Chào ngày mới 27 tháng 5


CHÀO NGÀY MỚI 27 THÁNG 5
Hoàng Kim
CNM365 Phan Huy Chú thầy bách khoa thư; Truyện Pie Đại đế: Thầy bạn trong đời tôi; Một niềm tin thắp lửa; Học không bao giờ muộn; Ngày 27 tháng 5 năm 1703, Sa hoàng Pie Đại Đế Pyotr I của Nga cho thành lập thành phố Sankt-Peterburg thủ đô phương Bắc cố đô của Đế quốc Nga là thành phố lớn thứ hai ở Nga trên lãnh thổ mới chiếm được từ Thụy Điển. Sankt-Peterburg nằm trên một loạt đảo nhỏ trong châu thổ sông Neva; con sông này thông với Vịnh Phần Lan, tạo vị thế hải cảng cho Sankt-Peterburg. Ngày 27 tháng 5 năm  1964 ngày mất của  Jawaharlal Nehru, thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ (sinh năm 1889).Jawaharlal Nehru là một trong những nhân vật trung tâm của chính trị Ấn Độ trong phần lớn thế kỷ 20, là lãnh đạo tối cao của phong trào độc lập Ấn Độ dưới sự giám hộ của Mahatma Gandhi. Ông đã điều hành Ấn Độ từ khi thành lập quốc gia độc lập vào năm 1947 cho đến khi ông qua đời năm 1964. Nehru là chính trị gia, kiến trúc sư của nhà nước hiện đại Ấn Độ, vừa là nhà văn, là sử gia không chuyên, tộc trưởng của gia tộc Nehru-Gandhi là dòng họ chính trị nổi tiếng nhất ở Ấn Độ. Con gái ông, Indira Gandhi cũng là một thủ tướng Ấn Độ. Ngày 27 tháng 5 năm 1994, bắt đầu vận hành Đường dây 500 kV Bắc – Nam tại Việt Nam, góp phần chấm dứt tình trạng thiếu điện trầm trọng ở miền Trung và miền Nam Việt Nam. Bài chọn lọc ngày 27 tháng 5 Phan Huy Chú thầy bách khoa thư. Truyện Pie Đại đế; .Thầy bạn trong đời tôiMột niềm tin thắp lửa; Học không bao giờ muộn; Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-27-thang-5/

PhanHuyChulunglaybachkhoathu

PHAN HUY CHÚ THẦY BÁCH KHOA THƯ
Hoàng Kim

Phan Huy Chú (1782 – 1840) là danh nhân văn hoá Việt Nam, nhà khoa học bách khoa thư văn sử địa nổi tiếng với tác phẩm lớn “Lịch triều hiến chương loại chí”. Ông đồng thời cũng là nhà giáo, nhà thơ của triều vua Minh Mạng.

Phan Huy Chú (tên khác là Phan Huy Hạo, tên hiệu là Mai Phong), sinh năm Nhâm Dần 1782, quê gốc xã Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, sinh ra và lớn lên ở xã Thụy Khê, huyện Yên Sơn, Phủ Quốc Oai, nay là làng Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây. Ông xuất thân trong gia đình có truyền thống khoa bảng, là con trai thứ ba của Lễ bộ Thượng thư, tiến sĩ Phan Huy Ích. Ông nội là tiến sĩ Phan Huy Cận, ông ngoại là Ngô Thì Sĩ, cha là Phan Huy Ích, bố vợ là Nguyễn Thế Lịch, bác là Ngô Thì Nhậm, chú là Phan Huy Ôn, anh là Phan Huy Thực… Tiến sĩ Phan Huy Ích trong “Thứ nam thực sinh hỉ phú” (bài phú mừng sinh nhật con trai thứ hai Phan Huy Thực) đã viết: “Văn phái dư lan cự cửu nguyên”, nghĩa là: “dòng văn để lại đủ cửu nguyên”. Ông cũng có lời chú trong “Dụ am ngâm lục” rằng: “Phụ thân tôi Phan Huy Cận, thi Hương, thi Hội 2 lần đỗ đầu (lưỡng nguyên). Tôi thi Hương, thi Hội, thi Ứng chế ba lần đều đỗ đầu (tam nguyên). Bác Hy Doãn (Ngô Thì Nhậm) và chú Nhã Hiên (Phan Huy Ôn) em trai thứ 3 của tôi đều đỗ đầu thi Hương. Tất cả cộng lại được chín lần đỗ đầu, gọi là cửu nguyên”. Tác động của dòng dõi tài danh, hiếu học và những quan hệ trí tuệ đã ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần, tính cách của nhà khoa học Phan Huy Chú. Phan Huy Chú là một nhà bác học, danh nhân văn hoá Việt Nam, với tài danh lỗi lạc về bách khoa thư. Ông đã để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm có giá trị, nổi bật nhất là bộ “Lịch triều hiến chương loại chí” gồm 49 quyển khảo cứu về lịch sử Việt Nam từ lập quốc đến cuối triều Lê.

Phan Huy Chú trong bộ sách “Lịch triều hiến chương loại chí”, đã sưu tầm tư liệu, khảo cứu sách vở, đối chiếu sắp xếp, trình bày cô đọng, mạch lạc sinh động, có tầm khái quát cao, chia theo từng loại hiến chương gọi là chí: dư địa chí, nhân vật chí, lễ nghi chí, khoa mục chí, quốc dụng chí, hình luật chí, văn tịch chí, binh chế chí, quan chức chí, bang giao chí. Trong đó: 1) Dư địa chí: Khảo cứu về đất đai, phong thổ và lịch sử địa lý Việt Nam qua các đời; 2) Nhân vật chí: Nói về tiểu sử từ vua chúa, tướng sĩ đến những người trung thần, tiết nghĩa có công với nước; 3) Quan chức chí: Xét về chế độ quan lại ở Việt Nam; 4) Lễ nghi chí: Khảo sát các quy định, thể chế, phẩm phục của vua chúa, quan lại cùng các nghi lễ trong triều đình; 5) Khoa mục chí: Nói về chế độ giáo dục, khoa cử đời xưa; 6) Quốc dụng chí: Viết về chế độ thuế khóa, tài chính qua các triều; 7) Hình luật chí: Xét về pháp luật các đời. 8) Binh chế chí: Khảo về quy chế tổ chức và việc luyện binh qua các đời; 9) Văn tịch chí: Nói về tình hình sách vở nước Việt xưa; 10) Bang giao chí: Khảo về việc giao thiệp, nghi lễ đón tiếp sứ thần các nước qua các đời).

Lê Minh Quốc năm 2009 (5) cho biết: “Năm 1960, 120 năm sau ngày ông mất, Hội Sử học Việt Nam đã tổ chức dịch tác phẩm bày ra chữ Quốc ngữ, dày đến 1.450 trang, khổ 14,5 x 20 cm và ghi nhận: “Trong kho tàng thư tịch Việt Nam, nếu trước kia có bách khoa toàn thư, thì phải nhận rằng, Lịch triều hiến chương loại chí là bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam, là cả một kho tư liệu cần thiết cho công tác nghiên cứu và xây dựng các khoa học xã hội…”. Chúng ta hãy đọc lại một đoạn ngắn trong Lịch triều hiến chương loại chí có liên quan đến quần đảo Hoàng Sa … Nhà bác học Phan Huy Chú viết: “Ngoài biển phía đông bắc có đảo Hoàng Sa, nhiều núi lớn nhỏ, đến hơn 130 ngọn núi. Từ chỗ núi chính đi ra biển sang các đảo khác ước chừng hoặc một ngày; hoặc vài trống canh. Trên núi có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng, dài ước chừng 30 dặm, bằng phẳng rộng rãi. Trong bãi có dòng nước trong suốt đến đáy. Sườn đảo có vô số vỏ yến sào; các thứ chim có đến hàng nghìn vạn con, thấy người vẫn cứ đỗ quanh, không bay tránh. Bên bãi cát, vật lạ rất nhiều, có thứ ốc có vằn gọi là ốc tai voi to như cái chiếu, trong bụng có hột châu to bằng ngón tay cái, nhưng sắc nó đục, không bằng ngọc châu ở trong con trai; vỏ nó đẽo làm bia được, lại có thể nung làm vôi để xây tường. Có thứ ốc gọi là ốc xà cừ, có thể khảm vào các đồ vật; có thứ gọi là ốc hương. Thịt các con trai, con hến đều có thể làm mắm hoặc nấu ăn được. Có thứ đồi mồi rất lớn, gọi là hải ba, mai nó mỏng, có thể ghép làm các đồ vật; trứng nó như đầu ngón tay cái. Lại có thứ gọi là hải sâm, tục gọi con đột đột, nó bơi lội ở bên bãi cát, bắt về, xát vôi qua, rồi bỏ ruột đi phơi khô. Khi nào ăn, lấy nước cua đồng mà ngâm, nấu với tôm và thịt lợn, ngon lắm. Các thuyền buôn khi gặp gió thường nấp vào đảo này. Các đời chúa Nguyễn đã đặt đội Hoàng Sa 70 người, người làng An Vĩnh thay phiên nhau đi lấy hải vật. Hàng năm cứ đến tháng ba, khi nhận được mệnh lệnh sai đi, phải đem đủ sáu tháng lương thực, chở năm chiếc thuyền nhỏ ra biển, ba ngày ba đêm mới đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ tìm kiếm các thứ; bắt cá ăn, tìm được những thứ của quý của bọn Tàu ô rất nhiều và lấy được hải vật rất nhiều. Đến tháng tám thì đội ấy lại về, vào cửa Yêu Môn (còn gọi cửa Yêu Lục, tức cửa Thuận An) đến thành Phú Xuân đưa nộp”… Báo Tiếng dân (số ra ngày 23/7/1938) cụ Minh Viên Huỳnh Thúc Kháng đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa “Dấu tích đảo Tây Sa (Paracels) trong lịch sử Việt Nam ta và giá trị bản “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn và “Lịch triều hiến chương loại chú” của Phan Huy Chú “Hoàng Sa: là phần sở hữu của nước Nam ta, vì chính người Nam đã chiếm trước hết và đã kinh dinh các công cuộc ở đảo ấy”. Với các tài liệu ấy, theo cụ: “Trở thành món tài liệu rất quý giá có quan hệ đến công pháp quốc tế không phải là ít”.

PhanHuyChuban doVietNam

Bản đồ Đại Nam nhất thống toàn đồ (tên gốc: 大南一統全圖 hoặc 大南一統全圖) do Phan Huy Chú xuất bản đời Nguyễn vào khoảng năm 1838 (theo Trần Nghĩa, Viện Nghiên cứu Hán Nôm 1990) là một chứng cứ pháp lý quốc tế về Hoàng Sa Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam là không thể chối cãi. Chỉ riêng một dẫn liệu về lời văn và bản đồ đã nêu trên đã cho thấy ý nghĩa và tầm vóc đóng góp của Phan Huy Chú cho non sông Việt.

Ngoài tác phẩm lớn “Lịch triều hiến chương loại chí”, Phan Huy Chú còn có các tác phẩm khác như: “Hoàng Việt dư địa chí”, Mai Phong du Tây thành dã lục, “Hoa thiều ngâm lục” (tập thơ đi sứ Tàu), “Bình Định quy trang”, “Dương trình ký kiến”, “Hoa trình ngâm lục”, Lịch đại điển yếu thông luận; “Hải trình chí lược”… hay còn gọi là Dương trình kí kiến (ghi chép những điều trông thấy lúc đi Batavia); Điều trần tứ sự tấu sở.

Phan Huy Chú là tấm gương lớn về hoạt động học thuật. Ông không được khoa bảng như cha ông, song thực học, thực tài, uyên bác, xuất chúng. Ông thực hiện công việc nghiên cứu bằng lao động khoa học miệt mài, với tâm huyết lớn. “Lịch triều hiến chương loại chí” là công trình học thuật cá nhân đồ sộ với hình thức độc đáo, nội dung lớn lao đã được ông thực hiện trong mười năm (1809 – 1819), chưa kể thời gian đọc sách, ghi chép, sưu tầm trước đó. Đây là “một bộ sách thường đọc của một đời”, là điểm đặc sắc trong lịch sử văn hoá nước nhà.

Phan Huy Chú viết: “Nước Việt ta tiếng khen lễ nghĩa đã hơn nghìn năm, vốn có thư tịch đã từ lâu lắm. Kể từ Đinh, Lê dựng nước đối địch với Trung Hoa, mệnh lệnh từ chương dần dần rõ rệt. Đến Lý, Trần nội trị, văn vật mở mang, về tham định thì có những sách điển chương điều luật, về ngự, chế thì có các thể chiếu sắc thi ca. Trị bình đời nối, văn nhã đủ điều. Huống chi, nho sĩ đời nào cũng có, văn chương nảy nở như rừng, sách vở ngày càng nhiều, nếu không trải qua binh lửa mà thành tro tàn… Than ôi! Sách vở các đời đã từng tản mát, sách mất đã khó sưu tầm, sách còn lại nhiều sai lẫn, đằng đẵng ngàn năm, biết theo vào đâu mà khảo xét? Nhưng sự học ở các nhà nho quý ở tìm rộng, có sách vở để làm bằng. Tôi bèn xét tìm sử cũ, tham khảo các nhà…” (Trích quyển XLII Lịch triều hiến chương loại chí). Một thoáng như vậy để thấy tầm suy xét của Phan Huy Chú khi bắt tay vào thực hiện pho sách đồ sộ này.

Phan Huy Chú chuộng thực làm, thực học, không ưa danh hão. Ông đặt trọng tâm cuộc đời vào việc viết sách và dạy học. Với ông “văn minh của loài người đều chứa trong sách vở”. Ông không may mắn về đường quan lộ, 2 lần khoa cử chỉ đạt học vị tú tài, đến tuổi tứ tuần mới nhận chức quan, trôi dạt trong cảnh quan trường thăng giáng, mờ tỏ.

PhanHuyChulichtrieuhienchuongloaichi


Sách “Lịch triều hiến chương loại chí” ngày nay (*)

Phan Huy Chú bắt đầu làm quan Hàn lâm Biên tu từ năm 1821, khi vua Minh Mạng biết đến tài năng của ông và triệu vào Huế giữ chức này. Ông đã dâng bộ “Lịch triều hiến chương loại chí” lên vua Minh Mạng, được vua thưởng 30 lạng bạc, 1 áo sa đỏ, 30 cây bút và 30 thỏi mực. Năm Minh Mạng thứ 4 (1823) ông làm “Lang trung bộ Lại”, năm Minh Mạng thứ 6 (1825) được sung vào sứ bộ sang Trung Quốc. Năm 1828 làm Thừa phủ Thừa Thiên. Năm 1829 làm Hiệp trấn Quảng Nam, sau đó bị giáng. Năm 1831 được cử làm Phó sứ sang Trung Quốc lần 2, khi về bị cách chức. Năm 1832 đi Biên lực ở Giang Lưu Ba (nay là nước Indonesia). Xong nhiệm vụ trở về ông được khôi phục giữ chức Tư vụ bộ Công… Vua Minh Mệnh là người chuộng tài năng nhưng có tính tự phụ và đa nghi. Ông dè dặt với tầng lớp nho sĩ Bắc Hà có quan hệ với triều Tây Sơn, trọng khí tiết và có chính kiến. Phan Huy Chú bởi ấp ủ tấm lòng ưu ái vì dân nước nên năm 1823, khi được thăng chức Lang trung bộ Lại, đã mạnh dạn dâng sớ điều trần bốn việc: bớt thuế, bớt lính; thực hiện chế độ quân điền; bãi bỏ những cuộc hành binh dẹp loạn; nghiêm trị bọn sâu mọt chuyên đục khoét lương dân. Việc dâng sớ điều trần bốn việc của Phan Huy Chú đã bị vua Minh Mệnh quở trách. Ông cũng như nhiều bậc tài trí thời ấy đã không được vua thực sự tin dùng. Từ sau mấy lần bị vua Minh Mệnh đối xử thô bạo, ông trở nên kín đáo, tuy không vội từ quan nhưng không còn hăm hở như buổi đầu. Hơn mười năm làm quan, ông dù có lúc được thăng Hiệp trấn Quảng Nam, hai lần đi sứ, nhưng ông vẫn luôn bị vua trách phạt. Cuối cùng, chán cuộc đời làm quan, Phan Huy Chú vịn cớ đau yếu, xin từ quan về nhà mở trường dạy học ở Thanh Mai thuộc huyện Tiên Phong, tỉnh Sơn Tây (nay là xã Vạn Thắng, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây) rồi mất tại đó năm Canh Tý 1840, thọ 58 tuổi.

PhanHuyChulangmo


Lăng mộ nhà bác học Phan Huy Chú
(Ba Vì – Hà Nội) Ảnh Nguyễn Văn Chiến (1)

PhanHuyChulangmo1


PHAN HUY CHÚ
(1782 – 1840)
Chữ Hán 潘輝注 tự Lâm Khanh
Thuở nhỏ có tên là Hạo sau đổi tên là Chú
Là một danh sĩ triều nhà Nguyễn.

Nhà thờ Phan Huy Chú hiện toạ lạc tại quê nhà Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây. Đây là di tích Lịch sử – Văn hoá đã được xếp hạng bởi Bộ Văn hoá – Thông tin ngày 24 tháng 11 năm 2000.

Hoàng Kim
Tuyển chọn, Biên soạn
Bài đăng lần 1 năm 2008, soát xét và bổ sung lần 2 năm 2012
hiệu đính và bổ sung lần 3 vào ngày 27 tháng 5 năm 2016
hiệu đính và hoàn thiện lần 4 vào ngày 27 tháng 5 năm 2019

Tài liệu tham khảo: 1) Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Phan Huy Chú; 2) Nguyễn Văn Chiến, 2009, Học vị, học vấn, học thuật Phan Huy Chú, Quê Hương Online; 3) Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng 2000, Nghị quyết số 06-2000/NQ-HĐ, khóa VI, ngày 19-7-2000 về đặt tên một số đường của TP Đà Nẵng trong đó có đường Phan Huy Chú (kèm lược sử); 4) TS. Phan Huy Dục 2008. Phan Huy Chú và văn hoá Việt Nam. An ninh Thủ Đô Online (Phan Huy Chú, thư hoạ hình đầu tiên là trích dẫn theo Phan Huy Dục); 5) Lê Minh Quốc 2009. Nhớ Phan Huy Chú 1782-1840 Nhà bách khoa toàn thư của Việt Nam. Phụ Nữ Online (trang bìa sách Lịch triều Hiến chương loài chi trong bài này đã dẫn theo tài liệu của Nguyễn Xuân Diện). 6) Ảnh đầu trang: Phan Huy Chú và Văn hóa Việt Nam. Báo Đăk Lăk điện tử ngày 16 tháng 7 năm 2011.

Pie Đại Đế Pyotr I (1672 -1725)

TRUYỆN PIE ĐẠI ĐẾ
Hoàng Kim

Pie đại đế là nhân vật lịch sử vĩ đại nhất nước Nga, vượt cả StalinLe Nin. Ông đã có những thành tựu đặc biệt to lớn trong công cuộc hiện đại hóa đất nước, chuyển đổi mạnh mẽ một nước Nga lạc hậu, đi sau Tây Âu hàng trăm năm  vượt lên trở thành một trong năm đại đế quốc của châu Âu, chỉ  trong một thời gian ngắn. Pie đại đế có tố chất quân vương vừa cứng rắn vừa mềm dẽo: vừa nhiệt huyết kiên quyết, vừa bao dung mềm mỏng, vừa tàn nhẫn cứng rắn, vừa tình cảm ân nghĩa. Ông đã tạo nên bước ngoặt trong lịch sử nước Nga.

Pie đại đế ( tên thường gọi là Pyotr I ; tiếng Nga: ‘Пётр Алексеевич Романов, Пётр I, Пётр Великий’, có sách viết theo tiếng Anh là Peter I hay tiếng Pháp là Pierre I ) sinh ngày 10 tháng 6 năm 1672 tại Moskva,  mất ngày  8 tháng 2 năm 1725 tại Sankt-Peterburg,  là Sa hoàng của nước Nga cũ và sau đó là Hoàng đế của Đế quốc Nga từ năm 1721, đồng cai trị với vua anh Ivan V – một người yếu ớt và dễ bệnh tật – trước năm 1696. Ông được tôn là Pyotr Đại đế hay Pierre Đại đế, Pie Đại đế ( tiếng Nga: Пётр Великий, Pyotr Velikiy). Ông được xem là một trong những nhà cải cách kiệt xuất trong lịch sử Nga.

Pie đại đế  đã tiến hành cuộc cải tổ lớn lao tại nước Nga Sa hoàng. Trong những năm 1697 – 1698 ông đi vòng quanh Tây Âu, học được những điều mới lạ ở đó và truyền vào Nga. Dưới triều ông, nước Nga có nền kinh tế phát triển và thành lập thể chế nghị viện. Trong việc xây dựng đất nước, Pyotr thường tham vấn những cố vấn tài ba người nước ngoài. Nhờ vậy, dưới triều đại không lâu dài của ông (1696 – 1725), nước Nga trở thành một đế quốc hùng cường trên thế giới thời đó, Hải quân Nga được thành lập. Người Nga đã có đủ sức giành chiến thắng trước hai cựu thù vào thời đó là đế quốc Ottoman và Thụy Điển, nhằm tái chiếm các lãnh thổ đã mất và lấy đường thông ra biển. Năm 1703, ông hạ lệnh cho xây dựng thành phố Sankt-Peterburg. Chính tại đây, năm 1782 người ta đã hoàn thành việc xây cất tượng Pyotr I – tức tượng “Kị sĩ đồng”. Sankt – Peterburg trở thành một “thành Venezia của phương Bắc”, và trở thành kinh đô nước Nga vào năm 1712. Người ta đã ca ngợi ông như một vị “Đại đế Ross toàn nước Nga”, hay “Cha của Tổ quốc”.

Kết quả của cuộc thăm dò ý kiến nhân dân Nga “Tên của nước Nga – Sự lựa chọn lịch sử năm 2008″ do kênh truyền hình Rossia cùng với Viện Lịch sử Nga thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga và Quỹ ý kiến xã hội tổ chức đã bình chọn Pie đại đế là nhân vật lịch sử vĩ đại nhất nước Nga, kế đến là  Stalin, Le Nin  và  Nga hoàng Nikolai II  là  những nhà lãnh đạo kiệt xuất nhất lịch sử nước Nga. Điều đó  đã chứng tỏ những đánh giá của nhân dân Nga xuyên suốt một quá trình trải nghiệm lịch sử lâu dài.

Pie đại đế đã được sự  ngưỡng mộ đặc biệt của nhân dân Nga, sử gia và nhân dân  nhiều nước trên thế giới. Ông có công lớn  trong công cuộc xây dựng lực lượng hải quân, đội thương thuyền hàng hải  và hiện đại hóa nước Nga, xây dựng Sankt-Peterburg, xây dựng hệ thống đường sá kênh đào vĩ đại, hoàn thiện cơ sở pháp luật, cải cách hành chính, lập nên Viện Hàn lâm Khoa học, thiết lập trường xóa mù chữ và dạy toán cấp cơ sở, trường kỹ thuật đào tạo thợ chuyên môn, xưởng in, nâng cao vai trò người phụ nữ,…

Pie đại đế là một vĩ nhân có tầm nhìn chiến lược sâu rộng, nhận thức đúng đắn và quyết tâm sắt đá cao độ để đi đến đích. Ông nung nấu hoài bão hiện đại hóa nước Nga nằm kề bên Tây Âu lúc ấy đã tiến bộ khá xa. Vua Pie đại đế đã  tự mình đóng một chiếc thuyền và học cách điều khiển nó, tổ chức riêng cho mình một đội quân và tập trận thường xuyên để cuối cùng chuyển thành đội quân tinh nhuệ hơn hẳn lực lượng nòng cốt của triều đình. Ông tổ chức một phái bộ sứ thần đi Tây Âu để học hỏi và tuyển chọn nhân tài về giúp cho triều đình của mình. Ông vào vai thợ mộc học nghề ở Hà Lan để tự tay đóng một tàu chiến bắt đầu từ những súc gỗ thô sơ cho đến khi hạ thủy. Vua Pie đại đế sớm nhận ra nước Nga bao la không có hải quân mạnh, chỉ có đội thuyền đi đường sông, chỉ có một cảng biển thông ra thế giới trong sáu tháng mỗi năm; Vua Pie đại đế nhận thức được công dụng diệu kỳ của thuyền buồm có thể đi ngược gió, điều mà các loại thuyền bè của Nga hồi ấy không làm được. Ông đã quyết tâm xây dựng hải quân Nga và tạo dựng cảng biển từ tầm nhìn chiến lược sâu rộng đó.

Pie Đại đế là người quyết đoán và quyết tâm rất cao. Ông đã xây dựng thành phố Sankt-Peterburg bề thế từ bãi đầm lầy ngay cả trong những năm tháng chiến tranh, ngay cả khi vùng đất mới được chiếm từ Thụy Điển, chưa có hòa ước để hợp thức hóa là thuộc Nga vĩnh viễn. Ông ra lệnh tịch thu chuông nhà thờ để đúc đại bác phục vụ công cuộc chống ngoại xâm bất chấp giáo hội đầy quyền uy phản đối. Ông đòi hỏi các tầng lớp tăng lữ, quý tộc và thương nhân góp chi phí vào việc xây dựng hải quân nếu ai không làm sẽ bị tịch thu gia sản, ai kêu nài sẽ phải đóng góp thêm. Ông ra lệnh đàn ông Nga phải cắt râu cho gọn và tất cả người Nga phải chuyển trang phục truyền thống sang kiểu gọn nhẹ , mục đích để dân Nga tăng năng suất làm việc. Ông thể hiện quyết tâm sắt đá giành đường giao thông hàng hải và căn cứ hải quân Nga bằng việc tranh đoạt Sankt-Peterburg thể hiện qua chính sách là có thể nhượng bộ Thụy Điển bất cứ điều gì ngoại trừ trả lại Sankt-Peterburg. Quyết tâm này được lưu truyền mãi về sau, với kết quả là Sankt-Peterburg vẫn đứng vững trước các cuộc tấn công của vua Karl XII của Thụy Điển, cũng như của Hoàng đế Napoléon I của Pháp và Adolf Hitler của Đức Quốc xã sau này.

Pie Đại đế xác lập được quyền uy tuyệt đối và rất biết trọng dụng nhân tài, cho dù họ là người Nga hoặc người nước ngoài. Ông ban hành luật theo ý muốn, ngay cả quyền xử tử hình bất cứ ai đi ngược lại ý ông. Trong một thể chế quân chủ lập hiến và một bối cảnh xã hội nước Nga trì trệ  thì chế độ độc đoán, hà khắc, đôi lúc tàn bạo của ông, có ý nghĩa cải tổ, tuy có làm mất đi một số giá trị truyền thống của xã hội Nga. Những tầng lớp thấp trong xã hội Nga, đặc biệt là nông dân, ít được hưởng lợi trực tiếp từ thành quả của ông, trái lại, họ còn khổ sở hơn vì phải trực tiếp hoặc gián tiếp chịu gánh nặng để xây dựng căn cứ hải quân, xây thành phố Sankt-Peterburg, chi phí cho cuộc chiến với Thụy Điển. Sự biện luận là khi nước Nga hùng cường thì đời sống nông dân Nga cũng được nâng cao hơn.

Pie Đại đế rất sâu sát thực tiễn và hiếu học. Ông đi viếng thăm đủ mọi nơi: nhà máy chế biến, xưởng cưa, nhà máy in, xưởng se sợi, nhà máy giấy, xưởng cơ khí, viện bảo tàng, vườn thực vật, phòng thí nghiệm,… Ông đến thăm và hỏi han các kiến trúc sư, nhà điêu khắc, kỹ sư, nhà thiên nhiên học, người phát minh kính hiển vi, giáo sư giải phẫu học,… Ông học hỏi từ người hành nghề tầm thường nhất để biết cách vá quần áo của mình, đóng một đôi dép cho riêng mình, và còn tập tháo ráp đồng hồ. Ông luôn phân tích tại sao dân Nga quá nghèo và dân Tây Âu quá giàu khi thơ thẩn đi xem phố xá, chợ búa nước ngoại cho đến lúc nghiêm túc gặp các nhà khoa học, các nơi làm việc. Với một sự hiếu học hiếm thấy  và sự tự do phóng khoáng trong suy nghĩ mà du học sinh Pyotr Mikhailov đã hiểu rất sâu về thực tiễn thuộc nhiều lĩnh vực :ngoại thương, cảng biển, đội thương thuyền,  tôn giáo…. để đúc kết thành chiến lược đồng bộ, tổng thể phát triển nước Nga.

Stalin rất ngưỡng mộ Pie đại đế (*). Trong “Điếu Ngư Đài quốc sự phong vân” những bí mật của nền ngoại giao Trung Quốc, do Lý Kiện biên soạn, Nhà Xuất bản Văn nghệ Thái bạch (Trung Quốc) ấn hành, NXB Văn hóa Thông tin năm 2003, có kể lại câu chuyện lịch sử: Đêm trước của cuộc nội chiến Quốc Cộng kéo dài hơn hai mươi năm, Tưởng Giới Thạch từng giữ mối quan hệ ngoại giao chính thức với Stalin đã dự cảm thầy Đảng Cộng sản Trung Quốc do Mao Trạch Đông đứng đầu sẽ trở thành đối thủ khó có thể chiến thắng được. Mẫn cảm và đa mưu, Tưởng Giới Thạch gọi con là Tưởng Kinh Quốc tới giao nhiệm vụ thay mặt ông giao hảo với Stalin (tương tự như quan hệ Trung Mỹ từ lâu ông đã giao độc quyền cho vợ ông là Tống Mỹ Linh). Tưởng Giới Thạch nói với Tưởng Kinh Quốc: ” Cha muốn mời Liên Xô đứng ra thử dàn xếp hộ quan hệ giữa cha và Mao Trạch Đông. Chỉ cần Trung Cộng hạ vũ khí, thống nhất mệnh lệnh hành chính, chúng ta và Mao Trạch Đông vẫn có thể là cộng sự được ! Mao Trạch Đông không nghe cha, nhưng có thể lời nói của Stalin và người Liên Xô đối với họ ít nhiều cũng có tác dụng”. Cuối năm 1945, Tưởng Kinh Quốc sang Liên Xô gặp Stalin trong phòng làm việc ở điện Kremlin. Tất cả vẫn như cũ, duy chỉ có một điều hơi khác lần trước Tưởng Kinh Quốc diện kiến Stalin năm 1931 là “Ngày trước ở sau lưng bàn sách của Stalin treo một bức tranh sơn dầu Lê Nin đứng trên xe tăng kêu gọi nhân dân lao động” Bây giờ thì đổi là bức ảnh Pie Đại đế. Lúc đầu Tưởng Kinh Quốc không hiểu , qua gợi mở của người thư ký Stalin , mới như bừng ra điều đại ngộ. Thì ra ” giờ khác, trước khác” thời thế đã biến đổi. Quả như dự liệu, Stalin muốn đứng trung lập giữa Tưởng và Mao để “tọa sơn quan hổ đấu”. Tưởng Giới Thạch sau lần đi đó của Tưởng Kinh Quốc đã tinh ý nhận biết sự chuyển hóa của đại cục, Tưởng chọn chiến lược ngã hẳn về Mỹ nên dù thua, vẫn neo được Đài Loan cho mãi đến tận ngày nay.

Pie Đại đế là biểu tượng nhân vật lịch sử vĩ đại nhất nước Nga, vẫn sừng sững sau hơn ba thế kỷ khi ông qua đời (1725-2019). Ông được những nhà khoa học, văn nghệ sĩ kiệt xuất và quảng đại quần chúng nhân dân tôn kính, ngưỡng mộ và ca ngợi nồng nàn. Pie đại đế cùng nữ hoàng Ekaterina II là hai người được Tổng thống Nga Vladimir Vladimirovich Putin đề cao nhất trong lịch sử nước Nga.

Pie đại đế được Wikipedia Tiếng Việt đúc kết, trang Tình yêu cuộc sống và trang Chào ngày mới chọn lọc thông tin và tư liệu hóa vào ngày Pie đại đế  thành lập thành phố Sankt-Peterburg trên lãnh thổ mới chiếm được từ Thụy Điển. (Hoàng Kim)

Xem thêm: (*)

JoshepStalin

 
TRUYỆN JOSEPH STALIN

Hoàng Kim

Stalin là nhân vật lịch sử vĩ đại gây tranh cãi ở nước Nga. Stalin tên đầy đủ là  Joseph Stalin. Ông sinh ngày 21 tháng 12 năm 1879 mất ngày 5 tháng 3 năm 1953, là lãnh đạo tối cao của Liên bang Xô viết từ giữa thập niên 1920 cho đến khi qua đời năm 1953. Ngày nay, Stalin là một nhân vật lịch sử gây nhiều tranh luận. Nhiều nhà sử học và người phương Tây xem Stalin là một bạo chúa, giáo sư Richard Lorenz, giáo sư về lịch sử Đông Âu cho rằng Stalin đã lựa chọn một con đường tốn kém nhất để đưa Liên Xô đạt tới một xã hội công nghệ, tuy nhiên cũng không thể phủ nhận nhờ quá trình này mà Liên Xô đã giành thắng lợi trong thế chiến thứ hai. Trong khi đó, quan điểm của người dân Liên bang Nga về Stalin khá khác biệt, với một tỉ lệ đáng kể xem ông là một anh hùng dân tộc, một vĩ nhân. Hướng dẫn cho giáo viên lịch sử được xuất bản vào năm 2008 của chính phủ Nga thì trình bày về Stalin như một lãnh đạo “quản lý hiệu quả” và “người hiện đại hóa”.

Stalin là một nhà cách mạng Bolshevik tham gia vào Cách mạng tháng Mười năm 1917, Stalin nhậm chức Tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng năm 1922, khi đó chỉ là một vị trí ít có quyền lực. Stalin chiến thắng trong cuộc đấu tranh quyền lực sau khi Lenin qua đời năm 1924 và đến khoảng cuối thập niên 1920 ông nắm quyền tối cao tuyệt đối ở Liên Xô qua các thời kỳ công nghiệp hóa và hợp tác hóa những năm 30, Chiến tranh Xô-Đức và thời kỳ đầu Chiến tranh Lạnh. Bên cạnh vị trí lãnh đạo đảng, ông cũng từng đảm nhiệm các vị trí Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Dân ủy (tức Bộ trưởng) Quốc phòng Liên Xô, và tự phong hàm Đại Nguyên soái Liên Xô.

Stalin trong thời kỳ cầm quyền của mình, một mặt, đã lãnh đạo Liên Xô chiến thắng Đức Quốc Xã trong Thế chiến thứ hai. Liên Xô cùng với việc Quốc tế Cộng sản đóng ở Moskva, đã trỗi dậy thành một siêu cường. Nhờ vậy, danh tiếng và ảnh hưởng của Stalin lan khắp thế giới. Mặt khác Stalin đã tiến hành các biện pháp đàn áp các đối thủ chính trị hoặc những người mà ông cho là nguy hiểm, đỉnh cao là những năm 1930.

Joshep Stalin hiện là một nhân vật lịch sử gây nhiều tranh luận. Nhiều nhà sử học và người phương Tây xem Stalin là một bạo chúa, giáo sư Richard Lorenz, giáo sư về lịch sử Đông Âu cho rằng Stalin đã lựa chọn một con đường tốn kém nhất để đưa Liên Xô đạt tới một xã hội công nghệ, tuy nhiên cũng không thể phủ nhận nhờ quá trình này mà Liên Xô đã giành thắng lợi trong thế chiến thứ hai. Trong khi đó, quan điểm của người dân Liên bang Nga về Stalin khá khác biệt, với một tỉ lệ đáng kể xem ông là một anh hùng dân tộc, một vĩ nhân. Hướng dẫn cho giáo viên lịch sử được xuất bản vào năm 2008 của chính phủ Nga thì trình bày về Stalin như một lãnh đạo “quản lý hiệu quả” và “người hiện đại hóa”.

Stalin lúc còn sống rất được mọi người nể trọng và e ngại, có rất ít ai giỡn mặt hoặc đùa bỡn về ông, ngoại trừ vài câu chuyện như truyện Josip Broz Tito chỉ rãi rác. Tito viết thư cho Stalin: “Chúng tôi học hỏi và theo gương của hệ thống Xô- viết, nhưng chúng tôi phát triển chủ nghĩa xã hội theo dạng thái khác… Mỗi người chúng tôi dầu có yêu đất chủ nghĩa xã hội Liên Xô bao nhiêu cũng không thể yêu hơn tổ quốc của chính chúng tôi“. Khi Stalin đi xa hơn, ra lệnh thủ tiêu Tito nhưng thất bại. Tito lại gửi thư cho Stalin: “Đừng gửi người sang giết tôi. Chúng tôi đã bắt được 5 tên, một tên mang bom, một tên khác mang súng trường… Nếu ông không ngưng gửi sát thủ, tôi buộc phải gửi một sát thủ sang Moskva, và tôi sẽ không cần gửi sát thủ thứ nhì đâu.”

Tiếu lâm Liên Xô sau khi Stalin mất đã lâu, mới kể chuyện một thời, như chuyện “Stalin bị mất tẩu”:  “Một hôm Stalin bị mất tẩu và cho rằng có kẻ đã lấy cắp tẩu của mình. Liền điều động người điều tra tìm ra thủ phạm. Hôm sau ngài tìm ra tẩu của mình và gọi gấp cấp dưới hãy thả những kẻ tình nghi. – “Thưa đồng chí tôi không thể thả 10 người đó được.” – “Tại sao?” – “Tất cả bọn họ đã nhận tội trước máy quay của cơ quan điều tra, và đã được đưa lên truyền hình quốc gia…” “Trong trại cải tạo” : “Trong trại cải tạo ở Siberia, ba tù nhân nói chuyện và hỏi vì sao họ vào đây. Một người nói: “Tôi bị tù vì hay đi làm muộn năm phút, và người ta xử tôi tội phá hoại sản xuất.” Người thứ nhì tiếp: “Tôi thì hay đi làm sớm năm phút và bị buộc tội làm gián điệp, theo dõi công xưởng cho địch.” Còn người thứ ba thì thở dài: “Tôi luôn đi làm đúng giờ và họ hỏi vì sao thì tôi lại chìa đồng hồ đeo tay ra và bị tù vì dùng hàng Phương Tây.”

Truyện Joseph Stalin là bài nghiên cứu lịch sử văn hóa. Thông tin chính được thu thập căn cứ từ các nguồn trích dẫn tuyển chọn tại thư mục Joshep Stalin trên Từ Điển Bách Khoa Mở Wikipedia Tiếng Việt, Wikipedia tiếng Anh, so sánh với bản http://www.history.com có cùng thư mục. Bài viết này chắt lọc tư liệu nhằm cung cấp cho bạn đọc, học sinh và sinh viên Việt Nam tài liệu về một nhân vật lịch sử nước Nga.

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim

‘Thanh nhàn vô sự là tiên’ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã viết vậy trong dòng đầu của Sấm Ký. Norman Borlaug lời Thầy dặn thật thấm thía:“Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”. “Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; Thầy bạn trong đời tôi là một điểm nhấn cần đọc lại và suy ngẫm. Hoàng Kim thật tâm đắc khi tự đáy lòng viết lên những lời: “Em đã học nhiều gương sáng danh nhân Hãy biết nhục biết hèn mà rèn chí Thắp đèn lên đi em ngọn đèn dầu bền bỉ Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin”. Bạn tốt khó tìm, khó bỏ lại, và không thể quên lãng. (Good friends are hard to find, harder to leave, and impossible to forget.) Hoàng Kim cám ơn Mai Thành Phụng, Nguyen Duc Thuận và các bạn. THẦy BẠN TRONG ĐỜI TÔI là thông tin và một số hình ảnh chọn lọc lưu lại để dạy và học Tình yêu cuộc sống https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

Congviecnaytraolaichoem

MỘT NIỀM TIN THẮP LỬA
Hoàng Kim

Nhìn đàn em ngời niềm vui rạng rỡ.
Chợt thấy lòng rưng rưng.
Công việc nghề nông cực mà hạnh phúc.
Cố lên em nổ lực không ngừng !

Hột mồ hôi lắng vào hạt gạo
Câu ca ông bà theo suốt tháng năm
Thêm bữa cơm ngon cho người lao động
Nâng chén cơm thơm, qúy trọng người trồng.

Em ơi hãy học làm ruộng giỏi
Nghề nông thời nào cũng quý kỹ năng
Người dân khá hơn là niềm ao ước
Công việc này giao lại cho em.

Có một mùa xuân hạnh phúc
Ơn mẹ cha lam lũ sớm hôm
Thương con vạc gọi sao mai dậy sớm
Một niềm tin thắp lửa giữa tâm hồn.

Bước tiếp bước giữa trường đời gian khó
Học làm người lao động siêng năng
Rèn nhân cách vượt lên bao cám dỗ
Đức và Tài tử tế giữa Nhân Dân.

HuynhHuong Vo Minh Luan
Congviecnaytraolaichoem
Congviecnaytraolaichoem1
Congviecnaytraolaichoem4
GiadinhNN
IAS 20 11 2015aa
IAS 20 11 2015a
IAS 20 11 2015aaa

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

HỌC KHÔNG BAO GIỜ MUỘN
Hoàng Kim

Tình yêu, giáo dục, văn hóa, khoa học cây trồng và du lịch Việt là sự nghiệp trồng người, cần tự nguyện lặng lẽ dấn thân dạy và học suốt đời. Mục đích sau cùng của DẠY và HỌC là thấu suốt bản chất sự vật, có lời giải đúng và LÀM được việc. Cảm ơn cậu Hoàng Gia Cương, chị Phương Thảo, anh Chiêm Lưu Huy với những bài viết hay, xin được chia sẻ cho chuyên mục “Học không bao giờ muộn” https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoc-khong-bao-gio-muon/

CẬU TÔI
Hoàng Gia Cương

FB HGC 27 5 2020
Nhớ về người CẬU (em ruột mẹ tôi) thân yêu, tôi đưa lên bài tôi đã viết về cậu:

Tôi cũng không còn nhớ được là tôi biết mặt cậu tôi từ lúc nào. Khi mẹ tôi sinh tôi thì cậu còn “lang bạt kỳ hồ” tận đẩu tận đâu không ai biết được. Cách mạng Tháng 8, cậu tôi về tham gia lãnh đạo cướp chính quyền ở địa phương (Quảng Trạch, Quảng Bình) rồi lại đi đây đi đó tận đâu đâu trước khi định cư tại Kỳ Anh (Hà Tĩnh), tôi cũng không biết rõ. Tôi từng đi tản cư ra Nghệ An khi mới lên 5, về quê thì không có cậu, ngay sau hoà bình lập lại thì tôi ra Hà Nội cho tới tận bây giờ. Tôi chỉ đoán chừng là tôi gặp cậu lần đầu lúc tôi đã lên 3, vì khi cách mạng tháng 8 thành công tôi đã tròn 3 tuổi. Tính ra khoảng thời gian mà tôi có dịp gặp và gần cậu cho tới tận năm cậu 93 tuổi, lúc cậu đi vào cõi vĩnh hằng, cộng lại chỉ được độ một tháng là cùng. Vậy mà tôi lại rất thân thiết và yêu quí cậu, yêu quý cậu gần như yêu quý mẹ tôi.

Năm thì mười hoạ có dịp qua Kỳ Anh tôi mới gặp cậu trong chốc lát. Đôi khi cậu cũng có dịp ra Hà Nội nhưng do tôi đi học, đi bộ đội hay đi công tác liên miên nên cũng ít khi gặp. Thế nhưng tôi lại hay gặp cậu qua thư từ. Cậu có nhiều cháu nhưng được cái là tôi rất hợp với cậu ở chỗ thích thơ, biết làm thơ, đặc biệt là thơ Đường luật nên cậu rất quý tôi. Hồi cha tôi ở Quảng Bình và cả khi đã ra Hà Nội, cha tôi thường tham gia hội hè, giao lưu với các cụ nhà nho, suốt ngày ngồi xướng hoạ. Hễ có bài thơ hay của mình hoặc của các bạn thơ, cha tôi lại gửi ngay cho cậu để cậu hoạ. Ở Hà Tĩnh, cậu cũng có một hội xướng hoạ thơ như thế. Vậy là hai bên liên tục thư đi thư lại với hàng loạt bài thơ nóng hổi, từ thơ vịnh cảnh, vịnh tình, cho tới thơ cổ động, tuyên truyền và thơ châm biếm, thơ đả kích giặc Mỹ xâm lược. Nhiều bài thơ của các cụ sau khi xướng hoạ và phẩm bình đã được đăng tải trên nhiều tờ báo như Cứu Quốc, Độc Lập, Thống Nhất… Từ nhỏ cha tôi đã tập cho tôi làm thơ Đường luật và cha tôi đã không ngờ là tôi nhanh chóng trở thành một bạn thơ của các cụ. Tôi cũng cùng tham gia xướng họa với các cụ ngay từ thời còn ngồi ghế trường phổ thông. Vì thế tôi gần như là một “hội viên nhóc con” của cả mấy hội xướng hoạ gồm toàn bậc cao niên ấy. Hồi tôi mới vào bộ đội, đang đóng quân ở sân bay Cát Bi, cha tôi có gửi cho tôi một bài thơ nói về gia đình mình với 7 người con, toàn trai, trong đó có đầy đủ tên con cháu nhưng đều nói lên truyền thống gia đình và hàm ý khích lệ, động viên con cháu:

Tài ba lừng lẫy ngoài ba xứ
Danh tiếng vang truyền khắp bốn phương

Tôi đã có một bài thơ hoạ lại, được cha tôi chuyển cho tất cả các cụ xem. Chừng hơn tháng sau tôi nhận được thư cậu tôi gửi từ Kỳ Anh, trong đó có 2 câu mà tôi nhớ mãi:

Cương cháu làm thơ giỏi thế a
Lời tuy gần gũi, ý cao xa…

Xin bạn đọc lượng thứ cho, viết lại 2 câu thơ này không phải tôi có ý “mèo khen mèo dài đuôi” đâu mà chỉ là để chứng minh rằng cậu tôi rất quý tôi, vậy thôi. Chính vì sự yêu quý này mà có lần cậu tôi đã kể cho tôi nghe về một khúc ngoặt quyết định trong cuộc đời cậu, cũng nhờ một bài thơ! Trước hết, cũng xin được nói rõ một chút về cậu tôi: Cậu tôi là NGUYỄN ĐÌNH NGÔ, một cán bộ lão thành cách mạng, nay đã mất. Cậu là cha của liệt sĩ NGUYỄN HOÀNG LƯU, người đã từng phát minh ra chiếc thước tính Lô ga rít hình tròn, làm nên một cuộc cải tiến kỹ thuật lớn trong Binh chủng Pháo Binh, người được mệnh danh là “nhà khoa học không bằng cấp” từ những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ trước.

Chuyện cậu tôi kể là như thế này:

“… Đầu những năm 30 của thế kỷ trước, do vừa biết chữ quốc ngữ lại vừa biết chữ nho nên cậu được chọn làm thơ lại (thư ký) cho Tuần vũ tỉnh Quảng Bình là Tôn Thất Chữ. Thời gian này là lúc thực dân Pháp đang ra sức đàn áp phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh. Chúng ráo riết truy lùng, bắt bớ, giam cầm và tra tấn dã man những người Cộng sản. Các nhà lao ở Vinh, Hà Tĩnh và ở Huế đều chật ních tù chính trị, vì vậy chúng đã chuyển một số tù nhân về giam ở nhà lao Đồng Hới.

Cậu còn nhớ, khoảng đầu năm 1933, cậu phải theo tuần vũ Tôn Thất Chữ đi thị sát nhà lao Đồng Hới. Khi đến khu biệt giam kín mít, Tôn Thất Chữ dừng lại trước hầm giam của một nữ tù Cộng sản. Đó là chị Võ Thị Ngọ, mới chưa tròn 20 tuổi. Chị Ngọ đã tham gia phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh và bị bắt ngoài Hà Tĩnh rồi được chuyển vào đây. Trong một lần đấu tranh quyết liệt chống hành động dã man vô nhân đạo của bọn cai ngục, chị Võ Thị Ngọ đã dũng cảm dùng thanh củi đánh lại tên cai ngục Phô-cô-ni nên bị chúng tống vào khu hầm kín biệt giam này. Quen thói trăng hoa, thấy chị Ngọ trẻ trung xinh đẹp, Tôn Thất Chữ buông lời bỡn cợt, trêu ghẹo. Chị Ngọ khinh bỉ nhìn tên tuần vũ. Biết không tán tỉnh được, Tôn Thất Chữ nói:

-Con gái trẻ trung xinh đẹp thế mà sao không chịu ở nhà lấy chồng, sinh con cho sung sướng lại nghe theo lời xúi giục của bọn cộng sản, thích đi làm giặc để phải tù phải tội cho khổ thân?
Chị Ngọ không thèm trả lời tên tuần vũ. Trước cái nhìn khinh bỉ và căm hờn của chị Ngọ, viên tuần vũ đành lặng lẽ bỏ đi. Sự việc xẩy ra rất nhanh nhưng nó đã như một tia chớp loé lên trong đầu cậu. Trước đây cậu chưa biết thế nào là người cộng sản, nghĩ là họ cũng chỉ như các đoàn thảo khấu, mọi rợ và ngu đần. Không ngờ một người con gái cộng sản mà có khí phách kiên cường như thế. Viên tuần vũ đi rồi mà cậu còn nấn ná dừng lại để nhìn người tù cho rõ mặt. Bỗng nhiên chị Ngọ chìa ra cho cậu một mảnh giấy, nhờ chuyển tận tay cho viên tuần vũ. Cậu không ngần ngại, nhận lời. Tranh thủ lúc đi một mình cậu đã đọc vội tờ giấy với nét chữ tuy viết bằng bút chì nhưng rất rõ ràng sắc sảo. Đó là một bài thơ! Phải khẳng định ngay rằng đây là một bài thơ Đường luật làm rất chuẩn về niêm luật, và đặc biệt là về ý tứ. Có lẽ vì bài thơ quá hay mà cậu đã thuộc lòng ngay từ khi ấy và cho tới tận ngày nay. Bài thơ của chị Ngọ như sau:

Nước mất nhà tan nợ gánh chung
Có ta, ta phải gánh vai cùng.
Liễu bồ cùng đứng trong trời đất
Vàng đá xin thề với núi sông!
Tay yếu, chân mềm tuy phận gái
Gan bền, chí vững ấy đàn ông.
Chưa đền nợ nước, duyên gì nữa?
Gươm nọ là con, súng ấy chồng!

Về đến dinh tuần vũ, lựa lúc Tôn Thất Chữ vui vẻ cậu trao bài thơ cho ông ta. Viên tuần vũ chăm chú đọc, nét mặt đầy kinh ngạc và tỏ ra rất khâm phục. Từ hôm ấy cậu thấy ông ta có ít nhiều thay đổi trong cách cư xử với tù chính trị. Phải chăng ông ta tự thẹn với lương tâm? Điều đó cậu không chắc lắm. Còn cậu, từ hôm ấy trong đầu óc cậu bài thơ cứ được đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần. Cậu cũng thấy tự thẹn với bản thân mình. Người ta là phận gái mà như thế, đằng này mình sức dài vai rộng lại cũng có ít chữ nghĩa mà cam tâm làm tay sai cho bọn thực dân và lũ tay chân gian ác sao?

Sau vài đêm suy nghĩ, cậu quyết định xin “treo ấn từ quan”. Về nhà, cậu đã xé bỏ sắc phong “cửu phẩm” của chính phủ bù nhìn Nam triều và bắt đầu một cuộc đời “mai danh ẩn tích” đi làm cách mạng. Cho đến nay cậu vẫn chưa có dịp gặp lại người nữ tù cộng sản ấy, chỉ nghe người ta nói là chị Ngọ đã dũng cảm và kiên cường vượt qua tất cả, không chỉ thời gian ấy mà cả nhiều lúc sóng gió sau này”…

Bài thơ của người nữ tù Cộng sản Võ Thị Ngọ đã làm thay đổi cuộc đời cậu tôi, đã đánh dấu một khúc ngoặt vô cùng quan trọng và có tính quyết định trong cuộc đời cậu tôi! Kể từ ngày ấy, cậu tôi đã tìm cách bắt mối với cách mạng và bắt đầu cuộc đời hoạt động bí mật. Để có vỏ bọc, cậu đã học nghề làm thầy địa lý, chuyên đi xem mạch đất cho người ta làm nhà, an táng, cải táng… Bước chân của cậu đã đi khắp các vùng nông thôn, miền núi Quảng Bình, Hà Tĩnh. Khi cách mạng tháng tám bùng nổ, cậu là một trong những người lãnh đạo cướp chính quyền ở huyện.

8/2003
HGC

Ảnh: Con sông quê tôi. — cùng với Trương Minh Dục, Nicolas Hoàng, Hoàng Hữu Đức16 người khác.

NẾU SAU NÀY CÓ THÀNH MẸ CHỒNG
Phương Thảo FB 27 5 2020

1. Chị đừng nói xấu con dâu trước mặt con trai, bởi vì chị làm như vậy chỉ khiến chúng nó cãi nhau. Cãi nhau mãi cuối cùng không chịu đựng được thì li hôn. Đến lúc đó chị vừa có lỗi với con trai, vừa có lỗi với cháu nội, chị có nhẫn tâm không?

2.Việc chăm con(cháu nội mình) cứ để con dâu lo, là mẹ ai cũng lo cho con chị đừng bắt con dâu làm theo ý mình, chị có tâm thì chỉ hỗ trợ, san sẻ, còn đừng xen quá sâu vào việc chăm con của con dâu (ví dụ như phải uống cái này cái kia) tuyệt đối không nên.

3. Khi con dâu ở cữ , phải chăm con, chị có thể không giúp vì chị cho rằng đó không phải nghĩa vụ của chị, nhưng chị phải nhớ, đến khi chị bệnh tật, chị cũng đừng bảo con dâu phải chăm chị, nó không có nghĩa vụ đó đâu. Vậy nên chị ạ, hãy đối xử tốt với con dâu vì khi chị trăm tuổi người chăm sóc chị là con dâu chứ ai?

4. Chị đừng thấy bực dọc khi con trai giúp con dâu làm việc nhà, vì gia đình là tổ ấm của hai người, vợ chồng đều phải có trách nhiệm gánh vác trọng trách này.

5. Chị đừng bao giờ suốt ngày ca tụng con dâu nhà người khác giỏi giang,nào là thức khuya dậy sớm,chăm chỉ,thế này thế kia, ở trong chăn mới biết chăn có rận, chị làm sao biết được chuyện nhà người ta thế nào. Và quan trọng hơn, muốn có một người con dâu tốt cần phải trở thành người mẹ chồng tốt trước đã.

6. Chị đừng cho rằng chị sinh và nuôi lớn con trai chị thì con dâu nợ chị một đời. Chị ạ, chị muốn con dâu hiếu thuận, quan tâm yêu quý chị thì chị cũng phải đối xử tốt với con dâu. Chị phải dùng hành động để cảm hóa trái tim người khác chứ không thể yêu cầu và bắt buộc người khác phải đối tốt mới mình khi mà chị đối xử với người ta không ra gì.

7. Khi con dâu về nhà mẹ đẻ, mua quà biếu bố mẹ, chị đừng tức tối hay nóng giận bởi vì hai người đó dành cả đời để nuôi con dâu chị nên người, nhưng đến khi trưởng thành nó lại phải đi làm con gái người khác, chứ có được chăm sóc bố mẹ đẻ của nó đâu. Chị nên cảm ơn họ đã sinh ra và nuôi lớn con dâu chị .

8. Chị và con dâu cãi vã không nên đi ra nói xấu con dâu, không được chê bai này nọ, vì con trai mình quyết định cưới rồi thì ắt hẳn con dâu cũng có điểm tốt, nếu không người ta sẽ cười chị trước.

9. Hãy yêu quý con dâu như con gái thì nó cũng đối xử với chị như bố mẹ đẻ chị ạ.

Phụ nữ sau khi kết hôn chỉ có duy nhất 1 điểm tựa là người chồng, vì ở nhà ngoại họ chỉ là KHÁCH, ở nhà nội chỉ là người NGOÀI. Nếu người chồng không yêu thương vợ, không quan tâm và cảm thông với vợ thì phụ nữ trở thành ĐỨA TRẺ MỒ CÔI không nơi nương tựa. Thế nhưng người chồng – điểm tựa duy nhất của người phụ nữ chỉ thường xuyên nói với vợ “Em đối xử với MẸ anh tốt vào, bởi vì đó là người đã sinh ra anh, đã nuôi anh khôn lớn”. Nhưng không có người đàn ông nào nói với mẹ mình rằng, “MẸ, mẹ hãy đối xử tốt với vợ con đi ạ, vợ con phải rời khỏi vòng tay của bố mẹ, một mình đến nhà mình làm dâu không dễ dàng gì! Vậy nên gia đình chúng ta hãy đối xử thật tốt với cô ấy để cô ấy coi đây là nhà của mình ❤

NGƯỜI LÀM THƠ HAY NHÂN CÁCH THƠ
(Ảnh internet, bài Chiêm Lưu Huy FB 27 5 2020)

*
Tôi có may mắn biết tên tuổi ba nhà thơ “Dân gian đương đại”. Người còn, người mất, người quá già yếu. Người trẻ nhất thì lại chết “ở tuổi còn son”. Xin được kể tên ngẫu nhiên… Lê Kim Giao, Đồng Đức Bốn, Nguyễn Hữu Mão và Nguyễn Bảo Sinh.

1 – Nguyễn Bảo Sinh được cha là Nguyễn Hữu Mão gắn cho chết danh “Sinh chó” giữa lòng Hà nội. Quả thật, sau bao năm tháng lăn lộn mưu sinh… về sau chính chó, mèo, hậu cần cho xới đá gà… là nghề giúp ông sống thanh thản với thơ dân gian.

2 – Đồng Đức Bốn tài thơ lục bát không thua mấy Nguyễn Bính, Bùi Giáng… Một thời “lạc đường” sang thơ tự do, may mà Nguyễn Huy Thiệp “ngộ” cho mà có được góc chiếu giữa đình văn chương, nghệ thuật. Lục bát của anh mới mẻ thần kỳ:
“Chiều nay hồ tây có giông.
Tôi ngồi trên sóng mà không thấy chìm”.
Hay:
“Tẽn tò con sáo sang sông,
Tưởng sang bên ấy mà không có gì.
Tẽn tò con sáo bay đi,
Tưởng sang bên ấy có gì lại không”.
Lại nữa:
“Đang trưa ăn mày vào chùa,
Sư ra cho một lá bùa rồi đi.
Ăn mày chẳng biết làm gì,
Nhét bùa vào túi lại đi ăn mày”.

3 – Lê Kim Giao “con ông cháu cha”, con nhà nòi… nhưng từ bỏ tất cả, về nông thôn làm ông giáo làng. Ông dậy lũ trẻ quê mùa, thò lò mũi:
“Đây là chữ o,
Đây là chữ a,
Đây là tay trái,
Đây là tay phải,
Còn mẹ thì không được bao giờ quên!”
Ông có những bài thơ về vật nuôi, tự trào như heo, gà trống… rất có giá… “Sống hiên ngang không sợ ó diều / Ăn chỉ mời gọi bạn / Ò… ó… o…! / Ngươi làm thơ”.

Người ta viết về “Tứ đại gia” không nhiều. Nay tôi xin đề thơ CHÂN DUNG họ theo phong cách của họ để tặng họ, gọi là có chút lòng thành! Không quên liên kết 5 khung hình mà người thơ:” vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa”… ưa thích!?
CHÂN DUNG TỨ TỬ THƠ
*
Đây là Lê Kim Giao.
Đây là Đồng Đức Bốn.
Đây là Nguyễn Hữu Mão.
Đây là Nguyễn Bảo Sinh,
Mê mẩn thập tự chinh,
Trên trường văn, trận bút.

Về tới đích cũng chết.
Không về cũng lìa đời.
Sao không bỏ cuộc chơi,
Về với người yêu dấu …

Về với người yêu dấu,
Không phải đấu trường văn.
Không phải đòn trận bút.
Không phải đi đò đầy…

Ây à ê im ao.
Ây à ồng ức ốn.
Ây à uyễn ữu ão.
Ây à uyễn ảo inh.
Chiếm góc chiếu giữa đình,
Khóc cười người yêu dấu…
Tẽn tò sáo sang sông…
Kêu buồn đêm tối khổ…
Cho cái chưa của mình…

( 07.7.2011 – 27.5.2016)

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

 
Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Chào ngày mới 27 tháng 5


CHÀO NGÀY MỚI 27 THÁNG 5
Hoàng Kim
CNM365 Phan Huy Chú thầy bách khoa thư; Truyện Pie Đại đế: Thầy bạn trong đời tôi; Một niềm tin thắp lửa; Học không bao giờ muộn; Ngày 27 tháng 5 năm 1703, Sa hoàng Pie Đại Đế Pyotr I của Nga cho thành lập thành phố Sankt-Peterburg thủ đô phương Bắc cố đô của Đế quốc Nga là thành phố lớn thứ hai ở Nga trên lãnh thổ mới chiếm được từ Thụy Điển. Sankt-Peterburg nằm trên một loạt đảo nhỏ trong châu thổ sông Neva; con sông này thông với Vịnh Phần Lan, tạo vị thế hải cảng cho Sankt-Peterburg. Ngày 27 tháng 5 năm  1964 ngày mất của  Jawaharlal Nehru, thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ (sinh năm 1889).Jawaharlal Nehru là một trong những nhân vật trung tâm của chính trị Ấn Độ trong phần lớn thế kỷ 20, là lãnh đạo tối cao của phong trào độc lập Ấn Độ dưới sự giám hộ của Mahatma Gandhi. Ông đã điều hành Ấn Độ từ khi thành lập quốc gia độc lập vào năm 1947 cho đến khi ông qua đời năm 1964. Nehru là chính trị gia, kiến trúc sư của nhà nước hiện đại Ấn Độ, vừa là nhà văn, là sử gia không chuyên, tộc trưởng của gia tộc Nehru-Gandhi là dòng họ chính trị nổi tiếng nhất ở Ấn Độ. Con gái ông, Indira Gandhi cũng là một thủ tướng Ấn Độ. Ngày 27 tháng 5 năm 1994, bắt đầu vận hành Đường dây 500 kV Bắc – Nam tại Việt Nam, góp phần chấm dứt tình trạng thiếu điện trầm trọng ở miền Trung và miền Nam Việt Nam. Bài chọn lọc ngày 27 tháng 5 Phan Huy Chú thầy bách khoa thư. Truyện Pie Đại đế; .Thầy bạn trong đời tôiMột niềm tin thắp lửa; Học không bao giờ muộn; Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlong https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-27-thang-5/

PhanHuyChulunglaybachkhoathu

PHAN HUY CHÚ THẦY BÁCH KHOA THƯ
Hoàng Kim

Phan Huy Chú (1782 – 1840) là danh nhân văn hoá Việt Nam, nhà khoa học bách khoa thư văn sử địa nổi tiếng với tác phẩm lớn “Lịch triều hiến chương loại chí”. Ông đồng thời cũng là nhà giáo, nhà thơ của triều vua Minh Mạng.

Phan Huy Chú (tên khác là Phan Huy Hạo, tên hiệu là Mai Phong), sinh năm Nhâm Dần 1782, quê gốc xã Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, sinh ra và lớn lên ở xã Thụy Khê, huyện Yên Sơn, Phủ Quốc Oai, nay là làng Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây. Ông xuất thân trong gia đình có truyền thống khoa bảng, là con trai thứ ba của Lễ bộ Thượng thư, tiến sĩ Phan Huy Ích. Ông nội là tiến sĩ Phan Huy Cận, ông ngoại là Ngô Thì Sĩ, cha là Phan Huy Ích, bố vợ là Nguyễn Thế Lịch, bác là Ngô Thì Nhậm, chú là Phan Huy Ôn, anh là Phan Huy Thực… Tiến sĩ Phan Huy Ích trong “Thứ nam thực sinh hỉ phú” (bài phú mừng sinh nhật con trai thứ hai Phan Huy Thực) đã viết: “Văn phái dư lan cự cửu nguyên”, nghĩa là: “dòng văn để lại đủ cửu nguyên”. Ông cũng có lời chú trong “Dụ am ngâm lục” rằng: “Phụ thân tôi Phan Huy Cận, thi Hương, thi Hội 2 lần đỗ đầu (lưỡng nguyên). Tôi thi Hương, thi Hội, thi Ứng chế ba lần đều đỗ đầu (tam nguyên). Bác Hy Doãn (Ngô Thì Nhậm) và chú Nhã Hiên (Phan Huy Ôn) em trai thứ 3 của tôi đều đỗ đầu thi Hương. Tất cả cộng lại được chín lần đỗ đầu, gọi là cửu nguyên”. Tác động của dòng dõi tài danh, hiếu học và những quan hệ trí tuệ đã ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần, tính cách của nhà khoa học Phan Huy Chú. Phan Huy Chú là một nhà bác học, danh nhân văn hoá Việt Nam, với tài danh lỗi lạc về bách khoa thư. Ông đã để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm có giá trị, nổi bật nhất là bộ “Lịch triều hiến chương loại chí” gồm 49 quyển khảo cứu về lịch sử Việt Nam từ lập quốc đến cuối triều Lê.

Phan Huy Chú trong bộ sách “Lịch triều hiến chương loại chí”, đã sưu tầm tư liệu, khảo cứu sách vở, đối chiếu sắp xếp, trình bày cô đọng, mạch lạc sinh động, có tầm khái quát cao, chia theo từng loại hiến chương gọi là chí: dư địa chí, nhân vật chí, lễ nghi chí, khoa mục chí, quốc dụng chí, hình luật chí, văn tịch chí, binh chế chí, quan chức chí, bang giao chí. Trong đó: 1) Dư địa chí: Khảo cứu về đất đai, phong thổ và lịch sử địa lý Việt Nam qua các đời; 2) Nhân vật chí: Nói về tiểu sử từ vua chúa, tướng sĩ đến những người trung thần, tiết nghĩa có công với nước; 3) Quan chức chí: Xét về chế độ quan lại ở Việt Nam; 4) Lễ nghi chí: Khảo sát các quy định, thể chế, phẩm phục của vua chúa, quan lại cùng các nghi lễ trong triều đình; 5) Khoa mục chí: Nói về chế độ giáo dục, khoa cử đời xưa; 6) Quốc dụng chí: Viết về chế độ thuế khóa, tài chính qua các triều; 7) Hình luật chí: Xét về pháp luật các đời. 8) Binh chế chí: Khảo về quy chế tổ chức và việc luyện binh qua các đời; 9) Văn tịch chí: Nói về tình hình sách vở nước Việt xưa; 10) Bang giao chí: Khảo về việc giao thiệp, nghi lễ đón tiếp sứ thần các nước qua các đời).

Lê Minh Quốc năm 2009 (5) cho biết: “Năm 1960, 120 năm sau ngày ông mất, Hội Sử học Việt Nam đã tổ chức dịch tác phẩm bày ra chữ Quốc ngữ, dày đến 1.450 trang, khổ 14,5 x 20 cm và ghi nhận: “Trong kho tàng thư tịch Việt Nam, nếu trước kia có bách khoa toàn thư, thì phải nhận rằng, Lịch triều hiến chương loại chí là bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam, là cả một kho tư liệu cần thiết cho công tác nghiên cứu và xây dựng các khoa học xã hội…”. Chúng ta hãy đọc lại một đoạn ngắn trong Lịch triều hiến chương loại chí có liên quan đến quần đảo Hoàng Sa … Nhà bác học Phan Huy Chú viết: “Ngoài biển phía đông bắc có đảo Hoàng Sa, nhiều núi lớn nhỏ, đến hơn 130 ngọn núi. Từ chỗ núi chính đi ra biển sang các đảo khác ước chừng hoặc một ngày; hoặc vài trống canh. Trên núi có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng, dài ước chừng 30 dặm, bằng phẳng rộng rãi. Trong bãi có dòng nước trong suốt đến đáy. Sườn đảo có vô số vỏ yến sào; các thứ chim có đến hàng nghìn vạn con, thấy người vẫn cứ đỗ quanh, không bay tránh. Bên bãi cát, vật lạ rất nhiều, có thứ ốc có vằn gọi là ốc tai voi to như cái chiếu, trong bụng có hột châu to bằng ngón tay cái, nhưng sắc nó đục, không bằng ngọc châu ở trong con trai; vỏ nó đẽo làm bia được, lại có thể nung làm vôi để xây tường. Có thứ ốc gọi là ốc xà cừ, có thể khảm vào các đồ vật; có thứ gọi là ốc hương. Thịt các con trai, con hến đều có thể làm mắm hoặc nấu ăn được. Có thứ đồi mồi rất lớn, gọi là hải ba, mai nó mỏng, có thể ghép làm các đồ vật; trứng nó như đầu ngón tay cái. Lại có thứ gọi là hải sâm, tục gọi con đột đột, nó bơi lội ở bên bãi cát, bắt về, xát vôi qua, rồi bỏ ruột đi phơi khô. Khi nào ăn, lấy nước cua đồng mà ngâm, nấu với tôm và thịt lợn, ngon lắm. Các thuyền buôn khi gặp gió thường nấp vào đảo này. Các đời chúa Nguyễn đã đặt đội Hoàng Sa 70 người, người làng An Vĩnh thay phiên nhau đi lấy hải vật. Hàng năm cứ đến tháng ba, khi nhận được mệnh lệnh sai đi, phải đem đủ sáu tháng lương thực, chở năm chiếc thuyền nhỏ ra biển, ba ngày ba đêm mới đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ tìm kiếm các thứ; bắt cá ăn, tìm được những thứ của quý của bọn Tàu ô rất nhiều và lấy được hải vật rất nhiều. Đến tháng tám thì đội ấy lại về, vào cửa Yêu Môn (còn gọi cửa Yêu Lục, tức cửa Thuận An) đến thành Phú Xuân đưa nộp”… Báo Tiếng dân (số ra ngày 23/7/1938) cụ Minh Viên Huỳnh Thúc Kháng đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa “Dấu tích đảo Tây Sa (Paracels) trong lịch sử Việt Nam ta và giá trị bản “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn và “Lịch triều hiến chương loại chú” của Phan Huy Chú “Hoàng Sa: là phần sở hữu của nước Nam ta, vì chính người Nam đã chiếm trước hết và đã kinh dinh các công cuộc ở đảo ấy”. Với các tài liệu ấy, theo cụ: “Trở thành món tài liệu rất quý giá có quan hệ đến công pháp quốc tế không phải là ít”.

PhanHuyChuban doVietNam

Bản đồ Đại Nam nhất thống toàn đồ (tên gốc: 大南一統全圖 hoặc 大南一統全圖) do Phan Huy Chú xuất bản đời Nguyễn vào khoảng năm 1838 (theo Trần Nghĩa, Viện Nghiên cứu Hán Nôm 1990) là một chứng cứ pháp lý quốc tế về Hoàng Sa Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam là không thể chối cãi. Chỉ riêng một dẫn liệu về lời văn và bản đồ đã nêu trên đã cho thấy ý nghĩa và tầm vóc đóng góp của Phan Huy Chú cho non sông Việt.

Ngoài tác phẩm lớn “Lịch triều hiến chương loại chí”, Phan Huy Chú còn có các tác phẩm khác như: “Hoàng Việt dư địa chí”, Mai Phong du Tây thành dã lục, “Hoa thiều ngâm lục” (tập thơ đi sứ Tàu), “Bình Định quy trang”, “Dương trình ký kiến”, “Hoa trình ngâm lục”, Lịch đại điển yếu thông luận; “Hải trình chí lược”… hay còn gọi là Dương trình kí kiến (ghi chép những điều trông thấy lúc đi Batavia); Điều trần tứ sự tấu sở.

Phan Huy Chú là tấm gương lớn về hoạt động học thuật. Ông không được khoa bảng như cha ông, song thực học, thực tài, uyên bác, xuất chúng. Ông thực hiện công việc nghiên cứu bằng lao động khoa học miệt mài, với tâm huyết lớn. “Lịch triều hiến chương loại chí” là công trình học thuật cá nhân đồ sộ với hình thức độc đáo, nội dung lớn lao đã được ông thực hiện trong mười năm (1809 – 1819), chưa kể thời gian đọc sách, ghi chép, sưu tầm trước đó. Đây là “một bộ sách thường đọc của một đời”, là điểm đặc sắc trong lịch sử văn hoá nước nhà.

Phan Huy Chú viết: “Nước Việt ta tiếng khen lễ nghĩa đã hơn nghìn năm, vốn có thư tịch đã từ lâu lắm. Kể từ Đinh, Lê dựng nước đối địch với Trung Hoa, mệnh lệnh từ chương dần dần rõ rệt. Đến Lý, Trần nội trị, văn vật mở mang, về tham định thì có những sách điển chương điều luật, về ngự, chế thì có các thể chiếu sắc thi ca. Trị bình đời nối, văn nhã đủ điều. Huống chi, nho sĩ đời nào cũng có, văn chương nảy nở như rừng, sách vở ngày càng nhiều, nếu không trải qua binh lửa mà thành tro tàn… Than ôi! Sách vở các đời đã từng tản mát, sách mất đã khó sưu tầm, sách còn lại nhiều sai lẫn, đằng đẵng ngàn năm, biết theo vào đâu mà khảo xét? Nhưng sự học ở các nhà nho quý ở tìm rộng, có sách vở để làm bằng. Tôi bèn xét tìm sử cũ, tham khảo các nhà…” (Trích quyển XLII Lịch triều hiến chương loại chí). Một thoáng như vậy để thấy tầm suy xét của Phan Huy Chú khi bắt tay vào thực hiện pho sách đồ sộ này.

Phan Huy Chú chuộng thực làm, thực học, không ưa danh hão. Ông đặt trọng tâm cuộc đời vào việc viết sách và dạy học. Với ông “văn minh của loài người đều chứa trong sách vở”. Ông không may mắn về đường quan lộ, 2 lần khoa cử chỉ đạt học vị tú tài, đến tuổi tứ tuần mới nhận chức quan, trôi dạt trong cảnh quan trường thăng giáng, mờ tỏ.

PhanHuyChulichtrieuhienchuongloaichi


Sách “Lịch triều hiến chương loại chí” ngày nay (*)

Phan Huy Chú bắt đầu làm quan Hàn lâm Biên tu từ năm 1821, khi vua Minh Mạng biết đến tài năng của ông và triệu vào Huế giữ chức này. Ông đã dâng bộ “Lịch triều hiến chương loại chí” lên vua Minh Mạng, được vua thưởng 30 lạng bạc, 1 áo sa đỏ, 30 cây bút và 30 thỏi mực. Năm Minh Mạng thứ 4 (1823) ông làm “Lang trung bộ Lại”, năm Minh Mạng thứ 6 (1825) được sung vào sứ bộ sang Trung Quốc. Năm 1828 làm Thừa phủ Thừa Thiên. Năm 1829 làm Hiệp trấn Quảng Nam, sau đó bị giáng. Năm 1831 được cử làm Phó sứ sang Trung Quốc lần 2, khi về bị cách chức. Năm 1832 đi Biên lực ở Giang Lưu Ba (nay là nước Indonesia). Xong nhiệm vụ trở về ông được khôi phục giữ chức Tư vụ bộ Công… Vua Minh Mệnh là người chuộng tài năng nhưng có tính tự phụ và đa nghi. Ông dè dặt với tầng lớp nho sĩ Bắc Hà có quan hệ với triều Tây Sơn, trọng khí tiết và có chính kiến. Phan Huy Chú bởi ấp ủ tấm lòng ưu ái vì dân nước nên năm 1823, khi được thăng chức Lang trung bộ Lại, đã mạnh dạn dâng sớ điều trần bốn việc: bớt thuế, bớt lính; thực hiện chế độ quân điền; bãi bỏ những cuộc hành binh dẹp loạn; nghiêm trị bọn sâu mọt chuyên đục khoét lương dân. Việc dâng sớ điều trần bốn việc của Phan Huy Chú đã bị vua Minh Mệnh quở trách. Ông cũng như nhiều bậc tài trí thời ấy đã không được vua thực sự tin dùng. Từ sau mấy lần bị vua Minh Mệnh đối xử thô bạo, ông trở nên kín đáo, tuy không vội từ quan nhưng không còn hăm hở như buổi đầu. Hơn mười năm làm quan, ông dù có lúc được thăng Hiệp trấn Quảng Nam, hai lần đi sứ, nhưng ông vẫn luôn bị vua trách phạt. Cuối cùng, chán cuộc đời làm quan, Phan Huy Chú vịn cớ đau yếu, xin từ quan về nhà mở trường dạy học ở Thanh Mai thuộc huyện Tiên Phong, tỉnh Sơn Tây (nay là xã Vạn Thắng, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây) rồi mất tại đó năm Canh Tý 1840, thọ 58 tuổi.

PhanHuyChulangmo


Lăng mộ nhà bác học Phan Huy Chú
(Ba Vì – Hà Nội) Ảnh Nguyễn Văn Chiến (1)

PhanHuyChulangmo1


PHAN HUY CHÚ
(1782 – 1840)
Chữ Hán 潘輝注 tự Lâm Khanh
Thuở nhỏ có tên là Hạo sau đổi tên là Chú
Là một danh sĩ triều nhà Nguyễn.

Nhà thờ Phan Huy Chú hiện toạ lạc tại quê nhà Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây. Đây là di tích Lịch sử – Văn hoá đã được xếp hạng bởi Bộ Văn hoá – Thông tin ngày 24 tháng 11 năm 2000.

Hoàng Kim
Tuyển chọn, Biên soạn
Bài đăng lần 1 năm 2008, soát xét và bổ sung lần 2 năm 2012
hiệu đính và bổ sung lần 3 vào ngày 27 tháng 5 năm 2016
hiệu đính và hoàn thiện lần 4 vào ngày 27 tháng 5 năm 2019

Tài liệu tham khảo: 1) Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Phan Huy Chú; 2) Nguyễn Văn Chiến, 2009, Học vị, học vấn, học thuật Phan Huy Chú, Quê Hương Online; 3) Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng 2000, Nghị quyết số 06-2000/NQ-HĐ, khóa VI, ngày 19-7-2000 về đặt tên một số đường của TP Đà Nẵng trong đó có đường Phan Huy Chú (kèm lược sử); 4) TS. Phan Huy Dục 2008. Phan Huy Chú và văn hoá Việt Nam. An ninh Thủ Đô Online (Phan Huy Chú, thư hoạ hình đầu tiên là trích dẫn theo Phan Huy Dục); 5) Lê Minh Quốc 2009. Nhớ Phan Huy Chú 1782-1840 Nhà bách khoa toàn thư của Việt Nam. Phụ Nữ Online (trang bìa sách Lịch triều Hiến chương loài chi trong bài này đã dẫn theo tài liệu của Nguyễn Xuân Diện). 6) Ảnh đầu trang: Phan Huy Chú và Văn hóa Việt Nam. Báo Đăk Lăk điện tử ngày 16 tháng 7 năm 2011.

Pie Đại Đế Pyotr I (1672 -1725)

TRUYỆN PIE ĐẠI ĐẾ
Hoàng Kim

Pie đại đế là nhân vật lịch sử vĩ đại nhất nước Nga, vượt cả StalinLe Nin. Ông đã có những thành tựu đặc biệt to lớn trong công cuộc hiện đại hóa đất nước, chuyển đổi mạnh mẽ một nước Nga lạc hậu, đi sau Tây Âu hàng trăm năm  vượt lên trở thành một trong năm đại đế quốc của châu Âu, chỉ  trong một thời gian ngắn. Pie đại đế có tố chất quân vương vừa cứng rắn vừa mềm dẽo: vừa nhiệt huyết kiên quyết, vừa bao dung mềm mỏng, vừa tàn nhẫn cứng rắn, vừa tình cảm ân nghĩa. Ông đã tạo nên bước ngoặt trong lịch sử nước Nga.

Pie đại đế ( tên thường gọi là Pyotr I ; tiếng Nga: ‘Пётр Алексеевич Романов, Пётр I, Пётр Великий’, có sách viết theo tiếng Anh là Peter I hay tiếng Pháp là Pierre I ) sinh ngày 10 tháng 6 năm 1672 tại Moskva,  mất ngày  8 tháng 2 năm 1725 tại Sankt-Peterburg,  là Sa hoàng của nước Nga cũ và sau đó là Hoàng đế của Đế quốc Nga từ năm 1721, đồng cai trị với vua anh Ivan V – một người yếu ớt và dễ bệnh tật – trước năm 1696. Ông được tôn là Pyotr Đại đế hay Pierre Đại đế, Pie Đại đế ( tiếng Nga: Пётр Великий, Pyotr Velikiy). Ông được xem là một trong những nhà cải cách kiệt xuất trong lịch sử Nga.

Pie đại đế  đã tiến hành cuộc cải tổ lớn lao tại nước Nga Sa hoàng. Trong những năm 1697 – 1698 ông đi vòng quanh Tây Âu, học được những điều mới lạ ở đó và truyền vào Nga. Dưới triều ông, nước Nga có nền kinh tế phát triển và thành lập thể chế nghị viện. Trong việc xây dựng đất nước, Pyotr thường tham vấn những cố vấn tài ba người nước ngoài. Nhờ vậy, dưới triều đại không lâu dài của ông (1696 – 1725), nước Nga trở thành một đế quốc hùng cường trên thế giới thời đó, Hải quân Nga được thành lập. Người Nga đã có đủ sức giành chiến thắng trước hai cựu thù vào thời đó là đế quốc Ottoman và Thụy Điển, nhằm tái chiếm các lãnh thổ đã mất và lấy đường thông ra biển. Năm 1703, ông hạ lệnh cho xây dựng thành phố Sankt-Peterburg. Chính tại đây, năm 1782 người ta đã hoàn thành việc xây cất tượng Pyotr I – tức tượng “Kị sĩ đồng”. Sankt – Peterburg trở thành một “thành Venezia của phương Bắc”, và trở thành kinh đô nước Nga vào năm 1712. Người ta đã ca ngợi ông như một vị “Đại đế Ross toàn nước Nga”, hay “Cha của Tổ quốc”.

Kết quả của cuộc thăm dò ý kiến nhân dân Nga “Tên của nước Nga – Sự lựa chọn lịch sử năm 2008″ do kênh truyền hình Rossia cùng với Viện Lịch sử Nga thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga và Quỹ ý kiến xã hội tổ chức đã bình chọn Pie đại đế là nhân vật lịch sử vĩ đại nhất nước Nga, kế đến là  Stalin, Le Nin  và  Nga hoàng Nikolai II  là  những nhà lãnh đạo kiệt xuất nhất lịch sử nước Nga. Điều đó  đã chứng tỏ những đánh giá của nhân dân Nga xuyên suốt một quá trình trải nghiệm lịch sử lâu dài.

Pie đại đế đã được sự  ngưỡng mộ đặc biệt của nhân dân Nga, sử gia và nhân dân  nhiều nước trên thế giới. Ông có công lớn  trong công cuộc xây dựng lực lượng hải quân, đội thương thuyền hàng hải  và hiện đại hóa nước Nga, xây dựng Sankt-Peterburg, xây dựng hệ thống đường sá kênh đào vĩ đại, hoàn thiện cơ sở pháp luật, cải cách hành chính, lập nên Viện Hàn lâm Khoa học, thiết lập trường xóa mù chữ và dạy toán cấp cơ sở, trường kỹ thuật đào tạo thợ chuyên môn, xưởng in, nâng cao vai trò người phụ nữ,…

Pie đại đế là một vĩ nhân có tầm nhìn chiến lược sâu rộng, nhận thức đúng đắn và quyết tâm sắt đá cao độ để đi đến đích. Ông nung nấu hoài bão hiện đại hóa nước Nga nằm kề bên Tây Âu lúc ấy đã tiến bộ khá xa. Vua Pie đại đế đã  tự mình đóng một chiếc thuyền và học cách điều khiển nó, tổ chức riêng cho mình một đội quân và tập trận thường xuyên để cuối cùng chuyển thành đội quân tinh nhuệ hơn hẳn lực lượng nòng cốt của triều đình. Ông tổ chức một phái bộ sứ thần đi Tây Âu để học hỏi và tuyển chọn nhân tài về giúp cho triều đình của mình. Ông vào vai thợ mộc học nghề ở Hà Lan để tự tay đóng một tàu chiến bắt đầu từ những súc gỗ thô sơ cho đến khi hạ thủy. Vua Pie đại đế sớm nhận ra nước Nga bao la không có hải quân mạnh, chỉ có đội thuyền đi đường sông, chỉ có một cảng biển thông ra thế giới trong sáu tháng mỗi năm; Vua Pie đại đế nhận thức được công dụng diệu kỳ của thuyền buồm có thể đi ngược gió, điều mà các loại thuyền bè của Nga hồi ấy không làm được. Ông đã quyết tâm xây dựng hải quân Nga và tạo dựng cảng biển từ tầm nhìn chiến lược sâu rộng đó.

Pie Đại đế là người quyết đoán và quyết tâm rất cao. Ông đã xây dựng thành phố Sankt-Peterburg bề thế từ bãi đầm lầy ngay cả trong những năm tháng chiến tranh, ngay cả khi vùng đất mới được chiếm từ Thụy Điển, chưa có hòa ước để hợp thức hóa là thuộc Nga vĩnh viễn. Ông ra lệnh tịch thu chuông nhà thờ để đúc đại bác phục vụ công cuộc chống ngoại xâm bất chấp giáo hội đầy quyền uy phản đối. Ông đòi hỏi các tầng lớp tăng lữ, quý tộc và thương nhân góp chi phí vào việc xây dựng hải quân nếu ai không làm sẽ bị tịch thu gia sản, ai kêu nài sẽ phải đóng góp thêm. Ông ra lệnh đàn ông Nga phải cắt râu cho gọn và tất cả người Nga phải chuyển trang phục truyền thống sang kiểu gọn nhẹ , mục đích để dân Nga tăng năng suất làm việc. Ông thể hiện quyết tâm sắt đá giành đường giao thông hàng hải và căn cứ hải quân Nga bằng việc tranh đoạt Sankt-Peterburg thể hiện qua chính sách là có thể nhượng bộ Thụy Điển bất cứ điều gì ngoại trừ trả lại Sankt-Peterburg. Quyết tâm này được lưu truyền mãi về sau, với kết quả là Sankt-Peterburg vẫn đứng vững trước các cuộc tấn công của vua Karl XII của Thụy Điển, cũng như của Hoàng đế Napoléon I của Pháp và Adolf Hitler của Đức Quốc xã sau này.

Pie Đại đế xác lập được quyền uy tuyệt đối và rất biết trọng dụng nhân tài, cho dù họ là người Nga hoặc người nước ngoài. Ông ban hành luật theo ý muốn, ngay cả quyền xử tử hình bất cứ ai đi ngược lại ý ông. Trong một thể chế quân chủ lập hiến và một bối cảnh xã hội nước Nga trì trệ  thì chế độ độc đoán, hà khắc, đôi lúc tàn bạo của ông, có ý nghĩa cải tổ, tuy có làm mất đi một số giá trị truyền thống của xã hội Nga. Những tầng lớp thấp trong xã hội Nga, đặc biệt là nông dân, ít được hưởng lợi trực tiếp từ thành quả của ông, trái lại, họ còn khổ sở hơn vì phải trực tiếp hoặc gián tiếp chịu gánh nặng để xây dựng căn cứ hải quân, xây thành phố Sankt-Peterburg, chi phí cho cuộc chiến với Thụy Điển. Sự biện luận là khi nước Nga hùng cường thì đời sống nông dân Nga cũng được nâng cao hơn.

Pie Đại đế rất sâu sát thực tiễn và hiếu học. Ông đi viếng thăm đủ mọi nơi: nhà máy chế biến, xưởng cưa, nhà máy in, xưởng se sợi, nhà máy giấy, xưởng cơ khí, viện bảo tàng, vườn thực vật, phòng thí nghiệm,… Ông đến thăm và hỏi han các kiến trúc sư, nhà điêu khắc, kỹ sư, nhà thiên nhiên học, người phát minh kính hiển vi, giáo sư giải phẫu học,… Ông học hỏi từ người hành nghề tầm thường nhất để biết cách vá quần áo của mình, đóng một đôi dép cho riêng mình, và còn tập tháo ráp đồng hồ. Ông luôn phân tích tại sao dân Nga quá nghèo và dân Tây Âu quá giàu khi thơ thẩn đi xem phố xá, chợ búa nước ngoại cho đến lúc nghiêm túc gặp các nhà khoa học, các nơi làm việc. Với một sự hiếu học hiếm thấy  và sự tự do phóng khoáng trong suy nghĩ mà du học sinh Pyotr Mikhailov đã hiểu rất sâu về thực tiễn thuộc nhiều lĩnh vực :ngoại thương, cảng biển, đội thương thuyền,  tôn giáo…. để đúc kết thành chiến lược đồng bộ, tổng thể phát triển nước Nga.

Stalin rất ngưỡng mộ Pie đại đế (*). Trong “Điếu Ngư Đài quốc sự phong vân” những bí mật của nền ngoại giao Trung Quốc, do Lý Kiện biên soạn, Nhà Xuất bản Văn nghệ Thái bạch (Trung Quốc) ấn hành, NXB Văn hóa Thông tin năm 2003, có kể lại câu chuyện lịch sử: Đêm trước của cuộc nội chiến Quốc Cộng kéo dài hơn hai mươi năm, Tưởng Giới Thạch từng giữ mối quan hệ ngoại giao chính thức với Stalin đã dự cảm thầy Đảng Cộng sản Trung Quốc do Mao Trạch Đông đứng đầu sẽ trở thành đối thủ khó có thể chiến thắng được. Mẫn cảm và đa mưu, Tưởng Giới Thạch gọi con là Tưởng Kinh Quốc tới giao nhiệm vụ thay mặt ông giao hảo với Stalin (tương tự như quan hệ Trung Mỹ từ lâu ông đã giao độc quyền cho vợ ông là Tống Mỹ Linh). Tưởng Giới Thạch nói với Tưởng Kinh Quốc: ” Cha muốn mời Liên Xô đứng ra thử dàn xếp hộ quan hệ giữa cha và Mao Trạch Đông. Chỉ cần Trung Cộng hạ vũ khí, thống nhất mệnh lệnh hành chính, chúng ta và Mao Trạch Đông vẫn có thể là cộng sự được ! Mao Trạch Đông không nghe cha, nhưng có thể lời nói của Stalin và người Liên Xô đối với họ ít nhiều cũng có tác dụng”. Cuối năm 1945, Tưởng Kinh Quốc sang Liên Xô gặp Stalin trong phòng làm việc ở điện Kremlin. Tất cả vẫn như cũ, duy chỉ có một điều hơi khác lần trước Tưởng Kinh Quốc diện kiến Stalin năm 1931 là “Ngày trước ở sau lưng bàn sách của Stalin treo một bức tranh sơn dầu Lê Nin đứng trên xe tăng kêu gọi nhân dân lao động” Bây giờ thì đổi là bức ảnh Pie Đại đế. Lúc đầu Tưởng Kinh Quốc không hiểu , qua gợi mở của người thư ký Stalin , mới như bừng ra điều đại ngộ. Thì ra ” giờ khác, trước khác” thời thế đã biến đổi. Quả như dự liệu, Stalin muốn đứng trung lập giữa Tưởng và Mao để “tọa sơn quan hổ đấu”. Tưởng Giới Thạch sau lần đi đó của Tưởng Kinh Quốc đã tinh ý nhận biết sự chuyển hóa của đại cục, Tưởng chọn chiến lược ngã hẳn về Mỹ nên dù thua, vẫn neo được Đài Loan cho mãi đến tận ngày nay.

Pie Đại đế là biểu tượng nhân vật lịch sử vĩ đại nhất nước Nga, vẫn sừng sững sau hơn ba thế kỷ khi ông qua đời (1725-2019). Ông được những nhà khoa học, văn nghệ sĩ kiệt xuất và quảng đại quần chúng nhân dân tôn kính, ngưỡng mộ và ca ngợi nồng nàn. Pie đại đế cùng nữ hoàng Ekaterina II là hai người được Tổng thống Nga Vladimir Vladimirovich Putin đề cao nhất trong lịch sử nước Nga.

Pie đại đế được Wikipedia Tiếng Việt đúc kết, trang Tình yêu cuộc sống và trang Chào ngày mới chọn lọc thông tin và tư liệu hóa vào ngày Pie đại đế  thành lập thành phố Sankt-Peterburg trên lãnh thổ mới chiếm được từ Thụy Điển. (Hoàng Kim)

Xem thêm: (*)

JoshepStalin

 
TRUYỆN JOSEPH STALIN

Hoàng Kim

Stalin là nhân vật lịch sử vĩ đại gây tranh cãi ở nước Nga. Stalin tên đầy đủ là  Joseph Stalin. Ông sinh ngày 21 tháng 12 năm 1879 mất ngày 5 tháng 3 năm 1953, là lãnh đạo tối cao của Liên bang Xô viết từ giữa thập niên 1920 cho đến khi qua đời năm 1953. Ngày nay, Stalin là một nhân vật lịch sử gây nhiều tranh luận. Nhiều nhà sử học và người phương Tây xem Stalin là một bạo chúa, giáo sư Richard Lorenz, giáo sư về lịch sử Đông Âu cho rằng Stalin đã lựa chọn một con đường tốn kém nhất để đưa Liên Xô đạt tới một xã hội công nghệ, tuy nhiên cũng không thể phủ nhận nhờ quá trình này mà Liên Xô đã giành thắng lợi trong thế chiến thứ hai. Trong khi đó, quan điểm của người dân Liên bang Nga về Stalin khá khác biệt, với một tỉ lệ đáng kể xem ông là một anh hùng dân tộc, một vĩ nhân. Hướng dẫn cho giáo viên lịch sử được xuất bản vào năm 2008 của chính phủ Nga thì trình bày về Stalin như một lãnh đạo “quản lý hiệu quả” và “người hiện đại hóa”.

Stalin là một nhà cách mạng Bolshevik tham gia vào Cách mạng tháng Mười năm 1917, Stalin nhậm chức Tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng năm 1922, khi đó chỉ là một vị trí ít có quyền lực. Stalin chiến thắng trong cuộc đấu tranh quyền lực sau khi Lenin qua đời năm 1924 và đến khoảng cuối thập niên 1920 ông nắm quyền tối cao tuyệt đối ở Liên Xô qua các thời kỳ công nghiệp hóa và hợp tác hóa những năm 30, Chiến tranh Xô-Đức và thời kỳ đầu Chiến tranh Lạnh. Bên cạnh vị trí lãnh đạo đảng, ông cũng từng đảm nhiệm các vị trí Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Dân ủy (tức Bộ trưởng) Quốc phòng Liên Xô, và tự phong hàm Đại Nguyên soái Liên Xô.

Stalin trong thời kỳ cầm quyền của mình, một mặt, đã lãnh đạo Liên Xô chiến thắng Đức Quốc Xã trong Thế chiến thứ hai. Liên Xô cùng với việc Quốc tế Cộng sản đóng ở Moskva, đã trỗi dậy thành một siêu cường. Nhờ vậy, danh tiếng và ảnh hưởng của Stalin lan khắp thế giới. Mặt khác Stalin đã tiến hành các biện pháp đàn áp các đối thủ chính trị hoặc những người mà ông cho là nguy hiểm, đỉnh cao là những năm 1930.

Joshep Stalin hiện là một nhân vật lịch sử gây nhiều tranh luận. Nhiều nhà sử học và người phương Tây xem Stalin là một bạo chúa, giáo sư Richard Lorenz, giáo sư về lịch sử Đông Âu cho rằng Stalin đã lựa chọn một con đường tốn kém nhất để đưa Liên Xô đạt tới một xã hội công nghệ, tuy nhiên cũng không thể phủ nhận nhờ quá trình này mà Liên Xô đã giành thắng lợi trong thế chiến thứ hai. Trong khi đó, quan điểm của người dân Liên bang Nga về Stalin khá khác biệt, với một tỉ lệ đáng kể xem ông là một anh hùng dân tộc, một vĩ nhân. Hướng dẫn cho giáo viên lịch sử được xuất bản vào năm 2008 của chính phủ Nga thì trình bày về Stalin như một lãnh đạo “quản lý hiệu quả” và “người hiện đại hóa”.

Stalin lúc còn sống rất được mọi người nể trọng và e ngại, có rất ít ai giỡn mặt hoặc đùa bỡn về ông, ngoại trừ vài câu chuyện như truyện Josip Broz Tito chỉ rãi rác. Tito viết thư cho Stalin: “Chúng tôi học hỏi và theo gương của hệ thống Xô- viết, nhưng chúng tôi phát triển chủ nghĩa xã hội theo dạng thái khác… Mỗi người chúng tôi dầu có yêu đất chủ nghĩa xã hội Liên Xô bao nhiêu cũng không thể yêu hơn tổ quốc của chính chúng tôi“. Khi Stalin đi xa hơn, ra lệnh thủ tiêu Tito nhưng thất bại. Tito lại gửi thư cho Stalin: “Đừng gửi người sang giết tôi. Chúng tôi đã bắt được 5 tên, một tên mang bom, một tên khác mang súng trường… Nếu ông không ngưng gửi sát thủ, tôi buộc phải gửi một sát thủ sang Moskva, và tôi sẽ không cần gửi sát thủ thứ nhì đâu.”

Tiếu lâm Liên Xô sau khi Stalin mất đã lâu, mới kể chuyện một thời, như chuyện “Stalin bị mất tẩu”:  “Một hôm Stalin bị mất tẩu và cho rằng có kẻ đã lấy cắp tẩu của mình. Liền điều động người điều tra tìm ra thủ phạm. Hôm sau ngài tìm ra tẩu của mình và gọi gấp cấp dưới hãy thả những kẻ tình nghi. – “Thưa đồng chí tôi không thể thả 10 người đó được.” – “Tại sao?” – “Tất cả bọn họ đã nhận tội trước máy quay của cơ quan điều tra, và đã được đưa lên truyền hình quốc gia…” “Trong trại cải tạo” : “Trong trại cải tạo ở Siberia, ba tù nhân nói chuyện và hỏi vì sao họ vào đây. Một người nói: “Tôi bị tù vì hay đi làm muộn năm phút, và người ta xử tôi tội phá hoại sản xuất.” Người thứ nhì tiếp: “Tôi thì hay đi làm sớm năm phút và bị buộc tội làm gián điệp, theo dõi công xưởng cho địch.” Còn người thứ ba thì thở dài: “Tôi luôn đi làm đúng giờ và họ hỏi vì sao thì tôi lại chìa đồng hồ đeo tay ra và bị tù vì dùng hàng Phương Tây.”

Truyện Joseph Stalin là bài nghiên cứu lịch sử văn hóa. Thông tin chính được thu thập căn cứ từ các nguồn trích dẫn tuyển chọn tại thư mục Joshep Stalin trên Từ Điển Bách Khoa Mở Wikipedia Tiếng Việt, Wikipedia tiếng Anh, so sánh với bản http://www.history.com có cùng thư mục. Bài viết này chắt lọc tư liệu nhằm cung cấp cho bạn đọc, học sinh và sinh viên Việt Nam tài liệu về một nhân vật lịch sử nước Nga.


THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim

‘Thanh nhàn vô sự là tiên’ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã viết vậy trong dòng đầu của Sấm Ký. Norman Borlaug lời Thầy dặn thật thấm thía:“Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”. “Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; Thầy bạn trong đời tôi là một điểm nhấn cần đọc lại và suy ngẫm. Hoàng Kim thật tâm đắc khi tự đáy lòng viết lên những lời: “Em đã học nhiều gương sáng danh nhân Hãy biết nhục biết hèn mà rèn chí Thắp đèn lên đi em ngọn đèn dầu bền bỉ Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin”. Bạn tốt khó tìm, khó bỏ lại, và không thể quên lãng. (Good friends are hard to find, harder to leave, and impossible to forget.) Hoàng Kim cám ơn Mai Thành Phụng, Nguyen Duc Thuận và các bạn. THẦy BẠN TRONG ĐỜI TÔI là thông tin và một số hình ảnh chọn lọc lưu lại để dạy và học Tình yêu cuộc sống https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

Congviecnaytraolaichoem

MỘT NIỀM TIN THẮP LỬA
Hoàng Kim

Nhìn đàn em ngời niềm vui rạng rỡ.
Chợt thấy lòng rưng rưng.
Công việc nghề nông cực mà hạnh phúc.
Cố lên em nổ lực không ngừng !

Hột mồ hôi lắng vào hạt gạo
Câu ca ông bà theo suốt tháng năm
Thêm bữa cơm ngon cho người lao động
Nâng chén cơm thơm, qúy trọng người trồng.

Em ơi hãy học làm ruộng giỏi
Nghề nông thời nào cũng quý kỹ năng
Người dân khá hơn là niềm ao ước
Công việc này giao lại cho em.

Có một mùa xuân hạnh phúc
Ơn mẹ cha lam lũ sớm hôm
Thương con vạc gọi sao mai dậy sớm
Một niềm tin thắp lửa giữa tâm hồn.

Bước tiếp bước giữa trường đời gian khó
Học làm người lao động siêng năng
Rèn nhân cách vượt lên bao cám dỗ
Đức và Tài tử tế giữa Nhân Dân.

HuynhHuong Vo Minh Luan
Congviecnaytraolaichoem
Congviecnaytraolaichoem1

Congviecnaytraolaichoem4
GiadinhNN
IAS 20 11 2015aa
IAS 20 11 2015a
IAS 20 11 2015aaa

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

 
Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Chào ngày mới 27 tháng 5


Petr Drozhdin 009.jpg
CNM365. Chào ngày mới 27 tháng 5. Wikipedia Ngày này năm xưa. Năm 1703 –Pie đại đế  Sa hoàng Pyotr I của Nga (tức Pie đại đế nhân vật lịch sử vĩ đại nhất nước Nga) cho thành lập thành phố Sankt-Peterburg trên lãnh thổ mới chiếm được từ Thụy Điển.  Năm 1994 – Bắt đầu vận hành Đường dây 500 kV Bắc – Nam tại Việt Nam, góp phần chấm dứt tình trạng thiếu điện trầm trọng ở miền Trung và miền Nam Việt Nam. Năm 1964 – Ngày mất  Jawaharlal Nehru, thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ Một trong những nhân vật trung tâm chính trị Ấn Độ cho phần lớn thế kỷ 20 (sinh năm 1889)

 

27 tháng 5

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày 27 tháng 5 là ngày thứ 147 (148 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 218 ngày trong năm.

« Tháng 5 năm 2015 »
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31

Mục lục

Sự kiện

Sinh

Mất

Ngày lễ và kỷ niệm

Tháng 1 | Tháng 2 | Tháng 3 | Tháng 4 | Tháng 5 | Tháng 6 | Tháng 7 | Tháng 8 | Tháng 9 | Tháng 10 | Tháng 11 | Tháng 12

Tham khảo