and Thanh Hoa and then go to Vietnam. North. The arduous living sword still opened my heart to welcome more adopted children.

The first children grew up going to school and joined the resistance. She alone gave birth to a daughter in the Thanh Hoa Free Zone while her husband was fighting the Border Campaign, giving birth to a son while he was conducting the logistics of the Dien Bien Phu campaign. In 1954, Hanoi was peaceful, the two grandparents were together when the two daughters and girls were born and welcomed their husbands and daughters back to their families. times forced her to continue to be a mother.

In 1967, he was the deputy minister of the State Agricultural Ministry, then he was in political trouble. Families are high-ranking officials to become hostile. In the difficult time of war and subsidized economy, all people were suffering, the discriminated subjects became even more arduous. Children have to go out to dig coal outside Quang Ninh mine, export labor from the country, to the farm on Yen The, to reclaim the land in Ha Tien, … She holds small shoulders to carry all the weight, as a pillar for whole house.

She alone takes care of him and serves as a foster mother to teach all 6 grandchildren and grandchildren. Take care of her sick, teach her to learn, run the market, cook, take care of the whole family, she also worries about earning more money by looking after children and sewing. At the right time in the dark scene, the people are alienated, she still has a hand to carry more adopted children – the son of a fighting friend who is in danger is a child of a new son Ky Van.

That motherly and carefree motherhood has touched all the hearts of 9 children and bride-in-law, grandchildren, great-grandchildren and made us change despite being very different in personality. In our family, mother is a common mother. The mother’s will tells the names of all 9 children and tells them: ” I have no money to leave for you but leave you with a great deal of love and if there is indeed a soul and power, it will end Helping children after death ”. Even when she was away, she was still keen to take care of her cubs.

Lifelong work. Graduating from the General City in 1937, the American teacher started her teaching career from the age of 18, 7 years of teaching small games of Xieng Khoang and Tha Khet. Back home, she continued to teach in Ha Dong town. During the first 7 years of the resistance, the teacher continued to teach the liberal schools Thanh Mon, Nho Quan, high school girls of the 3rd and Nguyen Thuong Hien districts in Ha Dong, Ha Nam, Ninh Binh and Thanh Hoa. In 1953, the resistance became fierce, and she bid farewell to the student, following her husband to the war zone.

Peace was repeated, in November 1954 she left the army with the first-class Resistance Medal and the Second Victory Medal, returning to the Hanoi podium. The American teacher taught the schools Thanh Quan, Dong Da, Nguyen Cong Tru, Chu Van An and Nguyen Trai. In 1966, the family left Hanoi for Bac Ninh, she taught rural students at Viet Doan secondary school, Hien Van school. Whether the provincial school, the capital or the village school, where the literature lectures, historical stories, the geography knowledge of American teachers also blew into the souls of the human love, the country.

The hardest fight for her education career is to demand the right to study for her child. During 40 years of “planting people”, she was dismissed from the village vice-rector. The frail woman, small and stubborn, knocked on every door from the central to the local level, demanding her children’s education. Only thanks to the courage of the mother and the kindness of the insiders, the door of the university and college seems to have collapsed completely, opening it to the three youngest children in the house.

It is a pleasure to have my brothers and sisters have the days of class taught by my mother. Before the class, the children were still “ladies” with their mother. The teacher in the mother has raised the bridge so that we can approach the modern education, have the opportunity to succeed by intellect. The most important thing is the cultural tradition of Dad, Mother’s life example has directed the team of students and their grandchildren’s class to be kind, receiving the power of human love without any famous school all over the world. well-known teaching circles.

A heart to keep the water, save the house.

Arriving in Da Lat at the right time when the North was sunk in famine 1945, the French school girl day and night went to collect money to help people. August Revolution, like thousands of intellectuals who came to the revolution, she wore a floral embroidery, jewelry and accessories to participate in the government’s march, then worked at the Provisional Committee of Da Lat and participated in the Committee. Executive City of the National Salvation Responding to the “golden week” in 1945, she slipped all of her jewelry and made it clear to the treasury.

Ho came to the revolution, the teacher entered the army and absorbed the extreme pain of the war. On the day of Hanoi sunk in the fire of resistance in 1947, she directly held the 300 arsenal in Ha Dong and led the small pupils to push the electric carriages carrying bullets from Ha Dong to supply the front. When the war became fierce in 1953, she joined the army, typed for the General Department of Logistics and made enemy soldiers move in French on the Viet Bac war zone.

The world reversed to teach her that the revolution was sacrificed, not a festival, and a war of cruelly like rice bombs. The house was broken, and ate every meal, she was resilient to threaten, seduce benefits, and protect her husband and children. Children go to export labor from abroad to change sweat, tears to send goods, she stays home alone to receive goods, sell goods, describe the sudden conflict with the trafficking traffickers, accumulate children to finish buying home, get a job.

One afternoon in 1996, finally the burden of work, political pressure, worrying about the family falling over a 77-year-old teacher, she collapsed alone in a small kitchen. Some coma, waiting for her to go home, she tried to crawl out, swing up and open the door, complete the last mission. During 23 years of paralysis, she was resilient in fighting the disease, still happily commenting on the news, talking the old life until the day of silence, gently leaving.

Our beloved mother, looking back on 100 years of life, went through 2 wars, endured many changes in the strawberry tank, witnessed many things left and right, but no one understood the mother of the crane, how to do it to gain strength and spirit to overcome the turbulence, to suffer humiliation, to build a solid rear for him to be assured of fighting to defend the country, to protect righteousness; for 16 children, bridegroom and 59 grandchildren to grow up and expand to the future.

My mother loves. Our children and grandchildren are born mediocre: see lack of hunger, fear of fear, pride in pride, shame and escape, sometimes sluggish play, sometimes sinking in power, taking care of children more and more body and mind, materiality is better than cultivating intellect, sometimes disobeying his father’s words, sometimes saddening his mother, fortunately having the birth of a parent. It is the beautiful example of his life, his bright personality, helping us to be ashamed, to modify ourselves, to become a happy family, and miraculously, have formed a solid root for our children. overcome thousands of uncertainties in the future.

Nobody is rich in three families, no one is difficult for three lives. Wealth, title, relationship, health, beauty are not the privilege of the people who passed on to the next life. Before the world fluctuations, so many people are dying on power, will cry among the money. Only the life that my parents left for us is truly an eternal value !. The children and grandchildren will forever inscribe their mother’s wishes: “Children! children! Please love to protect each other and strive to live up and live kindly and kindness. Having talent and virtue will succeed ” .

We, grandchildren, obey my mother! Please rest assured that you escape.

HoNuiCoc07
HoNuiCoc08
HoNuiCoc09
HoNuiCoc10
HoNuiCoc11
HoNuiCoc12

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Bài viết mới

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Việt Nam tổ quốc tôi|Đất nước con người, nghiên cứu dịch thuật Việt Trung, Hoàng Tố Nguyên  Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sốngFood CropsKim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter

Chào ngày mới 25 tháng 5


Everest kalapatthar crop.jpg
CNM365. Chào ngày mới 25 tháng 5
. Wikipedia Ngày này năm xưa.  Năm 2001Erik Weihenmayer trở thành người mù đầu tiên leo tới đỉnh của Everest.  Năm 1977 – Phim khoa học giả tưởng Chiến tranh giữa các vì sao do George Lucas viết kịch bản và đạo diễn được phát hành, trở thành một trong những bộ phim thành công nhất mọi thời đại.  1770 – công chúa Lê Ngọc Hân, là con gái có tài sắc hơn cả trong số các con gái của vua Lê Hiển Tông.

25 tháng 5

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày 25 tháng 5 là ngày thứ 145 (146 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 220 ngày trong năm.

« Tháng 5 năm 2015 »
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31

Mục lục

Sự kiện

  • 1954 – Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ quyết định tiến hành đợt 1 cải cách ruộng đất ở 47 xã thuộc các huyện Đại Từ, Đồng Hỷ, Phú Bình (tỉnh Thái Nguyên) và 6 xã thuộc huyện Nông Cống (tỉnh Thanh Hoá). Đợt 1 này kết thúc vào ngày 20-9-1954.
  • 1977 – Phim khoa học giả tưởng Chiến tranh giữa các vì sao do George Lucas viết kịch bản và đạo diễn được phát hành, trở thành một trong những bộ phim thành công nhất mọi thời đại.
  • 1981Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh được thành lập tại Riyadh, Ả Rập Saudi.
  • 1994 – Liên Hiệp Quốc chấm dứt việc ủy trị đối với Palau sau khi Hoa Kỳ và Palau đồng ý thiết lập nền độc lập cho Palau.
  • 2001Erik Weihenmayer trở thành người mù đầu tiên leo tới đỉnh của Everest.

Sinh nhật

  • 1550 – st.camillo de lellis. đấng sáng lập dòng tá viên phục vụ bệnh nhân.
  • 1770 – công chúa Lê Ngọc Hân, là con gái có tài sắc hơn cả trong số các con gái của vua Lê Hiển Tông.

Người mất

Những ngày lễ và kỷ niệm

Tháng 1 | Tháng 2 | Tháng 3 | Tháng 4 | Tháng 5 | Tháng 6 | Tháng 7 | Tháng 8 | Tháng 9 | Tháng 10 | Tháng 11 | Tháng 12

Tham khảo