Chào ngày mới 18 tháng 12



CNM365. Chào ngày mới 18 tháng 12
. Ngày tưởng nhớ Đỗ Phủ thi thánh Trung Quốc Tchaikovsky nhạc sĩ nổi tiếng người Nga và  Xuân Diệu nhà thơ danh tiếng Việt Nam. ‘Sao Hôm sao Mai khó tìm khi chuyển tiếp tối sáng’ (It is almost as hard for friends to meet As for the morning and evening stars. ESO/Y. Beletsky) Ngày này năm xưa. Ngày 18 tháng 12 năm 757, sau loạn An Sử Đỗ Phủ ra làm quan ở Trường An dưới triều vua Đường Huyền Tông Đỗ Phủ là nhà thơ Trung Quốc nổi bật thời nhà Đường, được gọi là Thi thánh, Thi sử Trung Quốc do đức độ cao thượng và tài năng tuyệt vời của ông, là một trong hai nhà thơ vĩ đại nhất Trung Quốc (người kia là Thi tiên Lý Bạch). Ngày 18 tháng 12 năm 1892, kiệt tác Kẹp Hạt Dẻ của Tchaikovsky lần đầu tiên được công diễn tại Sankt-Peterburg, Nga. Pyotr Ilyich Tchaikovsky là một nhà soạn nhạc nổi tiếng người Nga thời kỳ âm nhạc lãng mạn. Ngày 18 tháng 12 năm 1985 là ngày mất của  Xuân Diệu,  ông hoàng thơ tình, cây đại thụ của nền thi ca hiện đại Việt Nam; xem tiếp https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-18-thang-12/; Bài chọn lọc:  Nhà văn tồn tại ở tác phẩmChuyện đời giáo sư Lê Văn Tố; Ái chà ngày mới vui ghê;

Đỗ Phủ sinh thời Đường chưa rõ năm và mất năm 770. Tầm vóc thế giới các tác phẩm của ông được so sánh với Shakespeare và  Victor Hugo. Cuộc đời Đỗ Phủ, giống như đất nước Trung Hoa bị loạn lạc chiến tranh giằng xé liên miên và điêu đứng tột cùng vì thường xuyên biến động. Xem người đẹp múa kiếm là một trong những bài cổ thi nổi tiếng của ông ca ngợi tài nghệ múa kiếm tuyệt luân của mỹ nhân Công Tôn Đại Nương, gợi cho người đời sau của Việt Nam nhớ đến bài thơ Thuật hoài đêm thanh mài kiếm của Đặng Dung. Tác phẩm của ông gây ảnh hưởng rất lớn đến văn hóa Trung Quốc và Nhật Bản. Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc có trích thơ Đỗ Phủ.

Tchaikovsky sáng tác các nhạc phẩm đậm chất Nga theo một phong cách nghệ thuật đặc sắc rất riêng biệt ngân vang, sâu lắng, sự hòa hợp tuyệt vời của nghệ thuật múa với giai điệu nhạc, mặc dù ông không là thành viên của nhóm nhạc “The Five“ theo chủ nghĩa dân tộc. Ông nổi tiếng vì đã kết hợp nhuần nhuyễn âm nhạc Nga với âm nhạc châu Âu, âm nhạc thành thị và nông thôn. Kiệt tác Kẹp Hạt Dẻ là vở ba lê đặc biệt nổi tiếng, một trong những tác phẩm thành công nhất của Tchaikovsky hiện được công diễn nhiều nơi trên thế giới, chủ yếu vào dịp Giáng Sinh, nhất là ở Mỹ: Những công ty ba lê chính của Mỹ thu 40% lợi nhuận hàng năm từ những vở kịch Kẹp Hạt Dẻ. Câu chuyện kể về một đêm Giáng sinh, gia đình cùng khách mời tụ họp trong phòng khách để trang trí cây thông Noel. Sau khi cây thông trang trí xong, bọn trẻ bước vào. Chúng ngẩn ngơ nhìn cây Noel lấp lánh với nến và đồ trang trí. Lễ hội bắt đầu. Người người đi diễu hành. Quà được phát tặng cho bọn trẻ. Khi chiếc đồng hồ con cú điểm tám giờ, một nhân vật bí ẩn bất ngờ bước vào căn phòng. Đó là “ông già Noel” cha đỡ đầu của bé Clara. Ông rất giỏi trong việc chế tạo đồ chơi và đã đem theo nhiều món quà cho lũ trẻ, bao gồm bốn con búp bê biết nhảy múa vui mắt. Sau đó ông cất chúng đi. Clara và bạn em buồn rầu vì những món đồ chơi thú vị bị đem cất, nhưng “ông già Noel” đã dành một món quà khác cho cô đó là một con búp bê làm bằng gỗ hình chú lính kẹp hạt dẻ được dùng để làm nứt vỏ hạt như cách các cô bé xinh xắn người Việt vẫn cắn hạt dưa. Những đứa trẻ khác thì lờ đi nhưng Clara lại rất thích. “Ông già Noel” tặng nó cho cô nhưng cậu bạn cô bé lại cố tình làm gãy nó, vì thế cô rất buồn. “Ông già Noel” sửa nó lại cho cô và dặn hai đứa trẻ phải biết yêu quý quà tặng. Trong đêm thiêng mọi người đã ngủ yên, cô bé quay lại phòng khách thăm chú lính Kẹp Hạt Dẻ yêu quý. Lúc cô lên giường thì đồng hồ điểm lúc nửa đêm và cô nhìn thấy “Ông già Noel” đang ngồi trên đỉnh của chiếc đồng hồ. Đột nhiên, lũ chuột khổng lồ bắt đầu kéo đến. Cây Noel trở nên cao vút. Chú Kẹp Hạt Dẻ cũng vụt lớn lên. Clara bị kẹt giữa cuộc chiến của đội quân bánh quy gừng và lũ chuột nhắt dưới sự điều khiển của vua Chuột. Lũ chuột bắt đầu cắn binh lính bánh quy gừng. Kẹp Hạt Dẻ dẫn đầu đội quân bánh quy gừng cùng với sự giúp đỡ của những chú lính chì và y tá búp bê. Khi thấy vua Chuột chiếm ưu thế và Kẹp Hạt Dẻ bị thương, Clara đã ném giày vào vua Chuột giúp cho chú Kẹp Hạt Dẻ chiến thắng. Lũ chuột rút lui và Kẹp Hạt Dẻ hóa thành một chàng hoàng tử khôi ngô tuấn tú. Anh dẫn Clara đi qua vầng trăng sáng tới rừng thơm, cùng những bông tuyết nhảy múa xung quanh họ. Clara và Hoàng tử trong chiếc thuyền vỏ hạt dẻ được bầy cá heo kéo tới Vương quốc Bánh Kẹo, được cai quản bởi Tiên Nho khô cho tới khi Hoàng Tử trở về. Anh đã thuật lại chuyện Clara đã giúp anh thắng vua Chuột như thế nào. Clara được ca ngợi như một người anh hùng vì đã hóa giải được lời nguyền của vua Chuột đối với Hoàng tử Kẹp Hạt Dẻ. Một lễ hội ca múa nhạc mừng vui được tổ chức với muôn ngàn bánh kẹo ngon từ khắp mọi nơi trên khắp thế giới đổ về cô bé và Hoàng tử của mình được trao vương miện bánh kẹo trong niềm sung sướng hạnh phúc. Trút bỏ mọi mệt mỏi, cô tận hưởng hạnh phúc trong niềm vui hân hoan.

Xuân Diệu ông hoàng thơ tình sinh 2 tháng 2 năm 1916, mất ngày 18 tháng 12 năm 1985.  Di sản Xuân Diệu có trên 450 bài thơ (một số lớn nằm trong di cảo chưa công bố), một số truyện ngắn, nhiều bút ký, tiểu luận, phê bình văn học. Sinh thời Xuân Diệu từng nói: “Nhà văn tồn tại ở tác phẩm. Không có tác phẩm thì nhà văn ấy coi như đã chết.” Tác phẩm chính của Xuân Diệu gồm : Thơ thơ (1938, 1939, 1968, 1970);Gửi hương cho gió (1945, 1967); Ngọn Quốc kỳ (1945, 1961); Hội nghị non sông (1946); Dưới sao vàng (1949); Sáng (1953); Mẹ con (1954); Ngôi sao (1955); Riêng chung (1960); Mũi Cà Mau – Cầm tay (1962); Một khối hồng (1964); Hai đợt sóng (1967); Tôi giàu đôi mắt (1970); Hồn tôi đôi cánh (1976); Thanh ca (1982); Phần thông vàng (1939, truyện ngắn); Trường ca (1945, bút ký); Miền Nam nước Việt (1945, 1946, 1947, bút ký); Việt Nam nghìn dặm (1946, bút ký); Việt Nam trở dạ (1948, bút ký); Ký sự thăm nước Hung (1956, bút ký); Triều lên (1958, bút ký);  Tiểu luận phê bình Thanh niên với quốc văn (1945); Tiếng thơ (1951, 1954); Những bước đường tư tưởng của tôi (1958, hồi ký); Ba thi hào dân tộc (1959); Phê bình giới thiệu thơ (1960); Hồ Xuân Hương bà chúa thơ Nôm (1961); Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ (1961); Dao có mài mới sắc (1963); Thi hào dân tộc Nguyễn Du (1966); Đi trên đường lớn (1968); Thơ Trần Tế Xương (1970); Đọc thơ Nguyễn Khuyến (1971); Và cây đời mãi xanh tươi (1971); Mài sắt nên kim (1977); Lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy (1978); Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (tập I, 1981; tập II, 1982; Tìm hiểu Tản Đà (1982). Dịch thơ Thi hào Nadim Hitmet (1962); V.I. Lênin (1967); Vây giữa tình yêu (1968); Việt Nam hồn tôi (1974); Những nhà thơ Bungari (1978, 1985); Nhà thơ Nicôla Ghiđen (1982).Trong sự nghiệp sáng tác thơ văn của mình, Xuân Diệu được biết đến như là một nhà thơ lãng mạn trữ tình, “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh), “ông hoàng của thơ tình”. Xuân Diệu là thành viên của Tự Lực Văn Đoàn và cũng đã là một trong những chủ soái của phong trào “Thơ Mới”. Hai tập Thơ thơGửi hương cho gió được giới văn học xem như là hai kiệt tác ca ngợi tình yêu và sự sống, niềm vui và đam mê sống. Năm 1944, Xuân Diệu tham gia phong trào Việt Minh, đảng viên Việt Nam Dân chủ Đảng, sau tham gia Đảng Cộng sản. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông hoạt động trong Hội văn hóa cứu quốc, làm thư ký tạp chí Tiền phong của Hội. Sau đó ông công tác trong Hội văn nghệ Việt Nam, làm thư ký tòa soạn tạp chí Văn nghệ ở Việt Bắc. Xuân Diệu tham gia ban chấp hành, nhiều năm là ủy viên thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam.Từ đó, Xuân Diệu trở thành một trong những nhà thơ hàng đầu ca ngợi cách mạng, một “dòng thơ công dân”. Xuân Diệu từng là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I. Ông còn được bầu là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật nước Cộng hòa dân chủ Đức năm 1983. Ông đã được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học nghệ thuật (1996). “Thơ ông tài hoa, tinh tế và sang trọng” Trần Đăng Khoa đã viết về Xuân Diệu như vậy trong Chân dung và đối thoại; Xem tiếp Nhà văn tồn tại ở tác phẩm

XuanDieu

NHÀ VĂN TỒN TẠI Ở TÁC PHẨM

Hoàng Kim

Nhà văn tồn tại ở tác phẩm. Không có tác phẩm thì nhà văn ấy coi như đã chết.  Xuân Diệu (1916 1985) ông hoàng thơ tình, cây đại thụ của nền thi ca hiện đại Việt Nam đã nói như vậy. Với 69 mùa xuân, Xuân Diệu đã kịp trao lại cho đời một di sản văn chương thật đáng nể phục của một nhà văn trí tuệ bậc thầy với hơn 450 bài thơ, nhiều bút ký, tiểu luận, phê bình văn học và một số truyện ngắn.

Tác phẩm chính của Xuân Diệu gồm : Thơ thơ (1938, 1939, 1968, 1970);Gửi hương cho gió (1945, 1967); Ngọn Quốc kỳ (1945, 1961); Hội nghị non sông (1946); Dưới sao vàng (1949); Sáng (1953); Mẹ con (1954); Ngôi sao (1955); Riêng chung (1960); Mũi Cà Mau – Cầm tay (1962); Một khối hồng (1964); Hai đợt sóng (1967); Tôi giàu đôi mắt (1970); Hồn tôi đôi cánh (1976); Thanh ca (1982); Phần thông vàng (1939, truyện ngắn); Trường ca (1945, bút ký); Miền Nam nước Việt (1945, 1946, 1947, bút ký); Việt Nam nghìn dặm (1946, bút ký); Việt Nam trở dạ (1948, bút ký); Ký sự thăm nước Hung (1956, bút ký); Triều lên (1958, bút ký);  Tiểu luận phê bình Thanh niên với quốc văn (1945); Tiếng thơ (1951, 1954); Những bước đường tư tưởng của tôi (1958, hồi ký); Ba thi hào dân tộc (1959); Phê bình giới thiệu thơ (1960); Hồ Xuân Hương bà chúa thơ Nôm (1961); Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ (1961); Dao có mài mới sắc (1963); Thi hào dân tộc Nguyễn Du (1966); Đi trên đường lớn (1968); Thơ Trần Tế Xương (1970); Đọc thơ Nguyễn Khuyến (1971); Và cây đời mãi xanh tươi (1971); Mài sắt nên kim (1977); Lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy (1978); Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (tập I, 1981; tập II, 1982; Tìm hiểu Tản Đà (1982). Dịch thơ Thi hào Nadim Hitmet (1962); V.I. Lênin (1967); Vây giữa tình yêu (1968); Việt Nam hồn tôi (1974); Những nhà thơ Bungari (1978, 1985); Nhà thơ Nicôla Ghiđen (1982).[11]

Xuân Diệu trong sự nghiệp sáng tác thơ văn của mình, được biết đến như là một nhà thơ lãng mạn trữ tình, “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh), “ông hoàng của thơ tình”. Xuân Diệu là thành viên của Tự Lực Văn Đoàn và cũng đã là một trong những chủ soái của phong trào “Thơ Mới”. Hai tập Thơ thơGửi hương cho gió được giới văn học xem như là hai kiệt tác ca ngợi tình yêu và sự sống, niềm vui và đam mê sống. Năm 1944, Xuân Diệu tham gia phong trào Việt Minh, đảng viên Việt Nam Dân chủ Đảng, sau tham gia Đảng Cộng sản. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông hoạt động trong Hội văn hóa cứu quốc, làm thư ký tạp chí Tiền phong của Hội. Sau đó ông công tác trong Hội văn nghệ Việt Nam, làm thư ký tòa soạn tạp chí Văn nghệViệt Bắc. Xuân Diệu tham gia ban chấp hành, nhiều năm là ủy viên thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam. Từ đó, Xuân Diệu trở thành một trong những nhà thơ hàng đầu ca ngợi cách mạng, một “dòng thơ công dân”. Xuân Diệu từng là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I. Ông còn được bầu là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật nước Cộng hòa dân chủ Đức năm 1983. Ông đã được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học nghệ thuật (1996).

Thơ ông tài hoa, tinh tế và sang trọng”. Trần Đăng Khoa đã đánh giá về Xuân Diệu như vậy trong Chân dung và đối thoại.

Xuân Diệu là một nghệ sĩ lớn. Một nhà văn đích thực.

Nhà văn tồn tại ở tác phẩm”  Xuân Diệu đã nói như vậy. Tác phẩm đời ông là câu trả lời cho quan niệm sống của ông. Nguyễn Khải cũng quan niệm như vậy nhưng diễn đạt theo lối riêng “Tôi viết vậy thì tôi tồn tại! Viết văn không chỉ do nhu cầu kiếm sống, viết văn cũng không chỉ do những bức xúc khôn khuây của cá nhân, mà viết còn là mong muốn được trao trở về với cái vô hạn”.

Nhà văn tồn tại ở tác phẩm“. Xuân Diệu nói câu này không riêng cho nhà văn mà đối với nhà khoa học, nhà quản lý, nhà giáo… đều có thể tự chiêm nghiệm điều tương tự.

vochonggslevanto

CHUYỆN ĐỜI GIÁO SƯ LÊ VĂN TỐ.

Hoàng Kim

Giáo sư Lê Văn Tố là một người thầy hiền hậu, tài năng mà đời tôi may mắn được gần gũi, học hỏi và tôi thực sự kính trọng. Trong biết bao chuyện đời thường của thầy Tố, tôi thích “MỘT CHUYẾN ĐI ‘DỐI GIÀ’ VÀ NHỮNG SUY TƯ”, “LỊCH SỬ LOGO FCC”, “FOLI VÀ FOVINA”, “NHỮNG CÂU THƠ ĐỜI THƯỜNG ÁM ẢNH”, ít ảnh chọn lọc và chuyện vui “BẠN BÈ HỌC TRÒ ĐÙA THẦY TỐ”

Thầy Tố cùng quê Nghệ Tĩnh với cụ Nguyễn Công Trứ người đã tuyên ngôn sứ mệnh của kẻ quốc sĩ: “Đã mang tiếng ở trong trời đất. Phải có danh gì với núi sông” đối với người có học thực sự phải làm được điều gì đó ích lợi cho dân cho nước. Chuyện đời giáo sư Lê Văn Tố khơi dậy trong tôi sự thăm thẳm nhớ quê của một người con xa xứ và ước vọng tiếp tục hoàn thiện những công việc ân tình ích lợi cho tổ quốc quê hương. Chuyện đời thầy Tố cùng vợ về quê là câu chuyện không phải của riêng ai, chỉ là người trước người sau mà thôi, bạn cũng chẳng kiêng cử về hai chữ “dối già” vì thầy cô nay còn mạnh khỏe lắm, phải thọ đến trăm tuổi, nhưng một cuộc du xuân cùng vợ về quê là chuyện to. Thầy coi xong việc này như thảnh thơi xong một việc chính.

Mời bạn lắng nghe Thầy kể:

MỘT CHUYẾN ĐI “DỐI GIÀ” VÀ NHỮNG SUY TƯ

Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Lê Văn Tố

Bước vào tuổi 75 tôi muốn có cuộc du xuân “dối già” cùng vợ về quê.

Như có món nợ nào đó chưa trả xong khi bước sang thế giới khác, đầu óc tôi vẫn văng vẳng đâu đó câu ví dặm “ giận thì giận mà thương thì thương” tôi không giận ai cả. Chỉ biết giận mình vì tuy có một số sản phẩm được người tiêu dùng chấp nhận nhưng chưa có gì đóng góp cho quê hương. Có lẽ núm nhau mẹ chôn ở gốc tre bụi chuối nào đó nên quê hương vẫn sâu đậm trong lòng – mặc dầu li hương hơn 60 năm.

Không sâu đậm sao được đến như Le Breton thầy giáo của giáo sư Lê Thước ở trường quốc học Vinh đã không ngần ngại khi viết: “ông yêu xứ Nghệ và con người Nghệ Tĩnh”( Le vienx An-Tĩnh 1936, bản dịch của Trung Tâm văn hóa ngôn ngữ đông tây năm 2005). Có lẽ Le Breton vì hiểu và yêu xứ Nghệ nên mới để lại tác phẩm chân tình giàu tính văn học, sáng giá về khảo cổ học, sử học, am hiểu về địa chất Nghệ Tĩnh đến thế.

Để tiết kiệm thời gian, tôi liên hệ một số cơ sở du lịch và khách sạn 5 sao Mường Thanh Sông Lam ở Vinh thu xếp cho một chuyến du lịch cao cấp với hướng dẫn viên giàu tri thức, am hiểu địa danh các huyện Diễn Châu, Yên Thành, Nam Đàn, Thanh Chương, Hương Sơn, Hương Khê, theo đường 8 đến biên giới Lào- Việt. Yêu cầu đơn giản đó không được đáp ứng. Tôi thuê xe về quê nội, quê ngoại.

Hai quê qua bao thăng trầm nay đã được công nhận là di tích văn hóa lịch sử. Quê nội đời cố Lê Kim Ứng đã có công giúp phong trào Cần Vương và là nơi trú ngụ của gia đình cụ Nguyễn Sinh Sắc cùng 3 con sinh sống một thời gian thời thơ ấu. Phong cảnh và tình người chắc để lại trong lòng Bác Hồ những kĩ niệm khó quên nên khi Bác gặp tham tán quân sự Việt Nam tại Mạc Tư Khoa (người cùng quê) Bác còn hỏi thăm và khen là Nguyệt Bổng (tên cũ) đẹp.

Nhiều văn nghệ sĩ trong kháng chiến chống Pháp như Nguyễn Văn Tý, Trần Hoàn,…đã từng sinh sống tại quê tôi. Hồi nhỏ chúng tôi vẫn nghêu ngao “một chiều anh bước đi, em tiễn đưa anh ra tận cuối đồi, rằng kháng chiến còn trường kì là còn gian khổ”. Trần Hoàn đã bén duyên với người con gái quê tôi, trước lúc đi công tác xa đã để lại bài hát trên.

Khi vua Hàm Nghi bị bắt, phong trào Cần Vương đi vào thoái trào. Các sĩ phu Cần Vương cảm kích trước sự giúp đỡ của gia tộc Lê Kim Ứng đã nói : việc nước chưa thành, công ơn gia tộc chưa trả được chỉ mới chọn được miếng đất tốt để hai cụ an nghỉ lúc trăm tuổi với lòng mong mỏi gia tộc ngày càng hưng thịnh. Tôi không am hiểu phong thủy nhưng mộ Cố trên đồi cao vẫn hội đủ: tả thanh long, hữu bạch hổ có sông dài uốn lượn phía dưới.Tuổi già nhưng nhờ mấy trăm bậc đá cháu mới làm nên vẫn cố leo lên thắp hương Cố lần cuối.

Bên kia quả đồi là giếng Cửa Khâu nước chảy quanh năm từ lòng núi không bao giờ cạn với đàn cá tung tăng như cá thần Cẩm Thủy (Thanh Hóa). Chị em tôi lúc nhỏ hay phải gánh nước từ giếng Cửa Khâu về để mẹ làm tương ăn quanh năm, thổi xôi nếp rồng cúng giỗ…

Về quê nhiều lần hỏi về giếng Cửa Khâu, nếp rồng, bánh vo (làm từ bột gạo lức lúa nương) chỉ còn mấy người già còn nhớ. May thay lần này có người dẫn đường tìm lại được giếng Cửa Khâu khi trời vừa tối. Cảm động vô cùng bà con xúm lại. Người biếu chai rượu, kẻ chai tương được sản xuất từ nguồn nước giếng này. Đúng là món ngon nhớ đời. Không phải chỉ mình tôi mà biết bao người xứ Nghệ, khách thập phương từng sinh sống ở đây vẫn nhớ con cá mát kho tương, xôi nếp rồng, bánh vo… Nay chỉ còn trong kí ức người già!

Bù lại có món ngọn lang luộc xào tỏi mà các anh chị ở tòa soạn báo Kinh tế Sài Gòn, Sài Gòn Times khi chiêu đãi tôi ở thành phố Hồ Chí Minh thường nhắc đến nay đã trở thành món đặc sản nhưng phổ thông khắp thành Vinh. Ước gì ngọn lang, cá thu nướng Cửa Lò, gà đồi Nghệ An trở thành hàng hóa phổ biến ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh.

Nghệ An còn nổi tiếng với cam Xã Đoài. Lần này về quê, cố tìm đến vùng cam Xã Đoài để mua bằng được loại cam nổi tiếng ngọt, thơm, nguyên gốc về làm quà. Loại cam mà tôi đã từng được ăn, được chứng kiến người dân chăm sóc theo lối cổ truyền. Cũng gọi là cam Xã Đoài bán hiện nay nhưng sao quá nhiều nước và chua! Đường cao tốc vun vút qua xứ đạo năm xưa, khó tìm được người dân để hỏi đường. May gặp được người dắt trâu làm đồng về chỉ nói đơn giản: “Không cần hỏi ai cả cứ đi tiếp nhìn bên trái thấy nhiều tòa nhà, cổng thành kiên cố, đường bê tông dài bao quanh– cam Xã Đoài ở đó.

Có lẽ sau Tết hết mùa cam chỉ thấy hai quả cam đá to tướng trên tượng đài trước tòa dinh thự. Chợt nhớ tới ông Nguyễn Hữu Tiêu giám đốc nông trường Sông Con (Nghĩa Đan) . Chỉ còn một mắt vì gian truân của cuộc đời nhưng vẫn sáng nhìn xa trông rộng nên đã đưa cam Xã Đoài lên vùng đồi tạo nên thương hiệu cam Vinh nổi tiếng một thời làm mát lòng người dân miền Bắc, trong lúc khan hiếm hàng hóa của thời bao cấp.

Hi vọng sẽ còn dịp trở về thắp hương trên bàn thờ ông Tiêu ở Nghĩa Đàn với cam Xã Đoài thứ thiệt. Cam Xã Đoài mọc trên đất pha cát xung quanh nhà thờ Xã Đoài. Có lẽ cần đến vai trò xứ đạo để phát triển và giữ được thương hiệu loại cam quý giá này.

Viết đến đây tôi lại nhớ đến cố ngoại Phan Sĩ Thục được vua Tự Đức cử làm chánh sứ đến triều Thanh. Làm quan to trong triều nhưng khi lương, giáo tàn sát lẫn nhau, cố đã mở cửa nhà quan để giáo dân vào trú ẩn, góp phần hòa giải mâu thuẫn. Ngày nay con đường mang tên ông là một trong những con đường dẫn đến tượng đài Bác Hồ ở Vinh. Tôi thầm cảm ơn các anh chị lớp trước, phải “có tâm có tầm” mới cất giữ được bút phê của vua “Liêm như Thục” và ấn kiếm áo mũ vua ban cho đời sau (sách vua quan triều Nguyễn cũng đã ghi chép chuyện này).

Lần này về quê tôi còn gắng sức đến thắp hương mộ bà Hoàng Thị Loan trên đồi cao. Mát trời cảnh đẹp nhưng nhiều cụ già với lòng thành tâm chỉ ngồi dưới chân đồi. Giá có những chiếc cáng nhỏ để giúp các cụ! Con đường bậc thang lên đồi dốc chỉ có nước trà xanh và nước có gas nếu có củ sắn dây luộc trồng xung quanh đồi hoặc nước sắn dây sẽ thêm mát lòng người đến viếng… Nhà lưu niệm Nguyễn Du to rộng mênh mông nhưng sao vẫn thiếu tiếng ngâm Kiều của mẹ thuở nhỏ…

Quà về quê tôi chỉ có dịp mang theo cam Quỳ Hợp thay cho cam Xã Đoài và chai tương Cửa Khâu. Nếu có thêm cá thu nướng Cửa Lò đông lạnh hút chân không thì tốt biết bao. An ninh ở sân bay Vinh không cho tôi mang chai tương theo người nhưng sau khi biết tôi mang tương về để nghiên cứu phát triển sản xuất đã linh động cho qua. Về Sài Gòn kể chuyện mọi người khen an ninh có tâm và có tầm nhìn…

Chuyến đi dối già chỉ có mấy ngày nhưng có biết bao điều suy tư. Suy tư có thể đúng có thể sai nhưng vẫn là suy tư của người con xứ Nghệ xa quê.

GS. TSKH Lê Văn Tố

LỊCH SỬ LOGO FCC
The History of Logo FCC

Anh em ở cơ quan cũ FCC và tổng giám đốc FCC anh Trần Phương đến chơi và trao đổi với tôi viết lịch sử FCC để lưu lại và giáo dục truyền thống cho lớp trẻ mới vào . Tôi từ chối và nói : Đã gửi phòng lưu trữ cơ quan các tài liệu cũng như bút tích của ông Võ Văn Kiệt ,ông Phan Văn Khải và ông Nguyễn Văn Chính ( Chín Cần Bí Thư Trung Ương Đảng , Bộ Trưởng Bộ Lương Thực ). Cơ quan nếu cần thì dựa vào tài liệu đó cũng như đĩa CD cử người viết là xong. Nay tôi chỉ kể lịch sử Logo FCC để mọi người có thêm tài liệu: 

Việt Nam từ thiếu ăn bắt đầu xuất cảng gạo, hồi ấy chúng ta giành gạo tốt nhất để bán. Nước ngoài mua gạo 35% tấm Việt Nam về bán lại gạo có phẩm chất cao hơn. Thuộc chuyên môn của mình, tôi đề nghị nhà nước cho thành lập cơ quan giám định thứ 2 với tên giao dịch quốc tế là :Food Control Center (FCC) bên cạnh Vinacontrol. Với sự hợp tác chân thành , tránh phiền phức cho khách hàng FCC đã tới Vinacontrol bàn bạc, thống nhất quy trình làm việc và đưa các mẫu gạo chuẩn để giám định. Cán bộ FCC thắc mắc tại sao mẫu gạo chuẩn chỉ ghi tên Vinacontrol và Viện Nghiên Cứu Lương Thực, còn FCC ở đâu ?

Ở trong tim các anh và trên ngực các anh – Tôi trả lời và chỉ vào ngực áo đồng phục của mọi người có Logo FCC. Mình phục vụ tốt hết lòng với khách hàng sẽ tạo dần uy tín. FCC với đội ngũ chuyên môn của mình đã tới từng kho hàng tham gia chuẩn bị hàng xuất khẩu cho họ theo đúng hợp đồng đã kí đồng thời mời cơ quan giám định quốc tế OMIC-Nhật Bản đến giảng dạy và cộng tác chuyên môn. FCC dần dần đã tạo dựng được uy tín của mình với khách hàng trong và ngoài nước song song với việc đào tạo tuyển dụng nhân viên mới. Có lần doanh nghiệp phản ánh với chúng tôi anh H buổi đêm bắt doanh nghiệp đem xe về Sài Gòn ngủ để mai đến Long An làm việc tiếp. Thời đó đường sá đi lại rất khó khăn sau khi điều tra chúng tôi biết đó là sự thật lập tức cho nhân viên tạm thời nghỉ việc và hẹn lúc nào biết cách phục vụ khách hàng sẽ được làm việc tiếp. Nghề giám định có nhiều lúc cũng rất cân não và khó khăn. Lúc kiểm lô ý dĩ xuất cảng sang Nhật, tới cảng Yokohama họ trả lại vì nhiễm độc tố Aflatoxin vượt chuẩn. Với lề lối làm việc khoa học, FCC khẳng định với khách hàng nếu lỗi của mình, chúng tôi sẽ nhận trách nhiệm nhưng trước hết cần lấy mẫu lại để kiểm tra đồng thời kiểm tra mẫu lưu trữ để trong kho và gửi mẫu sang Băng Cốc, Tokyo. Có kết quả tương đồng, tôi tin rằng chúng tôi có lý và khuyên khách hàng về sấy khô lại sản phẩm đổi các công ten nơ khác, nếu Nhật họ yêu cầu thì mạnh dạn xuất hàng. Mọi việc êm xuôi, tôi cũng trút được gánh nặng thoát khỏi vòng số 8 vì tội cố ý làm trái.

Có lẽ ở Yokohama họ lấy mẫu không đúng cách không đại diện cho lô hàng nên có sai sót nói trên. Từ sự việc này dự án ACIAR đề nghị tôi và một chuyên gia Úc viết bài giảng về phương pháp lấy mẫu cho các trường đại học.

Không phải chỉ tranh luận với khách hàng nước ngoài mà còn tranh luận với hải quan nước nhà. Chúng ta có nhà máy xay bột mì hiện đại nhưng nếu nhập hạt mì về xay sát sẽ bị đánh thuế vì hải quan cho rằng hạt mì là đã qua xay xát (Vì hạt lúa mì sau thu hoạch đã rất bóng ). Thuyết phục không xong, tôi cho hạt mì ngâm ủ và nói nếu qua xay xát hạt mì sẽ không nảy mầm. Cuối cùng hải quan chấp nhận. Có lần chúng tôi mời cán bộ FAO đến chứng kiến lô dầu ăn viện trợ cho Việt Nam bị ôi mốc vì chất lượng kém. Họ tâm phục khẩu khục đổi cho ta lô dầu khác. FCC ngày càng phát triển được ủy quyền giám định không những chỉ hàng lương thực thực phẩm mà còn nhiều loại hàng hóa khác. Cái áo đã chật nhưng Logo FCC đã đi ra thế giới làm thế nào đây ? Động viên anh em tìm thêm một chữ C cho hợp với cái áo mới, từ đó có tên : Food & Commoditoes Control. FCC đã giữ vững và phát triển tên tuổi của mình hơn 30 năm nay nhưng 1 lần nữa chứng tỏ sự non yếu của tôi – 1 người chuyên về kỹ thuật lương thực thực phẩm chỉ nghĩ đến giám định thực phẩm mà thôi…

Khi được xây dựng trụ sở mới tôi bàn với anh em : Mình chưa đủ tài chính xây dưng tòa nhà 9 lầu thì chỉ xây dựng 4 lầu nhưng nền móng kết cấu đủ 9 lầu tránh đập phá lãng phí.

Về hưu đã lâu rất ít khi tới cơ quan nhưng mỗi lần đến để sinh hoạt khoa học hoặc giới thiệu sách khoa học mới của các bạn đồng nghiệp. Nhìn tòa nhà 9 tầng vươn cao giữa hàng me cổ thụ ( Hợp đồng giao hẹn với công ty xây dựng không được chặt me ) lòng tôi lại lâng lâng.”

GS.TSKH Lê Văn Tố

ThayTovachaoPOLI

FOLI VÀ FOVINA

Một phần tư thế kỉ trôi qua của sản phẩm nghiên cứu Foli

Xuất khẩu gạo còn tồn dư nhiều gạo gãy, tấm tốt. Tiếc quá, tôi bàn với anh em ta sản xuất cháo ăn liền được không ? Ăn liền nhưng tiền đâu nghiên cứu ? Anh em hỏi lại tôi ? Ra Hà Nội xin tiền nghiên cứu nhưng họ không tin vì cháo thì phải nấu nhừ chứ máy móc làm sao được? Biết tôi từ lâu nhưng họ vẫn trách yêu : Cậu sách vở nhiều quá thần kinh hay sao? Về lại Sài Gòn tôi gõ cửa giáo sư Hoàng Anh Tuấn (giám đốc sở khoa học, ủy viên ủy ban TP. HCM) xin tiền nghiên cứu. Ông cười bảo tôi : Đó không phải là lĩnh vực của tôi nhưng tôi tin anh về làm thủ tục đi.

Có 50 triệu cầm tay ( Hồi đó 50 triệu là to ) các kĩ sư của chúng tôi ra đặt xưởng CARIC thiết bị chịu áp lực làm Extruder. Họ từ chối. Thử dùng nòng súng đại bác cũ được không ? – Tôi bàn với anh em. Kĩ sư Lộc và bộ phận cơ khí đã làm được Extruder từ nòng súng đại bác và sau đó kĩ sư Bình, kĩ sư Châu làm Extruder cỡ nhỏ hơn. Cháo ăn liền ra đời bán chạy khắp toàn quốc. Uy tín của Viện được nâng cao. Sáng sớm dân xếp hàng dày đặc trước cơ quan chờ thùng cháo ăn liền về cho gia đình và bán lại kiếm lời. Anh em bảo tôi đặt tên cho xưởng cháo đi. Đi đâu họ cũng hỏi xưởng cháo ngượng lắm !

Xưởng FOLI được không ? Sao lại gọi là xưởng FOLI ?

FOLI là food ăn liền để liền mạch với sản phẩm PHOMI được sản xuất từ nguyên liệu phối lúa mì rất bổ dưỡng chuyển giao cho xí nghiệp xay lúa mì Bình Đông bán rất chạy nuôi sống được 60 công nhân đang thất nghiệp.

Sản phẩm đã bán chạy sẽ có người làm giả nên cần đăng kí bản quyền. Tên FOLI và Logo FOLI mang hình đầu gà từ đó vì sản phẩm ra đời năm Qúy Dậu ( 1993 ). Mặc dù vậy ở Hà Nội có cô giáo vì kế sinh nhai làm giả cháo ăn liền của chúng tôi. Công an hỏi ý kiến để xử lý. Tôi bàn với công an : Vì sinh kế cô giáo mới làm như vậy các anh chỉ cần khuyên họ nếu có điều kiện thì mở cơ sở sản xuất mới chứ không được lấy tên FOLI. Từ cháo ăn liền họ hàng của FOLI có thêm nhiều sản phẩm mới : Cơm gạo nứt ăn liền, cốm gạo lứt rong biển, chè đậu xanh ăn liền, cốm 5 loại đậu, xưởng đồ hộp di động, canh chua ăn liền …. Sản phẩm đã có mặt trên thị trường ¼ thế kỉ.

Hội nghị tổng kết ở cơ quan giám đốc sở khoa học bảo tôi lên trả lời câu hỏi tri thức Việt kiều : Tại sao các anh làm được Extruder trong giai đoạn hiện nay. Không giấu diếm tôi thú thật là chúng tôi phải dùng nòng súng đại bác để chế tạo và nói đùa thêm : Các anh khôn đã xuất biên chúng tôi ở lại vừa điên vừa khùng. Là đồ Nghệ tôi đã chơi chữ có người cho tôi là điên khùng, tiếng Pháp FOLIE là kẻ khùng điên.

Về hưu nhớ lời của nhà thơ Nga Eptusenco: Đừng chết trước lúc lìa đời. Còn khỏe và đang “ngứa nghề” tôi thành lập Pilot Plan cho mình tại nhà để sản xuất thực phẩm có lợi cho sức khỏe từ nguyên liệu tự nhiên với tên gọi FOVINA (Food Vital, Natural) như kem bổ sung Isoflavon, bánh Macca, bánh bổ sung các loại hạt dinh dưỡng bánh mì thanh long giữ được dài ngày cho người đi biển … công nhân vui mừng được ăn nghỉ đàng hoàng và sống bằng sản phẩm mình làm ra. Đó cũng là địa điểm thuận lợi để các nhà khoa học ngồi hàn huyên tâm sự thử sản phẩm mới“.

GS.TSKH Lê Văn Tố

Tôi đã trích dẫn nguyên văn ba câu chuyện trên trên trang FB của To Le Van để đọc và suy ngẫm, và sẽ còn quay lại trong nhiều dịp. Tôi tẩn mẫn in đậm các chữ chai tương. “FCC’ ‘POLI’  ‘FOVINA’ . Bill Gates vừa hôm qua chia sẻ thông tin What’s the secret to making great bread?  (‘Bí quyết để làm bánh mì tuyệt vời là gì?’) Câu hỏi của Bill Gates  dường như là một dấu lặng sâu xa cho ẩm thực và nông nghiệp, là một sự đồng cảm …

Chuyện đời của giáo sư Lê Văn Tố là bài học suy ngẫm. Thầy Tố gần tám mươi vẫn chưa dừng bước trên con đường di sản mang các giá trị ẩm thực Việt lan rộng và tỏa sáng. Con người của tâm huyết và thực tiễn là lặng lẽ dâng hiến. Đó là đức độ của một người Thầy.

chuyendoigslevanto
NHỮNG CÂU THƠ ĐỜI THƯỜNG ÁM ẢNH

Nhà thơ Trần Đăng Khoa thẩm thơ khá tinh tế “thơ hay là giản dị, xúc động, ám ảnh”. Anh Tư Hoàng Trung Trực của tôi, vị đại tá tư lệnh sư đoàn thời chống Mỹ, cũng thích kể chuyện đời bằng thơ vì theo anh kể chuyện thơ có hồn và dễ nhớ hơn. Anh đã viết hồi ức thơ “Dấu chân người lính” kể về những khốc liệt hi sinh gian khổ chiến trường, đối mặt sinh tử.Thầy Lê Văn Tố cũng vậy, thầy hồi tưởng chuyện đời của thầy bằng những câu thơ tuy mộc mạc đời thường nhưng thật ám ảnh.

NGOÀI THẤT TUẦN  VIẾT LÚC NỬA ĐÊM.

Lê Văn Tố

Mẹ nằm đó miên man trên giường bệnh.
Tóc trắng phau miệng mấp mấy mấy điều,
Chị nằm bên : “mẹ tỉnh hay mê ?”
Mẹ đi rồi thương ai nhiều nhất ?

Mẹ thều thào con nào đẻ chả thương,
Nhưng rồi mẹ lại vấn vương.
“Thương thằng Tố nhiều hơn con ạ !
Nó dành phần nuôi mẹ sớm chiều.

Con mẹ hiếu thảo đủ điều.
Nhưng phải xâm xiu, còn lo cho gia đình chúng nó…”
Nhớ lúc “bão tan” còn niêu đất nhỏ
Mẹ bảo : “Thổi nồi cháo – nhớ đổ nước cho nhiều”.

Ngô không có, khoai chẳng còn.
Còn gì đâu mà nổi lửa mẹ ơi !
Đêm đông gió giật từng hồi.
Hết cả rồi biết sống sao đây ?

Bán nốt con chó, bán cả cái vò
Có bữa câu được con tràu to.
Đổi gạo cháo no mấy bữa
Rồi lại co ro ngồi trên bậu cửa.

Con muốn bỏ học, mẹ không cho.
Bụng đói, rét co, nằm không chăn chiếu
Gốc sim già – lửa ấm được một bên.
Rồi mẹ lại lom khom lên núi xuống đồng

Không quản ngày đông, nắng hè cháy bỏng…
Mẹ gánh, mẹ gồng xộc xệch mòn vai
Mua mít tại nhà bổ bán ở chợ
Hột nhặt về – độn để con ăn

Đêm ngủ chiêm bao thấy mẹ hiện về.
Nghẹn ngào con viết vội vần thơ…

CHÂN ĐẤT THEO ANH

Lê Văn Tố

Hòa bình về Thủ Đô
Nghệ An còn đói khổ
Đưa em ra Kinh Đô
Dép Bác Hồ* nỏ có

Em lội bộ theo anh
Tính toán mãi loanh quanh
Mua đôi dép con hổ**
Em bước chân đi nhanh.

Hổ rình chân em cứa
Xách cọp đi theo mình
Lặng thinh em tiến bước.
Em tiến bước lặng thinh

Mấy con nhỏ phía trước
Ngoái cổ cười bảo nhau
Đi mau mặc kệ tau
Chân đau đi răng được ?

Rồi em tiến dài bước
Vượt qua mọi chông gai
Không dép lốp xâu quai
Nhưng có oai con hổ.

* Loại dép bằng lốp ôtô xâu quai.
** Loại dép nhựa tái chế rất cứng


NGƯỜI THÂN, BẠN VÀ HỌC TRÒ THẦY TỐ

Tôi nhẫn nha chép lại những chuyện đời quanh thầy Tố, vui có buồn có nhưng đến đây thì cứ vui. Sớm nay, tập thể dục xong, trước khi góp ý bài đăng báo khoa học kỹ thuật nông nghiệp cho nhỏ học trò, tôi lướt qua một chút các trang tin nóng trong ngày, suy tư hoài khi đọc bài “Tắc kẹt vì đâu?“”Ba hoa cái tôi, cái tội và cái tồi“”Thị trường thép thế giới: Tương lai không sáng sủa“. Biết bao chuyện nóng hổi mà kẻ sĩ không thể không lo nghĩ. Nhưng thôi, đến thăm thầy, xin được nói chuyện vui nhiều hơn chuyện buồn thì tốt hơn. Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi là tấm gương mẫu mực về sự phúc hậu, minh triết, tận tụy trên con đường xanh của chúng ta,  một người bạn thiết của thầy Tố, luôn quan tâm dặn dò giữ gìn sức khỏe.

Thầy Lê  Văn Tố cùng thời với những anh chị, bạn hữu “Nga học, Tây học”của thế hệ nông nghiệp đầu tiên nước Việt Nam mới. Nhiều người quen thân của thầy đã để lại những dấu ấn sâu đậm trong nông nghiệp, sinh học và giáo dục nghề nông như: GS. Lương Định Của (16 tháng 8 năm 1920 – 28 tháng 12 năm 1975), GS. Đào Thế Tuấn (4 tháng 7 năm 1931- 19 tháng 1 năm 2011), GS. Vũ Tuyên Hoàng (2 tháng 12 năm 1939 -26 tháng 2 năm 2008), PGS. Lưu Trọng Hiếu (-15 tháng 5 năm 2008), GS. Trần Thế Thông, GS. Nguyễn Văn Luật, GS. Mai Văn Quyền, GS.  Trịnh Xuân Vũ, GS. Ngô Kế Sương, PGS. Nguyễn Văn Uyển,   GS. Nguyễn Tử Siêm, … Quê hương, dòng họ, gia đình, người thân và bạn quý là nguồn sinh khí, điểm tựa cho mỗi cuộc đời và sự nghiệp.

Trong nhiều câu chuyện đời thường, tôi thích bài thơ của anh Võ Đức Tình viết về thầy Tố:

CÓ MỘT NƠI NHƯ THẾ

Võ Đức Tình

Mái nhà xưa hai trái tim vàng
Giản dị một đời chẳng cao sang
Chỉ lo đào tạo bao thế hệ
Kiến thức tinh hoa thật vững vàng
Nơi ấy vườn xanh rộn tiếng cười
Thuyền câu rong ruổi khắp muôn nơi
Đưa cá về ao: hàng lưu trữ
Đãi bạn bè xa đãi khách mời
Ăn xong về lại mái nhà xưa
Bánh nóng trà thơm suốt bốn mùa
Bè bạn gần xa đều thưởng thức
Xem thầy chế biến đã vừa chưa
Bạn hỏi rằng đâu đẹp thế này
Cảnh đẹp người vui chuyện đắm say
Nơi ấy bạn hiền thành tri kỷ
Cô Nga thầy Tố ” trực” đêm ngày


Duc Tinh Vo
friends with To Le Van

 

Vợ chồng giáo sư Lê Văn Tố và người thân 18 tháng 12 năm 2016

(còn tiếp…)

Hoàng Kim

 

ÁI CHÀ NGÀY MỚI VUI GHÊ

Hoàng Kim

Ái chà ngày mới vui ghê
Huỳnh Hồng, Van Tự thỏa thuê bạn hiền
Tâm, Sơn… cũng có mặt luôn
ADC nhóm bạn vàng cùng chơi.

Chúc mừng An De ngày vui
Thung dung Binh Phụng thảnh thơi Đông Hà.
Thầy Quyen thầy Vu đầy hoa.
An nhiên minh triết thầy ta thiệt tài…

Cụ Đỗ Hoàng say Rượu đời.
Bạn hiền Duy Quý gặp thời lúa lan.
Đường xuân thầy bạn lộc xuân.
Ban Mai ngày mới xa gần đều vui

(xem tiếp https://www.facebook.com/daihocnonglam/posts/10211188205242597?notif_id=1513567404886464&notif_t=like)

VẤN VƯƠNG

Đỗ Hoàng Phong

Giã bạn rồi mà vẫn ngóng theo
Thuyền vừa buông mái sóng xô theo
Người đi lãng đẵng qua sông suối
Kẻ ở buâng khuâng khuất núi đèo
Gặp gỡ đôi nơi chừng xế bóng
Đợi chờ hai ngả đã sang chiều
Đò đưa ai hẹn vào chung bến
Hỏi đến bao giờ mới thả neo?

Thơ và ảnh của cụ Đỗ Hoàng Phong​, sinh ngày 26 tháng 6 năm 1926, 70 năm tuổi Đảng, cán bộ tiền khởi nghĩa, đại danh thủ thơ Đường, tác giả Chiều Xuân Tình Quê, Nghĩa Hưng kháng chiến và nhiều tập thơ khác.

Cụ Đỗ Hoàng Phong là tác giả bài thơ

MỪNG THỌ CỤ NGUYỄN ĐỨC HÀ

Chín sáu mùa xuân ai bảo nhầm
Đối nhân xử thế đúng phương châm
Vắt ngang thế kỷ trồng cây đức
Xẻ dọc biên niên dệt chữ tâm
Dũng sĩ so tài không kém đức
Anh hùng đọ trí cũng ngang tầm
Huân chương nước tặng hồng trên ngực
Bách tuế ghi tên vẫn nhớ thầm.

(Đỗ Hoàng Phong​, 70 năm tuổi Đảng, cán bộ tiền khởi nghĩa, mến tặng)

Video yêu thích

http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính
Hoàng Kim, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Học mỗi ngày, Danh nhân Việt, Food Crops News, CassavaViet, foodcrops.vn,  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

Advertisements

Chào ngày mới 18 tháng 12


DoPhu
CNM365. Chào ngày mới 18 tháng 12. Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày 8-18 tháng 12 năm 757 – Thi Thánh Đỗ Phủ trở về kinh thành Trường An làm quan trong triều đình  Đường Huyền Tông, sau một thời gian lánh nạn loạn An Sử.  Đỗ Phủ (712770) là một nhà thơ Trung Quốc nổi bật thời nhà Đường, cùng với Lý Bạch, ông được coi là một trong hai nhà thơ vĩ đại nhất Trung Quốc. Đỗ Phủ được các nhà phê bình Trung Quốc gọi là Thi thánhThi sử do đức độ cao thượng và tài năng tuyệt vời. Tầm vóc các tác phẩm của ông sánh với Shakespeare, Victor Hugo. Cuộc đời Đỗ Phủ, giống như đất nước Trung Hoa bị loạn lạc chiến tranh giằng xé liên miên và điêu đứng tột cùng vì thường xuyên biến động. Xem người đẹp múa kiếm (1) là một trong những bài thơ nổi tiếng của “thi thánh” ca ngợi tài nghệ múa kiếm tuyệt luân của mỹ nhân Công Tôn Đại Nương, gợi cho người đời sau của Việt Nam nhớ đến bài thơ Thuật hoài đêm thanh mài kiếm của Đặng Dung. Tác phẩm của ông gây ảnh hưởng lớn đến văn hóa Trung QuốcNhật Bản. Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc có trích thơ Đỗ Phủ.


Pyotr Ilyich Tchaikovsky – The Nutcracker Ballet (Mariinsky Theatre)

Ngày 18 tháng 12 năm 1892 – kiệt tác Kẹp Hạt Dẻ của Tchaikovsky lần đầu tiên được công diễn tại Sankt-Peterburg, Nga. Pyotr Ilyich Tchaikovsky là một nhà soạn nhạc nổi tiếng người Nga thời kỳ âm nhạc lãng mạn. Tchaikovsky sáng tác các nhạc phẩm đậm chất Nga theo một lối rất riêng biệt ngân vang, sâu lắng, sự hòa hợp và giai điệu được phản ánh qua điệu nhạc, mặc dù ông không phải là thành viên của nhóm nhạc theo chủ nghĩa dân tộc “The Five“. Ông nổi tiếng vì đã biết kết hợp nhuần nhuyễn âm nhạc Nga với âm nhạc châu Âu, âm nhạc thành thị và nông thôn. Kiệt tác Kẹp Hạt Dẻ là vở ba lê, một trong những tác phẩm thành công nhất của Tchaikovsky hiện được công diễn nhiều nơi trên thế giới, chủ yếu vào dịp Giáng Sinh, nhất là ở Mỹ[2]: Những công ty ba lê chính của Mỹ thu 40% lợi nhuận hàng năm từ những vở kịch Kẹp Hạt Dẻ. Câu chuyện kể về một đêm Giáng sinh, gia đình cùng khách mời tụ họp trong phòng khách để trang trí cây thông Noel. Sau khi cây thông trang trí xong, bọn trẻ bước vào. Chúng ngẩn ngơ nhìn cây Noel lấp lánh với nến và đồ trang trí. Lễ hội bắt đầu. Người người đi diễu hành. Quà được phát tặng cho bọn trẻ. Khi chiếc đồng hồ con cú điểm tám giờ, một nhân vật bí ẩn bất ngờ bước vào căn phòng. Đó là “ông già Noel” cha đỡ đầu của bé Clara. Ông rất giỏi trong việc chế tạo đồ chơi và đã đem theo nhiều món quà cho lũ trẻ, bao gồm bốn con búp bê biết nhảy múa vui mắt. Sau đó ông cất chúng đi. Clara và bạn em buồn rầu vì những món đồ chơi thú vị bị đem cất, nhưng “ông già Noel” đã dành một món quà khác cho cô đó là một con búp bê làm bằng gỗ hình chú lính kẹp hạt dẻ được dùng để làm nứt vỏ hạt như cách các cô bé xinh xắn người Việt vẫn cắn hạt dưa. Những đứa trẻ khác thì lờ đi nhưng Clara lại rất thích. “Ông già Noel” tặng nó cho cô nhưng cậu bạn cô lại cố tình làm gãy nó, vì thế cô rất buồn. “Ông già Noel” sửa nó lại cho cô và dặn hai đứa trẻ phải biết yêu quý quà tặng. Trong đêm thiêng mọi người đã ngủ yên, cô bé quay lại phòng khách thăm chú lính Kẹp Hạt Dẻ yêu quý. Lúc cô lên giường thì đồng hồ điểm lúc nửa đêm và cô nhìn thấy “Ông già Noel” đang ngồi trên đỉnh của chiếc đồng hồ. Đột nhiên, lũ chuột khổng lồ bắt đầu kéo đến. Cây Noel trở nên cao vút. Chú Kẹp Hạt Dẻ cũng vụt lớn lên. Clara bị kẹt giữa cuộc chiến của đội quân bánh quy gừng và lũ chuột nhắt dưới sự điều khiển của vua Chuột. Lũ chuột bắt đầu cắn binh lính bánh quy gừng. Kẹp Hạt Dẻ dẫn đầu đội quân bánh quy gừng cùng với sự giúp đỡ của những chú lính chì và y tá búp bê. Khi thấy vua Chuột chiếm ưu thế và Kẹp Hạt Dẻ bị thương, Clara đã ném giày vào vua Chuột giúp cho chú Kẹp Hạt Dẻ chiến thắng. Lũ chuột rút lui và Kẹp Hạt Dẻ hóa thành một chàng hoàng tử khôi ngô tuấn tú. Anh dẫn Clara đi qua vầng trăng sáng tới rừng thơm, cùng những bông tuyết nhảy múa xung quanh họ. Clara và Hoàng tử trong chiếc thuyền vỏ hạt dẻ được bầy cá heo kéo tới Vương quốc Bánh Kẹo, được cai quản bởi Tiên Nho khô cho tới khi Hoàng Tử trở về. Anh đã thuật lại chuyện Clara đã giúp anh thắng vua Chuột như thế nào. Clara được ca ngợi như một người anh hùng vì đã hóa giải được lời nguyền của vua Chuột đối với Hoàng tử Kẹp Hạt Dẻ. Một lễ hội ca múa nhạc mừng vui được tổ chức với muôn ngàn bánh kẹo ngon từ khắp mọi nơi trên khắp thế giới đổ về cô bé và Hoàng tử của mình được trao vương miện bánh kẹo trong niềm sung sướng hạnh phúc. Trút bỏ mọi mệt mỏi, cô tận hưởng hạnh phúc trong niềm vui hân hoan.

Xuan Diệu
Ngày 18 tháng 12 năm 1985 là ngày mất của  Xuân Diệu,  ông hoàng thơ tình, cây đại thụ của nền thi ca hiện đại Việt Nam Ông sinh 2 tháng 2 năm 1916.  Di sản Xuân Diệu có trên 450 bài thơ (một số lớn nằm trong di cảo chưa công bố), một số truyện ngắn, nhiều bút ký, tiểu luận, phê bình văn học. Sinh thời Xuân Diệu từng nói: “Nhà văn tồn tại ở tác phẩm. Không có tác phẩm thì nhà văn ấy coi như đã chết.” Tác phẩm chính của Xuân Diệu gồm : Thơ thơ (1938, 1939, 1968, 1970);Gửi hương cho gió (1945, 1967); Ngọn Quốc kỳ (1945, 1961); Hội nghị non sông (1946); Dưới sao vàng (1949); Sáng (1953); Mẹ con (1954); Ngôi sao (1955); Riêng chung (1960); Mũi Cà Mau – Cầm tay (1962); Một khối hồng (1964); Hai đợt sóng (1967); Tôi giàu đôi mắt (1970); Hồn tôi đôi cánh (1976); Thanh ca (1982); Phần thông vàng (1939, truyện ngắn); Trường ca (1945, bút ký); Miền Nam nước Việt (1945, 1946, 1947, bút ký); Việt Nam nghìn dặm (1946, bút ký); Việt Nam trở dạ (1948, bút ký); Ký sự thăm nước Hung (1956, bút ký); Triều lên (1958, bút ký);  Tiểu luận phê bình Thanh niên với quốc văn (1945); Tiếng thơ (1951, 1954); Những bước đường tư tưởng của tôi (1958, hồi ký); Ba thi hào dân tộc (1959); Phê bình giới thiệu thơ (1960); Hồ Xuân Hương bà chúa thơ Nôm (1961); Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ (1961); Dao có mài mới sắc (1963); Thi hào dân tộc Nguyễn Du (1966); Đi trên đường lớn (1968); Thơ Trần Tế Xương (1970); Đọc thơ Nguyễn Khuyến (1971); Và cây đời mãi xanh tươi (1971); Mài sắt nên kim (1977); Lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy (1978); Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (tập I, 1981; tập II, 1982; Tìm hiểu Tản Đà (1982). Dịch thơ Thi hào Nadim Hitmet (1962); V.I. Lênin (1967); Vây giữa tình yêu (1968); Việt Nam hồn tôi (1974); Những nhà thơ Bungari (1978, 1985); Nhà thơ Nicôla Ghiđen (1982).[11] Trong sự nghiệp sáng tác thơ văn của mình, Xuân Diệu được biết đến như là một nhà thơ lãng mạn trữ tình, “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh), “ông hoàng của thơ tình”. Xuân Diệu là thành viên của Tự Lực Văn Đoàn và cũng đã là một trong những chủ soái của phong trào “Thơ Mới”. Hai tập Thơ thơGửi hương cho gió được giới văn học xem như là hai kiệt tác ca ngợi tình yêu và sự sống, niềm vui và đam mê sống. Năm 1944, Xuân Diệu tham gia phong trào Việt Minh, đảng viên Việt Nam Dân chủ Đảng, sau tham gia Đảng Cộng sản. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông hoạt động trong Hội văn hóa cứu quốc, làm thư ký tạp chí Tiền phong của Hội. Sau đó ông công tác trong Hội văn nghệ Việt Nam, làm thư ký tòa soạn tạp chí Văn nghệViệt Bắc. Xuân Diệu tham gia ban chấp hành, nhiều năm là ủy viên thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam.Từ đó, Xuân Diệu trở thành một trong những nhà thơ hàng đầu ca ngợi cách mạng, một “dòng thơ công dân”. Xuân Diệu từng là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I. Ông còn được bầu là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật nước Cộng hòa dân chủ Đức năm 1983. Ông đã được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học nghệ thuật (1996). “Thơ ông tài hoa, tinh tế và sang trọng” Trần Đăng Khoa đã đánh giá về Xuân Diệu như vậy trong Chân dung và đối thoại.

18 tháng 12

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày 18 tháng 12 là ngày thứ 352 (353 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 13 ngày trong năm.

« Tháng 12 năm 2015 »
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31

Mục lục

Sự kiện

Người sinh

Người chết

Những ngày lễ và kỷ niệm

  • Ngày Người di cư Quốc tế (International Migrants Day)
Tháng 1 | Tháng 2 | Tháng 3 | Tháng 4 | Tháng 5 | Tháng 6 | Tháng 7 | Tháng 8 | Tháng 9 | Tháng 10 | Tháng 11 | Tháng 12

Tham khảo