Chào ngày mới 3 tháng 3


206ThoiLe LeThanhTong.jpg
CNM365. Chào ngày mới 3 tháng 3. Wikipedia Ngày này năm xưa. Năm 1497 – ngày mất của  Lê Thánh Tông, vị vua thứ năm của nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam (sinh năm 1442). Năm 1575 – Hoàng đế Mogul Akbar Đại đế đánh bại quân đội Bengal trong Trận Tukaroi. Năm 1968Chiến tranh Việt Nam: Kết thúc trận Mậu Thân tại Huế với thắng lợi chiến thuật thuộc về Việt Nam Cộng hòaHoa Kỳ song nó mang lại sự đổ vỡ tâm lý và chính trị lớn nhất cho Hoa Kỳ. xem tiếp …

Thơ Nguyễn Trãi đọc lúc ban mai tại non thiêng Yên Tử

TÂM SÁNG ỨC TRAI TRONG TỰA NGỌC

Hoàng Kim

CNM365. Tâm sáng Ức Trai trong tựa ngọc. Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo là câu thơ của vua  Lê Thánh Tông, bậc minh quân, vị vua thứ năm của nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam  đã xóa vụ án oan sai cho Nguyễn Trãi, bậc khai quốc công thần hiền tài lỗi lạc của nhà Hậu Lê, người anh hùng dân tộc, nhà chính trị kiệt xuất và danh nhân văn hóa, đã bị tru di tam tộc cùng với Nguyễn Thị Lộ và toàn bộ gia quyến do bị khép vào âm mưu thí nghịch trong vụ án Lệ Chi Viên.  Lê triều bí sử do những ẩn khuất nên vua Lê Thánh Tông không xử lý đến tận cùng. Nỗi oan “anh hùng di hận kỷ thiên niên”. Bài này là nén hương tưởng niệm.

Nguyễn Trãi – 573 năm sau vụ án Lệ Chi Viên,(1442 – 2015) lịch sử Việt Nam vẫn còn đó nợ câu hỏi: Nguyễn Trãi vì sao chết thảm trong vụ án Lệ Chi Viên mà không tự biện hộ được cho mình?” trong khi ông là người có công rất lớn với nước với dân, đức độ tài trí kiệt xuất, tại triều đình lúc ông nghỉ hưu vẫn có rất nhiều học trò, bạn hữu. Điều oan khuất gì bịt miệng Nguyễn Trãi, triều thần và công luận làm cho “anh hùng di hận kỷ thiên niên”?

Năm 1464, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho Nguyễn Trãi: “Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo” (Lòng Ức Trai sáng như sao Khuê). Ở thế kỉ 20, thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đánh giá: “Nguyễn Trãi, người anh hùng của dân tộc, văn võ song toàn; văn là chính trị: chính trị cứu nước, cứu dân, nội trị ngoại giao “mở nền thái bình muôn thủa, rửa nỗi thẹn nghìn thu”; võ là quân sự : chiến lược và chiến thuật, “yếu đánh mạnh, ít địch nhiều … thắng hung tàn bằng đại nghĩa”; văn và võ đều là võ khí, mạnh như vũ bão, sắc như gươm đao… Thật là một con người vĩ đại về nhiều mặt trong lịch sử nước ta.”

Trước bình minh, trên đỉnh non thiêng Yên Tử, nhìn sắc trời lồng lộng trong nắng mai, đọc kỹ lại bài thơ Yên Tử của Ức Trai, và những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi, tôi tự mình giải đáp được nhiều điều vương vấn trước câu hỏi: “Nguyễn Trãi vì sao chết thảm mà không tự biện hộ được cho mình trong vụ vụ án Lệ Chi Viên ?”. Tôi thấm thía và thấu hiểu sâu thêm “tâm sáng Ức Trai trong tựa ngọc”.

Trước hết, sự tóm tắt về Nguyễn Trãi thân thế và sự nghiệp. Nguyễn Trãi, hiệu là Ức Trai, sinh năm 1380 mất ngày 19 tháng 9 năm 1442, là vị quan thời nhà Hồ và là công thần khai quốc nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam. Ông quê gốc ở làng Chi Ngại huyện Phượng Sơn lộ Lạng Giang thời nhà Trần (nay là phường Cộng Hòa thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương)[3]. Nguyễn Trãi có cha là Nguyễn Phi Khanh, một nho sĩ hay chữ nhưng nghèo và mẹ là Trần Thị Thái, con gái thứ ba[4] của quan Tư đồ Trần Nguyên Đán[5]. Nguyễn Phi Khanh dạy Trần Thị Thái, nhân gần gũi mà làm Thái có thai rồi bỏ trốn. Trần Nguyên Đán cho gọi Nguyễn Phi Khanh về gả con gái cho, sinh ra Nguyễn Trãi. Sau đó, Nguyễn Phi Khanh thi đỗ nhưng vua Trần Nghệ Tông bỏ không dùng. Nguyễn Phi Khanh chuyển cư về làng Nhị Khê (nay là xã Nhị Khê huyện Thường Tín Hà Nội). Nguyễn Phi Khanh và Trần Thị Thái có với nhau năm người con theo thứ tự là Nguyễn Trãi, Nguyễn Phi Báo, Nguyễn Phi Ly, Nguyễn Phi Bằng và Nguyễn Phi Hùng[9] . Ở Nhị Khê, Nguyễn Trãi  và các em được cha rèn cặp chu đáo. Nguyễn Trãi rất ham học, mặc dù thanh bần nhưng ông nổi tiếng là người có kiến thức rộng về nhiều mặt. Ít lâu sau, bà Trần Thị Thái qua đời, anh em Nguyễn Trãi phải nương nhờ ông ngoại là Trần Nguyên Đán nhưng đến năm 1390 khi Trần Nguyên Đán mất thì Nguyễn Phi Khanh phải một mình nuôi con. Năm 1400, Hồ Quý Ly phế truất vua Trần Thiếu Đế và thành lập nhà Hồ. Cũng năm đó, nhà Hồ mở khoa thi và Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh, đứng thứ tư[12], được trao chức Ngự sử đài Chính chưởng. Nguyễn Phi Khanh cũng ra làm quan, làm đến chức Hàn Lâm viện học sĩ kiêm Tư nghiệp Quốc Tử Giám[13]. Năm 1407, Minh Thành Tổ phái Trương Phụ đem quân xâm lược nước Đại Ngu, nhà Hồ kháng chiến thất bại, Hồ Quý Ly cùng nhiều triều thần trong đó có Nguyễn Phi Khanh bị bắt và bị đem về Trung Quốc, Sau khi Việt Nam bị rơi vào sự cai trị của nhà Minh, Nguyễn Trãi có 10-15 năm phiêu dạt từ năm 1407 đến năm 1417 hoặc 1422 thì vào yết kiến Lê Lợi ở Lỗi Giang. Ông dâng Bình Ngô sách và trở thành quân sư chuyên bày tính mưu kế, viết thư thảo hịch, văn thư ngoại giao với quân Minh. Nguyễn Trãi trở thành cánh tay phải của chủ tướng Lê Lợi, Ông cùng với Trần Nguyên Hãn người đứng đầu võ tướng của Nhà Hậu Lê (là anh em thân tộc: mẹ của Trần Nguyên Hãn là em ruột của bà Trần Thị Thái mẹ của Nguyễn Trãi) là trụ cột về chính trị, quân sự, ngoại giao của Nhà Hậu Lê. Năm 1442, toàn thể gia đình Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc trong vụ án Lệ Chi Viên. Trước đó, vào tháng 2 năm 1429, vua ban chiếu bắt giam Thái úy hữu tướng quốc Trần Nguyên Hãn, Hãn liền tự sát [44] . Năm 1464, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho ông. Nguyễn Trãi là một nhà văn hoá lớn, có đóng góp to lớn vào sự phát triển của văn học và tư tưởng Việt Nam. Ông nằm trong danh sách 14 anh hùng dân tộc Việt Nam.

Tóm tắt vụ án Lệ Chi Viên:  Tháng 9 năm 1442, vua Lê Thái Tông đi tuần ở miền Đông [58]. Ngày 1 tháng 9 năm 1442, sau khi nhà vua duyệt binh ở thành Chí Linh, Nguyễn Trãi đón Lê Thái Tông đi thuyền vào chơi chùa Côn Sơn. Khi trở về Đông Kinh, cùng đi với vua có Nguyễn Thị Lộ, một người thiếp của Nguyễn Trãi khi ấy đã vào tuổi 40[1] được vua Lê Thái Tông yêu quý vì sự xinh đẹp, có tài văn chương, luôn được vào hầu bên cạnh vua. Ngày 7 tháng 9 năm 1442, thuyền về đến Lệ Chi Viên[e] vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ [2][3] rồi băng hà, lúc này ông mới 20 tuổi[3]. Các quan giấu kín chuyện này, nửa đêm ngày 9 tháng 9 năm 1442 về đến Đông Kinh mới phát tang. Triều đình qui tội Nguyễn Thị Lộ giết vua, bèn bắt bà và Nguyễn Trãi, khép hai người vào âm mưu thí nghịch. Ngày 19 tháng 9 năm 1442 (tức ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất), Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc.

Ngày 16, giết Hành khiển Nguyễn Trãi và vợ là Nguyễn Thị Lộ, bắt tội đến ba họ.
— Đại Việt sử ký toàn thư, quyển XI

Ba nguyên nhân sâu xa mà Nguyễn Trãi với Nguyễn Thị Lộ và toàn bộ gia quyến đã bị tru di tam tộc do bị khép vào âm mưu thí nghịch trong vụ án Lệ Chi Viên. Đó là: Sự tranh đoạt ngôi vua; Thủ đoạn thâm hiểm của Nhà Minh; Sự băng hoại của triều chính.

1) Sự tranh đoạt ngôi vua

Vụ án vườn Lệ Chi đến nay đã sáng tỏ nhiều tình tiết. Theo nhà văn và là nhà văn hóa Trần Hữu Đản với nhà văn Trần Quốc Hải trong sách “Trắng án Nguyễn Thị Lộ” cùng với một số nhà nghiên cứu sử Việt Nam như Phan Duy Kha, Lã Duy Lan, Đinh Công Vĩ, trong tác phẩm “Nhìn lại lịch sử”, cho rằng chủ mưu vụ án chính là Nguyễn Thị Anh[5], vợ thứ vua Lê Thái Tông.  Nguyễn Thị Anh là hoàng hậu nhưng ngoại tình và có con riêng là Thái tử Lê Bang Cơ (tức vua Lê Nhân Tông), đó không phải là con vua Lê Thái Tông[6] nay nhân lúc vua đi tuần thú đã mưu sát vua Thái Tông vì sợ chuyện xấu lộ ra ngoài, rồi đổ tội cho vợ chồng Nguyễn Trãi, nhằm một mũi tên đạt ba đích.

Vua Lê Thái Tông lúc mất mới 20 tuổi nhưng trước khi mất vua đã có 4 con trai. Con lớn nhất là Lê Nghi Dân, con thứ hai là Khắc Xương, con thứ ba là Bang Cơ (Lê Nhân Tông sau này), con thứ tư là Tư Thành (Lê Thánh Tông sau này). Vì các hoàng tử đều còn quá nhỏ (chỉ chênh nhau một vài tuổi) nên việc tranh chấp ngôi thái tử xảy ra giữa các bà vợ vua Thái Tông. Nguyễn Thị Anh là mẹ của Bang Cơ.

Nghi Dân là con lớn nhất vốn đã được lập làm thái tử dù còn rất nhỏ. Nhưng sau đó Nguyễn Thị Anh được vua sủng ái nên năm 1441 vua truất ngôi của Nghi Dân mà lập Bang Cơ. Bà mẹ của Khắc Xương vốn không được vua sủng ái nên không thể tranh chấp ngôi thái tử. Tuy nhiên, nhiều người trong triều dị nghị rằng, Nguyễn Thị Anh đã có thai trước khi vào cung và Bang Cơ không phải là con vua Thái Tông[6]. Cùng lúc đó, một bà phi khác của vua là Ngô Thị Ngọc Dao lại có mang sắp sinh. Nguyễn Thị Anh sợ chuyện bại lộ thì ngôi lớn sẽ thuộc về con bà Ngọc Dao nên tìm cách hại bà Ngọc Dao[7]. Bà này được vợ chồng Nguyễn TrãiNguyễn Thị Lộ hết sức che chở, mang đi nuôi giấu và sinh được hoàng tử Lê Tư Thành năm 1442.

Biết bà Ngọc Dao đã sinh con trai mà ngày càng nhiều người đồn đại về dòng máu của Bang Cơ, nhân lúc con mình còn đang ở ngôi đương kim thái tử, Nguyễn Thị Anh chủ động ra tay trước[7]. Nhân dịp vua Thái Tông về thăm Nguyễn Trãi, sợ Nguyễn Trãi gièm pha mình và nói tốt cho Tư Thành nên bà sai người sát hại vua Thái Tông rồi đổ tội cho vợ chồng Nguyễn Trãi[7].

Sau khi vua mất, Bang Cơ lên ngôi, Nguyễn Thị Anh được làm thái hậu, nắm quyền trị nước. Nguyễn Trãi không thể biện bạch cho sự oan uổng của mình và phải chịu án tru di tam tộc.

Theo sử sách, ngày 9 tháng 9 (âm lịch) năm Nhâm Tuất (1442), chỉ vài ngày sau khi hành hình gia đình Nguyễn Trãi, triều đình (thực ra chính là thái hậu Nguyễn Thị Anh nhiếp chính thay con[8]), ra lệnh giết hai hoạn quan Đinh Phúc, Đinh Thắng vì trước khi chết Nguyễn Trãi có nói là “hối không nghe lời của Thắng và Phúc[2]. Các nhà nghiên cứu nói trên cho rằng chính Đinh Phúc, Đinh Thắng là những người khuyên Nguyễn Trãi sớm tố cáo Nguyễn Thị Anh với vua Thái Tông[7]. Do đó để diệt khẩu, bà sai giết hai người này.

Thân thế của Lê Nhân Tông dù thực hay hư, ông có phải con của vua Lê Thái Tông hay không nhưng cũng như Tần Thủy Hoàng, ngôi chính của ông đã định, bởi thế những người phản lại như Lê Nghi Dân nhà Lê hay tướng Phàn Ô Kỳ nước Tần vẫn bị coi là “nghịch”, là trái lẽ. Năm Kỷ Mão (1459), con trưởng của vua Thái Tông là Lê Nghi Dân lấy lý do để làm binh biến giết hai mẹ con Nguyễn Thị Anh. Trong bài chiếu lên ngôi, Nghi Dân nói rõ: “… Diên Ninh [Nhân Tông] tự biết mình không phải là con của tiên đế [Thái Tông]…[2] 

2) Thủ đoạn thâm hiểm của Nhà Minh

Nhà Minh cai trị Trung Quốc trong 276 năm (từ 1368 đến 1644) luôn nhất quán chính sách đối ngoại dòm ngó, chia rẽ, cướp nước Đại Việt và các vùng đất phương Nam. Hoàng đế Hồng Vũ Chu Nguyên Chương (1368-1398) diệt Trần Hữu Lượng, thôn tính Bách Việt ở vùng Giang Nam phía nam sông Trường Giang. Minh Thành Tổ Chu Đệ, cướp ngôi của cháu ruột là Kiến Văn Đế và tiếp nối chính sách quân sự ngoại giao của Chu Nguyên Chương mở rộng bờ cõi về phương Nam. Năm 1407, Minh Thành Tổ với chính sách quỷ quyệt “lập Trần cầm Hồ” xua quân xâm lược Đại Ngu, mở đầu thời kỷ Bắc thuộc lần thứ tư trong lịch sử Việt Nam, Đến năm 1428, quân Minh bị Lê Lợi và Nguyễn Trãi cùng quân dân Đại Việt đánh đuổi; năm 1431 nước Đại Việt dưới thời nhà Hậu Lê được công nhận là một quốc gia độc lập nhưng buộc phải tấu trình là “hậu duệ nhà Trần không còn ai”  và phải triều cống, nhận làm “phên dậu”, chư hầu của Nhà Minh.

Nhà Hậu Lê muốn chính danh nên tìm cớ triệt hạ hậu duệ Nhà Trần. Nguyễn Trãi đứng đầu văn quan, Trần Nguyên Hãn đứng đầu võ tướng của Nhà Hậu Lê. Hai bậc anh hùng này đều là hậu duệ Nhà Trần, là dòng dõi của Tư đồ Trần Nguyên Đán. Thủ đoạn chia rẽ, gây áp lực thường xuyên của Nhà Minh lên tính chính danh của triều đại nhà Hậu Lê, đã gây nên mối họa tiềm tàng cho Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn và những hậu duệ của Nhà Trần. Kế hiểm này của Nhà Minh và những kẻ ác độc mưu hại Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn đã làm bịt miệng những người chính trực không thể và không dám xả thân can gián, ngăn chặn sự hiểm ác của những kẻ làm lung lạc công luận trước con người yêu nước thương dân và tài trí như Nguyễn Trãi không thể biện hộ cho mình. 

Bình Ngô đại cáo là bài cáo của Nguyễn Trãi thay lời Bình Định vương Lê Lợi để tuyên cáo vào mùa xuân năm 1428, kết thúc cuộc kháng chiến chống Minh, giành lại độc lập cho Đại Việt. Bình Ngô đại cáo được người đương thời và hậu thế ca ngợi là thiên cổ hùng văn, là tuyên ngôn độc lập của Việt Nam. Toàn bộ văn bản Bình Ngô đại cáo (1) và 5 bài thơ trích trong những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi (2) là những chứng cứ rất quan trọng để soi thấu những uẩn khúc và minh oan cho Người trao lại cho hậu thế .

3) Sự băng hoại của triều chính.

Trong cuốn “Ngọc phả họ Đinh” do công bộ thượng thư Đinh Công Nhiếp, con trai đầu của thái sư Đinh Liệt, có một số bài thơ do Đinh Liệt viết[9] có liên quan đến vụ án Lệ Chi Viên. Tài liệu này là căn cứ chính cho các nhà nghiên cứu  đã tham khảo gia phả dòng họ Đinh là con cháu của công thần Đinh Liệt nhà Hậu Lê và phát hiện nhiều bài thơ của chính Đinh Liệt để lại (được công bố trong “Nhìn lại lịch sử” của họ). Bài thơ được viết bằng chữ Hán nhưng viết theo kiểu ẩn ý, dùng phép nói lái để người đọc suy đoán rằng: Thái tử Lê Bang Cơ (tức vua Lê Nhân Tông) không phải là con vua Lê Thái Tông[6].

Bài thơ Nôm nhận xét về Lê Thái Tông:

Tống Thai dáng dấp một anh quân
Đắc sắc say chơi biếng kiệm cần
Hoạ tự trong nhà nhô đầu mọc|
Di căn bệnh hoạn hại cho thân

Trong bài này Đinh Liệt buộc phải dùng phép nói lái: Tống Thai tức là Thái Tông Lê Nguyên Long. Vua là một “anh quân” khi vì ông biết ngăn ngừa cường thần, dẹp phiên trấn, sùng nho, mở thi cử, song lại quá ham tửu sắc. Về “hoạ tự trong nhà”, Đinh Liệt có bài thơ:

Nhung tân lục cá nguyệt khai hoa
Bất thức hà nhân chủng bảo đa
Chủ kháo Tống khai vi linh dược
Cựu binh tân tửu
thịnh y khoa

“Nhông tân” đọc lái là Nhân Tông, tức là Bang Cơ, con Nguyễn Thị Anh, “thạnh i” là “thị Anh”. Bài này có thể tạm dịch:

Nhân Tông sáu tháng đã ra hoa
Dòng máu ai đây quý báu à?
Núp bóng Thái Tông làm linh dược
Thị Anh dùng ngón đổi dòng cha

Trước khi vào cung, Thị Anh đã gian díu với Lê Nguyên Sơn[6], một người thuộc họ xa của dòng dõi Lê Khoáng (cha Lê Lợi). Một bài thơ khác, Đinh Liệt viết:

Tống Thai mạc kiến nguy ký hiện
Nịch ái Thịnh y nhật nhật tăng
Mỹ sắc điềm ngôn gia phỉ báng
Cơ đồ sự nghiệp hải hà băng

Dịch là:

Thái Tông chẳng thấy nguy đã hiện
Say đắm Thị Anh cứ mãi tăng
Sắc đẹp lời ngon kèm phỉ báng
Cơ đồ sự nghiệp có ngày băng

Việc Thị Anh giết hai hoạn quan Đinh Phúc, Đinh Thắng được Đinh Liệt viết trong bài thơ mà nhiều người cho rằng vì chính hai người này đã mật báo cho ông và Nguyễn Trãi biết:

Nhung Tân hà hữu Tống thai tinh
Lục nguyệt khai hoa quái dị hình
Niên nguyệt nhật thời Thăng Đính ký
Hoàng bào ô nhiễm vạn niên thanh

chữ Thăng Đính đọc ngược là Đinh Thắng.

Dịch là:

Nhân Tông không phải máu Nguyên Long
Sáu tháng hoài thai cảnh lạ lùng
Năm, tháng, ngày, giờ Đinh Thắng chép
Hoàng bào dơ bẩn tiếng ngàn năm

Với cách gọi các vua bằng miếu hiệu như Thái Tông, Nhân Tông, chắc chắn các bài thơ này Đinh Liệt viết vào thời Lê Thánh Tông. Dù Nhân Tông và thái hậu Nguyễn thị đã chết nhưng việc này vẫn không thể nói công khai, vì trên danh nghĩa, ngôi vua của Nhân Tông vẫn là hợp pháp. Có như vậy, việc cướp ngôi của Lê Nghi Dân mới là “phản nghịch” và việc lên ngôi của Thánh Tông mới là hợp lẽ. Đây chính là nguyên nhân khiến Đinh Liệt phải dùng phép nói ẩn ý để truyền lại cho đời sau[6]. Sau này tới đời vua Lê Thánh Tông, vua Thánh Tông đã minh oan cho Nguyễn Trãi.

Triều vua Lê Thái Tông sự băng hoại của triều chính đã ở mức cao độ. Sau thời Lê Lợi mở nước là đến thời bọn tham quan nhũng nhiễu ức hiếp dân chúng tràn ngập khắp nơi. Nguyễn Liễu tâu rằng: “Từ xưa đến nay chưa bao giờ có cảnh hoạn quan chuyên phá hoại thiên hạ như thế này”. Đinh Thắng từ trong bước ra, mắng rằng:”Hoạn quan làm gì mà phá hoại thiên hạ? Nếu phá hoại thiên hạ thì chém đầu ngươi trước”. Cuối cùng phải giao Liễu cho hình quan xét hỏi. Án xử xong, tội đáng chém, nhưng được lệnh riêng, cho thích chữ vào mặt, đày ra châu xa.[34][54]

Khoảng cuối năm 1437, đầu năm 1438, Nguyễn Trãi xin về hưu trí ở Côn Sơn[55]– nơi trước kia từng là thái ấp của ông ngoại ông – chỉ thỉnh thoảng mới vâng mệnh vào chầu vua[11].

Trong tất cả những tư liệu lịch sử để lại thì tư liệu sáng giá nhất, rõ rệt nhất, sâu sắc nhất để minh oan cho Nguyễn Trãi lại chính là Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi, “Họa phúc có nguồn đâu bổng chốc, Anh hùng để hận mãi nghìn năm” “Số khó lọt vành âu bởi mệnh.Văn chưa tàn lụi cũng do trời “.

Nhà Tiền Lê và Nhà Hậu Lê đều có mầm họa nội cung làm khuynh đảo quốc gia mà bậc nhân nghĩa như Nguyễn Trãi nhận thức rạch ròi khi để lại những áng văn chương trác tuyệt không thể dễ dàng thay thế mà đều có những chĩ dấu quan trọng của lịch sử

Bình Ngô đại cáo có đoạn viết (1) :
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương.

Sự khác biệt trong câu chữ so với sự chép sử Bình Ngô đại cáo sau này
Từ Đinh, Lê, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương.

Câu trên là KHÔNG nhìn nhận tính chính danh của Nhà Tiền Lê. Câu dưới là sự CÓ nhìn nhận chính danh của Nhà Tiền Lê. (Sử liệu trước thời Nguyễn Trãi không nhìn nhận sự chính thống của nhà Tiền Lê vì cho rằng Lê Hoàn đã thông dâm với Dương Vân Nga là vợ của Đinh Tiên Hoàng để đoạt ngôi. Sau vụ án thích khách giết vua Đinh Tiên Hoàng và thái tử Đinh Liễn có nhiều tình tiết uẩn khúc, đến việc bức hại Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Lưu Cơ là những danh tướng dưới thời Đinh Tiên Hoàng, đến các việc Đinh Tuệ bị chết thảm, sự giả vờ giao tranh với quân đội nhà Tống, đều ngờ rằng đó là cớ để Dương Vân Nga nhường ngôi. Nguyễn Trãi qua Bình Ngô đại cáo đã nêu lên vấn đề lớn trong nhận thức và đánh giá lịch sử).

Đây là sự thật và “mật ngữ” cần tìm hiểu, góp phần giải mã vụ án Lệ Chi Viên, sự liên quan của Nguyễn Trãi với Đinh Thắng và Đinh Liệt

Cũng tương tự như vậy với câu:

“Vậy nên:
Lưu Cung tham công nên thất bại,
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong,
Cửa Hàm tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét,
Chứng cớ còn ghi.”

Đời sau, cho rằng Nguyễn Trãi nhầm, cho là Toa Đô bị chém chết, Ô Mã Nhi bị bắt sống, nên có sách in là:
Cửa Hàm Tử giết tươi Toa Đô
Sông Bạch Đằng bắt sống Ô Mã

Như vậy không chỉ không tôn trọng nguyên tác mà còn chưa tìm đến điểm cuối cùng của một sự thật lịch sử.

Trong bài: “Kẻ phi thường giữ nước” có kể câu chuyện rằng: Trong Hồ Chí Minh tuyển tập, bài Lịch sử nước ta, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội năm 2002, trang 596, Bác Hồ viết về Lý Công Uẩn:

“Công Uẩn là kẻ phi thường
Dựng lên nhà Lý cầm quyền nước ta
Mở mang văn hóa nước nhà
Đắp đê để giữ ruộng nhà cho dân.”

Cũng trong sách và bài viết trên, trang 598, Bác Hồ viết về Nguyễn Huệ:

“Nguyễn Huệ là kẻ phi thường
Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu,
Ông đà chí cả mưu cao,
Dân ta lại biết cùng nhau một lòng.
Cho nên Tàu dẫu làm hung
Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà.”

Kẻ phi thường” là chữ của Bác Hồ dùng để đánh giá và tôn vinh vị vua khai quốc Lý Thái Tổ Công Uẩn, cũng là chữ đánh giá công bằng lịch sử đối với người anh hùng áo vải Quang Trung hoàng đế Nguyễn Huệ. Bác Hồ ngày 19 tháng 5 năm 1965 thăm Khúc Phụ bày tỏ sự đánh giá công tâm học Khổng Tử và chính Người đã suốt đời ưu tiên thực hành đạo đức nhưng chính Bác đã lựa chọn “đường kách mệnh” theo Lê Nin.

Kẻ phi thường” “đường kách mệnh” có những chữ “lạ”. Hồ Chí Minh là nhà thông thái, hẵn nhiên không phải dùng nhầm chữ. Đó là câu chuyện còn để ngõ cho đời sau.

Tương tự như vậy. Tầm tư tưởng và văn chương Nguyễn Trãi đừng vội học Lương Đăng “rèm treo chiếu rách cũng treo” vội vàng sửa câu chữ của NGƯỜI. Vượt lên vinh nhục ở đời, tâm sáng Ức Trai là gương trong của bầu trời bình minh mới mọc.

Tâm sáng Ức Trai trong tựa ngọc.

 

Hoàng Kim

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích

Secret Garden – Bí mật vườn thiêng 
Những bài hát hay nhất của Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (25 bài)
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

 

Chào ngày mới 3 tháng 3


206ThoiLe LeThanhTong.jpg
CNM365. Chào ngày mới 3 tháng 3. Wikipedia Ngày này năm xưa. Năm 1497 – ngày mất của  Lê Thánh Tông, vị vua thứ năm của nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam (sinh năm 1442). Năm 1575 – Hoàng đế Mogul Akbar Đại đế đánh bại quân đội Bengal trong Trận Tukaroi. Năm 1968Chiến tranh Việt Nam: Kết thúc trận Mậu Thân tại Huế với thắng lợi chiến thuật thuộc về Việt Nam Cộng hòaHoa Kỳ song nó mang lại sự đổ vỡ tâm lý và chính trị lớn nhất cho Hoa Kỳ.

3 tháng 3

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày 3 tháng 3 là ngày thứ 62 (63 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 303 ngày trong năm.

« Tháng 3 năm 2015 »
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30 31

Mục lục

Sự kiện

Sinh

Mất

Ngày lễ và kỷ niệm

Tháng 1 | Tháng 2 | Tháng 3 | Tháng 4 | Tháng 5 | Tháng 6 | Tháng 7 | Tháng 8 | Tháng 9 | Tháng 10 | Tháng 11 | Tháng 12

Tham khảo