Chào ngày mới 5 tháng 1


CNM365 Chào ngày mới 5 tháng 1. Tiểu hàn một trong 24 tiết khí lịch nhà nông.  Ngày này năm xưa. Ngày 5 tháng 1 năm 2005, Eris hành tinh lùn lớn nhất được biết đến trong Hệ Mặt Trời [1] (gồm Mặt Trời, các hành tinh và hành tinh lùn trong hệ Mặt Trời. hình) do một nhóm nhà khoa học phát hiện từ bức ảnh chụp năm 2003; Ngày 5 tháng 1 năm 1888, ngày sinh Bùi Kỷ, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn hóa nổi tiếng người Việt Nam (mất năm 1960). Ngày 5 tháng 1 năm 1933,  Cầu Cổng Vàng là một trong những cây cầu đẹp nhất nước Mỹ được khởi công xây dựng tại eo biển vào vịnh San Francisco, miền Bắc California; xem tiếp https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-5-thang-1/; Bài viết chọn lọc trong ngày: Tiết tiểu hàn ngày 5 tháng 1, 24 tiết khí lịch nhà nông; Sớm xuân; Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời

Tiết tiểu hàn ngày 5 tháng 1

Hoàng Kim.

Tiết Tiểu hàn  rét nhẹ .
Đêm lạnh nhớ Đào Công.
Ngược gió đi không nản.
Xuân sớm thương người hiền.

Đêm trắng và bình minh.
Thung dung chào ngày mới.
Phúc hậu sống an nhiên.
Đông qua rồi xuân tới.

Ngược gió đi không nản.
Rừng thông tuyết phủ dày.
Ngọa Long cương đâu nhỉ.
Đầy trời hoa tuyết bay

24 TIẾT KHÍ LỊCH NHÀ NÔNG

Hoàng Kim

5 tháng Một bắt đầu rét nhẹ
21 tháng Một
trời lạnh cắt da
4 tháng Hai ngày
xuân mới đến
20 tháng Hai
Thiên Địa Nhân hòa

Mong em đừng quên “nhất thì nhì thục
Cuộc sống tình yêu chãy mãi không cùng
Em HỌC ĐỂ LÀM (Learning by Doing) 24
tiết khí
Mộc mạc hát vần 
Bài học đầu tiên.

Đồng dao cho em khuyên em đừng tưởng
Câu chuyện mùa xuân
thêm cho mồng Ba
Trải
Cốc Vũ qua ngày Hạ Chí
Đại Thử rồi Sương Giáng thành hoa.

Đất cảm trời thương, lòng người gắn bó
Dẫu khó vạn lần khéo liệu cũng xong
Em đừng ngại mùa Xuân rồi lâu đến
Bởi biết rằng
năm tháng đó là em.

24tietkhi

24 tiet khi PhanLanHoa

 

troixanhbannanluavangmua

SỚM XUÂN

Hoàng Kim

Trời xanh trao nắng lúa vàng ưa
Xuân tới đông qua tiết trở mùa
Sớm xuân tỉnh thức nghe chim hót
Một khúc tâm tình trẻ tiếng thơ.

(tiếp vần liên hoàn … 24 tiết khí lịch nhà nông)

PHÚC HẬU SUỐT ĐỜI LÀM VIỆC THIỆN

Kính tặng Thầy Norman Borlaug

Hoàng Kim

Việc chính đời người chỉ ít thôi
Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi
Phúc hậu suốt đời làm việc thiện
Di sản muôn năm mãi sáng ngời.

I have a dream
Ai trên đời cũng có một giấc mơ.

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà hiền triết phương Đông, danh sĩ tinh hoa, thuận lý tuỳ thời, thung dung thanh nhàn, trước biến động phức tạp. Người có giấc mơ minh triết, gần gủi thiên nhiên và dân chúng: “Vẹn toàn điều Thiện là Trung, không vẹn toàn điều Thiện thì không phải là Trung. Tân là cái bến, biết chỗ dừng lại là bến chính, không biết chỗ dừng lại là bến mê… Nghĩa chữ Trung chính là ở chỗ Chí Thiện. Làm việc thiện không phải vì công tích mà ở tấm lòng”.

Norman Borlaug nhà khoa học xanh có giấc mơ và lời dặn thật thấm thía: “ Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”.

Khi có một giấc mơ cháy bỏng, biết bao nhiêu gương sáng danh nhân đã làm được những diều phi thường. Chủ tịch Hồ Chí Minh người kết nối sức mạnh Việt khi suốt đời dấn thân cho một ước nguyện: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Tổng thống Mỹ Barack Obama là tổng thống da màu đầu tiên của nước Mỹ, đã làm được điều tưởng như không thể, “Tôi có một giấc mơ lay động lương tâm và bừng dậy sức mạnh của nước Mỹ” khi ông tiếp nối giấc mơ của Martin Luther King “ I Have a Dream

Tôi có giấc mơ phúc hậu suốt đời làm việc thiện, làm ngọc cho đời, hoa của đất. Tình yêu cuộc sống, thung dung, day và học, khát khao xanh, Ngọc phương Nam mang cho tôi yêu thương, niềm tin và nghị lực.

Hoàng Kim

HoangKim4

THẮP ĐÈN LÊN ĐI EM !

Em đã học nhiều gương sáng danh nhân
Hãy biết nhục, biết hèn mà lập chí
Thắp đèn lên đi em, ngọn đèn dầu bền bỉ
Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin

NHỚ ĐÀO DUY TỪ

Ngược gió đi không nản
Rừng thông tuyết phủ dày
Ngọa Long cương đâu nhỉ
Đầy trời hoa tuyết bay

LÊN YÊN TỬ

Tỉnh thức giữa đêm thiêng Yên Tử
Để thấm hiểu đức Nhân Tông
Ta thành tâm đi bộ
Lên tận đỉnh chủa Đồng
Tâm sáng Ức Trai trong tựa ngọc

KÍNH CHÀO SỰ DẤN THÂN CHO MỘT SỰ NGHIỆP LỚN

Lời cám ơn nhân lễ đón nhận 40 năm tuổi Đảng (1973-2013)

Kính thưa đ/c Nguyễn Hay, Hiệu trưởng; Đ/c Huỳnh Thanh Hùng – Bí thư Đảng ủy, P. Hiệu trưởng; các đ/c trong Ban Chấp hành Đảng ủy; lãnh đạo các đoàn thể quần chúng, đảng viên được nhận huy hiệu 40 năm, 30 năm tuổi Đảng và toàn thể cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh.

Tôi là Hoàng Kim, hôm nay vinh dự được đón nhận huy hiệu 40 năm tuổi Đảng. Đây là phần thưởng cao quý của Đảng đã ghi nhận quá trình 40 năm công tác của tôi từ ngày kết nạp Đảng trong quân đội 9 tháng 8 năm 1973 cho đến nay trãi qua các nhiệm vụ làm người chiến sĩ, nhà khoa học và thầy giáo. Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh là nôi đào tạo tôi từ năm 1977 đến năm 1981 và nơi tôi về giảng dạy cây lương thực từ năm 2006 đến nay. Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam là nơi mà tôi làm cán bộ nghiên cứu khoa học nông nghiệp suốt từ năm 1981 đến năm 2006, trong đó tôi có 20 năm làm phó giám đốc và giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc.”Bao năm Trường Viện là nhà/ Lúa ngô khoai sắn đều là thịt xương/ Một đời người một rừng cây/ Thầy ươm giống tốt để mai thành rừng”.

Tại diễn đàn này, tôi bày tỏ lòng trung thành vô hạn đối với Tổ Quốc, Nhân Dân và sự biết ơn chân thành đối với Đảng, Bác Hồ. Tôi biết ơn nôi sinh thành, nơi lập nghiệp, gia đình, đồng bào, đồng chí, thầy cô, bạn hữu, học sinh, sinh viên yêu quý Lương Định Của con đường lúa gạo, Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời đã nuôi dưỡng, giáo dục và rèn luyện tôi từ một cậu bé mồ côi cả cha lẫn mẹ thành một người con trung hiếu của đất nước. Tôi nguyện làm nhà khoa học xanh, người Thầy chiến sĩ, tiếp tục dấn thân cho sự nghiệp xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí và đào tạo nhân tài theo gương của chủ tịch Hồ Chí Minh, đại tướng Võ Nguyên Giáp. Con theo Người nguyện làm Hoa Lúa.

Điều tâm đắc nhất của tôi trong chặng đường 40 năm tuổi Đảng là “phúc hậu suốt đời làm việc thiệndấn thân làm người chiến sĩ, nhà khoa học xanh và thầy giáo tận tụy, góp phần chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Đối với tôi, đó là niềm vinh dự lớn! Tôi quan niệm rằng sự dấn thân cho sự nghiệp “xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí và đào tạo nhân tài” là rất cơ bản và cấp thiết để góp phần chấn hưng Tổ Quốc, Dân tộc Việt tồn tại và phát triển. Tôi hạnh phúc được sinh ta trong một gia đình nông dân lao động lương thiện: cha tôi là người lính Vệ Quốc năm xưa, mẹ và anh chị đều là những người phúc hậu, anh trai tôi cũng là người lính, nhà bên vợ cũng vậy. Tôi đã nhận thức được ”Khi đất nước nguy biến thì không tiếc máu xương xả thân bảo vệ. Khi đất nước hòa bình thì gắng trau dồi làm người công dân phúc hậu, người thầy bạn tốt của công chúng, biết chăm lo chén cơm, việc học của người dân. Sống làm người tốt, làm đảng viên tốt!

Cám ơn các đồng chí.

Hoàng Kim

 

4b791-nonghocdongnai1
THẦY BẠN  LÀ LỘC XUÂN CUỘC ĐỜI

Hoàng Kim

Tôi viết bài này để tỏ lòng biết ơn thầy bạn dưới mái trường Nông Lâm thân thương và làm món quà nhỏ thân tặng cho các em sinh viên nghèo hiếu học nhân ngày Nhà giáo Việt Nam. Thầy, bạn là lộc xuân của đời tôi mà nếu thiếu sự động viên, giúp đỡ này thì tôi không thể có được ngày hôm nay:“Em đã học nhiều gương sáng danh nhân. Hãy biết nhục, biết hèn mà lập chí. Thắp đèn lên đi em, ngọn đèn dầu bền bỉ. Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin” (1).

Về lại mái trường ta đã lớn khôn   
Ai cũng có ước nguyện về trường. Tôi thấu hiểu vì sao thầy Đặng Quan Điện người Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn (tiền thân của Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh hiện nay) năm trước đã đề nghị cho Thầy được ghé thăm Trường trước khi Thầy đi vào chốn vĩnh hằng. Thầy Tôn Thất Trình, người hiệu trưởng thứ hai của Trường nay 80 tuổi đã viết blog The Gift (2) như một quà tặng trao lại cho lớp trẻ và viết hai  bài hột lúa (3), con cá (4) cho ngày Nhà giáo Việt Nam.  Thầy Lưu Trọng Hiếu với tình yêu thương gửi lại (5) đã hiến tặng toàn bộ tiền phúng viếng của Thầy cùng với số tiền gia đình góp thêm để làm quỷ học bổng cho Trường tặng những em sinh viên nghèo hiếu học. Ca sỹ Đàm Vĩnh Hưng tặng học bổng cho sinh viên Đại học Nông Lâm gặp khó khăn học giỏi (6) vì tuổi thơ của anh nhọc nhằn không có cơ hội đến trường, khi thành đạt anh muốn chia sẻ để chắp cánh cho những ước mơ.
Tôi cũng là người học trò nghèo năm xưa với ba lần ra vào trường đại học, cựu sinh viên của năm lớp, nay tỏ lòng biết ơn bằng cách trở lại Trường góp chút công sức đào tạo và vinh danh những người Thầy người Bạn đã cống hiến không mệt mỏi, thầm lặng và yêu thương góp công cho sự nghiệp trồng người. Chừng nào mỗi chúng ta chưa thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa đủ mang lại niềm vui cho bữa ăn người nghèo thì chừng đó chúng ta vẫn còn phải dạy và học. Cái gốc của sự học là học làm người. Bài học quý về tình thầy bạn mong rằng sẽ có ích cho các em sinh viên đang nổ lực khởi nghiệp.
Quê tôi ở miền Trung nghèo khó “Nhà mình gần ngã ba sông/ Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình,/ Linh Giang (7) sông núi hữu tình / Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con/ Chèo thuyền cho khuất bến Son/ Để con khỏi chộ (thấy) nước non thêm buồn/ Câu thơ quặn thắt đời con/ Mẹ cha mất sớm, con còn trẻ thơ ”. Mẹ tôi mất sớm, cha bị bom Mỹ giết hại, tôi và chị gái đã được anh Hoàng Ngọc Dộ nuôi dạy cơm ngày một bữa suốt năm năm trời. Thầy Nguyễn Khoa Tịnh đứng khóc trên bục giảng (8) vận động thầy cô, bạn hữu chia sớt khoai sắn giúp đỡ. Tôi cũng dạy năm lớp vở lòng, ba lớp bổ túc văn hóa để vượt khó vươn lên. Thầy Hiệu trưởng Trần Đình Côn đã viết những lời xúc động trong trường ca tình thầy trò: “Thương em nhỏ gieo neo mẹ mất. Lại cha già giặc giết hôm qua. Tình thầy, tình bạn, tình cha. Ấy là ân nghĩa thiết tha mặn nồng” (9)  Những gương mặt thầy bạn đã trở thành máu thịt trong đời tôi.
Thi đậu vào Trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc năm 1970, tôi học Trồng trọt 4 cùng khóa với các bạn Trần Văn Minh, Đỗ Thị Minh Huệ, Phan Thanh Kiếm, Đỗ Khắc Thịnh, Vũ Mạnh Hải, Phạm Sĩ Tân, Phạm Huy Trung, Lê Xuân Đính, Nguyễn Hữu Bình, Lê Huy Bá … cho đến ngày 02 tháng 9 năm 1971 thì tôi gia nhập quân đội cùng lứa với Nguyễn Văn Thạc. Đợt tuyển quân sinh viên trong ngày độc lập đã nói lên sự quyết liệt sinh tử và ý nghĩa thiêng liêng của ngày cầm súng. Chiến trường đánh lớn. Đơn vị chúng tôi chỉ huấn luyện rất ngắn rồi vào trận ngay với 81 đại đội vượt sông Thạch Hãn. Chiến dịch Quảng Trị năm 1972 sau này đã đi vào huyền thoại: “Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm” (10) Tổ chúng tôi bốn người thì Xuân và Chương hi sinh, chỉ Trung và tôi trở về trường sau ngày đất nước thống nhất.  Những vần thơ viết dưới đây là xúc động sâu xa của tôi khi nghĩ về bạn học đồng đội đã khuất: “Trận chiến hôm qua bạn góp máu hồng. Lớp học hôm nay bạn không trở lại. Trách nhiệm trong mình nhân lên gấp bội. Đồng chí ơi, tôi học cả phần anh” (11)
Tôi về học tiếp năm thứ hai tại Trồng trọt 10 của Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc đến cuối năm 1977 thì chuyển trường vào Đại học Nông nghiệp 4, tiền thân Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Trồng trọt 2 thuở đó là một lớp chung mãi cuối khóa mới tách ra 2A,2B, 2C. Tôi làm Chủ tịch Hội Sinh viên thay cho anh Nguyễn Anh Tuấn khoa thủy sản ra trường về dạy Đại học Cần Thơ. Trồng trọt khóa hai chúng tôi thuở đó được học với các thầy cô: Nguyễn Đăng Long, Tô Phúc Tường, Nguyễn Tâm Đài, Trịnh Xuân Vũ, Lê Văn Thượng, Ngô Kế Sương, Trần Thạnh, Lê Minh Triết, Phạm Kiến Nghiệp, Nguyễn Bá Khương, Nguyễn Tâm Thu, Nguyễn Bích Liễu, Trần Như Nguyện, Trần Nữ Thanh, Vũ Mỹ Liên, Từ Bích Thủy, Huỳnh Thị Lệ Nguyên, Trần Thị Kiếm, Vũ Thị Chỉnh, Ngô Thị Sáu, Huỳnh Trung Phu, Phan Gia Tân, Nguyễn Văn Tài, Nguyễn Văn Kế, … Ngoài ra còn có nhiều thầy cô hướng dẫn thực hành, thực tập, kỹ thuật phòng thí nghiệm, chủ nhiệm lớp như Bùi Cách Tuyến, Nguyễn Văn Kịp, Lê Quang Hưng, Trương Đình Khôi, Nguyễn Ngọc Châu, Nguyễn Gia Quốc, Nguyễn Văn Biền, Lê Huy Bá, Hoàng Quý Châu, Phạm Lệ Hòa, Đinh Ngọc Loan, Chung Anh Tú và cô Thảo làm thư ký văn phòng Khoa. Bác Năm Quỳnh là Bí thư Đảng ủy đầu tiên của Trường sau đó là thầy Kiên và cô Bạch Trà. Thầy Nguyễn Phan là Hiệu trưởng kiêm Trưởng Trại Thực nghiệm. Thầy Dương Thanh Liêm, Nguyễn Ngọc Tuân, Võ Thị Tuyết, Ngô Văn Mận, Bùi Xuân An … ở khoa Chăn nuôi Thú y, thầy Nguyển Yên Khâu, Nguyễn Quang Lộc … ở khoa Cơ khí, cô Nguyễn Thị Sâm ở Phòng Tổ chức, cô Văn Thị Bạch Mai dạy tiếng Anh, thầy Đặng, thầy Tuyển, thầy Châu ở Kinh tế -Mác Lê …Thầy Trần Thạnh, anh Quang, anh Đính, anh Đống ở trại Trường là những người đã gần gũi và giúp đỡ nhiều các lớp nông học.

Thầy Phan Gia Tân và lớp Trồng trọt 2C

Thuở đó đời sống thầy cô và sinh viên thật thiếu thốn. Các lớp Trồng trọt khóa 1, khóa 2, khóa 3 chúng tôi thường hoạt động chung như: thực hành sản xuất ở trại lúa Cát Lái, giúp dân phòng trừ rầy nâu, điều tra nông nghiệp, trồng cây dầu che mát sân trường, rèn nghề ở trại thực nghiệm, huấn luyện quốc phòng toàn dân, tập thể dục sáng, hội diễn văn nghệ, thi đấu bóng chuyền, bóng đá tạo nên sự thân tình gắn bó. Những sinh viên các khóa đầu tiên được đào tạo ở Khoa Nông học sau ngày Việt Nam thống nhất hiện đang công tác tại trường có các thầy cô như  Từ Thị Mỹ Thuận, Lê Văn Dũ, Huỳnh Hồng, Cao Xuân Tài, Phan Văn Tự, …

Hình ảnh lớp TT 3 (H1), nữ TT3 (H2) , Nhóm bạn TT2 (H3) và họp mặt lớp TT2A
Tháng 5 năm 1981, nhóm sinh viên của khoa Nông học đã bảo vệ thành công đề tài thu thập và tuyển chọn giống khoai lang Hoàng Long, Chiêm Dâu, Gạo, Bí Đà Lạt được Bộ Nông nghiệp công nhận giống ở Hội nghị Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Toàn Quốc Lần thứ Nhất tổ chức tại Thành phố Hố Chí Minh. Đây là một trong những kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đầu tiên của Trường giới thiệu cho sản xuất. Thầy Cô Khoa Nông học và hai lớp Trồng trọt 2, Trồng trọt 3 cũng đã làm họ trai họ gái tác thành đám cưới cho vợ chồng tôi. Sau này, chúng tôi lấy tên khoai Hoàng Long để đặt cho con và thầm hứa việc tiếp nối sự nghiệp nghiên cứu khoa học và giảng dạy, một nghề nghiệp cao quý và lương thiện. “<em>Biết ơn thầy cô giáo dịu hiền. Bằng khích lệ động viên lòng vượt khó. Trăm gian nan buổi ban đầu bở ngỡ. Có bạn thầy càng bền chí vươn lên. Trước mỗi khó khăn tập thể luôn bên. Chia ngọt xẻ bùi động viên tiếp sức. Thân thiết yêu thương như là ruột thịt. Ta tự nhủ lòng cần cố gắng hơn. Bạn học chúng tôi vẫn thỉnh thoảng họp mặt, có Danh sách các lớp Trồng trọt 2, Trồng trọt 3 số điện thoại và địa chỉ liên lạc. Một số hình ảnh của các lớp ngày ấy và bây giờ.

Những bài học quý từ những người Thầy
            Nhiều Thầy Bạn đã hun đúc nên nhân cách, niềm tin, nghị lực và trang bị kiến thức vào đời cho tôi, xin ghi lại một số người Thầy ảnh hưởng lớn đối với tôi và những bài học:

Thầy Mai Văn Quyền sống phúc hậu, tận tâm sát thực tiễn và hướng dẫn khoa học. Công việc làm người hướng dẫn khoa học trong điều kiện Việt Nam phải dành nhiều thời gian, chu đáo và nhiệt tình. Thầy Quyền là chuyên gia về kỹ thuật thâm canh lúa và hệ thống canh tác đã hướng nghiệp vào đời cho tôi. Những dòng thơ tôi viết trên trang cảm ơn của luận án tiến sĩ đã nói lên tình cảm của tôi đối với thầy cô: “Ơn Thầy (12). Cha ngày xưa nuôi con đi học. Một nắng hai sương trên những luống cày. Trán tư lự, cha thường suy nghĩ. Phải dạy con mình như thế nào đây? Cha mất sớm, bom thù rung mặt đất. Cái chết giằng cha ra khỏi tay con. Mắt cha lắng bao niềm ao ước. Vẫn lo cho con đến phút cuối cùng. Giặc giết cha, cha chưa kịp thấy. Tương lai con đi, sự nghiệp con làm. Cha có biết, luống cày cha bỏ dỡ. Cha ngã xuống rồi trao lại tay con. Trên luống cày này, đường cày con vững. Bởi có dáng thầy thay bóng cha xưa. Hiểu mảnh đất máu đào cha nhuộm đỏ. Thôi thúc tim con học tập phút giờ< …”. Thầy Quyền hiện đã trên 80 tuổi, đang đào tạo trên đại học cho Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh và nhiều Viện Trường khác. Tấm gương phúc hậu và tận tụy của Thầy luôn nhắc nhở tôi.

Thầy Norman Borlaug sống nhân đạo, làm nhà khoa học xanh và nêu gương tốt. Thầy là nhà nhân đạo, nhà nông học Mỹ cha đẻ của cuộc cách mạng xanh được tặng giải Nobel và Tổng thống Mỹ trao tặng huân chương cao quý nhất của nước Mỹ, thế giới tôn vinh là nhà bác học số một của nhân loại trong  cuộc chiến chống nghèo đói. Thầy đã suốt đời nghiên cứu giảng dạy về chọn tạo và phát triển cây lương thực, góp phần cải thiện đời sống và nâng cao thu nhập cho hàng trăm triệu nông dân nghèo ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Thầy là người sáng lập Giải thưởng Lương thực Thế giới và tổ chức nhiều hoạt động thiết thực thắp sáng niềm tin yêu cuộc sống. Tôi được Thầy ghé thăm gần trọn buổi chiều tại phòng riêng ở CIMMYT, Mexico ngày 29.8.1988. Thầy đã một mình ghé thăm người trò nhỏ duy nhất của châu Á trong lớp học “Quản lý Trung tâm/ Trạm trại Nông nghiệp”. Khi Thầy đến, tôi đang thắp nến trên giá sách trong phòng đề tưởng nhớ ngày cha mất. Biết cha tôi bị bom Mỹ giết hại tại làng nhỏ ở Quảng Bình của buổi chiều này hai mươi năm trước (1968) lúc tôi còn là học sinh trung học của Trường cấp Ba Bắc Quảng Trạch, Thầy bối rối xin lỗi và thật bất ngờ tôi đã có được một buổi chiều vô giá riêng tư bên Thầy. Lời Thầy dặn thật thấm thía: “Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “ Hãy vươn tới những vì sao(13). Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm tiếng để đời”.  (14)

Thầy Tôn Thất Trình sống nhân cách, dạy từ xa và chăm viết sách. Giáo sư Tôn Thất Trình sinh ngày 27 tháng 9 năm 1931 ở huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên (Huế), thuộc hoàng tộc nhà Nguyễn Phước, hiện hưu trí tại Irvine, California, Hoa Kỳ đã có nhiều đóng góp thiết thưc, hiệu quả cho nông nghiệp, giáo dục, kinh tế Việt Nam. Thầy làm giám đốc Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn theo bổ nhiệm của GS. Phạm Hoàng Hộ, tổng trưởng giáo dục đương thời chỉ sau bác sỹ Đặng Quan Điện vài tháng. Giáo sư Tôn Thất Trình đã hai lần làm Tổng Trưởng Bộ Canh Nông và Cải Cách Điền Địa năm 1967 và 1973, nguyên chánh chuyên viên,  tổng thư ký Ủy Ban Lúa Gạo Quốc Tế của FAO (Rome). Thành tựu nổi bật của giáo sư trên lĩnh vực nông nghiệp bao gồm việc chỉ đạo phát triển đại trà năm 1967-1973 lúa Thần Nông (IR8…) nguồn gốc IRRI mang lại chuyển biến mới cho nghề lúa Việt Nam; Giáo sư trong những năm làm việc ở FAO đã giúp đỡ Bộ Nông nghiệp Việt Nam phát triển các giống lúa thuần thấp cây, ngắn ngày nguồn gốc IRRI cho các tỉnh phìa Bắc; giúp phát triển  lúa lai, đẩy mạnh các chưong trình cao su tiểu điền, mía, bông vải, đay, đậu phộng , dừa, chuối, nuôi cá bè ở Châu Đốc An Giang, nuôi tôm ở Bạc Liêu, Sóc Trăng, nuôi cá măng ở Bình Định, nuôi tôm càng xanh ở ruộng nước ngọt, trồng phi lao chống cát bay, trồng bạch đàn xen cây họ đậu phủ xanh đất trống đồi trọc, trồng lại thông hai lá, ba lá ở Huế và ở Đà Lạt,  nuôi heo lai ba dòng nhiều nạc,  nuôi dê sữa , bò sữa, trồng rau, hoa, cây cảnh. Trong lĩnh vực giáo dục, giáo sư đã trực tiếp giảng dạy, đào tạo nhiều khóa học viên cao đẳng, đại học, biên soạn nhiều sách.  Giáo sư có nhiều kinh nghiệm và  đóng góp trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại và quan hệ quốc tế với Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Pháp…
Tôi học gián tiếp Thầy qua sách báo và internet. Giáo trình nông học sau ngày Việt Nam thống nhất thật thiếu thốn. Những sách Sinh lý Thực vật, Nông học Đại cương, Di truyền học, Khoa học Bệnh cây , Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam … do tập thể hoặc chuyên gia đầu ngành phía Bắc biên soạn thời đó hiếm và quý như vàng. Cái khó khác cho thầy trò chúng tôi là thiếu kinh nghiệm thực tiễn của đồng ruộng phương Nam. Những bộ sách của thầy Trình như Cải Thiện Trồng Lúa 1965-66 (hai lần tái bản), Nông Học Đại Cương 1967 (ba lần tái bản), Mía Đường 1972 (hai lần tái bản), Cây Ăn Trái Có Triển Vọng 1995 (ba lần tái bản), Cây Ăn Trái Cho Vùng Cao 2004, … cùng với sách của các thầy Nguyễn Hiến Lê, Trần Văn Giàu, Phạm Hoàng Hộ, Lương Định Của, Lê Văn Căn, Vũ Công Hậu, Vũ Tuyên Hoàng, Đường Hồng Dật, Nguyễn Văn Luật, Võ Tòng Xuân, Mai Văn Quyền, Thái Công Tụng, Chu Phạm Ngọc Sơn, Phạm Thành Hổ … đã bổ khuyết rất nhiều cho sự học hỏi và thực tế đồng ruộng của chúng tôi. Sau này khi đã ra nước ngoài, thầy Trình cũng viết rất nhiều những bài báo khoa học kỹ thuật, khuyến học trên các báo nước ngoài, báoViệt Nam và blog The Gift.
Điều tôi thầm phục Thầy là nhân cách kẻ sĩ vượt lên cái khó của hoàn cảnh để phụng sự đất nước. Lúa Thần Nông áp dụng ở miền Nam sớm hơn miền Bắc gần một thập kỷ. Sự giúp đỡ liên tục và hiệu quả của FAO sau ngày Việt Nam thống nhất có công lớn của thầy Trình và anh Nguyễn Văn Đạt làm chánh chuyên gia của FAO.  Blog The Gift là nơi lưu trữ những “tâm tình” của gíáo sư dành cho Việt Nam, đăng các bài chọn lọc của Thầy từ năm 2005 sau khi về hưu. Đa số các bài viết trên blog của giáo sư về Phát triển Nông nghiệp, Kinh Tế Việt Nam, Khoa học và Đời sống  trong chiều hướng khuyến khích sự hiếu học của lớp trẻ. Nhân cách và tầm nhìn của Thầy đối với tương lai và vận mệnh của đất nước  đã đưa đến những đóng góp hiệu quả của Thầy kết nối giữa quá khứ và hiện tại, tạo niềm tin tương lai, hòa giải và hòa hợp dân tộc.
Thầy, Bạn  là lộc xuân của cuộcđời

Bill Clinton trong tác phẩm ‘Đời tôi’ (15) đã xác định năm việc chính quan trọng nhất của đời mình là muốn làm người tốt, có gia đình êm ấm, có bạn tốt, thành đạt trong cuộc sống và viết được một cuốn sách để đời. Ông đã giữ trên 30 năm cuốn sách mỏng “Làm thế nào để kiểm soát thời gian và cuộc sống của bạn” và nhớ rõ năm việc chính mà ông ước mơ từ lúc còn trẻ. Thầy quý bạn hiền là lộc xuân của cuộc đời. Tôi biết ơn mái trường thân yêu mà từ đó tôi đã vào đời để có được những cơ hội học và làm những điều hay lẽ phải.
Anh Bùi Chí Bửu tâm sự với tôi: Anh Bổng (Bùi Bá Bổng) và mình đều rất thích bài thơ này của Sơn Nam :

Trong khói sóng mênh mông
Có bóng người vô danh
Từ bên này sông Tiền
Qua bên kia sông Hậu
Tay ôm đàn độc huyền
Điệu thơ Lục Vân Tiên
Với câu chữ
Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả
Từ Cà Mau Rạch Giá
Dựng chòi đốt lửa giữa rừng thiêng
Muỗi vắt nhiều hơn cỏ
Chướng khí mờ như sương
Thân chưa là lính thú
Sao không về cố hương  ?

Anh Mai Thành Phụng vừa lo xong diễn đàn khuyến nông Sản xuất lúa theo GAP (17) tại Tiền Giang lại lặn lội đi Sóc Trăng ngay để kịp Hội thi và trình diễn máy thu hoạch lúa. Anh Lê Hùng Lân trăn trở cho giống lúa mới Nàng Hoa 9 và thương hiệu gạo Việt xuất khẩu. Anh Trần Văn Đạt  vừa giúp ý kiến “Xây dựng thương hiệu cho lúa gạo Việt Nam” lại hổ trợ ngay bài viết mới (18).

Trường Đại Học Nông Lâm Thủ Đức 2005 Nửa Thế kỷ Xây dựng và Phát triển (19) đến nay 2010 đã tròn 55 năm kỹ niệm ngày thành lập. Dưới mái trường thân yêu này, có biết bao nhà khoa học xanh, nhà giáo nghề nông vô danh đã thầm lặng gắn bó đời mình với nhà nông, sinh viên, ruộng đồng, giảng đường và phòng thí nghiệm. Thật xúc động và tự hào được góp phần giới thiệu một góc nhìn về sự dấn thân và kinh nghiệm của họ…

TS. Hoàng Kim, cựu sinh viên TT2-NLU
GVC Bộ môn Cây Lương thực, Rau Hoa Quả
http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkim

Tài liệu dẫn
1.   Hoàng Kim 2009 Thắp đèn lên đi em! (1970) http://hoangkimlong.blogspot.com/2009/06/thap-en-len-i-em.html

2.   Tôn Thất Trình và chủ bút tonnubn@gmail.com . The Gifthttp://tonthat-tonnu.blogspot.com/
3.   Tôn Thất Trình 2010. Hột nguyên vẹn http://tonthat-tonnu.blogspot.com/2010/08/hot-nguyen-ven.html
4.   Tôn Thất Trình 2010. Nuôi cá biển Việt Namhttp://tonthat-tonnu.blogspot.com/2010/08/nuoi-ca-bien-viet-nam.html
5.   Hoàng Kim 2009. Trường tôi và lòng yêu thương gửi lại của thầy Lưu Trọng Hiếu
8.   Hoàng Kim 2008 . Di cảo thơ thầy Nguyễn Khoa Tịnh : Em ơi em can đảm bước chân lên ! http://my.opera.com/hoangkimvietnam/blog/em-oi-em-can-dam-b
9.   Trần Đình Côn 1968. Bài ca Trường cấp ba Bắc Quảng Trạch. In trong Kỷ yếu Mái trường bên dòng sông Gianh trang 23.
10. Văn Công Hùng 2007. Người thường niên thả hoa trên dòng Thạch Hãnhttp://vietbao.vn/Van-hoa/Nguoi-thuong-nien-tha-hoa-tren-dong-Thach-Han/70098849/181/
11. Hoàng Kim 2007. Nghị lực (1977). In trong Kỷ yếu Trồng trọt C Khóa 2 (1976-1981) Đại học Nông Lâm TP. HCM tr.50-51. http://thovanhoangkim.blogspot.com/2008/09/ngh-lc.html
13. Doanh Anh 2009. Cha đẻ của cách mạng xanh: Hãy vươn tới những vì sao. Mekong News. http://mekongnet.ru/index.php?mod=News&sid=11248
14. Hoàng Kim 2009. Norman Borlaug di sản niềm tin và nghị lực. http://foodcrops.blogspot.com/2009/09/nho-norman-borlaug.html
15. Bill Clinton 2007. Đời tôi. Nhà xuất bản Công an Nhân dân , TP Hồ Chí Minh. 1375 trang.
16. Institute of Agricultural Sciences for Southern Vietnam (IAS) 2009 Research Highlights . Commemorating 85 years since foundation. 121 Nguyen Binh Khiem St. District1. Ho Chi Minh city, Vietnam. Tel: 84.8.38228371 Fax +84.8. 38297650 Email iasvn@vnn.vn, iasvn@iasvn.org Website http://iasvn.org
17. Mai Thành Phụng, Phạm Văn Tình, Vũ Tiết Sơn 2010. Diễn đàn Khuyến nông @Nông nghiệp lần thứ 5-2010 chuyên đề “Sản xuất lúa theo GAP” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia chủ trì, tổ chức tại Tiền Giang. Nhà xuất bản nông nghiệp TP. Hồ Chí Minh, 468 trang.
18. Trần Văn Đạt 2010. Những tháng ngày với Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc Sài Gònwww.tranvandat.com
19. Trường Đại Học Nông Lâm Thủ Đức. 2005. Nửa Thế kỷ Xây dựng và Phát triển. Kỷ yếu Trường Đại Học Nông Lâm, 250 trang. Địa chỉ: Phường Linh Trung, Quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Điện thoại: (84-8)-38966780- Fax: 84-8-38960713 Email: vp @ hcmuaf.edu.vn  – Website: http://www.hcmuaf.edu.vnBài đã đăng trong Kỹ yếu Khoa Nông học Kỹ niệm 55 năm ngày thành lập Trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh trang 97-105. Tải toàn văn cuốn kỷ yếu 120 trang tại đây:
Hoàng Kim shared Photography by Kent Weakley‘s photo.

5 hrs · Ho Chi Minh City Greeting from Hoàng Kim Vietnam. I really love Photography by Kent Wealey. Best regards.

PHOTOGRAPHYKentWeakley

Photography by Kent Weakley

Enough of stuff, it’s time to EXPERIENCE!!! Moab Photography Adventure by Kent Weakley. Join Us! > http://kentweakley.com/…/landscape-photography-adventure-m…/

Video nhạc tuyển
Ban Mai

 
Peacefully
KimYouTubeTrở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam
Advertisements

Chào ngày mới 5 tháng 1


Mặt Trời, các hành tinh và hành tinh lùntrong Hệ Mặt Trời. Kích cỡ được vẽ theo tỷ lệ, còn khoảng cách đến Mặt Trời thì không đúng.
CNM365
Chào ngày mới 5 tháng 1. Wikipedia Ngày này năm xưa. Tiểu hàn; Năm 2005, Eris, hành tinh lùn lớn nhất được biết đến trong Hệ Mặt Trời do phát hiện của một nhóm nhà khoa học từ bức ảnh chụp năm 2003 (Mặt Trời, các hành tinhhành tinh lùn trong hệ Mặt Trời.[1] hình) ; Năm 1888 –ngày sinh Bùi Kỷ, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn hóa người Việt Nam (mất năm 1960). Năm 1933Cầu Cổng Vàng (hình) được khởi công tại eo biển vào vịnh San Francisco, miền Bắc California, Hoa Kỳ. Năm 1963, khởi đầu lễ hội Băng đăng Quốc tế Cáp Nhĩ Tân, và từng bị gián đoạn vài năm trong thời gian diễn ra cuộc Cách mạng Văn hóa, sau đó được khôi phục lại vào năm 1985. Năm 1968Alexander Dubček trở thành Bí thư thứ nhất của Đảng Cộng sản Tiệp Khắc, được xem là mốc khởi đầu của Mùa xuân Praha.  Năm 1972Chương trình tàu con thoi chính thức bắt đầu khi Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon tuyên bố phát triển một hệ thống tàu con thoi có khả năng tái sử dụng (xem tiếp…).

Bay ngay dem tinh lang

CNM365. TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. 365 chuyện kể mỗi ngày. Bảy ngày đêm tĩnh lặng. Ngày 5 đến ngày 11 tháng 1 năm 2016. Cha Mẹ và Con bảy ngày đêm tĩnh lặng.

Đời người là một chuỗi trãi nghiệm.

Trãi nghiệm sự sống chính là hiện tại.

Năm ngoái, tôi đã có bảy ngày đêm tĩnh lặng. Năm nay tôi tiếp nối những trãi nghiệm.

Bảy ngày đêm tĩnh lặng, với tôi, đó là chứng ngộ sự sống ấn tượng và ám ảnh nhất.

Tôi đã từng Dạo chơi non nước Việt: về Nghĩa Lĩnh đền Hùng ở Việt Trì, Phú Thọ; lên non thiêng Yên Tử viếng mộ đức Nhân Tông; về thủ đô Hà Nội thăm dấu xưa đức Trần Hưng Đạo và chùa Thắng Nghiêm; đến Kiếp Bạc Côn Sơn ngưỡng vọng đức thánh Trần và thấu hiểu sâu sắc hơn Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi; vào Tràng An Thần Phù Ninh Bình nhớ đức thánh Nguyễn Minh Không huyền thoại Bái Đính.

Tôi cũng đã từng du học  Praha, Goethe và lâu đài cổ, Dạo chơi cùng Goethe; Học để làm ở Ấn Độ; Đến Neva nhớ Pie Đại Đế; Đến Thái Sơn; Thăm Borlaug và Hemingway ở CIANO; Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương; Thăm Di sản Walter Scott; Những người Việt lỗi lạc ở FAO; Qua Ghent nhớ … Đêm trắng và bình minh; Đến với các nước châu Phi; Vua Solomon và sách Khôn ngoanSông Nin và hồ Victoria; Mười hai ngày ở Ghana; …

Tôi đã từng trãi nghiệm Ngày xuân đọc Trạng Trình, tìm về chốn xưa Nhớ Đào Duy Từ; Lương Định Của con đường lúa gạo; Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời; Con theo thầy nguyện làm hoa lúa, … đã từng “Lênh đênh trên cửa Thần Phù, khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm“. Thấm thía trang sách cuộc đời: “Ba lần ngập trong nước trong. Ba lần tắm trong máu đỏ. Ba lần nấu trong nước giặt. Ta trong sạch hơn những người trong sạch nhất”, để biết hiến trọn đời làm nhà khoa học xanh người thầy chiến sĩ;

Bạn đã bao giờ về trong tịch lặng, xuống đáy địa ngục, đối diện với sinh tử, lạc vào một  thế giới vô thức, hoàn toàn khác với thế giới thường nhật, trút bỏ toàn bô vỏ bọc danh vị, chức phận, không điện thoại, không email, không chút bận tâm, lo âu phiền muộn, chỉ với ý nghĩ và nổ lực duy nhất là bảo tồn sự sống.

Mời bạn cùng chứng ngộ bảy ngày đêm tỉnh lặng.

Đêm thiêng và ngày mới bắt đầu.

HoangKim999
Hoàng Kim
Từ ngày 1 tháng 1 năm 2016 Tình yêu cuộc sống có thêm chuyên trang 365 chuyện kể mỗi ngày tại http://hoangkimvn.wordpress.com

Video yêu thích
Hãy đi về phía mặt trời
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Chào ngày mới 5 tháng 1


Mặt Trời, các hành tinh và hành tinh lùntrong Hệ Mặt Trời. Kích cỡ được vẽ theo tỷ lệ, còn khoảng cách đến Mặt Trời thì không đúng.

CNM365 Chào ngày mới 5 tháng 1. Wikipedia Ngày này năm xưa. Tiểu hàn; Năm 2005, Eris, hành tinh lùn lớn nhất được biết đến trong Hệ Mặt Trời do phát hiện của một nhóm nhà khoa học từ bức ảnh chụp năm 2003 (Mặt Trời, các hành tinhhành tinh lùn trong hệ Mặt Trời.[1] hình) ; Năm 1888 –ngày sinh Bùi Kỷ, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn hóa người Việt Nam (mất năm 1960). Năm 1933Cầu Cổng Vàng (hình) được khởi công tại eo biển vào vịnh San Francisco, miền Bắc California, Hoa Kỳ. Năm 1963, khởi đầu lễ hội Băng đăng Quốc tế Cáp Nhĩ Tân, và từng bị gián đoạn vài năm trong thời gian diễn ra cuộc Cách mạng Văn hóa, sau đó được khôi phục lại vào năm 1985. Năm 1968Alexander Dubček trở thành Bí thư thứ nhất của Đảng Cộng sản Tiệp Khắc, được xem là mốc khởi đầu của Mùa xuân Praha.  Năm 1972Chương trình tàu con thoi chính thức bắt đầu khi Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon tuyên bố phát triển một hệ thống tàu con thoi có khả năng tái sử dụng.

5 tháng 1

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày 5 tháng 1 là ngày thứ 5 trong lịch Gregory. Còn 360 ngày trong năm (361 ngày trong năm nhuận).

« Tháng 1 năm 2016 »
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31

Mục lục

Sự kiện

Sinh

Mất

Ngày lễ và kỷ niệm

Tháng 1 | Tháng 2 | Tháng 3 | Tháng 4 | Tháng 5 | Tháng 6 | Tháng 7 | Tháng 8 | Tháng 9 | Tháng 10 | Tháng 11 | Tháng 12

Tham khảo

Tiểu hàn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hai mươi tư tiết khí
Kỷ nguyên J2000
Kinh độ Tiết khí Dương lịch
(thông thường)
Xuân
315° Lập xuân 45/2
330° Vũ thủy 1819/2
345° Kinh trập 56/3
Xuân phân 2021/3
15° Thanh minh 45/4
30° Cốc vũ 2021/4
Hạ
45° Lập hạ 56/5
60° Tiểu mãn 2122/5
75° Mang chủng 56/6
90° Hạ chí 2122/6
105° Tiểu thử 78/7
120° Đại thử 2223/7
Thu
135° Lập thu 78/8
150° Xử thử 2324/8
165° Bạch lộ 78/9
180° Thu phân 2324/9
195° Hàn lộ 89/10
210° Sương giáng 2324/10
Đông
225° Lập đông 78/11
240° Tiểu tuyết 2223/11
255° Đại tuyết 78/12
270° Đông chí 2122/12
285° Tiểu hàn 56/1
300° Đại hàn 2021/1

Tiểu hàn (tiếng Hán: 小寒) là một trong 24 tiết khí của của các lịch Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên. Nó thường bắt đầu vào khoảng ngày 5 hay 6 tháng 1 dương lịch, khi Mặt Trờixích kinh 285° (kinh độ Mặt Trời bằng 285°). Đây là một khái niệm trong công tác lập lịch của các nước Đông Á chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Quốc cổ đại. Ý nghĩa của tiết khí này, đối với vùng Trung Hoa cổ đại, là Rét nhẹ.

Theo quy ước, tiết tiểu hàn là khoảng thời gian bắt đầu từ khoảng ngày 5 hay 6 tháng 1 khi kết thúc tiết đông chí và kết thúc vào khoảng ngày 20 hay 21 tháng 1 trong lịch Gregory theo các múi giờ Đông Á khi tiết đại hàn bắt đầu.

Lịch Trung Quốc, cũng như lịch ở các nước Đông Á cổ đại bao gồm Việt Nam, bị nhiều người lầm là âm lịch thuần túy, dẫn đến ngộ nhận về việc tiết khí nói chung và Tiểu hàn nói riêng được tính theo chu kỳ của Mặt Trăng quay xung quanh Trái Đất. Trên thực tế lịch Trung Quốc cổ đại là một loại âm dương lịch, trong đó tiết khí, từ thời Hán Vũ Đế, đã được tính theo vị trí của Trái Đất trong chu kỳ chuyển động trên quỹ đạo xung quanh Mặt Trời. Theo cách tính hiện đại, với điểm xuân phân là gốc có kinh độ Mặt Trời bằng 0°, thì điểm diễn ra hay bắt đầu tiết Tiểu hàn ứng với kinh độ Mặt Trời bằng 285°. Ngày bắt đầu tiết Tiểu hàn do vậy được tính theo cách tính của dương lịch hiện đại và nó thông thường rơi vào ngày 5 hay 6 tháng 1 dương lịch tùy theo từng năm. Tiết khí đứng ngay trước Tiểu hàn là Đông chí và tiết khí kế tiếp sau là Đại hàn.

Xem thêm

Tham khảo

Lễ hội Băng đăng Quốc tế Cáp Nhĩ Tân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Lễ hội Băng đăng Quốc tế Cáp Nhĩ Tân
Ice Snow World.jpg

Lễ hội năm 2004
Ngày diễn ra tháng 1
Địa điểm Cáp Nhĩ Tân, Trung Quốc
Số năm hoạt động từ 1963
Thể loại lễ hội mùa đông
Trang chủ www.isharbin.com

Lễ hội Băng đăng Quốc tế Cáp Nhĩ Tân (tiếng Trung: 哈尔滨国际冰雪节; bính âm: Hā’ěrbīn Guójì Bīngxuě Jié) là lễ hội hàng năm tại thành phố Cáp Nhĩ Tân là một trong bốn lễ hội băng tuyết lớn nhất thế giới cùng với Festival Tuyết Sapporo, Carnival Mùa đông Thành phố QuébecFestival Trượt tuyết tại Na Uy. Lễ hội được tổ chức lần đầu vào năm 1963 và từng bị gián đoạn vài năm trong thời gian diễn ra cuộc Cách mạng Văn hóa, sau đó được khôi phục lại vào năm 1985.

Thành phố Cáp Nhĩ Tân là thủ phủ của tỉnh Hắc Long Giang, Trung Quốc. Đây là một trong những điểm nổi tiếng về văn hóa băng tuyết trên thế giới. Về mặt địa lý, thành phố thuộc khu vực Đông Bắc Trung Quốc, chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa đông lạnh từ Xibia thổi về. Nhiệt độ trung bình vào mùa hè là 21,2°C, mùa đông là -16,8°C. Mùa đông thâm chí có thể xuống đến -38,1°C.

Lễ hội bắt đầu vào ngày 5 tháng 1 và kéo dài một tháng. Tuy nhiên, tùy theo tình hình thời tiết mà triển lãm băng có thể mở sớm hơn và kéo dài lâu hơn. Công nghệ trang trí tác phẩm điêu khắc băng bao gồm từ các phương thức hiện đại (dùng đèn laze) đến truyền thống (đèn lồng băng). Có biểu diễn đèn băng tại các công viên trong thành phố. Các hoạt động mùa đông trong lễ hội bao gồm trượt tuyết Anpơ Yabuli, bợi lội trên sông Tùng Hoa và triển lãm lồng đèn băng tại Vườn Triệu Lâm.

Lễ hội năm 2007 mang chủ đề Canada, nhằm tưởng niệm bác sĩ Norman Bethune. Lễ hội này cũng được ghi vào Sách kỉ lục Guiness với bức tượng tuyết lớn dài nhất: 250 m, cao 8,5  m, được chế tạo từ hơn 13.000  m² tuyết.

Lễ hội Băng đăng quốc tế lần thứ 28 khai mạc vào đêm 5 tháng 1 năm 2012.[1]

Xây dựng

Những tảng băng lấy từ bề mặt sông Tùng Hoa được cắt ra thành từng khối bằng cưa.[2] Nhiều loại cưa khác nhau được các nghệ nhân điêu khắc băng sử dụng để tạc nên những tác phẩm khổng lồ.[3] Nhiều nghệ nhân đã phải thiết kế[2] và làm việc ngày đêm để kịp khai trương lễ hội. Nước khử icon cũng được sử dụng để tạo ra những khối băng trong suốt như thủy tinh, làm cho những công trình điêu khắc rõ ràng hơn là trong mờ.[4] Những ánh đèn nhiều màu sắc[5] cũng được dùng để tạo màu sắc cho băng, tạo nên những cảnh quan điêu khắc khác nhau vào ban đêm khi đèn được thắp lên. Một số tác phẩm điêu khắc bằng băng được làm từ những năm trước đó, bao gồm: những công trình và tượng đài của nhiều phong cách và thể loại kiến trúc khác nhau, hình ảnh động vật, con người, hình ảnh trong truyền thuyết, những con dốc trơn hoặc đèn lồng.[6][7] Ngoài những hoạt động giải trí mùa đông tại Cáp Nhĩ Tân, những công trình băng khổng lồ tinh xảo này là điểm mấu chốt thu hút du khách từ khắp nơi trên thế giới đến tham dự lễ hội.[5]

Hình ảnh

Tham khảo

  1. ^ Thu Thủy (1 tháng 6 năm 2012). “Khai mạc Lễ hội Băng đăng quốc tế Cáp Nhĩ Tân”. Đài Phát thanh – Truyền hình Vĩnh Long. Truy cập 14 tháng 1 năm 2012.
  2. ^ a ă AFP (13 tháng 11 năm 2008). “Ice is money in China’s coldest city”. The Sydney Morning Herald. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2009.
  3. ^ BBC (6 tháng 1 năm 2007). “In pictures: Harbin ice festival”. BBC News. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2009.
  4. ^ Zeitvogel, K. (18 tháng 12 năm 2009). “Chinese-sculpted winter wonderland in Washington”. AFP/Google. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2009.
  5. ^ a ă Strum, J. (22 tháng 12 năm 2009). “Northern Chinese city embraces cold and ice”. The State Journal, Frankfort, Kentucky. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2009.
  6. ^ Taylor, A. (9 tháng 1 năm 2009). “Icy days and nights”. Boston.com/AP/Getty Images/AFP/Reuters. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2009.
  7. ^ Mullen, N.; Lin, C-C. (2005). “Chinese Folk Art, Festivals, and Symbolism in Everyday Life”. Phoebe A. Hearst Museum of Anthropology/University of California, Berkeley. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2009.

Liên kết ngoài

Cầu Cổng Vàng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cầu Cổng Vàng
GoldenGateBridge-001.jpg
Vị trí địa lý
Vị trí San Francisco, Californiaquận Marin, California
Toạ độ 37°49′11″B 122°28′43″TTọa độ: 37°49′11″B 122°28′43″T
Bắc qua Golden Gate
Tuyến đường 6 US 101/SR 1, lối đi bộ và xe đạp
Thông số kỹ thuật
Kiểu cầu Cầu dây võng, truss arch & truss causeways
Vật liệu Thép
Chiều dài 2.737 m[1]
Cao 227 m
Nhịp chính 1.280 m[2]
Tĩnh không 4,3 m tại trạm thu phí
Độ cao gầm cầu 67 m so với mực nước cao trung bình
Thiết kế
Thiết kế Joseph Strauss, Irving Morrow, và Charles Ellis
Xây dựng
Nhà thầu Golden Gate Bridge, Highway and Transportation District[3]
Khởi công 5 tháng 1, 1933
Hoàn thành 19 tháng 4, 1937
Khánh thành 27 tháng 5, 1937; 77 năm trước
Thông tin khác
Phí cầu đường Xe hơi (southbound)
không thu phí, $5.00 & $3.00 (FasTrak)
Lưu thông hàng ngày 110,000[4]

Cầu Cổng Vàng trên bản đồ California

Cầu Cổng Vàng

Cầu Cổng Vàng (tiếng Anh: Golden Gate Bridge) hay Kim Môn kiều là một cây cầu treo nối liền Cổng Vàng, cửa ngõ vào của vịnh San FranciscoThái Bình Dương. Là một phần của cả hai xa lộ US 101 và California State Route 1, chiếc cầu nối liền thành phố San Francisco trên mũi phía bắc của bán đảo San Francisco với hạt Marin. Khi được hoàn thành vào năm 1937, The Golden Gate Bridge là cây cầu treo dài nhất trên thế giới, và đã trở thành một biểu tượng quốc tế của San Francisco, California, Hoa Kỳ. Kể từ khi hoàn thành đến nay đã có tám chiếc cầu khác có chiều dài vượt qua Cầu Cổng Vàng. Tuy thế, nó vẫn là cây cầu treo dài thứ hai ở Hoa Kỳ, sau cầu Verrazano-NarrowsNew York. Vào năm 2007, nó đã được xếp hạng thứ năm trong Danh sách những kiến trúc Hoa Kỳ được yêu thích do Viện Kiến trúc sư Hoa Kỳ bầu chọn.

Lịch sử

Dịch vụ phà

Trước khi cây cầu được xây dựng, cách duy nhất để đi lại giữa San Francisco và vùng đất mà ngày nay là hạt Marin là bằng tàu thuyền đi xuyên qua một phần của vịnh San Francisco. Dịch vụ phà bắt đầu được sử dụng khoảng đầu những năm 1820, đến thập kỷ 1840 thì dịch vụ được thực hiện thường xuyên theo lịch để mang nước đến San Francisco.[5] Năm 1867 công ty dịch vụ Đất liền và phà Sausalito được thành lập và sau này trở thành công ty Phà Cổng Vàng, một công ty con của Đường Sắt Nam Thái Bình Dương, tập đoàn cung cấp dịch vụ phà lớn nhất thế giới những năm 1920.[5][6] Chỉ phục vụ cho hành khách đường sắt và khách hàng, dịch vụ phà của Nam Thái Bình Dương mang lại lợi nhuận rất lớn và đóng vai trò quan trọng cho nền kinh tế trong vùng.[7] Đi phà từ Hyde Street Pier, San Francisco đến Sausalito của hạt Marin mất khoàng 20′ với giá 1.00 USD cho một phương tiện, sau đó mức giá này được hạ xuống để cạnh tranh với chiếc cầu mới.[8]

Nhiều người muốn xây dựng một cây cầu để nối San Francisco với hạt Marin. San Francisco là thành phố lớn nhất của Mỹ vẫn còn đi lại chủ yếu bằng tàu phà. Vì không có một con đường cố định nối liền các cộng đồng xung quanh vịnh với nhau nên mức tăng trưởng của thành phố thấp hơn mức trung bình của quốc gia.[9] Nhiều chuyên gia cho rằng, một cây cầu không thể được xây dựng trên eo biển. Eo biển này có thủy triều và dòng nước mạnh và xoáy, nước ở trung tâm rất sâu và có gió mạnh thường xuyên. Các chuyên gia cho rằng những cơn gió hung tợn và sương mù dày đặc sẽ gây khó khăn cho việc xây dựng và hoạt động.[9]

Ý tưởng

Mặc dù ý tưởng về một cây cầu bắc qua Cổng Vàng đã có từ trước nhưng mãi đến năm 1916 thì ý tưởng đó mới được đưa ra trong một bản tin của San Francisco bởi James Wilkins lúc đó đang là sinh viên kỹ thuật.[10] Theo ước tính của Hội Kỹ Sư thành phố, đế xây dựng được một cây cầu phải tốn 100 triệu USD, một con số quá lớn trong thời kỳ đó và một câu hỏi đã đặt ra cho các kỹ sư cầu đường là liệu họ có thể xây dựng được một chiếc cầu với chi phí thấp hơn không.[5] Một người đã đưa ra đáp án cho vấn đề trên, đó là Joseph Strauss, một kỹ sư có nhiều hoài bão và mơ ước. Trong luận văn tốt nghiệp của mình ông thiết kế một cây cầu sắt dài bắc qua eo biển Bering.[11] Trước đó Strauss đã hoàn tất 400 chiếc cầu kéo, hầu hết là được xây dựng trên đất liền, chưa có công trình nào mang tầm cỡ của công trình mới này.[2] Trong những bản vẽ đầu tiên của mình Strauss thiết kế một mút chìa đỡ bao lơn cực lớn ở hai phía của eo biển, hai mút chìa này được nối với nhau bởi một đoạn treo ở trung tâm mà theo Strauss phân đoạn này có thể được xây dựng với 17 triệu USD.[5][10]

Chính quyền địa phương đồng ý việc xây cầu theo ý tưởng của Strauss với điều kiện là Strauss phải chỉnh sửa thiết kế và chấp nhận thông tin đầu vào từ các chuyên gia tư vấn dự án. Một bản thiết kế về một cây cầu treo được xem là thực tế nhất bởi vì nó phù hợp với những tiến bộ trong ngành luyện kim thời bấy giờ.[5]

Strauss phải mất hơn mười năm để kêu gọi sự ủng hộ của cộng đồng Bắc California..[12] Việc xây dựng chiếc cầu vấp phải nhiều sự phản đối kể cả kiện tụng. Cục Chiến tranh lo ngại rằng cây cầu sẽ cản trở giao thông đường thủy; hải quân sợ rằng một vụ va chạm tàu hoặc việc phá hủy cầu có thể chặn lối vào một trong những cảng chính của nó. Liên đoàn lao động yêu cầu phải tuyển dụng nhân công địa phương làm việc cho công trình. Tập đoàn Đường sắt Nam Thái Bình Dương, một trong những đơn vị kinh doanh phát đạt nhất ở California đã phản đối việc xây chiếc cầu vì cho rằng chiếc cầu sẽ gây ảnh hưởng đến dịch vụ phà của họ và đệ đơn kiện chống lại dự án. Sự việc đó dẫn đến một cuộc tẩy chay hàng loạt nhằm vào dịch vụ phà của tập đoàn này.[5] Tháng 5 năm 1924, Đại tá Herbert Deakyne thay mặt cho Bộ trưởng Chiến tranh tổ chức phiên điều trần thứ hai yêu cầu sử dụng đất liên bang cho việc việc xây dựng cầu. Deakyne, thay mặt cho Bộ trưởng Chiến tranh, chấp thuận chuyển nhượng đất đai cần thiết cho việc xây dựng cây cầu và các con đường huyết mạch cho “Hiệp hội Xây dựng cầu Cổng Vàng”.[13] Strauss có thêm một đồng minh nữa là ngành công nghiệp sản xuất xe ôtô mới ra đời mong muốn sự phát triển cầu đường sẽ kích thích nhu cầu mua xe của người dân.[8]

Tên của cầu lần đầu tiên được sử dụng vào năm 1917 trong cuộc thảo luận ban đầu giữa Strauss và kỹ sư của thành phố San Fransisco. Cái tên được chính thức công nhận trong đạo luật Golden Gate Bridge and Highway District do cơ quan lập pháp của tiểu ban ban hành năm 1923.[14]

Thiết kế

Strauss là kỹ sư trưởng phụ trách thiết kế tổng thể và xây dựng của dự án.[9] Tuy nhiên, do ông có ít kinh nghiệm và hiểu biết trong thiết kế cáp treo[15] nên phần lớn các nhiệm vụ liên quan đến kỹ thuật và thiết kế do những chuyên gia khác phụ trách.

Irving Morrow, một kiến trúc sư dân cư gần như chưa được biết đến đảm trách thiết kế hình dáng tổng thể của những tháp cầu, kết cấu chiếu sáng, và các loại trang trí nghệ thuật như đèn đường, lan can và lối đi. Với sự thuyết phục của nhiều người dân địa phương, Morrow đã thay màu xám bạc chuẩn mực bằng màu cam quốc tế nổi tiếng dùng cho lớp sơn phủ của cây cầu và từ đó đến nay màu sắc đó vẫn không thay đổi.[16]

Kỹ sư lão luyện Charles Alton Ellis, cộng tác từ xa với nhà thiết kế cầu nổi tiếng Leon Moisseiff, là kỹ sư chính của dự án.[17] Với thiết kế kết cấu cơ bản của mình, Moisseiff đã đưa ra “lý thuyết độ lệch” mà theo đó một con đường mỏng và mềm mại sẽ lúc lắc theo gió, điều này làm giảm đáng kể sức ép đối với cây cầu bằng cách chuyển các áp lực vào các dây cáp treo và đến tháp cầu.[17] Mặc dù Cầu Cổng vàng đã chứng minh được sự hoàn chỉnh trong thiết kế, tuy nhiên, một thiết kế sau này của Moiseiff, cây cầu Tacoma Narrow đầu tiên đã đổ sập trong một trận dông bão không lâu sau khi hoàn tất.[18]

Ellis là một học giả và là nhà toán học có thời gian làm giảng viên kỹ thuật cho trường Đại học Illinois mặc dù ông không có bằng cấp kỹ thuật nào (cuối cùng ông cũng lấy được bằng kỹ sư dân dụng của trường Đại học Illinois trước khi thiết kế cầu Cổng Vàng và sau đó làm giảng viên của Đại học Purdue trong 12 năm trước khi về hưu). Ông trở thành chuyên gia trong thiết kế kết cấu, tác giả của những quyển sách giáo khoa chuẩn mực thời bấy giờ.[19] Ellis đã đóng góp nhiều lý thuyết và kỹ thuật để xây dựng cây cầu nhưng ông lại ít được tín nhiệm.Tháng mười một năm 1931, lấy lý do là để hạn chế chi phí gởi và nhận điện tín với Moisseiff, Strauss sa thải Ellis và thay thuộc cấp cũ của mình là Clifford Paine vào vị trí của Ellis.Do quá say sưa với dự án và không thể tìm được việc làm khác trong thời kỳ Suy Thoái, Ellis chấp nhận làm việc không lương 70 giờ một tuần.[19]

Để tự quảng bá bản thân và được lưu danh, Strauss đã hạ thấp những đóng góp của các cộng sự của mình, những người đã làm việc hết mình để cây cầu được hoàn thành dù họ nhận được rất ít sự thừa nhận và đuợc trả lương rất thấp.[15] Ông đã làm được việc ghi công mình như là người đóng vai trò chính trong thiết kế và tầm nhìn của cây cầu.[19] Chỉ rất lâu sau đó đóng góp của các thành viên khác mới được đánh giá một cách đúng đắn.[19] Tháng 5 năm 2007, quận Cầu Cổng Vàng đưa ra báo cáo chính thức về 70 năm cống hiến của chiếc cầu nổi tiếng và quyết định điều chỉnh sai lầm cũ bằng cách công nhận Ellis là người thiết kế cây cầu.

Golden-Gate-Bridge.svg

Tài chính

Theo một đạo luật được đưa ra bởi cơ quan lập pháp California vào năm 1928, The Golden Gate Bridge and Highway District được công nhận là một tổ chức chính thức để thiết kế, xây dựng và chi trả cho việc xây dựng Cầu Cổng Vàng.[9] Tuy nhiên, sau khi phố Wall sụp đổ năm 1929, tổ chức này không thể tăng ngân quỹ dành cho xây dựng, do đó họ vận động biện pháp bán trái phiếu để thu được 38 triệu USD. Tháng 11 năm 1930 việc bán trái phiếu được thông qua trong cuộc biểu quyết giữa các hạt liên quan đến cây cầu.[20] Ngân sách xây dựng tại thời điểm phê duyệt là 30.100.000 $. Tuy nhiên, trái phiếu không thể bán được cho đến năm 1932 khi Amadeo Giannini, nhà sáng lập Ngân hàng Hoa Kỳ đóng tại San Francisco, thay mặt cho ngân hàng của ông đồng ý mua toàn bộ trái phiếu để giúp đỡ cho nền kinh tế địa phương.[5]

Xây dựng

Việc xây dựng bắt đầu vào ngày 05 tháng 1 năm 1933.[5] Chi phí cho dự án hơn 35.000.000 USD.[21]

Strauss là người đứng đầu xuyên suốt của dự án, giám sát việc xây dựng hàng ngày và tham gia vào việc động thổ. Là cựu sinh viên của trường ĐH Cincinnati, ông đã dùng một viên gạch của hội trường McMicken của trường này sau khi bị phá hủy và đặt vào trụ thả neo trước khi chỗ này được đổ bê tông. Bằng việc cải tiến cách sử dụng lưới an toàn di động đặt bên dưới công trường xây dựng, ông đã giúp cho nhiều công nhân tránh khỏi những tai nạn đáng tiếc.Trong số 11 người thiệt mạng trong quá trình xây dựng, mười người bị thiệt mạng (khi cây cầu sắp được hoàn thành) khi lưới an toàn bị rơi dưới sức ép của một dàn giáo bị ngã.Chiếc lưới này đã cứu sống 19 người khác, những người này về sau trở thành những thành viên đầy tự hào trong Câu lạc bộ Nửa đường đến Địa ngục.[22]

Dự án này được hoàn thành vào tháng 4 năm 1937. Chi phí cho dự án thấp hơn ngân sách cho phép là 1,3 triệu USD.[5]

Khánh thành

Lễ khánh thành bắt đầu ngày 27 tháng 5 năm 1937 và kéo dài một tuần. Một ngày trước khi các phương tiện giao thông được cho phép đi lại, 200.000 người đã đi trên cầu bằng cách đi bộ hoặc trượt băng.[5] Trong ngày khai mạc, thị trưởng Angelo Rossi và các quan chức đi phà sang hạt Marin và đi qua chiếc cầu trên một đoàn xe hộ tống để trở về quận Highway. Bài hát “There’s a Silver Moon on the Golden Gate” (tạm dịch là “Cổng vàng lấp lánh ánh trăng bạc”) được chọn làm bài hát chính thức cho lễ kỷ niệm. Strauss viết một bài thơ “Hoàn thành một sứ mệnh cao cả” mà hiện nay bạn có thể đọc thấy khi đi trên chiếc cầu. Buổi trưa ngày hôm sau, tổng thống Roosevelt phát tín hiệu cho phép các phương tiện bắt đầu lưu thông trên cầu. Khi các hoạt động kỷ niệm vượt ra ngoài tầm kiểm soát, phòng cảnh sát San Fransisco phải giải tán một đám đông gây rối ở trung tâm khu vực Polk Gulch. Sau đó các hoạt động dân sự và văn hóa “Fiesta” (“Ngày Hội”) diễn ra suốt nhiều tuần lễ. Tượng của Strauss được chuyển đến một công trường gần chiếc cầu vào năm 1955.[10]

Cầu cổng Vàng, với khung đứng trên Fort Point vào cuối San Francisco (bên phải). Đằng sau khung này là đảo Angel, và nằm bên trái của đảo là Tiburon, California, che gần hết các đồi vùng vịnh Đông.

Các đặc tính

Nhiều kỹ sư, chuyên viên đã góp công từ kỹ thuật cho đến mỹ thuật tô điểm cho cây cầu vừa hùng vĩ, hoành tráng vừa rực rỡ màu sắc dưới ánh nắng ban ngày cho đến huy hoàng lộng lẫy dưới ánh đèn ban đêm. Ánh sáng và màu sắc được thiết kế theo lối Art Deco Theme. Cầu được sơn màu đỏ cam “orange vermilion” nổi bật huy hoàng giữa vùng biển xanh và núi cỏ khô vàng nhạt, màu đỏ cam tươi sáng tàu bè dễ nhìn thấy từ xa.

Lớp sơn nguyên thủy sau 100 năm bị rỉ sét vì hơi muối từ nước biển đến năm 1965 đã được cạo bỏ và sơn lại bằng sơn lót zinc silicate và phủ bên ngoài bằng sơn acrylic emulsion. Vừa cạo vừa sơn lại phải mất 30 năm và hoàn tất năm 1995. Hiện nay hàng ngày một toán thợ sơn 38 người lo sơn cầu, họ làm việc quanh năm vì vừa sơn xong đến đầu cầu bên này thì đầu cầu bên kia, lớp sơn đã bắt đầu rỉ sét!!!

Các thông số kỹ thuật

Nhịp cầu chính giữa là nhịp cầu dài nhất trong các cây cầu treo cho đến năm 1964, khi chiếc cầu Verrazano-Narrows được dựng lên giữa hai quận Staten Island và Brooklyn ở New York. Những chiếc tháp của cầu Cổng Vàng cũng là những cái tháp cầu treo cao nhất thế giới thời bấy giờ.Năm 1957 cầu Michigan’s Mackinac hoàn thành với chiều dài vượt qua cầu Cổng Vàng và trở thành chiếc cầu treo hai tháp dài nhất thế giới. Tuy thế nhịp cầu của Mackinac vẫn ngắn hơn nhịp cầu của cầu Cổng Vàng.

Kết cấu

Trọng lượng của phần lưu thông được chuyển sang hai dây cáp xuyên qua hai tháp chính và cố định ở phần bê tông ở hai đầu. Mỗi dây cáp được làm bằng 27.572 sợi kim loại. Tổng chiều dài các sợi cáp cấu thành hai dây cáp chính là 80.000 dặm (129.000 km);[23] tổng chiều dài này bằng 5,79 lần đường kính Trái Đất. Tổng số đinh tán dùng cho cây cầu là 1.200.000 cây.

Giao thông

Vì là con đường duy nhất để đi từ San Francisco đến phía Bắc, cây cầu là một phần của quốc lộ U.S Route 101 và California Route 1. Lằn ranh giới giữa các làn xe được dịch chuyển để phù hợp với mô hình giao thông. Vào buổi sáng các ngày thường, giao thông chủ yếu theo hướng nam vào thành phố nên bốn trong số sáu làn xe dành cho các phương tiện chạy theo hướng nam. Ngược lại, vào buổi chiều các ngày trong tuần, bốn làn xe dành cho các phương tiện chạy theo hướng bắc. Mặc dù việc lấp đặt một hàng rào di động được bàn đến từ những năm 1980, mãi đến tháng 3 năm 2005. Ban giám đốc quản lý chiếc cầu mới cam kết sẽ tìm nguồn tài trợ để thực hiện công tác nghiên cứu trị giá hàng triệu USD trước khi có thể thực hiện việc lắp đặt một hàng rào di động. Lối đi phía đông chỉ dành cho người đi bộ và xe đạp vào ban ngày của những ngày trong tuần, và lối đi phía tây mở cửa cho xe đạp vào buổi chiều ngày của những ngày trong tuần trong tuần, cuối tuần, và ngày lễ.

Tính thẩm mỹ

Mặc dù nhìn giống như màu đỏ nhưng màu của cây cầu được gọi một cách chính thức là màu cam đỏ, được biết đến qua cái tên “quốc tế cam”.[24] Kiến trúc sư tư vấn Irving Morning là người lựa chọn màu sắc cho chiếc cầu bởi vì nó phù hợp với môi trường tự nhiên xung quanh và cũng để nó có thể nổi bật được giữa lớp sương mù.

Cây cầu được nhắc đến là một trong những ví dụ đẹp nhất của kỹ thuật xây cầu, cả về những thách thức trong thiết kế kết cấu và sự hấp dẫn thẩm mỹ của nó. Nó được Hội kỹ sư dân dụng Hoa kỳ bầu chọn là một trong những kỳ quan hiện đại của thế giới. Tạp chí du lịch Frommer thì cho rằng Cầu Cổng vàng “có thể là một cây cầu đẹp nhất, chắc chắn là một cây cầu được chụp ảnh nhiều nhất trên thế giới”[25] (mặc dù Frommers cũng dành chữ “được chụp ảnh nhiều nhất” để vinh danh cầu tháp ở Luân Đôn, Anh).[26]

Vấn đề thẩm mỹ là nguyên nhân chính khiến cho bản thiết kế đầu tiên của Strauss bị từ chối. Khi tái đệ trình kế hoạch xây dựng cây cầu của mình, ông thêm thắt các chi tiết, chẳng hạn như ánh sáng, để phác thảo cáp và tháp của cây cầu.[27]

Các vấn đề hiện tại

Những vụ tự vẫn

Cầu Cổng Vàng bắc qua Vịnh San Francisco là một trong những công trình xây dựng giao thông vĩ đại nhất của nước Mỹ trong thế kỷ 20. Thế nhưng nó lại được mệnh danh là “Bãi tự sát nổi tiếng thế giới”.[28] Làn đường trên cầu cách mặt nước 79m.[29] Sau khi nhảy từ trên cầu xuống, khoảng 4s sau thì chạm mặt nước, lúc đó vận tốc xấp xỉ là 142 Km/h.

Vụ tự vẫn đầu tiên xảy ra sau khi cây cầu khánh thành 1 ngày. Không có số liệu chính xác số người tự vẫn ở đây từ khi cây cầu hoàn thành. Bởi vì có nhiều vụ không có người chứng kiến, vì trời tối và nơi đây thường có sương mù dày đặc.

Nước ở nơi đây chỉ khoảng 8 độ C. Đặc biệt ở đây có loài cá mập trắng. Chúng thường tụ tập thành từng đàn và quanh quẩn dưới chân cầu.

Tính đến năm 2005 người ta đã thống kê được có khoảng 1200 vụ tự vẫn tại đây.[30] Đó là những vụ người ta chứng kiến và ghi chép lại. Người ta thống kê rằng trung bình khoảng 2 tuần thì xảy ra một vụ. Trong năm 2006 có 34 vụ nhảy cầu tự vẫn xác vớt lên được. Có 4 vụ xác không tìm thấy.[31] Bên cạnh đó có một vài xác vớt lên từ dưới dòng nước được cho là từ các vụ tự vẫn.

Gió

Kể từ khi hoàn thành, Cầu Cổng Vàng bị đóng cửa 3 lần do các điều kiện thời tiết: vào ngày 01 tháng 12 năm 1951 do gió mạnh lên đến 111 km/giờ; vào 23 tháng 12 năm 1982, do gió mạnh 113 km/giờ; và ngày 03 tháng 12 năm 1983 với sức gió 121 km/giờ.[32]

Tăng cường kháng chấn

Những hiểu biết hiện đại về ảnh hưởng của động đất đến các công trình xây dựng đã làm người ta quan tâm đến việc tăng cường kháng chấn cho cầu Cổng Vàng. Do cầu này nằm gần đứt gãy San Andreas, một đứt gãy có khả năng gây ra các trận động đất lớn. Khi nghĩ đến khả năng có thể đứng vững trước những trận động đất được dự báo, cây cầu hoàn hoàn có thể bị phá hủy về cấu trúc (như sụp đổ) bởi sự phá hủy của dàn chịu lực trên vòm cao 98 m trên Fort Point.[33] Một chương trình trị giá 392 triệu USD được tiến hành để nâng cấp khả năng chịu lực của cấu trúc với những thiệt hại nhỏ nhất. Chương trình tăng cường kháng chấn sẽ được hoàn thành theo kế hoạch vào năm 2012.[34][35]

Tham khảo

  1. ^ Golden Gate Bridge trên trang Structurae
  2. ^ a ă Denton, Harry et al. (2004) “Lonely Planet San Francisco” Lonely Planet, United States. 352 pp. ISBN 1-74104-154-6
  3. ^ “Golden Gate Transportation District”. Goldengate.org. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2010.
  4. ^ “Annual Vehicle Crossings and Toll Revenues, FY 1938 to FY 2011”. Golden Gate Bridge, Highway and Transportation District. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2012.
  5. ^ a ă â b c d đ e ê g “Two Bay Area Bridges”. US Department of Transportation, Federal Highway Administration. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2009.
  6. ^ Peter Fimrite (28 tháng 4 năm 2005). “Ferry tale — the dream dies hard: 2 historic boats that plied the bay seek buyer — anybody”. San Francisco Chronicle. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2007.
  7. ^ George H. Harlan (1967). San Francisco Bay Ferryboats. Howell-North Books. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2007.
  8. ^ a ă Guy Span (4 tháng 5 năm 2002). “So Where Are They Now? The Story of San Francisco’s Steel Electric Empire”. Bay Crossings.
  9. ^ a ă â b Sigmund, Pete (2006). “The Golden Gate: ‘The Bridge That Couldn’t Be Built’,”. Construction Equipment Guide. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2007.
  10. ^ a ă â T.O. Owens (2001). The Golden Gate Bridge. The Rosen Publishing Group. Đã bỏ qua tham số không rõ |comments= (trợ giúp)
  11. ^ “The American Experience:People & Events: Joseph Strauss (1870–1938)”. Public Broadcasting Service. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2007.
  12. ^ “Bridging the Bay: Bridges That Never Were”. UC Berkeley Library. 1999. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2006.
  13. ^ Miller, John B. (2002) “Case Studies in Infrastructure Delivery” Springer. 296 pp. ISBN 0-7923-7652-8.
  14. ^ Gudde, Erwin G. (1949). California Place Names. Berkeley, California: University of California Press. tr. 130. ASIN B000FMOPP4.
  15. ^ a ă “People and Events: Joseph Strauss (1870-1938)”. Public Broadcasting Service. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2007.
  16. ^ “The American Experience:People & Events: Irving Morrow (1884-1952)”. Public Broadcasting Service. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2007.
  17. ^ a ă “American Experience:Leon Moisseiff (1872–1943)”. Public Broadcasting Service. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2007.
  18. ^ K. Billah and R. Scanlan (1991), Resonance, Tacoma Narrows Bridge Failure, and Undergraduate Physics Textbooks, American Journal of Physics, 59(2), 118–124 (PDF)
  19. ^ a ă â b “The American Experience:Charles Alton Ellis (1876–1949)”. Public Broadcasting Service. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2007.
  20. ^ Jackson, Donald C. (1995) “Great American Bridges and Dams” John Wiley and Sons. 360 tr. ISBN 0-471-14385-5
  21. ^ “Bridging the Bay: Bridges That Never Were”. UC Berkeley Library. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2007.
  22. ^ “Frequently Asked Questions about the Golden Gate Bridge”. Golden Gate Bridge, Highway and Transportation District. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2007.
  23. ^ [1]
  24. ^ “Golden Gate Bridge: Construction Data”. Golden Gate Bridge, Highway and Transportation District. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2007.
  25. ^ “Golden Gate Bridge – Museum/Attraction View”. Frommers. 2006. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2006.
  26. ^ “Tower Bridge – Museum/Attraction View – London”. Frommers. 2006. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2006.
  27. ^ Rodriguez, Joseph A. (2000) Planning and Urban Rivalry in the San Francisco Bay Area in the 1930s. Journal of Planning Education and Research v. 20 tr. 66-76.
  28. ^ “World’s 10 most popular suicide destinations”. retard zone. 27 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2008.
  29. ^ Suspension Bridges, page 5. “Depth to span ratio (of truss is) 1:168.” Span of 4200 ft means truss is 25 ft deep.
  30. ^ Friend, Tad (13 tháng 10 năm 2003). “Jumpers: The fatal grandeur of the Golden Gate Bridge”. The New Yorker. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2006.
  31. ^ Lagos, Marisa (17 tháng 1 năm 2007). “34 confirmed suicides off GG Bridge last year”. The San Francisco Chronicle. Truy cập January 17 năm 2007.
  32. ^ “Frequently Asked Questions about the Golden Gate Bridge”. Golden Gate Bridge, Highway and Transportation District. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2008.
  33. ^ Carl Nolte (28 tháng 5 năm 2007). “70 YEARS: Spanning the Golden Gate:New will blend in with the old as part of bridge earthquake retrofit project”. San Francisco Chronicle.
  34. ^ Golden Gate Bridge Authority (May năm 2008). “Overview of Golden Gate Bridge Seismic Retrofit”. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2008.
  35. ^ Gonchar, Joann (3 tháng 1 năm 2005). “Famed Golden Gate Span Undergoes Complex Seismic Revamp”. McGraw-Hill Construction. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2008.

Liên kết ngoài

Bùi Kỷ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bùi Kỷ
BuiKy.jpg

Học giả Bùi Kỷ
Sinh Phủ Lý, Hà Nam
Mất Hà Nội
Tên khác Ưu Thiên, Tử Chương
Công việc nhà giáo, nhà nghiên cứu văn hóa
Quốc văn cụ thể, Truyện trê cóc, Văn chương
Con cái Bùi Diễm

Bùi Kỷ (5 tháng 1 năm 188819 tháng 5 năm 1960), tên chữ là Ưu Thiên, hiệu là Tử Chương, là nhà giáo, nhà Nho học và nhà nghiên cứu văn hóa có ảnh hưởng trong những năm đầy biến động của lịch sử Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ 20. Con ông là Bùi Diễm, một chính khách của Việt Nam Cộng hòa.

Mục lục

Tiểu sử

Thân thế

Bùi Kỷ sinh ngày 5 tháng 1 năm 1888, quê ở làng Châu Cầu, phủ Lý Nhân (nay thuộc thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam), trong một gia đình khoa bảng Nho học. Tổ tiên họ Bùi gốc ở xã Triều Đông, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay thuộc huyện Thường Tín, Hà Nội). Khoảng cuối triều Lê, một nhánh họ Bùi chuyển đến ở Châu Cầu lập nghiệp. Ông nội Bùi Văn Quế (1837-1913) làm quan đến Tham trị bộ Hình thì cáo quan về quê. Cha ruột Bùi Thức (1859-1915) đỗ Tiến sĩ Nho học (1898), không ra làm quan, ở nhà dạy học và viết sách. Ông Thức có các con trai là Bùi Kỷ, Bùi Khải, Bùi Nhung, Bùi Lương, đều đỗ đạt. Một người em gái Bùi Kỷ về sau lấy chồng là nhà chính trị Trần Trọng Kim.

Từ nhỏ Bùi Kỷ, giống như nhiều trí thức khác của giai đoạn này, tiếp nhận một nền giáo dục pha trộn giữa Nho họctiếng Pháp, chữ Quốc ngữ.

Từ khi đỗ đạt đến Cách mạng tháng Tám

Năm 1909, trong lần đầu dự thi Hương, Bùi Kỷ đỗ cử nhân. Năm sau vào Huế thi Hộithi Đình, ông lại đỗ Phó bảng và được triều đình Huế bổ đi làm Huấn đạo, nhưng Bùi Kỷ từ chối, lấy cớ phải ở nhà phục dưỡng cha và ông nội đều đang già yếu.

Năm 1912, chính quyền bảo hộ chọn cử ông sang Paris, Pháp học Trường Thuộc địa (École coloniale). Nhân dịp này Bùi Kỷ đi du lịch nhiều nơi ở Pháp và các nước lân cận. Ông cũng có dịp tiếp xúc với một số người Việt yêu nước và cách mạng đang lưu ngụ và làm việc ở Pháp, trong đó có Phan Chu Trinh. Năm 1914, Bùi Kỷ về nước. Ông được phủ Thống sứ Bắc Kỳ gọi lên bổ dụng nhiều lần, nhưng đều từ chối. Chịu ảnh hưởng từ chuyến đi Pháp và trào lưu tân học, Bùi Kỷ học tập hình thức sản xuất tư bản và tổ chức cho gia đình mình sản xuất hàng thủ công xuất khẩu (bông vải, tre đan), nhưng ít kết quả.

Sau khi cha và ông nội đều qua đời, Bùi Kỷ bỏ sang Quảng Châu, Trung Quốc hai năm. Ông về nước khi đã 30 tuổi, từ năm 1917 ông ra Hà Nội dạy học. Bùi Kỷ dạy tại các trường Cao đẳng sư phạm, Cao đẳng công chính, Cao đẳng pháp chính. Ngoài ra từ năm 1932, ông còn dạy trường tư cho hai tư thục Văn Lang và Thăng Long. Trường Thăng Long do một số trí thức tiến bộ và có xu hướng thân cộng sản như Phan Thanh, Hoàng Minh Giám, Đặng Thái Mai, Võ Nguyên Giáp lập ra đã mời Bùi Kỷ cùng trực tiếp giảng dạy.

Ngoài việc dạy học, Bùi Kỷ còn là một nhà biên khảo, nhà sáng tác, cộng tác với một số báo chí ở Hà Nội như Nam Phong, tập san của hội Khai Trí Tiến Đức, báo Trung Bắc Tân Văn… Ông còn tham gia các hoạt động văn học xã hội của giới trí thức Hà thành như kỷ niệm 105 ngày mất thi hào Nguyễn Du (1925), lễ truy điệu chí sĩ Phan Chu Trinh ở Hà Nội (1926), phong trào truyền bá chữ Quốc ngữ…

Sau Cách mạng tháng Tám

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Bùi Kỷ là một trong số những nhân sĩ trí thức được chính phủ mới trọng vọng.

Năm 1946, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh cử Bùi Kỷ làm Phó ban lãnh đạo thanh toán nạn mù chữ, sau làm Trưởng ban Bình dân học vụ toàn quốc, là thành viên của chính phủ Việt Minh mới thành lập. Năm 1948 ông được mời tham gia Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu 3[1], làm chủ tịch Hội Liên Việt liên khu 3, Hội truởng hội giúp binh sĩ tị nạn liên khu 3.

Ông được chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất.

Ngoài ra, Bùi Kỷ còn là Ủy viên chủ tịch đoàn ủy ban trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Ủy viên ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới, Hội trưởng Hội Việt Trung hữu nghị.

Ông mất ngày 19 tháng 5 năm 1960 tại Hà Nội, thọ 72 tuổi.

Đóng góp cho văn hóa và giáo dục Việt Nam

Các công trình biên khảo của Bùi Kỷ thường gắn với nội dung dạy và học môn ngữ văn Hán Việt bậc trung học của nhà trường phổ thông Pháp – Việt ở xứ Đông Dương thuộc Pháp đương thời. Đó là các cuốn Quốc văn cụ thể (1932), Hán văn trích thái diễn giảng khóa bản (cùng soạn với Trần Văn Giáp, 1942), Việt Nam văn phạm bậc trung học (soạn chung với Trần Trọng KimPhạm Duy Khiêm, 1940), Tiểu học Việt Nam văn phạm (soạn cùng với Trần Trọng Kim và Nguyễn Quang Oánh, 1945). Nổi bật nhất trong số này là cuốn Quốc văn cụ thể, trình bày về các hình thức, thể tài các loại thơ văn tiếng Việt truyền thống.

Với loại sách biên khảo giáo khoa, Bùi Kỷ là một trong số những nhà nghiên cứu người Việt đầu tiên tham dự vào việc hình thành các tri thức về ngữ văn Việt và Hán-Việt, các tri thức về lịch sử văn học Việt Nam. Trước hết, Bùi Kỷ là học giả có nhiều đóng góp vào việc hiệu khảo văn bản một loạt truyện thơ Nôm các thế kỷ trước, góp phần giữ gìn và truyền lại cho đời sau. Văn bản Truyện Kiều do Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo, in lần đầu 1925, đã giành được sự tín nhiệm của nhiều thế hệ độc giả. Từ những năm 1930 đến những năm 1950, Bùi Kỷ tiến hành hiệu khảo một loạt truyện Nôm khuyết danh: Trê cóc, Trinh thử, Lục súc tranh công, Hoa điểu tranh năng

Thứ nữa, Bùi Kỷ còn có sự đóng góp quyết định trong việc khảo cứu di sản thơ chữ Hán của thi hào Nguyễn Du, trong việc xác định giá trị Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ… Các bản dịch tác phẩm chữ Hán của tác giả Việt Nam do ông thực hiện, nổi bật là Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, bản dịch từng có vị trí đáng kể trong đời sống văn học. Bùi Kỷ còn thử nghiệm việc dịch một số tác phẩm chữ Nôm cổ điển sang chữ Hán như thơ Bà Huyện Thanh Quan hay Truyện Kiều.

Học giả Bùi Kỷ còn là cây bút sáng tác văn học ở khá nhiều thể loại: văn (nghị luận, phú, văn tế, câu đối…), thơ (thơ chữ Hán, thơ tiếng Việt). Tuy nhiên, hoàn cảnh xuất thân khiến ông không có ý định vượt ra ngoài phạm vi kiểu văn học Trung đại và trở thành một đại diện của trào lưu văn học cũ vào buổi giao thời. Giống như các thế hệ nhà nho trước kia, văn thơ Bùi Kỷ là nơi để nói chí, tỏ lòng, thể hiện thế giới tinh thần của mình trong những nét thanh cao với nhiều ưu tư lo đời, thương đời, cũng là để răn mình, răn đời. Phần sáng tác thơ mà Bùi Kỷ tập hợp thành tập Ưu Thiên đồ mặc chưa in thành sách, chỉ đăng báo ít bài, nay hầu như đã thất lạc.

Tác phẩm

  • Truyện Thúy Kiều (Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo), Hà Nội 1925
  • Việt Nam văn phạm (Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim soạn)
  • Quốc văn cụ thể, Tân Việt Nam thư xã, Trung Bắc tân văn, Hà Nội 1932
  • Truyện trê cóc, Khai trí tập san, số 4, tháng 12, 1941
  • Văn chương, Đồng Thanh, 1932, số 1, 2, 5
  • Thơ văn Bùi Kỷ (Nguyễn Văn Huyền sưu tầm, giới thiệu), Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội 1994

Chú thích

Liên kết ngoài


Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính 
hoangkim vietnam, hoangkim, hoangkimvietnam, Hoàng Kim, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, foodcrops.vnCassava in Vietnam, Cassava News, VietnamAfricaCassavaRice, Khát khao xanh, DayvahocHọc mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, Câu chuyện ảnh, 5 phút thư giản, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con